"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

ĐẠI HỌC AN GIANG

KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN NGỮ VĂN

————-

Phùng Hoài Ngọc

TÀI LIỆU

VĂN HỌC TRUNG QUỐC

(Văn học Châu Á 1, mã số hp: HOL 502)  

Biên soạn lại theo chương trình tín chỉ

Lưu hành nội bộ

AN GIANG 2011

MỤC LỤC         

NỘI DUNG
Mục lục

Lời giới thiệu

Bài thơ đề từ

Sơ lược lịch sử Trung Quốc

Chương 1 – Văn học trước Tần

1. Khái quát văn học dân gian

2. Thần thoại, truyền thuyết

3. Kinh thi

4. Khuất Nguyên và “Ly tao”

5. Bách gia chư tử và “Luận ngữ”

Ðọc thêm 1 Văn học Hán: Tư Mã Thiên với “Sử ký”, nhà thơ Ðào Tiềm với thơ, từ, nhà lý luận Lưu Hiệp với “Văn tâm điêu long”.

Chương 2. Ðường thi

Khái quát: Bối cảnh lịch sử xã hội. Đặc điểm thơ Ðường .

Ba nhà thơ tiêu biểu Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị

Những lời bình chọn lọc về Thơ Đường

Không gian nghệ thuật; Thời gian nghệ thuật

Luyện tập thực hành.

Ðọc thêm 2 Văn học Tống: Từ và Tô Ðông Pha.

Hai nhà tạp kịch thời Nguyên: Quan Hán Khanh, Vương Thực Phủ.

Chương 3. Tiểu thuyết cổ điển Minh Thanh

Tam quốc diễn nghĩa. Thủy hử truyện. Đông Chu liệt quốc. Tây du ký

Liêu trai chí dị. Nho lâm ngoại sử. Hồng lâu mộng

Chương 4. Khái quát văn học hiện đại và Lỗ Tấn

  1. Khái quát văn học hiện đại : 04 giai đoạn chính
  2. Lỗ Tấn và AQ chính truyện

Tổng kết văn học Trung Quốc.

Đọc thêm 3. Văn học sử Trung Quốc qui loại

Đọc thêm 4. Mối quan hệ gắn bó, song hành của văn học Trung Quốc- Việt Nam

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Bảng đối chiếu niên đại Việt Nam – Trung Quốc

Phụ lục 2. Danh sách 10 nhân vật văn hóa bình chọn

Phụ lục 3  Danh mục luận văn tốt nghiệp về VH Trung Quốc do biên giả hướng dẫn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

      
Lời nói đầu

Trung Quốc có nền văn học phong phú lâu đời, liên tục 5 nghìn năm. Ngay từ trước công nguyên (thời cổ đại) nền văn học này  đã  có những thành tựu rực rỡ như thần thoại, Kinh Thi, văn xuôi triết học, Sở từ, Sử ký…

Sang thời trung đại, Phú thời Hán, Thơ thời Đường, Từ thời Tống và tiểu thuyết thời Minh, Thanh là các thành tựu văn học rực rỡ.

 Nhà văn Lỗ Tấn đóng vai trò mở đầu nền văn học hiện đại. Sau đó văn học hiện đại của cách mạng vô sản diễn ra khá phức tạp, chỉ có được thành tựu đáng kể nhất từ giai đoạn Đổi Mới trong hai thập kỷ cuối thế kỉ 20.

Văn học Trung Quốc cổ và trung đại đã có ảnh hưởng khá rộng rãi, liên tục và sâu sắc tới văn học Việt Nam và công chúng Việt Nam. Trong thời kỳ phong kiến, mối quan hệ ảnh hưởng đó tuy mang tính chất áp đặt nhưng các nhà thơ nhà văn Việt Nam với bản lĩnh vững vàng đã tiếp thu tinh hoa văn hóa văn học Trung Quốc một cách sáng tạo, góp phần xây  dựng nền văn học của dân tộc Việt Nam. Văn học Trung Quốc hiện đại vẫn có ảnh hưởng tới nền văn học Việt Nam hiện đại, nhất là trong thời kỳ Đổi mới.

Nghiên cứu học tập Lịch sử văn học Trung Quốc, chúng ta có thêm một góc nhìn nền văn học Việt Nam thấu đáo hơn. Mặt khác tăng cường sự hiểu biết nước láng giềng trong hiện tại và tương lai.

 2009-2011

Biên giả

Đề từ

TRUNG HOA

thơ Lưu Quang Vũ

Gió bấc thổi về từ xứ xa

Bên kia núi cao sừng sững

Trung Hoa

Trung Hoa của tuổi thơ

Tiếng ngựa hí đêm khuya

Ðoàn xe Chiến quốc đi trong tuyết

Rũ rượi tóc râu, đao thương sáng quắc

Não bạt thanh la xủng xoẻng

Dữ tợn mà sầu thương.

Bờ sông trắng hoa dương

Chia ly buồn đứt ruột

Dậm chân hát mà từ biệt

Ðường Thi vằng vặc

Ào ạt Hoàng Hà

Quán núi đêm hàn rượu nóng

Vạt áo xanh giang hồ

Những mắt xếch Võ Tòng

Những đầm sâu Thủy Hử

Người đi như nước, đông như cỏ

Sáng suốt và tối tăm

Uyên thâm mà nhẹ dạ

Tin ngay mọi điều, dám làm tất cả

Cái người Tàu kỳ lạ

ngồi dầm củ cải giữa đêm khuya. . .

Lòng kiên nhẫn của người

trải ra trên mặt đất

Ở bất cứ nơi nào có khói

Trung Hoa

Nét bút vờn như cánh hạc vút qua

Lóng lánh tay ngà rượu đỏ

Bể thịt rừng xương Kiệt Trụ

Những hôn quân bạo chúa

Những hoàng hậu hồ tinh

Những anh gàn và những triết nhân

hái rau vi, mơ giấc bướm

Trung Hoa Tây Thi, Trung Hoa Lý Bạch

Cố cung xưa bao đảo lộn kinh hoàng

Như sóng biển không ngừng một phút

Dưới liễu xanh, lũ qủi đổi thay màu

Tiếng chiêng trống, tiếng loa gào thét

Chín trăm triệu người ồn ào mà nín lặng

Trung Hoa muốn gì ? Nhân dân đi về đâu ?

Ðêm nay

Trang sách tuổi thơ đưa tôi gặp lại

Gian nhà nhỏ ven thành

Vách lủng lẳng cỏ khô, lá thuốc

Một người đầu trọc

Áo bông đen khung vải cũ sờn

Một người không râu lừng lững ngồi im

Giữa  hũ lọ, mực tàu, chăn rách

Chồng sách dày, đĩa đèn dầu leo lét

Tuyết rơi trắng xóa ngoài thềm

Ông Tư Mã Thiên

một mình ngồi thức

Ông Tư Mã Thiên mắt nhìn sáng quắc

hiểu đời, hiểu nước, hiểu dân mình

Một ông Tư Mã Thiên

Ngàn ông Tư Mã Thiên

Muôn ngòi bút uy nghiêm

Ðang ghi sâu mọi việc

Hồn bạo chúa nghiến răng trong bụi cát

mọi ngai vàng, theo lửa hóa tro than . . .

Trung Hoa khổng lồ, Trung Hoa đau thương

Mai tan hết mây mù mưa xám

Trung Hoa Võ Tòng, Trung Hoa Lý Bạch

lại là Trung Hoa từ tuổi nhỏ ta yêu

                                         Hà Nội 1974 – L Q V


        LỊCH SỬ TRUNG QUỐC SƠ LƯỢC

I –     Từ thượng cổ đến nhà Tần (cổ đại)

  1. Thời thượng cổ gọi là Tam hoàng, Ngũ đế (thần thoại)
  2. Thời tiền sử: ba vua Nghiêu, Thuấn, Vũ  (truyền thuyết)
  3. Vua Vũ lập ra quốc gia đầu tiên: nhà Hạ / Hoa Hạ (tk 21- 17 tr.CN)

chế độ nô lệ, bỏ bầu cử, bắt đầu cha truyền con nối.

Nhà Ân giai đoạn cuối cùng của nhà Hạ. Đời chót là vua Kiệt mê nàng Muội Hỉ, tàn ác, bị lật đổ, nhà Thương (Thang) nổi lên thay thế.

  1. Nhà Thương: Vua Thành Thang đổi mới mạnh mẽ. Đời chót là vua Trụ mê nàng Đắc Kỉ, tàn bạo hủ bại. Nô lệ theo thủ lĩnh họ Chu nổi dậy khởi nghĩa, lật đổ nhà Thương, lập ra nhà Chu.
  2. Nhà Chu từ thế kỷ 11 tr CN đến thế kỷ 3 trCN, gồm 2 giai đoạn:

5.1.Tây Chu: Thế kỷ 11 đến năm 778 tr.CN, có hơn 1000 nước chư hầu. Vua Chu Bình Vương mê nàng Bao Tự, chư hầu bất phục…nhà Chu suy giảm quyền lực

5.2. Đông Chu: 770 đến 256 tr.CN, thủ đô dời từ Tây sang phía Đông.

gồm hai giai đoạn:

Xuân Thu: 770 – 455 tr CN, bước vào chế độ sơ kỳ phong kiến. Hình thành 100 chư hầu, 14 nước lớn, rồi đến 5 nước xưng bá vương (ngũ bá: Trịnh, Tấn, Tần, Tề, Triệu) ngày càng lộng quyền lấn át hoàng đế nhà Chu

Chiến quốc: 455-221 tr.CN, bảy nước bá vương (thất bá tranh hùng) gồm Tề, Sở, Hàn, Triệu, Ngụy, Tần, Yên.

Cuối cùng, nhà Tần đánh bại 6 nước bá vương, lên ngôi hoàng đế thay nhà Chu, thống nhất đất nước năm 221 tr.CN.

II-                Từ nhà Hán đến Mãn Thanh (trung đại)

Hán (Tây Hán 206 tr. CN đến 24 CN còn gọi  Tiền Hán.

Đông Hán (25 đến 220) còn gọi Hậu Hán và Tam quốc (220-280)

Ngụy Tấn (265-420)

Bắc triều: Ngụy Tấn (420-581)

Nam triều: lục quốc Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần, Ngô.

Tùy (581-617)

Đường (618-907)

Ngũ đại thập quốc (907-960)

Tống (Bắc Tống, Nam Tống  960-1279)

Nguyên (1271-1368)

Minh (1368-1644)

Thanh (1644-1911) Thuận Trị, Khang Hi, Ung Chính, Càn Long, Gia Khánh,

                    Hàm Phong, Đồng Trị, Từ Hi, Quang Tự, Phổ Nghi.

III-             Từ Cách mạng Tân Hợi đến nay (hiện đại)

Trung Hoa dân quốc  1911-1949 chuyển ra Đài Loan đến nay

Trung Hoa nhân dân cộng hòa quốc, từ ngày 1.10. 1949 đến nay

Biên giả


CHƯƠNG I                  VĂN HỌC TRƯỚC TẦN

1 – KHÁI QUÁT

Trung Quốc có một nền văn  học phong phú đặc sắc vào bậc nhất trên thế  giới.

Văn học dân gian Trung Hoa thời cổ đại chắc chắn rất phong phú nhưng chỉ số ít còn giữ được đến ngày nay, trong số đó có một số ghi trong sách cổ  hoặc các đồ  vật cổ. Tiêu  biểu nhất trong kho tàng thơ ca cổ  đại là tập Kinh Thi gồm khoảng 300 bài thơ có vị trí đặc biệt  trong nền văn học và giáo dục Trung Quốc.

Thần thoại và truyền thuyết được ghi trong sách cổ cũng là văn học truyền miệng trong  thời kì xã hội thị tộc. Nội dung được ghi chép thường đơn giản. Sau này, đọc các  bản  phóng  tác của nhà văn hiện đại thì câu chuyện phong phú kỳ thú hơn. Ví dụ các truyện Nữ Oa vá trời, Hậu Nghệ bắn mặt trời,  Hằng Nga lộng nguyệt, Tinh Vệ lấp biển, Ngưu lang Chức nữ, vua Vũ  trị thủy .v.v… Thần  thoại Trung quốc tìm cách giải thích các hiện tượng tự nhiên, như mặt trời, mặt trăng mây gió đến cây cỏ, chim muông. Ðặc biệt những truyện nói về nguồn gốc trái đất và  muôn loài đã được hư cấu thật tài  tình. Gạt bỏ những chi tiết hoang đường, chúng ta hiểu được gần đúng tình cảnh người thời nguyên thuỷ, ăn  hang ở lỗ, dần dần tìm ra lửa, biết đánh cá, săn muông thú, trồng trọt và chăn nuôi. Thần thoại tin rằng các vị thần có công lao hướng dẫn con người làm được những  thành công vĩ đại ấy.

Nội dung truyền thuyết thì gần gũi với con người hơn. Những nhân vật như vua Hoàng Ðế, vua Nghiêu, vua Thuấn và vua Vũ được coi là nhân vật lịch sử có thật, được thêu dệt  tô điểm thành huyền thoại. Ðó là những vị anh hùng không hề chịu bó tay trước thiên nhiên hung dữ, khắc nghiệt luôn luôn gây tai hoạ cho người. Họ có sức mạnh ghê gớm để khắc phục khó khăn gian khổ hoặc tranh đấu đến chết đối với các lực lượng tự nhiên tàn bạo.

Thần thoại và truyền thuyết Trung quốc phản ánh những niềm khát vọng của người lao động thời đó. Họ muốn giảm nhẹ công việc nặng nhọc, tăng năng suất, sống thoải mái trong tình thương yêu đồng loại.

Thần thoại truyền thuyết có ảnh hưởng rất lớn đến văn học đời sau. Khuất  Nguyên nhà thơ thời Chiến quốc đã dùng hình ảnh thần thoại cho thơ. Các nhà thơ thời Đường như Lý Bạch hay dùng thần thoại, truyền thuyết để trang bị cho thơ của mình một  không khí lãng mạn, phóng khoáng, Lý Thương Ẩn, Ðỗ Mục cũng  thường  nhắc  đến Hằng Nga, Chức Nữ  tượng  trưng cho người đẹp xa vời. Còn trong tiểu thuyết cổ điển như Tây Du ký, Phong thần diễn nghĩa, Liêu Trai chí dị, tác giả cũng sử dụng bút pháp thần thoại truyền thuyết.

2.  THẦN THOẠI TRUNG QUỐC  中国神话

1. Nhóm thần tạo lập vũ trụ

                                 “Chống màn trời  Bàn Cổ làm vũ trụ

hoá thân thành sông núi cỏ cây”

            Từ một  quả trứng vũ trụ trong cái  khối không gian hỗn độn, đen ngòm, nở ra thần Bàn Cổ. Ngồi dậy, vớ chiếc rìu, Bàn Cổ chém vào khoảng mù  mờ trước mặt, gây chấn động lớn. Những chất trong suốt, nhẹ bốc lên thành bầu trời. Những chất đục, cặn, nặng lắng dần  xuống thành mặt  đất. Thế  là vũ  trụ đã chia ra Trời và Ðất .

            Bàn Cổ lấy thân mình chống giữ, đầu đội trời, chân đạp đất. Khi đất và trời đã vững chắc, ổn định, Bàn Cổ ngã ra chết, thân thể và khí lực hoá thành tất cả những sự vật, hiện tượng của thế giới  như sét, gió, mây, mưa, mặt trời, mặt trăng, núi non, sông hồ, các vì sao, cây cỏ hoa lá tới các loại kim thuộc đá quí…

            Bàn Cổ là vị thần khai thiên lập địa, còn có tên khác: Bàn Hồ , Bàn Vương

2. Nhóm các hoàng đế đầu tiên

            Gọi là “Tam hoàng” gồm các vua Phục Hy, Hoàng Ðế và Thần Nông.

                  a . Phục Hy: còn có tên Thái Hạo. Vợ là bà Nữ Oa .

            Phục Hy  tiếp tục công việc của Bàn Cổ là kiến tạo mặt đất (chủ yếu ở  phương Ðông). Theo truyền thuyết, ông là nhà triết học đầu tiên của thời cổ đại Trung Hoa, đã vạch ra “bát quái” (tám quẻ) miêu tả cấu trúc thế giới và qui luật vận động của nó:

Càn (trời), Khôn  (đất), Ly (lửa), Khảm (nước),

Cấn (núi non), Chấn (sấm sét), Tốn (gió), Đoài (đồng, kim loại),

Phục Hy chế tạo cây đàn 50 dây  giao cho thần Tố Nữ (thần ca nhạc) biểu diễn giải trí cho các thần linh.

            Phục Hy và Nữ Oa vốn là anh  em ruột. Vì  nạn hồng thuỷ, hai người cùng trú ẩn  trong một  quả bầu. Sau phải lấy  nhau để giữ nòi giống. Người xưa gọi là ông Hồ lô và bà Hồ lô (hồ lô: quả bầu) .

            Có thuyết  khác cho  rằng Phục Hy chính là ông Tứ Tượng (tứ tượng là con cái của Âm và Dương, gồm 4 thành tố: Thái dương, Thiếu dương, Thái âm, Thiếu âm). Tứ Tượng và Nữ Oa còn gọi  là hai thần Ðực và Cái (ở vùng Tây bắc Việt Nam, người  dân gọi là Ông Ðùng, Bà Ðà).

                  b. Vua Thần Nông

            Thần Nông là thiên đế cai quản  phương nam (còn có tên  là Viêm đế hoặc Xích đế- nghĩa là vua xứ nóng). Vị thần này hình người đầu trâu, tìm ra ngũ cốc, khai sáng nghề nông. Thần Nông đặt ra chợ búa, dạy dân trồng các cây thuốc chữa  bệnh. Thần  đã chết vì tự  nguyện nếm các loại lá thuốc nên rủi ro bị ngộ độc.

            Thần thoại Việt Nam đã coi Thần  Nông là thuỷ tổ của các vua Hùng (dòng họ Hồng Bàng). Ðến nay cũng chưa có kết quả nghiên cứu nào bác bỏ hoặc  thừa nhận mối quan hệ đó. Quan niệm này do người Việt  lưu truyền  từ trước  khi nền  văn hoá Hán lan tràn và áp đặt vào nước ta (Có thể công nhận nguồn gốc chung của dân tộc Việt và dân tộc Trung Quốc trộn huyết với gốc Ðông Nam Á, nhưng không thể đơn giản cho rằng các vua Hùng có dòng dõi Trung Hoa).

             Lại có nhiều thuyết khác về “Tam hoàng” như:

                        a. Thiên hoàng, Ðịa hoàng và Nhân hoàng

                        b. Thiên hoàng, Ðịa hoàng và Thái hoàng

                        c. Phục Hy, Thần Nông và Nữ Oa

3 . Ngũ Ðế  gồm:  Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Ðế Cốc, Nghiêu và Thuấn .

            Nhìn chung, sở dĩ  có nhiều  thuyết khác  nhau về Tam hoàng và Ngũ Ðế là do các  dân tộc khác nhau ở lục địa Trung Hoa rộng lớn đều muốn xác định “thuỷ  tổ” là người  (thần) ở xứ mình.

            Thần thoại Trung Quốc còn có nhiều chuyện kể về vợ, con, cháu, chắt của Tam hoàng, Ngũ Ðế với nhiều dị bản khác nhau (Xin đọc”Thần thoại Trung Quốc” Giáo sư Ðinh Gia Khánh biên soạn, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1994) .

4 . Nhóm thần cải tạo thiên nhiên và xây dựng  cuộc sống

             Truyện “Khoa Phụ đuổi mặt trời”, vị thần chống hạn hán, chết khát trước khi sắp tìm ra một đầm nước.

             Truyện “Ngu Công chuyển núi“ Thái Hàng và núi Vương Ốc đi chỗ khác để dễ đi lại, làm ăn. Ông ta tin rằng đời con cháu tiếp nối đào đục mãi cũng  phải chuyển dời được hai quả núi. Thượng Ðế cảm phục ý chí của Ngu Công, sai thiên thần vác núi  đặt ở chỗ khác trong một đêm .

             Truyện mối tình “Ngưu lang – Chức nữ”. Chức nữ (cô gái dệt vải), con cháu Tam hoàng, chuyên dệt lụa may áo cho trời. Nàng làm việc ở bờ sông Ngân hà (phía bên Trời), còn bờ bên kia là cánh  đồng của loài  người. Bên ấy có chàng  chăn trâu tên là Ngưu lang mồ  côi cha mẹ. Gia tài có một  con trâu, phá hoang, cày ruộng để  sinh sống. Ngưu lang nghe  lời trâu, rình xem Chức nữ và các nàng tiên ra  tắm sông Ngân, giấu xiêm áo của Chức nữ. Chàng cầu hôn, Chức nữ e thẹn đồng tình. Chồng cày ruộng, vợ dệt lụa, sinh một con trai, một con gái. Thiên Ðế và Vương Mẫu biết chuyện, sai thiên thần đi bắt Chức nữ về trời. Ngưu Lang gánh hai con chạy theo vợ. Thiên Ðế  rút  dây  kéo  sông Ngân hà lên trời cao để chặn đường Ngưu lang. Con trâu bảo chàng lột bộ da trâu làm áo thì có thể  bay lên trời. Nhờ bộ da trâu, chàng tới được bờ sông Ngân hà, bên kia đã thấy nàng Chức nữ. Chàng lấy gáo múc nước sông cho vơi cạn, ba bố con thay phiên nhau. Thiên Ðế và Vương Mẫu  mủi lòng, cho phép họ gặp nhau hàng năm một lần vào ngày 7 tháng 7. Ðến ngày ấy  có một đàn chim ô thước (quạ đen) bắc một  chiếc cầu liền cánh chim qua sông. Gặp nhau, họ mừng rỡ nhưng lại  buồn vì sắp phải chia tay, nên khóc rất nhiều. Nước mắt làm thành trận mưa thu lạnh lẽo tê tái (mưa Ngâu: Ngưu). Những  đêm trời quang đãng, có hai ngôi sao lớn bên bờ sông Ngân, đó là sao Ngưu lang và sao Chức nữ. Bên cạnh còn có hai ngôi sao nhỏ hơn là con trai và con gái họ.

5. Truyện”Hậu Nghệ bắn rụng chín mặt trời, Hằng Nga bỏ trốn lên cung nguyệt

            Thời vua Nghiêu, có 10 mặt trời xuất hiện trên bầu trời gây hạn hán khủng  khiếp . Nguyên do 10 mặt  trời cư  ngụ ở cây khổng lồ Phù tang (quần đảo Nhật bản), mỗi ngày  theo lệnh Thượng đế, một mặt trời ra đi, vòng qua bầu trời, lần lượt thay phiên nhau đi theo một con đường cố định. Lũ mặt trời một hôm rủ nhau cùng bay qua bầu trời và cứ thế tiếp diễn mỗi ngày. Hạ giới không chịu nổi sức nóng khủng khiếp, kêu cứu lên Thiên đình, Thượng đế (vua Thuấn) sai Hậu Nghệ vác cung thần đi bắn doạ 10 đứa con ngỗ nghịch của trời. Hậu Nghệ xuống trần mang theo vợ là Hằng  Nga (còn gọi Thường Nga). Thấy tình cảnh hạ giới thật đáng thương, Hậu Nghệ nổi giận bắn thẳng tay, lần lượt  rụng 9 mặt trời, xác chết hiện nguyên hình 9 con quạ 3 chân màu vàng (kim ô). Vua Thuấn lo lắng, sai người lấy trộm một mũi tên của Hậu Nghệ nên mặt trời cuối cùng còn sống sót. Hậu Nghệ tiếp tục đi giết những loài quái vật ở hạ giới giúp dân lành. Vợ chồng Hậu Nghệ  không dám trở về  trời. Hằng Nga không chịu được cuộc sống khổ  cực ở  trần gian nên oán trách chồng. Tình yêu rạn nứt, Hậu Nghệ thường bỏ đi chơi và tìm đến Tây Vương Mẫu xin thuốc thần để hai vợ chồng trở thành bất tử, đem thuốc về giao cho vợ giữ. Hằng Nga lén uống hết rồi bay về trời, nhưng nghĩ xấu hổ liền rẽ sang cung trăng ẩn náu. Hạ xuống cung trăng, nàng bị hoá thành con cóc vì tội phản bội chồng. Nơi đây chỉ có một con thỏ ngọc đang giã thuốc bên gốc cây quế.

            Còn có  chuyện kể Hậu Nghệ  dạy học trò là Phùng Mông bắn cung. Khi đã thành thạo, Phùng Mông mấy lần ám hại thầy để giành ngôi vô địch nhưng đều thất bại. Hậu Nghệ tha  chết cho y. Cuối cùng Phùng Mông vẫn thực hiện được tội  ác. Hậu Nghệ  ngã gục mà chết, được nhân dân thờ như vị thần cung nỏ.

            Truyện  Hằng Nga còn có dị bản khác. Con  thỏ ngọc giã thuốc vốn có từ truyện dân gian cổ đại Ấn Ðộ, nó có nhiệm  vụ chế thuốc bất tử. Lại có chú Cuội là người trần gian phát hiện ra cây thuốc quí (cây quế) có thể  chữa vật chết sống lại. Người vợ không nghe lời chồng, đái vào cây thuốc, cây liền bay lên trời. Cuội ôm lấy gốc cây cố níu lại … Cây bay về cung trăng đem theo chú Cuội. Mỗi đêm trăng, Cuội ngồi nhìn xuống trần gian mà  thương nhớ quê hương.

6. Truyện cha con vua Cổn vua Vũ trị thuỷ  giúp dân (Vua Vũ là vua cuối  cùng thời đại thị tộc nguyên  thuỷ và mở ra xã hội nô lệ – chủ nô). Vua Vũ còn cho đúc chín chiếc đỉnh đồng to lớn, coi như “quốc bảo”. Về sau, các đời vua nhà Chu và suốt thời Ðông  Chu  liệt  quốc  coi  9  đỉnh đồng là tượng trưng quyền lực vua chúa.

7. Truyện Vọng Ðế  (còn gọi Thục Ðế: vua nước Thục)

            Vọng Ðế tên là Ðỗ Vũ, danh hiệu Tàm Tùng, tổ sư nghề nuôi tằm. Có người nước Sở chết đuối,  trôi  ngược dòng tới nước Thục tên là Miết Linh. Vọng Ðế cứu sống,  cử y làm tể tướng vì mến tài trị thuỷ của y. Miết Linh lập công  lớn cho nước Thục, Thục Ðế nhường ngôi cho Miết Linh. Miết Linh lợi  dụng tư thông với vợ Thục Ðế. Ðau khổ và hối hận, Thục Ðế uất hận mà chết, khi trăn trối, ông dặn loài chim đỗ quyên đời đời  kêu lên thảm thiết nỗi  lòng Thục Ðế cho dân chúng nghe.

            Lại có chuyện kể rằng, khi Miết Linh đi trị nạn lũ lụt, Thục Ðế ở nhà tư thông với  vợ Miết Linh. Khi Miết Linh trở về, vua Thục xấu hổ bỏ đi ở ẩn mà chết. Khi chết, linh hồn vua Thục hoá chim đỗ quyên hót kêu hót, báo cho dân chúng thời vụ  làm mùa kịp thời  (²) Truyện này có một số dị bản khác

8. Nhóm truyện ba vua

Vua Kiệt (nhà Hạ),  vua Thành Thang (nhà Ân) và vua Trụ (nhà Ân – Thương).

Thần thoại  chuyển sang truyền  thuyết, chấm dứt thời tiền sử

            Vua Vũ nhường ngôi  cho con  là Khải.  Khải truyền ngôi qua nhiều đời  tới vua Khổng  Giáp. Giáp là  vua ngu, chỉ lo ăn chơi. qua hai đời nữa tới vua Kiệt, vua cuối cùng của nhà Hạ.

            Vua Kiệt hoang dâm vô độ, xây nhiều cung điện xa hoa để hưởng lạc với vợ yêu tên  là Muội Hỷ, bà  vợ có tật  thích nghe tiếng lụa xé. Kiệt chiều chuộng  vợ đủ  điều. Một  viên quan đại thần tên Y Doãn can ngăn  vua không được, bỏ sang  một nước chư hầu là nhà Ân. Vua Ân  là Thành Thang đánh  đổ vua Kiệt lập ra triều đại Ân Thang  (Thương).

            Ðến đời nhà Thương (Thang) ông  vua cuối cùng là vua Trụ. Vua Trụ cũng là kẻ hoang dâm, đồi truỵ và tàn nhẫn. Mặc dù vốn là tay hảo hán võ nghệ cao cường,  thông minh sắc sảo, kiêu ngạo, vua Trụ cũng say đắm giai nhân là Ðắc Kỷ mà mất nước. Hoang dâm và tàn bạo, Trụ vương mổ bụng moi gan Tỉ Can là bề tôi trung thành đã can ngăn y đừng bày nhiều trò độc ác để mua vui. Vua Trụ lặp lại sự thất bại của vua Kiệt.

            Nhà Thương là ranh giới giữa thời kỳ tiền sử chuyển sang thời kỳ lịch sử. Thần thoại được coi là “cuốn lịch sử” đầu tiên của lịch sử Trung Hoa. Ðến  nhà Chu mới chính thức có lịch sử ghi chép và nền văn học viết.

            Thần thoại Trung quốc  gồm nhiều truyện vụn vặt, lẻ tẻ (Ấn Ðộ và Hi lạp, sau giai đoạn thần thoại, phát sinh thể loại sử thi anh hùng ca kết nối các thần thoại và phát triển tiếp, do đó thần thoại Ấn Ðộ và Hi Lạp được truyền lại đời sau trong một hình thức đầy đủ và hoàng tráng hơn). Tuy vậy, thần thoại Trung Quốc cũng gây ảnh hưởng lâu dài đến nền văn học Trung Hoa suốt hàng ngàn năm sau. Thần thoại đã biến thành điển cố, điển tích và gây nguồn cảm hứng cho nhiều văn nghệ sĩ đời sau.

3 . KINH THI  诗经 shījīng

    Giới thiệu

            Kinh Thi là tập thơ đầu tiên của Trung Quốc, sáng tác trong khoảng thời  gian hơn  năm trăm năm, cách đây khoảng hai ngàn năm trăm năm. Ðến thế kỷ 6 trước CN sưu tầm khoảng ba trăm bài, được soạn  thành tập. Về sau  Khổng Tử biên soạn thành sách gọi là Kinh Thi dùng làm sách giáo khoa (trong bộ Ngũ kinh). Ông coi trọng việc học thơ nhằm xây dựng tình cảm đạo đức và tạo cho lời nói thêm hoa mỹ. Ông nói “Không học Kinh Thi thì không biết nó” (Luận ngữ). Thơ có thể làm cho mọi người phấn chấn, đoàn kết với nhau, bộc lộ lòng bất mãn, phẫn uất của mình và tham khảo phong tục đất nước. Theo truyền thuyết, lúc đầu Kinh Thi có tới 3000 bài, sau rơi rụng dần chỉ còn hơn 300.

            Kinh Thi gồm ba phần: Phong, Nhã và Tụng.

             Phong: Còn gọi là quốc phong, có 160 bài. Ðó là ca dao, dân ca của mười lăm nước nhỏ. Ðó là tác phẩm của miền Bắc gồm lưu vực sông Hoàng Hà, Trường Giang,  trung tâm văn hoá của Trung Quốc thời bấy giờ.

             Nhã : Gồm tiểu nhã đại nhã (còn gọi nhị nhã), có 105 bài. 

 Tiểu nhã: những bài dùng trong trường hợp các buổi yến tiệc quí tộc (74 thiên). Ðó  là thơ ca của  giới quí tộc đại  phu làm trong những dịp triều hội, yến tiệc nói về quan hệ tốt đẹp giữa vua tôi và các  nghi  thức  tiếp  tân  giữa  chủ và khách.. Đại nhã: những bài dùng trong trường hợp quan trọng như khi Thiên tử họp các vua chư hầu hoặc tế ở miếu đường (31 thiên).(Nhã có nghĩa đối lập với tục, tao nhã, cao sang, đẹp, gương mẫu).

             Tụng: Là những bài tán tụng, ca ngợi dùng lúc tế lễ thần linh, thái miếu,   hơn 100 bài, giống như văn tế sau này. Tụng gồm có Chu tụng, Lỗ tụngThương tụng (gọi là  tam tụng) sáng tác ở ba nước Chu, Lỗ và Thương.

            Nghiên cứu Kinh Thi, người đọc hiểu được phong tục tập quán, tình hình xã hội và  khuynh hướng  tư tưởng của từng vùng và từng giai tầng xã  hội. Ðại  bộ phận quốc phong  và một phần Tiểu nhã, một phần Ðại nhã có tính  nhân dân và tính phê phán cao là sáng  tác của  người bình dân lao động. Còn Tụng và phần còn lại của Nhị nhã  là sáng tác của giới quí tộc nhằm ca tụng giai cấp thống trị. Có ý nghĩa nhất đối  với chúng ta ngày nay là “quốc phong” và  một số bài  trong Tiểu nhã.  Ðó thực sự là văn học dân gian chân chính  của Trung Quốc cổ đại.

            Các bài ca dao, dân ca trong quốc phong là sáng tác của nhân dân lao động, ca  hát về công ăn việc làm của họ, tâm tình, cảm xúc của người nghèo khổ bị áp bức bóc lột. Họ  phải làm lụng cực nhọc để nuôi bọn lãnh chúa sống giàu sang, nhàn hạ. Ví dụ bài “Thất nguyệt” như sau :

Tháng giêng sửa  soạn cày bừa, tháng hai  ra đồng cày ruộng, tháng ba trồng dâu nuôi tằm,  tháng tư,  tháng năm đi hái trái viễn chín làm thuốc,  tháng sáu hái lê và mận, tháng bảy nấu quỳ hái đậu hái dưa,  tháng tám hái bầu, chặt lau sậy,  gặt hái, dệt vải, tháng chín hái mè, đàn bà  may  quần áo  lạnh cho nhà chủ, đàn ông đập lúa, tháng mười nạp tô, tháng mười một đi săn chồn, tháng mười hai săn thú lớn, đục băng cất đi cho nhà chủ ăn mùa hè cho mát.

 Bài  thơ còn tả những cách thức bóc lột của bọn lãnh chúa. Thỉnh thoảng chen những tiếng thở dài, giọng thơ thường kết thúc mỉa mai, cay đắng, oán trách (Ðọc thêm các bài Phạt đàn, Thạc thử…)

            Ðề tài chiến tranh  trong Kinh Thi cũng khá phong phú. Phản ánh nỗi khổ cực do chiến tranh thời Xuân Thu gây ra cho người lao động. Họ phải bỏ làng xóm, việc cày cấy và gia  đình để đi tham gia các cuộc viễn chinh. Những nỗi buồn khổ của chinh phu, chinh phụ thể  hiện trong các bài  Ðông Sơn, Thái vi.

            Cũng giống như ca dao dân ca nước Việt,  Kinh Thi gồm rất nhiều bài ca tình  yêu. Lời  lẽ hồn  nhiên thẳng  thắn chất phác, mạnh dạn và tình cảm chân thành. Mở đầu Kinh  Thi là bài “Quan thư” bài thơ tình yêu, bộc lộ những nỗi vui buồn thương nhớ, ước mong và yêu đương…Tình yêu của người bình dân hồi  ấy thật trong sáng, ngây  thơ. Mùa xuân trai gái vui chơi trên bờ sông hái cỏ thơm tặng nhau, tỏ tình. Con gái tỏ tình bằng cách mời anh nhảy múa. Những cuộc hò hẹn, cô gái đến trước, nấp một nơi để chứng kiến  nỗi bứt rứt đau khổ của người yêu. Thơ tình yêu cũng đã  lên tiếng oán trách hoặc phản đối luân lý, lễ giáo, luật lệ khắc nghiệt thời cổ  đại. Từ khi yêu đương đến cuộc hôn nhân và  đời sống gia đình, người phụ nữ thường bị hạn chế, chịu thiệt thòi suốt đời. Họ viết những vần thơ cảm động, ai oán.

            Kinh Thi được coi là  sách kinh điển của học đường và nhà nho nên chủ đề tình yêu của người lao động bình dân ít được chú ý. Những bài ca tình yêu do giới quí  tộc cung đình soạn ra  trong Ðại Nhã được ca tụng nhiều hơn.

国风 Quốc phong  (gồm 159 thiên / bài)

(Quốc phong: ca dao, dân ca. Chu Nam phong: ca dao dân ca vùng Chu Nam)

   Sơ lược chủ đề, nội dung từng bài

Chu Nam phong (11 thiên)

   1. Quan thư: tương tư

   2. Cát đàm: Phận sự người vợ lo dệt vải.

   3. Quyền nhĩ: Vợ nhớ chồng.

   4. Nam hữu cù mộc: Chúc người quân tử.

   5. Chung tư: Chúc đông con.

   6. Đào yêu: thục nữ lập gia đình.

   7. Thố tứ: Khen người có tài cán.

   8. Phù dĩ: Phụ nữ an nhàn đi hái trái cây.

   9. Hàn quảng: Khen phụ nữ trở lại đoan trang được người kính nể.

  10. Nhữ phần: Vợ nhớ chồng vẫn trung thành.

  11. Lân chi chỉ: Khen tặng dòng dõi của Văn vương.

Thiệu Nam phong (14 thiên):

   1. Thước sào: Khen tặng người con gái chư hầu được lấy chồng.

   2. Thái phiên: Khen tặng vợ chư hầu lo việc cúng tế.

   3. Thảo trùng: Vợ quan đại phu ở nhà một mình mà nhớ chồng.

   4. Thái tần: Khen tặng vợ quan đại phu lo việc cúng tế.

   5. Cam đường: Kính giữ di tích của Thiệu Bá.

   6. Hành lộ: Con gái lấy lẽ giữ mình mà cự tuyệt người con trai vô lễ.

   7. Cao dương: Khen quan lại y phục bình thường, dáng thảnh thơi tự đắc.

   8. Ẩn kỳ lôi: Vợ nhớ chồng mong chồng mau trở về.

   9. Biểu hữu mai: Con gái lo được gả kịp thời.

  10. Tiểu tinh: Phận thiếp được hầu hạ vua.

  11. Giang hữu tự: Vợ chính rước các hầu thiếp đi theo.

  12. Dã hữu tử khuân: Lời người con gái chế giễu người yêu.

  13. Hà bỉ nùng hĩ: Khen con gái nhà Chu cung kính hòa thuận đi lấy chồng.

  14. Trâu ngu: Chư hầu đi săn.

Bội phong (19 thiên):

   1. Bách chu: Tình cảnh người vợ cả bị bỏ rơi.

   2. Lục y: Tình cảnh vợ chính bị lạnh lùng, còn hầu thiếp được thân mến.

   3. Yến yến: Vợ chính thương nhớ đưa tiễn nàng hầu thiếp về quê.

   4. Nhật nguyệt: Lời than thở của người vợ bị phụ bạc.

   5. Chung phong: Cảnh người vợ sống với người chồng cuồng si ngu dại.

   6. Kích cổ: Nỗi lòng người lính chiến phải xa cách vợ nhà.

   7. Khải phong: Lời con tự trách không khéo thờ mẹ để mẹ đi tái giá.

   8. Hùng trĩ: Vợ nhớ chồng đang đi làm xa.

   9. Bào hữu khổ diệp: Lời than của người bị gò bó tình yêu.

  10. Cốc phong: Nỗi lòng người vợ bị chồng đuổi đi.

  11. Thức vi: Lời của bề tôi trách vua chịu hèn hạ nương tựa nước ngoài.

  12. Mao khâu: Kẻ lưu vong trách nước ngoài không chịu tiếp cứu.

  13. Giản hề: Lời người hiền bất đắt chí chịu làm chức phận khiêm nhường.

  14. Tuyền thủy: Nỗi lòng người con gái lấy chồng ở nước xa, nhớ nhà muốn trở về.

  15. Bắc môn: Cảnh nghèo khó của quan lại thời loạn.

  16. Bắc phong: Nước sắp loạn, rủ nhau đi tỵ nạn.

  17. Tĩnh nữ: Lời ước hẹn tình yêu.

  18. Tân đài: Nỗi lòng người con gái gặp ông chồng hèn hạ loạn luân.

  19. Nhị tử thừa chu: Lời thương xót hai anh em giành nhau cái chết.

Dung phong (10 thiên)

   1. Bách chu: Lời người góa phụ thủ tiết.

   2. Tường hữu từ: Chê trách sự dâm ô của bọn vua chúa.

   3. Quân tử giai lão: Tả dung sắc người đẹp mà kém đức hạnh.

   4. Tang trung: Lời ước hẹn tình yêu.

   5. Thuần chi bôn bôn: Lời trách kẻ loạn luân dâm ô.

   6. Đính chi phương trinh: Khen vua chăm lo xây dựng quốc gia.

   7. Đế đống: Lời gái đi tìm người yêu.

   8. Tướng thử: Lời châm biếm kẻ vô lễ thiếu uy nghi.

   9. Can mao: quan chức biết thăm viếng người hiền.

  10. Tái trì: Lời người con gái nóng lòng về thăm nước đã mất.

Vệ phong (10 thiên):

   1. Kỳ úc: Lời khen tặng vua tu thân.

   2. Khảo bàn: Tình cảnh người hiền ở ẩn.

   3. Thạc nhân: Tả người đẹp và quyền quý được rước dâu.

   4. Manh: Lời người con gái trách người yêu phụ bạc.

   5. Trúc can: Nỗi lòng người con gái lấy chồng ở xa nhớ nhà.

   6. Hoàn lan: Lời châm biếm vua còn nhỏ mà tự kiêu.

   7. Hà quảng: Nhớ quê chồng.

   8. Bá hề: Nỗi lòng nhớ chồng.

   9. Hữu hồ: Nỗi lòng người quả phụ muốn tái giá.

  10. Mộc qua: Lời tặng đáp để kết giao với nhau.

Vương phong (10 thiên):

   1. Thử ly: Nỗi cảm xúc thời xưa đã điêu tàn.

   2. Quân tử vu dịch: Nỗi nhớ chồng đi sai dịch nơi xa.

   3. Quân tử dương dương: Cảnh thanh nhã khi chồng về xum họp.

   4. Dương chi thủy: Nỗi lòng người lính đóng đồn ở xa nhớ vợ.

   5. Trung Quốc hữu thôi: Lời than thở của người vợ bị đuổi bỏ.

   6. Thố viên: Nỗi lòng của người quân tử gặp thời loạn không vui sống.

   7. Cát lũy: Lời than thở của người dân trôi nổi trong thời loạn lạc.

   8. Thái cát: Tưởng nhớ tha thiết tình nhân.

   9. Đại xa: Đắm đuối yêu nhau nhưng còn sợ pháp luật không dám bày tỏ.

  10. Khâu trung hữu ma: Lời giễu yêu của cô gái khi tình nhân không đến.

Trịnh phong (20 thiên):

   1. Tri y: tình của nhân dân mến đãi quan hiền tài.

   2. Tương Trọng tử: bị gò bó, cô gái dặn người yêu không nên đến nhà tìm.

   3. Thúc vu điền: lời khen tặng Cung Thúc Đoạn.

   4. Thanh nhân: tình cảnh quân đội rã rời nhụt chí chiến đấu.

   5. Cao cầu: lời khen tặng quan chức không đổi thay tiết tháo.

   6. Tuân đại lộ: người con gái trách chồng ruồng bỏ.

   7. Nữ viết kê mình: Vợ thương chồng, lo phụng sự chồng chu đáo.

   8. Hữu nữ đồng xa: tả người con gái đẹp đi chung xe.

   9. Sơn hữu phù tô: lời con gái đang yêu trêu ghẹo tình nhân.

  10. Thác hề: người con gái nhiệt tình tỏ ý mời trai cùng ca hát nhảy múa.

  11. Giảo đồng: lời đùa giỡn giữa cô gái với người yêu.

  12. Khiên thường: lời cô gái vui đùa với người yêu.

  13. Phong: cô gái hối hận không đưa tiễn người yêu.

  14. Đông môn chi thiêu: cô gái tỏ tình với người yêu.

  15. Phong vũ: cô gái hả hê khi gặp người yêu.

  16. Tử khâm: cô gái mong nhớ người yêu.

  17. Dương chi thủy: khuyên người yêu giữ trọn niềm tin giữa hai người.

  18. Xuất kỳ đông môn: lòng trung thành mến thương vợ.

  19. Dã hữu man thảo: trai gái gặp nhau và cũng vừa lòng thích ý.

  20. Trân vĩ: trai gái thừa dịp dạo chơi để trao ân tình.

Tề phong (11 thiên):

   1. Kê minh: lời người hiền phi khuyên vua dậy sớm.

   2. Tuyền: lời châm biếm vua quan ham săn bắn mà quên việc chính trị.

   3. Trử: chàng rể chờ rước cô dâu.

   4. Đông phương chi nhật: trai gái yêu nhau hoà thuận với nhau.

   5. Đông phương vị minh: lời châm biếm quan coi tính giờ sai.

   6. Nam Sơn: lời châm biếm bọn vua chúa anh em thông dâm.

   7. Phủ điền: lời khuyên chớ dục tốc mà bất đạt.

   8. Lô linh: lời khen tặng vua đi săn.

   9. Tệ cẩu: châm biếm người đàn bà loạn luân được tự do trở về thông dâm với anh ruột.

  10. Tái khu: châm biếm người đàn bà thông dâm với anh ruột.

11. Y ta: khen Lỗ Trang Công đủ tài mà không ngăn được mẹ.

Ngụy phong (7 thiên):

   1. Cát cú: châm biếm người keo kiệt.

   2. Phần tứ nhu: châm biếm người cần kiệm không trúng lễ.

   3. Viên hữu đào: nỗi lo buồn của người hiểu biết thời cuộc bấy giờ.

   4. Trắc hộ: nỗi lo buồn của cha mẹ, anh em người đi quân dịch.

   5. Thập mẫu chi gian: chính trị hỗn loạn, người hiền lo trở về ở ẩn.

   6. Phạt đàn: người quân tử chẳng chịu ngồi không mà hưởng.

   7. Thạc thử: dân chúng hận vua bội bạc mới bỏ đi nơi khác.

Đường phong (11 thiên):

   1. Tất suất: lời răn cũng nên vui chơi, nhưng không nên thái quá, phải lo công việc của mình.

   2. Sơn hữu xu: ai rồi cũng chết, vậy cũng nên vui chơi.

   3. Dương chi thủy: dân chúng chở che, ủng hộ người quân tử dựng nước.

   4. Tiêu liêu: khen tặng cây tốt trái nhiều.

   5. Trù mậu: lời trai gái mừng rỡ vì được thành vợ chồng.

   6. Đệ đỗ: lời than trách của người không anh em mà cũng không được ai giúp đỡ.

   7. Cao cầu: lời than phiền quan lại hống hách không ưa dân.

   8. Vô y: lời kiêu ngạo của kẻ soán ngôi mà trở nên danh chính ngôn thuận do hối lộ.

   9. Hữu đệ chi đỗ: vua mong hậu đãi bậc hiền tài.

  10. Cát sinh: lời chung thủy của người vợ lính quân dịch mong nhớ chồng.

  11. Thái linh: chớ nghe gièm pha.

Tần phong (10 thiên):

   1. Xa lân: tìm được vua đáng thờ.

   2. Tứ thiết: vua tôi hòa hiệp cùng đi săn bắn.

   3. Tiểu nhung: chinh phụ nhớ chồng.

   4. Kiêm gia: đi tìm người hiền.

   5. Chung Nam: lời dân khen tặng vua mình.

   6. Hoàng điểu: dân thương tiếc người có tài mà bị chôn sống theo vua.

   7. Thần phong: vợ nhớ chồng vắng nhà.

   8. Vô y: binh sĩ thương nhau lo việc chiến đấu.

   9. Vị dương: tiễn người cậu ra đi.

  10. Quyền dư: lời than của người hiền lần lần bị bạc đãi.

Trần phong (10 thiên):

   1. Uyển khâu: người hoang đãng múa hát vui chơi.

   2. Đông môn chi phần: trai gái tụ hợp múa hát trao ân tình.

   3. Hoàng môn: người ở ẩn dễ tính sống thế nào cũng được.

   4. Đông môn chi trì: trai gái nói chuyện mà hiểu lòng nhau.

   5. Đông môn chi dương: trai gái hẹn mà không gặp.

   6. Mộ môn: kẻ ác được cảnh cáo mà không biết hối cãi.

   7. Phong hữu thước sào: lo buồn vì người yêu bị kẻ khác lừa bịp.

   8. Nguyệt xuất: nhớ người đẹp mà lòng ưu sầu.

   9. Tru Lâm: châm biếm vua thông dâm với vợ quan.

  10. Trạch bì: đau đớn nhớ thương mà không được gặp người yêu.

Cối phong (4 thiên):

   1. Cao cầu: thương trách vua không lo chính trị chỉ lo đẹp đẽ quần áo.

   2. Tố quan: mong mỏi thấy lại tang phục đời xưa.

   3. Thấp hữu trường sở: dân chúng quá thống khổ than thở không bằng loại cỏ cây.

   4. Phỉ phong: lòng bi thương nghĩ đến nhà Chu tàn hạ.

Tào phong (4 thiên):

   1. Phù du: ngao ngán người đời ham mê vật chất mà muốn trở về ở yên.

   2. Hậu nhân: lời châm biếm đứa tiểu nhân được làm quan to.

   3. Thi cưu: khen tặng người quân tử chuyên nhất công bình, đủ tài đức trị yên thiên hạ.

   4. Hạ tuyền: thương tiếc nhà Chu không còn cường thịnh như xưa.

Bân phong (7 thiên):

   1. Thất nguyệt: những công việc phải làm quanh năm của nhân dân.

   2. Xi hiêu: chim tận tụy bảo vệ ổ qua cơn giông bão.

   3. Đông Sơn: tình cảnh khi chinh chiến trở về.

   4. Phá phủ: quân sĩ khổ nhọc nhưng vẫn kính mến chủ tướng.

   5. Phạt kha: việc gì cũng có đường lối noi theo.

   6. Cửu vực: dân mến tiếc Chu công.

   7. Lang bạt: thái độ ung dung của Chu công.

NGHỆ THUẬT KINH THI

            Có 5 biện pháp nghệ thuật thường dùng trong Kinh Thi

Phú: là phô bày, nói thẳng sự việc ra, nghĩ thế nào nói thế ấy.

            Tỷ: là so sánh, ví von, chẳng hạn “nhánh cỏ non” ví với bàn tay đẹp, “ngọc” ví với người hiền tài .v.v…”Tỷ” cũng gần giống biện pháp  tượng trưng. Như bài Thạc thử (đánh chuột) kể chuyện  bọn chuột tham lam tàn nhẫn cần phải diệt chúng nhưng  ta hiểu rằng chuột  là bọn lãnh chúa, quan lại tham nhũng.

            Hứng:  nói sự việc này để dẫn đến sự việc khác mình muốn nói. Ví dụ tả cảnh “chim  gù nhau” để nói chuyện  trai gái tìm lứa đôi, nói “quả mơ  rụng”  để chỉ  việc năm  tháng trôi qua, tuổi xuân sắp hết, nói “thuyền trôi nổi giữa dòng sông” để dẫn đến chuyện mối tình dang dở. Ðến ngày  nay, ba cách ấy đã thông dụng trong ngôn ngữ văn chương. Kinh Thi là tập thơ đầu tiên của Trung  Quốc đã sử dụng thành thạo nên ta phải kể đó là đặc  sắc nghệ thuật của giai đoạn này. Người làm thơ quả là có cái nhìn mới mẻ, óc tưởng tượng dồi dào, sự liên tưởng đột ngột rất nên thơ. Có khi cả  ba biện pháp tu từ đó được dùng xen kẽ  trong một bài.  Như bài  Quan Thư gồm năm đoạn. Ðoạn 1 có thể hứng và tỷ, đoạn 2 theo thể hứng, đoạn 3 theo lối phú, đoạn 4 và 5 lại theo thể hứng. Kết cấu xướng hoạ. Ðoạn 1 xướng, đoạn 2 hoạ, thường dùng trong các bài ca lao động tươi vui đối đáp của các cô gái hái dâu.

            Kết cấu trùng điệp trong Kinh Thi thường theo cách “trùng chương, điệp cú” (lặp đoạn, lặp câu, lặp hình ảnh,lặp từ ngữ, âm điệu…). Trùng điệp làm tăng cường độ diễn đạt.

Nhạc điệu rất giàu có trong Kinh Thi. Có bài là dân ca, có bài là thơ được phổ nhạc. Ngày nay, phần âm nhạc đã mất đi, chỉ còn lời với tiết tấu vần điệu của ngôn ngữ nghe vẫn  êm tai, dễ nghe. Lời trong bài được chọn lọc, tinh xảo. Khi sưu tầm, lời thơ có thể được nhuận sắc (gọt sửa) cho hay hơn, dễ nhớ hơn. Do đó, về sau trong ngôn ngữ giao tiếp người ta hay chêm một câu Kinh Thi như là một  dạng tục ngữ, thành ngữ; Trong sáng tác văn học, người ta sử dụng Kinh Thi như là  điển tích điển cố.

            Kinh Thi xưa nay được xem là một tác phẩm văn học cổ điển vĩ đại có ảnh hưởng rất lớn đối với nền văn học Trung Quốc. Kinh Thi còn có giá trị hiện thực cao, được coi là tác phẩm mở  đầu cho văn học hiện thực Trung Quốc.

            (Ðối với văn học Việt Nam, Kinh Thi có ảnh hưởng  rõ rệt. Trước hết do Khổng Tử đề cao  Kinh Thi khiến một số học giả Việt Nam chú ý hơn đến ca dao, dân ca Việt Nam, có ý thức học tập ca dao, dân  ca nước mình để  làm cho lời nói thêm hay. Nguyễn Trãi mở  đường,  Nguyễn  Bỉnh  Khiêm  bước  tiếp. Rồi đến Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú  Xương, Tản Ðà, Nguyễn Bính, đều là những nhà thơ đã học tập và vận dụng thành thạo “kinh thi Việt Nam” mà trở nên nhà thơ dân tộc. Ông cha  ta đã sưu tầm và biên soạn những cuốn ca dao dân ca Việt Nam  như Nam  thi quốc  phong của  Nguyễn Ðăng Tuyển, Việt Nam phong sử của Nguyễn Văn Mai, Thanh Hoa quan phong của Vương Duy Trinh. Ca dao Việt Nam của Ðào Duy Anh, Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan, Ca dao dân ca Nam Bộ của Lê Giang và Lư Nhất Vũ .v.v…).

Kinh thi tuyển chọn

Quan thư   (Chu Nam phong)

(Tiếng kêu quan quan)

I                                                

Quan quan thư cưu

Tại hà chi châu

Yểu điệu thục nữ

Quân tử hảo cầuÐôi chim thư cưu hót cùng nhau, nghe quan quan

Ở trên cồn bên sông

Người thục nữ u nhàn

 là người tốt cho bậc quân tử

II

Sâm si hạnh thái

Tả hữu lưu chi

Yểu điệu thục nữ

Ngộ mỵ cầu chi

Cầu chi bất đắc

Ngộ my tư bặc

Du tai! Du tai!

Triển chuyển phản trắcRau hạnh cọng dài cọng ngắn

Phải theo dòng nước sang phải sang trái mà hái

Người phụ nữ u nhàn ấy

Khi thức, khi ngủ đều cầu được nàng

Nếu cầu mà không được

Thì khi thức, ngủ đều tưởng nhớ

Tưởng nhớ xa xôi thay ! Tưởng nhớ xa xôi thay

Vua cứ lăn qua trở lại nằm mãi không yên giấc

III

Sâm si hạnh thái

Tả hữu thể chi

Yểu điệu thục nữ

Cầm sắt vĩ chi

Sâm si hạnh thái

Tả hữu mạo chi

Yểu điệu thục nữ

Chung cổ lạc chiRau hạnh so le không đều nhau

Phải thuận theo dòng nước sang tả, hữu mà chọn hái

Người phụ nữ u nhàn ấy

Phải đánh đàn cầm sắt mà thân ái nàng

Rau hạnh cọng dài cọng ngắn khác nhau

Phải nấu chín mà dâng lên hai bên

Người thục nữ u nhàn ấy

Phải khua chuông gióng trống để nàng mừng vui

Gợi ý tìm hiểu

Chương I (chương: khổ thơ): Thuộc thể hứng. Tả đôi chim thư cưu (trống mái) hót với nhau. Chúng sống có đôi nhất định, không lẫn lộn đôi khác. Tình cảm với nhau rất khăng khít nhưng không lả lơi. Chủ đề nhấn mạnh con chim thư (mái) hót “quan quan”

Người thục nữ là ám chỉ nàng Thái Tự, hàng ngày ở trong trạng thái rung cảm mạnh về tình dục nhưng không để lộ, như vậy mới xứng với bậc quân vương (vua Văn vương).

Chương II: Khi vua Văn vương chưa gặp được nàng Thái Tự phải đi tìm tòi khắp nơi…

Chương III: Kể chuyện đã tìm được nàng. Vua phải thân ái săn sóc cho nàng vui và tỏ ý vui mừng khôn xiết.

 

Phạt đàn  (Ngụy phong)

           (Chặt cây đàn)

Tiếng đốn cây đàn nghe khảm khảm

Rồi đặt cây ấy ở bên bờ sông

Nước sông trong và gió thổi gợn

Không cấy không gặt

Sao lại lấy được lúa của ba trăm nha ø?

Không đi săn đi bắn

Sao lại thấy ở sân nhà anh có treo con chồn ?

Người quân tử kia,

Không hề ngồi không mà ăn.

 (Ghi chú: Cây đàn là cây điền – một loại cây quý. Không phải nhạc cụ)

 

Thạc thử  (Ngụy phong)

(Ðánh chuột)

Ghi chú: Bài thơ có 3 chương.”Con chuột to” là hình ảnh tượng trưng của nhà vua (chúa đất). Chú ý thời Kinh Thi, Trung Quốc chia ra thành ngàn nước nhỏ. Bỏ xứ này sang xứ khác là việc dễ dàng và đó là cách tốt nhất biểu lộ phản ứng của người dân lao động với lãnh chúa.

         I.  Chuột to hỡi ! Chuột to hời!

Nếp ta, đừng ăn tới nghe mày

Ba năm biết thói lâu nay

Xót thương chẳng chịu đoái hoài đến ta

Nên đành phải đi xa mày đó

Ðến đất kia thật rõ yên vui

Ðất an lạc, đất thảnh thơi

Chốn kia thích hợp được nơi an nhàn.II.  Con chuột bự ! Này con chuột bự !

Lúa mạch ta mày chớ ăn nhằm

Thói mày, ta hiểu ba năm

Ơn ta thì chẳng để tâm báo đền

Thế ta phải xa liền mày vậy

Nước yên vui ở đấy an thân

Nước yên, nước có đức nhân

Ðể ta sẽ được mọi phần thích nghi.

Giảo đồng      (Trịnh phong)

                  (Anh chàng láu lỉnh)

  1. Kìa anh chàng bé bỏng gian ngoa

Chẳng thèm trò chuyện cùng ta nữa rồi

Việc chàng đành dạ bỏ rơi

Xui ta buồn khổ đứng ngồi biếng ăn.

  1. Kìa chàng bé bỏng điêu ngoa

Bỏ ta lại chẳng cùng ăn nữa rồi

Việc chàng đành dạ bỏ rơi

Khiến ta buồn khổ bồi hồi chẳng yên.

Khiên thường  (Trịnh phong)

                         (vén xiêm)

Chàng còn tưởng đến em đây

Sông Trân quần vén lội ngay theo chàng

Nếu chàng chẳng nhớ chẳng trông

Em theo kẻ khác, há không còn người?

Hỡi chàng bé bỏng khùng điên!

(Ghi chú: Lời người con gái đa tình đùa giỡn với người yêu)

Tường hữu từ   (Dung phong)

                        (Bức tường có dây từ leo bám)

  1. Bức tường bị bám dây từ

Không sao quét dọn mà trừ cho xong

Những lời trong chốn khuê phòng

Không sao mở miệng mà hòng nói ra

Những điều nói được toàn là

Hoang dâm nhơ nhuốc xấu xa cho lời.

  1. Bức tường từ đã bám vào

Thì không trừ khử thế nào cho xong

Những lời trong chốn khuê phòng

Không sao tường tận nói cùng ai hay

Những điều nói rõ vào tai

Toàn lời nhơ nhuốc dông dài lôi thôi.

(Gợi ý tìm hiểu: bài thơ theo thể hứng. Hình ảnh dây từ bám vào tường gợi ta nghĩ đến tình cảm trai gái đã ăn sâu vào tâm hồn người con gái đa tình)

Ðông Sơn  (Bân phong)

            Ðến Ðông Sơn ta đi dẹp giặc

Mà không về rõ thật lâu rồi

Từ đông trở lại đến nơi (ta từ phía đông đến)

Ðường về lác đác mưa rơi nhọc nhằn

Từ phương đông lần lần trở lại

Trông về tây lòng mãi xót thương

Ta may quần áo bình thường

Ngậm tăm chẳng bận, chiến trường hết lo

Những sâu kia chen bò lổm ngổm

Cứ ở trong những cụm dâu xanh

Kẻ này hiu quanh một mình

Vẫn nằm dưới cỗ xe binh nhọc nhằn

(Chương I thuộc thể phú, người kể chuyện là Chu Công em ruột vua Chu Vũ Vưong )

            Giặc Ðông Sơn ta đi đến đánh

Mà không về chợt tính lâu thay

Từ đông trở bước lại đây

Ðường về lác đác mưa rơi lạnh lùng

Dưa quả  lão kết thòng những trái,

Ðất bên nhà đã thấy mọc dầy

Khắp nhà bọ đất nhủi đầy

Nhện thì giăng lưới ở ngay cửa vào

Hẻm thì hươu bấy lâu làm lối

Sáng lập lòe trong tối những giời (con vật )

Hoang tàn như thế kinh người,

Thì đành tưởng nhớ để rồi về thăm.

(Chương II vẫn là thể phú. 4 câu đầu nói việc đi về khó nhọc. Lòng nhớ quê da diết. Thực ra vẫn chưa về đến nhà, chỉ do tưởng tượng ra mà thôi).

           Giặc Ðông Sơn ta đi trừ dứt

Không trở về rõ thực đã lâu

Từ phương đông trở lại mau

Ði về lác đác dãi dầu mưa rơi

Chim sếu kêu đậu nơi gò kiến

Vợ nhớ chồng buông tiếng thở than

Tưới và quét, lấp lỗ hang

Hốt nhiên đã thấy bóng chàng đến nơi

Khóm khổ  qua nay thời trông lại (nguyên văn: qua khổ)

Vẫn trên nhành lật ấy nhẹ buông

Từ khi vắng mặt tha hương

Ðến nay thấm thoắt đã dường ba năm

(Chương III thuộc thể phú. Cảnh vợ nhớ chồng đi lính xa. Cuộc hội ngộ bất ngờ và cảm động).

            Ðến Ðông Sơn ta đi chinh phạt

Không trở về lâu thật đấy mà

Từ phương đông vội tách xa

Ði về lác đác mưa sa dặm dài

Chim thương canh lướt bay thấp thoáng

Ðẹp xinh và tươi sáng sắc lông

Có người con gái lấy chồng

Rước dâu hai thứ ngựa bông đỏ vàng

Mẹ thì giắt cho nàng lưng đáy

Nghi lễ nhiều đã tới chín mươi

Vui thay mới cưới những người!

Vợ chồng cũ gặp, mừng thời xiết bao?

(Chương này thuộc thể phú và hứng. Loài chim thương canh bay báo hiệu mùa cưới gả. Lính trở về kẻ độc thân lo cưới hỏi cũng vui mừng như kẻ vợ chồng đoàn tụ biết nói sao cho xiết).

Ðào yêu   (Chu Nam phong)

                   (Đào tơ)

I . Ðào chi yêu yêu

Kỳ hoa trăn trăn

Chi tử vu quy

Nghi kỷ gia thấtII – Ðào chi yêu yêu

Hữu phồn kỳ thực

Chi tử vu qui

Nghi kỷ gia thất

III  – Ðào chi yêu yêu

Kỳ diệp trăm trăm

Chi tử vu qui

              Nghi kì gia nhân

I

 Cây đào tơ xinh tươi

Hoa nở nhiều

Nàng ấy đi lấy chồng

thì ắt thuận hòa,

êm ấm cảnh gia đình

Cây đào tơ xinh tươi

Trái đã đơm nhiều

Nàng ấy đi lấy chồng

Thì ắt thuận hòa, êm ấm cảnh gia đình

  Cây đào tơ xinh tươi

Lá đơm xum sê

Nàng ấy đi lấy chồng

thì ắt thuận hòa với người trong nhà

(Ghi chú: bài thơ thuộc thể hứng. Cây đào hoa màu hồng, quả ăn được. Cây còn tơ thì nhiều hoa. Tháng hai mùa xuân, đào trổ hoa là mùa cưới hỏi. Cưới xin đúng mùa thì hạnh phúc ấm êm) .

Ðông phương chi nhật  (Tề phong)

    (Mặt trời phương đông)

  1. Ðông phương chi nhật hề

Bỉ xu giả tử

Tại ngã thất hề

Tại ngã thất hề

Lý ngã tức hề

  1. Ðông phương chi nguyệt hề

Bỉ xu giả tử

Tại ngã thuyết hề

Tại ngã thuyết hề

Lý ngã phát hề

Mặt trời phương đông kìa

Cô nàng đẹp đẽ kia

Vào nơi nhà ta

Cứ rón bước theo ta

Mặt trăng đã thấy ở phương đông

Cô nàng đẹp đẽ kia

Vào nơi trong cửa ta

Cứ rón bước theo ta

mà đi không rời.

(Bài này thuộc thể hứng và phú, kể chuyện cô con gái bỏ nhà đi theo tình nhân).

Trung Quốc hữu thôi  (Vương phong)

           (Trung Quốc có cây thôi)

  1. Ở trong hang có cây thôi

Lá cành trơ trụi khô rồi thế kia

Có người vợ bị chia lìa

Thở than cho cảnh phân chia vợ chồng

Thở than uất ức tấc lòng

Gặp người phải bước khốn cùng gian nan

  1. Có cây thôi ở trong hang

Lá cành trơ trụi khô tàn còn chi

Có người vợ đã chia li

Thở dài chép miệng chỉ đành

Gặp người chẳng phải hiền lành thủy chung

  1. Trong hang có cây thôi

Tuy trong chỗ ướt, mà coi khô tàn

Có người vợ bị lìa tan

Rưng rưng nước mắt, khôn ngăn khóc thầm

Rưng rưng giọt lệ ướt dầm

Ôi thôi há biết sẽ làm ra sao?

{Bài thơ thuộc thể hứng. Người vợ bị chồng ruồng bỏ. Chỉ biết khóc thầm, hẳn là người phụ nữ trung hậu…Những bài ca về hôn nhân, gia đình sống hạnh phúc cũng phản ánh quốc gia thịnh trị. Còn những cảnh gia đình tan vỡ vì chính sự hà khắc, đói kém hoặc chiến tranh loạn lạc có ý nghĩa phê phán lên án giai cấp thống trị}

Hoàng điểu   (Tần phong)

  (Chim hoàng ly/ chim hoàng oanh)

  1. Chim hoàng ly bay qua bay lại

Ðậu cùng nhau trên mấy cành gai

Chết theo Tần Mục là ai?

Tử Xa Yêm Tức, chàng trai nước Tần

Yêm Tức này đem thân chôn sống

Trong trăm người anh dũng trội cao

Vừa kề bên huyệt bước vào

Dáng người thiểu não ưu sầu hoảng kinh

Vút tầng cao trời xanh kia hỡi

Nỡ giết người hiền giỏi nước ta

Nếu cùng chuộc được chàng ra

Trăm thân đổi mạng ai mà tiếc đâu !

  1. Cứ lại qua hoàng ly bay mãi

Rồi cùng nhau đậu lại cành dâu

Chết theo Tần Mục ai nào?

Trọng Hàng họ Tử Xa sao chết đành?

Ðây Trọng Hàng đem mình chôn sống

Bậc tài cao một chống trăm người

Huyệt mồ vừa bước tới nơi

thì chàng phút đã rụng rời xiết bao!

Vút tầng mây trời cao xanh ngắt

Nỡ giết người giỏi nhất nước này

Nếu cùng chuộc được chàng ngay

Trăm thân đổi mạng ai rày tiếc chi

  1. Chim hoàng ly lại qua bay lướt

Bụi sở kia lần lượt đậu cùng

Ai cam chết với Mục Công?

Tử Xa Kiều Hổ người trong nước Tần

Chàng Kiều Hổ đem thân chôn sống

Bậc tài cao, một chống hàng trăm

Bước đi lần đến huyệt hầm

Thì chàng phút đã kinh tâm hãi hùng

Trời vút cao một vùng xanh biếc

Người tài mà nỡ giết sao đang?

Nếu cùng chuộc được mạng chàng

Trăm thân xin đổi, còn màng tiếc chi.

Chú thích: khi hôn mê sắp chết, vua Tần Mục Công bảo con trai là Tần Khang Công  hãy  chôn theo mình 177 người sống. Ba  người  con  dòng họ Tử Xa cũng bị đưa  vào danh sách.. . Bài ca dao tả nỗi sợ hãi  đau đớn của ba chàng Yêm Tức, Kiều Hổ và Trọng Hàng, lên án vua Tần độc ác.

Tương trọng tử  (Dân ca Trịnh)

(Đứa con trọng cả hai: hiếu và tình)

Chàng ơi chớ lẻn vào đây

Chớ leo mà gãy cành cây trong vườn

Tình chàng đâu dám không thương

Nhưng lời cha mẹ xem thường được đâu

Tình chàng em vẫn ghi sâu

Lời cha mẹ dặn em đâu dám nhờn

Thác hề    (Trịnh phong)

 (Lá  cây rơi)

  1. Cây khô hỡi ! Cây khô kia hỡi !

Gió từng luồng sẽ thổi vào ngươi

Này chàng thúc bá kia ơi

Hễ chàng khởi xướng, em thời họa ngay

  1. Cây khô hỡi! Cây khô sắp rụng

Gió từng luồng thổi đúng vào ngươi

Này chàng thúc bá kia ơi

Hễ chàng khởi xướng, thì tôi tán thành

{Bài thơ theo thể hứng. Trong cuộc vui chơi, cô gái đa tình gợi ý cho người anh thúc bá mời mình ca hát nhảy múa]

Bách chu  (Dung phong)

(Thuyền gỗ bách)

            Chiếc thuyền gỗ bách lênh đênh

Giữa dòng sông nọ, mặc tình nổi trôi

Trái đào để tóc rủ đôi

Thật thì người ấy với tôi là chồng

Ðã thề đến chết một lòng

Mẹ tôi ơn nặng sánh cùng trời cao

Há không tin được lòng sao?

(Nàng Cung Khương nước Vệ góa chồng sớm, cha mẹ bắt nàng về gả chồng. Nàng làm bài thơ này để chống lại)   

    Thái cát    (Vương phong)

                 (Hái sắn) 

  1. Bỉ thái cát hề

Nhất nhật bất kiến

Như tam nguyệt hề

  1. Bỉ thái tiêu hề

Nhất nhật bất kiến

Như tam thu hề

  1. Bỉ thái ngải hề

Nhất nhật bất kiến

Như tam tuế hề

 

  1. Kìa người hái sắn hái đay

Trông nhau không thấy một ngày tương tư

Lâu như ba tháng đợi chờ

  1. Cỏ tiêu đi hái kìa ai

Xa nhau chẳng gặp một ngày đợi trông

Bằng ba mùa đã chất chồng.

  1. Ra đi hái ngải kìa người

Một ngày chẳng gặp nhau thời dài ghê

Như ba năm trọn não nề . . .

 Trắc hộ   (Ngụy phong)

          (Nỗi lòng con nhớ cha)

  1. Ta hãy trèo lên trên non hộ

Ðứng trông về hướng đó nhớ cha

Cha than: quân dịch con ta

Sớm hôm chẳng nghỉ, xót xa tâm tình

Cha mong con giữ mình cẩn thận

Hòng trở về, chớ hẳn biệt tăm

(Ðứa con có hiếu đi quân dịch ở xa, nhớ cha mẹ, leo lên núi ngóng hướng nhà mà tưởng tượng về cha).

  1. Lên núi chỉ là nơi dặm cỏ

Nhớ mẹ nên đứng ngó lặng nhìn

Mẹ than: quân dịch út mình

Sớm hôm chẳng nghỉ, nỗi tình đáng thương

Mẹ mong con nhớ thường cẩn thận

Hòng trở về, chớ hẳn bỏ thây.

(Ðứa con trai út  nhớ về mẹ, biết mẹ thương mình là út hơn hết)

  1. Lưng núi kia, ta lên trên ấy

Tưởng nhớ anh, đứng đấy trông xa

            Anh than: quân dịch em ta

Sớm hôm cùng bọn, xót xa nỗi tình

Mong em hãy giữ mình cẩn thận

Hòng trở về, chớ hẳn chết đi.

      (Người em trai tưởng tượng anh trai mình leo lên núi ngóng em và mong em sống sót trở về)                      

 

Trì đường   (Nhị nhã)

           (Bờ ao)

1.

Bờ ao nhà chàng

biếc cói, thơm sen

Có người tuấn tú  

Ta thương nhớ thầm   

Thức ngủ không yên  

Lệ đẫm triền miên                             2.

Bờ ao nhà chàng

biếc cói, thơm lan

Nhớ chàng vạm vỡ

Mái tóc loăn xoăn

Thức ngủ không yên

Nghe nhói trong tim3.

Bờ ao nhà chàng

Cói vàng, sen nở

Nhớ chàng vạm vỡ

Nét người trang nghiêm

Thức ngủ không yên

Gối mềm trăn trở.

    (Chú thích: Tình yêu đơn phương của một cô gái)

4. KHUẤT NGUYÊN VÀ TẬP THƠ LI TAO

屈原 [Qū yuān] & 离骚 [Lí sāo]

            Khuất Nguyên (còn tên gọi Khuất Bình) sinh năm 340 tr.CN trong một gia đình quí tộc có họ xa với vua  nước Sở. Ông là người thông minh, uyên bác. Vì thế được Sở Hoài vương  bổ nhiệm làm chức “tả đồ” lúc 24,25 tuổi (tả đồ xếp dưới thừa tướng một bậc). Ông tham gia việc nước: làm pháp luật, đi sứ, tức là toàn bộ công việc nội vụ và  ngoại giao. Ông  thi hành hai  chính sách lớn. Ðối nội là “biến pháp”, nội dung chủ yếu là hạn chế đặc quyền của giai cấp quí tộc, bảo vệ lợi ích của người có ruộng, nhằm khuyến khích sản xuất để cho  dân giàu nước mạnh. Ðối  ngoại là: chính sách liên minh với Tề chống Tần. Ðó  là một chính sách sáng suốt. Lúc đó Sở và Tần là hai nước mạnh nhất, đều muốn vươn lên giữ ngôi bá chủ. Ông chủ trương liên kết với  năm nước kia là Tề, Nguỵ, Hàn, Triệu, Yên, trước hết với nước mạnh nhất trong số đó là Tề. Khuất Nguyên đi sứ sang Tề. Liên minh Tề – Sở được ký kết.

            Nhưng Khuất Nguyên chỉ giữ chức Tả Ðồ được ba năm. Trong triều đình có tên  Thượng Quan đại phu ghen ghét  và có ý tranh quyền với ông nên tìm cách gièm pha hãm  hại. Bởi nghe lời Thượng Quan, vua nổi giận không tin dùng nữa, chỉ cho ông giữ chức Tam lư đại phu trông coi việc tế lễ.

            Từ khi ông thôi không giữ chức vụ quan trọng thì nền chính  trị nước Sở ngày càng rối loạn. Chính sách “Biến  pháp” (thay đổi pháp luật) thất bại. Sở càng suy yếu. Nước Tần tìm cách ly gián Tề và Sở. Vua Tần chủ trương lôi kéo vua Sở. Vua Sở nghe lời,  liền bị các nước kéo quân đánh. Sở đại bại, thiệt hại nhiều tướng sĩ. Năm 305 tr-CN, Sở bội ước với Tề và giao kết với Tần. Khuất Nguyên can gián, vua không nghe, lại còn đày ông lên  phía Bắc. Các  nước lần lượt  kéo quân đánh Sở. Vua Tần mời Sở Hoài vương sang  dự hội kiến  ở đất Tần. Khuất Nguyên can ngăn vua không được. Vua Sở bị Tần lừa, bắt giam ba năm và chết ở đất  Tần. Con  vua lên  ngôi là Sở Tương vương, tiếp tục kết thân với Tần và cưới con gái  vua Tần làm Hoàng hậu. Các tên quí tộc Tử Lan, Tử Tiêu, Cần Thượng, Thượng Quan… tiếp tục gièm pha ông, vu oan cho thơ ông chỉ trích triều đình. Vua nổi  giận trục xuất ông đến miền Giang Nam. Khuất Nguyên ở đó được chín năm. Tướng Tần đem quân đánh Sở và chiếm được kinh đô.  Khuất Nguyên nghe tin, đau khổ tuyệt vọng, nhảy xuống sông Mịch La (tỉnh Hồ Nam) tự sát. Ðó là ngày 5 tháng 5 năm 278 tr.CN, trùng ngày tết Đoan ngọ. Ông thọ 62 tuổi.

Khuất Nguyên một nhà chính trị đồng  thời là một nhà thơ. Tác phẩm của ông có nhiều, hiện còn 25 cuốn. Tiêu biểu là Sở từ (楚 辞) . Sở từ là  tên chung một  tập thơ gồm  nhiều tác giả nhưng trong đó tác phẩm của ông giữ địa vị chủ yếu cả về số lượng và chất lượng (gồm Cửu ca, Cửu chương, Thiên vần, Bốc cư, Ngư phủ và Li tao)

            Thơ của Khuất Nguyên phản ánh tấn  bi kịch cuộc đời  ông.

Trước hết Khuất Nguyên là bi kịch của  một nhà chính  trị sáng suốt mong muốn cho nước nhà giàu mạnh để thống nhất Trung  Quốc theo yêu cầu của thời đại, nhưng  không được  nhà vua  trọng dụng. Hai chính sách lớn của ông hoàn toàn nhằm mục đích đó, không có chút tính toán cá nhân nào. Nhưng Khuất Nguyên gặp  phải những ông vua tồi, nhẹ dạ hám danh, trước sau bất nhất, bỏ ông không dùng. Lại còn một bọn quan lại xa hoa, xấu xa dâm dật gièm pha hãm hại. Do đó, vua Sở đi từ thất bại này đến thất bại khác. Khuất Nguyên buồn tủi, căm giận và cái chết của ông chính là hành động vì nước vì dân.

            Bi kịch Khuất Nguyên còn là bi kịch của một người trong sạch, đạo cao đức trọng  phải sống giữa những kẻ tầm thường đầy dục vọng cá nhân và không  tránh khỏi  bị bọn này hãm hại. Ông như bông sen nở giữa bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.Thơ ông thường nói đến hoa thơm, cỏ lạ để bộc lộ tâm hồn mình. Bài thơ “Quất tụng” ca ngợi  cây quất (quít, hạnh) tượng trưng cho  tiết  tháo của người chính trực.

“Năm tàn tiết muộn mà lá vẫn tươi, hoa vẫn trắng, cành vẫn sum sê, gai vẫn nhọn quả vẫn tròn”. Ca tụng cây quất là tự khẳng định phẩm chất kiên cường của mình vậy.

Bi kịch Khuất  Nguyên là bi kịch của con người trí thức giàu sang không thể quyến rũ, nghèo đói không thể lung lay, uy quyền vũ lực không thể khuất phục. Ông vấp phải bọn tiểu nhân xấu xa, đồi bại nắm vận mệnh quốc gia. Tấn bi kịch  kéo dài gần nửa đời người, khi được tin dùng, khi bị bỏ rơi, hai lần bị đày ải. Cuộc đời  ông chỉ đắc chí được ba năm khi giữ chức Tả Ðồ. Còn lại là hơn 20 năm  u uất, buồn tủi, đau thương, từ năm ba mươi tuổi đến khi mất. Nhưng ông không chút hối hận. Ông chọn cái chết  làm gương cho người đời soi chung.

“Li tao” là bài thơ dài nhất của Khuất Nguyên, gồm 373 câu và là tác phẩm tiêu biểu nhất,  trong đó ông trình bày lý tưởng ông theo đuổi, thổ lộ nỗi phẫn uất trước hiện thực đen tối của xã hội, nêu cao tinh  thần đấu tranh bất khuất, bộc lộ lòng yêu nước,   thương dân nồng nàn của mình và ý chí thà chết chứ không chịu sống hèn, sống đục.

            Nhà sử học Tư Mã Thiên đời Hán giải thích “Li tao là li ưu, tao là lo, lo buồn trong chia li”… Một nhà viết sử đời Hán khác, Ban Cố, lại giải thích “Li là gặp phải, tao là lo âu. Nhà thơ gặp phải điều lo âu mà viết ra những vần thơ này”. Hai cách giải thích khác nhau nhưng thống nhất rằng nhà thơ đã bày tỏ nguyên nhân khiến cho mình lo âu bằng những lời đau buồn, ai oán sâu sắc trong những ngày phải sống kiếp lưu đày ở phương xa.(Đào Duy Anh theo Quách Mạt Nhược giải thích: “tao” là tên thể thơ]

            “Li tao” là một bài thơ  trữ tình thương cảm, lâm li. Ðó là bài thơ của nhà chính trị nhưng chất thơ rất đậm, Kết hợp trữ tình và tự sự, kết hợp tính lãng mạn và  tính hiện thực. Thủ pháp nghệ thuật chính là nói bằng hình tượng, ông thường dùng lối ẩn dụ, tượng trưng. Ông tả các thứ hoa thơm cỏ lạ ở nơi núi cao, vực thẳm  để tượng  trưng cho  những phẩm  chất tốt đẹp. Khi ông nói việc đeo hoa  vào người  làm đồ  trang sức là nói tự mình trau dồi trong sạch, thanh cao. Ông còn dùng thần thoại truyền thuyết để tả cảnh núi  non, sông nước, mây gió trăng sao làm cho ý thơ càng  thêm bao la bát ngát. “Li  tao” viết theo thể từ thuộc dân ca nước Sở,  dùng ngôn  ngữ nước Sở, đó là tính chất dân tộc đậm đà của thơ ông.

            Lòng yêu nước và  tình thương dân ở Khuất Nguyên  gắn bó với nhau thật mật thiết. Phong  tục ở vùng Giang Nam  chứng tỏ tình cảm của nhân  dân  đối  với  nhà  thơ  thật là sâu sắc. Theo truyền thuyết, Tết Ðoan ngọ (5 tháng 5 âm lịch) là tết của Rồng. Ngày đó, dân làng chài tổ chức đua  thuyền, gói bánh  chưng thả xuống nước để  cúng Rồng. Nhưng từ sau ngày  5 tháng 5 năm 278 tr.CN, ngày Khuất Nguyên trầm mình xuống sông Mịch La thì Tết Ðoan ngọ có thêm ý  nghĩa mới. Tết đó được  dành cho ông, người đã hi sinh đời mình cho Tổ Quốc, cho nhân  dân. Người ta giải thích phong tục như sau: thả  bánh  chưng  xuống nước để nhử cá khỏi rỉa thể xác nhà thơ, đua thuyền nhanh để cứu vớt ông lên.

Trong thơ, ông  giận trách Sở Hoài Vương :

Tình ta mình chẳng xét cùng

Nghe lời ton hót đem lòng giận ta (…)

Trách mình chẳng suy sau xét trước

Mãi mà không rõ được thói đời

Chúng ghen ta có mày ngài

Phao cho ta tiếng con người lẳng lơ.

          “Mình” ở đây là chỉ Sở  Hoài Vương.

với bọn  tham quan xu nịnh độc ác, ông vạch tội chúng :

Chúng chen chúc trên đường vụ lợi

Tấm lòng tham, tham mãi tham hoài

Ðem dạ mình đo bụng người

Sinh tình ghen ghét, đặt lời gièm pha

Mồi phú quí cố mà đeo đuổi

 Phải lòng ta có vội thế đâu !

            Đối với hoàng tử con vua Sở:

Lan, ta tưởng đáng nơi tin cậy

Có ngờ đâu bóng bẩy mà hư

Theo đòi, bỏ vẻ đẹp xưa

Ðua đòi cẩu thả cũng như mọi loài

Tiêu, bợ đỡ nịnh đời ra mặt

Túi thuốc trừ nhét chặt phù du

Ðem thân cầu cạnh bôn xu

Còn đâu giữ được thơm tho tính trời.

(Tử Lan- hoàng tử, Tử Tiêu, Trịnh Tụ, Cận Thượng …là bọn tham quan ) .

            Theo ông, sống phải có lý tưởng cao cả. Lại phải biết đấu tranh cho lý tưởng, thất bại không nản lòng. Ðó là nhân cách Khuất  Nguyên mà hơn hai ngàn năm nay người đời không ngớt lời ca tụng.

            Muốn kiên trì lí tưởng, ông cho rằng phải trau dồi phẩm chất đạo đức, càng phải tự hào về mình, không thể thấy người vụ lợi xu nịnh thì  cũng hùa theo. Thơ  Li Tao nhắc đi nhắc lại ý chí đó.

            Khi còn tại chức, ông trau dồi đạo dức  để làm tròn nhiệm  vụ.  Khi bị giáng chức, lưu đày, ông vẫn giữ vững đạo đức.

            Chống lại mọi sự  quyến rũ, ông còn phải  chống lại mọi lời khuyên xằng bậy,  kể cả của người thân, chị gái (hoặc bạn gái) của ông là Nữ Tu khuyên ông nên sống theo thời, như mọi người,  không nên “bướng bỉnh”:

Sao em thích phô trương chải chuốt

Riêng một mình giữ một vẻ xinh

Ðầy nhà đầy nhợ cỏ tranh

Người ta mặc cả mà mình lại không ? [mặc áo cỏ tranh… ý nói ăn mặc luông tuồng tùy tiện]

            Ðể trả lời chị, ông  trình  bày lại lý tưởng của mình, nhưng  ông rất buồn, vì đến người thân thích nhất cũng chẳng hiểu mình.

Người đời không tán thành, thì ông đi  tìm bạn tri  kỷ trong tưởng tượng. Nhà thơ cưỡi rồng, giong  phượng đi khắp nơi tìm bạn :

Quản bao nước thẳm non xa

Ðể ta tìm kiếm cho ra bạn lòng.

            Nhà thơ cưỡi ngựa ra  đi, cho ngựa uống nước ở  nơi mặt trời tắm, rồi đi khắp nơi  trong tưởng tượng. Đọc bài thơ “Ngư phủ” của ông, sau này thi hào Nguyễn  Du đã viết về ông bằng hai câu sau :

  Trong thiên hạ ai người thương kẻ tỉnh một mình?

 Khắp bốn phương trời, không có  nơi nào gởi tấm lòng cô trung

Trước mắt ông có một sức quyến rũ, hấp dẫn: bỏ nước Sở mà đi sang nước khác, ở đó có kẻ trọng dụng tài năng của ông. Nhiều người khuyên ông nên  bỏ đi. Nhưng ông là  người nước Sở, ông yêu quí nước Sở của mình. Cuối  cùng, chỉ còn cái chết, chết vì nước. Ông nhảy xuống sông Mịch La khi nghe tin kẻ thù chiếm được kinh đô nước Sở.

 Cái chết của nhà thơ Khuất Nguyên là bi kịch không tránh khỏi của một nhà yêu nước chân chính sống trong một  triều đình phong kiến mục nát, của con người trung nghĩa biết hi sinh vì chính nghĩa .

            Khuất Nguyên là nhà  thơ đầu tiên của Trung Quốc mà tên tuổi vượt khỏi phạm vi quốc gia  trở thành danh nhân văn hóa của nhân loại. Năm 1952, Hội đồng hoà bình thế giới  đã công nhận ông là danh nhân văn hoá thế giới.

            Tất cả những ai đấu tranh cho  tổ quốc, cho chính nghĩa mà thất bại hoặc bị bọn  gian thần gièm pha hãm hại đều xem ông là tri kỷ và tìm thấy nguồn sức mạnh ở  tấm gương Khuất  Nguyên. Nhiều nhà thơ đời sau làm  thơ đã lấy  cảm hứng từ  cuộc đời ông như “Ðiếu Khuất Nguyên”, “Vịnh Khuất Nguyên”, “Nhớ Khuất Bình “… Sau này từ Lý Bạch, Ðỗ Phủ, Lỗ Tấn  đến Quách Mạt Nhược đã viết những dòng  thơ cảm khái  và hùng hồn  noi theo gương ông.

            Đây là bài thơ “Ngư phủ” của Khuất Nguyên có hai câu:

 Ðời đều trọc cả, một mình ta trong

Mọi người đều say, một mình ta tỉnh

Khuất Nguyên cũng có  ảnh hưởng khá  sâu đậm đến  các nhà thơ cổ điển Việt Nam. Nguyễn Trãi, Nguyễn  Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, mỗi  người mỗi  cảnh ngộ  đều có  nỗi oan ức cần bộc bạch, thì đều làm thơ vịnh nhớ Khuất Nguyên. Nhiều nhất là Nguyễn Du, có tới bảy bài. Tống Ngọc đệ tử của Khuất Nguyên viết bài  từ “Chiêu hồn” gọi hồn thầy  trở về vui  hưởng thái bình. Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc, lại viết bài “Phản chiêu hồn” để ngụ ý lên án xã hội phong kiến Việt Nam .

            Ðúng như Lưu Hiệp, nhà phê bình lí luận văn học Trung Quốc đã nhận xét : “Những nhà văn hậu thế có tài đều hấp thu nội dung  tư tưởng của thơ ông, mà những nhà văn bình thường cũng nhặt nhạnh được lời văn đẹp đẽ” (Sách Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp).

                        “Ngư phủ từ” (bài Từ về người dân chài)

Khuất Nguyên khi bị ruồng bỏ, thơ thẩn đến gần nơi đầm hồ, mặt mũi tiều tụy, hình dung khô héo. Lão ngư phủ  trông thấy, hỏi thăm:

            -Phải ông là Tam lư đaị phu,  cớ sao đến nỗi thế ?

Khuất Nguyên đáp:

-Chúng nhân giai trọc, ngã độc thanh (Mọi người đều đục, một mình ta trong)

 chúng nhân giai túy, ngã độc tỉnh;     (Mọi người đều say, mình ta tỉnh)

 thị dĩ kiến phóng  (cho nên bị đuổi bỏ)

Ông ngư phủ nói:

            -Thánh nhân không câu nệ việc gì, mà biết tùy thời thay đổi. Người đời đều đục thì sao không khuấy thêm bùn, đập thêm sóng cho đục một thể. Thiên hạ đều say sao không ăn cả men, húp cả bã cho say một thể ? Việc gì phải nghĩ sâu làm cao, khiến người khác phải ruồng bỏ mình ?

Khuất Nguyên đáp:

-Tôi nghe nói, mới gội đầu tất chải mũ, mới tắm xong tất thay áo, có đâu đem cái thân trong sạch mà chịu vật nhơ nhớp được ? Thà nhảy xuống sông Tương, vùi thây trong bụng cá, chứ sao trắng lốp mà chịu vấy bụi cát của thế tục !

            Ngư phủ nghe xong thì gõ mái dầm mà hát rằng:

Thương lương chỉ thủy  thanh hề,

 khả dĩ trạc ngã anh

Thương lương chỉ thủy  trọc hề,

 khả dĩ trạc ngã túc.

(Sông Thương nước chảy trong veo

thì ta đem giặt cái lèo mũ ta

Sông Thương nước đục chảy ra

thì ta lội xuống để mà rửa chân}

Hát xong đi thẳng, không thêm một lời.

™


5 .  BÁCH GIA CHƯ TỬ    百家诸子  Bǎi jiā zhū zǐ

    5.1  Tản văn lịch sử

Tả Truyện là cuốn sách sử, có thể của Tả Khâu Minh, sử quan nước Lỗ, cùng thời với Khổng Tử, nội dung trùng với Xuân Thu, thiên về nghệ thuật  kể truyện .

Chiến Quốc sách do nhiều sử gia Chiến Quốc soạn, về sau Lưu Hướng đời Hán biên soạn lại, nội dung là mưu kế, sách lược của thuyết khách dâng  vua chúa đương thời (chép việc từ đầu Chiến quốc đến khi 6 nước bị diệt vong, nhà Tần lên ngôi, truyện Mạnh Thường Quân nước Tề, Kinh Kha nước Triệu).

Kinh Xuân Thu  do Khổng Tử soạn (xem phần 5.2.6)

     5.2  Tản văn triết lý

(tổng hợp về  khoa học xã hội -nhân văn)

Xuân thu -Chiến quốc là thời kì “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” (bách hoa tranh khai, bách gia tranh minh) nên có nhiều tư tưởng triết học khác nhau, tiến bộ hoặc bảo thủ và chiết trung. Sự trăn trở đua tiếng thúc đẩy tiến bộ. Mục tiêu của trí thức là tìm hướng chấm dứt phân tranh phân tán tiến tới thống nhất đất nước, mong cho dân hưởng bình yên. Nổi lên có ba phái lớn: Nho gia, Lão Trang và Mặc gia. Ba công trình tiêu biểu là Trang Tử, Luận ngữ  Mạnh Tử  trong số trước tác của Lục gia (6 trường phái tiêu biểu nhất).

5.2.1. Dương Chu (Chu  Tử)

Thuyết “vị ngã” (vì bản thân): mỗi người giữ được thân mình thì còn tất cả

(Truyện Kiều: Còn thân ắt sẽ đền bồi có khi). Coi trọng đời sống tự nhiên của người. Coi dục vọng của người là chính đáng cần được thỏa mãn. Chống lại mệnhlễ. Khai mở cho Lão Tử và Trang Tử sau này.

            5.2.2 Lão Tử: sáng lập Ðạo gia hay đạo Hoàng Lão là những cách gọi khác nhau của một học thuyết (khác với Đạo  giáo là phù  thuật mê tín  của Cát Hồng  thời Tam quốc) Còn Ðạo gia tức là Lão Trang là một học thuyết triết học nghiêm túc.  Sách sử ký của Tư Mã Thiên (đời Hán) chép rằng Lão Tử là ngừơi nước Sở, họ Lý tên Nhĩ tự Bá Dương,  thuỵ là Ðam, đã từng giữ một chức quan nhà Chu. Các giả thuyết khác nhau cho rằng ông thọ được 81 tuổi, 160 tuổi, 200 tuổi, 250 tuổi vv…

Lão Tử sống cùng thời với Khổng Tử, có thể lớn hơn Khổng Tử 20 tuổi. Sinh trong thời loạn, thấy cảnh thiên hạ đua nhau  đổ xô vào sự nghiệp mưu bá đồ vương,   kiếm chác lợi danh mà bỏ hết luân thường đạo lý,  Lão Tử chán nản bỏ quan.

Lão Tử đem hết kiến thức mà thuyết phục cho  nhiều người quen biết nhưng chỉ ít người theo nên ông đi ẩn dật và mất ở đâu không ai biết.

Ông để lại vẻn vẹn một tập sách nhan đề là Ðạo Ðức Kinh. Nội dung có 81 chương chia làm hai thiên hơn năm ngàn lời nói. Do nghĩa lý cao siêu, khó hiểu nên đời sau các đạo sĩ chú thích nhiều không kể xiết.

  Vũ trụ quan Lão Tử:

Lão Tử cho Đạo là một nguyên lý tuyệt đối. Vạn vật bắt đầu đều là khí hư vô, nó sinh ra tính chất rồi mới sinh ra hình thù,  màu sắc, nó là nguồn sinh hoá của vạn vật. Thực ra  Ðạo không hình không tiếng nhưng  ở khắp mọi nơi. Ðạo rất nhiệm màu và không có cách gọi tên nào khác.

Từ đó ông chủ trương  cái gì cũng nên  để cho nó tồn  tại một cách tự nhiên, như vậy rất công  bằng không thiên  vị ai. Do  có làm (hữu  vi) nên sinh ra cạnh tranh, thất bại, mất mát, đau khổ. Có nghĩa ông chủ trương vô vi. Nhưng Vô vi là một cách sống tương đối. Ông nói “làm lúc  việc chưa xảy ra, trị nước lúc chưa có loạn”.  Như vậy là  ông chủ trương phòng bị, vô vi thanh  tĩnh, không quá bi quan yếm thế như Trang Tử sau này. Ðối với cuộc đời,  ông vẫn có chí phụng sự, nhưng phụng sự với tính chất nhu nhược, mềm dẻo như là “tính nước” không lìa bỏ đời khi đời còn cần mình, nhưng khi công đã thành, danh đã toại, thì nên lui về ẩn dật (công thành thân thoái, thiên chi đạo) đó là đạo Trời.

Khi người ta đã lui  về ẩn dật thì ông  dạy rằng phải biết  phép dưỡng sinh, nghĩa là làm cho mình trở nên cực kỳ trống rỗng, hết lo lắng, ham muốn, giữ cho tâm hồn phẳng  lặng yên tĩnh  để trông rõ  sự huyền diệu  của thiên nhiên. Muốn thế phải tăng cường sinh lực nhưng không để nó hao phí.

 a. Thuyết chính trị  Vô vi

  “Không  trọng người hiền thì dân khỏi ganh ghét

Không  chuộng vật quí thì khỏi sinh trộm cướp

Không  ham muốn vật gì để dân khỏi sinh loạn”.

 b. Thuyết luân lý

Lão Tử quí trọng nhất là Ðạo sau mới đến Ðức,  Nhân,  Nghĩa và sau cùng là Lễ.

Ông không ưa thứ đạo đức giả dối. Hãy để con người sống cho tự nhiên, rồi sau tự nhiên sẽ sinh đủ Ðạo, Ðức, Nhân Nghĩa, Lễ. Ngài viết “Ðạo lớn bị bỏ mới có nhân,   nghĩa, sáu thân không hoà mới có hiếu đễ (sáu thân: cha, mẹ, vợ, chồng, anh, em). Nhà nước loạn ly mới sinh tôi trung, không đủ tin nhau mới có chữ Tín … )

Ngoài Ðạo ra ông không tin có gì lớn hơn,  kể cả trời hay thượng đế ông cũng không thừa nhận.

Ông cũng ít bàn đến quỉ thần. Ông cho rằng ma quỷ cũng chẳng làm được gì ngoài lẽ tự nhiên.

Trong thực tiễn xã hội thời  cổ đại, chủ nghĩa nhân văn  của Ðạo Khổng không làm thoả mãn người Trung Hoa. Bởi tâm hồn con người có chỗ thâm thuý mà Ðạo Khổng chưa đạt tới. Ðạo Khổng căn bản là “đại khẳng định”, còn Ðạo Lão là “Ðại phủ định”. Người ta nói Ðạo Khổng là triết học thành thị,  còn Lão Tử là triết học đồng ruộng. Vả lại, Ðạo Khổng nghiêm trang quá, cận nhân tình quá, không bốc đồng lãng mạn, ảo tưởng, ngây thơ. Một dân tộc, một con người có hai mặt bẩm sinh: một phần lãng mạn, một phần cổ điển. Lão và Khổng đáp ứng thoả mãn mọi tâm trạng con người. Dù sao, chủ nghĩa tự nhiên của Lão Tử cũng là liều thuốc giảm  đau cho những vết thương tinh thần của con người. Theo ông, nhân loại bắt đầu văn minh thì cũng bắt đầu thoái hoá, và lũ thánh hiền như  Khổng Tử chỉ làm cho dân  thêm “đồi truỵ”. Người kế thừa tư tưởng của ông là Trang Tử. Trang dùng bút pháp phúng thích đả kích sự giả dối  tầm phào của cuộc đời và chủ trương xuất thế của ông mạnh mẽ hơn cả tiền bối.

Lão giáo có yếu tố duy vật thô sơ vì nó  lý giải đầu mối vạn vật là Ðạo chứ không phải bởi  thần  thánh  siêu  nhiên  huyền bí.

Lão Tử cũng đã đi vào huyền thoại, người Trung Hoa tin rằng ông đã tu thành tiên trở thành Thái Thượng Lão Quân coi sóc việc luyện lò linh đan lo việc trường sinh bất tử ở cõi trời.

Lão – Trang là học thuyết có ảnh hưởng khá lâu bền cho hậu thế, khi tỏ ra tích cực , lúc khác lại  là tiêu cực.  Ðiều này chúng  ta thấy được  khi nghiên cứu các nhà thơ, văn và văn chương của họ, đặc biệt trong thơ Ðường, trong tiểu thuyết Hồng Lâu  Mộng và thơ văn  cổ điển Việt Nam. Tiểu thuyết Hồng lâu mộng là một sự  rối bời của cả  ba cảm hứng nhưng  chủ đạo là Phật giáo. Triết lý Lão Tử rõ ràng triệt để hơn Khổng Tử nhưng thật khó vận dụng vào thực tiễn. Có lẽ Ðạo lão mang tính chất hư vô, không tưởng nhưng con người vẫn cần đến đạo .

Trang Tử  là bộ sách do Trang Chu  và học trò soạn, còn gọi Nam hoa kinh. Gồm ba phần Nội thiên, Ngoại thiênTạp thiên. Trang Tử tiếp nối học thuyết của Lão Tử. Nhà nghèo, bện giày kiếm sống, chối từ chức quan. Tư tưởng xuất thế, coi mọi thứ trên đời như nhau không hơn kém nhau. Có tài đặt truyện ngụ ngôn, lí thuyết hoang đường xa xôi như “giấc mộng hoá bướm” (hồ điệp mộng)- một kiểu chủ nghĩa hư vô. Văn ông vừa trữ tình vừa trí tuệ, giàu tưởng tượng .

5.2.3        Âm Dương gia: Trâu Diễn là người phát triển thuyết âm dương tới ngũ  hành (có thể đã tiếp thu “ngũ hành” từ phương Nam sông Dương Tử).

        5.2. 4  Mặc Tử

Quê nước Tống, sống cùng thời với Khổng Tử, tên thật là Mặc Ðịch. Bôn ba khắp nơi lo việc cải hóa thiên hạ. Quan điểm của ông : thiên hạ đói khổ loạn ly là do con người không biết thương yêu nhau, đặc biệt  bọn cai trị không thương dân mà chỉ thích chiến tranh. Ông chủ trương truyền bá thuyết bác ái, còn gọi kiêm ái (gần giống với thuyết của Chúa Jesus). Ông bác bỏ mệnh trời, tin rằng con người có sức mạnh làm được tất cả  (phi mệnh). Ông chỉ nêu tấm gương sáng của Nghiêu Thuấn Vũ Thang  , chống lại Lễ nhà Chu (trái với Khổng Tử), danh hợp với thực chứ thực không cần hợp với danh (lại trái với Khổng Tử). Học thuyết kiêm ái (mặt trái là biệt ái – vị kỷ )  trước hết là quan niệm bình đẳng trong xã hội.

        5. 2. 5 . Tuân Tử và Pháp gia

Tuân Tử tên là Huống tự là Khanh (thế kỉ 4 tr.CN) vốn theo đạo Khổng nhưng có tinh thần khoa học, trái với Mạnh Tử. Ông cho rằng  tính người vốn ác, trở nên thiện là nhờ dạy dỗ. Ông chủ trương dùng lễ nhạc để tiết chế tính dục.

Hàn Phi tử là học trò của ông, phát triển tiếp: không thể chỉ dùng lễ nhạc mà phải dùng pháp hình luật để trừng phạt thì dân mới yên. Hàn Phi tử bảo rằng nhân nghĩa là vô dụng. Tần Thủy Hoàng rất thích tư tưởng của Hàn Phi (hoàng tử út nước Hàn) cố mời Hàn theo mình nhưng thất vọng. Không mấy người ủng hộ quan điểm của Hàn, chỉ có một người áp dụng thành công trong việc thống nhất Trung Quốc chấm dứt loạn lạc – người ấy là Tần Doanh Chính. Những người theo phái này gọi chung là Pháp gia.                                                 

        5.2.6. Khổng Tử, Mạnh Tử, Nho học và Luận ngữ

            孔子 [Kǒng Zi], 孟子[ Mèng Zi]  &  儒家 [ Rú jiā  ]

[Nho: gốc là Nho quan giữ việc nghi lễ của nhà Chu, về sau dùng gọi  học thuyết của Khổng tử]

            Ðạo Nho nguyên thuỷ chỉ đạt tới trong các nhà quyền quí và những người học thức. Trong thời Xuân Thu, đại đa số dân chúng vẫn mê tín theo dị đoan huyền hoặc. Ðến cuối đời nhà Chu, thời Chiến quốc, nhà giáo Khổng Tử mới soạn bài giảng lập thành một hệ thống lý thuyết, đi du thuyết khắp nơi qua nhiều nước, sau mở trường dạy học. Uy tín của Nho học lần lần lan rộng. Về sau các môn  đệ của ông, đặc biệt là Mạnh Tử góp  phần hoàn chỉnh cả  hệ thống đạo Nho. Nhiều thế kỷ sau,  trải qua các thời đại Hán, Ðường, Tống, các nhà trí thức tiếp tục biên soạn, chú giải, phân tích trước tác của tiền bối. Người ta gọi Khổng Tử là Giáo Tổ.

             Ðức Khổng Tử (551-479 tr CN) tên thật là Khâu, tự Trọng Ni, sinh ở nước Lỗ trong một gia đình quí tộc (bây giờ là làng Khúc Phụ, tỉnh Sơn Ðông). Thân phụ là Thúc Lương Ngột, thân mẫu là Nhan Thị. Ông sinh  vào tháng 10 năm 551 trước công nguyên, vào đời Chu Linh Vương (thời Ðông Chu).

           Ðến khoảng 51 tuổi, ông  được vua Lỗ mời ra làm quan. Giữ nhiều chức vụ quan trọng, thực hiện nhiều cải cách lớn lao làm cho nước Lỗ cường thịnh. Khi không được trọng dụng, ông đi du thuyết nhiều nước khác. Ông qua lại các nước Vệ, Tề,  Thái, Diệp, Sở, Tần… nhưng không được vua nào trọng dụng. Chủ tâm của Khổng Tử ra đi  bôn ba đây đó để tìm một người thi hành học thuyết của mình chứ không phải cầu danh cầu lợi..Chán nản, Khổng Tử trở về nước Lỗ. Trải qua 14 năm chu du  thiên hạ, không tìm được một minh quân, tuổi đã già nên ngài chỉ chuyên dạy học trò và biên soạn lại sách cổ như các bộ Ngũ Kinh. Học trò của ngài lên tới 3000, trong đó có 72 người tinh thông học thuật và thành đạt nổi danh thời Xuân thu, Chiến quốc.  Khổng Tử mất năm 72 tuổi.

            Ðương thời, đạo Khổng không được áp dụng thi hành, nhưng về sau có hàng trăm triệu người theo. Ðền thờ Khổng phu tử  ở tỉnh Sơn Ðông  ngàn năm lửa hương không tắt. Ðạo Khổng gây ảnh hưởng rộng rãi và lâu bền qua nhiều thời đại.

Học thuyết của Khổng Tử gồm có 3 chủ đề lớn: Chính trị, luân lý và giáo dục.

            Về chính trị

Phương châm của Khổng Tử là đức trị chủ nghĩa, nghĩa là: bậc thánh nhân có Ðức được dân qui phục thì làm vua,  người quân tử có đức được dân ngưỡng vọng thì làm quan. Còn thường dân, khi người trên có Ðức thì người dưới noi theo “Ðức quân tử như gốc,  Ðức tiểu nhân như cỏ, gió thổi thì cỏ rạp theo”. Vua có ra vua thì bề tôi mới ra bề tôi. Nhưng nếu vua không ra vua , đại phu không ra đại phu thì phải đặt cho họ  cái tên khác, tức là phải chính danh lại (thuyết chính danh) Ngài khẳng định “quân quân,   thần thần, phụ phụ, tử tử”. Ngài giải thích: xã hội loạn là  vì ở nhân viên hành chính chứ không phải do chính thể (?) loạn vì đạo đức suy vi.

Ngài lại chủ trương “thiên ý-dân tâm”, có nghĩa : trời hằng thương dân, dân muốn điều gì trời cũng cho. Muốn biết ý trời, hãy nghe ở lòng dân. Tư tưởng này gần với tư tưởng dân chủ, có tác dụng chống lại chế độ chuyên chế độc tài.

Về cai trị, toàn dân đều được đủ ăn đủ mặc, không có kẻ giàu, người nghèo thái quá. Kế đó  đem lễ nhạc  mà giáo hoá  dân. Lễ đưa  dân vào khuôn phép, nhạc để cảm hoá lòng người. Chừng nào dân không nghe,  bất đắc dĩ mới dùng đến hình pháp.

Ðạo nho chỉ chú  trọng vào việc cư  xử và trị nước  mà xa lánh phần siêu hình học và logique học, không cho môn sinh nghĩ tới những lý thuyết mơ hồ tối tăm. Ðó là  chủ trương “bất  khả tri” (biết điều gì thì  giữ đúng điều ấy, không biết nhận là không biết,   như vậy  thật là biết). Ông không tìm hiểu, giải thích về quỉ thần và sự chết nhưng khuyên học trò cứ kính trọng cúng lễ quỉ thần. Khổng Tử  chỉ khuyên chúng ta tìm một  sự đồng nhất nào đó giữa các hiện tượng  và cố gắng  hoà hợp và  quân bình giữa  đạo làmngười và luật thiên nhiên – đó là đạo trời .

Tóm lại Khổng Tử nêu cao 3 tư tưởng chính trị: đại đồng, công bằng và dân là gốc.

Về đạo đức luân lý

Khổng Tử dạy con  người cốt  phải giữ  được NHÂN.  Nhân gồm  bốn mối: Hiếu với cha, mẹ, đễ với anh em; trung thứ với mọi người trong xã hội.

Chữ “nhân” là hàng đầu,  kế đó mới đến nghĩa,  lễ,  trí,  tín – gộp chung gọi là “ngũ thường”. Lại  có “tam cương” (quân – sư – phụ) ràng buộc ngũ thường. Ðối với phụ  nữ thì chữ  nhân triển khai  thành “tam tòng,   tứ đức”.

            Học thuyết của Khổng  Tử không cao siêu  như Lão giáo và  Phật giáo nhưng rất hợp với đạo người và tình đời. Ngày nay,  làn sóng văn minh Âu-Mỹ tràn sang, ảnh hưởng của đạo Nho có bị sút kém nhưng vẫn được dân gian sùng bái duy trì. Giới nghiên cứu chứng minh rằng  đạo Khổng đã chuyển hoá thành tính dân tộc Việt Nam theo qui luật “việt nam  hoá”. Nghĩa là, cha ông ta chỉ tiếp thu những lý thuyết phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam.

 Về giáo dục

             Dạy cho bất kỳ ai (hữu giáo vô loại), ai muốn học đều dạy (“chỉ cần một thẻ nhang, một bó nem là ta thu nhận”- Luận ngữ).

            Dạy không biết mệt, học không biết chán (giáo nhi bất quyện, học nhi bất yếm).  Phương pháp dạy học tốt phải là: Tuỳ đối tượng mà dạy.  Học phải hành (học và tập). Dạy là gợi mở  trí suy đoán

             Người quân tử là con người lý tưởng của thời đại, gồm những nét tiêu biểu sau (Luận ngữ):

- Người quân tử phải có tư cách, tư cách gồm văn vẻ và chất, hai yếu tố này phải quân bình, cốt lõi là thành thực.

- Muốn trở thành người quân tử, phải kính cẩn sửa mình hoài

- Người quân tử không theo đạo nào,  đảng nào nhưng quan tâm tới mọi đảng

- Trí của người quân tử phải sâu rộng nhưng không bỏ qua thực tế, ấy mới  là sáng suốt .- Người quân tử xử sự theo quy tắc hoàng kim “điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác”.

- Lấy ân đức báo ân đức. Lấy chính trực mà đáp lại sự oán nghịch. Chữ “thứ” là quy tắc lớn.

- Phải lễ độ với mọi người. Đừng khen ai quá lố.

- Không cầu cạnh người trên và không  lấn át kẻ dưới .

            Người quân tử phải theo 9 điều chú ý :

1. Khi trông thì phải để ý cho thấy rõ.

2. Khi nghe phải lắng nghe cho rõ .

3. Sắc mặt giữ cho ôn hoà .

4. Tướng mạo phải khiêm nhường, cung kính.

5. Nói thì phải trung thực .

6. Làm việc thì phải nghiêm túc, đàng hoàng .

7. Có điều gì nghi hoặc thì phải hỏi người khác .

8. Khi giận thì phải nghĩ đến hậu quả tai hại có thể xảy ra .

9. Thấy mối lợi thì phải nhớ đến điều nghĩa (sách Luận Ngữ ).

TỨ THƯ

1. Đại học

Cuốn đầu tiên trong bộ Tứ thư

Đại học nguyên là một chương trong Lễ Ký được viết thành sách trong khoảng thời gian từ thời Chiến Quốc đến thời Tần Hán, được xem là một trong những sách chủ yếu của Nho gia. Tác giả của đại học là ai hiện nay vẫn chưa xác định rõ, có người cho là của Tử Tư viết, nhưng Chu Hy đời Tống lại cho là của Tăng Tử viết. Bởi Chu Hy cho rằng Tăng Tử là học trò của Khổng Tử nên Tăng Tử ghi chép lại lời của Khổng Tử là hợp đạo lí. Và đa số người ta tin vào giả thiết này hơn. Đại học cùng với Trung Dung, Luận NgữMạnh Tử hợp thành bộ Tứ Thư được Khổng Tử khởi xướng và Mạnh Tử kế thừa.

Chu Hy cho rằng Đại họcđạo lớn, cương lĩnh, không có cái gì không bao hàm, dung nạp trong đó. Ông còn cho rằng, có thể dùng những thuyết giáo trong sách Đại học để bù đắp lại những lỗ hổng trong tư tưởng của giai cấp thống trị phong kiến. Hai chữ Đại học ở đây có nghĩa là học vấn uyên bác, tinh sâu. Đời Chu con cháu quý tộc sau khi học qua lớp tiểu học đến 15 tuổi sẽ vào đại học, còn gọi là Thái học, học lí luận quản lí chính sự qua các kinh thư (truyền thuyết cho rằng Đông Phương Sóc là người đặt tên cho bậc đại học này là thái học). Ở đời Hán xem các kinh ở thời Xuân Thu là Đại kinh, xem Tứ Thư trong đó có Đại học là tiểu kinh. Vào đời Đường xem Đại học, Mạnh Tử và Kinh Dịch như nhau, đều gọi là Kinh thư. Đời Tống, hai anh em Trình HạoTrình Di nói “sách Đại học là sách nhập môn cho người mới đi vào học Đạo”. Điều đó nói lên địa vị của Đại học trong các loại kinh thư.

Đại học11 chương.

Chương đầu tiên là Thánh kinh,  là ý kiến của Khổng Tử do Tăng Tử truyền lại bằng miệng. Còn 10 chương sau giải thích chương đầu tiên do học trò của Tăng Tử ghi chép lại bài giảng của Tăng Tử.

Chương 1. Thánh kinh  2. Khang cáo 3. Bàn minh 4. Bang kì  5 Thính tụng  6 Tri bản 7.Thành ý  8. Chính tâm tu nhân. 9. Tề gia  10.Trị quốc . 11 Hiệt củ (Trong đạo trị quốc, người trên cần phải làm gương tốt trước, để người dưới noi theo. Không nên xem tài sản là lợi ích mà nên xem nhân nghĩa là lợi ích vậy).

Xuyên suốt Đại học là tư tưởng “Trị quốc bình thiên hạ” được Nho Gia đề ra với cương lĩnh Tam Cương, Bát Mục.

Chương I  Thánh kinh

  1. Đại đạo cốt để biết phát huy đức sáng đức tốt đẹp của con người, đổi mới khiến lòng dân bỏ cũ theo mới, bỏ ác làm thiện, ai cũng đạt đến đạo đức hoàn thiện. Phải kiên định chí hướng. Tâm yên tĩnh. Lòng ổn định, suy nghĩ mới chu toàn. Từ đó xử lý giải quyết công việc được thỏa đáng.

     Vạn vật đều có đầu có đuôi, có gốc có ngọn.. Vạn sự đều có bắt đầu và có kết thúc. Biết làm cái gì trước cái gì sau là đúng nguyên tắc của Đạo rồi.

  2. Thời cổ đại phàm là thánh nhân muốn phát huy tính thiện của con người đều khắp thiên hạ thì trước hết phải lãnh đạo tốt xứ mình, nước mình.

Muốn lãnh đạo tốt xứ mình, nước mình trước hết chỉnh đốn tốt gia tộc gia đình mình.

Muốn chỉnh đốn gia tộc gia đình phải tu dưỡng phẩm chất bản thân mình.

Muốn tu dưỡng phẩm đức bản thân trước hết phải làm cho tâm tư mình ngay thẳng, đoan chính…

Muốn ngay thẳng thì ý nghĩ phải thành thật….

Muốn thành thật phải có nhận thức đúng đắn.

Mà con đường nhận thức đúng đắn chính là nghiên cứu đến nơi đến chốn nguyên lý của sự vật.

     3. Có lĩnh hội được nguyên lý sự vật thì nhận thức mới đúng đắn, ý nghĩ mới thành thật. Ý nghĩ thành thật thì tâm tư ngay thẳng. Tâm tư ngay thẳng mới tu dưỡng phẩm đức tốt. Phẩm đức bản thân tốt thì mới chỉnh đốn tốt gia đình gia tộc. Chỉnh đốn tốt gia đình gia tộc thì mới lãnh đạo xứ mình, nước mình, thiên hạ mới được thái bình.…

     4. Từ vua tới người bình dân ai ai cũng phải tu dưỡng đạo đức  làm gốc.

Một cái cây, gốc đã mục nát mà ngọn cành còn tươi là điều không thể có.

   (Đó là các nguyên tăc và lời bàn rộng của Khổng Tử do học trò Tăng Tử truyền lại).

 

Mười chương sau là bài giảng của Tăng Tử nhằm phân tích rõ Thánh kinh, do học trò của Tăng Tử ghi chép lại. Có thể phân thành hai chủ điểm (tam cương và bát mục.Cương: lớn, khái quát, mục: nhỏ, cụ thể. Cương mục nghĩa là cấu trúc, tiêu chí)..

Tam cương

  1. Minh minh đức (phát huy cái đức sáng/ làm sáng/ dùng đức trị)
  2. Tân dân (đổi mới dân chúng theo hướng đạo đức Nho gia)
  3. Chỉ ư chí thiện  (chỉ làm việc thiện).

Bát mục   (8 bước thực hiện 3 cương lĩnh trên)

  1. Cách vật  (nghiên cứu thấu đáo sự vật)
  2. Trí tri (có kiến thức rõ rệt, hiểu biết sâu sắc, đến cùng)
  3. Thành ý (lòng chân thành), thành thật ngay với mình, không giả dối, tạm bợ
  4. Chính tâm (giữ lòng dạ ngay thẳng khi tu dưỡng) gần với “thiền”.
  5. Tu thân (học làm quân tử: sửa mình làm người tốt.)
  6. Tề gia  (xây dựng việc gia đình tốt, hài hòa cân đối)
  7. Trị quốc (làm quan chức hoặc công dân tốt)
  8. Bình thiên hạ (khiến cho thiên hạ thái bình / làm thế nào chinh phục thiên hạ / hội nhập quôc tế).

2. Trung dung

Trung Dung (中庸 Zhōng Yóng) là một trong 4 cuốn của bộ Tứ Thư. Ba quyển còn lại là Đại Học (大學 Dà Xué), Luận Ngữ (論語 Lùn Yǔ), Mạnh Tử (孟子 Mèng Zǐ).

Sách Trung Dung do Tử Tư làm ra cũng trên cơ sở một thiên trong Kinh Lễ (Tử Tư là cháu nội của Khổng Tử, học trò của Tăng Sâm/ Tăng Tử), tiếp thụ được cái học tâm truyền của thầ̀y.

Mục đích của sách Trung Dung là: Đạo có thể giúp chúng ta đạt được một trình độ cao của đạo đức.

Trong sách Trung Dung, Tử Tư dẫn những lời của Khổng Tử nói về đạo “trung dung”, tức là nói về cách giữ cho ý nghĩ và việc làm luôn luôn ở mức trung hòa, không thái quá, không bất cập và phải cố gắng sống ở đời theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cho thành người quân tử, để cuối cùng thành thánh nhân.

Sách Trung Dung chia làm hai phần:

Phần 1: từ chương 1 đến chương 20, là phần chính, gồm những lời của Khổng Tử dạy học trò về đạo lý trung dung, phải làm sao cho tâm được: tồn, dưỡng, tĩnh, sát; gồm đủ: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín cho hòa với muôn vật, hợp với lòng Trời để thành người tài giỏi.

Chương 1.Thiên mệnh 2. Thời trung 3. Tiển năng 4. Hành minh 5. Bất hành  6. Đại trí       7 Dư trí 8. Phục ưng .9 Khả quân 10. Vấn cường 11 Tố ẩn 12. Phí ẩn 13 Bất viễn 14 Tố vị           15. Hành viễn  16.Quỷ thần  17 Đại hiếu  18.Vô ưu  19 Đạt hiếu  20 Vấn chính

Phần 2: từ chương 21 đến chương 33, là phần phụ, gồm những ý kiến của Tử Tư giảng giải thêm cho rõ nghĩa và giá trị của hai chữ “trung dung”.

21.Thành minh

22.Tận tính

23.Trí khúc

24.Tiền tri

25.Tự thành

26.Vô tức

      27.Đại tai28.Tự dụng

29.Tam trọng

30.Thuật tổ

31.Chí thành

32.Kinh luân

      33.Thượng cách

3. Luận ngữ

Luận ngữ (Lời nói để bàn luận) là sách do học trò và hậu thế ghi chép lại những lời nói, hành vi của Khổng tử, học trò của ông và người đương thời.

Luận ngữ gồm 20 thiên (tương đương với 20 chương). Cách đặt tên thiên rất lạ: lấy ngay hai chữ xuất hiện đầu thiên làm tên thiên. Bởi thật khó đặt một cái tên bao quát nội dung phong phú của thiên. Mỗi thiên có nhiều bài (mỗi bài chỉ là một câu nói hoặc một đối thoại, một câu chuyện rất ngắn).

Toàn bộ Luận ngữ có 511 bài, tức là 511 câu nói hoặc đối thoại, mẩu chuyện cực ngắn. Nội dung bao trùm hầu hết những quan niệm về nhân, đức, trung, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng, liêm… cho đến âm nhạc, giải trí, ăn uống và những tình huống đối nhân xử thế phong phú trong cuộc sống. Qua những câu chuyện ngắn, hình ảnh người quân tử và tiểu nhân hiện lên tương phản rõ nét, trong đó tấm gương vua hiền, quan mẫu mực và kẻ sĩ chân chính được đặt ở vị trí trung tâm của cuốn sách.

Đọc qua Luận ngữ, ta thấy nội dung các thiên dường như rời rạc, không có liên hệ với nhau. Thực ra, người quân tử chính là sợi chỉ đỏ kết nối, xuyên suốt tập sách. Chữ nhân là phẩm chất cơ bản của quân tử (hai chữ nhân:人, 仁) là khía niệm mở ra từ hẹp tới rộng, đến vô cùng.

Nội dung chính của Luận ngữ là Quân tử. Chữ Hiếu là điều kiện tiên quyết của quân tử.

Khổng tử coi chữ Hiếu là tiên quyết thì các vua chúa đời sau như Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đẩy nó xuống hàng thứ 2 và đặt chữ Trung (trung quân: trung thành với nhà vua) lên hàng đầu.

Luận Ngữ trình bày đạo quân tử qua lời nói, câu chuyện sinh động, không giảng giải lý thuyết dài dòng nhưng rất ấn tượng, dễ hiểu. Nhân vật chính là thầy Khổng tử với bao vui, buồn, lo âu, lạc quan, thất vọng. Thầy Khổng cũng mắc khuyết điểm mà không giấu diếm.

Đọc sách này, người ta hiểu được phẩm chất tư cách của thầy trò Khổng tử và những người khác. Về phương pháp giáo dục, Khổng tử thấu hiểu tâm lý của từng học trò, khéo đem lời giảng dạy thích hợp với từng trình độ, từng hoàn cảnh của mỗi người. Có khi cùng một câu hỏi mà ông trả lời cho mỗi người một cách khác nhau.

Luận ngữ có 5 mục tiêu rõ rệt:

Học làm người

Học làm công dân

Học làm quan

Học làm vua

và học làm thầy giáo.

Luận ngữ là một trong những giá trị quí báu của các nền văn hóa khu vực đồng văn (Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản). Ngày nay Luận ngữ vẫn được tham khảo và ứng dụng trong đời sống.

Danh mục 20 thiên của Luận ngữ:

 1. Học nhi (việc học) 16 bài                                              

 2. Vi chính (làm đúng) 24 bài

 3. Bát dật (về Lễ, Nghĩa) 26 bài

 4. Lý nhân (về chữ Nhân) 26 bài

 5. Công Dã Tràng (con rể Khổng tử)  28 bài

 6. Ung dã  (Nhiễm Ung trò giỏi của Khổng tử) 30 bài

 7. Thuật nhi (thuật lại) 38 bài

 8. Thái Bá (chú ruột vua Chu Văn vương)  21 bài

 9. Tử hãn  (Khổng tử ít khi…) 31 bài

10. Hương đảng (quê nhà) 27 bài

11. Tiên tiến (trước đây) 26 bài

12. Nhan Uyên (học trò giỏi nhất của Khổng tử) 24 bài

13. Tử Lộ (học trò của Khổng tử) 30 bài

14. Hiến vấn  (Nguyên Hiến hỏi) 44 bài

15. Vệ Linh công (vua nước Vệ)  42 bài

16. Quí thị (dòng họ Quý, đại thần nước Lỗ) 14 bài

17. Dương Hóa (quan nước Lỗ) 26 bài

18. Vi Tử (quan chức nhà Ân xưa) 11 bài

19. Tử Trương (học trò của Khổng tử)  25 bài

20. Nghiêu viết (vua Nghiêu thời tiền sử nói)  03 bài.

4. Mạnh tử

Mạnh Tử (孟子, Mèng Zǐ ; 372–289 trước <a title="Công

nguyên” href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_nguy%C3%AAn”&gt;công nguyên; có một số tài liệu khác ghi là: 385–303/302 TCN) là nhà triết học <a title="Trung

Quốc” href=”http://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c”&gt;Trung Quốc, người tiếp nối và hoàn chỉnh học thuyết Nho học của Khổng Tử.

Mạnh Tử, tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư, sinh vào đời vua Liệt Vương, nhà Chu, quê gốc ở đất Trâu, thuộc nước Lỗ, nay là thành phố Trâu Thành, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Ông mồ côi cha, chịu sự nuôi dạy nghiêm túc của mẹ là Chương thị (người đàn bà họ Chương). Chương thị sau này còn được gọi với tên Mạnh mẫu (mẹ của Mạnh Tử). Mạnh mẫu đã ba lần chuyển nhà để Mạnh Tử được ở trong môi trường sống tốt nhất cho việc học tập, tu dưỡng. Thời niên thiếu, Mạnh Tử làm môn sinh của Tử Tư, tức là Khổng Cấp, cháu nội của Khổng Tử. Vì vậy, ông chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các tư tưởng Khổng giáo. Mạnh Tử là đại biểu xuất sắc của Nho giáo thời Chiến quốc, thời kỳ nở rộ các nhà tư tưởng lớn với các trường phái như Pháp gia, Du thuyết, Nho gia, Mặc gia…Đây là thời kỳ bách gia tranh minh (trăm nhà đua tiếng), cũng là thời kỳ mà các tập đoàn phong kiến tranh giành, xâu xé lẫn nhau gây ra các cuộc chiến tranh liên miên, dân tình vô cùng khổ sở. Tư tưởng của Mạnh tử phát triển thêm tư tưởng của Khổng Tử nhưng ông không tuyệt đối hóa vai trò của vua chúa như Khổng Tử. Ông chủ trương dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh, ông cũng là người đưa ra thuyết tính thiện của con người rằng con người sinh ra đã là thiện rồi (nhân chi sơ bản tính thiện), tư tưởng này đối lập với thuyết tính ác của Tuân Tử rằng nhân chi sơ bản tính ác.

Ông cho rằng “kẻ lao tâm trị người còn người lao lực thì bị người trị”. Học thuyết của ông gói gọi trong các chữ “Nghĩa”, “Trí”, “Lễ”, “Tín”. Ông đem học thuyết của mình đi truyền bá đến vua chúa các nước chư hầu như Tề Tuyên Vương (nước Tề), Đằng Văn Công (nước Đằng), Lương Huệ Vương (nước Nguỵ)…nhưng không được áp dụng. Về cuối đời ông dạy học và viết sách, sách Mạnh Tử của ông là một trong những cuốn sách quan trọng của Nho giáo. Ông được xem là ông tổ thứ hai của nho giáo và được hậu thế tôn làm “Á thánh Mạnh Tử” (chỉ đứng sau Khổng Tử).

Sách do Mạnh Tử và các môn đệ của ông như: Nhạc Chính Khắc, Công Tôn Sửu, Vạn Chương v.v. ghi chép lại những điều đối đáp của Mạnh Tử với các vua chư hầu, giữa Mạnh Tử và các học trò cùng với những lời phê bình của Mạnh Tử về các học thuyết khác như: học thuyết của Mặc Tử, Dương Chu.

Sách Mạnh Tử gồm 2 chủ đề Tâm học và Chính trị học.

  (hoặc 3 chủ đề chính: Tính thiện /Vương đạo nhân chính / Nhân nghĩa)

1. Tâm học (khoa học của tâm hồn)

Mạnh Tử cho rằng mỗi người đều có tính thiện do Trời phú cho. Sự giáo dục phải lấy tính thiện đó làm cơ bản, giữ cho nó không mờ tối, trau dồi nó để phát triển thành người lương thiện. Tâm là cái thần minh của Trời ban cho người. Như vậy, tâm của ta với tâm của Trời đều cùng một thể. Học là để giữ cái Tâm, nuôi cái Tính, biết rõ lẽ Trời mà theo chính mệnh.

Nhânnghĩa vốn có sẵn trong lương tâm của người. Chỉ vì ta đắm đuối vào vòng vật dục nên lương tâm bị mờ tối, thành ra bỏ mất nhân nghĩa. Mạnh Tử đề cập đến khí Hạo nhiên, cho rằng nó là cái tinh thần của người đã hợp nhất với Trời.

Phần Tâm học của Mạnh Tử rất sâu xa, khiến người học dù ở địa vị, cảnh ngộ nào cũng giữ được phẩm giá tôn quí.

2. Chính trị học

 Mạnh Tử chủ trương: Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh (Dân là quí, xã tắc thứ hai, nhẹ nhất là vua). Đây là một tư tưởng rất mới và táo bạo trong thời quân chủ chuyên chế đang thịnh hành.

Mạnh Tử chấp nhận chế độ quân chủ, nhưng vua không có quyền lấy dân làm của riêng cho mình. Phải duy dânvì dân. Muốn vậy, phải có luật pháp công bằng, dẫu vua quan cũng không được vượt ra ngoài pháp luật đó. Người trị dân, trị nước phải chăm lo việc dân việc nước, làm cho đời sống của dân được sung túc, phải lo giáo dục dân chúng hiểu rõ luật pháp mà tuân theo, lấy nhân nghĩa làm cơ bản để thi hành.

Chủ trương về chính trị của Mạnh Tử thật vô cùng mới mẻ và táo bạo, nhưng rất hợp lý, làm cho những người chủ trương quân chủ thời đó không thể nào bắt bẻ được. Có thể đây là lý thuyết khởi đầu để hình thành chế độ quân chủ lập hiến sau này.

Tóm lại, bộ sách Mạnh Tử rất có giá trị với Nho giáo. Phần Tâm học trong sách là đỉnh cao nhất trong học thuyết Nho giáo.

Mạnh tử thư có 14 thiên:

Thiên 1. Lương Huệ vương chương cú thượng

Thiên 2. Lương Huệ vương chương cú hạ

Thiên 3. Công Tôn Sửu thượng

Thiên 4. Công Tôn Sửu hạ

Thiên 5. Đằng Văn Công thượng

Thiên 6. Đằng Văn Công hạ

Thiên 7. Ly Lâu thượng

Thiên 8. Ly Lâu hạ

Thiên 9. Vạn Chương thượng

Thiên 10. Vạn Lâu hạ

Thiên 11. Cáo Tử thượng

Thiên 12. Cáo Tử hạ

Thiên 13. Tận tâm thượng

Thiên 14. Tận tâm hạ

(chú thích: thượng: phần I, hạ: phần II)

Bộ sách Tứ Thư của Nho giáo ra đời cách nay khoảng trên 2.000 năm, đã trải qua bao sóng gió theo những giai đoạn thăng trầm của lịch sử Trung Hoa. Khi thì bị Tần Thủy Hoàng đốt, lúc thì bị tiêu tan trong các cuộc nội chiến triền miên của Trung Hoa. Do vậy khó tránh được nạn “tam sao thất bản”. Đến đời nhà Tống, bộ sách này mới được các danh Nho tu chỉnh và truyền bá đến ngày nay..

Đầu tiên là hai anh em Trình Hạo (1032-1085) và Trình Di (1033-1107) hiệu là Y Xuyên, nghiên cứu, soạn tập và chú giải Tứ ThưNgũ Kinh. Sau đó Chu Hy (1130-1200) hiệu là Hối Am, bổ cứu và sắp đặt thành chương cú cho có thứ tự phân minh.

NGŨ KINH

Ngũ kinh (五經 Wǔjīng) là 5 quyển kinh điển dùng làm nền tảng trong Nho giáo. Theo truyền thuyết, 5 quyển này đều được Khổng Tử soạn thảo hay hiệu đính. Năm quyển gồm có:

  1. Kinh Thi (詩經 Shī Jīng): sưu tập các bài thơ dân gian ở 15 nước ven sông Hoàng Hà có từ trước Khổng Tử, nói nhiều về tình yêu nam nữ và các mối quan hệ xã hội khác. Khổng Tử san định thành 300 thiên (bài) nhằm giáo dục mọi người tình cảm trong sáng lành mạnh và cách thức diễn đạt rõ ràng và trong sáng. Một lần, Khổng Tử hỏi con trai tê Lý “Học Kinh Thi chưa?”, người con trả lời “chưa”. Khổng Tử nói “Không học Kinh Thi thì không biết nói năng ra sao” (sách Luận ngữ).
  2. Kinh Thư (書經 Shū Jīng): ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng Tử. Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ.
  3. Kinh Lễ (禮經 Lǐ Jīng)

Ghi chép các lễ nghi thời trước. Khổng Tử hiệu đính lại mong dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự. Khổng Tử nói: “Không học Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời” (sách Luận Ngữ).

  1. Kinh Dịch (易經 Yì Jīng)

Ghi chép các tư tưởng triết học của người Trung Hoa cổ đại dựa trên các khái niệm âm dương, bát quái,… Đời Chu, Chu Văn Vương đặt tên và giải thích các quẻ của bát quái gọi là Thoán từ. Chu Công Đán giải thích nghĩa của từng hào trong mỗi quẻ, gọi là Hào từ. Khổng Tử giảng giải rộng thêm Thoán từ và Hào từ cho dễ hiểu hơn và gọi là Thoán truyệnHào truyện. Kinh Dịch thời Chu gọi là Chu Dịch.

  1. Kinh Xuân Thu (春秋 Chūn Qiū)

Ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của Khổng Tử. Khổng Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi mục đích trị nước nên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời thoại để giáo dục các bậc vua chúa. Ông nói: “Thiên hạ biết đến ta bởi kinh Xuân Thu, thiên hạ trách ta cũng sẽ ở kinh Xuân Thu này”. Đây là cuốn kinh Khổng Tử tâm đắc nhất, “xuân thu” có nghĩa là mùa xuânmùa thu, viết về một giai đoạn lịch sử mang tên “Xuân thu” (Xuân Thu: 778 – 455, chế độ phong kiến sơ kỳ. Dồn thành 100 chư hầu, 14 nước lớn, 5 nước xưng bá vương (ngũ bá: Trịnh, Tấn, Tần, Tề, Triệu) ngày càng lấn át hoàng đế nhà Chu. Kế tiếp là thời Chiến quốc: 455-221 tr.CN, bảy nước bá vương nổi lên gọi là thất bá tranh hùng: gồm Tề Sở Hàn Triệu Ngụy Tần Yên), cuối cùng nhà Tần bình định thiên hạ, lên ngôi hoàng đế (Tần Thủy Hoàng đế).

Ngoài ra còn có Kinh Nhạc do Khổng Tử hiệu đính nhưng về sau bị thất lạc, chỉ còn lại một ít ghép làm một thiên vào Kinh Lễ gọi là Nhạc ký.

(Như vậy Lục kinh chỉ còn có Ngũ kinh tồn tại ). 

c
Ðọc thêm                               VĂN HỌC HÁN

(từ thế kỉ 3 tr CN đến tk 3 sau CN )

Nhà Tần

Tần Thủy Hoàng quyết định dùng một thứ chữ viết trong toàn quốc. Nhà Tần khủng bố trí thức bằng chính sách “đốt sách chôn nho sĩ”. Ðế quốc Tần bành trướng mạnh ra ngoài biên giới. Nhà Tần sớm bị lật đổ sau hai đời. Văn học không phát triển được.

Nhà Hán

Vua Hán tiến hành cải cách, bắt đầu xây dựng nền giáo dục Nho học, hình thành  Nho giáo. Nhờ vậy nhà Hán mở đầu xây dựng thành công chế độ phong kiến .

Sử truyện ra đời với mục đích chính là viết sử nhưng lại đạt hiệu quả văn chương hấp dẫn. Tiêu biểu là Tư Mã Thiên với  bộ “Sử kí” viết về toàn bộ  ba nghìn năm sử Trung Hoa, qua Tần đến Hán Vũ đế đương thời. Ngoài ra còn  có các nhà viết sử truyện như Lưu Hướng, Ban Cố. Sử kí Tư Mã Thiên là mầm mống của tiểu thuyết giảng sử thời Minh sau này .

1.  SỬ KÝ VÀ TƯ MÃ THIÊN  司马迁 ( Sī Mǎ Qiān)

          1.1  Nhà sử truyện lỗi lạc

Tư Mã Thiên  (145 – 90 tr.CN) là nhà viết sử cũng là một nhà văn . Bộ Sử Ký của ông là một bộ thông sử lớn và một tác phẩm văn xuôi nổi tiếng. Cuộc đời và  sáng tác của ông là tấm gương lớn cho hậu thế .

Tự là Tử Trường quê tỉnh Thiểm Tây, tổ tiên từng làm quan viết sử nhà Chu, cha là Tư Mã Ðàm giữ chức thái sử lệnh đời Hán Vũ đế. Ông Ðàm học rộng, có ý tưởng táo bạo, đã viết sách bàn về hệ tư tưởng của 6 trường phái (lục gia) là Âm dương, Nho, Mặc, Danh, Pháp, Ðạo đức (Luận lục gia yếu chỉ). Giữa lúc vua Hán đề cao Nho gia và gạt bỏ hết bách gia thì ông đề cao Ðạo gia. Bình sinh ông muốn làm một nhà viết sử  chân chính ghi chép đúng sự thật và đánh giá theo ý mình. Nhưng ông chưa làm được, đây là lời ông dặn con là Tư Mã Thiên trước khi qua đời “Tổ tiên ta đời đời làm sử quan. Sau khi ta chết ,thế nào con cũng nối nghiệp ta làm thái sử. Khi làm thái sử, chớ quên những điều ta muốn làm, muốn viết . . . Hiện nay bốn bể một nhà, vua sáng tôi hiền, ta làm một thái sử mà không viết được rất lấy làm xấu hổ. Con hãy nhớ lấy…”. Ngay từ khi Tư Mã Thiên còn nhỏ, cha đã có ý bồi dưỡng cho con học cổ văn, đọc sách lịch sử như Tả truyện, Quốc ngữ và khi con 20 tuổi ông cho lên Trường An thủ đô nơi ông làm việc học với các bậc đại sư như Ðổng Trọng Thư, Khổng An Quốc. Tư Mã Thiên còn đọc cả những tài liệu sách vở của vua giao cha ông bảo quản. Nhưng không bằng lòng với tài liệu có sẵn, ông tìm đến tận nơi xảy ra sự kiện khảo sát địa hình sông núi, tìm hiểu phong tục tập quán nhân tình các địa phương, thăm các di tích lịch sử hỏi chuyện ông bà già như là nhân chứng sống của lịch sử. Ông còn theo cha đi khắp nước. Nào là vượt Trường Giang đến sông Mịch La ở Hồ Nam viếng nơi Khuất Nguyên đã trẫm mình, ngược dòng sông Tương đến Hà Nam có núi Cửu Nghi điều tra chuyện vua Thuấn  tuần du và mất ở đó, lại theo sông đến núi Cối Kê (Triết Giang) tìm hiểu việc trị thủy của vua Vũ …thăm quê hương Hàn Tín, quê Khổng Tử ở Sơn Ðông, đến đất Bái (Giang Tô) nơi Hán Sở tranh hùng cũng là quê hương Hán Cao tổ Lưu Bang. Trở về Trường An ông được phong chức quan lang trung. Ba mươi tuổi lại được cử đi quan sát vùng tây nam Trung Quốc đến Tứ Xuyên, Vân Nam. Vậy là chỉ còn trừ Quảng Ðông, Quảng Tây, nơi đâu cũng có dấu vết chân nhà viết sử Tư Mã Thiên. Ông tiếp xúc nhiều với mọi tầng lớp nhân dân và trưởng thành sau mỗi chuyến đi. Năm 110 tr.CN, Tư Mã Ðàm mất, ông được thế chức cha làm thái sử quan. Nhớ lời cha dặn “kế nghiệp Khổng Tử viết cuốn Xuân Thu thứ hai”, ông xem lại tài liệu chứa trong “nhà đá rương vàng”, chuẩn bị viết Sử ký. Xảy ra “họa Lí Lăng”, Lí Lăng là viên tướng giỏi từng chiến thắng Hung Nô, trong một trận đánh vì lương cạn, không có tiếp viện nên thua trận bị giặc bắt phải đầu hàng. Hán Vũ đế đưa việc này ra xử. Tư Mã Thiên dũng cảm bênh vực: “Lí Lăng là một bậc kì sĩ đáng kính phục, xin nhà vua minh xét”. Nhà vua nổi giận cho rằng Tư Mã Thiên bênh vực Lí Lăng là có ý chỉ trích Lí Quảng Lợi anh trai Lí phu nhân vợ yêu của vua, nên ghép ông vào tội khi quân.

Ông bị hạ ngục, chịu cung hình (một hình phạt tàn ác- bị cắt bộ phận sinh dục). Ðó là năm 99 tr.CN khi Tư Mã Thiên 47 tuổi. Ông bị khủng hoảng tinh thần muốn tìm cái chết. Trong bức thư gửi bạn Nhậm An ông viết “một ngày ruột vò chín khúc, ở trong nhà thẫn thờ như mất mát cái gì, đi ra ngoài không biết mình đi đâu, cứ mỗi khi nhớ đến điều nhục nhã đó không khỏi toát mồ hôi ướt đầm lưng áo”. Nhớ đến gương tiền nhân Chu Văn Vương bị giam cầm vẫn viết Chu Dịch, Khuất Nguyên thấy cần phải sống để hoàn thành bộ Sử Ký như lời cha dặn lúc lâm chung. Ông dùng hết sức lực, tâm huyết vào việc trước tác. Hết hạn tù, ông được giữ chức trung thư lệnh, một chức vụ hoạn quan, Tư Mã Thiên cố nhịn nhục cho qua ngày, luồn cúi tùy thời giả bộ ngu dại để được yên lòng viết cho xong bộ sách. Khoảng 5 năm sau, khi ông 53 tuổi thì bộ sách hoàn thành. Về sau đời ông ra sao, không có tài liệu ghi lại chính xác.

           1.2   Sử ký 史记 một công trình lịch sử

Việc viết sử ở Trung Quốc có từ rất sớm, thời nhà Chu đã có sử quan. Tác phẩm Thượng thư, Xuân thu,Tả truyện, Quốc ngữ, Chiến quốc sách chưa trình bày lịch sử Trung Quốc một cách hoàn chỉnh, hoặc chỉ chép một số sự việc cá biệt hoặc một số khu vực và giai đoạn.

Bộ Sử ký của Tư Mã Thiên đã tổng kết ba ngàn năm lịch sử Trung Quốc từ Hoàng Ðế truyền thuyết cho đến thời hiện tại Hán Vũ đế. Bộ sách miêu tả đời sống xã hội rộng rãi kinh tế chính trị  văn hóa, các tầng lớp giai cấp từ công hầu khanh tướng học giả thầy bói, thích khách, hiệp sĩ giang hồ, con hát. . .

            Sách gồm 130 thiên (như chương, hồi) chia làm 5 loại :

+ Bản kỷ : 12 thiên tả các đời vua từ Ngũ đế, Hạ,Thương, Chu, Tần, Sở đến Hán

+ Biểu (niên biểu) : 10 thiên chép mối quan hệ giữa các bá vương và chư hầu qua các sự kiện lớn.

+ Thư: 8 thiên chép 8 mặt kinh tế, văn hóa chủ yếu.

+ Thế gia: 30 thiên chép về những nhân vật quí tộc lớn có ảnh hưởng mạnh mẽ quyết định sự phát triển và diệt  vong của các chư hầu.

+ Liệt truyện : 70 thiên chép chuyện các nhân vật đặc biệt, nổi tiếng. Về sau thất lạc mất 10 thiên.

Quan điểm lịch sử của Tư Mã Thiên  rất tiến bộ. Ước vọng của ông là làm lại công việc của Khổng Tử, tức là viết cuốn Xuân Thu thứ hai hoàn chỉnh hơn, tốt hơn . Mặc dù chịu ảnh hưởng của Nho gia nhưng không chấp nhận sự hạn chế của họ. Những người khác giải thích lịch sử bằng thiên mệnh thần quyền thì ông nhấn mạnh vai trò tác dụng của con người, không chỉ là vương hầu khanh tướng mà là quần chúng nhân dân đã sáng tạo nên văn minh nhân loại. Ông đề cao những anh hùng lãnh tụ khởi nghĩa nông dân ngang hàng với vua Thang, Vũ, Khổng Tử. Hạng Võ ngang với Lưu Bang vì cùng có công đánh đổ nhà Tần tàn bạo (Hạng Võ còn đựơc xếp vào phần Bản Kỉ cùng Tần Thủy Hoàng, Hán Cao tổ). Rõ ràng ông không tuân theo quan điểm chính thống. Cách đây hơn hai ngàn năm Tư Mã Thiên đã có quan điểm lịch sử như thế là rất tiến bộ. Tinh thần trung thực  lịch sử của ông thật đáng nêu gương kim cổ .

            Cuối mỗi thiên ông còn có lời bình của mình. Bài TỰA của ông là chương tổng kết bộ sách. Ông tự xác định nhiệm vụ :

            + Một là : nắm vững qui luật phát triển của xã hội

            + Hai là : quan tâm đến nỗi thống khổ của nhân dân

            + Ba là : vạch trần tội ác của giai cấp phong kiến

            + Bốn là :ghi chép những nhân vật điển hình nổi bật

            + Năm là : nêu lên những giá trị văn hóa của dân tộc

            + Sáu là :nêu gương thành bại được mất cho mọi người soi chung .

Bộ sách khó tránh khỏi những sai sót hạn chế. Nhưng Tư Mã Thiên đã chứng tỏ lòng dũng cảm  như nhân vật quan thái sử trong bộ sử “Vua nước Tề bị Thôi Trữ giết chết, quan thái sử nước Tề chép vào sử Trữ giết vua mình là Trang Công. Trữ nổi giận giết quan thái sử. Em trai quan thái sử lên thay vẫn viết như anh, lại bị Trữ giết. Người em thứ ba  lại xin làm việc của hai anh, quyết tâm không thay đổi chữ nào” .

          Sử ký – một bộ truyện ký nhân vật lịch sử

            Một bộ truyện giàu  tính nhân dân, tính hiện thực, nghệ thuật xây dựng nhân vật  điển hình sinh động sâu sắc, hấp dẫn cho tới nghìn năm sau .

            Miêu tả nhân vật  thuộc giai cấp thống trị: điển hình là Tần Thủy Hoàng hoàng đế độc tài chuyên chế vô cùng tàn bạo. Tịch thu hết vũ khí trong thiên hạ đem về đúc chuông  khánh, tượng nặng cả ngàn cân trang trí cho cung điện. Bao nhiêu sách Thi Thư gom về các quận đốt. Hơn 600 học giả bị chôn sống ở Hàm Dương. Vơ vét tài sản của dân, bắt hàng vạn người xây cung A Phòng, đào núi Lí Sơn làm nơi tắm mát và lấy đá xây lăng tẩm , bắt đưa hàng chục vạn người dân sang sống ở Việt Nam để đồng hóa dân tộc. Xây Vạn Lý trường thành hao tổn biết bao mạng người và của cải tiền bạc … Y còn là tên vua hưởng lạc khó ai bì kịp, trong cung chứa hơn mười ngàn cung nữ. Sợ chết, y sai tìm chế thuốc trường sinh bất tử hại người hại của . . .Mọi việc điều hành y tự mình quyết định, dùng giết người để thị uy. Là một tay giỏi võ nghệ, can trường khác người. Trong một  chuyến đi ra khỏi cung, y chết khi đến tỉnh Hà Bắc, sống được năm chục tuổi .

Khi viết về Lã Hậu tàn bạo xảo quyệt – vợ của vua Hán Cao tổ (ông nội đương kim hoàng đế thời Tư Mã Thiên) mà ông cũng chẳng dè dặt khi hạ bút. Nhà học giả Vương Sung (27-98) đời Ðông Hán kể lại :”Hán Vũ đế nghe nói Tư Mã Thiên chép sử , sai lấy hai thiên phần ghi về Hiếu Cảnh và Hiếu Võ (cha và anh của vua) xem xong nổi giận xé vứt đi, do thế mà tài liệu đó thất truyền” .

            Viết về bọn quan tướng, Tư Mã Thiên lại càng lên án thẳng thắn, như viết về tướng Bạch Khởi nhà Tần giết cả 90 vạn lính ba nước Triệu Hàn Ngụy  đến bước đường cùng phải cúi đầu nhận tội. Những tên văn quan cai trị khác cũng tàn bạo tham lam, coi pháp luật như trò chơi, chỉ biết theo ý vua hay ý riêng mình .

            Nhìn chung giai cấp thống trị được tả  như những kẻ xáo trá tàn ác xu nịnh đàn áp bóc lột dân là chuyện thường tình .

Miêu tả  thật  hay về  các nhân vật  chính diện, như  anh hùng Trần Thiệp, Ngô Quảng chống lại nhà Tần hung ác. Ông so sánh Trần – Ngô với việc vua Thành Thang  phạt Kiệt, Vũ Vương phạt Trụ thời xưa. Sau Tư Mã Thiên, một nhà sử học Hán là Ban Cố tác giả Hán Thư tìm cách  hạ thấp hai vị lãnh tụ đó  từ phần “thế gia” chuyển sang “liệt truyệt” và gọi hai ông là giặc cỏ, phản tặc ?). Quan thái sử nhà Tấn là Ðổng Hồ kiên quyết ghi Triệu Thuẫn giết vua (chủ trì chịu trách nhiệm !) mặc dù cháu ông là Triệu Xuyên ra tay, nhân vật Trình Anh và Công Tôn Trừ Cữu trung thành hy sinh thân mình và con mình để giữ dòng máu họ Triệu .

Nhân vật du hiệp, thích khách và những quan nhỏ chốn triều chính mà có nghĩa khí, cương trực đều được ca ngợi trong Sử ký. Họ là những người trọng nghĩa khinh tài , trọng công bằng ghét áp bức , thậm chí chế giễu cả thói xấu vua chúa . Người đồ tể giết lợn múa dao mà cũng dám giúp công tử Vô Kỵ nước Ngụy chống Tần (Vô Kỵ được phong Tín Lăng quân) . . . và rất nhiều vị đại hiệp khác được tả trong Liệt truyện  (Du hiệp/Thích khách / Hoạt kê liệt truyện ). . .

Nhân vật Hạng Võ trong phần Hạng Võ bản kỉ  là phần đặc biệt hấp dẫn. Bên cạnh đó nhiều nhân vật chân chính được miêu tả kĩ như : Bá Di, Thúc Tề, Quản Trọng, Án Anh, Khổng Tử, Khuất Nguyên, Liêm Pha, Lạn Tương Như, Lỗ Trọng Liên, Ðiền Ðan, Tín Lăng Quân, Hầu Doanh, Lí Quảng, Nhiếp Chính, Quách Giải, Trương Lương, Phàn Khoái , Phạm Tăng . . .

 Nghệ thuật dựng chuyện của Tư Mã Thiên thật đặc sắc: chọn nhân vật điển hình , chọn chi tiết ít hay  nhiều tùy theo sự cần thiết khắc họa tính cách  nhân vật. Ðặc biệt khi tả Lưu Bang Hán cao tổ (ông nội của vua đương triều Hán vũ đế) Tư Mã Thiên cũng tả rõ thời trẻ ngài thích rượu, hiếu sắc, có hành động lưu manh, hạ nhục nhà nho. Vua Cao tổ đang ngồi ôm Thích phu nhân, Chu Xương vào thấy vội lui ra. Vua đuổi theo ngồi lên cổ Xương, lột mũ của ông quan rồi đái vào…Xong lại hỏi “Ta là vị vua như thế nào ?”, Xương trả lời: “Bệ hạ là Kiệt Trụ”. Vua cười ha hả. Dám viết như thế chẳng có ai ngoài Tư Mã Thiên.

           Nghệ thuật dẫn dắt câu chuyện là biết tạo hồi hộp, thắt mở nút đúng lúc.

          Ảnh hưởng lớn lao của Sử ký ðến các ðời sau

Các nhà văn từ Ðường Tống đến  Minh Thanh đều lấy Sử Ký  làm gương mẫu, học cái lời văn gọn gàng như tiếng nói hàng ngày, không cần cổ kính uyên bác như thời Chiến quốc. Ðó là lối văn ngôn ưa dùng khẩu ngữ, ca dao, ngạn ngữ dễ hiểu .

Cách khen chê của ông cũng gây ảnh hưởng đến người sau. Không bàn luận trực tiếp , ông chỉ kể việc, tự nó nói thay. Nhà viết sử phải dụng công lắm mới làm ra  vẻ “khách quan lạnh lùng” để khỏi ai bắt lỗi kết tội. Người đọc ngẫm nghĩ sẽ thấy thái độ khen chê của ông sâu sắc thâm trầm ẩn kín ngay trong sự việc – và họ tự rút ra kết luận.

Những thiên truyện ký trong Sử Ký làm gương mẫu cho các nhà tiểu thuyết khi xây dựng nhân vật, sắp đặt tình tiết, đối thoại. Ðông Chu liệt quốc, Tây Hán thông tục diễn nghĩa đều lấy ngay truyện trong Sử Ký mà viết lại. “Trăm đời về sau các nhà viết sử không thể thay đổi được phương pháp của ông, các học giả không thể rời sách của ông”- một học giả Trung Quốc nhận định như vậy. Câu nói đó tổng kết ảnh hưởng sâu xa của Tư Mã Thiên với nền văn học và sử học đời sau .

Ðối với văn học Việt Nam, trong Vũ trung tùy bút của Phạm Ðình Hổ, Tang thương ngẫu lục của Nguyễn Án và Phạm Ðình Hổ, nhất là trong Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái, Lịch triều hiến chương của Phan Huy Chú đều có cách viết giống các thiên truyện kí của Tư Mã Thiên. Ðặc biệt giống là những chi tiết tình tiết khách quan không có lợi cho vua chúa đương thời nhưng các học giả Việt Nam vẫn viết . Ðọc Hoàng Lê nhất thống chí  cảm thấy hấp dẫn sinh động như Sử ký Tư Mã Thiên .

CÂU HỎI

1 Tìm hiểu những nhân tố tạo nên tài năng và tư tưởng tiến bộ của Tư Mã Thiên .

2. Phân tích một trong ba truyện Khuất Nguyên, Kinh Kha Bữa tiệc Hồng Môn

       (trong phần Hạng Võ bản kỉ) .

2.  PHÚ  THỜI HÁN

Phú 赋 là một chi nhánh của thi, là thể loại văn học quý tộc, mô tả phô bày những vẻ đẹp  thiên nhiên, chim thứ kỳ lạ hoa cây quý hiếm, công trình nhân tạo và danh nhân nổi tiếng với hình thức ngữ ngôn cầu kỳ diễm lệ.  Thực ra, phú bắt nguồn từ Sở từ của Khuất Nguyên và Tống Ngọc thời Chiến quốc và đạt đến đỉnh cao mẫu mực nghệ thuật thời Hán với những nhà viết phú nổi tiếng thời Hán như Tư Mã Tương Như, Dương Hùng, Ban Cố…

Tư Mã Tương Như (司马相如) tự Tràng Khanh (179-117 tr CN) người đất Thục, thời Tiền Hán [206 tr CN- 08 sau CN] đa tài, văn hay đàn giỏi, nổi tiếng nhất về phú, làm quan đời Hán Vũ đế. Viết bài “Tử hư phú” dâng vua Hán Vũ đế, được khen ngơi và mời vào cung làm quan.

Họ Trác ở đất Lâm Cùng, vốn có một người con gái rất đẹp tên Văn Quân, còn trẻ tuổi mà sớm góa chồng, lại thích nghe đàn. Tương Như được biết, định ghẹo nàng, nên vừa gảy đàn và hát khúc “Phượng cầu hoàng” (Chim phượng trống tìm chim phượng mái).

Nguyên văn:

    Phượng hề, phượng hề quy cố hương,

    Ngao du tứ hải cầu kỳ hoàng,

    Thời vị ngộ hề vô sở tương,

    Hà ngộ kim tịch đăng tư đường.

    Hữu diệm thục nữ tại khuê phường,

    Thất nhĩ nhân hà sầu ngã trường.

    Hà duyên giao cảnh vi uyên ương

    Tương hiệt cương hề cộng cao tường.

Dịch nghĩa:

    Chim phượng, chim phượng về cố hương,

    Ngao du bốn bể tìm chim hoàng

    Thời chưa gặp chừ, luống lỡ làng.

    Hôm nay bước đến chốn thênh thang.

    Có cô gái đẹp ở đài trang,

    Nhà gần người xa não tâm tràng.

    Ước gì giao kết đôi uyên ương,

    Bay liệng cùng nhau thỏa mọi đường.

Giai thoại kể về xuất xứ của bài “Trường môn phú” như sau: Trần hoàng hậu mắc lỗi bị vua Hán Vũ đế ghét bỏ đày ra ngoài Trường môn (tên một cửa cung điện). Sống lẻ loi, nàng đau khổ, mong vua hồi tâm. Nàng nhờ người tìm Tràng Khanh đưa 100 lượng vàng thuê làm bài phú dâng vua. Đây là bài Trường môn phú 长门赋

            (Bài phú cửa cung Trường môn, còn gọi là Bài phú giá trăm lượng vàng)

          “Sầu nhìn xung quanh mà nhỏ lệ chừ, nước mắt ròng ròng chảy dọc ngang

Ráng thở dài mà thêm nghẹn chừ, xỏ giày đứng dậy mà bàng hoàng

Vung tay áo để che mặt chừ,nhớ ngày xưa lầm lỗi mà sinh tai ương

Mặt mày coi tiều tụy chừ, buồn lòng mà lên giường

           Vo bông để làm gối chừ, trải có thơm mà ướp hưng

hốt ngủ quên mà nằm mộng, phách như ở bên quân vương

Chợt tỉnh mà chẳng thấy chừ, hồn hốt hoảng như mất vật gì

Nghe gà gáy mà lòng rầu chừ, dậy coi trăng sáng long lanh

Xem sao bầy hàng chừ, tất, mão hiện ở phương đông

Nhìn ra sân thấy lạnh lẽo chừ, như tháng chín trời gieo sương

Đêm dằng dặc như cả năm chừ, lòng uất ức mà chẳng nguôi

lặng lẽ trăn trở đợi sáng chừ, trời đã hừng hừng rạng đông

Thiếp trộm buồn tủi chừ, cho đến già chẳng dám quên “.

Vua đọc xong thấy lời lẽ ai oán bi thương thì hồi tâm cho nàng Trần trở lại ngôi hoàng hậu. (兮/xī: hề / chừ : nghĩa là “này”, tiếng đệm và ngắt nhịp).

3. Nhà thơ  Ðào Tiềm  陶潜 [Táo Qián]

Ðào Tiềm còn gọi Ðào Uyên Minh (365- 427), sống thời  Lục Triều. Ðào Tiềm viết cả thơ, từ và phú, hoài bão lớn, sau bỏ quan về ở ẩn để phản đối chế độ phong kiến nhà Tống đã đến hồi mục nát (không phải Bắc Tống sau này). Ông không thèm tiếp một viên quan cấp trên kém tư cách nên làm bài  Quy khứ lai từ rồi bỏ về quê để giữ khí tiết kẻ sĩ. Về núi, cày cấy, làm thơ, phú, từ và uống rượu. Thơ ca giã từ Nho giáo, lãng mạn phong phú với cảm hứng Lão Trang, tình yêu nam nữ… Ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều nhà thơ lớn thời sau như Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị đời Đường, Tô Thức đời Tống và các nhà thơ Việt Nam như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến (nhân hứng cũng vừa toan cất bút, nghĩ ra lại thẹn với ông Ðào). Đến thời nhà Tống, thể “từ” sẽ  đạt tới đỉnh cao.

Ðào Tiềm có ba bài nổi tiếng là Quy khứ lai từ, Ðào hoa nguyên kí và Đào hoa nguyên thi

 

QUY KHỨ LAI TỪ

Về đi thôi, ruộng vườn sắp trở thành hoang vu

Cớ sao chưa về ?

Ðã để tâm hồn cho thể xác sai khiến

sao còn ảo não, buồn khổ mà làm chi  !

Ta hiểu rồi, việc đã qua không thể sửa chữa được

Nhưng việc sau này còn có thể đổi thay

Bởi ta chưa đi sâu vào con đường lầm lạc

Ta thấy rõ hôm nay ta đúng

Ngày hôm qua ta sai

Thuyền nhè nhẹ lướt đi, gió mát thổi bay tà áo

Hỏi thăm khách qua đường con đường phía trước

Giận thay mặt trời sớm mai lờ mờ không rõ .

Gởi tấm thân trên cõi đời này hỏi còn được bao lâu ,

Sao còn nghĩ đến chuyện thế tục làm chi !

Cứ mặc nó trôi qua

Còn hoảng hốt muốn đi đâu nữa ?

Giàu sang vốn không phải sở nguyện của ta

Cảnh tiên ta chẳng cách gì đi tới

Nay gặp thời tiết đẹp

một mình ta dạo chơi

Cầm gậy bới cỏ hoang

Tới bờ ruộng ta ngâm nga

Lội dòng suối ta làm thơ

Mặc vạn vật biến hóa đến tận cùng

Vui đạo trời, biết mệnh người

                                    Còn có điều chi nghi hoặc nữa !


4. Lưu Hiệp và “Văn tâm điêu long”

       VĂN TÂM ĐIÊU LONG

    文心雕龙/文心雕龙

Tác giả Lưu Hiệp  (刘勰 Liú Xié )

Sinh 485, mất 520 ở nước Lương , thời Nam Triều (thuộc Ngụy Tấn)

viết sách Văn tâm điêu long  khoảng 496-501

Lưu Hiệp quê đất Hoàn, huyện Cử (nay là huyện Đông Cử, tỉnh Sơn Đông). Ông nội là Linh Chân làm chức tư không, cha là Thượng, chỉ huy quân cấm vệ nhà Lương (một trong 6 nước thời Nam triều).

Lưu Hiệp sớm mồ côi cha mẹ, ham học. Nhà nghèo, không lấy vợ, làm bạn với hòa thượng Tăng Hữu, sống với ông ta hơn 10 năm. Nhờ đó thông thạo Kinh tạng Phật giáo, góp phần san định và đề tựa Kinh phật. Triều đình nhà Lương mời ông ra làm quan thư kí, rồi thăng chức tham quân. Rồi làm huyện lệnh thuộc tỉnh Chiết Giang năm 511. Làm việc tốt lại được thăng chức, giúp việc thái tử đắc lực…

Ông viết sách “Văn tâm điêu long” bàn về các thể văn xưa nay, dẫn chứng và giải thích. Lời Tựa nói “Văn tâm là sự dụng tâm của văn…”. Viết xong không được nhiều người coi trọng, ông đưa đến nhờ Thẩm Ước đánh giá (Thẩm Ước là người đứng đầu văn đàn, giỏi về âm vận học). Lưu Hiệp đón đầu xe ngựa của Ước, xin gặp và dâng sách. Ước đọc và rất quý trọng, thường để sách trên án thư…

Thẩm Ước cũng như Lưu Hiệp đều là những người rất thông thạo tiếng Sanskrit, lý thuyết âm vận học của Ước là xuất phát từ việc học tiếng Sanskrit mà đi đến chỗ phân tích ngữ âm Hán và chính vì tiếng Hán có thanh điệu mà tiếng Sanskrit không có, cho nên sự đối lập này khiến Ước trở thành vị thầy của âm nhạc học. Tuy Ước xem trọng tác phẩm của Hiệp, nhưng lại không đề tựa cho nó vì ông thiên về thanh luật, mà thiên Thanh luật trong tác phẩm lại không được Hiệp xem là điều chủ yếu của văn. Chính sự am hiểu về thanh luật đã thay đổi thơ Trung Hoa và thơ Đường sau này, do đó là chịu ảnh hưởng của thuyết thanh luật của Thẩm Ước, một lí thuyết gốc từ ngữ âm học Ấn Độ. Tuy Thái tử Chiêu Minh quý trọng Hiệp, nhưng quan điểm của Thái tử về văn lại khác quan điểm của Hiệp. Chiêu Minh Thái tử xem các sách kinh, sử, chư tử không thuộc văn học, trái lại Hiệp lại lấy nó làm nền tảng văn học. Do đó, ta thấy trong thời Nam Bắc triều, tác phẩm của ông không có được sự đánh giá xứng đáng với nó… Lưu Hiệp giỏi về lý thuyết Phật giáo nên các chùa ở kinh đô và những người làm bia đều mời LH làm văn…

Sang đời Đường (705-907), lí thuyết thanh luật phát triển thành luật thi, cách lí giải văn học chấp nhận cả các kinh, sử, biền văn cũng như chư tử, tức là kiến giải của Lưu Hiệp được chấp nhận về đại thể. Nhưng các văn hào đời Sơ Đường và Thịnh Đường như Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, tuy chấp nhận các nguyên lí trong các thiên Nguyên đạo, Trưng thái, Tôn kính nhưng Hàn Dũ chống lại biền văn cho nên các thiên như Thanh luật, đối ngẫu, từ táo lại không được các nhà cổ văn coi trọng. Phải đến thời Văn Đường, khi phong trào biển văn được thịnh hành, lúc đó tác phẩm của Hiệp mới được coi trọng một cách toàn diện. Nhưng sang đời Tống (960-1280), xu hướng chung của các nhà Nho là coi trọng đạo mà khinh văn cho nên tác phẩm ít được chú ý.

Đối với chúng ta hiện nay, tác phẩm cấp cho ta cái nhìn có cơ sở lý luận về văn học cổ của cha ông, điều mà hiện nay, do thưởng thức thẩm mỹ của chúng ta thay đổi, chúng ta không thể hiểu nó như cha ông chúng ta đã hiểu. Đặc biệt, nó cho phép chúng ta hiểu được một số khái niệm văn học mà chúng ta còn mơ hồ hay hiểu theo cách Phương Tây như tứ, thần, tâm, tính, khí, lực, phong thái, cốt cách… Hiện nay số thuật ngữ mỹ học hiện đại được dùng ở các trường là khá nghèo nàn. Trái lại, số thuật ngữ gốc từ Văn tâm đêu long được các học giả đời Thanh xác lập là rất phong phú.

VĂN TÂM ĐIÊU LONG gồm 50 thiên

  1. Nguyên đạo (nguồn gốc ở tự nhiên)
  2. Trung thánh (lấy căn cứ ở thánh nhân)
  3. Tôn kinh (đề cao các bộ kinh)
  4. Chính vĩ (chỉnh đốn những lời mê tín)
  5. Biện tao (bàn về Ly tao và Sở từ)
  6. Minh thi (giảng giải về thơ)
  7. Nhạc phủ § (bỏ không dịch)
  8. Thuyên phú (bàn về phú)
  9. Tụng tán (nói về tụng và tán)

(10-15: bỏ không dịch)

16. Sử truyện (bàn về sử và truyện)

17.Chư tử (các nhà tư tưởng thời Đông Chu)

18. Luận thuyết (thể lí luận và thể thuyết phục)

(19-25: bỏ không dịch)

26. Thần tử (cái thần và cái tử)

27. Thể tính (bàn về cá tính)

28. Phong cốt (phong thái và côt cách)

29. Thông biến (thông suốt do bắt chước và sau có thể biến hóa)

30. Định thể (Văn tự nhiên có hình thể. Thể thì tất có cách: gọi là qui củ. Quy: tròn,

      củ: vuông)

31. Tình thái (tình cảm và nghệ thuật diễn tả)

32. Thanh luật (thanh và luật)

33. Chương cú (chương và cú)

34. Dung tài (đúc gọt)

35. Lệ từ (làm cho lời cân đối)

36. Tỉ hứng (tỉ và hứng)

37. Khoa sức (phóng đại và tô vẽ)

38. Sự loại (lấy sự việc cùng loại mà dẫn chứng)

39. Luyện tự (luyện từ ngữ)

40. Ẩn tú (kín đáo và nổi bật)

41. Chỉ hà (chỉ ra chỗ khuyết điểm)

42. Dưỡng khí (nuôi khí chất)

43. Phụ hội (tô vẽ thêm)

44. Tổng thuật (bàn chung các thuật)

45. Thời tự (sự biến đổi văn hoc theo các thời)

46. Vật sắc (thanh sắc của sự vật)

47. Tài lược (tài năng, kiến thức)

48. Tri kỉ (kẻ tri âm)

49. Trình khi (sự tu dưỡng đạo đức)

50. Tự chí (lời Tâm sự của tác giả Lưu Hiệp)

Trong thiên chót (Tự chí) Lưu Hiệp giải thích tựa đề sách như sau:

“Văn tâm là nói sự dụng tâm của văn. (…) Tâm là cái đẹp cho nên dùng chữ ấy. Xưa nay văn chương đều lấy việc trau dồi làm thành thể cách chứ đâu phải lấy chỗ “chạm rồng” (điêu long) như bọn Trâu Thích nói đâu ?!

Dưới đây giới thiệu đơn giản nội dung chính 02 thiên đầu tiên của Văn tâm điêu long .

 

  1. 01.  Nguyên đạo (Văn bắt nguồn ở  Đạo (tự nhiên/ tồn tại khách quan)

Tầm quan trọng của Văn thực là to lớn. Văn ra đời cùng một lần với trời đất. Trời xanh đất vàng và hai viên ngọc: mặt trời và mặt trăng nhằm phơi bày cái cảnh tượng uy nghi của đất, cảnh gấm vóc của núi sông… Ta ngẩng đầu ngắm trởi rồi cúi xuống ngắm đất: đó là hai “nghi”(lưỡng nghi: vật thể chủ yếu của vũ trụ) đã xuất hiện. Chỉ có con người là tham dự vào sự biến hóa cuả trời đất bởi vì con người là nơi chung đúc khí thiêng thiên tính. Vì vậy gọi là bộ ba tam tài “thiên địa nhân”…

Con người có hoạt động tinh thần: lời nói xuất hiện thì cái Văn sáng lên. Đó là cái đạo tự nhiên vậy. Bất kì động vật, thực vật nào cũng có văn. Văn cuả.con rồng, con phượng có vảy, lông, màu sắc như vẽ. Con hổ có bộ da vằn vện. Màu sắc tươi đẹp của mây, ráng hơn hẳn cái tài khéo của họa sĩ. Hoa lá cỏ cây không chờ cái tài dệt gấm của người…

Gió thối qua rừng, suối chảy trên đá… vang lên những âm hưởng như chuông khánh hòa nhau… đó là cái văn của nó. Ôi những vật vô tri giác còn đẹp rực rỡ như thế, con người là vật có tinh thần lẽ nào chẳng có văn ?!

 Nguồn gốc cái văn của người bắt đầu từ khi vũ trụ ra đời. Văn của người đi sâu vào cõi bí ẩn nói lên được cái vi diệu của sự vật. Đầu tiên phải kể đến những quái tượng của Kinh Dịch (do Phục Hy vạch ra, sau do Chu Văn Vương, Chu Công Đán và sau nữa Khổng Tử bổ túc chú giải được hoàn thành. Cái văn của lời nói được xem trọng như vậy phải chăng vì nó là tinh hoa trời đất ?

Từ khi chữ viết noi theo dấu “chân chim” thay thế tục “thắt nút” nên nó ngày càng phát triển rực rỡ.

Văn chương đến đời Nghiêu, Thuấn bắt đầu phồn thịnh (Kinh Thư nói việc ấy)….

Kinh Thi với hai phần Nhã, Tụng tinh hoa lời nói càng mới mẻ, ý nghĩa sâu xa.

Đến Khổng Tử chỉnh lý Lục kinh (sau chỉ còn Ngũ kinh) thì văn chương trở nên hoa mỹ. Trau dồi tình cảm, sắp đặt lời văn, công giáo hóa của Người truyền xa vạn dặm, truyền mãi vạn đời. Người đã nêu lên cái đẹp đẽ sáng láng của trời đất mà làm mở mang tai mắt của loài người vậy.

Từ thời Phục Hy (thượng cổ) đến Khổng Tử thuật lại mà dạy dỗ, ai cũng lấy cái tinh thần (tâm) của tự nhiên (đạo) để trình bày thành văn chương, xét các đạo lý vi diệu để giáo dục con người. Họ lấy khuôn mẫu ở Hà đồ, Lạc thư (cơ sở của Kinh Dịch – biên giả chú thích), lấy vận số ở cỏ thi, mai rùa để xem thiên văn, xem thiên văn để khảo sát sự biến đổi con người (nhân văn) mà hoàn thành việc giáo dục. Có làm như thế mới cai quản được thế giới, định ra được phép tắc đời đời, phát huy sự nghiệp, và trái lại làm rạng rỡ nghĩa lý của văn từ (§)

Cái đạo (tự nhiên) nhờ các thành nhân mà thành văn chương, họ lại đưa cái tự nhiên vào văn chương để làm sáng rõ lí lẽ của tự nhiên. Kinh Dịch nói “ Cái có thể cổ vũ lay động thiên hạ chính là lời. Cái lời sở dĩ làm được vậy chính vì nó là cái văn của tự nhiên (đạo)

Lời tán nói (§ §):

Tinh thần đạo tự nhiên vi diệu lắm ! Lấy cái đạo lý  vi diệu ấy mà giáo dục Các thành nhân đời xưa đã làm cho đạo tự nhiên rực rỡ, chữ Nhân chữ Hiếu được phát huy … hãy xem vẻ đạp của trời đât, con người bắt chước vào đó mà phát huy giáo dục.

Ghi chú:

Mỗi thiên, sau ít lời biện luận, Lưu Hiệp dẫn chứng hàng loạt tác phẩm, tác giả và nhận xét đánh giá như một nhà phê bình văn học và văn học sử. Mỗi thiên, ông đóng vai: nhà lí luận, nhà phê bình và nhà văn học sử.

02. Trưng thánh (lấy căn cứ ở thánh nhân)

Người trình bày cái đạo được gọi là thánh. Xây dựng đào luyện bản tính và tình cảm con người cũng là thánh. Văn chương của Khổng phu tử ta có thể nghe được, cái tình của vị thánh nhân biểu lộ ra ở lời văn. (Lưu Hiệp nêu các dẫn chứng thời nhà Chu qua  nhận xét của Khổng Tử trong Ngũ kinh).

Việc căn cứ vào thánh nhân để diễn đạt ngôn ngữ là điều nên làm vậy

 Lời tán nói:

 Thánh nhân sinh ra là đã biết, thực là vi diệu, lấy thông minh làm chủ. Cái lý lẽ tinh hoa của thánh nhân đã thành văn, cái khí đẹp thành hình thức. Thánh nhân như mặt trời mặt trăng treo cao. Lời thánh nhân giàu như núi sông, trăm năm qua đi nhưng tấm lòng thánh nhân vần tồn tại mãi nghìn năm.

“Văn tâm điêu long” ngay ở Trung Quốc vẫn có nhiều bản “dịch” (diễn giải theo ngôn ngữ hiện đại) khác nhau, bởi văn Lưu Hiệp là loại văn cổ, khác xa với ngôn từ hiện đại. Dịch giả Việt Nam còn gặp khó khăn hơn người Trung Quốc nữa…Do đó ngày nay ở Trung Quốc có môn Văn tâm điêu long học (文心雕龙 学 )

 Hiện tượng này không chỉ xảy ra với Văn tâm điêu long. Ở Trung Quốc còn có ngành Hồng học 红学 (tức Hồng Lâu Mộng học 红楼梦学), Kim học 金学 (tức Kim Bình Mai học 金瓶梅学) đến Lỗ học鲁学 (Lỗ Tấn học鲁迅学)…




CHƯƠNG II                             THƠ ÐƯỜNG  唐诗 Táng shī

1 .  KHÁI QUÁT  XÃ HỘI TRUNG QUỐC THỜI ĐƯỜNG (620 – 905)

            Năm 581, Dương Kiên lật đổ triều đại  cuối cùng của Bắc triều, tự xưng Hoàng Ðế, lập ra nhà Tuỳ, đóng đô ở Trường An, rồi kéo quân về miền Nam, tiêu diệt Nam triều,  thống nhất Trung Quốc. Tuỳ Văn đế Dương Kiên ổn định xã hội, chia lại ruộng đất, mở mang thuỷ lợi, tiết kiệm… Chẳng bao lâu sau, ông bị đứa con thứ hai là Dương Quảng giết  chết. Dương Quảng  lên ngôi xưng hiệu Tuỳ Dưỡng đế là một tên vua hoang dâm và tàn bạo nổi tiếng, xây thành đào sông tiến hành xâm lược Ðài Loan, Triều Tiên. Nhân dân vùng lên khởi nghĩa khắp nơi. Lý Uyên một viên tướng lợi dụng cơ hội, ép vua nhường ngôi cho con và năm sau phế bỏ nhà Tuỳ, tự xưng Hoàng đế, lập ra nhà Ðường. Nếu  ở thời Tây Hán dân số trên năm chục triệu thì đến đầu Tuỳ chỉ còn hai mươi triệu (sau gần bốn trăm năm), cuối nhà Tuỳ, đầu nhà Ðường dân số chỉ còn ba triệu hộ gia đình.

            Nhà Ðường tồn tại được ba trăm năm, như thế là khá bền vững trong lịch sử Trung Quốc. Tuy vậy, sự  thịnh trị cũng chỉ là tương đối. Nhiều vụ đảo chính lớn xảy ra,  tiêu biểu là vụ Võ Tắc Thiên phế truất Ðường Trung Tông rồi Tuấn Tông, tước lấy ngôi hoàng đế, đổi quốc hiệu là nhà Chu, sau đó nhà Ðường giành lại ngai vàng. Giai đoạn Sơ Ðường kéo dài một  trăm năm (cũng gọi là Sơ – Thịnh Ðường).

            Cha con Lý Uyên (Ðường Thái  Tổ) và Lý  Thế Dân (Ðường Thái Tôn) là những ông vua khôn khéo, ban  hành nhiều chính sách phát triển nông  nghiệp, thủ công  nghiệp và  thương nghiệp với giao lưu mậu dịch quốc tế rộng rãi, tiến hành cải cách giáo dục văn hoá.

            Ðến năm 740, dân số lên tới 48  triệu các vua Ðường thực hiện chính sách bành trướng qui mô lớn. Trước hết, lấn vùng Tân cương, Tây Tạng đặt là “An Tây đô hộ  phủ” rồi  đến Triều Tiên đặt là “An Ðông đô  hộ phủ”, vào năm 679 chiếm cứ Việt Nam  đặt tên “An Nam đô hộ phủ”.

            Thời Khai Nguyên được coi là đỉnh cao thịnh trị của nhà Ðường. Các giai tầng thống trị ra sức bóc lột nhân dân, đua đòi ăn chơi. Ðường  Huyền Tôn (tức là Đường Minh Hoàng) say đắm  Dương Quí  Phi, chính quyền trung ương dần dần bất lực. Xảy ra cuộc nổi loạn của tiết độ sứ An Lộc Sơn đánh chiếm cố đô Lạc Dương, tiến về Trường An khiến Huyền Tôn phải bỏ chạy. Trên đường hành quân truy kích, An Lộc Sơn lại bị viên  bộ tướng là Sử  Tư Minh  giết chết để lên ngôi. Lịch sử gọi sự biến này  là “sự biến An- Sử” hoặc “loạn An-Sử” (755 – 763). Sau sự  biến, dân số Trung Quốc chỉ  còn hai mươi triệu ! Tuy vậy,  quan hệ sản xuất phong kiến rạn vỡ làm nảy sinh những yếu tố kinh tế tiền tư bản chủ nghĩa.

            Từ năm  821 về  sau gọi  là thời Vãn Ðường với vua Ðường Mục Tôn. Cuộc khởi  nghĩa  nông  dân   khá  lớn  do  Hoàng  Sào  và  Vương Tiên Tri lãnh đạo thất bại nhưng cuộc nổi dậy  này là đòn nặng nề giáng xuống chế độ phong kiến. Trong khoảng 100 năm cuối có 11 ông vua nhà Ðường lần lượt kế tiếp nhau, cuối  cùng một viên tướng tên là Chu Toàn Trung kéo quân  về Trường An  lật đổ triều  đình, xưng hoàng đế, mở ra một thời kỳ hỗn loạn  mới  gọi là “ngũ đại  thập quốc”.

2. TÌNH HÌNH VĂN HỌC

            Văn học thời Ðường rất phát triển .

            Bên cạnh thơ, văn xuôi tự do đã bị văn biền ngẫu nổi lên áp đảo. Hai nhà  văn Hàn  Dũ và  Liễu Tôn  Nguyên ra sức cải cách văn xuôi. Truyện ngụ ngôn phát triển .   

           Tiểu thuyết truyền kỳ vốn xa rời thực tế ngày càng  chú ý phản  ánh trực tiếp  sinh hoạt xã hội, nhất là sinh hoạt chốn đô  thị. Ngôn ngữ người kể  chuyện và ngôn ngữ nhân vật đã tách  ra khá rõ, các  hình tượng nhân  vật sinh động hơn và có cá tính hơn. Oanh  Oanh truyện (còn gọi Hội chân ký) của nhà thơ Nguyên Chẩn là tiêu biểu về đề tài tình yêu. (Sau này, đến đời Nguyên, nhà viết kịch Vương Thực Phủ sáng tác thành vở kịch  thơ Tây Sương ký , ở Việt  Nam thế kỷ 19 được dịch thành vở kịch Mái Tây). Biến văn là loại truyện tôn giáo được dân gian hoá (như truyện nàng Mạnh Khương tìm chồng bị bắt đi xây Vạn lý trường thành, chuyện Vương Chiêu Quân cống Hồ, chuyện Ngũ Tử Tư…)

            “Từ“  là  một loại  thơ kết  hợp chặt  chẽ với  âm nhạc cũng bắt đầu hhình thành ở thời Ðường.

            Tuy thế, Thơ Ðường vẫn là thể loại đạt được những thành tựu rực rỡ và có quan hệ mật thiết với nhiều thể loại khác.

2.1. Thơ Ðường qua 4 giai đoạn

            Ðến nay, giới nghiên cứu văn học Trung Quốc đã thống kê sưu tầm được năm mươi  ngàn bài  thơ Ðường  của hai ngàn ba trăm tác giả.

            Vì sao Ðường thi phát triển mãnh liệt như vậy ?

            Ðời Ðường, nước Trung Quốc độc lập và thống nhất sau thời gian dài bị  chia cắt  và lệ  thuộc. Tình  hình đó kích động cảm hứng sáng tạo  cho nhà  thơ. Ðô  thị phồn  vinh tạo điều kiện truyền bá văn học và cung cấp cho thơ ca nhiều đề tài phong phú.

            Thời kỳ  Sơ – Thịnh Ðường thơ phát triển về bề rộng thì đến Trung – Vãn  Ðường thơ càng đi sâu vào cuộc sống và có khuynh hướng hiện thực mở đầu với Lí Bạch, lên đến đỉnh cao Ðỗ Phủ và tiếp tục mạnh mẽ với thơ Bạch Cư Dị.

            Thượng  tầng kiến  trúc đời  Ðường cũng phát triển, kéo theo sự xung động của thơ và văn học nghệ thuật nói chung.

            Nhà Ðường  thực hiện  chế độ  thi cử  để bổ nhiệm các bậc quan chức. Trong các kỳ thi, môn thi bắt buộc làm thơ và giảng thơ chiếm vị trí quan trọng, do đó  kích thích mở rộng  đội ngũ nhà thơ, trong đó có những người xuất thân nghèo hèn.

            Giai cấp  thống trị  đời Ðường  không chủ  trương độc tôn Nho giáo như đời Hán. Cả ba Nho, Phật và Ðạo đều được tự do thịnh hành mặc dù có thời kỳ  vua Ðại Ðường  tỏ ra ưu  ái đạo Phật  (cử Ðường Tam Tạng đi Ấn Ðộ du học và xin bộ kinh Phật mới)  trong khi các tư tưởng Nho và Ðạo không bị  khống chế. Do đó, nếp suy nghĩ của thi sĩ không  cứng nhắc, chân trời kiến thức mở rộng. Ba cảm hứng chủ  đạo tạo ra  hàng ngàn bài thơ khác nhau và  tạo ra ba phong cách độc đáo: “thánh thơ Ðỗ Phủ”, “tiên thơ Lí  Bạch” và  “phật  thơ Vương Duy”. Tình trạng đó gây ra các luồng tư tưởng phức tạp trong thơ, tích cực xen lẫn tiêu cực và trong một hoàn cảnh nào  đấy khó xác định bài thơ nào là tiêu cực hay tích cực. Văn hóa thời Ðường chấp nhận  tình trạng chủ  nghĩa đa nguyên trung cổ ).

Trong khi đó, các ngành nghệ thuật ở đời Ðường cũng rất phát triển. Âm nhạc, vũ đạo, nghệ thuật viết chữ đẹp (thư pháp) và hội hoạ đều có tác dụng  nâng cao thẩm  mỹ của nhà  thơ. Ðặc biệt mối quan hệ Hội  Hoạ -Thi – Ca  rất mật  thiết. Nhà thơ Vương Duy được coi là “Thi trung hữu hoạ – hoạ trung  hữu thi ” vì ông vừa là hoạ sĩ vừa là nhà thơ. Người  ta cũng còn gọi hội hoạ  là “vô thanh thi” (thơ không tiếng). Nhiều  nhà thơ say mê hội  hoạ và nhiều hoạ sĩ biết làm thơ. Thơ và  hoạ Trung Quốc có chung một số qui luật thẩm mỹ chi phối như  “nhập  thần”,  “hư và thực” …

            Mặt khác, thơ Ðường cũng tiếp thu, kế thừa cả quá trình phát triển lâu dài của thơ ca từ Kinh Thi, Nhạc Phủ, Thơ Kiến An, Sở từ…, dân ca hào phóng miền Bắc, dân ca uyển chuyển phương Nam và lí luận thơ ca của các thời đại trước.

Thơ Ðường chia ra bốn giai đoạn Sơ – Thịnh – Trung – Vãn .

            Sơ Ðường là giai đoạn chuẩn bị mọi mặt cho thơ, còn mang nặng tính chất uỷ mỵ với bốn nhà thơ nổi tiếng: Vương Bột, Dương Quýnh, Lư Chiếu Tân và Lạc Tân Vương. Cuộc đời họ  gặp nhiều bất hạnh nhưng trong thơ vẫn  có những  tình cảm  tích cực lành mạnh. Sau đó, Trần Tử  Ngang đề  xướng chủ  trương khôi  phục tinh thần phong nhã và đặt nền móng cho thơ hiện  thực. Nhược điểm của thời kỳ này là khi viết về chiến  tranh,  âm hưởng chủ đạo  của họ là khẳng định, ca ngợi.

             Thịnh Ðường là giai đoạn rực rỡ nhất của thơ, đạt đến sự thống nhất hoàn mỹ giữa nội  dung và hình thức với  nhiều nhà thơ lớn.

            Mặc dù thơ Ðường khá đa dạng phong phú, ta cũng tạm chia họ ra hai trường  phái dựa  trên đề  tài: phái  điền viên và phái biên tái.

            Vương Duy và Mạch Hạo Nhiên là đại biểu lớn của phái điền viên với nghệ thuật cao,   đôi  khi phản ánh được  những nét chân thực của sinh hoạt nông thôn và vẻ đẹp của thế giới tự nhiên song nhìn chung còn  xa rời  cuộc sống  thực (Bác  Hồ có  viết bài Cảm tưởng đọc Thiên gia thi : thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp, Mây gió trăng hoa tuyết núi sông…).

            Phái biên tái : Hầu như nhà thơ nào cũng viết về chiến tranh, về cảnh biên cương  khốc liệt, đặc biệt  là miêu tả  tâm trạng và đời sống của chinh phu, chinh phụ. Có người thiên về ca ngợi như Cao Thích, Sầm Tham, đa số thiên về phê phán như Vương Xương Linh, Lí Kỳ… và tiêu biểu nhất là Lí Bạch với cảm quan nhạy bén đã  sớm  phát  hiện  ra  dấu  hiệu suy vong của nhà Ðường nấp sau vẻ phồn thịnh đương thời.

            Ðến thời Trung Ðường, có thể coi Ðỗ Phủ là chiếc cầu nối giữa Thịnh Ðường và Trung  Ðường. Thơ ông  phản ánh hiện  thực xã hội một cách sâu rộng. Hiện tượng nổi bật  sau này là  phong trào thơ phúng dụ trữ tình của  Bạch Cư Dị  thể hiện sự  đồng tình sâu sắc với nhân dân và phản ánh sinh động mâu thuẫn giai cấp gay gắt trong xã hội      (nổi tiếng với bài “Tì bà hành”). Trong khi đó, một số nhà thơ vẫn sáng tác theo lối điền  viên. Liễu Tôn  Nguyên làm thơ ngụ ngôn rất sở trường, phản ánh nỗi  khổ của dân chúng và phê phán bọn thống trị. Do bất mãn,  u hoài, bực bội đôi khi ông rơi vào hư vô. Lí Hạ  là nhà thơ có biệt tài  xây dựng tứ thơ đọc đáo, hình ảnh kỳ lạ, từ ngữ mới mẻ (quỉ tài).

            Ðến thời Vãn Ðường vẫn còn nhiều nhà thơ tài  năng xuất hiện với cảm hứng Ðạo giáo, có  ít nhiều tiến bộ như Tào Nghiệp, Ôn Ðình Quân, Lý Thương Ẩn  và Ðỗ Mục, chia thành nhiều nhóm “lãng mạn” khác nhau.

2.2. Hình thức của Thơ Ðường

(Phân loại, cấu trúc, luật – niêm, đối và vần)

            Ngôn ngữ thơ Ðường trong sáng, tinh luyện, tiết kiệm ngôn từ (bài ngắn nhất hai  mươi chữ: ngũ ngôn tuyệt cú). Do thế, thơ Ðường rất súc tích, cô đọng. Ít khi thơ chịu nói hết ý, và không nói trực tiếp, mà chỉ dựng  lên hàng loạt  mối quan hệ để cho độc giả tự suy luận, tức là “vẽ mây, nẩy trăng ” (chỉ tả đám mây, nhưng ta biết có vầng trăng bị che lấp ở phía sau), ý ở ngoài lời, ý đến mà bút không đến, bút dừng mà ý không  dừng – lời hết mà ý chưa hết…

            Thơ Ðường luật có vẻ  gò bó nhưng vẫn dung  nạp nhiều thủ pháp khác nhau , sự năng động của mọi nhà thơ,  đỉnh cao nhất là thủ pháp ám thị và gợi ý.

Thơ Ðường thâm nhập vào đời sống người Trung Hoa bao đời nay, từ sinh hoạt bình thường đến những  lễ nghi long trọng. Thơ mừng cưới, chúc thọ, chia buồn, thơ kén chồng… thơ thù tạc. Có người cho rằng người Trung  Hoa say mê thơ như một tôn giáo. Bởi thơ Ðường rất tinh tế, thanh nhã, không dài và không hùng mạnh, điều hoà và sinh động, với lối miêu tả “tả cảnh ngụ tình” là biện pháp phổ biến .

Nhìn chung,  thơ Ðường chịu chi phối bởi  ba cảm hứng chủ đạo :

Cảm hứng chủ đạo một : Thơ u hoài về thế sự, nặng niềm ưu tư xã hội, đó là cảm hứng của nhà Nho.

Cảm hứng chủ đạo hai : hướng về tư tưởng Ðạo giáo  yêu thiên nhiên, thích xa lánh việc đời , tư tưởng Lão Trang

Cảm hứng chủ đạo ba : hướng về Phật giáo, xa lánh đời nhưng vẫn còn gần nhân thế .

Hai cảm hứng sau đều  mang đậm tính lãng mạn.

Có những bài thơ xen kẽ cả hai cảm hứng. Trong một đời thơ, có những thi nhân  phải  nhiều  lần  đổi  thay cảm hứng. Thông thường, thời trai trẻ “lập ngôn” bằng cảm hứng  Nho giáo. Về già thì cảm hứng Ðạo giáo lại giành thế chủ đạo.

Đường Thi gồm thơ cổ phong và thơ cận thể (thơ Ðường luật, cách luật)

Thơ cổ phong gồm những thể thơ có từ trước thời nhà Đường

Thơ cận thể hình thành ổn định thời Đường gồm 2 dạng chính là

    2 dạng “Cách luật thất ngôn” và “cách luật ngũ ngôn” (phân loại theo số tiếng trong 1 câu).

 hoặc 3 dạng chính (phân loại theo số câu trong 1 bài) :

Thơ bát cú (8 câu),

Thơ tứ cú  (4 câu) gọi là tứ tuyệt, tuyệt cú

Thơ bài luật  số câu vô hạn định (gồm nhiều khổ tứ tuyệt), chịu ảnh hưởng thơ luật..

    Trong 3 dạng trên, thất ngôn bát cú là dạng có qui mô hoàn chỉnh phong phú nhất.

  Thơ bát cú

Thể thơ chủ yếu với  cấu trúc “thất ngôn bát cú” (8 câu x 7 chữ), từ đây suy ra các     dạng khác.

                  a-Bố cục

            Cách 1 “đề – thực – luận – kết”, đây là bố cục giao nhiệm vụ cho mỗi phần.

            Cách 2 “khai – thừa – chuyển – hợp” chỉ ra mối quan hệ liên tục của 4 phần

Ðề: là phần mở đầu có hai câu. Câu 1 phá đề, giới thiệu. Câu 2 thừa đề (tiếp ý để  chuyển vào bài) .

           Thực  : câu  3 và 4: trình bày hiện thực, nói rõ vấn đề của bài

Luận   : câu 5 và 6 : phát triển rộng thêm, tỏ thái độ

Kết     :  câu 7 và 8  kết thúc, hợp ý toàn bài.

Ý nghĩa của bố cục: là cách thức thổ lộ ý kiến, cảm nghĩ, tình cảm, tư tưởng, khiến cho người khác hiểu được, cơ bản một dàn bài văn vậy thôi.

            Tuy nhiên, còn nhiều cấu trúc uyển chuyển phát sinh không hoàn toàn giống bố cục kể trên (tiền bán/ hậu bán/ thực luận xen kẽ…).

                   b-Luật : sự qui định về  thanh bằng và thanh trắc trong từng câu và trong cả bài.

            Luật được bắt đầu bằng âm  thanh của chữ thứ hai  của câu thứ nhất.

Nếu chữ thứ hai là thanh bằng thì gọi bài  thơ luật bằng. Chữ thứ  hai là thanh trắc thì gọi là bài thơ luật trắc,

Ví dụ bài “Vô đề” của Lý Thương Ẩn  nhà thơ tình  yêu nổi tiếng thời Vãn Ðường (luật trắc) và bài  “Hoàng hạc lâu” của Thôi Hiệu (luật bằng) :

Luật của bài thơ  xác định rõ  âm hưởng chủ  đạo của toàn bài, giống như “gam” của một bài hát, bản nhạc hiện đại …

Ngoài ra, mỗi tiếng là một âm thanh được sắp xếp sao cho câu thơ không đơn điệu (xem công thức dưới đây).

Vô đề

Tương kiến thời nan biệt diệc nan

Ðông phong vô lực bách hoa tàn

Xuân tàm đáo tử ty phương tận

Lạp cự thành khôi lệ thỉ can

Hiểu kính đãn sầu vân mấn cải

Dạ ngâm ưng giác nguyệt quang hàn

Bồng Lai thử khứ vô đa lộ

Thanh điểu ân cần thám vị  khanHoàng hạc lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Thử địa không dư Hoàng hạc lâu

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Bạch vân thiên tải không du du

Tình xuyên lịch lịch Hán dương thụ

Phương thảo thê thê Anh vũ châu

Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu

(Khương Hữu Dụng và Tương Như dịch)

Luật và niêm của bát cú

Bài thơ luật bằng vần bằng
  1. b b t   t  t b  b
  2. t  t  b  b t  t   b      
  3. t  t  b  b b t   t
  4. b b t   t  t  b  b
  5. b b t   t  b b  t
  6. t  t  b  b t  t   b
  7. t  t  b  b b t   t

8.   b b t   t  t  b  b       Bài thơ luật trắc vần bằng:

1. t  t  b b t  t  b

2. b b  t  t  t  b b

3. b b  t  t  b b t

4. t  t   b b t  t  b

5. t  t   b b b t  t

6. b b  t  t  t  b b

7. b b  t  t  b b t

8. t  t   b b t  t  b

Nếu cắt bớt hai  tiếng đầu mỗi câu của bài thất ngôn  bát cú thì sẽ sinh ra thể ngũ ngôn bát cú.

            Ðối với thơ  thất ngôn cần chú ý qui  tắc sau : Nhất – tam – ngũ bất luận, nhị – tứ – lục phân minh. Với ngũ ngôn thì “nhất – tam bất luận” và “nhị – tứ phân minh”.

Liên : Mỗi cặp câu đi  liền nhau gọi  là một “liên”, các chữ tương ứng của câu số lẻ và câu số chẵn  trong một  “liên” phải có thanh ngược nhau (ngoại trừ chữ thứ 5 và chữ  thứ 7 của liên đầu). Liên có vai trò ràng buộc chiều dài của bài thơ khỏi xộc xệch .

            c - Niêm : Ðể cho bài thơ uyển chuyển (tránh đơn điệu lặp lại), nhịp đi của “liên trên” phải khác nhịp đi của “liên dưới”. Muốn vậy, tiếng thứ 2 của câu chẵn thuộc “liên trên” phải cùng thanh với chữ thứ 2 của câu lẻ thuộc “liên dưới” (dẫn đến các chữ chẵn cùng thanh). Sự giống nhau đó gọi  là Niêm, tức là sự kết dính hai liên với nhau.

            Trong thực tế sáng tác, ít có người theo đúng hoàn toàn công thức trên, do đó sinh ra lệ “bất  luận” như sau (tức ngoại lệ) .

                  – Chữ đầu mỗi câu là bất luận (bằng hoặc trắc tuỳ ý) .

                  – Chữ thứ năm nói chung ngược với chữ thứ bảy, song cũng có thể bất luận.

                  – Riêng chữ thứ ba nếu là “bằng” thì  không nên  đổi ra trắc (chỉ có thể đổi trắc ra bằng),  nhất là  ở các câu có vần (câu 1, 2, 4, 6, 8 ).

d - Đối :  Hai câu thực đối với  nhau, hai câu luận  đối với nhau.

                   (Câu ba đối bốn, câu năm đối sáu).

            Ba yếu tố : đối thanh  đối từ loại và đối ý

            Ví dụ : Bài “Không đề”  của Lý Thương Ẩn

             Câu ba :  Con tằm đến thác tơ con vướng

             Câu bốn : Chiếc nến chưa tàn lệ vẫn sa

                                    Tằm – nến : bằng – trắc, danh từ – danh từ.

                                    Vướng – sa : trắc – bằng, danh từ – danh từ.

                                    Thác – tàn  : trắc – bằng ,động từ – động từ.

            Câu 5 : “sáng ngắm gương”… đối với   Câu 6 : “đêm ngâm thơ”…

 Ðối có hai trường hợp:

- Ý hai câu đối lập chống lại nhau, diễn tả mâu thuẫn, xung đột  (đối  tương  phản /phản đối )

- Ý hai câu bổ sung tăng cường cho nhau (tương hỗ /song hành). Kiểu đối tương hỗ phổ biến trong Đường luật bởi tính cách nhà thơ cổ điển ưa hòa hợp.

             e. Vần: Thơ Ðường luật chỉ gieo  một vần là vần bằng (bình), hiếm khi gieo vần trắc. Gieo vần vào chữ cuối của câu 1, 2, 4, 6 và 8. (ngoại lệ : riêng chữ cuối của câu 1 ngũ ngôn bát cú có thể không cần gieo vần cũng được).

            Trong thực  tế sáng  tác, các nhà  thơ đời sau đã sáng tạo thêm những biệt thể  mới như  tiệt hạ  (ý mỗi câu  còn lơ lửng), yết hậu (câu cuối còn thiếu nhiều tiếng), thủ  vĩ ngâm (câu một giống câu tám) v.v…

Thơ tuyệt cú

Gồm hai dạng chính:

Thất ngôn tứ tuyệt và ngũ ngôn tứ tuyệt (gọi tắt: thất tuyệt và ngũ tuyệt) .

            Tứ tuyệt (hay là tuyệt cú) theo một giả thuyết  cho là  được sinh ra  từ thể thơ bát cú. Giả thuyết khác chứng minh rằng tứ tuyệt đã có từ thời Lục triều, thậm chí manh nha từ Kinh Thi, đến nhà Đường thì hoàn chỉnh về hình thức. Tuy nhiên chúng ta có thể so sánh với Bát cú cho dễ phân biệt  các thể tuyệt cú phổ biến.

Nó cũng gồm bốn phần: đề,  thực,  luận,  kết,  mỗi phần chỉ là một câu.

            Từ một bài “thất ngôn bát cú” dẫn đến bốn cách chia cắt để tạo ra bốn dạng “tứ tuyệt”.

            Dạng 1 : Gồm bốn câu đầu     (1, 2, 3, 4 )

            Dạng 2 : Gồm bốn câu cuối    (5, 6, 7, 8 )

            Dạng 3 : Gồm bốn câu giữa    (3, 4, 5, 6 )

            Dạng 4 : Gồm hai câu đầu và hai câu cuối  (1, 2, 7, 8 )

Chúng ta hãy xem xét về vần và đối của bốn dạng tứ tuyệt

            Dạng (1) : có ba vần, câu ba – bốn đối nhau

            Dạng (2) : có hai vần, câu một – hai đối nhau

            Dạng (3) : có hai vần, câu một – hai và ba – bốn đối nhau

            Dạng (4) : có ba vần, không có đối.

Người ta  thường làm  thơ tứ  tuyệt dạng  (4) vì dạng này không có đối.

Bốn bài tuyệt cú cơ bản

            Loại 1 – Quân hành của Lí Bạch (ba vần,  đối câu 3 và 4)

Lựu mã tân kha bạch ngọc an

chiến bãi, sa trường nguyệt sắc hàn

thành đầu thiết cổ vang do chấn

hạp lí kim đao huyết vị can

            Loại 2 – Tương giang (hai vần : câu 2 và 4,  1 cặp đối : câu 1 và 2)

                        quân tại Tương giang đầu

                        thiếp tại Tương giang vĩ

tương tư bất tương kiến

                        đồng ẩm tương giang thủy        

 

Loại 3 – Tuyệt cú (Ðỗ Phủ)  không có vần -2 cặp đối

Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc

Một đàn cò trắng vút trời xanh

Ngàn năm tuyết núi song in sắc

Muôn dặm thuyền Ngô cửa rập rìnhLưỡng cá hoàng li minh thúy liễu

Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên

Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết

Môn bạc Ðông Ngô vạn lí thuyền

Loại 4 –  Ðề cúc hoa (Hoàng Sào)  ba câu chứa vần, không đối  (ô)

         Táp táp tây phong mãn viên tài

Nhị hàn hương lãnh điệp nan tai

Tha niên ngã nhược vi Thanh Ðế

Báo dữ đào hoa nhất xứ khaiVi vút đầy vườn thổi gió tây

Nhụy rầu hương lạnh bướm khôn bay

Nếu xuân năm tới ta làm chúa

Truyền với hoa đào nở cả đây  

(chú thích : Thanh đế – vị chúa loài cỏ cây )

Kết luận về tứ tuyệt

Khi viết tứ tuyệt , người ta thấy khó nhất là câu thứ 3 – câu này tạo đà cho câu chót xuất hiện. Câu thứ 3 dường như rẽ bước ngoặt mà không nối tiếp ý của 2 câu đầu,  mạch thơ dường như đứt gãy. Sự đứt gãy này tạo ra câu kết bất ngờ và bừng lên xúc cảm

Nhà thơ nhận thấy viết tứ tuyệt rất khó (ô) nhưng thơ tứ tuyệt vẫn được ưa thích

.

Thơ bài luật       

           Là bài  thơ gồm nhiều bài thơ tứ tuyệt hoặc thất ngôn (thường là tứ tuyệt), số câu kéo dài vô hạn định, còn gọi  là thơ đường luật trường thiên. .

Thơ cổ phong (cổ thể)

Loại này không hạn định về số câu, chữ,  không gò bó niêm luật, gieo vần, do đó có nhiều khả năng biểu  hiện những sắc thái tình cảm phong phú và phản ánh được những  vấn đề xã hội đời sống rộng lớn. Thơ cổ phong thường áp dụng lối tự sự dài, chẳng hạn: Tì bà hành của Bạch Cư Dị gồm 88 câu x 7 tiếng= 616 tiếng.Thể “hành” là  thể thơ tự sự, nhằm kể  lại một câu chuyện, sự kiện hay một số phận nào đó. “Hành” cũng gắn với một lối hát.


3. MỘT SỐ NHÀ THƠ TIÊU BIỂU

LÝ BẠCH   李白  Lǐ Bái    (701 – 763)  đỉnh cao của thơ trữ tình cổ điển

            Lý Bạch lớn lên dưới thời thịnh vượng nhất của nhà Ðường. Cũng như nhiều nhà thơ lớn,  Lý Bạch có chí tiến thủ và bao hoài bão ước mơ. Xã hội lúc này bộc lộ  đầy mâu thuẫn,  nhiều  chính sách bị vi phạm. Sinh hoạt  hủ bại của  bọn quí tộc quan liêu. Sự biến An Lộc Sơn – Sử Tư Minh đã làm  thiệt hại tới 70 %  dân số.

Lý Bạch tự là Thái Bạch, nguyên quán Lũng Tây (nay là tỉnh Cam Túc), sinh ở làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, tỉnh Tứ Xuyên. Người ta dự  đoán ông là  con gia đình  thương nhân nên ít chịu ảnh hưởng chi  phối nặng nề  của tư tưởng  phong kiến chính thống.

            Thời nhỏ, Lý Bạch được học nhiều, tư chất lại thông minh, ngoài ra còn học kiếm . Thanh kiếm là bạn thân suốt đời,  và cũng là vật ký thác lý  tưởng của nhà  thơ họ Lý.  Mười tám tuổi, lên núi Ðới Thiên Sơn đỉnh Nga Mi đọc sách và giao du với một số đạo sĩ (Ðạo giáo). Sự giao du này làm phát triển  tính cách phóng khoáng vốn có, đồng thời gieo vào nhân  sinh quan của  Lý những yếu tố tiêu cực như tư tưởng “xuất thế”. Hai mươi tuổi, Lý đi du lịch khắp đất Thục, rồi từ giã cha mẹ, xách kiếm đi viễn du.

            Mười sáu năm tiếp theo, Lý Bạch đi  du ngoạn nhiều nơi, thưởng lãm phong cảnh và  tìm tiên học đạo, nhưng  chủ yếu nhằm quảng giao tên tuổi,  tìm cơ hội  tham gia chính trị,  lập công danh sự nghiệp. Ông tự cho  mình là kẻ hùng tài, tin  tưởng một ngày kia có thể nhảy lên hàng khanh tướng, đem trí tuệ giúp nhà vua bình thiên hạ, giúp cho bốn bể thanh  bình. Ông thường chơi thân với những người có thanh thế, nói rõ chí nguyện mình mong họ tiến cử. Song ông đã thất vọng. Bọn chúng không thể hiểu hoài bão chính trị của ông mà có  lúc còn mưu  hại ông vì  ghét tính ngang tàng phóng túng của Lý. Và  Lý đã bước đầu hiểu được  bộ mặt thật của giới quan lại đương thời. Ông lại tiếp tục giao du với một số đạo sĩ để nhờ họ tiến thân.  Lúc này, Ðạo giáo rất  thịnh hành, nhiều đạo sĩ và tín đồ được nhà vua tôn trọng. Năm 742, Lý Bạch được đạo sĩ Ngô Quân tiến cử lên vua Ðường Huyền Tôn.

            Ðược triệu về kinh, Lý phấn khởi vì sắp đạt chí nguyện. Lúc đầu, được ưu đãi. Lý  viết một số  bài thơ ca  ngợi cảnh sinh hoạt cung đình. Nhưng Lý không chìm đắm trong xa hoa, nhục dục. Dần dần ông biết rằng nhà  vua dùng ông  để làm một  thi nhân bồi bút mà thôi. Lý Bạch bàng hoàng vỡ mộng. Tâm tình bi phẫn, ông cùng bạn bè uống rượu ngâm  thơ giải sầu. Thơ ông  bắt đầu “ngông” để biểu lộ nỗi bất bình. Chưa được ba năm, ông xin vua ra khỏi triều đình. Sau đó  ông viết được  nhiều bài thơ  có giá trị phê phán mạnh mẽ sự hoang dâm của vua  chúa, sự bất tài và lộng quyền của bọn gian thần ngoại thích.

            Rời Trường An sang Lạc Dương, Lý gặp Ðỗ Phủ, kết bạn, rồi lại cùng nhà thơ Cao Thích đi săn bắn,  ngao du ở vùng Sơn Ðông. Chia tay Ðỗ Phủ về Trường An, Lý Bạch tiếp tục đi du lịch. Tiếng tăm lừng lẫy, đến đâu Lý cũng được người tiếp đón. Tâm tư ông lúc này phức tạp hơn bao giờ hết. Xuất thế hay nhập thế, Ðạo hay Nho ? Xã hội Thịnh Ðường nay chuyển qua suy thoái, nhân dân càng thêm điêu đứng. Những vần thơ Lý nhuộm  màu xuất thế xen lẫn  những bài thơ chan chứa tình đời. Khi  sự biến An –  Sử xảy ra, ông  lại hăm hở, xông vào  môi trường chính trị.

            Khi Huyền Tôn chạy vào đất Thục, Lý  Lân mời Lý Bạch ra giúp, nhưng Lý Hanh  (Ðường Túc Tôn)  vừa lên ngôi thay cha liền giết Lân, còn Lý Bạch bị kết tội mưu phản, nhờ người xin can, ông mới được giảm tội và bị đày đi Quý Châu. Ở đó một năm , Lý  được ân xá. Năm 761, vì nhiệt tình chính trị và khát vọng lập công, ông  xin nhập ngũ, giữa đường bị bệnh phải trở về và năm sau thì mất, để lại gần một ngàn bài thơ  và một số văn xuôi  khác. Câu chuyện Lý Bạch nhảy xuống sông ôm  trăng mà chết  có lẽ chỉ  là một giai thoại của dân chúng ngưõng mộ thương tiếc ông mà thôi .

            Tuyệt đại bộ phận thơ  Lý Bạch là lãng mạn trữ tình. Ðọc thơ ông, ta có thể dựng lại hình ảnh,  tâm tư một trí thức có hoài bão, có tài năng sống giữa  một chế  độ chuyên  chế đang từ ổn định thịnh vượng đến thời suy thoái.

            Ông từng tự hào “Tài tôi có thể giúp nước, cứu đời, khí tiết tôi có thể sánh với Sào Phủ, Hứa Do. Văn tôi có thể biến đổi phong tục, trí tôi có thể hiểu mọi  lẽ của trời đất và con người”. Trong bài “Phú đại bàng”, cảnh đầu và cảnh cuối đã ứng nghiệm ngay vào đời tác giả của nó:

Ðại bàng một lúc lên theo gió

Chín vạn dặm cao vút tận trời

Dẫu khi ngừng gió sa xuống đất

Chân còn lê tới tận biển khơi

(…)

Giữa trời gãy cánh sức kiệt dần

Hơi gió còn chuyển lay vạn thế.

            Người đọc có thể nhận ra  cảm hứng chủ  đạo của mỗi bài trong các đoạn đời khác nhau của nhà thơ.

            Lí Bạch sớm chịu ảnh hưởng tư tưởng Lão Trang nên đã phê phán Nho giáo:

“Ông đồ nước Lỗ học ngũ kinh

Bạc đầu nhai hết từng chương cú

Hỏi ông giúp đời thế nào đây ?”

            Ðúng như một thi  sĩ lãng mạn, ông cũng  mắc phải trạng thái “phân cực”, chạy qua chạy lại giữa hai cực Nho và Ðạo, băn khoăn giữa xuất thế và nhập thế,  giữa tiên và tục, giữa lạc quan và buồn chán (Bài: Trên lầu Tạ thiếu, xứ Tuyên châu, tiễn biệt quan hiệu thư Thúc Vân) :

            Bỏ ta ra đi là ngày hôm qua , không sao giữ lại được

            Làm rối loạn lòng ta là ngày hôm nay , nhiều nỗi lo phiền

            Trận gió dài muôn dặm đưa tiễn chim nhạn mùa thu

            Trước cảnh ấy, ta có thể say sưa trên lầu cao

   Quan hiệu thư Thúc Vân có văn chương sánh bằng văn chương

 của cung Bồng Lai , có cốt cách như thời Kiến An .

  Trong khoảng từ Hán đến Ðường ,Tiểu Tạ lại nổi lên với ý thơ trong sáng .

 Chúng tôi đều có hứng thú phiêu dạt , tứ thơ hùng mạnh bay cao

 muốn lên trời xanh, nắm vầng trăng sáng

Lấy kiếm chém nước , nước lại trôi mạnh

Nâng chén tiêu sầu , lại càng thêm sầu

Người ta ở đời , sống chẳng như ý

thì sớm mai hãy xõa tóc, bơi thuyền đi chơi .

            Sau cùng  ông đã  tìm ra  cách dung  hoà hai lý tưởng trên bằng lối sống độc đáo, gọi là “công thành thân thoái” nghĩa là khi thành công thì trở về ở ẩn.

                                 “Nguyện một phen tôn thờ minh chủ     

                                 khi công thành, quay trở về rừng cũ”

hoặc                          Công thành từ giã đời

         về buông câu từ đấy

             Nhưng bi kịch  của đời  Lý Bạch chính là ở chỗ ông không thực hiện triệt để được lối sống mà ông đã tâm đắc và ký thác trong thơ. Cứ mỗi khi có dịp, ông lại hăm hở nhảy ra tham chính. Lý Bạch là nhà thơ nhạy cảm, sớm nhận ra sự suy  thoái của Nhà Ðường nên  đã viết ra những vần thơ có giá trị hiện thực cao. Trong thơ trữ tình, Lý Bạch chủ yếu bộc lộ trực tiếp và gián tiếp tâm tư của mình:

            + Ðề tài lịch sử là   thơ vịnh sử, hoài cổ như:

                    “Từ phú Khuất Nguyên còn treo cao cùng mặt trời mặt trăng

                    Lâu đài vua Sở đã thành núi gò trơ trụi”

Ðó là nhận thức của nhà thơ về thi nhân, vua chúa  và lịch sử.

            + Ðề tài thiên nhiên miêu tả cảnh đẹp kỳ diệu và phóng túng như “thác nước Lư Sơn”, “Ðường đi Thục khó” với một cánh chim, một bông hoa tuyết, và đặc biệt ánh trăng  đẹp trong sáng như có hồn luôn luôn chia sẻ tâm sự với thi nhân.

            + Thơ ông có hình ảnh  người nông dân và  người lao động, ông miêu tả cảnh sống khổ sở  của nhân dân  do chiến tranh  phi nghĩa nhà Ðường gây ra. Ðây là giá  trị hiện thực của thơ  Lý Bạch. Ông còn phát hiện và khắc hoạ vẻ đẹp lộng lẫy  của người thợ rèn giữa đêm khuya thanh vắng (Thu phố ca). Ông cũng miêu tả vẻ  đẹp cô thôn nữ hái sen trong bài “Khúc hát hái sen” (Thái liên khúc).

            + Ðề tài phản đối chiến tranh phi nghĩa

            + Ðề tài tình bạn thắm thiết, sâu sắc như Hoàng hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng.

            + Hình ảnh người phụ  nữ  được Lý Bạch miêu tả khá nhiều (Xuân tứ, Ô dạ đề,  Ðảo y thiên, Xuân oán, Trường tương tư,  Giang hạ hành … đã ca ngợi cả ngoại hình và phẩm chất của họ )ï.

             Tóm lại nội dung thơ ông rất phong phú, đa dạng. Ðề tài nào cũng có bài xuất sắc. Tuy có yếu  tố tiêu cực nhưng toàn bộ thơ ông hướng về điều thiện, khơi dậy những tình cảm trong sáng, tình yêu cái đẹp và khát vọng chính nghĩa.

            Người ta thường gọi ông là nhà thơ  lãng mạn vì điệu thơ phóng túng không bó buộc. Quả thật,  một ngàn bài thơ mà trong đó chỉ có 70 bài ngũ luật,12 bài thất luật, còn lại là thơ tự do.

            Ông có năng lực hư  cấu mạnh mẽ, táo bạo. Với  Lý Bạch, chân trời nghệ thuật thơ Trung Hoa đã được rộng mở. Thế giới nghệ thuật của ông thật là bao la, rộng rãi với trí tưởng tượng phong phú mạnh mẽ. Ông đã vận dụng sáng tạo những thủ pháp  quen thuộc từ Kinh Thi qua Sở Từ như khoa trương, ẩn dụ, nhân cách hoá… Ðặc biệt ông miêu

tả thiên nhiên  như người bạn tâm tình  dù lặng lẽ vô tư nhưng chứa đựng đầy sức sống. Tâm hồn ông như cuốn sách khổng lồ rộng mở có thể ghi  hết được khung cảnh cao  rộng của cả biển trời, lại có những  nét tinh tế  của một nhành  hoa. Tầm vóc nhân vật trữ tình  của ông  thật khổng  lồ, phảng phất như hình tượng người khổng lồ thời Phục hưng Châu Âu  sau này. Tuy thế thơ ông lại rất bình dị, tự nhiên và đượm chút dân ca.

            Thơ Lý Bạch có  ảnh hưởng lớn  đến  đời sau ở Trung  Quốc (xem ghi chú ở trang cuối sách) và cũng có ảnh hưởng khá sâu đến Việt Nam. Tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” của Ðặng Trần Côn chịu ảnh hưởng rất  gần với “Xuân tứ” của Lý Bạch.

 

k


ÐỖ PHỦ   (712 – 770)  杜甫 Dù Fǔ

đỉnh cao của thơ hiện thực cổ điển Trung quốc

            Ðỗ Phủ, tự là Tử Mỹ, sau còn gọi là Thiếu Lăng, quê tỉnh Hà Nam, ông nội là một  nhà thơ có  tiếng thời Sơ  Ðường (Ðỗ Thẩm Ngôn). Bố ông từng giữ chức  Tư Mã. Hồ  Chủ tịch đã

từng gọi ông là “một người làm thơ nổi tiếng đời nhà Ðường” (Di chúc).

            Sử sách không ghi nhiều về ông, đời sau  chỉ biết cuộc đời nhà thơ lúc còn niên thiếu. Chúng ta có thể hình dung một số nét qua tác phẩm thơ của ông:

            Ðỗ Phủ đã sáng tác từ thời niên thiếu:

Bảy tuổi ý nghĩ đã thấy mạnh

Mở miệng làm thơ vịnh phượng hoàng

Chín tuổi đã viết được đại tự

Văn chương đã thành phong cách riêng.

Ðây là hình ảnh thời trai trẻ nghịch ngợm, hiếu động:

Nhớ năm mười lăm còn thơ ngây

Khoẻ như bê vàng, chạy như bay

Ngoài sân tháng tám táo lê chín

Một ngày ngàn lần trèo lên cây

            Cũng giống như Lý Bạch lúc còn trẻ, Ðỗ Phủ có tính hào phóng, cương trực và sớm có hoài bão lớn “sẵn chí dong buồm vượt biển”.

            Hai mươi tuổi, anh từ giã quê hương  lên đường du lịch. 24 tuổi trở về kinh đô Lạc Dương thi tiến sĩ. Vì trái ý các quan giám khảo nên anh bị đánh rớt. Thi trượt, anh  lại đi săn bắn ở nước Tề, nước Triệu (thuộc vùng Sơn Ðông, Hà Bắc, Hà Nam ngày nay) kéo dài 8, 9 năm. Sau đó lại về cố đô Lạc Dương, gặp và quen Lý Bạch, sống chung ít lâu. Ðôi bạn chia tay,  Ðỗ Phủ về Trường An  thủ đô nhà Ðường.

            Những bài thơ đầu viết về cảnh núi non, chim ưng, ngựa hồ… là những bài “ngôn chí”(tức là những  bài thơ bày  tỏ ý chí, lí tưởng của cuộc đời mình). Ông cũng làm những bài thơ văn tặng những người có thế lực mong họ tiến  cử mình với triều đình, nhưng vô hiệu. Nhân một dịp đại lễ, Ðỗ Phủ  làm ba bài phú dâng lên vua. Vua tán thưởng,  ghi tên ông để về sau bổ nhiệm, nhưng bọn gian thần dấu giếm đi. Ðến năm xảy ra sự  biến An Lộc Sơn (tức là 4 năm sau-755) một đứa con trai của Ðỗ Phủ bị chết vì đói, chúng mới giao cho ông một chức quan nhỏ quản lý  kho vũ khí. Trước đó, gia đình ông sa sút, cực khổ về vật chất và tủi nhục về tinh thần, phải nhờ vả bạn bè và trồng cây thuốc kiếm sống. Càng ngày, ông càng hiểu rõ hiện thực đen tối, càng thông cảm nỗi khổ của nhân dân và biết rõ tội ác của giai cấp  thống trị,  Ðỗ Phủ càng sáng tác nhiều bài thơ nổi tiếng.

            Tiếc thay mảng thơ đề tặng của ông lúc  đầu vừa nêu khát vọng công danh lại vừa khiêm tốn  hạ mình  đến mức  khúm núm cầu cạnh. Tuy vậy thơ Ðỗ đã vẽ ra được cảnh  nghèo khổ cơ cực của  nhà nho nghèo và  sự bất mãn thời cuộc với vẻ bất lực:

” Giữa khoảng trời xanh chim đành rũ cánh

Cá lờ đờ không chỗ giương vây “

Có khi Ðỗ Phủ viết những  bài thơ thảnh thơi hy vọng, chỉ thoáng chút băn khoăn bối rối .

Tuyệt cú

Lưỡng cá hoàng li minh thúy liễu

Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên

Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết

           Môn bạc Ðông Ngô vạn lí thuyềnHai cái oanh vàng kêu liễu biếc

Một đàn cò trắng vút trời xanh

Ngàn năm tuyết núi song in sắc

Muôn dặm thuyền Ngô cửa dập dềnh

Phần lớn là những bài thơ  trực tiếp  lên án  giai cấp thống trị và phản ánh sâu sắc đời sống cực khổ của nhân dân, đặc biệt là những tai hoạ của chiến tranh, cảnh  sống bất công giữa hai giai cấp đối lập. Như các bài  Lệ nhân hành, Binh xa hành, Thạch hào lại  và  Từ kinh đô đến huyện Phụng tiên.

            Cảm hứng chủ đạo của những bài đó là mỉa mai, xót xa, căm giận, u uất nhưng bề ngoài như là ghi chép khách quan .

Từ kinh đô đến  huyện Phụng Tiên  là tác phẩm dự cảm tiên đoán về xã hội. Bài thơ này đánh dấu mốc chuyển biển phong cách nghệ thuật của Đỗ Phủ. Ở đây, cái  Tôi thi sĩ và cái Ta quần chúng xích lại gần nhau :

Khi loạn An Lộc Sơn xảy ra quyết liệt, ông đưa gia đình về quê lánh nạn. Ông bị An Lộc Sơn  bắt, giam lỏng ở Trường An, lại vượt ngục đến với vua Ðường Túc Tôn,   được giữ chức  giám quan. Khi nhà Ðường lấy lại Trường An, ông đưa cả nhà về đó,  tiếp tục làm quan, nhưng bị vu khống và bị giáng chức. Sau 3 năm làm quan, Ðỗ Phủ từ chức.  Ðem gia đình về Cam Túc, sống nghèo  khổ. Lại chuyển đi nữa. Có khi phải  đào  khoai  rừng  sống  qua  ngày. Gia đình lại chuyển về tỉnh  Tứ Xuyên. Mười năm  phiêu bạt cuối cùng đầy cực khổ. Mùa đông năm 770, gia đình đang ở trên một chiếc thuyền nhỏ phiêu bạt trên dòng sông Tương, Ðỗ Phủ qua đời, để lại khoảng 1400 bài thơ. Thời kỳ cuối, thơ ông chủ yếu là thơ trữ tình. Nỗi lòng thương nhớ quê hương da diết,  khi tỉnh khi mơ, lời thơ dạt dào tình cảm. Ước mơ mãnh liệt về một  cuộc sống hoà  bình hạnh phúc khiến thơ ông bớt phần ảm đạm, u tối  (Thu hứng) .

Nghệ thuật thơ Ðỗ Phủ  là đỉnh cao của phương  pháp hiện thực. Lòng yêu nước yêu  dân và  tinh thần  phản kháng  ngun ngút trong thơ. Tuy nhiên  hạn chế  tư tưởng  của Ðỗ  Phủ là lòng trung quân quá nặng, ảnh hưởng phần nào  đến cảm hứng  phê phán của thơ ông.  Nếu xét một số  giai đoạn  thì thơ ông là thơ trữ tình, nếu nhìn toàn bộ thì thơ  hiện thực chiếm phần lớn. Ngôn ngữ thơ Ðỗ Phủ rất điêu luyện, tinh xảo, như ông đã viết :       

                      Làm người tính thích câu văn đẹp 

                     Ðọc chẳng kinh người, chết chửa nguôi.

            Ông được gọi là “thánh thơ” (bậc thánh trong thơ), là “thi sử” (viết sử bằng thơ). Ngay đời nhà Ðường, thơ ông đã được coi là tấm gương sáng, là một ngọn cờ và còn ảnh hưởng mãi đến mai sau. Nguyễn Du sùng bái Đỗ Phủ là “thiên cổ văn chương, thiên cổ sư”.

š


 

BẠCH CƯ DỊ (772-846) VÀ THƠ PHÚNG DỤ TRỮ TÌNH

白局易 [Bái Jū Yì]

 

 Khác với Lí Bạch, Ðỗ Phủ chứng kiến cảnh Thịnh Ðường, cả  đời ông sống gọn  trong giai  đoạn Trung Ðường. Lúc này, chế độ phong kiến trên đà suy thoái, địa phương cát  cứ chống lại  Trung ương và mặc sức bóc lột, khủng bố dân  chúng. Trong triều đình mâu thuẫn gay gắt, bè phái tranh quyền. Cuộc khởi  nghĩa nông dân do Hoàng Sào và Vương Tiên Chi lãnh đạo nổi lên. Về văn học, sau Ðỗ Phủ, tiếp tục nhiều nhà thơ  có xu hướng tiến bộ và hiện thực, đến Bạch Cư  Dị thì  trở thành phong trào Tân nhạc phủ mà ông là ngọn cờ đầu.

            Bạch Cư Dị hiệu  là Lạc Thiên, quê tỉnh Thiểm Tây, sinh trong một gia đình quan lại nhỏ ở tỉnh Hà nam. Từ bé, Bạch Cư Dị phải theo gia đình chạy loạn  về tỉnh Giang Nam. Ông sớm hiểu biết về đời sống  cực khổ của  dân chúng. Cậu bé chăm học, chăm đọc (đến mức tay và cùi tay thành chai, lưỡi mọc mụn nhọt). Do khổ công  học tập  đến năm  802 thi đỗ tiến sĩ. Giai đoạn đầu sáng tác chỉ có bài Trường hận ca là  đặc sắc (nỗi hận tình của Dương  Ngọc Châu  với vua  Hán nhưng ám chỉ  Dương Quí Phi với vua Ðường Minh Hoàng). Ông trải qua các chức vụ huyện úy  trị an và thu thuế, sau đó về triều nhận chức Hàn lâm học sĩ, Tả thập di  gián quan. Ông đề xuất giảm thuế, ngừng bớt chiến tranh xâm lược, giải phóng bớt cung nữ .v.v. Dần dần ông bị triều đình  ghét bỏ. Ông chủ  động xin thôi việc để đi giữ chức quan khác. Ðây là  thời kỳ  sáng tác rực rỡ nhất của ông. Năm 802, mẹ mất, ông nghỉ việc, để tang ba năm và lâm vào trạng thái “bàng hoàng” về  tư  tưởng, chất  tiêu cực tăng lên trong thơ. Mãn tang, ông trở lại Trường An nhận một  chức quan nhỏ.

Do một lần vượt quyền can vua, bị giáng chức làm tư mã ở xứ Giang Châu, nhàn rỗi đến mức”chỉ biết rửa mặt, chải đầu và tắm”,  chẳng có việc gì làm. Thời này, thơ ông nói chung buồn chán, có  hai kiệt tác là Tỳ bà hànhThư gởi Nguyên Chẩn. Ngoài sáng tác, Bạch Cư Dị còn là nhà lý luận văn học đặc sắc với tinh thần cải tạo  văn học, chủ  trương viết bình dị- nâng cao tính nhân dân của thơ, mạnh dạn phê phán tiền bối, đề cao tính hiện thực và chức năng xã hội của văn học. Ông là nhà thơ sáng tác nhiều  nhất thời nhà Ðường, với khoảng ba ngàn  bài.  Tính  chất  thơ  đa  dạng phức tạp. Nếu nói phong cách Lí-Bạch là hào phóng, Ðỗ Phủ trầm uất bi tráng thì rất khó nói gọn một chữ về  phong cách Bạch  Cư Dị. Ông  là một trong các nhà thơ Trung Quốc nổi  tiếng nhất  về mặt  trữ tình và châm biếm, quan sát và tường  thuật sắc sảo. Tạm  chia bốn loại :  thơ phúng dụ, thơ cảm thương, thơ nhàn  thích và thơ tạp  luật (tạp cảm). Có 170 bài phúng dụ có  giá trị hiện thực phê phán cao, đặt ra nhiều vấn đề  xã hội nóng bỏng, tỏ ý  quan tâm thiết tha đặc biệt đến số phận người phụ nữ.

            Bài thơ Lão bán than (Mãi than giả) là bài phúng dụ hay nhất . Bài Lăng viên thiết nói về người cung nữ tóc bạc ở cung Thượng Dương. Còn Tỳ bà hành là bài  thơ cảm thương tiêu  biểu nhất, một trong những bài hay nhất trong văn học cổ điển Trung Quốc. Câu chuyện trong bài thơ thật đơn giản mà cảm  động thấm thía. Giữa cảnh mùa thu buồn man mát,  cuộc chia ly giữa nhà thơ  và bạn bè ngậm ngùi. Có tiếng đàn tỳ bà  văng vẳng bên sông khiến  khách (bạn của nhà thơ) không nỡ đi, chủ (Bạch Cư Dị) không thể quay về,  liền tìm hỏi người gảy đàn.  Ðó  là  một  người  phụ  nữ ngồi chơi đàn một mình trong một con thuyền. Họ xin nàng gảy đàn cho nghe. Bữa tiệc nối tiếp. Gảy đàn xong, nàng kể lại cuộc đời chìm nổi của mình. Xúc động trước tiếng đàn và  cuộc đời cay đắng của cô  gái xưa là kĩ nữ, nhà thơ cũng trút  bầu tâm sự .Cảm  động vì mối quan tâm  của thi nhân, nàng đàn  lần nữa. Tiếng đàn càng réo  rắt xao  động hơn. Chàng tư mã Bạch Cư Dị hứa sẽ làm bài thơ để tặng nàng đàn. Ðó là bài “Tì bà hành” .

            Bài thơ chủ yếu  tả tiếng đàn, cảnh nàng  đàn và thuật vắn tắt cuộc đời kĩ nữ. Tả cảnh chen tả tình,  tự sự và trữ tình, bài thơ có giá trị hiện thực và tinh thần phê phán sâu sắc,  tình nhân đạo thắm thiết với nghệ thuật cao. Ðây thực  là  mẫu mực của thơ tự sự cổ điển. Trong cuộc đờn ca, thính giả và kĩ nữ đồng cảm hoàn toàn. Diễn biến tâm tư theo sát cung đàn, tri  âm và tri kỷ, dấy lên tậm trạng bất bình đau xót, như giải bày tâm sự. Ba lần chơi đàn được miêu tả tuyệt vời linh  động.

Cảm hứng  nổi nên trong  Tỳ Bà Hành là nỗi oán giận tài năng bị vùi dập đố kị. Nguyên tác bài thơ theo thể  hành cổ phong,  gọi là thất ngôn trường thiên, gồm 88 câu x bảy chữ (616 tiếng) Bạch Cư Dị còn ghi thêm bài Tự (Tựa) đề tặng người  kĩ nữ ông  gặp trên bến sông Tầm Dương. Bản dịch Tỳ bà hành ở Việt Nam  của ông Phan Huy Thực rất đặc sắc, là mẫu mực của việc dịch thơ. Bản dịch tiếng Việt  có đủ 616  tiếng theo thể song thất lục bát  dân  tộc (7.7.6.8.), còn gọi là lục bát gián thất.

Cần tìm hiểu thêm về cuộc đời nhà thơ Vương Duy nổi danh “thi Phật”. Thơ ông rất phong phú đặc sắc, giàu chất hội họa và cảm hứng Phật giáo.

4. NHỮNG  LỜI BÌNH THƠ ÐƯỜNG CHỌN LỌC

Kim Thánh Thán nhà phê bình văn học (đời Thanh) nhận xét: “Ôi luật thi đời Ðường chẳng phải chỉ là sự  cấu tạo tốt đẹp của một thời  mà vốn là tuyệt xướng của ngàn bậc thánh”. Theo nhận xét của Trần Trọng San, Kim Thánh Thán phê bình thơ Ðường thiên về tình cảm hơn là lý trí.

Học giả Lâm Ngữ Ðường (Hoa kiều ở Mỹ) phát biểu về nét đặc sắc của thơ Ðường: “Trong thơ Trung Hoa, điểm chúng ta thích nhất là kỹ thuật tinh thần và nguồn cảm hứng của nó” (theo sách Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa).

Nhà nghiên cứu Hữu Ngọc (trong cuốn Thơ  Ðường song ngữ Anh – Việt) đã nói về sức sống  của thơ  Ðường “Thơ  Ðường là những mũi  tên bắn đi, bay vĩnh viễn cùng thời gian đến mai sau”

Dịch giả Phạm Liễu  viết:

“Tôi nghĩ rằng nếu triết gia cho ta biết phương pháp sống thì thi nhân cho ta được say sưa sống. Hơn nữa, trong lúc thiên hạ đua đòi vật chất quá, khoa học hiện đại quá, số người quan tâm đến cổ ngữ rất hiếm, thì thử hỏi mai kia mốt nọ, chúng ta sẽ về đâu  khi chúng ta  cần nghiên cứu văn chương cổ điển Việt Nam ?”

Lê Hữu Kiều trong bài tựa tập  thơ “Tàng thuyết” có nhận xét: “Ðến thơ cận thể nhà Ðường thì đúc kết thể tỷ, thể hứng nằm trong tự sự, mô tả đường nét bề ngoài mà nổi lên cái thần, nói một câu có thể tỏ được trăm ý, xem kỹ lưỡng có thể biết  được muôn cảnh. Nghệ  thuật thơ văn đến  thế thật là thần diệu”.

Nhà thơ Ngô Thì Sỹ (trong Ngô  gia văn phái) nhận xét về thơ  Bạch Cư Dị: “Lời nói không lời nào vụn vặt,  tài khéo thực chẳng đẽo gọt nhưng không lộ, dầu là ngọc chưa  mài mà chẳng hề có dấu  vết (…) chính khí thiêng của ông đã lặng lẽ giúp tôi đến tận ngày nay”.

Tuy Lý Vương trong bài Tựa tập thơ  “Tĩnh phố thi tập” đã viết: ” thi liệu và thi tứ của cổ nhân do hiện tượng động  mà hình thành và phát triển. Thơ do động, động mà thành thơ”.

Thi sĩ Tản Ðà một dịch giả thơ Ðường xuất sắc ở nước  ta đã nói về khổ công dịch thuật Ðường thi:

“Trong khi dịch thơ Ðường, đến chỗ nào khó-mà thường là chỗ hay-phải  dùng sức tưởng tượng. Trong bài Trường hận ca (của Bạch Cư Dị),  đến  một đoạn tả cảnh (sự biến An-Sử), phải giơ chỗ bài văn đó ra, ngồi chong mắt xuống mấy câu ấy mà  nhận cho ra cái quang cảnh An Lộc Sơn  đem quân vào Trường An mà  Ðường Minh Hoàng phải chạy” (An Nam tạp chí).

Trần Trọng Kim, dịch giả thơ Ðường viết:

“Nói về thơ Hán văn thì có thơ Ðường là hơn cả,  tình tứ tao nhã, ý nghĩa sâu xa, có thể nuôi được cái khí hạo nhiên của người ta,  tức là di dưỡng được  cái tinh  thần cao  thượng và  chân chính.  Những bài thơ Ðường tựa như những đồ chơi làm bằng ngọc ngà,  chạm trổ rất tinh xảo, trau dồi bóng bẩy, càng  ngắm  càng  thấy  đẹp,  chơi  bao  lâu cũng không thấy chán… thật là lợi cho  tính tình biết bao (…)  Thơ mà hay là  cốt ở tình và văn. Tình sinh ra văn, văn sinh vì tình. Tình và văn dồi dào cả hai là thơ Thịnh Ðường”.

Thi hào Nguyễn Du đánh giá thơ Ðỗ Phủ là “Thiên cổ văn chương, thiên cổ sư”

Quan huyện Lâm Tri (Truyện Kiều)  khen thơ  của Thuý Kiều :

“Khen rằng – giá đáng Thịnh Ðường

Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân”

Trần Trọng Kim lưu ý: “Biết rõ cái tài khí và thanh điệu của các thi nhân đời Ðường là một điều rất hệ trọng và rất có thú vị”.

Nhà văn, nhà báo, dịch giả Ngô Tất Tố viết:

“Muốn tìm những thơ hoàn  toàn xứng đáng với tiếng mỹ  thuật chỉ có thơ đời Ðường (…) thơ của đời này, về chữ và  câu đã có trật tự, cách điệu và rất tinh vi, chứ không lộn  xộn. Thơ Ðường phần nhiều  hay về khí cốt”.

Doãn Kế Thiện (Khảo lược thơ cổ Trung Quốc) nhận xét:

“Ðến đời Ðường, về phép thanh luật đối ngẫu càng thêm tinh mật… Lời văn giản ước, ngụ ý sâu xa”

Nhà thơ dịch giả Nam Trân nhận định:

“Ðặc sắc nhất của thơ Ðường là nội dung cực kỳ phong phú, phản ánh rộng rãi các mặt sinh hoạt xã  hội (…). Phần đông kẻ sĩ  đời Ðường đều là nhà thơ; ta còn bắt gặp tác phẩm của những  người cùng khổ, những nhà sư, đạo sĩ, kỹ nữ và cả những  nhà lãnh đạo  các phong trào  khởi nghĩa (ví  dụ Hoàng Sào ). Thơ Ðường nhờ đó  trở nên phong phú  chẳng những về nội dung mà cả về kỹ thuật nữa” (Thơ Ðường NXB VH. Hà Nội 1987 tập I).

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh so sánh Lý Bạch và Ðỗ Phủ:

“Thơ Lý Bạch đưa ta vào tiêu dao trên mấy tầng mây, thơ Ðỗ Phủ lại bắt ta đi sâu vào  giữa tình  đời cay  đắng. Văn  thơ Ðỗ  Phủ hình  như chỉ riêng tả những nỗi đau thương.  Ðau thương vì thân thế  mình, vì những biến cố của quốc gia và nhất  là vì những nỗi đau thương  của hạng cùng dân không tên tuổi” [Theo ý chúng tôi, nhận xét của Hoài Thanh  về Ðỗ Phủ thật là thoả đáng song rất giản đơn sơ lược chưa chính xác về thơ Lý Bạch, chưa đánh giá được bi kịch cuộc đời Lý và sự giằng xé trong thơ ông] .

Học giả Nguyễn Hiến Lê so sánh hai  nhà thơ trên: “Lý tả  cái ảo tưởng của chính mình, Ðỗ tả cái chân tướng của xã hội” .

Hồ Sỹ Hiệp nhận xét về tập thơ Thiên gia thi :

“Cảnh bốn mùa gợi chút sầu vương. Dưới  ngòi bút điêu luyện của các nhà thơ Ðường Tống, cảnh đẹp thiên nhiên  hiện lên với nhiều màu  vẻ khác nhau gây cho người đọc xúc cảm mãnh liệt trước cảnh sơn, thuỷ, yên, hoa, tuyết, nguyệt, phong (Tạp chí Tổ Quốc 1976).

Trong chuyên luận “Âm  vang Thơ  Ðường” giáo sư Lương Duy Thứ viết :

“Do truyền thống gắn bó giữa  thi, nhạc và hoạ, một bài thơ  Ðường hay bao giờ cũng gợi lên âm thanh và  đường nét, chính cái đó đã tạo  nên âm vang sâu xa của thơ Ðường” . Theo chúng tôi, có thể hiểu âm vang thơ  Ðường từ mấy đặc điểm sau:

- Trong cách cảm nhận,  thơ Ðường chú ý khám phá sự thống nhất,  sự giao cảm mà trước hết là sự thống nhất giữa con người và thiên nhiên.

- Trong cách cấu tứ, cái “tôi” trữ tình thường hoà lẫn trong thiên nhiên và ngoại cảnh.

-Trong cách biểu hiện, ba yếu tố “thi nhạc hoạ” thường quấn quyện là một.

Giáo sư Nguyễn Khắc Phi (giáo trình Văn học Trung Quốc tập I) nhận xét:

“Thơ Ðường cũng như thơ nói chung, sử dụng rộng rãi phép đảo trang và phép tĩnh lược. Kết cấu,   bố  cục được đặc  biệt chú ý  (khai – thừa  -chuyển – hợp). Dĩ nhiên,  bản thân những đặc điểm về cấu tứ,  kết cấu,  ngữ pháp… nêu trên tự nó không thể tạo ra giá  trị gì cả. Không thể tuyệt đối hoá, cường điệu tính năng  động của những yếu  tố hình thức của thơ  Ðường luật như một số nhà ký hiệu học tư sản đã làm ” .

5. KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ ĐƯỜNG

Mọi sự vật hiện tượng “tồn tại” nghĩa là đều gắn liền với không gian và thời gian.

“Tồn tại“: tồn: còn (thời gian), tại: ở tại (không gian).

 Trước hết nghiên cứu ý niệm “tại”

Từ vấn đề phân loại thơ Ðường …

Trước đây, giới nghiên cứu văn học thường phân loại Thơ Ðường theo mấy cách sau :

Cách 1 – Hai loại :

-         Phái thơ điền viên (cảnh sống trong thời bình)

-         Phái thơ biên tái    (cảnh sống thời chiến tranh).

(Giáo trình VHTQ. GS Nguyễn Khắc Phi. Nxb GD.1987)

Cách 2  –  Ba loại  :

-         Phái thơ điền viên

-         Phái thơ biên tái

-         Phái thơ xã hội

(Thơ Ðường bốn ngữ, ÐHTH. Tp HCM.1990, Trần Trọng San)

Cách 3  – Bốn loại :

-         Phái sơn thủy điền viên

-         Phái biên tái

-         Phái lãng mạn

-         Phái hiện thực

Theo ý chúng tôi, ba cách phân loại trên đều có những bất cập :

            Cách 1 : quá đơn giản, không gợi ý về nội dung

            Cách 2 : loại gọi là  xã hội  lẫn lộn với  biên tái  (cùng mang tính xã hội )

            Cách 3 : thiếu nhất quán về tiêu chí phân loại. “Sơn thủy điền viên” và “biên tái” theo tiêu chí đề tài, còn “lãng mạn” và “hiện thực” lại theo tiêu chí phương pháp sáng tác và khuynh hướng tư tưởng. Cách 3 thực ra đã bao gồm 2 cách  (hai tiêu chí gộp một) .

            Chúng tôi mạnh dạn tìm một lối tiếp cận khác sao cho cùng lúc cảm thụ cả nghệ thuật và nội dung cảm hứng của bài thơ. Theo cách này, chúng ta cần hiểu  rõ  ba  cảm hứng chủ đạo và  không gian nghệ thuật của Ðường thi .

Nếu phân loại dựa theo tiêu chí cảm hứng chủ đạo, có thể chia thơ Ðường thành 3 loại lớn :

-         Cảm hứng Nho giáo

-         Cảm hứng Ðạo giáo

-         Cảm hứng Phật giáo

Theo thi pháp học hiện đại, văn chương bao giờ cũng khởi nguồn từ một quan điểm triết lý nào đó. Quan điểm này tạo ra cảm hứng chủ đạo, chi phối toàn bộ tác phẩm . Thời đại nhà Ðường, có 3 hệ tư tưởng chi phối mọi nhà thơ là Nho, Ðạo Phật (cũng chi phối toàn  bộ đời sống tinh thần, văn hóa và nghệ thuật của người Trung Hoa ) .

            Trong thơ Ðường, số lượng bài thơ nho giáo chiếm lớn nhất. Cảm hứng nho giáo trong thơ rất đa dạng, đó là nỗi ưu thời  mẫn thế, tình bạn, tình yêu, tình gia đình, quê nhà, ý chí tiến thủ, bổn phận, nỗi lo lắng, bất mãn, thái độ chế giễu phê phán .v.v . . . được gọi chung là tư tưởng  nhập thế. Trí thức nho sĩ, nhà thơ đều học đạo Nho  nên họ là những người ưu thời mẫn thế hơn ai hết (Khổng Tử  khuyên nhủ người quân tử : ăn không cầu no, ngủ không kê gối mềm và thấp. Ăn chỉ tạm đủ, nằm gối cao, cứng ắt phải trằn trọc, xoay trở, suy ngẫm. Nếu ăn no ngủ say thì còn nghĩ gì tới thiên hạ nữa !) .

            Số bài thơ theo cảm hứng Ðạo giáo và Phật giáo có ít hơn, nhà thơ chỉ làm khi rơi vào khủng hoảng tư tưởng, bế tắc trên đường đời, sự nghiệp và tìm một  lối thoát cá nhân. Ba nhà thơ được coi là đại biểu cho 3 khuynh hướng đó là : Ðỗ Phủ thánh thi, Lý Bạch tiên thi, Vương Duy phật thi .           

            Mỗi cảm hứng chủ đạo tương ứng với một loại không gian thích hợp (người ta gọi đó là không gian nghệ thuật). Vậy là, chúng ta có thể bắt đầu từ việc quan sát cảnh vật  (không gian)  trong thơ rồi đi ngược lên đến ngọn nguồn tư tưởng tình cảm của nhà thơ.

. . . đến không gian nghệ thuật trong thơ  Ðường 

            Người xưa thường nhận xét về thơ Ðường: “thi trung hữu họa”, cảnh vật thường xuyên có mặt trong thơ. Nhưng chẳng phải tả cảnh chỉ để” làm kiểng” cho có, cảnh vật cần phải nói thay người .Thơ tối kị sự lộ liễu, nhà thơ tỏ ý kín đáo. Ý thơ chìm lẫn trong cảnh vật,  cùng lắm họ mới thốt lên đôi lời  trực tiếp. 

Tương ứng với ba cảm hứng chủ đạo là  ba  loại không gian nghệ thuật:

¨      Không gian nghệ thuật Nho giáo là những cảnh đời thế tục, có bóng dáng con người có ước vọng sống mang tính nhân văn xã hội.Thơ Ðỗ Phủ luôn luôn quan tâm trăn trở về cảnh sống khốn khổ của dân chúng, thơ ông đúng là “sự chảy máu của tâm hồn ” .

¨      Không gian nghệ thuật Ðạo giáo là những cảnh vật  biệt xa khỏi cuộc sống xã hội, phiêu diêu, hướng về thiên nhiên hoang sơ, hy vọng đến được cõi Bồng Lai, chốn Thiên Thai. Nhà thơ trải lòng với thiên nhiên, tìm niềm vui thoát tục.

¨      Không gian nghệ thuật Phật giáo hướng về cảnh chùa miếu u trầm lặng lẽ, cảnh khói nhang, tiếng chuông chùa đạo Phật.

Có những nhà thơ suốt đời chạy đi chạy lại giữa hai cảm hứng nên cuộc đời họ là những bi kịch giày vò, tiêu biểu là Lí Bạch :

Rút kiếm chém nước, nước càng chảy mạnh ,

nâng chén tiêu sầu lại càng sầu thêm .

Sự phân loại cảnh vật có vẻ đơn giản như thế, nhưng trong thơ, cảnh vật còn biến đổi tùy theo cảm xúc. Tạm chia hai loại không gian: không gian thực và không gian ảo  (hoặc hiện thực và tâm tưởng ) .

Thử  đọc và tìm hiểu không gian nghệ thuật bài thơ  Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu:

                           Ai cưỡi hạc vàng đi mất hút                (cảnh ảo) Đạo

                           Trơ lầu Hoàng Hạc chốn này thôi       (cảnh thực) Nho

                           Hạc vàng một đã đi, đi biệt                    (cảnh ảo)

                           Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi         (cảnh thực pha ảo)

                           Sông tạnh Hán Dương, cây sáng ửng   (cảnh thực)

                           Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh ngời             (cảnh thực)

                           Hoàng hôn về đó, quê đâu tá ?             (cảnh ảo)

                           Khói sóng trên sông não dạ người        (cảnh thực pha ảo)

Cảnh vật trong bài thơ trên đổi thay  theo xúc cảm nhà thơ. Từ  hy vọng gặp gỡ hạc vàng truyền thuyết để được theo về cõi Bồng Lai (cảm hứng Ðạo giáo) đến thất vọng , nuối tiếc, ngẩn ngơ  và rồi tâm trí tỉnh lại khi ngắm nhìn cảnh vật tràn đầy sức sống ở xung quanh, rốt cục nhà thơ quay nhìn  hướng quê nhà, vẫn  một nỗi sầu đời (cảm hứng Nho giáo ) .

Trên đây là những nét phác thảo một hướng nghiên cứu Ðường thi. Trong một đề tài nghiên cứu công phu hơn làm một tài liệu tham khảo cho sinh viên, chúng tôi sẽ khảo sát toàn bộ số bài thơ Ðường trong sách Văn phổ thông trung học theo hướng tiếp cận đã trình bày.

6. THỜI GIAN  NGHỆ THUẬT  ÐƯỜNG THI

Thời gian (tồn) cũng được coi là chiều thứ 4 của không gian :

Thôi Hiệu nghĩ “thời gian” như con hạc bay đi không bao giờ trở lại::

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

bạch vân thiên tải không du du

Người Trung Hoa sùng bái quá khứ, coi quá khứ có vẻ đẹp hơn hiện tại và tương lai, bởi nó hiện lên qua màn sương mù huyền ảo.

 Người nhận biết được bước đi của thời gian thì thường lo âu, trăn trở… ý thức thời gian biểu lộ phẩm chất của họ.

THƠ ÐƯỜNG có hai  kiểu thời gian  nghệ thuật: thời gian vũ trụthời gian đời thường, tương ứng với con người vũ trụcon người đời thường .

Ngoài ra, thời gian tâm lý cũng chi phối thời gian nghệ thuật. Bên cạnh đó, quan niệm triết học và tôn giáo về thời gian cũng chi phối Thơ Ðường

Ðạo Phật

Thời gian là sự vận động vô thủy vô chung, tạo ra những vòng luân hồi liên tục không nghỉ. Mỗi chu kì gọi là một “kiếp” gồm 4 giai đoạn sinh lão bệnh tử. Kiếp trước kiếp sau và nhãn tiền (hiện sinh / hiện tồn), quan hệ giữa chúng là “nhân quả”. Thời gian đời người chỉ là một khoảnh khắc trong thời gian chung.

Ðạo Gia

Thời gian là trường cửu, vô thủy vô chung, gắn chặt với không gian. Con người cứ thuận theo dòng sinh hóa mà sống theo lời “dạy bảo” của thiên nhiên. Khát vọng được sống mãi (tồn tại) cùng thời gian và không gian.

Nho Gia

Xuất phát từ nền văn hóa nông nghiệp, Nho gia quan niệm thời gian có sự “tuần hoàn” theo luật âm dương liên tục, vừa biến động (biến) vừa vĩnh hằng (thường). Nho gia chỉ quan tâm đến chính trị, xã hội, sự thành bại được mất của triều đại . Họ cho rằng hiện tại chẳng bao giờ bằng quá khứ, lịch sử đi xuống dốc. Vậy nên cứ theo đời trước.  Nhưng Khổng Tử ngắm dòng sông lại than: “Thệ giá như tư phù, bất xá trú dạ” (cứ chảy mãi vậy thôi, chẳng kể ngày đêm).

Những quan niệm phức tạp, mâu thuẫn nói trên ảnh hưởng đến quan niệm thời gian trong thơ và tùy thuộc thi nhân có cảm hứng loại nào.

Thi thành, thảo thụ giai thiên cổ

(Bài thơ làm xong thì nó cùng với cây cỏ đã thành ngàn năm) Nguyễn Du trong bài       (bài Hán Dương vãn diểu, tập Bắc hành tạp lục)

Con người vũ trụ là con người siêu cá thể. Nó luôn muốn đem cái “tiểu vũ trụ  cô độc” của mình hòa hợp tương thông với đại vũ trụ, đó là cách làm cho giọt nước hòa vào biển cả, nhờ thế khỏi bị “khô” đi .

            Nếu cảm nhận không gian, con người cho mình luôn ở trung tâm thì cảm nhận thời gian con người thấy mình luôn ở  giao điểm của quá khứ và tương lai. Bài thơ Ðăng U châu đài ca của Trần Tử Ngang than nỗi cô độc.

Trần Tử Ngang nhà thơ Sơ Ðường viết :

Tiền bất kiến cổ nhân

Hậu bất kiến lai giả

Niệm thiên địa chi du du

Ðộc thương  nhiên nhi thế hạ

Nỗi cô độc của kẻ sĩ mất tọa độ, thấy mình không được quan hệ gì với không gian và thời gian. Ðó là vũ trụ do Trần thi sĩ tạo ra cho thơ Ðường .

Ta không thể vừa ở chỗ này vừa chỗ khác, không thề là người này và là người khác. Cái duy nhất ấy gọi là định mệnh, số phận. Nó sợ cô đơn nên cố bấu víu vào những quan hệ khác để thoát định mệnh .

Vương Bột khi đến Ðằng vương các đã viết :

Các trung đế tử kim hà tại ? (trong gác, con vua có còn chăng ? )

Lạc Tân Vương đến bờ sông Dịch mà viết :

Thử địa biệt Yên Ðan

tráng sĩ phát xung quan

Tích thời nhân dĩ một

kim nhật thủy do hàn

dịch  nghĩa:

Nơi này khi từ biệt thái tử Ðan nước Yên

tóc tráng sĩ dựng ngược làm nhô mũ

Người xưa đã khuất rồi

nước sông Dịch nay còn giá lạnh

Thôi Hộ ghi trên cánh cửa nhà thiếu nữ thôn Ðào Hoa :

                        Nhân diện bất tri hà xứ khứ

Ðào hoa y cựu tiếu đông phong

Trong thơ Ðường có rất nhiều bài thơ hoài cổ như  Bạch đế hoài cổ, Tây Thi vịnh , Tây Thi thạch,Vịnh hoài cổ tích . . . Anh hùng, tài tử đời xưa mới là đáng ca ngợi và ngưỡng vọng . . . Quê hương, bạn cũ (cố nhân), khóm hoa cũ (khóm cúc hai lần nở dòng lệ cũ – Ðỗ Phủ) mới là đáng nhớ. Ðó là cảm hứng Nho gia bảo thủ. Lý lẽ của họ là : những gì đáng ca tụng đã được kiểm nghiệm rồi. Còn tương lai thì biết thế nào mà nói.  Con người thích cái mới nhưng nó mơ hồ mù mịt  chẳng thể hình dung, cái trong tay thì tầm thường, khi nó mất đi, thành cũ và chừng đó sẽ tiếc nuối. . . Văn chương lãng mạn không thích cái bình thường gần gũi. Ngay Ðỗ Phủ cũng tự hào về thời trẻ : Phủ tôi lúc còn nhỏ / Sớm dự  khoa thi xuân / sách đọc thấu muôn quyển /  hạ bút như có thần . Hoài cổ ấy thực ra là  xót thương cho hiện tại .

Thời gian vũ trụ là quan niệm và cảm hứng của con người vũ trụ .

Họ cũng nghĩ xa đến cả tương lai nhưng không mấy tin tưởng. Nhưng họ phải “lập ngôn”, ấy chính là hi vọng và quyết tâm đặt vào tương lai. Họ cũng tin tưởng ở hậu thế. Họ muốn lưu danh thiên cổ, để lại cái gì cho hậu thế.

Ðỗ Phủ viết về Lí Bạch :

Thiên thu vạn tuế danh

Tịch mịch thân hậu sự

                            (Danh tiếng để lại ngàn vạn năm sau,

chỉ là việc âm thầm sau khi qua đời)   (Mộng Lí Bạch)

Nguyễn Du viết “Bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ hà nhân khốc Tố Như ? ” Ấy là niềm mong mỏi của nhà thơ về mai sau.

Ðó chính là quan niệm thẩm mĩ về cái đẹp của thời gian của thi nhân thời Ðường

Khi cuộc sống thực tại đòi hỏi người ta phải ứng phó ngay như : đói rét, chiến tranh xảy tới, bạn bè chia tay nhau.v. v . . . thì thời gian gấp gáp, hiện thực. Ai còn có thời gian đâu mà chiêm nghiệm sự dài lâu. Ðó là thời gian trực cảm, sinh hoạt, đời thường. Thi nhân nào không nghĩ tới thời gian đời thường là người thỏa mãn hạnh phúc rồi. Phần nhiều nhà thơ Ðường đều có thơ hiện thực nhưng tỷ lệ không cao. Có những nhà thơ như Ðỗ Phủ thường làm thơ về “những điều trông thấy” (thời gian hiện tại, đời thường) vì trái tim nhân thế của ông dào dạt  chảy trong nhịp lo đời thương thân quá đỗi .

Cảm giác thời gian đời thường

(Con người đời thường)

Cảm giác thời gian vũ trụ

(Con người vũ trụ)

thiên về hiện tại

thiên về hành động

sự kiện

rút ngắn hạn hẹp

vội vàng gấp gáp

nhiều tính kí sự

cảm thấy khổ cực, lo âuthiên về quá khứ

thiên về tâm tưởng

kỉ niệm

rộng mở, trường cửu

nhàn nhã, khoan thai

nhiều chất thơ

cảm thấy buồn rầu, trầm tư

Hai hình tượng không gian nghệ thuật  và thời gian nghệ thuật tạo ra hai kiểu nhân vật  đều là thành tựu của thơ cổ điển Trung Hoa, thể hiện rõ nét nhất trong Ðường Thi.

Thơ Ðường là một trong những di sản quý giá của ba thế kỉ thời nhà Ðường còn giữ gìn được, hơn nữa, còn sống cùng thời hiện đại. Các nhà nghiên cứu đã sưu tập được 50.000 bài thơ của 2200 tác giả thời xa xưa ấy (con số tương đối) in thành bộ  Toàn Ðường thi. Ðấy là chưa kể biết bao bài thơ rơi rụng trong dân gian suốt hơn ngàn năm  đằng đẵng

(Thời nhà Ðường, thi nhân viết thơ gởi tặng nhau, viết thơ lên góc bức tranh, viết lên quạt, đề vào khăn tay, viết lên vách tường uán rượu quán trọ, thơ viết lên những danh lam thắng cảnh …)

            Nhà thơ Lý Bạch đã nói về thi hào Khuất Nguyên nước Sở thời Chiến quốc:

 Khuất Bình từ phú huyền nhật nguyệt

Sở Vương đài tạ không sơn khâuThơ Khuất Bình vẫn còn treo cao cùng mặt trời, mặt trăng

Lâu đài vua Sở đã thành núi gò trơ trọi

            (bài Giang thượng ngâm / Ngâm thơ trên sông)

Ðến lượt thơ Lý Bạch và nhiều nhà thơ thời Ðường cũng còn lại mãi mãi với cuộc sống văn hóa của nhân dân Trung Hoa, với nhiều thế hệ người Việt Nam và trở thành di sản chung  của nhân loại.

            LUYỆN TẬP THỰC HÀNH

  1. Trình bày những tính chất của Thơ Ðường.
  2. Phân tích, bình giảng một số bài thơ. Luyện phân tích tác phẩm :

-         nhận dạng (tên thể loại, luật, đối .. )

-         cảm hứng chủ đạo

-         không gian & thời gian nghệ thuật

-         cấu tứ  (ý tưởng chủ đạo)

3. Tập dịch thơ bài “Quân hành” của Lí Bạch :

Lưu mã tân khóa bạch ngọc an

Chiến bãi sa trường nguyệt sắc hàn

Thành đầu thiết cổ vang do chấn

Hạp lý kim đao huyết vị can

4. Thử  dịch lại những bài đã biết nhưng thấy bản dịch chưa sát .

5. Luyện sáng tác : Làm một số bài bát cú và tứ tuyệt :

Thông thường người ta làm thơ Ðường luật khi cảm xúc, cảm hứng về những giá trị truyền thống, hoặc kỷ niệm, ký ức, ấn tượng quá khứ… tương phản với hiện tại.

MỘT SỐ KIỂU RA ÐỀ LÀM THƠ

1. Cho một hoàn cảnh, ví dụ Tào Phi ra đề cho Tào Thực (đề: huynh đệ), cuộc thi vịnh Kiều  của Lê Hoan, Nguyễn Khuyến chủ khảo.

2. Cho một câu đề, một phần câu đề, ví dụ Giáo chủ Hội đoạn trường ra  đề, Ðạm Tiên đưa cho Thúy Kiều (đề tài: Phận hồng nhan)

3. Cho  xướng họa (hai kiểu song hành và đối lập)

     4. Cho vần, ví dụ làm bài thơ vần “oan” .

     5. Và những kiểu khác.

   Thực hành phân tích các bài sau:

17. Đề đô thành nam trang, Thôi Hộ

19. Điểu minh giản, Vương Duy

21. Độ Tang càn, Giả Đảo

24. Giang tuyết, Liễu Tông Nguyên

29. Hoàng hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, Lí Bạch

31. Hồi hương ngẫu thư, Hạ Tri Chương

34. Khuê oán, Vương Xương Linh

42. Lương châu từ, Vương Hàn

54. Phong kiều dạ bạc, Trương Kế

65. Tảo phát Bạch đế thành, Lí Bạch

67. Tặc bình hậu tống nhân Bắc qui, Tư Không Thự

91. Văn Bạch Lạc Thiên tả giáng Giang châu tư mã, Nguyên Chẩn

95. Xuân hiểu, Mạnh Hạo Nhiên

100. Xuân vọng, Đỗ Phủ

k


Đọc thêm

VĂN HỌC TỐNG

Nhà Tống gồm hai giai đoạn. Giai đoạn 1: 960-1127 (Bắc Tống) và giai đoạn 2 là 1271 -1279 (Nam Tống).

Nhìn chung, nhà Tống là đỉnh cao nhất của chế độ phong kiến Trung Hoa. Thủ đô là quận Khai Phong.Năm 931 nhà Tống cho quân xâm lược Việt Nam, bị thất bại nặng, tướng Hầu Nhân Bảo bị giết, nhiều tướng bị bắt sống khiến chúng rút quân. Năm 1075, nhà Tống lại xua quân sang, lần này bị tướng Lí Thường Kiệt đánh đại bại, rút chạy năm 1077. Theo sách của Lí Ðào, nhà Tống đã tiêu tốn cho cuộc xâm lược này 5 triệu lạng vàng, chết 8 vạn quân trong số 10 vạn kéo sang. Hơn nữa, địa vị nhà Tống lung lay, các bộ tộc phương Bắc tràn xuống. Khi lần lượt bị hai bộ tộc Khiết Ðan và Kim (Nữ chân) kéo xuống tấn công, triều đình Bắc Tống bỏ chạy xuống phía Nam sông Trường Giang, từ đây gọi là Nam Tống, tồn tại được 152 năm. Năm 1279 toàn bộ đất đai nhà Tống rơi vào tay đế quốc Mông Nguyên.

            Thơ ca thời Tống vẫn tiếp tục truyền thống Ðường thi. Người ta thường ghép chung hai giai đoạn thơ gọi là thơ Ðường -Tống. Một số nhà thơ tiêu biểu thời Tống là Vương An Thạch, Âu Dương Tu, Lục Du, Văn Thiên Tường, Tô Thức (còn gọi Tô Ðông Pha).

            Thời Tống còn có một  thể loại văn chương mới là Từ vốn nảy sinh từ cổ đại nay đạt tới hình thức hoàn chỉnh..

TỪ  词

            Có thể xuất phát từ Sở từLi tao của Khuất Nguyên thời Chiến quốc, Từ chủ yếu bắt nguồn trong dân gian, phát triển từ thời Vãn Ðường – Ngũ đại thập quốc, nhưng đến thời Tống thì phát triển mạnh nhất và hoàn hảo về hình thức.

 Từ nguyên là những bài hát phổ vào những bài thơ tuyệt cú của văn nhân hoặc bài hát dân gian. Nhạc công ca sĩ cải biên lời gốc tạo ra ngắn dài xen kẽ cho hợp nhạc. Do đó Từ trở nên thể loại “thi ca” độc lập, có âm luật nhất định. Nội dung tư tưởng của Từ là “tạp”, bao gồm cả Nho Phật và Ðạo (đạo Lão). Tên của bài “từ” là tên của một điệu hát (khúc:曲)

            So với thơ, Từ uyển chuyển tự do phóng khoáng cởi mở hơn, thu nạp tất cả mọi cung bậc tình cảm, hiện tượng đời sống. 75 % bài Từ thời Tống là thơ tình yêu. Từ Tống thiên về tình cảm và chuyện đời sinh động, như là sự phản kháng với Đạo học, Lý học nặng về lí trí trong thời kỳ này.

Bài Từ ngắn nhất (ít từ ngữ nhất) của thi sĩ Đới Thúc Luân:

              Cỏ biên tái, cỏ biên tái,

  cỏ biên tái khiến người lính già

Lục Du :

Chưa hết giặc

đã bạc đầu

uổng rỏ dòng châu

Tân Khí Tật :

Biết nhờ ai lấy hộ

vạt xanh khăn đỏ

lau giọt lệ anh hùng

Nữ sĩ Lí Thanh Chiếu, viết theo điệu “Túy hoa âm”:

Khói lạt, mây dày, ngày tẻ ngắt

Hương nguội lò vàng tắt

Tiết đẹp gặp trung dương

gối ngọc màn the

nửa đêm hơi lạnh ngắt

Giậu đông cất chén, bóng chiều khuất

Hương thầm áo thơm ngát

Ai chẳng tái tê lòng

Gió cuốn rèm tây

người sánh với hoa vàng gầy hơn

Văn Thiên Tường viết bài Từ theo điệu “Niệm nô kiều”

Trời biển mông mênh

giận đông quân không giúp anh hùng nổi gió

chim Thục hoa Ngô dưới ánh tà

nỡ nhìn thành hoang vách đổ

mối tình Đồng Tước

giọt lệ người vàng

hờn nọ ai người rửa ?

gươm báu sáng lòe

không trao anh tài uổng lỡ

Ngờ đâu sông biển sống thừa

về nam vạn dặm

gửi mình trên con thuyền nhỏ

trót hẹn đàn âu đành cố giữ

mắt nhìn mây tan sóng vỡ

tướng Thục quay cờ.

 (Tìm đọc Tống Từ, Nguyễn Xuân Tảo dịch, Chế Lan Viên viết Tựa, Nxb Văn học 1999)                                  

            Tô Ðông Pha là nhà thơ, nhà từ và văn xuôi nổi tiếng nhất thời Tống. Thơ từ Tô Thức phóng khoáng tài hoa, vừa hiện thực vừa trữ tình “như suối nguồn thác lũ” mà ông tự nhận xét. Về thơ cổ điển, ông được xếp sau Lí – Ðỗ- Bạch và Ðào Tiềm. Cuộc đời Tô Ðông Pha cũng gian nan như Bạch Cư Dị,  Ðỗ Phủ, L‎í Bạch và Ðào Tiềm.

           “Hoa hải đường” (Hải đường hoa)

Phe phẩy màu xuân ngọn gió đông

Bên thềm sương ngát ánh trăng lồng

Canh khuya những sợ rồi hoa ngủ

Khêu ngọn đèn cao ngắm vẻ hồng

          “Ðêm xuân” (Xuân tiêu)

Ðêm xuân một khắc đáng ngàn vàng

Bóng nguyệt êm đềm hoa thoảng hương

Trên gác đàn ca nghe văng vẳng

Sân đu lặng lẽ suốt canh trường

         “Sau cơn mưa tạnh, uống rượu trên hồ” (Ẩm hồ thượng sơ tình hậu vũ) :

Dưới nắng long lanh màu nước biếc

trong mây phảng phất vẻ non tươi

Tây Hồ khá sánh cùng Tây Tử

Lộng lẫy đơn sơ thảy tuyệt vời .

(Chú thích: Tây Tử là nàng Tây Thi thời Chiến Quốc) .

         “Tây Hồ sau cơn mưa” (Tây Hồ hậu vũ):

                        Mây đen trút mực chưa nhòa núi

                        Mưa trắng reo châu nhảy rộn thuyền

                        Trận gió bỗng đâu lôi cuốn sạch

                        Dưới lầu nước gợn sóng thanh thiên .

            Tô Thức là người mở rộng thể loại Từ, lấy thơ làm Từ, như các bài :

Thủy điệu ca đầu, Minh nguyệt kĩ thời hữu nổi tiếng, lại còn Niệm nô kiều, Ðại giang đông khứ làm khi bị biếm đi Hàng Châu.  Ông còn viết những bài ký, tùy bút đáng chú ý như Siêu nhiên ký, Phóng hạc đình kí, Thạch chung sơn vị, Hí vũ đình ký được coi là bài văn cổ điển mẫu mực của Trung Hoa. Ông viết toàn diện cả thơ – từ – văn xuôi .

            Bên cạnh thơ và từ, Tô Thức còn viết “phú”, nổi tiếng hai bài “Tiền Xích bích phú” và “Hậu Xích bích phú” . [Ở Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Công Trứ  trải cuộc đời gian nan gần như Tô Thức, là kẻ đồng điệu ông đã sử dụng hai bài phú của Tô Thức để sáng tác hai bài ca trù : Vịnh "Tiền Xích bích" và  Vịnh "Hậu Xích bích" . Tìm đọc “Thơ và từ” của  Tô Thức ]

Thủy điệu ca đầu

[Tô Thức]

水 调 歌 头  shuǐ diào gē tóu    

明 月 几 时 有 ?

把 酒 问 青 天 。

不 知 天 上 宫 阙,

 今 夕 是 何 年。

 我 欲 乘 风归去 。

又 恐 琼 楼 玉 宇。

高 处 不 睽 寒 起 舞 弄  清 影,

何 仳 在 人 间 。

转 未 阁 低 下 绮 后,

照 无 眼不 应 有 恨 ,

何 事 向 别 时 圆 ?

人 有 悲欢 离 合 ,

月 有 晴 圆缺,  此 事 古 难 全

 但 愿 人 长 久, 千 里 共 婵 娟 míng yuè jǐ shí yǒu?

bǎ jiǔ  wèn qīng tiān 

bù zhī tiān shàng gōng què,

jīn  xì shì  hé  nián 

wǒ yù chéng fēng guī qù 

yòu  kǒng  qióng  lóu  yù  yǔ 。

gāo chù bù kuí hán, qǐwǔ nòng qīng yǐng,

hé pǐzài rénjiān 

zhuǎn wèi gé dī xià qǐhòu,

zhào wú yǎn bù yīng yǒu  hèn  

hé shì xiàng bié shí yuán ?

Rén yǒu bēihuān líhé 

yuè yǒu qíng quē yuán, cǐ shì gǔ nán quán 

dàn yuàn rén cháng jiǔ,qiān lǐgòng chán juān

O

Trăng có tự bao thuở

nâng chén hỏi trời cao ?

Đêm nay nơi thiên cung nguyệt điện

chẳng biết thuộc năm nào ?

Ta muốn bay về theo gió

chỉ sợ lầu quỳnh gác ngọc

cao thẳm rét nhường bao .

Múa nhảy mừng vui bóng nguyệt

cõi trần gian thích thú hơn nhiều !

Qua gác tía nhòm cửa gấm

soi canh sầu rọi người không oán giận

Tại sao cứ tròn khi li biệt ?

Người có vui, buồn, tan, hợp

Trăng khi sáng tròn khi  khuyết

việc này xưa nay khó bề trọn vẹn.

Chỉ ước người sống mãi

nghìn dặm cùng chung vẻ đẹp trăng.Minh nguyệt kỷ thời hữu  ?

bả tửu vấn thanh thiên

bất tri thiên thượng cung khuyết

kim tịch thị hà niên ?

Ngã dục thừa phong qui khứ.

hựu khủng quỳnh lâu ngọc vũ

cao xứ bất khuê hàn,

khởi vũ lộng thanh ảnh

hà tỷ tại nhân gian !

Chuyển vị gác đê hạ khỉ hậu.

chiếu vô nhãn bất ưng hữu hận

Hà sự hướng biệt thì nguyên.

Nhân hữu bi hoan li hợp.

Nguyệt hữu tình viên khuyết

thử sự cổ nan toàn.

Đãn nguyện nhân trường cửu

Thiên lí cộng thiền quyên.

Lời bàn: sự tương đối của thú vui, như trăng khi tròn khi khuyết…Cõi thần tiên dẫu sao chẳng bì được cõi trần.

DANH MỤC  70  ĐIỆU TỪ TỐNG

  1. Bát thanh cam châu
  2. Bồ tát man
  3. Bốc toán tử
  4. Cán khê sa
  5. Dạ bán lạc
  6. Đạp sa hành
  7. Đảo luyện tử
  8. Điệp luyến hoa
  9. Định phong ba
  10. Điểm giáng thần
  11. Động tiên ca
  12. Giá cô thiên
  13. Giang thành tử
  14. Giảm tự mộc lan hoa
  15. Hạ tân lang
  16. Hán cung xuân
  17. Hảo sự cận
  18. Khuynh bôi
  19. Lâm giang tiên
  20. Ly đình yến
  21. Mãn đình phương
  22. Mãn giang hồng
  23. Mộ ngư nhi
  24. Mộc lan hoa
  25. Nam ca tử
  26. Nam hương tử
  27. Nâm phố
  28. Ngu mỹ nhân
  29. Nguyễn lang qui
  30. Ngư gia ngạo
  31. Ngự nhai hành
  32. Nhất tiễn mai
  33. Như mộng lệnh
  34. Niệm nô kiều
  35. Oanh đề tự
  1. Phá trận tử
  2. Phượng hoàng đại thương ức xúy tiêu
  3. Quế chi hương
  4. Sinh ca tử
  5. Song đầu tiên
  6. Sơn đình yến
  7. Tâm viên xuân
  8. Tây giang nguyệt
  9. Thạch châu mạn
  10. Thái tang tử
  11. Thanh bình điệu
  12. Thanh ngọc án
  13. Thanh thanh mạn
  14. Thích thị
  15. Thiên tiên tử
  16. Thiếu niên du
  17. Thoa đầu phượng
  18. Thu ba mị
  19. Thủy điệu ca đầu
  20. Thủy long ngâm
  21. Thươc kiều tiên
  22. Thương ngô dao
  23. Tiền điệu
  24. Tô mạc già
  25. Tố trung tình
  26. Trường tương tư
  27. Túy hoa âm
  28. Tửu tuyền tử
  29. Vĩnh ngộ lạc
  30. Vọng hải triều
  31. Vũ lăng xuân
  32. Vũ lâm linh
  33. Xú nô nhi
  34. Xú nô nhi cận
  35. Ức tần nga


Đọc thêm             Hai nhà tạp kịch thời Nguyên

Suốt từ 1271-1368, Trung quốc lần đầu tiên bị ngoaị tộc thống trị: bộ tộc Mông Cổ. Một thế kỉ khổ đau vì áp bức bóc lột. Giới trí thức người Hán mất địa vị xã hội. Thơ văn sầu muộn còn vì nỗi khổ phân biệt chủng tộc, đẳng cấp. Một số thơ văn yêu nước, ca tụng anh hùng dân tộc, nhớ thương quá khứ độc lập tự do, hoài cổ

            Người Mông chấp nhận Hán hóa rất chậm chạp, tiếp tục tôn sùng Khổng Mạnh, chiêu hiền đãi sĩ, mở lại khoa cử, mua chuộc nho sĩ. Thơ văn  quí tộc trở nên vụn vặt, nịnh hót, màu mè. Ðến cuối Nguyên  mới có văn thơ hiện thực. Hai thể loại tiêu biểu là “tản khúc” và “tạp kịch” (杂剧) gọi chung là “khúc”. Tạp kịch là loại ca kịch viết bằng tản khúc. “Tản khúc” là một thể thơ mới, gần với dân ca nhưng đặt lời tự do. Tạp kịch (thường gọi Hí kịch) còn gồm cả nhảy múa, hóa trang. Tạp kịch phục vụ nhu cầu đô thị phồn vinh như Hàng Châu, Bắc Kinh. .Tuy nhiên các nhà soạn kịch lại bị coi rẻ vì xuất thân trí thức nghèo. Người Mông thích múa hát nên khuyến khích, coi trọng diễn viên ca sĩ hơn người Hán.

Hai nhà soạn kịch tiêu biểu

Quan Hán Khanh  关汉卿 [Guān Hàn Qīng]

và Vương Thực Phủ 王实甫  [Wáng Shí Fǔ].

            Quan Hán Khanh (1220 – cuối tk.13) vừa sáng tác tạp kịch vừa làm diễn viên, ông soạn 36 vở, nay chỉ còn 12 vở. Ðược truyền tụng nhất là Cứu phong trần, Bái nguyệt đình, Ðơn đao hội. Nổi tiếng nhất là “Ðậu Nga oan” . Nhà thơ Quan Hán Khanh đựơc UNESCO phong tặng danh hiệu “Danh nhân văn hóa thế giới”.

Ông viết bài thơ tự đánh giá mình: Bất phục lão (Ông già bất khuất), ông tự coi mình là chàng công tử bột tầm thường, say mê tửu sắc, thô tục. Sống giữa ca lâu tửu quán, có tài “bẻ liễu hái hoa” nhưng nguyện đem tài mình soạn kịch phục vụ những nghệ nhân diễn kịch bị xã hội coi là thấp hèn. Ông tự bằng lòng với đời mình, thích ca tụng cảnh sống ngắm trăng đẹp uống rượu ngon thưởng hoa thơm, đánh cờ, săn bắn, diễn kịch ngâm thơ ca vũ gảy đàn, dù chết không hề thay đổi .

Vở kịch Ðậu Nga oan 窦娥冤 [Dòu È Yuān] phê phán chế độ xã hội bất công tàn bạo, khiến con người chịu oan  khuất. Vở kịch còn có tên khác là “Tuyết giữa ngày hè”. Dựa vào câu chuyện trong sách “Liệt nữ truyện”  của Lưu Hướng đời Hán nhung đưa vào nội dung hiện thực đời Nguyên, không đề cao nhân vật nho giáo như Lưu Hướng. (Nàng Ðậu Nga góa chồng khi còn trẻ, ở vậy thờ mẹ chồng là bà Thái. Bà sống bằng nghề cho vay lãi. Một hôm đi đòi nợ một ông lang, y không có tiền trả bèn lập mưu lừa bà ra đồng định thắt cổ bà cho chết. Vừa lúc, bố con Trương Lư đi qua, lão lang bỏ chạy. Bà Thái kể lại cho bố con Trương nghe. Bố con y tâm địa lưu manh, đòi bà Thái đền ơn. Chúng đòi bà Thái cưới lão Trương và gả cô con dâu cho con trai Trương. Ðậu Nga không bằng lòng, chúng tìm kế ép. Khi bà Thái nằm bệnh, Ðậu Nga nấu cháo cho mẹ, Trương Lư con bỏ thuốc độc vào cháo  hòng giết bà Thái để nàng bơ vơ phải theo hắn. Không ngờ bà thái lại mời lão Trương ăn trước. Lão Trương lăn quay ra chết, Trương con uy hiếp Ðậu Nga dọa đưa lên quan. Nàng không chịu. Ra tòa, quan hành hạ nàng. Nàng nhận bừa để mẹ chồng khỏi bị đòn man rợ. Ra pháp trường, nàng xin một cái chiếu  sạch đứng lên, treo một dải lụa trắng lên cột cờ bên cạnh và nói lời nguyền rằng : nếu nàng chết oan thì máu nàng phun lên daỉ lụa chớ không rơi xuống đất, tuyết rơi xuống che phủ thân mình nàng, trời đất sẽ làm đại hạn ba năm liền ở đất Sở Châu để  trừng phạt bọn quan chức. Kết quả đúng như nàng nguyền rủa .

Ðoạn kết: cha nàng mất tích từ khi nàng còn nhỏ, nay được làm quan, về xử lại vụ án. Đoạn này chỉ là biện pháp an ủi khán giả nhưng bị trật ra ngoài mạch của vở kịch. Nhà thơ buộc phải thêm đoạn này để tránh bị triều Nguyên kết tội oán trách chế độ.

            Vương Thực Phủ  nhà thơ soạn kịch lãng mạn. Vở tạp kịch ”Tây sương kí” là nổi tiếng nhất. Dựa theo truyện ngắn “Oanh Oanh truyện” (hoặc Hội chân kí) của nhà thơ Nguyên Chẩn (Nguyên Vi Chi) thời nhà Đường kể lại chuyện tình có thực của mình với cảm xúc hối hận. Vương Thực Phủ  cho kết thúc vở kịch với cuộc đoàn tụ  Trương Quân Thụy và Thôi Oanh Oanh để chống lễ giáo phong kiến, cổ vũ  tự do yêu đương với niềm tin tưởng mãnh liệt.

            Tóm tắt truyện ngắn Oanh Oanh truyện 鶯鶯傳 (còn gọi Hội chân kí) của nhà thơ Nguyên Chẩn đời Ðường (tự truyện :

Chàng nho sinh Trương Quân Thụy sang đất Bồ chơi, vãng cảnh chùa Phổ Cứu, gặp Thôi Oanh Oanh ở đây. Thôi phu nhân, mẹ nàng cùng gia nhân đưa thi hài quan Thôi tướng quốc mới mất về quê nhưng tạm lánh nơi đây chờ quê nhà yên loạn. Say mê nàng Oanh, Trương xin ở trọ chùa Phổ Cứu. Chàng ngâm thơ  tỏ tình, nàng họa lại .

            Trương ốm tương tư. Cô đầy tớ của Oanh là Hồng nương sang thăm. Trương viết thư nhờ Hồng đưa cho tiểu thư. Nhận thư, nàng mắc cỡ với cô hầu nên la mắng Hồng, làm bộ không nhận thư. Trương bệnh nặng hơn. Oanh gởi cho chàng bài thơ ngầm hẹn tối sẽ sang. Ðêm ấy, nàng sang phòng chàng, họ chung chăn gối.Từ đó, thỉnh thoảng họ lại hẹn hò qua lại.

            Tướng cướp Tôn Phi Hổ đem quân vây hãm chùa, đòi cưới nàng Oanh. Thôi phu nhân tuyên bố ai giải vây chùa sẽ gả Oanh cho. Trương viết thư nhờ bạn là tướng quân Ðỗ Xác đóng gần đó đem lính tới giải vây. Thoát nạn, bà Thôi nuốt lời hứa, chỉ cho hai người kết anh em, với lí do trước đây Thôi tướng quốc đã hứa gả cho Trịnh Hằng cháu bà. Thụy và Oanh đều  đau khổ .

            Thôi phu nhân biết thì đã muộn, hai người thú nhận tất cả. Bà bắt chàng cam kết khi về kinh thi đỗ mới cho kết hôn. Hai người chia tay nhau  chàng tặng chiếc nhẫn.

            Sau khi về kinh thi rớt, chàng tìm thú vui tình duyên mới mà lãng quên Oanh Oanh. Ở quê nhà, Oanh mỏi mòn trông ngóng, rồi nản lòng, thất vọng, hối hận. Mẹ nàng ép lấy Trịnh Hằng. Nàng chấp nhận quên mối tình xưa. Cả hai tình nhân đều bẽ bàng ân hận .

            Vương Thực Phủ soạn vở tạp kịch Tây sương kí (西廂記: Truyện ở phòng phía tây) dựa theo Oanh oanh truyện nhưng sửa đổi đoạn kết như sau :

            Khi Trương Quân Thụy đỗ trạng nguyên, còn phải vâng mệnh triều đình lưu lại kinh đô làm quan thì ở quê Trịnh Hằng phao tin Trương đã lấy vợ ở kinh.Thôi phu nhân tin thật liền cho Trịnh cưới nàng. Ngày đám cưới, chàng Trương tìm về, lại nhờ tướng Ðỗ Xác can thiệp, đe dọa và xỉ mắng Trịnh Hằng cướp vợ người. Y nhục nhã đập đầu vào cây chết. Tướng họ Ðỗ làm chủ hôn cho hai người.

            Tuy là vai phụ, nhân vật Hồng nương được miêu tả như một nhân vật chính rất đáng ca ngợi, người tạo dựng hạnh phúc cho họ, dũng cảm khôn ngoan và đầy lòng tự trọng của một người bình dân cao thượng và nhân đạo .

                        Tư tưởng Nguyên Chẩn và Vương Thực Phủ đối lập hoàn toàn.

]

CHƯƠNG III                TIỂU THUYẾT CỔ ĐIỂN TRUNG QUỐC

(tiểu thuyết thời Minh -Thanh)

            Nói về những thành tựu nổi bật của  văn học cổ điển Trung Quốc người ta thường kể : Tản văn trước Tần, Thơ Ðường, Từ Tống, Kịch Nguyên, và tiểu thuyết Minh Thanh.

            Minh Thanh  là thời  kỳ hoàng  kim của  tiểu thuyết Trung Quốc. Với các bộ sách Tam quốc, Thuỷ hử, Đông Chu liệt quốc, Tây du ký, Phong thần diễn nghĩa, Liêu trai chí dị, Chuyện làng nho, Hồng lâu mộng …, tiểu  thuyết chương hồi Trung Hoa đã  đạt đến  trình độ  hoàn chỉnh. Bởi vậy,  tiểu thuyết thời Minh Thanh được gọi là tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa.

1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ XÃ HỘI

            Sau gần một thế kỷ chịu sự đô hộ của người Mông Cổ, đến năm 1368, cuộc khởi nghĩa của  Chu Nguyên Chương đã lật  đổ vương triều Nguyên-Mông, lập nên nhà Minh.

            Nhà Minh (1368-1644) là triều đại phong kiến Hán tộc cuối cùng của Trung Hoa. Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương là vị anh hùng xuất thân bình dân dấy binh khởi nghĩa dựng nên nghiệp  lớn như Hán Cao tổ Lưu Bang ngày xưa. Ban đầu,  họ Chu thi hành  một số chính sách phát triển thuỷ lợi, hạn chế bọn cường hào, khôi phục công thương và thủ công nghiệp. Kinh tế – xã hội dần dần ổn định và có hướng phát triển phồn  vinh. Nhưng càng về  sau, giai cấp thống trị ngày càng hủ bại, ăn chơi xa xỉ, hoang dâm vô độ, đã mờ nhạt hình bóng người anh hùng họ Chu áo vải  cờ đào. Chúng củng cố quyền lực bằng cách chặt bớt  thủ hạ thay bằng con  cháu họ hàng. Ðối nội thì tăng cường áp bức bóc lột  dân chúng, đối ngoại thì tăng cường bành  trướng lãnh  thổ đối  với Mông  Cổ và các nước ở vùng biển Indonesia. (Năm 1407, Minh Thành tổ sai tướng Trương Phụ dẫn tám mươi vạn quân sang  xâm chiếm nước  ta, đổi tên An  Nam thành Giao Chỉ hòng sáp nhập nước ta vào Trung Quốc. Sau hai mươi năm chịu ách thống trị tàn khốc của chúng, năm 1427 nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi đã giành lại độc lập)

            Xã hội  Trung Quốc  ngày càng  rối loạn,  nhiều cuộc bạo động nông dân và tranh chấp  bè đảng liên  tiếp nổ ra.  Cuối cùng cuộc khởi nghĩa nông dân do Lý Tư Thành  và Trương Hán Trung lãnh đạo đã lật đổ nhà Minh. Vua Sùng Trinh, ông vua Hán  cuối cùng phải thắt cổ tự tử.

            Nhưng khi Lý Tư Thành chưa kịp  củng cố chính  quyền thì viên đại thần nhà Minh là Ngô Tam Quế đã  rước quân Mãn Thanh vào cửa ải. Chúng đánh chiếm Bắc Kinh,  đánh rộng ra toàn quốc và lập nên nhà Thanh.

            Nhà Thanh (1644 – 1911) là triều đại ngoại tộc  thứ hai, sau nhà Nguyên (Mông Cổ) đã thống trị  Trung Quốc. Mãn Thanh cũng như Mông Cổ, là một nước nhỏ và lạc  hậu so với Trung Quốc. Nhà Thanh phải áp dụng  chính sách  trấn áp  nô dịch  khắc nghiệt tàn bạo để cai trị một đất nước rộng lớn ,  người đông có nền văn hoá phát triển cao. Họ bắt  người  Trung  Hoa theo phong tục Mãn Thanh. Tám mươi năm đầu, đất nước Trung Quốc ngập trong máu và nước mắt dưới chính sách cai trị  bằng lưỡi gươm và tệ  phân biệt chủng tộc.

            Nhưng dần dần  giai cấp thống trị Mãn Thanh lại chịu Hán hoá,  tức là họ học tập các nền chính trị, văn hoá Trung Hoa để cải cách kinh tế xã hội. Càn Long (Kiền Long) là  thời kỳ phồn vinh nhất của đế chế Mãn Thanh. Chính sách bành trướng lại được tăng cường. Năm 1788 tướng Tôn Sĩ Nghị đưa quân sang  xâm chiếm Việt Nam nhưng bị thất bại thảm hại.

            Việc bành  trướng lãnh  thổ càng  làm cho mâu thuẫn giai cấp và dân tộc vốn có trở nên sâu sắc  và phức tạp. Mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa từ đời Minh nay càng phát triển, đối  lập gay gắt với nền chuyên chế phản động đã bước vào buổi xế chiều.

            Nhà Thanh trị vì được 267 năm, đến cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 mới bị lật đổ. Nhưng ngay từ năm 1840 – năm xảy ra Chiến tranh Thuốc  phiện, các đế quốc phương  Tây đã nhảy vào xâu xé Trung Quốc. Sau khi nhà Thanh sụp đổ thì Trung Quốc trở thành xã hội nửa phong kiến nửa thuộc địa .

            Ðó là chế độ chính trị chuyên chế  lỗi thời và phản động. Mâu thuẫn xã hội ngày càng phức tạp và  sâu sắc, người nông dân chịu đựng đủ các kiểu bóc lột   của chính quyền các cấp,  của tư bản thương nghiệp thâm nhập  nông thôn và  lãnh đủ tai  hoạ chiến tranh bành trướng. Ðến đời nhà Thanh, mâu thuẫn dân tộc lại nổi lên giữa người  Hán yêu  nước và  kẻ ngoại  bang Mãn Thanh. Giai cấp thống trị áp dụng một chính sách văn hoá tàn bạo. Họ ra sức đề cao “lý học” tức là  Tống Nho – đạo  Khổng được cải  biên, giải thích lại nhằm phục vụ  cho chế độ phong kiến  tập quyền. Ðề cao tư tưởng mệnh trời, khuyên nhủ an phận thủ thường, với các luân lý “tam cương, ngũ  thường”. Chế  độ giáo  dục thi cử xoay quanh các bộ sách Tứ thư và Ngũ kinh nhằm hạn chế tự do tư tưởng. Cách đào tạo nhân  tài như  vậy chỉ  sản sinh  ra những  con “mọt sách” (như trong tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng, Giả  Bảo Ngọc đã  chế diễu cách học hành và thi cử thời đó).  Ngoài ra, họ còn khuyến khích trí thức khảo  cứu sách cổ để quên  đi thời cuộc trước mắt. Chúng áp dụng chính sách kiểm duyệt và khủng bố văn nghệ sĩ trí thức.

2. TÌNH HÌNH VĂN HỌC

            Ta có thể gọi chung là giai đoạn  văn học Minh-Thanh vì cơ sở kinh tế, chính trị xã hội văn hoá hai triều này căn bản giống nhau. Giai đoạn văn  học này chỉ tính  đến 1840 khi Chiến tranh Thuốc phiện  nổ ra  (không tính  đến 1911 khi ông vua cuối cùng nhà Thanh là Phổ  Nghi bị  lật đổ). Bởi vì sau chiến tranh thuốc phiện, xã hội Trung Quốc đã thay đổi về bản chất. Văn học cũng bắt đầu chuyển sang thời kỳ cận – hiện đại.

            Văn học Minh -Thanh là giai đoạn cuối cùng của văn học cổ điển Trung Quốc, có nội dung phong phú nhất và là giai đoạn đánh dấu sự chuyển mình sang thời hiện đại.

            Ðây là lúc văn học dân chủ và tiến bộ trỗi dậy mạnh mẽ, phản ánh những yêu cầu và khát vọng của nhân dân, đặc biệt tầng lớp thị dân. Văn học chính thống  suy tàn theo cùng chế  độ phong kiến.

            Văn học chính thống là thơ từ, tản văn (văn xuôi) chỉ nhằm ca ngợi công đức các bậc đế vương, ca tụng cảnh sống thanh bình yên ả của thời đại. Nghệ thuật bắt  chước người xưa theo lối phục cổ. Số nhà văn “chính thống” này  khá đông, sáng tác nhiều vô kể  nhưng chẳng có mấy ý nghĩa. Tuy nhiên khi nhà Thanh mới lên, họ cũng sáng tác một số thơ văn yêu nước.

            Hai thể loại mới là hí  khúc và tiểu thuyết  phát triển mạnh mẽ đáp ứng nhu cầu  tinh thần  của nhân dân, đặc biệt thị dân đông đảo. Hí khúc là ca vũ  kịch dân tộc  còn gọi là  truyền kỳ, nội dung có nhiều màn, nhiều lớp, nhiều nhân  vật. Hí khúc có ít nhiều giá trị hiện thực, có  tính phúng  dụ và  dân chủ song không phát triển được vì tác giả chủ yếu là  giới văn nhân quí tộc. Dần dần hí kịch dân gian ở các địa phương như Kinh  kịch, Côn kịch, Việt kịch nổi lên thay thế.

      Tiểu thuyết chương hồi gồm nhiều đề tài phong phú nhưng chất lượng rất khác nhau.

Tiểu thuyết lịch sử (giảng sử) hoặc tiểu thuyết anh hùng

Tiểu thuyết hiệp nghĩa (hiệp khách, kiếm khách, võ hiệp) còn gọi truyện anh hùng giai nhân

Tiểu thuyết thế tình (xã hội) còn gọi truyện tài tử giai nhân

Tiểu thuyết tiên quái thần quỷ.

Tiểu thuyết phúng thích…

Tất cả gần 200 bộ…trong đó nổi bật nhất là 8 bộ tiểu thuyết.

Ðáng kể nhất là tiểu thuyết chương hồi, tuy không được coi là chính thống nhưng đạt được thành tựu tiêu biểu cho cả giai đoạn này. Các nhà nho thường chỉ coi trọng thơ và tản văn, họ cho tiểu thuyết là thứ văn thô kệch của kẻ  tiểu nhân.Tiểu thuyết dù không được giai cấp thống trị coi trọng nhưng đáp ứng nhu cầu nhân dân, đã có hàng vạn tác phẩm lớn nhỏ, trong đó Tam quốc diễn nghĩa,Thuỷ hử truyện, Kim Bình Mai, Đông Chu liệt quốc,Tây du ký, Hồng lâu mộng, Liêu Trai chí dị, Chuyện làng nho (Nho lâm ngoại sử) được nhân dân ưa chuộng và giới trí thức dánh giá cao. Thật ra tiểu thuyết Trung Quốc đã trải qua hàng chục thế kỷ phôi thai và hình thành dần mới đạt tới trình độ cổ điển như vậy.

  1. MỘT SỐ ÐẶC ÐIỂM CỦA TIỂU THUYẾT MINH THANH

            Tiểu thuyết Minh Thanh là dạng trung gian giữa truyện kể sử thi và tiểu thuyết (hiện đại). Ta thử so  sánh với tiểu  thuyết hiện đại :

            Kết cấu: Theo trình tự  tự nhiên (trình tự  thời gian), cái gì xảy ra trước kể trước,  xảy ra sau kể sau. Không đảo ngược thứ tự như tiểu thuyết hiện  đại dựa theo  diễn biễn  tâm lý nhân vật.

            Tính cách nhân vật : Ðược thể hiện dần  dần qua ngôn ngữ và hành động, không cần sự thuyết minh phân tích của nhà văn (như hiện đại).

            Thủ pháp ước lệ và công thức: được dùng trong miêu tả, lý giải- đó là thủ pháp miêu tả điển hình của văn cổ – trung đại.

            Thực ra, tiểu thuyết Minh và Thanh có khác nhau chút ít.

             Tiểu thuyết Minh phần lớn là sáng tác dân gian được nhà văn bác học viết lại có căn  cứ theo sử sách.

            Tiểu thuyết Thanh phần  lớn là sáng  tác cá nhân, không chịu ràng buộc bởi sử  sách, gần với tiểu thuyết hiện đại hơn. Tiểu thuyết Thanh có bước tiến rõ rệt về nghệ thuật.

            Ta có thể gọi tiểu thuyết Minh là tiểu thuyết anh hùng, còn tiểu thuyết Thanh là tiểu  thuyết sinh hoạt (tâm lý xã hội). Tác phẩm Tây du ký của  Ngô Thừa Ân  như là cái bản lề trung  gian giữa hai loại tiểu thuyết Minh và Thanh.

  1. MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

TAM QUỐC DIỄN NGHĨA 三国演义  (Sān guó yǎn yì)

Tác giả La Quán Trung 罗贯中 (Luō Guán Zhōng)

            Ðây là bộ tiểu thuyết “giảng sử”, xuất hiện vào đầu nhà Minh của nhà văn La Quán Trung (1330-1400) quê thành phố Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây. Ông là nghệ sĩ đa tài, thông thạo văn chương và hý khúc, nổi bật nhất là viết tiểu thuyết. Cuộc đời ông bôn tẩu giang hồ, thường bất đắc chí trong sự nghiệp phò vua giúp nước…Khi nhà Minh đập tan nhà nước Nguyên Mông, thống nhất đất nước, ông chuyên viết lại dã sử. Bên cạnh Tam quốc diễn nghĩa, có thuyết cho rằng ông còn viết một bản “Thủy hử truyện” hoặc “Tục Thủy hử”.

Tác giả đã dựa vào những  nguồn gốc, tài liệu sau để viết Tam quốc diễn nghĩa::

            – “Tam quốc  chí” của  nhà sử học  Trần Thọ đời Tấn

            – “Tam quốc chí  chú”  của  Bùi  Tùng Chi thời Nam bắc triều.

            –  “Tam  quốc chí  bình  thoại” đời Nguyên.

            –  Truyền thuyết, ngoại sử và dã sử do tác giả sưu tầm.

            Với tài năng sáng  tạo, La Quán Trung đã viết thành bộ truyện dài đầu tiên của văn học Trung Quốc. Ðến nay, do tình trạng tam sao thất bản nên có nhiều bản Tam quốc khác nhau. Nhưng bản lưu hành rộng rãi nhất cho đến ngày nay gồm 120 hồi do hai cha con nhà phê bình văn học đời Thanh  là Mao Luân và Mao Tôn Cương sửa chữa và chỉnh lý.

            “Tam quốc diễn nghĩa” tái hiện một  thế kỉ loạn lạc điên đảo do tham vọng tranh giành quyền lực và lãnh thổ của các đế vương Trung Hoa gây ra. Tiểu thuyết này tuy  có hư cấu  song căn bản  phù hợp với lịch sử. Ðó là bộ mặt  thời Tam quốc (220 – 280) cũng là  bộ mặt quen thuộc của xã hội phong kiến Trung Hoa  ở mọi thời : phân rồi hợp, hợp rồi phân,  đó  là tình trạng lặp  đi lặp lại hầu  như đã thành qui luật. Tham vọng  bành trướng  thế lực và lãnh thổ của vương hầu, khanh tướng khiến đất nước  điêu linh, nhân dân khốn khổ. Nhà thơ Vương Xán cùng thời Tào Tháo đã viết câu thơ “ra ngõ toàn xương trắng. phủ kín cả bình nguyên”. Chính Tào Tháo  cũng làm thơ thương nỗi khổ dân chúng điêu linh (đọc thêm trang sau). Cả ba tập đoàn Ngụy, Thục, Ngô đều muốn thống nhất quốc gia dưới quyền cai trị riêng của mình.

            Mặc dù viết truyện lịch sử, tác giả cũng không miêu tả một cách khách quan mà vẫn bộc lộ thái độ tình cảm của mình. Ông đã vạch trần tội ác của giai cấp thống trị đối với nhân dân và ngay cả với nội bộ  của chúng.  Ðổng Trác  tàn ác giết dân lành, Lã Bố hai lần giết bố nuôi. Hai anh em Gia Cát Lượng và Gia Cát Cẩn coi nhau như kẻ thù. Ðặc biệt, Tào Tháo không từ một thủ đoạn nào cốt đạt được mục đích. Dưới ngòi bút sinh động của tác giả, các nhân vật hiện lên để chứng minh một qui luật đáng sợ của chế độ phong kiến Trung Hoa: cá lớn nuốt cá bé, người ăn thịt người. Nhà văn đã vượt qua tư tưởng chính thống của mình, để miêu tả đúng qui luật cuộc sống, ông xứng đáng là nhà văn hiện thực vĩ đại.

Sơ lược 4 giai đoạn của Tam quốc diễn nghĩa

(Loạn thái giám. Diệt Đổng Trác. Hình thành ba phái. Phân rồi hợp).

Nhân vật Tào Tháo (Cáo Cāo) là hình tượng nhân vật được xây dựng thành công nhất trong bộ tiểu thuyết. Tào Tháo quả là người có bản lĩnh khi  ông ta yêu cầu một mưu sĩ đánh giá về mình. Quản Lộ đã nói thẳng:” Ông là năng thần thời trị, gian hùng thời loạn”.

Ðó là một nhận xét sắc sảo về bản tính Tào Tháo. Thực tế, Tào Tháo chính là con đẻ của thời loạn Tam quốc, tiêu biểu  cho hàng ngàn Tào Tháo có thực của lịch sử “đại loạn” Trung Hoa. Tào Tháo đã trở thành một điển hình xuất sắc của giai cấp phong kiến Trung Hoa.

            Tác giả cho Tào Tháo xuất hiện như sự kế thừa tên thừa tướng Ðổng Trác vốn nổi bật ngay từ  đầu tác  phẩm. Khi  Táo Tháo  chưa lập được công trạng gì thì Ðổng Trác đã làm mưa làm gió ở kinh thành Lạc Dương. Ðổng Trác là tên đồ tể tham lam,  độc ác nên không tránh khỏi số phận bị phanh thây đốt  xác ngoài chợ. Tào Tháo thay thế y, không kém phần tàn bạo nhưng lại khôn ngoan xảo quyệt sống đời đế vương và chết với mồ yên mả đẹp.

            Nhà văn đã bằng những sự  việc cụ thể sinh động  trong cuộc sống, dần dần vẽ lên bộ  mặt trọn vẹn của nhân vật.  Từ hồi nhỏ, Tháo đã dối chú, lừa cha đến nỗi thiên hạ đặt cho cái tên là Tào A Man (thằng bé họ Tào gian  dối). Lớn lên trong cuộc loạn lạc, cái nết trí trá trẻ ranh đã phát triển thành cái nham hiểm, xảo quyệt. Tháo từng nói “ta thà  phụ người chứ quyết không  để người phụ ta”. Câu nói nổi tiếng đó phát ra  sau khi y nhẫn tâm giết oan cả nhà ân nhân Lã Bá Sa  (Hồi 4) chỉ vì lòng dạ  đa nghi và sự tính toán tàn bạo – phải triệt  tận gốc  mầm trả thù. Cách sống cực đoan đó sẽ chi phối suốt cuộc đời  Tháo. Nào là mượn đầu quản kho Vương Hậu để an lòng quân sĩ , cốt giữ được quân đội khỏi tan rã. Tháo cố giết Dương Tu mà  tha giết  Nễ Hành  mặc dù  Nễ Hành  đã từng cởi truồng chửi mắng Tháo trước mặt  ba quân. Còn Dương Tu là một kẻ có tài, hiểu ý đồ Tháo  nhưng không hề  có va chạm  gì với y. Y nói :”người chửi ta, ai cũng biết cả,  tha chết Nễ Hành, ta được mọi người cho là độ lượng. Nhưng  người hiểu ý nghĩ  của ta (Dương  Tu) mà không giết thì nguy. Bởi khi có  người biết ý  mình thì không còn đánh lừa ai được nữa ” (Hồi 13).  Hồi 48 mở tiệc đãi quân trước khi tiến đánh Tôn Ngô, Tháo đọc thơ có câu ”Quạ đêm trăng bay về nam đậu/ lượn ba vòng biết đậu cành nao ?”.Thứ sử Lưu Phúc nói “giữa lúc hai bên đang đánh nhau, tướng sĩ đang cố sức, sao thừa tướng lại nói gở vậy ?”. Tháo quát “mày sao dám bắt bẻ tao?” rồi phóng ngọn giáo đâm chết Phúc…Sáng sau hối hận “ta đêm qua say rượu lỡ giết mất cha ngươi, giờ hối lại không kịp nữa rồi.. Vậy dùng lễ tam công làm ma cho cha ngươi“, sau Tháo còn đối đãi tốt với con cháu của Lưu Phúc …

            Ngòi bút của La Quán Trung miêu tả Tháo vừa khiển trách vừa diễu cợt, vạch ra ba tính chất điển  hình của Tháo là: ða nghi, nham hiểm và tàn bạo. Tuy vậy tác giả không hề đơn giản hoá, miêu tả một chiều nhân vật này. Lúc nào tác giả cũng miêu tả Tháo là con người thông minh, có chí và ngoan cường. Hồi 21  tả sự kiện y bày đặt ra cuộc  “Uống  rượu bàn  luận anh hùng” để dò xét ý đồ Lưu Bị, nói lên  đầy đủ tầm mắt nhìn xa trông rộng cũng như bản lĩnh cao cường của Tháo vượt hẳn Lưu Bị. Những chuyện “Ðánh Trương Tú gợi  rừng mơ”,  “cắt tóc thay đầu” (hồi 17)  thể hiện khả  năng nhanh trí  tháo vát của Tháo. Tào Tháo có nhược điểm  kiêu ngạo nhưng ông ta vẫn nổi bật giữa bọn lãnh chúa quân phiệt .

            Luôn luôn bị thôi thúc bởi khát vọng thống nhất toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc, giành lấy uy quyền tuyệt đối về tay mình, Tào Tháo đã bôn ba không mệt mỏi và nghĩ mọi cách để đạt được mục đích. Bắt sống Lã Bố ở Hạ Bì, phá tan Viên Thiệu ở Quan Ðộ, đánh đuổi Lưu Bị ở Lũng Hữu, tiễu trừ Ô Hoài ở Bạch Ðằng… Ðó là những chiến công lừng lẫy của Tào Tháo được lịch sử ghi nhận. Nhà văn vốn là nhà nho chủ trương “ủng Lưu  phản Tào”  cũng không thể không thừa nhận tài năng và công lao Tào Tháo.

            Tào Tháo có tài năng, có chí khí, bản lĩnh nhưng tàn bạo quyết đạt mục đích bằng mọi giá. Tào Tháo vừa thông minh vừa đa nghi, có trí tuệ và nham hiểm, ngoan cường và tàn bạo. Lẽ nào đúng như  thành ngữ dân gian “bất độc bất anh hùng” (?!)

            Tào Tháo có cách ứng xử cẩn thận, chu đáo, trọng kẻ tài năng quí người nghĩa khí . Nhiều khi Tào vượt qua cái tự ái của tiểu nhân để làm ngưòi quân tử, hơn nữa được nhiều người  khâm phục là bậc đại anh hùng.

            Cái chất anh hùng và chất gian  giảo kết  hợp làm một. Tào Tháo là một điển hình lãnh chúa gian hùng.

            Nhưng Tào Tháo cũng được ghi nhận là một nhà thơ độc đáo của dòng thơ Kiến An, với 20 bài thơ còn lại, trong đó bài “Cảo lí hành” (Bài hành điệu cảo: Bài hành trong cỏ) với 4 câu thơ nổi tiếng:

            “Áo giáp sinh chấy rận

             thương vong cả muôn nhà

             Khắp đồng phơi xương trắng

             Vạn dặm không tiếng gà”

Trong cốt cách lãnh chúa-thi nhân, Tào đã từng xót xa trước cảnh đất nước loạn lạc triền miên khi nhà Hán suy vi.

             Nhân vật Tào Tháo của tiểu thuyết khác với Tào Tháo của lịch sử. Với tư cách là một điển hình văn học, nhân vật Tào Tháo đã được coi là  đại biểu của bọn phong  kiến thống trị nham hiểm và tàn bạo. (Với quan điểm “ủng hộ Pháp gia”, mấy chục năm qua, có những người đã bênh vực, thanh minh cho Tào Tháo, kể cả Tần Thuỷ Hoàng, Võ Tắc Thiên, hoặc viết kịch, làm phim để chứng minh Tháo là người “nhân hậu, vì dân”, để uốn nắn cách hiểu “sai lệch” và “thành kiến” của quần chúng. Dù sao, chuyện Tam quốc vẫn in sâu trong  tâm trí nhân  dân, nhân vật Tào Tháo vẫn khó tránh khỏi bị nguyền rủa. Bao đời nay, nhân dân Trung Quốc và Việt  Nam vẫn hiểu nhân vật  tiểu  thuyết Tào Tháo là một kẻ gian hùng và thường nói “đa nghi Tào Tháo” ,”nham hiểm như Tào Tháo”, “cái cười Tào Tháo”,  “Tào Tháo đuổi” v.v… Các bộ phim truyện lịch sử “Tam quốc diễn nghĩa”, “Tào Tháo”, “Tào Tháo và Sái Văn cơ” mới sản xuất cho thấy một khuynh hướng cố gắng đi tìm sự thật khách quan hơn về Tào Tháo).

Nhân vật Lưu Bị (Liu Bèi)     

Lưu Bị là nhân vật đối lập với Tào Tháo cũng như nhà Lưu Thục đối lập với tập đoàn Tào Ngụy. Còn  Ðông Ngô chỉ là lực  lượng trung gian, là đối tượng dao động trước sự  co kéo tranh thủ của cả hai phía.

            Lưu Bị là nhân vật lý tưởng của  La Quán Trung. Dưới mắt tác giả, tập đoàn  Lưu Thục  là chính  nghĩa, bởi nhà  văn thấm nhuần tư tưởng Hán chính  thống. Lưu Bị  thuộc dòng dõi  nhà Hán, không tỏ ra có tham vọng  chiếm ngôi  nhà Hán. Lưu Bị  và tập đoàn của ông tương đối gần gũi nhân dân, có đường lối chính sách phù hợp với nguyện vọng của nhân dân hơn. Dã sử và truyện  dân gian dành nhiều cảm tình cho phe Lưu Bị

Tác giả  La  Quán Trung cũng chịu ảnh hưởng tư tưởng dân gian nên cảm tình và quan điểm của La Quán Trung phù hợp nguyện vọng của quần chúng về một  ông vua  tốt, thực hiện “nhân chính” (chính sách vì con người).  La Quán Trung sáng  tác Tam  Quốc diễn nghĩa trong hoàn cảnh đất nước vừa thoát khỏi cảnh khốn khổ điêu linh dưới ách cai trị  của Mông Cổ, nổi lên một phong trào phê phán bạo chúa nhằm xây dựng một minh quân đáp ứng thời đại nhà Minh. Cảm hứng chung của thời đại chắc chắn ảnh hưởng chi phối ngòi bút của La Quán Trung. Bên cạnh đó, tác phẩm còn có tinh thần yêu  nước và ý thức dân tộc. Lưu Bị đã trở thành hình tượng của một minh chúa lý tưởng. Những nhân vật anh hùng có tính  lý tưởng của nhân dân đều thuộc về phía Lưu Thục.  Và Tào Tháo phải chịu trở thành mặt tương phản cho nhân vật lí tưởng họ Lưu .

Lưu Bị, người đứng đầu tập đoàn Thục Hán tiêu biểu của chữ “nhân”. Lưu Bị được ưu thế “nhân hoà”, Tào Tháo được “thiên thời” còn Tôn Quyền chỉ nhờ vào “địa  lợi”. Nhân vật Lưu Bị  được mô tả như một minh chúa, lấy dân làm gốc, lấy tình nghĩa làm trọng, bôn ba bốn biển, thu phục hiền tài, long đong vì sự nghiệp khôi phục nhà Hán. Những sự việc như “kết  nghĩa vườn đào” (hồi 1), ba lần đến lều tranh mời Khổng Minh ra giúp nước  (Lưu Bị tam cố thảo lưu – hồi 26, 27, 28 ), không nỡ bỏ dân lành khi bị Tào Tháo đuổi, đóng quân ở Tân Dã mới vài tháng đã được dân chúng làm ca dao ca tụng (hồi 35) đều nói lên lòng nhân từ, thương dân, vì dân của  ông. Lưu  Bị như  là con  người đối  lập với Tào Tháo. Ông như tấm gương trong suốt làm nổi  bật lòng dạ phản trắc ,tâm địa xấu xa của kẻ  gian hùng. Nếu Tào  Tháo nói “Ta  thà phụ người chứ quyết không để người phụ ta”  thì Lưu Bị nói ngược lại “Ta thà chết chứ không làm điều  phụ nghĩa”. Bắt mẹ  để dụ con, Tào Tháo đã không mua chuộc được Từ Thứ. Ngược lại, tạo điều kiện cho Từ Thứ về với mẹ, Lưu Bị lại được Từ Thứ tiến cử Khổng Minh. Hành động tương phản này là sự chiến thắng của nhân nghĩa đối với bạo tàn. Lưu Bị  so sánh  mình với  Tào Tháo  như sau “Tháo nóng vội, ta thong thả. Tháo dùng bạo lực, ta  dùng nhân nghĩa. Tháo dùng âm mưu quỉ kế, ta lấy lòng thành đối đãi”. Chung qui đó là đường lối chính trị lấy chữ “nhân” làm gốc, gọi là “nhân chính”.

            Nhưng một ông  vua “nhân chính” như Lưu Bị có thực trong xã hội phong kiến không ?  Ngòi bút nhà văn đã vẽ vời, tô điểm, muốn tả  Lưu Bị  là người  nhân đức  mà nhiều khi tỏ  ra giả dối, gượng gạo. Lưu Bị nhiều lúc nhu nhược, thiếu quyết đoán. Nhân vật Lưu Bị tỏ ra nóng vội dốc toàn lực đánh Tôn Quyền nhằm trả thù cho Quan Công để trọn nghĩa vườn đào. Ðó là  hành động mù quáng, không  xứng đáng  với trách  nhiệm người  đứng đầu Thục Hán – niềm hy vọng của quần chúng nhân dân.

Khổng Minh – một nhân  vật lý  tưởng khác  được coi  là hình  tượng bổ sung vào sự khiếm khuyết của hình tượng Lưu Bị, đó là một đạo sĩ trí tuệ tuyệt vời, lòng trung thành vô hạn,  với ý chí sắt đá quyết  tâm xây  dựng cơ  đồ nhà  Thục. Khổng Minh biết được số trời, biết vận nhà Hán sắp mất  mà vẫn tận tụy phò Lưu dù chết không thay lòng đổi dạ. Khổng Minh đem lại vinh quang cho nhà Thục, khẳng định tính chất chính  nghĩa của tập  đoàn Lưu Bị. Nếu  hình tượng Lưu Bị được  chiếu  sáng bởi chữ  “nhân” thì hình tượng Khổng Minh  lại rạng  rỡ  bởi chữ  “trí”. Nhân  vật  này là điển hình của trí tuệ quần chúng mặc dù là nhân vật có thật.

            Là người học vấn uyên bác, nhìn xa trông rộng, công lao lớn nhất của Khổng  Minh  là  định ra sách  lược “hoà Ngô kháng Nguỵ” đúng đắn cho phía Lưu Bị, và do kiên trì thực hiện đường lối đó nên đã duy trì được cơ nghiệp  nhà Thục trên ba mươi  năm. Ông có khả năng dự đoán tình thế,  biết địch biết ta, nhiều mưu mẹo, linh hoạt trong chiến thuật để đạt được chiến thuật đã vạch sẵn. Cuộc đấu tranh khi căng thẳng, lúc  ôn hoà của ba tập  đoàn phong kiến là cuộc đấu tranh quân sự và chính trị, Khổng Minh là nhân vật trung tâm của cuộc đấu tranh đó.

            Trong cuộc đấu trí giữa ba tập đoàn, Khổng Minh hầu như chưa lần nào thua thiệt. Trên vũ đài chính trị, Tào Tháo chỉ sợ có một Khổng Minh. Có thể thấy  rằng hình tượng Khổng Minh  là thể hiện ước vọng của quần chúng về một trí tuệ hơn   người, một mưu sĩ trác việt. Những mưu mẹo  kế hoạch của Khổng Minh  có dáng vẻ truyền thuyết dân gian, nghe  rất hồn nhiên và bất  ngờ như câu đố mẹo. Nhà văn đã miêu tả sinh động phẩm chất  bác học của Khổng Minh qua các đoạn  “thiệt chiến  quần  nho” (Trận đánh bằng lưỡi, hùng biện tranh luận với những nho sĩ quan chức xứ Giang Ðông -hồi  43 ), Du thuyết Tôn Quyền (hồi 42)… Ông là  mẫu lý tưởng hiền sĩ, là nhân vật siêu phàm và lãng mạn theo cái nhìn của quần chúng .

            Sự nghiệp của Lưu Bị sẽ không thành nếu thiếu Khổng Minh nhưng cũng sẽ không thành nếu không có Quan Võ, Trương Phi, Triệu Vân, Mã Siêu dũng cảm…

Quan Vũ là người đứng đầu “ngũ hổ tướng”. Nhân vật này xuất hiện  từ khi kết  nghĩa vườn đào, nguyện cùng sống chết với Lưu Bị, Trương Phi. Trong suốt cuộc đời tranh đấu vì sự nghiệp nhà  Hán, ông luôn  luôn là người anh hùng xuất chúng. Quan Vũ ba mươi năm xông pha trận mạc, văn võ song toàn, rồi cuối cùng vì ngạo mạn chủ quan đành bỏ mạng lúc 58 tuổi.  Khí phách anh hùng và lòng  trung trinh vô hạn của ông trải qua những hoàn cảnh thử thách gay go. Cái chết  của ông  đối lập  với cái chết hèn hạ của Lã Bố. Khi Quan Công chết rồi, Tào Tháo mới nhẹ nhõm thốt lên “từ nay ta ngả  lưng mới dính chiếu” (ngủ yên). Nét nổi bật  của  Quan Công là  tinh thần  nghĩa khí. Ðọc Tam quốc, người ta thường nhắc nhở “tam tuyệt”: Tào Tháo tuyệt gian, Khổng Minh tuyệt trí, Quan Công tuyệt nghĩa. Suốt đời, Quan Công đặt  chữ “nghĩa” trên  đầu, coi đó là  phẩm chất hàng đầu của  con  người. Nghĩa  ở  đây bao gồm trung nghĩa  (trung thành với lí tưởng chính  trị) và tín nghĩa (giữ niềm tin trong quan hệ xã  hội). Ðó  là trung  thành mãi  mãi với nhà Thục Hán và giữ trọn tình anh em kết nghĩa vườn đào. Nhà văn đã  dày công xây dựng tính cách đó trong suốt các hồi 25, 26 và 27. “Thân  tại Tào doanh, tâm  tại Hán”, Quan Công  sống theo đạo quân tử, “trung thần không thờ hai  chúa”. Nhưng mối  quan hệ Quan Công – Lưu Bị thực ra không phải là vua – tôi mà là anh- em. Quan Công đã đặt tín nghĩa ở trên trung nghĩa. Nếu không có tình anh em kết nghĩa, có thể Quan Công đã đi theo Tào Tháo (Sau này, trong nhiều cuộc khởi  nghĩa nông dân, quần chúng  đã dùng hình thức kết nghĩa  vườn  đào  để  tập  hợp lực lượng. Nhà Thanh cũng lợi dụng hình  ảnh  Quan  Công  mà  phong tặng ông là “Trung nghĩa thần vũ đại đế” và khuyến khích dựng đền Quan Thánh ở khắp  nơi).

              Trương Phi có tín nghĩa rõ ràng, bạn-thù rành mạch, trái với tính mơ hồ lẫn lộn trong chữ “nghĩa” của Quan Công. Ðó là con  người bộc trực, ngay thẳng, trước sau như một, ít chịu ràng buộc của lễ giáo, không cần day dứt nghĩ trước nghĩ sau. Trương Phi rất nóng nảy nhưng lại biết phục thiện. “Nóng như Trương Phi”  là nóng lòng  xoá sạch bất công, mong tìm kiếm lẽ phải và hành động chứ không phải kẻ thô bạo nóng nảy tầm thường. Ðặc biệt, Phi là một chân dung đẹp về tinh thần thượng võ. Nhược điểm của Phi là có lúc tỏ ra cậy sức, “hữu dũng vô  mưu”. Trương Phi là một nhân vật sinh động độc đáo trong Tam quốc.

Năm anh em Lưu Bị và nhiều người khác đều là những nhân vật sống sôi nổi, lập nhiều công  tích trong thời Tam quốc  đầy biến động. Hình ảnh của họ hiện lên rạng  rỡ trong tâm trí người đọc đủ mọi tầng lớp xã hội. Người đọc tìm  thấy trong tài năng, đức độ và hành động anh  hùng của họ một niềm an ủi cổ vũ cho cuộc đời gian nan của mình .

            Nghệ thuật kết cấu: Tam quốc diễn nghĩa là câu chuyện dài trăm năm, có hàng ngàn sự việc, hàng trăm trận đánh và hơn 400 nhân vật. Tác phẩm có dung lượng thật đồ sộ. Tài năng của nhà văn trước hết  thể hiện ở nghệ thuật kết cấu. Ðó là một kết cấu hùng vĩ, mạch lạc rõ ràng. Người xem không bị rối loạn bởi nhiều sự  kiện và hàng loạt nhân  vật. Tính mạch lạc này là  do khuynh  hướng tình  cảm của  nhà văn tạo nên. Ông đã sắp xếp nhân vật thành các trận tuyến khác nhau,  cho đan chéo vào nhau theo logic của đời sống và tình cảm của mình đặt vào nhà Thục Hán.

            Nghệ thuật miêu tả chiến tranh cũng  là một tài năng tuyệt vời của La Quán Trung. Chẳng hạn, trận Xích bích, Thục-Ngô phá Tào Ngụy (từ hồi 43 đến  49) là một chiến  dịch tổng hợp, thuỷ chiến và hoả công, đấu tranh ngoại giao, chiến tranh gián điệp, chiến tranh tâm lí… Trong trận Xích bích giữa hai phe Tôn Ngô và Tào Nguỵ,  lại có trận Xích bích giữa Gia Cát Lượng và Chu Du. Giữa Xích bích gươm giáo lại có một  Xích bích trăng thơ. Nhà văn miêu tả quá trình hình  thành trận đánh  dài 6 hồi  liền mà không nói gì về trận đánh. Chuẩn bị thì lâu  dài, tốn công phu nhưng khi trận đánh bùng nổ thì kết thúc  ngay. Nhà văn thiên Tài La Quan Trung rất am hiểu binh pháp, lại có công phu nghiên cứu tận tường địa hình, địa vật, thời tiết, con người .v. v…nên ông giúp người đọc như sống lại với thời kì lịch sử xa xưa.

Nghệ thuật xây dựng nhân vật của La Quán Trung có một số đặc điểm ảnh hưởng lớn đến đời sau. Ðó là nắm chắc đặc tính cơ bản của nhân vật, dùng nhiều cách để tô đậm nó, gieo ấn tượng. Qua so sánh với nhân vật khác, tính cách nhân vật dần dần hiện lên. Ðấy là thi pháp tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc: ít miêu tả ngoại hình và diễn biến nội tâm, chỉ chú ý miêu tả ngôn ngữ hành động và sự nghiệp để dựng nên tính  cách nhân vật. Tuy  vậy, nhiều chi tiết phong phú đa dạng vẫn làm hiện lên được đời sống nội tâm của nhân vật.

            Lời văn Tam quốc dễ đọc, dễ hiểu nên được phổ biến rộng rãi, trở thành bộ tiểu thuyết  đầu tiên cho thể loại. Người bình dân Trung Quốc, nhờ những bộ sách như thế  mà hiểu được lịch sử nước nhà, học được cách đối nhân xử thế và  nhận thức được âm mưu thủ đoạn của bọn thống trị. Tam  Quốc diễn nghĩa như một  bộ “sách giáo khoa nhiều mặt”,  nó được phổ biến ở nhiều nước, nhất là vùng Ðông Nam Á. Nhiều nhân vật và sự kiện đã thành điển cố trong văn học Việt Nam. Ðó là hiện tượng thông  thường trong  giao lưu văn hoá, đặc biệt trong quan hệ hai nền văn hóa Trung -Việt .

Chú ý: Vào giai đoạn nhà văn La Quán Trung viết bộ sách, thời nhà Minh có phong trào trở về chính thống, ca ngợi hình mẫu minh quân. Theo quan điểm lịch sử chính thống và cảm hứng thời đại, ông đả kích Tào nghĩa là ca ngợi Hán, nhằm mục đích so sánh Chu Thành tổ dựng nghiệp nhà Minh tương tự như Lưu Bang dựng Hán. Ấy cũng là “văn học phục vụ chính trị”  thuộc phạm trù văn học cổ điển phương Ðông .

                                         Đề từ Tam quốc diễn nghĩa

滚 滚长 江东逝水

浪 花 淘 尽 英 雄

是非 成 败 转头空

青 山 依 旧 在

几 度 多 阳 红

白发 渔 樵 江渚上

愦 看秋 月 春 风

一 壶 浊 酒 喜 相 逢

古 今 多 少 事

都 付 笑谈 中

调 寄 (监 江 仙)    

Gǔn gǔn Cháng jiāng  dōng shì shuǐ

làng huā táo jìn yīng  xióng 

Shì fēi chéng bài zhuǎn tóu kōng 

Qīng shān yī jiù zài

Jǐ dù duō yáng hóng

Bái fà yú  qiáo jiāng zhǔ shàng

Kuì kàn qiū yuè chūn fēng

Yī  hú zhuò jiǔ xǐ xiāng féng

Gǔ jīn duō shǎo shì

Dù fù xiào tán zhōng

Diào jì (Lín jiang xiān)

(Phiên âm và dịch nghĩa: Phùng Hoài Ngọc)

Cuồn cuộn Trường Giang cứ chảy về đông

Bọt sóng rửa trôi hết anh hùng

Phải trái thành bại cũng như không

Non xanh vẫn cứ thế

Mấy bận ánh dương hồng

Ngư tiều tóc bạc trên bãi sông

Mải mê ngắm trăng thu gió xuân

Một hồ rượu đục vui gặp gỡ

Bao nhiêu việc cổ kim

đều mặc kệ trong câu chuyện cười

Bài Từ “Điệu ký” (điệu Lâm giang tiên)

của Dương Thận.

Cổn cổn Trường giang đông thệ thuỷ

Lãng hoa đào tận anh hùng

Thị phi thành bại chuyển đầu không

Thanh sơn y cựu tại

Kỷ độ đa dương hồng

Bạch phát ngư tiều giang chử thượng

Quý khán thu nguyệt xuân phong

Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng

Cổ kim đa thiểu sự

Đô phó tiếu đàm trung

Điệu ký (Lâm giang tiên)

o

Có bài từ rằng

Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông

Sóng vùi dập hết anh hùng

được thua phải trái thoắt thành không

Non xanh nguyên vẻ cũ

mấy độ bóng tà hồng !

Bạn bạc đầu ngư tiều trên bãi

Đã quen nhìn thu nguyệt xuân phong

một bầu rượu vui vẻ tương phùng

xưa nay bao nhiêu việc

phó mặc nói cười suông

(Dịch thơ:  Phan Kế Bính

bản dịch Tam quốc diễn nghĩa Nxb Văn học

Bài ca chủ đề phim Tam quốc diễn nghĩa

Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông

Bạc đầu ngọn sóng cuốn anh hùng

Thị phi thành bại theo dòng nước

sừng sững cơ đồ bỗng tay không

Núi sông nguyên vẻ cũ

bao độ ánh chiều hồng,

Bạn ngư tiều dãi dầu trên bãi,

vốn đã quen gió mát trăng trong.

Một vò rượu nếp vui gặp gỡ ,

chuyện đời tan trong chén rượu nồng.

 (Dịch ca từ: Ngọc Thạch, Đài truyền hình Hà Nội)

THỦY HỬ TRUYỆN  水浒传   [Shuǐ hǔ zhuàn]

                         (Một trăm linh tám anh hùng Lương sơn bạc)

Tác giả Thi Nại Am  施耐庵 [Shī Nài Ān]

                  Thủy hử:   Bến nước

                  Lương :      Lương thiện, chân chính

                  Sơn : núi non

                  Bạc : thủy bạc, vùng nước  (đầm hồ)

Lương sơn bạc: vùng núi bến nước của con người lương thiện, chân chính.

Thủy hử là tác phẩm xuất hiện gần cùng thời với Tam quốc diễn nghĩa. Quá trình hình thành tác phẩm trải qua ba giai đoạn:

Những câu chuyện rời rạc được lưu truyền trong dân chúng tỉnh Sơn Ðông;

Các nghệ nhân dân gian ghi chép thành truyện cổ hoặc soạn thành hí khúc.;

Cuối cùng Thi Nại Am dựa vào các tư liệu và văn liệu đã có mà sáng tạo bộ tiểu thuyết hoàn chỉnh. Tác giả Thi Nại Am, quê sông Tiền Đường, thành Hàng Châu, tỉnh Triết Giang, không rõ năm sinh năm mất, sống cuối Nguyên đầu Minh, một thời làm quan, sau thất vọng bất mãn, bỏ quan về nhà..

Tóm tắt nội dung

Thủy hử kể lại câu chuyện khởi nghĩa nông dân tỉnh Sơn Ðông, đời Bắc Tống do Tống Giang cầm đầu…Thi Nại Am một mặt dựa vào sự thật lịch sử, dã sử, mặt khác gia công sáng tạo rất nhiều.

Hiện nay chúng ta không có nguyên tác Thủy Hử bản đầu tiên của tác giả. Các bản ngày nay đã qua biên tập, chỉnh lý. Bản 100 hồi, bản 115 hồi, bản 117 hồi, bản 124 hồi … Bản 71 hồi do Kim Thánh Thán chỉnh lý được lưu hành rộng rãi nhất trong 300 năm nay, tác phẩm kết thúc ở đỉnh cao của cuộc khởi nghĩa. Các bản kia đều miêu tả cả giai đoạn thất bại của cuộc khởi nghĩa khi đầu hàng triều đình…Sau khi tuân lệnh triều đình đi đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa khác, 108 anh hùng chỉ còn sống 27 người. Số này lần lượt bị vua tìm cách ám sát hết (Giả thuyết cho rằng La Quán Trung cũng viết một bản gồm cả sự kết thúc bi thảm của Lương sơn bạc).

Thủy Hử phản ánh một cách chân thực sinh động quá trình phát sinh phát triển và thất bại của cuộc khởi nghĩa nông dân Tống Giang đời nhà Tống.

Tác phẩm đã phản ánh một chân lý lịch sử,  đó là “quan buộc dân phản thì dân không thể không chống lại”

Tác giả miêu tả sự áp bức chính trị của bọn thống trị và phơi bày đời sống hủ bại của chúng (còn sự bóc lột áp bức về kinh tế chỉ được khái quát bằng mấy câu nhận xét và một bài thơ ngắn). Ðó là những nguyên nhân trực tiếp khiến các  nhân vật đại biểu ưu tú của mọi hạng người trong xã hội lần lượt quy tụ về Lương Sơn Bạc.

Hồi I: Kể một câu chuyện hoang đường, sau đó kết thúc bằng một câu hỏi gợi ý để chuyển vào nội dung chính  (tác giả ghi là : khúc đệm ).

Hồi II: (thực tế là hồi đầu) tác giả dựng lên hai nhân vật tiêu biểu của tập đoàn thống trị: Vua Tống Huy Tông và quan đại thần Cao Cầu.

Cả hai tên đều thạo ngón ăn chơi từ nhỏ như con nhà du đãng, thạo nhất là đá cầu. Huy Tông chỉ chịu thua Cao Cầu nên đã đề bạt y từ chức thái úy lên vị trí đứng đầu các quan.

Kim Thánh Thán hạ một lời phê sắc sảo: “Một bộ sách lớn có 70 hồi tả 108 người (anh hùng) mà ở phần đầu chưa tả họ, lại tả Cao Cầu, tức là loạn từ trên xuống. Nếu tả 108 người trước thì chẳng hóa ra loạn từ dưới lên”. Như vậy , tả Cao Cầu trước là một nền móng vững chắc để triển khai mâu thuẫn. Vì Cao Cầu định tâm bày trò hãm hại những người anh hùng khiến họ phải tìm đường lên Lương Sơn Bạc.

Dưới bọn cầm quyền cấp cao, còn có cả một tập đoàn cường hào ở nông thôn, ác bá ở thành thị. Tác phẩm đã miêu tả sâu sắc sự liên kết giữa hai bọn trong việc đàn áp dân lành.

Trước hồi 19, hành động của các hảo hán đều có tính chất phản kháng cá nhân. Sau hồi 19, đặc biệt từ lúc Tống Giang lên Lương Sơn Bạc, các lực lượng mới tập hợp lại và cuộc đấu tranh mang tính chất chính trị. Khẩu hiệu của họ là “cướp của nhà giàu chia cho người nghèo”, “giữ đất yên dân”. Còn bọn địa chủ phú hào thì viết khẩu hiệu “Lấp bằng thủy bạc, bắt Triều Cái, giẫm nát Lương Sơn  tóm Tống Giang”. Ðến hồi 41, quân khởi nghĩa chuyển sang thế tấn công, đánh nhiều nơi, ba lần đánh bại Cao Cầu .

Phong trào đang lên như vũ bão thì đột nhiên Tống Giang ngỏ ý lập đàn chay để  “một là cầu cho anh em được mạnh khỏe vui sướng, hai là mong triều đình sớm ra ơn mưa móc xá tội nghịch thiên…”. Tiểu thuyết kết thúc ở đây.

Và từ đó, phong trào đi dần đến kết thúc bi thảm. Vai trò cá nhân của Tống Giang có tác dụng quyết định đối với cuộc khởi nghĩa. Ông có công lớn nhưng cũng phải gánh chịu trách nhiệm nặng nề đối với sự thất bại bi thảm của phong trào.

Thực ra sự thất bại có nguyên nhân chủ yếu ở lịch sử. Tư tưởng Tống Giang thường có hai mặt và khá phức tạp, lúc nào cũng chứa đựng mâu thuẫn. Tư tưởng chính thống khá nặng nề. Anh rất có hiếu với cha mẹ, giao du rộng rãi, hào hiệp với mọi người, vị tha, có tính nhẫn nhục “tiểu lại”. Anh phạm tội giết vợ  khi chọn tội nhẹ hơn (vợ đe dọa tố giác tội làm phản). Ðã định đi lên trại giặc cỏ, nhưng lại không đi vì chữ hiếu (bố giả bộ chết gọi anh về). Bị đày đi Giang Châu, bạn bè Lương Sơn xuống cứu, anh vẫn không chịu theo. Cuộc lưu đày ở Giang Châu dày vò ông. Một đêm kia ở bến Tầm Dương, hơi rượu bốc lên, cũng ở nơi đây ngày xưa Tư mã Bạch Cư Dị viết bài thơ cảm thương (Tỳ bà hành), Tống Giang đề lên tường quán rượu bài thơ cảm khái :

                        Một mai thỏa cánh bằng tung gió

                        Khinh cả Hoàng Sào chửa trượng phu.

Vì bài thơ, Tống Giang bị kết án tử hình. Lúc hành quyết, một lần nữa, anh em hảo hán Lương Sơn lại đến giải thoát kịp. Và đến lần này, Tống Giang mới nghĩ “không thể không gửi thân vào Lương Sơn Bạc”. Về sau, khi đã trở thành linh hồn của cuộc khởi nghĩa mà tư tưởng chính thống đôi khi vẫn lóe lên, nhất là khi tiếp xúc với các tướng lĩnh triều đình. Ông tâm sự với tướng Từ Ninh: “Hiện giờ Tống Giang này tạm náu mình nơi thủy bạc, ngong ngóng chờ triều đình chiêu an, sẽ đem hết lòng đền nợ nước”.

Thực ra, trong lịch sử xã hội phong kiến Trung Quốc, chưa có cuộc khởi nghĩa nông dân nào thành công. Khởi nghĩa chiếm được một góc trời rồi, Tống Giang không biết làm gì nữa. Nhìn chung, những người khởi nghĩa vẫn chưa dám bất mãn với tất cả chế độ phong kiến, chỉ  muốn trấn áp quan lại và mong có “ông vua tốt” mà thôi.

Do đó, xây dựng nhân vật Tống Giang như thế  là hợp logic và thích hợp với bối cảnh lịch sử.

Về tư tưởng, nhà văn có tiến bộ hơn tác giả Tam quốc. Tính nhân văn sâu sắc hơn. Ðiều đó còn toát lên ở những câu thơ ca ngợi hoặc phê phán.

Một vấn đề còn tranh cãi về thái độ tác giả từ hồi 71 trở về sau. Hồi này có nhiều dị bản, do nhiều tác giả khác về sau  tham gia sửa chữa. Có bản vẫn giữ văn mạch nối tiếp 70 hồi đầu. Ở hồi này, tác giả giữ thái độ phê phán hành vi thỏa hiệp của Tống Giang và nêu ra tác hại to lớn của việc chiêu an. Có lẽ hồi này là nguyên tác của Thi Nại Am.

Ðiều đáng tiếc là  tác giả Thi Nại Am có những đoạn miêu tả hành vi trả thù tàn bạo của Lỗ Trí Thâm, Võ Tòng và Lý Quỳ.. một cách thản nhiên. Ðộc giả có cảm tưởng nhà văn miêu tả một cách khoái chí hoặc dửng dưng trước hành vi tàn bạo của họ như là lẽ thường (Tôn Nhị Nương giết người làm nhân bánh bao. Võ Tòng, Lý Quỳ giết bừa dân chúng khi xông vào pháp trường cứu Tống Giang, Lý Quỳ xử  tội “tùng xẻo” tên Hoàng Văn Bính một cách khoái trá. Nhiều lần hiệp sĩ Lương sơn bạc giết bừa dân chúng, trả thù thân nhân của đối phương rất n bạo…) Ngoài ra, không ít hảo hán bị Tống Giang dùng mẹo lừa ép họ vào lối thoát cuối cùng, bất đắc dĩ họ phải  đến Lương sơn bạc. Điều này ít nhiều gây ra cảm giác bất mãn cho người đọc…Những khuyết điểm không nhỏ này đã hạn chế ý nghĩa giáo dục nhân văn và thẩm mỹ của tiểu thuyết.

Thủy hử đạt thành công khá cao về xây dựng nhân vật và tổ chức dẫn dắt tác phẩm.

Các nhân vật xuất hiện đột ngột, xen vào sự việc của người khác. Tính cách của họ dần dần lộ rõ trong phương pháp miêu tả từ xa tới gần. Một số nhân vật chủ yếu trong Thủy Hử có thể gọi là “nhân vật tính cách”, vì tính cách này coi như cố hữu, do hoàn cảnh môi trường quy định. Tác giả cố ý xếp đặt những tính cách đối lập nhau đi song đôi như Tống Giang và Lý Quỳ. Một bên trăn trở suy tư, một bên chỉ hành động theo cảm tính. Giống Tống Giang ở chữ hiếu nhưng Võ Tòng có khác hơn cả hai người. Anh từng ra vào chốn nha môn, hiểu biết ít nhiều thủ tục kiện tụng. Trước khi trừng trị Tây Môn Khánh và Phan Kim Liên, anh đã chuẩn bị bao công phu cho đủ chứng cứ. Anh là dạng trung gian tính cách Tống Giang và Lý Quỳ. Còn Lâm Xung thì khá giống với Tống Giang, có sự phát triển tính cách khá hợp với lôgíc cuộc sống.

Có thể nói Tam quốc và Thủy Hử đều có sự kết hợp giữa khuynh hướng hiện thực và khuynh hướng lãng mạn, giữa tính cao cả và tính trần tục. Tuy vậy, mức độ khác nhau ở mỗi tác phẩm. Ở Tam quốc, tính cao cả chiếm ưu thế, còn ở Thủy Hử tính trần tục lại trội hơn với nhiều chi tiết sinh hoạt. Hệ thống nhân vật nữ ở hai tác phẩm cũng khác nhau. Thủy Hử có nhiều nữ hơn và tính cách trần tục sinh động phức tạp hơn.

Kết cấu của Thủy Hử là một kết cấu đặc biệt gọi là đoản thiên liên hoàn tiểu thuyết . Nghĩa là tiểu thuyết này có thể chia xẻ thành nhiều truyện ngắn với vài nhân vật. Ðiều đó chứng tỏ lúc đầu có nhiều câu chuyện nhỏ độc lập nhưng cùng xoay quanh một chủ đề. Tác giả đã thu gom chắp nối với một công phu sáng tạo cao. Các hồi kế tục nhau như những đợt sóng liên tiếp, có những cồn sóng lớn kéo theo các cồn sóng nhỏ (hồi 2, hồi 10, hồi 40). Cho đến hồi 71, quá trình tập hợp lực lượng hoàn thành. Kiểu kết cấu này phù hợp với nội dung truyện.

Cũng như Tam quốc chí, Thủy hử là một tác phẩm được lưu truyền rộng rãi nhất ở Trung Quốc. Trong lịch sử nghiên cứu tác phẩm này có một số khuynh hướng lệch lạc. Với chúng ta, bên cạnh một số giá trị nghệ thuật có thể tiếp thu, giá trị nhận thức là chủ yếu.

]

ĐÔNG CHU LIỆT QUỐC 东周列国  [Dōngzhōu lièguó]

Tác giả Phùng Mộng Long   冯梦龙    (Féng Mèng Lóng)

            Phùng Mộng Long (1574- 1646) tự là Do Long sinh ở huyện Trường Châu, nay là Tô Châu, tỉnh Giang Tô. Học giỏi nhưng thi mãi không đỗ, đến 57 tuổi mới lấy đỗ cống sinh qua việc sát hạch (không thi). Đến 61 tuổi mới được làm tri huyện ở tỉnh Phúc Kiến . Trước khi làm quan ông đã dùng thời gian  vào việc sư tầm văn học dân gian, dã sử, sử sách cũ tập hợp lại và trứ tác, cải biên  khá nhiều công trình. Sáng tác và biên khảo của ông rất phong phú. Ông qua đời trong nỗi ưu phiền vì tuyên truyền chống nhà Mãn Thanh không thành.

Trước hết xuất hiện bộ “Liệt quốc chí truyện” của Dư Thiệu Ngư năm Gia Tĩnh nhà Minh gồm 8 quyển, kể chuyện từ vua Trụ nhà Thương lấy Đát Kỷ cho đến khi nhà Tần thống nhất đất nước Trung Quốc. Cuối đời Minh, Phùng Mộng Long cải biên bộ “Liệt quốc chí truyện” rồi đổi tên là Tân liệt quốc chí dài 108 hồi, bắt đầu từ đời vua Tuyên vương nhà Chu cho đến Tần thủy hoàng. Đến đời Càn Long nhà Thanh xuất hiện bộ Đông chu liệt quốc chí của Sái Nguyên Phóng, bản này dựa vào Tân liệt quốc chí mà sửa đổi chút ít, thêm vào nhiều lời bình, chú thích. Năm 1955 Nhà xuất bản tác gia ở Bắc Kinh xuất bản bộ Đông Chu liệt quốc chí dựa vào bản của Phùng Mộng Long. Những chỗ bản Sái Nguyên Phóng sửa chữa sai lầm thì khôi phục theo bản cũ của Phùng Mộng Long, chỗ nào cả hai tác gia đều sai lầm thì nhà xuất bản đính chính thận trọng.

             Tiểu thuyết bao trùm thời kì lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỉ 6-3 tr.CN) Thời kì này bắt đầu từ khi Chu bình vương nhà Chu dời đô sang phía Đông cho đến khi Tần thủy hoàng thống nhất thiên hạ. Sử cũ gọi thời kì ấy là “Đông Chu” gồm hai giai đoạn Xuân thu và Chiến quốc. Đó là thời kì quá độ từ chế độ phong kiến phân quyền đến chế độ phong kiến tập quyền.

            Tư tưởng chủ đạo toát ra là “Dân là gốc của nước, vũ lực không thể quyết định sự thành bại mà chính là lòng dân”. Truyện ca ngợi những anh hùng, trí thức chính trực, những nhà chính trị chân chính.

            Tác gỉa cũng không quên phê phán những bộ mặt lãnh chúa tàn bạo bỉ ổi xấu xa , vạch ra những mâu thuẫn sâu sắc giữa các tập đoàn thống trị, xâu xé tranh đoạt và sự suy thoái đạo đức khủng khiếp .

            Tác phẩm cũng không quên miêu tả những người dân thường biểu lộ phẩm chất tốt đẹp trong cuộc sống khốn khổ nhiều bề của một thời loạn lạc, điêu linh bởi những cuộc mưu bá đồ vương của giới chính khách.

             Tác phẩm còn kể nhiều truyền thuyết mê tín, ma quỷ, nhân quả báo ứng. Đôi khi những chuyện mê tín trở thành cách giải thích lịch sử một cách duy tâm .

            Kết cấu bộ truyện: quá trình biến thiên lịch sử từ nhà Chu đến nhà Tần. Bắt đầu từ Trịnh hầu lấn át thiên tử nhà Chu, rồi trải qua sự nghiệp bá chủ của nước Tề, nước Tấn, nước Tần, nước Sở, nước Ngô, nước Việt, đi từ chính sách “hợp tung” và “liên hoành” của Tô Tần  và Trương Nghi đến cuối cùng là nhà Tần thống nhất đất nước. Đó là bố cục tối ưu giúp độc giả nhìn thấy rõ cục diện rối ren phức tạp của thời Đông Chu. Thử so sánh với kết cấu “Sử ký” của Tư Mã Thiên (chia thành từng mục, loại và xẻ dọc theo chủ đề) và so với “Chiến quốc sách” ghi chép chuyện theo từng nước, chúng ta thấy kết cấu của Đông Chu liệt quốc có vẻ tự nhiên, sáng sủa hơn hẳn.

             Nhiều nhân vật được xây dựng sinh động, nổi bật như Tín Lăng Quân, Ngũ Tử Tư, Phạm Lãi, Lạn Tương Như, Kinh Kha, Chuyên Chư, Nhiếp Chính .v.v …

             Lời văn kể chuyện tuy giản dị mộc mạc nhưng có những đoạn hàm súc, có đoạn trữ tình  nên thơ. Đông Chu liệt quốc vẫn theo bố cục chương hồi truyền thống.

TÂY DU KÝ      西游记   [Xī Yóu jì]

Tác giả Ngô Thừa Ân : 吴承恩   [Wú Chéng Ēn]

Ngô Thừa Ân (1500 –1581 ?) quê tỉnh Giang Tô, con một nhà buôn nhỏ, học giỏi nhưng 43 tuổi mới thi đỗ, có làm chức thừa lại ở huyện nhưng cảm thấy nhục nhã vì phải vào luồn ra cúi nên từ chức bỏ về.

Tây du ký ra đời khoảng năm Gia Tĩnh triều Minh.

Ông viết xong Tây du ký khi đã ngoài 70 tuổi, sống nghèo túng ở quê nhà. Ngoài ra còn viết một bộ truyện chí quái và nhiều văn thơ, gom lại trong 4 quyển.

Tây du ký bắt nguồn từ một chuyện có thật: nhà sư trẻ đời Ðường là Trần Huyền Trang đã một mình sang Ấn Ðộ du học và xin kinh Phật. Ðường đi 5 vạn dặm, vượt qua 128 nước nhỏ lớn, đi về hết 17 năm trời. Câu chuyện được thêu dệt màu sắc huyền thoại và truyền tụng rộng rãi trong dân gian, lâu ngày trở thành truyền thuyết. Những nghệ nhân kể chuyện đời Tống đã gia công thành những chuyện kể hoàn chỉnh, nay còn giữ được trong bộ sách “Ðại Ðường Tam Tạng thủ kinh thi thoại”. Ðó là nền tảng đầu tiên của Tây du ký. Ðến đời nhà Nguyên lại xuất hiện bộ sách “Tây du ký bình thoại ” dựa theo bản trên. Trong các vở tạp kịch thời Nguyên có số vở dựa theo đề tài trên. Ngô Thừa Ân đã dày công thu thập truyền thuyết, dã sử và dựa vào tác phẩm kể trên, lại phát huy thiên tài sáng tạo hoàn thành bộ truyện 100 hồi.

Tây du phải chăng là truyện hài hước mua vui như học giả Hồ Thích nhận xét ? Hoàn toàn không phải ! Một tác giả suốt đời long đong lận đận, bất mãn với hiện thực nhất định không thể cắm cúi suốt đời viết chuyện đùa vui. Trong cái bản gốc, nhân vật Huyền Trang là nhân vật chủ yếu, đến Ngô Thừa Ân chỉ còn là nhân vật thứ yếu, với Tôn Ngộ Không thì ngược lại. Câu chuyện thỉnh kinh từ chủ yếu trở thành thứ yếu, nhường chỗ cho các cuộc đấu tranh chống thiên tai, nhân họa.

           Tư tưởng phục tùng, yếm thế (xuất thế) của nhân vật Ðường Tăng khi vào tác phẩm này đã trở thành tư tưởng phản động, còn lẽ sống nhập thế được đề cao.

Nhà văn đã gửi gắm vào đó một tâm sự, thể hiện một lý tưởng, bênh vực một quan niệm nhân sinh.

Nội dung tư tưởng của Tây du ký không dễ nhận ra rõ ràng như ở trong Thủy Hử. Nó được thể hiện quanh co, kín đáo dưới hình thức huyền thoại. Nó là  một tác phẩm đa nghĩa. Tuy nhiên người đọc vẫn nhận ra lý lẽ của tác giả.

Cũng giống như Thủy Hử, Tây du ký trước hết thể hiện sự bất mãn và phản kháng của nhà văn với hiện thực đen tối thời Minh. Ông chỉ mượn gốc tích lịch sử để phản ánh xã hội đương thời. Ông đả kích, châm biếm, lật nhào toàn bộ những thần tượng tinh thần của xã hội phong kiến, từ Ngọc Hoàng, Diêm Vương, Long Vương đến Nho giáo, Ðạo giáo và Lão tử. Còn đối với Ðạo Phật, nhà văn tạm thời tin tưởng nhưng chưa tin tưởng hoàn toàn, còn nêu lên những mối nghi ngờ… Nhìn chung tư tưởng phản kháng của nhà văn có phần sâu sắc, triệt để hơn Thủy Hử. Nhân vật Tôn Ngộ Không náo động không chừa nơi nào, từ trên thượng giới tới âm cung (tất nhiên không chừa ra cái triều đình ở trần gian!). Chế độ nhà Minh có chính sách “ngục văn tự” khét tiếng cũng không tìm ra lý do do nào để đàn áp nhà văn. Tác giả đã đặt một câu hỏi vĩ đại vào khoảng trống để cho mọi người tự trả lời.

Thực ra trong tác phẩm có nhiều chỗ mà dấu hỏi vĩ đại đó đã có câu trả lời. Bảy hồi đầu miêu tả và ca ngợi hành vi nổi loạn của Tề Thiên đã dẫn đến kết luận: chỉ có phản kháng, đấu tranh mới giải quyết được bất công ngang trái. Tề Thiên nêu khẩu hiệu “thay nhau làm vua, sang năm đến lượt ta”. Tôn là hình bóng ước mơ của những lãnh tụ nông dân khởi nghĩa đời nào cũng có ở Trung Quốc. Bao quanh lão Tôn, là cả một hệ thống chính quyền và mỗi tầng lớp thống trị từ lớn tới nhỏ đều mang đầy tật xấu hợp lại thành một xã hội đen tối đàn áp và hành hạ dân lành. Ðó là tình trạng mục nát, người với quỷ quái yêu ma sống lẫn lộn.

Rõ ràng, diện phản kháng của Tây du rất rộng rãi. Nhưng xét đến cùng, mũi nhọn đả kích trước hết nhằm vào chế độ nhà Minh. Tác giả không muốn chứng tỏ rằng kinh Phật và đạo Phật là một giải pháp chính trị có thể giải phóng con người. Dưới ngòi bút tác giả, Ðường Tam Tạng là một hòa thượng ngây thơ, thiếu quyết đoán và đôi khi cản trở việc thi hành công lý. Nếu không có Tôn Ngộ Không thì ông ta chắc chắn thất bại. Ðạo Phật ở đây chỉ như tấm áo Tôn Ngộ Không tạm chịu khoác lên người, như một lý tưởng tạm thời của quần chúng về tự do  bình đẳng.

Tây du đánh dấu bước quá độ chuyển từ kiểu “tiểu thuyết anh hùng” (Tam quốc, Thủy hử) chuẩn bị sang kiểu “tiểu thuyết sinh hoạt” như Hồng Lâu Mộng, Liêu Trai . . . Do đó, cũng dễ nhận thấy những lúng túng của nhà văn. Ðôi khi nhà văn tự mâu thuẫn bối rối khi chọn giải pháp nhà Phật qua các chi tiết sau:

           Không thừa nhận giải pháp đạo Phật (các bộ kinh mang về đều mất trang cuối cùng  không trọn vẹn).

           Nhưng lại chấp nhận “nhân quả báo ứng” (kinh Phật)

           Tôn Ngộ Không không tự nguyện đi tìm chân lý (kinh Phật), ngay cả Trần Huyền Trang cũng vậy, mà do chính đức Phật Tổ bố trí hết, thông qua ý  muốn của vua Ðại Ðường. Tôn Ngộ Không người anh hùng vô địch đầy sức mạnh phản kháng nhưng lại chịu thua Phật Tổ.

Cũng cần lưu ý khi đánh giá nhân vật Trư Bát Giới. Ðây là một nhân vật được xây dựng rất sâu sắc. Trư Bát Giới có tất cả những tính chất tầm thường của con người. Ham mê lao động và dễ bị cám dỗ (Không thể coi Trư là “điển hình dục vọng” của loài người). Trư là một nhân vật tiểu thuyết xã hội, tương tự Sa tăng.

Hình tượng rực rỡ nhất là anh hùng Tôn Ngộ Không. Anh tuyên bố với Ngọc Hoàng “nếu không nhường ngôi thì sẽ quấy rối, mãi mãi không có thái bình”. Hình tượng nhân vật này phản ánh tinh thần phản kháng vĩ đại của nhân dân Trung Quốc.

Tây du ký là bộ truyện lãng mạn với màu sắc “thần thoại mới”. Sức tưởng tượng mạnh mẽ của tác giả đưa người đọc vào một thế giới huyền ảo, diệu kỳ, luôn luôn bất ngờ không thể đoán trước, người đọc kinh ngạc nhưng vẫn thấy gần gũi, thân thiết. Nhà văn cũng sử dụng yếu tố hài hước, dí dỏm, lạc quan – đây là một đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật dựng truyện phù hợp với ý đồ tư tưởng nghệ thuật, làm giảm ấn tượng rùng rợn kinh hoàng. Nhân vật Tôn Ngộ Không với tính cách tự tin, thông minh, lạc quan, linh hoạt, kiên trì đã giúp người đọc, người nghe sảng khoái yên tâm và hy vọng.

Là một bộ tiểu thuyết chương hồi dài, Tây du có kiểu kết cấu móc xích, mỗi hồi có ý nghĩa riêng độc lập như một truyện ngắn nhưng phát triển nối tiếp. Cả cuốn tiểu thuyết gồm nhiều “mắt xích” được xâu lại với nhau. Ngoại trừ một số phần, đoạn trùng lặp, nhìn chung bộ truyện có một kết cấu chặt chẽ không thể chia cắt.

Ngôn ngữ Tây du khá lưu loát, mang mầu sắc khẩu ngữ dân gian linh hoạt, mới mẻ. Tác giả cũng thành công trong việc cá thể hóa nhân vật bằng ngôn ngữ, nhất là Tôn Ngộ Không và Trư Bát Giới có ngôn ngữ đầy cá tính.

Tiếp theo Ngô Thừa Ân, hàng loạt tiểu thuyết thần quái ra đời như  Phong thần diễn nghĩa, Tục Tây du, Hậu Tây du nhưng không có tác phẩm nào sánh kịp Tây du.

Từ khi ra đời đến nay đã 4 thế kỷ, Tây du cũng như Tam quốc, Thủy hử được nhân dân Trung Quốc và nhiều nước châu Á yêu thích và truyền tụng. Ðó là vinh quang lớn lao và niềm an ủi xứng đáng với một tác giả suốt đời bất đắc chí, đồng thời cũng là niềm tin tưởng của nhân dân vào một tương lai tốt đẹp hơn.

  • §

LIÊU TRAI CHÍ DỊ   聊 斋志异 [ Liáo zhāi zhì yì]

(Chuyện lạ chép ở căn phòng liêu trai )

Tác giả Bồ Tùng Linh 蒲松龄  [Pú Sōng Líng]

            Ở thời nhà Thanh, bên cạnh các pho tiểu thuyết đồ sộ còn có khá nhiều truyện ngắn, trong đó bộ “Liêu trai chí dị” của Bồ Tùng Linh nổi tiếng hơn cả.

            Bồ Tùng Linh (1640-1715) quê ở huyện Tri Xuyên, tỉnh Sơn Ðông, xuất thân trong một gia đình địa chủ sa sút, suốt đời long đong lận đận. Mười chín tuổi đi thi tú tài, đỗ đầu huyện. Nhưng về sau đi thi nhiều lần nữa vẫn không đỗ, mãi đến 72 tuổi mới đỗ “tuế cống sinh”,  ba năm sau thì mất. Nhà nghèo, trừ một năm làm môn khách cho tri huyện, còn thì vất vưởng dạy học kiếm sống khắp vùng nông thôn quê nhà. Cảnh nghèo túng và mộng công danh dằn vặt ông suốt cuộc đời. Cái nghèo đẩy  ông đến với những người lao động. Chuyện kể rằng,  ông thường mua trà, thuốc, rải chiếu ven đường, đợi lúc nông dân đi làm về thì mời họ trò chuyện, nhân đó sưu tầm chuyện lạ dân gian. Con đường  khoa hoạn luôn luôn làm ông bất đắc chí, lòng đầy uất ức. Do đó, ông đã viết nên những thiên truyện ngắn bất hủ về đề tài này.

            Bộ truyện ngắn “Liêu trai chí dị” được viết từ năm ông 20 tuổi đến năm 50 tuổi mới hoàn thành. Trong Lời tựa  viết lấy (Tự tự), ông tâm sự “Mặc dù không có tài nhưng rất thích sưu tầm chuyện thần ma, tâm tình giống như người xưa thích nghe chuyện ma  quỷ. Nghe đến đâu là đặt bút ghi chép đến đấy, lâu ngày thành sách”.  Ông là một nhà giáo nông thôn biết tìm niềm vui trong việc sưu tầm truyện và sáng tác. Ngoài bộ “Liêu trai”  được viết bằng cổ văn hết sức điêu luyện, tác giả còn để lại 6 tập thơ, 4 tập văn, 14 thiên hí khúc và 3 vở tạp kịch.

            Năm 1980, Bồ Tùng Linh được cơ quan UNESCO kỷ niệm là một Danh nhân văn hoá thế giới.

            Liêu trai chí dị gồm hơn 400 truyện ngắn gồm nhiều  đề tài, nội dung phong phú, có thể tạm chia ba loại chính như sau:

            Loại thứ nhất

            Vạch trần chế độ chính trị đen tối,  đả kích tham quan ô lại cường hào ác bá, bênh vực người lương thiện bị oan ức,   bị chà đạp, bị bức hại. Như các truyện Xức chức (con Dế), Hồng Ngọc, Ðậu Thị, Tục Hoàng Lương …

            Mặc dù nhà văn không nói trực tiếp đến sự phản kháng, đấu tranh của nhân dân,   Liêu Trai đã xây dựng được những hình tượng phục thù có sức hấp dẫn. (Tịch Phương Bình, Hướng Cảo, Ðậu Thị…). Có cả những người phụ nữ xinh đẹp,  yếu đuối bất lực bị hãm hại, chà đạp mà chết,  khi chết lại hoá mạnh mẽ, tự mình báo thù rửa hận…

            Loại thứ hai

            Tạm gọi là chuyện “làng nho” (chuyện nho sinh, nho sĩ, và chế độ khoa cử). Công danh khiến bao người mê muội, mất hết trí sáng suốt. Một phần vì  họ bị nhồi  nhét khát vọng  công danh phú quí, mặt khác vì chế độ thi  cử  thối nát bất công.  Quan chấm thi rặt một lũ dốt nát và vô trách nhiệm. Thi  cử bằng thơ văn cổ sáo rỗng chỉ cần thí sinh học như con vẹt chẳng cần sáng tạo. Do đó, bọn giám khảo “đánh hỏng người tài, chọn kẻ tầm thường”. Chế độ khoa cử thời ấy gây biết bao thảm hoạ, chính tác giả đã từng nếm đủ mùi cay đắng (truyện Tam Sinh, Giả Phụng Chi…).

            Loại thứ ba

            Xoay quanh đề tài  tình yêu và  hôn nhân. Cũng  giống như Vương Thực Phủ viết vở kịch thơ nổi tiếng Tây sương ký,  Bồ Tùng Linh là loại tác  giả  hiếm  hoi nhiệt tình ca ngợi tình yêu trai gái, coi đó là hạnh phúc chính đáng của thanh niên và cổ vũ  họ đấu  tranh vượt qua mọi chướng ngại để giành lấy tình yêu tự  do và hôn nhân tự chủ (các truyện Thanh Phượng, Thuỵ Vân, A Bảo…).

            Ðặc biệt, nhà văn đã xây dựng được hàng loạt hình tượng thiếu nữ xinh đẹp, thông minh, yêu đương say đắm và hết mực chung tình. Cách miêu tả vượt khỏi lễ giáo phong kiến , bỏ qua công, dung ngôn, hạnh, chứng tỏ cái nhìn mới mẻ  tiến bộ của nhà văn. Tình yêu phóng túng say mê của  nam nữ trẻ được  miêu tả đầy quyến rũ. Có nhân vật bộc lộ nỗi rạo rực yêu đương, những khát khao lứa đôi nóng bỏng (Hoa sen hoá người, Tiếng thơ trong mồ…). Nhiều nhà nho khắc kỷ trước kia đã phê phán Liêu Trai là sách tà dâm, buông thả. Thực ra, cách miêu tả như vậy gần gũi với tiểu thuyết hiện đại. Khi mà tâm trạng yêu đương được miêu tả đầy đủ, chi tiết và chân thực thì có thể chấp nhận được, phục  vụ một tư tưởng-nghệ thuật của nhà văn, không cần miêu tả ước lệ. Nhà văn cũng tỏ rõ thái độ phê phán lớp người nho học duy trì lễ giáo phong kiến, áp chế tình yêu tự  do (truyện Kí Sinh, Liên Thành, Thanh Phượng…). Ngoài ba loại đề tài trên, Liêu Trai  còn có một số chủ đề khác như đề cao cảnh giác với kẻ  thù (Chuyện sói), triết lý về lao động và  hưởng thụ  (Ðạo sĩ  Lao Sơn), ca  ngợi tình bạn (Kiều Na), ca ngợi thế giới  đào nguyên mộng ảo  trong đời (Vương Giả)…

Nhận định về nghệ thuật Liêu Trai, nhà  văn Lỗ Tấn viết “dùng phương pháp truyền kỳ để chép chuyện quái dị, biến ảo khác thường mà xem như  xảy ra  trước mắt ” Liêu  Trai khai thác toàn chuyện lạ, nhất  là chuyện  chung sống giữa người và hồ li tinh (cáo chồn thành tinh), cảnh ở dương gian và  âm phủ xen kẽ nhau như chẳng xa cách. Mặc dù nói chuyện ma quỉ, nhưng tác phẩm không gây ấn tượng rùng rợn, nghe như chuyện gần  gũi thân thiết hàng ngày. Tính cách các nhân vật ma quỉ không  khác gì người trần tục với những ước mơ và khát vọng. Sống chẳng được thoả thích thì làm ma quỉ vẫn cố gắng phấn đấu  bù đắp lại. Ma quỉ còn  giúp đỡ con người chiến thắng thiên tai và nhân hoạ.

            Sức hấp dẫn, thuyết phục của Liêu Trai chính là do tính chân thật bắt nguồn từ chân lý cuộc sống mà có.

            Hàng trăm truyện ma mà không trùng lặp. Thi  sĩ Tản Ðà khi dịch  bộ Liêu Trai đã  nhận xét “Truyện Kiều có bao nhiêu câu lục bát mà không câu nào giống câu nào, Liêu Trai bao nhiêu chuyện lớn nhỏ mà không chuyện nào phảng phất chuyện nào”.

            Liêu Trai ra đời đã  ba thế kỷ. Nó đem lại cho người đọc thứ văn truyện mới mẻ,  hấp dẫn. Người đọc  có được niềm vui nhờ cảm giác hoá thân kỳ diệu trong  chốc lát để thoát khỏi  cảnh đời ngang ngược, để  “thực hiện”  những mơ  ước. Nhược  điểm của Liêu Trai là còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng định mệnh, báo ứng luân hồi, quan điểm tướng số…


NHO LÂM NGOẠI  SỬ   儒林外史  [Rú lín wài shǐ]

(Chuyện làng nho)

Tác giả Ngô Kính Tử  吴敬梓  [Wú Jìng zǐ]

Tác giả sinh năm 1701 tỉnh An Huy, gia đình truyền thống học hành làm quan nhiều đời. Cố nội làm quan đời Thuận Trị, ba anh em đỗ tiến sĩ. Cha làm quan đời Khang Hy. Bất mãn thời cuộc, Tử đỗ tú tài, ngao du với bạn hữu, đi nhiều nơi. Chán chường công danh, không thi cử nữa. Càn Long du hành Giang Nam, ai cũng đổ ra đón, ông đi nằm ngủ. Bệnh mất đột ngột .

            Chuyện làng nho là cuốn tiểu thuyết lớn đầu tiên do một tác giả tự sáng tạo hoàn toàn, đồng thời miêu tả trực tiếp xã hội đương thời mặc dù giả định là bối cảnh đời Minh

            Bức tranh những nho sĩ, quan lại hủ bại , gàn dở.  Không có một cốt truyện xuyên suốt, mà gồm những truyện kể từng nhân vật nối tiếp sang nhân vật khác. Tuy vậy cảm hứng và tư tưởng thì xuyên suốt và duy nhất . Ða số nhân vật phản diện, chỉ có một số nhân vật chính diện. Truyện phê phán toàn bộ chế độ Mãn Thanh bắt đầu suy thoái.  Cảm hứng bi kịch và hài kịch xen kẽ, kín đáo .

Một số nhân vật tiêu biểu

Vương Miện con nông dân nghèo, học dở chừng vì nghèo bỏ đi chăn trâu. Anh thông minh, tài hoa, vẽ tranh đẹp. Coi thường thi cử, không thích giao du với quan lại . Nghe tin quan trên cho gọi anh ra làm quan, anh vào núi Cối Kê ở ẩn, bị bệnh chết ở đó . Nhân vật này là tuyên ngôn của nhà văn Ngô Kính Tử .

Chu Tiến và Phạm Tiến : long đong thi mãi đến già mới đỗ, khi còn đi học sống cực khổ bị khinh rẻ .

            Ðỗ Thiếu Khanh : nhân vật tự thuật của tác giả, là nhân vật chính diện .

            Nữ nhân vật chính diện là Thẩm Quỳnh Chi, bị lừa làm thiếp (vợ bé) nàng bỏ trốn lên thủ đô Nam Kinh, tự lao dộng kiếm sống. Bị lùng bắt, dám đánh lính tháo chạy, ra tòa tranh cãi thắng lợi, được trả  tự do .

]


HỒNG LÂU MỘNG

(Giấc mộng chốn lầu hồng )

 红楼梦 (Hóng lóu mèng)

Tác giả

Tào Tuyết Cần 曹雪芹 (Cáo Xuě Qín) viết 80 hồi đầu

và Cao Ngạc 高鹗 (Gāo È) viết 40 hồi chót.

            Tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng còn có hai tên khác là “Thạch đầu ký” (Tào Tuyết Cần đặt) và “Kim Lăng thập nhị kim thoa” (12 chiếc trâm vàng đất Kim Lăng). Ðây là bộ tiểu thuyết hiện thực vĩ đại xuất hiện vào thời Càn Long, nhà Thanh (cuối thế kỷ 18). Ðây là tác phẩm  văn học tiêu biểu cho cả giai đoạn văn học Minh Thanh nhờ dung lượng đồ sộ, sự thuần thục trong phương pháp sáng tạo và âm vang của sự  chuyển mình lịch sử đã mang đến cho người đọc.

Trong lịch sử văn học Trung Quốc, Hồng Lâu Mộng có vị trí đặc biệt. Người Trung hoa say mê đọc, bình luận và sáng tác về nó đến mức truyền nhau câu tục ngữ “mở miệng nói chuyện mà không nói Hồng Lâu Mộng thì  dẫu có  đọc hết  cả sách  trên đời  cũng vô ích“. (Khai đàm bất thuyết Hồng Lâu Mộng, độc tận thi thư diệc uổng nhiên)

            Bộ truyện gồm 120 hồi do hai  tác giả sáng tác. Tào Tuyết Cần viết 80 hồi đầu  và dự thảo đề cương cả 40 hồi sau. Tác phẩm  viết chưa xong thì  ông chết  vì đau  bệnh. Tiến sĩ Cao Ngạc viết tiếp 40 hồi sau dựa theo đề cương của Tào Tuyết Cần và đặt tên là Hồng lâu mộng…

            Tào Tuyết Cần (1716 ?-1763) tên thực Tào Triêm, hiệu Tuyết Cần, con của Tào Thiệu, cháu nội Tào Dần, quê quận Thẩm Dương, nay thuộc tỉnh Liêu Ninh. Tổ tiên làm quan từ đời vua Khang Hi đến Càn Long, phụ trách xưởng dệt Giang Ninh. Ông nội từng in cuốn “Toàn Đường thi”. Cha làm quan mắc tội thâm hụt ngân quĩ, bị hạ ngục, gia sản bị tịch thu, cậu thiếu niên Tào Triêm có tài thi ca nhạc họa đột nhiên rơi từ cuộc sống quí tộc xuống cảnh cơ hàn, lang thang kiếm sống lần hồi, dồn sức 10 năm cuối đời viết bộ truyện tỏ lòng luyến tiếc thời vàng son của gia đình đồng thời thể hiện sự khinh bỉ giai cấp phong kiến quí tộc nhà Thanh.

1.  Gia đình họ Giả, những nhân vật tiêu biểu của một giai cấp thối nát suy tàn và bất lực

            Ðọc truyện Hồng Lâu Mộng, chúng ta  ngạc nhiên thấy cái gia đình đồ sộ ấy hết ngày này qua ngày khác chỉ bận rộn vì tiệc tùng, thăm hỏi đưa đón, ma chay. Họ phát ngấy lên vì không còn đồ ăn nào ngon miệng, không còn trò chơi nào vừa ý thích. Nhà văn mô tả tỉ mỉ những ngày sinh nhật, ngày Tết nguyên đán và Nguyên tiêu. Già Lưu một bà lão nông dân nghèo đói nhận xét: “Chỉ một tiệc nhỏ của Phủ Vinh cũng đủ cho gia đình nông dân chi dùng trong cả năm” (hồi 39). Có hai sự  kiện trong lâu đài này  đủ nói lên cái lối sống xa hoa quá sức tưởng tượng là “đám ma Tần Thị” và “đón Nguyên Phi về thăm nhà”.

            Ðể lấy  tiếng với thiên hạ, Giả Trân  chi 10 nghìn lạng bạc làm ma cho con dâu là Tần Thị. Riêng cái  quan tài gỗ quý vạn năm không mục giá 5000 lạng bạc, lại còn mời 108 vị sư (Phật giáo), 99 đạo sĩ (Ðạo  giáo) làm lễ 49 ngày đêm liền. Ông ta  còn bỏ ra 1200 lạng để mua cho Giả Dung chức “Long cẩm uý” chỉ dùng để viết trên cờ tang cho thêm phần long trọng. Nhà văn đã ngầm miêu tả quan hệ bất chính giữa Giả Trân với Tần Thị và giữa Giả Dung với Vương Hy Phượng. Ðó chính là một trong các nguyên nhân dẫn  đến cái chết  của Tần thị – cô con  dâu trẻ tuổi xinh đẹp và phúc hậu hiếm có này.

            Ðể chuẩn bị đón tiếp Nguyên Phi được nhà  vua cho về thăm nhà, họ Giả tất bật chuẩn bị. Giả Tường đi Giang  Nam mua con hát giúp vui hết 3 vạn lạng bạc. Họ còn cử ra  130 người xây dựng Ðại quan viên (vườn Ðại Quan) làm nơi nghỉ  chân chốc lát cho Nguyên phi. Ðó là khu vực vườn  cảnh và lâu  đài nguy nga  lộng lẫy được bao bọc bởi nhiều ao hồ, đền đài, thuỷ tạ. Ngay cả Nguyên Phi còn phải kêu ca ba lần “xa hoa quá, lần sau đừng làm thế nữa”. Nguyên Phi chỉ được về thăm nhà chưa trọn  một ngày sau ba năm  xa nhà (phủ Vinh chỉ cách cung vua vài chục phút xe ngựa).

            Tác giả bố trí cho Già Lưu, người dân nghèo, đến Phủ Vinh hai lần. Lần đầu, ngơ ngác nhìn cảnh sống xa  hoa. Lần sau, Già Lưu lại ngơ ngác vì sự suy tàn thảm hại của Phủ Vinh. Hãy nghe Tiêu Ðại -gia nô  trung thành của họ Giả  chửi rủa nết dâm ô, hủ bại của các vương tôn, công tử :”chúng mày đều loạn luân cả lũ”. Những khẩu hiệu trung,  hiếu,  tiết,  nghĩa đầy rẫy trên các bức tường trong lâu đài như cái màn  thưa che đậy cuộc sống nhơ nhớp. Hồi 44  đang diễn ra lễ sinh nhật Phượng Thư thì Giả Liễn thừa cơ vợ tiếp khách, lén lút  đưa gái về nhà. Bị Phượng Thư bắt quả tang, một cuộc loạn đả đánh ghen đưa đến cái chết của cô nhân tình xấu số. Hai anh em Giả Trân, Giả Liễn chia nhau cô Vưu nhị thư (em vợ Giả Trân). Giả Liễn còn dan díu với vợ lẽ của cha. Những cậu ấm còn bé  đã  ham chuyện ái ân. Ðền đài, chùa miếu cũng biến thành nơi “trên bộc  trong dâu”. Nhân vật Giả Bảo Ngọc mới mười bốn tuổi  đầu đã nằm  mơ gặp nàng  tiên Cảnh Aûo dạy cách làm tình, thức dậy đòi thử chăn gối  với nữ tỳ Hoa Tập Nhân (hồi 5).  Nàng  tiên Cảnh Ảo chỉ  là một biện pháp nghệ thuật, là hình tượng nói lên không khí dâm ô đồi bại của gia đình họ Giả mà thôi. Chàng nghệ sĩ Liễu Tương  Liên (bạn thân của Giả Bảo Ngọc) đã nói:”trong phủ Ðông này chỉ có hai con sư tử đá là còn trong sạch” (hồi 66). Bà Giả Mẫu thì cười xoà an ủi cháu dâu “đàn ông ở đây đứa nào cũng vậy thôi”.

            Phượng Thư và Tiết Bàn là hai nhân vật  tiêu biểu cho bản chất tàn nhẫn độc ác của giới quí tộc. Tiết Bàn giết người hai lần mà vẫn vô sự vì được kẻ cầm quyền che chở. Ðược thể, y càng coi mạng người như là cỏ rác. Phượng Thư đúng là một “Tào Tháo đàn bà”. Y mượn tay người khác để giết  tình địch (Vưu nhị thư)  rồi lại giả bộ khóc lóc thảm thiết. Y  bày ra “tương  tư cuộc”  để giết chết Giả Thuỵ. Chính thị đã bày  ra “kế tráo  hôn” mà hại chết Lâm Ðại  Ngọc. Phượng Thư có máu ghen độc địa còn hơn Hoạn Thư của Truyện Kiều, thế mà y xinh đẹp, duyên dáng, thông minh, sắc sảo. Phượng Thư đã trở thành một điển hình con dâu kiêm quản gia  độc đáo trong các gia đình quí tộc phong kiến Trung Hoa.

Tóm lại, gia đình họ Giả là một gia  đình điển hình toàn diện của giai cấp thống  trị phong  kiến Trung  Hoa. Nhà  văn đã mô tả cuộc sống của ba  thế hệ  họ Giả  trong thời  gian tám năm và cho thấy sự suy tàn không cưỡng lại  được mặc dù họ có  những đứa con trung thành cố sức duy trì đời sống của nó về mặt chính trị,  đạo đức (tiêu biểu  là Giả  Chính, Giả Ðại  Nho)  và về kinh tế  (Phượng Thư, Thám Xuân).

2. Hồng Lâu Mộng miêu tả gia đình họ Giả, qua đó thể hiện các mối quan hệ và mâu thuẫn của xã hội phong kiến Trung Quốc trên bước đường suy tàn

            Tiểu thuyết  xoay quanh  câu chuyện  tình duyên  trắc trở nhưng không đơn  giản là  bi kịch tình yêu tay ba. Nội dung bao trùm mối tình đó là sự suy tàn của  một gia đình đại  quý tộc và hơn nữa mô tả sự suy tàn của chế độ phong kiến Trung Quốc.

               Mở đầu, tác giả đưa người đọc đến hai phủ Vinh và Ninh đầy bạc vàng châu báu. Bên trong bốn bức tường “chiếm quá nửa thành phố Kim Lăng” không bao giờ ngớt tiếng đàn ca, sáo phách, các cuộc hội hè yến ẩm diễn ra  gần như hàng ngày. Một gia đình giống như một triều đình. Trên hết là Giả Mẫu, giống như một bà “thái thượng hoàng” muốn gì được nấy, ai cũng coi việc mua vui cho bà ta là một sứ mệnh lớn lao. Kế đó là các ông chủ, bà chủ cố gò theo khuôn sáo nhưng bất lực như Giả Chính, Vương phu nhân.. . Loại chủ say mê cờ bạc, trai gái như Giả Chân, Giả Dung, Giả Liễn. Có loại chủ tính nết lưu manh như Tiết  Bàn. Có bà  chủ độc ác nham hiểm như nàng dâu Phượng  Thư. Bà chủ Vương phu nhân vì lo cho con mà hóa ra tàn nhẫn với đầy tớ. Có cô chủ trẻ  tuổi dưới bề ngoài trung hậu, đoan trang nhưng bên trong tàn nhẫn giảo quyệt khôn khéo như Tiết Bảo Thoa; lại có loại chủ “phản nghịch” chống nề nếp phong kiến như Giả Bảo Ngọc, Lâm Ðại Ngọc… Ở đây có đủ mặt các nhân vật tiêu biểu cho các loại thế lực của xã hội thượng lưu quí tộc. Ở đây có đủ người của bốn dòng họ lớn nhất vùng Kim Lăng thời Càn Long là Giả, Vương, Sử và Tiết. Không những thế, dòng họ Giả còn có cô con gái tài sắc Nguyên Xuân làm cung phi của Vua, ở các tỉnh có vây cánh họ Vương Tử Ðằng chỉ huy cả chín tỉnh. Bốn dòng họ lớn kết thông gia với nhau đã nhiều đời.

Các ông chủ, bà chủ vừa cấu kết với nhau để bóc lột vơ vét, mặt khác lại cắn xé lẫn  nhau để giành  quyền uy và của cải. Bất chấp tình anh em, Giả Hoàn vu cho Bảo Ngọc  cưỡng dâm Kim Xuyến đến mức cô ta tự tử, Bảo Ngọc bị đánh đòn; Dì Triệu thì tìm cách yểm bùa hòng giết chết Bảo Ngọc để giành quyền thế  tập cho con trai … Vợ cả với vợ lẽ cũng tàn nhẫn với nhau theo phương châm “nếu gió đông không thổi bạt gió tây thì gió tây sẽ thổi bạt gió đông”, đến nỗi tiểu thư Thám Xuân phải nói “chúng  mình là bà  con ruột thịt  một nhà thế mà người nào cũng như gà chọi, chỉ chực nuốt sống lẫn nhau”. Câu nói đó cho biết những mâu  thuẫn bên trong của xã  hội thượng lưu là điều kiện tất yếu dẫn nó đến sụp đổ.

            Bên cạnh đó, còn có mâu thuẫn giữa quí tộc với quần chúng bị áp bức bóc lột. Mối quan hệ  này chủ yếu thể hiện  qua số phận các a hoàn và đầy tớ. Họ được nhà quí tộc mua về để  hầu hạ và cuộc đời tuỳ thuộc vào các ông bà chủ. Ðã xảy ra biết  bao bi kịch khi các cậu ấm con nhà chủ “để ý” đến a hoàn. Vưu tam thư, Vưu nhị thư, Kim Xuyến, Tình Văn, Uyên Ương…. đều có chung số  phận. Họ bị khinh miệt, bị làm nhục, có khi vô cớ  bị đánh đập đến chết: Họ  chỉ có thể chọn một trong ba con đường :  tự vẫn,  đi tu,  hoặc bị gả chồng. Cuối tác phẩm nhà văn mô tả  cuộc đấu tranh của mấy cô  nữ tỳ thơ ấu, mồ côi không nơi nương tựa  thật cảm động. Họn vốn  nhẫn nhục chịu đựng số phận nô tỳ, nhưng  khi bị dồn  đến chân tường  thì không thể không chống lại. Tính  nhân dân của tác phẩm  càng được nâng lên khi tác giả mô tả họ như những  con người xinh đẹp thông minh, lòng dạ ngay thẳng, giàu tinh thần vị  tha nhưng toàn gặp phải tình trạng bi đát.

            Ðối với nông dân tá điền, bọn chủ bóc lột tô tức không kể gì mất mùa vì mưa đá. Ô gia trang – một  trong tám trang trại của phủ Ninh vẫn phải nạp ba trăm con hươu, dê, nai, lợn, ba vạn ba ngàn cân than, hai trăm hộc gạo quý, một  ngàn gánh gạo thường, hai ngàn năm trăm lạng bạc. Ðấy  là chưa kể các sản  vật khác như cá, tôm, gà, ngỗng, gân hươu, hải sâm … Thế mà Giả Trân hậm hực kêu không đủ ăn tết Ngyên đán. Họ còn  mở tiệm cầm đồ, cho vay nặng lãi để bòn  rút dân  lao động.  Sau này  khi Phủ Vinh bị lục soát, họ lôi ra hàng rương chất đầy văn khế,  văn tự nợ. Ðiều đó chứng tỏ cái gia đình đồ sộ này đã sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt của dân lao động như thế nào.

3 – Sự xuất hiện những đứa con “phản nghịch” và dấu hiệu suy tàn của chế độ

Tiểu thuyết bắt đầu diễn ra từ lúc Giả Bảo Ngọc mười bốn tuổi và kéo dài đến tám năm sau . Trong đại gia đình  ấy,   cậu bé có  một vị trí  đặc biệt : trong tương lai sẽ là  người thừa kế  số một địa  vị người cha – quan đại thần Giả Chính . Cậu sẽ thế tập  tước quận công . Bảo  Ngọc là kỳ vọng của dòng họ. Nhưng cá tính nổi bật  nhất của Bảo Ngọc là : luôn luôn suy nghĩ và hành động trái với nền nếp và lí tưởng mà giai cấp phong  kiến qui  định. Anh ta  bị những người khắt khe trong gia đình gọi là “ngốc, điên, ngây, hoạ thảo, nghiệt chướng”. Có thể nói hình tượng nhân  vật Giả Bảo  Ngọc đã bôi  xoá toàn bộ kiến trúc thượng tầng của chế độ phong kiến Trung Hoa.

            Ngay từ khi cậu bé  mới lọt lòng, gia  đình họ Giả  đã nuông chiều và lưu tâm dạy dỗ, mong cậu nối nghiệp cha. Còn anh nhiều lúc cảm thấy mất tự do trong khu lâu đài  họ Giả. Các bậc bề trên luôn luôn chú ý tìm cách huấn luyện anh thành  kẻ “tôi trung con hiếu”. Chiều chuộng đủ điều chưa đủ,  cha anh còn dùng hình phạt đánh đập. Giả Chính có lần định đánh chết Bảo Ngọc vì sợ hậu hoạ về sau. Tuy vậy, cũng bởi sự rạn nứt trong nội bộ gia đình nên anh  ta càng tha hồ chơi bời lêu lổng. Giả mẫu (bà nội)  thì  hết sức cưng chiều anh nên “không ai dám đụng đến”. Anh  ta được  đặc quyền  sống chung lộn trong chốn màn the con  gái vốn là nơi con trai không được bén mảng. Anh vẫn thừa cơ hội “trốn học”, không chịu nhồi nhét những giáo điều phong kiến khắt  khe, cổ lỗ. Tuy vậy, anh vẫn có ý thức suy nghĩ tìm hiểu chân lí cuộc sống. Anh lục lọi lung tung đi vào kho triết  học cổ  điển Trung Quốc để tìm quan điểm nhân sinh, hoặc tham  thiền ngộ Ðạo  mà rốt cuộc vẫn không tìm ra lối thoát. Từ đó, nảy  sinh ở anh sự hoài  nghi tư tưởng truyền thống phong kiến và tỏ thái  độ phản kháng hiện thực đương thời.

            Khác hẳn với mọi công tử và tiểu thư trong gia đình họ Giả (trừ Lâm Ðại Ngọc), Giả Bảo Ngọc khinh miệt khoa cử và  chán ghét con đường tiến thân bằng khoa cử. Thực ra Bảo Ngọc có tài năng xuất chúng về văn học,  thể hiện qua những câu ứng đối sắc sảo tài hoa khiến mọi người, kể cả cha phải thán phục. Nhưng Giả Chính lại coi đó là tài năng của “con ngựa  bất kham” mà chế độ  phong kiến không cần thiết. Tác giả xếp đặt một nhân vật khác tương phản với Giả Bảo Ngọc, đó là Chân Bảo Ngọc có  hình dáng, tuổi tác giống như Giả Bảo Ngọc. Khi họ nói chuyện với  nhau, Giả Bảo Ngọc cảm thấy thất vọng, không thể coi người ấy là tri âm tri kỷ như anh hằng mong muốn. Anh chàng Chân Bảo Ngọc  hễ mở miệng  là nói chuyện học hành,  thi cử,  đỗ đạt, làm quan. Anh ta đúng là “viên ngọc thật” mà giai cấp phong kiến cố công mài giũa, trau chuốt, khác hẳn “viên ngọc giả” – Giả Bảo Ngọc, chỉ là đứa con tinh thần của nhà văn.

            Trong quan niệm hôn nhân và tình  yêu, Giả Bảo Ngọc chỉ tin theo tiếng gọi của trái  tim, chống lại quan niệm  truyền thống “cha mẹ đặt đâu con ngồi  đấy”. Trong  Hồng Lâu  Mộng có câu sấm ngôn “kim-ngọc lương duyên” (duyên vàng-đá là duyên lành.  Vàng tức là cái khánh vàng của Bảo Thoa ; ngọc nghĩa là viên ngọc ngậm trong miệng Bảo Ngọc lúc mới  sinh). Bảo Ngọc thì  chỉ thích câu “Mộc -thạch lương duyên” (mộc : lâm, thạch: ngọc, ám chỉ Bảo Ngọc và Lâm Ðại Ngọc). Anh ta nói “tôi đã có trái tim rồi, còn cần viên ngọc ấy làm gì ! “

            Bảo Ngọc có thái độ  gần như bình  đẳng với các  cô hầu gái (a hoàn), khác hẳn với các  ông bà chủ  khác. Anh coi  họ là bạn  bè thân thiết, nhiều lần đỡ đòn cho họ. Trước  cái chết đầy oan ức của Tình Văn, Giả Bảo Ngọc làm bài văn tế hoa phù dung, với bao lời ca ngợi phẩm chất cao cả  của nàng và lên  án gay gắt sự  tàn bạo của gia đình phong kiến trong đó có mẹ mình. Chủ nhà ca ngợi đầy tớ, làm văn tế vong linh đầy tớ,  điều đó thật lạ lùng trong xã hội phong kiến. Lại bởi anh hay gần gũi  hoà nhập với đám a hoàn nên Giả Mẫu đã có lần băn khoăn  “có lẽ  nó là  một con  a hoàn đầu thai nhầm cũng nên”. Thật ra anh thích  gần gũi và chơi thân với  a hoàn vì thấy họ là những người duy nhất có tâm hồn trong sạch, có nhân cách cao thượng, không bị danh lợi đầu độc. Mặt khác, thái độ này có liên hoan đến quan niệm độc đáo của Giả Bảo Ngọc về phụ nữ.

            Bảo Ngọc cố ý lật ngược thói trọng nam khinh nữ” của tư tưởng phong kiến. Anh đề cao  phụ nữ một cách lạ thường. Anh tâm sự “xương thịt con gái là do nước kết thành, xương thịt con trai là bùn kết thành, tôi trông  thấy con gái  thì khoan khoái  dễ chịu, trông thấy con trai thì  như nhiễm phải  hơi dơ bẩn  vậy”. Anh ta còn nói với người nhà “hai  chữ nữ nhi đối với tôi  rất tôn quí, trong sạch không gì sánh kịp, hơn  cả Phật Di Ðà và  Ngọc Hoàng thượng đế”. Quan điểm này mới nghe tưởng đâu quá khích, nhưng lại có chỗ hợp lý hợp tình của nó. Cái gia đình  họ Giả hơn 400 người này có một phần tư là nam giới thì ai cũng ham phú quí công danh, cờ bạc, trộm cắp, đĩ điếm, lừa đảo. Còn lại ba phần tư là phụ nữ, đại đa số xuất thân nghèo khổ, sống bằng đôi bàn tay lao động nhưng có tinh thần cao thượng và phải chịu những số phận bi đát xúc động lòng người. Mặt khác, Bảo Ngọc cũng  phân ra  ba loại  phụ nữ khác nhau: “Chị em chưa đi lấy chồng giống như hòn ngọc quí,  lấy chồng rồi không hiểu sao sinh ra nhiều  tật xấu. Già đi một chút lại càng biến đổi không còn là hòn ngọc nữa mà chỉ là mắt cá xấu thôi”

            Bảo Ngọc không có quan điểm giai cấp trong việc phân tích vấn đề phụ nữ mà chỉ  thuần tuý dựa  theo tâm lý lứa tuổi và quan hệ hôn nhân. Cách phân  loại của  anh bắt nguồn  từ thực tế gia đình họ Giả. Trong Giả phủ, loại  a  hoàn  không được phép tự do lấy chồng (nếu có thì phải chịu gả bán, hoặc chỉ  được tự do nếu gia đình có tiền chuộc về). Những người phụ nữ có chồng trong gia đình họ Giả thường là các bà thống trị. Họ lấy chồng để  thành bà lớn. Các tiểu thư đều có khao khát như vậy, trừ Lâm Ðại Ngọc. Ngay cả một số a hoàn cũng mong có chồng trong giai cấp thống trị để thay đổi cuộc đời (Dì Triệu, Bình Nhi, Tập Nhân…). Qua sự phân tích trên, ta thấy Bảo Ngọc ca ngợi phụ nữ chủ yếu vì họ xa công danh phú quí  hơn nam giới. Dù sao đó cũng là cách nhìn mới, khác hẳn con mắt phong kiến coi thường  phụ nữ.

            Tóm lại,  Bảo Ngọc phản đối bất kỳ cái gì mà xã hội phong kiến đề cao (trong tình yêu, hôn nhân, vị trí nam nữ, quan niệm đẳng cấp, thi cử, tài năng). Nói cách khác, tư tưởng của Bảo Ngọc thuộc một hệ tư tưởng mới, đối lập với hệ  tư tưởng truyền thống. Ðó là tư tưởng dân chủ sơ khai, phản ánh những yêu  cầu của tầng lớp thị dân mới trỗi dậy – tiền thân của giai cấp tư sản Trung Quốc. Cuộc đấu tranh của đôi thanh niên Bảo  Ngọc – Ðại Ngọc chống  tư tưởng truyền thống đã phản ánh cuộc vật lộn giữa cái cũ và cái mới. Cái mới đã nảy mầm nhưng chưa  hình thành rõ  rệt. Cái cũ  đã rạn nứt nhưng chưa tan vỡ hẳn. Thế  lực bốn ngàn năm vẫn còn  là sức nặng khó lay chuyển. Sự yếu  ớt của  giai cấp  tư sản  trong buổi đầu trứng nước đã đẩy số phận các nhân vật phát  ngôn cho nó vào tình thế bi kịch. Lâm Ðại Ngọc bị lừa tàn nhẫn, ngậm hờn mà chết. Giả Bảo Ngọc bỏ nhà, bỏ vợ đi tu. Rõ ràng tác giả đứng về phía lực lượng mới trỗi dậy. Ông tha thiết khẳng định những yêu cầu, tự do, bình đẳng và giải phóng các cá tính của họ. Bất mãn với đạo Nho, nhưng vẫn còn chịu ảnh hưởng của nhân sinh quan yếm thế của đạo Phật và tư tưởng hư vô của đạo Lão, nên ông chưa thể nhìn thấy con đường đi của thế lực mới. Bởi vậy  những đứa con tinh thần  yêu quí của ông thường cô độc, thiếu lòng tin và đi vào con đường tuyệt vọng. Các nhân vật ấy là con đẻ của một thời  đại lịch sử khi hoàng hôn đến mà bình minh chưa xuất  hiện. Cuộc đời và số  phận của họ là một nét nổi bật trong bức tranh giàu màu  sắc của chế độ phong kiến trên bước đường suy tàn.

4-  Bi kịch tình yêu-hôn nhân dưới chế độ phong kiến

            Xuất phát từ khuynh hướng tư tưởng thị dân, coi văn học là đồ chơi để tiêu khiển, có người cho Hồng Lâu Mộng chỉ là một tác phẩm viết về tình yêu tay  ba (trong đó có Lâm  Ngữ Ðường học giả gốc Hoa người Mỹ viết cuốn sách Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa). Tất nhiên cốt truyện là bi kịch tình yêu, nhưng nguyên nhân dẫn đến bi kịch không phải  chỉ vì sự quấy  rối của kẻ thứ  ba mà chính là nguyên nhân xã hội.  Bi kịch tình yêu gắn  liền với hàng loạt vấn đề xã hội và gia đình, nằm trong cơ cấu thống nhất của tác phẩm, phục vụ cho việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm.

            Tác giả đặt bi  kịch tình yêu  Bảo Ngọc- Ðại Ngọc trong một bình diện rộng lớn,  giữa những bi kịch khác  của phụ nữ như chế độ thê thiếp, cung phi, nô tỳ .v.v… Không phải chỉ có cô tiểu thư Lâm Ðại Ngọc bạc mệnh vì tình, mà bên cạnh nàng còn có Tình Văn vì sắc đẹp mà bị ngược  đãi đến chết. A hoàn Tư Kì không được phép yêu mà đâm đầu vào tường tự sát, Vưu Tam Thư yêu Liễu Tương Liên song vì “không môn đăng hộ đối” mà  phải tự vẫn, Vưu Nhị Thư yêu Giả Liễn mà bị Phượng Thư đánh ghen hại chết, Nghênh Xuân đau khổ một đời vì bị gả chồng xa, Nguyên Xuân làm cung phi mà suốt đời đẫm nước mắt rồi chết non, Lí Hoàn vì hai chữ tiết hạnh mà suốt đời lẻ loi cô quạnh. Diệu Ngọc, Tích Xuân chôn chặt khát vọng yêu đương bên ngọn đèn xanh nhà chùa.

Trong bối cảnh đó, tình yêu của Bảo  Ngọc và Ðại Ngọc càng trở nên có ý nghĩa. Tình yêu đó diễn ra trên một cơ sở thống nhất về lí tưởng. Chính  vì cùng có tư tưởng phản  nghịch mà họ yêu nhau, lại vì yêu nhau mà họ càng phản nghịch. Như thế, lí tưởng chống phong kiến vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của tình yêu. Bảo Ngọc đứng trước sự lựa  chọn giữa hai  người con gái  mà nhan sắc, tài năng và gia thế như nhau, chỉ khác nhau về tâm hồn và tư tưởng.

            Tiết Bảo  Thoa  là  một  tiểu  thư  giai  nhân phong kiến chuẩn mực. Phong tư của cô thiếu nữ chờ  ngày được tuyển vào cung này có lúc làm cho Bảo Ngọc  xao xuyến, hễ “gặp cô chị  là quên khuấy cô em”. Nàng lại có đủ tứ đức “công, dung, ngôn, hạnh” được bà nội Giả  Mẫu khen “trong bốn  đứa cháu gái nhà này, không ai bằng cháu bảo Thoa cả”  (hồi 35). Xuất thân từ gia đình họ Tiết tiền muôn,  bạc vạn, lại thân thiết với họ Giả, Bảo Thoa có nhiều ưu thế hơn Ðại Ngọc  trong  việc tranh chức vị “mợ hai”. Nàng còn cho rằng  việc chọn  đào là  của Bảo  Ngọc, nhưng việc quyết định hôn  nhân lại  do các  bậc huynh  trưởng. Vì  thế nàng phát huy triết lí “tuỳ thời  đối xử “, tranh thủ  sự ủng hộ của bề trên. Nàng đối xử nhiều khi giả đối  nhằm mục đích vụ lợi. Thái độ tàn nhẫn của Bảo Thao  trước cái chết oan uổng  của cô bé nô tỳ Kim Xuyến đã chứng  tỏ bản  chất của  nàng. Bảo Thoa coi hình ảnh Phương Thư và Giả  Mẫu là tương lai lí  tưởng của mình. Ở con người này tư tưởng và lễ giáo phong kiến đã  trở thành thâm căn cố đế đến mức tiếng réo gọi tha thiết  của tình yêu chẳng lay chuyển nổi. Do sự tiếp xúc gần gũi  với Bảo Ngọc, một khát vọng yêu đương trái lễ giáo đã  lay động nàng, nhưng lí trí  lại kéo nàng về con đường  cũ. Nàng  còn  nghiêm  khắc  yêu cầu Bảo Ngọc “không nên xao nhãng việc học tập để ra làm quan giúp đời, giúp nước”. Họ không  yêu nhau  nhưng vẫn thành  vợ thành  chồng. Cuộc kết hôn này không vì tình cảm mà là một “hành vi chính  trị”. Mặc dù dưới ngòi bút chính  thống Cao Ngạc, họ sinh con nối dõi tông đường nhưng chưa bao giờ  hết xung khắc  và kết cục  phải tan vỡ. Hồng Lâu Mộng cao hơn cả  các tác phẩm  cùng thời ở  chỗ nhân vật không bao giờ đầu hàng hoàn cảnh để hưởng  sự “đoàn viên có hậu”. Thuỷ chung, Bảo  Ngọc vẫn là nhân  vật “phản nghịch” của chế độ phong kiến. Trái tim anh vẫn chỉ dành chỗ cho một “em  Lâm” mà thôi.

            Cuộc gặp gỡ giữa Bảo  Ngọc với Ðại Ngọc khác  hẳn với Bảo Thoa. Có lần anh  nói “cô  Lâm có  bao giờ  khuyên tôi  những lời nhảm nhí như vậy. Nếu có thì  tôi đã xa cô ấy từ lâu  rồi” (hồi 32). Cái lời “nhảm nhí” ấy chính là “học hành, đỗ đạt, làm quan”.  Hai người rất tâm đắc  với nhau khi  nhận xét về  thời cuộc. Ðại Ngọc nói “tôi làm theo tiếng gọi của trái tim”, còn Bảo Ngọc nói “tôi đã có trái tim rồi, còn  cần gì viên  ngọc ấy nữa”. Hai người đều thương  cảm man  mác trước  những  số phận  bi thảm của Kim Xuyến, Tình Văn và  cùng căm ghét  những bà độc  ác như Vương phu nhân và Giả mẫu, Phượng Thư và Bảo Thoa.

            Ðôi tình nhân đều  giàu lòng tự  trọng và kiên  quyết bảo vệ sự thuần khiết của tâm hồn. Họ ước ao cuộc sống tự do, tự tại.  Họ trở thành tri  kỉ  tri  âm  trong  việc  chống  lại chủ nghĩa phong kiến, nhưng khác nhau trong cách  thể hiện. Ðại Ngọc, với  thân phận khách ở nhờ, lại  là con gái yếu đuối, khi bất  bình nàng chỉ khóc thầm nuốt tủi. Nàng thật đa sầu đa cảm. Thấy cảnh hoa rơi nàng nhặt lấy, đào mộ chôn hoa mà lòng buồn se sắt. Nghe tiếng gió mưa trong đêm, nhìn làn liễu rủ và cảnh nhộn nhịp phồn hoa ở vườn Ðại Quan cũng khiến nàng chạnh lòng buồn thương man mác. Nhạy cảm, kiêu kì, cô độc bởi nàng luôn sợ người khác khinh miệt, từ đấy phải  ngẩng cao đầu đối  chọi với hoàn cảnh. Giữa lúc đó, tình yêu đến gõ  cửa. Tình yêu của Bảo  Ngọc đã giúp nàng đứng vững. Lại còn  phải đối  phó với  “tình địch” Tiết Bảo Thoa có nhiều thế mạnh hơn nàng. Vừa thiết tha mong  Bảo Ngọc thổ lộ tình yêu, lại  sợ bị  coi là  buông thả, nàng thường  ở trạng thái tự mâu thuẫn  trong cách  cư xử  với chàng. Cảm thấy  rõ sự ngăn cản của bề trên, nàng càng hun đúc quyết  tâm giữ lấy tình yêu. Xung đột càng quyết liệt. Nhưng nàng đã phấn đấu một  cách cô độc lẻ loi và trúng kế “tráo  hôn” của Phượng Thư. Nàng điên cuồng đốt xé hết kỉ vật của chàng, cười rồi ngậm hờn mà tắt thở, giữ trọn tâm hồn  trong sạch và  phẩm chất kiên  trì bất khuất của mình.

            Sự chọn lựa cuối cùng của Giả Bảo Ngọc thật  là mạnh mẽ. Anh đã từ bỏ người vợ chính thức Tiết Bảo Thoa và đại gia đình họ Giả đi vào cuộc sống lạnh lẽo nơi của Phật hay miếu hoang để suốt đời thương nhớ một người.

            Ðó là  bi kịch của cái mới khi chưa  đủ sức lay chuyển cái cũ vốn đã bền vững ngàn đời. Giả  Bảo Ngọc là mầm mống của một thời đại mới sắp đến.

            Tuy vậy, mối tình Giả Bảo Ngọc-Lâm Ðại Ngọc rất trong sáng đẹp đẽ và cảm động lòng người.

5 –  Hồng lâu mộng – đỉnh cao của tiểu thuyết  hiện thực

            Nhà Hán học Xô Viết nổi tiếng, viện sĩ N.S.Konrat, đánh giá rất cao Hồng Lâu Mộng. Ông viết :”tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng là một tác phẩm hiện thực chủ nghĩa  tiêu biểu. Ðó  là một bức  tranh vĩ đại về qui mô cũng như về ý nghĩa của cuộc sống xã hội Trung Quốc thế kỉ XVIII. Những yếu tố hoang đường tạo nên cái khung của bức tranh xã hội ấy là một vật cống của nhà văn cho những đòi hỏi của thời đại mình. Những chuyện hoang  đường lấy từ truyền thuyết và cổ tích nhưng không có gì là thần bí “

            Có thể xem Hồng Lâu Mộng là tập đại thành những tiến bộ nghệ thuật của tiểu thuyết hiện  thực Trung Hoa từ thế  kỷ 14 đến 18. Từ Tam quốc  diễn nghĩa  đến Hồng  Lâu Mộng  tiểu thuyết đã có sự phát triển, đổi mới đáng kể, tiến gần sát với tiểu  thuyết hiện đại

            So với tiểu thuyết trước nó, Hồng Lâu Mộng có những đặc điểm nổi bật về nghệ thuật như sau:

a. Bám sát đời sống thường ngày, miêu  tả đến chi tiết cụ thể

          Khi miêu tà, nhà văn không tô vẽ cường điệu, tránh ước lệ công thức. Do đó bức tranh cuộc sống như được trải rộng ra như  thực. Tuy vậy, với ngòi bút thiên tài sành sỏi, mọi chi tiết, cảnh huống được xâu lại, kết nối với nhau “khéo như thợ trời, không lộ đường may” và rất tự nhiên như dòng chảy cuộc sống.

            Nhân vật đông đúc nhưng mỗi người một vẻ, nhiều nhân vật đạt mức điển hình có khả năng bước ra khỏi trang sách đi vào cuộc đời. Hồng Lâu Mộng có 443 nhân vật     (230 nam, 213 nữ) là con số kỷ lục. Mỗi  nhân vật  dù chính, phụ đều có chỗ đứng riêng , gây ấn tượng nhất định cho người đọc. Ðặc biệt, các nhân vật nữ phần đông lứa tuổi suýt soát nhau, môi trường hoàn cảnh tương tự nhau nhưng tính cách lại rất khác nhau. Hai nhân vật Giả Bảo Ngọc và Chân Bảo Ngọc bề ngoài rất giống nhau nhưng lại khiến người đọc tự hỏi ai là Chân, ai là Giả. Cùng một tính cách giống nhau nhưng tính tình mềm mỏng, ôn hoà của Tập Nhân, tính rộng rãi cởi mở của Vưu Tam Thư lại khác với  tính rộng rãi cởi mở của Sử Tương Vân. Tính cô độc kiêu kỳ của  Ðại Ngọc khác với tính cô độc kiêu kì của Diệu Ngọc. Nhà văn phải có sự quan  sát tinh tế sắc sảo mới viết được như vậy. Ngòi bút  tài năng đó đã bỏ nhiều công phu tập trung vào ba nhân vật chính là Bảo Ngọc, Ðại Ngọc, Bảo Thoa. Ngoài ra còn hàng trăm nhân vật khác không lẫn lộn với nhau.

            Trong số hàng trăm nhân  vật ấy, có hàng chục  nhân vật đạt mức điển hình ,   được chấp nhận như một  biểu tượng cho loại người trong xã hội. Có người coi  Bảo Ngọc như  loại thanh niên chỉ thích gần gũi chị em (khuynh nữ), Ðại Ngọc tiêu biểu các cô gái đa sầu đa cảm kiêu kỳ cô độc,  Phượng  Thư chỉ loại con dâu kiêm quản gia xinh đẹp mà đáo để, tính cách khá phức tạp . . .

            Người dân Trung Quốc còn dựa vào các nhân vật để đoán xét tính khí của người khác; Họ hỏi xem anh thích Bảo Thoa hay Ðại Ngọc, thích Ðại Ngọc là người say mê  lý tưởng, còn thích Bảo Thoa là con người thực tế,  thực dụng. Ai thích Tình Văn có thể sẽ thành văn sĩ có tài, người nào thích  Sử Tương Vân thì cũng thích thơ Lý Bạch. Nếu  thích Thám Xuân sẽ là người có đủ đức tài của Bảo Thoa và Ðại Ngọc, người vợ kiểu mẫu hài hoà .

            Chuyện kể lại rằng, trong khi xây dựng nhân vật 12 cô gái đẹp nhất, nhà văn Tào Tuyết Cần cũng là một hoạ sĩ nổi tiếng, đã vẽ 12  bức chân dung cô gái đẹp  treo lên tường rồi theo đó mà miêu tả. Người mê sách đã ví Hồng  Lâu Mộng như một vườn hoa bát ngát trăm hoa đua nở, muôn sắc muôn hương

b. Miêu tả tâm lý nhân vật có chiều sâu nội tâm

                  Miêu tả bằng lời dẫn dắt  của người kể  chuyện và bằng ngôn ngữ độc thoại (suy nghĩ) của  nhân vật. Ví dụ  nhân vật Lâm Ðại Ngọc, vốn là người có tính cách kiêu kì, cô độc,  cô luôn luôn có diễn biến tâm lý rất phức tạp, vui, buồn, giận, hờn có khi đến cùng  một lúc (Hồi 32). Lại có nhiều  đoạn đối thoại giữa các nhân vật Tương Vân, Bảo Ngọc,Tập Nhân góp phần miêu tả tâm lý từng người rất sinh động… Việc miêu tả tâm lý còn mượn các  thủ pháp  độc đáo  như thông  qua nhiều giấc mộng để diễn tả tâm trạng yêu đương không  nói nên lời (giấc mộng của Bảo Ngọc ở hồi 57) khi nghe đồn Ðại  Ngọc sắp về Tô Châu lấy chồng, giấc mộng của Ðại Ngọc ở hồi 82 khi lo sợ bị gả chồng ở Giang Nam…

c. Kết cấu đồ sộ nhưng rất tập trung

Kết cấu tuy có bị lệch lạc một chút : các sự kiện xảy ra  chậm chạp tản mạn ở 80 hồi đầu nhưng lại xảy ra dồn dập ở 40 hồi cuối, nhiều đoạn còn sa đà vào chi tiết không cần thiết. Những bộ  truyện trước cũng có kết  cấu khá lớn nhưng chủ yếu nhờ vào số lượng nhân vật và  thời gian lịch sử dài (Tam quốc diễn ra trong 100  năm),  còn Hồng Lâu Mộng  chỉ xoay quanh một gia đình trong 8 năm.  Kết cấu Hồng Lâu Mộng  không chỉ xoay quanh một gia đình mà còn xoay quanh cái cốt lõi là mối tình Giả Bảo Ngọc, Lâm Ðại Ngọc. Câu chuyện tình trở  thành sợi dây xuyên suốt tác phẩm, thực hiện cùng lúc  nhiều chủ đề của tiểu thuyết. Ngoài ra, nhà văn còn  dùng cách mở đầu truyện  và kết thúc truyện theo lối vòng quanh khép kín để  thể hiện kết cấu tập trung.

            Mở đầu là câu chuyện hoang đường  về hòn đá và cây  tiên thảo dẫn đến chuyện tình duyên đầy nước mắt và chấm dứt tập truyện như sự trả nợ một kiếp phong trần . Nhân vật Anh  Liên có vai trò như khúc nhạc buồn  báo hiệu  cho các  số phận  hồng nhan. Lại có hai nhân vật lượn lờ như cái bóng suốt từ đầu chí cuối,  đó là Không Không đạo nhân và Chân Sĩ Ẩn, họ là những người chứng kiến quá trình từ thịnh đến suy của họ Giả . Kết cấu đồ sộ và phức tạp của Hồng Lâu Mộng không làm cho người đọc bối  rối,  trái lại nó rất mạch lạc và thể hiện được chủ đề tư tưởng rất kín đáo và sâu sắc.

d. Sự thành công của ngôn ngữ văn học

Ðây là cuốn tiểu thuyết viết bằng tiếng Bắc Kinh thuần tuý, một thứ ngôn  ngữ phổ  thông lưu  loát uyển  chuyển và đẹp đẽ, tránh được thổ âm, thổ ngữ địa phương. Nhà văn cũng chú ý biện pháp cá tính hoá ngôn ngữ nhân vật .

Hai tác giả đều xuất thân quí tộc, đều là người Hán nhập tịch Mãn Châu, nhưng Tào Tuyết Cần thì sống nghèo túng, cô độc và bất đắc chí, còn Cao Ngạc đỗ tiến sĩ, làm quan với  con đường công danh rộng mở…Hai hoàn cảnh khác nhau đó làm cho cách xử lí  kết  thúc khác nhau. Bản dự thảo của Tào Tuyết Cần là: Giả Bảo Ngọc uất hận bỏ nhà  ra đi biệt tích ngay sau khi Lâm Ðại Ngọc chết, tức là ngay sau đám cưới. Cao Ngạc để cho nhân  vật Giả Bảo Ngọc cưới vợ, sắp sinh con nối dõi tông đường, lại đi thi đỗ, rồi mới bỏ đi tu biệt tích. Cao Ngạc còn để gia đình họ Giả được giảm tội nhằm cố gắng giảm bớt bi kịch, kéo dài số phận xế chiều đang ám ảnh những đại biểu của chế độ phong kiến. Tuy vậy, nhìn chung Hồng Lâu Mộng vẫn là một tác phẩm thống nhất và hoàn chỉnh.

®

            Từ khi ra đời, Hồng Lâu Mộng  đã được hoan nghênh rộng rãi. Tác phẩm mau chóng trở thành món ăn tinh thần thường xuyên không chán của quần chúng. Lâm Ngữ Ðường một học giả Trung Hoa đã nhận xét “Nếu một cuốn sách có thể huỷ  diệt cả một quốc gia, như một số nhà phê bình Trung  Hoa đã nói, thì Trung Hoa  đã bị tiêu diệt từ lâu  vì truyện  Hồng Lâu Mộng rồi. Vì toàn thể dân Trung Hoa say mê Ðại Ngọc và  Bảo Ngọc”. Về sau có nhiều người viết  tiếp theo Hồng Lâu Mộng, nào là Hồng Lâu Mộng bổ (bổ túc), Hồng Lâu phục mộng, Hồng Lâu viên mộng, Tân Hồng lâu mộng” (tác giả Vũ Sơn Tuyết). v. v…. họ đều sửa lại cảnh tan rã của họ Giả thành cảnh đoàn viên. Do đó  không có cuốn nào đạt được giá trị tư tưỏng nghệ thuật cao như Hồng Lâu Mộng.

            Hồng Lâu Mộng còn  gợi lên bao cảm hứng nghiên  cứu, bình phẩm của người Trung Quốc. Nảy sinh các trường phái nghiên cứu có tên Cựu Hồng học (cuối Thanh đến Ngũ Tứ 4.5.1919), Tân Hồng Học (sau Ngũ Tứ). Năm 1954, có phong trào nghiên cứu lại Hồng Lâu Mộng do học giả Du Đình Bá khởi xướng. (Không hiểu vì sao chủ tịch Đảng Mao Trạch Đông cao hứng yêu cầu tất cả tướng lĩnh quân đội phải đọc Hồng lâu mộng ?!!!) Từ năm 1983, Trung Quốc xuất bản tạp chí  thường kỳ “Hồng lâu mộng học”, gọi tắt là “Hồng học tạp chí”.

            Bộ tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng đã được dịch ra nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Nga, Ðức,  Nhật, … Bản tiếng Việt đáng tin cậy hơn cả do Vũ Bội Hoàng, Nguyễn Thọ và Nguyễn Doãn  Địch biên dịch,  Nhà xuất bản Văn hoá, Hà Nội 1963.

Vài nét nghệ thuật tiểu thuyết cổ điển Minh Thanh tiêu biểu


Tam quốc diễn nghĩa Thủy hử truyện Tây du k‎i Liêu trai chí dị Hồng lâu mộng
Kết cấu 3 phần,

trọng tâm phần 2, kết cấu “vòng vo” hiện đại…02 phần, kết cầu song song. Kết thúc truyện mang tính triết lí lịch sử có áp bức có đấu tranh..Kết cấu xâu chuỗi…thể hiện lòng kiên nhẫn trên đường tìm chân líKết cấu tự nhiên, tuyến tính, phong cách dân gian. Kết cấu gợi liên tưởng quá khứ nhân vật.Kết cấu tự nhiên như đời sống

Đa tuyến, đan chéo. Nhiều cách kể chuyện sinh động hấp dẫn…Nhân vật & nghệ thuật xây dựng nhân vậtLãnh chúa, anh hùng.

Nhân vật hành động (phim hành động)Hảo hán, hai loại trí thức và bình dân

(nhân vật có tâm lí)Anh hùng kì diệu Tôn NK, và 3 thầy trò… Những thế lực xấu xa. Khoa trương kì diệuNhân dân nạn nhân của chế độ PK. Nho sinh, phụ nữ bất hạnh… Nhân vật vẫn hành động…Toàn bô quí tộc, bình dân trong họ Giả xoay quanh 3 nhân vật quí tộc…

Nhân vật tâm lí- hành động hài hòaTư tưởngHi vọng lãnh chúa PK minh quân có khả năng thống nhất đất nước.Hi vọng giai cấp thống trị nêu gương mẫu mực để quốc thái dân an. Cảnh cáo giai cấp thống trị…Phê phán toàn bộ, trừ đạo Phật là con đường duy nhất (nhưng ko phải của TQ). Vẫn nghi ngờ Phật giáoPhê phán xã hội PK hủ bại bất công. Ca ngợi tình yêu của con người…Phủ nhận hoàn toàn, triệt để chế độ PK từ thượng tầng kiến trúc đến chế độ chính trị (trung tầng)… Mầm mống ước mơ xã hội mới tự do dân chủ…


CÂU HỎI  ÔN TẬP

Tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa

1. Giá trị hiện thực của Tam quốc diễn nghĩa.

2. Phân tích tính cách nhân vật Tào Tháo.

3. Ðặc điểm nghệ thuật Tam quốc diễn nghĩa.

4.Tóm  tắt  diễn  biến  cuộc  khởi nghĩa nông dân trong Thuỷ Hử.

5. Phân tích  quá  trình  phát  triển tính cách của Tống Giang.

6. So sánh tính cách Tống Giang và Lý Quì.

7. Nêu tư tưởng chủ đề của Tây du.

8. Ðặc trưng tính cách  nhân vật Tôn Ngộ Không.

9. Phân  tích hình tượng Trư Bát Giới.

10. Ðặc điểm nghệ thuật Tây du.

11. Hai chủ đề chính của Hồng Lâu Mộng ?

12. Trình bày tính  cách của các  nhân vật chính  Giả Bảo Ngọc, Lâm Ðại Ngọc  và

Tiết Bảo Thoa

13. Vị trí của hai nhân vật Giả Chính, Phượng Thư.

14. Phân  tích tính  chất “hiện thực  không tô  vẽ” của Hồng Lâu Mộng

J


CHƯƠNG IV         VĂN HỌC HIỆN ÐẠI TRUNG QUỐC

Khái quát

Bài này giới thiệu những nét chủ yếu của nền văn học Trung Quốc hiện đại trải qua 4 giai đoạn.

Giai đoạn 1 (1911- 1949) “Văn học dân chủ, tiền cách mạng và hiện đại hoá”

Văn học cất tiếng nói giã từ chế độ phong kiến. Văn học truyền bá tư tưởng phê phán chế độ phong kiến, cổ vũ cho tư tưởng cộng hoà, dân chủ…Văn học hiện đại có thể tính từ Cách mạng Tân Hợi năm 1911 hoặc từ cuộc vận động Ngũ Tứ 1919. Nổi bật là nhà văn, nhà báo, nhà giáo Lỗ Tấn. Ông là nhà tổ chức, cây bút  tiên phong chủ lực xây dựng nền văn học mới của cách mạng vô sản. Sau đó, nhà thơ Quách Mạt Nhược, nhà văn Mao Thuẫn, Ba Kim, Lão Xá và Tào Ngu trở thành những cây bút hàng đầu của nền văn học mới, sẽ trở thành những nhà văn cộng sản đầu tiên (năm 1921 Đảng Cộng sản TQ ra đời) . . .và tiếp tục sáng tác về sau.

Giai đoạn 2 (1949-1965) “Nền văn học xã hội chủ nghĩa giai đoạn đầu”

Văn học sáng tác theo “Tư tưởng văn nghệ Mao Trạch Đông”. Ngoài những tác giả lão thành có mặt từ giai đoạn đầu, thêm những tên tuổi mới: Chu Lập Ba, Ngải Thanh, nữ sĩ Dương Mạt, La Quảng Bân, Điền Hán. vv…Những tác phẩm tràn đầy hào khí cách mạng nhưng  nghệ thuật còn non yếu, kéo dài 16 năm .  Cuộc cải cách ruộng đất  nông thôn – đấu tổ địa chủ đã mắc sai lầm nghiệm trọng như thời cổ đại. Tiếp đó công cuộc xây dựng CNXH với những mô hình ấu trĩ “duy ý chí” như “công xã nhân dân”, phong trào “đại nhảy vọt”. Tình trạng quan liêu, cửa quyền, tham nhũng triền miên, kinh tế suy đốn . . xã hội điêu tàn,  chính trị khủng hoảng, văn nghệ khô cứng. Tình trạng đó tất yếu phải dẫn đến một sự đổ vỡ nào đó. Vai trò lãnh đạo của  chủ tịch Mao Trạch Đông suy yếu. Cặp Lâm Bưu- Giang Thanh rồi đến “bè lũ 4 tên” chụp lấy cơ hội nhảy ra .

Giai đoạn 3 (1966-1976) 10 năm động loạn “Đại cách mạng văn hoá vô sản”

Thực chất “cách mạng văn hoá” chỉ diễn ra trong 3 năm (1966-1969) nhưng hậu quả kéo dài đến 1979 và lâu dài  hơn. Lịch sử gọi đó là “10 năm động loạn”, văn học nghệ thuật chân chính bị tê liệt .

Thay vì cải tổ cải cách, vực dậy tình trạng suy đốn của đất nước, Lâm Bưu, Giang Thanh và “bè lũ 4 tên” âm mưu cướp đoạt quyền lãnh đạo Đảng, Nhà nước bằng cách  mở chiến dịch mang tên “ Đại cách mạng văn hoá vô sản”. Nhân danh cách mạng chân chính, thực chất họ là “phái tả” (nghĩa là duy trì cách mạng vô sản một cách cực đoan, tiến hành vội vã, làm ẩu, áp đặt, bất chấp thực tiễn và bỏ qua qui luật, đốt cháy giai đoạn). Họ tung nhiều “chưởng” tàn bạo, dã man đạp thêm cho đất nước Trung Hoa ngày càng dúi sâu xuống vũng bùn suy đồi…Họ chọn đột phá khẩu là “phê phán văn nghệ tư sản” và đả kích vạch mặt “phái hữu” (nghĩa là tư tưởng rút lui, không kiên trì cách mạng vô sản, có ý muốn theo con đường tư bản chủ nghĩa), đó chỉ là cái cớ để triệt hạ tất cả những con người ưu tú nhất của đất nước. Lịch sử TQ sẽ không bao giờ quên “10 năm động loạn” khủng khiếp hơn cả thời đế chế Tần Thuỷ Hoàng. Trong thời xây dựng hoà bình mà có tới hàng triệu người, trong đó có hàng trăm văn nghệ sĩ cách mạng bị bức hại đến chết, tất cả trường đại học, học viện đóng cửa … Văn học Trung Quốc giai đoạn này bị tê liệt nếu chưa nói là bị tiêu diệt. (Lúc này, đất nước Việt Nam đang tập trung kiên trì kháng chiến chống Mỹ cứu nước, không chịu ảnh hưởng của “đại cách mạng văn hoá vô sản Trung Quốc”)..

Giai đoạn 4 (1977-1982 và tiếp tục tới nay) gọi là “Văn học đương đại”

Từ sau 1976 đến 1982. Những người đảng viên cộng sản chân chính với sự  ủng hộ của quần chúng cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống lại “bè lũ bốn tên” đã giành lại quyền lãnh đạo cách mạng. Đất nước TQ tìm ra  đường lối mở cửa, phong trào “bốn hiện đại hoá” theo đường lối tư tưởng của lãnh tụ Đặng Tiểu Bình. Văn học cuộn mình trỗi dậy. Dòng văn học “vết thương”, dòng văn học “sám hối” với những tác phẩm sục sôi đòi thanh toán nỗi uất ức “10 năm khủng khiếp”, triệt để phê phán giai đoạn sai lầm ấu trĩ, từ đây mở ra thời kì phục hưng văn học nghệ thuật. Văn chương giữ vai trò tiên phong trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật và đời sống tinh thần của công chúng Trung Quốc..

Kể từ những năm 1982 về sau, văn học “trăm hoa đua nở” (bách hoa tranh khai). Những cây bút trẻ hăm hở tìm tòi phương pháp mới đồng thời kế thừa những phương pháp truyền thống của Trung Quốc và nhân loại. Nhiều phong cách mới, tác giả mới xuất hiện, mau chóng tạo ra sức hút mạnh mẽ trong đời sống văn học nghệ thuật hồi sinh. Có thể nói, cuộc “lột xác” để phục hưng của văn học Trung Quốc thật đớn đau, phải trả bằng những giá đắt chưa từng có trong lịch sử.

Nổi bật lên hàng trăm cây bút, tiêu biểu với hàng chục tác giả xuất sắc như Trương Hiền Lượng, Vương Mông, Đường Mẫn, Phùng Kí Tài, Cao Hiểu Thanh, Giả Bình Ao Lưu Tâm Vũ, Mạc Ngôn, Vệ Tuệ, Miên Miên, Cửu Đan, Diệp Tân, Như Chí Quyên, Uông Tằng Kỳ, Tốt Thục Mẫn, Diệp Văn Linh. . .

Những cây bút trẻ đó quả thực không làm hổ danh nền văn học truyền thống TQ ba ngàn năm qua. Bắt kịp tư tưởng – phương pháp nghệ thuật Tây Âu- Nga- Mỹ …họ sáng tạo với những tư tưởng nghệ thuật mới mẻ, phóng khoáng, không câu nệ qui phạm, họ không bận tâm quá nhiều vào những phương pháp cổ điển, truyền thống Trung Hoa.

Truyện ngắn, tản văn, tiểu thuyết lấn át thơ ca. Cảm hứng chủ đạo đầu tiên của họ là kiên quyết phê phán quá khứ “cách mạng vô sản” .

Truyện ngắn “Song cầm tế” (Văn tế hai cây đàn sinh đôi) của nhà văn Lương Hiểu Thanh, tác phẩm được coi là một trong những bản tuyên ngôn nghệ thuật hiện đại. Tiểu thuyết “Phong nhũ phì đồn” (Vú to mông nở) của nhà văn thạc sĩ Mạc Ngôn gây “cơn sốt” văn chương cuối thế kỉ XX. “Phong nhũ phì đồn” được coi là bộ tiểu thuyết “Trăm năm cô đơn” của Trung Quốc. Trần Đình Hiến dịch ra tiếng Việt với tựa đề “Báu vật của đời” .

Xưa nay nói tới văn học TQ, người ta nghĩ ngay tới Đường Thi và tiểu thuyết cổ điển Minh Thanh… Những người bi quan cho rằng văn học hiện đại không thể sánh bằng văn học trung đại cổ điển. Thực ra, thử tính 300 năm Đường Thi để lại được 54 000 bài thơ, trung bình mỗi năm  sáng tác được 80 bài.  600 năm Minh-Thanh chỉ để lại  trên 10 bộ tiểu thuýêt tiêu biểu kiệt xuất, trung bình mỗi thế kỉ có 2 bộ truyện hay với tổng số khoảng 200 truyện. Thế mà chỉ cần 10 năm đổi mới, văn học hiện đại đã xuất bản được hàng trăm bộ tiểu thuyết trong đó hơn 10 bộ tiểu thuyết xuất sắc tiêu biểu … Văn học đương đại TQ đang ở trong thời kì được mùa chưa từng có trong lịch sử văn học ba nghìn năm của nước này.

 LỖ TẤN 鲁迅  [Lǔ Xùn]    (1881- 1936)

Người đặt nền móng cho văn nghệ cách mạng Trung Hoa

THÂN THẾ

            Lỗ Tấn tên thật là Chu Thụ Nhân,  tự là Dự Tài,  Lỗ Tấn là bút danh. Ông sinh 25- 9- 1881 tại  huyện Thiệu Hưng,  tỉnh Triết Giang. Gia đình vốn  là quan lại  sa sút. Ông  nội là Chu Giới Phu từng làm quan trong triều đình nhà Thanh, bị cách chức hạ ngục năm Lỗ Tấn 13 tuổi. Thân sinh là Chu Bá Nghi, đỗ tú tài cũng năm đó rồi lâm bệnh nặng,  ba năm sau vì không có thuốc chữa trị mà mất. Mẹ là Lỗ Thụy người phụ nữ nông thôn trung hậu, kiên nghị, phẩm chất của bà có ảnh hưởng rất  lớn đến Lỗ Tấn. Bút danh của ông là theo họ mẹ.

Lỗ Tấn sống  trong thời  đại xã  hội Trung  quốc có nhiều biến động  lớn lao  nhất là  sau năm  1919 với ảnh hưởng của Cách Mạng Tháng Mười Nga. Cuộc  đời ông trải  qua hai cuộc  cách mạng : cách mạng dân chủ kiểu cũ – cách mạng Tân Hợi (do giai cấp tư sản lãnh đạo) và cách mạng dân  tộc dân chủ  kiểu mới do  giai cấp vô sản và Ðảng cộng sản Trung quốc lãnh đạo.

Cuộc đời, sự nghiệp và quá trình tư tưởng của Lỗ Tấn có thể chia ra ba giai đoạn như sau:

                                                   THỜI KỲ TRƯỚC NGŨ TỨ

(1881- 1918)

Thời thơ ấu từ 6 đến 17 tuổi,  Lỗ Tấn học ở trường tư thục quê nhà. Ông học rất thông minh. Ðọc hầu  hết các thư tịch cổ Trung Quốc. Ðặc biệt thích đọc dã sử, thích nghe truyền thuyết, xem hát tuồng và tranh dân gian. Thị hiếu và sở trường  văn nghệ của ông được hình thành từ sớm. Mặt khác, vì gia đình sa sút, ông hay đi lại với con em nông dân lao động ở quê nhà. Tắm mình trong tình cảm chân thành và hồn hậu ấy,  Lỗ Tấn “bú được sữa sói rừng” mà lớn lên, dần  dần trở  thành “đứa con bất hiếu” của giai cấp phong kiến,”bề tôi hai lòng”của tầng lớp thân sĩ.

Xã hội Trung Quốc biến động kịch liệt, chính quyền Mãn Thanh quì gối  đầu hàng  trước sự  xâm lăng  của các đế quốc, phong trào yêu nước của nhân  dân phát triển rầm rộ.  Lỗ Tấn được cổ vũ mạnh mẽ. Ông giã từ  gia đình và quê hương đi  tìm đường hoạt động.

Năm 18 tuổi, Lỗ Tấn đến Nam Kinh, thi vào Thuỷ sư học đường (đào tạo  nhân  viên  hàng  hải).  Hai  năm sau lại thi vào Khoáng lộ học đường (đào tạo kỹ  sư mỏ). Ðây là những  trường tây học, dạy kiến thức khoa học mới,  khác hẳn với các trường hán học chỉ dạy “tứ thư, ngũ kinh”. Tầm mắt anh mở rộng,  thay đổi nếp tư duy. Hoài  nghi truyền thống  cũ và hướng  đến sự cải cách, Lỗ Tấn rất say mê  cuốn “Thiên diễn luận” của  Husley nhà sinh vật học người Anh – giải thích sự biến hoá vũ trụ và vạn vật theo quan điểm thuyết tiến  hoá Darwin (nhà  sinh học vĩ  đại Anh). Lỗ Tấn chịu ảnh hưởng sâu sắc và từ đó, thế giới quan của ông chịu sự chi phối của thuyết tiến hoá trong một  thời gian tương đối dài. Ông tin  tưởng rằng “sinh  mệnh lớp sau bao giờ cũng có ý nghĩa hơn, hoàn thiện hơn lớp trước, tương lai sẽ sáng sủa hơn hiện tại vì lực lượng mới sẽ thay thế lực lượng cũ. Từ đó ông ca ngợi sự đổi mới,  kêu gọi phản kháng, căm ghét truyền thống trì trệ.

            Năm 1902, sau khi tốt nghiệp Khoáng lộ học đường, Lỗ Tấn được chọn đi du học  ở Nhật  Bản. Trước  tiên ông  học ngành y. Ông muốn dùng y học để cứu  dân,   trước hết là  chữa chạy cho  những người nghèo đói, dốt nát, mê tín khỏi bị chết oan như bố ông. Học sinh Trung Quốc học ở  Nhật khá đông. Quang Phục Hội  là tổ chức lãnh đạo cách mạng Tân Hợi (1911) sau này, cũng hoạt động sôi nổi ở Tokio. Lỗ Tấn tham gia Quang Phục Hội với quyết tâm cứu nước. Về sau, nhân một lần xem  phim , ông bị kích động  mạnh mẽ và chuyển sang làm văn nghệ (ông  thấy người Trung Quốc vui  thú khi xem phim có cảnh người Nhật chém  một người Trung Hoa vì  tội làm gián điệp cho quân Nga thời  chiến tranh Nga Nhật).  Lỗ Tấn nghĩ  rằng chữa bệnh cho họ về thể xác còn  chưa quan trọng bằng chữa bệnh cho họ về tinh thần.  Từ đó ông  quyết tâm dùng  ngòi bút để thức tỉnh tinh thần dân  tộc và  ý chí tự  lập tự cường  của người Trung Hoa. Ông ra sức  phiên dịch giới  thiệu các trước  tác khoa học cũng như các tác phẩm  văn nghệ thế  giới. Ðặc biệt  ông viết tập “Sức mạnh của dòng thơ ma quỷ” giới  thiệu những nhà thơ đấu tranh cho tự do như Byron, Shelli (Anh) Puskine, Lermontov (Nga) v.v… với hy vọng mượn ý chí  phản kháng và quyết tâm  hành động của họ để thức tỉnh tinh thần dân tộc.

Hai năm trước Cách  mạng Tân Hợi, năm 1909  vì gia đình quẫn bách, Lỗ Tấn dời Nhật trở về nước nuôi mẹ và em. Ông dạy học ở các trường trung học quê nhà và làm  hiệu trưởng trường sư phạm Thiệu Hưng. Năm 1911, Cách mạng Tân Hợi bùng nổ, ông hưởng ửng sôi nổi. Với quốc hiệu “Trung  Hoa dân quốc”, cuộc cách mạng tư sản này không đem lại cho xã hội Trung Quốc sự thay đổi nào đáng kể. Lỗ Tấn  không khỏi thất vọng. Còn đối  với Cách mạng vô sản, ông chưa có nhận thức rõ ràng, phần nào hoài nghi, giai cấp công nhân chưa hình thành một lực lượng  chính trị độc lập,  ông rơi vào đau khổ, trầm tư.

THỜI KỲ 1918 – 1927

            Cách mạng Tháng Mười  Nga rung động,  thức tỉnh  dân tộc Trung Hoa và tâm hồn nhà yêu nước Lỗ Tấn. Ông đăng  thiên truyện đầu tay “Nhật ký người điên” trên tạp chí  Tân Thanh Niên. Ðó là phát súng mở đầu của cuộc cách mạng văn hoá và tư tưởng Ngũ tứ ở Trung Quốc công kích lễ giáo và chế  độ phong kiến. Hàng loạt các truyện khác tiếp nối ra đời. “Khổng Ất Kỷ, AQ chính truyện, Lễ cầu phúc …” .Những truyện này sau được soạn thành hai tập “Gào thét” và “Bàng hoàng”. Ông còn viết nhiều bài tạp văn sắc bén lên án xã hội đế quốc phong kiến và những tập quán xấu của xã hội cũ.

            Lỗ Tấn  còn tham  gia chỉ  đạo phong  trào thanh niên yêu nước khoảng năm 1920 – 1925, ông là giáo sư các trường Ðại học ở Bắc Kinh, và lãnh đạo sinh viên lập nhóm văn học, xuất bản báo và tạp chí cổ động  cách mạng.  Ông đã  nhiệt tình  ủng hộ  cuộc đấu tranh của sinh viên trường Ðại học nữ sư  phạm Bắc Kinh chống lại tên Bộ trưởng Giáo  dục phản  động … Ông trở  thành lãnh tụ tư tưởng của sinh viên lúc bấy giờ.

            Khoảng năm 1923 -1924, phong trào Ngũ Tứ vỡ, hình thành mặt trận thống nhất văn hoá.

            Năm 1926, bị chính phủ Quốc dân đảng bức bách, ông rời Bắc Kinh xuống Hạ Môn (tỉnh Phúc Kiến). Làm giáo sư văn học ở Ðại học Hạ Môn. Ông cảm thấy hưu quạnh vì phải xa lánh cuộc  đấu tranh. Ðầu năm 1927, ông lại đến Quảng Châu – căn cứ địa cách mạng bấy giờ, làm trưởng phòng giáo vụ kiêm chủ nhiệm  khoa văn trường Ðại  học Trung Sơn. Ông liên hệ chặt chẽ với các  tổ chức cách mạng do  Ðảng Cộng Sản lãnh đạo .

            Tháng 4 năm 1927,Tưởng Giới Thạch phản bội Cách mạng, khủng bố Ðảng Cộng  Sản và  các tổ  chức do Ðảng lãnh đạo. Chúng giết hàng chục vạn đảng viên và quần chúng. Lỗ Tấn đứng ra bảo vệ sinh viên không được nên đã phẫn nộ từ chức. Sự thật tàn nhẫn đã giúp ông giác ngộ quan điểm giai cấp của chủ nghĩa Mác – Lênin.

            Kể từ đó, Lỗ Tấn đã không ngừng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng của giai cấp, của dân tộc dưới ngọn cờ quang vinh của chủ nghĩa Mác – Lênin và Ðảng Cộng Sản Trung  Quốc.

THỜI KỲ 1928 – 1936

            Ðây là thời kỳ của văn học vô sản với nhà văn cộng sản Lỗ Tấn. Tháng 10 năm 1927, do có nguy cơ bị ám hại, Lỗ Tấn rời Quảng Châu đến thành phố Thượng Hải và ở  lại đây cho đến khi  mất. Tham gia tổ chức và lãnh đạo phong trào văn học vô sản. Năm 1928, ông xuất bản tạp chí “Dòng nước xiết “(Bôn lưu), phiên dịch, giới thiệu hệ thống lý luận văn nghệ Mác –  Lênin. Lỗ Tấn đứng ra  thành lập và lãnh đạo Hội liên minh các nhà văn cánh tả  (gọi tắt là Tả liên). Ông tiếp nhận đường  lối Mác- Lênin  qua một  chiến sĩ cộng sản chân chính lãnh đạo hội là nhà văn Cù Thu Bạch.

            Những năm đầu Tả Liên, các tập đoàn  văn nghệ phản động mọc lên như nấm,   tiến công điên rồ  vào nền văn học vô  sản non trẻ. Lỗ Tấn đứng  vững trên  lập trường  vô sản  đập tan các cuộc “vây quét” trên  mặt trận  văn hoá  tư tưởng.  Ông viết được 9 tập văn: “Giọng Nam điệu Bắc, Viết tự do, Chuyện cũ viết lại….”.

            Ngày 19 tháng 10 năm 1936, sau thời gian lâm bệnh, Lỗ Tấn từ trần ở Thượng Hải.  Bất chấp  sự ngăn cấm  và đàn áp  của chính quyền Quốc dân đảng, nhân dân và văn nghệ sĩ vẫn làm lễ an táng trọng thể Lỗ Tấn. Trên quan tài  ông có phủ  lá cờ đỏ  thêu bốn chữ “Linh hồn dân tộc”.

Lỗ Tấn mất đi đã  hơn nửa thế kỷ. Tên tuổi  Lỗ Tấn  vẫn mãi  mãi được  loài người  tiến bộ và nhân dân cách mạng trân trọng.

 

2.  TÁC PHẨM 

            Gồm 3 tập “Gào thét”, “Bàng  hoàng” và “Chuyện cũ viết theo lối mới” (Cố sự tân biên) với các chủ đề chính sau đây (viết từ 1918 đến 1935, tức là sau Cách mạng Tân Hợi)

            Tuyên chiến chống chế độ phong kiến

“Nhật ký người điên” (Cuồng nhân nhật ký) là bài  hịch tuyên chiến chống lễ giáo, đạo đức phong kiến và phủ nhận nó triệt để.

            Nhân vật là một  người điên, lên án  lịch sử 4 ngàn năm là “lịch sử ăn thịt người”. Qua con mắt người điên, uộc sống thực là đáng sợ. Người sợ người  như lang sói.  Người lao động  lo sợ, nơm nớp đề phòng.

            Người điên  đã cảnh  cáo giai  cấp phong  kiến thống trị và răn đe chúng.

“Ngọn đèn sáng mãi” (Trường minh đăng) là truyên ngắn tượng trưng: tả một ngon đèn như là biểu tượng uy lực phong kiến thắp lên từ đời xưa, người dân phải lo giữ  đèn khỏi tắt vì  sợ tai hoạ. Chỉ  có người điên mới thổi tắt ngọn đèn lại còn định đốt cháy cả miếu thờ ngọn đèn nữa.

            Số phận của nhân dân lao động

            Những truyện này miêu  tả có  chiều sâu  hơn các nhà văn cùng thời. Nhà văn không chỉ dừng lại ở  chỗ miêu tả bề ngoài đau khổ về vật chất,  bị đói rét, đánh đập mà còn khơi lên những đau khổ về tinh thần. Lỗ Tấn  đã khám  phá ra  những bi kịch tâm hồn của người lao động.

            Truyên ngắn “Lễ cầu phúc” miêu tả nỗi đau khổ triền miên, day dứt của thím Tường Lâm.  Ðó là  nỗi khổ “muốn làm nô lệ mà không được”, có lúc “tạm được  làm nô lệ”. Ðó là  nàng dâu bị mua đi bán lại, cố chống chỏi và  thất bại. Thất  nghiệp đi ăn  xin. Quá đau khổ, thím muốn chết, nhưng lại sợ xuống âm phủ bị Diêm Vương trừng phạt bằng cách xẻ  thân chia cho hai người chồng  (!).Cuối cùng, thím vẫn tự tử, chết đuối giữa tiếng  pháo “cầu phúc” của nhà giàu nổ ran. Truyện ngắn “Cố  hương” miêu tả số phận  một anh nông dân – con người “tạm được làm nô lệ” và an tâm với kiếp nô lệ. Nhuận Thổ, bạn ấu thơ hiện lên trong ký ức nhà văn – đó là một thiếu niên tươi trẻ, chân thành, dũng cảm và vị tha. Bây giờ đôi bạn gặp lại nhau,  anh ta chỉ còn là một tượng gỗ không hồn, không biết khổ cực và lặng lẽ sống với trật tự xã hội đã an bài.

            Lỗ Tấn hy vọng  sẽ có cách  mạng “trên  mặt đất, vốn chẳng có đường, người ta đi nhiều mà thành đường”.

            Phê phán cách mạng Tân Hợi

            Cách mạng Tân Hợi do  giai cấp tư sản lãnh đạo  nổ ra năm 1911, nhưng thất  bại. Sau  đó giai  cấp tư  sản vẫn  cố gắng lôi cuốn thiên hạ, hy vọng ngọn  cờ cũ ấy  bằng ảo tưởng. Lỗ Tấn viết truyện ‘AQ  chính truyện’ nhằm  phê phán  cuộc “cách mạng” này.

            Cách mạng Tân Hợi là hình tượng cậu Tú Triệu và lão địa chủ họ Tiền quấn đuôi sam lên, rồi lại buông xuống. Tấn bi kịch của nhân vật AQ là bi kịch của cách  mạng Tân Hợi. Tuy vậy, nhà văn không quên  công  lao  của  những  người cách mạng chân chính (nhân vật Hạ Du trong truyện ngắn “Thuốc”). Ông đặt vòng hoa lên ngôi mộ anh. Cách  mạng Tân  Hợi thất  bại vì  xa rời quần chúng, không làm cho nhân dân hiểu và không phát động được quần chúng.

Vấn đề nông dân và cách mạng nông thôn

            Mâu thuẫn chủ yếu  ở nước Trung  Quốc phong kiến  lâu đời là mâu thuẫn giữa gia cấp nông dân và giai  cấp địa chủ. Ông chú ý phân tích lực lượng chính trị đó.  Ông  nâng niu ca ngợi những phẩm chất quí báu và tích cực của họ và hy vọng có  ngày họ thức tỉnh. Nhà văn chỉ ra nguyên  nhân chính là : do họ chưa  được giác ngộ. Chủ đề này bao trùm hơn nửa tác phẩm của ông.(Các chủ đề trên sẽ được chứng minh trong phần phân tích ‘AQ Chính truyện’ ở đoạn sau).

            Cuộc sống của những người trí thức

            Lỗ Tấn viết khá nhiều về giới  trí thức, nhất là trong tập truyện ký “Bàng hoàng”. Theo  ông trí thức nhạy  bén với biến động xã hội, đóng vai trò quan trọng trong lịch sử. Tuy vậy, qua cuộc đấu tranh giai cấp khốc liệt, họ cũng  bộc lộ bản chất dao động, thoả hiệp. Nhân vật “tôi”  trong đó sự phê phán  mình để cổ vũ giới trí thức .

Nhân vật Khổng Ất Kỷ là loại nho sỹ cuối mùa, ôm mộng khoa cử, lúc nào cũng ngâm :

Vạn ban giai hạ phẩm

Duy hữu độc thư cao.

và rốt cuộc anh bị xã hội bỏ rơi.

            Bi kịch  tình yêu  của Quyên  Sinh và Tử Quân có giá trị điển hình cao (truyện Tiếc thương những ngày đã mất).Ðây là đề tài tình yêu duy  nhất trong tác phẩm của Lỗ Tấn. Ðôi sinh viên yêu nhau trong cuộc đấu tranh quyết liệt cho tự do, và tự  do hôn nhân. Nhưng khi đạt được “một túp lều  tranh hai trái  tim vàng” thì Tử Quân quên mất lý tưởng  đấu tranh  xã  hội, còn Quyên  Sinh lại thức tỉnh :”Tình yêu phải có cái gì sinh  sôi, sáng tạo … Phải nhân lúc đôi cánh chưa quên bay  mà đi  tìm một  chân trời mới”. Rồi chàng ra đi. Hai người đều rơi vào bi kịch, nhưng bi kịch của Tử Quân nặng nề hơn và thảm thiết hơn.

Phương pháp sáng tác của Lỗ Tấn

            Xây dựng hình tượng điển hình

            Ðây là  vấn  đề  quan  trọng  nhất  của  chủ  nghĩa  hiện thực.”Người điên” là hình tượng kẻ “phản nghịch”.

            Hạ Du là người chiến sỹ cách mạng dân chủ tư sản.

            Nhuận Thổ, Tường Lâm, AQ…. là những hình tượng nông dân bị áp bức và bị lăng nhục.

            Khổng Ất Kỷ, Trần Sĩ Thành là kẻ sỹ cuối mùa (nhà văn đặt cho nhân vật họ Khổng khiến người ta nghĩ đến Khổng giáo). Còn Tử Quân, Quyên Sinh là những trí thức mới dễ thoả hiệp.

            Hình tượng kẻ thống trị  tuy không được miêu tả  công phu nhưng vẫn hiện lên sắc nét và gây ấn tượng.

            Lỗ Tấn chú ý  vận dụng phương  pháp miêu tả  truyền thống để xây dựng tính cách điển hình. Ðó là thủ pháp hội  hoạ “vẽ rồng chấm mắt” (hoạ long điểm tình). Ông nói “vẽ người tốt nhất là vẽ mắt, vẽ những bộ phận khác dù cố gắng đến đâu cũng chả ích gì, chỉ một lời nói, một dáng điệu múa may, một cặp mắt nhìn… đủ gây ấn tượng mạnh khiến người đọc day dứt “.

            Về nghệ thuật kết cấu tác phẩm :

            Truyện Lỗ Tấn  hầu hết là  truyện ngắn nhưng  nội dung xã hội rất sâu sắc, bởi  có  tầm  vóc  của  truyện dài. Cốt truyện thường không phức tạp ly kỳ.

            Truyện Lỗ Tấn có 2 kiểu kết cấu:

                  – Cắt lấy  một  mảng  của  bức  tranh đời sống, dùng vài nét chấm phá gương mặt của nhân  vật. Nhân vật kể  chuyện ở ngôi thứ nhất, (xưng tôi) từ đó  nhà văn trực tiếp bộc  bạch quan điểm của mình và gây cảm xúc thấm đẫm hơn.

                  – Khái quát tính cách của nhiều người trong xã hội, rút ra những nét điển hình và  tập trung vào một nhân vật (AQ chính truyện). Loại điển hình này được nhà văn  gia công thêm những chi tiết chân thực và sinh động nên đã  tránh khỏi khuynh hướng “nghị luận cảm khái”.

             “Uy mua” và châm biếm

            Ðó là giọng văn nghệ thuật của người nhiệt tình, ưu phẫn nhưng cố đè nén bằng sự bình tĩnh, khách quan và nụ cười cay đắng. Ðó là tính trữ tình sâu sắc  trong văn  Lỗ Tấn  thể hiện  chủ nghĩa nhân đạo chiến đấu của ông.

            Lời văn đôi khi dí dỏm, có tính giải trí gây cười (uy mua – humour). Ðã có  thời người  ta kết  tội ông  miệt thị giai cấp vô sản. Nhưng ông cho rằng “bi kịch trình bày sự huỷ diệt của cái có giá trị, còn hài kịch trình bày sự huỷ diệt của cái vô giá trị và châm biếm thực ra chỉ là loại hài kịch đơn giản “.

Một số thủ pháp nghệ thuật độc đáo

                  – Tiết kiệm, chọn lọc trong  mô tả và đối thoại. Ðó là tinh hoa kịch cổ điển Trung Quốc (không  có phong cảnh, như bức tranh tết cho trẻ con – chỉ có mấy người).

                  – Câu mở đầu và kết  thúc phụ thuộc các kiểu  kết cấu tác phẩm khác nhau.

                  – Một số chi tiết  được lặp đi  lặp lại xoáy  trôn ốc vừa là kết cấu, vừa là cảm xúc ( xuất  phát từ  thủ pháp điệp từ  ngữ của Kinh Thi).

                  – Chú trọng cách đặt tên và biệt hiệu của nhân vật,   vừa gợi ra bản chất nhân vật vừa tỏ rõ thái độ của tác giả.

            Tóm lại, với các thủ pháp nghệ  thuật trên, Lỗ Tấn đã thành công trong các truyện ngắn  vì đã đáp ứng yêu cầu “dành cho tư tưởng một địa bàn rộng, cho ngôn ngữ một địa bàn hẹp”  (Fadeev – Bàn về Lỗ Tấn).

            Do vậy,  truyện của ông có thể đọc đi đọc lại như những bài thơ.

ÐỊA VỊ LỖ TẤN TRONG NỀN VĂN HỌC HIỆN ÐẠI

            Lỗ Tấn là nhà văn chiến đấu, với 20 tập sách lớn để lại ông đã cống hiến cả cuộc  đời cho cuộc  đấu tranh giải  phóng dân tộc  dưới ánh sáng  chủ nghĩa  Mác – Lênin. Ngòi  bút của ông đã đụng chạm đến mọi mặt của  đời sống nhân  dân Trung Quốc  vượt xa các nhà văn hiện thực thế kỷ trước. Ông trở thành nhà văn, nhà tư tưởng thiên tài của nhân loại.

            Năm 1981, toàn thế giới tổ chức kỷ niệm 100 năm sinh của Lỗ Tấn, danh nhân văn hoá thế giới.

            Lỗ Tấn, về mặt đồng tình và thương cảm những nhân vật hèn mọn thì gần với Sê Khốp (nhà văn cổ điển Nga) nhưng tính phê phán mạnh mẽ và sắc bén lại giống Gorki. Lỗ Tấn,  người giữ vai trò kế thừa và cách tân xuất sắc nền văn học cổ điển dân tộc. Do đó, ông vừa là nhà văn Trung Hoa, vừa là nhà văn của loài người. Người ta cũng còn chú ý đến phong cách tự phê dân tộc đặc sắc  của Lỗ Tấn.

3.  GIỚI THIỆU AQ. CHÍNH TRUYỆN

                                AQ正传   [A.Q zhèng zhuàn]

            “AQ. chính truyện” gồm 9  chương. Sau đây là sơ  lược cốt truyện.

            Chương I:  TỰA

            Nhà văn châm biếm các loại truyện cũ  kỹ lỗi thời và giới thiệu lai lịch nhân vật chính là anh nông dân khoảng ba chục tuổi tên là AQ (giải thích cái tên kỳ lạ của anh).

            Chương II : NHỮNG CHUYẾN THẮNG LỢI

            AQ. thân phận hèn mọn, đi làm mướn hàng ngày, tối về ngủ đậu miếu thổ thần. Anh thường bị trêu chọc, bắt nạt và thường bị thua, nhưng tìm cách thắng lợi bằng tưởng tượng, gọi  là “phép thắng lợi tinh thần”

            Chương III:  NHỮNG CHUYẾN THẮNG LỢI  (tiếp theo).

            Anh đi bắt nạt những kẻ yếu hơn như thằng cu Ðen và ni cô ở chùa Tĩnh Tu.

            Chương IV:      BI KỊCH YÊU ÐƯƠNG

            Anh tỏ tình với vú Ngò  là vú già của gia đình  địa chủ họ Triệu. Bị phản ứng, đánh đập và bị phạt nặng.

            Chương V:       VẤN ÐỀ SINH KẾ

            Sau vụ vú Ngò,   anh bị thất nghiệp vì cả làng đều chê anh đạo đức kém. Ði ăn trộm  củ cải ở chùa  Tĩnh Tu. Rồi bỏ  lên tỉnh kiếm sống.

            Chương VI:      TỪ VẬN “TRUNG HƯNG” ÐẾN BƯỚC ÐƯỜNG CÙNG

            Khoảng sáu tháng sau, AQ  trở về làng với nhiều của cải tiền bạc, bán quần áo cũ mốt lạ, kể chuyện  thành thị, chế diễu thành thị. Các bà, các cô ngày trước khinh AQ ra mặt,  nay tranh nhau cảm tình của AQ để mua  được quần áo mốt  mới. AQ còn báo tin cách mạng đã xảy ra và kể chuyện “chặt đầu bọn cách mạng” ở trên tỉnh.

            Chương VII:     CÁCH MẠNG.

            Một con thuyền lớn  của quan Cử  từ trên huyện di tản về làng Vị trang, tiếng đồn quân  cách mạng sắp sửa đánh tới. Thấy bọn địa chủ lo sợ cách  mạng thì  AQ hăng  hái cổ  vũ cách mạng và tự nhận mình là người cách mạng. AQ  ước mơ cách mạng thành  công, y sẽ trả thù, sẽ đoạt của cải, lấy vợ … Anh đến chùa Tĩnh Tu thì hai tên địa chủ Triệu và Tiền đã nhanh chân hơn – đến chùa gỡ bàn thờ nhà vua coi như đã “làm cách mạng”.

            Chương VIII:  KHÔNG CHO CÁCH MẠNG.

            Tin đồn cách mạng đã xong. Nhưng bộ  mặt xã hội vẫn không thay đổi. Quan huyện vẫn  là quan huyện  cũ. Dân làng  sợ nhất là bị cắt đuôi sam, họ đối phó bằng cách cuốn  đuôi sam lên đầu (ý là khi cần thì lại buông  thõng xuống). Bọn  địa chủ chạy  lên tỉnh xem cách mạng,  trở về  chúng khoe  khoang đã  theo cách mạng. AQ xin nhập bọn, bọn địa chủ không cho,  anh về  miếu thổ thần ngủ. Ðêm ấy nhà họ Triệu bị cướp.

            Chương IX:      ÐẠI ÐOÀN VIÊN.

            Cả làng vừa khoái chí vừa sợ hãi  thấy nhà Triệu bị cướp. Bốn hôm sau, giữa đêm, AQ bị bắt lên huyện. Toà án tra hỏi, nghi anh ăn cướp nhà họ Triệu. AQ không hiểu chuyện  gì. Họ đưa ra một tờ giấy bảo anh ký. Vì không biết chữ, anh  lấy cây viết khoanh một vòng tròn. Cố ráng  sức vẽ cho tròn  vì sợ bị chế  giễu nhưng hình vẽ vẫn méo mó. Ðêm ngủ bị cùm nhưng vẫn hy vọng đời con cháu mình sẽ vẽ được vòng tròn. Hôm sau bị lôi  ra pháp trường. Xe đưa AQ đi diễu khắp phố phường. Dân chúng reo  hò ầm ĩ, anh cố nghĩ một câu khẩu hiệu để hô vang trước khi chết nhưng nghĩ không trọn câu. Anh thấy vú Ngò chen chúc giữa đám đông, anh nhìn mụ nhưng mụ không nhìn anh,  mụ mải ngắm nhiều thứ lạ như khẩu súng. AQ sợ hãi kêu cứu … Dân chúng  đều tin  chắc rằng  AQ vì hư hỏng nên đáng bị xử bắn,  họ còn tiếc rẻ vì không chém đầu, lại đi bắn súng, xem không sướng mắt. Người ta lại  chê AQ xoàng, không hô  được một câu khẩu hiệu có “khí phách”  khiến họ uổng công đi xem.

            Lưu ý cái tựa đề “Ðại  đoàn viên” có ý chế  giễu các loại truyện và kịch của văn  học quá  khứ Trung  Hoa lúc nào cũng “có hậu”

PHÂN TÍCH “AQ CHÍNH TRUYỆN”

            “AQ chính truyện” là tác phẩm tiêu  biểu của Lỗ Tấn, một trong những  kiệt tác  ưu tú  nhất của  nền văn  học hiện đại Trung Quốc và khá quen biết đối với nhân dân thế giới.

            Truyện triển khai theo ba chủ đề lớn.

Bức  tranh của  nông thôn Trung Quốc  nửa phong kiến, nửa thuộc địa

            Giai cấp  tư sản  Trung Quốc  đã hình  thành nhưng còn mờ nhạt, yếu ớt ở nông thôn. Thống trị nông thôn vẫn là giai cấp địa chủ (tiêu biểu là làng Vị Trang). Vẫn là không khí nông thôn thời trung cổ. Dân chúng vẫn  quen nếp nghĩ  tăm tối ngày xưa. Dư luận quần chúng là ngồi  lê mách lẻo, nhưng dư luận cũng ghê gớm  như một  kiểu luật  pháp. Bọn địa chủ vẫn ung dung bóc lột theo kiểu cũ. Sinh hoạt tinh thần văn hoá của họ rất nghèo nàn. Ðó là một nông thôn cận đại, lạc hậu và trì trệ.

Phê phán tính chất nửa vời của Cách mạng Tân Hợi

            Cách mạng tư sản chỉ khiến cho bọn địa chủ lo sợ lúc đầu. Nhưng chúng mau chóng “bắt tay” được với những kẻ cách  mạng nửa vời để cùng lợi dụng nhau. Chỉ  có dân chúng bị bỏ  rơi (hình ảnh AQ). Tất cả vẫn như xưa, chỉ khác cái búi tóc cuộn lên, tấm biển của nhà vua Mãn Thanh ở  trong chùa bị  dẹp đi. Không  cho AQ làm cách mạng, không cho nông dân làm cách mạng, đó là bản chất của cách mạng Tân Hợi.

Phê phán “tinh thần AQ”

            Ðó là phép thắng lợi tinh thần của  kẻ yếu hèn. Cho đến khi sắp bị giết, AQ nghĩ ai cũng phải chết một lần, thế là trấn tĩnh được. Ðó là tâm trạng của kẻ thua nhưng không chấp nhận thất bại, cố trốn vào ảo giác. AQ  rất bảo thủ  nhưng lại thích  cách mạng, thích cách mạng  vì muốn  trả thù.  AQ cũng  là điển hình của chủ nghĩa thất bại  – đặc  trưng của  giai cấp  phong kiến thống trị. Bởi đã tồn tại quá lâu  nên tư tưởng ấy  đã thấm đẫm tới  cả quần chúng. Tuy nhiên Lỗ Tấn  có nhược  điểm là ông miêu tả và chứng minh cái nhược điểm đó như là “quốc dân tính”.

            Ðó là 3 chủ đề chính của tác phẩm.

            Nhiều người trên thế giới cho rằng truyện này là  điển hình của những nước đã từng trải trong nô lệ, có thể gặp ở mọi nơi, mọi lúc. Song trước hết, chúng ta cần lưu ý rằng AQ có  cơ sở giai cấp của nó là giai cấp phong kiến Trung Hoa.

            Và sau hết, AQ còn là điển hình của người vô sản ở nông thôn Trung Quốc  vốn  có  khả  năng  cách  mạng nhưng bị tư tưởng phong kiến và “phép  thắng lợi  tinh thần”  trói buộc  nên họ ngơ ngác trước tấn tuồng do giai cấp tư sản đạo diễn vụng về.

“AQ chính truyện” thật sự đã vượt  xa chủ nghĩa hiện thực phê phán nói chung.

            Cuộc đời và tác phẩm của Lỗ Tấn  đi từ chủ nghĩa yêu nước và dân chủ đến chủ nghĩa xã hội,  từ chủ nghĩa hiện thực phê phán đến chủ nghĩa hiện thực cao hơn. Nó tiêu  biểu cho quá trình vươn tới của đội ngũ nhà văn cách mạng Trung  Quốc trên con đường phát triển đúng đắn duy nhất của nền văn học Trung Hoa mới.

Câu hỏi ôn tập

            1 – Con đường tư tưởng của  Lỗ Tấn .

            2 – Các chủ đề chính trong truyện ngắn  Lỗ Tấn .

            3 – Phân tích và phê phán “tinh thần AQ”.

            4. Phân tích hình tượng nhân vật chính trong truyện “Thuốc” .

            5 – Vị trí  của  Lỗ Tấn  trong  lịch  sử văn học hiện đại Trung Quốc và thế giới.


 TỔNG KẾT VĂN HỌC TRUNG QUỐC

  1. BỐI CẢNH VĂN HỌC TRUNG QUỐC

            Đặc điểm lịch sử Trung Quốc: phân rồi hợp, hợp lại phân.Ý thức bành trướng quốc gia từ  bắt đầu từ hai xứ Hà Nam và Sơn Ðông (cái nôi của đất nước Trung Quốc). Lãnh chúa xứ này vừa coi rẻ vừa muốn thôn tính những vùng khác.Nhà Tần thực sự xây dựng một đế quốc đầu  tiên với  học thuyết  Pháp gia, một kiểu phát xít cổ đại bắt đầu xâm lược láng giềng Ðông Nam Á, Trung Á, Tây bắc Á. Truớc đây nhà Chu chỉ lo bao chiếm thiên hạ của mình thôi.

Thủ lãnh xây dựng nước bao giờ cũng từ võ nghiệp (Tần Chính, Lưu Bang, Lí Uyên, Chu Nguyên Chương), tranh bá đồ vuơng, cải cách xã hội chỉ đủ lấy lòng dân, sau đó suy thoái…

Nho học được coi là “tôn giáo nhà nuớc” luôn luôn bị các giai cấp phong kiến chế tác, cải biên “dĩ bất biến ứng vạn biến” nhằm củng cố quyền lực của mình và giữ đất nước quốc gia đế chế ổn định. Phật  giáo được Nho hoá, Trung quốc hoá và Ðạo Lão cũng bị cải biến theo mỗi thời đại..

Quyền lực đế chế và văn hoá phong kiến rất bền vững đã chế ngự được sự phát triển đô thị trong vòng chế độ phong kiến. Do vậy, Trung Quốc  không thể canh tân, duy tân dễ dàng khi cái gốc phong kiến còn quá vững và sâu bền .

    Trong 80 năm cận đại, nước Trung Hoa phong kiến chịu sự nhục nhã chưa từng có trong lịch sử và đến đây kết thúc trên hai nghìn năm phong kiến lâu dài nhất thế giới (từ  thế kỉ 3 truớc công nguyên đến hết thế kỉ 19).

  1. CÁC LOẠI THỂ VĂN HỌC TRUNG QUỐC

      Trữ tình: Kinh thi, Sở từ, phú Hán, thơ Đường, từ Tống, thơ hiện đại tự do.

Tự sự: Thần thoại truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện truyền kỳ thời Đường, Sử ký, tiểu thuyết Minh Thanh, tiểu thuyết hiện đại.

Kịch: Hý kịch dân gian, kịch thơ thời Nguyên. Ba hệ Nho Phật và Ðạo đều tránh xung đột nên kịch kém phát triển. Kịch hiện đại tiếp tục theo phong cách Tây Âu.

Tản văn, tạp văn: Bách gia chư tử, tạp văn hiện đại.

      Nghiên cứu lý luận phê bình văn học

Khổng Tử sưu tầm, biên soạn Kinh thi và phê bình, giảng dạy .

Trần Tử Ngang cải cách Đường thi, Bạch Cư Dị bàn mở rộng nâng cao thơ Đường,

Kim Thánh Thán, Mao Tôn Cuơng nghiên cứu phê bình tiểu thuyết Minh, Thanh

Lưu Hiệp viết Văn tâm điêu long nghiên cứu văn chương cổ điển Trung Quốc.

Bộ phận văn học của Tứ khố toàn thư do nhà Thanh biên soạn tập thể (một loại từ điển bách khoa Trung Quốc).

Nhà thơ Viên Mai nghiên cứu thơ Tùy viên thi thoại.

Nhà văn Chung Vinh nghiên cứu văn chương cổ. v.v…

Ta có thể nhận thấy 3 yếu tố nổi bật của văn chương Trung Hoa là 

hiện thực, nhân đạo và yêu nước


Đọc thêm 3

Mối quan hệ gắn bó, song hành của văn học Trung Quốc- Việt Nam

Trong quá khứ, văn học Trung Quốc là hình mẫu, cảm hứng cho các nhà thơ nhà văn  thời phong kiến Việt Nam. Quan hệ gắn bó đặc biệt suốt nghìn năm ấy đã góp phần quan trọng tạo ra nền văn học cổ điển Việt Nam với những tác gia, tác phẩm tiêu biểu : Thơ văn Lí Trần (Trần Quốc Tuấn, các thiền sư Dương Không Lộ, Lý Trường, Mãn Giác, Đặng Dung, Phạm Ngũ Lão), Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Lê Thánh Tôn, Bà huyện Thanh Quan, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quí Đôn, Nguyễn Dữ, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến…

Văn học Trung Quốc đương đại vẫn được nhà văn Việt Nam hào hứng đọc rút kinh nghiệm và phấn đấu đuổi theo. Trên bối cảnh lịch sử xã hội tương đồng, văn học TQ vẫn luôn luôn đi  trước một bước so với Việt Nam. Duy chỉ có sự khác nhau là giai đoạn 1949 đến 1976. Trong giai đoạn đó, văn học TQ say mê xây dựng “chủ nghiã xã hội” thì văn học Việt Nam đặt nhiệm vụ đấu tranh thống nhất đất nước, kháng chiến chống Mỹ lên hàng đầu và ưu tiên hơn hết. Chủ đề xây dựng chủ nghiã xã hội ở nước ta chỉ giữ vai trò thứ hai. Rất may mắn nước ta không mắc phải những tổn thất khủng khiếp, không có “những cái chết uất ức trong hoà bình” như ở TQ giai đoạn 1966-1976. Bản sắc dân tộc Việt Nam, cũng như phương châm của Đảng CSVN, đặc sắc ở chỗ là: không bao giờ chấp nhận cực đoan quá “tả” ! Đó là một may mắn của người Việt chúng ta.

Văn học Việt Nam  tiếp tục nghiên cứu, học tập những tiến bộ của văn học TQ đương đại để xây dựng tư tưởng phong cách riêng, duy trì bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.  Bàn về văn học đương đại TQ, như người TQ nói về tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng, chúng ta có thể nói: “Khai đàm bất thuyết Trung văn học, Độc tận thi thư diệc uổng nhiên” (Mở miệng nói chuyện mà không bàn đến văn học Trung Quốc thì đọc hết sách thiên hạ cũng uổng phí).

Văn học Trung Quốc hiện đại còn phải kể đến hai nhà văn khá quen thuộc với độc giả Việt Nam: nữ văn sĩ Quỳnh Giao (nhà văn tâm lí xã hội của quần chúng bình dân) sống ở Đài Loan và Kim Dung (nhà văn võ hiệp ái tình dã sử) sống ở Hồng Công.

Giai đoạn văn học đương đại Trung Quốc đang nở rộ những mùa gặt tiểu thuyết, nhưng cũng như Việt Nam, đang dò dẫm đi tìm một hướng sáng tác mới, rộng mở thênh thang hơn bao giờ hết. Nhưng họ không bao giờ quên kế thừa truyền thống đặc sắc phong phú của văn học cổ đại và trung đại.

™
 Đọc thêm 4

Văn học sử Trung Quốc qui loại (phân loại)

 

1. Trường phái hoặc đoàn thể văn học

2. Tác gia giữ địa vị trong lịch sử văn học

3. Đặc điểm cơ bản của những tác phẩm chủ yếu

4. Tính chất thể loại  của những tác phẩm chủ yếu

5. Nội dung cơ bản của những tác phẩm chủ yếu  

6. Tác gia và nhà lý luận văn học

7. Tác phẩm lý luận văn học

 

                 

一、文学流派或团体的归类

       Văn học lưu phái hoặc đoàn thể qui loại

1、儒家学派的代表人物有:孔子、孟子。

          Nhân vật đại diện học phái Nho gia : Khổng tử, Mạnh tử

2、道家学派的代表人物有:老子, 庄子。

Nhân vật đại diện học phái Đạo gia: Lão tử, Trang tử.

3、墨家的代表人物有: 墨子。

          Nhân vật đại diện học phái Mặc gia: Mặc tử

4、法家学派化人物有: 韩非子。

  Pháp gia học phái hóa nhân vật: Hàn Phi tử  (hóa: chính thức tạo ra Pháp gia học phái)

5、屈宋: 指战国时期的屈原,宋玉。

         Khuất Nguyên, Tống Ngọc thời Chiến quốc

6、扬马: 指西汉扬雄,司马相如.

       Dương-  Mã : Dương Hùng, Tư Mã Tương Như (hai nhà Phú) thời Tây Hán

7、三曹:指曹操、曹植、曹丕。

            Tam Tào : Tào Tháo, Tào Thực, Tào Phi

8、建安七子:指孔融、王粲、陈琳、刘桢、徐干、阮禹、应玚

Kiến An thất tử: chỉ Khổng Dung, Vương Xán, Trần Lâm, Lưu Trinh,

Từ Can, Nguyễn Vũ, Ứng Dương  (7 tài tử thi ca thời Kiến An- Tam quốc)

9、沈诗任笔:指南朝齐梁间的沈约和任昉。

Trẩm thi Nhậm bút: chỉ Nam triều Tề Lương gian đích Thẩm Ước hòa Nhậm Phưởng

10、初唐四杰:指王勃,杨炯,卢照邻,骆宾王。

        Sơ Đường tứ kiệt: chỉ Vương Bột, Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân, Lạc Tân Vương

11、沈宋:指初唐武后时期著名的宫延诗人沈全期和宋之问。

           Trầm-Tống:  Sơ Đường Vũ hậu thì kì trứ danh đích cung duyên thi nhân (cung đình)

                                 Trầm Toàn Kì hòa Tống Chi Vấn

12、唐代诗人属于边塞诗派的有:王昌龄、岑参、高适、王之涣、李颀。

        Đường đại thi nhân thuộc vu biên tắc thi phái đích hữu: Vương Xương Linh, Sầm

      Tham,  Cao  Thích, Vương Chi Hoán, Lí Kỳ. (biên giới hiểm trở)

13、唐代诗人属于山水田园诗派的有:王维、孟浩然,并称“王孟”。

Đường đại thi nhân thuộc vu “sơn thủy điền viên” thi phái đích hữu: Vương Duy,

Mạnh  Hạo Nhiên, bính xưng  “Vương – Mạnh”

14、李杜:指李白和杜甫,盛唐时期浪漫主义诗派和现实主义诗派的代表人物

Lí – Đỗ: chỉ Lí Bạch hòa Đỗ Phủ, Thịnh Đường thời kì “lãng mạn chủ nghĩa” thi phái

 & “hiện thực chủ nghĩa” thi phái đích đại biểu nhân vật.

15、张王乐府:指张籍、王建所写的乐府诗。

         Trương -Vương nhạc phủ: chỉ Trương Tịch, Vương Kiến sở tả đích Nhạc phủ thi.

16、郊寒岛瘦: 苏轼语,是对中唐诗人孟郊, 贾岛诗风的形象概括。

 Giao hàn Đảo sấu: Tô Thức ngữ, thị đối Trung Đường thi nhân Mạnh Giao, Giả Đảo

 thi phong đích hình tượng khái quát (Mạnh Giao  giá rét, Giả đảo đói gầy)

17、元白:指中唐诗人元稹和白居易。                         

       Nguyên Chẩn- Bạch Cư Dị thi nhân Trung Đường

18、古文运动:由韩愈和柳宗元发起的复兴儒学的运动。

         Cổ văn vận động:do Hàn Dũ & Liễu Tông Nguyên phát khởi đích phục hưng Nho

         học vận động.

19、小李杜:指李商隐和杜牧,晚唐时期著名诗人。

        Tiểu Lí Đỗ : chỉ Lí Thương Ẩn & Đỗ Mục, Vãn Đường thi kì trứ danh thi nhân

20、南唐二主:指五代时南唐的两个皇帝,中主李璟和后主李煜。

        Nam Đường nhị chủ: chỉ Ngũ đại thời Nam Đường đích lưỡng cá hoàng đế,

          trung chủ Lí  Cảnh hòa hậu chủ Lí Dục.

21、三苏:是苏轼、苏洵、苏辙。 

         Tam Tô: thị Tô Thức, Tô Tuân, Tô Triệt              22、唐宋八大家:指韩愈,柳宗元,欧阳修,王安石,曾巩,苏轼,苏洵,苏辙。

       Đường Tống bát đại gia: chỉ Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, Âu Dương Tu, Vương An

      Thạch, Tăng Củng và tam Tô.

23、宋代词人中属于豪放派的有:苏轼、辛弃疾。

         Tống đại từ nhân trung thuộc vu “hào phóng phái” đích hữu: Tô Thức, Tân Khí Tật

24、宋代词人中属于婉约派的有:柳永、李清照。

        Tống đại từ nhân trung thuộc vu “uyển ước phái” đích hữu: Lưu Vĩnh, Lí Thanh

       Chiếu  (uyển ước: đẹp đẽ, chừng mực)

25、元代元曲四大家:指关汉卿、郑光祖、白朴、马致远。

      Nguyên đại Nguyên khúc tứ đaị gia: Quan Hánh Khanh,Trịnh Quang Tổ, Bạch Phác

                                                                 và  Mã Trí Viễn.     26、明代后七子:指宗臣,李攀龙,王世贞,谢榛,梁有誉,涂中行, 吴国伦。

        Minh đại hậu thất tử: Tông Thần, Lí Phàn Long, Vương Thế Trinh, Tạ  Trăn, Lương

       Hữu Dự, Đồ Trung Hành, Ngô Quốc Luân.               27、唐宗派:是明代前后七于的反对派作家有:王慎中、唐顺之、归有光。

         Đường tông phái: Minh đại tiền hậu thất vu đích phản đối phái tác gia: Vương Thận

           Chi, Đường Thuận Chi, Qui Hữu Quang (phái phản đối thể văn “tiền hậu 7 tiếng”)

28、公安派三袁:指袁宗道、袁宏道、袁中道。

        Công an phái tam Viên: Viên Tông Đạo, Viên Hoành Đạo, Viên Trung Đạo.

29、明末清初“三大思想家”:指顾炎武、黄宗羲、王夫之。

     Minh mạt Thanh sơ:“tam đại tư tưởng gia”: Cố Viêm Võ, Hoàng Tông Nghĩa, Vương

     Phu Chi                                                                               30、南施北宋:指清初著名诗人施闰章和宋琬。

            Nam Thi Bắc Tống: Thanh sơ trứ danh thi nhân Thi Nhuận Trương, Tống Uyển.

31、宋诗派:即清代“同光体”诗人,代表作家是陈三立、陈衍。

      Tống thi phái: tức Thanh đại “Đồng quang thể” thi nhân, đại biểu tác gia Trần Tam

                            Lập và Trần Diễn             32、浙西词派:清初词派,以浙江秀水(今嘉兴市)人朱彝尊为代表。

           Triết tây từ phái: Thanh sơ từ phái, dĩ Triết Giang tú thủy (kim Gia Hưng thị) nhân

                                      chu di vi đaị biểu

33、阳羡词派:清初词派,以江苏省宜兴人陈维崧为代表。

 Dương Tiễn từ phái: Thanh sơ từ phái, dĩ Giang Tô tỉnh Nghi Hưng nhân

                                  Trần Duy Tung vi đại biểu.

34、常州词派:清中叶词派,代表人物是张惠言。

         Thường Châu từ phái: Thanh trung Diệp từ phái, đại biểu nhân vật Trương Huệ Ngôn

35、桐城派:清中叶最著名的一个散文流派,主要作家有方苞、姚鼐。

         Đồng Thành phái: Thanh trung Diệp tối trứ danh nhất cá tản văn lưu phái, chủ yếu tác

                                     gia  hữu Phương Bao, Diêu Nãi  .

36、苏州作家群: 清初戏曲家群体,代表人有李玉, 朱素臣, 朱佐朝。

         Tô Châu tác gia quần: Thanh sơ hí khúc gia quần thể, đại biểu nhân hữu Lí Ngọc,

                                             Chu Tố Thần, Chu Tá Triêu

37、南洪北孔:指清初著名的戏剧家洪异和孔尚任。

        Nam Hồng bắc Khổng: Thanh sơ trứ danh hí kịch gia Hồng Dị, Khổng Thượng Nhâm

38、南社:成立于1909年,发起人为陈去病、高旭和柳亚子。

       Nam xã: thành lập vào1909, phát khởi nhân vi Trần Khứ Bệnh, Cao Húc & Liễu Á Tử    39、文学研究会:1921年1月成立于北京,由沈雁冰、郑振锋、叶绍钧、许地山、周作人等12人发起。其刊物有《小说月报》, 《文学旬刊》,《诗》月刊等。

        Văn học nghiên cứu hội: 1921 niên 1 nguyệt thành lập vu Bắc Kinh, do Thẩm Nhạn Băng, Trịnh Chấn Phong, Diệp Thiệu Quân, Hứa Địa Sơn, đồng tác nhân đẳng 12 nhân phát khởi. Kì san vật hữu “Tiểu thuyết nguyệt báo”,“Văn học tuần san”,“Thi” nguyệt san đẳng.               40、创造社:1921年7月成立于日本,发起人有郭沫若,郁达夫,成仿吾,田汉等。

       出版刊物有《创造》,《创造周报》,《创造日》等。

        Sáng tạo xã: 1921 niên 7 nguyệt thành lập vu Nhật Bản, phát khởi nhân hữu Quách

               Mạt  Nhược, Úc Đạt Phu, Thành Phảng Ngô, Điền Hán đẳng xuất bản san vật hữu  

                           “Sáng tạo”, “Sáng tạo chu báo”, “Sáng tạo nhật” đẳng.

41、中国左翼作家联盟:1930年3月成立。

         Trung Quốc tả dực (cánh tả) tác gia liên minh: thành lập tháng 3. 1930

42/42.“伤痕文学”, “反思文学”, “寻根文学”,“乡土文学”,“探索文学”

         “纪实文学”: 是当代文学的一些文学思潮。

     “Thương hận văn học”,” Phản tư văn học”,”Tầm căn văn học”, “Hương thổ văn học”,

    “Tham tác văn học”, “ Kỉ thực văn học”: đương đại văn học đích nhất ta văn học tư trào.

         (sau khi xóa bỏ tai họa “cách mạng văn hóa”, Đổi Mới văn học  kể từ 1980 …)


二、作家在文学史上的地位的归类

        Tác gia tại văn học sử thượng đích địa vị đích qui loại

1、孔子是我国古代伟大的思想家和教育家,儒家学派的创始人。

Khổng tử thị ngã quốc cổ đại vĩ đại tư tưởng gia hoà giáo dục gia, Nho gia học phái đích sáng thủy nhân.

2、孟子是孔子之后儒家学派的主要代表。

        Mạnh tử thị Khổng tử chi hậu Nho gia học phái đích chủ yếu đaị biểu

3、庄子是老子之后道家的主要代表。

       Trang tử thị Lão tử chi hậu Đạo gia đích chủ yếu đại biểu.

4、屈原是我国古代第一个伟大的爱国诗人。

         Khuất Nguyên thị ngã quốc cổ đại đệ nhất cá vĩ nhân đich ái quốc thi nhân

5、荀于是战国末期儒家思想的集大成者。

           Tuân Húc thị Chiến quốc mạt kì Nho gia tư tưởng đích tập đại thành giả.

6、韩非于是战国末期法家思想员著名的代表。

         Hàn Phi vu thị Chiến quốc mạt kì Pháp gia tư tưởng viên trứ danh đích đại biểu.

7、李斯是秦代散文作家中的代表人物。

        Lí Tư thị Tần đại tản văn tác gia trung đích đại biểu nhân vật.

8、曹操是建安文坛的领袖,开风气之先,影响一代诗风。

        Tào Tháo thị Kiến An văn đàn đích lãnh đạo, khai phong khí chi tiên,

            ảnh hưởng nhất đại thi phong

9、曹植是建安时期最负盛名的作家。      

        Tào Thực thị Kiến An  đích kì tối thịnh danh đích tác gia.

 10、陶渊明:中国文学史上第一人以自己的田园生活为内容进行诗歌创作。

    Đào Uyên Minh: Trung quốc văn học sử thượng đệ nhất dĩ tự kỉ  đích điền viên

    sinh hoạt vi nội dung tiến hành thi ca sáng tác.     11、鲍照:是南朝刘宋时期成就最高的诗人:其乐府诗对唐代诗人有很大影响。

     Bão Chiếu: Nam triều lưu Tống thì kì thành tựu tối cao đích thi nhân, kì Nhạc phủ đối

             Đường đại thi nhân hữu ngận đaị ảnh hưởng.

12、王维是盛唐田园山水诗派的代表作家。

Vương Duy thị Thịnh Đường điến viên sơn thủy thi phái đích đaị biểu tác gia.

13、李白是继屈原之后我国最伟大的浪漫主义诗人。

 Lí Bạch thị kế Khuất Nguyên chi hậu ngã quốc tối vĩ đại đích lãng mạn chủ nghĩa thi nhân

14、杜甫是我国古代最伟大的现实主义诗人。

Đỗ Phủ thị ngã quốc cổ đại tối vĩ đại đích hiện thực chủ nghĩa thi nhân.

15、岑参是盛唐著名的边塞诗人。 

       Sầm Tham thị Thịnh Đường trứ danh đích biên tái thi nhân.              16、白居易是中唐杰出的现实主义诗人,新乐府运动的倡导者和主要代表。

        Bạch Cư Dị thị Trung Đường kiệt xuất đích “hiện thực chủ nghĩa” thi nhân, Tân nhạc

        phủ vận động đích xướng đạo giả & chủ yếu đại biểu.                17、韩愈是唐代古文运动的倡导者和领袖,被后人尊为“唐宋八大家”之首

         Hàn Dũ thị Đường đại cổ văn vận động đích xướng đạo giả & lãnh tụ, bị hậu nhân

        tôn vi  “Đường Tống 8 đại gia” chi thủ.                       

18、李商隐是晚唐诗坛上的著名诗人。

         Lí Thương Ẩn thị Vãn Đường thi đàn thượng đích trứ danh thi nhân  .

19、欧阳修是北宋诗人革新运动的领袖。 

Âu Dương Tu thị Bắc Tống thi nhân cách tân vận động đích lãnh tụ.          20、王安石是北宋著名的政治家和文学家,被列宁称为“中国十一世纪的改革家”

Vương An Thạch thị Bắc Tống trứ danh đích chính trị gia & văn học gia,

bị liệt ninh xứng vi “Trung quốc thập nhất thế kỉ đích cải cách gia”             21、苏拭是宋代文艺创作成就最为全面的一位作家,豪放词派的创始人。

Tô Thức  thị Tống đại văn nghệ sáng tác thành tựu tối vi toàn diện đích nhất vị tác gia,

                        “hào phóng lưu phái” sáng thủy nhân.

 22、柳永是北宋第一个专力写词的作家,也是婉约派词人的代表。

   Lưu Vĩnh tác gia chuyên viết Từ đệ nhất Bắc Tông, dã thị uyển ước phái từ nhân đại biểu

23、陆游是南宋伟大的爱国诗人。

        Lục Du thị Nam Tống vĩ đại đích ái quốc thi nhân.

24、李清照是我国古代文学史上难得的女作家, 女词人。

Lí Thanh Chiếu thị ngã quốc cổ đại văn học sử thượng nan đắc nữ tác gia, nữ từ nhân.

25、关汉卿是元代杂剧的奠基人。

Quan Hán Khanh thị Nguyên đại tạp kịch đích điện cơ nhân (người gây dựng)

26、马致远是元代著名的杂剧家、散曲家,有“曲状元”之称。

Mã Trí Viễn thị Nguyên đại trứ danh đích tạp khúc gia, hữu “Khúc trạng nguyên” chi xứng

27、王实甫是元代前期杰出的杂剧作家。

Vương Thực Phủ thị Nguyên đại tiền kì kiệt xuất đích tạp kịch tác gia

28、张养浩是元代著名的散曲家。

        Trương Dưỡng Hạo thị Nguyên đại trứ danh đích tản khúc gia.

29、于谦是明代著名的诗人。

         Vu Khiêm thị Minh đại trứ danh đích thi nhân.

30、汤显祖是明代成绩最高的剧作家。

       Thang Hiền Tổ thị Minh đại thành tích tối cao đích kịch tác gia.

31、冯梦龙是明末通俗文学的一代大家。

       Phùng Mộng Long thị Minh mạt thông tục văn học đích nhất đại đại gia.

32、王夫之是清初著名诗文理论家。

        Vương Phu Chi thị Thanh sơ trứ danh thi văn lí luận gia.    

33、李渔是清初杰出的戏剧理论家和创作家。

         Lí Ngư thị Thanh sơ kiệt xuất đích hí kịch lí luận gia & sáng tác gia

34、曹雪芹是我国清代伟大的现实主义作家。

       Tào Tuyết Cần thị ngã quốc Thanh đại vĩ đại đích “hiện thực chủ nghĩa” tác gia.

35、梁启超是最早高度评价和极为提倡小说创作的人。

Lương Khải Siêu thị tối tảo cao độ bình giá & cấp vi đề xướng tiểu thuyết sáng tác nhân

36、黄遵宪是“诗界革命”的一面旗帜。

         Hoàng Tuân Hiến thị “thi giới cách mạng” đích nhất diện kì xí.

37、龚自珍是近代历史开端之际得风气之先的思想家和文学家。

        Cung Tự Trân thị cậnđại lịch sử khaiđoan chi tế đắc phong khí chi tiên đích tư tưởng

         gia &  văn học gia.

38/38、鲁迅是一位文学家、教育家,也是现代文学的奠基者。

Lỗ Tấn thị nhất vị văn học gia, giáo dục gia, dã thị hiện đại văn học đích điện cơ giả

三、主要文学创作基本特点的归类。

     Chủ yếu văn học sáng tác cơ bản đặc điểm đích qui loại.

1、《论语》的艺术特色有  “Luận ngữ” đích nghệ thuật đặc sắc hữu:  

①浅显,简练,富于哲理性。Thiển hiển, giản luyện, phú vu triết lí tính

②在简单的对话中表现人物形象。

Tại giản đơn đích đối thoại trung biểu hiện nhân vật hình tượng.

2、《墨子》的艺术特色有: Mặc tử  đích nghệ thuật đặc sắc hữu

①质朴少文采, 但逻辑性很强。

     Chất phác thiểu văn biện, đãn la  tập tính ngận cường.

②善于运用具体事例来说理,从具体问题的争论进而为概括性的辩难,

    是说理文的一大进展。

Thiện vu vận động cụ thể sự lệ lai thuyết lí, tòng cụ thể vấn đề đích tranh luận tiến

           nhi vi khái quát tính đích biện nan, thị thuyết lí văn đích nhất đại tiến triển.

3、孟子散文的艺术特色有:Mạnh tử tản văn đích nghệ thuật đặc sắc hữu:

①气势充沛,笔力锋芒,富于鼓动性,有纵横家,雄辩家气概。

            Khí thế sung phái, bút lực phong mang, phú vu cổ động tính, hữu tung hoành gia,

                    hùng biện khí khái.

②常用巧妙的譬喻和寓言式的小故事来阐明道理,生动而有说服力。

Thường dụng xảo diệu đích ví dụ & ngụ ngôn thức đích tiểu cố sự lai xiển minh

đạo lí,  sinh động nhi hữu thuyết phục lực.

4、庄子散文的艺术特色有:Trang tử tản văn đích nghệ thuật đặc sắc hữu:

4.1.想象奇幻, 构思奇特, 极富浪漫主义色彩。

Tưởng tượng kì huyễn, cấu tứ kì đặc, cấp phú lãng mạn chủ nghĩa sắc thái.

4.2.好用各种比喻和寓言来阐明道理,寓抽象概念于具体形象。

Hiếu dụng các chủng tỉ dụ & ngụ ngôn lai xiển minh đạo lí, ngụ trừu tượng khái

niệm vu  cụ thể hình tượng.

4.3.行文汪洋恣肆,变化万端。Hành văn uông dương tứ tứ, biến hóa vạn đoan                                 5、《荀子》的艺术特色是:

 体系完整,长篇大论, 论点明确,论证严密,巧譬博喻,句式整齐。 

 “Tuân tử” đích nghệ thuật đặc sắc thị: thể hệ hoàn chỉnh, trường thiên đại luận,

 luận điểm minh xác, luận chứng nghiêm mật, xảo thí bác dụ, câu thức chỉnh tề.           6、《韩非子》议论透辟,观点鲜明,切中要害,标志着先秦理论文的进一步发展        

     “Hàn phi tử” nghị luận thấu tịch, quan điểm xiển minh, thiết công yếu hại, tiêu chí khán

                    tiên Tần lí luận văn đích tiến nhất bộ phát triển.  

7、《战国策》的艺术特色是:Chiến quốc sách

①叙事说理铺张渲染,纵横您肆。

     Tự sự thuyết lí phô trương tuyển nhiễm, tung hoành nhâm tứ.

②善用比喻和寓言故事。  Thiện dụng tỉ dụ & ngụ ngôn cố sự.

③刻划人物,鲜明生动。Khắc hoạ nhân vật xiển minh, sinh động.             

8、《离骚》的艺术特色是:Li Tao

① 273句,2400余字,是我国古典文学中最长的抒情诗。

             273 câu, 2400 dư tự, thị ngã quốc cổ điển văn học trung tối trường đích trữ tình thi.

②塑造了诗人伟大爱国者的主体形象。

    Tố tạo liễu thi nhân vĩ đại ái quốc giả đích chủ thể hình tượng.

③融铸神话传说,驰聘想象,创造出神奇瑰丽的境界以表现对理想的热烈

    追求,具有浓郁的浪漫主义色彩。

Dung chú thần thoại truyền thuyết, trì sính tưởng tượng, sáng tạo xuất thần, kì khôi

 lệ đích cảnh giới dĩ biểu hiện đối lí tưởng đích nhiệt liệt truy cầu, cụ hữu nùng uất

đích lãng mạn chủ nghĩa sắc thái.

④继承和发展了《诗经》的比兴手法.香草美人,寄托遥深。                 

Kế thừa & phát triển liễu “Thi kinh”đích tỷ hứng thủ pháp, hương thảo mĩ nhân, kí

thác diêu thâm.

9、《吕氏春秋》是一种系统化的集合许多单篇的说理文,层层深入,最负条理

往以寓言故事为譬喻,富有形象性。

        “Lã thị Xuân Thu” thị nhất hệ thống hóa đích tập hợp hứa đa đơn thiên đích thuyết lí

          văn, tằng tằng thâm nhập, tối phú điều lí, vãng dĩ ngụ ngôn cố sự thí dụ, phú hữu

          hình tượng tính.

10、《史记》的艺术特色有:Sử kí đích nghệ thuật đặc sắc hữu

①塑造了丰富多彩的, 性格鲜明的一系列人物形象。

Tố tạo liễu phong phú đa thái đích tính cách xiển minh đích nhất hệ liệt nhân vật

 hình tượng

② 谋篇布局,独具匠心, 善于选择,剪裁和集中史料,

  善用“互见法”, 善写大事和紧张场面,并以细节描写来刻划人物。

Mưu thiên bố cục, độc cụ tượng tâm, thiện vu tuyển trạch, tiễn tài & tập trung sử

liệu,  thiện dụng “hỗ kiến pháp”, thiện tả đại sự & khẩn trương trường diện, bính dĩ

chi tiết  miêu tả lai khắc họa nhân vật

③ 寓褒贬于叙事,有强烈的抒情性。

     Ngụ bao biếm vu tự sự, hữu cường liệt đích trữ tình tính.

④ 语言生动、准确、灵活。     

     Ngữ ngôn sinh động, chuẩn xác, linh hoạt.                  11、《孔雀东南飞》的艺术特色有:

Khổng tước đông nam phi đích nghệ thuật đặc sắc hữu:

①是我国古代最长的叙事诗,代表了汉乐府的最高艺术成就。

             Thị ngã quốc cổ đại tối trường đích tự sự thi, đaị biểu liểu Hán nhạc phủ đích tôi cao

        nghệ thuật thành tựu.

①成功地塑造了刘兰芝、焦仲卿等几个鲜明的人物形象。

Thành công địa tố tạo liễu Lưu Lan Chi, Tiêu Trọng Khanh đẳng kỉ cá xiển minh

   đích nhân vật hình tượng.

③情节曲折,结构完整,结尾富有浪漫主义色彩。

        Tình tiết khúc chiết, kết cấu hoàn chỉnh, kết vĩ phú hữu lãng mạn chủ nghĩa sắc thái.

12、曹操诗歌创作的特色有: Tào Tháo thi ca sáng tác đích đặc sắc hữu

①大都用乐府旧题表现新的内容。

    Đại đô dụng Nhạc phủ cựu đề biểu hiện tân đích nội dung.

②风格苍凉悲壮。 Phong cách thương lương bi tráng.             13、《世说新语》的艺术特色有 “Thế thuyết tân ngữ” đích nghệ thuật đặc sắc hữu:

   ①善于通过富有特征性的细节勾勒人物的性格和精神面貌,使之栩栩如生

   Thiện vu thông quá phú hữu đặc trưng tính đích tế tiết câu lặc nhân vật đích tính cách   

   hòa tinh thần diện mạo, sử chi hủ hủ  (hớn hở) như sinh.

②记事与记言相结合. Kí sự dữ kí ngôn tương kết hợp.

③语言精炼含蓄,隽永传神。

     Ngữ ngôn tinh luyện hàm súc, tuấn vĩnh truyền thần.

14. 陶渊明田园诗的艺术特色有

    Đào Uyên Minh điền viên thi đích nghệ thuật đặc sắc hữu.

①风格完整,意境深远。 Phong cách hoàn chỉnh, ý cảnh thâm viễn.

②语言平淡自然,富于韵味. Ngữ ngôn bình đạm tự nhiên, phú vu vận vị.

③对田园有着真挚的爱,情景交融。        

    Đối điền viên hữu khán chân chí đích ái, tình cảnh giao dung.

15、南朝乐府民歌的艺术特色有. Nam triều Nhạc phủ dân ca

          ①体裁短小,多为五言四句. Thể tài đoản tiểu, đa vi ngũ ngôn tứ cú

②语言清新自然。Ngữ ngôn thanh tân tự nhiên.

③广泛运用双关语。 Quảng phiếm vận dụng song quan ngữ.

 16、北朝乐府民歌的艺术特色有:Bắc triều Nhạc phủ dân ca

 ①题材比较广阔, 以五言四句为主

      Thể tài tỉ giác nghiễm khoát, dĩ ngũ ngôn tứ cú vi chủ.

 ②语言质朴,风格豪放刚健,是现实主义的风格。

      Ngũ ngôn chất phác, phong cách hào phóng cương khang, thị hiện thực chủ

    nghĩa đích phong cách.   

 17、《搜神记》的艺术特色有 Sưu thần kí :

            ①行文简洁质朴,有魏晋史家的行文特征

                 Hành văn giản khiết chất phác, hữu Ngụy Tấn sử gia đích hành văn đặc trưng.

              ②一些名篇结构完整,情节较丰富,粗具短篇小说的规模,

                人物形象比较鲜明。

              Nhất ta danh thiên kết cấu hoàn chỉnh, tình tiết giác phong phú, thố cụ đoản

               thiên tiểu thuyết đích qui mô, nhân vật hình tượng tỉ giác xiển minh.

18、王维诗歌的特色有:Vương Duy

①融诗情画意于一体。Dung thi tình họa ý vu nhất bản

②风格清新淡雅,意境幽远 Phong cách thanh tân đạm nhã, ý cảnh u viễn.

19、李白诗歌的风格是:飘逸, 奔放, 雄奇, 壮丽。

             Lí Bạch thi ca đích phong cách thị: phiêu dật, bôn phóng, hùng kì, tráng lệ.

20.  杜甫诗歌的风格是:浓郁顿挫.

            Đỗ Phủ thi ca đích phong cách thị: nồng uất, đốn tỏa.

21、岑参诗歌的风格特点有:感情真实, 气势磅礴, 想象新奇, 格调激越。

           Sầm Tham thi ca đích phong cách đặc điểm hữu: cảm tình chân thực, khí thế bàng

           bạc,  tưởng tượng tân kì,  cách điệu kích việt.

22、白居易诗歌的特点是:Bạch Cư Dị thi ca đích đặc điểm thị

          ①通俗易懂, 雅俗共赏. Thông tục dị đổng, nhã tục cộng thưởng.

②常用对比手法.  Thường dụng đối tỉ thủ pháp.

          ③注重人物描写.  Chú trọng nhân vật miêu tả.       

23. 李商隐诗歌的特色有: Lí Thương Ẩn thi ca đích đặc sắc hữu:

1.诗歌风格雄浑悲壮  Thi ca phong cách hùng hồn bi tráng.

2.词作兼有豪放和婉约之长.Từ tác kiêm hữu hào phóng & uyển ước chi trường.

24、柳永词作的特点有:Lưu Vĩnh từ nhân đích đặc điểm hữu:

①多写都市繁华景象及青楼歌妓的生活。

     Đa tả đô thị phồn hoa cảnh tượng cập thanh lâu ca kĩ đích sinh hoạt.

②尤善于表达羁行役之苦。 Ưu thiện vu biểu đạt ki hành dịch chi khổ.            

③大量制作慢词. Đại lượng chế tác mạn từ.

④以铺叙见长  Dĩ tự tự kiến trường.                  25、辛弃疾词作的特色有:词风以豪放悲壮为主,”慷慨纵横,有不可一世之概” 

              Tân Khí Tật từ tác đích đặc sắc hữu: từ phong dĩ hào phóng bi tráng vi chủ,

                    “ khảng khái tung hoành, hữu bất khả nhất thế chi khái”        

 26、”三国演义”艺术特色:Tam quốc diễn nghĩa nghệ thuật đặc sắc:

           ①善于刻画人物形象。Thiện vu khắc hạo nhân vật hình tượng.

           ②语言传神, 生动, 准确. Ngữ ngôn truyền thần, sinh động, chuẩn xác.

 27、《水浒传》艺术特色: Thủy hử truyện nghệ thuật đặc sắc:

①塑造了一批有血有肉, 个性鲜明的英雄形象。

  Tố tác liễu nhất phê hữu huyết hữu nhục,cá tính xiển minh đích anh hùng hình tượng

②艺术结构非常完整。Nghệ thuật kết cấu phi thường hoàn chỉnh.

③以当时人民的口语为基础,创造了通俗, 丰富的文学语言。

                Dĩ đương thì nhân dân đích khẩu ngữ vi cơ sở, sáng tạo liểu thông tục,

      phong phú đích văn học ngữ ngôn.

28、《西游记》艺术特色: Tây du kí nghệ thuật đặc sắc:

    ① 变采用浪漫主义的创作方法。充分发挥幻想小说的特点,塑造鲜明,生动

    的理想化的英雄形象。

 Biến thái dụng lãng mạn chủ nghĩa đích sáng tác phương pháp.

 Sung phân phát huy huyễn tưởng tiểu thuyết đích đặc điểm, tố tạo xiển minh,

 sinh động đích lí tưởng hóa đích anh hùng hình tượng

     ②作者善于通过故事来描写人物,也喜欢用对照手法来刻画人物。

Tác gỉa thiện vu thông quá cố sự lai miêu tả nhân vật, dã hỉ hoan dụng đối chiếu

thủ  pháp lai khắc họa nhân vật.

③幽默和诙谐。有流利, 明快、生动的语言特点。    

          U mặc  hòa  khôi hài. Hữu lưu lợi, minh khoái, sinh động đích ngữ ngôn đặc điểm.         

29、《聊斋志异》艺术特色: Liêu trai chí dị đích nghệ thuật đặc sắc:

              ①善于把幻域和现实, 虚构和真实结合起来塑造人物。Thiện vu bả huyễn vực hòa

            hiện thực, hư cấu hòa chân thực kết hợp khởi lai tố tạo nhân vật.

②语言是经过锤炼的文言, 但又吸收和提炼了口语, 古雅简洁, 清新活泼 

 Ngữ ngôn thị kinh quá chùy luyện đích văn ngôn, đãn hựu hấp thu hòa đề luyện

khẩu  ngữ, cổ nhã giản khiết, thanh tân hoạt bát.

30/30、《红楼梦》的艺术特色: Hồng lâu mộng đích nghệ thuật đặc sắc:

①成功地塑造了众多的, 个性鲜明的人物形象。

      Thành công địa tố tạo liễu chúng đa đích, cá tính tiên minh đích nhân vật hình tượng

②结构宏伟严密. Kết cấu hùng vĩ nghiêm mật.

③语言简洁而纯净, 准确而传神,朴素而多变采。

   Ngữ ngôn giản khiết nhi đồn tịnh, chuẩn xác nhi truyền thần, phác tố nhi đa biến thái.

四、主要著作的文体性质归类

        Chủ yếu trứ tác đích văn thể tính chất qui loại

1、《论语》是我国先秦时期一部语录体散文集。

           “Luận ngữ” thị Bộ ngữ lục thể tản văn tập thời kì TiênTần

2、《春秋》是鲁国的编年史.

“Xuân thu” thị Lỗ quốc đích biên niên sử

3、《战国策》是一部国别体杂史书,也是一部优秀的散文总集。

          “Chiến quốc sách” thị nhất bộ quốc biệt thể tạo sử thư, dã thị nhất bộ uu tú đích tản

           văn  tổng tập.

4、《国语》是一部国别体史书. Quốc ngữ : thị nhất bộ quốc biệt thể sử thư                  5、《左传》是我国早期的编年体历史著作,同时也是具有文学价值的散文名著

       “Tả truyện” thị Biên niên thể lịch sử sớm nhất, đồng thì dã thị cụ hữu văn học giá trị đích

                        tản văn danh trứ.

6、《史记》是我国第一部纪传体通史,同时它也是一部伟大的传记文学作品

            “Sử kí” thị ngã quốc đệ nhất bộ kí truyện thể thông sử, đồng thì tha dã thị nhất bộ

                       vĩ đại  đích truyện kí văn học tác phẩm.

7、《诗经》是我国最早的一部诗歌总集,

          Thi kinh: Bộ tổng tập thi ca sớm nhất

8、《乐府诗集》是唐五代以前乐府诗的总集。

            Nhạc phủ thi tập: Đường ngũ đại coi đây là tổng tập thơ Nhạc phủ tiền kì.

9、《世说新语》是一体按内容分类的笔记小说集。

          Thế thuyết tân ngữ thị Một tập tiểu thuyết bút kí phân loại nội dung (thể văn chương)

10、《西厢记》是元杂剧,是我国古典杂曲国的不朽著作。

Tây sương kí thị Tác phẩm tạp khúc cổ điển bất hủ của tạp kịch Nguyên..                             11、《三国演义》是我国第一部长篇章回小说,也是历史演义小说的开山 之作 

          “Tam quốc diễn nghĩa” thị đệ nhất bộ trường thiên chương hồi tiểu thuyết,

                                                       dã thị lịch sử diễn nghĩa tiểu thuyết đích khai sơn chi tác.     

12、《西游记》是中国古代最杰出的长篇神魔小说。

        “Tây du kí” thị Trung quốc cổ đại tối kiệt xuất đích trường thiên thần ma tiểu thuyết.

13、《金瓶梅》是第一部文人独作的白话长篇小说

         Kim Bình Mai thị đệ nhất bộ văn nhân độc tác đích bạch thoại trường thiên tiểu

         thuyết (độc tác: không dùng tài liệu đã có, tự mình hoàn toàn hư cấu)       

14、“三言二拍”是明代代表性的短篇小说集。

         “Tam ngôn nhị phách” thị Minh đại điển hình tính đích đoản thiên tiểu thuyết tập.             15、《聊斋志异》是清初最富有创造性, 文学成就最高的志怪传奇文言小说、

      “Liêu trai chí dị” thị Thanh sơ tối phú hữu sáng tạo tính, văn học thành tựu tối cao đích

         chí quái truyền kì văn ngôn tiểu thuyết.

16、《儒林外史》是我国古代最杰出的讽刺文学的代表作。

       “Nho lâm ngoại sử” thị  cổđại tối kiệt xuất đích phúng thích vănhọc đích đại biểu tác.

17、《红楼梦》是中国古代世情长篇小说的高峰。

      Hồng lâu mộng :  thế tình trường thiên tiểu thuyết đích cao phong.                  18/18、《水浒传》是第一部描写农民起义全过程的英雄传奇长篇小说。

      “Thủy hử truyện” thị đệ nhất bộ miêu tả nông dân khởi nghĩa toàn quá trình đích

                                 anh hùng truyền kì trừơng thiên tiểu thuyết.

五、主要著作的基本内容归类

       Chủ yếu trứ tác đích cơ bản nội dung qui loại  

                   1、《诗经》分为“风”,“雅”,“颂”三个部分,“风”是采自15个地区的诗,其中大多数是民歌;“雅”有《大雅》,《小雅》, 是产生地王都附近的诗;

        “颂”有《周颂》, 《鲁颂》, 《商颂》, 是用于宗庙祭祀的诗。

 “Thi kinh”phân vi “phong”, “nhã”, “tụng” tam cá bộ phận, “phong” thị thái tự 15 cá địa khu đích thi, kì trung đại đa số thị dân ca; “nhã” hữu “đại nhã”, “tiểu nhã” thị sản sinh địa phương đô phụ cận đích thi; “Tụng” hữu Chu tụng, Lỗ tụng, Thương tụng thị dụng vu tông miếu tế tự đích thi.

2、《论语》主要记载孔子及其弟子的言行。

         “Luận ngữ” chủ yếu kí tải Khổng tử cập kì đệ tử đích ngôn hành.

3、《战国策》记载了战国时期谋臣策士洲说各国或互相辩难的言论和行动  

          “Chiến quốc sách” kí tải Chiến quốc thì kì mưu thần sách sĩ  Chu thuyết các quốc

           hoặc hỗ tương biện nan đích ngôn luận & hành động.

4、《左传》记叙了春秋时期250多年间各诸侯国的政治,军事, 经济,     

                  交等方面的历史事实。

          “Tả truyện” kí tự liễu Xuân thu thì kỳ 250 đa niên gian các chư hầu quốc đích chính

                      trị,  quân sự, kinh tế, giao đẳng phương diện đích lịch sử sự thực.

5、《史记》记叙了上自传说中的黄帝, 下至汉武帝太初年间共3000多年的历史。

       “ Sử kí”  kí sự liễu thượng tự truyền thuyết trung đích Hoàng đế, hạ chí Hán vũ đế thái

                     sơ chu niên gian cộng 3000 đa niên đích lịch sử.

6、《西厢记》写书生张生与崔相国之女莺莺追求婚姻自由, 反对封建礼教的故事   

           “Tây sương kí” tả thư sinh Trương sinh dữ Thôi tướng quốc chi nữ Oanh Oanh truy

          cầu hôn nhân tự do, phản đối phong kiến lễ giáo đích cố sự.

7、《世说新语》记载了东汉末年至东晋年间许多贵族, 名人的言谈逸事。

           “Thế thuyết tân ngữ” kí tải liễu Đông Hán mạt niên chí Đông Tấn niên gian hứa đa

                                      quí tộc, danh nhân đích ngôn đàm dật sự.

8、《三国演义》

       以蜀汉与曹魏的斗争为主线, 描写了自汉末群雄逐鹿至西晋统一历史进程                        

       “Tam quốc diễn nghĩa” dĩ Thục Hán dư Tào Ngụy đích đấu tranh chủ tuyến, miêu tả liễu  tự Hán mạt quần hùng trục lộc chí Tây Tấn thống nhất lịch sử tiến trình.

9. “水浒传” 描写梁山泊农民起义发生, 发展到失败的全过程

“Thủy hử truyện”miêu tả Lương sơn bạc nông dân khởi nghĩa phát sinh, phát triển đáo thất bại đích toàn quá trình.

10、”西游记”

以孙悟空为中心,写唐僧师徒四人西天取经的故事。寄寓了广大人民反抗黑暗势力,要求战胜自然,克服困难的精神,曲折地反映了封建时代的社会现实。

     “Tây du kí”dĩ Tôn Ngộ Không vi trung tâm, tả Đường Tăng sư đồ tứ nhân Tây Thiên thủ kinh đích cố sự.  Kỳ ngụ liễu quảng đại nhân dân phản kháng hắc ám thế lực, yêu cầu chiến thắng tự nhiên, khắc phục khó khăn đích tinh thần, thủ chiết địa phản ánh liễu phong kiến thời đại đích xã hội hiện thực.        

11、《红楼梦》以贾,王,史,薛四大家族为背景,以贾宝玉,  、林篱玉的爱情悲剧为主要线索,着重描写了贾家荣, 宁二府由盛到衰的过程。

 “Hồng lâu mộng”  dĩ Giả, Vương, Sử, Tiết tứ đại gia tộc vi bối cảnh, dĩ Giả Bảo Ngọc, Lâm li Ngọc đích ái tình bi kịch vi chủ yếu tuyến tác, khán trọng miêu tả liễu Giả gia Vinh, Ninh nhị phủ do thịnh đáo suy đích quá trình.                                 12、《聊斋志异》描写歌颂爱情。抨击科举制度的腐败。揭露现实政治的腐败和政治阶级对人民的残酷压迫。热情地歌颂被压迫人民的反抗斗争。

  “Liêu trai chí dị” miêu tả ca tụng ái tình. Bình kích (phê phán) khoa cử chế độ hủ bại. Yết lộ (phơi bày) hiện thực chính trị đích hủ bại hòa chính trị giai cấp đối nhân dân đích tàn khốc áp bức. Nhiệt tình địa ca tụng bị áp bức nhân dân đích phản kháng đấu tranh.           

13、《桃花扇》以候方域、李香君的爱情故事为线索,写南明王朝兴亡的历史

                      “借离合之情,写兴亡之感。”

 “Đào hoa phiến” dĩ Hầu Phương Vực, L‎í Hương Quân đích ái tình cố sự vi tuyến tác, tả nam  Minh vương triều hưng vong đích lịch sử,“tá li hợp chi tình tả hưng vong chi cảm”.     14、《长生殿》一方面颂扬李,杨之间生死不渝的爱情,表达了作者的爱情理想

                 另一方面又谴责他们荒淫祸国,企图达到“垂戒来世”的目的” 

Trường sinh điện nhất phương diện tụng dương lí, dương chi gian sinh tử bất du đích ái tình, biểu đạt liễu tác giả đích ái tình lí tưởng; lánh nhất phương diện hựu khiển trách tha môn hoang dâm họa quốc, xí đồ đạt đáo “thùy giới lai thế” đích mục đích.

 15/15、《牡丹亭》通过杜丽娘和柳梦梅生离死合的爱情故事, 

                               提示了反封建礼教的主题。                                           

“Mẫu đơn đình” thông quá Đỗ Lệ Nương hòa Liễu Mộng Mai sinh li tử biệt đích ái tình cố sự, đề thị liễu phản phong kiến lễ giáo đích chủ đề (Tác giả: Thang Hiền Tổ, Minh triều)


6. Tác gia và nhà lý luận văn học

1. Khổng tử đề xướng lấy việc dạy thơ là cốt lõi, lại đề ra thuyết “hưng, quan, quần, oán”. (*[1])
2. Mạnh Tử đề xuất tư tưởng mỹ học của văn nghệ là “cùng  niềm vui của nhân dân”, kết hợp phương pháp luận phê bình văn học là “lấy ý đón chí”, “hiểu người mà bàn về cuộc đời”.

3. Lão Tử đề xướng luận thuyết “Âm lớn quá hóa nhỏ, hình quá lớn thì vô hình”.

4. Trang Tử viết bài đề cao giới tự nhiên, phản đối thuyết lấy người làm trung tâm, đề xướng “bức tranh hư ảo”, “vật hóa” và “được ý mất lời”.
5. Khuất Nguyên đề xướng thuyết “Căm hận sinh cảm xúc làm thơ”.
6. Tư Mã Thiên đề xướng thuyết “Căm hận viết ra sách”.

7. Vương Sung viết luận văn đề xướng thuyết “Chân thiện mỹ thống nhất và hòa hợp”.
8. Chung Vinh viết luận văn “Lấy nghiên cứu trực tiếp ngôn từ làm cốt lõi”.

9. Lý Bạch bày tỏ lý luận thi ca: đề cao tự nhiên và thanh tân

10. Vương Xương Linh đề xướng lý thuyết “Cảnh vật trong thơ”.
11. Tư Không Đồ viết luận văn bàn về phẩm chất của thơ “Ngoài vị lại có vị, ngoài hình có hình, ngoài cảnh có cảnh” (ý nói sự hàm súc, tầng lớp trùng điệp của thơ, tạo ra sự tưởng tượng và liên tưởng)

12. Hàn Dũ viết luận văn “văn và đạo hợp nhất, việc qua kể lại, cảm hứng sang mãn thì thành văn, văn thuận theo chữ”.
13. Âu Dương Tu viết luận văn “Văn chương phải làm sáng đạo, hữu ích cho trí tuệ, gây niềm tin tưởng, làm đẹp lời nói”

14. Bạch Cư Dị chủ trương “sáng tác văn chương hợp với thời cuộc, viết thi ca hợp với sự việc)
15. Nghiêm Vũ bàn về thơ, yêu cầu cần có “ biệt tài, hứng thú đặc biệt”, “nhận thức kỳ diệu” và “lấy nghệ thuật thời Thịnh Đường làm chuẩn mực noi theo”.

16. Lý Trập chủ trương “thuyết đồng tâm” (giữa tác giả và bạn đọc)
17. Trường phái Công An đề xướng “thuyết tính linh”, tận cùng sẽ biến đổi, gắng sức tìm cái mới”

18. Vương Thổ Trinh chủ trương “thuyết gieo vần tinh thần”

19. Thẩm Đức Tiềm chủ trương thuyết “cách điệu trong văn chương”.
20. Ông Phương Cương chủ trương “cơ lý thuyết” (về vận động).
21.Viên Mai chủ trương “thuyết tính linh” (năng lực bẩm sinh có linh cảm)

7. Tác phẩm lý luận văn học
1. Tào Phi bàn về kinh điển, luận văn.
2. Lục Cơ bàn về thể “phú”
3. Chung Vinh bàn về “Tác phẩm thơ”
4. Lưu Hiệp viết tác phẩm “Văn tâm điêu long” (Bàn về văn chương). 
5. Đỗ Phủ bàn về niềm vui làm thơ sáu câu (Hý vi lục tuyệt cú)
6. Bạch Cư Dị gửi thư cho nhà thơ Nguyên Chẩn, bàn về thi ca .

7. Hiệu Nhiên bàn về thể thức làm thơ
8. Tư Không Đồ giới thiệu 24 bài thơ tiêu biểu

9. Nữ từ nhân Lý Thanh Chiếu bàn về thể Từ (Luận từ)
10.Trương Giới bàn về tập thơ Đường của Tuế Hàn
11. Nghiêm Vũ viết “Thương Lãng thi thoại” (Bàn về thơ Thương Lãng)
12. Trương Viêm bàn về nguồn gốc của thể loại Từ

13. Diệp Tiếp bàn về nguồn gốc của  thơ (Nguyên thi)

Kết luận

Văn học Trung Quốc rất đa dạng phong phú, chỉ cần ít nhất hai cây bút là hình thành một tư trào, lưu phái. Đúng là một nền văn học “trăm hoa đua nở”. Tài liệu này chỉ nêu ra những tác phẩm nổi bật đại diện cho mỗi thể loại văn học hoặc trường phái sáng tác qua nhiều thời kỳ khác nhau, trong số thiên kinh vạn quyển của nền văn học Trung Quốc…Tuy nhiên giới nghiên cứu văn học bỏ qua thành tựu văn học xây dựng CNXH (1949-1976) – có lẽ họ còn thận trọng khi đánh giá giai đoạn đặc biệt này.

Người Trung Quốc có thói quen nói tắt, viết tắt. Chẳng hạn “Trường Đại học Bắc Kinh” nói là “Bắc đại”, còn trong văn học nghệ thuật thì lối viết tắt trở thành thuật ngữ văn học. Như “Tam Tào” tức “ba cha con Tào Tháo”, “Lý- Đỗ” (Lý Bạch và Đỗ Phủ), tiểu Lý – Đỗ (Lý Thương Ẩn và Đỗ Mục), “Kiến An thất tử” gồm bảy nhà thơ. v.v… Kiểu nói tắt có thể tóm gọn được cả những lý luận dài dòng, như câu Khổng tử nói về Kinh Thi “Hưng quan quần oán” đủ mô tả tác dụng cơ bản của thi ca (Mục 6.1 ở trên). Kiểu nói tắt là một cách truyền bá nhanh chóng, gọn gàng, dễ nhớ.

Công trình này tóm tắt nội dung văn học Trung Quốc, sắp xếp 7 yếu tố thành hệ thống, dễ truyền bá rộng rãi và thuận lợi cho học sinh, sinh viên ôn thi đại học và nghiên cứu sinh (gọi chung hệ đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ). 

Hi vọng sẽ có nhà nghiên cứu văn học Việt Nam bỏ công ra viết một công trình tương tự về nền văn học 1000 năm nước Việt.

(*) Nguồn: nguyên tác Hán ngữ, tổng hợp từ hai trang WEB sau:

1/ http://www.5284.cn/gz/zikao/jnjl/zyzd/2680.html

《中国古代文学史》应用归类法学习

2/ http://www.zikao365.com/html/4_21_92_209/2006_12_29_yx9277245661922160026696

Biên giả tổng hợp, dịch nghĩa, chú giải và giới thiệu:

˜

 

 

 

PHỤ LỤC 1

BẢNG ÐỐI CHIẾU NIÊN ÐẠI TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM

VIỆT NAM

TRUNG QUỐC

Nước Văn Lang – cách đây 4000 năm

   -Văn hóa Phùng Nguyên

   -Văn hóa Ðồng Ðậu, Gò Mun

   -Văn hóa Ðông Sơn

Nước Âu Lạc

Vua An Dương vương Thục Phán

Nửa sau thế kỉ 3 tr CN

Chiến tranh xâm lấn của Triệu Ðà

Âu Lạc diệt vong (179 tr.C.N )

Thuộc Triệu (179- 111 tr.CN)

Thuộc Tây Hán (111- 24 sau CN)

Thuộc Ðông Hán (25- 204)

Cuộc k/n Hai Bà Trưng (40)

Thuộc Ngô / Tam quốc (244-280 )

Khởi nghĩa Bà Triệu (248)

Thuộc Tấn (280-420)

Thuộc Tống (420- 479)

Thuộc Tề  (479-505)

Thuộc Lương (504-543)

Nuớc Vạn Xuân (544-603 )

Thuộc Tùy (603-617)

Thuộc Ðường (618-906)

Cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan (722)

Cuộc khởi nghĩa Phùng Hưng (766-791)

Họ Khúc giành quyền tự chủ (905-930)

Dương Ðình Nghệ (931-937)

Ngô Quyền chiến thắng Bạch Ðằng (938)

Ngô Vương (939-967)

Ðinh (968-980)

Tiền Lê (980-1009)

Lê Hoàn và k/c chống Tống lần 1 (981)

Nhà Lý (1010-1225)

K/c chống Bắc Tống lần 2 (1075-1077)

Nhà Trần (1225-1400)

K/c chống Nguyên Mông (1258)

K/c chống Nguyên Mông lần 2 (1285)

K/c chống Nguyên lần 3 1287-1288)

Hồ (1400-1407) Quý Ly

Hậu Trần (1407-1413)

Thuộc Minh (1414-1427)

-Kháng chiến chống Minh (1406-1407)

-Khởi nghĩa Trần Ngỗi (1409-1413)

-K/nghĩa Trần Quý Khoáng (1409-1413)

-         K/nghĩa Lam Sơn (1418) và đại thắng quân Minh 1427 .

Nhà Lê (1428-1527, trước Lê -Trịnh)

Nhà Mạc (1527-1595 )

Hậu Lê (Lê -Trịnh):1533-1788

(Ðàng Ngoài & ÐàngTrong chúa Nguyễn)

Tây Sơn (1788-1802) Nguyễn Huệ

Kháng chiến chống Mãn Thanh (1788-1789)

Nhà Nguyễn (1802-1945) (+)

Cánh mạng Tháng Tám 1945

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1975)

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

(từ 1976)

Nhà Hạ (tk 21-17 tr.CN)

Thương (17-11tr CN) và Aân

Chu: Tây Chu  (11-8 tr.CN)

       Ðông Chu (8-3 tr.CN) :

-         Xuân Thu (8-5 tr.CN)

-         Chiến Quốc (5-3 tr.CN)

Tần (221-206 tr CN)

Hán: Tây Hán (206 tr CN-24 sau CN)

Ðông Hán (25- 220)

Tam quốc (220-280) :

-         Ngụy  220-265

-         Thục  221- 265

-         Ngô   222-280

Tấn : Tây Tấn (265- 316)

         Ðông Tấn(317-420)

Nam Bắc triều (420-589)

Nam triều (420-589)

Tống (420- 479)

Tề  (479-502)

Lương (502-557)

Trần (557-589)

Bắc Nguỵ 386-534, Đông Nguy 534-550, Bắc Tề 550-577 Tây Nguỵ 535-556, Bắc Chu 557-581

Tùy (581-617)

Ðường (618- 907)

Ngũ Ðại (907- 960)

Bắc Tống (960-1127)

Nam Tống (1127-1279)

Liêu  907-1125,  Kim 1115-1234

Nguyên (1271-1368)

Minh (1368- 1644)

Thanh (1644 – 1911)

-         Thuận Trị ,

-         Khang Hy ,

-         Ung Chính 

-         Càn Long ,

-         Gia Khánh,

-         Hàm Phong (chồng Từ Hy), Ðồng Trị (hai chị em Từ Hi cùng ngồi ngai vàng),Từ Hi, Đạo Quang, Quang Tự & Phổ Nghi.

Trung Hoa Dân Quốc (1911-1949 )

Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa từ 1949

(+) Ghi chú về các vua nhà Nguyễn  (1802-1945)

Gia Long    (1802-1819),

Minh Mạng (1820),

Thiệu Trị     (1841),

Tự Ðức       (1848),

Kiến Phúc   (1883),Hàm Nghi     (1885),

Ðồng Khánh (1886),

Thành Thái   (1889),

Duy Tân        (1907),

Khải Ðịnh      (1916),

Bảo Ðại        (1926-1945).


PHỤ LỤC 2

10 NHÂN VẬT VĂN HÓA ẢNH HƯỞNG NHẤT NƯỚC TRUNG QUỐC MỚI

Mạng www.china.com.cn, văn phòng thông tin chính phủ TQ tổ chức bình chọn

          (Chỉ bình chọn người sáng tác sau ngày thành lập nước Trung Hoa mới 1.10.1949)

BẢNG XẾP HẠNG VĂN HỌC

  1. Lão Xá nhà văn TQ (1899-1966)
  2. Băng Tâm nhà thơ TQ (1900-1999)
  3. Hải Tử nhà thơ TQ (1964-1989)
  4. Ba Kim nhà văn TQ (1904-2005)
  5. Kim Dung, nhà văn Hồng Công (1924 – )
  6. Quỳnh Dao, nữ nhà văn Đài Loan (1938 – )
  7. Trương Ái Linh, nữ nhà văn Hoa kiều Mỹ (1920-1995)
  8. Phó Lôi,  phiên dịch, bình luận văn học TQ
  9. Hàn Hàn, nhà văn TQ (1982-)
  10. Tam Mao, nữ nhà văn Đài Loan (1943-1991)

             BẢNG XẾP HẠNG TỔNG HỢP (văn chương, sân khấu, âm nhạc)

1        Đặng Lệ Quân, ca sĩ Đài Loan

2.  Vương Phi, ca sĩ Hongkong

  1. Châu Kiệt Luân, ca sĩ Đài Loan
  2. Hàn Tái Phấn diễn viên kịch TQ
  3. Lão Xá, nhà văn  TQ(1899-1966 tự tử chết trong CMVH)
  4. Mao Uy Đài, diễn viên Việt kịch TQ
  5. Băng Tâm nhà thơ, nhà văn 1900-1999 TQ
  6. Lỗ Đại Hữu, nhạc sĩ Đài Loan
  7. Hà Chiếm Hào, nhạc sĩ TQ
  8. Triệu Lệ Dung, diễn viên kịch TQ

—
PHỤ LỤC 3

DANH MỤC LUẬN  VĂN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU MÔN VĂN HỌC TRUNG QUỐC DO BIÊN GIẢ HƯỚNG DẪN

1. Đặc điểm nghệ  thuật của những bài thơ tình bằng hữu tiêu biểu trong Đường Thi.

      (SV Dương Thị Thúy Hằng, lớp ĐH 1C3, Khóa 1)

 2. Hình tượng “Gió” trong thơ Đường .

    (SV Tạ Thanh Hảo, lớp ĐH 2C2, Khóa 2)

3. Tìm hiểu cảm hứng xuất thế trong thơ Đường.

     (SV Trần Văn Cẩm,  Lớp ĐH 3C2, Khóa 3)

 4.  Hình tượng nhân vật nho sinh và nhân vật phụ nữ trong “Liêu trai chí dị”   của Bồ Tùng Linh.

       (SV Nguyễn Thị Thu Giang, lớp ĐH 4C2, Khóa 4)

5. Nghệ thuật miêu tả xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quí tộc tài hoa  trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng.

    (SV Nguyễn Hoàn Anh, lớp ĐH 5C2, Khóa 5)

 6. Tìm hiểu hình tượng nhân vật trong một số truyện ngắn Trung Quốc đương đại.

    (SV Huỳnh Phương Đan, lớp ĐH 6C2, Khóa 6)

7. Tìm hiểu tiểu thuyết “Báu vật của đời” của nhà văn Mạc Ngôn.

     (SV Nguyễn Trung Nam, lớp ĐH 6C2, Khóa 6)

  (Văn bản luận văn  lưu tại: Thư viện Đại học An Giang, Khoa sư phạm và Bộ môn Ngữ văn)

 


TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

 1. Giáo trình Văn học Trung Quốc tập I, II. GS Nguyễn Khắc Phi, GS Trương Chính, GS Lương Duy Thứ. NXB Giáo dục, 1988.

2. Thần thoại Trung Quốc, Ðinh Gia Khánh biên soạn, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1994

3. Lịch sử văn  minh Trung  Quốc, Will Durant, ÐHSP Thành phố  HCM 1990.

4. Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa, Lâm Ngữ Ðường. Nhà xuất bản Ca Dao ,  Sài Gòn 1970.

5. Tinh hoa lý luận văn học cổ điển T rung Quốc. Phương Lựu, Nxb Giáo  dục 1989   

6. Một số bài giảng chuyên đề Cao học khoá XI Khoa Ngữ văn

    Trường Ðại học Sư phạm Hà Nội 1 .

7.  Lỗ Tấn tuyển tập, Nhà xuất bản Hậu Giang 1987.

8. Thơ Ðường (2 tập), Nhiều người dịch, Nhà xuất bản Văn học HN 1985

9. Ðường thi, Trần Trọng Kim dịch

10. Đường thi tam bách thủ, Ngô Văn Phú dịch, Nxb Hội nhà văn 2000

11. Thiên gia thi, Ngô Văn Phú soạn, Nxb Hội nhà văn 1998

12. Tam quốc, Tây du, Thuỷ hử, Liêu Trai chí dị, Đông chu liệt quốc, Hồng lâu mộng,   Nho lâm ngoại sử, Tình sử …

13. Lịch sử văn học hiện đại Trung Quốc, Ðường Thao chủ biên tập I . Lê Huy Tiêu  và nhóm tác giả dịch  Nxb Giáo dục 1999

14. Lịch sử văn học hiện đại Trung Quốc, Ðường Thao chủ biên – tập 2 . Lê Huy Tiêu  và nhóm tác giả dịch,  Nxb Giáo dục, 2002

15. Sử Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê, Nxb Văn hóa 1999 hai tập .

16. Thi pháp Đường thi, Nguyễn Thị Bích Hải, Huế…

17. Thi tiên Lí Bạch, Lê Ðức Niệm, Nxb Văn nghệ TP. HCM 2001

18. Tống từ. Nguyễn Xuân Tảo biên dịch. Nxb Văn học 1999

 19. Thi ca từ Trung Hoa, Phùng Hoài Ngọc, Nhà xuất bản Đại học quốc gia tp.Hồ Chí Minh,    2008

 20. Tứ thư, Hà Nội, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Trần Trọng Sâm, Kiều Bách Vũ Thuân biên dịch, Hà Nội: 2003

21. Three ways of Asian  Wisdoms. New York  1968. Nancy  Willson Ross.

Và một số sách, tạp chí khác.

Mạng internet www.china.com ngày 5.03.2009

Hết

 

(Đọc tiếp: “Văn học Trung Quốc hiện đại”, cùng chuyên mục Giáo trình văn học)

Biên giả

Phùng Hoài Ngọc


² Ghi chú: Truyện Kiều của Nguyễn Du có đoạn tả nàng Kiêu chơi đàn lần cuối cùng   có câu Khúc đâu êm ái xuân tình, Ấy hồn Thục Đế hay mình Đỗ Quyên ?  điển cố ngụ ý Thuý Kiều tiếc nuối mối tình xưa  .

  • § Nhạc phủ (樂府) (phủ coi việc âm nhạc) do Hán Vũ đế (56 tr. CN – 87) lập nên, có nhiệm vụ thu thập ca dao và thơ để phổ nhạc. Bài nào được lựa chọn thì gọi là nhạc phủ khúc, sau gọi vắn tắt là nhạc phủ. Thành thử danh từ nhạc phủ dùng để chỉ nhiều thể văn có vần, phổ vào nhạc được. Trong số này, bộ phận được chọn nhiều nhất, có giá trị nhất là dân ca, bởi vậy từ nhạc phủ còn dùng để chỉ dân ca đời Hán (206 tr.CN – 220) và Lục triều (220 – 581). Đến thời nhà Đường nhiều thi sĩ đã cải cách thể thơ này, gọi là “Tân nhạc phủ”, người thành công nhất là Bạch Cư Dị.

§ Lê Quí Đôn viết “Văn có ba loại: văn trời, văn đất, văn người”(Vân đài loại ngữ) đã tiếp thu quan điểm của Lưu Hiệp (Người viết ghi chú)

  • § § Tán: nghĩa hẹp là làm cho rõ ra một hiện tượng, một vấn đề  nào đó. Về sau “tán” chỉ bài thơ tâm đắc của  nhà sư. Ở đây, Lưu Hiệp dùng như lời kết cho một chương (ông là nhà tu Phật giáo).

(ô) Ghi chú : Trong nguyên tác “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm tài nhân, Kiều đứng bên mộ Lưu Đạm Tiên đã làm bài thơ bát cú ngũ ngôn viếng nàng:

Săc hương đâu đó tá ?

Thăm viếng não lòng thay

chăn gấm trăng soi lạnh

Đài gương bụi phủ nhoà

Đất tuy vùi ngọc ấy 

tuyết chưa  lấp danh này 

Rượu nhiều như sông đó 

nào ai tưới chốn đây ?!

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du chỉ viết :

Một vùng cỏ áy bóng tà 

Gió hiu hiu thổi một và bông lau

Rút trâm sẵn giắt mái đầu 

vạch da cây vịnh bốn câu ba vần” .

Kiều của Thanh Tâm tài nhân còn tặng bài thơ an ủi  nữa truớc khi từ biệt mộ Đạm Tiên :

Gió tây đâu bỗng nổi

rào rào thật buồn thay 

thảm thiết như hờn óan

thê luơng dạ chẳng khuây

xe loan đi cõi khác

Bóng hạc tưởng về đây 

Phảng phất hồn thơm đó

Rêu  xanh rõ dấu giày .

 Câu hỏi : Tại sao Nguyễn Du không chép nguyên bài thơ của Kiều tặng Đạm Tiên ?

(*1) Bốn chữ “hưng, quan, quần oán” rút trong sách Luận ngữ: “Học Thi có thể hưng khởi tâm trí, giúp khả năng quan sát, cùng với người khác quần tụ, hiểu đúng về oán hận ..”. Câu này trở thành một trong các quan điểm cơ bản của Khổng tử vê văn chương (thiên Dương Hóa, câu 9- Người dịch: Phùng Hoài Ngọc)

About these ads

Comments on: "VĂN HỌC TRUNG QUỐC" (3)

  1. Chào anh PHN,

    Cám ơn anh đã giới thiệu bài thơ quá hay của LQV. Nếu không đọc trên blog của anh thì tôi sẽ không bao giờ biết đến bài thơ này.

    Đọc được bài thơ Trung Hoa trong những ngày nhà nước ta đang cố gắng bảo vệ tình hữu nghị Việt – Trung bằng mọi giá, kể cả cái giá đắt nhất là mất lòng dân.

  2. Dạ Thảo said:

    Tôi đang học khoa văn, hôm nay đọc được những tài liệu anh chia sẻ trên blog, thấy thật là thú vị.
    Cảm ơn anh.

  3. Rat cam on thay P,H,N cung cac bien gia da cung cap cho em nhung tai lieu rat bo ich. Xin tran trong cam on thay!

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 89 other followers

%d bloggers like this: