"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

 ĐẠI HỌC AN GIANG

 Thạc sĩ  Phùng Hoài Ngọc

Cô gái biểu tình 17/7/2011 - Hoa hậu Việt Nam yêu nước


MĨ HỌC ĐẠI CƯƠNG

Cao đẳng và Đại học Sư phạm Ngữ văn

LƯU HÀNH NỘI BỘ


MỸ HỌC

 đại cương

BÀI 1    Nhập môn mỹ học1.1  Mĩ học trước Mác1.2  Mĩ học Mác–Lê nin 

Cấu trúc của mĩ học

Mối quan hệ của mĩ học với các bộ môn khác

Cấu trúc của “Đời sống thẩm mĩ“

BÀI 2   Cái đẹp

2.1 Khái niệm  2.2 Phân loại cái đẹp theo ba phạm vi  2.3  Những quan niệm trước Mác về cái đẹp   2.4 Chủ nghĩa Mác Lê nin hoàn thành quan niệm về cái đẹp

BÀI 3   Cái bi kịch  

3.1. Khái niệm   3.2. Phân loại   3.3. Nghệ thuật  bi kịch

BÀI 4   Cái trác tuyệt 

4.1 Các hình thái biểu hiện của cái trác tuyệt   4.2. Tình cảm thẩm mĩ của cái trác tuyệt

4.3.Cái trác tuyệt trong nghệ thuật  4.4. Ba xu hướng nghiên cứu cái trác tuyệt.

BÀI 5   Cái hài kịch  

5.1   Khái niệm. 5.2  Ý nghĩa của hài kịch  5.3. Tính dân tộc của hài kịch

 5.4. Cái hài trong nghệ thuật 

BÀI 6   Chủ thể thẩm mĩ    

6.1  Con người là chủ thể nghệ thuật

6.2  Thị hiếu thẩm mĩ và thị hiếu  nghệ thuật

  6.3. Lí tưởng thẩm mĩ  và lí tưởng nghệ thuật

  6.4. Phân loại chủ thể thẩm mĩ, chủ thể nghệ thuật

BÀI 7   Đại cương về nghệ thuật

 7.1. Cấu trúc của đời sống nghệ thuật

 7.2. Sự thể hiện lí tưởng thẩm mĩ trong nghệ thuật và Hành trình của nhân vật lí tưởng trong nghệ thuật.

7.    7.3. Nghệ sĩ

7     7.4  Quan hệ giữa nghệ sĩ và các chủ thể nghệ thuật  khác .

7.    7.5  Đặc trưng của kiến trúc và những loại hình nghệ thuật cơ bản

(Điêu khắc, hội họa, âm nhạc, múa, sân khấu, văn học và điện ảnh)

  1. 7.6  Chức năng của nghệ thuật.

BÀI 8  Giáo dục thẩm mỹ

 8.1. Hai căn bệnh trong đời sống thẩm mĩ

 8.2. Nội dung và phương hướng giáo dục thẩm mĩ trong nhà trường trung học

                  Giáo dục ý thức thẩm mĩ. Giáo dục về cái đẹp

Ôn tập – Bài tập 

BÀI 1      NHẬP MÔN MĨ HỌC

 1.1.  Mỹ học trước  Mác

      Aristote thế kỉ 7 thời cổ Hi Lạp trước công nguyên, trong cuốn Poetika (Thi pháp), ông yêu cầu triết học nghiên cứu qui luật sáng tạo nghệ thuật. Lúc ấy, mĩ học còn phôi thai, chưa tồn tại độc lập.

    Baumgacten (Đức) 1735: giáo sư  yêu cầu mĩ học nhận nhiệm vụ nghiên cứu con đường nhận thức thế giới bằng cảm xúc. Ông viết hai cuốn Mĩ học tập I năm 1750, Mĩ học tập II năm 1758. Từ đây mĩ học ra đời, chính thức trở thành khoa học độc lập.

   Immanuel Kant (Đức) cuối thế kỉ 18

            Xác định đối tượng của mĩ học là “thị hiếu thẩm mĩ” là cái chủ quan, ông bác bỏ sự nghiên cứu đối tượng khách quan (cái đẹp không phải ở trên đôi má hồng thiếu nữ mà ở trong con mắt kẻ si tình)

   Hegel  (Đức) đầu thế kỉ 19

Mĩ học chỉ nghiên cứu cái đẹp nghệ thuật do Chúa trời ban phát cho nghệ sĩ, “nghệ thuật  là vương quốc bao la của cái đẹp”. Cái đẹp chủ yếu tập trung ở nghệ thuật, còn những cái đẹp khác trong đời sống thì đơn giản, thiếu hụt và nhàm chán.

  Tsernysevski (Nga thế kỉ 19) trái ngược với Hegel, khẳng định “Cái đẹp là cuộc sống”.

  Dostoievski (Nga thế kỉ 19) “Cái đẹp sẽ cứu cả thế giới“, “cái đẹp là lí tưởng đấu tranh của nhân dân”.

   Bielinski (Nga thế kỉ 19) mở rộng đối tượng mĩ học đến “lí tưởng thẩm mĩ”.

    Gogol (Nga thế kỉ 19)  nghiên cứu thi ca Puskin và từ đó đến với mĩ học. Ông viết “con người có thể suy tư lặng đi trước mọi thứ nhỏ bé và vĩ đại, đó là lúc phát sinh tia lửa điện thi ca-cái đẹp. Nó vốn có trong toàn bộ thế giới (mọi công trình của thượng đế), kể cả và trước hết là trong Con Người”

1.2  Mỹ học Mác Lê nin

       Mối quan hệ của mĩ học với các khoa học khác

                  Quan hệ với triết học

                      Triết học là  cái nôi sinh ra Mĩ  học

  • Bản thể luận

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng,

            Giác quan con người là công cụ của đời sống thẩm mĩ.

cái thẩm mĩ có sẵn trong bản chất thế giới.

cái đẹp mang  tính thứ nhất triết học.

  • Nhận thức luận

          Theo Lê nin, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan,

         vậy thì chúng ta có thể dựa vào nghệ thuật để nhận thức thế giới khách quan.

            Mặt khác, con người còn sáng tạo những cái thẩm mĩ chưa có trong thực tiễn.

  • Chủ nghĩa duy vật lịch sử (nghiên cứu về vai trò của cá nhân và quần chúng trong sự phát triển của lịch sử) là công cụ đắc lực khi nghiên cứu mĩ học.

                  Quan hệ với tâm lí học

            Mĩ học và tâm lí học cùng nghiên cứu một đối tượng là con người.

Con người có hai hoạt động là sinh lí và tâm lý. Mĩ học chú ý hoạt động tâm lí, “cái đẹp tâm lí học” và  “tâm lí học thẩm mĩ”.

                   Quan hệ với nghệ thuật học

            Nghệ thuật học bao gồm nhiều chuyên ngành

¨      Lịch sử nghệ thuật (Lịch sử văn học VN, LS sân khấu…v.v…)

¨      Lí luận nghệ thuật  (Lí luận văn học, Lí luận âm nhạc v.v…)

¨      Văn bản học (Văn bản Việt, văn bản Hán cổ, văn bản Nôm.v.v. . .)

¨      Tâm lí học sáng tạo nghệ thuật

¨      Tâm lí học tiếp nhận nghệ thuật

¨      Phê bình nghệ thuật  (văn chương, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh.v.v…)

Quan hệ giữa mĩ học và nghệ thuật học là quan hệ hai chiều nhưng mĩ học chi phối quyết định hơn.

      Cấu trúc của đời sống thẩm mĩ

               Nếu “bổ dọc” đời sống con người ta thấy 2 nửa: nửa vật chất và nửa tinh thần

               Nếu “cắt ngang”, ta thấy “lát cắt” chính là đời sống thẩm mĩ.

Đời sống thẩm mĩ  thấm sâu hòa lẫn vào cả đời sống vật chất lẫn tinh thần.

                                    Đời sống thẩm mĩ là một bộ ba

                                               Khách thể thẩm mĩ

                                               Chủ thể thẩm mĩ   

                                               Nghệ thuật

                KHÁCH THỂ THẨM MĨ  gồm  Bốn  phạm trù thẩm mĩ cơ bản:                  

Cái đẹp – Cái trác tuyệt –  Cái bi kịch –  Cái hài kịch

   CHỦ THỂ THẨM MĨ  gồm 6  tố chất thẩm mỹ:

Cảm xúc thẩm mĩ

Biểu tượng thẩm mĩ

Hình tượng thẩm mĩ

Tình cảm thẩm mĩ

Thị hiếu thẩm mĩ

Lí tưởng thẩm mĩ

           k


BÀI 2        CÁI ĐẸP

                                                 美, měi: Mỹ

                    美丽: měilì: mỹ lệ, 美好:  měi hǎo: mỹ hảo

 The Beauty, the Beautiful

  2.1  Khái niệm

Thế giới của chúng ta là vương quốc bao la của cái đẹp.

Phong cảnh  风景 (fēng jǐng) là cảnh sắc đẹp tự nhiên, hài hòa với nhau.

 Phong cảnh muôn màu sắc, muôn dáng điệu, muôn hương thơm.

      “Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp, mây gió trăng hoa tuyết núi sông”

                   (Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ/ sơn thuỷ yên hoa tuyết nguyệt phong)

               – Hồ Chí Minh  “Khán Thiên gia thi hữu cảm”)

Phong cảnh là do thiên nhiên tạo ra, con người chỉ có thể tham gia vào cảnh một cách hạn chế góp phần bổ sung thêm nét đẹp.

Con người đẹp muôn hình muôn vẻ

(SV trao đổi định nghĩa phân biệt từng vẻ đẹp)

Xinh đẹp: nhìn chung đẹp

xinh xắn  đẹp nhỏ nhắn, trẻ trung

Kiều diễm: 娇艳 jiāo yàn: [kiều: mềm mại, xinh xắn, xanh tươi mơn mởn, nũng nịu, hơi điệu. Diễm: đẹp tươi]

Diễm lệ (Yàn lì) 艳丽 đẹp tươi rực rỡ. 

Ỷ nị  (Yǐ nǐ ) gần như kiều diễm 旖旎

Mĩ lệ (měi lì): đẹp tươi 美丽

Duyên dáng : đẹp về dáng vóc, cử chỉ

Tươi thắm: làn da trắng hồng, đôi môi tươi hồng, đôi mắt sáng

Dễ thương /khả ái:可 爱

Ưa nhìn: nhìn chung đẹp tuy không có nét nào nổi bật.

Mảnh mai: đẹp và vóc người nhỏ

Thanh nhã 清 雅 (thanh: trong sáng, giản dị. Nhã: dịu dàng, mẫu mực qui tắc…)

Phương  phi 丰满fēng mǎn/ phong mãn,丰腴 fēng yú/ phong du

Khôi ngô 魁梧 kuí wú,  khôi vĩ 魁伟 kuí wěi .

Dĩnh ngộ: vẻ đẹp hơi lạ

Tuấn tú 俊秀 jùnxiù: nam, tài giỏi, vóc trung bình, lanh lợi, đẹp trai.

(Phái nữ có nhiều vẻ đẹp tự nhiên phong phú hơn nên được gọi là “phái đẹp”,

nghệ thuật hội họa thường chọn người mẫu nữ để miêu tả cả thế giới)

v.v…

Chưa kể lối nói dân gian ngày nay “Cô ấy đẹp thảm thiết, …đẹp thảm khốc… cô ấy đẹp đến nao lòng…,đẹp như tranh”. Vẻ đẹp con người vô cùng phong phú đa dạng.

     Hàng hóa đẹp và tác phẩm nghệ thuật

Mọi hàng hóa, dụng cụ cũng thể hiện một vẻ đẹp nào đấy. Những đồ thủ công mĩ nghệ. Các tác phẩm nghệ thuật .

Karl Marx nhận xét “Con người sản xuất theo qui luật của cái đẹp”

 Cảm xúc thẩm mĩ của cái đẹp

                Đứng trước cái đẹp, con người cảm thấy dễ chịu, khoan khoái, pha chút bàng hoàng ngạc nhiên và cảm thấy yêu đời hơn.

2.2    Cái đẹp trong ba phạm vi tồn tại

Cái đẹp trong Tự nhiên Cái đẹp trong Xã hội Cái đẹp trong Nghệ thuật
Phong cảnh thiên nhiên:cây lá hoa bầu trời trăng sao,sông biển, loài vật, chim hót… với tiêu chuẩn sau :

* Hình dáng cân đối, cân xứng, trật tự, màu sắc, hương vị, hài hòa… trong muôn hình muôn vẻ

*  Tất cả thế giới sinh vật đều đẹp, do trải qua hàng triệu năm đã đào thải những gì không đẹp.

* Sức sống là cái đẹp cơ bản nhất của sinh vật.

Con người là sinh vật hoàn hảo nhất trong giới sinh vật.

Thiên nhiên gồm vật hữu cơvật vô cơ . Vật hữu cơ là cái đẹp cơ bản của thiên nhiên .

Bao dung

Lao động, kĩ xảo

Tình yêu, tình bạn . ..

Tình xóm giềng

Tình đồng bào

Tình nhân loại

Tha thứ, ân hận

Đoàn kết

dân chủ, tự do

công bằng

Trí tuệ

Làm ra sản phẩm tiêu dùng đẹp.

Giải trí lành mạnh

Trang trí, trang điểm

(thẩm mĩ viện . . .)

và cao nhất là tác phẩm nghệ thuật                              

*Tái tạo những vẻ đẹp của tự nhiên và xã hội, lấy con người làm trung tâm. Tác động vào hai giác quan chính là Nghe và Nhìn (âm thanh và hình ảnh đẹp..)

 Chọn lựa, tập trung những hình ảnh đẹp, gạt bỏ những cái bình thường, bố trí lại, soi tỏ cái đẹp.

* Sáng tạo những vẻ đẹp mới chưa có trong hiện thực, nhân vật lãng mạn, cảnh vật huyền ảo, kỳ vĩ, . . . và những ước mơ khát vọng cao cả.

*Nhân vật chính là con người

Câu hỏi: Cái đẹp nhất tồn tại ở đâu trong 3 phạm vi Tự nhiên – Xã hội – Nghệ thuật ?

          Trong thần thoại Hi Lạp có câu chuyện họa sĩ  Pigmalion tạc ra bức tượng cô gái đẹp  từ một cái ngà voi. Nữ thần Venus cho cô gái ngà voi sức sống, chàng đặt tên khai sinh cho vợ là Galatea, sinh con trai đặt tên là Paphos (tiếng Hylạp) nghĩa là “say mê”. Từ đó sinh ra pathetique (và sympathetic) trong tiếng Latin, Pháp, Anh nghĩa là “cảm động, thống thiết”.

  Quan điểm của Tsernysevski “Cái đẹp là cuộc sống”. Cuộc sống hiện thực cao hơn nghệ thuật  (đúng / sai ? SV thảo luận)

        Thật ra, chính nhờ bức tượng ngà voi là tác phẩm nghệ thuật tạo hình mà Pigmalion mới cảm nhận được vẻ đẹp của nàng Galatea bằng xương bằng thịt – con người thật sự.

        Cái đẹp trong Tự nhiên rất phong phú, trong Xã hội càng phong phú hơn và cái đẹp trong Nghệ thuật là vô tận.

2.3  Những quan niệm về cái đẹp trước Mác

Các nhà triết học cổ đại đã giải thích cái đẹp như những ma thuật, như cái lan tỏa chứa đầy bí ẩn.

      Nhà  triết học toán học Pythagore căn cứ vào các con số để giải thích sự cân đối, hài hòa của thế giới. Cái đẹp sinh ra từ những sự chuyển động có nhịp điệu và âm thanh. Vậy cái đẹp là sự vận động nhịp nhàng của các con số và sự hòa điệu của chúng (tiến tới lí thuyết âm nhạc: cái đẹp của âm thanh gọi là giai điệu ).

      Nhà triết học Heraclet: cái đẹp sinh ra từ sự hài hòa của mâu thuẫn. Ông nhấn mạnh tính tương đối của cái đẹp. Dấu hiệu của cái đẹp là sự hòa hợp trong mâu thuẫn và phù hợp với điều kiện sống.

      Nhà triết học Democrit cho rằng: điều tốt nhất của con người là sống, sống khoan khoái hơn, ít buồn phiền hơn. Không nên cố đạt tới bất kì sự khoái cảm tột đỉnh nào mà chỉ nên đạt tới khoái cảm gắn liền với cái đẹp. Ai vi phạm độ thì cái dễ chịu sẽ trở thành cái khó chịu. Ông cũng cho rằng khi con người muốn tái hiện cuộc sống, tái sản xuất cuộc sống thì nghệ thuật xuất hiện.

      Nhà triết học Platon thờ cổ Hi Lạp: Cái đẹp là ý niệm vĩnh cửu, siêu cảm giác và siêu trần thế. Mọi vẻ đẹp là do Thượng đế nhập vào, con người chỉ nhận ra cái đẹp mà “không thể giải thích được cái đẹp” (!)

Nhà triết học Kant thế kỉ 18 : Cái đẹp chỉ tồn tại trong chủ thể

Hegel thế kỉ 19 : Cái đẹp chỉ có ở nghệ thuật    

Ý kiến của các nhà văn, nhà mĩ học Nga thế kỉ 19 tiến thêm một bước khi bổ sung tính xã hội của cái đẹp (cái đẹp là đấu tranh cho tự do ).

Giáo sư Chu Quang Tiềm (Trung Quốc) nói ”Đẹp là những sự vật mà tính chất, hình thái nào đó về phương diện khách quan lại thích hợp với hình thái ý thức chủ quan có thể giao hoà làm một mà trở thành tính chất ấy của một hình tượng hoàn chỉnh”.

2.4.    Quan niệm về cái đẹp của chủ nghĩa Mác- Lê Nin

Cái đẹp làm cho con người khoan khoái dễ chịu, yêu đời.

Cái đẹp là nhu cầu tinh thần vô hạn của  con người (còn nhu cầu vật chất thì có hạn).

Cái đẹp là một hiện tượng vô cùng phức tạp và đa dạng. Nó là một lĩnh vực tinh thần và tình cảm dù nó tồn tại dưới dạng vật chất hay tinh thần. Cái đẹp là một loại giá trị giúp con người đánh giá thế giới và bản thân mình. Cái đẹp là nhu cầu cá nhân đồng thời cũng mang tính định hướng của xã hội. Nó tồn tại trong ba phạm vi  tự nhiên, xã hội và nghệ thuật.

Cái đẹp khách quan, tự nó

Cái đẹp có những chuẩn mực như hình dạng cân đối, màu sắc, âm thanh, hương vị.. trật tự, hợp lí.  Về kích thước, cái đẹp có “tỉ lệ vàng”, “kích thước vàng” cho từng loại đối tượng.

      Thiên nhiên là nơi chứa đựng những cái đẹp khách quan tự nó sau khi trải qua hàng triệu năm thích nghi, đào thải, chọn lọc và tích lũy. (xem phim khoa học “Thế giới động vật” trên TV thấy  giới sinh vật có rất  nhiều vẻ đẹp kì lạ hiếm có).

Cái đẹp hài hòa, chỉnh thể trong tự nhiên, xã hội và nghệ thuật

Hài hòa, chỉnh thể là : những bộ phận đứng riêng lẻ chưa phải là đẹp nếu được sự phối hợp có thể tạo ra một cái đẹp chung. Một bộ phận có thể thiếu sự cân xứng, nhưng nó được đặt trong một tương quan nào đó nên vẫn tạo ra được cảm giác hài hòa và đẹp .

Ví dụ: mái tóc lệch, chiếc răng khểnh bản thân nó chưa đẹp, nhưng nhìn hòa hợp với khuôn mặt, dáng người sẽ đẹp. Đôi chân con cò khẳng khiu, quá dài so với thân thể nhỏ bé, nhưng lại hòa hợp với cổ dài, mỏ dài, do đó nhìn toàn bộ con cò rất đẹp.

Một bài thơ hay có thể bao gồm cả những câu bình thường, thậm chí không hay. Một tác phẩm hay vẫn có thể chứa đựng một số phần chưa hay. Khi phân tích tác phẩm, xinb đừng nhằm vào những câu dở mà cố ép khen cho hay, hoặc áp đặt cho nó cái đẹp mà nó không có (ví dụ bài thơ Bên kia sông Đuống rất hay, song câu thơ dở không ít, chẳng hạn ”nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ” . Xưa nay bao giờ dòng sông ấy cũng nằm nghiêng vậy thôi, đâu phải chỉ trong kháng chiến nó mới nằm nghiêng ! Câu thơ “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” là câu thơ dở ở trong một bài thơ hay (Tràng giang của Huy Cận). Bài Các vị La Hán chùa Tây Phương cũng là bài thơ hay mặc dù có khổ thơ cuối cùng rất dở, phi thực tế, vội vàng…

       Cái đẹp mang tính chủ thể – khách thể

              Cái đẹp này phụ thuộc vào năng lực vào ý thức thẩm mĩ của con người chủ thể. Mỗi con người gồm những yếu tố như: lứa tuổi, nghề nghiệp, hoàn cảnh xuất thân, trình độ học vấn và văn hóa, dân tộc, thời đại. Những yếu tố ấy tạo ra những thị hiếu thẩm mĩ khác nhau. Do đó khi đứng trước một khách thể, sẽ có thể sinh ra những sự đánh giá khác nhau về cái đẹp.

        Cái đẹp của nghệ thuật

Đó là cái đẹp do nghệ sĩ sáng tạo ra trong các loại hình nghệ thuật nhưng cái đẹp ấy có quan hệ mật thiết với cái đẹp trong tự nhiên và xã hội.

            Trước hết, nghệ thuật tái tạo những cái đẹp có sẵn trong tự nhiên mà trung tâm là con người. Tái tạo không phải là sự chép lại đơn giản (copy) mà là chọn lựa, sắp xếp bố cục, gạt đi những cái rườm rà, và tập trung chiếu sáng cái đẹp. Qua sự tái tạo, nghệ sĩ bộc lộ sự đánh giá và ca ngợi cái đẹp.

            Tiến hơn nữa, nghệ sĩ còn sáng tạo những vẻ đẹp mới mẻ như một ước mơ, một dự báo về cái đẹp tương lai, hoặc quay về sống với những cái đẹp đã trôi vào quá khứ . . .

Cái đẹp trong nghệ thuật phải đạt được tiêu chuẩn  là “tính  điển hình”.

“Tính điển hình” nghĩa  là tính phổ biến, quen thuộc đồng thời lại sinh động và cụ thể đối với người thưởng thức.

Trong quan niệm về cái đẹp cần tránh hai hướng lệch lạc: thói giáo điều và tự nhiên chủ nghĩa

Câu chuyện nhà thơ nhà soạn kịch Bertolt Brecht đến thăm một nhà hát “nổi tiếng” có: một khán giả qúa xúc động đã bắn chết diễn viên đóng vai phản diện quá giống (cả hai đều mắc bệnh tự nhiên chủ nghĩa, chưa có ý thức rõ rệt về nghệ thuật). Bertolt đã chê trách người diễn viên và người khán giả thiếu ý thức mĩ học (giải thích tại sao ?)

Tiểu thuyết Đẹp của Khái Hưng kể chuyện họa sĩ Nam mỏi mệt, thất vọng vì đi tìm mẫu vẽ không được như ý. Đến nhà người quen ở Hà Nội, anh gặp lại Lan – cô bé ngày xưa gọi anh bằng chú mà anh không chú ý, nay lớn lên xinh đẹp bất ngờ. Anh xúc động, say mê vẽ. Và tình yêu đến, anh cưới Lan. Một thời gian trôi qua, anh lại thất vọng, không vẽ được nữa, Lan đã thành thiếu phụ. Bạn bè hỏi, anh buồn bã nói: trên đời không có cái đẹp vĩnh cửu, nó đã chết, cái đẹp rất yểu mệnh, thật là buồn chán ! (anh mắc bệnh giáo điều chủ nghĩa)    

    Nhân vật lí tưởng (con người  đẹp nhất)  đi cùng lịch sử mĩ học, lịch sử nghệ thuật  và lịch sử phát triển của nhân loại :

      Nhân vật lí tưởng tức là mẫu người đẹp nhất của mỗi  thời đại, mỗi xứ sở. Nghệ

sĩ có bổn phận miêu tả họ trong  tác phẩm nghệ thuật …

BÀI 3                       CÁI BI KỊCH

                      (悲剧 Bēi jù, The tragedy )

 3.1  Khái niệm

             Bi kịch là tình trạng xung đột trực tiếp xảy ra giữa cái đẹp và cái xấu. Cái đẹp và cái xấu đều muốn tồn tại hợp pháp và cố gắng duy trì sự tồn tại của mình.

             Đó là những xung đột có ý nghĩa xã hội, lịch sử, đạo đức, tâm lí, chứ không phải bất kì sự xung đột nào trong cuộc sống. Những xung đột bi kịch liên quan đến lẽ sống  và tình đời rộng lớn của con người, có ý nghĩa triết lí sâu xa, khiến chúng ta xúc động và rút ra những bài học răn đời.

             Quan điểm của Aristote về bi kịch rất cô đọng và chuẩn xác  như  sau đây:

 Bi kịch là một hiện tượng quan trọng trong xã hội thể hiện qua số phận cá nhân.

 Bi kịch chân chính (tức là bi kịch chính thống) là bi kịch của những con người có hành động  nghiêm túc và cao thượng- “người tốt nhất so với những người trong thực tế”.

Kết thúc xung đột, những người tốt chịu đựng sự bất hạnh, thậm chí bị tiêu vong thảm khốc.

Nhưng sự thất bại của họ làm cho người đời xót thương, ca ngợi họ, vẽ chân dung họ đẹp , “đẹp hơn thực” để treo trước cuộc đời một tấm gương.

Tấm gương đó là bài học, giúp con người tránh điều ác, làm điều thiện. Bi kịch làm trong sạch hóa cảm xúc tương tự bằng cách khêu gợi sự xót thương và khủng khiếp (hiệu ứng catharsis).

Có người gọi bi kịch là loại “anh hùng ca đẫm lệ”, nó làm cho con người ghê tởm và căm ghét cái xấu, cái ác  và khích lệ con người đấu tranh cho lí tưởng sống của xã hội.

3.2  Phân loại bi kịch

 Bi kịch chính thống  gồm 2 loại

            3.2.1- Bi kịch của các nhân vật chết trong đêm trường đen tối của lịch sử

          Bi kịch của các nhân vật chết trong đêm trường đen tối là một dạng thức bi kịch lịch sử và có tính chất điển hình nhất.

Nói như Engels “đây là xung đột bi kịch giữa yêu sách tất yếu về mặt lịch sử và tình trạng không thể nào thực hiện được điều đó trong thực tiễn” (Marx-Engels–Lenin Về văn học và nghệ thuật).

Như vậy, bi kịch ở đây là bi kịch của cái mới, cái tiến bộ, cái cách mạng còn đang ở trong thế yếu, ở trong một hoàn cảnh nảy sinh nhu cầu tất yếu cần thay đổi lịch sử hiện hành, vì nó đã già cỗi, nhưng điều kiện để thực hiện nhu cầu đó lại chưa chín muồi. Nhưng không vì thế mà ngã lòng, lịch sử đã hiến dâng những người con ưu tú nhất của mình, những người dám đón nhận sứ mạng cao quí là hiến dâng cả cuộc đời mình để đốt lên những ngọn đuốc làm bừng tỉnh cả một dân tộc, thậm chí cả nhân loại, đang còn chìm đắm trong giấc ngủ triền miên.

            Các nhân vật đó phải chết và chết một cách vĩ đại. Lúc đó, họ không chỉ đại diện cho cá nhân họ. Họ cũng không chỉ đại diện cho một bộ phận nhỏ bé nào đó của xã hội. Hơn thế họ đại diện cho “những giai cấp và những trào lưu nhất định của thời đại ”.

           Tính cách của các nhân vật loại này trở nên hùng mạnh và có tính chất bi kịch cũng bởi hành động của họ không phải là một thứ “ham thích vụn vặt”, mà là một hành động có ý thức sâu sắc trước lịch sử, coi sự dấn thân vào dông bão là một nhiệm vụ thiêng liêng không thể thoái thác được, và họ cũng nhận thấy rằng ngoài họ ra, những người khác chưa thể làm thế được.

           Tấm gương của họ trở thành trác tuyệt, cũng vì cái chết của họ không phải là cái chết trong bối cảnh đối địch thông thường của các giai cấp trong lịch sử, mà là cái chết trong bối cảnh vận động của lịch sử đã tạo thành phong trào đối địch. Và họ là người góp phần quan trọng đẩy mạnh phong trào lịch sử đó.

           Họ chết, nhưng không vì thế mà lý tưởng của họ trở thành bi thảm; Trái lại, cái chết của họ có tác dụng thôi thúc mọi người đứng dậy đấu tranh cho lẽ phải. Cũng thông qua cái chết bi kịch này mà lịch sử đã hiện lên rõ nét những khuôn mặt và những tâm trạng, sắp xếp các khuôn mặt, các tâm trạng đó thành hai tuyến đen, trắng rõ ràng. Mác đã nói đến tình huống đấu tranh của nhân vật bi kịch và tác dụng của nó làm cho “tâm trạng của kẻ thù trở thành bảo thủ thực sự một cách điển hình và tất yếu”. Nói một cách khác, họ làm cho bộ mặt kẻ thù không còn ngụy trang được bằng bộ mặt dễ coi, mị dân mà buộc phải tỏ thái độ, do đó, sự tàn bạo của kẻ thù phải bộc lộ trắng trợn, làm cho xã hội ghê tởm và cảm thấy không còn sợ chúng nữa.

             Chính vì thế, lịch sử mãi mãi ca ngợi sự thất bại của nghĩa quân Yên Thế  và cái chết của cụ Hoàng Hoa Thám. Lịch sử cũng ghi đậm nét trên trang sách của nhà trường bài ca chưa thành của nghĩa quân Bãi Sậy. Cái chết của liệt sỹ Phạm Hồng Thái không hề uổng phí vì tiếng bom Sa Điện (Quảng Châu) ném vào mặt tên toàn quyền Pháp đã làm thức tỉnh cả một thế hệ thanh niên Việt Nam, khiến đời đời còn ghi nhớ:

            Tấm gương sống và chiến đấu của những người cộng sản Việt Nam trước lúc tử hình như: Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai, Lý Tự Trọng, v.v.. . còn mãi mãi làm cho cuộc đời ngân vang những câu nói bất tử. Câu nói của Phuxich  người cộng sản Tiệp Khắc nhắn nhủ con người lúc ông viết dưới giá treo cổ: “Hỡi nhân loại, hãy cảnh giác” ngày nay vẫn còn ngân vang nhắc nhở loài người.

       3.2.2 – Bi kịch của nhân vật chết trước bình minh

 

             Đây là một dạng bi kịch lịch sử, nhưng là cái bi của cái mới, cái tiến bộ, cách mạng đã ở thế thắng trong toàn cục, nhưng một bộ phận nào đó của nó còn lâm vào hoàn cảnh trớ trêu, khiến cho người anh hùng bị sa cơ và bị tiêu vong thảm thương.

Hành động của các nhân vật anh hùng thuộc loại này là một hành động hợp với yêu cầu tất yếu của lịch sử và khả năng thực hiện lí tưởng của họ đã mở rộng, song cuộc chiến đấu một mất một còn đó vẫn diễn ra gay gắt, trong một hoàn cảnh và điều kiện nhất định, ở một thời điểm nhất định, kẻ địch còn tập trung được nhiều lực lượng và tỏ ra lợi hại, người anh hùng chiến đấu trong điều kiện đó rất có thể bị thất bại, bị đàn áp khốc liệt.

             Tuy người anh hùng chết đi, nhưng lí tưởng của họ không còn bị treo đấy (ở trường hợp trên), mà đã được cả thế hệ của họ, dân tộc của họ dấy lên một phong trào nối tiếp xả thân vì lí tưởng ấy.

            Sự ngã xuống của họ không phải là sự vấp ngã giữa đêm dài đen tối, mà là sự ngã xuống ngay trước ngưỡng cửa bình minh; do đó nó có tác dụng bật tung cái then chốt cài im ỉm, khóa chặt nhiều năm để mọi người từ trong hầm tối tràn ra ánh sáng, trước Cung điện Mùa đông hoặc Quảng trường Ba Đình lịch sử… Chính vì thế, cái chết của các nhân vật anh hùng này có một tính chất mĩ học mới, đó là tính bi hùng kịch.

            Có thể kể về những tấm gương anh hùng thuộc dạng bi kịch của các nhân vật chết trước bình minh như: Nữ chính ủy trong tác phẩm Bi kịch lạc quan của nhà văn Vinhepxki. Các anh hùng trong tác phẩm Chiến bại của nhà văn Fadeev, các nghĩa sĩ Cần Giuộc trong Văn Tế của thầy Đồ Chiểu,  v.v..

            Trong văn học nghệ thuật Việt Nam cũng không ít những nhân vật ngã xuống đêm hôm trước của Cách mạng và ngay vào những ngày đấu tranh sắp giành thắng lợi. Chúng ta có thể nghĩ đến: cái chết của anh Nguyễn văn Trỗi. Hình tượng chị Sứ trong tác phẩm Hòn Đất của nhà văn Anh Đức. Võ Thị Sáu và bài ca ngát hương hồn người nữ anh hùng trẻ tuổi (Ngợi ca chị Võ Thị Sáu của nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn) v.v…

3.2.3 – Bi kịch của cái cũ

              Nó là cái cũ, như một cuốn vở sờn gáy, đang lật những trang cuối, nhưng với lịch sử nó chưa trở thành xấu xa, phản động, trái lại nó có ít nhiều sứ mạng trước lịch sử mà sớm bị tiêu vong thảm thương cũng trở thành một hiện tượng bi kịch.

            Bằng một cái nhìn tinh tế và sâu sắc, Mác viết: “Lịch sử của chế độ cũ là bi kịch chừng nào nó còn là quyền lực của thế giới tồn tại bao nhiêu đời nay. Trái lại, tự do là cái tư tưởng ám ảnh một số người cá biệt” (Mác-Engels  Toàn tập).

             Khó có thể đánh giá hết lời chỉ dẫn sâu sắc đó của Mác. Mĩ học trước đây mới chỉ thấy bi kịch là của cái mới. Mác không chỉ thừa nhận bi kịch là sự xung đột giữa cái đẹp và cái xấu, vì Mác đã nhấn mạnh đến cái quyền lực của thế giới tồn tại bao nhiêu đời nay và đối lập với nó “tự do”, “cái tư tưởng ám ảnh một số người cá biệt”. Tiến xa hơn, Mác còn phát hiện ra bi kịch của cái cũ. Đó là trường hợp khi cái cũ còn chưa mất hết sinh lực của nó và cái mới vừa nảy sinh chưa đủ lông cánh, cái mới là tự do nhưng chưa phải là chùm nho trên giàn quả đỏ.

            Ở phần trên, chúng ta đã đi sâu nghiên cứu bi kịch trong sự tiêu vong oan uổng của cái tự do non trẻ thì ở đây Mác lại lưu ý chúng ta bi kịch của một lực lượng khác: lực lượng của cái cũ.  

             Qua ý kiến của Mác, có thể xác định  ba tiêu chí cơ bản làm nên “bi kịch của cái cũ”:

      + Cái cũ chưa mất hết vai trò trong lịch sử, chưa trở thành hoàn toàn xấu xa, phản động.

      +  Bản thân cái cũ vẫn còn tin vào tính chất hợp lí của nó.

      + Những con người “đứng ở phía chế độ cũ không phải là sự lầm lạc có tính cá nhân, mà là sự lầm lạc có tính chất lịch sử toàn thế giới. Chính vì vậy cái chết của nó là bi kịch.

                                                                                                             (Mác-Engels  toàn tập).

            Như vậy bi kịch ở đây không phải là xung đột giữa cái mới và cái cũ mà là bi kịch của sự lầm lạc của chính cái cũ. Nói một cách khác, đó là sự lầm lạc của những con người chưa nhận thức ra tính tất yếu của quá trình đang chết dần của cái cũ, nên vẫn đem hết cả tài trí và sức lực của mình ra để bảo vệ nó, do đó họ không thể tránh khỏi thất bại thảm thương và bị tiêu vong oan uổng.

             Những “anh hùng” của cái cũ phần đông đều trở thành các nhân vật như “Đông Ki sôt” (Don Quijote). Họ là những người có lí tưởng, nhưng lí tưởng đó đã lạc hậu và trở thành mơ hồ. Họ chiến đấu cho lí tưởng đó theo thói quen, theo một “truyền thống” nhất định hơn là nhận thức ra sức sống của lí tưởng mà họ đang bảo vệ ấy cũng đã quá lung lay vì nó đã đi hết con đường phát triển nội tại của nó.

            Sự thất bại của vua Duy Tân nước ta và việc ông bị giặc Pháp bắt đi đày đến trọn đời cũng vì lí do đó.

            Sự thất bại của họ là tất yếu, vì trong cuộc chiến đấu đó, họ trở thành “đơn thương, độc mã”, họ không biết dựa vào ai cả, quần chúng cũng chẳng ai tin rằng họ sẽ đem lại gì cho mọi người nên tất thẩy đã đứng ngoài, hoặc thờ ơ với cuộc đấu tranh của người “anh hùng” ấy.

            Nhưng khi họ chết, quần chúng vẫn xót thương họ, như luyến tiếc một ráng chiều đẹp trong một buổi hoàng hôn mà thôi.

3.2.4 –  Bi kịch cuả sự lầm lẫn, sự kém hiểu biết hoặc sự “ngu dốt ”

            Bi kịch của sự lầm lẫn được nêu ra như một bài học xương máu của đường đời  có tác dụng nhắc nhở con người một bài học cảnh giác.

            An Dương Vương mất Loa Thành phải giết con gái và tự vẫn vì đã mất cảnh giác quá tin vào kẻ địch, đã tưởng có thể lấy tình cảm gia đình san bằng được lòng tham không đáy của kẻ thù.

             Othello – từ một nô lệ da đen, bằng cả cuộc đời dũng cảm và thông minh của mình, trở thành một võ tướng và lay động được một tình yêu say đắm, trong trắng của một thiếu nữ da trắng cao quí tuyệt vời. Nhưng rồi Otenlô bóp chết người  yêu ngay trên cái giường hạnh phúc của mình không phải vì quá ghen, mà vì quá tin, nên bị kẻ xấu lừa dối.

            Ở dạng thức này, chúng ta thấy có “Eudipe làm vua”. Do “số mệnh”, Ơ đip đã giết cha mà không biết đó là cha đẻ, lấy mẹ mà không hay biết người đó đã sinh ra chính mình. Khi nhận ra sự lầm lẫn, Eudipe đã tự chọc thủng hai mắt để trừng phạt mình. Hình tượng tự chọc thủng mắt là sự trừng phạt tội không biết phân biệt lẽ đời một cách anh minh – một sự anh minh không đạt tới được của một con người, nhưng khát khao cần phải đạt tới như một bản chất người cần sự trong sáng.

            Bi kịch của sự kém hiểu biết liên quan đến vấn đề mà Mác gọi là sự “ngu dốt”: “Sự ngu dốt là con quỷ mà chúng ta e rằng chúng sẽ còn gây ra nhiều tấn bi kịch”.

            Ở một trường hợp khác, bi kịch của sự kém hiểu biết xảy ra không phải do một lực lượng xã hội nào, cũng không phải do một phép tắc đạo đức nào dẫn dắt họ, mà là một tai nạn , một sức mạnh mù quáng của tự nhiên. Thí dụ: cái chết của những người đi khai phá miền bắc cực, những anh hùng đã khuất trong cuộc thám hiểm biển cả, những anh hùng đi mãi không biết rằng họ có thể hi sinh trong lúc làm nhiệm vụ. Họ cũng thừa biết rằng trong cuộc đọ sức ấy, con người còn nhiều điều chưa lường hết và khả năng có hạn của con người chưa một lúc đã có đầy đủ phương tiện dự phòng hết. Nhưng họ vẫn ra đi với niềm tin rằng họ là người khai phá con đường cho thế hệ sau.

            Thực ra bi kịch của cái cũ cũng thuộc loại này nhưng  được ưu tiên tách ra thành một loại riêng do tính lịch sử của nó.

3.2.5 – Bi kịch của những khát vọng con người

            Loại bi kịch này nảy sinh do xung đột gay gắt bởi những mâu thuẫn không thể nào khắc phục nổi giữa hai sự đối lập: những khát vọng chính đáng riêng tư của con nguời và khả năng không thể thực hiện được những khát vọng đó trong cuộc sống. Bi kịch này thể hiện những đau khổ, dằn vặt của cá nhân, song nó lại động chạm đến lẽ sống, tình yêu, sứ mệnh của con người, vì thế nó day dứt mãi lòng người.

            – Thị Kính cả một cuộc đời oan uổng, đến chết, lúc thay áo liệm xác mới giải được nỗi oan đời. Thị Màu cũng là một nhân vật bi kịch độc đáo, đằng sau vẻ lẳng lơ “nổi loạn” kia là một tâm hồn bi kịch chua chát.

- Những nhân vật bi kịch trong Tắt đèn, Đời cô Lựu, Chí Phèo, Lão Hạc . . .

- Maslova phải ra vành móng ngựa mới làm cho kẻ hại đời mình là quan toà Nekhliudov tỉnh ngộ (tiểu thuyết Phục sinh của L.Tôn-xtôi).

            – Kiều là một nhân vật bi kịch tiêu biểu, cuộc đời trầm luân của nàng đã nói lên sự vật lộn gay gắt giữa con người tài sắc “mười phân vẹn mười” ấy với những thế lực xã hội đen tối như quan chức xử kiện, Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến v.v..(Đoạn trường tân thanh - Nguyễn Du)

- Anna Karenina đau khổ, cuộc sống đầy bi kịch cũng bởi nàng có một tình yêu mãnh liệt mà lại phải sống với người chồng quá khô khan, kiểu cách và quan liêu  (tiểu thuyết Anna Karenina của Lev Tolstoi).

- Tiểu thuyết Evgeni Onegin, Người con gái viên đại uý của Pushkin, Chiến tranh và hoà bình của  Liev Tolstoi.

- Phồn Y trong vở kịch nói Lôi vũ của Tào Ngu

            Đau khổ của Kiều, Anna Karenina, Phồn Y . . . tuy là những đau khổ của những con người bình thường, không có gì xuất chúng, họ không phải những anh hùng nhưng nỗi đau của họ là bi kịch có ý nghĩa xã hội phổ biến. Khát vọng của họ nó là những gì đáng yêu quí nhất, đáng trân trọng của con người. Bi kịch này có yếu tố vạch trần, lên án gay gắt cái xấu và nhắc nhở con người biết trân trọng những nguyện vọng chính đáng của mỗi người.

3.2.6  Bi kịch của chính cái xấu

            Cái cũ đã thực sự trở thành xấu và gây ra tác hại khủng khiếp, nó cần phải bị trừng phạt một cách nghiêm khắc, “kẻ gieo gió ắt phải gặt bão”, đó là nội dung cơ bản của loại bi kịch của chính cái xấu.

            Giá trị mỹ học của bi kịch này là:  nếu các dạng thức bi kịch khác đều là bi kịch của cái đẹp, cái tốt, hoặc cái còn tốt mà bị lầm lạc thì bi kịch của chính cái xấu là bi kịch của tội ác. Ở đây, người ta không lấy nước mắt để răn đời, không lấy lòng xót thương mà luyến tiếc người đã mất, trái lại, lấy sự khủng khiếp để nhắc con người chớ làm điều khủng khiếp.

Đến đây chúng ta hiểu rõ quan điểm của Aristote về bi kịch khi ông viết: “Bi kịch làm trong sạch hóa những cảm xúc tương tự qua cách khêu gợi sự xót thương và khủng khiếp   (nguyên văn: cảm xúc Catharcis)”. Cái ý nghĩa khủng khiếp do tác động của bi kịch, của cái xấu mãi sau này qua tài nghệ của Shakespeare trong vở Macbeth người ta mới nhận thức nó một cách rõ ràng. (Macbeth là một tướng giỏi của vua Duncan xứ Scottland. Vốn tính vô tư, không sẵn lòng tham tàn, trên đường chiến thắng trở về, Macbeth được ba mụ phù thủy báo cho hắn biết sẽ lên làm vua, mụ vợ tham lam lại xúi vào, một số cận thần xiểm nịnh, nên  ý định giết vua đột nhiên bật ra, sau đó chiếm ngôi và cuối cùng bị trừng phạt thảm hại ).

Tóm lại,  tình huống bi kịch rất đa dạng, phong phú và phức tạp y như sự phong phú và phức tạp của cuộc đời. Tình huống của bi kịch có thể là những xung đột của cái mới, cái tiến bộ, cái cách mạng; nhưng cũng có thể là xung đột của chính cái cũ, cái xấu xa cái phản động. Bi kịch cũng còn do sự lầm lẫn, do sự “ngu dốt” hoặc do những khát vọng chính đáng của đời người bị phủ định một cách oan uổng. Vấn đề là, mọi tình huống của bi kịch phải thuộc những vấn đề có ý nghĩa xã hội rộng lớn, có ảnh hưởng đến lịch sử, lẽ sống, đạo đức và thân phận con người. Nghĩa là những vấn đề có ý nghĩa triết luận sâu xa của xã hội và con người, trong đó, xung đột giữa cách mạng và phản động phải là xung đột trung tâm và chủ yếu của bi kịch.

Truyện Kiều, một vương quốc của nỗi buồn, do thi hào Nguyễn Du dựng nên để làm nơi chiêm nghiệm suy tư của mỗi người Việt Nam. Chỉ có kim cương mới cắt được kim cương, chỉ có nỗi buồn mới cứu được nỗi buồn…

3.3 – NGHỆ THUẬT BI KỊCH

Đi tìm nguồn gốc của bi kịch

                        Nhà thơ Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều viết về định mệnh của con người một cách duy tâm (Cung oán ngâm khúc):

                          Thảo nào khi mới chôn rau (nhau)

                     Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra

               Thật ra, bi kịch không gắn với tiếng khóc chào đời của con người. Phải  trải qua một thời gian phát triển khá dài, mãi đến thời kì giáp ranh giữa xã hội công xã nguyên thủy và chiếm hữu nô lệ, bi kịch mới hình thành và phát triển.

              Mác cho rằng: khi loài người chuyển dần sang chế độ chiếm hữu nô lệ, nghĩa là từ cái giai đoạn mông muội sang thời đại văn minh, con người đã sáng tạo ra lịch sử anh hùng, đồng thời đẻ ra một bi kịch lớn nhất của xã hội loài người là:  bóc lột và áp bức lẫn nhau.

            Nhưng không phải con người ngay một lúc đã có thể nhận thức ra tình trạng bi kịch của mình. Đầu tiên là sự cảm nhận mà sự cảm nhận nguyên thủy thường pha chất tôn giáo rõ rệt. Cho nên thuở sơ khai, bi kịch nảy sinh từ hình thức tế lễ thần rượu nho (Dionysos) – đó là vị thần tượng trưng cho sự tái sinh, sự trù phú, cho nghề ép rượu, cho những cơn say, và vị chúa tể của những vong hồn.

            Thần Rượu nho (Dionysos) là con riêng của Dớt (Zeus) – khi ngoại tình với công chúa Semele thành Thebes. Chức năng của thần bao gồm hai quá trình đối lập nhau, đó là quá trình sinh và tử được chung đúc lại.

            Bi kịch đầu tiên xảy ra là bi kịch của Icare mục tử ( bác Icare chăn cừu). Icare gặp Dionysos, bác đã tiếp đãi vị thần với tất cả lòng chân thành. Để đáp lại, thần tặng Icaremột cành nho trĩu quả, dạy cho Icare cách nấu rượu. Vốn lòng mến khách, vả lại “rượu ngon mà thiếu bạn hiền mất vui”, Icare đem mẻ rượu đầu tiên ấy đãi các bạn bè của mình. Các mục tử này chưa bao giờ biết đến điều say, nên khi hương mật ngào ngật của rượu nho thấm vào, họ đều lăn quay ra bãi cỏ ngủ mê mệt. Tỉnh dậy, không thấy đàn cừu đâu, họ tưởng rằng Icare đã đầu độc họ để chiếm đoạt gia súc, họ nổi giận giết chết Icarơ và vùi xác ở trong núi. Nhờ con chó dẫn đường, cô con gái yêu của Icare tìm được xác cha mình. Đau buồn quá đỗi, nàng treo cổ chết trên cành cây rủ bóng xuống ngôi mộ. Con chó trung thành buồn quá cũng chết theo. Cảm kích trước tai họa đau thương và tình cha con, tình chủ tớ, Dionysos đã hồi sinh tất cả và dẫn họ lên thiên đàng Olympe. Theo truyền thuyết, từ đó trên bầu trời bỗng hiện ra chòm sao mục tử, cô gái và con chó lớn.

            Nhưng rồi bản thân Dyonysos cũng phải chết vì sự đố kị của những thế lực hắc ám, đó là con quỷ khổng lồ Titan đã xé xác thần ra làm nhiều mảnh, nhưng thần vẫn hồi sinh vào mỗi mùa xuân bằng chất nhựa của những mầm nho.

            Qua thiên thần thoại trên, con người không chỉ phản ánh nghề trồng nho và nghề ép rượu nho mà qua đó, con người muốn trình bày sự gặp gỡ và chung đúc của hai luồng cảm xúc đối lập: Vui và buồn, sướng và khổ, hồi sinh và tàn tạ nhập vào nhau, thống nhất trong một chỉnh thể, có thể xây dựng thành nghệ thuật để nói lên những triết lý của lẽ đời.

            3.3.1. Bi kịch Hy Lạp cổ đại

            Sự hình thành nhà nước dân chủ- chủ nô trong hình thái chiếm hữu nô lệ đã tạo ra những cảm xúc thẩm mỹ độc đáo. Một mặt là cuộc đấu tranh giữa những thế lực dân chủ và tự do với những thế lực phú hào, mặt khác là cuộc đòi quyền sống của những người nô lệ vẫn thường xuyên diễn ra gay gắt. Tuy nhiên, vai trò của những cá nhân tự do trong đời sống xã hội (những thợ thủ công, thương nhân và làm ruộng, chăn nuôi v.v..) đã được khẳng định hơn so với chế độ thị tộc. Do đó cá nhân con người trở thành có vai trò độc lập nhất định.

            Tất cả những nguyên nhân xã hội này dẫn tới một khát vọng là, con người muốn nhận thức, muốn lí giải những xung đột gay gắt của cuộc đời bằng thẩm mỹ. Cũng từ đó đánh dấu sự ra đời của nền bi kịch chính thống, nghĩa là có sự chuyển từ hình thức tế lễ nguyên thủy sang một loại hình nghệ thuật có khả năng tái hiện cuộc sống một cách rộng rãi, khái quát và sâu sắc.

            Đến đây, bi kịch không còn chỉ bó hẹp trong sự miêu tả cuộc đời và những bước thăng trầm của thần Dionysos nữa. Bi kịch đã mở rộng chủ đề và đề tài của mình và mang ý nghĩa xã hội phổ biến hơn. Bi kịch đã chú trọng đến các đề tài lịch sử, chú trọng phản ánh những lỗi lầm của cuộc đời, xây dựng các tính chất anh hùng và các tính cách đau thương khác. Nhưng các truyện thần thoại vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong bi kịch Hy Lạp cổ đại.

            Bên cạnh anh hùng ca Iliade và Odyssee của Homer, Hy Lạp cổ đại đã để lại cho kho tàng văn hóa nhân loại một nền bi kịch quý giá với ba nhà viết kịch tiêu biểu là Eshille, Sophocle và Euripide, cùng các vở nổi tiếng là Promethe bị xiềng, Eudip làm vua, Angtigon , Medee. 

            Có thể nêu  mấy đặc điểm quan trọng của nền bi kịch này là:

            Các lực lượng đối lập với con người thường có uy quyền rất lớn, thường được khoác áo thần linh (Zeus trong Promete bị xiềng), nhưng cũng có khi được biểu hiện như một thứ định mệnh (trong Eudip  làm vua) hoặc một thứ khát vọng cuồng nộ (trong vở Medee  của Euripide).

            Các anh hùng của bi kịch thường bị thất bại thảm thương, bị đọa đầy đau khổ, hoặc bị hi sinh trong đẫm máu.

            Bi kịch Hy Lạp cổ đại đã chú ý khai thác những yếu tố thẩm mỹ như: Tính bất tử của con người chân chính. Bi kịch cũng chú ý cảm hứng về sự tái sinh của vẻ đẹp con người dưới một hình thái mới.

            Người anh hùng trong bi kịch này bị hi sinh vì lợi ích của con người nên vẫn được người đời mến phục và xót thương, đời đời dành cho họ những vòng nguyệt quế đẹp nhất. Chính vì vậy, có thể nói nghệ thuật bi kịch Hy Lạp cổ đại đã biết buộc cái chết phục vụ cuộc sống.

          3.3.2. Bi kịch thời Trung cổ phương Tây và Phương Đông

     Bi kịch Trung cổ phương Tây mang màu sắc tôn giáo rõ nét. Quan niệm về bi kịch Trung cổ phương Tây gắn với truyền thuyết về sự phạm tội của ông bà Adam và Eva; gắn với truyền thuyết giáng thế và chịu khổ hình trên thánh giá của chúa Jesus. Các hình ảnh được biểu hiện đầy rẫy trong những tác phẩm nghệ thuật và những tranh tượng trong những nhà thờ Cơ đốc giáo.

            Xuất phát từ những quan niệm tôn giáo ấy, bi kịch Trung cổ gắn với ý niệm gọi là tuẫn giáo, khổ hình (martyre), nghĩa là sự tự dày vò, tự nguyện sống khổ cực, nhẫn nhục để chuộc lại tội tổ tông đã gây ra cho con cháu. Người trung cổ quan niệm  “Cuộc đời là ngọn nến leo lét trước cơn gió mạnh”, là “con thuyền mong manh trước cơn sóng dữ”, “Đời là bể khổ”. Chỉ có sống chịu đựng và cầu xin Chúa ban phước mới mong được lên thiên đàng. Chính vì thế, hình tượng con người trong nghệ thuật Trung cổ hiện ra với dáng lom khom, mặt choắt, mũi khoằm, ở hai tư thế: nhìn xuống hoặc ngước lên. Nhìn xuống để sám hối tội lỗi; ngước lên là để cầu xin Chúa rủ lòng thương.

      Như vậy, bi kịch Trung cổ phương Tây không mỹ hóa vẻ đẹp con người, mà chỉ mỹ hóa thảm cảnh của con người. Nó ca ngợi sự quằn quại đau thương của đời người bằng thứ triết lí khắc kỉ giả dối. Nó quan niệm bi kịch theo tư tưởng  tôn giáo.

Bi kịch phương Đông thể hiện rõ nhất ở Trung Quốc: Suốt hời kỳ phong kiến dài trên hai ngàn năm, tấn bi kịch rõ nét nhất là bi kịch Nho giáo. Đó là những cuộc xung đột giữa Nho giáo với các hệ ý thức khác như Đạo giáo, Phật giáo và tự do tư sản. Nhiều tác phẩm văn học nêu bật được những xung đột đó như cuộc đời và thi ca Lí Bạch, và đỉnh cao nhất là tiểu thuyết Hồng lâu mộng, văn xuôi Lỗ Tấn.v.v…

                3.3.3 – Bi kịch thời Phục hưng

        Bi kịch Phục hưng gắn với tên tuổi của Shakespeare và các tác phẩm nổi tiếng: Hamlet, Othello, Romeo và Juliet, Macbeth, Vua Lia, v.v..

            So với Trung cổ, nghệ thuật bi kịch thời Phục Hưng là một bước tiến quan trọng, vì nó đặt ra những vấn đề nhân sinh trực tiếp. Khi giai cấp tư sản ra đời, nó làm cho cá nhân con người ý thức sâu sắc về mình; cá nhân lao đầu về phía trước, tìm niềm vui và ham muốn trần tục. Mâu thuẫn trong bi kịch thời Phục hưng là mâu thuẫn trong bước quá độ chuyển từ phong kiến sang tư bản. Bước quá độ đó không mang theo sự tiến bộ tuyệt đối. Nó làm cho nhiều mặt của xã hội được phát triển, nhưng cũng hủy hoại nhiều giá trị đạo đức và giá trị tinh thần của thế giới cũ.

            Bi kịch Phục Hưng có tính lí tưởng rõ rệt. Nó xây dựng được những mâu thuẫn điển hình giữa một bên là những tính cách khổng lồ với một bên là hoàn cảnh khắc nghiệt, sẵn sàng đè bẹp tính cách khổng lồ đó.

            Bi kịch Phục hưng còn phát hiện và miêu tả những cơn lốc dục vọng, ham muốn quá độ và quá trình trở thành nạn nhân của chính dục vọng đó.

            Bi kịch Phục hưng đã phản ánh được những trở ngại khách quan như một lực lượng tàn ác không sao khắc phục nổi (bức tượng Người khổng lồ bị trói của Michellangelo) hoặc đi sâu vào mâu thuẫn nội tâm (kịch Othello của Shakespeare ).

            Bi kịch Phục hưng  thiên về ý nghĩa triết luận của cuộc đời, phát hiện ra tính phổ biến của các mâu thuẫn (kịch Hamlet của Shakespeare).

            Tóm lại, bi kịch Phục Hưng đã phản ánh được những mâu thuẫn sâu sắc giữa lí tưởng nhân văn, tự do, giải phóng với một thực tại là: con người lại đang rơi vào những xiềng xích mới của “lối trả tiền mặt lạnh lùng” phi nhân tính.

             3.3.4 – Nghệ thuật bi kịch cổ điển thế kỉ 17

            Mâu thuẫn cơ bản của thế kỉ 17 Pháp là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản đang lên và giai cấp phong kiến lỗi thời vẫn còn sức sống dai dẳng nên họ buộc phải hòa hoãn, tạm thời bắt tay nhau.

      Nhân vật bi kịch là người bị rơi vào hoàn cảnh trớ trêu. Một mặt, anh ta muốn  đi theo lí tưởng nhưng mắc kẹt giữa nhà vua và nhà tư sản, không biết nên dâng hiến trọn đời cho ai. Đó là thứ “bi kịch ngập ngừng”. Đáng lẽ phải miêu tả mâu thuẫn ngấm ngầm giữa hai đối thủ lớn, nhà văn lại đi miêu tả mâu thuẫn giữa nghĩa vụ và dục vọng cá nhân (vở Le Cid của Corneill) .

            Do vậy, bi kịch cổ điển Pháp còn nhiều nhược điểm về giá trị nhận thức xã hội, nhưng cũng có đóng góp quan trọng về nghệ thuật xây dựng tính cách, tu từ lời thoại và kết cấu vở kịch. Kịch của Corneill được coi là “trường học của những tâm hồn cao thượng”, còn Racine là tài năng khám phá những uẩn khúc trong lòng giai cấp quí tộc phong kiến đang tàn, phân tích sự giằng xé bi đát của dục vọng con người, sự bất lực của họ trước “định mệnh”, gây cho khán giả cảm xúc “vừa thương vừa sợ”.

3.3.5        Nghệ thuật bi kịch của thế kỉ Ánh sáng (thế kỉ 18)

              Hướng vào những vấn đề cơ bản của đời sống, mỹ học hiện thực thời Khai sáng đã tạo những tiền đề cho bi kịch, đạt nhiều thành tựu mới so với bi kịch Cổ điển.

            Nếu ở bi kịch Cổ điển, mỗi biến cố gây ra bất hạnh cho con người thường được cho là xuất phát từ những cái khung định sẵn của lí tưởng hòa hoãn giai cấp, thì ở bi kịch thời Khai sáng,  mỗi biến cố gây ra tổn thương cho con người lại được đánh giá xuất phát từ những lí tưởng của chính quá trình tiến bộ khách quan của hiện thực.

            Nếu ở bi kịch Cổ điển, tính cách không có quan hệ biện chứng với hoàn cảnh thì  ở bi kịch Khai sáng có sự tác động tích cực lẫn nhau giữa tính cách và hoàn cảnh , trong đó vai trò chủ đạo thuộc về tính cách. Nếu ở bi kịch Cổ điển có tính mực thước lạnh lùng của tính cách, thì ở bi kịch Khai sáng lại tràn ngập sự nồng nhiệt lạ lùng của tính cách các nhân vật, sự nồng nhiệt này thấm vào tất cả các mặt của tính cách: đó là sự nồng nhiệt của khát khao, của những đam mê, căm giận, kiêu hãnh, đau đớn, hy vọng và tuyệt vọng, của tình yêu và tuổi trẻ.

             Vở bi kịch  Âm mưu và ái tình của Schiller là một vở như thế. Ở tác phẩm này, cuồn cuộn những tình cảm bão táp, những tư tưởng vưà hiện thực vừa phóng khoáng của thế kỉ, tràn ngập trong từng chi tiết và lập thành một đường dây xuyên suốt tác phẩm. Nó tạo thành thứ ánh sáng trong trẻo chiếu rọi trên những nẻo đường mới còn rất gập ghềnh. Đó là thứ ánh sáng vừa đập nát những xiềng xích, những ngục tù trói buộc, giam hãm con người thời phong kiến và soi sáng những bước đi mới cho con người. Ở đây, các nhân vật đều được bộc lộ đến tận cùng của tính cách và tâm trạng. Những tình huống căng thẳng, quyết liệt, những đối thoại chát chúa, ào ạt, rực lửa quyện với những lời tâm tình ngọt ngào, cay đắng, đắm đuối mà vẫn trí tuệ đã nâng ý nghĩa của vở Âm mưu và ái tình lên ngang tầm thời đại. Ở đây, cái chết của Louise và Fecdinant làm đau nhói mãi tâm hồn của những con người có lương tri. Hình tượng về cái chết trong vở bi kịch vì thế đã vượt qua tính hạn hẹp của thời gian để cùng hành động, lên tiếng đòi tự do chân chính cho con người.

            3.3.6 –  Về nghệ thuật bi kịch hiện đại

                  Bi kịch xã hội tư bản, xét về tổng thể, có thể nói là những bi kịch dựa trên triết lí ngậm ngùi. Bi kịch hiện đại phương Tây thì dựa trên triết lí bi đát.

            Triết lí bi đát của nghệ thuật phương Tây hiện đại dựa trên quan niệm về sự thỏa hiệp đau thương không tránh khỏi của con người với thực tại nghiệt ngã và bạo tàn. Chính điều này không cho phép nghệ thuật của nó tồn tại nhân vật anh hùng. Vì thế, nghệ thuật ấy chỉ có thể dựng lên những con người bị tha hóa một cách tồi tệ. Có thể rút ra mấy kiểu nhân vật tha hóa của bi kịch hiện đại:

    Bi kịch con người vỡ mộng

            Họ là những người lúc đầu có chút ít lí tưởng sống, muốn xông pha với đời, nhưng rồi dần dần họ mất hết niềm tin và bị vùi dập bởi cái lí tưởng cá nhân mỏng manh kia không chống chọi nổi hoàn cảnh khốc liệt. Cái mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội là không giải quyết nổi.

     Bi kịch con người nhỏ bé

           Đó là bi kịch thê thảm, chua chát. Trong bi kịch này, con người sống giữa tha nhân nhưng anh ta tìm đâu ra một tấm lòng ưu ái ? Gregor Samxa trong tiểu thuyết Biến dạng của nhà văn F.Kapka là một con người như thế. Anh ta muốn trọn đời khiêm tốn làm một nhân viên chào hàng của một hãng buôn lớn. Nhưng rồi bỗng đâu tai họa giáng xuống. Một buổi sáng trở dậy anh ta biến thành con sâu. Ngày trước anh ta còn là thân nhân vì kiếm được tiền nuôi cha mẹ em gái. Ngày hôm sau, anh ta thành “của nợ”, vì làm cho gia đình khổ lây. Anh ta chết, chỉ cần một nhát chổi hất anh ta vào thùng rác và cả gia đình cho là đã “thoát nợ”. Anh chàng Giôzép K. cũng vậy, trong tiểu thuyết  Vụ án, nhà văn Kapka cũng chẳng cần giải thích vì sao anh ta bị kết tội, bởi “ trên đầu mỗi người đều đã treo lơ lửng một cái án”. Khi Giôzep K. bị hai tên đao phủ chìa dao loang loáng trên đầu anh, lúc chúng nhường nhau “cái thú được chém đầu người”, anh ta cũng chẳng chống lại, mà chỉ nghĩ: “chúng giết mình như giết một con chó”.

Tiếp thu ý kiến của Tsecnyxepxki, chúng ta cũng cho rằng, sống là đấu tranh nhưng không phải cuộc đấu tranh nào cũng là bi kịch. “Ta hãy cho rằng cuộc đấu tranh lúc nào cũng là cần thiết, nhưng không phải cuộc đấu tranh nào cũng là bất hạnh cả. Và một cuộc đấu tranh may mắn, dù cho có gian khổ thế nào đi nữa, cũng không phải là bi kịch mà chỉ có kịch tính”.  (Tsecnưxepxki. Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật đối với hiện thực. Nxb VH-NT.M.1962.tr.53)

            Trong lịch sử cũng vậy, người ta ít gặp những vĩ nhân có số phận bi kịch hơn là những vĩ nhân mà cuộc đời có nhiều kịch tính.

            Cũng từ mạch chung đó, Mác và Ăng ghen cho rằng: “mâu thuẫn là động lực của mọi sự phát triển. Và cách mạng là mâu thuẫn giai cấp đã đạt tới đỉnh điểm của nó” . Do đấy, lúc này bi kịch cũng xuất hiện mạnh mẽ nhất. Từ đó, hai ông nâng thể tài bi kịch cách mạng làm trung tâm cho toàn bộ cách đặt vấn đề của mình.

Nghệ thuật bi kịch trong chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa

Bi kịch hiện đại của nền văn học cách mạng dựa trên một cơ sở hoàn toàn mới, đó là  bi kịch lạc quan. 

Bi kịch hiện thực xã hội chủ nghĩa có mấy tính chất sau:

                 a) Mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh

            Hoàn cảnh trong bi kịch cách mạng không thể là hoàn cảnh hẹp, mà là hoàn cảnh rộng (toàn cảnh), người anh hùng trong bi kịch không chiến đấu “đơn thương, độc mã”, mà chiến đấu trên bối cảnh chung của nhân dân cách mạng với một kẻ địch cũng không phải là kẻ tầm thường.

                 b) Tính trọng đại bên trong của nhân vật bi kịch (tính lí tưởng)

            Chiến đấu cho một mục đích cao cả, vì lợi ích chung, nên nhân vật bi kịch phải là người có bản lĩnh, loại người có tính cách mạnh  mẽ say sưa.

                 c) Ý thức đón nhận sự hy sinh

            Bản thân nhân vật phải ý thức sâu sắc về tính cách bi kịch của mình. Nghĩa là, họ phải tự nhận thức về tình trạng không dễ dàng của hoàn cảnh, thậm chí phải biết đón nhận cái chết một cách tự nguyện. Họ biết đánh giá lý tưởng sống cao hơn sự sống cá nhân.

                 d) Tính lạc quan và đầy thi hứng của hành động bi kịch

            Trong cuộc đấu tranh một mất một còn ấy, nhân vật bi kịch phải huy động mọi sức lực và trí tuệ của mình vào cuộc đọ sức. Do đó, nó làm bật ra ý thức tự hào về sức mạnh, nghị lực và niềm tin vào con người. Như vậy, tuy đầy rẫy gian nan và nguy hiểm nhưng cuộc chiến đấu ấy cũng rất hấp dẫn và gợi cảm. Chính vì thế, nhà dân chủ cách mạng Nga Ghersen đã cho rằng, những nhân vật bi kịch này phải là những con người “ có một mức độ phát triển nhất định về chất người, phải được xoa mình bằng một chất dầu thánh mới dám chịu đựng những đau khổ như vậy” (Ghersen .Toàn tập).

            Nhìn chung, bi kịch là một trong những đỉnh cao của sáng tạo thi ca, nó là một loại hình nghệ thuật đậm chất triết luận, nó phản ánh sâu sắc các vấn đề đặt ra trong cuộc sống.

Vẻ đẹp trong bi kịch là vẻ đẹp của những tư tưởng nhân văn mà con người đã rút ra từ kinh nghiệm cay đắng của cuộc sống. Ở bi kịch, tất cả những cái gì nhất thời, mong manh, vun vặt đều bị gạt bỏ, chỉ còn đọng lại những khát vọng mãnh liệt nhất, chân thực nhất nhưng cũng trí tuệ nhất.

Trong bi kịch, cái Chân, cái Thiện hòa hợp kì diệu với cái Đẹp và cái Trác tuyệt. Niềm vui và nỗi buồn, hy vọng và thất vọng, sung sướng và đau khổ, thành công và thất bại cứ vận chặt lấy nhau, tương phản nhau, đối lập nhau, nhưng lại thống nhất một nhiệm vụ: khẳng định sức sống mãnh liệt và bất tử của con người, khẳng định tất yếu của tiến bộ xã hội dù phải trải qua rất nhiều thử thách.

k


BÀI 4                     Cái trác tuyệt

(卓绝 zhuō juè,  the sublime)

   Trong cuộc sống, đôi khi ta cảm xúcmạnh mẽ mà thốt lên với những lời như “ôi thật tuyệt !” ,“tuyệt vời ! tuyệt hảo !  kì diệu, diệu kì, tuyệt diệu, anh hùng, vĩ đại, cao cả, cao thượng, kiệt tác, thiên tài, siêu nhân, như thần như thánh,. hoặc “hay quá trời ! ” , hùng vĩ quá ! lộng lẫy huy hoàng … Những thứ ấy không có nhiều trong thế giới này từ ngày xưa và bây giờ. Những lời ấy người ta thốt ra khi cảm xúc mạnh mẽ, sử dụng tuỳ hỉ. Chẳng hạn, một cái áo sơ mi đẹp hợp ý thì kêu lên “tuyệt vời”, và khi xem bộ phim “Titanic” cũng xuýt xoa “mối tình thật là tuyệt vời ! Họ thật xứng với nhau, cao cả ngang nhau”. Cái áo sơmi ngang giá trị với bộ phim nhiều triệu đô với công sức sáng tạo của cả nghìn người ư ? Thế thì mọi giá trị thẫm mĩ lẫn lộn cả rồi !

   Mĩ học phải nghiên cứu để phân biệt các giá trị ấy một cách rõ ràng mang tính khách quan

        Trước hết đặt một cái tên chung (khái niệm) cho tất cả những hiện tượng kể trên là: cái trác tuyệt (hoặc trác việt).

4.1    Phân loại các trác tuyệt

Mĩ học đúc kết ra 4  dạng trác tuyệt cơ bản và tạm đặt cho 4 cái tên :

  • Cái trác tuyệt huy hoàng
  • Cái trác tuyệt rợn ngợp
  • Cái trác tuyệt thán phục
  • Cái trác tuyệt thanh cao

Cái trác tuyệt huy hoàng

Loại này có khối lượng lớn, qui mô lớn đập mạnh vào cảm xúc của con người, tồn tại  ở cả tự nhiên, xã hội và nghệ thuật.  Môt số ví dụ sau:

¨      Toàn cảnh buổi bình minh của một ngày  đẹp trời đối diện với một mình ta , trọn vẹn – đó là một cảnh tượng huy hoàng hiếm thấy khiến ta cảm thấy khoan khoái cao độ, vui mừng tràn ngập.

¨       Một buổi hòa nhạc lớn hàng nghìn diễn viên với bài đồng ca hùng tráng.

¨      Bản giao hưởng số 5 của Beethoven với những giai điệu huy hoàng tràn đầy niềm tin tất thắng vào sức mạnh con người.

¨      Trận đánh “Điện biên phủ trên không” bắn rơi cả trăm máy bay B.52 của đế quốc Mĩ đang dội bom điên cuồng xuống thủ đô Hà Nội trong 12 ngày đêm cuối năm 1972.

¨      Bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 do Hồ Chủ tịch viết và đọc

¨      Chiến thắng 30 tháng Tư năm 1975.

¨      Những câu nói nổi tiếng của một số vĩ nhân, lãnh tụ, nhà văn hóa lớn trên thế giới. . . .

Cái trác tuyệt rợn ngợp

  • Cảnh biển động dữ dội, bão táp cuốn trôi tất cả, sấm chớp đầy trời
  • Núi lửa đang phun cuồn cuộn
  • Đứng nhìn cảnh rừng già mênh mông, trầm lặng, không bóng người, thiếu những cái quen thuộc, chỉ có tiếng gió rừng xào xạc.
  • Nghĩ đến một thời gian kéo dài thuộc về tương lai vô định, vô vọng, ta cảm thấy rợn ngợp, . . .

Đó là những thứ làm cho ta cảm thấy bị ức chế, dồn nén rồi dâng trào xúc cảm mãnh liệt. Nói cách khác: ban đầu ta hơi sợ hãi, nhưng kích thích ý chí chinh phúc nó … Khi trải qua rồi thì ta  đã trưởng thành và có thể tự hào. Chúng là những thứ thử thách con người, mời gọi chinh phục. Đó là những bước tiến lớn trong lịch sử và trong mỗi đời người.

 Cái trác tuyệt thán phục

¨      Hình ảnh anh Nguyễn Văn Trỗi gầy gò, quần áo trắng bình tĩnh hiên ngang trên pháp trường khiến bao người Việt Nam cảm động, thán phục và tự hào, khiến hàng triệu thanh niên noi theo anh.

¨      Những bài thơ ca ngợi Bác Hồ của nhà thơ Tố Hữu

¨      Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần  Giuộc của nhà thơ  Đồ Chiểu

¨      Tình bạn vĩ đại và cảm động của Marx và Engels

¨      Kim Tự Tháp và bức tượng con Sphins ở Ai cập

¨      Vạn lý trường thành, Những con đê sông Hồng , khu chùa tháp Ăng kor . .

 Cái trác tuyệt thanh cao

¨      Ngôi nhà sàn của Bác Hồ bên hồ nước lặng lẽ

¨      Cảnh ngôi chùa Một Cột (chùa Diên Hựu) đơn sơ cũ kĩ ở Hà Nội

¨      Mối tình của Mác và Gienny

¨      Nghĩ về một thời gian rất dài đã thuộc về quá khứ của một đời người, một dân tộc

¨      Truyện Kiều của Nguyễn Du

¨      . . .

Những cái trác tuyệt thanh cao có vẻ bề ngoài giản dị, gần gũi, nghĩa là không “đập” mạnh vào cảm giác của ta. nhưng hàm chứa những vẻ đẹp tiềm tàng, tinh khiết  tưởng như vô hạn khiến cho ta khâm phục, rồi  ta suy nghĩ  miên man  thấy nó gần gũi thân thương. Và ta rất muốn đạt được như thế hoặc sống như thế.

4.2   Tình cảm thẩm mĩ của cái trác tuyệt

      Các phạm trù mĩ học là thể thống nhất và phân lập ở hai cực: một, nó có tính chất  bản thể ( tự nó ); mặt khác, nó mang tính chất giá trị học định vị (nghĩa là giá trị của nó tuỳ theo cách đánh giá của con người).

        ĐỊNH NGHĨA: Cái trác tuyệt một mặt phản ánh bản thân tính chất đồ sộ, to lớn, hùng vĩ, vũ bão, mạnh mẽ hay là thanh cao, tiềm tàng, sâu lắng, vô cùng trong sáng, vô cùng thanh khiết  của các sự vật khách quan, mặt khác nó phản ánh xu hướng con người luôn luôn có khát vọng vươn tới cái vĩ đại .

Nếu cái đẹp thúc đẩy con người vươn đến cái hoàn thiện hoàn mỹ thì cái trác tuyệt phản ánh một phẩm chất rất quan trọng là:  con người muốn hùng vĩ hóa bản thân một cách bất tận để đáp ứng những nhiệm vụ to lớn và bất tận của cuộc đời đang đặt ra trước loài người.

      Con người thường có xu hướng không ngừng nâng cao năng lực và tâm hồn mình hướng đến cái vĩ đại đã yêu cầu mĩ học phải đề cập đến cái trác tuyệt.

      Như vậy, hai tiêu chí đầu tiên để xây dựng tình cảm thẩm mĩ  của cái trác tuyệt là:

       Bản thân các sự vật khách quan còn tiềm tàng biết bao năng lực to lớn mà con người chưa thể một lúc đã phát hiện hết.

 Mặt khác ngay trong bản thân con người cũng còn chứa biết bao nhiêu khả nănghùng mạnh chưa thể một lúc sử dụng hết, phát huy hết.

 Khi nói về mối quan hệ giữa hai năng lực tiềm tàng này, ngay từ thời cổ Hy Lạp, tác phẩm mĩ học Bàn về cái trác tuyệt (tác phẩm vô danh, nhưng vẫn được gán một cách ước lệ cho  nhà từ chương học Leghinnusơ), đã nhấn mạnh: “Trong tính bẩm sinh của nó, về bản chất, tâm hồn con người có thể đồng vọng với cái trác tuyệt”. Nhưng đó không phải là tiếng đồng vọng thông thường, mà là “ tiếng đồng vọng về cái vĩ đại của tâm hồn” (Đỗ Văn Khang, Lịch sử mỹ học, NXB Hà Nội, 1983).

Để phân biệt tình cảm của cái đẹp và tình cảm của cái trác tuyệt, chúng ta cần chú ý, khi cảm thụ cái đẹp, người bình thường cũng có thể bị cái đẹp quyến rũ. Nhưng khi cảm thụ cái trác tuyệt, không phải bất cứ ai cũng nẩy sinh tâm hồn trác tuyệt. Muốn có tình cảm về cái trác tuyệt, tư tưởng và cảm hứng của con người không thể thấp kém. Những người suốt đời mắt nhìn xuống đất, trong đầu đầy những ý nghĩ thông tục sẽ không thể “đồng vọng với cái vĩ đại”. Chỉ những ai có lí tưởng sống với nội dung lành mạnh, có khát vọng vươn lên cái cao đẹp thì mới có năng lực cảm nhận “tiếng đồng vọng về cái vĩ đại của tâm hồn”.

      Tình cảm về cái trác tuyệt có cường độ mạnh với nhiệt tình hăng say đầy khát vọng hướng về sự hùng vĩ. Tình cảm trác tuyệt chứa đựng một giá trị tổng hợp – đó là thành quả cao của mối quan hệ Chân – Thiện – Mỹ- chính là chất lý tưởng đã được xoa mình bằng một “chất dầu thánh” làm cho con người ngây ngất.

       Lưu ý: khi cảm thụ cái trác tuyệt ”rợn ngợp”, con người cảm thấy khó chịu, bó buộc, đè nén. Nhưng điều thú vị là ở chỗ, con người sau khi trải qua những giây phút khó chịu cảm thấy bất lực, nhỏ bé trước những hiện tượng đồ sộ, dữ dội ngoài tự nhiên thì khi đã định thần lại, người có bản lĩnh sẽ cảm thấy dâng trào một niềm kiêu hãnh, rằng bão tố, sấm chớp, cảnh hoang vu, núi cao rừng thẳm, tuyết dày có gì đâu mà đáng sợ ! Con người sẽ nhìn thẳng vào nó, và một ngày kia sẽ tìm cách chinh phục nó. Chẳng hạn, đứng trước cảnh núi lửa đang phun nham thạch nóng bỏng, trong một giây phút choáng ngợp  ta thấy sức mạnh dữ dội kinh người của từng đụn khói tỏa ngút trời cao. Khi trấn tĩnh, trong ta dâng trào niềm cảm khoái vô tận, rằng sức mạnh của núi lửa cũng không phải là sức mạnh phá hoại. . .

      Tuy nhiên, khi cảm thụ cái trác tuyệt rợn ngợp, người cảm thụ phải ở trong trạng thái gián tiếp. Một người đang rong thuyền trên biển mà gặp sóng thần, anh ta chỉ có cách là tìm cách chạy thoát thân. Nhưng người đứng trên bờ mà cảm thấy con thuyền nhỏ bé kia đang thoát dần ra khỏi sóng thần thì anh ta sẽ có cảm xúc về cái trác tuyệt cuả biển cả và cái thông minh dũng cảm của người đi biển. Khi người đi biển trở về đúng căn nhà của người ngắm biển, cả hai cùng chia nhau cốc trà nóng và cùng ngắm lại biển cả thì họ sẽ lại có tình cảm về cái trác tuyệt chẳng khác gì nhau. Thậm chí, họ khâm phục chính sức mạnh và tài trí của bản thân mình một cách sâu sắc và ấn tượng hơn.

      Khi cảm thụ cái đẹp, con người đã nắm được nó hoặc đã hiểu được nó. Ngược lại, khi cảm thụ cái trác tuyệt, cảm xúc  lại phải chạy qua một  đường kênh phức tạp. Mặc dù  ta chưa khám phá hết được, hoặc chưa hoàn toàn nắm được đối tượng để cảm thụ cái trác tuyệt nhưng con người vẫn có khát vọng cháy bỏng muốn chiếm lĩnh nó. Nhiệm vụ cơ bản của cái trác tuyệt là  hỗ trợ con người thêm sức mạnh, tăng uy lực và khát vọng chiếm lĩnh bằng cách phát triển vô tận “tiếng đồng vọng vĩ đại của tâm hồn”.

4.3  Cái trác tuyệt trong nghệ thuật

         Trước hết chúng  ta hãy xem vị trí của cái trác tuyệt trong các loại hình và loại thể của nghệ thuật.

         Theo phân loại của Hegel, các loại hình và loại thể nghệ thuật sau đây có khả năng miêu tả cái trác tuyệt:

       Loại hình nghệ thuật có: kiến trúc, điêu khắc, hội họa, sân khấu, âm nhạc, điện ảnh, vũ đạo và văn học.

       Thể loại văn học: sử thi, kịch (chính kịch và bi kịch) và trữ tình.

        Trong số đó, sử thi (cũng gọi là anh hùng ca) là thể loại chủ yếu miêu tả tốt nhất cái trác tuyệt, giống như bi kịch là thể loại nghệ thuật của cái bi, còn hài kịch là thể loại nghệ thuật của cái hài.

        Vai trò của anh hùng ca ở các thời đại khác nhau thì khác nhau, nhưng cùng qui luật là: “ mỗi thời đaị đều cần có những con người vĩ đại của nó, và nếu không có những con người như vậy, thì thời đại sẽ sáng tạo ra những con người như thế ”.

 Vai trò mĩ học của cái trác tuyệt trong nghệ thuật đã không bó hẹp trong những lời  tụng ca về những anh hùng đã có, mà còn có nhiệm vụ rất trọng đại là sáng tạo ra những anh hùng cho lịch sử. Nghệ thuật có thể và cần đi trước thanh gươm và khẩu súng.

 Nghệ thuật Phục Hưng đã góp phần sáng tạo ra những anh hùng tư sản. Mác đã nói rất rõ về điều này: “Những bài ca về người anh hùng tư sản chính là phương tiện quan trọng giúp con người tư sản thay Chúa làm chủ linh hồn và thay vua làm chủ xã hội”. Xã hội tư sản tuy “ít tính chất anh hùng nhất” nhưng khi ra đời nó vẫn cần đến những người anh dũng hi sinh: “Trước lưỡi rìu của tên đao phủ phong kiến mà có người vẫn đòi đánh đổ đức vua, trước giàn thiêu của tôn giáo vẫn phủ định đức Chúa, đó cũng là anh hùng”. (Mác, Ăng ghen, Lênin, Stalin, Bàn về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, NXB SỰ THẬT, Hà Nội. Tr.13.97 )

        Nếu trong thời đại suy tàn của các triều đại phong kiến, “tuấn kiệt như sao buổi sớm, anh hùng như lá mùa thu” (Nguyễn Trãi – Bài cáo bình Ngô ) và trong xã hội tư sản hầu như có ít tính chất anh hùng nhất  thì cách mạng vô sản là thời đại nở rộ những anh hùng :” trên vết máu của các vị anh hùng đã hi sinh vẻ vang trong chiến đấu, hàng nghìn hàng vạn chiến sĩ mới đã đứng dậy cũng gan dạ như thế, để đảm bảo thắng lợi bằng chủ nghiã anh hùng quần chúng” (Mác, Ănggen… – sách đã dẫn. Tr.13.97). Trên nền hiện thực vĩ đại đó, đã nở rộ một nghệ thuật anh hùng lấy cái trác tuyệt làm phương tiện “hùng vĩ hóa” sức mạnh con người. Khởi đầu của công trình đó phải kể đến Trái tim Đan kô, Bài ca chim ưng , Bài ca chim báo bão và tiêủ thuyết Người mẹ của Maxim Gorki.

                  Nghệ thuật cách mạng Việt Nam suốt nửa thế kỉ qua đã vận dụng sáng tạo cái trác tuyệt, tạo nên một nền nghệ thuật anh hùng sáng chói. “Với những thành tựu đạt được chủ yếu trong việc phản ánh hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, văn học nghệ thuật nước ta xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của những nền văn học, nghệ thuật chống đế quốc ngày nay” (Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đai hội 4. Tạp chí Học tập , số 12.1976. tr.84).

                  Nghệ thuật cách mạng đã góp phần quan trọng khơi gợi tầm vóc vĩ đại ở mỗi một con người Việt Nam, nó đã mách bảo chúng ta:

                               Chỉ vì ta quỳ gối,

                               Nên ta cảm thấy các vĩ nhân là to lớn.         

                               Hãy đứng lên đi

                               Ta sẽ hóa anh hùng      

                  Việc vận dụng cái trác tuyệt trong nghệ thuật hiện đại ở nước ta đã làm biến đổi diện mạo của nền văn nghệ nước nhà và ảnh hưởng to lớn đến phương pháp và phong cách của đội ngũ văn nghệ sĩ. Nền nghệ thuật công khai thời Pháp thuộc đầy rẫy những hình ảnh thất vọng của các “chàng“ và “nàng”, đầy rẫy những “con người nhỏ bé” bị vùi dập và bị tha hóa thì nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa đã hướng con người tới cái vĩ đại trong sự nghiệp cứu nước, cứu nhà, khiến cho văn nghệ Việt Nam hiện đại vận động mạnh trên con đường sử thi hóa. Từ đó tạo nên một nghệ thuật có đặc điểm: nghệ sĩ bắt gặp trong mình một “nhà sử thi”, trở thành người viết biên niên sống của lịch sử. Chỉ nói riêng trong lĩnh vực thơ ca, khoảng hai mươi năm chống Mĩ, văn nghệ Việt Nam đã gặt hái bội thu một mùa thơ ca có tính sử thi hoành tráng có thể thâu tóm cả một thời kì lịch sử vĩ đại của dân tộc.

                  Cũng do sử dụng rộng rãi cái trác tuyệt trong nghệ thuật, một loại phong cách độc đáo và mới mẻ ra đời: phong cách trữ tình trong dòng sử thi lớn của nhân dân cách mạng. Phong cách này đã thành tựu trong các tập thơ như: Việt Bắc, Ra trận, vv.. của nhà thơ Tố Hữu – ngọn cờ đầu của thi ca cách mạng Việt Nam.

                  Tuy nhiên chúng ta cần nhớ rằng: nghệ thuật tối kị sự giản đơn, máy móc. Ngoài thể loại sử thi anh hùng, nghệ sĩ còn tìm cách đan kết một cách tài tình giữa cái trác tuyệt với cái đẹp, cái bi và có khi cả với cái hài nữa. Chỉ có kiến trúc là không phù hợp với cái hài kịch, còn điêu khắc, hội họa, âm nhạc, thơ ca, đặc biệt sân khấu và điện ảnh lại rất cần sự pha trộn hợp lí các hình thái thẩm mĩ, trong đó có cái trác tuyệt, để làm cho sự phản ánh của nghệ thuật trở nên đa dạng y như sự đa dạng của cuộc sống.

                  Điều cần chú ý là: cái trác tuyệt là một phạm trù thẩm mỹ mang tính lí tưởng. Nó thường nhân danh lí tưởng để thể hiện những vấn đề nhân sinh, thế đạo. Thông qua cách tạo hình bằng một bảng màu trong sáng, nghệ thuật vận dụng cái trác tuyệt để dệt nên chất hùng vĩ của tâm hồn, của những chiến công rạng rỡ với tầm vóc lớn , tạo nên nhân vật mang chất lí tưởng thời đại. Nhờ đó hình tượng nghệ thuật ánh lên như một thực thể đầy sức cuốn hút.

         Bi kịch cũng là một thể loại nghệ thuật rất gần với chất lí tưởng. Do đó, khi xây dựng những tác phẩm thuộc loại này, nghệ sĩ cũng thường pha trộn chất hùng tráng với chất bi thương để tạo nên những khúc ca bi tráng. Như Aristote đã nói, chỉ cái chết có ý nghĩa rộng lớn đối với xã hội mới làm cho người đời luyến tiếc, xót thương như luyến tiếc một ráng chiều còn đẹp mà sớm bị mây mù che khuất. Do đó, chất đồng cảm trong bi kịch phải khởi đầu từ những ánh hồi quang có “tiếng đồng vọng vĩ đại của tâm hồn” .

Cái trác tuyệt trong nghệ thuật uyển chuyển đến mức bên cạnh vẻ đẹp anh hùng của nhân vật, đôi khi nghệ sĩ còn tìm cách đưa thêm vào đó đôi nét “yếu đuối mà ta quen thuộc” để làm cho nhân vật của mình nổi bật  chất người chân chính, cao đẹp mà vẫn thật gần gũi chẳng hề gượng gạo, xa lạ với cuộc đời thực.

      Khi biểu hiện cái trác tuyệt trong nghệ thuật, nghệ sĩ còn lồng khéo chất hài hước để làm cho nhân vật anh hùng của mình bớt bị “lên gân”, để nụ cười hiền hòa ấm áp xua tan cái cứng đờ, nghiêm nghị. Mọi người đều biết câu chuyện Trapaev  người anh hùng nội chiến cuả Liên Xô. Vốn xuất thân từ nông dân, tràn đầy lòng căm ghét đối với bọn Bạch vệ, Trapaev không thiếu nhiệt tình cách mạng, nhưng kiến thức không nhiều lắm. Một lần có bác nông dân hỏi “Đồng chí ủng hộ Bolsevich hay ủng hộ đảng cộng sản?”. Trapaev nhanh trí trả lời “Tôi ủng hộ quốc tế”. Phuôcmanop – chính ủy của Trapaev (sau này trở thành nhà văn) có mặt lúc đó, hỏi đùa thêm: “Đồng chí ủng hộ quốc tế nào, Đệ tam hay Đệ nhị ?”. Trapaev bối rối nhưng đâu có chịu, bèn tìm cách hỏi lại: Lê nin ở quốc tế nào?  Furmanov nói: “Đệ tam”. Trapaev nói: “Thế thì tôi cũng ở Đệ tam”…

 (Hai anh em Vaxiliev,Trapaev NXB Văn học).

      Ở một đoạn khác trong tác phẩm văn học đó, một đêm Trapaev và người cận vệ Belaia chuyện trò thân mật. Bỗng nhiên Belaia hỏi:

  -Đồng chí Vaxili Ivananki, đồng chí có thể chỉ huy một quân đoàn không ?

 – Được.

 Belaia sung sướng hỏi tiếp:

 – Chỉ huy một mặt trận ?

 – Được, Belaia ạ . Có thể làm được.

Belaia mở to mắt:

-Lực lượng vũ trang toàn quốc ?

Trapaev ngừng giây lát:

- Chỉ cần học thêm chút nữa, thì cũng có thể chỉ huy được.

Belaia phục lắm, hỏi tiếp:

- Vaxili Ivananki, đồng chí có thể chỉ huy quân đội toàn thế giới chứ?

Trapaev trầm ngâm, nghiêm chỉnh trả lời:

- Không … không được đâu … tôi không biết… ngoại ngữ.

      Như vậy, khi nghệ sĩ biết đem cái hài kịch điểm xuyết vào cái trác tuyệt một cách đúng chỗ, cái hài kịch kéo người đọc gần lại với vĩ nhân, xóa đi sự ngăn cách giữa họ với nhau, làm tăng thêm nhiệt tình say đắm của người đọc, kích động được khát vọng quần chúng cách mạng vươn lên ngang tầm vĩ nhân của mình.

      Có một vấn đề cần đặt ra: Trong nghệ thuật, cái trác tuyệt có thể dùng để biểu hiện vẻ đẹp của những người bình thường không ? Thúy Kiều của Nguyễn Du đã có một vẻ đẹp trác tuyệt ấy. Vẻ đẹp trác tuyệt của con người đành rằng không hoàn toàn chỉ ở chỗ “một hai nghiêng nước, nghiêng thành / Sắc đành đòi một, tài đành họa hai” nhưng nó không thể không liên quan với một tình người vô cùng cao quý ở trong tâm hồn nàng, nhất là khi số phận đời nàng bị đem ra thử thách. Trước cơn gia biến, Kiều phải lựa chọn. Éo le thay sự lựa chọn của Kiều không phải là sự lựa chọn thông thường, mà một bên là “tình sâu mong trả nghĩa dày” mối tình đầu thiêng liêng cùng  Kim Trọng  và một  bên  là “đức cù lao”, “công cha như  núi Thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Nhưng Kiều khác với mọi cô gái khác, nàng dám quyết định và quyết định đúng, dám ghé đôi vai mảnh mai của mình gánh cả “nỗi oan dậy đất, oán ngờ lòa mây” của gia đình. Vì thế, qua Truyện Kiều, ta như thấy nếp nhăn từng hằn sâu trên vầng trán ưu tư của nhân loại trải qua bao thế kỉ đăm chiêu trước ngọn đèn dầu bao lần vơi cạn khắc khoải, chua chát trước nỗi đau triền miên của con người bỗng thoáng lên một niềm tin yêu Hành động cao đẹp của Kiều tuy chỉ là sự quên mình của một cô gái dám bán mình chuộc cha, nhưng cũng đủ để cho bao thế hệ “lệ chảy quanh thân Kiều”, để người đời phải trầm ngâm suy nghĩ, vấn vương hi vọng. Và cũng ở đây, thiên tài của Nguyễn Du không phải đợi đến ba trăm năm sau mới có một hậu thế như nhà thơ mong ước “Ba trăm năm nữa ta đâu biết. Thiên hạ ai người khócTố Như” (Độc Tiểu Thanh kí). Thơ là điệu tâm hồn thì thi hào Nguyễn Du đã có “một tâm hồn đồng điệu” đời sau ấy là Tố Hữu  đã nói hộ chúng ta:

                  “Mai sau, dù có bao giờ/ Câu thơ thuở trước đâu ngờ hôm nay”.

      Khi biểu hiện cái trác tuyệt trong nghệ thuật, nghệ sĩ phải có lòng tin cháy bỏng vào con người. Khi thể hiện “tiếng đồng vọng vĩ đại của tâm hồn”, nghệ sĩ cũng phải nâng tâm hồn mình lên ngang tầm vĩ đại đó. Nếu không, dù miêu tả cái trác tuyệt,  tác phẩm  sẽ sẽ chỉ đạt mức độ “thuật lại” mà không được coi là tác phẩm trác tuyệt.

Bài tập

Tìm hiểu nội dung  cái trác tuyệt trong các tác phẩm sau (chỉ ra vài nét chính)

                        + Truyện ngắn “Trái tim Đan cô” (M. Gorki)

                        + Bức tượng Quán Thế Âm Bồ Tát ngàn mắt ngàn tay

                        + Hình tượng Hồ Chí Minh trong “Nhật kí trong tù”

                        + Hình ảnh nhân dân trong tập thơ “Việt Bắc” (Tố Hữu) .

                        + Bài cáo Bình Ngô (Nguyễn Trãi)

                        + Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)


BÀI 5           CÁI HÀI KỊCH

                戏 剧,戏 剧  xì  jù ,  The comedy

    5.1  Khái  niệm

Các qui luật của đời sống thẩm mỹ rất phong phú, hình thức biểu hiện của nó lại rất đa dạng, nhưng những diễn biến phức hợp của đời sống thẩm mỹ vẫn có thể qui về bản chất của con người.

      Trong cuộc đời, con người thường có những cặp thái độ chính:

        – Hai thái độ chính trị cơ bản: Đồng tình hoặc phản đối.

        – Hai thái độ triết học chủ yếu: Khẳng định hay phủ định.

        – Hai mặt tâm lý quan trọng: Yêu và ghét.

        – Hai tình cảm thẩm mỹ tương phản là: Ngợi ca hoặc giễu cợt.

 Sự giễu cợt là một mặt quan trọng để biểu hiện thái độ sống của con người và định giá nhân cách của con người. Chẳng thế đã truyền tụng câu ngạn ngữ: “Anh hãy chỉ cho tôi biết anh cười ai, tôi sẽ nói cho anh biết anh là người như thế nào”.

Điểm tựa của đời sống thẩm mỹ là cái đẹp. Con người dựa vào tiêu chuẩn của cái đẹp để định giá tất cả các biểu hiện phức tạp đan chéo nhau trong đời sống hàng ngày. Nhưng cuộc đời không phải lúc nào cũng  thẳng băng như một đại lộ giữa đô thành ngập tràn ánh điện.

Nhân loại sáng tạo ra một nền văn minh nhưng đồng thời hơn hai ngàn năm nay đã mắc  lỗi lầm lớn nhất  là đẻ ra cảnh người bóc lột người. Đã có một thời gian dài trong lịch sử, người với người không phải là bạn,  “người với người là chó sói” (Diderot).

Xuất phát từ  thực tiễn ấy, con người phải tìm cách khắc phục những lỗi lầm của mình. Cuộc đấu tranh cho chủ nghĩa nhân đạo mới cũng là nhiệm vụ của hài kịch nhằm tống tiễn cái cũ và đón chào cái mới một cách nhẹ nhàng nhưng sâu sắc. Từ nhiệm vụ cao cả này, cần phân biệt  cái cười sinh học và cái cười thẩm mỹ. Cái cười thẩm mỹ có liên quan đến cái cười sinh học. Cái cười sinh học chỉ là một phản ứng tức thời của sinh lí khi con người bắt gặp sự tác động nào đó trên lĩnh vực nào đó của cảm giác. Cái cười sinh học mang tính tự phát và ngẫu nhiên. Trong khi đó cái cười thẩm mỹ có ý nghĩa tinh thần sâu sắc hơn nhiều. Phân biệt vấn đề này, Gogol nhà văn lớn của nước Nga đã viết: “hài kịch có nhiệm vụ sửa sai cho những lỗi lầm của con người”. Cùng chung mục đích sửa sai, về mặt thẩm mỹ, người ta thông qua bi kịch để lấy nước mắt mà răn đời và dùng hài kịch để lấy tiếng cười mà uốn nắn lẽ sống.

Tiếng cười hài kịch có ý nghĩa sâu sắc hơn người ta tưởng. Cũng không phải là tiếng cười tiêu khiển, nhàn tản, mua vui của một hạng người nào đó. Đấy là tiếng cười vỗ cánh bay, hoàn toàn xuất phát từ bản chất trong sáng của con người. Vỗ cánh bay vì nó là ngọn nguồn phong phú của tiếng cười, vì tiếng cười này đi sâu vào đối tuợng, buộc những gì lẽ ra chỉ lướt nhanh phải hiện lên một cách rõ rệt, và nếu không có sức mạnh thâm nhập của nó thì những mặt tầm thường và trống rỗng của cuộc sống sẽ không làm con người khiếp sợ đến thế.

Như vậy, tiếng cười thẩm mỹ là tiếng cười nhằm phát hiện bản chất của đối tượng để tìm cách uốn nắn, sửa chữa hoặc xóa bỏ đối tượng đó. Cái cười thẩm mỹ gợi cho con người thắng lợi về mặt tinh thần trước những gì mất hài hòa, lạc hậu, mất ý nghĩa lịch sử, phi nhân văn đáng loại trừ ra khỏi cuộc sống.

      Maiakovki đã viết:

 Bạn ơi

Qua tiếng cười

bạn hãy học tập và nhìn tận đáy sâu

lòng căm thù

kẻ địch

Balzac, nhà văn lớn nước Pháp cũng nhấn mạnh “Cười là tinh thần của lòng căm thù”.

Như vậy, ta không thể cười cái ta không ghét. Do đó, nhiệm vụ của hài kịch là đi sâu, thâm nhập vào những mặt trái cuộc sống, phát hiện những gì còn mập mờ “đánh lận con đen” để phanh phui nó ra. Hài kịch là một vũ khí sắc bén và rất lợi hại để tống tiễn vào quá khứ tất cả những gì giả dối, những gì đã lỗi thời có hại vào quá khứ hay xuống mộ địa.

Nhưng điều đáng chú ý là, trong khi tống tiễn cái xấu vào quá khứ, đưa ma cái quay quắt, lộn sòng vào mộ địa, khắc phục những trở ngại trên con đường đi tới của mình, con người sáng tạo hài kịch còn vì một ý nghĩa cao hơn là khẳng định lại cái đẹp, vun đắp cho cái mới, cái tiến bộ đâm chồi nẩy lộc.

Trước hết phải thừa nhận rằng cơ sở của hài kịch là cái xấu đang tồn tại trong thực tế. Cái xấu (theo nghĩa rộng của từ này) là nguồn gốc của hài kịch.        

Nhưng đối tượng của hài kịch lại không phải là toàn bộ cái xấu. Cái xấu nếu biểu hiện ra như cái “toàn bộ xấu” thì chỉ làm ta kinh tởm, do đó nó lọt ra ngoài phạm vi của hài kịch. Như  vậy, chỉ có một bộ phận ranh mãnh nhất của cái xấu đã không đành phận xấu, lại còn tìm cách lọt vào vương quốc của cái đẹp, thậm chí lọt vào rồi, nó còn hoành hành ngang  ngửa, bắt cả cái đẹp và mọi người phải công nhận và sùng bái nó. Khi cái đẹp tỉnh táo sáng suốt, đủ sức rọi ánh sáng chân lý vạch trần chân tướng gỉa mạo của cái xấu, khi đó nhân loại được một trận cười thỏa thê.

Ở đây có thể dẫn ra câu truyện cười nổi tiếng của thế giới, chuyện “Ông vua trần trụi” của nhà văn Đan Mạch Andersen để làm sáng tỏ ý trên: Có một ông vua rỗng tuếch và một lũ quần thần xiểm nịnh cũng rỗng tuếch, ngược lại luôn tự cho mình là những kẻ thông thái. Cuộc sống xa hoa và vô nghĩa của họ bị hai kẻ lừa đảo chú ý. Những tên ma mãnh này tung tin chúng có thể dệt những áo gấm cực kì mỹ lệ mà “phàm dân” không ai có thể nhin thấy. Tin ấy lọt đến tai “bệ rồng” và tên quan tin cẩn nhất được nhà vua phái đến để hỏi mua chiếc áo. Áo long bào đã được dệt bằng những “sợi không khí” trên một khung cửi cũng bằng không khí nốt. Từ vua đến quan, tên nào cũng sợ mình có đôi mắt và đôi tay phàm dân, nên mặc dù không nhìn thấy gì, chẳng sờ thấy gì, quan vẫn đem “áo“ về cho vua và vua vẫn mặc để diễu hành. Đến khi nhà vua trút mảnh vải cuối cùng để mặc “áo long bào không khí” đi giữa đám rước trước vạn mắt thiên hạ, thì bọn trẻ là người hồn nhiên nhất, chúng hét tướng lên “Nhà vua không mặc quần”, lúc đó vua cũng vừa chợt tỉnh và nhìn xuống thân thể mình thì đã quá muộn. Lần ấy thiên hạ được một trận cười thỏa mãn.

Từ đó, ta có một định nghĩa:

Cái hài là một bộ phận của cái xấu nhưng lại không đành phận xấu, cái bộ phận xấu này lại núp dưới bóng cái đẹp, và cái đẹp ở đây lại chính là nguồn sáng cực mạnh để phơi bày cái bộ phận xấu ấy ra và đuổi cổ nó ra khỏi vương quốc mình, để mọi người phân biệt đen trắng rõ ràng.

Chính vì vậy, khi cái đẹp bị cái xấu lấn át và vùi dập thì xuất hiện cái bi kịch. Khi cái đẹp đủ sức thắng cái xấu, lúc đó mới xuất hiện cái hài. Tsecnyxepxki nói “khi chế giễu cái xấu, chúng ta trở nên cao hơn nó”.

Vì bản thân nó chứa đựng tính kịch, nên khi xác định bản chất của cái hài, chúng ta cần chú ý tới thời điểm tạo nên tình huống bộc lộ bản chất của nó. Trong thời điểm khi mối liên hệ giả tao giữa cái bộ phận xấu không đành phận xấu đã tìm cách núp bóng cái đẹp, và mối liên hệ giả tạo dó bị đột ngột lột trần, đây là thời điểm đáng chú ý nhất cho sự khai thác cái hài kịch về phương diện mỹ học và cũng là kinh nghiệm sáng tác hài kịch.

Sở dĩ mỹ học chú ý đến cái hài vì trong cuộc sống thiếu gì hiện tượng trống rỗng, vô nghĩa

ở bên trong lại được che đậy bằng một vẻ huênh hoang bên ngoài và tự cho rằng nó còn

có một nội dung, một ý nghĩa thực sự và có quyền tồn tại bất chấp qui luật.

5.2  Ý nghĩa của hài kịch

Bielinxki rất đúng khi cho rằng: “Hài kịch là hoa của văn minh, là quả của dư luận xã hội phát triển”. Xem thế, một xã hội còn trong trạng thái quá sơ khai, các mâu thuẫn xã hội chưa phát triển đầy đủ có thể có cái cười thông thường chứ chưa thể có nhận thức hài kịch với ý nghĩa mỹ học hoàn chỉnh của nó. Vấn đề là cái hài kịch có liên quan đến trình độ lí tưởng xã hội.

Như ta đã biết, lí tưởng xã hội là tiêu chuẩn vô cùng sinh động để ta quan sát, đánh giá đúng bản chất những giá trị thẩm mỹ của sự vật. Lý tưởng xã hội gắn với mục đích xã hội, gắn với sự tiến bộ xã hội theo tiêu chuẩn cái đẹp, cái hoàn mĩ, hoàn thiện. Tất cả những gì cản trở sự tiến bộ ấy đều trái với lí tưởng. Như vậy, muốn thực hiện lí tưởng, con người cần phải biết phát hiện các mâu thuẫn, các xung đột để dọn đường cho xã hội phát triển.

Như vậy, cái hài kịch có một chỗ đứng rất quan trọng trong xã hội, bởi vì nó có khả năng thông qua tiếng cười để phê phán thói hư tật xấu, để vạch trần những mâu thuẫn và xung đột đang còn giấu mặt, đưa ra trước dư luận xã hội để con người kịp thời xử trí. Hài kịch là một hình thái phê phán đặc biệt có cảm xúc để dọn đường cho lí tưởng phát triển, do đó nó có tác dụng to lớn đối với sự phát triển của lịch sử.

Mũi nhọn của hài kịch chĩa thẳng vào kẻ thù của lịch sử. Nhưng không phải bất cứ  hình thái nào cũng là hình thái lịch sử của hài kịch. Chỉ khi “ lịch sử hành động triệt để và khi nó muốn đưa một hình thái già cỗi của cuộc sống xuống huyệt thì nó phải trải qua nhiều giai đoạn . Giai đoạn cuối cùng của một hình thái lịch sử toàn thế giới là tấn hài kịch của nó”. (Karl Marx )

Cái cách đưa một hình thái già cỗi của lịch sử đến hài kịch cũng tỏ ra độc đáo. Mác nói: Đó là cái cách “để cho nhân loại từ bỏ quá khứ của mình một cách vui vẻ”. Cái cười ở đây có ý nghĩa là sự giải tỏa, là sự dọn đường cho lịch sử, nó là hình thái nhẹ nhàng nhưng không vì thế mà không mang tính giai cấp quyết liệt không khoan nhượng.

Hài kịch không chỉ có tác dụng chống cái ác mà còn có nhiệm vụ chỉ ra thói ươn hèn của con người. Con người có một sức mạnh to lớn không gì đo nổi, nhưng mỗi người lại có “cái gót chân Asin”, nghĩa là một điểm yếu dẫn tới chỗ chết người. Hài kịch ở đây có nhiệm vụ tiếp sức cho con người, chuẩn bị cho sự thắng lợi toàn diện của con người trước những cản trở của hoàn cảnh.

Thói ươn hèn cá nhân nhiều khi trở thành thói ươn hèn lịch sử. Trên thế giới những thập kỉ vừa qua không thiếu bài học xương máu xảy ra bắt đầu từ thói ươn hèn cá nhân. “Chiến dịch xoong nồi” của các bà nội trợ ở Chilet không thể vô can với hành động của tên độc tài Pinoche cướp quyền và giết tổng thống, dìm nhân dân vào biển máu.

Như vậy trong hài kịch, ta phải chú ý đến phương diện lịch sử và giai cấp của đối tượng, phải vạch trần nó ra ánh sáng để con người cảnh giác. Vì thế, về phương diện lịch sử, đối tượng của hài kịch phải nằm trong cả ba bình diện sau:

      -Về chính trị: Nó là cái mất ý nghĩa, cái lỗi thời, cái lạc hậu, cái phản động.

      – Về mặt triết học: Nó là mặt trái, là cái phủ định.

      -Về mỹ học: Nó đối lập với cái đẹp, cái trác tuyệt, bản chất của nó là cái xấu được ngụy trang một cách khéo léo.

Như vậy, muốn phát hiện được các hiện tượng lịch sử mang tính hài kịch thì phải dựa vào thuyết xung đột. Các nhà mỹ học trước đây đã có nhiều công lao tìm kiếm vấn đề này:

      -Aristote thời cổ đại Hy Lạp cho rằng hài kịch nằm trong mâu thuẫn giữa cái xấu và cái đẹp.

      -I.Kant cuối thế kỉ 18 tìm thấy cái hài kịch nằm ở mâu thuẫn giữa cái nhỏ nhen và cái cao thượng.

      -P.Hegel cho rằng cái hài kịch nằm trong mâu thuẫn giữa hình tượng và ý niệm.

      -Lupxơ nhận thấy mâu thuẫn giữa cái trọng đại và cái vô nghĩa – cơ sở của cái hài kịch.

      -Florente phát hiện hài kịch nằm ở giữa đối cực của cái có giá trị và cái huênh hoang tự cho là có giá trị.

      -Acto và Suyto : cái hài kịch nằm ở mâu thuẫn giữa tất yếu và tự do.

      -Scopenhao : cái hài kịch nằm trong mâu thuẫn giữa cái hợp lí và cái vô lí.

      -H.Becson :  cái hài kịch chất chứa trong mâu thuẫn giữa cái sinh động và cái máy móc v.v..

Như thế, phát hiện quan trọng của các nhà mỹ học trước Mác là: cái hài kịch chứa đựng ở các mặt đối lập của các hiện tượng xã hội, nó có tính chất khách quan. Song mặt chủ quan của con người ở đây có vai trò rất to lớn. Bởi vì, vấn đề là ở chỗ con người phải biết cách phát hiện ra mặt đối lập của hiện tượng. Hơn nữa, ngay cả cái lỗi thời, cái cũ không phải bao giờ cũng mang tính hài kịch trong tấ cả các dạng biểu hiện của nó. Nó có thể là khủng khiếp gớm guốc, chán ngán, thậm chí đáng sợ nữa. Mặc dầu vậy bản chất xấu xa của nó vẫn là chất liệu tốt cho một nội dung đáng châm biếm. Vấn đề là cách sử dụng chất liệu này và tài năng đưa nó vào phạm vi của cái hài kịch.

Cần lưu ý thêm rằng, ngoài thuyết xung đột, phạm vi của cái hài kịch còn được mở rộng hơn nhiều. Chỉ bó hẹp trong phạm vi của thuyết xung đột sẽ không nắm hết bản chất của cái hài kịch. Bởi vì, trong cuộc sống, cái hài kịch còn nằm ở cả trong cái mới, cái tiến bộ và đang lên. Đó là trường hợp khi cái mới mang theo trong mình những tì vết; nghĩa là khi nảy sinh, nó có dấu hiệu không đầy đủ, thiếu hợp lí, cần uốn nắn kịp thời cho nó tốt hơn.

Vì thế, cái mới cũng có thể gây cười ngay trong sự phát triển nội tại của nó, trong lúc nó đang trưởng thành, kinh qua giai đoạn thấp để đến giai đoạn cao mà nó cứ tưởng nó đã đầy đủ. Ở đây, cái hài kịch có tác dụng chỉ ra những thiếu sót của cái mới, chỉ ra những tì vết ở bên trong cơ thểû lành mạnh của nó để buộc nó phải hoàn thiện hơn, do đó đẹp hơn.

Trường hợp này, người ta phân biệt hài kịch đả kích cái xấu, cái ác khác với hài kịch thông thường để uốn nắn những lệch lạc trong nội bộ nhân dân. Bởi vì trong con người cũng có những khát vọng vô tận chính đáng lại không tính đến khả năng thực tế có giới hạn của bản thân nên cũng có thể tạo ra một độ vênh đáng buồn cười.

Ngoài nhiệm vụ đánh địch, uốn nắn sửa chữa những khuyết tật của người đời, hài kịch còn có nhiệm vụ góp phần mài sắc cảm thụ tinh tế cho con nguời. Trường hợp này, tiếng cười có tính chất nhẹ nhàng lành mạnh, thậm chí mang nét bông đùa, nhưng vẫn ẩn sâu một ý định kín đáo qua việc góp phần miêu tả thế giới tươi vui của con người: Cái thế giới tốt về bản chất, nhưng có chút gì đó không đúng chỗ, hơi khác thường, hoặc có phần hơi kì lạ về tính cách mà trong cuộc sống xô bồ hàng ngày không dễ nhận ra, nhưng lại không thể bỏ qua. Cái thế giới của sự hiểu lầm, có điểm xuyết những nét không tinh anh, thậm chí hơi khờ khạo, bỗng sinh động hẳn lên, hoàn chỉnh thêm lên bởi sự bỗng nhiên nhận ra nó với tiếng cười vui vẻ. Tất cả các hiện tượng này phải được phát hiện không phải qua xung đột, mâu thuẫn, mà do nhiệm vụ làm sắc thêm, nhạy bén thêm cảm thụ tinh tế của con người.

5.3   Tính dân tộc của hài kịch

Phải thừa nhận các hiện tượng thẩm mỹ là các hiện tượng có tính phổ biến. Nhiều nhà lí luận gọi đó là tính toàn nhân loại. Cùng là con người và cùng phát triển theo những qui luật cơ bản của của xã hội loài người, các dân tộc đi đến hình thành một số quan niệm chung về bản chất của các hiện tượng hài kịch: Họ cùng chế giễu thói hà tiện , sụ ngu ngốc, sự tráo trở, tính tham lam, hành động độc ác v.v..

Nhưng mặt khác lại cần chú ý đến tính đặc thù của cách cảm nhận, sự thể hiện, lối sử dụng các phương tiện hài kịch là rất đa dạng, khác nhau ở mỗi dân tộc.

Do sự cố kết ngàn đời về lãnh thổ, về đời sống kinh tế – xã hội, về cách ứng xử, mỗi dân tộc có một hình thái tâm lí khác nhau; do đó tạo ra cách cảm xúc hài hước cũng khác nhau.

Cảm xúc hài kịch của người Pháp rất khác lối cảm xúc hài kịch của người Nga. Lối cảm xúc của người Tây Ban Nha không giống lối cảm xúc hài kịch của người Anh (lạnh lùng –  phớt Ăng lê ) v.v..

Nếu cảm xúc hài kịch của người Pháp rất ý vị tinh tế, nhưng cũng đầy tinh thần phân tích, mang tính duy lí tới mức tối đa, coi bản chất hư hỏng con người như một thuộc tính cố hữu, tự nhiên, thì sức mạnh cảm xúc hài kịch của người Nga lại chất chứa nhiều ẩn ý kín đáo, biết kết hợp khéo léo giữa lối trào lộng thông minh với nhiệt hứng tình cảm. Họ căm ghét thói xấu, nhưng vẫn chứa đựng sự đồng cảm với cảnh ngộ của con người. Cũng ở đây, nếu người Pháp coi sự hư hỏng của con người như một thuộc tính cố hữu, tự nhiên  thì ở người Nga, sự sa đọa bản chất của những con người ấy lại chỉ được quan niệm như một sản phảm của hoàn cảnh xấu.

Có thể dẫn ra đôi nhận xét của Gorki về Sekhop để làm rõ ý này. Gorki viết: Sekhop “căm ghét tất cả những cái gì dung tục, bẩn thỉu, anh miêu tả những cái dơ dáng của cuộc đời bằng thứ ngôn ngữ cao quí của nhà thơ, với nụ cười tế nhị của một nhà trào phúng, và phía sau cái vẻ bề ngoài đẹp đẽ của các truyện ngắn của anh, khó thấy rõ cái nghĩa bên trong đầy ý trách móc đắng cay của nó… Và trong mỗi thiên truyện ngắn trào phúng của Anton Pavlovich, tôi đều nghe thấy tiếng thở dài khẽ mà sâu của một trái tim trong sạch có tình người chân chính” .(Gorki. Bàn về văn học ).

Nếu lối cảm xúc hài kịch của người Tây Ban Nha rất phong phú về sự tưởng tượng phóng túng qua những hình thức sử dụng các đối chọi bất ngờ chứa nhiều dụng ý như các cảnh huống trong tác phẩm Don Quijote của nhà văn Cervantes, hoặc các họa phẩm vẽ các hình tượng quái dị mang tính châm biếm cao của danh họa Goya; thì Bernard Shaw của nước Anh lại nổi bật lên một sự hóm hỉnh, thông minh tài tử nhưng rất nghiêm ngặt. Để làm rõ điều đó, cần dẫn ra đây một cách trào lộng của nhà hài kịch lớn của nước Anh (Một lần, tại một bữa tiệc chiêu đãi người nước ngoài, một giáo chủ có thân hình phì nộn thấy nhà văn Bernard Shaw nổi tiếng mà lại có thân hình quá gầy còm, hắn bèn buông lời châm chọc: “Trông thân hình ngài, những người nước ngoài có thể tưởng là nước Anh đói khát khổ sở lắm !”. Nhà văn lạnh lùng đáp: “Trông thân hình ngài, người ta sẽ hiểu ngay lí do sự gầy yếu của người dân nước Anh ”) .

Tính dân tộc của hài kịch còn thể hiện ở : ngôn ngữ, chơi chữ, nói lái, . .. Thơ của nữ sĩ  Hồ Xuân Hương có nhiều tính hài hước vận dụng những đặc điểm của tiếng Việt, tạo  ra những nụ cười thú vị, hóm hỉnh, đầy sức sống, sâu sắc, đôi khi pha chút bi kịch hàm chứa bên trong.

Loại bỏ những thứ hài kịch “rẻ tiền” và những chuyện tiếu lâm thô tục thiếu thẩm mĩ, những hài kịch chân chính mang tinh thần nhân văn và thẩm mĩ góp phần dân chủ hóa xã hội, làm trong sạch cộng đồng dân tộc.

5.4  Cái hài trong nghệ thuật

            Nghệ thuật  hài kịch có nhiệm vụ miêu tả số phận của cái hài, qua đó tạo ra tiếng cười thẩm mĩ cho khán giả.

            Nghệ thuật  hài kịch cần phải phát hiện mặt trái / mặt sau của đối tượng, đặc biệt là mặt nghịch chiều lịch sử.

            Tiếng cười thẩm mĩ có đặc điểm sau:

           + Tính lịch sử : Hài kịch luôn luôn bám sát những vấn đề thời sự, góp phần vạch mặt kẻ thù dân tộc và những vấn đề cần phê phán kịp thời. Do vậy, tiếng cười của Aristophan thời Hilạp cổ đại, của Molier thế kỉ 17, của Hồ Xuân Hương thế kỉ 18, Nguyễn Khuyến cuối 19, Tú Xương đầu 20 …hôm nay khó mà vang lên một cách hồn nhiên. Tuy nhiên điều đó chỉ là tương đối, lịch sử đôi khi gặp lại những hiện tượng “quen cũ “như chuyện ghen tuông, chuyện “Trưởng giả học làm sang” thì tiếng cười  Molier, Hồ Xuân Hương lại vang lên.

+ Nhân vật trung tâm của hài kịch là nhân vật phản diện.

Hài kịch có thể tạm chia ra ba loại:

 Hài kịch đả kích, chọn đối tượng là kẻ thù của dân tộc, thời đại, lịch sử và là kẻ thù chung của con người bằng  tiếng cười cay độc nhất.

            Hài kịch châm biếm chọn đối tượng là những cái cũ, lạc hậu, lỗi thời nhằm tạo tiếng cười chỉ trích, phê phán, có thể gay gắt để giúp đối tượng sửa chữa, giúp cho nó lành mạnh hơn.

            Kịch khôi hài, còn gọi kịch bông đùa, tạo tiếng cười phê phán nhẹ nhàng thông cảm với đối tượng.(phần lớn tiết mục của Chương trình  Gặp Nhau Cuối Tuần trên đài VTV3 là một kiểu hài kịch nhẹ nhàng mà có hiệu quả cao).

            Thực ra hài kịch đa dạng hơn như thế  nữa.

            Ngày nay còn có loại hài kịch rất nhẹ nhàng hay gọi là thư giãn mà các nhà lí luận chưa kịp đúc kết lí thuyết. Đó là những phóng sự hình ảnh ngộ nghĩnh, hồn nhiên của con người, con vật. Chẳng hạn phóng sự “những kiểu nằm ngủ của thiên hạ”

(VTV3 – Gặp nhau cuối tuần, Gala cười) các phóng sự  “những con chó bắt chước người, chó mèo đùa giỡn với người, chó mèo khôn ngoan lạ lùng .v .v . ” (mục Giải Trí Nước Ngoài hoặc mục Thế giới nghiêng, Thế Giới đó đây trên các đài truyền hình ) .  Những màn kịch ấy tạo sự vui vẻ, thư giãn, gây đôi chút ngạc nhiên thú vị, chứ không có gì đáng phê phán ở đó.  Đấy vẫn là hài kịch tuy không thích hợp với lí thuyết chính thống.

            Cần lưu ý tránh những tiết mục hài kịch quá lố, “rẻ tiền“ mua vui bằng cách giễu cợt những khiếm khuyết tự nhiên của con người như: đưa ra các nhân vật khoèo chân  tay, nói cà lăm (nói lắp), quá mập hoặc gày ốm… hoặc lạm dụng cái tục tĩu trong ngôn ngữ, ăn mặc dị dạng để gây cười  trên sân khấu.

            Hài kịch – nói chung là một nghệ thuật  nghiêm túc, góp phần quan trọng giúp đỡ con người nhận thức tình trạng lỗi thời và khuyết điểm của mình. Nghệ thuật  hài kịch thức tỉnh cả nỗi hổ thẹn và lòng dũng cảm trong con người. Nó giúp con người trở nên cao quí, mạnh mẽ và cuộc sống tràn đầy tinh thần lạc quan, hào hứng hướng về cái đẹp.

²

Phần thực hành

Sinh viên làm các bài tập ở cuối sách này .


BÀI 6   CHỦ THỂ THẨM MĨ

        6.1   Con người là chủ thể thẩm mỹ

           Karl Marx khẳng định “Bản chất con người là luôn luôn sáng tạo theo qui luật của cái đẹp”.

            Nhưng không phải  loài người vừa sinh ra đã là chủ thể thẩm mỹ. Trải qua một thời gian dài của lịch sử, con người mới trở nên chủ thể thẩm mỹ. Ngay cả khi đã có năng lực thẩm mỹ, con người vẫn chưa tự đánh giá được điều ấy cho đến khi con người nhận thức và khẳng định được cái tôi – cái tôi sáng tạo và cái tôi thưởng thức nghệ thuật. Khi chủ nghĩa tư bản phát triển, ở phương Tây người ta mới nhận thức được cái tôi (trong triết học) như là chủ thể của hoạt động nhận thức, định hướng và sáng tạo nghệ thuật .

Descartes nhà triết học toán học, nhà văn Pháp nói: Tôi tư duy tức là tôi tồn tại

            Chủ thể thẩm mỹ chính là “cái tôi” trong đời sống thẩm mỹ.  Chủ thể ấy là một hệ thống cấu trúc phức tạp gồm các thành tố có mối quan hệ biện chứng với nhau dưới đây:

            Chủ thể thẩm mỹ gồm 7 thành tố sau:

1 . Cảm xúc thẩm mỹ

2 . Biểu tượng thẩm mỹ

3. Thị hiếu thẩm mỹ

4. Tình cảm thẩm mỹ

5. Hình tượng thẩm mỹ

6 . Lý tưởng thẩm mỹ

7. Ý thức thẩm mỹ ( thể tổng hợp của 6 thành tố trên )

            Mỗi thành tố trên tồn tại độc lập nhưng cũng liên quan mật thiết với nhau. Trước hết, chúng ta chọn “ thị hiếu thẩm mỹ ” làm điểm tựa để từ đó tìm hiểu các thành tố khác.

Chủ thể tiếp  nhận, thưởng thức thẩm mĩ: tất cả mọi người.

Chủ thể sáng tạo thẩm mĩ: tất cả mọi người bình thường đều có khả năng sáng tạo thẩm mĩ. Khi xã hội phát triển thì có những người chuyên nghiệp tạo ra giá trị thẩm mĩ như: nghệ nhân (chế tác đồ thủ công, đồ chơi trẻ em, thợ may, các loại dịch vụ thẩm mĩ . . .) và đặc biệt những  nghệ sĩ (tạo ra các loại hình nghệ thuật).

Chủ thể nghiên cứu giảng dạy đánh giá phê bình thẩm mĩ:

Chính là một phần của loại 2 nhưng được chuyên nghiệp hoá. Đó là nhà báo, nhà giáo, nhà nghiên cứu (hội hoạ, âm nhạc, văn học, sân khấu điện ảnh múa) kể cả những cán bộ quản lý, lãnh đạo các ngành văn học nghệ thuật, văn hoá.

6.2    Thị hiếu, thị hiếu thẩm mĩ và thị hiếu nghệ thuật

 Thị hiếu

Thị hiếu  嗜 好 (thích, yêu) shì  hào

    爱好  ài hào: ái hiếu

喜爱  xǐ ài : hỉ ái

            Là sở thích của chủ thể trong cuộc sống, bộc lộ thái độ đánh giá của chủ thể với mọi sự vật trong cuộc sống. Sở thích cá nhân được tồn tại trong một cộng đồng khiến cho cuộc sống phong phú, con người cảm thấy tự do.

            Thị hiếu tồn tại trong nhiều mặt cuộc sống, từ việc ăn uống, giải trí, lao động  cho đến những vấn đề lớn hơn như chính trị, đạo đức, tôn giáo, khoa học và sinh hoạt thẩm mỹ. Thị hiếu của cá nhân được bộc lộ thường xuyên, liên tục trong cuộc sống, có khi giữ nguyên, có khi thay đổi.

            Thị hiếu thẩm mỹ

            Một bộ phận của thị hiếu, là hành vi nhạy cảm nhất, bộc lộ tức thời khi con người tiếp xúc và đánh giá giá trị thẩm mỹ của mọi thứ xung quanh – những “cái đẹp, cái bi, cái hài, cái trác tuyệt “ đang tồn tại  trong cuộc sống.

            Thị hiếu thẩm mỹ, nói gọn lại, là sự nhạy cảm về cái đẹp, là “thú chơi”, thú thưởng ngoạn tinh thần hơn là thực dụng về vật chất. Từ việc chọn lựa hàng hóa đến việc chọn trang phục (thời trang), chơi cây hoa cảnh, trang trí nhà ở, chọn sách, xem phim nghe nhạc  … đến việc chọn nghề nghiệp, kết bạn, tìm người yêu. Mục tiêu lựa chọn là sao cho thỏa mãn khát vọng tinh thần, hướng tới cái đẹp. Cái đẹp luôn luôn gắn bó với cái Chân và Thiện (trong bộ ba Chân Thiện Mỹ, Mỹ  khiêm tốn đứng thứ 3)

            Thị hiếu thẩm mỹ còn được coi là “tính trội của hành vi”. Nghĩa là, qua thị hiếu thẩm mỹ, ta có thể đánh giá năng lực của chủ thể thẩm mỹ.

            Thị hiếu thẩm mỹ là sự kết hợp thống nhất giữa cảm tính và lí tính, thể hiện rõ nhất bản chất con người xã hội hài hòa với con người tự nhiên và đi cùng sự tiến hóa của xã hội loài người.

            Lịch sử mĩ học đã trải qua hai xu hướng đối lập: thị hiếu thẩm mĩ là duy cảm hay là duy lí  ?

            Mĩ học Mác- Lê nin khẳng định: thị hiếu thẩm mĩ của mỗi cá nhân có sự vận động thay đổi. Nó là thái độ, tình cảm của con người gây ra phản ứng mau lẹ trước cái đẹp, cái bi, hài và trác tuyệt trong cuộc sống và trong nghệ thuật. Nhưng nếu thiếu tư duy thì chưa thể có thị hiếu thẩm mĩ.

            Thời cộng đồng nguyên thủy – chế độ mẫu hệ, thị hiếu thẩm mĩ của cả bộ tộc hướng về hình tượng người đàn bà, theo tín ngưỡng phồn thực.

            Đến thời kì văn minh rực rỡ Hi Lạp – La Mã, thị hiếu thẩm mĩ lại hướng tới những hình tượng đàn ông hoàn thiện như: nhà hiền triết (nhà thông thái, nhà tiên tri), anh hùng và quán quân thể thao (đặc biệt Olympiade ).

            Sang thời Trung cổ, do sự áp đặt của giáo lí, kinh thánh, nhà thờ, thị hiếu thẩm mĩ hướng về cái đẹp hoàn hảo, cao cả của Chúa Trời, Đức Mẹ, Chúa Jesus và các thánh thần.

            Đến thời kì Phục Hưng, người ta ngưỡng mộ, mơ ước cái đẹp của những con người đầy đặn, phúc hậu, thanh khiết, thánh thiện, trong sáng và “khổng lồ” (thị hiếu thẩm mĩ khá phong phú, vừa quen thuộc trong đời sống, vừa cao cả …).

            Thế kỉ XX hiện đại, khoa học phát triển cao độ, nhanh chóng, nhip độ vận động xã hội rất lớn, đặc biệt trong hai lĩnh vực Sản xuất hàng hóa tiêu dùngNghệ thuật. Chủ thể sáng tạo có nhiều tìm tòi ý tưởng với những rung cảm mới, khiến cho thị hiếu thẩm mĩ của con người hiện đại càng phát triển cao và cực kì phong phú nhưng khá phức tạp, đôi khi như hỗn loạn.

            Thị hiếu thẩm mĩ không còn thiên về cảm tính, mà ngày càng mang tính triết lí cao siêu hơn.

            Mấy năm qua, thị hiếu thẩm mĩ ở Việt Nam đang trong tình trạng xáo trộn, đổi thay dữ dội, từ  thưởng thức đến sáng tạo. Chẳng hạn, trong lĩnh vực điện ảnh, làn sóng ưa chuộng phim thay đổi từng đợt ngắn qua phim Mĩ, Trung quốc, Đài Loan, Hồng kông, Hàn quốc, trở lại Việt Nam, rồi lại hướng ra ngoài… Chưa thể xác định thị hiếu thẩm mĩ điện ảnh của người Việt là gì ! Trong các lĩnh vực văn học, âm mhạc, thời trang, nhà cửa, xe cộ… cũng vậy. Các nhà phê bình và báo chí bối rối, không dám hoặc khó lên tiếng phê phán những thị hiếu thẩm mĩ  tầm thường, a- dua, lộn xộn, lo chạy theo “mốt”.

            Trước tình hình đó, việc giáo dục thẩm mĩ cho công chúng, đặc biệt là lứa tuổi trẻ đã trở nên một vấn đề quan trọng và cần thiết.

      Tính chất của thị hiếu thẩm mĩ

  • Tính phản ứng mau lẹ

            Khi tiếp xúc với các hiện tượng thẩm mĩ ( trong đời sống và trong nghệ thuật ) nơi chứa đựng các phạm trù thẩm mĩ và những mặt đối lập, con người lập tức bộc lộ thái độ một cách tự do, không e dè.      

            Những con người từng trải, vốn văn hóa cao, năng lực thẩm mĩ và nghệ thuật sâu sắc thì càng tự tin khi biểu lộ phản ứng và có cảm xúc mãnh liệt  hơn.

  • Tính hài hoà vô tư

            Đó là sự đánh giá thẩm mĩ không vụ lợi, chỉ nhằm thỏa mãn lòng hâm mộ  của mình. Một thị hiếu vô tư giúp con người lựa chọn đúng các giá trị Chân – Thiện – Mĩ. Con người phải chọn một giữa hai hướng: mơ mộng hay thực dụng. Mơ mộng quá sẽ rơi vào phiêu lưu, không tưởng. Thực dụng quá dẫn đến khô khan, nghèo nàn cảm xúc trước vẻ đẹp của đối tượng, và khi chán nản thì đã muộn. Người thực dụng sẽ không tránh khỏi dục vọng tầm thường.

            Một thị hiếu vô tư là sự hài hòa giữa mơ mộng và thực tế.

  • Tính cá biệt và tính xã hội

            Mỗi cá nhân có sự thích thú khác nhau, xã hội được hình thành từ nhiều cá nhân, không có nghĩa là một tập hợp lộn xộn các thị hiếu thẩm mĩ cá nhân. Đó là những giá trị thẩm mĩ chung của cộng đồng, có tác dụng lôi cuốn, định hướng thị hiếu thẩm mĩ cá nhân (nói cách khác, cá nhân chịu áp lực tự nhiên của xã hội ). Nhưng đó là mối quan hệ hai chiều, biện chứng trong đời sống thẩm mĩ.

            Một cá nhân nghệ sĩ sáng tạo ra những giá trị nghệ thuật, sau đó được cả cộng đồng thừa nhận như một giá trị chung của xã hội, thậm chí của chung nhân loại.

            Nhà triết học I.Kant, người đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về thị hiếu thẩm mĩ, ông đã tuyệt đối hóa vai trò của thị hiếu thẩm mĩ cá nhân (cá biệt) . Ông lúng túng không lí giải được sự song hành của cả hai loại thị hiếu đó. Ông cho rằng, sở dĩ có thị hiếu thẩm mĩ  xã hội là do ngẫu nhiên nhiều người có cùng thị hiếu thẩm mĩ với những cái đẹp phổ quát.

            Mĩ học Mác- Lê nin lí giải đúng đắn hơn: không có cá nhân nào sống tách biệt xã hội mà hình thành được thị hiếu thẩm mĩ (hãy xem  nhân vật Robinson Crusoe trong tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Anh Daniel Defoe thế kỉ 19- khi sống một mình trên đảo, anh ta hầu như chẳng có thị hiếu thẩm mĩ gì nữa !) . Thực ra, trong cộng đồng tồn tại cùng lúc các thị hiếu cá nhân, thị hiếu giai cấp, thị hiếu xã hội và thị hiếu nhân loại.

  • Tính giai cấp

            Mỗi giai cấp có một thị hiếu riêng, nghĩa là, có quan niệm khác nhau về cái đẹp.

          Quí tộc phong kiến ca tụng và ưa chuộng mẫu người “yểu điệu thục nữ” , “liễu yếu đào tơ”, “hào hoa phong nhã”, “nho nhã”. Người nông dân đề cao con người khỏe mạnh  thậm chí mập mạp, chất phác, có duyên. Ca dao “Mười thương” bộc lộ quan niệm của nhân dân xưa về cái đẹp phụ nữ thôn quê (Một thương tóc bỏ đuôi gà, Hai thương ăn nói mặn mà có duyên, Ba thương má lúm đồng tiền . . . .).

            Nhân vật Natasha trong tiểu thuyết “Chiến tranh và hòa bình” của L.Tolstoi mang cả vẻ đẹp của tiểu thư bá tước thượng lưu quí tộc vừa có vẻ đẹp cô thiếu nữ làng quê Nga . Theo nhà văn, đó là sắc đẹp hài hòa, hoàn hảo nhất. Nhìn chung, nếu so với giai cấp tư sản ưa chuộng vẻ đẹp hình thức, thậm chí thiên về thể chất, thì quí tộc phong kiến ưa vẻ đẹp tinh thần hơn, cao nhã hơn.(Quan niệm thẩm mĩ của giới quí tộc tinh tế, sắc sảo hơn tư sản. Vở  hài  kịch “Gã tư sản học đòi quí tộc” của Moliere đã chứng minh điều đó).

  • Tính dân tộc và tính nhân loại  Trải qua lịch sử, mỗi dân tộc hình thành một thị hiếu thẩm mĩ  riêng, có khi trái ngược với dân tộc khác  phương Đông: con rồng là đẹp đẽ cao quí, còn phương Tây, con rồng là độc ác, xảo quyệt …).

            Nghệ thuật phương Tây ưa tả thực, chuẩn xác khiến khán giả thán phục, còn nghệ thuật  phương Đông ưa tạo “khoảng trống” và ước lệ khiến cho người thưởng thức phải tưởng tượng và đồng sáng tạo.

            Mặt khác, có những chuẩn mực chung về Chân – Thiện – Mĩ đặc biệt cái đẹp được cả nhân loại công nhận. Chẳng hạn, màu xanh da trời được coi là màu hi vọng, ước mơ, hòa bình. Màu đỏ hạnh phúc, màu trắng bình đẳng, màu đen tang tóc, buồn bã… Cành nguyệt quế (olive) được coi là biểu tượng của chiến thắng vinh quang. Con chim bồ câu tượng trưng ước vọng hoà bình .v.v…

  • Tính thời đại

            Thẩm mĩ trang phục thay đổi theo mùa, theo lứa tuổi, theo mode (model), rất hiếm có loại trang phục được ưa chuộng lâu bền như chiếc áo dài phụ nữ Việt Nam, bộ complet châu Âu … Chưa ai biết chiếc quần jeans Âu Mĩ sẽ còn tồn tại bao lâu.

            Có những tác phẩm nghệ thuật vừa ra đời đã được trao ngay vòng nguyệt quế và trường tồn mãi mãi. Lại có tác phẩm phải chờ đợi một thời gian dài mới bừng sáng, vì nó đi trước thời đại (Hồng Lâu Mộng, Đường Thi, Truyện Kiều, nhạc cổ điển châu Âu thế kỉ 18-19)

             Nhiều tác phẩm nghệ thuật  sớm nở tối tàn .

Thị hiếu nghệ thuật

            Thị hiếu nghệ thuật là một phần của thị hiếu thẩm mĩ khi con người thưởng thức và sáng tạo nghệ thuật. Có thể coi thị hiếu nghệ thuật là đỉnh cao của thị hiếu thẩm mĩ. Karl Marx đã nói “Nếu anh muốn thưởng thức nghệ thuật, trước hết anh phải được giáo dục về nghệ thuật”, nếu không thì như tục ngữ Việt Nam “gảy đàn mà gảy tai trâu”.

            Có nhiều hình thức giáo dục nghệ thuật cho mọi người. Từ những trường lớp nghệ thuật đào tạo nghệ sĩ, hệ thống báo chí, đài truyền thanh truyền hình, câu lạc bộ, diễn đàn, . . . cho đến Bộ môn Văn và môn Nghệ thuật trong trường phổ thông đều góp phần bồi dưỡng, giáo dục nghệ thuật  cho công chúng.

Mối quan hệ giữa thị hiếu thẩm mĩ với các thành tố khác của chủ thể thẩm mĩ

            4.1 – Quan hệ giữa thị hiếu thẩm mĩ  và cảm xúc thẩm mĩ:

            Khi đứng trước một đối tượng thẩm mĩ, xuất hiện ở con người một tín hiệu đầu tiên – do trực giác và cảm giác mang lại. Cần phân biệt 2 loại cảm xúc: cảm xúc sinh lí, vốn đã có từ hơn 3 triệu năm, và cảm giác thẩm mĩ – mới hình thành từ 12 ngàn năm qua. Vậy cảm xúc thẩm mĩ (hoặc cảm giác thẩm mĩ ) là một thứ xúc cảm “quí phái” của con người sau một  quá trình rèn luyện, tích lũy lâu dài mới có.

            Con người có 5 giác quan sinh học (sinh lí), nhưng có 2 giác quan phát triển cao thành giác quan thẩm mĩ, 2 giác quan cao cấp – đó là thị giác và thính giác (đôi mắt và đôi tai) được gọi là hai cửa ngõ tâm hồn (hãy thử giải thích thành ngữ:mắt con trai, tai con gái). Các loại hình nghệ thuật  như hội họa, âm nhạc …tác động vào 2 giác quan: mắt – cửa ngõ số 1, tai – cửa ngõ số 2.

            Có những nghệ thuật tác động cùng lúc vào cả hai cửa ngõ, như múa, kịch, phim, …Riêng văn học, loại hình nghệ thuật đặc biệt: coi thính giác là cửa ngõ số 1, chuyển thẳng vào óc tưởng tương, mắt chỉ là cửa ngõ số 2 (ngay cả khi xem sách thì con chữ vẫn lặng lẽ vang lên những tiếng của lời nói ).

            Cảm xúc thẩm mĩ cũng là thước đo các hiện tượng thẩm mĩ. Những cái gì thiếu tính thẩm mĩ chỉ đem lại cho con người một nhận thức lạnh lùng, vô cảm (chẳng hạn, số học, vật lí, địa lí . . .)

            Cảm xúc thẩm mĩ là sự rung động bên trong tâm hồn, nâng con người bay lên  hướng tới cái đẹp.

            Cảm xúc thẩm mĩ trước hết là khoái cảm trước cái đẹp. Ngạc nhiên, bàng hoàng, thích thú, phấn khởi khi tiếp xúc với cái đẹp, lúc ấy con người cảm thấy yêu đời hơn.

            Cảm xúc thẩm mĩ được tạo nên do sự hiểu biết, trình độ văn hóa, vốn sống và độ nhạy bén của giác quan.

            Nhìn chung, cảm xúc thẩm mĩ phụ thuộc vào điều kiện sống của con người. Một cuộc sống nghèo nàn, thiếu thốn, cơ cực cũng không thể tạo cho con người có cảm xúc thẩm mĩ phong phú và tinh tế. Karl Marx khẳng định: “Khi con người cùng khổ luôn luôn bị giày vò lo lắng thì cũng không thích thú gì để xem một vở kịch tuyệt tác” . Thật vậy, khi con người chưa thoát khỏi sự giày vò của vật chất thì chẳng thể có nhu cầu thẩm mĩ và nghệ thuật. Nhất là nghệ thuật, con người lại còn phải có điều kiện vật chất để học tập và chi phí thì mới đủ khả năng thưởng thức.

          Kiến thức thẩm mĩ, đến lượt nó  lại tác động trở lại trí tuệ và tình cảm con người.

            Cảm xúc thẩm mĩ cũng mang tính dân tộc, tính lịch sử và tính thời đại, rồi cô đúc thành thị hiếu thẩm mĩ tương đối ổn định của con người.

            4.2- Mối quan hệ giữa thị hiếu thẩm mĩ với biểu tượng thẩm mĩ:

            Biểu tượng thẩm mĩ  là một giai đoạn của tư duy thẩm mĩ. Đó là sự lưu giữ hình ảnh của những cái thẩm mĩ trong tư duy, não bộ của con người.

            Quá trình nhận thức nói chung của con người trải qua các giai đoạn:

  • Cảm giác
  • Tri giác
  • Biểu tượng
  • Phán đoán
  • Khái niệm

            Trong nhận thức thẩm mĩ, biểu tượng thẩm mĩ  là giai đoạn thứ 3.

      “Biểu tượng là hình ảnh tương đối trọn vẹn  của một sự vật đơn lẻ của thế giới khách quan đem lại cho con người, và có khả năng được tái hiện lại trong tâm tưởng  bằng cảm giác.”

            Hình ảnh, đường nét, màu sắc và âm thanh  là những chất liệu tạo nên biểu tượng  thẩm mĩ.

            Hoa sen gợi nhớ đến cõi Phật.  Gác Khuê Văn gợi nhớ thủ đô Thăng Long – Hà Nội, chùa Thiên Mụ nhắc Huế. Hoa đào hoa mai báo mùa xuân, lá vàng gợi nỗi buồn tàn thu, cánh phượng hồng báo mùa hè học trò buồn vui lẫn lộn, và đây – một đêm mùa hè của nhân vật Thúy Kiều ở chốn lầu xanh:

“ Dưới trăng quyên đã gọi hè

                                    Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông”   ( Kiều – Nguyễn Du )

            4.3 – Mối quan hệ giữa thị hiếu thẩm mĩ  và hình tượng thẩm mĩ:

            Hình tượng thẩm mĩ  là cách phản ánh cuộc sống của nghệ thuật. Mỗi loại hình nghệ thuật  có những kiểu hình tượng khác nhau.

            Hình tượng thẩm mĩ  bao gồm cả nội dung và hình thức, bắt nguồn từ thực tế sinh động của thiên nhiên và xã hội. Riêng hình tượng nghệ thuật thì chỉ do nghệ sĩ sáng tạo ra . Hình tượng nghệ thuật chủ yếu là hình tượng nhân vật.

            Ta có sơ đồ phát triển như sau:

            Biểu tượng thẩm mĩ  >   Hình tượng thẩm mĩ    >    Hình tượng nghệ thuật

Ví dụ: một bức tranh phong cảnh Tây nguyên, phải có những nét riêng như núi cao, rừng rậm , nhà rông , con người ăn mặc kiểu dân tộc, v.v… giúp khán giả nhận ra ngay, sau đó mới tới những nét tâm hồn sâu kín. Một bản nhạc Tây nguyên cần có tiếng suối chảy, tiếng chim, tiếng vọng mang vẻ hoang dã.

            Nhà văn nhà mĩ học Nga Bielinski thế kỉ XIX đã nhận xét “nhà triết học nói bằng phép tam đoạn luận, nhà thơ nói bằng hình tượng và những bức tranh”.

            Vậy sáng tạo hình tượng là đặc trưng hàng đầu của nghệ thuật .

            Nghệ sĩ dùng hình tượng nghệ thuật để miêu tả và bảo vệ cái đẹp, lên án cái xấu, tác động ngay vào cảm xúc thẩm mĩ của công chúng.

            Bielinski nhận xét “tác phẩm nghệ thuật  sẽ chết nếu nó thiếu sự thôi thúc chủ quan mạnh mẽ xuất phát từ tư tưởng bao trùm thời đại, nó sẽ chết nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau căm hận hoặc lời ca tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc không trả lời những vấn đề của thời đại”.

            Cuối cùng, hình tượng thẩm mĩ còn chứa đựng cả những dấu ấn cá tính và phong cách riêng của nghệ sĩ (chủ thể sáng tạo).

            Thị hiếu thẩm mĩ của con người chứa đựng cả những hình tượng thẩm mĩ  và hình tượng nghệ thuật quen thuộc và ưa thích nhất.

            4.4 – Mối quan hệ giữa thị hiếu thẩm mĩ và tình cảm thẩm mĩ

            Tình cảm thẩm mĩ thuộc về những tình cảm phong phú của con người. Đó là tình yêu cái đẹp, căm ghét cái xấu, xót xa đồng cảm với cái bi, thán phục cái trác tuyệt, chế giễu  với cái hài, . . .

            Tình cảm thẩm mĩ hướng con người đến với những giá trị Chân – Thiện – Mĩ. Tình cảm thẩm mĩ có thể đúng đắn hoặc sai lầm khi đánh giá các hiện tượng thẩm mĩ. Nhà phê bình cần có tình cảm thẩm mĩ đúng đắn khi thẩm định nghệ thuật, để hướng dẫn công chúng thưởng thức, đồng thời tác động tới cả nghệ sĩ.

            Tình cảm thẩm mĩ liên quan mật thiết với tình cảm đạo đức. Yêu cái đẹp, cái thiện, ghét cái xấu – đó là thuộc tính của con người. Nhưng để có thể yêu cái đẹp trong nghệ thuật  thì cần phải am hiểu nghệ thuật, nói chung là cần được giáo dục thẩm mĩ.

            Tình cảm thẩm mĩ cũng chứa đựng tính giai cấp, tính dân tộc và thời đại. Không có một tình cảm chung chung.

            Tình cảm thẩm mĩ chi phối toàn bộ quá trình sáng tạo và thưởng thức của con người – chủ thể thẩm mĩ.

            Tình cảm thẩm mĩ là cốt lõi của thị hiếu thẩm mĩ.

            Mang trong lòng tình cảm thẩm mĩ, thị hiếu thẩm mĩ sẽ được đúc kết và nâng lên một tầm cao hơn : Lí tưởng thẩm mĩ.

6.3  Lí tưởng thẩm mĩ và lí tưởng nghệ thuật

                          Lí tưởng [ 理 想 lǐ  xiǎng ]

            Lí tưởng thiên về tính chất xã hội của con người, gồm lí tưởng chính trị, lí tưởng đạo đức, lí tưởng tôn giáo, lí tưởng thẩm mĩ  … gọi chung là Lí Tưởng.

            Danh từ “Lí tưởng“ xuất hiện trong ngôn ngữ cổ Hi Lạp, ban đầu có nghĩa là “ ý niệm”, là cảnh, là hình tượng biểu thị một sự hoàn thiện, hoàn mĩ mà con người muốn đạt tới.  on người có lí tưởng từ bao giờ?

            Nhà văn M.Gorki viết: “Khi tự nhiên tước mất của con người cái khả năng đi bốn chân thì đồng thời nó cấp cho con người cây gậy chống – đó là lí tưởng. Và từ đấy, con người vươn tới những điều tốt đẹp và cao cả hơn. Các bạn hãy làm cho cuộc vươn lên cái tốt ấy trở thành ý thức, hãy dạy cho mọi người rằng hạnh phúc chân chính chỉ có được  trong sự vươn tới một cách có ý thức”. (M.Gorki Toàn tập, tập II, Moscow 1949- trang 428 )

            Vậy là, lí tưởng chính là bản chất của con người, nó phân biệt con người và loài vật.

            Thực hiện lí tưởng là hoạt động có ý thức sâu sắc nhất, thúc đẩy con người trước hết tác động vào tự nhiên, xây dựng cuộc sống và cải tạo chính mình, kế đó định hướng các mối quan hệ xã hội. Con người cần có khát vọng, ước mơ đi tới, lại cần có sức mạnh để giải quyết các mâu thuẫn, vật cản trên con đường ấy, đi theo lí tưởng dẫn đường.

            Cấu trúc của lí tưởng:

                             ß                                                       ß                                        ß

        ( 1 )                                                      ( 2 )                                              ( 3 )

Khởi điểm hành động

của con ngườiNhững khó khăn trở ngại trên con đường đi tới, cần phải giải quyết như thế nào . Mục đích cao cả

    ( lí tưởng )

            Nếu chỉ có mục tiêu lí tưởng mà thiếu 2 giai đoạn trước thì nó mới chỉ là “ước mơ”, có thể  là “ảo tưởng” viển vông [nếu thiếu (1) và (2) ]. Lí tưởng phải là toàn bộ quá trình 3 giai đoạn đó. Con người có lí tưởng là con người hình dung được cả quá trình đi tới mục tiêu cao cả của cuộc đời.

            Chẳng hạn, lí tưởng của nhân dân ta ngày nay là xây dựng một xã hội cộng sản chủ nghĩa, nhưng cần phải đi qua giai đoạn chủ nghĩa xã hội. Và ngay cả trước khi bước vào chủ nghĩa xã hội cũng còn phải trải qua một thời kì quá độ nữa (quá độ đi qua tư bản chủ nghĩa). Bên cạnh lí tưởng chung ấy, mỗi người vẫn có một lí tưởng riêng căn cứ vào điểm xuất phát của mình.

            Khi hình thành lí tưởng của cuộc đời mình, chúng ta cần tránh những ảo tưởng  viển vông thiếu cơ sở xuất phát.

            Khi con người đã xác định lí tưởng, nó sẽ trở thành động cơ thúc đẩy họ, tạo ra hứng thú cao độ và bền vững.

           Có thể chia lí tưởng  ra 5 yếu tố:

                                    1. Nhu cầu đòi hỏi một lí tưởng

                                    2. Động cơ (cụ thể) của lí tưởng

                                    3. Hứng thú thực hiện

                                    4. Hiệu quả của lí tưởng (cao cả nhưng cụ thể )

                                    5. Thế giới quan (kiến thức về thế giới)

            Nhu cầu của con người bao gồm cả vật chất và tinh thần cần được thỏa mãn. Trong nhu cầu tinh thần có khát vọng nhận thức, tình cảm ( yêu thương ), giao tiếp xã hội, được tự do, giải phóng, xây dựng xã hội mới, tiến bộ.

            Nhu cầu là khởi điểm của mọi lí tưởng, nhưng trong đó nhu cầu vật chất không được quyền lấn át nhu cầu tinh thần (No ấm và sạch sẽ là tối ưu, nhưng đói cho sạch, rách cho thơm). Ngay cả nhu cầu vật chất cũng phải thăng hoa để mang giá trị tinh thần.

            Động cơ của lí tưởng

            Một đối tượng vật chất hoặc tinh thần nào đó đang có tác dụng lôi cuốn  cá nhân hành động nhằm đạt tới nó, để thỏa mãn một nhu cầu của bản thân – gọi là động cơ của người ấy.

            Tóm lại, người có lí tưởng là người có nhu cầu tinh thần trong sáng, cao đẹp, có niềm vui lớn trong lao động, sáng tạo, vì mọi người  và vì tiến bộ xã hội.

            Lí tưởng cần phải mang tính người cao cả và tính xã hội rộng rãi, gọi chung là lí tưởng nhân văn.             

            Suốt đời phấn đấu cho lí tưởng nhân văn của cộng đồng là phẩm chất cơ bản của những con người trác tuyệt, lí tưởng ấy thúc đẩy họ hành động có hiệu quả và được nhân dân thừa nhận, biết ơn, nêu gương và ca tụng.

            Hứng thú thực hiện lí tưởng 

            Với một động cơ đã định, con người say mê đeo đuổi hoạt động để đạt tới lí tưởng. Đó chính là lí tưởng thẩm mĩ. Động cơ tạo ra hứng thú, đó là sức mạnh nội tại vững bền.

            Thế giới quan giữ vai trò định hướng lí tưởng:

            Thế giới  quan là toàn bộ cách nhìn đời, nhìn người, nhìn xã hội và nhìn mình.

            Thế giới  quan có 3 yếu tố:

  • Tính giai cấp: Trong một xã hội có nhiều giai cấp, ắt có một giai cấp tiên tiến nhất, cách mạng nhất. Lí tưởng phải gắn liền với tính giai cấp tiên tiến nhất ấy.
  • Tính khoa học: đó là kiến thức đúng đắn, phù hợp qui luật khách quan và lịch sử, khác với những ý tưởng viển vông và lỗi thời  hoặc phiêu lưu mạo hiểm.
  • Tính tổ chức: để thực hiện lí tưởng, không chỉ dựa vào nỗ lực cá nhân, mà phải vận động, tổ chức xã hội cùng thực hiện. Đó là năng lực tổ chức khi thực hiện lí tưởng.

            Hiệu quả của lí tưởng

            Lí tưởng cần phải được hiện thực hóa, nếu không, nó chỉ là ý tưởng viễn vông. Lí tưởng bao gồm 2 chất liệu: chất thực tế (thực tại / hiện thực) và chất liệu tương lai với một tỉ lệ hợp lí. Nói cách khác, lí tưởng bao gồm cả tính hiện thực và tính lãng mạn trong quan hệ biện chứng với nhau. Trong cuộc đời, con người cần chú ý điều chỉnh tỉ lệ để đạt hiệu quả lí tưởng cao. Hiệu quả của lí tưởng cũng phụ thuộc vào kinh nghiệm sống của cá nhân, dân tộc và giai cấp.

            Hiệu quả còn có tính tối ưu, nghĩa là con người không được phép đạt tới hiệu quả bằng bất cứ giá nào. Cần phải tính tới phương pháp, thời gian, công sức … để đạt được hiệu quả tối ưu.

            Lí tưởng thẩm mĩ

            Trước Mác

I .Kant cho rằng lí tưởng  thẩm mĩ chỉ có ở cá nhân, cũng như đã khẳng định:“ không có khoa học về cái đẹp, chỉ có sự phán đoán về cái đẹp”.

             Hegel tuy có chú ý đến mặt xã hội, lịch sử của lí tưởng thẩm mĩ, nhưng ông lại tuyệt đối hóa vai trò của lí tưởng thẩm mĩ. Ông đi tìm lí tưởng thẩm mĩ ở “ý niệm tuyệt đối”, nghĩa là, theo ông lí tưởng thẩm mĩ chính là sự hoàn thiện hoàn mĩ của tinh thần trong triết học, chứ không tính đến mối tương quan xã hội.

            Tsecnysevski nói: lí tưởng thẩm mĩ là cuộc sống đẹp.

            Bielinski cho rằng: Lí tưởng thẩm mĩ  là sự thực hiện lí tưởng – cái tiềm ẩn trong đời sống. Là cuộc sống phát triển và thắng lợi.

            Những quan điểm trên chưa đầy đủ nhưng cũng góp phần kinh nghiệm trên con đường tìm kiếm bản chất của lí tưởng thẩm mĩ.

            Lí tưởng thẩm mĩ  theo quan điểm Mác- Lê nin:

            Lí tưởng thẩm mĩ là bộ phận của lí tưởng xã hội, được hình thành theo qui luật xã hội . Nó cũng bao gồm: nhu cầu, động cơ, hứng thú, hiệu quả và thế giới quan tiên tiến.

            Lí tưởng thẩm mĩ khác với lí tưởng xã hội ở chỗ nó là cái toàn vẹn – cụ thể – cảm tính, là một hình tượng (hoặc hệ thống hình tượng ) sinh động, hấp dẫn có khả năng tạo ra khoái cảm thẩm mĩ (hứng thú). Hình tượng  trung tâm trong mọi hình tượng chính là mẫu người lí tưởng.

            Nhu cầu của Lí tưởng thẩm mĩ là: khát vọng hoàn thiện, hoàn mĩ, sống đẹp. Động cơ mang tính cá thể, chủ quan, sinh động . Hứng thú: cảm xúc thẩm mĩ, vô tư, hướng về cái đẹp. Hiệu quả: là sự tu thiện, thanh khiết hóa tâm hồn. Thế giới quan: hình ảnh thế giới mẫu mực, hấp dẫn, tấm gương sáng ( Lưu ý : thế giới quan trong lí tưởng thẩm mĩ không tồn tại ở dạng lí thuyết, học thuyết ).

             TÓM LẠI, lí tưởng thẩm mĩ là tổng thể phương hướng cơ bản của đời sống được đúc kết lại thành hình ảnh mẫu mực, cảm quan của sự hoàn thiện hoàn mĩ của con người và xã hội, là cuộc sống trên đà phát triển, là khát vọng và hành động nhằm hoàn thiện vô tận cuộc sống (endless) bằng cách giải quyết những nhu cầu, mâu thuẫn thực tại để giải phóng con người, đem lại tự do, hạnh phúc cho mọi người trên cơ sở chủ nghĩa nhân văn hiện đại. Lí tưởng thẩm mĩ bộc lộ rõ rệt và tập trung  nhất trong lãnh vực nghệ thuật bằng cái đẹp và cái trác tuyệt.       

            Lí tưởng thẩm mĩ  được thể hiện trong nghệ thuật  thì gọi là lí tưởng nghệ thuật, sẽ được nghiên cứu trong bài sau.

6.4  Phân loại chủ thể thẩm mỹ, chủ thể nghệ thuật

 

6.4.1        Chủ thể thẩm mỹ

 

Chủ thể sáng tạo: Người lao động và nghệ nhân, đều là người sáng tạo thẩm mỹ

Chủ thể phê bình, đánh giá: mọi người lao động, nghiệp dư và chuyên nghiệp.

6.4.2        Chủ thể nghệ thuật

Chủ thể sáng tạo: Nghệ sĩ, công chúng nghệ thuật, nhà phê bình nghiên cứu, nhà giáo, nhà báo.

 

³

 
 


BÀI 7       Nghệ thuật học đại cương

 

                                                            

               7.1     CẤU TRÚC CỦA ĐỜI SỐNG NGHỆ THUẬT 

                                 (Sinh hoạt nghệ thuật)

            Sinh hoạt nghệ thuật  là một bộ phận quan trọng của đời sống thẩm mĩ.

                                               

                                            Công chúng nghệ thuật 

                                                       ­ 

Nghệ sĩ    ß   Tác phẩm nghệ thuật  à    Giới nghiên cứu,phê bình, giảng dạy,

                                                                                      đánh giá – định hướng

 

            Đây là mối quan hệ tay ba, xoay quanh một trung tâm là tác phẩm nghệ thuật. Ba chủ thể này có quan hệ gắn bó, mật thiết, tác động ảnh hưởng lẫn nhau.

 

               7.2  SỰ THỂ HIỆN LÍ TƯỞNG THẨM MĨ TRONG NGHỆ THUẬT

            Con người đẹp nhất thời đại được gọi là nhân vật lí tưởng của thời đại ấy.

Như vậy, lịch sử của nhân loại cũng là quá trình nối tiếp nhau của các nhân vật lí tưởng. Nói cách khác nhân vật lí tưởng luôn luôn đi song hành cùng lịch sử.

            Nghệ thuật của loài người có bổn phận thể hiện nhân vật lí tưởng của thời đại mình vào trong tác phẩm. Dõi theo lịch sử nghệ thuật, chúng ta sẽ thấy hiện lên chân dung nhân vật lí tưởng của mỗi thời đại.

            1 – Nhân vật lí tưởng và  “mĩ học” nguyên thủy

            Cách  đây khoảng 30 ngàn năm đến 1 triệu năm, con người chưa có mĩ học, nhưng con người đã có quan điểm tự phát, cảm tính về cái đẹp. Bằng chứng để lại là những hình ảnh khắc, đẽo trong hang động và một số thứ  khác.

            Hình tượng những con vật đẹp, cân đối, hài hòa, lấn át hình ảnh con người. Sau đó, hình ảnh người phụ nữ đẹp do khả năng sinh đẻ mà được coi là nhân vật lí tưởng.

( riêng thần linh có vị trí đặc biệt : nhân vật trác tuyệt, phi thường ).

            2 – Nhân vật  lí tưởng và mỹ học cổ đại Hi lạp

            Ban đầu, thần linh là nhân vật lí tưởng, nhưng về sau con người vươn lên giữ láy vị trí cao đẹp nhất. Con người được coi là mẫu mực của muôn loài.

            Thời ấy, ban đầu người đàn ông khỏe mạnh được coi là nhân vật lí tưởng. Bởi anh ta là trụ cột của gia đình và cộng đồng, là người anh hùng đi đầu đoàn quân, là người chiến thắng trong các cuộc thi đấu, đặc biệt là ở những đại hội Olympiad tổ chức dưới chân núi Olympe.

            Thời cổ đại Hy Lạp có 3 mẫu người lí tưởng:

  • Người công dân anh hùng
  • Nhà hiền triết ( nhà thông thái / nhà tiên tri/ nhà bác học )
  • Nhà quán quân thể thao

            Về sau, hình tượng người phụ nữ dần dần mới được coi là nhân vật tượng trưng của cái đẹp (nhưng không  tượng trưng cho cái trác tuyệt, cao cả)

            3 –  Nhân vật lí tưởng và mĩ học trung cổ

            Thời Trung cổ châu Âu (từ thế kỉ 5 đến thế kỉ 14), mĩ học chịu ảnh hưởng lớn của Kinh thánh Thiên chúa giáo. Cái đẹp tối cao, toàn diện là Đức Chúa Trời và cõi thiên đường. Nhân vật lí tưởng là tín đồ sùng đạo, tấm gương chói sáng là con người tử vì đạo. Con người khát vọng thiên đường, coi rẻ cuộc sống trần thế, thậm chí coi nó là tội lỗi.

            4 – Nhân vật lí tưởng và mĩ học Phục hưng

            Từ thế kỉ 14 đến 16 diễn ra phong trào cách mạng văn hóa Phục Hưng ở Tây Âu

            Phủ nhận văn minh Thiên chúa giáo, đề cao chủ nghĩa nhân văn. Coi con người là tối cao, đẹp nhất, cuộc sống trần thế chính là thiên đường. Thánh thần được miêu tả trong hình ảnh con người. Những con người ưu tú nhất là: nhà bác học, nghệ sĩ và nhà doanh nghiệp.

            5 – Nhân vật lí tưởng và mĩ học Cổ điển     

            Thế kỉ 17.  Giai đoạn quân bình, hòa hoãn trong cuộc đấu tranh của 2 giai cấp đối kháng; giai cấp tư sản đang trưởng thành và g/c quí tộc phong kiến câu kết với Nhà thờ thiên chúa. Đó là sự giằng co giữa con người nghĩa vụ và con người dục vọng, nhân vật lí tưởng khó hình thành rõ nét, bởi nó rơi vào bi kịch. Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy chỗ yếu, thiếu bản lĩnh của nghệ sĩ Cổ điển: không dám khẳng định nhân vật lí tưởng là con người mới tư sản.

            6 – Nhân vật lí tưởng và mĩ học Khai sáng

             Thế kỉ 18 . Người chiến sĩ cách mạng tư sản  nổi bật lên trong xã hội.

Nhân vật quần chúng là một nhân vật lí tưởng đặc biệt,  bên cạnh nhà  tư  tưởng.

             Bức tranh  “Thần Tự do trên chiến lũy” của họa sĩ De Lacrois vẽ hình ảnh người phụ nữ bình dân với nét đẹp của thần Venus, những quần chúng nghèo khổ và cậu bé Gavroche (nhân vật chú bé bụi đời trong bộ tiểu thuyết Những người khốn khổ của V. Hugo).

          7– Nhân vật lí tưởng và mĩ học cổ điển Đức

            Thế kỉ  18 – 19.

            Những nhân vật đa dạng, thậm chí trái ngược nhau.

            E. Kant : cái đẹp tùy ý ta.

            Hegel: cái đẹp là thượng đế. Thượng đế ban phát chỉ ban phát những mảnh vụn đẹp cho trần thế – và chỉ có nghệ sĩ  mới nhận được và  tạo ra cái đẹp ( nhờ thiên phú )

            Nhìn chung, các nhà mĩ học lại rơi vào bối rối ( như thế kỉ 17 )

        8 – Nhân vật lí tưởng và mĩ học hiện đại

            Ai là nhân vật lí tưởng của thời đại chúng ta?

            Mĩ học Mác – Lê nin đã trả lời thỏa đáng câu hỏi quan trọng thiết yếu này.

-         Đó là tất cả những con người lao động chân chính,  đặc biệt nổi bật là nhà khoa học tài năng và nhà doanh nghiệp giỏi.

7. 3   NGHỆ SĨ

            Những khái niệm của  Phương Tây về nghệ thuật và nghệ sĩ:

            Art, Artist, Fine Arts, Arts, Artistic, . . .

            Phân biệt ý nghĩa  và quá trình biến đổi của những thuật ngữ  ấy :

            Ban đầu, châu Âu dùng “Art” chỉ để gọi mĩ thuật (hội họa), về sau mới gọi chung mọi nghệ thuật là arts, và dùng “Fine Art“ để gọi riêng mĩ thuật.

            Tương tự, lúc đầu Artist chỉ dành gọi họa sĩ, về sau gọi tất cả các nghệ sĩ (trừ nhà văn nhà thơ gọi là writer, poet).

            Ngày nay, “Arts” lại được dùng chỉ các bộ môn khoa học xã hội – nhân văn (ví dụ: Master of Arts – thạc sĩ thuộc các ngành KHXH – nhân văn, viết tắt MA, hoặc cử nhân KHXH –nhân văn là Bachelor of Arts  – viết tắt BA ).

 

 

            Hi Lạp cổ đại :

            Nghệ sĩ chính là những vị thần linh cao quí như: Apollon, Athena, rồi đến những người có dòng máu thần linh (có cha hoặc mẹ là thần linh, như  Pigmalion, Orphee ).

            Ấn Độ cổ đại có các nàng tiên múa Apsara. Trung Quốc có các nàng Tố nữ  thần ca múa . . . Khi ấy con người coi trọng nghệ thuật đến mức sùng bái, nghệ thuật  là điều kì diệu chỉ có thần linh mới sáng tạo ra được, nên người xưa đã thần thánh hóa (thần tượng hóa) các nghệ sĩ.

            Người Việt Nam cũng tin rằng nghệ sĩ được trời phú cho tài năng đặc biệt.

            Trong bộ môn Mỹ học, tất cả những người sáng tạo và biểu diễn nghệ thuật đều gọi chung là nghệ sĩ.

            1 .  Nghệ sĩ  là ai ?

Tiếng Việt Hán tự ngữ âm

 Bắc KinhTương đương với

danh từ Trung QuốcNghệ sĩ

Nhà văn

Văn nhân

Văn sĩ

Thi nhân, thi sĩ

Họa sĩ

Nhạc sĩ

diễn viên

ca sĩ

Yì shù jiā

zuò zhě

wén  rén

shī  rén

huà  jiā

yīn yuè jiā

yǎn yuán

gē  shǒunghệ thuật gia

tác gia

học trò, thư kí

tác gia

thi nhân

họa gia

âm nhạc gia

diễn viên

ca thủ

            Nghệ sĩ là người sáng tạo những giá trị thẩm mĩ, trước hết là cái đẹp. Nghệ sĩ lao động tự nguyện, đam mê để sáng tạo ra tác phẩm, sống hết mình với mọi xúc cảm trong cái thế giới nghệ thuật của mình. Tác phẩm nghệ thuật  phải chứa đựng tình yêu, niềm tin và lòng nhân ái  của nghệ sĩ.

            Sáng tạo nghệ thuật phải luôn luôn đổi mới không lặp lại) và tạo ra một dòng chảy liên tục (theo truyền thống, tránh sự quái dị). Do đó, lao động của nghệ sĩ là không ngừng tìm tòi sáng tạo.

            Nghệ sĩ là người trước hết có  năng lực bẩm sinh (năng khiếu). Ví dụ, họa sĩ có khả năng nhận thức, phân biệt màu sắc, sáng tối, nhạc sĩ nghe rõ mọi âm thanh và có thể tạo ra những âm thanh trữ  tình (giai điệu, nhịp điệu …). Nhà văn dùng ngay ngôn ngữ của dân tộc mình .để kể chuyện, miêu tả, biểu lộ xúc cảm và tư tưởng. Nhưng trước hết, nghệ sĩ  là người giàu cảm xúc, tình cảm, kế đó là: trí tưởng tượng.

            Nghệ sĩ cần phải có vốn sống và kiến thức văn hóa.

Và cuối cùng, một điều kiện tưởng như chỉ là phụ nhưng không thể thiếu: nghệ sĩ phải có sức khỏe (không ít nghệ sĩ kiệt sức, chết sớm vì sáng tác)

        2 .  Ba cấp độ năng lực nghệ sĩ 

-         Năng khiếu

-         Tài năng  (nhiều vẻ khác nhau)

-         Thiên tài  (đỉnh cao của thời đại, tác phẩm khái quát được cả thời đại, xây dựng được nhân vật lí tưởng của thời đại, đặt ra hoặc/ và trả lời được vấn đề của thời đại . . . ).

        3 .  Sáng tạo nghệ thuật  là gì ?

            Là quá trình tái tạo hiện thựctự biểu hiện (đưa cái tôi vào tác phẩm).

            Người họa sĩ vẽ cái cảm thấy chứ không phải cái nhìn thấy, đồng thời gởi gắm tình cảm, tư tưởng (tâm hồn) của mình vào tác phẩm nghệ thuật. 

            Khi vẽ người là vẽ tâm hồn nhân vật thể hiện qua diện mạo, dáng người, đôi mắt, nụ cười (kể cả trang phục, cảnh vật, . . . ánh sáng). Bức tranh có hồn thường  được biểu hiện rõ nét theo thứ tự từ cao xuống thấp với: đôi mắt – miệng – đôi tay – dáng người -cảnh vật và ánh sáng.

           4 –  Bút pháp – Phong cách – Phương thức sáng tác

            Người ta thường lẫn lộn giữa bút pháp và phong cách, chúng ta cần phân biệt rõ. 

            Bút pháp

            Là những biện pháp cụ thể và các phương tiện sáng tạo (ví dụ : bút pháp Nguyễn Bính, bút pháp Nguyễn Tuân  . . .)

            Phong cách

            Thiên về tính cách, thói quen riêng của nghệ sĩ, phong cách chi phối bút pháp . Phong cách thường ổn định, hầu như suốt thời gian dài, có thể suốt đời. Còn bút pháp có thể thay đổi, tự trùng lặp với mình hoặc tác giả khác. Nghệ sĩ được coi là thành công khi đã hình thành được phong cách nghệ thuật  của mình.

            Phong cách có 2 tính chất tối thiểu là:

-         tính dân tộc  (phong cách dân tộc)

-         tính  thời đại (phong cách thời đại)

            Ví dụ, họa sĩ Bùi Xuân Phái ưa vẽ phố cổ Hà Nội, thích dùng bột màu đen, nâu,  xám. Họa sĩ Nguyễn Phan Chánh quen vẽ tranh lụa, màu nâu diễn tả làng quê Việt Nam truyền thống. Họa sĩ nhà bác học thiên tài Leonardo Da Vinci ưa vẽ màu hồng và trắng, con người trần tục nổi bật trên nền phông cảnh. Hai nhà thơ  Nguyễn Khuyến và Nguyễn Bính đều thích làm thơ về cảnh vật và tình quê nhưng thuộc hai giai đoạn khác nhau, có một số bút pháp giống nhau nhưng phong cách thì hoàn toàn khác biệt.

             Nhìn chung , bút pháp và phong cách hợp lại thành cá tính sáng tạo.

            Phương thức sáng tác: là sản phẩm của một trào lưu sáng tác văn học. Nhiều người thường gọi là “phương pháp sáng tác”. Nhưng nhiều người phản đối, cho rằng nghệ sĩ sáng tác theo cách riêng, không theo  “phương pháp” nào. (Vì những lẽ trên, chúng tôi đề xuất cách gọi “phương thức sáng tác” bao gồm cả trào lưu chung và cá tính sáng tạo của nghệ sĩ) .

             Theo Từ điển văn học (Nxb Giáo Dục –1992): mục từ “Phương pháp sáng tác”-  là hệ thống những nguyên tắc tư tưởng- nghệ thuật chi phối toàn bộ quá trình hoạt động sáng tạo để xây dựng nên tác phẩm nghệ thuật  mà trước hết là biến nội dung cuộc sống thành nội dung nghệ thuật và cùng với nội dung, chi phối sự tạo thành hình thức tác phẩm.

            Trong hội họa có những phương thức như cổ điển, hiện thực, lãng mạn, dada, trừu tượng, lập thể, biểu hiện, siêu thực .v.v…Trong văn học cũng có nhiều phương thức như : phương thức huyền thoại, phương thức sử thi, p.t ngụ ngôn, p.t hiện thực, p.t lãng mạn , p.t cổ điển, pt. huyền ảo . v.v…

            Tuy nhiên, Hiện thực và Lãng mạn là hai phương thức chủ yếu hầu như chi phối suốt lịch sử văn học nghệ thuật của loài người (những phương thức khác gần gũi hoặc là nhánh phái sinh, hỗn hợp của 2 phương thức đó) .

            Học thuyết Mác–Lê nin khẳng định: dù sáng tác theo phương thức nào cũng phải lấy cái đẹp chân chính làm chuẩn mực gắn kết trong bộ ba Chân-Thiện- Mĩ. Cái đẹp chân chính  phải là sự gợi mở con đường đi đến một thế giới mới tốt đẹp hơn.

    7.4  Quan hệ giữa nghệ sĩ với các chủ thể nghệ thuật  khác

            Chủ thể nghệ thuật  gồm:

-         Nghệ sĩ

-         Công chúng nghệ thuật  (khán giả, thính giả, độc giả )

-         Giới nghiên cứu, lí luận, phê bình, giảng dạy, quản lí văn nghệ

            Câu chuyện Bá Nha và Tử Kỳ, cây đàn Bá Nha thiếu vắng thính giả Tử Kỳ thì sao ? Tử Kỳ chết, Bá Nha dứt bỏ dây đàn không chơi nữa. Chu Du danh tướng đất Đông Ngô vốn xưa có năng khiếu đàn tranh, sau bỏ nghiệp đàn theo đại sự nghiệp. Lúc rảnh rỗi, khi u sầu Chu Du vẫn thích nghe đàn. Chàng mời một  kì nữ nổi danh đàn tranh đến diễn tấu. Kĩ nữ chơi đàn hay đến nỗi Chu Du nhắm nghiền mắt lặng nghe. Nhưng cô kĩ nữ lại muốn Chu Du ngắm nhìn mình nữa (ta cũng đẹp lắm chứ ! sao chàng không ngắm ta ?) . Càng đàn hay Chu Du càng nhắm mắt. Cô ta bèn dùng thủ thuật độc đáo: gảy bậy vài nốt nhạc. Chu Du choàng tỉnh, trừng mắt nhìn cô như quở trách. Dẫu là cặp mắt “nảy lửa” nhìn mình, cô kĩ nữ cũng thích thú, hài  lòng tiếp tục gảy hay hơn nữa. Và Chu Du lại nhắm nghiền mắt. Sự việc lại tái diễn thi thoảng . . . Bạn hãy nghĩ xem ai giỏi âm nhạc hơn – Chu Du hay cô kĩ nữ ?    

             Nếu ngày xưa, thi hào Nguyễn Du viết xong tập truyện thơ Đoạn trường tân thanh sau những ngày nhàn rỗi u buồn trên đất Huế mà không gặp người bạn tri âm tri kỉ là nhà giáo Phạm Quí Thích thì ngày nay chưa chắc chúng ta đã biết đến Truyện Kiều. Ông vua Tự Đức nổi tiếng về tài văn chương đã hết lời khen Truyện Kiều nhưng cũng đòi  đánh đòn nhà thơ. Và từ khi Truyện Kiều trở nên quen thuộc với người Việt Nam thì nó cũng thu hút bao cuộc tranh cãi, thi tài, nghiên cứu.

            Nghệ thuật và công chúng như cá với nước. Mỗi nghệ thuật có một  loại công chúng thưởng thức. Và mỗi bạn đọc lại ưa thích một nghệ thuật  của mình.

            Sự tiếp nhận nghệ thuật có thể tức thời hoặc có khi phải chờ đợi. Có tác phẩm vừa xuất hiện thì được công chúng ào ạt đón nhận ngay. Có tác phẩm sau khi tác giả qua đời, lí tưởng thẩm mĩ của họ mới được công chúng đón nhận.(Thi hào Nguyễn Du từng băng khoăn lo âu: Bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ hà nhân khốc Tố Như: Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa, thiên hạ ai người khóc Tố Như ?!. Đó là vì nghệ sĩ đi trước thời đại mà trình độ công chúng không theo kịp; hoặc vì người đương thời ngộ nhận, chưa thể hiểu tư tưởng lớn của tác giả… Chẳng hạn, ngày nay người ta mới hiểu sâu sắc Lão Tử, Khổng Tử, Kant, Hegel, Karl Marx mà đương thời, công chúng chưa thể tiếp thu được thấu đáo giá trị học thuyết của họ.

            Quan hệ giữa ba chủ thể nghệ thuật:     

            Mỗi giai đoạn lịch sử xuất hiện những yêu cầu chính thống về nghệ thuật. Đó là yêu cầu, định hướng chung của nghệ thuật do người lãnh đạo xã hội đưa ra (vua chúa hoặc đảng cầm quyền nêu lên khẩu hiệu hành động).

            Xét về mặt quan hệ xã hội, nhà lí luận phê bình đứng giữa công chúng nghệ thuật  và nghệ sĩ.

            Về mặt năng lực, nhà lí luận  phê bình là sự kết hợp giữa nhà khoa học (nhà nghệ thuật  học) và nghệ sĩ. Nói cụ thể hơn, họ cần có kiến thức triết học, mĩ học và nắm được bản chất của loại hình nghệ thuật  mà họ nghiên cứu phê bình (Họ hiểu rõ lịch sử bộ môn nghệ thuật ấy, khái quát được thành tựu của những nghệ sĩ bậc thầy và có cảm xúc nghệ sĩ  thì họ có thể được coi là bậc thầy nghệ thuật). Không thể đòi hỏi họ phải sáng tác như một nghệ sĩ. Họ cũng có thể dự báo tương lai của nghệ thuật.

            Mặt khác, họ đại diện cho nhu cầu, trình độ của  bộ phận tiên tiến của công chúng nghệ thuật. Họ phải là người phát ngôn của một giai cấp tiên tiến và đảng phái chính trị lãnh đạo xã hội, nhưng cần phải tránh sự áp đặt độc đoán, thô bạo Nhà phê bình phải nắm được quan điểm tiến bộ nhất của thời đại mình, như thế mới làm người phát ngôn lí tưởng thẩm mĩ của thời đại (spokeman).

            Karl Marx, Engel, Lê nin đã thay mặt giai cấp vô sản, giai cấp công nhân mà yêu cầu nghệ sĩ sáng tạo. Những nhà lí luận phê bình Nga nổi tiếng thế kỉ 19 như Bielinski, Tsecnysevski cho đến nhà văn M. Gorki sau Cách mạng tháng Mười  đều chú trọng viết lí luận phê bình để vận động văn nghệ sĩ  trong sáng tác. Nhà phê bình Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Hải Triều đóng vai trò quan trọng định hướng văn nghệ những năm 1930 –1945 và trong giai đoạn hiện đại hóa nền văn học nước ta (họ không phải là nghệ sĩ sáng tác). Nhà văn Nguyễn Tuân nổi tiếng là một nhà phê bình hội họa mặc dù ông chưa bao giờ cầm bút vẽ. Cố tổng bí thư Trường Chinh (nhà thơ Sóng Hồng) từng là người lãnh đạo sáng tác văn học nghệ thuật tứ buổi mới thành lập Nhà nước sau CM tháng Tám 1945.

            Những cuộc tranh luận về nghệ thuật  ở nước ta diễn ra sôi nổi trong một số thời kì khiến cho công chúng nghệ thuật  chú ý theo dõi và tham gia. Đó là những sinh hoạt nghệ thuật  rất cần thiết và bổ ích cho tất cả các chủ thể nghệ thuật. Chẳng hạn như: cuộc tranh luận “nghệ thuật  vị nghệ thuật  hay nghệ thuật  vị nhân sinh” năm 1936, cuộc thảo luận về xây dựng nền văn nghệ Việt Nam năm 1948 ở chiến khu Việt Bắc, cuộc đấu tranh chống nhóm Nhân văn- Giai phẩm năm 1957-58. . . và nhiều cuộc tranh luận, hội thảo  sôi nổi trong khoảng 10 năm cuối thế kỉ 20, giai đoạn “đổi mới” vừa qua (Tranh luận về sáng tác và quan điểm nghệ thuật của những cây bút Nguyễn Minh Châu, Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài. . .) Báo chí đóng vai trò vô cùng  quan trọng trong sinh hoạt nghệ thuật.

  7.5  GIỚI THIỆU NHỮNG LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT CƠ BẢN

 

            Trước khi có 7 loại hình nghệ thuật cơ bản, kiến trúc đã xuất hiện như một ngành kĩ thuật kết hợp nghệ thuật  tạo hình. Do đó, chúng tôi trình bày riêng loại hình kiến trúc mà không đưa vào danh sách nghệ thuật như một số cách phân loại khác. Cho dù một công trình kiến trúc đẹp đẽ, tráng lệ tới đâu cũng phải coi kĩ thuật xây dựng là yếu tố quan trọng thứ nhất, sau đó mới tính tới yếu tố nghệ thuật  tạo hình (yếu tố thứ nhì).

            Theo trình tự xuất hiện trước sau, chúng tôi sẽ giới thiệu lần lượt bảy loại hình nghệ thuật  cơ bản mà loài người đã sáng tạo trong suốt trường kì lịch sử của mình:

1 – Điêu khắc

2 – Hội họa

3 – Âm nhạc

4 – Múa ( vũ đạo)

5 – Văn chương

6 – Sân khấu

                                     7- Điện ảnh, còn gọi “nghệ thuật  thứ 7”

            (Loại hình nhiếp ảnh là dạng liên kết giữa nghệ thuật tạo hình và kĩ thuật, tiền thân của điện ảnh – chúng tôi chỉ giới thiệu sơ lược).

                         KIẾN TRÚC

                        ( jiàn  zhú)   Architecture

            Ngày xưa, con người lấy hang động làm nhà ở  (cách đây khoảng từ 17 đến 30 ngàn năm về trước) sau khi bỏ cuộc sống leo trèo cành cây. Họ bắt đầu lao động và tự cải biến thành người.

            Đến một lúc nào đó, hang động có sẵn của thiên nhiên không đủ chứa người, họ nghĩ tới việc tạo dựng nơi trú ẩn cho mình, lại còn dựng cả “nhà” cho thần linh nữa (những ngôi đền thờ, tháp)  để thuận tiện cầu xin thần linh phù hộ che chở, mời thần linh về ở đó.

            Đó là những công trình kiến trúc đầu tiên, có thể chia ra hai loại:

-         Loại thực dụng, như  nhà ở, chuồng trại chăn nuôi thú vật, …

-         Loại thỏa mãn tinh thần như  đền thờ, tháp.

            Dần dần, hai nhu cầu đó hòa hợp với nhau trong một công trình kiến trúc, và ngôi nhà ở cũng phải được trình bày, trang trí đẹp để thỏa mãn tinh thần.

            Ngày nay, chúng ta có thể thấy hai loại không gian  kiến trúc như sau:

            + Không gian sinh tồn thực dụng: nhà ở, bếp, cửa hàng, bãi bến xe tàu, nhà máy .v.v… , đó là mục đích thứ nhất. Còn mục đích thứ hai là trình bày đẹp theo những quan điểm thẩm mĩ khác nhau.

            + Không gian sinh tồn tinh thần: bàn thờ tổ tiên, rạp hát, công viên, quảng trường,  đền miếu nhà thờ, lăng mộ, …

            (Cả hai đều là không gian sinh tồn, không nên coi  không gian tinh thần chỉ là giải trí đơn thuần).

            (Một số công trình kiến trúc không gian sinh tồn tinh thần rất nổi tiếng trên thế giới đã trở thành niềm tự hào của các dân tộc và của loài người như: Điện Pacthenon thờ thần Apollon ở Hi Lạp, nhà thờ Đức bà Paris ở Pháp, đền thờ-lăng mộ Taj Mahal ở Ấn Độ, tháp Eiffel ở Paris, pháo đài Brecht và cung điện Kremlin  ở Nga, Nhà thờ lớn Hà Nội, nhà thờ Phát Diệm (Ninh Bình), Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh . . . Mỗi đất nước đều tự hào về những công trình kiến trúc tiêu biểu của mình, đặc biệt là những công trình kiến trúc tinh thần) .

            1 – ĐIÊU KHẮC

                  (雕 刻 diāo  kè)    Sculpture

                 1.1 – Khái niệm:

            Nghệ thuật  tạo hình ba chiều và hai chiều rưỡi.

            Từ xa xưa còn để lại những hình khắc trong hang động, trên những công cụ bằng đá, đồ gốm, đồ đồng và những bức tượng thô sơ. Đó là những tác phẩm điêu khắc đầu tiên.

            Tác phẩm điêu khắc chủ yếu mang giá trị tinh thần, dùng để trang trí, xem ngắm, để tưởng nhớ, tưởng niệm người, vật đã mất. Tác phẩm điêu khắc còn thể hiện một niềm tin hướng về như tượng thần linh và những hình ảnh thiên nhiên kì thú, bí ẩn  hoặc bộc lộ một khát vọng sống.

                1.2 – Phân loại

  • Tượng tròn: thể hiện trong không gian ba chiều, nghĩa là tồn tại giống như thật.
  • Phù điêu: còn gọi là điêu khắc nổi, đắp nổi, tồn tại trong không gian hai chiều rưỡi.
  • Tượng đài kỉ niệm: tượng tròn đặt cố định ở ngoài trời hay một nơi công cộng.
  • Tượng trang trí: tượng tròn hoặc phù điêu gắn liền vào một công trình kiến trúc, có thể ở mặt trong hoặc ngoài công trình.

              1.3 – Chất liệu

            Đá, gỗ, đồng, đất nung, xi măng, … và vật liệu tổng hợp. Ít khi tô màu (chỉ có một số tượng tôn giáo ưa tô màu, có lẽ nhằm phục vụ quần chúng bình dân),  phần lớn  để nguyên màu sắc tự nhiên của chất liệu.

               1.4 – Ngôn ngữ của tác phẩm điêu khắc

-         Khối

-         Nét

-         Mảng

            Ba yếu tố này phối hợp với nhau tạo nên dáng điệu, tư thế sống động tự nhiên (thử so sánh với chụp hình để phân biệt “tự nhiên” và “bố trí sắp đặt”). Nhân vật của tác phẩm điêu khắc xuất hiện trong một bối cảnh lịch sử -xã hội nhất định (thuộc về thời quá khứ) được thể hiện trong tư thế “đối thoại” với công chúng  – một cuộc đối thoại ngầm! Ý nghĩa của tác phẩm chính là ở chỗ đó.

Thử tìm hiểu, phân tích một số tác phẩm điêu khắc như:

-         Tượng phật trong các chùa, tượng thánh trong các đình thần, tượng chúa ở các nhà thờ công giáo.

-         Tượng lãnh tụ, danh nhân:Thánh Gióng,Trần Hưng Đạo,Trần Nguyên Hãn, Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng,…

-         Những tượng đài khác: tượng đài trang trí nhà Bưu điện Sài Gòn, nhà hát thành phố Hà Nội và thành phố HCM.

-         Tượng thần Vệ Nữ (Venus), tượng thần Jupiter ở Hilạp, . . .

            2.  HỘI HỌA    

                (绘画/   huì  huà,    Fine Arts)

                   2.1 – Khái niệm

            Nghệ thuật  thể hiện trên một không gian hai chiều (mặt phẳng).

            Với hệ ngôn ngữ là: đường nét, sáng tối và màu sắc, ba yếu tố trên phối hợp với nhau tạo ra hòa sắc, nhịp điệu, tương phản trong các hình thái- kết cấu: tĩnh hoặc động.

            Bức tranh (tác phẩm hội họa) – giữ lại một khoảnh khắc của cuộc sống (tạm đứng yên)  là nơi nghệ sĩ bộc lộ xúc cảm của mình, giúp khán giả nhìn rõ đối tượng và cảm nhận được tâm tình của tác giả.

                 2 .2 – Một số cách phân loại tác phẩm hội họa:

  • Phân loại theo vị trí:

-         Bích họa (vẽ trên tường, hoành tráng ), vẽ ngay lên các công trình kiến trúc, màu bền như nước sơn, ghép đá, mảnh gốm, đồng, bạc, vàng. Ví dụ: tranh thánh trên vách tường, vòm nhà thờ, đình chùa và những công trình công cộng khác  với nhiều loại kích cỡ khác nhau.

-         Hội họa giá vẽ  – vẽ trên giấy, bìa, gỗ … có khung, nhìn chung kích cỡ nhỏ đủ để treo tường trong phòng ở.

  • Phân loại theo chất liệu:

-         Tranh kí họa chì

-         Tranh mực nho

-         Tranh màu nước

-         Tranh bột màu

-         Tranh sơn dầu

-         Tranh sơn mài ( trên gỗ )

-         Tranh lụa . . . ( trên lụa)

  • Phân loại theo đối tượng / chủ đề:

-         Tranh phong cảnh ( cảnh tự nhiên )

-         Tranh tĩnh vật ( cảnh bố trí, sắp đặt)

-         Tranh chân dung

-         Tranh thờ

-         Tranh cổ động

-         Tranh affix, quảng cáo

-         Tranh minh họa sách báo, .v.v…

  • Phân loại theo phương thức sáng tác  (phương pháp sáng tác)

-         Tranh  cổ điển

-         Tranh ấn tượng

-         Tranh siêu thực

-         Tranh hiện thực / tả thực

-         Tranh tượng trưng

-         Tranh biểu tượng

-         Tranh dân gian ..…

            Giới nghiên cứu điêu khắc và hội họa (mĩ thuật) đi tiên phong trong việc nghiên cứu nghệ thuật  học, họ có công hình thành những thuật ngữ cơ bản như  “hình tượng”,  “khắc họa” nhân vật , “chiếu sáng” , “tương phản” sáng tối, bôi đen, tô hồng, phóng đại, thu nhỏ, nhân vật trung tâm (nhân vật ở giữa bức tranh).

            3 . ÂM NHẠC    ( / yīn yuè)    Music

            Khái niệm

            Nghệ thuật của âm điệu, giai điệu, nhịp điệu và âm sắc tạo nên bởi giọng nói con người (thanh nhạc) và / hoặc phát ra từ  một công cụ đặc biệt  nhạc cụ, khí nhạc) – những nhạc cụ này tạo ra âm thanh khá phù hợp với giọng người. Âm nhạc thể hiện cảm xúc, tình cảm,  trực tiếp của con người, từ những tâm trạng tinh tế sâu kín đến những tư tưởng xã hội cao cả, đồng thời có khả năng miêu tả hiện thực sinh động của thế giới.

            Âm nhạc cũng co khả năng kích thích trí tưởng tượng phong phú của con người

            Tóm lại, hình tượng âm nhạc vừa mang tính trực tiếp cụ thể vừa mang tính gián tiếp trừu tượng.

            Hình tượng âm nhạc có độ dài thời gian, liên tục, tác động nhanh, mạnh đến tinh thần con người  theo hai hướng đối lập: hào hứng sôi sục hoặc trấn tĩnh, dịu lại đến mức u trầm.

            Âm nhạc có thể là tiếng nói tâm tình của một con người (Chị tôi, Chiều một mình qua phố, Tôi đưa em sang sông . . .)  và có thể là bản đồng ca của một tập đoàn người, hơn nữa, của cả cộng đồng (Quốc ca, Cùng nhau đi hồng binh, Hành quân xa, Bác đang cùng chúng cháu hành quân, Nối vòng tay lớn, Hành khúc thanh niên thế hệ HCM, Hành khúc Đội thiếu niên tiền phong …Việt nam quê hương tôi, The cup of life ).

            Phân loại

Thanh nhạc

Khí nhạc

+ đơn ca, song ca, tốp ca, đồng ca/ hợp xướng

+ Ca kịch

+ Nhạc kịch (Opera)

+ Pop, Rock ‘n’ Roll+ Độc tấu nhạc cụ

+ Hòa tấu ( thính phòng, giao hưởng )

Hoặc: prelude, concerto, overture, sonatte,

Symphonie

Một cách phân loại khác: Nhạc nhẹ (nội dung cấu trúc đơn giản) và nhạc cổ điển (phong phú phức tạp hơn), nhạc đồng quê, nhạc cung đình, nhạc nghi lễ,. . .

            4 –  MÚA

                 ( /   wǔ  dǎo)   Dancing

            Là một nghệ thuật  âm nhạc- tạo hình dùng ngôn ngữ đặc biệt là cơ thể con người  vận động  theo cùng âm nhạc.

            Nói cách khác, múa là nghệ thuật  điêu khắc bằng chất liệu con người, song song tồn tại với bản nhạc.

                Phân loại:

-         Múa dân gian

-         Múa cung đình

-         Múa giải trí (khiêu vũ )

-         Múa nghi lễ tôn giáo

-         Kịch múa (vũ kịch / ballet)

            Có thể phân loại cách khác theo số người chơi: múa đơn, múa đôi, múa tập thể

                        Ở phương Tây, múa đặc biệt phát triển và có truyền thống từ lâu đời. Có một hình thức nhảy múa giải trí, sinh hoạt rất phổ biến gọi là “vũ quốc tế”, đang lan sang nước ta  từ đầu thế kỉ 20 nhưng đến nay vẫn còn thu hẹp ở những thành phố lớn. Vũ quốc tế chủ yếu gồm 2 nhóm: vũ cổ điển vốn của giới quí tộc Châu Âu sáng tác và sinh hoạt thế kỉ 18,19 và vũ hiện đại sáng tạo trong thế kỉ 20  gồm cả châu Âu và Châu Mĩ Latinh.

            5  .   SÂN KHẤU – KỊCH

                             (  jù:  kịch, : hí kịch) /   Drama       

            Là một nghệ thuật phức hợp, cần tách ra hai thành phần để nghiên cứu:

            + Kịch bản văn học (hoặc kịch bản âm nhạc)

            + Nghệ thuật sân khấu: diễn viên, điêu khắc-hội họa (dựng cảnh, hóa trang, phục trang), ánh sáng, âm nhạc minh họa, âm thanh tiếng động, kĩ thuật khác.

            Ở đây, chúng ta chỉ chú ý phần kịch bản văn học của thể loại kịch nói.

            Kịch xuất hiện sớm nhất có lẽ ở Hi Lạp thời cổ đại – khoảng thế kỉ 5 trước Công nguyên. Theo nhà mĩ học Aristote (384–322 trước CN) viết trong cuốn Thi pháp            (Poetika), một vở kịch có 6 thành phần cơ bản.

  1. Cốt truyện   2. Tính cách   3. Lời thoại (đài từ)    4. Ca khúc của dàn đồng ca

        5. Trang trí    6. Tư tưởng

            Cốt truyện có ba phần chính:

-         Thắt nút

-         Cao trào

-         Mở nút

            Vở kịch bảo đảm theo qui tắc “tam nhất”:

-         một hành động chính (hành động xuyên)

-         một không gian (một địa điểm xảy ra câu chuyện)

-         một ngày (câu chuyện kịch xảy ra không quá một ngày)

            Phân loại:  tạm đưa ra ba cách phân loại kịch:

            A – Phân loại theo hình thứ (kịch dân ca)

                        + kịch thơ

                        + kịch nói (drama)

                        + kịch múa (ballet)

                        + kịch hát   (opera )

                        + kịch câm (pantomime)

                        + kịch rối / múa rối

            B – Phân loại theo cảm hứng chủ đạo:

                        + Bi kịch

                        + Hài kịch

                        + Chính kịch

            C – Kịch hiện đại với nhiều biến đổi, thể nghiệm chưa thể phân loại ổn định.

6.  ĐIỆN ẢNH / PHIM (còn gọi Nghệ thuật  thứ 7)  

         ( diàn yǐng / diàn shì liánxù jù)  cinema/movies/ film

      Điện ảnh bắt nguồn từ kĩ thuật “nhiếp ảnh” (摄 影 / 摄 影  shè yǐng : lấy ảnh), do đó chúng ta hãy tìm hiểu đôi nét về nghệ thuật nhiếp ảnh (photography).

      Nhiếp ảnh ban đầu là một kĩ thuật tạo hình bằng máy, nhằm ghi lại một hình tượng theo kiểu điêu khắc– hội họa, về sau tìm tòi ngôn ngữ và cách biểu hiện đặc trưng nên đã trở thành một nghệ thuật hẳn hoi. Ngôn ngữ chính là: ánh sáng, góc độ

(ống kính), bố cục, không nhằm chụp để lưu giữ hình ảnh của đối tượng mà nhằm thể hiện một tình cảm, quan niệm, thái độ và tư tưởng của nghệ sĩ.

      Điện ảnh  là một dạng “nhiếp ảnh di động, liên tục”, là một “sân khấu cuộc đời” trải rộng theo mọi chiều kích không gian và thời gian.

      Điện ảnh là một thể phối hợp nhiều thể loại nghệ thuật và kĩ thuật.

      Điện ảnh gồm các thành phần sáng tạo sau:

                  + kịch bản văn học

                  + kịch  bản phân cảnh

                  + họa  sĩ thiết kế ( theo sau phân cảnh )

                  + đạo diễn

                  + diễn viên

                  + quay phim

                  + biên tập / dựng phim (montagne)

                  + hóa  trang, phục trang, đạo cụ, ánh sáng, tiếng động

Phân loại:

       Gồm phim tài liệu, khoa học, giáo dục và phim truyện (non – fiction và fiction movie/picture). Phim truyện là thể loại nghệ thuật, sáng tạo giá trị thẩm mĩ, còn phim tài liệu không thuộc phạm vi nghệ thuật.

        

  7 – VĂN HỌC

                       ( wén  zhāng   wén  xué), Literature

            Mục văn học được đặt cuối cùng nhằm mục đích nói lên tính chất tổng hợp, đa dạng, phong phú nhất của một loại hình nghệ thuật đặc biệt, cũng là bộ môn nghiên cứu của khoa Ngữ văn.

            Thực ra, văn chương có thể xếp ở vị trí ra đời sau “múa” , trước “kịch”. Văn chương ra đời khi con người đã tạo cho mình một ngôn ngữ khá ổn định và tinh tế.

            1 – Khái niệm

      Văn  có hai khái niệm :

Văn chương : là văn nghệ thuật / ngôn từ nghệ thuật

Văn học:  là khoa học nghiên cứu văn chương

(Tùy theo từng nơi  từng lúc mà dùng văn học hoặc văn chương cho thích hợp )

Trong thực tế người ta quen dùng văn học thay văn chương.

Văn chương là nghệ thuật ngôn ngữ, ai cũng sáng tạo và sử dụng suốt cuộc đời. Hai thứ văn sinh hoạt giao tiếp và văn nghệ thuật  pha trộn xen kẽ trong sự tồn tại của con người . Văn học thì nghiên cứu thưởng thức văn chương.

Văn có mặt trong mọi loại hình nghệ thuật bằng lời văn trực tiếp (lời ca / ca từ, lời thoại)  hoặc chất văn ngầm (trong pho tượng, bức tranh, điệu múa…).

Một tác phẩm văn chương cũng chứa đựng mọi khả năng thể hiện của các nghệ thuật  khác.

Trước hết, văn là nghệ thuật  của ngôn ngữ dân tộc. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu gián tiếp tái hiện và biểu hiện con người và cuộc sống. Khi đọc / nghe lời văn, người ta phải tự mình tái hiện, tưởng tượng ra cái nội dung của nó.

 

2 – Phân loại

-         Thơ   (thơ trữ tình, thơ sử thi)

-         Văn xuôi  (truyện, kí, nghị luận)

-         Kịch   (kịch thơ, kịch hát, kịch nói )

            3 – Quan niệm văn học của phương Đông

     Văn học  bao gồm 5 phạm trù: Văn – Đạo – Tâm – Chí – Mĩ.

            Chúng ta hãy xét từng phạm trù.

               ĐẠO ( /dào)

            Khái niệm triết học cổ phương Đông do Lão Tử nêu lên.

            Đạo là nguyên lí tối cao bao quát thế giới, điều hành thế giới và con người.

            Đạo không sinh không diệt, không tăng không giảm, khó nắm bắt.

            Đạo gồm 2 thể: vô và hữu.

            Theo Lão Tử, con người chỉ việc sống theo tự nhiên

            Khổng Tử giảng: Đạo là lẽ trời, qui định quan hệ xã hội (quan niệm hẹp hơn Lão Tử)

 .          Đạo gồm 5 chữ: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín

Đạo được coi trọng hàng đầu trong văn chương phương Đông và Việt Nam:

            “Văn dĩ tải đạo” (văn thì chở đạo),  chở : hơi thụ động !

            “Văn dĩ minh đạo” (văn làm sáng đạo)

            Lại có quan niệm đối lập  “Tác văn hại đạo” (làm văn thì gây hại cho đạo)

Sâu xa, biện chứng hơn:

            “ Đạo là gốc, văn là cành lá”

            “Văn dĩ quán đạo” , “Văn dĩ hoàng đạo” (Tô Đông Pha)

            Lê Quí Đôn nhận xét độc đáo: “Có ba loại văn : Văn trời, văn đất, văn người”, tức là văn rộng hơn ngôn ngữ con người  (THIÊN ĐỊA NHÂN VĂN ).

            Đồ Chiểu:    “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm

                                     đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”

            Vậy Đạo là qui luật khách quan bao gồm cả qui luật chủ quan, do cái Tâm giữ vai trò điều phối, sao cho hài hòa tam tài Thiên – Địa – Nhân.

      

  TÂM VÀ CHÍ  [ xīn ,  zhì ]

            Tâm là thiện, lành, tận thiện, tâm cần sáng (minh tâm).

            Tâm là đức hạn, là phẩm chất căn bản của văn.

            Tâm thăng trầm khi tốt khi xấu (khi sáng khi tối), nên phải giữ gìn.

Khi tâm phát khởi một ý muốn nung nấu thành hành động, gọi là CHÍ. Chí gắn với sự lập thân và xác định lí tưởng sống.

            Người có tâm chí ưa phát lộ lời văn, có người mắc chứng kiêu bạc, khinh mạn thế nhân (mục hạ vô nhân).Vậy cần giữ tâm hồn bình đạm, ung dung, lời nói cốt đạt ý. Học vấn uyên bác thì lời nói giản dị mà hấp dẫn.

            Thơ là để nói chí: “Thi ngôn chí ” ( )          

Nguyễn Trãi viết về Lê Lợi  trong  bài văn “Hạ qui Lam Sơn”:

                “Nhớ khi xưa Lam Sơn xem sách võ kinh,

                  Bấy giờ chí đã ở dân đen rồi”

            “Chí ” có 2 phương diện:

-  Đại chí: hướng ngoại, xã hội, thế giới

- Tiểu chí: cách sống riêng với tấm lòng bên trong, còn gọi là “chí bình sinh”.

Đó là cách phân chia tương đối, thực ra “chí“ bao hàm cả xã hội và cái riêng, khó tách biệt thành “đại” và “tiểu” như  trên.

        MĨ

 “Văn thơ là sắc đẹp ngoài mọi sắc đẹp, vị ngon ngoài cả vị ngon, không thể dùng mắt, miệng tầm thường mà biết được” (Hoàng Đức Lương hoàng giáp tiến sĩ  thời Hồng Đức, 1468 ).

            Phan Huy Chú, Lê Quí Đôn đều coi Mĩ là tiêu chí cơ bản để đánh giá văn chương .Mĩ là sự hòa quyện “tâm pháp” và “ngôn pháp”,  tạo ra sự huyền diệu lung linh.

            Đỗ Phủ viết: “Làm người tính thích câu văn đẹp

                             Đọc chẳng kinh người, chết chửa nguôi

Khổng Tử dạy “lời không văn vẻ thì không đi được xa”. “Văn vẻ” chính là cái Mĩ vậy.

Cổ đại Hi Lạp ca ngợi những người anh hùng biết nói những lời “có cánh”

      VĂN : Tổng hợp các tố chất Đạo, Tâm, Chí, Mĩ  trong một ngôn từ nghệ thuật: ấy là Văn. Lê Quí Đôn bàn về bản chất của văn học: “Hòa thuận chứa ở trong, anh hoa phát ra ngoài, đặt đường kinh đường vĩ cho trời đất, đó là đại văn chương” (trong sách Vân Đài loại ngữ).

  BẢY  LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT có thể chia ra thành 2 nhóm

            Loại hình  nghệ thuật  không gian

            Tác phẩm nghệ thuật  tồn tại với một không gian nhất định và phi thời gian. Đối tượng được thể hiện trong tác phẩm dường như “đứng yên” không vận động theo thời gian. Đó là điêu khắc, hội họa  và nhiếp ảnh (tượng, tranh và ảnh ).

            Trong loại hình này, tác giả có quan niệm riêng về không gian, gọi là “không gian nghệ thuật” . Mỗi nghệ sĩ ưa thích một không gian nào đó và miêu tả nó phù hợp cách nhìn của mình.        

            Loại hình nghệ thuật  thời gian

            Tác phẩm nghệ thuật được diễn ra trong một thời gian nhất định, có vẻ sinh động như thực tế. Đó là âm nhạc, múa, văn chương, kịch và phim truyện.

             Tác phẩm văn chương bao gồm cả không gian và thời gian  nhưng thiên về thời gian (nội dung vận động, nhân quả, có đầu có cuối). Ví dụ: nhà thơ Đỗ Phủ, Lí Bạch thời trẻ thích làm thơ về núi cao để tỏ chí lớn. Bà Huyện Thanh Quan ưa chọn nơi vắng vẻ, điêu tàn để tâm sự, ngay cả khi đứng giữa chốn đô thị náo nhiệt nhưng bà cảm thấy “lối xưa xe ngựa hồn thu thảo …”.

            “Thời gian nghệ thuật” và “không gian nghệ thuật”  đều  là sự sáng tạo của nghệ sĩ,  nó khác với thời gian, không gian vũ trụ  khách quan. Ví dụ: thời gian nghệ thuật khác nhau trong các tiểu thuyết Tam quốc diễn  nghĩa (La Quán Trung), Hồng lâu mộng (Tào Tuyết Cần), Gặp gỡ cuối năm (Nguyễn Khải ) …

 

7.6   Chức năng của nghệ thuật 

 

            1   Giải trí thẩm mĩ

            Nghệ thuật  trước hết thỏa mãn những khoái cảm thẩm mĩ (cảm xúc thẩm mĩ ) của con ngừơi, nó khác xa với những thứ giải trí khác như thể thao, trò chơi – games. Chức năng thẩm mĩ phải gắn liền với các chức năng sau như nhận thức (Chân) và giáo dục (Thiện).

            2  Nhận thức

            Qua tác phẩm nghệ thuật, công chúng hiểu biết nhiều hơn hoặc sâu sắc hơn về con người và cuộc sống.

            3   Giáo dục

            Tác phẩm nghệ thuật trình bày những hoàn cảnh cuộc sống, công chúng nghệ thuật  tự giáo dục mình khi thưởng thức.

            4  Dự báo

            Nghệ sĩ có thể nêu lên dự báo của họ về cuộc sống, nhưng công chúng cũng có thể qua tác phẩm nghệ thuật mà nhận thấy chiều hướng đi của con người và xã hội.

            5   Giao tiếp

            Trước hết, nghệ sĩ viết tác phẩm chính là vì nhu cầu gởi bạn tri âm. (Câu thơ nghĩ đắn đo chưa viết, viết đưa ai ai biết mà đưa – Nguyễn Khuyến ).

            Khi công chúng thưởng thức tác phẩm nghệ thuật, mỗi người tự tạo ra một  tác phẩm” riêng  trong tâm trí mình và có nhu cầu trao đổi với người khác (cũng đi tìm bạn tri kỉ). Nhờ chức năng giao tiếp, sinh hoạt văn học nghệ thuật sôi nổi hơn và có hiệu quả cao hơn. Văn học dân gian  truyền miệng tồn tại và phát triển chính là nhờ sự giao tiếp đó.

˜œ™

\

       

 


BÀI 8                   GIÁO DỤC THẨM MĨ

 

              Hai căn bệnh trong đời sống thẩm mĩ

              Nội dung và phương hướng giáo dục thẩm mĩ trong nhà trường trung học

              Giáo dục thẩm mĩ  trong bộ môn Văn Học 

                 Hãy bắt đầu bằng cách phê phán 2 căn bệnh thẩm mĩ

8.1  Chống hai căn bệnh trong đời sống thẩm mĩ

 

            Đó là “chủ nghĩa hình thức”  và  “chủ nghĩa tự nhiên”.

Lưu ý cặp phạm trù nội dung và hình thức trong sinh hoạt thẩm mĩ. Sự thiên lệch, mất hài hòa thẩm mĩ sẽ dẫn đến hai căn bệnh nói trên.

               Bệnh hình thức chủ nghĩa

            Coi trọng vẻ đẹp bề ngoài mà coi thường nội dung bên trong.

Chẳng hạn: trang điểm đẹp nhưng lời nói, cử chỉ, hành động tầm thường; nói hay nhưng làm dở; phô trương hình thức, quảng cáo ầm ĩ, lòe loẹt, bừa bãi che đậy chất lượng kém .v.v…Trong sáng tác nghệ thuật, họ cố tạo ra vẻ ngoài hấp dẫn, đặc biệt là cái bìa, cái tựa đề hoặc lời văn chau chuốt, hình tượng kì lạ, giật gân… để lôi cuốn công chúng.

            Nguyên nhân của căn bệnh hình thức chủ nghĩa, có 2 loại:

            + Do năng lực thẩm mĩ yếu kém, chưa có tri thức đầy đủ về cái đẹp

            + Có ý đồ vụ lợi cá nhân, nên lợi dụng sự yếu kém thẩm mĩ của bộ phận công chúng để trục lợi.

              Bệnh tự nhiên chủ nghĩa

            Thích vẻ đẹp tự nhiên, trần trụi mà coi nhẹ nghệ thuật, văn hóa xã hội.

Chẳng hạn, kiểu đầu xù tóc rối, móng tay dài; ăn mặc luộm thuộm tùy tiện, lời nói cộc lốc, thô tục,…gây khó chịu cho người khác. Trong sáng tác nghệ thuật, tác giả cố ý kích thích tính sinh học của con người (thú tính) một cách quá mức để lôi cuốn công chúng – nhất là tuổi trẻ – nhằm mục đích vụ lợi cá nhân hoặc âm mưu chính trị, chống phá hủy hoại văn hóa dân tộc.

     (chẳng hạn: tác phẩm lạm dụng chủ đề tình yêu trai gái vốn là một thứ tình cảm say đắm của con người, gợi dục (sexy); trình bày lạm dụng cảnh bạo lực cũng nhằm kích động “tính rừng, luật rừng” vốn là bản tính tự nhiên xa xưa của con người (Tiếng gọi nơi hoang dã / A Call from the Jungle– tiểu thuyết của nhà văn Mĩ  Jack London đã cảnh báo nguy cơ đó ).

            Làm thế nào để chữa trị hai căn bệnh nói trên?

            Cách tốt nhất là giáo dục thẩm mĩ: nâng cao năng lực thẩm mĩ cho học sinh và quần chúng.

            Mặt khác, pháp luật cần phải ngăn ngừa, nghiêm khắc trừng phạt những kẻ phạm tội phá hoại đời sống thẩm mĩ của xã hội.

             8.2  Nội dung và phương hướng giáo dục thẩm mĩ trong  trường trung học

            Giáo dục ý thức thẩm mĩ

            Nhận thức thẩm mĩ đầu tiên gồm tình cảm thẩm mĩ và tri thức thẩm mĩ. Hai tố chất này liên quan mật thiết, tác động lẫn nhau. Tri thức thẩm mĩ cơ bản là toàn bộ kiến thức mĩ học đã được trình bày trong bộ môn này. Từ đây, hình thành những thị hiếu thẩm mĩ và lí tưởng thẩm mĩ  cho học sinh.

             Giáo dục về cái đẹp

            Nhiệm vụ trung tâm của giáo dục thẩm mĩ là giáo dục về cái đẹp. Nếu học sinh hiểu biết đúng đắn về cái đẹp thì sẽ có ước mơ, ý chí phấn đấu biến hiện thực thành “vương quốc bao la của cái đẹp ”.

            Cái đẹp chân chính có khả năng “thanh lọc tâm hồn” khiến con người bồi dưỡng cho mình “đôi mắt xanh”, đôi mắt tinh đời để nhận rõ những vẻ đẹp cổ điển mà trước nay chưa biết  nên đã bỏ qua, và những vẻ đẹp mới nảy sinh, vẻ đẹp Việt Nam trong thời kì đổi mới. Đâu là cái đẹp Việt Nam ? Cái đẹp truyền thống và hiện đại đều có quyền tồn tại vì nó` đều thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người.

                 “Đẹp nết” mãi mãi là tiêu chuẩn không thể thiếu của con người.

            Một cuộc sống đẹp là sự kết hợp hài hòa từ học tập đến sinh hoạt, lao động, trong nhà trường, gia đình và xã hội.

            Học sinh cần có ý thức giữ gìn sạch đẹp từ bản thân đến môi trường  tự nhiên và xã hội.

            Khi đã có tri thức về cái đẹp, con người sẽ nhìn rõ cái xấu, cái hài kịch để mà ngăn cản, phê phán, biết cảm thông sâu sắc với cái bi kịch, đồng thời nâng cao ước mơ khát vọng hướng tới cái trác tuyệt.

            8.3  Giáo dục thẩm mĩ  trong bộ môn Văn – tiếng Việt

             Trước hết, tiếng  Việt là tiếng nói dân tộc với chức năng công cụ trong giao tiếp, sinh hoạt, thể hiện thái độ ứng xử của người Việt. Tiếng Việt còn là kí ức dân tộc, là lịch sử, là thành tựu văn hóa và thẩm mĩ đặc sắc vào bậc nhất.

            Tiếng Việt còn là ngôn từ nghệ thuật, gắn liền với Đạo, Tâm, Chí, Mĩ. Văn chương  tiếng Việt có khả năng miêu tả trực tiếp hoặc chuyển ngữ những ngoại ngữ khác (dịch ra Việt ngữ):

            +  Mọi vẻ đẹp của cuộc sống,

            +  Sự phong phú, phức tạp của tâm hồn người

            + Tất cả các phạm trù thẩm mĩ.

            Môn Ngữ Văn giữ vai trò quan trọng trong nhà trường phổ thông với 2 chức năng đan xen hòa hợp: 

                               – Là một khoa học nhân văn – xã hội  (tính khoa học)

       – Là một nghệ thuật  ngôn từ              (tính nghệ thuật)

 

 

k


ÔN TẬP  VÀ BÀI TẬP

 

I – Lí thuyết

            1)  Quan niệm của chủ nghĩa Mác -Lê nin về: Cái đẹp, Cái bi kịch, Cái trác tuyệt và Cái hài kịch.

            2)  Xác định những mối liên hệ giữa những tình cảm thẩm mĩ của 4 phạm trù thẩm mĩ cơ bản.

            3) Hãy trình bày một dạng lịch sử mĩ học thông qua những nhân vật lí tưởng.

            4) Trình bày các dạng thức bi kịch chủ yếu.

            5) Trình bày khái quát 7 loại hình nghệ thuật cơ bản, sau đó sắp xếp chúng vào 3 phương thức.

            6)  Trình bày đặc trưng thẩm mĩ của Văn học

7)      Giáo dục thẩm mĩ và vai trò bộ môn Văn – Tiếng Việt trong nhà trường

 

II – Thực hành

            8)  Tìm hiểu những vẻ đẹp chứa đựng trong các tác phẩm nghệ thuật  sau:

                        + Bài Ca dao 1:

Hỡi cô tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi ?

                        + Bài ca dao 2: Cây trúc xinh

                        + Bài ca dao 3:

                  Trên trời có đám mây xanh

      Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng

                  Ước gì anh lấy được nàng

      Để anh mua gạch Bát Tràng về xây

                  Xây dọc rồi lại xây ngang

      Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân

                  Có rửa thì rửa chân tay

      Chớ rửa lông mày chết cá ao anh.

                        + Bài dân ca Nam bộ “Ru con”

            + Bài thơ “Mùa xuân chín” của Hàn Mạc Tử

            + Bài hát “Trường làng em” của Phạm Trọng Cầu

            +  Bức tranh “Thiếu nữ bên hoa huệ” của Trần Văn Cẩn

            + Các bức tượng: Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc, Bác Tôn ở vườn hoa Long Xuyên,

                                         tượng Bác Hồ ở vườn hoa trước cửa Ủy ban nhân dânTPHCM

                        + Bài thơ “Cảnh khuya” của Hồ Chí Minh

                        + Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”  của Huy Cận

                        + Truyện ngắn “Dưới bóng hoàng lan” của Thạch Lam

                        + Truyện vừa  “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố

            + Ca từ “Nhớ mùa thu Hà Nội” của Trịnh Công Sơn “Hà Nội mùa thu/ cây cơm nguội vàng/ cây bàng lá đỏ/ Nằm kề bên nhau /phố xưa nhà cổ/ mái ngói thâm nâu/ … Hồ Tây chiều thu/ mặt nước vàng lay/ bờ xa mời gọi/ màu sương thương nhớ/ bầy sâm cầm nhỏ/ vỗ cánh mặt trời …”

            + Ca dao “Mười thương“: Một thương tóc bỏ đuôi gà/ hai thương ăn nói mặn mà có duyên/ ba thương má lúm đồng tiền/ bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua/ Năm thương cổ yếm đeo bùa/ sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng/ Bày thương nết ở khôn ngoan/ tám thương ăn nói nhẹ nhàng thêm xinh/ Chín thương em ở một mình/ mười thương con mắt hữu tình với ai

             9)   Tìm hiểu nội dung của cái trác tuyệt trong các tác phẩm sau:

                        + Truyện ngắn “Trái tim Đan cô” (M. Gorki)

                        + Bức tượng Quán Thế Âm Bồ Tát ngàn mắt ngàn tay

                        + Hình tượng Hồ Chí Minh trong “Nhật kí trong tù”

                        + Hình ảnh nhân dân trong tập thơ Việt Bắc (Tố Hữu).

                        + Bình Ngô  đại cáo (Nguyễn Trãi)

                        + Chữ người tử tù   (Nguyễn Tuân)

            10)  Tìm hiểu những dạng thức bi kịch trong các tác phẩm sau:

                        + Mị Châu Trọng Thủy và An Dương vương

                        + Truyện Kiều

                        + Tràng giang (Huy Cận)

                        + Chí Phèo

                        + Lão Hạc

            11)   Hãy kể và phân tích 3 truyện tiếu lâm Việt Nam

            12)   Phân tích nhân vật  Giuốc đanh (Jurdin) trong vở kịch “Gã tư sản học đòi quí tộc” của Molier.

            13)  Tìm hiểu quan điểm mĩ học của nhà thơ  trong  tác phẩm sau:

             Bài ca sắc đẹp

(Charles Baudelaire- nhà thơ Pháp)

Ngươi đến từ trời sâu hay ngươi ra từ vực thẳm

ôi sắc đẹp ! Cái nhìn của ngươi thuộc về địa ngục và thần linh

nó trút ra một cách lộn xộn cả tội ác và lòng từ thiện

Bởi thế người ta ví ngươi như rượu bồ đào

Ngươi mang trong mắt ngươi tà dương và rạng đông

Ngươi phát ra những hương thơm như một chiều dông bão

Những chiếc hôn của ngươi là một tấm bùa yêu và miệng ngươi là một chiếc bình

Chúng làm cho người anh hùng thành hèn nhát và đứa bé con thành can đảm

Ngươi chui ra đây từ vực thẳm đen ngòm hay xuống đây từ các vì sao?

Số mệnh bị mê hoặc đi theo những cái váy ngắn của ngươi như một con chó

Ngươi liều lĩnh gieo rắc lạc thú và tai ương

Ngươi cai quản tất cả và không chịu trách nhiệm gì hết

Hỡi Sắc đẹp, ngươi bước chân lên trên những người chết mà còn cười nhạo

Từ trong những vật trang sức xinh đẹp của ngươi,

Nỗi khủng khiếp không kém phần quyến rũ

Và trong số những vật trang sức thân yêu của ngươi,

Tội Sát Nhân đang khiêu vũ một cách đa tình trên cái bụng kiêu hãnh của ngươi

 Con thiêu thân bị quáng mắt đang bay về phía ngươi như bay vào ngọn nến

Nó đang nổ lốp bốp, bốc cháy và nói rằng: xin hãy cầu phúc cho ngọn nến này!

Người tình nhân đang thở hổn hển nghiêng mình trên người yêu của mình

Có dáng vẻ của một người hấp hối đang vuốt ve ngôi mộ của anh.

Dù ngươi từ trên trời xuống hay từ địa ngục lên cũng chẳng hề chi

Hỡi Sắc Đẹp! Con quái vật khổng lồ khủng khiếp và chất phác!

Nếu con mắt của ngươi, nụ cười của ngươi, chân của ngươi mở ra cho ta

cửa đi vào cõi vô tận mà ta yêu mến và chưa hề biết bao giờ .

Đó là quỉ Sa tăng hay là Thượng đế, là Thiên thần hay Nữ thần nửa người nửa cá  cũng chẳng hề chi

Cũng chẳng hề chi miễn là ngươi tạo nên được – nàng tiên có đôi mắt nhung,

Nhịp điệu, hương thơm, ánh sáng, ôi bà hoàng hậu duy nhất của ta!

Cái vũ trụ ít sâu xa hơn và những thời khắc ít nặng nề hơn ?

(Nguyên tác bài thơ tiếng Pháp là: Hymne à la Beauté in trong tập Les Fleurs du Mal: Những Bông Hoa Ác của Charles Baudelaire – nhà thơ tượng trưng Pháp đầu thế kỉ XX).

14)              Bình giảng bài thơ “Lá diêu bông” của nhà thơ Hoàng Cầm, qua đó tìm

          hiểu quan  niệm thẩm mĩ của tác giả.

 Váy Đình Bảng buông trùng cửa võng

Chị thẩn thơ đi tìm

đồng chiều cuống rạ. . .

   Chị bảo

- Đứa nào tìm được lá Diêu bông

từ nay ta gọi là chồng

Hai ngày

Em tìm thấy lá

Chị chau mày

-         đâu phải Lá Diêu Bông !

Mùa đông sau

Em tìm thấy lá

Chị lắc đầu

trông nắng vãn bên sông

 

Ngày cưới chị

Em tìm thấy lá

Chị cười

xe chỉ ấm trôn kim

 

Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xòe tay phủ mặt

chị không nhìn

Từ thuở ấy

         em cầm chiếc lá

                                                              đi đầu non cuối bể

                              gió quê vi vút gọi

-  Diêu bông hời . . .

    . . . ới diêu bông . . . !

 [Gợi ý tìm hiểu: chiếc “lá diêu bông” là biểu tượng của một tình yêu lí tưởng, một tác phẩm lí tưởng, một cái đẹp hoàn hảo ... rất khó tìm thấy ]

15) So sánh tài năng âm nhạc của Chu Du và kĩ nữ đàn tranh trong bài thơ sau:

Minh tranh    鸣筝

Lí Đoan  李端

鸣筝金粟柱

素手玉房前

欲得周郎顾

           时时误拂线

Míng zhēng jīn sù zhù

Sù shǒu yù fáng qián

Yù dè Zhōu  Lāng gù

       Shí shí wú fú xián

  Dịch nghĩa

Đàn minh tranh, trụ dây bằng vàng

Bàn tay trắng đẹp ở  trên phím ngọc

Muốn được Chu lang nhìn đến

thi thoảng gảy sai dây đàn

    Phiên âm Hán Việt

Minh tranh kim túc trụ

Tố thủ ngọc phòng tiền

Dục đắc Chu Lang cố

Thời thời ngộ phát huyền

dịch thơ

 Đàn tranh kim túc phím này

Ngọc phòng, tay trắng lựa dây ngắn dài

Chàng Chu dù chẳng đoái hoài

Hững hờ, thỉnh thoảng dạo sai cung đàn

[Trích Thi ca từ Trung Hoa, Phùng Hoài Ngọc biên soạn, Nhà xuất bản Đại học quốc gia tp. HCM, 2004]

Giai thoại Chu Du nghe đàn. Vốn say mê âm nhạc, khi rảnh việc binh, đại tướng Chu Du mời một kĩ nữ nổi tiếng đàn tranh đến biểu diễn.

Nàng kĩ nữ diễn tấu đàn tranh giỏi hơn Chu Du, cô rất vui sướng được mời đến. Khi nghe đàn, Chu Du nhắm nghiền đôi mắt. Cô lại muốn Chu Du mở mắt, nhìn mình…Thỉnh thoảng cô cố ý gảy sai một nốt, Chu Du mở bừng mắt, trừng trừng nhìn cô vẻ trách mắng…Cô hài lòng, lại gảy thật hay…

Nốt nhạc gảy sai do cô cố ý chọn trước chứ không phải khả năng kém… Chu Du nghe thấy biết liền- ấy là Chu Du có tài thẩm định âm nhạc, khả năng đánh giá giỏi hơn cô. Cô cũng biết thính giả là vậy nên mới nghĩ ra thủ đoạn độc đáo khiến chàng phải nhìn nàng một cái…

Họ đều là chủ thể nghệ thuật âm nhạc với những năng lực khác nhau.

Nhà thơ Lí Đoan đời Đường đã viết bài thơ “Minh tranh” về giai thoại Chu Du và kĩ nữ đàn tranh.

 Chú thích

 Tên loại đàn này là “Minh tranh”.  “cố”: nhìn lại.(chiếu cố nghĩa rộng là: quan tâm chú ý, giúp đỡ).

Hết
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1)  Mĩ học đại cương, Đỗ Văn Khang, Nxb Giáo Dục  1997

2)  Những bài giảng mĩ học, Hegel. Nxb Văn Học Hà Nội, Phan Ngọc dịch

3)      Nguyên lí mĩ học Mác Lê Nin. Tác giả: A. Lukin và  V.C. Skachersikov. Nhà xuất bản Moskva 1982, Nxb Sách giáo khoa  Mác Lê Nin, Hà Nội, Hoài Lam dịch

  4)  Cái đẹp  một giá trị, Hoài Lam. Nx b Văn hoá.

  5)  Mĩ học với tư cách là một khoa học, Đỗ Huy, Nxb Chính trị Quốc gia.1996

  6)  Mĩ học và giáo dục thẩm mĩ, Vũ Minh Tâm. Nxb Giáo Dục 1998

7)  Mĩ học đại cương, Lê Ngọc Trà, Huỳnh Như Phương, Lâm Vinh, Đại học Huế xuất bản.

8)  Bốn bài giảng mĩ học, tác giả GS Lý Trạch Hậu (Trung Quốc), Trần Đình Sử và Lê Tẩm  dịch, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội 2002

9)  Mĩ học, Hegel

           và nhiều tài liệu khác…

Ngõ hẻm  mùa Thu

Khởi công 15.10 1996

 hoàn thành bản thảo 2001

điều chỉnh 18 tháng 7 năm 2003

Phùng Hoài Ngọc

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 92 other followers

%d bloggers like this: