"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

Đặt vấn đề

            Cải tiến dạy học Ngữ văn bắt đầu từ việc soạn chương trình và sách giáo khoa…Nhưng khởi đầu của chương trình là một triết lý giáo dục, một đường lối giáo dục. Cụ thể đối với môn Ngữ văn, chúng ta cần xác định một phương hướng dạy học Ngữ văn, từ đó lựa chọn chương trình và soạn sách giáo khoa

            Ai cũng biết nguyên tắc xây dựng nền giáo dục phổ biến ngày nay trên toàn thế giới là “dân tộc- hiện đại”. Nguyên tắc này đặc biệt thích hợp với ngành xã hội-nhân văn (đậm nét  hơn các ngành tự nhiên- kĩ thuật). Phần dân tộc phải chọn được cái riêng cơ bản của dân tộc mình, phần hiện đại phải nhìn thấy cái chung của nhân loại. Phần hiện đại, nước chậm phát triển có thể học theo những nước phát triển hơn, còn phần dân tộc thì phải tự mình làm lấy, đây là cái khó của ngành xã hội-nhân văn (so với khoa học tự nhiên-kĩ thuật vốn mang tính quốc tế cao).

Nằm giữa tính dân tộctính quốc tế còn tồn tại tính khu vực (hay gọi là vùng). Chúng ta có thể khảo cứu khu vực để rút kinh nghiệm cho dân tộc mình.

Châu Á có một  khu vực đặc biệt gọi là “bốn nước đồng văn” (Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên-Hàn Quốc và Việt Nam). Bốn nước trong suốt nghìn năm đã dùng chung một hệ thống văn tự, đồng thời phát triển trên cùng một nền tảng văn hóa, văn học. Hạt nhân của hệ thống này hiển nhiên là nền văn hóa Trung Quốc. Trước khi bước vào thời kỳ hiện đại, bốn nền văn hóa đó đã khá ổn định sau thời gian ít nhất một nghìn năm. Ngày nay, ba nước Nhật Bản, Triều Tiên-Hàn Quốc và Việt Nam đã bước sang thời hiện đại trên dưới một thế kỉ, nhưng thái độ đối với truyền  thống chung thì mỗi nước có khác nhau.

Bài này chúng tôi thử làm một so sánh nhỏ: so sánh phần Văn học Trung Quốc trong môn Ngữ văn trung học của hai nước Việt Nam và Nhật Bản (một nước tiên tiến toàn diện hàng đầu ở châu Á). Do chưa có tài liệu về sách giáo khoa Ngữ văn của Triều Tiên-Hàn Quốc nên không thể so sánh được cả 4 nước. Qua đây bước đầu rút ra vài suy nghĩ về việc soạn sách Ngữ văn.

    VĂN HỌC TRUNG QUỐC TRONG SGK VIỆT NAM BỘ MỚI

         (trung học cơ sở và trung học phổ thông)

      Lớp 7

Đường thi (05 bài):

Tĩnh dạ tứ- Lí Bạch,

Mao ốc vị thu phong sở phá ca – Đỗ Phủ,

Hồi hương ngẫu thư – Hạ Tri Chương,

Vọng Lư Sơn bộc bố – Lí Bạch,

Phong Kiều dạ bạc – Trương Kế

 

      Lớp 9

Truyện ngắn “Cố hương” – Lỗ Tấn

Tiểu luận “Bàn về đọc sách” – Chu Quang Tiềm.

      Lớp 10

Tiểu thuyết “Tam quốc diễn nghĩa” (La Quán Trung)

Đường thi (03 bài):

Hoàng hạc lâu (Thôi Hiệu)

Khuê oán (Vương Xương Linh)

Điểu minh giản (Vương Duy).

      Lớp 12

Truyện ngắn “Thuốc” (Lỗ Tấn)

VĂN HỌC TRUNG QUỐC TRONG SGK NGỮ VĂN CẤP 3 NHẬT BẢN

(chưa kể trung học cơ sở)

Phần này chúng tôi dùng tài liệu của PGS.TS Đoàn Lê Giang dịch từ tiếng Nhật nhưng chỉ phiên âm Hán Việt các đề mục (sách Bình luận văn học niên giám 2007), chúng tôi đã dịch nghĩa đầy đủ cho dễ theo dõi (phần in nghiêng). Dưới đây giới thiệu phần văn học Trung Quốc được học trong trường cấp 3 Nhật Bản hiện nay.

Bộ sách giáo khoa Ngữ văn cấp 3 Nhật Bản

Lớp 10 : Quốc ngữ I   (xen kẽ với Cổ điển I)

Lớp 11 : Quốc ngữ II  (xen kẽ với Cổ điển II)

Lớp 12 : Cổ điển I, Cổ điển II và văn học hiện đại tinh tuyển.

Cổ điển gồm hai phần: cổ điển Trung Quốc và cổ điển Nhật Bản (dùng chung Hán văn)

   Quốc ngữ: Văn chương Nhật Bản viết bằng văn tự Nhật (từ trung đại đến hiện đại).

Cổ điển I – Hán văn

  1. Để học Hán văn
  2. Mâu thuẫn (Hàn Phi tử): Mâu thuẫn
  3. Triêu tam mộ tứ (Liệt tử): Sáng ba chiều bốn
  4. Tái ông thất mã (Hoài Nam tử) Ông Tái mất ngựa

Cổ điển II- Hán văn

Đường thi

01.                  Đăng Quán Tước lâu (Vương Chi Hoán): Lên lầu Quán Tước

02.                  Oán tình (Lí Bạch): Nỗi oán than

03.                  Lương Châu từ (Vương Hàn): Bài từ ở đất Lương Châu

04.                  Tặng biệt (Đỗ Mục): Bài thơ tặng người đi xa

05.                  Tống hữu nhân (Lí Bạch): Tiễn một người bạn

06.                  Xuân vọng (Đỗ Phủ): Ước vọng mùa xuân

07.                  Đăng cao (Đỗ Phủ)”: Lên cao

08.                  Đào hoa nguyên ký (Đào Tiềm): Ghi về suối hoa đào

 

   Cổ điển III- Hán văn

ĐỌC  VĂN- SỬ- TRIẾT- TƯ TƯỞNG TRUNG QUỐC

1.      Học nhi thời tập chi (Luận ngữ- Khổng tử): Học thì phải luyện tập

2.      Án Tử chi ngự  (Sử ký Tư Mã Thiên): Án Tử cầm cương đánh xe cho vua

3.      Tiên tùng Ngôi Thỉ (Thập bát sử lược): Trước hãy theo đến Ngôi Thỉ

4.      Bất tử chi dược  (Hàn Phi tử): Thuốc trường sinh

5.      Tô Vũ trì tiết  (Thập bát sử lược): Tô Vũ giữ gìn tiết tháo

6.      Hợp tung liên hoành (Thập bát sử lược): Hai chiến lược hợp tung  và liên hoành đối kháng nhau thời Chiến quốc.

7.      Hạng Vũ và Lưu Bang (Sử ký Tư Mã Thiên)

8.      Hồng môn chi hội (nt): Hội Hồng môn

9.      Tứ diện Sở ca  (nt): Tiếng ca nước Sở vang bốn phía

10.  Hạng Vương tự vẫn (nt)

11.  Tính tương cận dã (Luận ngữ- Khổng tử): Tính nết ảnh hưởng lẫn nhau khi gần gũi nhau.

12.  Bất nhẫn nhân chi tâm (Mạnh tử): Tâm trạng của người thiếu kiên nhẫn.

13.  Nhân chi tính ác (Tuân tử) : Tính ác của con người.

14.  Vô dụng chi dụng (Lão tử): Cái hữu ích của sự vô dụng.

15.  Diên vĩ ư nê trung (Trang tử): Hoa diên vĩ trong bùn.

16.  Lễ chi dụng hòa vi quí (Luận ngữ): Dùng lễ thì tạo ra sự hòa hợp.

17.  Vô hằng sản vô hằng tâm (Mạnh tử): Tâm trạng yên ổn khi không có tài sản.

18.  Vô vi chi trị (Lão tử): Cai trị bằng cách không bày đặt rắc rối.

19.  Xâm quan chi hại (Hàn phi tử): Cái hại của quan ác làm bậy.

20.  Thuật thuyết phục của Mạnh tử: Cách thuyết phục người của Mạnh tử.

21.  Mộng vi hồ điệp (Tề vật luận,  Trang tử): Mộng làm con bướm.

        Phụ lục

1.  Bản đồ Trung Quốc cổ

2.  Niên biểu lịch sử văn học Trung Quốc

THƯỞNG THỨC ĐƯỜNG THI TAM BÁCH THỦ

Học sinh tự đọc thưởng thức khoảng 15 bài Đường thi.

  1. Trú Kiến Đức giang (Mạnh Hạo Nhiên): Nghỉ lại ở bên sông Kiến Đức
  2. Tạp thi (Vương Duy): Thơ tự do
  3. Thu dạ ký Khâu viên ngoại (Vi Ứng Vật): Đêm thu viết gửi Khâu viên ngoại.
  4. Phù Dung lâu tống Tân Tiệm (Vương Xương Linh): Ở lầu Phù Dung tiễn Tân Tiệm
  5. Phùng nhập kinh sứ (Sầm Tham): Gặp sứ vào kinh đô
  6. Phong Kiều dạ bạc (Trương Kế): Đêm đỗ thuyền bến Phong Kiều
  7. Tặng biệt (Đỗ Phủ): Viết tặng khi chia tay
  8. Dạ vũ ký Bắc (Lý Thương Ẩn): Đêm mưa viết gửi về Bắc
  9. Đỗ thiếu phủ chi nhậm Thục châu (Vương Bột): Đỗ Phủ nhận chức ở Thục Châu
  10. Lữ dạ thư hoài (Đỗ Phủ): Nỗi niềm viết nơi đất khách
  11. Tống tăng qui Nhật Bản (Tiền Khởi): Tiễn nhà sư trở về Nhật
  12. Thảo (Bạch Cư Dị): Cỏ
  13. Hoàng hạc lâu (Thôi Hiệu): Lầu Hoàng hạc
  14. Du tử ngâm (Mạnh Giao): Khúc ngâm của đứa con đi xa
  15. Binh xa hành (Đỗ Phủ): Bài hành về xe lính ra trận

TẬP HỢP VĂN-SỬ -TRIẾT

Thơ

01. Tĩnh nữ (Kinh thi): Cô gái sống yên tĩnh

02. Ẩm tửu (Đào Tiềm): Uống rượu

03. Trách tử (Đào Tiềm): Trách con (hỏi và mắng con)

04. Ngư phủ từ (Khuất Nguyên): Bài từ của người đánh cá

05. Hành hành trùng hành hành (trong Cổ thi thập cửu thủ): 19 bài cổ thi

06. Nhạc phủ thi tập: Sắc lặc ca

07. Mãi thán ông (Bạch Cư Dị): Ông già bán than

08. Trường hận ca (Bạch Cư Dị): Bài ca trường hận

                     Lí Bạch và Đỗ Phủ

09.      Thu phố ca (Lí Bạch): Bài ca về thị trấn Thu Phố

10.      Nga Mi sơn nguyệt ca (Lí Bạch): Bài ca ánh trăng trên núi Nga Mi

11.      Thanh bình điệu (Lí Bạch): Điệu hát thanh bình (Một bài từ)

12.      Tặng Uông Luân (Lí Bạch): Viết tặng bạn Uông Luân

13.      Vọng Lư sơn bộc bố (Lí Bạch): Ngắm thác nước núi Lư

14.      Sơn trung dữ u nhân đối chước (Lí Bạch): Trong núi uống rượu với ẩn sĩ

15.      Nguyệt hạ độc chước (Lí Bạch): Dưới trăng uống rượu một mình

16.      Tuyệt cú (Đỗ Phủ): Tuyệt cú

17.      Xuân dã hỉ vũ (Đỗ Phủ): Mưa vui đêm xuân

18.      Đăng Nhạc Dương lâu (Đỗ Phủ): Trèo lên lầu Nhạc Dương

19.      Đăng cao (Đỗ Phủ): Lên cao

20.      Tân hôn biệt (Đỗ Phủ): Cặp vợ chồng mới cưới phải chia ly

21.      Mộng Lí Bạch (Đỗ Phủ): Nằm mộng gặp Lí Bạch

Văn

01. Khứ giả nhật dĩ sơ  (Văn tuyển): Người ấy ngày mới đi

02. Tống Tiết Tồn Nghĩa tự (Văn tuyển): Tiễn ông Tiết Tồn Nghĩa viết

03. Thư của Hàn Dũ  gửi Mạnh Đông

04. Quản Bão chi giao (Thập bát sử lược): tình bạn Quản Trọng và Bão Thúc Nha

05. Hoàn bích nhi quy (Thập bát sử lược): Trả ngọc mà về.

06. Kinh Kha nhập Tần (Thập bát sử lược): Kinh Kha vào đất Tần đi ám sát Tần Chính.

07. Chư tử bách gia và du thuyết. Các nhà hiền triết thời Chiến quốc và những cuộc du thuyết

08. Bộ xà giả thuyết – Liễu Tông Nguyên : Truyện của người bắt rắn.

09. Xuân dạ yến đào lý viên- Lí Bạch: Đêm xuân ăn tiệc ở vườn đào mận

10. Kiềm chi lư- Liễu Tông Nguyên: Con lừa ở đất Kiềm

   Sử ký (11-14 về Lưu Bang)

11. Đại trượng phu đáng như thử dã: Đại trượng phu phải như thế này !

12. Đông nam hữu thiên tử khí: Phía Đông phía Nam đều có thể xuất hiện thiên tử.

13. Ngô Sở dĩ hữu thiên hạ giả hà ? Ngô hay Sở đều chẳng phải là người thiên hạ ư ?

14. Uy như hải nội hề qui cố hương (Cao Tổ bản kỷ):

Nổi tiếng khắp nơi cũng trở về quê hương

   Sử ký (15-17 về Hàn Tín)

15. Phủ xuất khố hạ: Cúi đầu chui qua đũng quần

16. Bối thủy trận: Trận đánh dùng nước chặn sau lưng

17. Giảo thố tử lương cẩu định: Thỏ khôn chết, giải quyết chó săn

 Tiểu thuyết Trung Quốc cổ và kim

1. Li hồn kí (Trần Nguyên Hựu -nhà Đường): Bài ký về việc hồn rời khỏi xác.

2. Tam mộng ký (Bạch Hành Giản, nhà Đường): Ghi lại ba giấc mộng.

3. Thầy Fujino (Lỗ Tấn) Turyện về một người Nhật.

 

Tư tưởng Trung Quốc

Bàn về con người

Ngô đạo nhất dĩ quán chi (Luận ngữ): Đạo của ta phải nhất quán

Nhân nhân tâm dã nghĩa nhân lộ dã  (Mạnh tử):

Trong tim mọi người có con đường nhân nghĩa

Quân tử hữu tam lạc (Mạnh tử): Người quân tử có ba niềm vui

Nhân chi sinh dã nhu nhược (Lão tử): Con người sinh ra vốn nhu nhược

Trang tử thê tử  (Trang tử): Vợ con của Trang tử

Bàn về chính trị

Bất tri kì nhân dã (Luận ngữ): Không biết chính là người vậy.

Tinh trụy mộc minh (Tuân tử): Ngôi sao rơi, cây sáng lên

Kiêm ái (Mặc tử): Yêu quí tất cả

Dĩ vô sự thủ thiên hạ (Lão tử):Lấy cái vô sự mà chiếm cả thiên hạ

Binh hình tương thủy (Tôn tử): Bày binh như nước.

Bình luận văn hóa: Tính tạp chủng của văn hóa Nhật Bản.

          MẤY NHẬN XÉT VỀ PHẦN VĂN HỌC TRUNG QUỐC

                            trong sgk Ngữ văn Nhật Bản

 

1. Văn học cổ điển Hán và Nhật (Cổ văn) chiếm 50 %, ngang với văn học hiện đại Nhật.

(chúng tôi không liệt kê các bài văn quốc ngữ  Nhật Bản vì chưa cần thiết cho mục đích bàn luận ở đây)

2Cổ văn chiếm 50%, trong đó Văn học Trung Quốc chiếm khối lượng tới 15%.

Chẳng phải người Nhật quá yêu mến văn hóa Trung Quốc mà chính vì họ nhận thấy văn hóa TQ đã hòa tan ăn sâu trong truyền thống văn hóa Nhật, vậy nên muốn cho học sinh Nhật hiểu được sâu sắc văn hóa dân tộc thì phải cho họ học cổ văn Trung Quốc (ý kiến Đoàn Lê Giang). Đó là cách xây dựng tiêu chí khoa học không bị phụ thuộc vào tình cảm thiên kiến dân tộc hoặc tự tôn dân tộc thái quá..

Chúng ta nên  học tập SGK Nhật về việc bố trí Đọc thêmPhụ lục. Đây chính là cách giảm tải khôn khéo. Không cần ép học sinh phải học bài nhưng họ sẽ vì tò mò mà tự đọc (sách phải chọn được tác phẩm hay, hấp dẫn để lôi cuốn học sinh).

 

3. Bình luận văn hóa: Tính tạp chủng của văn hóa Nhật Bản.

Người Nhật Bản thẳng thắn công khai nói rằng văn hóa dân tộc của họ là “tạp chủng” !. Họ không cần cố gắng chứng minh rằng văn hóa dân tộc của họ là “độc đáo”, “giàu bản sắc” và “học tập nước ngoài chỉ là thứ yếu”.v.v… như các khuynh hướng tự tôn dân tộc thái quá trên thế giới ngày nay, trong đó có không ít người trí thức Việt Nam. Sự giao lưu, tiếp biến với nền văn hóa khác là hiện tượng phổ biến trong suốt diễn trình văn hóa của hầu hết các nước trên thế giới, trong tương lai cũng vẫn thế..

Ý KIẾN ĐỀ XUẤT VỚI BỘ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO

 

1. Nếu trong sách Ngữ văn phổ thông Nhật Bản tỉ lệ giữa cổ vănhiện đại văn là 50/50 thì ở nước ta văn hiện đại lấn át cổ văn.

Cổ văn xuất hiện trước, tồn tại lâu dài. Lúc này bản sắc văn hóa được hình thành cơ bản.

Hiện đại văn ra đời sau, thời gian tồn tại ngắn hơn nhiều

Văn học hiện đại Việt Nam chưa được một thế kỷ, số lượng nhiều hơn cả nghìn năm cổ văn.  Tuy nhiên, bản chất, ý thức văn học hiện đại chưa thể lấn át được cổ văn. Trong văn hóa, chất lượngthời gian tồn tại là 2 yếu tố quan trọng nhất.

Cần xem lại tỉ lệ giữa cổ văn và hiện đại văn Việt Nam sao cho thích đáng. Không nên quá coi trọng giá trị văn học mới chưa có nhiều thời gian thử thách.

2. Trong chương trình Ngữ văn phổ thông Việt Nam, cổ văn Trung Quốc chiếm ít hơn cổ văn Việt Nam, chưa hợp lý.

Thử so sánh:

  • Nước Nhật chấp nhận “Âu hóa” từ năm 1868, nghĩa là họ đã hiện đại hóa, hình thành quốc văn và hiện đại văn sớm hơn Trung Quốc và Việt Nam khoảng nửa thế kỷ.
  • Trung Quốc buớc vào hiện đại hóa cuối thế kỷ 19, Việt Nam đầu thế kỷ 20 (sớm muộn một bước thôi). Vậy là Việt Nam bước vào hiện đại hóa chậm trễ nhất trong ba nước. Nói cách khác, Việt Nam nặng phần cổ truyền hơn Nhật Bản mới phải.
  • Theo quan điểm của PGS.TS Đoàn Lê Giang, do từ đầu thế kỷ 20 người Việt Nam dùng một văn tự hoàn toàn mới-mẫu tự la tinh (chữ quốc ngữ hiện nay) nên việc học và đọc cổ văn bị đứt đoạn. Ông đề nghị cho học sinh phổ thông Việt Nam học một số tiết chữ Hán để khắc phục chỗ đứt gãy kia… Theo ý chúng tôi, trước khi thực hiện được ý tưởng đó, hãy cho học sinh học thêm các bài “cổ văn mẫu mực Trung Hoa” (như sách giáo khoa Nhật đã làm) qua bản dịch tiếng Việt cũng có thể chấp nhận được. Từ đây tạo ra một tiềm lực cổ văn- văn hóa truyền thống vững chắc cho học sinh Việt Nam, song song với văn học hiện đại.

3. Sách Ngữ văn phổ thông Việt Nam đủ tải hay quá tải  ?

Mấy năm qua, dư luận trên một số tờ báo Việt Nam kêu ca phàn nàn rằng chương trình học “quá tải”(!) Không biết họ căn cứ vào đâu để lên tiếng ?!

Thử so sánh với Nhật Bản

3.1  Đối chiếu số giờ học Văn:

Ngữ văn Việt Nam : 4 tiết/ tuần

Ngữ văn Nhật Bản : 6-8 tiết/tuần

3.2  Đối chiếu số bài học:

Số lượng bài học Văn của Nhật Bản nhiều hơn Việt Nam.

 3.3  Đủ tải hay quá tải còn tùy thuộc vào yêu cầu kiểm tra, thi cử của Bộ giáo dục, sở     giáo dục, phòng giáo dục và sau hết là giới hạn thi tốt nghiệp. (Chúng tôi đã xem qua       chương trình Ngữ văn của Nga, Pháp thấy đều nặng hơn của Việt Nam).

(¨) Chú thích: Chúng tôi không liệt kê ở đây phần Ngôn ngữ (thiên về tiếng Nhật thực hành, không nặng về lí thuyết tiếng) và Làm văn  (một quyển, không rải rác nhiều lớp)

PHN

Nguồn: Đoàn Lê Giang, ĐHKHXH-NV tp HCM

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 95 other followers

%d bloggers like this: