"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

THI PHÁP HỌC HIỆN ĐẠI

 Phùng Hoài Ngọc

đề cương bài giảng

Lưu hành nội bộ

ĐẠI HỌC AN GIANG  2006

—————————————————–

GS Trần Đình Sử ngồi hàng đầu, tóc bạc, đeo kính, thứ 3 từ trái sang,
Phùng Hoài Ngọc  hàng sau cùng, góc trái, đứng ngay dưới ngôi sao vàng.

LỜI NÓI ĐẦU

“Thi pháp học hiện đại” là bộ môn nghiên cứu văn học mới được xây dựng tương đối hoàn chỉnh ở thế kỉ XX. Đây là hướng nghiên cứu mới rất cần thiết để nâng cao năng lực chiếm lĩnh các giá trị văn học cho người đọc, nhất là giáo viên văn học và học sinh.

Nghiên cứu lí luận phê bình văn học là lĩnh vực phức tạp khó khăn, ít khi đạt được sự nhất trí cao. Công việc dạy văn học văn cũng có tình trạng tương tự. Hy vọng bộ môn thi pháp hoc hiện đại với sức mạnh khoa học của nó sẽ góp phần giải quyết được mâu thuẫn nói trên.

Trong chuyên đề này, phần lý thuyết được rút gọn, tăng cường phân tích tác phẩm văn học có trong chương trình phổ thông và một số tác phẩm quen thuộc khác. Nó chỉ gợi ý, góp phần mở rộng chân trời cảm thụ tác phẩm, chiếm lĩnh đặc trưng bản chất nghệ thuật, giúp sinh viên nâng cao tiềm lực, trau dồi cản nhận văn học. Người đọc chiếm lĩnh tác phẩm bằng cảm nhận có ý thức, có lí chứ không phải tuỳ hứng tuỳ tiện. Thi pháp học hiện đại cố gắng giúp người đọc văn chương thấy ngay những “hướng tiếp cận ” đơn giản để sau đó cảm nhận, tinh tế hơn, sâu sắc hơn.

Cấu trúc tài liệu

MỞ ĐẦU: THI PHÁP VÀ THI PHÁP HỌC

1. Khái niệm thi pháp và thi pháp học

      2. Ba đặc điểm của tác phẩm văn học

3. Bốn khái niệm cơ bản của thi pháp học

TÁM  KIỂU THI PHÁP CƠ BẢN TRONG SÁNG TẠO VĂN HỌC
  1. Thi pháp nhân vật
  2. Thi pháp không gian nghệ thuật
  3. Thi pháp thời gian nghệ thuật
  4. Thi pháp chi tiết nghệ thuật
  5. Thi pháp cốt truyện
  6. Thi pháp kết cấu
  7. Thi pháp lời văn nghệ thuật
  8. Thi pháp hình tượng tác giả
Kết luận

Thực hành-  luyện tập

Biên giả

Đại học An Giang 7.2006

PHẦN MỞ ĐẦU

 THI PHÁP VÀ THI PHÁP HỌC

I.  Dẫn nhập

Cho đến nay từ “thi pháp” đã khá quen thuộc với những người học tập nghiên cứu hoặc quan tâm đến văn học. Trên sách báo văn nghệ, người ta nhắc đến nhiều thi pháp tác phẩm, thi pháp tác giả, thi pháp thể loại, thi pháp thời kì…

Thi pháp là gì ?

Có nhiều cách hiểu khác nhau. Chung quy có hai cách:

Một là: coi thi pháp là nguyên tắc, biện pháp chung tạo ra tác phẩm nghệ thuật.

Thông thường gọi là “phương pháp làm thơ, làm văn”. Lí thuyết mang tính cổ điển, được lưu truyền nhằm bồi dưỡng nhà văn .

Hai là: hiểu thi pháp là nguyên tắc, biện pháp sáng tạo cụ thể, tạo thành đặc sắc nghệ thuật của một tác giả, tác phẩm, trào lưu, thể loại.v.v..

Cách thứ 1 gần với mĩ học, lý thuyết văn học, cách thứ 2 gần với phê bình thưởng thức tiếp nhận những hiện tượng văn học nghệ thuật.

Nghiên cứu thi pháp gọi là thi pháp học.

Hai kiểu thi pháp học nói trên đều có mục đích khám phá nguyên tắc phổ  biến hoặc cụ thể lịch sử đã tạo ra nghệ thuật. Tóm lại: Thi pháp học hiện đại là môn chuyên nghiên cứu các hệ thống nghệ thuật cụ thể. Thi pháp học là một khoa học ứng dụng trong văn học, gần gũi với phân tích phê bình và nghiên cứu văn học.

Thi pháp học gần gũi với lí luận văn học nhưng vẫn khác, thử so sánh:

  • Lí luận văn học thiên về nghiên cứu các quy luật chung của hiện tượng văn học. còn thi pháp học thiên về nghiên cứu các tác phẩm, thể loại, tác giả, phong cách, trào lưu, ngôn ngữ, nguyên tắc đặc thù tạo thành hiện tượng văn học cụ thể mà thôi.
  • Thi pháp học gần gũi với phê bình văn học nhưng cũng khác:

      Phê bình văn học có thể đi từ những góc độ khác nhau mà phát hiện khám phá nội dung và đánh giá chúng. Còn thi pháp học thiên về phát hiện, khám phá các quy luật hình thức nghệ thuật.

Nhìn chung, thi pháp học là một bộ phận chuyên biệt của NGHIÊN CỨU VĂN HỌC, chuyện nghiên cứu tính đặc thù và nguyên tắc nghệ thụât của văn học.

Những đặc tính của thi pháp học nói trên bắt đầu từ thời cổ đại Hy Lạp, qua phương Tây đến Nga rồi đến Việt Nam. Viện sĩ Khravchenko (Nga) phân loại :

+Thi pháp học lí thuyết cố gắng nghiên cứu cấu trúc, hình thức của tác phẩm văn học.

+Thi pháp học lịch sử nghiên cứu sự tiến hoá của phương thức phương tiện chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng và nghiên cứu sự hoạt động của chức năng thẩm mĩ của chúng và số phận lịch sử của các khám phá nghệ thuật.

II. THI PHÁP HỌC TỪ CỔ ĐIỂN ĐẾN HIỆN ĐẠI

Ban đầu (thời cổ Hi Lạp), người ta nghiên cứu thi pháp nhằm mục đích tổng kết kinh nghiệm sáng tác, truyền dạy các phép tắc làm văn làm thơ, dành cho nhà văn. (Gọi là thi pháp học cổ điển, thuộc phạm vì thi pháp học lí thuyết ).

Về sau, thi pháp học chuyển sang nghiên cứu cách đọc, cách khám phá tác phẩm nhằm phục vụ người đọc văn chương, giúp họ chiếm lĩnh giá trị nghệ thuật một cách khoa học. (Gọi là thi pháp học hiện đạ, thuộc phạm vi thi pháp học lịch sử ).

Định nghĩa về thi phápthi pháp học hiện đại

Thi pháp là một hệ thống các phương tiện và phương thức thể hiện cuộc sống bằng nghệ thuật, khám phá cuộc sống bằng hình tượng”.

Nói cách khác, thi pháp là ý thức nhà văn khi sáng tạo ra hình thức nghệ thuật. Hình thức nghệ thuật có hai mặt:

-         Mặt cụ thể, cảm tính (chất liệu tác phẩm, không gian, thời gian, chi tiết, tình tiết, nhân vật, sự kiện, mâu thuẫn, xung đột …)

-         Mặt quan niệm (lí lẽ, nhận thức, triết lí, tư tưởng, tình cảm…)

Thi pháp họccông việc tìm ra cái hình thức mang quan niệm, tức là cái phương thức tư duy nghệ thuật của nhà văn nghệ sĩ đã ngưng kết thành cái hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn nghệ. Nói đơn giản : Thi pháp học nghiên cứu cái thi pháp

Thi pháp của Aristote xuất hiện cách đây hơn hai ngàn năm là điển hình của loại “thi pháp học sáng tác”. Ông coi sáng tác là một thứ kĩ thuật và ông hy vọng cuốn sách “Poetika” của ông là cuốn cẩm nang cho những ai muốn sáng tác bi kịch… Ông viết: “nhiệm vụ của nhà thơ không phải là tả những sự việc đã xảy ra mà là miêu tả  những việc có thể xảy ra… Cũng như hoạ sĩ, nhà thơ là một người mô phỏng”.

Sau Aristote, nhà thơ Horace viết cuốn “Nghệ thuật thơ” cũng dạy cách sáng tác thơ. Ông khuyên “khi miêu tả đề tài, tốt nhất là hãy mượn của sử thi Illiade”.

Nhà phê bình Boileau (Pháp thế kỉ XVII) trong cuốn “Bàn về nghệ thuật thơ” đã viết: “Anh phải yêu lí tính, phải làm sao cho mọi sáng tác của anh toả ra ánh sáng giá trị của lí tính”.

Lessing nhà văn Ánh sáng Đức trong cuốn “Laoken” cũng bỏ công đi tìm tòi quy luật sáng tác.

Lưu Hiệp nhà phê bình văn học Trung Quốc thời Nam Bắc triều viết cuốn “Văn tâm điêu long” đã đúc rút ra những quy tắc sáng tác. Hàng trăm cuốn “thi thoại” (nói chuyện làm thơ) từ đời Tống đến đời Thanh cũng thiên về tìm tòi quy tắc sáng tác. Nghiêm Vũ trong cuốn “Thương lang thi thoại” đã dạy : “Kẻ học làm thơ phải lấy kiến thức làm chủ, vào phải chính, lập chí phải cao, lấy Hán, Nguỵ, Tấn và Thịnh Đường làm thầy”. Viên Mai trong cuốn “Tuỳ viên thi thoại” nhắc nhở: “Thơ có cành mà không có hoa là cành củi khô, có thịt mà không có xương là loài sâu bọ, có người mà không có cái “tôi” là bù nhìn, có thẳng mà không có cong là cái ống cất rượu”.

Việt Nam cũng có những nhà văn chú ý bàn chuyện sáng tác, tiêu biểu như Chế Lan Viên bàn việc thơ, Nam Cao bàn chuyện làm văn. . . Chế Lan Viên trong bài thơ “Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ…” đã tâm đắc viết:

“Hình thức cũng là vũ khí

Săc đẹp câu thơ cũng phải đấu tranh cho chân lí

Anh nghe cái mặn của đời đang độ kế tinh

Nó chưa thành hình, anh làm nó thành hình

Chưa thành hạt, anh làm cho nó thành hạt

Rồi trả tận tay người cùng với máu anh.”

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi viết: “Đụng chạm với hành động hàng ngày, tâm hồn tự nảy lên bao nhiêu hình ảnh như những tia lửa loé lên… Người làm thơ lượm những tia lửa ấy kết nên một bó sáng – đó là hình ảnh thơ” (Mấy vấn đề văn học).

Nhà văn Nam Cao tâm sự trong truyện ngắn “Đời thừa”: “Một tác phẩm thật giá trị…phải chứa đựng được một cái gì lớn lao mạnh mẽ, vừa đau đớn vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình…Nó làm cho người gần người hơn”.

Do nối tiếp truyền thống thi học cổ điển, bộ môn lí luận văn học ở nước ta trong mấy chục năm qua lại càng đi sâu vào lĩnh vực lí thuyết sáng tác. Chẳng hạn: họ bàn về cách chọn đề tài, dùng nguyên mẫu, học tập ngôn ngữ nhân dân, chọn chi tiết, phương pháp điển hình hoá, phương pháp sáng tác,…với những lời khuyến cáo, dặn dò, yêu cầu người sáng tác “nên, hãy, cần phải” .v.v..

Văn học theo nghĩa rộng rãi đầy đủ không phải chỉ sáng tác. Còn tiếp nhận, thưởng thức, phê bình nữa mới đủ nội hàm “lí luận về văn học” hoặc “lí thuyết về đời sống văn học”.

Khác với thi pháp học truyền thống, thi pháp học hiện đại phát triển về phiá sự tiếp nhận văn học. Tiếp nhận gắn liền với sự thức tỉnh của ý thức người đọc. Thi pháp học hiện đại có thể được gọi là “thi học tiếp nhận”, thực ra đã manh nha từ di sản thi học Ấn Độ, Trung Hoa, Hi Lạp. Cả phương Đông và phương Tây đều có truyền thống chú giải, cắt nghĩa tác phẩm ngữ văn tuy còn chưa đến mức độ thi pháp nghệ thuật. Đời nhà Minh, ý thức “đọc” được đẩy mạnh với Kim Thánh Thán và Mao Tôn Cương khi họ phê bình  tiểu thuyết, kịch và thơ. Đời Thanh có nhiều công trình thi học nghiên cứu thường thức thơ Đỗ Phủ…Ở phương Tây, thi pháp đọc được chú trọng khi giải thích tác phẩm của Shakespeare (sau trở thành khoa Shakespeare học). Thời hiện đại Trung Quốc hình thành Hồng lâu mộng học. Ở Nga ngày nay có môn Sholokhov học. Đây là lúc thi học đã hoàn chỉnh hơn trước rất nhiều.

Tuy vậy phải đến nửa sau thế kỉ XX vấn đề đọc tác phẩm mới dần dần trở thành một khoa học. Ngày xưa dẫu sao cách cảm nhận, tiếp nhận vẫn nặng về chủ quan, cảm tính ấn tượng hoặc ngược lại theo quan điểm giáo điều, đạo đức, chính trị…, cách đây chưa lâu người ta còn tiếp nhận theo lối khách quan xã hội học. Nghĩa là đi từ bên ngoài, đi từ hiện thực hoặc ý muốn chủ quan tìm cách thâm nhập và đánh giá tác phẩm và tác giả.

    Thi pháp học hiện đại (tiếp nhận, cảm nhận) bắt đầu sôi sục lên từ trường phái “Phê bình mới” trong văn học Mỹ. Khởi đầu, trường phái này tỏ ra phản ứng với:

-         Lối phê bình ấn tượng chủ nghĩa (chỉ chú ý tới ấn tượng chủ quan gợi lên từ tác phẩm)

-         Lối phê bình tâm lí chỉ chú ý tiểu sử tác giả

-         Lối phê bình lịch sử – xã hội chỉ chú ý ảnh hưởng  của hoàn cảnh lịch sử -xã hội.

Cả ba lối trên đều không chú ý thích đáng tới yếu tố sáng tạo nghệ thuật của tác phẩm văn học. “Phê bình mới” yêu cầu xem tác phẩm nghệ thuật như một hiện tượng nghệ thuật. Các nhà phê bình Mỹ có những quan niệm khác nhau về tác phẩm nghệ thuật:

-         Tác phẩm văn học là một biểu hiện (Spingard)

-         Tác phẩm là một cấu trúc ngôn ngữ (Hium)

-         Tác phẩm là một cảm quan toàn vẹn về thế giới (Eliot)

-         Tác phẩm là một thế giới độc lập, tự trị (Richard, Empson, Brooks, Waren)

Tóm lại, “Phê bình mới” Mỹ đã khắc phục quan niệm nhị phân hình thức và nội dung. Họ khẳng định: hình thức tức là nội dung và cũng là biểu hiện.

Thi pháp học hiện đại Pháp lại phát triển trên cơ sở “chủ nghĩa cấu trúc” và “kí hiệu học”. Họ coi cách viết là lập mã,  cái nghệ thuật là cái có giá trị nhất.

Thi học Anh có Roman Jacobson duy trì quan niệm coi nghệ thuật là thủ pháp, ông nghiên cứu chức năng thơ ca trên lập trường ngôn ngữ học.

Thi pháp học Nga những năm đầu thế kỉ cũng trỗi dậy như ở Anh, Mỹ. Họ kiên quyết đòi hỏi phải coi tác phẩm văn học như một hiện tượng nghệ thuật (Girmuaski). Còn A.Veselovski xây dựng “Thi pháp học lịch sử” nhằm nghiên cứu sự vận động của nội dung văn học và bản thân hình thức văn học.

Hình thức văn học là hình thức chiếm lĩnh đời sống, nghĩa là nó bày tỏ cách nhìn, cách cảm nhận đời sống của nhà văn. Nhà văn sáng tạo hình tượng là để nhìn tận mắt mọi bề sâu của đời sống, để cảm, để hiểu cho rõ hết các ý nghĩa, giá trị của nó. Lịch sử văn học chính là lịch sử tiến hoá của hình thức cảm nhận và biểu hiện đó. Nhà nghiên cứu Bakhtin (Nga) trong công trình “Những vần đề thi pháp Dostoievski” đã viết: “Không hiểu đúng hình thức mới của cái nhìn thì không thể hiểu đúng những điều nhận thấy ở cuộc sống”. Ở nước Nga đã có hàng chục công trình lớn về thi pháp.

Thi pháp học đang hướng tới bạn đọc. Ngày nay nhu cầu tiếp nhận văn học hiện đại, văn học quá khứ của dân tộc và nhân loại ngày càng trở nên bức thiết. Người đọc cần phải có “chìa khoá” để mở ra tất cả kho tàng văn học đó. Mặt khác, văn học hiện đại theo xu hướng cá tính hoá ngày càng mạnh, văn học ít khi lặp lại mà thường nảy sinh nhiều cái mới.

Riêng trong phạm vi nhà trường, một thời gian dài bộ môn lí luận văn học vốn là sản phẩm của “thi pháp học cổ điển” tức là “thi pháp học sáng tác” đã từng đòi hỏi học sinh xem tác phẩm dưới con mắt nhà sáng tác. Nhưng nhu cầu về văn học chủ yếu lại là nhu cầu tiếp nhận văn học. Nhà giáo dạy văn cần có ý thức sử dụng Thi pháp học tiếp nhận – cảm nhận (hiện đại) để hướng dẫn học sinh tiếp nhận văn học một cách khoa học.

III – BA ĐẶC ĐIỂM CỦA HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT

     – Tính hệ thống

     – Tính quan niệm

      – Tính tinh thần

        1. Hình thức nghệ thuật có tính hệ thống

Nghiên cứu văn học lâu nay ít quan tâm đến tính hệ thống mà chỉ chú ý khai thác các bộ phận riêng lẻ rời rạc tuỳ hứng nên dẫn đến chủ quan, phiến diện và sai lầm.

Theo GS Trần Đình Sử nghiên cứu thi pháp Tryện Kiều

khi bình giảng câu thơ

                 “Sẵn thây vô chủ bên sông/đem vào để đó lộn sòng ai hay” (Truyện Kiều)

có nhà nghiên cứu cho rằng câu thơ đã phản ánh thời kì loạn lạc, nơi đâu cũng có (sẵn) xác chết. Khi chúng ta tìm hiểu tất cả những chữ “sẵn” đã dùng vài lần trong Truyện Kiều thì thấy :

-         Sẵn tay khăn gấm quạt quỳ/ Với cành thoa ấy thì đổi trao  (Kiều và Kim Trọng)

-         Sẵn dao tay áo tức thì giở ra  (Kiều phản kháng Tú bà)

-         Phật tiền sẵn có mọi đồ kim ngân (Quan Âm các trong vườn nhà Hoạn Thư)

-         Dưới đèn sẵn bức tiên hoa/ Một thiên tuyệt bút gọi là để sau  (Trên sông Tiền Đường, Kiều viết thư tuyệt mệnh trước khi nhảy xuống sông)

    Ta nhận thấy chữ “sẵn” trong tất cả các trường hợp trên không có nghĩa là “nhiều”. Đó chỉ là lời thuật chuyện vắn tắt, tránh rườm rà, cốt sao cho sự kiện đi đúng hướng đã định, khỏi tản mạn vì những chi tiết không cần thiết, đặc biệt vì Truyện Kiều là truyện bằng thơ cần ngắn gọn. Như vậy chữ “sẵn” đã lặp đi lặp lại nhiều lần cùng một nghĩa – tức là đã tạo ra một hệ thống hình thức. Vây ý nghĩa của câu thơ “sẵn thấy vô chủ bên sông…” phải được hiểu theo ý nghĩa hệ thống chữ “sẵn” mà Nguyễn Du thường dùng: Bọn Khuyển Ưng, Khuyển Phệ đã chuẩn bị một cái xác chết (nhà thơ không cần thiết kể về việc đi tìm cái xác) để vào ngôi nhà Kiều rồi phóng hoả. Nhà phê bình kể trên chỉ căn cứ vào một chữ “sẵn” riêng lẻ mà không quan tâm tới “hệ thống chữ sẵn” trong cả Truyện Kiều, ông ta chỉ dựa vào bối cảnh thời phong kiến suy tàn có nhiều loạn lạc mà suy ra ý nghĩa câu thơ một cách áp đặt sai lầm.

  Ví dụ khác: Cách gọi tên “anh Dậu, chị Dậu” của nhà văn Ngô Tất Tố trong truyện ngắn “Tắt đèn” nghe qua không thấy ý nghĩa gì. Nếu  ta đặt cách gọi nhân vật trong hệ thống cách gọi tên nhân vật trong nền văn học Việt Nam 1930 – 1945 thì cách gọi của Ngô Tất Tố có ý nghĩa đáng kể. Thời ấy các nhà văn thường gọi nhân vật bình dân là “y, thị, hắn, gã, thằng, mụ…” (Nhất Linh, Khái Hưng…Nam Cao). Điều  này cho thấy nhà văn Ngô Tất Tố đã có cách nhìn và đánh giá người bình dân  trân trọng hơn, vì sao ? Vì Ngô Tất Tố đứng từ góc độ nhà báo dân chủ . . .

2. Hình thức mang tính quan niệm

         Hình thức nghệ thuật không đơn giản chỉ là những phương tiện, chất liệu và thủ pháp ngẫu nhiên vô tình mà những cái ấy đều thể hiện quan niệm rõ rệt của tác giả.

               Hình thức nghệ thuật có hai mặt:

-         Một là hình thức cụ thể cảm tính (lời văn, cảnh vật, nhân vật…)

-         Hai là hình thức quan niệm (cái lí của hình thức: Vì sao tác giả lại chọn hình thức ấy mà không là cái khác ?)

Chẳng hạn trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết:

+ Thoắt mua về, thoắt bán đi

+ Buổi ngày chơi mả Đạm Tiên

  Nhắp đi thoắt thấy ứng liền chiêm bao

Những chữ “thoắt” biểu hiện tình trạng đảo điên đột ngột gấp gáp, gợi ra những cảnh đời bất trắc, bất ổn, đổ vỡ, vùi dập…

Trong thời thế ấy, Thuý Kiều phải chạy đua với số mệnh (gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường).

  Một số ví dụ khác: thơ Bà Huyện Thanh Quan thường miêu tả cảnh chiều hôm, chiều tà, bóng xế… vắng vẻ. Không – thời gian này biểu lộ quan niệm của nhà thơ về hồi suy tàn của chế độ phong kiến. Thơ bà còn dùng nhiều từ Hán Việt thể hiện sự hoài cổ, long trọng khi nói về quá khứ đẹp đẽ. Trái lại thơ Hồ Xuân Hương có nhiều từ ngữ nôm na, thậm chí gần như thô tục, trần trụi nhằm phê phán cái trần tục của người đời và biểu lộ cách sống ưa xúc cảm tinh tế tao nhã của mình.

3. Hình thức nghệ thuật mang tính tinh thần

          Tác phẩm nghệ thuật chỉ tồn tại trong tinh thần. Nó chẳng phải là tập giấy (văn thơ), khối gỗ đá (bức tượng) mà là một thế giới nghệ thuật sống trong tinh thần của ta khi ta thưởng thức nó (tựa như người đọc mộng du khi đọc sách – nghĩa là thoát ra khỏi đời sống vật chất và đi lạc vào thế giới khác – thế giới tinh thần, thế giới đó sẽ tạm chấm dứt khi ta thôi đọc sách).

    Tuỳ theo người đọc, mỗi người có một “tác phẩm riêng” lưu lại trong cách đọc của mình mặc dù đều bắt đầu từ một tác phẩm cụ thể nào đó.

 Tóm lại: Chúng ta cần nắm vững ba tính chất kể trên của hình thức nghệ thuật, để từ đó mà xác định nội dung. Như thế gọi là giải mã hình thức để chiếm lĩnh nội dung.

                  BÀI TẬP THỰC HÀNH

  1. Ý nghĩa của những tựa đề thơ Tố Hữu thường gặp là “bài ca / tiếng hát” sau năm 1954 là gì? (xem các tập thơ Gió lộng, Ra trận của Tố Hữu, thống kê những tên bài tương tự)
  2. Bản chất của tác phẩm Hòn Đất của Anh Đức là gì? (tiểu thuyết hay thơ/ trường ca hay bản hợp xướng anh hùng ca )
IV.  BỐN KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA THI PHÁP HỌC

Do thiên về vần đề sáng tác, lí luận thi cổ điển thường nêu ra quá trình văn học sau:

Cuộc sống à Nhà văn à Tác phẩm

Thi pháp học hiện đại nhìn theo hướng ngược lại:

Người đọc à Tác phẩm à Nhà văn à Thế giới hiện thực

Quá trình đó là : Khám phá tác phẩm hoặc toàn bộ tác phẩm trong tính toàn vẹn của nó để thâm nhập vào tâm hồn tác giả và thế giới, cuộc sống chung.

Muốn thực hiện quá trình đó, chúng ta cần xác định mấy khái niệm cơ bản sau đây:

  1. Tác phẩm văn học là một thế giới ý nghĩa

Văn học không sao chép đơn giản các hiện tượng đời sống mà nhằm nắm bắt các ý nghĩa giá trị của hiện thực bằng những hình tượng sáng tạo. Ý nghĩa và giá trị trong cuộc sống thực tế thì rời rạc, tản mạn, hỗn độn. Ý nghĩa và giá trị trong tác phẩm nghệ thuật thì tập trung, nổi bật lên, tạo nên một thế giới đặc biệt. Do đó, các hiện tượng trong tác phẩm nghệ thuật mang ý nghĩa không đồng nhất với các hiện tượng tương tự trong đời sống. Ví dụ: bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương không nhằm giới thiêu một món ăn dân tộc. Nó được viết ra để nói một tấm lòng hiền dịu thuỷ chung và cam chịu gian khổ của người phụ nữ. Trong Truyện Kiều, Thuý Kiều thực tế đang ở “lầu xanh” nhưng trong cảnh Từ Hải gặp gỡ Thuý Kiều, nhà thơ Nguyễn Du lại kể:

Thiếp danh đưa đến lầu hồng

Hai bên cùng liếc hai lòng cùng ưa

Nhà thơ không nhầm lẫn khi nói vậy. Trong tình cảm của ông, Thuý Kiều chẳng phải cô gái bán hoa, nàng vẫn là tiểu thư khuê các, là giai nhân sang trọng chốn lầu hồng.

Tóm lại: Mọi hiên tượng đời sống khi nhập vào thế giới nghệ thuật sẽ mang ý nghĩa mà tác giả phú cho nó, có thể sẽ khác xa tình trạng vốn có. Điều đó không có nghĩa tác giả bôi bác hay tô hồng cuộc sống hoặc cố ý làm nó biến dạng.

Đến đây có hai vần đề cần được tiếp tục xem xét:

-                     Các phạm trù ý nghĩa của tác phẩm nghệ thuật

-                     Các phương diện hình thức biểu hiện những ý nghĩa đó.

2. Hai cặp phạm trù ý nghĩa của tác phẩm văn học

2.1. Ý nghĩa khách quan và ý nghĩa chủ quan

Tác phẩm văn học chứa đựng một thế giới nhân sinh mà người đọc có thể nhận ra. Đó là con người, sự vật, xung đột, thể tài, chủ đề, tính cách, số phận…  mang ý nghĩa khách quan của tác phẩm văn học.

Nhưng còn  một ý nghĩa khác quan trọng hơn: ý nghĩa chủ quan. Qua những hiện tượng và vấn đề của đời sống mà mọi  người đều biết, tác phẩm còn có những ý nghĩa đặc biệt do bạn đọc khám phá ra. Ngay các thi sĩ miêu tả trăng nhưng chẳng ai giống ai. Vây là có nhiều ánh trăng khác nhau tuỳ theo sự cảm nhận của thi sĩ (và cảm nhận của bạn đọc cũng khác), điều này giúp người ta cảm nhận thế giới và cuộc sống con người thật phong phú, mạnh mẽ hơn, sâu sắc hơn. Ý nghĩa chủ quan này được biểu hiện bằng hình tượng liên tưởng, liên kết gợi ra một trường cảm nhận. Ví dụ: Bài thơ “Ca tụng”của Xuân Diệu:

Trăng, vú mộng của muôn đời  thi sĩ

Giơ hai tay mơn trớn vẻ tròn đầy

…Trăng, võng rượu khiến đêm mờ chếnh choáng

…Hỡi trăng đẹp, người là trăng náo nức

Người hãy khóc, người không cần sự thực

Nhớ thương luôn nên mắt có quầng viền.

Còn đây là trăng của Lý Bạch (Tĩnh dạ tư):

            Đầu giường ánh trăng rọi

(ý nói trăng đi theo tìm nhà thơ)

và Bạch Cư Dị:

            Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt

            Một vầng trăng trong vắt lòng sông

                                                            (Tì bà hành)

Ánh trăng trở thành kẻ tri âm của Bạch Cư Dị, là bạn cũ thuở thiếu thời của Lý Bạch và là người tình của Xuân Diệu vậy.

Nhà thơ đã thổi cái ý nghĩa chủ quan của mình vào một hiện tượng chung của thế giới, kí thác một ý nghĩa mới vào trong ý nghĩa khách quan thông thường của tác phẩm.

2.2   Ý nghĩa bộ phận, ý nghĩa toàn thể

 Khi tiếp nhận tác phẩm văn học, người ta phải hiểu từng chữ từng câu, chi tiết, tình tiết, nhân vật, sự kiện, tức là từng bộ phận hợp thành tác phẩm. Nhưng cuối cùng, ý nghĩa toàn thể của tác phẩm chẳng phải là tổng số giản đơn các ý nghĩa bộ phận. Ý nghĩa chỉnh thể (toàn thể) là tích hợp của các ý nghĩa bộ phận, là cảm hứng chủ đạo chi phối toàn bộ tác phẩm, là quan niệm chung quyết định sự lựa chọn và tổ chức nên tác phẩm. Ý nghĩa chỉnh thể là ý nghĩa tổng quát, triết lí nhân sinh. Ở phương Đông, các nhà hiền triết thường đòi hỏi “văn dĩ tải đạo”, “văn dĩ minh đạo”… Ý nghĩa chỉnh thể là thế giới quan và nhân sinh quan của tác giả. Vậy là, chúng ta phải xem xét quan niệm của tác giả về thế giới, con người, không gian, thời gian, lẽ sống. Ý nghĩa chỉnh thể của tác phẩm nghệ thuât là giới hạn tối cao mà người đọc muốn tìm đến, muốn cảm nhận khi tiếp cận một tác phẩm nghệ thuật.

  1. 3.       Hình thức nghệ thuật văn chương là hình thức mang ý nghĩa

            Người ta thường cho rằng ý nghĩa thì giấu kín ở bên trong (nội dung), còn hình thức chỉ lá cái vỏ, cái bình đựng rượu  chẳng có ý nghĩa gì ( !? ) Điều đó thật sai lầm !

            Hình thức là cái bề ngoài. Với văn học, hình thức là văn bản bao gồm ngôn từ, câu chữ, nhịp điệu, vần luật, cách gọi nhân vật… cấu trúc, bố cục, ngoại cảnh, nội tâm v.v.. Đó là những hình thức của một cái nhìn nghệ thuật cũng gắn liền và biểu hiện nội dung.

            Hình thức nghệ thuật không chỉ là chất liệu thủ pháp mà còn là hình thức cảm thấy sự vật, hình thức chiếm lĩnh ý nghĩa giá trị của thế giới. Hình thức đó thể hiện tính tích cực của nghệ sĩ. Nhờ đó, tác phẩm không phải là đồ vật mà là sự sống trong tâm thức người đọc.

            Mỗi thời đại, mỗi thể loại, mỗi tác giả… chỉ nhìn thấy một lớp đời sống nào đó, tuỳ thuộc vào quan niệm nghệ thuật về con người, không gian, thời gian, ngôn ngữ, cốt truyện, nhịp điệu…

            Hãy xem Nguyễn Du tả Thuý Vân:

Vân xem trang trọng khác vời

Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang

Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da

      Thuý Vân mang những vẻ đẹp của thiên nhiên vũ trụ (trăng, tằm, hoa, ngọc, mây, tuyết) thiếu vẻ đẹp trần tục, không có dấu ấn nghệ sĩ như Kiều.

         Đến thời hiện đại, trong dòng Thơ Mới, thi sĩ Xuân Diệu nhìn trăng đẹp như nhìn người con gái đẹp, lãng mạn, náo nức.

        Hình thức nghệ thuật vừa lặp lại vừa độc đáo ở một nghệ sĩ. Muốn nghiên cứu thi pháp của văn chương, chúng ta cần phát hiện ra những yếu tố lặp lại ấy.

  1. 4.      Tính chất lịch sử cụ thể của hình thức nghệ thuật

 Sáng tác văn học là một sản phẩm của lịch sử. Nó phụ thuộc vào tác giả mà tác giả lại phụ thuộc vào trình độ văn hoá, trình độ tư duy của xã hội và các hình thái ý thức khác (như triết học tôn giáo, chính trị..) . Sáng tác văn học cũng phụ thuộc cả mối quan hệ giao lưu văn hoá với nước ngoài.. . Lịch sử trôi đi, mỗi giai đoạn có diện mạo riêng không lặp lại. Hình thức nghệ thuật là một hiện tượng cụ thể lịch sử cũng không lặp lại.

Thi pháp học lịch sử sẽ nghiên cứu sự vận động của các hình thức nghệ thuật. Lịch sử thi pháp sẽ chỉ ra sự tiến bộ của năng lực sáng tạo nghệ thuật của con người – đồng thời cũng tương ứng với trình độ văn minh của nhân loại.

Sự tiếp nhận  thi pháp của văn chương cũng mang tính lịch sử cụ thế.

PHẦN HAI    

8  KIỂU THI PHÁP CƠ BẢN TRONG SÁNG TẠO VĂN HỌC

 CHƯƠNG I.   THI PHÁP NHÂN VẬT

             (Quan niệm nghệ thuật về con người          Nghệ thuật xây dựng nhân vật)

      I-   KHÁI NIỆM

 Nhân vật và sự miêu tả nhân vật

   Con người là đối tượng miêu tả chủ yếu của văn học trong các phương thức trữ tình, tự sự và kịch dù trực tiếp hay gián tiếp. Nhân vật có tên Kiều hoặc Kim Trọng hoặc không có tên như mụ dì ghẻ, tiểu đồng, ông quán. Nhân vật được sáng tạo, hư cấu để khái quát và biểu hiện tư tưởng, thái độ đối với cuộc sống. Ca ngợi nhân vật là ca ngợi cuộc đời, lên án nhân vật là phê phán đời. Xót xa cho nhân vật là xót xa đời. Tìm hiểu nhân vật là tìm hiểu về cuộc đời và con người, tìm hiểu tư tưởng tình cảm của tác giả đối với con người.

       Trong thơ trữ tình, có nhân vật trữ tình: con người tự bộc lộ nỗi niềm trước cuộc sống. Trong kịch, con người tự bộc lộ qua hành động ngôn ngữ của mình.

 Trong tác phẩm tự sự (truyện, kí ) nhân vật là con người được kể, tả ra bằng lời của nhà văn.

  Nói chung, nhân vật được miêu tả bằng các phương tiện văn học, tức bằng ngôn từ. Miêu tả bao gồm tả cảnh ngụ tình, diễn tả cảm xúc, tường thuật, kể sự việc… gọi chung là hình thức của văn học.

  Miêu tả trong văn học khác với miêu tả trong các khoa học khác thường chỉ cần đạt sự chính xác, khách quan. Ở đây miêu tả nhằm hai mục đích: gợi ra hiện tượng cuộc sống và gợi ra sự cảm thụ và bộc lộ cái nhìn của tác giả. Từ đó nhà văn thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người.

  1. Quan niệm nghệ thuật về con người

Thực tế có hai quan niệm về con người:

Một là: Con người như một phạm trù tư tưởng, chính trị,  đạo đức xã hội.

Hai là: Con người như một phạm trù thẩm mĩ.

Quan niệm thứ hai chủ yếu là quan niệm của  văn nghệ sĩ.

Nàng Kiều là nhân vật có nội tâm phong phú nhưng nàng chỉ biết nhớ người thân trong hiện tại, không ưa sống trong hồi tưởng và sống với quá khứ như các nhân vật tiểu thuyết hiện đại sau này. Đó là do quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Du chưa đạt tới như thời hiện đại.

 Triết lí về con người có quan hệ mật thiết với quan niệm nghệ thuật về con người. Quan niệm nghệ thuật không ngừng được mở rộng thì nhà văn càng có khả năng miêu tả chiều sâu và sự phong phú của nhân vật, cũng gọi là khả năng cảm nhận về con người của nhà văn.

 Nghiên cứu thi pháp nhân vật khác với công việc phân tích nhân vật. Phân tích nhân vật là chỉ ra các nội dung đựơc thể hiện trong nhân vật như tính cách, ngoại hình, phẩm chất, niềm vui, nỗi buồn, lí tưởng… Trái lại khi  nghiên cứu thi pháp nhân vật, ta phải khám phá cách cảm nhận con người qua việc miêu tả nhân vật. Tất nhiên, khi ta đã tìm hiểu thi pháp nhân vật thì việc phân tích nhân vật sẽ sâu sắc hơn, toàn diện hơn.

 Phạm trù “quan niệm nghệ thuật về con người” là ý thức của văn học và hiện diện trong ý thức hoặc vô thức của tác giả. Nhiều nhà văn lớn đã có ý thức sáng tạo ra quan niệm nghệ thuật mới mẻ về con người.

II – NGHIÊN CỨU MỘT SỐ KIỂU THI PHÁP NHÂN VẬT

      1.Truyện Thánh Gióng

Truyện này có nhiều yếu tố truyền thuyết đặt trong một thời kì xa xưa – thời kì huyền thoại: đời vua Hùng thứ VI ở làng Gióng. Cốt truyện mang màu sắc sử thi anh hùng được kể qua năm chi tiết:

-         Sự sinh đẻ kì diệu do người mẹ giẫm lên dấu chân lạ mà thụ thai

-         Sự lớn lên kì lạ

-         Việc rèn đúc vũ khí đặc biệt: ngựa sắt, roi sắt

-         Một  mình đánh tan quân giặc

-         Cưỡi ngựa bay về trời

Truyện này có chất cổ tích pha lẫn thần thoại. Thần thoại miêu tả các anh hùng văn hoá cổ sơ như Ông Trụ Trời, ông tát bể, ông kể sao, thì đây “ông đánh giặc”. Ông sinh ra không làm trẻ con (nằm yên, không cười nói, không ngồi) ông chờ sứ mệnh. Khi đánh giặc xong không còn việc gì làm ở trần gian thì ông về trời. Ông là một vị thần. Vậy Ông Gióng thuộc loại nhân vật chức năng đánh giặc.

2.Truyện họ Hồng Bàng (Lạc Long Quân và Âu Cơ)

Truyện thần thoại bộc lộ quan niệm cổ sơ về dân tộc gọi là truyện gia hệ khởi nguồn cho dân tộc Việt. Lạc và Âu là chị em chú bác ruột (cha của hai người là anh em cùng cha khác mẹ). Âu Cơ giống tiên, Lạc Long Quân theo họ mẹ thuộc giống rồng – mẫu hệ. Chàng là nhân vật anh hùng khai sinh văn hoá – khai sáng, dạy dân nhiều nghề và xuất hiện ờ mọi nơi, có tài biến hoá. Chức năng chủ yếu của Lạc Long Quân là cưới Âu Cơ sinh trăm trứng, khai sinh nòi giống (ca hát đánh trống để quyến rũ Âu Cơ, rồi đem giấu vợ một nơi kín đáo). Là nhân vật thần thoại, Lạc chưa có sự thống nhật nội tại, hành động chưa nhất quán. Khi dân chúng khổ sở vì nạn phương Bắc quấy nhiễu, họ gọi “bố ở đâu mà để dân phương Bắc xâm hại dân ta” thì Lạc đột nhiên hiện về nhưng việc đầu tiên là say mê Âu Cơ… Vậy Lạc Long Quân là nhân vật chức năng (sinh đẻ). Thần Kim Quy cũng là nhân vật chức năng.

     3.Truyện cổ tích Tấm Cám

Các nhân vật chính vẫn là nhân vật chức năng – chức năng thể hiện những nguyên lí của thế giới “ở hiền gặp lành, ác giả ác báo”. Chia ra hai loại nhân vật: thiện và ác. Họ chỉ hành động, không thể hiện cảm giác, phản ứng, lí trí như người bình thường. Tấm chẳng hề nghi ngờ mẹ ghẻ chặt cậy hại mình, lại tin lời mẹ là đuổi kiến. Vua thấy Tấm chết, chẳng có hành động đối phó, chỉ lặng lẽ buồn. Khi có chim vàng anh, vua quên Tấm. Nhìn  chung các nhân vật không có nội tâm, chỉ có cái ác và cái thiện thể hiện chức năng của nó. Vua chỉ làm một chức năng là ban thưởng cho Tấm người hiền. Trước đó bụt làm chức năng hành thiện, Bụt cho Tấm quần áo mới và đôi hài đẹp, cho đàn chim nhặt thóc, để cho nàng kịp trẩy hội xuân. Khi Tấm trở thành hoàng hậu, Bụt không xuất hiện nữa vì đã có nhà vua trẻ.

4.Truyện người thiếu phụ Nam Xương

(Truyện cổ tích trung đại, do Nguyễn Dữ kể lại bằng chữ Hán)

Một số phận bi kịch của người phụ nữ trong một gia đình phong kiến trong thời buổi đất nước loạn lạc. Nhà văn vẫn chưa miêu tả nội tâm nhân vật trong những tình huống chia ly, ngóng đọi, bị oan uổng… mà chỉ nói qua vài điều bằng lời nói của nhân vật. Lời nói của các nhân vật đều chung một giọng điệu như nhau. (Văn 9 tập 1). Vũ Nương đã được giải thoát bằng cái chết trên dòng sông, sống vui vẻ dưới thuỷ cung với Linh Phi nhưng nàng vẫn đòi hỏi cái thế giới cũ và người chồng phải giải oan cho nàng (cũng như Linh Phi đã đền ơn cho Phan Lang).

Người xưa rất coi trọng danh tiết, chết rồi vẫn mong giữ vẹn danh tiết. Vũ Nương không đoàn tụ gia đình nhưng ngậm cười, yên dạ nơi cõi âm. Đó là quan niệm nghệ thuật về “con người danh tiết” thời phong kiến.

5.Con người trong Truyện Kiều

Đây là vần đề lớn và phức tạp trong một kiệt tác văn học. Ở đây nêu một số quan niệm khái quát:

      Con người so sánh với thiên nhiên vũ trụ, khát khao tự do cùng thiên nhiên

Những vẻ đẹp của chị em Kiểu đều so sánh với thiên nhiên, ngay cả Từ Hải cũng vậy:

Râu hùm, hàm én, mày ngài
Đội trời đạp đất, chọc trời khuấy nước

Kim Trọng khóc Kiều:   Vật mình vẫy gió tuôn mưa

Kiều làm thơ:        Tay tiên gió táp mưa sa
Vương Quan thi đỗ :         Cửa trời rộng mở đường mây
hoa chào ngõ hạnh hương bay dặm phần

Từ Hải ra đi lập nghiệp:    Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương
Kiều  tiễn đưa ngóng đợi Từ Hải:      Cánh hồng bay bổng tuyệt vời
đã mòn con mắt chân trời đăm đăm

            Họ là những con người khát khao vũ trụ với đặc trưng: tỏ lòng, tỏ chí, đó là nhu cầu bày tỏ tâm hồn để hiểu nhau. Kể cả Vũ Nương cũng chỉ muốn tỏ lòng trung trinh của mình. Thuý Kiều muốn chứng tỏ mình giữ lời thề đã phải nhờ em gái thay mình lấy chàng Kim, để mình được tỏ lòng hiếu thảo với cha.

Nhà thơ Nguyễn Du cảm thấy con người thời này đã bắt đầu có ý thức về “cái tôi” cá nhân, con người cảm thấy thích cô đơn (Kiều thích ngồi một mình để sống với hồi tưởng riêng). Kiều bắt đầu dám vượt qua khỏi khuôn sáo của lễ giáo phong kiến “trung, hiếu, tiết, nghĩa”. Nàng không giấu những ham muốn bình thường của con người.

     Nhà thơ Nguyễn Du đã nhìn thấy con ngưởi phức tạp chứ không phải giản đơn, con người nhiều chiều. Nhà thơ đã nhìn nhân vật từ bên trong.

Nhân vật sống trong đời thực nhưng cảm thấy mình sống theo số mệnh quy định             bởi  ông Trời.

Con người ấy phi nhân tính, bị tha hoá. Đó là khám phá của Nguyễn Công Hoan.

6.Con người trong “Lão Hạc”

Tác phẩm Nam Cao là đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực. Nơi đây nhà văn miêu tả con người như chính họ trong cuộc sống.

-         Về mặt quan niệm xã hội, Lão Hạc cần được coi là con người “đáng kính, đáng thương”.

-         Về mặt nghệ thuật, Lão Hạc được miêu tả là con người tâm lí – sống nội tâm. Nghĩa là lão tự dằn vặt mình, sống với mình – một bước phát triển cao của con người.

Nam Cao đã phát hiện thấy sự chênh lệch giữa vẻ bề ngoài và nội tâm của con người.

Nghĩ về bà vợ của “ông giáo”, Nam Cao viết: “Chao ôi! Đối với những người sống quanh ta, nếu ta không cố mà tìm hiểu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi, toàn những cái cớ để ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thương họ”. Với Lão Hạc, nhà văn đã miêu tả một con người có nội tâm sâu sắc, cao thượng bên trong một vẻ bề ngoài tầm thường: lão có con mắt thờ ơ, hời hợt, chẳng mấy ai hiểu lão. Lão Hạc có tâm hồn ngay thẳng, trong sạch và đau đớn. Lão nói chuyện về con chó nhiều lần mà chưa dám bán. Lão thương con Vàng nhưng làm bộ ghét nó. Lão cười như mếu (buồn mà cố vui vẻ), đôi mắt ầng ậng nước. Lão phải giả bộ gian xảo để xin Binh Tư ít bả chó (nói dối đi bẫy chó) nhưng dùng thuốc để tự sát. Lão chết dữ dội nhưng dân làng chẳng ai biết sự thật ngoại trừ ông giáo. Đã vậy Binh Tư và dân làng còn hiểu lầm lão.

Cũng với cái nhìn con người như thế, nhà văn miêu tả Chí Phèo. Y thực là một con người bình thường và đáng thương dưới cái vẻ “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”.

Tóm lại:  Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc cảm nhận thẩm mĩ khi xây dựng nhân vật. Quan niệm đó chi phối nhà văn khi miêu tả nhân vật và các bộ phận khác của tác phẩm (kể cả lời dẫn truyện.v.v..). Đây là kiểu thi pháp cơ bản nhất của văn học nghệ thuật.

CHƯƠNG II .   THI PHÁP KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT

I. Khái niệm

Không gian nghệ thuật thuộc phạm trù hình thức nghệ thuật, là phương thức tồn tại, triển khai thế giới nghệ thuật. Không gian nghệ thuật là trường nhìn được mở ra từ một điểm nhìn, cách nhìn. Mỗi tác phầm có một không gian do tác giả lựa chọn và miêu tả

Ai đem ta tới chốn này

Bên kia là núi, bên này là sông (ca dao)

Gió lùa can gác xép

Đời tàn trong ngõ hẹp (Vũ Hoàng Chương)

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lí chói qua tim (Tố Hữu)

Từ lúc yêu nhau hoa nở mãi

Trong vườn thơm ngát của hồn tôi. (Xuân Diệu)

Trong mỗi câu thơ trên  có một không gian riêng, vốn dĩ là gian vật chất. Nhưng trong văn học nghệ thuật, không gian thuộc thế giới tinh thần, nó trở thành ngôn ngữ và biểu tượng nghệ thuật.

Là một hiện tượng nghệ thuật, không gian nghệ thuật mang tính ước lệ giàu ý nghĩa cảm xúc. Trong ngôn ngữ dân tộc, không gian đã được mã hoá thành ý nghĩa đời sống, chẳng hạn “cao cả, thấp hèn, nông cạn, sâu sắc, thiên vị, chính trực, ngay thẳng, quanh co, đại lượng, hẹp hòi…”. Người ta đã mượn ý niệm về không gian để miêu tả con người. Đó là không gian nghệ thuật chung của mọi người. Mỗi nhà văn nhà thơ lại chọn hoặc sáng tạo cho mình một không gian riêng.

Không gian có ba chiều, nhưng có thể thêm một chiều nữa là “thời gian”, chẳng hạn: hồi ấy, dạo ấy… Vậy thời gian là chiều thứ 4 của không gian.

II – KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM

  1. KGNT trong Tấm Cám

Nói chung không gian cổ tích có một đặc tính chung là: không có vật cản đối với hành động và vận động của con người. Tấm, Cám, Bụt, chim sẻ, cá bống, khung cửi, cây thị… đều có chung tiếng nói và hiểu nhau được hết. Không miêu tả không gian lễ hội, cung vua… chỉ có một không gian làng quê làm nền chung cho mọi không gian, và không gian mờ nhạt này tạm đủ gây ấn tượng cho người đọc. Người ta chỉ thuật lại hành động tuần tự diễn ra.

  1. KGNT trong Chinh phụ ngâm

Không gian biệt li chiếm phần lớn khung cảnh thơ:

Mọi cảnh tượng vật chất vật thể, màu sắc, âm thanh…như bị xoá nhoà:

                                        Ngòi đầu cầu nước trong như lọc

                                                đường bên cầu cỏ mọc còn non

Đó là chốn nào ? Có vẻ một nơi vô định, mơ hồ ! Toàn bộ khúc ngâm dài của người chinh phụ có nhiều cảnh mơ hồ, mù mịt như thế. Đó là những phong cảnh nặng trĩu tâm trạng buồn bã thất vọng của người vợ vắng chồng. Chỉ biết nhớ người, còn cảnh vật chẳng có ý nghĩa gì với nhân vật trữ tình. Không gian ở đây đã trở thành một ngôn ngữ đặc biệt nói giùm cái tâm trạng nhân vật. Nhà thơ đã giao cho không gian nhiệm vụ nghệ thuật ấy.

  1. KGNT trong Truyện Kiều

            Có khá nhiều không gian trong truyện :

-         Không gian cô đơn suốt 15 năm

-         Không gian giang hồ mênh mông vô định

-         Những cảnh vật thờ ơ vô tình với Kiều

-         Những đêm trăng vây bủa nàng Kiều

- Những không gian ảo giác

-  Những con đường vườn khuya, lối mòn, dặm cát, vó câu, bánh xe…theo

   sát cuộc đời Kiều

- Những không gian tù hãm cuộc đời nàng .v.v..

(BÀI TẬP: sinh viên hãy tìm đủ những câu thơ miêu tả các không gian kể trên trong Truyện Kiều)

Nhìn chung cuộc đời Kiều gặp bao trở ngại vì không gian (ngoài nguyên nhân chính là vì những kẻ ác trong xã hội). Đó là sự thật nhưng cũng là KGNT mà nhà thơ đã chọn để xây dựng nhân vật.

Đặc sắc nổi bật của nghệ thuật Truyện Kiều chính là nghệ thuật tả không gian, cùng với nhiều biện pháp nghệ thuật khác (Khi đưa Truỵên Kiều lên sân khấu, người ta bất lực vì không thể tạo được những không gian như Nguyễn Du đã tả bằng lời thơ. Nghĩa là cái không gian nghệ thuật của Nguyễn Du rất riêng biệt – khó mà chuyển thể được)

  1. Không gian nghệ thuật trong hai bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi

 Trại đầu xuân độ 头春渡

 

Độ đầu xuân thảo lục như yên

Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên

Dã kính hoang lương hành khách thiểu

Cô chu trấn nhật các sa miên

渡头春草绿如烟

春雨添来水拍天

野径荒凉行客少

孤舟镇日搁沙眠

Bến đò xuân đầu trại

 

Cỏ xuân đầu bến biếc như mây

Thêm lại mưa xuân trời nước đầy

đường nội vắng teo hành khách ít

thuyền côi gác bãi ngủ thâu ngàyĐầu bến, cỏ xuân xanh lục như khói

lại thêm  mưa xuân nước vỗ ngang trời

Đường ngoài nội vắng teo ít người đi

thuyền đơn côi suốt ngày gác đầu lên bãi ngủ

Ức Trai thi tập (Đào Duy Anh dịch)


Mộ xuân tức sự  暮春即事

Nhàn trung tận nhật bế thư trai

Môn ngoại toàn vô tục khách lai

đỗ vũ thanh trung xuân hướng lão

nhất đình sơ vũ luyện hoa khai

o

Cảm tác cuối xuân

Thong thả trọn ngày đóng cửa phòng sách

Ngoài cửa không hề có khách tục đến

Trong tiếng đỗ quyên kêu nghe xuân đã về già

cả sân hoa xoan nở dưới mưa phùn.dịch thơ

Trọn ngày thong thả khép phòng văn

khách tục bên ngoài chẳng bén chân

Khắc khoài quyên kêu xuân đã muộn

Hoa xoan mưa nhẹ nở đầy sân

Mỗi bài thơ có hai không gian tương phản.

Một không gian sinh hoạt của con người: không hoạt động, tĩnh lặng (hai câu đầu bài Cuối xuân tức sự và hai câu cuối bài Bến đò xuân đầu trại).

Một không gian thiên nhiên vũ trụ tươi đẹp, nổi lên tràn đầy sức sống (những câu còn lại). Nhà thơ sống trong khung cảnh tĩnh lặng, ông lắng nghe, hoà mình vào trong cảnh vật, để cho tâm hồn hoà điệu với thiên nhiên, hầu gạt bỏ mọi ưu phiền bận bịu của cuộc sống xã hội, để rồi lấy thêm sức mạnh của thiên nhiên chờ ngày trở lại phò vua giúp nước.

  1. Không gian trong bài “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Sóng nước theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo

Ông già câu cá không chú ý tới cá, ông chỉ nhìn ngắm, lắng nghe và cảm nhận mùa thu với tâm trạng siêu thoát. Người ta bảo ông đi “câu” mùa thu chứ không câu cá . Đến hai câu chót ông mới choảng tỉnh trở lại với thực tại.

  1. Không gian trong “Ngắm trăng” (Vọng nguyệt – Hồ Chí Minh)

  

Ngục trung vô tửu diệc vô hoa

Đối thử lương tiêu nhược nại hạ ?

Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt

Nguyệt tòng song khích khán thi giaTrong tù không rượu cũng không hoa

Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ

Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ

  Hai câu đầu là một không gian nội tâm. Hai câu sau là không gian thực tại được nhìn như một bức tranh. Nhà thơ tự ngắm mình và ngắm trăng hạn chế qua khe cửa. Cái bức tường nhà tù chẳng thể cản trở, chỉ buồn còn thiếu “rượu và hoa”. Nhưng thôi đã có ánh trăng làm bạn, an ủi lẫn nhau.

CHƯƠNG III.   THI PHÁP THỜI GIAN NGHỆ THUẬT

 I – KHÁI NIỆM

Cùng với không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật là phạm trù của hình thức nghệ thuật. Thế giới tồn tại và xác định trong không gian và thời gian. Thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật không tách rời nhau nhưng trong một tác phẩm nhà văn có thể chú ý sử dụng cả hai hoặc chỉ một trong hai.

Thời gian khách quan vật chất có các tính chất sau:

-         Có độ  dài, có hướng vận động, có nhịp điệu

-         Có 3 thời: quá  khứ, hiện tại, tương lai và vận động một chiều

Thời gian được tái tạo lại trong  tác phẩm (nên gọi  là thời gian nghệ thuật) luôn luôn mang quan niệm, cảm xúc và ý nghĩa nhân  sinh có tính chủ quan. Vậy: thời gian nghệ thuật là một hình tượng được sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật.

Thời gian nghệ thuật có thể tự do đảo ngược, rong ruổi ngược xuôi, co giãn, đồng hiện (chồng chất hai thời gian khác nhau).v.v..

II THỜI GIAN NGHỆ THUẬT THAY ĐỔI THEO DÒNG LỊCH SỬ

1. Thời gian nghệ thuật trong thần thoại

Thời gian hoà lẫn với không gian thành một yếu tố “không – thời” mờ nhạt, tĩnh tại,      không đầu, không cuối, không trật tự, chẳng hạn “ngày xửa ngày xưa ở vùng núi non trùng điệp phương Nam…” (truyện Lạc Long Quân và Âu Cơ). Tư duy cổ sơ của người xưa chưa thể nhận thức được thời gian, chưa xác định đo đếm được thời gian.

  1. Thời gian trong sử thi, truyền thuyết

Đó là thời gian quá khứ tuyệt đối khép kín. Sử thi tồn tại trong một quá khứ tách rời hẳn với hiện tại chẳng có mối liên hệ nào. Thời gian ấy mang tính không gian trôi đi không còn dấu vết. Hồi ấy con người vẫn phải chờ đợi nhưng là chờ đợi vượt qua vật cản không gian chứ không màng thời gian. Chẳng hạn Odyssee phải trải qua 20 năm phiêu bạt nhưng cái ngă trở chính là đại dương Địa Trung Hải nhiều bến bờ mênh  mông xa lạ (10 năm đánh thành Troie và 10 năm trở về – sử thi Hi Lạp)

  1. Thời gian cổ tích

Thời gian đo bằng sự kiện, chưa có thời gian tâm lí mong chờ, khắc khoải. Nhân vật không biết hồi tưỏng (không có ý niệm về quá khứ và hiện tại), không biết ước mơ (không có ý niệm về tương lai). Nhân vật không biết hồi tưởng và không biết ước mơ, như vậy nghĩa là cũng không xác định được hiện tại, không gắn với lịch sử đang trôi chảy.

  1. Thời gian trong văn học trung cổ

Thời gian tuần hoàn có tình chu kì theo vận động của tuấn trăng, sao, mặt trời, thời  tiết, mùa vụ trồng trọt hay săn bắt:

Sen tàn cúc lại nở hoa

Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân.

Dẫu sao, thời gian tuần hoàn cũng đã là một bước tiến bộ so với thời gian cổ tích.

  1. Thời gian trong văn học cận hiện đại

Ý thức thời gian ngày càng phong phú hơn, đa dạng hơn như: thời gian tâm lí, thời gian sinh hoạt, thời gian, lịch sử…

Nếu ở các “truyện tình trung cổ” như Truyện Kiều, truyện anh hùng Tam quốc diễn nghĩa chưa có thời gian sinh hoạt như chiều hôm ấy, đêm hôm ấy, khuya… giữa trưa. Thì đến Hồng Lâu Mộng, tiểu thuyết giáp ranh hiện tại, Những người khốn khổ, Miếng da lừa, Sống mòn… tràn đầy những thời gian sinh hoạt. Đây là cống hiến quan trong, bước tiến dài của tiểu thuyết thế kỉ XIX nối sang XX hiện đại.

Thời gian lịch sử được bộc lộ rõ nhất trong nến văn học hiện thực Xã Hội Chủ Nghĩa, đặc biệt là ý thức về thời gian tương lai. Thời gian gắn liền với những cuộc cách mạng và biến thiên của lịch sử loài người ngày nay.

III – MỘT SỐ KIỂU  THỜI GIAN NGHỆ THUẬT

 1. Thời gian có hai lớp

- Thời gian trần thuật (thời gian tác giả phát ngôn, đây là trọng tâm)

- Thời gian được trần thuật (ví dụ 15 năm Kiều lưu lạc)

Giữa hai lớp thời gian này có một khoảng cách, có thể rất lớn (truyện cổ tích: ngày xửa ngày xưa) nhưng có khi bằng 0/không (truyện Lão Hạc – hai lớp thời gian này trùng nhau: ông giáo vừa kể chuyện, cuộc đời lão Hạc diễn ra cùng lúc).

Thời gian trần thuật bao gồm nhiều loại:

-         Thời gian nhân vật rất quan trọng, nó làm cho công chúng nhận ra sự tồn tại của nhân vật. Chẳng hạn, trong tiểu thuyết “Vỡ bờ”, nhân vật Khắc chết ngay từ đầu. Anh tiểu biểu cho lớp chiến sĩ hi sinh trước khi cách mạng thành công. Nhân vật này có tính tổng hợp, đại biểu cho một giai đoạn cách mạng.

-         Thời gian nội tâm nhân vật hay thời gian tâm lí.

-         Thời gian sự kiện là thời gian năng động, biến hoá nhất trong tác phẩm. Nó đối lập với thời gian miêu tả. Thời gian sự kiện có tính gấp khúc, đột biến, dồn dập hoặc gối lên nhau, hoặc giãn ra.

-         Thời gian miêu tả: tĩnh tại. Nếu miêu tả nhiều thì nhịp điệu dòng sự kiện trôi chậm và ngược lại.

-         Thời gian đối thoại gọi là thời gian kịch.

-         Thời gian lịch sử được coi trọng đặc biệt trong văn học hiện thực Xã Hội Chủ Nghĩa. Nó dùng để miêu tả tương quan giữa con người và lịch sử, giữa cũ và mới. Nhân vật hành động theo dòng lịch sử và theo sự phát triền xủa cách mạng.

2. Thời gian 3 đoạn

  1. 1.       Quá khứ

Có nhiều cách để thể hiện quá khứ. Chẳng hạn quá khứ cư ngụ trong nhân vật cụ già Mết (Rừng xà nu của Nguyên Ngọc).

Phương tiện “hồi tưởng” được dùng phổ biến nhất với nhiều hình thức khác nhau. Đây là một bước tiến của văn học cận hiện đại (từ thế kỉ XIX).

  1. 2.       Tương lai

Báo hiệu một viễn cảnh, phương hướng phát triển của cuộc sống nhân vật.

Phương tiện có thể là “giấc mơ”, “dự cảm”. Hình tượng trẻ thơ cũng được dùng: chẳng hạn truyện “Số phận con người” của Sholokhov, cậu bé Vania thực ra đang dẫn người lính Sokolov đi tới (Văn 12 tập II). Người phụ nữ có thai cũng báo hiệu một tương lai (Tiết Bảo Thoa trong Hồng Lâu Mộng – cái thai báo hiệu dòng họ Giả còn hi vọng phục hồi và phục hưng, nhà văn Cao Ngạc không nỡ để cho những người quý tộc thân yêu của ông phải tuyệt tự. Kiều không sinh nở nữa mà nhường cho Thuý Vân, nàng không nghĩ tới tương lai nữa. Thị Nở cúi nhìn bụng, rùng mình nghĩ tới cái thai cảnh báo nỗi sợ hãi một thằng quỷ dữ con của làng Vũ Đại!). Còn trong truyện ngắn “Thuốc” của Lỗ Tấn, hai gia đình họ Hạ và họ Hoa đều mất đứa con duy nhất, báo hiệu gia đình họ mất tương lai.

  1. 3.      Hiện tại

Văn học hiện đại có nhiều cách thể hiện nhất với thì hiện tại. Trong đó, cảm nhận về sự tồn tại thường xuyên vĩnh viễn của những giá trị cao quý bất chấp thời gian – đó là tính lí tưởng cách mạng, là những giá trị truyền thống của văn hoá dân tộc “bốn mươi thế kỉ cùng ra trận”. Thời gian nghệ thuật trong bài “Cảnh rừng Việt Bắc” là một thời gian hiện tại nhưng hoàn toàn vĩnh viễn (đứng yên, lúc ấy đang thời gian kháng chiến).

“Người đi tìm hình của nước”, nhà thơ Chế Lan Viên đứng ở thời điểm 1960 mà đẩy lùi thời gian hiện tại về quá khứ đầu thề kỉ 20 để dõi theo bước chân của lãnh tụ; đối chiếu hai quá khứ của Bác Hồ và nhà thơ và đối chiếu với hiện tại.

Thực hành

 1. Lạc Long Quân, thần Kim Quy, Thánh Gióng

Thời gian thần thoại chỉ có “khởi đầu”, sau đó đứt đoạn, không gắn liền với thời gian lịch sử và cũng không có độ dài.

2.Truyện Tấm Cám

Thời gian cổ tích cũng không gắn lịch sử. Nó không có quá khứ và tương lai. Nó là thì quá khứ hoàn thành gọn trong quá khứ. Thời gian được đo bằng chuỗi sự kiện, sự cố mà thôi.

3. Từ Thức gặp tiên

Chuyện ở cuối thế kỉ 14 đầu 15. Thời gian cốt truyện là 1 năm, nhưng trong 3 ngày ở cõi tiên với Giáng Hương, Từ Thức đã cảm thấy dài bằng năm. Chàng nhớ quê năn nỉ xin về. Rồi chàng bỏ đi đâu mất tích. Xuất hiện “thời gian quan niệm” – quan niệm về cõi tiên vĩnh hằng và cõi trần ngắn ngủi.

4.Chinh phụ ngâm

Thời gian của nỗi nhớ mong triền miên dằng dặc hướng về tương lai. Cảm xúc thời gian đậm đặc, gay gắt, cồn cào trong tâm hồn chinh phụ. Suốt tác phẩm là một thời gian tâm trạng đã tượng hình. Không gian tuy có ần hiện trong tác phẩm nhưng đã bị chuyển hoá thành ý niệm thời gian rồi. Thời gian ấy kéo dài không dứt, đồng nhất với nỗi đau khổ khôn nguôi, không lối thoát của người chinh phụ.

5. Thề non nước

Một thời gian tuần hoàn theo truyền thống trung cổ:

Nước đi chưa lại non còn đứng trông

Non cao những ngóng cùng trông

Nước đi ra bể lại mưa về nguồn

Thời gian mang lại một niềm tin, niềm an ủi tâm hồn (nó đi rồi nó lại trở về, không mất đâu).

  1. Thời gian hồi tưởng trong “Nhớ rừng”

Nỗi nhớ tiếc khôn nguôi một thời oanh liệt và những giá trị đẹp cũ nay còn đâu! Thời gian phản ứng với những cảnh tù túng giả tạp tầm thường của thời gian hiện tại.

Hồi tưởng đối chiếu với thời hiện tại là một thi pháp hiện đại. Thế Lữ mới chỉ đánh thức quá khứ chứ chưa nhập nó vào hiện tại:

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan

Đâu những bình minh cây xanh nắng gội

Đâu những chiều lênh láng máu trong rừng (bữa tiệc)

     Nỗi đau đớn ở đây là “thời gian quá khứ” đã mất đi không trở lại.

  1. “Vội vàng” của Xuân Diệu

Thời gian là sự tiêu hao, làm mòn mỏi tiêu tan hương sắc tuổi trẻ, nó rơi rụng tàn phai. Giá trị cuộc sống không tái lập lại. Nhà thơ khao khát sống, tích cực, mãnh liệt hơn, chạy đua với thời gian.

  1. “Ý xuân” của Tố Hữu

Thời gian nghĩa là đổi mới, giải phóng, tươi trẻ yêu đời. Hình ảnh “xuân” tràn ngập thơ ông như một sức mạnh mới:

Xuân bước nhẹ trên nhành non lá mới

Bạn đời ơi vui chút với trời hồng

Hết lạnh rồi, gió bấc với mưa giông

Đây nắng tới với chim ca lanh lảnh

Càng về sau thơ ông càng lạc quan, hứng khởi. Thời gian trong thơ Tố Hữu chỉ có một tương quan: hôm nay và ngày mai đang đến.

  1. Thời gian trong “Chí Phèo”

Nhìn chung, thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn và tiểu thuyết phong phú đa dạng hơn hẳn thơ. Số phận Chí Phèo thể hiện trong một thời gian tuần hoàn – Năm Thọ lặp lại Binh Chức, Chí Phèo lặp lại Năm Thọ. Khi Chí Phèo chết, Thị Nở cúi nhìn nhanh xuống bụng và lo sợ Chí Phèo luân hồi trong cái làng Vũ Đại nhỏ hẹp này.

Thời gian nghệ thuật của thiên truyện Chí Phèo là thời gian huỷ diệt nhân tính. Theo thời gian ấy, kẻ ác càng gian xảo, người lương thiện biến thành quỷ dữ. Chí Phèo chẳng biết gì cảm giác thời gian, không biết tuổi mình. Cho đến khi gặp Thị Nở, cuộc đời hắn phục sinh, hắn nhớ ra tuổi mình, nhưng không còn kịp nữa …

CHƯƠNG IV .    THI PHÁP CHI TIẾT NGHỆ THUẬT

I – Khái niệm

Mỗi hình tượng nghệ thuật được thêu dệt nên bằng nhiều chi tiết lớn nhỏ khác nhau. Những đối tượng miêu tả như nhân vật, cảnh vật, môi trường… tạo nên bằng hình dáng, đường nét, âm thanh, thuộc tính chọn lọc mà tác giả cho là cần thiết nhất, quan trọng nhất, loại bỏ nhửng cái rườm ra không cần thiết.

Chi tiết là những bộ phận nhỏ, tự nó đứng riêng thì không có ý nghĩa, nhưng khi kết lại nó biểu hiện một ý nghĩa của tác phẩm.

Chi tiết chính là điểm nhìn, thể hiện quan niệm nghệ thuật và tâm hồn tác giả đối với đối tượng đó (so sánh: máy quay phim chiếu rõ cảnh nào trên màn ảnh thì đó cũng là điểm nhìn của nhà quay phim – điểm nhìn của tác giả phim).

Quan sát nhiều chi tiết cùng loại hoặc lặp đi lặp lại, ta thấy nó có một lớp ý nghĩa nào đó – bởi tác giả quan tâm và rung cảm với nó.

II – Tìm hiểu chi tiết nghệ thuật trong một số tác phẩm

  1. 1.      Chi tiết trong hai bài thơ Nguyễn Trãi

                         Mộ xuân tức sự   暮春即事

闲中尽日闭书寨

门外全无 俗客来

杜宇声中春向老

一庭初雨楝花开

Nhàn trung tận nhật bế thư trai

Môn ngoại toàn vô tục khách lai

đỗ vũ thanh trung xuân hướng lão

nhất đình sơ vũ luyện hoa khai

o                

 

(cảm tác) trước việc cuối xuân

Thong thả trọn ngày đóng cửa phòng sách

Ngoài cửa không hề có khách tục đến

Trong tiếng đỗ quyên kêu nghe xuân đã về già

cả sân hoa xoan nở dưới mưa phùn.dịch thơ

Trọn ngày thong thả khép phòng văn

khách tục bên ngoài chẳng bén chân

Khắc khoài quyên kêu xuân đã muộn

Hoa xoan mưa nhẹ nở đầy sân

Trại đầu xuân độ  头春渡 

“Bến đò xuân đầu trại”

 

渡头春草绿如烟

春雨添来水拍天

野径荒凉行客少

孤舟镇日搁沙眠Độ đầu xuân thảo lục như yên

Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên

Dã kính hoang lương hành khách thiểu

Cô chu trấn nhật các sa miên

O

Cỏ xuân đầu bến biếc như mây

Thêm lại mưa xuân trời nước đầy

đường nội vắng teo hành khách ít

thuyền côi gác bãi ngủ thâu ngàyĐầu bến, cỏ xuân xanh như khói

lại thêm  mưa xuân nước vỗ ngang trời

Đường ngoài nội vắng teo ít người đi

thuyền đơn côi suốt ngày gác đầu lên bãi mà ngủ

Ức Trai thi tập (Đào Duy Anh dịch)

Khung cảnh tạo nên bởi: cỏ xanh, bến xuân, mưa xuân, nước lẫn trời, đường đồng quạnh quẽ khách, con đò gối bãi, phòng văn, tiếng cuốc, hoa xoan… Tất cả cảnh ấy có tính chất vĩnh viễn – dấu hiệu của cuộc sống vĩnh hằng, tươi trẻ, đầy sức sống. Cũng như bài “Nghe mưa” của Nguyễn Trãi, tiếng mưa nghe như bất tận dù khi đứt nối, khi theo chuông vào giấc mơ. Mưa chỉ là tín hiệu của một vũ trụ đang vận hành không ngừng nghỉ… Nhìn chung các nhà thơ cổ điển ưa được tắm miình vào nhịp sống êm đềm, tự nhiên của thiên nhiên vũ trụ.

Chi tiết trong thơ cổ trở thành/ đồng hoá với ngôn ngữ thơ. Nhà thơ nói bằng chi tiết (chẳng hạn: lối xưa xe ngựa hồn thu thảo). Nói cách khác, ngôn ngữ thơ ca cổ điển là ngôn ngữ thiên nhiên. Đôi khi có ngoại lệ, ví dụ một số bài thơ của Đỗ Phủ và Nguyễn Du. Hãy đọc Những điều trông thấy của Nguyễn Du và Thạch hào lại của Đỗ Phủ .

  1. 2.            Chi tiết đời thường – sinh hoạt trong hai bài thơ của Đỗ Phủ và Nguyễn Du

Cảnh nghèo khổ đói cơm của một người mẹ và ba con cùng với cảnh quan lại no say phè phỡn phung phí một bữa tiệc lớn (Sở kiến hành), Nguyễn Du viết một kí sự để tố cáo, oán trách.

Còn Đỗ Phủ viết Thạch hào lại tả cảnh nha lại đang đêm đi bắt lính và phu ở một gia đình có hai ông bà già, con dâu quần áo tả tơi đang cho con bú. Bà già van nài, ông già nhảy tường trốn. Nhà đã có ba con trai đi lính, hai đứa chết trận. Tất cả các chi tiết của hai bài thơ đều là hiện thực trần trụi hiếm có trong thơ cổ điển. Nhưng nó vẫn tuân theo thi pháp cổ, nghĩa là nó phiếm chỉ, tượng trưng, là tín hiệu báo một hiện trạng xã hội phong kiến mục nát… Chúng ta nhận thấy rằng hai nhà thơ cổ điển kiệt xuất đã đặt nền móng cho chủ nghĩa hiện thực sau này.

  1. Hai loại chi tiết trong “Nhớ rừng”

Một lớp cảnh hồi tưởng ngày xưa thời oanh liệt của con hổ. Một lớp chi tiết giả tạo, tù hãm của vườn thú. Hai lớp chi tiết tương phản nhau gay gắt nói lên cảm xúc mãnh liệt của nhà thơ.

  1. Chi tiết trong “Đoàn thuyền đánh cá”

Những cảnh biển đêm trăng, cảnh đánh cá từ chiều tối đến sáng hôm sau. Nhưng bài thờ không nhằm thuật chuyện lao động đánh cá. Bài thơ thực là ca khúc cũa tâm hồn ngư dân trên biển cả thời hoà bình. Đó là bài ca lao động biểu hiện trạng thái tâm hồn ngư dân say đắm phóng khoáng, hào hứng tự chủ. Những chi tiết ấy vẽ ra nhiều lớp nghĩa: thiên nhiên tươi đẹp của tổ quốc, lao động hăng say – trạng thái tâm hồn thoải mái, trong đó chủ đạo là tâm hồn. Câu hát căng buồm cùng gió khơi – gió làm căng buồm, câu hát càng làm căng buồm hơn nữa!

  1. Chi tiết màu sắc trong tác phẩm văn học

Những hình ảnh màu sắc cũng đáng chú ý như một hiện tượng thi pháp chứ không phải ngẫu nhiên. Khoa thống kê học cho biết mỗi nhà văn có một bảng sắc màu riêng. Một công trình nghiên cứu ở Nga cho biết bảng màu sau đây:

-         Ba màu cơ bản: đỏ – vàng – vàng kim được dùng nhiều hơn cả trong văn học Nga truyền thống thế kỉ 19. Trong đó màu đỏ được dùng nhiều nhất, kế tới vàng kim. Bảng màu Pushkin cao nhất là vàng kim sang trọng quý phái, Dostoievski và Tolstoi dùng đỏ nhiều, kế đến vàng thông thường.

Khảo sát Truyện Kiều, thấy bảng màu của Nguyễn Du:
+ Vàng kim 30,25 %

+ Hồng đào thắm 30,25%

+ Xanh 10,80%

+ Bạc   7,60%+ Vàng  6.60%

Bảng màu của Nguyễn Du dồi dào màu sắc tươi thắm, sang trọng quý tộc (vàng kim), khoẻ mạnh, hạnh phúc, tình bạn (màu hồng) cũng là tình yêu nồng nàn quyến luyến tin cậy.

Trong Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều, tỉ lệ hồng và đào thắm cao nhất : người cung nữ dù bất hạnh vẫn ước mơ lầu son gác tía, tin vào hạnh phúc có thật ở đời và tình yêu vẫn tràn trề tươi sáng.

“Chinh phụ ngâm” màu xanh chiếm số lượng cao nhất (37,40%) là màu đồng quê, núi non quan ải, màu xa xôi biền biệt nhớ mong.

            “ Dế mèn phiêu lưu lí” – cánh đồng quê hiện lên trong bức tranh giàu màu sắc đầy sức sống …

  1. Chi tiết âm thanh trong văn học

Âm thanh cũng là tín hiệu của thế giới. Tuy nó xuất hiện ít hơn màu sắc (chỉ có một số thứ phát ra được âm thanh, còn màu sắc thì hầu như thứ gì cũng có), nhưng lại có sức vang động biểu cảm, gợi ý mạnh hơn. Có nhiều kiểu âm thanh khác nhau nhưng có lẽ tiếng đàn tạo ra hình tượng âm thanh giàu sức biểu đạt nhất (không kể tiếng người). Đó là những giai điệu đã được nghệ thuật hoá một bậc rồi.

Bài thơ “Tỳ bà hành” nổi tiếng của Bạch Cư Dị và những đoạn thơ Kiều tả tiếng đàn, người đọc biết rằng: tiếng đàn là những chi tiết biểu lộ tâm sự người kĩ nữ và Thuý Kiều. Tiếng đàn của kĩ nữ bến Tầm Dương diễn tả mọi thứ, từ trận mưa đến cảnh chiến trận, từ tiếng chim vui bạn đến cuộc đời dở dang vì biến cố:

Dây to nhường đổ mưa rào

Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng

… Trong hoa oanh ríu rít nhau

Nước tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh

Nước suối lạnh, dây mành ngừng dứt

… Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước

Ngựa sắt giong xô xát tiếng đao

Cung đàn trọn khúc thanh tao

Tiếng buông xé lụa, lựa vào bốn dây.

Còn tiếng đàn Kiều cũng lạ lắm:

Trong như tiếng hạc bay qua

Đục như nước suối mới sa nửa vời.

Phải chăng tiếng đàn bạc mệnh báo trước thân phận long đong chìm nổi, khi thanh cao như chim hạc (đi tu) khi nhục nhã ở chốn lầu xanh (đục như nước suối).

Xuân Diệu có cảm giác màu sắc rất mạnh mẽ:

Này lắng nghe em khúc nhạc thơm

Này lắng nghe em khúc nhạc hường (hồng)

Dẫn vào thế giới của du dương

 

Hãy nghe lẫn lộn ghé bên tai

Giọng suối lời chim tiếng khóc cười

Hãy uống thơ tan trong khúc nhạc

Ngọt ngào kêu gọi thuở xa khơi.

  Những nhà văn lớn như M.Gorki, Tolstoi, Nguyễn Tuân đã có những trang miêu tả tiếng đàn như tiếng người, tiếng tâm hồn nhân vật. Tất nhiên trong ấy có cả xúc cảm người nghe phụ hoạ cùng. Càng về thời hiện đại, tiếng đàn càng miêu tả phong phú tâm hồn người.

  1. Chi tiết đồ vật

  Đồ vật cũng là chi tiết nghệ thuật quan trọng. Như vũ khí được miêu tả nhiều trong sử  thi Hy Lạp, đặc biệt chiếc khiên cũa hiệp sĩ. Truyện Hồng Lâu Mộng có cả một thế giới đồ vật mà nhà văn tốn nhiều công phu miêu tả chẳng phải ngẫu nhiên hay tùy hứng. Trước hết là cách ăn mặc trang điểm của các công tử, tiểu thư, a hoàn… Đặc biệt viên ngọc “Thông ling bảo ngọc”của Giả Bảo Ngọc và chiếc lắc khoá cổ (dây chuyền) của Bảo Thoa  bằng vàng, hai thứ hợp thành “Kim ngọc lương duyện” khiến Bảo Thoa hi vọng, còn Lâm Đại Ngọc mặc cảm thân phận “mộc” (lâm/cây) sao sánh được với “ngọc” ám ảnh đè nặng tâm can. Bảo Ngọc rất coi thường viên ngọc, khi giận còn dứt ra ném đi (vứt ngọc, đập ngọc) – thái độ của cậu mang đầy ý nghĩa. Khi mất ngọc, câu chuyện đi vào kết thúc bi thương, tuyệt vọng. Còn có một lớp đồ vật khăn áo, túi thơm, vòng đeo, đèn lồng của tiểu thư, a hoàn rất đáng chú ý. Thế giới đồ vật phong phú trong Hồng Lâu Mộng đóng vai trò đáng kể góp phần vẽ chân dung nhân vật, phong tục tập quán, tín ngưỡng, khiếu thẩm mĩ, tính cách nhân vật – tóm lại thể hiện cả một thế giới tinh thần.

 Ở Việt Nam, nhà văn Nguyễn Tuân nổi tiếng về nghệ thuật miêu tả đồ vật. Ông dùng đồ vật để tả người, lai lịch nhân vật, thậm chí cả lịch sử. Miêu tả đồ vật nhưng khắc hoạ được thế giới tinh thần (chiếc gông đen bóng, nặng trịch, đầy rệp, tấm lụa trắng và nét chữ của Huấn Cao), cái bình pha trà, cây đàn… trong tập truyện Vang bóng một thời, Chùa Đàn, Chiếc lư đồng mắt cua).

CHƯƠNG V .    THI PHÁP CỐT TRUYỆN

 

I – KHÁI NIỆMCốt truyện là yếu tố cơ bản của tác phẩm tự sự. Theo định nghĩa truyền thống, cốt truyện là tất cả các hành động, biến cố phát triển trong truyện được kể lại. Khi thuật một câu chuyện, ta có thể kể các biến cố ấy theo một trật tự logic nào đó khiến người nghe hiểu được. Thành phần của cốt truyện có thể là:

-         Phần mở đầu (trình bày trạng thái/ quan hệ chuẩn bị vào truyện)

-         Phần thắt nút (khai đoan) miêu tả gặp gỡ, mâu thuẫn nảy sinh

-         Phần phát triển kể những bước thăng trầm của nhân vật và những quan hệ theo nguyên tắc nhân quả, liên tục

-         Phần cao trào, đỉnh điểm bước ngoặt xung đột, chấm dứt.

Có khi tác giả thêm phần “vĩ thanh” giới thiệu một viễn cảnh về sau (phần này không nối tiếp với cốt truyện mà cách xa về sau).

Xét theo một quan niệm mới: Truyện không nhất thiết phải kể theo sự tự vận hành của hành động sự kiện, biến cố. Có thể vận hành kiểu khác tuỳ thuộc vào quan niệm của tác giả về thế giới và con người.

Truyện nào cũng ít nhất có một biến cố xảy ra. Nhưng chẳng phải hễ có biến cố là có truyện. Chỉ thành truyện khi có một ý nghĩa nào đó. Nhà văn chọn một biến cố có vẻ khác thường, lạ lùng (lệch chuẩn, siêu việt) dự báo một đổi thay, một điều đáng lo nghĩ. Ví dụ: Nhà văn trước khi viết truyện ngắn “Luyxennơ“, ông quan sát thấy hàng trăm nhà giàu tụ tập say sưa nghe một nghệ sĩ hát rong suốt cả tiếng đồng hồ trước cửa khách sạn ông ở tại Thụy sĩ. Hát xong, nghệ sĩ ngửa mũ trước mặt họ nhận tiền thì ai cũng quay đi, chàng nghệ sĩ tội nghiệp chẳng nhận được một xu. Nếu họ ào ào móc tiền bỏ vào mũ chàng thì đó chỉ là hành động bình thường, chưa phải là biến cố. Nhà văn Liev Tolstoi nhìn thấy cảnh ấy, nghĩ rằng đó là sự suy đồi về đạo lí, đáng gọi là biến cố xã hội (nhà viết sử, nhà chính trị không quan tâm tới cái chuyện cỏn con ấy).

Nhiệm vụ của thi pháp cốt truyện không phải là đi trình bày các thành phần của cốt truyện mà phải là ý nghĩa của lối xây dựng cốt truyện ấy, hoặc quan niệm của tác giả đã chi phối cốt truyện đó.

II – THI PHÁP CỐT TRUYỆN CỦA MỘT SỐ TÁC PHẨM

  1. Trường ca Đam San (sử thi dân tộc Êđê)

Đam San là người tù trưởng anh hùng, say mê lì tưởng của dân tộc. Cuộc hôn nhân theo tục “nối dây” là nghi thức trao trách nhiệm, anh nhnậ hai trách nhiệm: người chồng và tù trưởng của bộ tộc. Hành động chủ yếu của anh là đứng đầu cộng đồng – quan trọng hơn việc làm chồng. H`Nhí là nhân vật chức năng chỉ biết li sự yên ổn và danh dự của tù trưởng hơn là vai trò làm vợ.

Cốt truyện là 21 sự kiện xảy ra liên tục. Chia ra ba giai đoạn:

-         Bảo vệ H`Nhí là sứ mệnh bảo vệ cộng đồng của Đam San (cũng như cưới cô chẳng vì tình yêu – chỉ là bổn phận)

-         Anh lập nhiều chiến công cũng vì nhiệm vụ cộng đồng

-         Khao khát cưới Nữ Thần Mặt Trời làm vộ lẽ cũng là vì lí tưởng cộng đồng. Cái chết thảm khốc của Đam San. Lễ cúng người chết. Mở hội ăn mừng kinh đình.

Nhân vật sử thi Đam San cũng có cá tính, đam mê và nóng nảy bất chấp nguy hiểm. Vẫn là cá tính của cộng đồng.

  1. Nhóm truyện Tấm Cám – Thạch Sanh – Sọ Dừa

Cốt truyện xếp theo xung đột thiện – ác xen kẽ và luật nhân quả.

Cái ác gồm: tham lam, đố kị, ích kỉ, vu oan, tranh công, lứa dối,lật lọng

Cái thiện gồm: thương người, vị tham dũng cảm, giữ lời hứa, chung thuỷ, chịu đựng cực khổ…

Đặc biệt niềm tin của cái thiện trong cổ tích là một niềm tin tuyệt đối kết hợp với yếu tố kì diệu dẫn cốt truyện đến kết thúc có hậu.

-         Tấm Cám: Mâu thuẫn bắt đầu từ phần thưởng cái yếm đỏ, Cám lừa chị để giành bằng được (mò tép được nhiều hơn thì được giải). Cái ác cứ lấn tới mãi, tự bộc lộ mình thoải mái, khốc liệt và tới hành động giết người. Kết quả nó phải đền tội.

-         Thạch Sanh: Lí Thông lợi dụng Thạch Sanh từ việc nhỏ đến việc lớn – lấp hang tiêu diệt Thạch Sanh để giành công

-         Sọ Dừa: Lão phú hộ tìm cách lật lọng mãi dẫn đến bị trừng phạt buộc phải gả con gái cho Sọ Dừa (không còn cách nào lật lọng).

Đặc điểm chung của thi pháp cốt truyện cổ tích là “mở nút” nhanh gọn nhờ phép màu nhiệm. Mâu thuẫn thường xảy ra là mâu thuẫn giai cấp, giàu nghèo, sang hèn, thiện ác.

  1. Cốt truyện Người thiếu phụ Nam Xương

Biến cố chính: nỗi oan tình của Vũ Nương

-         Người vợ hiền thuỷ chung bị chồng nghi oan

-         Tự vẫn để tỏ lòng chồng hối hận thì đã muộn

-         Giải oan

  1. Cốt truyện Truyện Kiều

Thử so sánh với nguyên tác “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm tài nhân. Truyện Kim Vân Kiều thuộc loại “tài tử – giai nhân, anh hùng – giai nhân” tầm cỡ trung bình. Cốt truyện có ba nhân vật gần như bình đẳng: Kim, Vân và Kiều, nhiều sự kiện, biến cố chồng chéo hoặc song song, bình đẳng với nhau (giang hồ, lừa lọc, đánh ghen, giải thoát, báo ân báo oán, đi tu, đoàn tụ)

Nguyễn Du đã xếp đặt cốt truyện “Đoạn trường tân thanh” với ý thức khác. Một cốt truyện gọn nhẹ, lược bỏ rất nhiều chi tiết, tình tiết (lừa lọc, vu oan, đánh ghen…) mà gia tăng cốt truyện tình yêu cùng bước đường lưc lạc của nhân vật chính là Kiều.

Đó là cốt truyện tính người – một đặc sắc truyện Nguyễn Du.

Bắt đầu từ lễ Thanh minh, gặp mộ Đạm Tiên, thương bạn gái quá cố chạnh nghĩ đến đời mình. Mối lo lắng âu sầu bắt đầu. Suốt 15 năm lưu lạc kể cả khi đã đoàn tụ, Kiều vẫn luôn luôn cảm nhận cuộc đời. Đằng sau công thức mà Kiều nhắc nhở “trung hiếu tiết nghĩa” là trái tim người con gái tài sắc luôn luôn xao động tình đời. Nàng cảm thấy nỗi cô đơn của một cá nhân trước sóng gió cuộc đời và khát khao vươn lên một cuộc sống tốt hơn, vừa với mình hơn. Dù thế nào nàng vẫn có tấm lòng vị tha nhân ái với người thân và những người bất hạnh khác.

Sự kiện nào là hạt nhân của cốt truyện Kiều ?

Đó là sự kiện: Kiều nhận thấy cuộc đời mình không tương ứng, không phù hợp với lí tưởng và khả năng của mình. Nỗi day dứt ấy theo suốt đời nàng, làm nên tấn bi kịch Truyện Kiều của Nguyễn Du. (Làm lẽ Mã giám Sinh chứ không làm đĩ. Làm đĩ sang trọng chọn khách chứ không làm đĩ tầm thường. Đi tu – lại bỏ tu. Làm vợ Thúc Sinh: muốn chính thức công khai chứ không lén lút. Thà chết chứ không làm vợ thổ quan. Đoàn tụ: làm bạn Kim Trọng chứ không làm vợ)

Tóm lại, ý thức của Kiều về sự không trùng khít cuộc đời với lí tưởng ước mơ tạo ra cốt truyện Kiều chứ không phải  các sự biến khách quan lôi kéo xô đẩy nhân vật. Tiếng nói Thuý Kiều là đặc sắc của tác phẩm, cùng với tiếng than thở của “Chinh phụ ngâm”, “Cung oán ngâm khúc”, thơ Hồ Xuân Hương, lời hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan. Ngày nay đọc Truyện Kiều, công chúng còn say mê chính là say cái tình tự Thuý Kiều hơn là sự hấp dẫn của những sự kiện. Đó là thành công của thi pháp Truyện Kiều.

  1. Thi pháp cốt truyện Thạch Lam

Xem xét ba tác phẩm: Gió lạnh đầu mùa, Hai đứa trẻ, Dưới bóng hoàng lan.

Theo quan niệm cốt truyện thông thường thì người ta bảo truyện của Thạch Lam không có cốt truyện, chỉ đọc được chứ không kể lại được. Không thấy có sự kiện, biến cố khiền người chú ý… Nhưng thực ra có biến cố tâm lí. Thạch Lam dõi theo biến cố tâm lí mà dựng truyện.

BÀI TẬP

  1. Miêu tả cốt truyện của ba tác phẩm kể trên. Tìm ra đặc điểm của cốt truyện.
  2. Miêu tả cốt truyện Lão Hạc (hai cốt truyện song song, cốt truyện chính là tâm trạng và mối lo tính của lão Hạc, cốt truyện phụ là quan hệ ông giáo và lão Hạc).

 CHƯƠNG VI .   THI PHÁP KẾT CẤU

I – KHÁI NIỆM

Kết cấu là toàn bộ tổ chức nghệ thuật của tác phẩm. Cái khó nhất của sáng tác là: Kết cấu. Tác phẩm là một công trình kiến trúc, vây thì việc khó nhất phải là kết cấu (ta thường nói: xây dựng, cấu tứ… ). Ngay cả từ “kết cấu” vốn của kiến trúc và hội hoạ. Nhà văn xây dựng một công trình văn học với mục đích phản ánh đời sống và sự cảm nhận của mình trước nó. Nhà văn phải xây dựng nhận vật, tính cách, xác định không gian thời gian, chọn lựa, sắp xếp chi tiết…

Kết cấu tác phẩm thực chất là tác giả mở lối cho người đọc đi vào dòng sự kiện, dòng đời. Bố trí điểm nhìn cho công chúng sao cho dễ thấy được chiều rộng và chiều sâu của câu chuyện nhằm thấy được ý nghĩa nhân sinh cần thiết cho con ngưởi.

Nói chung, nghệ thuật kết cấu tác phẩm văn học có mấy phương tiện sau

  1. Hệ thống hình tượng nhân vật, sự kiện và các chi tiết

-         Sắp xếp tương quan nhân vật chính phụ, chính diện – phản diện

-         Lựa chọn và sắp xếp chi tiết, tình tiết, hoàn cảnh, nội ngoại thất, đồ vật sao cho ý nghĩa hình tượng nổi lên.

  1. Hệ thống điểm nhìn và tổ chức văn bản

-         Tổ chức cái nhìn và hệ thống điểm nhìn, trước hết cho chính mình. Điểm nhìn nghĩa là: câu chuyện diễn ra dưới con mắt của ai (nhà văn/ nhân vật trữ trình/ nhân vật chính/ nhân vật phụ hoặc phối hợp hai người kể). Mỗi điểm nhìn có ý nghĩa khác nhau mặc dù cùng một câu chuyện ấy thôi

-         Hệ thống điểm  nhìn đặt trong không gian và thời gian (nhìn từ hiện tại hay quá khứ, nhìn về quãng tời gian nào? Thậm chí còn đứng ở tương lai giả định nhìn về hiện tại hoặc quá khứ. Nhìn từ xa hay ở gần, trên cao xuống hay dưới lên…

-         Nhìn một cách chủ quan (từ trạng thái tâm lí) hay khách quan (ghi chép, trần thuật kiểu phóng sự).

Nói cách đơn giản là văn bản bắt đầu từ đâu? Có hai kiểu mở đầu: văn học dân gian thường bắt đầu câu chuyện theo trình tự tự nhiên, nhân quả. Văn học hiện đại có thể bắt đầu từ bất cứ điểm nhìn nào theo ý đồ tác giả.

Sau khi xác định điểm nhìn, tức xác định chủ thể kể chuyện thì văn bản diễn ra theo ngôi thứ thích hợp (anh ấy, lão ta, hắn… ) với giọng điệu thân mật hay nghiêm trang tuỳ quan hệ của người kể với nhân vật.

Trong thơ trữ tình, điểm nhìn từ bên trong và còn nương theo nguyên tắc âm nhạc nữa.

Hình thức kết cấu văn học rất đa dạng và cũng phụ thuộc vào thể loại (riêng đối với thơ luật thì còn phải theo kết cấu định sẵn ví dụ thơ Đường luật, lục bát, song thất lục bát. v.v…

Sự tích cực chủ động sáng tạo của nhà văn làm phong phú nhiều kiểu kết cấu thú vị.

II – THI PHÁP KẾT CẤU CỦA MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC

  1. Truyện Trầu Cau

Kết cấu trùng với cốt truyện:

-         Hai anh em họ Cao sinh đôi

-         Cô gái họ Lưu yêu cả hai anh em nhưng chọn người anh làm chồng.

-         Một hôm người vợ nhận lầm người em là chồng, em xấu hổ, anh không vui rồi xa lánh em (có ý nghi ngờ).

-         Người em buồn, bỏ nhà ra đi, hoá tảng đá bên bờ suối.

-         Người anh hối hận đui tìm em, hoá cây cau mọc bên tảng đá

-         Người vợ đi tìm chồng, thất vọng hoá thành cây trầu leo quấn cây cau.

-         Vua Hùng nghe chuyện, lấy ba thứ ấy nhai chung thấy mùi thơm và màu đỏ thắm, đặt tục lệ ăn trầu.

(Có bản khác kể cô gái chỉ yêu  người em, nhưng khi người anh đến hỏi cưới, cô tưởng lầm là người em nên mới nhận lời. Việc nhầm lẫn về sau  trở nên phức tạp, và người anh có lí khi nghi ngờ em).

  1. Kết cấu Truyện Kiều

Xét qua ba đoạn văn trần thuật sau

                  3.1. Kiều gặp gỡ Kim Trọng

Mở đầu “dùng dằng nửa ở nửa về” kể theo con mắt (điểm nhìn) của chị em Kiều. Kiều nhìn Kim Trọng với cảm tình rõ rệt:

Trông chừng thấy một văn nhân

Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng

Đề huề lưng túi gió trăng

Sau chân theo một vài thằng con con

Tuyết in sắc ngựa câu giòn

Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời…

Sau đó Vương Quan kể về Kim Trọng:

Nguyên người quanh quất đâu xa

Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh

Nền phú hậu bậc tài danh

Văn chương nết đất thông minh tính trời

Phong tư tài mạo tót vời

Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa.

Bấy giờ đến cái nhìn của Kim Trọng:

Chung quanh vẫn đất nước nhà

Với Vương Quan, trước vẫn là đồng thân

Vẫn nghe thơm nức hương lân

Một nền đống tước khoá xuân hai Kiều.

(Ba tiếng “vẫn”: ý chàng Kim từ lâu muốn sáp đến gần nay mới có dịp)

Và bây giờ nhà thơ ngắm nhìn nhân vật của mình:

Người quốc sắc kẻ thiên tài

Tình trong như đã mặt ngoài còn e.

Rồi trả lại điểm nhìn cho Kiều:

Chập chờn cơn tỉnh cơn mê

Rốn ngồi chẳng tiện dứt về chỉn khôn.

Tác giả giành lại điểm nhìn:

Bóng tà như giục cơn buồn

Khách đà lên ngựa người còn ghé theo.

Và cuối cùng, Kiều nhìn xung quanh, ngẩn ngơ:

Dưới cầu nước chảy trong veo

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.

(Theo bản gốc của Thanh Tâm tài nhân, Vương Quan nghe tiếng nhạc ngựa, báo hai chị tạm lánh đi. Kiều vừa lánh sau hoa, vừa liếc trộm Kim Trọng. Kim Trọng thì cố tìm cách kéo dài thời gian. Vương viên ngoại cho người đi đón ba chị em vì trời đã xé chiều. Kim Trọng tiếc rẻ đứng ngó theo), còn Nguyễn thì tả “Khách đà lên ngựa người còn ghé theo”. Kiều mạnh dạn hơn, không kìm nén cảm xúc của mình.

                   3.2  Đoạn “Mã Giám Sinh mua Kiều”

Đúng ra phải gọi là “Thuý Kiều bán mình” – phù hợp với vai trò chủ động của Kiều. Nguyễn Du cũng tả câu chuyện mua bán dưới con mắt Thuý Kiều.

             3.3 Đoạn “Thúc Sinh từ biệt Thuý Kiều” nên gọi là “Thuý kiều tiễn biệt Thúc Sinh”, vì sự việc diễn ra dưới mắt Kiều, theo tâm trạng Kiều:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.

“Ai” là ai đây ? Ông Trời hay là số phận, hay là chính mình (Kiều) – chính nàng đã thúc giục chàng đi về gặp Hoạn Thư, nay nghĩ lại mà hối hận tự trách mình ?!

(Còn Thanh Tâm tài nhân kể ra tất cả. Ông kể rằng Kiều không ra tiễn Thúc được vì “khách của Thúc ra tiễn Thúc đông quá nên Kiều phải dừng lại sau bức bình phong”. Thúc chào, nàng không đáp chỉ nước mắt lưng tròng…) Kiều nhút nhát và thụ động quá.

  1. “Qua Đèo Ngang”

Bài thơ trữ tình được kết cấu theo sự vận động của cảm xúc dẫn đến sự bừng tỉnh của ý thức, nhận thức.

Thơ trữ tình cổ điển thường ưa bắt đầu từ sự cảm nhận một hiện tượng thực: một phong cảnh, một tình huống… rồi suy tư, sinh ra tình cảm, ý nghĩ thái độ mới.

                  Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

Vẽ ra một cảnh nghịch mắt: hoang sơ, tiêu điều. Cỏ cây rậm rạp chen lấn đá (đường mòn), ấy là do ít người qua lại . Lá chen lấn hoa, thiếu vẻ đẹp (hoa bị lấn lướt). Thử liên hệ cảnh: Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo.

Cảnh hoang sơ còn được nối tiếp ra xa: Lom khom dưới núi tiều vài chú/ lác đác bên sông chợ mấy nhà. Và vang khẽ len một âm thanh mơ hồ: nhớ nước đau lòng con quốc quốc/ thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

Kết thúc, nhà thơ cảm thấy cô đơn trong nỗi nhớ nhung một thời đã qua không trở lại:

Dừng chân đứng lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta.

Kết cấu chung của bài gồm hai nửa: 4 câu đầu là cảnh thực, 4 câu sau là cảnh tâm trạng – cảnh ảo. Có thể doi đây là một mô hình kết cấu rất phổ biến của thơ luật Đường.

     4. Kết cấu “Tam quốc diễn nghĩa”: “hợp- phân –hợp”,  “ vòng vo tam quốc”

5. Tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”

                (Thân phận của tình yêu) của Bảo Ninh

            Nhân vật : Kiên, học sinh cuối cấp 3 nhập ngũ năm 1965

Cha họa sĩ tiền chiến lãng mạn, mẹ cán bộ Đảng , mẹ bỏ chồng. Cha dượng là một nhà thơ lãng mạn bút danh “thần sầu”.  Phương cô hàng xóm, bạn học cùng lớp. Mẹ là nhạc sĩ. Phương thích hội họa, chơi đàn piano. Kiên học xong buổi cuối cùng phổ thông, giấy gọi nhập ngũ tháng Năm  (1965). Cô Lan con bà chủ nhà nơi đóng quân miền trung du (thôn Đồi Mơ, Thái Nguyên Yên thế) yêu một bạn trong đơn vị Kiên. Sinh con, không nuôi được. Mẹ mất. Yêu Kiên khi anh về thăm, hẹn anh trở lại. .. Cả đơn vị chỉ còn Kiên sống sót. Hiền thương binh cụt hai chân quê Nam Định, cùng chuyến tàu về Bắc.

[ Kiên đến Hà Nội lúc 4 giờ chiều, hẹn 6.30 tập kết lên tàu, 7.00 tàu chạy. Lỡ tàu...]

Quá khứ 1 . Hà Nội tuổi thơ, cấp 3, mối tình đầu với Phương

 1964-1965 .  3 tháng ..và 3 ngày cuối có Phương cùng đi đến Ga Thanh Hóa…]

Quá khứ 2  . 1966 Chiến trường Tây Nguyên 10 năm ………………………. .1975..]

Hiện tại 1 &  Hiện tại 2 :

1976 đi tìm hài cốt đồng đội Tây Nguyên, xong trở về Hà Nội ……………  1986]

                             (gặp lại Phương , Kiên làm báo viết văn, hồi tưởng.

 Sách dày 343 trang chia ra  3 đoạn thẳng = 3 đoạn thời gian trần thuật .

Mở đầu chuyện là năm 1976 sau đất nước thống nhất

Đi về quá khứ, đi ngược về quá khứ 1, trở lại hiện tại 2 .

Ba giai đoạn đều song song đi tới chót . Kết thúc tiểu thuyết với 3 cái “kết” cùng lúc.

Giai đoạn nào thu hút hết tâm hồn của nhân vật Kiên   ???

Kết cấu nghệ thuật = thời gian nghệ thuật . Ý nghĩa của “kết cấu” đó ?

Bài tập

1. Kết cấu “Thủy hử truyện”

2. Kết cấu “Liêu trai chí dị”

3. Kết cấu “Đông Chu liệt quốc”

3. Kết cấu “Hồng lâu mộng”

P

CHƯƠNG VII .   THI PHÁP LỜI VĂN NGHÊ THUẬT

 

I – KHÁI NIỆM

 

Lời văn nghệ thuật có gì khác với lời nói bình thường (phi nghệ thuật) ?

-         Lời văn nghệ thuật có tính hình tượng, mỗi lời đều là lời sáng tạo của nhà văn nhằm thực hiện ý muốn của mình.

-         Lời nghệ thuật có tính tổ chức cao, được lựa chọn theo ý thích, thói quen và khả năng của nhà văn, từ âm thanh, từ ngữ, nhịp điệu, đoạn và cả bài.

-         Phương tiện ngôn từ để viết văn: Phương tiên có sẵn (âm, vần, ẩn dụ và các biện pháp tu từ quen thuộc của dân tộc…). Tác giả sử dụng khi cần thiết, ngẫu hứng rải rác trong tác phẩm. Nhưng trong các phương tiện ấy, câu là phương tiện chủ yếu.

  1. 1.      Các phương diện của lời văn

-         Từ ngữ : từ thuần Việt, Hán Việt, lời sang trọng, lời quê mùa

-         Ngữ âm, thanh, vần.

-         Tốc độ dùng từ

-         Câu, cú pháp (đảo, song đôi, nghi vấn, khẳng định…)

-         Tu từ (mĩ từ pháp): so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá, song hành, gia giảm, khoa trương, phản nghĩa,… gọi chung là Phép chuyển nghĩa.

-         Kiểu văn bản (ngữ pháp văn bản).

  1. 2.      Ba kiểu lời văn: văn đàm thoại – văn sách vở – văn nghệ thuật.

  II – ĐẶC ĐIỂM LỜI VĂN NGHỆ THUẬT

Nhà văn có một lời văn riêng, khác với những gì đã kế thứa – đó là thi pháp của tác giả. Nghĩa là nhà văn đã tạo ra một hệ thống lời văn độc đáo.

Truyền thống thi pháp cổ khi bình giảng, họ chỉ đi tìm những “nhãn tự, thần cú” – có vẻ ngẫu nhiên may mắn tác giả viết được câu hay, từ đắt mà làm cho bài thơ, văn hay. Không hài lòng với kiểu truyền thống, thi pháp học hiện đại đi tìm quan niệm của lối sử dụng lời văn ấy – vì sao tác giả sáng tạo như thế?

Lời văn thể hiện học vấn, kinh nghiệm và quan niệm sống của con người.

 III – THI PHÁP LỜI VĂN TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM

  1. Thăng Long hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan

Bài thơ chuẩn mực về thi luật “thất ngôn bát cú”. Khởi đầu có vần (nhập vận)

Cân đối: 28 thanh bằng và 28 trắc

Mỗi câu có từ 3, 4 hoặc 5 âm bằng làm cho câu thơ êm ái du dương

Mỗi câu đều có từ Hán – Việt làm cho thơ có vẻ cổ kính, xa xưa đài các.

Mỗi câu thơ có khả năng độc lập, danh ngữ hoá – hạn chế dùng động từ. Cả bài thơ dường như chỉ có một động từ “gây” ở đầu câu. Những động từ khác yếu ớt (trơ gan, cau mặt, soi kim cổ) biểu hiện tình trạng ngưng đọng, suy tàn của cảnh vật Thăng Long. Các câu đôi nhau theo lối song hành, không theo lối tương phản, làm cho khí thơ yếu trầm, hợp với động từ yếu kể trên.

Tám câu thơ đầy ắp cảm giác thời gian và sự thay đổi buồn bã, nhớ thương xưa, hãnh diện về ngày xưa, nhà thơ bâu giờ chỉ còn cô đơn lạc lõng.

Cái tôi thi sĩ chỉ đề lộ trong 5 tiếng “người đây luống đoạn trường”. Luống nghĩa là uổng công, suông, đau lòng nhưng bất lực, thôi thì chỉ biết đau suông, chẳng làm gì được. (Thi pháp cổ thông thường chỉ nhận thấy các nhãn tự “hồ, bóng, trơ, cau” là đặc sắc).

Thăng Long hoài cổ

 

Tạo hoá gây chi cuộc hí trường

Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Nước còn cau mặt với tang thương

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường

Cảnh chiều hôm

Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn

Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn

Gác mái ngư ông về viễn phố

Gõ sừng mục tử lại cô thôn

Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi

Dặm liễu sương sa khách bước dồn

Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ

Lấy ai mà kể chuyện hàn ôn.

 

Chùa Trấn Bắc

Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu

Khách qua đường dễ chạnh niềm đau

Mấy giò sen rớt hơi hương ngự

Năm thức mây phong nếp áo chầu

Sóng lớp phế hưng coi đã rộn

Chuông hồi kim cổ lắng càng mau

Người xưa cảnh cũ nào đâu tá

Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu

Qua Đèo Ngang

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá lá chen hoa

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Dừng chân đứng lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta.

  1. Lời văn nghệ thuật trong Truyện Kiều

Chỉ bàn về lời văn nghệ thuật, Truyện Kiều đã xứng là một kiệt tác bất hủ của nền văn học Việt Nam.

Nhà nghiên cứu Phan Ngọc đã nhận thấy nhiều kiểu lời văn nghệ thuật đặc sắc nguyễn Du, đến mức ông cho rằng: có một “ngữ pháp Truyện Kiều”. Chỉ riêng phép đối: 250 câu đối đa dạng, linh động, tiết kiệm ngôn từ mà biểu hiện cao, lời thơ dễ thuộc, dễ cảm.

  1. Thi pháp lời văn “Người thiếu phụ Nam Xương”

      Lời kể và lời thoại đều của tác giả. Chưa có lời của nhân vật.

  1. Từ ngữ của thơ Tố Hữu

Những hình ảnh đậm nét, chói ngời, tươi trẻ, mạnh mẽ, đầy sức sống, đầy nhiệt huyết, ngôn từ muốn toả sáng, ngun ngút tinh thần và tình cảm. (Thử so sánh với lời thơ Chế Lan Viên – nhẹ nhàng, kín đáo, say mê kìm nén…)

  1. Thi pháp lời văn Lão Hạc, Chí Phèo

Lời văn trần thuật đa thanh, phức điệu. Ngôn ngữ nhân vật đã được cá tính hoá. Lời trần thuật của Nam Cao xũng thay đổi đa dạng tuỳ theo tình huống và tâm trạng quan niệm của mình. Lời văn nghệ thuật Nam Cao đạt tới đỉnh cao lời văn hiện đại còn nhờ độ chân thực rất cao.

CHƯƠNG VIII.         HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ

                                      (Một dạng thi pháp đặc biệt)

          Tiếp xúc với tác phẩm văn học, ngoài việc cảm nhận nội dung khách quan chúng ta còn giao tiếp với tác giả của nó, đồng cảm với tác giả, hiểu được tác giả. Có hai khái niệm tác giả: tác giả tiểu sử (ngoaì đời) và tác giả nghệ sĩ.

         Tác giả nghệ sĩ cũng gọi là “hình tượng tác giả” do tác giả tiểu sử sáng tạo ra, có vai trò như một hình tượng nhân vật khác mặc dù tác giả có ý thức sáng tạo ra hay không.

          Hình tượng tác giả đã đứng ra nói chuyện, giao tiếp với độc giả. Vậy chúng ta không nên đồng nhất hai tác giả đó. Hình tượng tác giả có chân dung, hành động, ngôn ngữ chứa đựng trong tác phẩm.

          Đặc biệt có khi tác giả tự miêu tả mình, như một số truyện ngắn của Maxim Gorki, hoặc những tác phẩm tự thuật khác…

            Nhìn chung, hình tượng tác giả thể hiện trên ba mặt:

1.1   Cái nhìn

1.2   Giọng điệu

1.3  Lập trường lựa chọn, phân tích, đánh giá

          Hình tượng tác giả có vẻ như tồn tại vô hình. Tuy vây khi đọc văn, người đọc vẫn nhìn theo hướng của tác giả, đọc thầm hoặc đọc thành tiếng theo giọng điệu của tác giả. Cái nhìn và giọng điệu này vô hình nhưng có thực, luôn luôn tồn tại, ổn định suốt theo tác phẩm. Đó là một yếu tố thi pháp quan trong có thể xác định được cho dù nó vô hình dạng. Rõ rệt nhất là khi con mắt tác giả đặt vào các chi tiết (giống như xem phim khi ta thấy rõ cảnh nào tức là tác giả/ ống kính máy quay đang chiếu vào cảnh đó).

  1. Hình tượng Nguyễn Du

          Đây là một đề tài khó xác định. Nhìn chung khó tìm ra rõ nét một hình tượng tác giả trong tác phẩm Truyện Kiều.

          Nguyễn Du đã nhìn con người ở một khoảng cách thật gần gũi, nhìn thấu rõ gan ruột tâm tư nhân vật. Từ đó chúng ta thấy chỗ đứng và lập trường tư tưởng của nhà thơ.

          Cái nhìn của Nguyễn Du luôn luôn vận động, uyển chuyển để theo sát hiện tượng, do đó hiện thực nổi lên rõ hơn. Một cái nhìn biện chứng không cứng nhắc Chẳng hạn, khi Kim Trọng khuyên Kiều đừng nên gảy những bản nhạc sầu thảm thì Kiều đáp rằng:

Lời vàng vâng lĩnh ý cao

Hoạ dần dần bớt chút nào được chăng.

           Nhà thơ biết rằng sự chuyển hoá tính cách con người là một quá trình, không thể đột biến, muốn là được ngay.

          Khi Kiều thắp nhang khấn vái Đạm Tiên, nàng nói:

Gọi là gặp gỡ giữa đường

Hoạ là người dưới suối vàng biết cho.

         Nhà thơ biết rằng từ “ý muốn” đến “kết quả”còn có khoảng cách. Kiều làm việc từ thiện nhưng không chắc rằng người hàm ơn “biết cho”. Nàng chưa tin hẳn vào luật nhân quả nhưng vẫn làm việc thiện.

         Kiều nói với Kim Trọng ở hồi đoàn tụ:

Đã đem mình bỏ am mây

Tuổi này gửi với cỏ cây cũng vừa

Mùi thiền đã bén muối dưa

Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng

Sự đời đã tắt lửa lòng

Còn chen vào chốn bui hồng làm chi

Dở dang nào có hay gì

Đã tu tu trót, qua thì thì thôi.

Qua một tiếng “bỏ”, nhà thơ bộc lộ quan niệm về Phật giáo: đi tu là “vất bỏ cuộc đời” tránh xa cõi thế. Nhân vật vẫn còn tiếc nuối cái hạnh phúc sống trong đời. Đó là quan điểm nhân văn sâu sắc của nhà thơ, hạnh phúc là “sống và yêu” chứ không phải  đi tu ! Và sau bao nhiêu lựa chọn, gửi gắm thì “sống với cái gia đình sinh ra mình” là lựa chọn cuối cùng của nhà thơ, của nhân vật Thúy Kiều !

Hình tượng Nguyễn Du có cái nhìn nhiều chiều đã là sự tiến bộ lớn lao so với nhà thơ trung cổ chỉ có một cách nhìn Nho giáo (trung hiếu tiết nghĩa). Mỗi  nhân vật trong Truyện Kiều đều nhìn theo ít nhất hai cách.Từ Hải- có người gọi là giặc, có người gọi là anh hùng…

Có 4 cách nhìn Hồ Tôn Hiến. Có nhiều cách nhìn nhận chữ “trinh” của Thuý Kiều. Do vậy có người bảo Nguyễn Du tự mâu thuẫn và phức tạp trong nhân sinh quan, thế giới quan.

Thực ra tác giả không muốn để lộ mình mà đưa ra nhiều cách nhìn để cho bạn đọc đánh giá. Cái nhìn phong kiến chính thống bị co hẹp lại nhường chỗ cho những quan điểm của nhân dân mà nhà thơ  đưa ra trong truyện.

  1. Hình tượng Tố Hữu trong thơ ông

Thưở ban đầu “Từ ấy” nhà thơ viết “Ta đã là con của vạn nhà/ Là em của vạn kiếp phôi pha/ là anh của vạn đầu em nhỏ/ không áo cơm, cù bất cù bơ”.

Nhà thơ chọn chỗ đứng giữa mọi người nên tiếng thơ thân thiết gần gũi, chan hoà với mọi người.

Đôi khi cần thiết, giọng thơ mang đầy quyền uy của cách mạng. Một người cách mạng chân chính, thật sự mới dám cất tiếng nói quyền uy như thế. Tiếng nói nhất quán trước sau, kêu gọi, hứa hẹn, an ủi, phê phán, thúc giục. . . với nội lực mạnh mẽ.

Tiếng nói ấy rất cần thiết cho cách mạng. Một tiếng hô muôn lời ứng. Tác giả nhân danh cách mạng mà lên tiếng, không phải cá nhân Tố Hữu có quyền uy ấy.

Giọng quyền uy ẩn chứa cả trong lời tâm tình bạn bè nhẹ nhàng tha thiết:

Sài gòn ơi, Huế ơi xin đợi

Tái hợp huy hoàng cả nước non.

Khi tâm tình bạn bè, thơ Tố Hữu tràn đầy tự tin nhiệt tình chứ không phải cao ngạo hách dịch, không phải lệnh trên ban xuống.

Hình tượng tác giả Tố Hữu còn có cái nhìn nhiều chiều của cái Tôi cách mạng: cái tôi cá nhân, cái tôi cộng đồng (cái Ta), cái tôi dân tộc, cái tôi lương tri nhân loại, cái tôi thời đại. Tố Hữu đã mở rộng cái tôi trữ tình.

Và sức hấp dẫn của thơ ông là “cái tôi nhiều vai” ấy. Khi nhà thơ thu hẹp lại trong cái tôi cá thể thì ông  lúng túng và bối rối, chẳng hạn trong bài thơ “Bài ca Xuân 61: ” Ba con tôi  đã ngủ lâu rồi/ còn bao nhiêu chưa được ngủ trong nôi ?”. Tập thơ cuối cùng “Một tiếng đàn” của ông là  tiếng đàn cá thể, cô đơn, rất ít tiếng vang trong lòng bạn đọc..

LƯU Ý

Cần phân biệt hình tượng tác giả với “người dẫn chuyện/ người kể chuyện”. Thật ra, hình tượng tác giả lớn hơn, bao trùm cả người dẫn/ kể chuyện. Đôi khi họ trùng lên nhau.

Trong thơ trữ tình, nhân vật trữ tình có thể không đồng nhất với hình tượng tác giả mặc dù  xưng “tôi” hay không.

Thơ trữ tình cổ điển không thấy cái “tôi” nhưng vẫn có hình tượng tác giả, bởi vì vẫn có ý thức trữ tình (có người nói thơ cổ điển phi ngã – thực ra chỉ là phi ngã về mặt hình thức).

      Mỗi thời đại có một kiểu hình tượng tác giả. Mỗi kiểu vẫn gồm nhiều phong cách tác giả khác nhau.

Trong văn học cổ, hình tượng tác giả đứng biệt lập, tách ra khỏi hiện thực, đứng trên mọi nhân vật.

Văn học cận hiện đại: tác giả không giấu sự thiên vị, có trường phái, tự bộc lộ mình hơn.

Trong Thơ Mới 1930 -1945, cái “tôi” đại diện cho một lớp người mới kêu gọi đòi giải phóng cá nhân.

Mỗi thể loại, thể tài văn học có những kiểu hình tượng tác giả khác nhau. Thi nhân khi làm thơ chữ Hán có phong cách khác khi làm thơ Nôm (khi trang trọng tao nhã, lúc nôm na bình dân: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến…). Chẳng hạn, hai hình tượng tác giả có phong cách rõ nét khác nhau là Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan.

Lịch sử văn học có thể xây dựng bằng lịch sử các kiểu hình tượng tác giả.

KẾT LUẬN

      Trong lịch sử nghiên cứu, giảng dạy văn học, đối tượng Văn được tách ra hai nhánh: ngữ học và văn học. Những tác phẩm truyền miệng và văn bản gọi là Văn chương. Hai cặp tương ứng: ngôn ngữ và văn chương là đối tượng của ngữ học và văn học. Thật ra hai cặp là một không thể chia lìa.

Có ý kiến cho rằng nên gọi thi pháp học là “Thi học” với định nghĩa thi học là khoa học về thơ (nghĩa rộng là văn chương). Theo đó, Thi học cũng là văn học như một khoa học nghiên cứu văn chương.

Quan niệm khác, gọi VĂN HỌC là khoa học của mọi thứ văn bản của con người. Nhưng đã có một ngành khoa học gọi là “Văn bản học” hoặc “Phong cách ngôn ngữ học” làm việc đó .

Trước đây người ta chỉ quen đưa ra câu hỏi khi nghiên cứu văn học: cái tác phẩm ấy chuyển tải nội dung tư tưởng gì. Bên cạnh đó, người ta “chiếu cố” tìm ra vài hình thức nghệ thuật của nhà văn như một phần phụ thêm. Chúng ta gọi đó là kiểu “xã hội học”, “chủ nghĩa sơ lược” chứ không phải “nghệ thuật vị nhân sinh” (thử hỏi: nghệ thuật nào không vị nhân sinh, nghệ thuật nằm ngoài nhân sinh hay sao ?).

Thực ra, ngôn ngữ là vật chất. Nhà thơ siêu thực Pháp Paul Valery nhận xét: “bản chất của văn xuôi là để mất đi”. Khi đọc xong một bản văn xuôi (truyện, kí) người đọc đã lĩnh hội được “ý” của  nó rồi thì không còn nhớ “lời” của nó nữa. Ngoại trừ thơ! Nhớ thơ là phải nhớ Lời – tức là hình thức gắn chặt với nội dung, với ý. Quên lời là quên tất cả. Ví dụ hai câu thơ sau:

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Nếu không chú ý đến hình thức thì chẳng có nội dung gì hết nữa. (Nội dung thường biểu đạt ở động từ, mà hai câu thơ trên không có động từ!)

Vậy là chúng ta phải đi tìm từ hình thức đến nội dung, rồi lại trở về hình thức thì mới hiểu trọn vẹn hai câu thơ.

Chất thơ chính là cội nguồn và thực chất của văn chương, dù là truyện, kí, kịch hay thơ, dân ca, ca dao, thần thoại, cổ tích cũng vậy. Cái còn đọng lại là “chất thơ” – chất thơ của Mị Châu Trọng Thuỷ, Trương Chi, chất thơ của truyện ngắn Nam Cao, kịch Lưu Quang Vũ .v.v.. thậm chí chất thơ trong cả Tuyên ngôn độc lập.

Aristote đã gọi chung nguyên tắc sáng tạo của văn học cổ đại là Poetika ( tiếng Anh là Poetics)  tạm dịch là “Thi pháp”. Khái niệm đó cũng được chấp nhận trong thời hiện đại. Tuy nhiên, người ta vẫn ghi rõ: Thi pháp tiểu thuyết, Thi pháp kịch, Thi pháp thơ

Cần phân biệt khuynh hướng chỉ say mê đi tìm hình thức nghệ thuật của văn chương mà không quan tâm đầy đủ đến nội dung tư tưởng. Khuynh hướng này thực chất là “chủ nghĩa hình thức”, đã từng bị phê phán chỉ trích là “nghệ thuật học tầm thường” hoặc “chủ nghĩa nghệ thuật vị nghệ thuật”. Thi pháp học hiện đại hoàn chỉnh và khoa học hơn hẳn lối nghiên cứu nói trên.

Qua chuyên đề này, cần nắm vững hai khái niệm: Thi phápThi pháp học. Thi pháp thuộc về sáng tạo của tác giả, còn Thi pháp học là công việc nghiên cứu văn học của chúng ta.

Khi nghiên cứu “Thi pháp thời kì văn học”, cần nhớ rằng Thi pháp thời kì (hoặc giai đoạn) đều có tính ước lệ, quy phạm. Bên cạnh đó vẫn có vai trò cá tính sáng tạo (thi pháp tác giả) vừa nhập vào cái chung (thi pháp thời kì) vừa có vai trò đóng góp mới, riêng.

Các bài mẫu phân tích thi pháp trong chuyên đề này đã được sắp xếp theo trình tự của lịch sử văn học dân tộc Việt Nam. Đó cũng là một phác thảo công trình Thi pháp học lịch sử – một chuyên ngành củaThi pháp học hiện đại.

Thi pháp trong văn chương thế giới cực kì phong phú, đa dạng. Chúng ta có thể áp dụng lý thuyết Thi pháp học hiện đại để tiếp tục nghiên cứu.

THỰC HÀNH – LUYỆN TẬP

NHỮNG LƯU Ý CẦN THIẾT KHI TÌM HIỂU THI PHÁP

 1.Một tác phẩm, tác giả có thể sáng tạo vận dụng một hay nhiều thi pháp.

  1. Những tác giả, tác phẩm cỡ lớn mới hội đủ các dạng thi pháp, chẳng hạn Truyện Kiều của Ngyễn Du, tác phẩm của Tolstoi, Sholokhov, Hồng Lâu Mộng.
  2. Một tác phẩm thành công ít nhất phải có một thi pháp.
  3. Chỉ nghiên cứu thấu đáo một thi pháp cũng đủ hiểu nội dung của tác phẩm và cảm xúc, tư tưởng của nhà văn. Chúng ta hãy coi mỗi thi pháp như một lát cắt ngang/ dọc qua tác phẩm. Lát cắt sẽ bộc lộ nội dung tác phẩm. Vấn đề là chọn lát cắt nào thể hiện nhiều nhất, rõ nhất tác phẩm, tác giả, trào lưu, giai đoạn đó. Người nghiên cứu cần phải chọn đúng hướng tiếp cận đối tượng thì mới đảm bảo thành công.

NHỮNG ĐỐI TƯỢNG SAU ĐÂY CHỨA ĐỰNG THI PHÁP VĂN HỌC

1. Một tác phẩm

2. Một nhóm/ chùm tác phẩm của một tác giả

3. Toàn bộ tác phẩm của một tác giả/ thi pháp tác giả

4. Một trào lưu văn học gồm những tác giả tiêu biểu

5. Một thời đại/ thời kì/ giai đoạn văn học, gồm từ một tới nhiều trào lưu, trường phái, giai đoạn nhỏ.

6. Một thể loại văn học (xuyên suốt một thời kì hoặc toàn bộ lịch sử văn học dân tộc).

BÀI 1 – Thi pháp thơ Bà huyện Thanh Quan

Nghiên cứu 4 bài thơ của bà, chúng ta xác định được Thi pháp tác giả. Chúng ta hãy xem yếu tố nào được lặp đi lặp lại trong suốt mọi tác phẩm của tác giả. Sau đó tìm hiểu quan niệm triết học của tác giả chi phối việc sử dụng yếu tố nào đó, cũng có thể là triết lí dân gian hoặc “triết lí không ý thức”. Đó là thi pháp tác giả.

Qua bốn bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan, ta thấy không gian, thời gian từ ngữ Hán – Việt (lời văn) là những yếu tố gây ấn tượng đậm nét với người đọc.

KHÔNG GIAN

“Bãi vắng bên sông, đèo Ngang hoang vắng tiêu điều, chùa Trấn Bắc vắng vẻ, ngay cả Hồ Gươm tuy đông người qua lại nhưng bà vẫn miêu tả là vắng vẻ (mục hạ vô nhân)”…

Vậy chúng ta nhận xét: Không gian nghệ thuật ”cảnh vắng vẻ” là nơi bà ưa thích để trầm tư một mình, vui với cảnh cô đơn.

Hãy tìm hiểu ý nghĩa của những cảnh khác:

  1. Một ngư ông lặng lẽ đi về cuối phố
  2. Một thằng bé chăn trâu gõ sừng đi về xóm xa
  3. Lom khom dưới núi tiều vài chú
  4. Dặm liễu sương sa, một người khách bước dồn, gấp gáp cho kịp trước khi tối
  5. Lũ trọc đầu ngẩn ngơ ở chùa Trấn Bắc

THỜI GIAN

  1. Bóng tịch dương
  2. Bóng xế tà
  3. Bảng lảng bóng hoàng hôn

Ý nghĩa chung của không gian và thời gian  trong thơ Bà huyện Thanh Quan  là gì ?

    Cảnh vật và thời gian hoà quyện mật thiết với nhau. Cảnh vắng vẻ là nơi bà lựa chọn, bà thích cô đơn vì chẳng có bạn tri âm. Nếu có người trong cảnh ấy thì mờ nhạt, câm lặng, không đáng chú ý (lũ sư trọc đầu, ông lão, thằng bé, mấy chú tiều phu…). Đặc biệt có một không gian tâm tưởng ở bờ hồ Hoàn Kiếm – nơi trung tâm náo nhiệt của kinh đô – nhưng bà coi như không có gì trong mắt – chỉ còn “lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, nền cũ lâu đài bóng tịch dương”. Và bà chợt tìm thấy kẻ tri âm tri kỉ, ấy là “đá vẫn trơ gan, nước còn cau mặt” – cảnh vật cũng biết tỏ thái độ đồng tình với bà. Chỉ có nữ sĩ với đá và nước “trơ gan” không thể hoà nhập vào dòng đời – thời nhà Nguyễn (còn có con quốc quốc và cái gia gia biết kêu thương nữa).

    Cảnh tượng suy tàn, mòn mỏi, uể oải, ngưng đọng như bị tách ra khỏi dòng chảy của đời sống. Nhà thơ tìm chỗ ẩn ở đó, chối từ dòng đời cuộn chảy . Vậy là bà phủ định hiện thực hiện tại, bà chỉ tìm ở đó chút gì của qúa khứ. Do vậy chúng ta bảo thơ bà chỉ có một niềm hoài cổ.

    Bà chỉ một niềm nhớ thương, tiếc nuối một cái đẹp cũ – thời quá khứ vàng son của nhà Lê thịnh trị ngày xưa. Không còn hy vọng gì nữa bởi bà là người thức thời, bà chỉ biết đau mà kêu kên bằng tiếng thơ trầm lắng, kín đáo, thế thôi !

    Thơ hoài cổ của bà không hề có ý nghĩa tiêu cực. Thực ra nó mang cảm hứng tích cực – tỏ thái độ bất mãn với thời Trịnh -Nguyễn đảo điên mục nát. Thơ bà nhớ thoương những cái đẹp cũ chứ không phảo bất cứ cái gì của quá khứ.

   Thơ bà Huyện Thanh Quan là một tấn bi kịch.

BÀI 2 – Thi pháp thơ cổ điển Việt nam

           (Mấy đặc trưng thẩm mĩ của thơ cổ điển Việt Nam)

Ở đây thi pháp thể loại  trùng với thi pháp thời kì cổ điển

              2.1 – Một số quan niệm triết học cổ

1. Con người và giới tự nhiên gắn bó với nhau theo các quy luật Âm – Dương, Tam tài và Ngũ hành tương sinh tương khắc, kể cả Bát quái. Thiên nhiên vẫn giữ vai trò quyết định, con người chịu phụ thuộc:

- Sao băng (rơi xuống)   à  vua chết

- Sao chổi               à loạn lạc

- Gió thổi gãy cờ (suý)   à  thua trận

- Mả táng hàm rống        à dòng họ phát đạt

- Tiếng cú, quạ kêu         à điềm gở sắp xảy ra

2. Thiên nhiên được coi là bạn tri âm tri kỉ của con người, có thể chia sẻ tâm sự, nương nhờ vào thiên nhiên, giao hoà với cảnh vật.

3. Con người lo sợ rơn ngợp trước không gian lớn lao, xa cách, thích sống yên tĩnh với ruộng vườn (đặc trưng văn hoá nông nghiệp lúa nước – xem giáo trình Cơ sở văn hoá Việt Nam )

4. Con người chưa nhận thức được sự vận động tiến lên không ngừng của thế giới, họ chỉ thấy chu kì tuần hoàn của thời gian (Lịch âm dương, một chu kì 60 năm gọi là một Hội – tương ứng với một triều đại).

5. Tin tưởng vào những giá trị cũ được thử thách cần được bảo tồn như mẫu mực. Tính kế thừa được đề cao. Thủ pháp ước lệ chính là dựa vào những chi tiết đã được gọi là chuẩn mực. (Ví dụ anh hùng thì phải cao lơn, giai nhân thì yểu điệu thục nữ… )

6. Cái đẹp cân đối hài hoà, hoàn chỉnh, trong đó đạo đức là trung tâm, quan trọng nhất: “văn dĩ tải đạo, văn dĩ minh đạo”, Câu văn cũng phải cân đối mới hay: thơ luật, văn biền mẫu, lục bát. Đặc biệt nhiều cảnh tế nhị được miêu tả dồn nén, lược qua, không muốn tả tỉ mỉ.

7. Khó chấp nhận cái mới, cách tân .

2.2.             Mấy đặc điểm ngôn ngữ cổ

 

Quan niệm triết học kể trên chi phối cách dùng ngôn ngữ – trước hết là lời văn nghệ thuật

  1. Lời thơ trữ tình ngâm vịnh

Thiên nhiên tự biểu hiện thông qua tâm hồn nhà thơ. Hai bên tương thông với nhau, chẳng hạn: gió nhẹ à tâm hồn nhà thơ xao động, gió yên à tâm hồn nhà thơ cũng bình lặng. Gió ào ạt à tâm trạng nổi sóng.

Nhà thơ Nho giáo coi mình như cây trúc, cành trúc phát tiếng động khi có gió thổi qua. Nếu không tất cả là hư không.

  1. Lời thơ kí thác

Nhận thức của thi nhân tiến thêm bước nữa: họ có thể gởi gắm tâm sự vào thiên nhiên mà không cần nói thẳng cảm xúc, ý nghĩ của mình. Do đó lời thơ vô nhân xưng. Họ coi tâm sự mình là của thời đại, chẳng phải của riêng mình. Nói cách khác, họ gán tâm sự mình cho cả thời đại – cũng khoa trương. Gửi thơ cho bạn là để thử tìm bạn tri âm. Bốn câu thơ đầu bài “Cảnh chiều hôm” của Bà Huyện Thanh Quan chỉ tả cảnh chứ không nói gì về mình (trời chiều bảng lảng…), chỉ một  câu  nói về “khách” (thực ra là chính mình)

Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi

Dặm liễu sương sa khách bước dồn

           Cứ để cho tiếng thơ lắng xuống chúng ta sẽ nghe ra được tâm sự thi nhân.

Thơ quốc âm của Nguyễn Trãi và Bà Huyện Thanh Quan kín đáo nhưng vẫn khác nhau, cảm hứng Nguyễn Trãi hăng say còn Bà Huyện  thì uể oải. Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du nồng nàn mạnh mẽ hơn vì cần nói trực tiếp ý mình.

                    3 – Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật của thơ cổ điển

  1. Thời gian nghệ thuật

           Khái niệm thời gian vũ trụ lấn át thời gian lịch sử. Họ khọng thấy sự vận động của lịch sử dù sao vẫn tiến lên phía tương lai dù có phải thăng trầm.

            Họ tính thời gian bằng “nghìn thu/ kim cổ” hoặc chu kì “cơn bĩ cực/ kì thái lai” đi cùng với một triều đại, một dòng họ. Đời người tính gọn là “cuộc trăm năm, cuộc vuông tròn” hoặc cuộc bể dâu”. Họ lo sợ thời gian làm mòn mỏi, kéo lê thê đời người. Họ cũng sợ thời gian kéo dài làm mòn mỏi cả giá trị cổ xưa đẹp đẽ. Tâm trạng hoài cổ tích cực khi một thời tốt đẹp đã qua. Họ trách thời gian vô tình, thật ra thời gian tích cực, xoa dịu nỗi đau, hướng về tương lai tốt đẹp hơn. Từ đó có lối thơ “tức cảnh/ tức sự” mạn hứng, nghĩa là có sự xung đột giữa tâm trang, ý thức thời gian của nhà thơ với cảnh vật (không gian xung quanh). Khi nhà thơ tìm ra cách giải quyết xung đột tạm thời thì hoàn thành bài thơ (Nguyễn Khuyến viết: Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái – vận dụng câu thơ của Thôi Hiệu và Nguyễn Du: Đào hoa y cựu tiếu đông phong, Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông – các thi nhân đều nhận lầm hoa đào năm nay thành năm ngoái).

  1. Không gian nghệ thuật

           Không gian cũng như thời gian là hình thức tồn tại của thế giới và cuộc đời. Trong ca dao, không gian chủ yếu là cảnh làng quê, bến nước, gốc đa, hàng dâm bụt, cảnh sinh hoạt gần gũi thân thiết giản dị.

           Trong thơ ca bác học, không gian trở nên trừu tượng hoặc ước lệ. Đó là không gian vũ trụ vô tận mà cõi trần chỉ là nhỏ bé chật hẹp. Thiếu vắng không gian xã hội cộng đồng và không gian lịch sử. Họ đi tìm núi cao, đám mây trôi, một con hạc cô đơn, một tiếng chim hót báo hiệu vũ trụ (không nói rõ chim gì), một bông hoa ( ? ), một mái chùa… còn thi nhân/ nhân vật trữ tình thì cô đơn, ngồi lặng, bó gối, hoặc tưới hoa, ôm cần câu… Không gian tùy thuộc cảm hứng (Nho, Phật, Đạo- xem lại Giáo trình Văn học Trung Quốc- phần Đường Thi)

          Càng về sau, nhất là đến cuối thế  kỉ 19 đầu 20, không gian thơ mở rộng dần, cho nhập cư thêm vợ, con, trâu bò gà vịt, và đủ mọi loại người bình thường, tầm thường lẫn sang trọng trong xã hội, chẳng hạn thơ Nguyện Khuyến, Tú Xương.

 Xét về kích thước không gian trong thơ cổ điển ta có thể  phân loại như sau:

  1. Không gian lên cao: Nơi thi nhân đến cho tâm hồn phóng khoáng, ý chí cao xa, lánh cõi tục nhất thời để được tự do tư tưởng.
  2. Không gian lữ thứ: Quán trọ, đường xa, cũng lánh đời, tự thử thách trui rèn bản thân.
  3. Không gian nhỏ hẹp: Phòng văn, con thuyền cô độc, tấm rèm, song mai, song trúc. Thi nhân sống một mình nhưng vẫn ngỏ cửa nghe ngóng, liên lạc với cuộc đời.
  4. Không gian cộng hưởng: đôi khi thi nhân gặp nơi nào đó một sự đồng điệu với mình: Long lanh đáy nước in trời/ thành xây khói biếc non phơi bóng vàng. Cảnh trời nước ấy thật đẹp đẽ huy hoàng như tâm hồn chàng Thúc Sinh sắp được gặp lại Kiều. Chàng nhìn thấy không gian tĩnh mà thấy nó động theo mình. Trái lại, Bà Huyện Thanh Quan lại biến một không gian động thành tĩnh lặng cùng với mình     (bờ Hồ Hoàn Kiếm trong bài Thăng Long thành hoài cổ). Họ đều thoả mãn.

      Trên đây chúng tôi nêu ra một số không gian tiêu biểu của Thơ cổ điển. Mặc dù  quan niệm thơ cổ điển khá cứng nhắc về không gian nhưng thực tế không gian nghệ thuật của họ cũng khá phong phú, điều đó tuỳ thuộc óc quan sát nhạy bén của thi nhân.

œ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bài giảng Thi pháp học hiện đại của GS Trần Đình Sử năm 1987 tại ĐHSP Hà Nội
  2. Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học. Tác giả Khravchenko Nxb Tác phẩm mới . H 1978
  3. Số phận của tiểu thuyết . Nhiều tác giả, TPM – 1983
  4. Lí luận văn học tập 3 . Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam… NxbGiáo dục,1988
  5. Văn học phương Tây I – II – III . Nxb GIÁO DỤC. 1986 -90 – 92
  6. Thuật ngữ văn học . Lê Bá Hán, Trần Đình Sử. GD 1992
  7. Một số vấn đề thi pháp học hiện đại. Trần Đình Sử. Chuyên đề Cao học, ĐHSP Hà Nội 1,  năm 1986
  8. Lí luận và thi pháp tiểu thuyết. M. Bakhtin. Phạm Vĩnh Cư dịch.

    Trường viết văn Nguyễn Du xuất bản . 19929.

     9. Mấy vấn đề thi pháp Lỗ Tấn. Gs Lương Duy Thứ, ĐHSP Huế. 1992

10. Nghĩ tiếp về Nam Cao (Viện văn học)

11. Thi pháp Thơ Mới (Đỗ Lai Thúy)

12. Thi pháp thơ Tố Hữu.  Trần Đình Sử. TPM. 1987

13. Thi pháp tiểu thuyết L. Tolstoi . Nguyễn Hải Hà. NxbGiáo dục. 1991

14. Thơ cổ điển Việt Nam, hình thức và thể loại. Lê Hoài Nam.Nxb Giáo dục. 1993

15. Báo Văn Nghệ, “Khai bút về Thi pháp và Thi pháp học, GS Trần Thanh Đạm. 1995

16. Một số bài viết thực hành thi pháp học. Phùng Hoài Ngọc, Chuyên san Sở Giáo dục An Giang, Tạp chí Thất Sơn, An Giang từ 1992 – 1995

17. “Không gian nghệ thuật, một hướng tiếp cận Thơ Đường”. Đề tài nghiên cứu của Phùng Hoài Ngọc. GS Lương Duy Thứ nhận xét phản biện, Trường Cao Đẳng Sư phạm An Giang nghiệm thu  1993 – 199

18.  Và nhiều tài liệu khác.

Phùng Hoài Ngọc

Đại học An Giang 2006

About these ads

Comments on: "THI PHÁP HỌC HIỆN ĐẠI" (8)

  1. cảm ơn thầy nhiều lắm, nhờ bài giảng của thầy em hiểu Thi pháp học là gì rồi ạ. chúc thầy dồi dào sức khỏe.

  2. Em đang học môn thi pháp học trong kì này,nhưng em không phải học sinh của thầy (em học trường Đại học Vinh) nhưng qua bài giảng của thầy e có một cái nhìn cụ thể,rõ ràng hơn về thi pháp học.

    Chân thành cảm ơn thầy, chúc thầy công tác tốt và dồi dào sức khỏe

  3. Em rất thích những bài viết của Giang Nam lãng tử. Vì em ( năm nay 26 tuổi, nữ ) đang giảng dạy ở một trường Cao đẳng nên không biết xưng hô với Giang Nam lãng tử như thế nào cho phải. Thôi thì xin mạn phép xưng “em” và gọi Giang Nam lãng tử là “anh”. Em đã vào trang web của anh để đọc các bài viết rất nhiều lần. Thật sự em rất thích các bài viết ấy và em cũng rất khâm phục anh ở chỗ ” Ăn ngay nói thẳng”. Anh đã dám nói những điều ít ai dám nói. Em từng học thấy Nguyễn Đăng Mạnh và cũng biết có nhiều người chỉ trích thầy vì cuốn hồi ký của thấy. Em không hiểu sao con người sống trến đời này không bao giờ thích nghe sự thật mà chỉ thích những điều giả dối và lại bắt những người khác phải viết giả dối? Những gì anh viết rất đúng nhưng em không biết tương lai có ai “ném đá’ anh không thương tiếc hay không? Em chỉ biết chúc anh luôn vui vẻ và trung thành với con đường mình đã chọn. Chào anh!

    • Cảm ơn Vi-Bagiakenhkieu, chúc em sức khỏe và hào hứng với nghề nghiệp nhọc nhằn mà chúng ta đã chọn. Vậy là anh em ta đồng môn, cùng học các thầy Trần Đình Sử, Nguyễn Đăng Mạnh rồi…Gặp được người tri âm tri kỷ cùng ngành bây giờ hiếm hoi quá. Nếu có thể, cho biết em dạy trường CĐ nào (gửi qua email) để chúng ta trao đổi chuyên môn thôi.
      Giang Nam lãng tử = Phùng Hoài Ngọc = <ngoc1951@gmail.com)

  4. Chân thành cảm ơn bài viết của thầy à ^^

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 92 other followers

%d bloggers like this: