"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

THƠ HAIKU BASHO

 

 Phùng Hoài Ngọc

Dịch và biên soạn

THƠ HAIKU BASHO

 

俳句

Tài liệu dành cho học sinh, sinh viên,

 giáo viên Ngữ văn và bạn đọc yêu thích thơ haiku

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA VĂN NGHỆ TP.HỒ CHÍ MINH

           HỘI LIÊN HIỆP VĂN HỌC NGHỆ THUẬT AN GIANG

 2011 

TRI ÂN

 Biên giả trân trọng  cảm ơn các tác giả của những sáng tác đã sử dụng trong tập tài liệu này.

Cảm ơn cháu tôi, kỹ sư công nghệ thông tin Lê Trung Kiên đã gửi tập thơ gốc từ thủ đô Tokyo về cho biên giả.

Cảm tạ các đồng nghiệp khoa Ngoại ngữ và Khoa Ngữ văn Đại học An Giang đã phản biện góp ý và nghiệm thu Tài liệu.

Cẩn bút

Phùng Hoài Ngọc

Địa chỉ liên lạc

Email: ngoc1951@gmail.com

DĐ: 0918 130 461

NR: 0763 843382

Basho haiku’s hut

An unnamed poet

 

Come in, come in !

There are haiku to be read and stories to tell.

Let us share some tea,

a few quiet moments,

and take some time just to

reflect on things.

You’ll also find directions (links) to other haiku sites

further down this lonely road,

but you don’t have to hasten along,

the stars are shining through the pines,

the crickets are singing, and look, isn’t that a firefly ?

Cái lều thơ haiku của Basho

Tác giả khuyết danh

 

Xin mời vào đây

Có nhiều bài haiku để đọc và những câu chuyện để kể.

Chúng ta hãy cùng chia sẻ những tách trà

trong những phút giây yên tĩnh

và bỏ chút thời gian làm sáng lên bao điều.

Bạn cũng sẽ tìm ra những gợi ý dẫn đến

các bài haiku khác ở cuối con đường cô đơn này.

Nhưng bạn không cần vội vàng làm chi,

những ngôi sao đang lấp lánh trên cành tùng bách,

 những chú dế đang ca hát và hãy nhìn xem,

chẳng phải những con đom đóm đấy sao !

                                                                                          (Phùng Hoài Ngọc dịch)

 

 

 

 

 

                                           (Hai thầy trò Basho và Sora trên đường đi Oku)


Haiku (tiếng Nhật: 俳句, bài cú) là loại thơ độc đáo của Nhật Bản, bắt nguồn từ ba câu đầu (gọi là 発句hokku, phát cú) của bài renga (連歌 liên ca) có tính trào phúng. Thể liên ca nguyên văn là 連歌の俳諧, renga no haikai sau gọi tắt là haikai 俳諧 bài hài).

Thể thơ haiku ra đời vào thế kỷ 17, phát triển mạnh vào  thời kỳ Edo (16031867) khi nó đã phai nhạt  đi sắc thái trào phúng mà mang âm hưởng sâu thẳm của Thiền tông. Thiền sư thi sĩ lỗi lạc Matsuo Basho được thừa nhận là người khai sinh ra haiku và Yosa Buson, Masaoka Shiki đã hoàn thiện nó dưới diện mạo ngày nay. Shikki đã đặt tên gọi “haiku”.

 Đây hẳn là thể thơ ngắn nhất thế giới, mỗi bài haiku chỉ vỏn vẹn 17 âm tiết trong 3 nhịp 5+7+5 (17 âm tiết tiếng Nhật có khi chỉ vài ba từ ít ỏi, 3 câu trong cú pháp haiku cũng thường được viết thành một dòng, dọc xuống). Chẳng hạn bài thơ “con ếch” nổi tiếng sau đây của Matsuo Bashō trong tập Xuân nhật (Haru no hi, 1686) viết chung với đồ đệ, có cú pháp 5+7+5 âm tiết:

古池や                 Furuikeya

蛙飛び込む         Kawazu tobikomu

水の音                  Mizu no oto

Ao cũ

Con ếch nhảy vào

vang tiếng nước xao

        (Nhật Chiêu dịch)

Với dân tộc Nhật Bản, haiku được xem như tinh hoa văn chương của văn hóa dân tộc. Dưới góc nhìn của Thiền tông, haiku là thể thơ đặc biệt có thể hàm chứa được thực tại nhiệm mầu trong vỏn vẹn 17 âm tiết, sâu lắng và uyên thâm, lại đơn sơ giản dị, nhiều khi trở thành phương tiện hữu hiệu truyền tải một công án để các môn sinh tu tập Thiền. Chủ đề của thơ haiku thường tiềm ẩn sau khung cảnh bốn mùa.

fag

 

 

 

 

 

 

 


                                                              Tranh: Basho và cây chuối

                               (Tiếng Nhật  basho nghĩa là cây chuối)


4 nhà thơ haiku tiêu biểu của Nhật Bản

 

Matsuo Basho   (松尾芭蕉)  (1644 – 1694)

Yosa Buson       (与謝蕪村) (1716 – 1784)

Kobayashi Issa  (小林一茶) (1763 – 1828?)

Masaoka Shiki  (正岡子規) (1867 – 1902)

 

Tác phẩm của thi sĩ thiền sư Matsuo Basho

 

5 tập nhật ký

  1. Nazarashi kiko      (Nhật kí gió mưa đồng nội)
  2. Kashima kiko        (Kashima nhật kí)
  3. Sarashina kiko       (Sarasshina nhật kí)
  4. Oku no hosomichi (Nẻo đường sâu thẳm lên miền Oku)             
  5. Genjuan no kiko    (Huyễn trú am chi kí)

7 tập thơ

 

Những bài thơ haiku rải rác trong 5 tập văn và một số bài khác được in thành 7 tập thơ

(Basho thất bộ tập) gồm :

1. Ngày đông

2. Ngày xuân

3. Hoang dã

4. Bầu rượu

5. Áo rơm cho khỉ

6. Túi đựng than

7. Tiếp nối áo rơm cho khỉ.

(theo tài liệu của Nhật Chiêu)

                                                  

                           Matsuo Basho

                                (1644-1694)
LỜI GIỚI THIỆU

PGS.TS.Lưu Đức Trung

Nguyên giảng viên Khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội,

 chủ nhiệm câu lạc bộ thơ haiku Tp Hồ Chí Minh

   Giới thiệu tác phẩm lớn lao của một trí tuệ uyên thâm Matsuo Basho (1644- 1694) chứa đựng một nền văn hoá lâu đời của đất nước Phù Tang thật không dễ dàng  đối với tôi. Dù sao tôi cũng cố vượt qua sự hiểu biết nông cạn của mình để bày tỏ tấm lòng ngưỡng mộ đối với thi hào.

   Nẻo đường sâu thẳm lên miền Oku là nhật ký hành trình kết hợp giữa tản văn và thơ.

   Trước Basho cũng đã có Nhật ký Tosa (Tosa nikki) của Kino Tsurayuki (868 – 945). Tác giả kể lại cuộc hành trình của mình từ Kyoto lên Tosa để nhận chức Trấn thủ. Cuốn thứ hai, Nhật ký đêm mười sáu (Izayoi nikki) của một ni cô tên là Atbusu, không rõ ngày sinh chỉ biết là mất năm 1283. Cuốn sách ghi lại cuộc hành trình của tác giả từ Kyoto đến Kamakura và trú ngụ tại đây trong bốn năm trời.

  Nhật ký Tosa gồm 57 bài viết theo thể đoản ca (tanka), Nhật ký đêm mười sáu gồm 116 bài cũng theo thể đoản ca. Hai tác phẩm này ít để lại ấn tượng gì thật sâu sắc trong lịch sử văn học Nhật Bản.

   Sau khi Nẻo đường sâu thẳm lên miền Oku ra đời, tài năng của Basho vượt hẳn hai bậc tiền bối của mình, tác phẩm của ông đã trở thành một kiệt tác trong văn học cổ điển Nhật Bản. Tác phẩm trải qua bao thời đại vẫn được trân trọng gìn giữ. Người Nhật xem đó như là một bảo vật trong nền văn chương của đất nước. Có được giá trị lớn lao đó là do Basho đã đưa thể thơ haiku do mình sáng tạo xen lẫn vào giữa những đoạn văn xuôi (haibun) làm cho tác phẩm trở nên sống động, giàu chất trữ tình thu hút được người đọc thuộc nhiều thế hệ.

    Cuốn nhật ký hành trình này được Basho bắt đầu ghi chép từ năm 1689 trên đường từ Edo lên miền Oku. Oku là miền đất còn hoang sơ, bí hiểm ở tận phía đông bắc đất nước. Ông biết con đường chông gai ngàn vạn dặm đó sẽ đem lại cho ông bao nỗi gian truân nguy hiểm sống chết không lường trước được, nhưng vì khát vọng cuối đời muốn thực hiên trọn vẹn mộng lãng du nên ông dấn thân vào con đường mòn nhỏ hẹp sâu thẳm ít ai đi, ít ai đến này.

    Ông đi để trải nghiệm, để hoà nhập vào cái thế giới vĩnh cửu, cái thế giới mênh mông, vô hạn đó, cái thế giớ mà con người và vạn vật cùng sinh sống, cùng tồn tại. Với chiếc gậy trong tay, cái bị bên hông, chiếc nón trên đầu, với đôi hài cỏ ông cùng một đồ đệ của mình trèo đèo, vượt suối, đi bộ lang thang trên mọi nẻo đường, vừa đi vừa ghi chép vừa làm thơ. Những bài thơ haiku đặc sắc trong tập nhật ký này xuất hiện trong những khoảnh khắc ông nhìn thấy, nghe thấy, ông cảm xúc một cảnh thiên nhiên mỹ lệ, những ngôi chủa cổ kính, thâm u, một túp lều tranh xơ xác, một cành hoa rực rỡ ven đường. một nông phu gặp trên đường, một con bọ dưới chân ông đều ghi lại.

      Thơ haiku là một thể thơ cực ngắn, không quá 17 âm tiết, nó giống như một bức tranh thủy mặc đơn giản mà sâu lắng. Những bài thơ haiku đó đã minh họa cho những đoạn văn xuôi trong tác phẩm làm sáng chói tâm hồn cao đẹp của ông trong cả cuộc hành trình.

        Khi bước chân đến Matsushima (Tùng đảo) ông ngỡ ngàng trước cảnh đẹp mà người ta truyền tụng từ lâu. Một cảnh đẹp “sâu lắng tựa như khuôn mặt của mỹ nhân”. Trước cảnh đẹp đó ông không còn lời nào để ca ngợi, chỉ biết thốt lên một từ Matsushima lặp đi lặp lại một cách hào hứng mà thành câu thơ.

Matsushima ya

A Matsushima ya

Matsushima ya  

        Basho là nhà thơ của bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, mùa nào cũng gợi cho ông một cảm xúc giao hoà. Một ngày thu, trên đường đi ông ghé thăm túp lều cỏ của Saito Issen. Chủ nhân mời khách vào lều để thưởng thức cái mát mẻ của gió thu, để quên đi cái nóng còn rớt lại trong những ngày chớm thu. Chủ còn mời khách ngồi xuống tự gọt lấy trái cây để thưởng thức.

      Trước cảnh thu và tình người, Basho đã ứng tác câu thơ haiku sau :

Aki suzushi

Tegoto ni muke ya

Uri nasubi

Đầu thu gió mát mẻ

Đôi bàn tay gọt vỏ

Cà tím và dưa gang

(Lưu Đức Trung dịch)

      Sau chặng đường đi khá mệt nhọc được hoà mình vào không khí mát mẻ của mùa thu và cái ấm áp của tình người làm cho Basho thêm phấn chấn tiếp tục cuộc hành trình.

   Basho cho rằng vạn vật trong vũ trụ đều có mối tương giao, bình đẳng như nhau, hoà hợp với nhau để tồn tại, Tagore, nhà thơ lớn của Ấn Độ sống sau Basho hàng trăm năm cũng đã thể hiện quan niệm đó trong bài thơ sau đây :

Trong sân chầu vũ trụ

Chiếc lá cỏ bình thường

Cùng ngồi chung một thảm

Với ánh sáng mặt trời và sao sáng trong đêm

(Bài 74 – Người làm vườn)

    Trên đường đến suối nước nóng Naruso gặp gió bão Basho ghé vào một trạm gác biên phòng xin ngủ trọ, chỗ ngủ không thực sự yên thân lắm, trong đêm nghe tiếng ngựa đái, ông làm bài thơ sau :

Gối đầu nằm ngủ

Chấy bọ quấy rầy

Bên ngoài ngựa đái

(Lưu Đức Trung dịch)

     Basho cảm nhận ông đang tồn tại cùng với chấy bọ, cùng với tiếng ngựa đái trong đêm khuya khoắt đó. Chỉ có nhà thơ biết yêu quý, trân trọng cuộc sống mới thốt ra được những lời nói bình dị như vậy.

     Dịch Nẻo đường sâu thẳm lên miền Oku là một công việc khó khăn, dịch giả Donald Keen khi dịch tác phẩm này ra tiếng Anh cũng đã bày tỏ cái khó khăn của riêng ông. Ngay người Nhật muốn chuyển dịch nguyên tác tiếng Nhật cổ ra tiếng Nhật hiện đại cũng không phải dễ dàng. Dẫu biết gặp nhiều khó khăn trong việc dịch thuật tác phẩm nhưng do lòng yêu thích văn học, dịch giả Phùng Hoài Ngọc cố gắng nghiên cứu chọn lọc từ ngữ để dịch tác phẩm được thông thoát.

        Tôi xin trân trọng giới thiệu dịch phẩm này với quý bạn đọc.

Tp. Hồ Chí Minh ngày 25 tháng 11 năm 2007

LĐT


Lời dịch giả bản tiếng Anh “The Narrow Road to Oku”

Giáo sư Donald Keene

(Phùng Hoài Ngọc dịch)

Matsuo Basho sinh năm 1644 tại thị trấn Ueno tỉnh Iga. Gia đình ông thuộc tầng lớp võ sĩ samurai, đẳng cấp thấp trong giới quí tộc nên một số người trong gia đình ông hình như đã chọn nghề làm ruộng để kiếm sống. Dòng dõi samurai cũng tạo điều kiện cho Basho tụ họp với đám con cái của các nhà quí tộc trong vùng, thành viên của dòng họ Todo sống trong một lâu đài. Có thể, nhờ một số dịp thể hiện tài năng mà Basho có con đường dẫn vào các mối quan hệ với họ. Basho kết thân với Todo Yoshitada (Sengin) cậu bé lớn hơn Basho hai tuổi, cho Bahsho cùng tiếp nhận sự huấn luyện văn thơ từ ông thầy Kitamura Kigin nổi tiếng về thi ca và phê bình nghệ thuật.

            Bài haiku được biết sớm nhất của Basho sáng tác năm 1662 khi ông 18 tuổi. Bài thơ nói về giai đoạn ông dùng cái bút danh đầu tiên là Sobo. Như phần lớn văn nghệ sĩ kể cả triết gia thời đó, Basho được biết qua nhiều bút danh khác nhau trong suốt cuộc đời. Bút danh nổi tiếng nhất là “Basho”phát sinh từ một thứ cây trong vườn nhà ông: năm 1861 khi ông di chuyển đến một khu vực u ám ảm đạm của thành phố Edo, ông trồng một cây chuối để cải thiện bộ mặt của cái vườn. Cây basho là một loại thuộc giống chuối không có trái (#) nhưng lại có ý nghĩa đặc biệt đối với nhà thơ: những phiến lá xanh rộng lớn của nó rất dễ bị gió xé rách tươm, một biểu tượng rõ nét đối với cảm xúc của  thi nhân. Du khách bắt đầu đề cập đến địa điểm “Basho am” (cái lều tu của Basho có cây chuối) mà trước đó khá lâu ông đã lấy tên cho mình.

             Basho lần đầu tiên đến sống ở Edo (sau này là Tokyo) năm 1672. Không rõ vì sao ông chọn thành phố này. Có lẽ ông cảm thấy một cơ hội để hình thành phong cách ở một thành phố mới tốt hơn là ở những thành phố như Kyoto hoặc Osaka- nơi có những cuộc đua tranh lớn lao của những nhà thơ chuyên nghiệp mà nó đã khiến Basho mất mấy năm đi tìm trường phái thơ haiku của riêng ông. Việc khẳng định trường phái thơ là cần thiết không chỉ vì nhu cầu tăng thêm số lượng nhà thơ và giữ gìn phong cách nghệ thuật thi ca mà còn vì ông là một thầy giáo, ông sẽ dựa vào sự giúp đỡ của các học trò về tài chính và những trợ giúp khác. Ngay phần mở đầu tập văn “Oku no Hosomichi”, ông nhắc đến việc chuyển đến ngôi làng của Sugiyama Sampu, một thương gia giàu có, đã tái xác nhận làm một người bảo trợ hào phóng cho Basho khi ông cần tiền bạc. Năm 1680 Basho xuất bản một tuyển tập thơ của mình viết cho trẻ em học sinh, một dấu hiệu chứng tỏ phong cách sáng tác của ông đã xác lập chắc chắn.

            Năm 1684 Basho khởi hành chuyến đi, cơ hội cho tập văn đầu tiên trong bộ 5 tập. Tập văn này đóng một cột mốc trong nghề nghiệp của ông. Mục đích bề ngoài của chuyến đi là bày tỏ kính trọng đối với ngôi mộ mẹ, bà chết ở Ueno năm trước, nhưng (vì ông không ngờ trước) sự trải nghiệm trong chuyến đi sẽ khơi nguồn cảm hứng cho nhiều bài thơ. Những chuyến đi thăm nhiều thành phố thị trấn khác nhau đã làm cho trường phái thơ haiku của ông trở nên quen thuộc hơn với nhiều người, và lôi kéo các nhà thơ haiku trước đó đã  hội nhập với những trường phái khác.Trong 5 tập nhật ký hành trình miêu tả những chuyến đi, tập cuối cùng là  “Oku no Hosomichi” viết năm 1689 không chỉ là tập văn chương hay nhất của ông mà còn được coi là tập văn mẫu mực của nền văn học cổ điển Nhật. Mỗi người Nhật đã từng học trung học đều ít nhất đã đọc những đoạn trích từ tác phẩm này, và còn có hơn một trăm cuốn sách được biên soạn nhằm giúp người đọc vượt qua những khó khăn để hiểu được phong cách Basho. Có những bản dịch sang nhiều ngôn ngữ châu Âu, một số bản dịch trong đó rất hay, vượt qua được sự khó khăn trong việc khái quát được phẩm chất cá tính thi ca và văn chương Nhật Bản.

            Hầu hết các tác phẩm văn chương Nhật đều rất khó chuyển ngữ, ngay cả với những người đã có khả năng nắm vững ngôn ngữ đó. Xin dẫn ra hai ví dụ thường xuyên buộc người dịch phải bền bỉ chịu đựng: tiếng Nhật thiếu sự phân biệt “số ít” và “số nhiều”, lẫn lộn giữa “xác định” và “không xác định”, do đó dịch giả phải quyết định xem thực ra tác giả có ý gì. Nếu tác giả còn sống, hoạ may ông ta có thể giúp được, nhưng cũng chưa chắc. Có lần tôi đang dịch câu Midori iro no sutokkingu của tác giả Abe Kobo, tôi hỏi ông ta câu văn này là “một hay nhiều cái bít tất màu xanh”?, ông ta chỉ mỉm cười và bảo rằng đó là việc của người dịch, không phải của ông.

            Vấn đề khó khăn khi dịch một tác phẩm văn học cổ điển như “Oku no Hosomichi” còn phức tạp hơn. Vấn đề đầu tiên là dịch cái tựa đề. Câu “Oku no Hosomichi” xuất hiện một lần trong đoạn văn “kano ezu ni makasete tadoriyukaba, oku no horomichi no yamagiwa nitofu no suge ari”. Một câu dịch rất sát nghĩa, sẽ là: “Khi (chúng tôi) lê bước về phía trước, đi theo bức sơ đồ đã nói trên, dọc theo rìa dãy nú i“ranh giới” con đường hẹp đi Okucái rìa núi 10 sợi  lau sậy”.

            Đọc tiếng Anh thì câu văn trên không gợi ra nhiều cảm giác. Nhắc đến “rìa núi 10 sợi lau sậy” là đặc biệt rắc rối bởi vì lau sậy không mọc thành bụi 10 cây (hoặc một con số khác). Điều muốn nói là cái rìa “dọc theo rìa núi” là không đủ nghĩa; người ta muốn được biết rằng cây lau sậy mọc lên ở đó, hoặc là nó được gặt hái ở đó, nhưng cả khi thêm nội dung đó vào đoạn văn thì vẫn không rõ ràng cây lau sậy ấy mọc ở rìa núi hay dọc theo chính con đường. Và nếu bỏ qua từ “ranh giới”, tức là nó không xuất hiện trong văn bản thì các quan hệ trong ba yếu tố: rìa núi, con đường hẹp và cây lau sậy trở nên mơ hồ hơn. Sau nữa, văn bản gốc không xác định rõ chủ ngữ của câu này- ai đang lê bước về phía trước (!?).

            Đối với người Nhật, vấn đề dịch “Oku no Hosomichi” từ tiếng Nhật cổ ra tiếng Nhật hiện đại hầu như cũng khó khăn như việc dịch nó sang các ngôn ngữ châu Âu. Đây là bản dịch sang tiếng Anh, có thể thô thiển ít nhiều so với một câu tiếng Nhật hiện đại: “Khi chúng tôi đi bộ theo bản sơ đồ mà Kaemon đã vẽ giúp, nhìn thấy có một con đường hẹp gọi là Oku no Hosomichi. Dọc theo mé núi của con đường, “mười sợi lau” nổi tiếng từ trong thơ cổ đang mọc lên”.

            Câu văn dịch này chắc hẳn rõ ràng hơn bản tiếng Nhật hiện đại dịch từ bản gốc, nhưng nếu ai đó nhìn lại bản gốc sẽ thấy ngay rằng sự minh bạch đạt được ắt phải phá huỷ cái đẹp của lời văn Basho. Chắc chắn rằng nhà thơ không viết “nổi tiếng từ trong thơ cổ”. Ông cũng tin chắc rằng độc giả (không phải độc giả hôm nay) sẽ quen với việc đan dệt thô thiển (10 tấm lưới thành một phía) tạo ra cái rìa thường được nhắc đến trong thơ cổ.

             Nhưng hãy quay lại câu hỏi ban đầu: dịch cái tựa đề như thế nào ? Trước đây tôi đã từng đặt tên tác phẩm là “The Narrow Road of Oku” một cách an toàn nhưng bản dịch vẫn chưa rõ ràng. Basho tất nhiên có ý nói về con đường nhưng không chỉ con đường (nghĩa hẹp) vốn rất khó hình dung trong tác phẩm. “The Narrow Road into Oku” nghe có vẻ khá hơn, ngụ ý nhằm vào nơi đến của Basho là Oku- một cái tên chung chỉ phần tận cùng miền Bắc của đảo Honshu. “Oku” lại có nghĩa là “bên trong, bên trong bí ẩn” và ý nghĩ này cũng rất phù hợp, và cả hai nghĩa,  về địa lý thì chỉ ra rằng cuộc lữ hành của Basho sẽ đưa ông đến phần đất sâu bí ẩn bên trong của đất nước, về tu từ thì gợi ra rằng hành trình của ông chẳng phải chỉ đi sâu vào bên trong thế giới (vật chất khách quan–ND) mà có thể hiểu là đi vào “thế giới nghệ thuật thơ haiku”. Chúng tôi chẳng bao giờ biết  rằng cái nào thuộc về những ý tứ Basho đã nghĩ; có lẽ ông  nhằm vào tất cả. Sự khó khăn khi dịch cái tựa đề là một ví dụ điển hình.

            … Bất chấp những khó khăn đó, Oku no Hosomichi  chẳng những được các học giả (những người thích thú những kiến thức thi ca bí hiểm) yêu thích mà còn cả những người đọc rất bình thường, thậm chí khi họ không hiểu nghĩa “10 sợi lau sậy” là gì hoặc hiểu theo cách nào đó. Sự tản mạn cao độ của câu văn xuôi đó gây ra khó khăn cho độc giả nếu thiếu người bình giải, tối thiểu là trong lần đọc đầu tiên, nhưng nó cũng tạo cho tác phẩm sự huyền diệu của ẩn dụ thi ca.

            Việc dịch những bài thơ haiku rải rác khắp trong tác phẩm còn khó hơn dịch những câu văn xuôi. Bởi vì bài thơ haiku rất ngắn, chỉ có 17 âm tiết kể tất cả các từ, và cần có sự tin cậy cao vào những gợi ý. Trong những cuốn nhật ký hành trình của Basho, lời văn xuôi  nhiều khi giúp chỉ rõ nghĩa của bài thơ haiku, tuy nhiên cũng có sự đa nghĩa. Bài thơ đầu tiên của nhật ký “Con đường hẹp đi Oku” đặc biệt khó dịch:

Kusa no to mo

Sumikawaru yo zo

Hina no ie

.           Một bản dịch sát nghĩa có thể là :

“Một lứa tuổi trong đó

người chủ căn nhà tranh cỏ thay đổi-

một ngôi nhà búp bê”.

            Không ai có thể đoán ra ý nghĩa từ bản dịch như thế. Bài thơ nguyên tác hầu như rất khó hiểu, nhưng một khi ý nghĩa được giải thích, dù mang tính văn xuôi thế nào, người ta vẫn khâm phục cái ngôn ngữ tiết kiệm của Basho. Như chúng ta biết qua văn xuôi Basho, ông sắp sửa rời khỏi nơi trú ngụ bình thường (lều cỏ) nơi ông đã sống qua một thời gian. Người chủ mới, khác với Basho, ông ta có một gia đình và tính chất của căn nhà sẽ thay đổi với người chủ mới: Ngày 3 tháng Ba ngôi nhà được trang trí  với một hàng búp bê tặng cho con gái nhân ngày “Hội con gái”…

            Chẳng phải tất cả thơ haiku đều khó hiểu, nhưng có bài thật khó mà đưa ra một lời dịch thích đáng. Mặt khác, các bài haiku nằm trong tập văn “Oku no Hosomichi ” thuộc về những bài thơ hay nhất của Basho. Phần lớn những bài thơ đó không thể nảy sinh trong đầu Basho chính xác nguyên dạng như chúng xuất hiện trong một tác phẩm hoàn chỉnh. Văn bản “Oku no Hosomichi ” mà chúng tôi có trong tay không phải do chính Basho viết xong 5 năm sau kể từ khi ông quay trở về từ Oku, và chúng tôi biết có nhiều dị bản, đặc biệt đối với những bài thơ haiku (trong tập nhật ký). Ông đã xem lại tác phẩm nhiều lần một cách chắc chắn trước khi nó đạt tới như văn bản hiện nay.

            Trong một cuốn nhật ký hành trình sớm nhất của Bahso “Hành trình đi Sarashina” có một cảnh hài hước ở một nhà trọ, nơi Basho sau một ngày lữ hành  đang cố gắng hiện thành bài haiku. Một tu sĩ già từng quan sát Basho khi ông đau bệnh khá nặng cho rằng ông đã chịu rất nhiều bất hạnh và cố gắng tự an ủi mình với năng lực huyền diệu của đức Phật A di đà. Kết quả là, Basho bảo chúng tôi, sức mạnh thi ca của ông đã bị bế tắc hoàn toàn.Chẳng trách bao nhiêu lời rên rỉ kèm theo sự sáng tác và nghiền ngẫm trăn trở về thơ haiku bộc lộ trong tập “Oku no Hosomichi”.

            Sự mến mộ lớn lao tập văn này tuỳ thuộc rất nhiều vào sự ưa thích những bài thơ haiku trong đó, nhưng lời văn xuôi cũng được ca ngợi không ít. Phần mở đầu và các phần tả những chuyến thăm của Bahso đến Matsushima và Kisakata là những đoạn hay đặc biệt nổi tiếng với người đọc, còn nhiều đoạn khác hầu như đều đẹp đẽ. Những đoạn văn khác ở mức độ khiêm tốn hơn. Basho khi quan sát truyền thống thơ renga (liên ca) bao gồm những đoạn mà chất thơ rõ ràng kém hơn thơ cũ hoặc mới, dường như để tránh làm kiệt quệ văn bản với một loạt đoạn văn ngắn như những viên ngọc không thể đập vỡ.

            Đã nhiều thế kỉ trôi qua, môt trong những nguyên nhân khiến người Nhật đi du lịch là đi để ngắm những bức thư pháp viết thơ và những nơi đã được nhắc tới trong thơ ca và nguyên nhân này chắc cũng là lí do rõ ràng khiến Basho làm những chuyến lữ hành dài. Điều này giải thích vì sao đôi khi ông phải đi vòng quãng đường dài để ngắm được những nơi mà nhiều người khác thờ ơ bỏ qua cái bối cảnh chất thơ của nó bởi vì họ chẳng thấy gì thú vị. Basho ghi chép miêu tả  về những nơi ông đến thăm,  không chỉ những nơi đáng nhớ vì có truyền thuyết hoặc bài thơ cổ liên quan đến chúng, điều này đến lượt nó lại lôi cuốn được vô số người Nhật (kể cả người nước khác) đi du ngoạn và ngắm chúng bằng chính mắt mình.

            Basho ghi chép rất ít về Sora người bạn đồng hành trong gần suốt chuyến đi, ông cũng không nhắc đến tên thực hoặc nghề nghiệp của mình hoặc lí do nào đã khiến ông đi lang thang, đã gây cảm hứng cho ông làm cuộc lữ hành dài lâu mà thỉnh thoảng phải chịu đựng nỗi đau đớn trên đường. Tuy vậy ông vẫn gián tiếp kể cho chúng ta khá nhiều về bản thân, và rõ ràng bức chân dung tự hoạ của Basho cũng xuất hiện trong “Oku no Hosomichi” có thể  là lí do hấp dẫn nhất cho sự hâm mộ tác phẩm này.

            Tất nhiên Bahso có cảm giác cao độ với vẻ đẹp của thiên nhiên nhưng ông còn miêu tả rất nồng nhiệt những con người ông gặp trên đường đi, và cả những con người đã quá vãng, không ít hơn con người hiện tại, những người quá cố vẫn luôn luôn “sống” với ông. Những ấn tượng của ông dù được miêu tả trong thơ hay văn xuôi đều có khả năng vượt thời gian.

            Mặc dù nhiều phong cảnh trong số các bức tranh phong cảnh được Bahso miêu tả thật huyền diệu đã bị biến dạng trong những năm gần đây thì vẻ đẹp của chúng vẫn sống trong tập văn “Oku no Hosomichi” và sẽ tiếp tục khuấy động các thế hệ tương lai với ham muốn đi cùng Basho trên cuộc lữ hành của ông vào cõi sâu thẳm của thế giới thơ.

(Bản dịch tiếng Việt: Phùng Hoài Ngọc)

&

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Basho trên đường đi về vùng Oku (Đông bắc)

Tập văn thơ  “Nẻo đường sâu thẳm lên miền Oku”.

Nguyên văn chữ Nhật:

おくのほそ道

Phiên âm la tinh: “Oku no Hosomichi”

Tài liệu gốc do Nhà xuất bản: Kodansha International Ltd, 1996 ấn hành.

Donald Keene dịch sang tiếng Anh là “The Narrow Road to Oku”

Donald Keene sinh năm 1922 ở New York, nhà nghiên cứu văn học Nhật Bản ở Mỹ, giáo sư đại học Columbia, ông đã giới thiệu và phê bình văn học Nhật rất sâu sắc. Tờ báo Yomiuni trao tặng giải thưởng Kikichikan cho những tác phẩm nổi tiếng của ông như “Người lữ khách trăm năm” và “Lịch sử văn học Nhật Bản”.

PHN.


Matsuo Basho

Nẻo đường sâu thẳm lên miền Oku

(Oku no Hosomichi)

 

            Tháng và ngày là những lữ khách của muôn đời. Năm mới đến và đi là những chuyến đi dằng dặc. Những người mà cuộc sống của họ trôi nổi đó đây trên con thuyền hoặc trên lưng ngựa cứ mãi mãi du hành, và ngôi nhà của họ là bất cứ nơi đâu họ đến nghỉ chân. Rất nhiều người già trong số họ đã chết trên đường đi, và tôi cũng trải nhiều năm qua chịu sự khuấy động của những đám mây cô đơn trôi dạt với cơn gió và những suy  tư liên miên rong ruổi.

            Năm ngoái tôi lang thang dọc theo những vùng duyên hải, đến mùa thu tôi quay lại căn nhà tranh của mình bên bờ sông và quét sạch mạng nhện. Dần dần năm ngoái cũng đóng lại. Khi mùa xuân đến và sương mù dày đặc bầu trời, tôi nghĩ đến việc vượt qua cửa ải Shirakawa để tiến vào vùng Oku núi rừng Đông bắc. Tôi dường như bị chế ngự bởi các vị Thần-lang-thang và họ đều chiếm lĩnh cảm xúc của tôi. Các vị Thần-bảo-vệ-trên-đường thì vẫy tay gọi và tôi không thể yên tâm vào công việc gì.

            Tôi khâu vá lại những chiếc quần và thay dây buộc trên chiếc nón tre. Để tăng cường sức khoẻ đôi chân, tôi “moxa” đốt hai đầu gối (#). Lúc ấy tôi chẳng nghĩ gì khác hơn là mong ngóng được ngắm vầng trăng ở Matsushita. Khi tôi bán căn nhà tranh và dời đến ở nhờ nhà Sampu chờ lên đường, tôi treo bài thơ này lên cây cột trong căn nhà cũ:

Ngay cả túp lều cỏ

đổi thay theo chủ mới

trở thành ngôi nhà xinh 

(Bài 1)

            Đây chỉ là phần đầu của bài thơ tám dòng.

 

Mùa xuân ra đi

             Tôi khởi hành vào ngày 27 tháng 3 *[1], bầu trời buổi sớm mù sương. Từ sớm, vầng trăng tắt dần ánh sáng, nhưng cái đỉnh nhọn của núi Fuji (Phú sĩ) nhìn thật lộng lẫy. Mùa hoa anh đào đang nở rộ trên cành cây ở Ueno và Yanaka khuấy lên những ý nghĩ buồn bã trong tôi khi tự hỏi bao giờ mình có thể nhìn lại chúng. Những người bạn thân thiết nhất của tôi từ  khắp nơi đã kéo đến nhà tôi đang ở với Sampu từ đêm trước để tiễn biệt tôi trên thuyền.

             Khi tôi rời khỏi thuyền ở một cái bến gọi là Senju, ý nghĩ về chuyến đi dài làm tôi xúc động mạnh. Tôi đứng đó trước ngã rẽ chia tay với cái thế giới nửa thực nửa hư, bất giác  trào ra những dòng lệ phân ly:

Mùa xuân ra đi

tiếng chim nức nở

mắt cá  lệ đầy

(Bài 2)

            Tôi dời chân sau khi viết vần thơ này, bài thơ mở đầu cuộc hành trình, nhưng tôi không thể nhìn thẳng phía trước, vì cứ quay lại nhìn những bạn hữu còn đứng trên thuyền, nhìn chăm chăm cho đến khi chúng tôi không thấy bóng dáng nữa.

            Năm nay, năm thứ nhì của đời vua Genroku *[2], một ý nghĩ bất ngờ chợt đến rằng tôi sẽ đi bộ suốt hành trình đến Oku xa xôi. Cũng chẳng lo chi nếu không may chuyến đi quá dài làm tôi bạc tóc trên đường, bởi tôi muốn xem tất cả những nơi tôi nghe tiếng từ lâu mà chưa bao giờ đến thăm được. Nó khiến tôi sẽ vẫn cảm thấy hạnh phúc nếu không thể sống mà về đến quê nhà. Trong cuộc ra đi mong manh hi vọng trở về, tôi cố gắng đeo đuổi lộ trình đến thị trấn Soka mà tôi nghĩ khó đạt tới trong ngày đầu lên đường.

            Cái đau khổ đầu tiên tôi chịu đựng là sức nặng của túi đeo trên đôi vai gày trơ xương. Tôi đã dự kiến trước khi lên đường không mang theo vật gì ngoài mấy bộ quần áo nhẹ như giấy che chở khỏi những đêm lạnh. Sau đó lại mang những thứ như áo choàng tắm, áo mưa, bút mực và các linh tinh khác là quà tặng của bạn mà tôi không thể từ chối hay quăng đi. Đó là những thứ phiền hà nặng nề trong chuyến đi và tôi cũng chẳng làm gì được với chúng nữa.

            Chúng tôi ghé thăm Đền thờ-không-cửa thuộc vùng Cauldron. Sora bạn đồng hành với tôi kể câu chuyện: “Vị thần của đền thờ này mệnh danh là hoàng tử của mùa hoa nở, đồng thời là vị thần núi Fuji. Ngôi đền được gọi là “không cửa” kể từ khi nữ thần bước vô trong tự nhốt mình, sau đó sinh ra công chúa “Ánh lửa” trong ngọn lửa bà thắp lên để chứng minh lòng trung thực của mình. Điều này giải thích vì sao các bài thơ về đền này hay nhắc tới “làn khói” *[3]. Nơi đây có tục lệ cấm ăn  một loài cá tên là konoshiro*[4]

            Đến ngày 30 tháng Ba, chúng tôi dừng lại dưới chân núi Nikko. Người chủ quán trọ nói với cho chúng tôi: “Tên tôi là Phật Gozaemon. Dân chúng gọi tôi là phật  bởi vì tôi trung thực trong mọi việc tôi làm đến mức nếu bạn cần nghỉ ngơi một đêm xin mời thoải mái, tự nhiên như ở nhà”. Tò mò thấy một vị Phật xuất hiện trong thế giới hỗn loạn và mục nát này để che chở cho kẻ hành hương khất thực, tôi quan sát thái độ đối xử của ông chủ, và thấy rằng mặc dù anh ấy vô tư vụng về nhưng quả thực anh ấy chân thực, như lời Khổng tử là “khoẻ mạnh, giản dị và nói chậm như một con người sắp thành bậc thánh”. Trái tim trong sạch của anh ta thật đáng ngợi ca.

            Trong ngày đầu của tháng thứ 4 chúng tôi làm lễ cúng ở ngọn núi linh thiêng.Thời xưa tên của ngọn núi này là viết là Nikko, nhưng khi đại sư Kukai phát hiện ra ngôi đền ở đây thì đặt tên là đền Nikko hoặc “Ánh mặt trời”. Tôi băn khoăn rằng có phải người đã có thể nhìn suốt ngàn năm sau. Giờ đây ngôi đền có ánh sáng linh thiêng chiếu khắp đất nước, và những lời cầu nguyện chảy tràn khắp những góc hẻo lánh xa xôi nhất. Bốn giai cấp tầng lớp dân sống trong hoà bình và an ninh. Nhưng ở đây với lòng ngưỡng mộ tôi cần phải hạ bút*[5] viết:

Đáng cảm phục làm sao

Trên những lá xanh non tơ

Ánh sáng mặt trời

(Bài 3)

Đỉnh núi Kurokami-yama (còn gọi là Núi tóc đen) ẩn hiện trong sương mù và tuyết vẫn trắng phau. Sora viết bài thơ sau:

Tôi cạo trọc đầu

Và bây giờ ở núi Tóc đen

đến lúc thay y phục *[6]

            Dòng họ của Sora là Kawai, tên thực là Sogoro. Anh ta làm một căn nhà cạnh nhà tôi dưới những tàu lá chuối *[7], và giúp kiếm củi, lấy nước cho cái bếp của tôi. Chuyến đi này anh vui vẻ hứng thú đi cùng tôi ngắm cảnh Matsushima và Kisakata, mặt khác anh cũng có ý chia sẻ khó khăn của chuyến đi với tôi. Buổi sớm hôm khởi hành, anh cạo trụi tóc và thay bộ đồ đen. Anh cũng “thay đổi” tính cách bằng sự đổi tên như môt  ngụ ý đạo Phật. Đó là lý do tạo sao anh viết bài thơ về Núi-tóc-đen. Tôi cho rằng từ “thay trang phục” đặc biệt có hiệu quả.

            Chúng tôi leo trèo chừng một dặm lên ngọn núi, đến một cái thác nước cao khoảng trăm thước ào ạt đổ qua những phiến đá hàng ngàn lớp như mái nhà chảy xuống một cái hồ nước sắc lưu li. Tôi lách mình vào thạch động và có thể nhìn thấy cảnh thác nước từ đằng sau nên cái thác này được mang tên “Thác nhìn từ sau”:

Trong một lúc

tôi sẽ khép mình vào trong thác

Mùa hè  ẩn dật ra hoạt động  * [8]

(Bài 4)

            Tôi có một người quen ở vùng Kurobane (cánh đen) thuộc Nasu và nghĩ rằng có thể đi tắt qua những cánh đồng mà đến được Nikko. Trời bắt đầu mưa và tối dần khi chúng tôi lội bộ, mắt chúng tôi dõi về  một cái làng lờ mờ từ xa. Chúng tôi thuê một căn phòng trọ của một nông dân. Khi trời sáng dần, chúng tôi lại lên đường đi qua những cánh đồng. Chúng tôi thấy một con ngựa đang thả cỏ trên đồng và xin một người nông dân đang cắt cỏ giúp đỡ. Anh ta là một nông dân thô ráp quê mùa nhưng chẳng phải thiếu tình cảm. Anh nói “Để tôi tính, xem cách nào tốt nhất cho các ông. Những cánh đồng này đi tới có nhiều lối. Các ông du khách không biết đường, dễ bị lạc lắm. Tôi lo chuyện đó đấy… Thôi cứ cưỡi ngựa đi, đến khi nó dừng lại thì thả nó  tự quay về”. Anh ấy cho chúng tôi thuê con ngựa.

            Hai đứa trẻ chạy theo sau ngựa. Một đứa con gái có tên Kasane (có nghĩa là đôi, kép). Cái tên kì lạ mà duyên dáng khiến Sora đọc lên bài thơ này:

Kép- chắc hẳn là

tên ai đó đặt cho

màu hồng hoa cẩm chướng

            Đi một hồi lâu tới một cái làng, tôi thả con ngựa quay lại với một ít tiền buộc vào yên ngựa.

Con chim chiền chiện

            Chúng tôi ghé thăm ngôi nhà ông Joboji, phó thủ lãnh lâu đài vùng Kurobane. Ông chủ rất vui mừng vì cuộc thăm viếng bất ngờ, và chúng tôi trò chuyện rất nhiều suốt ngày đêm. Em trai ông ấy tên Tosui, thường đến thăm hỏi chúng tôi và còn mời chúng tôi đến nhà riêng . Chúng tôi còn được mời đến thăm mấy nhà bà con của anh nữa. Nhiều ngày như thế trôi qua. Một hôm chúng tôi đi dạo ngoài thị trấn, ngắm cảnh và tìm xem dấu tích nơi săn chó ngày xưa. Chúng tôi chui qua rừng tre ở Nasu, và viếng ngôi mộ cổ của tiểu thư Tamamo. Từ đó chúng tôi đi lễ ở đền thờ Hachiman. Tôi đặc biệt cảm động khi biết rằng đền thờ này rất linh thiêng nơi mà

Yoichi đã cầu nguyện “đặc biệt với Sho Hachiman vị thần bảo hộ cho xứ sở chúng tôi” trước khi ông bắn mũi tên trúng vào cây quạt*[9]. Trời tối rồi, chúng tôi quay trở về nhà Tosui. Có một ngôi chùa tu khổ hạnh của amabushi, còn gọi là Kommyoji gần đó. Tôi được mời vào, dâng lễ ở đaị sảnh của các sư tăng:

Trong dãy núi mùa hè

Tôi cúi lạy trước đôi giày gỗ của núi

Cuộc hành trình mới bắt đầu.*[10]

(Bài 5)

            Dấu tích còn lại của căn lều trong đó thiền sư Butcho*[11]  từng sống trong núi đằng sau ngôi chùa Ungan thuộc xứ này.

Thật khó khăn

Ngay cả bụôc chặt cỏ để đan thành

 túp lều nhìn quanh chưa đầy hai thước

giá như trời đừng mưa.

            Butcho có lần bảo tôi rằng ông đã viết bài thơ trên với mảnh than cây thông cháy trên một tảng đá.Tôi nghĩ tôi nên đi xem những gì còn lại trong căn lều của ông và đi, một tay chống gậy hướng về phía đền Ungan. Mấy người ngỏ ý dẫn đường cho tôi. Phần lớn họ còn trẻ đi thành đoàn vui vẻ lắm, trước khi chúng tôi nhìn thấy ngọn núi thì đã thấy mình đến chân núi rồi.

            Dãy núi kéo dài xa hút tầm nhìn hiện ra. Dọc theo đường thung lũng dẫn chúng tôi vào một khoảng rộng, rêu phủ đầy từ những cây thông và cây tuyết tùng. Bầu trời mặc dù mùa hè nhưng vẫn lạnh. Khi chúng tôi vượt qua mười cảnh quan nổi tiếng thì đi qua một cái cầu và bước vào cổng đền. Ngẩn ngơ không biết dấu tích của thiền sư Butcho ở đâu, tôi loay hoay trèo lên núi đằng sau đền, và ở đó tôi nhận thấy

trên đỉnh một tảng đá, thấy một cái miễu nhỏ xây tựa vào một cái hang đá.  Dường như tôi đang nhìn thấy hai chữ “Cửa ải chết” của Myo hoặc ngôi chùa đá của Houn hoshi *[12]

Ngay đến chim gõ kiến

không làm hại căn lều nhỏ

đậu trên cây mùa hè.

(Bài 6)

            Tôi để lại bài thơ tức cảnh này trên cột lều.

            Từ đây chúng tôi lên đường đi thăm “Những hòn đá đoạt sinh mạng” Tôi được đi bằng xe ngựa do quan phó thủ lãnh bố trí. Người đàn ông cưỡi ngựa nhờ tôi viết cho anh ta một bài thơ. “Chẳng biết viết cái gì tao nhã hợp ý muốn anh ta” tôi nghĩ ngợi, và viết:

Đi theo con đường ngựa

vượt qua đám cỏ sình lầy – tôi nghe

một con chim chiền chiện

(Bài 7)

            “Những hòn đá đoạt sinh mạng” nằm trên vùng đất cao, gần nơi một giếng nước nóng phun trào. Hơi khí chảy ra từ những hòn đá vẫn không tan mất chất độc của nó. Vì thế nhiều con ong, con bướm chết và nhiều thứ côn trùng cũng chết, xác chất thành đống đến nỗi tôi không thể nói màu của cát đá là gì.

             Cây liễu nơi có “dòng nước trong như kim cương”*[13] đứng trên một con đường nhỏ xuyên qua cánh đồng lúa gần làng Ashino.Về sự hoàn hảo của huyện này, một thư ký nào đó đã thường nói anh ta muốn chỉ cho tôi cây liễu đó và tôi cũng đã từng tò mò cây liễu đó bây giờ ở đâu. Hôm nay tôi đứng ngay dưới bóng mát chính cây liễu ấy.

                   Họ gieo mạ trên khắp cánh đồng

và lúc đó tôi rời khỏi

cây liễu của Saigyo.  

                               (Bài 8)

            Ngày lại ngày trôi qua trong sự bất ổn mơ hồ, nhưng khi chúng tôi tiến gần đến cửa ải Shirakawa tôi cảm thấy mình đã ổn định với tinh thần lữ khách. Bây giờ tôi đã hiểu vì sao các nhà thơ từng đi tìm kiếm cái gọi là “nói với ai đó ở kinh đô cảm giác của họ” khi vượt qua cửa ải này*[14].

            Shikarawa là một trong ba cửa ải nổi tiếng đi vào xứ bắc, nơi thu hút tâm trí bao người. Tôi cảm thấy mình nghe được những cơn gió mùa thu và nhìn thấy những chiếc lá phong  thường được nhắc đến trong những bài thơ của họ và điều này còn cho ta cảm xúc trước những vẻ đẹp hơn những chiếc lá xanh non trên những cành cây trước mắt tôi. Màn lụa trắng lá cây roi ngựa hoà lẫn đám hoa hồng dại đang nở khiến tôi cảm giác mình đang vượt qua cửa ải trong tuyết trắng. Từ lâu một số người có lần bày tỏ lòng ngưỡng mộ với cửa ải này bằng cách đội ngay ngắn chiếc mũ tưởng niệm  và thay trang phục hợp nghi thức hoặc tương tự – những điều đã được ghi lại với ngòi bút của Kiyosuke *[15].

Những cành hoa hồng dại nhỏ bé

nhô ra trong nón tôi- chúng sẽ là

bộ đồ thích thú của tôi

                                       Sora

 Hòn đảo nón mưa     

            Sau khi đi ngang qua của ải Shirakawa với cách này, chúng tôi lại vượt qua sông Abukuma. Hướng về núi Aizune bên trái, đi về bên phải là lãnh địa Iwaki, Soma và Miharu. Một dãy núi tạo ra đường biên giới giữa các tỉnh Hitachi và Simotsuke.

            Hôm nay khi chúng tôi đi qua khu Đầm-lầy- gương-soi, bầu trời nhiều mây và chẳng có ánh phản chiếu nào trên “đầm gương”. Chúng tôi ghé thăm một người tên Tokyu trong thị trấn Sukagawa, và anh ấy giữ chúng tôi ở nhà anh khoảng  bốn năm ngày. Điều đầu tiên anh ta hỏi là “Ấn tượng của các anh khi vượt qua cửa ải Shirakawa là gì ?”. Nỗi vất vả khó khăn của chuyến đi dài đã hút kiệt sức tôi cả thể xác lẫn tâm thần, và tôi đã bị chiếm lĩnh bởi những cảnh quan  nhìn thấy, bởi thế sự xúc động sâu xa với những hồi ức quá khứ thức dậy đến nỗi tôi đã có thể hình thành những ý tưởng mới. Nhưng khi tôi nhắc lại với Tokyu, điều đó  thật đáng tiếc nếu tôi cho phép mình bỏ qua  không ghi vào lưu niệm. Tôi viết ra bài thơ này:

Nơi bắt đầu thực sự

của thi ca- một vùng đông bắc

những bài ca trồng lúa.

(Bài 9)

            Vần thơ thứ hai và ba đã ghi sâu trong tôi, và thậm chí tôi sáng tác được ba  cuộn thơ liên hoàn khác nữa.

            Không xa thị trấn này có một nhà sư đã quay lưng với thế gian đang sống dưới bóng một cây hạt dẻ lớn. Sự lặng lẽ thanh tịnh của cảnh vật làm tôi băn khoăn, câu thơ Saigyo “núi sâu thẳm nơi tôi hái hạt dẻ ” có giống như thế này không, và tôi vội vã ghi nhanh những tiếng này vào tờ giấy cũ: “Chữ hạt dẻ  được viết bằng hai phần “tây” và “cây” (mộc) ngụ ý thiên đường ở phía Tây *[16]. Người ta nói rằng đức Bồ Tát Gyogi suốt đời dùng gỗ cây hạt dẻ làm gậy chống và làm cột nhà .

Những người của thế giới này

không ai biết có một mùa hoa

cây hạt dẻ bên những mái hiên

(Bài 10)

                        Rời khỏi ngôi nhà của Tokyu chúng tôi đi tiếp hơn 10 dặm. Một lần chúng tôi đi qua Hiwada, nhìn thấy núi Asaka bên phải trước mắt tôi, gần đường lộ. có nhiều bãi đầm lầy ở vùng xung quanh. Vì sắp đến mùa hoa lúa yến mạch nước được thu hoạch, tôi hỏi thăm nhiều người cây nào là hoa lúa yến mạch nước nhưng chẳng ai biết cả.*[17]. Tôi ngưỡng mộ những đầm lầy và nhiều lần hỏi thăm dân chúng về cây lúa mạch nước, lúc này thấy mặt trời đã chạm tới rìa núi.

            Đến Nihonmatsu, chúng tôi đi tắt sang bên phải và sau khi xem xét sơ qua hang động ở Đồi đen, lại tiếp tục hướng về Fukushima và nghỉ đêm ở đó.

            Sáng hôm sau chúng tôi thẳng hướng đến làng Shinobu và tìm kiếm Phiến- đá -xoa. Hòn đá ngập một nửa trong đất trong một làng nhỏ dưới bóng râm của một dãy núi không xa. Trẻ em trong làng chạy đến, bảo chúng tôi “Ngày xưa hòn đá ở tận trên đỉnh núi, nhưng có những người dân muốn xoa chà hoa văn trên đá, đã xô đẩy tảng đá lăn xuống ruộng lúa. Việc đó khiến những người nông dân nổi giận nên họ đẩy phiến đá xuống thung lũng này, bởi vậy bề mặt đá lún xuống”. Chuyện ấy cũng có thể xảy ra thôi.

Những bàn tay khéo léo nay nhổ mạ gieo hạt,

đã từng dùng để ấn xoa

những hoa văn từ phiến đá

(Bài 11)

            Chúng tôi vượt qua sông ở bến phà Moon Wheel (Bánh xe trăng) và đến được thị trấn Se Noue. Những di tích cổ xưa từ thờ Sato Shoji cách khoảng ba dặm phía tay trái, bên rìa núi. Tôi nghe nói rằng những di tích ấy thuộc Sabano trong làng Iizuka, và đi loanh quanh hỏi thăm dân xem nó ở chỗ nào. Cuối cùng tôi được chỉ dẫn tới nơi gọi là Maruyama. Nơi đây những chứng tích cư dân thời Sato Shoji còn đứng đó. Tôi không cầm được nước mắt khi nghe dân chúng nói những gì còn lại này được tìm thấy ở chân núi. Trong một ngôi đền cổ gần mấy bia mộ của toàn bộ gia đình vẫn được giữ gìn bảo vệ. Trong số đó hai ngôi mộ của hai người phụ nữ chôn chung với gia đình Sato, họ vốn là hai nàng dâu của dòng họ viên tướng tài ba này. Họ là phụ nữ nhưng  nổi tiếng anh hùng biết bao ! Tôi lấy tay áo gạt lệ mà suy tư về họ. Người ta không cần phải sang tới Trung Quốc để tìm “tấm bia đá chảy nước mắt”.

            Tôi đi vào trong đền hỏi xin nước trà, chúng tôi biết rằng thanh kiếm của Yoshitsune và cái tráp đeo của Benkei còn được giữ như báu vật của ngôi đền.

Kiếm và tráp cả hai

trưng bày trong lễ Hội Con Trai tháng Năm

khi lá cờ giấy tung bay *[18]      (Bài 12)

            Bài thơ này viết trong ngày 1 tháng Năm.

            Đêm đó chúng tôi nghỉ lại ở Iizuka. Chúng tôi tắm suối nước nóng nơi đây và sau đó thuê một phòng ở quán trọ. Nhà trọ tồi tàn với chiếu rơm trải trên mặt sàn dơ dáy. Nơi đây thậm chí chẳng có được một ngọn đèn lồng, bởi vậy chúng tôi thu xếp chỗ ngủ trong ánh sáng bếp củi lò sưởi và nằm  xuống. Đêm đó sấm sét gầm rú  và mưa rót xuống không nghỉ, dột ngay chỗ chúng tôi nằm. Tôi còn không ngủ được vì đám rệp và muỗi cắn rứt làm cho tình trạng càng tệ hơn. Tôi lại bị một căn bệnh thường kỳ tái phát cơn sốt, càng lúc càng nặng hơn đến nỗi tôi gần như ngất đi.

             Bầu trời đêm mùa hè ngắn ngủi chỉ loe loe sáng, và chúng tôi lại tiếp tục chuyến đi. Hậu quả của đêm trước còn đọng lại và tôi chỉ có  chút niềm vui nho nhỏ trong chuyến đi. Chúng tôi thuê ngựa đi và phóng tới thị trấn Koori. Tôi rất khó khăn mới vượt qua được cơn bệnh, mong mỏi mau tới đích, lại tự nhủ thầm rằng trước khi lên đường đến những vùng xa xôi của đất nước, tôi đã ý thức rằng có thể mắc tai nạn rủi ro. Thậm chí tôi có thể chết trên đường thì đó cũng là ý Trời. Những băn khoăn lo lắng này lẩn quất trong đầu tôi và bây giờ thì bước đi quả quyết hơn, tôi vượt qua cổng lớn của thành Date.

            Chúng tôi bỏ lại sau lưng Abumisuri và Lâu đài đá trắng, sau đó đi vào huyện

Kasashima- hòn đảo “Nón mưa”. Khi tôi hỏi thăm một người đàn ông đâu là ngôi mộ trung tướng Sanekata *[19], ông trả lời “Những làng ông sẽ nhìn thấy ở chân núi phía xa đi về bên phải là làng “Bánh xe áo mưa”(Minowa) và làng “Đảo nón mưa” (Kasajima). Ông sẽ thấy một ngôi đền thờ vị thần “Bảo vệ khách qua đường” và “Những đám cỏ lau đáng nhớ” đã được nhắc trong bài thơ *[20]. Con đường thì rất tồi tệ vì những cơn mưa, và tôi cũng đã rất mệt mỏi rồi; do vậy tôi cất bước mà mắt dõi phía trước” tìm Minowa và Kasajima- những cái tên đất rất thích hợp với những cơn mưa mùa hạ đến sớm, tôi ngẫm nghĩ:

Hòn đảo nón mưa

bạn đã nói nó ở chỗ nào ?

Những nẻo đường ngập bùn tháng Năm

                         (Bài 13)

            Chúng tôi nghỉ đêm đó ở Iwanuma.

            Cây tùng ở Takekuma có vẻ đẹp lạ lùng. Rễ cây chia thành hai nhánh ngay sát gốc, chứng tỏ rằng chúng không mất đi hình dáng thuở xưa. Ý nghĩ đầu tiên của tôi hướng về vị trưởng tu Noin. Nhiều năm trước có một nhà quí tộc từ thủ đô đi xuống vùng này làm quan trấn thủ Mutsu, ông ta hạ cây tùng Takekuma lấy gỗ làm cọc chống cây cầu bắc qua sông Natori. Đó là nguyên nhân ra đời bài thơ của vị trưởng tu ở Natori có câu “Còn đâu dấu vết cây tùng” *[21]. Tôi được nghe kể rằng, qua nhiều thế hệ sau, mỗi khi cây tùng bị chặt đi thì một cây tùng khác lại được trồng ngay đúng chỗ cũ. Có lẽ là cây tùng ngày nay lấy lại được y như ngày xưa vậy.

 

Cây tùng sinh đôi

Ngày tôi tiếp tục lên đường, Kyohaku tặng tôi bài thơ chia tay như sau:

Hoa đào đã tàn rồi

Hãy cho anh ta xem ít nhất

Cây tùng Takekuma

Bài thơ ấy gợi hứng tôi viết bài thơ này:

Kể từ lúc hoa anh đào nở

Tôi đã bám chặt cuộc hành trình

nay thấy cây tùng sinh đôi

đã ba tháng trôi qua.

(Bài 14)

            Chúng tôi vựơt qua sông Natori và đi vào xứ Sendai. Hôm đó đúng ngày “lễ trừ ma quỉ”. Chúng tôi tìm được một nhà trọ, ở đó bốn năm ngày. Một hoạ sĩ tên Kaemon sống nơi đây. Nghe nói anh là người có một phong cách nghệ sĩ độc đáo nên tôi muốn quen biết anh. Anh tâm sự rằng đã nhiều năm theo đuổi nghiên cứu những xứ sở được tả trong các bài thơ nhưng trước giờ vẫn chưa xác định rõ. Anh bỏ cả ngày chỉ dẫn  chúng tôi đi coi những cảnh vật ấy. Những cánh đồng vùng Miyagi dày đặc loài cây cỏ ba lá mỗi nhánh, loài cây cỏ dại mùa thu ở Nhật Bản nở hoa màu hồng hình bầu dục, nhưng giờ đây tôi đã tưởng tượng ra cảnh mùa thu chúng sẽ đẹp biết chừng nào ! Bây giờ đã đến mùa hoa andromeda (asebi) nở khắp Tamada, ở Yokono và trên ngọn đồi Azalea… Chúng tôi đi sâu vào một cánh rừng tùng bách nơi cành lá mọc rậm đến nỗi hầu như chẳng có tia nắng mặt trời rọi qua được. Họ gọi khu rừng này là “Nấp bóng tùng”. Ngày xưa chắc hẳn sương móc u ám bầu trời nặng nề tới mức nhà thơ đã viết: “Này anh võ sĩ samurai, anh hãy  mang theo chiếc dù cho ông chủ” *[22].

            Chúng tôi đến cúng lễ tại đại sảnh đền thờ “đức Phật chữa trị”, đền thờ Tenjin và những nơi linh thiêng khác. Kaemon lại giới thiệu chúng tôi mấy bức trnh kí hoạ của anh vẽ ở Matsushima, Shiogama và những nơi nổi tiếng khác trên lộ trình, và khi chia tay anh tặng món quà là một đôi dép rơm quai đan nhộm màu xanh xẫm. Nhìn món quà tôi biết anh là người  phong lưu thanh nhã.

Tôi sẽ buộc cây diên vĩ đang hoa

quanh bàn chân mình

làm dây buộc dép.

(Bài 15)

            Chúng tôi tiếp tục lộ trình, đi theo sơ đồ anh hoạ sĩ Kaemon vẽ cho. Ở chân núi biên giới của xứ Đông bắc đường nhỏ khó đi, nơi có loài cỏ To nổi tiếng đang mọc. Nghe nói ngay đến bây giờ người dân vùng này vẫn đan chiếu, dệt thảm bằng loại cỏ này để tặng quan trấn thủ địa phương.

            Bia đá kỉ niệm Tsubo đứng ở lâu đài Taga *[23] trong làng Ichimura. Bia cao hai thước và rộng khoảng một thước, tôi đoán vậy. Khi tôi cạo đi những đám rêu phủ trên mặt đá, một hàng chữ khắc hiện ra dưới đất khiến tôi choáng ngợp, nó ghi dấu khoảng cách xa vời tới mọi góc khuất của đất nước. Tôi đọc lên: “Lâu đài này được xây dựng lên trong năm đầu tiên của triều đại Jinki (năm 724) bởi đại tướng quân Ono Azumabito, thanh tra chính phủ, và được sửa chữa trùng tu năm thứ 6 triều đại Tempyohoji (năm 762) bởi tướng quân Emi no asomi Asaka, đại tướng chỉ huy vùng Đông hải, quận Đông sơn và thống chế Ono. Khắc ngày 1 tháng 12”

            Rất nhiều địa danh được gìn giữ trong thi ca từ thời xa xưa nhưng vì cảnh núi lở sông lấp, những con đừơng cũ nhường chỗ cho đường mới, những phiến đá bị chôn vùi và biến mất tích trong lòng đất, cây cối già lụi và nhường chỗ cho cây non. Thời gian trôi qua và thế giới thay đổi. Dấu tích quá khứ được bao phủ trong những cái không chắc chắn, bất định… Và tuy vậy ở nơi đây, trước mắt tôi là một bia đá không từ chối quá khứ nghìn năm. Tôi cảm thấy như thể tôi đang nhìn sâu vào tinh thần trí óc của những con người quá khứ ấy. “Chỗ này” tôi nghĩ “là một trong những niềm vui du ngoạn và là một phần cuộc sống tôi đang lớn lên, đang trưởng thành. Tôi quên hết cả những mệt mỏi dọc hành trình mà xúc động rơi nước mắt vì vui quá.

            Chúng tôi tiếp tục đi thăm dòng sông Tama xứ Noda và “Những mỏm đá trên bờ biển”- những nơi từng được miêu tả trong thi ca. Trên dãy núi được gọi là “Cây tùng ở chót cùng” có một ngôi đền cùng tên *[24] . Khi tôi nhận ra rằng giữa những gốc cây tùng đầy những nấm mồ thì tôi bị cảm giác buồn bã tràn ngập với ý nghĩ rằng những lời thề hẹn thuỷ chung gắn bó mãi mãi của những đôi vợ chồng yêu nhau  thế mà rồi cũng phải kết thúc dưới ba tấc đất. Tôi lại đi về phía vịnh Shiogama, tôi nghe tiếng chuông gọi đọc kinh chiều gửi đi bức thông điệp báo sự tàn phai.

            Bầu trời đã giảm bớt mây u ám. Dưới ánh trăng chiều ngây ngất, hòn đảo Magaki  trên mặt nước như gần lại trong tầm tay. Mấy con thuyền câu cá nhỏ bé đang chèo vào bờ, và tôi nghe tiếng nói của mấy người dân chài đang chia cá. Tôi thầm nghĩ với niềm vui “bây giờ ít ra tôi đã hiểu tại sao nhà thơ viết thế này”:

Ở Michinoku

nơi đâu cũng duyên dáng

nhưng Shiogama

khi những con thuyền được kéo vô bờ

đẹp tuyệt vời hơn tất cả*[25]

(Bài 16)

            Đêm đó tôi lắng nghe một thầy pháp mù gảy đàn tì bà  những bài ca buồn nhẹ vùng nông thôn miền Bắc. Nó hoàn toàn khác với những câu chuyện chiến tranh và những bài nhạc đệm cho nhảy múa *[26]. Âm thanh thôn đã bắt lên cao của anh nghe sát bên tai tôi với cảm giác u sầu, nhưng lại cho tôi cảm giác thoả mãn nghĩ rằng những thú vị truyền thống của bài ca buồn nhẹ không bị lãng quên ở góc đất nước hẻo lánh này.

            Sớm hôm sau chúng tôi đi viếng thăm đền thờ Myojin ở Shiogama. Ngôi đền được ông chủ tỉnh xây dựng, có những cái cột uy nghi đường bệ, những rui trần sơn sáng loáng và những cái bậc đá bay bổng lên. Mặt trời buổi sớm toả ánh nắng lấp lánh trên những cái hàng rào sơn màu đỏ rực. Tôi cảm thấy tự hào xúc động nghĩ rằng đây là nơi tiêu biểu cho miền quê đất nước, cho sự biểu hiện kì diệu của Thượng đế đã xuất hiện ở một nơi xa xôi đến thế, ở góc tận cùng thế giới.

            Trước cửa ngôi đền là một cây đèn lồng cũ kỹ. Cánh cửa bằng kim loại mang dòng chữ: “Kính dâng bởi Izumi Saburo trong năm thứ 3 triều đại Bunji (năm 1187).” Thật lạ lùng những lời này và cảnh vật năm trăm năm trước hiện lên rõ rệt. Izumi từng là chiến sĩ quí tộc dũng cảm mà tên tuổi ông còn vang mãi đến bây giờ; chẳng có ai mà không lưu giữ ông trong lòng kính trọng của mình. Thực là có thể nói rằng “một con người có thể hành động theo cách nào đó và giữ được sự chính trực của mình. Sự nổi tiếng sẽ tuỳ thuộc vào việc đó *[27].

             Trời đã trưa rồi. Chúng tôi thuê một cái thuyền và chèo tới Matsusima. Sau năm dặm trên biển chúng tôi đến bờ hòn đảo Ojima.

            Dù người ta nói nhiều hay ít, nhưng sự thật là cảnh vật ở Matsusima phải nói là đẹp nhất đất nước Nhật Bản ta, không cần gợi tả bằng hồ Động Đình hay Tây Hồ xứ Trung Hoa. Dòng nước biển từ phía đông nam chảy vào tạo ra một cái vịnh rộng 7 dặm, và khi nước thuỷ triều xuất hiện to lớn ào ạt, (#) giống như ở tỉnh Triết Giang (Trung Quốc). Có vô số hòn đảo. Một số nhấp nhô trỏ lên trời cao, một số khác lại bò trườn trong sóng biển. Có những hòn đảo chồng chất gấp đôi hoặc thậm chí gấp ba đảo khác. Nhìn về phía bên trái, thấy những hòn đảo đứng tách ra độc lập, phía bên phải một số đảo lại dính liền với nhau. Một số đảo trông như thể đang cõng hòn đảo con trên lưng. Một số hòn đảo trông như bồng đảo con trên cánh tay, gợi ra tình mẹ con âu yếm. Màu xanh của những cây tùng là màu xẫm tuyệt vời và những cành nhánh của nó đều đặn uốn cong rập rờn dưới làn gió biển, chứng tỏ  những khúc  cành cây uốn cong dường như chính là bản chất của cây tùng. Cảnh vật có khuôn mặt duyên dáng bí ẩn của một người phụ nữ. Tôi băn khoăn nghĩ phải chăng Matsushima do Thần núi  tạo ra từ thời đại của các thần trị vì trên trái đất này ? Người nào có thể bắt gọn kì quan kiệt tác thiên nhiên vào một bức tranh hay một bài thơ ?

             Ở Ojima, một hòn đảo nối liền với lục địa như bị ném ra biển là những dấu tích căn lều của thiền sư bậc thầy Ungo và tảng đá trên đó ông ngồi toạ thiền. Tôi bắt được một ý tưởng bao trùm đó đây, dưới những gốc tùng của các thiền sư đã từ bỏ thế gian đến tu. Họ sống lặng lẽ trong những căn lều cỏ mà từ đó bốc lên những ngọn khói đốt lá tùng hình kim và quả tùng (khi cây  đổ ngã được đốt lửa nấu ăn). Tôi không hiểu được cách sống của họ thế nào, nhưng cảm thấy bị thu hút về họ. Khi dạo bước trên đường đi của họ, tôi nhìn thấy ánh trăng soi trên mặt biển, cảnh tượng Matsushima khác hẳn với những cảnh tôi thấy ban ngày. Tôi quay lại bãi biển và lấy một căn phòng trong quán trọ, ngôi nhà hai tầng cửa sổ mở hướng ra vịnh. Khi ngả

lưng ngủ trong cái lạnh giá và dưới những đám mây, tôi nếm trải một niềm vui kì lạ.

Ở Matsushima

mượn những cái lông chim sếu

ô kìa sơn ca !

So ra 

Tôi nằm xuống, không thể làm thơ nhưng rất cảm hứng mà ngủ. Tôi nhớ lại  khi rời khỏi căn lều cũ tôi được Sodo tặng một bài thơ chữ Hán của anh viết về Matsushima và một bài thơ tanka của Hara Anteki nói về hòn đảo Matsushima. Tôi mở đãy hành lý lấy mấy bài thơ mà kết bạn qua đêm. Còn có bài hokku của Sampu và Jokushi nữa.

Giấc mơ dưới mộ

            Vào ngày thứ 11, chúng tôi đến thăm Zuigan. Cách đây nhiều năm, ba mươi hai thế hệ đi trước vị trưởng tu hiện nay, Makabe no Heishiro được phong Phật danh đã đến Trung Quốc du học và sau khi trở về nước Nhật đã thành lập ngôi chùa này. Về sau, bảy ngôi sảnh đường của chùa được xây dựng như kết quả của những cố gắng lớn lao của thiền sư Ungo. Bây giờ ngôi chùa đã trở nên một sảnh đường vĩ đại, những bức tường dát vàng lấp lánh xứng đáng với thiên đường Đức Phật.

            Tôi thắc mắc không biết ngôi chùa của Kembutsu  thiêng liêng ở nơi đâu.

            Vào ngày 12 chúng tôi khởi hành đi Hiraizumi theo con đường cây tùng Anewa và qua cầu Odae, những cái tên rất quen thuộc trong thi ca. Rất hiếm gặp người đi con đường vốn chỉ là đường lui tới của thợ săn và tiều phu. Không thể hình dung mình đang ở chỗ nào, chúng tôi cuối cùng đã lạc đường và xuất hiện ở cảng tên là Ishinomaki. Đi xa trên biển, chúng tôi nhìn thấy núi Kinka “nơi bừng nở những bông hoa vàng”*[28]. Hàng trăm tàu buôn của thương nhân rải rác khắp vịnh biển. Trong thị trấn, những con ngựa tranh nhau chỗ nghỉ chân và khói bốc lên liên miên từ những lò sưởi.

            Tôi thầm nghĩ “mình chẳng bao giờ có ý muốn đi đến nơi đâu như thế này nữa…”. Chúng tôi tìm một nơi nghỉ qua đêm, tới chỗ nào cũng bị người ta từ chối. Cuối cùng chúng tôi mò được một cái lều tranh tồi tàn và nghỉ đó một đêm. Sớm hôm sau chúng tôi lại đi một con đường lạ,vu vơ, chẳng biết hướng về đâu.khi đang đi trên một con đê dài thăm thẳm, chúng tôi nhìn xa thấy “Ngã tư tay áo”, “Cánh đồng cỏ ngựa”, “Cánh đồng nho của Mano” và những nơi khác từng được in dấu trong thi ca.*[29]. Chúng tôi đi vòng quanh “Đầm lầy dài”, một nơi buồn chán. Chúng tôi dừng lại nghỉ đêm ở một thị trấn tên Toima, và sau đó đi tiếp đến Hiraizumi. Đã đi được hơn 50 dặm, tôi tin chắc vậy.

            Ba thế hệ của chiến thắng Fujiwara ở Hiraizumi đã mất tăm nơi đây như một giấc mơ. Dấu tích của “Cánh cổng vĩ đại” của họ cách lâu đài này hai dặm. Nơi đã từng là lâu đài trang trại của Hidechira thì nay chỉ là những cánh đồng, chỉ là dãy núi “Gà trống non vàng”- quả đồi nhân tạo do ngài Hidechira xây dựng còn giữ lại bộ mặt cũ kĩ của nó.

            Trước hết chúng tôi trèo lên “Cung điện trên cao” nơi từ đó có thể nhìn thấy Kitagam- một con sông lớn chảy xuôi xuống vùng Nambu. Dòng sông Koroma lượn vòng quanh lâu đài của Izumi Saburo, sau đó chảy vào con sông lớn phía dưới “Cung điện trên cao”. Dấu tích của thời đại Yashuhira nằm ở phía bên kia của cửa ải Koromo, dường như để bảo vệ cánh cửa Nambu khỏi sự xâm lược của Ainu. Chính ở nơi “Cung điện trên cao” này mà Yoshitsune và những tàn binh còn tụ tập được của ông tự phòng thủ, nhưng chiến thắng của ông chẳng mấy lâu mà biến thành đám cỏ dại. “Đất nước có thể sụp đổ nhưng những dòng sông và núi đồi vẫn tồn tại; khi mùa xuân đến trên những lâu đài đổ nát, cỏ vẫn xanh theo”*[30]. Những dòng thơ này vang vọng trong đầu khi tôi ngồi xuống mặt đất, cái nón tre nằm soài bên tôi. Nơi đó tôi ngồi khóc, chẳng biết chi đến thời gian trôi qua.

Những đám cỏ mùa hè-

trên ngôi mộ những chiến binh dũng cảm đang mơ.

Mãi về sau.

(Bài 17)

Trong đám cỏ roi ngựa

Hình như tôi nhìn thấy Kanefusa-

đang ngắm nhìn mái tóc bạc của mình.*[31]  Sora

            Hai sảnh đường của ngôi chùa Chuson là những kì quan tôi từng nghe và thán phục, đều mở cửa. Sảnh đường Sutra trong có ba bức tượng tướng lĩnh của Hitaizumi ; Sảnh đường vàng có những quan tài chứa hài cốt ba vị tướng và ba ngôi Phật (Quan Âm, Di Đà và Thế Chí). Bảy vật quí (#)  đã bị thất lạc và hư hỏng, cánh cửa chạm ngọc cũng bị gió mài quật vỡ hỏng và những cây cột dát vàng bị bong ra vì sương và tuyết. Ngôi đền chắc hẳn phải đổ nát hoàn toàn và nhường chỗ cho hoang dại trống rỗng nếu như gần đây không được gia cố xung quanh và mái ngói để chịu đựng được gió mưa. Một tấm bia đá từ ngàn năm được dựng lên để lưu giữ được lâu hơn.

Những cơn mưa mùa xuân

giữ cho bạn khỏi những cuộc tàn phá dữ dội,

sảnh đường thượng đế lung linh.

(Bài 18)

            Đi trở lại nhìn theo con đường trải dài về phía xa Nambu ở phía Bắc, chúng tôi nghỉ đêm ở làng Iwade. Chúng tôi đi ngang Ogurozaki và Mizu no Ojima, và từ những dòng suối nước nóng ở Narugo hướng thẳng về phía Shitomae Barrier, dự định vượt sâu vào tỉnh Dewa. Rất hiếm hoi du khách đi trên con đường này, bởi vậy chúng tôi bị mấy người lính bảo vệ nghi ngờ tra xet tại cửa khẩu… Cũng phải khó khăn giãi bày chúng tôi mới được đi qua. Khi leo lên được quả núi thì mặt trời đã mọc. Nhìn thấy những căn nhà của lính gác cửa ải, chúng tôi được họ mời nghỉ qua đêm đó. Mất ba ngày nữa vì một cơn bão ồ ạt ghê sợ nổi lên và chúng tôi chẳng làm gì khác được ngoài việc trú ngụ ở dãy núi thân thiết đó.

                  Bị chấy rận quấy rày

Tôi nghe tiếng ngựa đái

ngay bên gối nằm.

(Bài 19)

            Người chủ nhà bảo chúng tôi “Đường đi từ đây tới Dewa còn phải qua những núi cao, đường rất khó đi nên tốt nhất các ông phải tìm thuê người dẫn đường”… Tôi đáp “tốt lắm” và thuê được một người thanh niên cao lớn khoẻ mạnh, anh ta mang một lưỡi kiếm cong bên sườn và chống cây gậy sồi. Anh đi trước chúng tôi, và nghĩ rằng hôm nay chúng tôi đang đi vào chỗ nguy hiểm, chúng tôi bám sát theo anh. Con đường, đúng như ông chủ nhà đã miêu tả, xuyên qua những cây cối dày đặc um tùm khắp núi cao, nơi đây chẳng hề có tiếng chim kêu. Trời đã tối dưới những bóng cây, tối đến mức như đi trong đêm. Có cảm giác như thể “những đám mưa bụi rơi xuống từ ven những dải mây trên trời”*[32], chúng tôi phải chui đầu vào những rặng tre và cỏ lác, lội qua những con suối và vấp ngã vì những cục đá. Cuối cùng chúng tôi đến được thị trấn Mogami, thân thể tắm trong mồ hôi lạnh giá.

            Khi chia tay, người dẫn đường  nói vui vẻ “Những việc khó chịu thường xảy ra trên đường này. Tôi thật may mắn đã có thể dẫn các vị đến đây an toàn”. Nghe những lời ấy, ngay cả sau khi đến nơi an toàn, tim tôi vẫn nảy lên hồi hộp.

            Ở Obanazawa tôi ghé thăm Seifu một người có tâm hồn cao quí cho dù anh ta giàu có. Anh thường xuyên đi thăm Kyoto và hiểu biết cảm xúc của lữ khách. Anh lưu giữ chúng tôi vài ngày, sôi nổi quan tâm chia sẻ những nỗi vất vả mà chúng tôi trải qua trên cuộc hành trình dài và đãi đằng đủ thứ chúng tôi cần.

Lấy sự mát mẻ

tạo ngôi nhà mình, nơi đây tôi nằm

hoàn toàn trong dễ chịu.

(Bài 20)

Vào đây, bò vào đây

dưới căn nhà nuôi tằm

tiếng cóc kêu

(Bài  21)

Họ làm tôi nhớ lại

Sáp trang điểm của phụ nữ

những màu vàng nghệ nở hoa

(Bài 22)

Những người chăm sóc

những con tằm, giữ lại

hình dáng họ cổ xưa .

Sora

Tiếng dế chích sâu vào đá

            Có một ngôi đền trên núi trong  lãnh địa củaYamagata gọi là Ryushaku-ji. Đền được đại sư Jikaku xây dựng, đó là nơi ghi dấu bởi sự thanh tịnh thư thái. Người ta khuyên chúng tôi đi đến đó “dù chỉ liếc nhìn một chút”, và chúng tôi quay lại Obanazawa đi tiếp một đọan đường chừng mười lăm dặm. Khi đến nơi, trời hãy còn sáng. Sau khi nghỉ ở chỗ dành cho khách hành hương dưới chân núi, chúng tôi trèo lên ngôi đền nơi đỉnh cao nhất. Những tảng đá mòn chồng chất lên nhau tạo ra quả núi này, những cây tùng và cây tuyết tùng trên những con dốc nghiêng đã già. Mặt đất và đá nham nhở và bấp bênh, trơn tuột với rêu mọc. Trên đỉnh chót vót, những cánh cửa của các ngôi đền đều đóng kín, chẳng nghe thấy một tiếng động nào. Đi vòng quanh những vách  đá và bò trườn qua những tảng đá chúng tôi đến được ngôi đền chính. Trong khung cảnh huy hoàng và trong lặng lẽ, tôi cảm thấy một sự yên ả kì diệu bao quanh trái tim mình.

Ôi sự lặng lẽ nơi đây

Chích sâu vào đá

tiếng hót của con dế.

(Bài 23)

            Chúng tôi chờ đợi cho thời tiết quang đãng ở một nơi  gọi là Oishida, dự định chèo thuyền xuống sông Mogami. Người ta bảo chúng tôi rằng hạt giống thơ haikai đã được gieo tận nơi đây từ lâu, và người dân vẫn nhắc nhớ luyến tiếc những vinh quang đã từ lâu lắm không thể quên lãng; những nốt nhạc mộc mạc của những cây sáo sậy mang giai điệu đến tận trái tim họ. “Chúng tôi sờ soạng mò mẫm tìm đường, không biết chắc dẫn đến đâu, đường cũ hay đường mới, nhưng không có ai chỉ dẫn chúng tôi suốt dọc đường”-họ nói, và tôi chẳng có cách gì hơn là cùng làm với họ một cuộn thơ (#). Bài thơ làm trên đường lữ hành này đã đạt tới cả một nơi như thế.

            Dòng sông Mogami bắt nguồn từ Michinoku, vùng thượng nguồn của nó thuộc địa phận Yamagata. Hai bến cảng  đáng sợ trên lộ trình này là “Bến bàn cờ” và “Bến chim cắt”. Dòng sông chảy từ phía Bắc vùng núi Itajiki và cuối cùng đổ nước vào biển cả ở Sakata. Những dãy núi như treo nhô ra hai bên bờ sông và những con thuyền chảy xuôi dòng xuyên qua những đám cành lá um tùm. Có lẽ các nhà thơ ngày xưa đã gọi những con thuyền của chúng tôi ngày ấy là những “con thuyền lúa gạo” *[33]. Xuyên qua những vòm lá xanh, chúng tôi có thể nhìn thấy những cái “Thác sợi chỉ trắng”. Đền thờ Sennin đứng đối diện với bờ sông. Dòng sông đầy tràn và con thuyền của chúng tôi đi trong nguy cấp.

Khắp nơi dồn về biển

mưa mùa hạ, sao chảy nhanh lạ !

Dòng sông Mogami

(Bài 24)

            Vào ngày 3 tháng Sáu chúng tôi leo núi Haguro. Chúng tôi viếng thăm một người tên Zushu Sakichi và tiếp kiến thượng toạ Egaku người quản lý  đền nơi đây.

 Nhà tu cao cấp mời chúng tôi ở lại một chùa nhỏ trong Thung lũng phía Nam và nồng nhiệt chiêu đãi chúng tôi.

            Sang ngày mùng 4 có buổi tụ họp làm thơ haikai tại trai phòng của nhà sư.

Thiêng liêng thay nơi ấy

tuyết trắng tự toả hương

từ thung lũng phía Nam      

(Bài 25)

            Ngày mùng 5 chúng tôi vào lễ đền thờ đức Phật. Tôi không biết được đền thờ này được xây dựng vào đời nào, chỉ biết đại sư Nojo từng sống nơi đây. Trong sách Engishiki *[34] nói rằng có đền thờ Shinto (Thần đạo- đạo bản địa của nước Nhật) ở vùng Satoyama thuộc tỉnh Dewa. Tôi tự hỏi phải chăng khi cuốn sách ấy được chép lại, người ta đã chép nhầm chữ “kuro” thành chữ “sato” và “yama”. Có lẽ tương tự vậy, “Haguroyama” là kết hợp của hai chữ “Ushu Kuroyama”*[35]. Rõ ràng cái tên Dewa (quà tặng lông chim) nguyên là phong tục tập quán của vùng này lấy những lông chim làm cống vật, như trong sách từ điển địa lý đã ghi.Haguro cùng với Yudono và núi Nguyệt hợp lại thành  lập“Ba quả núi Dewa”. Ngôi đền nơi đây là bộ phận nhỏ của đền thờ Đông Hiei ở Edo. Ánh sáng trăng của giáo lí Phật đền Tendai rọi sáng bên trong lấp lánh, những bài giảng trở nên hoàn hảo ngay lập tức với bằng chứng là ngọn đèn cháy sáng lung linh. Những căn phòng của các nhà tu kề nhau san sát, các nhà tu nơi đây đang thực hành đạo theo lối khắc khổ cuồng nhiệt. Những dấu hiệu của sức mạnh kì diệu ở nơi linh thiêng này khuấy lên lòng tôn kính và giác ngộ. Sự bổ ích thật là trường tồn nơi ngọn núi lạ kì .

Chèo thuyền trên cánh hoa đào        

            Ngày mùng 8 chúng tôi trèo lên núi Gassan (Nguyệt sơn). Chúng tôi quàng qua cổ một sợi dây giấy, vòng quanh thân mình, và quấn lên đầu một cái “mũ miện thiêng liêng”*[36]. Một người khuân vác khoẻ mạnh hướng dẫn chúng tôi đi 15 dặm trong mây mù, sương dày đặc trong khí núi, lội qua những đám tuyết chẳng bao giờ tan. Tôi ngơ ngác, có lẽ chúng tôi sắp bước đến cõi cửa mây nơi đường đi của mặt trời và mặt trăng gặp nhau ? Hơi thở của tôi trở nên ngắn lại, thân mình thấy cóng tê lạnh buốt. Khi chúng tôi vừa đến đỉnh cao nhất thì mặt trời đã lặn rồi và trăng đang xuất hiện thay chỗ trên bầu trời. Chúng tôi trải chiếc chiếu tre và lấy chiếc ống tre làm gối ngủ rồi nằm xuống chờ trời sáng…Khi mặt trời mọc ra từ những đám mây đang tan tác, chúng tôi đi xuống Yudono.

            Dọc theo ven bờ thung lũng là nơi trước đây có những túp lều của những người thợ rèn. Thợ rèn của tỉnh này đã dùng nước linh thiêng từ trong núi để tắm gội bản thân được trong sạch và tôi luyện cho những lưỡi kiếm trở nên thanh khiết  Gần đây nhất họ đã khắc tên “Núi trăng” trên những lưỡi kiếm đã từng được làm giải  thưởng ở mọi nơi. Người Trung Quốc tôi luyện lưỡi kiếm của họ trong những “Dòng suối rồng”. Ước nguyện của những thợ rèn người Nhật là thu được lưỡi kiếm đạt chất lượng như thanh kiếm Can Tương và Mạc Da *[37] thời cổ đại để bày tỏ sự cống hiến tài năng sâu sắc của họ. Khi ngồi nghỉ một lúc trên tảng đá, tôi nhận ra một cây hoa đào chỉ cao khoảng một thước, chồi non mới mở. Nghĩ rằng ngay cả khi chúng bị chôn vùi dưới những đám tuyết trôi thì những mùa hoa đào vẫn không quên mùa xuân mà nở muộn. Tươi đẹp biết bao những bông hoa đào. Tưởng như đã thấy hương thơm của màu hoa mận trong một ngày nắng hè thiêu đốt. Tôi nhớ thời đó với sự cảm động dào dạt trong bài thơ của vị trụ trì Gyoson *[38] nhưng tôi nghĩ rằng cái cây này thậm chí còn gây xúc cảm hơn hết .

            Một qui định của các nhà tu nơi đây là không ai được mang những chi tiết của ngọn núi này đi truyền cho ngươi khác biết… Bởi vậy tôi sẽ gác bút không viết nữa.

            Khi tôi trở lại đền thờ, theo yêu cầu của  thầy chưởng lễ, tôi viết lên tập giấy nhỏ mấy bài thơ tôi sáng tác khi hành hương lên “Ba quả núi”.

Nơi đây mát mẻ sao

một vầng trăng lưỡi liềm choáng ngời bay lượn

trên núi Haguro.

(Bài 26)

Những đỉnh mây

vừa vỡ dần thành mảnh vụn

ánh trăng soi đầu núi.

(Bài 27)

Tôi không thể nói gì về

Yudono, chỉ thấy  thấm ướt

tay áo tôi đẫm nước mắt.

(Bài 28)

Dãy núi Yudono-

Khi tôi dẫm lên những đồng tiền của khách hành hương

tôi ngắm nhìn họ, rơi nước mắt.

                              Sora

            Giã từ Haguro và tiếp tục lên đường đi đến thị trấn lâu dài Tsurugaoka nơi chúng tôi được làm khách của một võ sĩ samurai tên là Nagayama Shigayuki. Chúng tôi làm những bài thơ liên hoàn nối nhau ở nhà anh ấy. Sakichi đi theo chúng tôi suốt đoạn đường này. Chúng tôi lên một chiếc thuyền sông và bơi xuống cảng Sakata. Chúng tôi nghỉ lại ở ngôi nhà của một thầy thuốc tên là En’an Fugyoku.

Từ dãy núi nước suối nóng

suốt đường đến Vịnh Blowing

mát mẻ cả buổi chiều

(Bài 29)

Mặt trời thiêu đốt

tắm trong biển cả

dòng sông Mogami

(Bài 30)

            Sau khi thưởng thức rất nhiều cảnh tượng kì vĩ trên đất và trên biển, tôi chỉ còn biết nghĩ về Kisakata. Chúng tôi du hành đến vùng Đông bắc từ cảng Sakata, trèo qua bao nhiêu quả đồi, đi dọc theo bãi biển, lê bước qua những bãi cát, một khoảng đường chừng hai chục dặm tất cả. Dưới ánh mặt trời lung linh, cơn lạnh giá từ biển cả khuấy động cả bãi cát, sương mù như mưa bắt đầu đổ xuống, làm mờ mịt núi Chokai. Chúng tôi mò mẫm đi lên phía trước trong bóng tối. Tôi có cảm giác chắc chắn là nếu Kisakata đã đẹp trong mưa thì khi trời quang mây tạnh nó sẽ còn tuyệt vời hơn. Chúng tôi chui vào căn lều cỏ của người đánh cá, nằm chờ mưa tạnh.

             Sáng hôm sau thời tiết quang đãng thật đẹp. Khi mặt trời mọc lên thì cảnh tượng trở nên huy hoàng lộng lẫy, chúng tôi lấy một chiếc thuyền chèo về phía vũng phá  Kisakata. Trước hết chúng tôi ghé thăm đảo Noin, viếng thăm căn lều dấu tích xưa của một nhà sư đã tu hành một mình suốt ba năm. Trên bãi biển đối diện nơi chúng tôi cập bờ, nhìn thấy một cây đào xưa đứng đó như một kỷ vật của Saigyo, người đã viết dòng thơ khắc gắn trên thân cây:

Ở Kisakata

một cây anh đào bị che phủ

thỉnh thoảng bởi những con sóng

những người đánh cá phải chèo thuyên

trên những cánh hoa đào

(Saigyo)

            Gần bờ nước có một ngôi mộ, người ta nói là mộ hoàng hậu Jinggu, và một cái đền thờ nằm kề bên gọi là “Ebb and Flow- Pearl” (Những hạt ngọc trai khi nước triều lên) *[39]. Trước đây tôi chưa từng nghe nói hoàng hậu đã đến đây, chẳng biết thực hư thế nào…

            Ngồi trong căn phòng của thầy trụ trì, tôi cuốn tấm rèm tre lên thì cảnh tượng Kisakata hiện ra toàn bộ trước mắt. Về phía Nam, núi Chokai lờ mờ, vút cao như đỡ lấy cõi trời, hình ảnh của nó in dấu trên mặt nước. Về phía Tây, ta có thể nhìn thấy cửa ải Muyamuya phía xa xa; về phía Đông, con đường trên mặt đê dài dẫn tới Akita. Biển cả nằm ở phái Bắc. Nơi bị những con sóng cuộn lõm vào gọi là “Vượt qua thuỷ triều” (Tide Crossing). Kisakata dài rộng khoảng chừng hai dặm.

            Kisakata khá giống với Matsushima nhưng có một số điểm khác. Matsushima dường như đang cười, còn Kisakata mang một bộ mặt buồn rầu xót xa. Có một nỗi buồn hoà lẫn với sự bình thản, hình ảnh ấy làm xao xuyến tâm hồn.

               Ở Kisakata

Tây Thi đang ngủ trong mưa *[40]

Mùa hoa mimosa ướt đẫm 

(Bài 31)

Nơi “vượt qua thuỷ triều”

con hạc chân dài ngập ướt

Nước biển mát mẻ sao ! (Bài 32)

Ngày hội *[41] :  

Ở Kisakata

họ ăn món gì

vào những ngày lễ hội  ?

                  Sora *[42]

Trong túp lều của người đánh cá

nằm dài trên tấm cảnh cửa, họ thưởng thức

cái mát mẻ ban đêm

Teiji *[43]

            Trong khi ngắm nhìn một cái tổ chim ó biển trên phiến đá.

Phải chăng chúng khẳng định chẳng bao giờ

xa rời những tảng đá mà ngọn sóng gõ tới

những cái tổ chim ó biển

Sora

            Tôi cảm thấy rất khó mà rời khỏi Sakata đến nỗi những ngày lưu lại ở đó cứ chồng chất lên, nhưng giờ đây tôi quay đầu nhìn lại nhữg đám mây xa xôi của vùng Hokuriku. Ý nghĩ về một chuyến đi dài tiếp theo khiến tôi lo lắng buồn phiền. Tôi đã được nghe rằng khoảng cách đi Kanazawa thủ phủ tỉnh Kaga còn hơn 300 dặm nữa.

            Một lần đi qua cửa ải Nezu, chúng tôi đã ở tỉnh Echigo. Chúng tôi cố đi nhanh  cho đến cửa ải Ichifuri thuộc vùng Etchu. Trong chín ngày đi đường tôi rách tươm ra và cảm thấy khó chịu vì cái nắng nóng và mưa dội. Tôi ngã bệnh một trận ngắn và chẳng viết được gì.

Tháng Bảy

thậm chí ngày mùng Sáu dường không lạ

vẫn như đêm bình thường.*[44]

(Bài 33)

Biển động dữ dội

vắt qua đảo Sado

trải dài sông Ngân hà.

 (Bài 34)

 

Gặp gỡ hai du nữ      

            Hôm nay chúng tôi đi xuyên qua những nơi nguy hiểm nhất ở miền Bắc,  người ta hoảng sợ đến mức gọi là nơi “Cha-mẹ-cũng-quên-con”, “Con-cái-cũng-quên-cha-mẹ”, “Chó-phải-quay-đầu” và “Ngựa-phải-quay-đầu”*[45]. Tôi kiệt sức tới nỗi phải rút ngay cái gối bên mình mà nằm xuống ngay khi dò đến được một quán trọ. Tôi chợt nghe tiếng nói của những phụ nữ trẻ, có lẽ là hai người, đang trò chuyện ttrong một căn phòng cách chúng tôi ở về phía trước ngôi nhà trọ. Một tiếng nói đàn ông lớn tuổi cũng đôi lúc tham gia chuyện trò. Qua những điều họ nói thì tôi biết ra họ là những người du nữ (gái điếm) từ Niigata ở tỉnh Echino. Họ đang trên đường đi lễ ở Ise và người đàn ông giúp đưa họ tới đây, dự định đưa tới cửa ải Ichifuri. Nhưng họ định sẽ tiễn chân ông kia quay về Niigata vào ngày hôm sau, và họ đang trao cho ông ta thư từ  vừa viết và những lời nhắn gửi lặt vặt khác mang về quê.

            “Chúng tôi lang thang qua những bờ biển, tắm gội như bờ đất thường chịu  những con sóng bạc. Cũng như những người đàn bà dân chài, chúng tôi lặn xuống tận đáy sâu của thế gian này. Chẳng biết cái kiếp trước của mình khủng khiếp thế nào đã tạo ra cái cuộc đời miễn cưỡng bất thường của chúng tôi, những tội lỗi hàng ngày mà chúng tôi phải can dự ? Chúng tôi khốn khổ xấu xa quá rồi…”. Nghe đến đây tôi sa vào giấc ngủ..

            Sáng hôm sau, khi  thầy trò tôi chuẩn bị khởi hành thì hai người phụ nữ tiến đến trước mặt nói: “Chúng tôi cảm thấy lo sợ nghĩ đến những khó khăn đang chờ đợi mình trên đường xa lạ nên chị em tôi muốn được đi sau các ông, đi cách quãng xa cũng được. Hãy gia ơn cho chúng tôi, các ông mang trang phục nhà tu hành xin hãy giúp chị em tôi đi theo con đường của Đức Phật”. Nói rồi họ trào nước mắt.

            Tôi trả lời:“Tôi rất ái ngại cho hoàn cảnh hai cô, nhưng chúng tôi sẽ phải dừng lại ở rất nhiều nơi. Tốt hơn hết hai cô hãy đi với những người du khách bình thường khác. Các cô đi dưới sự bảo hộ của thượng đế. Tôi tin chắc chẳng có tai hoạ nào đến với các cô đâu”. Những lời nói ấy cũng như lời chia tay của tôi mãi lâu sau  mà tôi vẫn không thể xoá được nỗi thương xót hai người phụ nữ đáng thương.

Dưới cùng một mái nhà

những du nữ đang ngủ

ánh trăng và cỏ bốn 1á

(Bài 35)

            Tôi nhắc lại mấy câu tôi nghĩ cho Sora và bảo anh ghi lại.

            Dân chúng thường nói về “48 nơi nước cạn ở Kurobe”(#), và chúng tôi đã thực sự vượt qua nhiều dòng suối trước khi đến được hòn đảo nhỏ Nako. Lúc này không phải mùa xuân mà “những lớp sóng hoa tử đằng” ở Tako đang tưng bừng nở, và người dân khuyên chúng tôi nên thưởng thức cái hương vị cảm động dễ thương của loài hoa đầu mùa thu nơi đây. Tôi hỏi một người đàn ông về đường đi, và anh đáp: “Nếu các ông đi theo bờ biển khoảng mười dặm, sẽ thấy Tako phía sau dãy núi đằng kia kìa. Ở đó chẳng có gì ngoài những túp lều cỏ khốn khổ của dân chài. Tôi không dám chắc có ai ở đó cho các ông được chỗ nào nghỉ qua đêm”. Hoảng sợ nghe lời nhận định của anh ta, chúng tôi tiếp tục đi phía Kaga.

Những cánh đồng lúa thơm ngọt

về bên phải, chúng tôi  nhằm đi phía

Biển Ariso

(Bài 36)

Suối nước nóng cũng thơm   

            Sau khi vượt qua núi “Hoa roi ngựa”(verbena) và thung lũng Kurikara, chúng tôi tiến tới Kanazawa vào ngày 15 tháng Bảy. Chúng tôi cũng thuê cùng nhà trọ với một thương nhân tên là Kasho từ xứ Ozama đến.

             Tôi nghe thấy tiếng tăm một người tên Issho rất say mê nghệ thuật, người đã có tên tuổi; nhưng anh ta đã chết khi còn trẻ trong muà đông năm trước. Nhân dịp lễ tưởng niệm anh ấy do người anh trai lo liệu, tôi viết:

Rung lên nấm mồ anh mà trả lời  đi !

tiếng nói của tôi đã rơi lệ cho anh

là cơn gió mùa thu.

(Bài 37)

Khi thầy trò tôi được mời vào một căn lều cỏ :

Hơi mát mẻ mùa thu

mỗi bàn tay bắt đầu gọt vỏ

dưa hấu và cà tím !

(Bài 38)

Trên đường đi :

Rất đỏ, rất thắm tươi

Nắng trời chiếu vô tư

gió vẫn mùa thu

(Bài 39)

Ở một nơi gọi là “Cây tùng nhỏ Komatsu” :

Ôi cái tên duyên dáng

Gió thổi xuyên qua đám cây tùng nhỏ

Cây bốn lá và lau

(Bài 40)

            Chúng tôi đi lễ tại đền thờ Tada ở Komatsu. Mũ sắt và những mảnh khăn nhiễu của ông còn được giữ gìn ở đây. Cách đây rất lâu khi ông đang phục vụ tướng Minamoto, ông giữ những món quà tặng từ Yoritomo. Thực ra, những vật này là vật sở hữu không tầm thường của những võ sĩ samurai. Chiếc mũ được khảm với tấm thép và vàng chạm hình hoa cúc bảo vệ những cái sừng trên đầu rồng. Tôi thu thập dữ liệu biết rằng Kiso Yoshinaka sau khi giết chết Sanemori trong trận đánh bèn dâng chiếc mũ cúng cho đền thờ với lời nguyện cầu chiến thắng. Sự kiện Higuchi no Jiro đã thay mặt Yoshinaka đến cúng và dâng lễ vật đã được miêu tả sinh động rành mạch trong cuốn sổ của đền thờ.

                                   Cầu nguyện cho nấm mộ !

dưới chiếc nón sắt chiến binh

con châu chấu

(Bài 41)

            Khi đi theo con đường đến những suối nước nóng Yamanaka, chúng tôi ngước nhìn thấy đỉnh chóp của núi Shirane. Phía bên trái dưới chân núi có một ngôi đền thờ Quan Âm (Kanon). Ngày xưa, sau khi thái thượng hoàng Kazan hoàn thành cuộc hành hương đến ba ngôi đền thờ Quan Âm, ông cho xây dựng nơi đây một bức tượng “Phật đại từ đại bi” (yêu thương và tha thứ tất cả ) và ban cho đền cái tên NATA, phối hợp hai chữ, Na (Nachi) và Ta (Tanigumi)*[46]. Một hàng cây tùng cổ xưa mọc trên những tảng đá kì lạ với những hình dạng khác nhau, lại có một ngôi điện nhỏ lợp lá đứng trên đỉnh chóp núi. Đây thực là một nơi mang vẻ đẹp kì diệu.

Màu trắng, trắng hơn cả

những tảng đá trên núi đá-

gió mùa thu *[47]

(Bài 42)

            Hai người tắm suối nước nóng, dòng suối nổi tiếng được xếp hạng nhì chỉ đứng sau suối Arima.

Ở Yamanaka

không cần hái  hoa cúc

suối nước nóng vẫn thơm  *[48]

(Bài 43)

            Chủ nhà trọ tên Kunenosuke chỉ là một cậu bé. Cha của cậu rất thích thơ haikai và có lần cách đây đã lâu, khi Teishitsu *[49] còn trẻ từ Kyoto đến đây đã bị nhục nhã bởi kiến thức siêu việt về nghệ thuật thơ của người cha cậu bé. Khi quay trở lại Kyoto, Teishitsu xin theo học thầy Teitoku và sau đó đạt đựơc sự công nhận là nhà thơ. Họ còn nói rằng ngay cả sau khi trở nên nổi tiếng ông vẫn sửa chữa thơ miễn phí cho nhiều người trong làng. Ngày nay những việc đó đã thành chuyện cổ tích.

 

Còn lại một mình

            Sora mắc bệnh đau bao tử, phải đi trước đến Nagashima thuộc tỉnh Ise nơi anh có bà con họ hàng. Anh để lại vần thơ cho tôi:

Tiếp tục tôi đi lữ hành

cho dù tôi ngã xuống chết, hãy để tôi

nằm trên cánh đồng hoa bốn lá mùa thu

            Nỗi thương xót người đi trước, niềm tiếc nuối người còn đi sau- chúng tôi như hai con vịt hoang chia tay và lạc đường trong những đám mây. Tôi cũng viết một vần :

Hôm nay tôi chùi đi

những lời đã viết trong chiếc nón

với những giọt nước mắt sương.*[50]

(Bài 44)

            Tôi nghỉ ngơi ở đền thờ Zensho-ji bên ngoài thành luỹ Daishoji. Nơi đây vẫn thuộc địa phận tỉnh Kaga. Sora đêm trước cũng đã ở ngôi đền này và để lại cho tôi bài thơ sau:

Suốt đêm trường

Tôi lắng nghe gió thu

trong những ngọn đồi sau lưng

Tôi sẽ quét vườn       

            Dẫu chỉ mới một đêm chúng tôi xa nhau, nghe như thể đã cách xa nhau ngàn dăm. Đêm hôm đó tôi cũng nằm lặng nghe gió thu, trằn trọc không ngủ được trong căn phòng chung của các nhà tu. Khi rạng đông đến, tôi nghe tiếng tụng kinh rất rõ ràng. “Hôm nay tôi phải đi Echizen”. Tôi có cảm tưởng như tôi đang vội vàng đi xuống thang gác, sẵn sàng lên đường. Ngay lúc ấy các thầy tu trẻ tay cầm bút và giấy chạy theo tôi về phía cửa . Nhìn cây liễu trong vườn  đang rụng lá, thế là tôi viết:

Tôi sẽ quét vườn

trước khi ra đi- trong chùa

lá liễu rụng rơi

(Bài 45)

            Tôi vội viết ra câu thơ ngẫu hứng rồi xỏ đôi dép lữ hành và lên đường.

            Con thuyền của tôi vựơt qua hòn đảo nhỏ Yoshizaki. Ranh giới tỉnh Echizen. Tôi viếng thăm cây tùng “Vựơt qua thuỷ triều”.

Suốt đêm những con sóng bị bão đẩy đưa

vào tận bờ.

Vầng trăng chiếu sáng rực

trên cây tùng ở Shiogoshi.

(Bài 46)

            Trong bài thơ này, Saiyo đã nói hết những gì đáng nói về phong cảnh đa dạng ở nơi đây. Nếu có ai đó cố gắng thử thêm một từ ngữ vào đây, điều đó ngớ ngẩn chẳng khác nào lắp thêm một ngón tay vào bàn tay bình thường của con người.

            Đến Maruoka tôi thăm viếng vị trụ trì ngôi đền Tenryu là người quen cũ. Lại còn anh Hokushi từ Kanazawa đã đi theo tiễn tôi một quãng ngắn nhưng anh lại tháp tùng tôi suốt đến đây. Anh chẳng bỏ qua cảnh vật nào trên hành trình mà không ghi nhận, lại viết những vần thơ về những cảnh tượng thú vị và những chuyện chúng tôi gặp trên đường. Khi chúng tôi chia tay nhau, tôi viết:

Tôi viết vội ít dòng,

định xé rách chiếc quạt-

nhưng phút chia tay buồn hiu.*[51] (Bài 47)

            Tôi lại đi chừng ba, bốn dặm sâu vào trong vùng núi để làm lễ ở ngôi đền Eihei-ji. Đây là ngôi đền của thiền sư Dogen. Tôi từng nghe rằng ông rất tự hào đã rời bỏ cuộc sống kinh đô, vượt xa ngàn dặm đến xây ngôi đền trong dãy núi này.

             Fukui cách đây chừng 7 dặm, ăn uống bữa tối xong tôi mới ra đi, lội bộ mò mẫm dọc theo con đường mờ tối. Fukui là nơi thiền sư Tosai đã sống rất lâu như một người ẩn sĩ. Có lần, không nhớ rõ năm nào, thiền sư đã đến Edo vào thăm tôi.. Có thể đã hơn mười năm rồi. Tôi khó tưởng tựơng ông đã già yếu hom hem đến mức nào, còn sống hay  không, có thể đã qua đời. Tôi tìm hỏi thăm về ông, và được biết ông vẫn còn sống và ngôi nhà ông như thế này thế nọ…Căn nhà nhỏ ọp ẹp tồi tàn của ông chìm sâu trong góc thị trấn. Hoa trái bí và mướp mọc thả treo lủng lẳng khắp vách tường, những loài cây cỏ hoa mào gà, cây lá chổi mọc cao đến mức gần che lấp cửa vào. “Đây đúng là  nơi ấy rồi” tôi thầm nghĩ và gõ cửa. Một người đàn bà ăn mặc  vẻ nghèo nàn xuất hiện và hỏi “Thưa ngài tôn kính từ đâu đến hành hương ? Ông chủ đã đi thăm một quí ông ở vùng lân cận. Nếu ngài có việc cần, xin đến tìm ông ấy ởđó”. Tôi nghe nói nên biết bà này là phu nhân của thiền sư. Tôi nghĩ “Cảnh này giống như một cảnh trong cuốn tiểu thuyết cũ” *[52] và quay đi tìm Tosai. Tôi tìm thấy ông không mấy khó khăn và ở lại nhà ông hai đêm. Sau đó tôi đi thưởng ngoạn mùa trăng sáng nhất ở vịnh Tsuruga. Tosai muốn đi theo tiễn tôi, xắn tay áo kimono lên trong điệu bộ buồn cười :“Tôi sẽ dẫn đường cho ông”, ông tuyên bố hăm hở nhiệt tình.

             Núi Shirane dần dần mờ khuất khỏi tầm mắt, tôi thấy thay vào đó là đỉnh núi Hina. Tôi vượt qua cầu Asamutsu, và đến Tamae nhìn nhưng cây lau đang trổ bông kết hạt. Đi ngang qua cửa ải “Những con chim hót” và vượt qua con đường hẻm Yuno, chúng tôi đi đến lâu đài Hiuchi. Ở núi Kaeru tôi nghe tiếng kêu của những con ngỗng trời đầu tiên của mùa thu. Vào ngày 14, tôi tìm chỗ trọ ở cảng Tsuruga. Ánh trăng đêm ấy đặc biệt sáng rực rỡ. Tôi hỏi chủ nhà trọ “Trăng đêm mai có sáng như đêm nay không ? ” Ông ta đáp“Rất khó đoán được thời tiết đêm sau ở vùng  Koshiji, chẳng biết mưa hay tạnh”.

            Sau khi nhận cái bắt tay của người chủ nhà trọ, tôi đi về  phía ngôi đền Kei dự lễ cúng ban đêm. Ngôi đền chứa đựng nấm mộ của hoàng đế Chuai. Khuôn viên  mang vẻ thiêng liêng thánh thiện, ánh trăng xuyên qua những cây tùng tới đám cát trắng trước sân chuà trông như thể chúng được phủ một làn sương. Ông chủ nhà trọ kể tôi nghe “Một lần, đã lâu lắm rồi, một thầy tu sĩ đời thứ hai nguyện cầu một ân huệ lớn lao của thượng đế. Ông tự đi cắt cỏ, chở đất và đá làm cho khô ráo những chỗ lầy lội trong khuôn viên. Ông đã làm cho mọi tín đồ đến cúng lễ cảm thấy dễ dàng thoải mái*[53]. Tục lệ này đã không bị quên lãng. Các nhà tu hành về sau vẫn tiếp tục chở cát sạch đẹp rải như trước, đó gọi là tục lệ “tu sĩ gánh cát”.

Ánh trăng thanh khiết làm sao

trên cát trắng phía trước

do các nhà tu mang đến             (Bài 48)

            Vào ngày 15,  đúng như ông chủ nhà trọ dự đoán, trời đổ mưa.

Đêm nay Rằm

thời tiết vùng đất Bắc

thật khó lường

(Bài 49)

            Sang ngày 16 bầu trời lại quang đãng và tôi đi thuyền đến bãi biển Iro để thu lượm những con sò masuo nhỏ bé. Từ đây đến đó độ chừng 15 dặm. Người chủ nhà của tôi tên là Ten’ya, đã chuẩn bị thật tỉ mỉ vật dụng cho tôi, đồ ăn nhẹ và những cái ống tre đổ đầy rượu sake (#) và có rất đông gia nhân đi theo thuyền đang chờ chúng tôi. Một trận gió tốt lành thổi chúng tôi chẳng mấy chốc đến nơi. Trên bờ biển có mấy túp lều ngư dân và một ngôi chùa cô tịch cũ kỹ, ở đây chúng tôi ngồi uống trà và rượu sake nóng. Sự cô đơn chìm trong bụi bặm bao phủ khắp.

           Cô tịch làm sao !

            thậm chí cô đơn hơn cả Suma

            Mùa thu trên bãi biển này. (Bài 50)

Mang đến gì đây hỡi những con sóng ?

trộn lẫn với những mảnh vỏ sò nhỏ bé

một ít hoa bốn lá .    (Bài 51)

            Tôi bảo Tosai viết tóm tắt lại những chuyện xảy ra trong ngày và cất vào trong chùa.

            Rotsu  lặn lội một mạch đến Tsuruga đến đón mừng tôi về, rồi chúng tôi cùng du hành đến tỉnh Mino. Hành trình bây giờ tiện lợi hơn nhờ có ngựa để cưỡi. Khi chúng tôi đến trại ấp Ogaki thì gặp gỡ được cả Sora vừa từ Ise tới. Etsujin cũng đã vội vã cưỡi ngựa đến đây, và chúng tôi đã đoàn tụ ở ngôi nhà của Jokp. Suốt ngày và đêm đó, những người bạn thân thiết như Zensenshi, Keiko và đám con trai của anh, và những người khác nữa lần lựơt đến thăm tôi. Trông họ phấn khởi và quan tâm lo lắng dường như họ đi đón một người từ cõi chết trở về.

             Trước khi lấy lại sức sau cuộc du hành mệt lả, ngày 6 tháng Chín, tôi lại đi chiêm bái ngôi chùa lớn mới trùng tu ở tỉnh Ise. Khi lại bước lên một con thuyền, tôi viết:

 Chia  tách con sò và vỏ,

 tôi rời đi Futami

 mùa thu đang đi qua. *[54] (Bài 52)

DANH MỤC 52 BÀI THƠ

 Theo số thứ tự trong tập Oku no Hosomichi

(Tên bài do người dịch đặt)

Bài Tên bài Bài Tên bài
1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26Lều cỏ

Tống biệt

Lá xanh

Mùa hè đến

Cúi lạy

Chim gõ kiến

Chim chiền chiện

Rời gốc liễu

Bài ca trồng lúa

Mùa hoa dẻ

Hoa văn

Lá cờ giấy

Hòn đảo nón mưa

Cây tùng sinh đôi

Quai dép

Con thuyền

Giấc mơ dưới mộ

Mưa mùa xuân

Rận và ngựa

Mát mẻ

Cóc kêu

Vàng nghệ nở hoa

Dế hót

Mưa mùa hạ

Tuyết trắng thơm

Vầng trăng lưỡi liềm27

28

29

30

31

32

33

34

35

36

37

38

39

40

41

42

43

44

45

46

47

48

49

50

51

52Trăng đầu núi

Yudono

Suối nước nóng

Mặt trời tắm biển

Mimosa

Con hạc

Đêm tháng Bảy

Biển động

Du nữ

Đồng lúa

Cơn gió rơi lệ

Dưa hấu và cà tím

Nắng đỏ

Ba cây

Châu chấu trong nón sắt

Gió thu màu trắng

Suối nóng thơm

Chiếc nón

Quét vườn

Trăng tùng

Viết vội

Ánh trăng tinh khiết

Trăng mưa

Mùa thu cô tịch

Vỏ sò và hoa

Lại chia tay

 

 


Ghi chú của người dịch

 

1. Về tựa đề tập nhật ký của Basho

            Bản tiếng Nhật cổ là , tiếng Nhật hiện đại là おくのほそ道 phiên âm là: Oku no hosomichi:

            Khi dịch sang tiếng Anh, dịch giả Donald Keene (trong Lời nói đầu) đã nói rằng ông từng cân nhắc hai cái tiêu đề “The Narrow Road into Oku” và “The Narrow Road of Oku”, cuối cùng ông chọn “The Narrow Road to Oku”. “Narrow” với các nghĩa: “hẹp hòi, sít sao, nguy hiểm, tỉ mỉ và thiển cận”… không bao hàm đựơc cái nghĩa “sâu xa, sâu sắc, huyền bí” của nguyên tác và cũng chưa tương thích lắm với nội dung tập Nhật ký.

            Ngoài ra, các dịch giả khác ở Phương Tây còn dịch là:

            The Narrow Road to the Deep North (Con đường nhỏ hẹp, tỉ mỉ đến xứ Bắc sâu hút)

            Back  Roads to Far Town (Trở lại nơi thị trấn xa xôi)

            The Narrow Road Through the Provinces (Đường hẹp đi qua các tỉnh) tựa đề giản đơn nhất.

            A Haiku Journey: Basho’s Narrow to a Far Provinces (Cuộc du hành thơ haiku: con đường hẹp của Basho đến các tỉnh xa )

            Narrow Road of the Interior (Con đường hẹp đi vào bên trọng). Ngụ ý đi vào bên trong tâm linh, trong lịch sử và trong bề sâu của thơ…phân biệt với du lịch bình thường chỉ ngắm phong cảnh bên ngoài).

            Narrow Road to the Interior (tương tự như trên)

            Tất cả các cách dịch tựa đề như trên đều cố gắng làm rõ mức độ khác nhau cái tựa đề của Basho và mỗi tựa đề phần nào phù hợp với  nội dung cuốn Nhật ký.

            Bản dịch Hán ngữ là 奥之细道“Áo chi tế đạo” (Ào zhī xìdào) nghĩa là “Con đường nhỏ hẹp vào cõi sâu xa” là khá đủ nghĩa, tiếc rằng vẫn thiếu địa danh “Oku”.

            Qua các tựa đề khác nhau của tập sách, chúng tôi nhận thấy nội hàm của tựa đề “Oku no Hosomichi” rất phong phú, có thể triển khai thành các chủ đề sau:

           Hành trình của Basho là con đường đi về phía Bắc của đất nước.  

           Con đường đi về quá khứ, xa xôi và khó đi.

           Con đường đi vào bên trong tâm thức của chính mình

           Con đường đi vào thế giới thơ haiku tinh tế sâu xa với bề ngoài giản dị.…

.

2. Về tựa đề từng bài thơ: nhà thơ Basho không đặt tựa. Với 53 bài thơ của Basho, chúng tôi cũng chỉ đánh số cho dễ nhắc đến bài thơ khi cần…

            Riêng 10 bài ghi tên Sora, người bạn đồng hành với Bahso và mấy bài thơ của tiền bối có tên, chúng tôi không đánh số nữa.

3. Về đề mục: Nguyên tác Basho không có các đề mục chương hồi, chúng tôi lấy một số ý thơ trong tập Nhật ký để làm đề mục phân đoạn, coi  như những chỗ “tạm nghỉ chân”cho bạn đọc trên “hành trình” theo sau Basho:

Mùa xuân ra đi

Con chim chiền chiện

Hòn đảo nón mưa

Cây tùng sinh đôi

Giấc mơ dưới mộ

Tiếng dế chích sâu vào đá

Chèo thuyền trên cánh hoa đào

Gặp gỡ hai du nữ   

Suối nước nóng cũng thơm

Còn lại một mình.

      

Tuyển chọn 40 bài thơ haiku

từ các tập văn, thơ khác nhau của Basho

(song ngữ Anh – Việt)

  1. 1.              A bee
  2. 2.              A caterpillar
  3. 3.              A cicada shell
  4. 4.              A cool fall night
  5. 5.              A field of cotton
  6. 6.              A monk sips morning tea
  7. 7.              A snowy morning
  8. 8.              Autumn moonlight
  9. 9.              Awake at night
  10. 10.           Bitter-tasting ice
  11. 11.           Blowing stones
  12. 12.           Bush warbler
  13. 13.           Cold night: the wild duck
  14. 14.           Collection of  Six haiku
  15. 15.           Coolness of the melons
  16. 16.           Don’t imitate me
  17. 17.           First day of spring
  18. 18.           First snow
  19. 19.           First winter rain
  20. 20.           Four Haiku
  21. 21.           Heat waves shimmering
  22. 22.           How admirable
  23. 23.           In this world of ours,
  24. 24.           Midfield
  25. 25.           Moonlight slanting
  26. 26.           Spring rain
  27. 27.           Stillness
  28. 28.           Taking a nap
  29. 29.           Teeth sensitive to the sand
  30. 30.           The dragonfly
  31. 31.           The morning glory also
  32. 32.           The oak tree
  33. 33.           The old pond (10 bn dch tiếng Anh)
  34. 34.           The squid seller’s call
  35. 35.           This old village
  36. 36.           What fish feel
  37. 37.           When the winter chrysanthemums go
  38. 38.           Winter garden
  39. 39.           Winter solitude
  40. 40.           Wrapping the rice cakes

 

1. Con ong

2. Con sâu bướm

3. T ve su

4. Đêm lnh xung

5. Cánh đng bông

6. Nhà sư ung trà sm

7. Sáng tuyết rơi

8. Trăng thu

9. Thc gic

10. V đng nước đá

11. Nhng hòn đá lăn

12. Chim chích bi cây

13. Vt hoang đêm lnh

14. Sáu bài haiku

15. Hơi lnh dưa hu

16. Đng bt chước tôi

17. Ngày đu xuân

18. Bông tuyết đu tiên

19. Cơn mưa đu đông

20. Bn bài haiku

21. Hơi nóng lp lánh

22. Tht đáng khen

23. Trong thế gii chúng ta

24. Gia cánh đng

25. Ánh trăng nghiêng

26. Mưa xuân

27. S lng l

28. Chp mt

29. Răng và cát

30. Con chun chun

31. Bui sáng khoan khoái

32. Cây si

33. Ao cũ (10 bản dịch)

34. Tiếng rao bán mc

35. Ngôi làng cũ

36. Cá cm thy gì

37. Khi hoa cúc mùa thu lụi tàn

38. Vườn mùa đông

39. Mùa đông cô đơn

40. Gói bánh

 


1. A bee

A bee

staggers out

of the peony.

Con ong

tần ngần bay ra khỏi

bông hoa cẩm chướng

2. A caterpillar

A caterpillar

this deep in fall

still not a butterfly.

Một chú sâu bướm

Say nồng giấc thu

Chưa thành cánh bướm

3. A cicada shell

A cicada shell

it sang itself

utterly away.

Một tổ ve sầu

Nó tự hát lên

vang rất xa

4. A cool fall night

 

At a hermitage

A cool fall night

getting dinner, we peeled

eggplants, cucumbers.

Trong lều ẩn sĩ

Đêm thu lạnh lẽo

Dọn bữa cơm tối, chúng tôi gọt

Cà tím với dưa leo.


5. A field of cotton

A field of cotton

as if the moon

had flowered.

Cánh đồng trồng bông

Như vầng trăng

đã nở đầy hoa

6. A monk sips morning tea

A monk sips morning tea,

it’s quiet,

the chrysanthemum’s flowering.

Nhà sư nhâm nhi trà sớm

Trong im lặng

Cây cúc nở hoa

7. A snowy morning

A snowy morning

by myself,

chewing on dried salmon

Buổi sáng tuyết rơi

tự mình

nhai cá hồi khô

8.Autumn moonlight

Autumn moonlight

a worm digs silently

into the chestnut.

 

Dưới ánh trăng thu

con sâu lặng lẽ đào

vào cây hạt dẻ

9. Awake at night

 Awake at night

 the sound of the water jar

               cracking in the cold.


Thức dậy giữa đêm

Tiếng cái bình nước

Nứt vỡ trong giá lạnh

10. Bitter- tasting ice 

Bitter – tasting ice

Just enough to wet the throat

Of a sewer rat.

Nếm vị băng lạnh buốt

Chỉ đủ làm ướt cổ họng

cho con chuột đào rãnh

11. Blowing stones

Blowing stones

Along the road on Mount Asama,

the autumn wind.

Những hòn đá lăn lăn

Dọc đường lên núi Asama

Cơn gió mùa thu

12. Bush warbler

Bush warbler

shits  on the rice cakes

on the porch rail.

Chim chích trong bụi cây

ỉa  trên đám bánh

trên rìa cổng vòm

13. Cold night the wild duck

Cold night the wild duck,

sick, falls from the sky

and sleeps awhile.

Đêm lạnh con vịt hoang

ngã bệnh, rơi từ trên bầu trời

Và nằm ngủ một lát

14. Collection of Six haiku (Chùm 6 bài haiku)

Waking in the night

the lamp is low,

the oil freezing.


                        Dạo bước trong đêm

Ngọn đèn dưới thấp,

Dầu đông vì lạnh

It has rained enough

to turn the stubble on the field

black.

Trời mưa đã đủ

Biến thành đám bong bóng trên cánh đồng

Màu đen

Winter rain

falls on the cow  shed

a cock crows.

Mưa mùa đông

Rơi trên mái chuồng bò

Con gà trống gáy vang

The leeks

newly washed white

how cold it is!

Những cây tỏi tây

mới rửa trắng tươi

Trời lạnh làm sao !

The sea darkens

the voices of the wild ducks

are faintly white.

Biển tối dần,

Tiếng đám vịt hoang

Màu trắng  lờ mờ

Ill on a journey

my dreams wander

over a withered moor.

 Tôi sẽ tiếp tục lữ hành

 Giấc mơ tôi phiêu lãng

 qua những cánh đồng hoang héo khô .


15. Coolness of the melons

Coolness of the melons

flecked with mud

in the morning dew.

Hơi lạnh miếng dưa hấu

Lốm đốm dính vệt bùn

Trong sương sớm

16. Don’t imitate me

Don’t imitate me

it’s as boring

as the two halves of a melon.

Đừng bắt chước tôi

Rất chán

Như hai nửa quả dưa

17.  First day of spring

First day of spring

I keep thinking about

the end of autumn.

Ngày đầu mùa xuân

Tôi cứ nhớ mãi

Những ngày cuối thu

18. First snow

First snow

falling

on the half – finished bridge.

Những hạt tuyết đầu tiên

Bắt đầu rơi

Trên cây cầu xây dở

19. First winter rain

First winter rain

even the monkey

seems to want a raincoat.


Cơn mưa đầu mùa đông

Ngay cả con khỉ

Hình như cũng cần cái áo tơi

20. Four Haiku (4 bài)

Spring

A hill without a name

Veiled in morning mist

Mùa xuân

Một ngọn đồi không tên

Bị che phủ trong sương mù sớm

The beginning of autumn

Sea and emerald paddy

Both the same green.

Buổi đầu mùa thu

Biển và lúa màu ngọc lục bảo

Cả hai màu xanh xanh

The winds of autumn

Blow: yet still green

The chestnut husks.

Cơn gió muà thu

gió thổi: vẫn còn xanh

Những vỏ hạt dẻ

A flash of lightning

Into the gloom

Goes the heron’s cry 

                                            Một tia chớp

        Đi sâu vào tối đen

        Làm con diệc kêu lên

21. Heat waves shimmering

Heat waves shimmering

one or two inches

above the dead grass.

        Hơi nóng từng đợt thấp thoáng

Một hai phân

trên ngọn cỏ khô

22. How admirable

How admirable !

to see lightning and not think

life is fleeting

Thật đáng khen ngợi

Nhìn thấy tia chớp mà không nghĩ gì.

Cuộc sống thật phù du

23. In the world of ours

In this world of ours,

We eat only to cast out,

Sleep only to wake,

And what comes after all that

Is simply to die at last.

Trong thế giới này

Chúng ta ăn đủ để đóng vai

Ngủ đủ để thức dậy

Và cái gì sẽ đến sau cùng

Đơn giản chỉ là cái chết.

24. Midfield

Midfield,

attached to nothing,

the skylark singing

                     Giữa cánh đồng

    Không có chỗ bám

    Chim chiền chiện hót vang

25. Moonlight slanting

Moonlight slanting

through the bamboo grove;

a cuckoo crying

             Ánh trăng nghiêng nghiêng

Xuyên qua  bụi tre

Chim gáy cất tiếng

26. Spring rain

Spring rain

leaking through the roof

dripping from the wasps’ nest

Mưa xuân

rỉ qua mái nhà

nhỏ giọt xuống tổ ong

27. Stillness

Stillness

the cicada’s cry

drills into the rocks.

Sự tĩnh mịch

Tiếng kêu con ve sầu

Khoan vào đá

28. Taking a nap

Taking a nap,

feet planted

against a cool wall.

                     Chợp mắt

    chân đang giơ lên

    chống vào vách nhà lạnh lẽo

29. Teeth sensitive to the sand

Teeth sensitive to the sand

in salad greens

I’m getting old.

Hàm răng dễ tổn thương với cát

trong rau trộn salad.

Tôi đang già đi

30. The dragonfly

The dragonfly

can’t quite land

on that blade of grass.

Con chuồn chuồn

đậu mãi không vững

trên lá cỏ kia

31. The morning glory also

The morning glory also

turns out

not to be my friend.

Buổi sáng khoan khoái

Cũng chẳng trở thành

bạn tôi

32. The oak tree

The oak tree

not interested

in cherry blossoms.


 Cây sồi

 Không thích

 Mùa hoa đào nở

33. The old pond

Nguyên phiên âm Nhật ngữ :

                                            Furuike ya

         kawazu tibikomu

mizu no oto

Bài thơ “Cái ao cũ” được coi là bài thơ nổi tiếng nhất của  thể thơ haiku.

Dưới đây là 10 bản dịch tiếng Anh và tiếng Việt .

33.1.  The old pond

          a frod jumps in,

          sound of water.

Ao cũ

Một con ếch nhảy vào

 tiếng nước.vang

33.2. Old pond…

         a frog jumps in

         water’s sound.

Ao cũ

Một con ếch nhày vào

Vang tiếng nước.

33.3. An old silent pond…

          a frog jumps into the pond,

         splash! Silence again.

Cái ao cũ im lìm…

Một con ếch nhảy vào ao

Xao động ! Lại im lìm

33.4. There is the old pond !

          Lo, into it jumps a frog

          hark, water’s music!

Có một cái ao cũ

Kìa, một con ếch nhảy vào nó

A… một nốt nhạc nước vang lên !

33.5. The silent old pond

         a mirror of ancient calm,

         a frog – leaps – in splash.

Ao cũ lặng lẽ

Tấm gương của cây cọ ngày xưa

Tiếng xao động khi con ếch nhảy vào

33.6.  Old pond

          frog leaping

           splash

            Ao cũ

            con ếch nhảy vào

             xao động

   33.7. Antic pond

            frantic frog jumps in

            gigantic sound.

Ao cũ

điên cuồng con ếch nhảy vào

tiếng vang khổng lồ

33.8. Old pond

          leap–splash

          a frog.

Ao cũ

Tiếng nhảy vang lên

Một con ếch

33.9. The old pond,

         A frog jumps in

         Plop !

Cái ao cũ

Một con ếch nhảy vào

Tõm !

33.10. The old pond, yes, and

           A frog is jumping into

                           The water, and spash.

Cái ao cũ, à, kìa

Một con ếch đang nhảy vào nước

Và xáo động

            Các dịch giả tiếng Anh bài 35:

Robert Hass dịch bài 35.1

William J.Higginson  dịch bài 35.2

Harry Behn dịch bài 35.3

John Bryan dịch bài 35.4

Dion O’Donnol dịch bài 35.5

Cid Corman dịch bài 35.6

Bernard Lionel Einbond 35.7

Lucien Stryck dịch bài 35.8

Allan Watts dịch bài  35.9

            G.S.Fraser dịch bài 35.10


 34.  The squid seller’s call

The squid seller’s call

mingles with the voice

of the cuckoo.

Người bán mực ống rao lên

Lẫn với tiếng kêu

con chim gáy

 35. This old village

This old village

not a single house

without persimmon trees

Cái làng cũ này

Chẳng phải một ngôi nhà đơn chiếc

Thiếu cây hồng vàng

  36. What fish feel

What fish feel,

birds feel, I don’t know

the year ending.

Cá cảm thấy gì

Chim nghĩ sao, tôi không biết

Năm sắp tàn

37. When the winter chrysanthemums go

When the winter chrysanthemums go,

there’s nothing to write about

but radishes

Khi hoa cúc mùa đông lụi tàn

Chẳng có gì để viết

Ngoài đám cây củ cải

38. Winter garden

Winter garden,

the moon thinned to a thread,

insects singing

Vườn mùa đông

Ánh trăng mỏng dần như sợi chỉ

Côn trùng hát vang

39. Winter solitude

Winter solitude

In a world of one color

The sound of wind

                     Cô đơn mùa đông

Trong thế giới một màu

Tiếng gió thổi

40. Wrapping the rice cakes

 

Wrapping the rice cakes,

With one hand

       She fingers back her hair

Gói bánh

Với một bàn tay

Cô lùa ngón tay ngược vào mái tóc

       

                                    Nguồn:

Publisher: www.poemhunter.com

The World’s Poetry Archive

Classic Poetry series

Matsuo Basho

Publication date: 2004

 

 

Biên dịch: Phùng Hoài Ngọc

Đại học An Giang 12.2007

                         

 

                          

                           

 

 

 


Nguyên tác 36 bài haiku Basho chữ Nhật

(chữ Nhật, phiên âm hiện đại, tiếng Anh và tiếng Việt)

Mỗi bài thơ chỉ viết một dòng, dọc xuống như một bức tranh  thư pháp

Bài 1

Kusa no to mo

Sumikawaru yo zo

Hina no ie

Even a thatched hut

May change with a new owner

into a doll’s house

Ngay cả túp lều cỏ

đổi thay theo chủ mới

                           trở thành ngôi nhà xinh 


Bài 2

Yuku haru ya

Tori naki uo no

Me wa namida

Spring is passing by !

Birds are weeping and the eyes

Of fish fill with tears.

Mùa xuân ra đi

tiếng chim nức nở

mắt cá  lệ đầy


  Bài 3 

Shibaraku wa

Taki ni komoru ya

Ge no hajime

For a little while

I’ll shut myself inside the falls-

    Summer retreat has begun

Trong một lúc

tôi sẽ khép mình vào trong thác

Mùa hè  ẩn dật ra hoạt động 


Bài 4

Kasane to wa

Yaenadeshiko no

Na naru beshi

Double – that must be

The name somebody gave to

A double- petalled pink

 

Kép- chắc hẳn là

tên ai đó đặt cho

hoa cẩm chướng màu hồng


Bài 5

 

Natsuyama ni

Ashida wo ogamu

Kadode kana

In summer mountains

I bow before his high clogs-

My journey’s just begun

Trong dãy núi mùa hè

Tôi cúi lạy trước đôi giày gỗ của núi

Cuộc hành trình mới bắt đầu


Bài 6 

 

Kitsusuki mo

  Io wa yaburazu

Natsu kodachi

Even woodpeckers

  Do not harm this little hut

Perched in summer trees.

Ngay đến chim gõ kiến

không làm hại căn lều nhỏ

đậu trên cây mùa hè.


Bài 7

Ta ichi mai

Uete tachisaru

Yanagi kana

They sowed a whole field

And only then did I leave

               Saigyo’s willow tree.

                                                                   Họ gieo mạ trên khắp cánh đồng

 và lúc đó tôi rời khỏi

cây liễu của Saigyo.

 


Bài 8   

Furyu no

Hajime ya Oku no

Taue uta

The true beginnings

Of poetry- an Oku

Rice- planting song

Nơi bắt đầu thực sự

của thi ca- một vùng đông bắc

những bài ca trồng lúa.


Bài 9

 

Sanae toru

Temoto ya mukashi

shinobuzuri

Deft hands that now pluck

Seedlings, once you used to press

Patterns from the stones

Những bàn tay khéo nay nhổ mạ gieo hạt,

đã từng dùng để ấn xoa

những hoa văn từ phiến đá


Bài 10

 

Oi mo tachi mo

Satsuki ni kazare

kaminobori

Sword and altar both

Display on Boy’s Day in May

When paper banners fly

Kiếm và tráp cả hai

trưng bày trong lễ Hội Con Trai tháng Năm

khi lá cờ giấy tung bay
Bài 11

Kasajima wa

Izuko satsuki no

Nukari michi

Rainhat Island-

Where did you say it was ?

Muddy roads in May .

Hòn đảo nón mưa

bạn đã nói nó ở chỗ nào ?

                                                                        Những nẻo đường ngập bùn tháng Năm


Bài 12

                  Sakura yori

                  Matsu wa futaki wo

   Mitsukigoshi

Since cherry- blossom time

I’ve pined; now I see a twin pine

      Three months afterwards

Kể từ lúc hoa anh đào nở

Tôi đã bám chặt cuộc hành trình

nay thấy cây tùng sinh đôi

Đã ba tháng trôi qua.


Bài 13

 

ayame kusa

ashi ni musuban

waraji no o

I will bind iris

Blossoms round my feet-

Cords for my sandals !

Tôi sẽ buộc cây diên vĩ đang hoa

quanh bàn chân mình

làm dây buộc dép.


Bài 14 

 

Nat sukusa ya

Tsuwamono domo ga

Yume no ato

The summer grasses-

Of brave soldiers’ dreams

The aftermath

Những đám cỏ mùa hè-

trên  mộ những chiến binh dũng cảm đang mơ

Mãi về sau.


Bài 15

尿

Nomi shirami

Uma no shito suru

                        Makura moto

Plagued by fleas and lice,

I hear the horses staling

Right by my pillow

Bị chấy rận quấy rày

Tôi nghe tiếng ngựa đái

ngay bên gối nằm.


Bài 16

Mayu haki wo

omokage ni shite

 beni no hana

They make me recall

A lady’s  powder puff-

                                                            These saffron blossoms

Họ làm tôi nhớ lại

Sáp trang điểm của phụ nữ

những màu vàng nghệ nở hoa


Bài 17

 

Shizukasa ya

Iwa ni shimiiru

Semi no koe

How still it is here-

Stinging into the stones,

The locusts’ trill.

Ôi sự lặng lẽ nơi đây

chích sâu vào đá

tiếng hót con dế.

 


Bài 18

 

Samidare wo

Atsumete hayashi

Mogamigawa

Gathering seawards

The summer rains, how swift it is !

Mogami River

Khắp nơi dồn về biển

mưa tháng Năm, sao chảy nhanh lạ !

Dòng sông Mogami


Bài 19

 

Suzushisa ya

Hono mikazuki no

Haguro san

How cool it is here-

A cresent moon faintly hovers

Over Mount Haguro

Nơi đây mát mẻ sao

một vầng trăng lưỡi liềm sáng ngời bay lượn

trên núi Haguro.


Bài 20

 

Kumo no mine

Ikutsu kuzurete

Tsuki no yamaThe peaks of clouds

Have crumbled intofragments-

The moolit mountain !

Những đỉnh mây

vừa vỡ dần thành mảnh vụn

ánh trăng soi đầu núi

 


Bài 21

殿

 

Katararenu

Yudono ni nurasu

Tamoto kana

I cannot speak of

Yudono, but see how wet

My sleeve is with tears

Tôi không thể nói gì

về Yudono, chỉ thấy  thấm ướt

tay áo tôi đẫm nước mắt.


   Bài 22

 

Atsuki hi wo

Umi ni iretari

Mogamigawa

The burning sun

It has washed into the sea-

Mogami River.

Mặt trời thiêu đốt

tắm trong biển cả

dòng sông Mogami


Bài 23

西

Kisakata ya

Ame ni Seishi ga

     Nebu no hana

Kisakata-

Seishi sleeping in the rain,

Wet mimosa blossoms.

Ở Kisakata

Tây Thi đang ngủ trong mưa

Mùa hoa mimosa ướt đẫm 


Bài 24  

 

Araumi ya

Sado ni yokotau

Ama no kawa

Turbulent the sea-

Across to Sado stretches

The Milky Way

Biển động dữ dội

vắt qua đảo Sado

trải dài sông Ngân hà.


Bài 25

Hitotsu ya ni

Yujo mo netari

Hagi to tsuki

Under the same roof

Prostitutes were sleeping-

The moon and clover

Dưới cùng một mái nhà

Mấy du nữ đang ngủ

Ánh trăng và cỏ bốn 1á


Bài 26

 

Wase no ka ya

Wakeiru migi wa

Ariso umi

Sweet-smelling rice field !

To our right as we push through,

The Ariso Sea

Những cánh đồng lúa thơm ngọt

về bên phải, chúng tôi  nhằm đi phía

Biển Ariso

 


Bài 27

 

Aka, aka to

Hi wa tsurenaku mo

Aki no kaze

 Redly, redly

The sun shines heartlessly, but

The wind is autumnal

Rất đỏ, rất thắm tươi

Nắng trời chiếu vô tư

gió vẫn mùa thu


Bài 28

 

Muzan ya na

Kabuto noshita no

kirigirisu

Alas for mortality !

Underneath the helmet

A grasshopper .

                              Cầu nguyện cho nấm mộ 

 dưới chiếc nón sắt chiến binh

                  con châu chấu

 


Bài 29

 

Ishiyama no

Ishi yorishiroshi

Aki nokaze

Whiter, whiter than

The stones of  Stone Mountain-

The autumnal wind.

Màu trắng, trắng hơn cả

những tảng đá trên núi đá-

gió mùa thu
Bài 30

 

 

Yamanaka ya

Kiku  wa  taoranu

Yu  no nioi

At Yamanaka

No need to pick chrysanthemums-

The scent of hot springs

Ở Yamanaka

không cần hái  hoa cúc

suối nước nóng vẫn thơm 


Bài 31

Kyo yori ya

Kakitsuke kesan

Kasano tsuyu

          Today I shall wipe out

          The words written in my hat

          With the dew of tears.

Hôm nay tôi chùi đi

 những lời đã viết trong chiếc nón

          với những giọt nước mắt sương
Bài 32 

 

Niwa hakite

Idebaya  tera  ni

Chiru yanagi

I’ll sweep the garden

before I leave- in the temple

The willow-leaves fall.

Tôi sẽ quét vườn

trước lúc ra đi- trong chùa

lá liễu rụng rơi


Bài 33  

 

Mono kakite

Ogi hikisaku

Nagori kana I scribbled something,

Planning to tear up my fan-

But parting was sad !

Tôi viết vội ít dòng,

định xé rách chiếc quạt-

nhưng phút chia tay buồn hiu


Bài 34

Tsuki kiyoshi

Yugyo no moteru

 Suna no ue

How pure the moonlight

On the sand before the shrine

 Brought by Pilgrim- Priests.

Ánh trăng thanh khiết làm sao

trên cát trắng phía trước

do các nhà tu mang đến  

 


Bài 35

Sabishisa ya

Suma ni kachitaru

 Hama no aki

How lonely it is !

Even lonelier than Suma

Autumn at this beach

Cô tịch làm sao !

 thậm chí cô đơn hơn cả Suma

 Mùa thu trên bãi biển này.


Bài 36

 

Hamaguri  no

Futami  ni wakare

Yuku aki zo

Dividing like clam

And shell, I leave for Futami

Autumn is passing by.

Chia  tách con sò

và vỏ, tôi rời đi Futami

mùa thu đang đi qua.

 

 

 

 

 

Thưởng thức một số bài thơ Basho

 

            “Tháng và ngày là những lữ khách của muôn đời …”

            Câu văn mở đầu của nhật ký hành trình này chắc hẳn dựa theo ý thơ Lí Bạch trong bài “Xuân dạ yến đào lý viên”春夜晏桃李园(Đêm xuân ăn tiệc ở vườn đào mận) có hai câu: “Phù thiên địa giả vạn vật chi nghịch lữ. Quang âm giá bách đại chi quá khách”. Giáo sư Vĩnh Sính dịch: Thiên điạ trôi nổi là quán trọ của vạn vật. Tháng ngày trôi qua là những khách qua đường (Lối lên miền Oku, Nhà xuất bản Thế Giới 1999).

            Lí Bạch một người lữ khách gần suốt đời mình còn viết “Bỏ ta đi là ngày hôm qua, không sao giữ lại được…”(bài thơ “Trên lầu Tạ Thiếu xứ Tuyên Châu tiễn biệt hiệu thư Thúc Vân”)

             Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn một người từng dịch thơ haiku Hán ngữ chắc cũng theo ý thơ trên mà viết ca khúc “Ở trọ”:

Con chim mà đậu cành cây

con cá ở trọ trong khe nước nguồn…

Tôi nay ở trọ trần gian,

trăm năm về chốn xa xăm cuối trời…”.

Thiên nhiên của Basho hầu như không phân biệt thứ hạng, không cần băn khoăn lựa chọn. Khi miêu tả thiên nhiên, Bahso không coi cảnh vật là thứ vay mượn để “ngụ tình”.. Trong văn chương Trung Quốc, các loại cây cỏ hoa lá, thú vật đều được phân hạng, từ cao xuống thấp, từ sang tới hèn…Thi nhân cổ điển Việt Nam chẳng hạn Cao Bá Quát viết “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” thì Basho tiên sinh “nhất sinh đê thủ bái muôn hoa” kể cả hoa dại. Dĩ nhiên khi so sánh như thế, chúng tôi không có ý phê phán các thi nhân khác với Basho. Chúng ta đều biết rằng thi nhân sống và hít thở không khí của thời đại và sáng tác trong bối cảnh đương thời. Ngay cả cây bút, lọ mực, tờ giấy họ viết cũng do “bối cảnh” sản xuất ra mà !

Trong thơ Basho, sinh vật và con người bình đẳng tuyệt đối. Đọc những bài thơ viết về loài vật như chim, cá, châu chấu, hạc, chấy rận, ngựa… đến ánh trăng, mưa, tuyết, dòng sông, bão lũ, …người đọc có quyền liên tưởng tương tự đến thân phận con người. Giới nghiên cứu đã xác định đó là “nguyên lý bình đẳng, liên thông” trong thơ haiku Basho. Do vậy hình tượng thơ của Basho vừa phong phú vừa giản dị. Sự hứng thú cảm nhận của người đọc trở nên thoải mái.

  Chúng tôi chọn thưởng thức một số bài thơ mà nhất thời cảm thấy dễ hiểu, tâm đắc chứ không dám xác định đó là những bài hay nhất của Basho.

            Bài 2. Tống biệt

Mùa xuân ra đi

tiếng chim nức nở

mắt cá  lệ đầy

Thi nhân Basho rất ngại nói trực tiếp nỗi xúc động khi chia tay bạn hữu . Ông nói như trên là đủ, bạn bè ai cũng hiểu ! Thiên nhiên trong thơ ông gánh thay người, chia bớt nỗi khổ cho người vậy. Có thể chim và cá cũng  yêu mùa xuân và tiếc nuối xuân qua, như người vậy. Nhà thơ thực sự cảm thông với họ (chim, cá) chứ không phải chỉ mượn họ nói thay mình.

            Bài 18.  Giấc mơ dưới mộ

Những đám cỏ mùa hè-

Trên ngôi mộ những chiến binh dũng cảm đang mơ.

Mãi về sau.

The summer grasses-

Of brave soldiers’ dreams

The aftermath

            Dịch giả bản tiếng Anh ông Donald Keene đã dịch rằng “những đám cỏ của giấc mơ của người lính dũng cảm…”. Tiếng Anh rất chú trọng xác định chủ ngữ và sở hữu. Tiếng Việt và Hán không chú ý lắm chuyện này, vậy nên người đọc phải vận dụng quan sát, tự xác định chủ ngữ căn cứ theo bối cảnh và cấu trúc bài thơ. Ta hiểu rằng những người lính hi sinh mà chưa mãn nguyện. Đó là sự thật muôn đời, những cuộc chiến tranh ấy bất kể chính nghĩa hay phi nghĩa thì tất  cả những người lính cũng không bao giờ “vui vẻ chết”, mãn nguyện mà chết. Người lính nằm dưới đất sâu vẫn mơ mộng, ước ao, những đám cỏ xanh trên mộ mọc mãi không ngừng như  thể hiện giấc mơ của họ. Những người lính mơ điều gì ? Basho chỉ tay vào cây cỏ. Người đọc hiểu: liệt sĩ chỉ mơ được sống mà thôi ! (Chuyện những nhà ngoại cảm Việt Nam ngày nay kể rằng họ đã tiếp xúc với những vong hồn liệt sĩ. Các linh hồn ấy vẫn “sống”, vẫn theo dõi người đời, vẫn ao ước những cái nho nhỏ như hút điếu thuốc, cần chút ít tiền tiêu thỉnh thoảng… Đặc biệt, họ đã nói với nhà ngoại cảm rằng chỉ mong người đời đừng quên họ)… Basho không nói gì về những ước mơ của họ, ông tả cái đám cỏ mùa hạ cứ mọc xanh,  mãi về sau vẫn mọc, thế là bạn đọc chúng ta hiểu rồi, và chúng ta tự nhiên suy ngẫm tiếp tục nữa.

Bài 19. Mưa muà xuân

Những cơn mưa mùa xuân

giữ cho bạn khỏi những cuộc tàn phá dữ dội,

sảnh đường thượng đế lung linh.

Nhà thơ suy ngẫm về mùa xuân theo một cách khác lạ. Trên thế giới có bao nhiêu  áng văn chương, âm nhạc, hội hoạ miêu tả mùa xuân rất hay…Mùa xuân sinh sôi nảy nở, mùa xuân của yêu đương, mùa xuân hi vọng, mùa xuân tái sinh… Basho có cách diễn đạt độc đáo: mùa xuân “giữ cho bạn khỏi bị tàn phá dữ dội”. Thực ra sự tàn lụi của cuộc sống thì có ai cản ngăn được đâu ! Nhưng mùa xuân mải miết sinh nở, bù vào chỗ đã mất, cũng coi như “giữ lại” được vậy. Cái nhìn vô thường tích cực của Phật giáo rất thú vị, giúp cho chúng ta giữ lấy chút lạc quan. Triết lý thiền tông như vậy rất hoà hợp với đời sống nhân thế chứ đâu có khép kín vào cái “Tôi” cá thể, xuất thế.

Đất trời mùa xuân chính là “sảnh đường thượng đế lung linh”- Đây là một ý niệm giản đơn, độc đáo của Basho về “Thượng đế”

        Bài 19.  Rận và ngựa

Bị chấy rận quấy rày

Tôi nghe tiếng ngựa đái

ngay bên gối nằm.

Nội dung thông tin của bài thơ chẳng có gì lạ. Cái cách nói lên hai điều ấy mới thực là chất thơ. Con người ung dung chấp nhận chấy rận ngựa đái, chẳng coi việc nhỏ nhặt ấy là khổ cực .

        Bài 23.  Vàng nghệ nở hoa

Họ làm tôi nhớ lại

Sáp trang điểm của phụ nữ

những màu vàng nghệ nở hoa

 

“Màu vàng nghệ nở hoa” là một câu thơ tài hoa táo bạo lạ.

Người đọc ngỡ như thi nhân viết “ngược đời”: “màu vàng nghệ nở ra hoa” ! Trong khi người khác sẽ viết “hoa nở màu vàng nghệ”… Chúng ta sẽ còn gặp không ít những từ ngữ tài hoa khác trong tập ký hành trình của Basho.

         Bài 24.   Dế hót

Ôi sự lặng lẽ nơi đây

Chích sâu vào đá

tiếng hót của con dế.

Có người dịch là “thấm sâu vào đá” e rằng chưa sát với cảm giác thi nhân. Tiếng con dế (hoặc con châu chấu) vẫn bình thường như mọi nơi, mọi khi, cái đáng nói ở đây là “sự lặng lẽ”. Sự lặng lẽ làm nền cho tiếng dế nhỏ nhoi trở nên sắc nhọn và đầy sức mạnh, dường như cái dùi, cái khoan, cây kim chích sâu vào đá… Nhưng cuối cùng vẫn là tâm trạng thi nhân khiến ta suy ngẫm. Người thiền này đã tự mình gạt bỏ những tạp âm xung quanh thì mới nhận ra điều này mà viết nên bài haiku sắc sảo, sắc nhọn như tiếng dế trong im lặng.

         Bài 25. Mưa mùa hạ

Khắp nơi dồn về biển

mưa mùa hạ, sao chảy nhanh lạ !

Dòng sông Mogami

Dòng  sông đổ nước vào biển cả thì có gì lạ đâu ! Nhưng đây là mùa hạ, mưa nhiều hơn, lớn hơn, nhanh hơn, vậy thì sông chảy nhanh hơn. Nhà địa lý chuyên nghiệp sẽ chẳng phải băn khoăn. Còn bạn đọc, bạn cảm nhận điều gì cùng với Basho ? Nếu không lắng nghe thiên nhiên, ta sẽ chẳng thấy gì. Con sông mang nhiều nước thì phải chảy nhanh để tự giải thoát gánh năng của nó đi. Thế giới vô thường, con người chúng ta buộc phải nhận ra điều ấy.

         Bài 26. Tuyết trắng thơm

Thiêng liêng thay nơi ấy

tuyết trắng tự toả hương

từ thung lũng phía Nam    

                        Cảm giác khi tự hoà mình vào giữa thiên nhiên thường xuyên hiện diện trong thơ Basho, chẳng cần phải cố gắng chút nào.

         Bài 33.  Con hạc

“Nơi vượt qua thuỷ triều”

con hạc chân dài ngập ướt

Nước biển mát mẻ sao !

Cũng là một cảm giác thiên nhiên tinh tế, nhìn con hạc đứng dầm chân trong nước, nhà thơ cảm thấy sự mát mẻ trong tâm hồn mình.

 

        Bài 36. Du nữ

Dưới cùng một mái nhà

những du nữ đang ngủ

ánh trăng và cỏ bốn 1á

(Có nhà nghiên cứu dịch “cây bốn lá” là cây đinh hương hoặc cây cỏ thu)

Một cao tăng thi sĩ không hề cảm thấy xấu hổ khi ở chung nhà với gái làng chơi. Thi hào Bahso đã phát minh ra từ ngữ “du nữ” từ lòng nhân ái sâu xa của mình. “Du nữ” nguyên chữ Hán gốc là 游女 (chữ Nhật chỉ khác một chút: thay thế bộ thuỷ  trong chữ “du”bằng bộ xước). Là một thi nhân tu hành, Bahso vẫn quan tâm đến nhân thế, đến những kiếp người sống “dưới đáy” xã hội . Một chữ “du” chứa cả lòng cảm thông với những người “du nữ”. Ở cách phòng phía trước nhà, Bahso nhờ ngồi “thiền” mà nghe rõ những lời tâm sự của hai du nữ và ông thuật lại cho độc giả nghe. Người vô tâm không lắng nghe sẽ chẳng thể “quán thế âm” cho được. Basho không bày tỏ quan điểm riêng, ông chỉ đặt tên mới cho cái nghề nghiệp tủi nhục của họ và thuật lại suy nghĩ của họ. Thế là đủ cho một bài thơ.

 

            Bài 42.  Con châu chấu trong nón sắt

Cầu nguyện cho nấm mộ !

Dưới chiếc nón sắt chiến binh

con châu chấu

Bài thơ tưởng niệm một người lính, một vị tướng đã hi sinh trong lịch sử. Người ta có bao nhiêu lối bày tỏ lòng tri ân, cảm phục hoặc kể ra công lao của  người quá vãng, có khi là thương tiếc, lại có trường hợp cần chỉ trích…Basho chỉ đặt một con châu chấu (hoặc con dế) trong chiếc mũ sắt-di vật của người hi sinh mà tưởng niệm. Không chỉ tưởng niệm, ông còn bày tỏ một thái độ thật kín đáo qua hình tượng “con dế” trú ngụ trong chiếc nón sắt quí giá cổ xưa. Ta có thể nghĩ điều gì đó về hình ảnh con châu chấu (hoặc con dế) tầm thường… Nó đã đến nghỉ ngơi trong chiếc mũ sắt, làm bạn xóm giềng với vong hồn đang tạm trú nơi đây. Trong câu thơ mở đầu, ai là chủ ngữ, nhà thơ hay con châu chấu ? Tôi nghĩ là cả hai sinh linh này đều tưởng niệm người quá cố, cùng tìm đến với vong hồn nên họ mới có dịp gặp nhau ở nơi đây. Nếu ta nghĩ rằng con châu chấu là hiện thân kiếp sau của liệt sĩ thì có được không ?!

            Bài 44. Suối nóng thơm

  Ở Yamanaka

     không cần hái  hoa cúc

   suối nước nóng vẫn thơm

 

            Nhà thơ kể lại cảm giác của mình, một cảm giác thiên nhiên nhạy bén tinh tế lạ thường. Tuyết trắng toả hương, suối nước nóng cũng thơm hương. Hương tuyết lạnh, hương suối nóng…

Ta cùng đọc lại đoạn thi nhân Basho đến vùng Kurobane thuộc Nasu … Một anh nông dân nói “Để tôi tính, xem cách nào tốt nhất cho các ông. Những cánh đồng này đi tới có nhiều lối. Các ông du khách không biết đường, dễ bị lạc lắm. Tôi lo chuyện đó đấy… Thôi cứ cưỡi ngựa đi, đến khi nó dừng lại thì thả nó  tự quay về”. Anh ấy cho chúng tôi thuê con ngựa…. Đi một hồi lâu tới một cái làng, tôi thả con ngựa quay lại với một ít tiền buộc vào yên ngựa.

  Ta băn khoăn, sao lại có những người dân tin cậy khách lạ một cách vô tư đến thế nhỉ ! Con ngựa là cả một gia tài, một công cụ kiếm sống mà họ sẵn lòng giao cho khách lạ thuê, không đòi tiền trước hoặc đặt cọc hay bảo lãnh. Khi tới nới, khách tự buộc tiền thuê vào yên ngựa, ngựa tự quay về với chủ. Phải chăng Phật tính đã thấm sâu vào những con người bình dị và tình nghĩa ấy, tưởng như con ngựa cũng có “Phật tính” vậy! Thời hiện đại chúng ta làm thế nào có được nhiều con người sống với nhau như vậy ?! Những người như anh nông dân nọ chính là tinh hoa của vùng đất Oku. Thi nhân thiền sư kể câu chuyện cảm động một cách giản dị, với giọng điệu “thiền” mộc mạc.

            Đó không phải là chuyện lạ ở vùng Đông bắc, đây ta hãy cùng đọc một bài thơ của Sora (bạn đồng hành và môn sinh của Basho). Tôi chắc rằng chuyến đi Oku của thầy trò Basho bên cạnh mục đích hành hương còn là một khoá hướng dẫn môn sinh Sora đi thực tế sáng tác văn chương. Chắc hẳn những bài thơ ít ỏi của Sora đã được thầy Basho góp ý, nhuận sắc rồi.

Dãy núi Yudono-

Khi tôi dẫm lên những đồng tiền xu của khách hành hương

ngắm họ, tôi rơi nước mắt.

                        Những người hành hương Nhật Bản mộ đạo như thế thật là hiếm có. Những đồng tiền xu làm lễ vật rải rắc trên mặt đường, khách hành hương dẫm chân lên mà đi qua. Ở nơi đây không có những lòng tham. Vậy là họ đã đắc đạo, đắc đạo ngay giữa đời thường trên mặt đất. Môn sinh của Basho chỉ thuật lại và rơi đôi giọt nước mắt, không thuyết minh gì cả.

            Đọc tập Nhật ký hành trình này, chúng ta thấy rõ những cảm hứng chủ đạo dưới đây đã hoà quyện rất tự nhiên:

 Tình yêu đất nước, một đất nước đa dạng, tươi đẹp và hiểm trở, ngàn trùng .

 Kính mộ những di tích  phong cảnh cổ xưa của dân tộc.

 Hâm mộ thi ca cổ điển của tiền bối để lại.

 Khát khao du lịch, khám phá các thắng cảnh phong phú của đất nước.

Yêu thương những người lao động bình thường.

 Ẩn sâu một triết lý đạo Phật “thế gian vô thường”, không thể lưu giữ đựơc

 những thứ  vật chất, chỉ có tinh tuý tinh thần thì còn lại.

Thi ca vốn mang tính dân tộc, khó chia sẻ với dân tộc khác, các nhà nghiên cứu thường nói vậy. Nhưng bây giờ luận điểm này cần được thay đổi trong các giáo trình văn học trên thế giới. Thơ haiku là thể thơ, thể tài đầu tiên có thể quốc tế hóa, trở thành tiếng nói thơ chung của toàn nhân loại, Bahso đã vô tình lặng lẽ chứng minh điều đó.

Phùng Hoài Ngọc


Giới thiệu chùm thơ haiku Hán việt- lục bát

của Ngô Văn Tao và Trịnh Công Sơn

 

Đôi nét về thi sĩ  Ngô Văn Tao

Thi sĩ Ngô Văn Tao một nhà thơ viết bằng Hán ngữ ở Sài Gòn từ trước 1975. Hình như tên tuổi ông ít xuất hiện trên văn thi đàn nước ta, ấy là bởi tác phẩm ông viết bằng thứ chữ ít người đọc… Ông xuất bản lần đầu tập Hán tự hài cú (thơ haiku bằng chữ Hán) do Nhà xuất bản Văn nghệ TP.HCM năm 1994 và tái bản tại Nhà xuất bản Văn học năm 2001.

Ngày xưa văn hóa Nhật là một gạch nối Trung Hoa – Nhật Bản. Thi sĩ thiền sư Basho là một cái gạch nối thơ Nhật-Trung, từ đây ông vung ra muôn sợi tơ thơ phủ khắp trái đất này…

Thơ haiku Hán ngữ Ngô Văn Tao là cái gạch nối thứ 2, khép kín cái tam giác Hán- Nhật- Việt.

            Mượn hình thức thơ haiku, thi nhân không cần thấm nhuần nguyên lý thơ haiku Nhật Bản. Thơ Ngô Văn Tao vẫn là thơ cổ điển Trung Hoa-Việt Nam mang chiếc áo haiku ngắn gọn dễ biểu hiện và dễ lan truyền đến bạn tri âm.Thi nhân vẫn tìm thấy cảm hứng trong thành Giang Tô, núi Nga My, đài Cô Tô, dòng Tương Giang, cầu Ô thước, Ngọc nữ, sông Tiền Đường, liễu Chương Đài … (Trung Hoa). Thơ haiku Ngô Văn Tao vẫn quyến luyến các cảnh sông Hương Giang, núi Hồng Lĩnh, xúc cảm với đôi tình nhân Phạm Thái, Quỳnh Như đồng hương (Việt Nam)…

            Chắc hẳn khi chưa gặp haiku thì Ngô Văn Tao phải cố ép bài thơ của mình thành tứ tuyệt … Haiku đã mở rộng địa hạt thơ chẳng những cho người Việt mà các dân tộc khác trên thế giới cũng vui mừng khi muốn viết câu thơ mà gặp được thể loại haiku.

Đặc biệt bạn đọc có thể hiểu bài thơ Hán Việt Ngô Văn Tao qua câu thơ lục bát của Trịnh Công Sơn.

Nhà thơ Trịnh Công Sơn

 

Khi nghe nhạc Trịnh, ta đã nhận thấy ẩn bên trong một nhà thơ. Đến khi đọc thơ haiku -lục bát của ông thì ta khẳng định: có một nhà thơ Trịnh Công Sơn hẳn hoi.

Người Việt Nam chúng ta quen biết nhạc sĩ Trịnh Công Sơn quá lâu rồi. Từ bậc trí thức đến anh thiếu niên, cô thiếu nữ đồng quê, ít người chưa từng nghe nhạc Trịnh. Có người nói nghe nhạc Trịnh không hiểu lời ca nhưng vẫn cứ thích nghe… Điều này chứng minh thơ và nhạc của ông hòa quyện với nhau đến độ kì lạ.

            Trịnh Công Sơn dịch thơ haiku Hán ngữ của Ngô Văn Tao thành lục bát. Và đây là lúc nhà thơ Trịnh Công Sơn cất tiếng nói đích thực của thơ, không cần nương tựa vào âm nhạc nữa. Hóa ra Trịnh Công  Sơn là một nhà thơ lục bát tài hoa, đây bạn thử đọc xem:

01.

Thiên biên cô phi hạc

Đại tự thiên thu thế hận thường

Kim dực mãn nguyệt quang

Bên trời hạc lẻ loi bay

Thiên thu hận ấy mờ phai cõi người

Cánh vàng nặng ánh trăng soi

02.

Vọng động ngã tư duy

Vô minh dẫn đáo thị hà xứ

Miên trường ngã địch lộ

Mù mờ ta biết về đâu

Đường không hết cõi càng sâu ta bà

03.

Khai hoa ca yến lạc

Trầm tư vọng tưởng vị lai thời

Hoa tàn yến phi lệ

Chim vui hót, bỗng dưng sầu

Hoa kia thắm nụ thoáng mầu tàn phai

            Đọc bản dịch của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, ta thấy nhạc sĩ chủ yếu dựa theo tứ thơ Ngô Văn Tao mà phóng tác.Và như thế Trịnh Công Sơn cũng là một nhà thơ vậy. Những ca khúc độc đáo Trịnh Công Sơn chúng ta từng nghe sao thấy lãng đãng tương đồng những bài thơ haiku Hán Việt của Ngô Văn Tao… Nó băn khoăn về kiếp người, về những mối tình lãng mạn rất cổ điển. Thi nhân dường như dị ứng với những tình yêu kiểu hiện đại, nhạc của Trịnh không có vẻ đẹp nào ở hiện đại… Độc giả, thính giả cứ mê theo âm nhạc và những ca từ giàu chất thơ của ông. Thi trung hữu nhạc, nhạc trung hữu thi quả là nghệ thuật Trịnh Công Sơn vậy.

            Ngày nay trên thế giới người ta còn băn khoăn rằng : dân tộc khác làm thơ haiku thì có nhất định phải tuân thủ những xúc cảm thẩm mỹ và nguyên lý thơ haiku gốc hay không ?

            Theo tôi nghĩ, chúng ta chỉ cần chấp nhận một số thuộc tính căn bản của haiku sau đây:

            Một là tính thiền: chúng ta chỉ viết thơ trong cảm giác tĩnh lặng nhất. Quan sát cuộc sống trong tình trạng nó  tĩnh lặng

            Hai là tình yêu thiên nhiên, gắn bó mật thiết với thiên nhiên.

            Ba là cái đẹp giản dị

            Bốn là nỗi buồn thương nhẹ nhàng.

Ngoài những điều không thể thiếu đó, người làm thơ  khắp nơi trên trái đất này cứ thả sức tự do.

P.H.N

b

 

 


Thưởng thức thơ haiku Basho trong giai thoại

 

Giai thoại thứ nhất

 

Biết bao giai thoại dân gian thêu dệt mãi cuộc đời của nhà thơ. Chuyện kể một đêm trăng rằm, Basho ghé một cái làng nơi đám dân chúng tụ tập ngoài trời uống rượu sakê, thưởng trăng và rủ nhau làm thơ haiku. Họ mời ông khách lang thang nhập cuộc. Đến lượt khách, họ giục đọc thơ, ông cất tiếng: Vầng trăng non dại … Một người dân ngắt lời bảo “trăng rằm chứ không phải trăng non…”, Basho bình tĩnh đọc nốt hai câu sau:

                          Vầng trăng non dại

                          theo tôi từ độ ấy

                          ai có ngờ đêm nay !

Ai nấy kinh ngạc lặng đi, có người cất tiếng hỏi “Xin lỗi, ông là ai ?” Một người khác kêu lên “Có phải ông là tiên sinh Basho ?”… Họ chỉ ưa làm câu thơ khuôn sáo về vầng trăng bất động, vầng trăng giả nên thơ cũng giả. Vầng trăng của Basho cùng bước du hành, linh động, có hồn người, hồn vũ trụ, đồng cảm với thi nhân, nó có cả một số phận thăng trầm. Trăng sáng không chỉ nhờ ánh sáng thiên nhiên, còn sáng lên nhờ tâm hồn thi nhân nữa.

Trăng rằm thì ai cũng thấy tròn đẹp và thích thú. Nhưng trăng rằm phải bắt đầu từ trăng non chứ. Trăng non sinh động, có quá trình phát triển, nếm đủ mùi đời để viên mãn hôm nay ngày giữa tháng…. Ngắm trăng Rằm sao nỡ quên những ngày trăng khuyết từng kiên nhẫn gắn bó với cuộc hành trình lang bạt của tu sĩ Basho ! Triết lý sâu sa mà ấm áp biết bao, thơ Bahso.

Giai thoại thứ hai

 

 Tướng quân Yoda lừng lẫy trong triều đại Nhật hoàng thế kỷ 18, bỗng một ngày kia rửa tay gác kiếm, rút lui vào một tu viện do ông xây dựng. Ông là người yêu hội họa và yêu thơ

 Thường xuyên trầm tư mặc tưởng về cõi trầm luân của thế sự.

Ông nghe tiếng tăm lừng lẫy của Basho và ước ao được diện kiến. Nhưng người hâm mộ Bahso ở Nhật rất nhiều, đều ngao ngán vì gặp ông còn khó hơn gặp thượng đế. Bởi tu sĩ Basho lang thang nay đây mai đó không để lại dấu tích.

Tìm Basho mãi không được, Yoda cố tìm mua một bức chân dung Basho để ngắm cho thỏa lòng. Rồi tướng quân bỗng khao khát làm thơ.

Nhà văn Lê Đạt kể trong truyện ngắn “Bài haiku của tướng quân” rằng“Khi được tin Basho đang quanh quất ở địa phương, tướng quân Yoda lập tức ra lệnh cho các môn đồ chia các ngả đi kiếm bằng được người kỳ sĩ mời về tu viện. ..Một nhóm đi tìm may mắn gặp Basho đang ngủ dưới một gốc cây bàng già, cả người toát ra mùi rượu sakê, quần áo xộc xệch, mặt mũi dung tục như một nông phu. Chẳng lẽ một kẻ tục tử như thế kia lại là nhà thơ Basho lừng danh ? Người môn đồ tâm phúc của Yoda đã hỏi đi hỏi lại ông già quán gần đó: “Có đúng ông này là nhà thơ Baso không ?” Ông già quán trả lời thật thà: “Không biết có phải nhà thơ Basho không, nhưng ông ta là Basho thường nợ tiền rượu của lão”. Anh ta cứ cho võng cái thằng cha say rượu có tên Basho kia về. Nhìn con người bụi bẩn rơi đầy tạp chất trên nền gạch như gương của tu viện, nằm ngủ chảy cả dãi xuống nệm quí, Yoda không khỏi băn khoăn. Đây có phải đích thực Basho không ?

Nhưng kìa nhà thơ đã tỉnh giấc. Yoda trân trọng lấy bộ đồ trà cực quí như ta đã biết, hai tay nâng bát trà lên ngang mày cung kính mời khách. Chừng say rượu nên khát nước, Basho cầm bát trà, chẳng cần để ý đến loại men quí cũng chẳng cần đáp lễ, uống đánh ực một cái. Và chẳng đợi chủ nhân tiếp thêm, ông tự tay múc trà uống thêm hai bát nữa như phường ngưu ẩm. Người dầy công hàm dưỡng như Yoda mà cũng phải nhíu mày. Kẻ phàm phu này là nhà thơ Basho thật ư ? Nhưng nom ông uống hồn nhiên và ngon lành quá đến nỗi người ta có thể nghĩ tất cả những nghi thức uống trà đều là trò rắc rối thiên hạ bịa ra để làm phiền nhau một cách vô tích sự. Yoda hơi dao động.

. Trước đó, tướng quân Yoda có sáng tác một bài haiku rất đắc ý:

Con chuồn chuồn ngô

Bứt hai cánh

Quả ớt

Nhiều thi sĩ quanh vùng tha hồ tán thưởng, nào là “Nó không những đột ngột về mặt nghệ thuật mà còn thâm sâu về mặt tư tưởng. Chỉ mấy dòng thơ ngắn mà diễn được vòng luân hồi và thuyết vạn vật nhất thể của đạo Phật”.

Tướng quân vừa tự hào vừa e ngại đưa bài thơ cho Basho. Ông ta liếc mắt xem qua rồi từ từ đưa ngược tờ giấy. Cố nén bực tức, Yoda nói:

- Ngài đọc ngược …

Basho nói thản nhiên, chẳng biết nghiêm túc hay bông lơn:

- Ngược thế mới thuận.

Và ông lấy bút viết nguệch ngoạc:

Quả ớt

Chắp hai cánh

Chuồn chuồn ngô

Yoda cầm tờ giấy, lặng ngườị. Chao ôi! chỉ một cái đảo ngược mà đường trường vạn thủy thiên sơn có khi trọn đời tu dưỡng ông chưa chắc đã vượt qua nổị.

Ông triền miên trong ý nghĩ, thương cho cái kiếp giết người còn quá nặng căn của mình. Khi ông bừng tỉnh thì Basho đã biến mất tự bao giờ. ..

Tướng quân gọi người môn đồ hỏi:

- Ông ta có gởi lại gì không ?

Người gác cổng thưa rằng chỉ có tờ giấy trắng rẻ tiền, không có chữ.

Yoda cầm mảnh giấy trắng trơn, suy nghĩ rất lung…rồi đem treo trên tường bên những bức họa nổi tiếng.



MỤC LỤC

 

Nội dung

trang

Cái lều thơ haiku                                                          (Phùng Hoài Ngọc dịch)

Lời giới thiệu                                                        (PGS.TS Lưu Đức Trung)

Lời dịch giả bản tiếng Anh- Giáo sư Donald Keene (Phùng Hoài Ngọc dịch)

Con đường sâu thẳm lên miền Oku                       (Matsuo Basho – PHN dịch)

Danh mục 52 bài thơ trong tập Oku no Hosomichi    (Phùng Hoài Ngọc soạn)

Tuyển chọn 40 bài haiku Bahso, song ngữ                 (Phùng Hoài Ngọc dịch)

Nguyên tác 36 bài haiku Basho chữ Nhật                   (Phùng Hoài Ngọc soạn)

Giới thiệu chùm thơ haiku Hán Việt- thơ lục bát…            (Phùng Hoài Ngọc)

Thưởng thức thơ haiku Bahso trong giai thoại                    (Phùng Hoài Ngọc)

Mục lục

2

5

7

11

33

34

48

89

91

93

 

Cẩn bút

Phùng Hoài Ngọc

Địa chỉ liên lạc

Email: ngoc1951@gmail.com

DĐ: 0918 130 461

NR: 0763 843 382


# Tương tự cây chuối cảnh (chuối kiểng) ở Việt Nam- ND

*[1] Tất cả các ngày tháng trong nguyên tác đều theo âm lịch, so với dương lịch là ngày 16 tháng Năm là ngày Bahso rời khỏi Edo (tiền thân của Tokyo) lên đường.

(#)Moxa: như kiểu thầy thuốc Đông y điều trị: châm hương, hơ lá ngải cứu nơi đầu gối- ND

*[2] Năm dương lịch là 1689 

*[3] Vị nữ thần Konohana Sakuya Hime, trở thành phu nhân của Ninigi no Mikota, tổ tiên của hệ thống đế quốc. Bà có thai sau khi hai người ở với nhau có một đêm…Thấy vậy Ninigi nổi cơn nghi ngờ. Bà bị buộc phải  dự cuộc thử thách bằng lửa thiêu với lời nguyền: nếu đứa bé sinh ra khoẻ mạnh không bị cháy thì nó không phải con người đàn ông khác. Bà đẻ an toàn, sinh ra ba vị thần, một vị là Hohodemi (nghĩa là Ánh lửa), chuyện này được Basho nhắc đến.

*[4] Một loài cá trích, khi nướng lên bay mùi giống như thịt người bị cháy khét (lúc hoả thiêu)

*[5] Basho nói đến lăng mộ tướng quân Tokugawa ở Nikko và biểu lộ lòng biết ơn sâu sắc của ông về hoà bình và hưng thịnh mà gia đình này mang lại cho đất nước Nhật Bản. Trong bài thơ sau, “ ánh nắng mặt trời” gợi ý lời nguyện cầu bắt nguồn từ dân chúng Nikko.

*[6] Đây là tục lệ ở Nhật thay trang phục mùa hè vào ngày 1 tháng 4, ngày đầu mùa hè theo lịch âm. Câu này có hai nghĩa: Sora cạo đầu để trở thành tu sĩ đạo Phật và cũng bỏ trang phục thường dân, mặc áo tu sĩ.

*[7]  “Basho” là tên một loại cây chuối không có trái. Lá chuối rất dễ bị gió thổi rách, do đó nó được coi là tượng trưng cho nhà thơ nhạy cảm. Có một cây chuối basho trong vườn của Matsuo và nhân đó ông lấy làm bút hiệu của mình.

*[8] Khoảng thời gian 90 ngày (bắt đầu 16 tháng 4), giới tu sĩ tự nhốt mình trong một căn phòng nhỏ, chép lại bài thuyết pháp của Đức Phật và thực hiện những hoạt động tu hành khác. Basho khi mở đầu cuộc lữ hành có lẽ đã cảm thấy như là sự rút lui khỏi thế giới trần tục vậy.

*[9] Basho nhắc lại một đoạn văn trong chương 11 của Truyện kể dòng họ Heike. Nasu no Yoichi được lễ phong là người bắn cung tài giỏi. được yêu cầu bắn trúng chiếc nón trên một con thuyền đang bơi cách xa 250 thước. Anh cầu nguyện ở chùa Hachiman, thề rằng nếu mũi tên của anh bắn trượt, anh sẽ tự sát. Những mũi tên của anh đã trúng giữa đích.

*[10] Basho cầu nguyện trước bức tượng Enno Gyoji, (nhà tu thế kỉ 17 người đã đi gần khắp đất nước) cầu đôi chân khoẻ mạnh để đi tới miền viễn Bắc. En no Gyoja đuổi theo nhiều người khác để theo sau nhà tu lối khắc khổ shugendo, khi cách tu này của ông được mọi người biết.

*[11]  Một vị thiền sư (1643 ?-1715), thầy học của Basho

*[12]Basho nhắc đến ngôi nhà ở ẩn của hai thầy tu người Trung Hoa. Genmyo (tên Trung Quốc là Yuan-mao) ở trong căn lều của ông 15 năm, chần chừ mãi chưa muốn rời bỏ ngôi lều cho đến lúc chết. Còn  Houn (tên Trung Quốc là Fa-yun) sống ở căn nhà ông xây kề bên một tảng đá lớn

*[13] Những lời này xuất hiện trong một bài waka (thể thơ thuần phong cách Nhật, chưa chịu ảnh hưởng thơ Trung Quốc) do Saigyo nhà tu (cũng là nhà thơ nổi tiếng) vốn được Basho rất khâm phục. Có lẽ là Basho dấn thân vào cuộc lữ hành đi miền Bắc năm1689 sau  khi Saigyo đã chết cách đó 500 năm

*[14] Câu này của nhà thơ Taira no Kanemori (chết năm 990). Bài thơ xuất hiện dưới dạng câu hỏi trong tuyển tập văn Shui Shu do hoàng đế bảo trợ xuất bản.

*[15] Những chuyện hài hước xuất hiện trong Fukurozoshi, một tuyển tập truyện hài do Fujiwara no Kiyosuke (1104-1177) biên soạn.

*[16] Thiên đường của Phật A di đà, thường gọi Tây trúc,Tây phương.

*[17] Sự thích thú của Basho với cây lúa yến mạch nước hẳn đã từng tạo ra bởi bài thơ khuyết danh trong tập “Cổ kim tập” (năm 677): “Tình yêu của tôi sống mãi bởi một người tôi rất ít khi gặp, ít khi xuất hiện trong cảnh cây lúa yến mạch nước ở đầm lầy xứ Michinoku”. Cây lúa yến nước thường bị lẫn lộn với giống cỏ diên vĩ.

*[18] Những lá cờ phần lớn làm hình con cá chép, thường được trưng bày ngày 5 tháng Năm bên ngoài ngôi nhà khi chủ nhà sinh con trai.

*[19] Fujiwara no Sanekata (chết năm 998) là nhà thơ thời kì Bình An (Hei an). Ông trở nên “thuyền trưởng giữa kì” năm 985. Một cuộc cãi lộn giữa ông và Fujiwara no Yukinari (972-1027) khiến ông bị lưu đày đến Oku, sau chết ở đó.

*[20] Một bài thơ dưới dạng câu hỏi của Saigyo, bài số 798 trong tập “Tân cổ kim tập”. Trong lời nói đầu về việc Saigyo miêu tả như thế nào trong khi đi hành hương về Michinoku, ộng đã vượt qua một gò đất mà không biết là một nấm mồ, sau mới biết rằng đó là mộ của Sanekata.

*[21] Bài thơ của Noin số1043 trong tập Go Shui Shu, nói rằng khi đi thăm viếng cây tùng ở Takekuma lần thứ 2 thì nó đã biến mất hoàn toàn. Ông cho rằng nó đã chết sau khi sống thọ một ngàn năm và băn khoăn rằng có lẽ ông cũng đã thọ chừng ấy tuổi (!)

*[22] Trích từ bài thơ khuyết danh số 1091 trong tập “Cổ kim tập”.

*[23] Từ tsubo có nghĩa cái bình hay cái chén, nhưng bia đá (còn tồn tại) lại không giống cái bình; có thể tsubo là tên làng nơi tấm bia  được dựng lúc đầu.

*[24]  Quả núi tên gọi Sue no Matsu Yama, và ngôi đền Masshoji. Những thứ này  trông không giống, nhưng tên trước là tiếng Nhật, còn tên sau là tiếng Nhật gốc Hán viết cùng kiểu văn tự.

*[25]  Đây là bài thơ khuyết danh số 1088 trong tập “Cổ kim tập”.

*[26]  Basho nhắc đến đến việc ngâm thơ các chương trong tập “Heike Monogatari” (Truyện Heike) trong phần đệm đàn tì bà, và với điệu nhảy kowaka diễn kèm khi ngâm văn bản miêu tả hành động anh hùng.

*[27] Basho đang trích dẫn theo Hàn Dũ (768-824)- nhà nho, thi nhân, nhà tư tưởng Khổng giáo thời Đường Trung Quốc. Có thể nguồn gốc của nó là từ tuyển tập Kobun Shimpo Koshu, một bản tóm tắt văn chương và văn bản triết học Trung Quốc thông dụng ở Nhật.

#  “Triều đâu nổi sóng đùng đùng/ Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường “ (Truyện Kiều-

     Nguyễn Du) – ND

*[28] Trích theo bài thơ số 4097 trong tập Man’yoshu của Otomo no Yakamochi. Được sáng tác năm 749 khi tác giả của bài thơ làm đặc sứ đem đi dự lễ mừng xứ Michinoku tìm thấy mỏ vàng.

*[29] Sodeno Watashi, Obuchi no Maki và Mano no Kayahara vốn được nhắc trong Truyện Ise- những địa điểm thường được nhắc tới trong thi ca (uta-makura)

*[30] Ý thơ lấy từ bài thơ Đỗ Phủ (712-770) thời nhà Đường, Trung Quốc, xuất hiện trong bản dịch tiếng Nhật như một tục ngữ phương ngôn.

*[31] Kanefusa là tên đã từng dùng của Yoshitsune. Ông này sau khi giết vợ và con đã châm lửa đốt nhà gồm cả những xác chết, cách này nhằm đánh lừa kẻ thù về dấu tích của họ.

# Thất bảo (bảy vật quí) theo quan niệm phương Đông gồm vàng, bạc, ngọc lưu li, xà cừ,  ngọc mã não, san hô, hổ phách, ngọc trai và pha lê. Bảy thứ này ưa được trang trí trong những nhà quyền quí, giàu sang. “Ban ngày sáp thắp hai bên. Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà” (căn phòng của Hoạn bà, mẹ của Hoạn Thư- Truyện Kiều, Nguyễn Du)- ND

*[32] : Một đoạn trích thơ Đỗ Phủ

*[33] Ý thơ lấy từ bài số 1092 trong Cổ kim tập (biên soạn khoảng 905-920), nói về loại thuyền mang tên “thuyền lúa”.

#- Bài thơ liên hoàn, nhiều người nối nhau làm- ND.

*[34] Một tuyển tập văn hành lễ, cầu nguyện, hướng dẫn… được biên soạn năm 927.

*[35] Câu này và câu trước nói về những suy luận của Basho về tên gọi Haguro.

*[36] Sợi dây quấn bằng giấy và chiếc mũ miện tạo nên một phần trang phục của người hành 

      hương (về đất Phật)

*[37] Tên của hai thanh kiếm nổi tiếng thời cổ đại Trung Hoa; là tên của hai vợ chồng thợ rèn kiếm.

*[38] Gyoson (1057-1135) thầy tu cao cấp dòng Tendai là một thi sĩ nổi tiếng. Bài thơ Bahso nhắc đến là trong tập thơ  Kin’yoshu (năm 1125). Cảm xúc chủ đạo trong bài thơ là “Hỡi hoa anh đào núi. Chia sẻ với ta cảm xúc; trừ khi mùa hoa của ngươi chẳng có người xem”.

*[39] Tên của ngôi đền (Kanmanju-ji) nhắc đến truyền thuyết hoàng hậu Jingu với những viên ngọc trai có khả năng kiềm chế thuỷ triều để đạt lợi thế trong cuộc hành quân chống lại quân Triều Tiên

*[40] Tây Thi- một mĩ nhân Trung Hoa được ca tụng, đặc biệt khi vẻ mặt nàng buồn rầu. Có một cách chơi chữ đồng âm trên từ “ngủ”(nebu) và “hoa mimosa” (nebu)

*[41] Tiếng “sairei” chắc là tựa đề của bài thơ haiku theo sau.

*[42] Sora rất tâm đắc tục lệ cổ xưa ở vùng này, anh chỉ ngạc nhiên không biết người dân ăn món gì vào dịp lễ này.

*[43] Một thương nhân xứ Gifu khi làm thơ mượn tên Teiji làm bút danh. Đây là bài thơ duy nhất trong tập này không phải của Basho. (Dịch giả Donald Keene đã nhầm lẫn, thực ra trong tập này còn có một bài thơ  của Saigyo và 9 bài của Sora- ND)

*[44]  Đêm mùng 7 tháng 7 gọi là Tanabata, ngày hội của hai ngôi sao chỉ được gặp nhau một lần trong năm. Vậy mà ngày mùng 6 chẳng có không khí đặc biệt gì.(Trung Quốc và Việt Nam gọi là ngày Thất tịch, chàng Ngưu lang (anh chăn trâu) và Chức nữ (cô dệt vải) gặp nhau trên cầu Ô thước sông Ngân hà).

*[45] Đây là những nơi ven bờ biển có sóng dữ dội bất ngờ vùi lấp đường lộ, khiến cho cha mẹ hoảng sợ đến nỗi bỏ cả con cái mà chạy, súc vật phải quay đầu bỏ chạy.

#  Nước cạn:  chỗ cửa sông, đất cát lắng xuống nhiều hơn chỗ khác nên cũng gọi “cửa 

  sông” là nơi “nước cạn”- ND

*[46] Vua Kazan gộp hai tên ngôi chùa quan trọng đối với ông: Seigando-ji ở Nachi và Kegon-ji ở Tanigumi

*[47] Bài thơ nói chung giải thích rằng những hòn đá ở Nata trắng hơn đá ở Ishiyamadera gần hồ Tì bà. Tuy nhiên những hòn đá này màu đen, nên hầu như đá ở các chùa khác hẳn là trắng hơn ở Ishiyama dera. Cần giải thích thêm. Trắng là “màu của mùa Thu” theo tài liệu của Đạo Lão.

*[48] Có một tín ngưỡng ở Trung Quốc (Nhật Bản cũng chịu ảnh hưởng) là mùi hương hoa cúc có hiệu quả chữa bệnh.

*[49]Yasuhara Teishishu (1610-1673) học thơ haikai với Matsunaga Teitoku (1571-1653) và trở nên một trong những nhà thơ hàng đầu sớm nhất của thể loại haikai.

*[50] Đó là một tục lệ của những người hành hương tập thể viết những câu, chẳng hạn như “Hai người trên thiên đường và trên mặt đất” ở mặt trong chiếc nón; nhưng nay Sora không còn đi cùng với ông nữa nên Basho chùi bỏ mấy chữ này.

*[51] Basho sắp sửa quăng bỏ chiếc nón, lúc này mùa hè đã hết, cao hứng viết vội ít chữ lên nón, nhưng giờ lại băn khoăn chưa muốn quăng bỏ nón. Sự miễn cưỡng chia tay chiếc nón ngụ ý rằng ông miễn cưỡng dời khỏi Hokushi.

*[52] Chắc chắn đây là gợi ý từ một cảnh trong chương “Yugao” của Truyện Genji trong đó Genji ghé thăm Yugao.

*[53] Hành động của nhà tu hành hương với ý muốn làm hài lòng thần linh lúc ấy đã sẵn lòng ban ân huệ theo yêu cầu của nhà tu.

(#) Sake: rượu lúa, trắng đục như cơm ruợu Việt Nam nhưng nồng hơn, món uống thông dụng ở Nhật. Tương tự rựơu đế ở Việt Nam- ND

*[54] Câu thơ này gợi nhớ lời văn mở đầu cuộc hành trình (“đi”) và bây giờ (“lại đi”). Nơi sắp đến là  Futami có ngôi chuà Lớn, thuộc tỉnh Ise. Basho chơi chữ: chia tay khó như tách vỏ sò khỏi thân nó. “Futami” cũng chứa đựng  hai chữ: “futa” là vỏ, mi là “ruột” (ND chú thích bổ sung)



Comments on: "THƠ HAIKU BASHO" (4)

  1. Xin cảm ơn!

  2. Hello Dear, are you really visiting this web page on a
    regular basis, if so after that you will definitely take fastidious
    knowledge.

  3. Wow, that’s what I was seeking for, what a stuff! existing here at this webpage, thanks admin of this web page.

    • Bạn là người nước ngài mà có name tiếng Việt “phu kien dieu hoa” lạ quá nhỉ.
      Cám ơn bạn đã ghé vô my BLog.
      Giang Nam lãng tử

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 90 other followers

%d bloggers like this: