"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

SV Trần Thị Thu Linh

Lớp ĐH3C1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sư PHẠM NGÀNH NGỮ VĂN

“ GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT CỦA NHÀ VĂN BALZAC TRONG BA TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU”

Giảng viên hướng dẫn

Thạc sĩ   Phùng Hoài Ngọc

 

BỐ CỤC LUẬN VĂN

         PHẦN MỞ ĐẦU

                PHẦN NỘI DUNG

        Chương I: GIỚI THIỆU VỀ GIỌNG ĐIỆU

Chương II: CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA NHÀ VĂN BALZAC.

Chương III: GIỌNG LẠNH LÙNG KHÁCH QUAN CỦA NHÀ VĂN TỰ  NHẬN LÀ “THƯ KÍ CỦA THỜI ĐẠI”.

 Chương IV: GIỌNG TRÀO PHÚNG CHẾ GIỄU CỦA NGƯỜI Ở ĐỊA VỊ   CAO HƠN XÃ HỘI.

Chương V: GIỌNG TRỮ TÌNH LÃNG MẠN, THẮM THIẾT TÌNH

                     NGƯỜI CỦA NGHỆ SĨ BALZAC.

Chương VI: ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC PHÁP ĐẾN

         CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC PHÊ PHÁN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM.

                    PHẦN KẾT LUẬN

                    TÀI LIỆU THAM KHẢO

                     PHẦN PHỤ LỤC

MỞ ĐẦU

 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

 Balzac là một  trong những tác gia có phần đóng góp đáng kể cho nền văn học hiện thực Pháp thế kỉ XIX. Các tác phẩm của ông là sự phản ánh toàn diện, chân thực cuộc sống của xã hội tư sản với những thói xấu không gì che đậy của giai cấp thống trị đương thời. Đọc những công trình nghệ thụât đồ sộ mà nhà văn đã để lại cho đời, Engels trân trọng gọi Balzac là “bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực”.

Có đọc kĩ  hiểu sâu  tác phẩm của Balzac mới nhận thấy trong mỗi tác phẩm ông đều lồng vào đó những nhận xét hết sức tinh tế. Ông tố cáo xã hội đương thời với  bằng giọng  lạnh lùng khách quan của người tự nhận là “thư kí của thời đại”, ông mỉa mai bằng câu nói trào phúng trước một xã hội mà đồng tiền là vạn năng, có đôi khi ta lại bắt gặp trong văn Balzac những câu nói  thắm thiết tình người.

Cảm hứng trong sáng tác luôn gắn liền với giọng điệu nhà văn. Mà giọng điệu thì có tác dụng thể hiện thái độ, lập trường, cách nhìn của chủ thể phát ngôn về đối tượng được nói đến. Điều đó chứng minh rằng để nắm được cốt lõi vấn đề của một tác phẩm thì người đọc cần nắm bắt chính xác giọng điệu của tác phẩm đó, bởi điều quan trọng của một nhà văn là phải tạo ra tiếng nói của mình, phải có được nốt riêng độc đáo và người đọc nghe được nốt riêng ấy.

Giọng điệu không chỉ mang nội dung tình cảm mà còn thể hiện thái độ của tác giả về đời sống. Giọng điệu văn chương là một nhân tố cốt yếu tạo nên phong cách nghệ thuật, nó cho phép ta hiểu sâu hơn sự phong phú của chủ thể sáng tạo. Giọng điệu vừa là một hiện tượng nghệ thuật độc đáo của nhà văn vừa là một hiện tượng ảnh hưởng không nhỏ đến các  thời đại văn học. Do đó, chúng tôi thấy cần cảm nhận về giọng điệu nghệ thuật của nhà văn Balzac để qua đó chúng ta  thấy rõ hơn và cảm được sâu hơn về con người và tác phẩm của ông.

Dù biết  kiến thức và vốn sống bản thân còn nhiều hạn chế, nhưng vì khá hứng thú với tác giả Balzac nói riêng- văn học phương Tây nói chung, tôi xin mạnh dạng đưa ra một vài sự cảm nhận của mình về giọng điệu nghệ thuật của nhà văn Balzac. Rất mong nhận được sự đóng góp và chỉ bảo của quí độc giả để luận văn ngày càng phong phú và hoàn thiện hơn.

2. LỊCH SỬ CỦA VẤN ĐỀ

Trong vòng 15 năm trở lại đây hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học nước ta được phong phú thêm bởi những cách tiếp cận mới. Nào con người, không gian, thời gian, cấu trúc, phương tiện biểu đạt ….Những tác phẩm văn chương vốn quen thuộc nhưng khi được nhìn với góc độ mới bỗng phô bày thêm những phẩm chất, chiều sâu mà trước đó ít khi được nhìn kĩ.

Từ xưa, các nhà lý luận phương Đông đã từng nhắc đến giọng điệu và phong cách nhà văn qua các khái niệm gần gũi như hơi văn, khí văn, tình điệu… Nhưng nhìn chung các nhà lí luận văn học và mĩ học trước thế kỉ XIX chưa đề cập trực tiếp và chuyên sâu vấn đề giọng điệu trong văn chương.

Những bài nghiên cứu phê bình văn học ở nước ta trong vài thập niên qua cho thấy giọng điệu cũng được nghiên cứu từ nhiều phía. Nhưng nhìn chung chưa có một công trình dày dặn và độc lập về giọng điệu, mà nó thường được bàn đến khi tìm hiểu một tác giả hoặc một giai đoạn văn học. Điều này cho thấy rằng việc nghiên cứu giọng điệu trong văn chương ở nước ta  mới chỉ lát được những viên gạch đầu.

Trong giới nghiên cứu văn học nước ta, Trần Đình Sử là người đầu tiên phân biệt hiện tượng giọng điệu trong đời sống và giọng điệu trong nghệ thuật, coi giọng điệu văn chương là một phương diện cấu thành hình thức của văn học. Theo Trần Đình Sử giọng điệu “là sự biểu thị lập trường tư tưởng, cảm xúc chủ thể, là nguyên tắc lí giải và chiếm lĩnh hiện thực”. Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến thì nhận định “cảm hứng nào giọng điệu ấy, nhưng cũng có thể ngược lại giọng điệu định hướng hình thành cảm hứng”. Còn theo Nguyễn Đăng Mạnh thì giọng điệu là “một yếu tố quan trọng tạo nên phong cách nghệ sĩ”. Do chưa có tài liệu nào tập trung nghiên cứu giọng điệu như một đối tượng độc lập nên ý kiến về giọng điệu còn tản mạn và chưa thành hệ thống.

Cho đến nay thì đã có khá nhiều công trình nghiên cứu  về giá trị nội dung và nghệ thuật các tác phẩm của tác gia Balzac. Điển hình như Đặng Anh Đào với Ônôrê đờ Banzắc- một thế giới bước đi (NXB Trẻ-2002), Đỗ Đức Dục với chủ nghĩa phê phán trong văn học phương Tây (NXB KHXH 1981), Đặng thị Hạnh- Lê Hồng Sâm- Văn học lãng mạn và văn học phương Tây thế kỉ XIX, gần nhất là tác phẩm Honore de Balzac Lão Goriot (NXB ĐHQG HN 2001) do Lê Huy Bắc biên soạn. Nhìn chung các công trình này đã  nghiên cứu khá sâu về nội dung và về nghệ thuật cấu thành tác phẩm của Balzac. Nhưng đi vào việc tìm hiểu giọng điệu nghệ thuật của tác giả  Balzac thì hầu như chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể.

Luận văn này tập trung nghiên cứu một vấn đề khá mới mẻ và có phần phức tạp nên chắc hẳn sẽ gặp không ít khó khăn trong quá trình thực hiện. Để hoàn thành luận văn tôi có dựa vào một số tài liệu của các tác gia kể trên và những tài liệu liên quan đến tác gia Balzac được liệt kê cụ thể ở danh mục tài liệu tham khảo.

3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

 Trong thực tế,  nhận diện chính xác giọng điệu của nhà văn trong tác phẩm không phải là việc đơn giản. Nó cần tới trực cảm nhưng đồng thời cần cái nhìn lí tính để kiểm định và phân tích sự cảm nhận ấy một cách cụ thể.

Luận văn này cố gắng nhận  ra những giọng điệu nghệ thuật mà tác giả Balzac thừơng xử dụng trong các tác phẩm của mình, từ đó tìm hiểu tác dụng của giọng văn trong việc cấu thành tác phẩm, thái độ của tác giả đối với xã hội đương thời, giá trị của tác phẩm trong nền văn học hiện thực Pháp nói riêng, nền văn học thế giới nói chung.

4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng chính là tiểu thuyết của nhà văn Balzac.

Để tiến hành khảo sát giọng điệu nghệ thuật của nhà văn Balzac, tôi đi sâu vào 3 tác phẩm: Eugenie Grandet, Lão Goriot, Vỡ mộng.

5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

 Việc nghiên cứu giọng điệu văn chương không chỉ giúp ta hiểu rõ hơn sự độc đáo của các phong cách nghệ thuật mà hơn thế còn lí giải được tiến trình vận động của văn học. Thông qua việc cảm nhận về giọng điệu nghệ thuật, luận văn này khai thác  thêm một nghệ thuật đặc sắc trong việc cấu thành tác phẩm của Balzac nói riêng, của văn học hiện thực phê phán nói chung.

Qua giọng văn của tác giả ta  thấy được thái độ của nhà văn đối với thời đại, thấy  rõ nét chân dung của cuộc sống qua những lời văn miêu tả khách quan, thấy được sự thốt nát  và sa đoạ về đạo đức của loài người qua những lời chế giễu sâu cay, nhưng đôi khi ta cũng phải lắng lòng để nghe và hiểu những lời văn thắm thiết tình người mà tác giả nhắn gửi.

Việc nghiên cứu giọng điệu văn chương ở nước ta vẫn đang ở những bước đầu. Những nổ lực của chúng tôi trong việc cảm nhận giọng điệu của tác giả Balzac chỉ là những nổ lực nhỏ bé trong quá trình tìm hiểu sâu hơn về giá trị tác phẩm của ông .

6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

 Chủ yếu là phương pháp khảo sát và phân tích tư liệu.

Mục đích là chỉ ra những giọng điệu nghệ thuật thường được nhà văn sử dụng trong tiểu thuyết. Từ đó đưa ra những cảm nhận về cách thức sử dụng giọng điệu nghệ thuật của nhà văn.

7. BỐ CỤC LUẬN VĂN

  MỞ ĐẦU

NỘI DUNG

 Chương I: GIỚI THIỆU VỀ GIỌNG ĐIỆU

Chương II: CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA NHÀ VĂN BALZAC.

Chương III: GIỌNG LẠNH LÙNG KHÁCH QUAN CỦA NHÀ VĂN TỰ NHẬN LÀ “THƯ KÍ CỦA THỜI ĐẠI”.

Chương IV: GIỌNG TRÀO PHÚNG CHẾ GIỄU CỦA NGƯỜI Ở ĐỊA VỊ CAO HƠN XÃ HỘI.

Chương V: GIỌNG TRỮ TÌNH LÃNG MẠN, THẮM THIẾT TÌNH NGƯỜI CỦA NGHỆ SĨ BALZAC.

Chương VI: ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC PHÁP ĐẾN CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC PHÊ PHÁN TRONG NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM.

 KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN PHỤ LỤC

NỘI DUNG

CHƯƠNG MỘTGIỚI THIỆU VỀ GIỌNG ĐIỆU

Giọng điệu là một phương tiện cơ bản cấu thành hình thức nghệ thuật của văn học. Đây là thứ hình thức nghệ thuật mang tính quan niệm, nó là thước đo không thể thiếu để xác định tài năng và phong cách độc đáo của một nhà văn, nhà thơ.

Giọng điệu vừa liên kết các yếu tố hình thức khác nhau, làm cho chúng cùng mang một âm hưởng nào đó, vừa là chỗ dựa chính để các yếu tố của tác phẩm quy tụ lại và định hình thống nhất với nhau theo một kiểu nào đó, trong chỉnh thể giọng ấy mỗi yếu tố hiện ra rõ hơn, đầy đủ hơn, thậm chí mới mẻ hơn.

Trong các tác phẩm nghệ thuật ưu tú, giọng điệu bao giờ cũng mang tính chất lượng, nó là sản phẩm sáng tạo đích thực của nhà văn. Giọng điệu văn chương là một hiện tượng nghệ thuật mang tính cá nhân cao độ. Nhưng thực tế là bên cạnh giọng điệu cá nhân còn có giọng điệu thời đại. Giọng điệu cá nhân chịu sự quy định, ảnh hưởng của giọng điệu thời đại mặt khác giọng điệu cá nhân góp phần làm phong phú thậm chí làm thay đổi cấu trúc giọng điệu thời đại.

Giọng điệu là một yếu tố cơ bản của phong cách nghệ thuật. Một nhà văn tài năng bao giờ cũng phải tạo được một giọng điệu độc đáo. Giọng điệu gắn với cảm hứng chủ đạo, giọng điệu góp phần tăng giảm hiệu suất cảm xúc của tác phẩm văn chương.

I. KHÁI NIỆM

Thế nào là giọng? Theo Từ điển Tiếng Việt thì: Giọng là:1/ Độ cao thấp, mạnh yếu của lời nói, tiếng hát. 2/ Cách phát âm của một địa phương. 3/ Cách diễn đạt bằng ngôn ngữ, biểu thì một thái độ, tình cảm nhất định. 4/ Gam đã xác định âm chủ.

Như vậy trong cuộc sống hằng ngày giọng được hình dung trước hết như một tín hiệu âm thanh có âm sắc, trường độ, cao độ. Khái niệm giọng chủ yếu nói về người, gắn với người, là giọng nói của người dùng trong ngôn ngữ giao tiếp của mỗi người. Không chỉ tồn tại như một âm thanh, giọng nói của người còn hàm chứa thái độ của người nói, chính ở đây người ta thường nói đến giọng điệu.

Từ điển tiếng Việt do Viện ngôn ngữ biên soạn cho rằng giọng điệu là “giọng nói, lối nói biểu thị một thái độ nhất định”. Như vậy “giọng” là yếu tố mang đậm tính vật lý trong khi “giọng điệu” lại được nhìn từ góc độ tâm lý. Nhìn vào 2 định nghĩa về giọng và giọng điệu, ta thấy định nghĩa giọng điệu trùng với nét thứ ba của định nghĩa về giọng. Vậy nên trong thực tế giao tiếp, tùy vào hoàn cảnh, người ta thường đồng nhất hai khái niệm này. Như vậy có thể nói có bao nhiêu hoàn cảnh giao tiếp, bao nhiêu nhân vật tham gia giao tiếp thì có bấy nhiêu giọng điệu, ví dụ như: giọng khinh nhờn, bỡn cợt, chế giễu, trịnh thượng, cung kính, vui sướng, thỏa mãn, chanh chua, hiền hậu…..Rõ ràng giọng điệu thường thể hiện tâm tính con người, phản ánh tâm trạng của họ. Âm thanh giọng điệu cũng phù hợp với nội dung cảm xúc, khi vui giọng vang rõ, khi buồn giọng lắng lại, thấp xuống…

Trong cuộc sống giọng điệu thường mang tính nhất thời, khác với giọng điệu trong tác phẩm văn học. Trong nghệ thuật, giọng điệu bao giờ cũng được tổ chức công phu, là kết quả của một quá trình sáng tạo thực thụ. Giọng điệu trở thành một yếu tố cấu thành, phụ thuộc vào hệ thống không phải là ngẫu hứng.

Không chỉ hàm chứa cảm xúc, thái độ của người nói, giọng điệu còn thể hiện nghề nghiệp, tuổi tác, giới tính của chủ thể phát ngôn. Giọng trẻ con khác giọng người lớn, giọng người từng trải khác giọng người non nớt, giọng người ít học khác với giọng người trí thức….

Giọng điệu như một hiện tượng nghệ thuật nhưng không nên tạo ra sự ngăn cách giả tạo giữa giọng điệu trong đời sống với giọng điệu trong văn chương. Trong tác phẩm văn học, giọng điệu cũng mang đặc tính âm thanh. Ngay cả khi đọc thầm một câu thơ, câu văn, trong tâm trí người đọc vẫn vọng lên cái âm hưởng, thậm chí đường nét của âm thanh. Chỉ có điều khi trở thành một hiện tượng thẩm mĩ, cấu trúc và cơ chế vận hành của giọng điệu văn chương phức tạp hơn nhiều so với giọng điệu thường ngày.

“Giọng điệu” trong tiếng Việt là một từ ghép gồm 2 thành tố: giọng điệu, nếu giọng chủ yếu biểu thị âm thanh, khí lực của người nói thì điệu chủ yếu biểu thị đường nét, màu sắc của giọng. Sự kết hợp giữa chúng không mang tính cộng sinh mà là sự kết hợp để mang một nội dung khác, hoàn chỉnh. Giọng điệu biểu thị  thái độ, cảm xúc, tư thế của chủ thể phát ngôn qua lời văn nghệ thuật. Không thể có giọng điệu nếu như không có những rung động sâu sắc, những nỗi đau, những xót xa trước thân phận con người, không chia sẻ với họ niềm vui và tình yêu trong cuộc sống.

Màu sắc cảm xúc trong văn học giúp ta nhận diện thế giới rõ hơn, đồng thời hình dung cụ thể thái độ của nhà văn về đời sống. Trong nghệ thuật ngôn từ, giọng điệu không chỉ bộc lộ qua âm thanh, nhịp điệu mà còn bộc lộ qua màu sắc, đường nét, hình ảnh.

Không phải lúc nào trong tác phẩm cũng chỉ có một giọng điệu thuần nhất. Việc phân chia loại hình giọng điệu cũng khác nhau, xuất phát từ những tiêu chí khác nhau. Theo cấu trúc thì có thể chia thành giọng chính và giọng phụ. Căn cứ vào sắc thái tình cảm thì có thể nói đến giọng gay gắt hay tình cảm, trang trọng hay suồng sã, mạnh hay yếu, kính cẩn hay châm biếm….Căn cứ vào dạng thức cảm hứng chủ đạo thì có giọng bi, giọng hài, giọng anh hùng ca….Nếu chú ý khuynh hướng tư tưởng thì có các giọng: thông cảm hay lên án, yêu thương hay tố cáo, khẳng định hay phủ định….Có khi từ cái nhìn ngôn ngữ học chia thành giọng trần thuật, giọng nghi vấn, giọng cảm thán. Về cơ bản giọng điệu bộc lộ các sắc điệu tình cảm của chủ thể phát ngôn.

II. PHÂN BIỆT GIỌNG ĐIỆU VỚI NGỮ ĐIỆU, NHẠC ĐIỆU, NHỊP ĐIỆU

Để làm nổi bật những nét riêng của giọng điệu cần phân biệt nó với các khái niệm như ngữ điệu, nhạc điệu, nhịp điệu.

Giọng điệu khác với ngữ điệu. Ngữ điệu là một phạm trù của ngôn ngữ học còn giọng điệu là một phạm trù của thi pháp học. Trong một phát ngôn, ngữ điệu thường thực hiện các chức năng: phân biệt các kiểu thông báo, phân biệt các bộ phận của phát ngôn. Ngữ điệu thường được chia thành: ngữ điệu cảm thán, ngữ điệu hỏi, ngữ điệu cầu khiến, ngữ điệu liệt kê…..Nhiều khi ngữ điệu trực tiếp bộc lộ cảm xúc của người nói. Quan hệ giữa giọng điệu và ngữ điệu là mối quan hệ chi phối và phụ thuộc. Mặc dù ngữ điệu có chức năng biểu cảm: thân mật, trang trọng, mỉa mai, hài hước… nhưng rõ ràng đó là những chức năng biểu đạt gắn với chuẩn ngôn ngữ chứ không nằm ở phạm vi bao quát như giọng điệu.

Giọng điệu cũng khác với nhịp điệu. Nhịp điệu là sự lặp lại có tính chất chu kì, cách khoảng hoặc luân phiên theo thời gian của các hiện tượng ngôn ngữ nhằm thể hiện sự cảm nhận thẩm mỹ về thế giới trong sự vận động của nó. Trong văn xuôi nhịp điệu thể hiện qua cách phân chia chương hồi, sự lặp lại các đơn vị câu và ngắt nhịp trong bộ phận câu. Trong chỉnh thể văn học, nhịp điệu là một phương diện bộc lộ giọng điệu. Quan hệ giữa giọng điệu và nhịp độ ở chỗ: nhịp điệu chịu sự chi phối của giọng điệu, giọng điệu được bộc lộ qua nhịp điệu và ngữ điệu của câu văn.

Chúng ta cũng không nên đồng nhất giọng điệu với nhạc điệu. Chức năng cơ bản của nhạc điệu (trong âm nhạc)là làm cho câu văn (ca từ) thêm hay, thêm réo rắt, trầm bổng. Nhạc điệu được tổ chức nhờ yếu tố: ngắt nhịp, gieo vần, phối thanh….Nhạc điệu chịu sự chi phối của giọng điệu.

Tóm lại, tất cả các yếu tố: nhạc điệu, ngữ điệu, nhịp điệu có liên quan chặt chẽ với giọng điệu và nhìn chung, chúng là những thành tố góp phần tạo nên âm hưởng và giọng điệu văn chương.

III. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý KHI TÌM HIỂU GIỌNG ĐIỆU VĂN CHƯƠNG

1. Giọng điệu là một phương diện biểu hiện quan trọng của chủ thể tác giả

Trong tác phẩm có thể có những nhân vật giả tạo, dối trá, giọng tác giả có bổn phận vạch trần sự dối trá đó.

Là sản phẩm mang tính cá biệt, độc đáo, kết tinh sự sáng tạo độc đáo của nhà văn, giọng điệu là một phương tiện bộc lộ hình tượng tác giả. Nói cách khác, hình tượng tác giả, cái nhìn của nhà văn thể hiện hết sức rõ nét qua giọng điệu.

GS. Trần Đình Sử, trong Dẫn luận thi pháp học cho rằng, hình tượng tác giả bộc lộ ở 3 điểm chính sau:

1-     Cái nhìn nghệ thuật

2-     Giọng điệu

3-     Sự tự thể hiện của tác giả thành hình tượng

Cả 3 phương diện này không hiện lên tách rời mà luôn hòa vào nhau như một sinh thể toàn vẹn là tác phẩm.

Mỗi nhà văn đều có cái nhìn riêng và độc đáo. Khi đúng trước một đề tài, nếu cái nhìn, thái độ của chủ thể khác nhau thì giọng điệu cũng khác nhau. Cái nhìn và giọng điệu có những mặt giao thoa vì chúng là sự thể hiện chủ thể sáng tạo, giữa chúng có sự liên quan mật thiết. Giọng điệu mang nội dung tình cảm, thể hiện thái độ của tác giả về đời sống.

2. Phương thức biểu hiện chung của giọng điệu nghệ thuật

 Tìm hiểu giọng điệu văn chương, vấn đề đầu tiên cần phải quan tâm là chú ý mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và khách thể được phản ánh. Vì giọng điệu gắn với đặc điểm tâm hồn nghệ sĩ và đối tượng được miêu tả.

Giọng điệu còn chịu  áp lực của thể loại. Mỗi một thể loại, do bản chất của nó, mang sẵn trong mình những tiền đề để tạo ra giọng điệu phù hợp với nó. Như giọng điệu sử thi là giọng điệu trầm hùng của lịch sử. Tiểu thuyết trái lại mang tính suồng sã, không chấp nhận kiểu tôn ti cứng nhắc và bất biến của sử thi.

Đọc, tri giác một văn bản, người đọc tất sẽ cảm nhận được giọng điệu của nhà văn.

Tóm lại việc phân tích và nhận diện giọng điệu qua tác phẩm là yếu tố khá quan trọng khi tìm hiểu giọng điệu nhà văn. Phân tích giọng điệu tác phẩm trải qua các thao tác cơ bản như:

1-     Xác định tư thế của người nói và điểm nhìn nghệ thuật trong tác phẩm

2-     Khảo sát nghệ thuật xây dựng lời văn để biểu hiện giọng điệu

3-     Vai trò của hình tượng trong việc thể hiện giọng điệu

4-     Lý giải chức năng và vai trò giọng điệu trong chỉnh thể tác phẩm.

Tìm hiểu giọng điệu nhà văn cần xem xét mối quan hệ giữa nhà văn- bạn đọc, nhà văn và thời đại, có như vậy mới nắm bắt được vẻ đẹp và tiếng nói đích thực của chủ thể sáng tạo ẩn chứa sau các lớp ngôn từ và hình tượng nghệ thuật.

 IV. NHỮNG GIỌNG ĐIỆU THƯỜNG THẤY TRONG TÁC PHẨM CỦA BALZAC

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy có ba giọng điệu chính được Balzac sử dụng trong sáng tác của mình là:

-         Giọng lạnh lùng khách quan (đây là giọng chủ đạo).

-         Giọng trào phúng chế giễu.

-         Giọng trữ tình lãng mạn.

CHƯƠNG II:  CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN BALZAC

 I. CUỘC ĐỜI

Honore de Balzac là một tác gia quan trọng của nền văn học Pháp thế kỷ XIX.

Balzac sinh ngày 20 tháng 5 năm 1799 ở Tua, vào thời kì mà chính quyền cách mạng tư sản đã lập nên chế độ Đốc chính- một nhãn hiệu mới nhưng cũng là thời kì thoái trào của Cách mạng .

Cha của Balzac, một nhà tư sản phất lên sau những phi vụ buôn bán thời cách mạng, cũng đã hai lần chỉnh lại họ của mình: nguyên là Banxa- một dòng họ nông dân- sau đổi thành Balzac, cuối cùng gắn thêm một tiểu từ Đờ (có nghĩa là thuộc dòng quý tộc). Mẹ ông xuất thân trong một gia đình tư sản giàu có tại Pari.

Balzac có chỗ xung khắc với gia đình ngay từ nhỏ, có lúc ông tự nói mình như một “đứa con không mẹ”, vì mẹ ông chỉ yêu thương người em trai của ông- con riêng của bà.

Từ năm lên 8 đến năm 14 tuổi Balzac được theo học tại một trường giáo hội, ít được về thăm nhà và chỉ được gặp mẹ hai lần. Cậu bé Balzac sớm phải chịu kỷ luật nội trú khắc nghiệt, sớm làm quen với cuộc sống khép kín, nghiêm túc.

Năm 1814 Balzac theo gia đình dọn về Pari, ông vẫn tiếp tục học nội trú.

Tháng 9-1816 ông tốt nghiệp trung học. Cuộc sống xa người thân tạo cho ông thói quen suy tư độc lập, dù khó khăn đến mấy ông vẫn kiên cường giữ vững niềm tin, chính điều này giúp ông có được nghị lực phi thường để có thể làm việc không mệt mỏi trong sự nghiệp sáng tác sau này.

Balzac còn va chạm với gia đình về vấn đề công danh sự nghiệp. Ngày 4/11/1816, Balzac ghi tên vào học giai đoạn đầu của trường Luật và sau 3 năm học tập ông đã có bằng cử nhân luật học hai phần. Gia đình đề ra cho Balzac một kỉ luật chặt chẽ. Cha ông yêu cầu sau khi tốt nghiệp phần luật lí thuyết tại đại học Sarbone cần phải tốt nghiệp phần luật thực hành. Gia đình ông hi vọng đứa con trai của mình sẽ làm nghề công chứng. Thế là ông được đưa đi tập sự tại một văn phòng đại lý tố tụng và công chứng. Trong thời kì này ông tiếp tục học khoa luật. Những ngày tập sự tại văn phòng ông đã chứng kiến khá nhiều những bi kịch gia đình và “những hành động tội phạm không gì trừng phạt”- tất cả điều đó về sau sẽ là những tư liệu quý giá trong sự nghiệp sáng tác của ông.

Ngay thời bấy giờ Balzac đã ôm  mộng triết học và văn chương. Ông vừa học luật vừa theo các giờ giảng triết học, văn học, sử học ở trường đại học Sorbone. Ông từng viết mấy bài luận văn về triết học. Sự hứng thú đối với triết học có thể nói đã quán xuyến cả cuộc đời ông.

Tháng 4-1814, ông rời khỏi nơi tập sự, buông bỏ nghề pháp luật, bắt đầu cuộc đời lao động nghệ thuật cần cù và đạm bạc trong gian gác xép nghèo ở phố Lu-di-ghi-e (Pari) với hoài bão “được nổi tiếng và được yêu”

Khi 30 tuổi, trải qua 10 năm thử bút, Balzac vẫn chưa thành công. Song với nghị lực phi thường ông vẫn xông vào sự nghiệp sáng tác. Mười năm không tên tuổi không hẳn là mười năm uổng phí của Balzac. Bước đường không may mắn đó đã là “trường học thực tế” của nhà văn, nhờ đó mà ông nắm được cái bản chất nhất của xã hội tư sản để đưa nó vào văn học một cách sinh động và sắc nét.

Không thành công về văn học lại phải sống trong cảnh nghèo túng, chẳng bao lâu sau Balzac đành tạm gác bỏ nghề văn để lao vào việc kinh doanh làm giàu. Thế là hết đi làm nghề xuất bản lại làm chủ nhà in, rồi cả kinh doanh đúc chữ. Nhưng Balzac sinh ra chẳng phải để kinh doanh buôn bán, tính toán tiền nong cho nên ông chỉ toàn lỗ vốn, nợ nần chồng chất.

Năm 1828 ông từ bỏ thương trường với số nợ trên mười vạn quan để quay về với giấc mộng văn chương. Vốn kinh doanh không còn nhưng vốn sống thật giàu có, chặng đường thất bại trong kinh doanh lại cung cấp cho Bazac một kho tư liệu kinh nghiệm và  phong phú về xã hội tư bản. Suốt cuộc đời mình, lúc nào Balzac cũng chuyên cần sáng tác. Hằng ngày ông phải làm việc 18 tiếng đồng hồ. “Làm việc! Bao giờ cũng làm việc! Chong đèn thâu đêm nối tiếp từ đêm này qua đêm khác, từ ngày này qua ngày khác”.

Balzac đã mắc phải bệnh tim, ông uống càfe rất nhiều, ông rất cần nghỉ ngơi nhưng thật sự ông dành rất ít thời gian cho công việc này.

Năm 1847 ông đã cảm thấy được sự suy nhược của cơ thể và cố gắng thực hiện nguyện vọng cuối cùng của mình là kết hôn với bà Hanska (họ đã  giao du với nhau từ năm 1832).

Đầu năm 1850, dù bệnh khá nặng nhưng ông vẫn cố gắng đến Ukraine để cử hành hôn lễ. Sau khi trở về Pari tứ chi của ông bị sưng phù, đùi bị hoại tử và ngày 18-8-1850 ông từ trần khi mới 51 tuổi, ông ra đi trong một đêm cô đơn giống như khá nhiều nhân vật của ông .

Ông được chôn ở nghĩa địa Petơ Lasedo, ông được chôn giữa những ngày mưa gió và người ta kể lại rằng những người đào huyệt phải lấy chân dậm lên quan tài để nó khỏi nổi lên giữa hố nước. Đám tang không đông đảo, bề thế, không tương xứng với con người đã tạo nên cả một thế giới trong “Tấn trò đời”. Tuy nhiên đã có bài điếu văn của Hugo tiếc thương thiên tài mà hậu thế sẽ thừa nhận.

II. SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC

  1. 1.      Khái quát

 Balzac không thuộc loại tài năng văn chương phát lộ từ tuổi thiếu niên như Hugo hoặc Musset, mà với ông “thiên tài là một sự cố gắng liên tục”- như ông từng định nghĩa. Bởi lẽ cho tới năm xấp xỉ tuổi 30, trải qua 10 năm thử bút Balzac vẫn chưa thành công. Năm 1820, chành trai trẻ trình làng vở kịch mang tên “Cromwell”, mọi người đều nhận định tác phẩm đó thật khô khan và vô vị, một vị viện sĩ được mời tới cho rằng: “… tác giả làm việc gì cũng được, trừ đeo đuổi văn chương”.

Từ năm 1818 đến 1828 là giai đoạn mò mẫn của Balzac, ông viết gần 10 quyển tiểu thuyết nhưng chưa tạo nên một tên tuổi.

Tác phẩm Những người của Đảng Chouans (Les Chouens) được ông hoàn thành vào năm 1829 mới thật sự  là tác phẩm mở màn cho cả bộ “Tấn trò đời” (La Comèdie, còn được dịch là “Kịch vui nhân gian”) vĩ đại.

Năm 1829 đến năm 1835 là giai đoạn đầu trong việc sáng tác bộ “Tấn trò đời”. Bộ “Tấn trò đời” gồm hơn 90 tác phẩm “cung cấp một bộ lịch sử hiện thực tuyệt vời của xã hội Pháp, đặc biệt là xã hội thượng lưu tại Pari” (Engels). Balzac đã đề xuất một cách rõ ràng là ông muốn làm “thư kí” cho xã hội Pháp, để hoàn thành một nhóm tác phẩm miêu tả nước Pháp vào thế kỉ XIX”.

Năm 1845 Balzac đã phác thảo đề cương của bộ “Tấn trò đời”. “Tấn trò đời” dự định là 143 tác phẩm, đã hoàn thành 97 tác phẩm trong thời gian từ 1829-1848. Sau đây là thống kê một số tác phẩm tiêu biểu trong bộ “Tấn trò đời”.

PHẦN I: KHẢO LUẬN PHONG TỤC

1/ Những cảnh đời tư.

Gôpxêch nhà con mèo chơi bóng (1830); Người đàn bà ở tuổi ba mươi (1831); Đại tá Sabe (1832); Lão Goriot I (1834); Lão Goriot II (1835); Lễ cầu hôn của kẻ vô thần (1836); Bêatrix (1839); Nàng nhân tình hờ (1841); Kí sự của đôi vợ chồng trẻ (1842); Onôrin (1843); Môđextow Minhông (1844).

2/ Những mảnh đời tỉnh lẻ.

Cha xứ ở Tua (1832); Ơgiêni Grangđê (1833); Bông huệ nơi thung lũng (1835); Căn phòng chứa đồ cổ I (1836); Ảo mộng tiêu tan I (1837); Cô gái già (1838); Căn phòng chứa đồ cổ II (1839); Ảo mộng tiêu tan II (1840); Uyêcxuyn Miruôt (1841); Cô gái khua cá (1842); Ảo mộng tiêu tan III (1843).

3/ Những cảnh đời Pari.

Xarazin (1831); Nữ công tước Đơ Langgie (1834); Cô gái mắt vàng (1835); Faxino Can (1836); Xeza Birôtô (1837); Những viên chức (1837); Nhà ngân hành Nucingen (1838); Vinh và nhục của người kĩ nữ I (1839); Mặt trái của lịch sử hiện đại I (1842); Một tay buôn bán (1845); Chị Bett (1846); Ông anh họ Pông (1847); Vinh và nhục của người kĩ nữ II (1847); Vinh và nhục của người kĩ nữ III; Mặt trái của lịch sử hiện đại II; Những người tiểu tư sản.

4/ Những cảnh đời chính trị.

Một giai đoạn của thời kì khủng bố (1830); Macca (1841); Đại biểu ở Acxi (1847).

5/ Những cảnh đời nhà binh.

Những người Suăng (Les Chouens)(1829); Mối đam mê nơi sa mạc (1830);

6/ Những cảnh đời nông thôn.

Người thầy thuốc ở nông thôn (1833); Người cha xứ nông thôn I (1838); Người cha xứ nông thôn II (1839); Những người nông dân I (1844); Những người nông dân II (hoặc Nông dân).

PHẦN II: KHẢO LUẬN TRIẾT HỌC

Thuốc trường sinh (1830); Kiệt tác chưa ai biết tới (1831); Miếng da lừa (1831); Quán đỏ (1831); Gia đình Marana (1832); Lui Lambe (1833); Đi tìm cái tuyệt đối (1834); Menmôt quy thiện (1835); Đứa con bị nguyền rủa (1836); Maximilia Đôni (1839); Về Catơirin đơ Mêđixix (1841)

PHẦN III: KHẢO LUẬN PHÂN TÍCH

Sinh lí học hôn nhân (1829); Những nỗi phiền hà của cuộc sống vợ chồng (1845).

“Tấn trò đời” đã có một công lao lớn trong việc phản ánh việc giai cấp tư sản đã thay thế cho giai cấp quý tộc để phát triển lịch sử; phản ánh lịch sử suy vong của giai cấp quý tộc; miêu tả từng màn thảm kịch xoay quanh việc tiền bạc. “Tất cả đều bị tiền bạc quyết định” phản ánh chân thật tình trạng kinh tế thời bấy giờ.

Hơn thế nữa với bộ “Tấn trò đời” Balzac đã đặt nền tảng cho chủ nghĩa hiện thực, đề ra những nguyên tắc mỹ học cho chủ nghĩa hiện thực; xây dựng nhân vật theo nguyên tắc “nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình”, cá thể hóa ngôn ngữ….

Balzac viết khoẻ vô cùng: bản thảo đầu của “Lão Goriot” được ông hoàn thành trong 3 ngày đêm, hay tiểu thuyết “Chị họ Bett” được viết trong 6 tuần lễ; thời kì 1831-1835, mỗi năm ông hoàn thành 6-7 tác phẩm. Balzac viết nhanh mà không viết ẩu, ngay đến những người không ưa ông cũng phải công nhận Balzac đã nêu gương sáng về nhà văn có trách nhiệm, có lương tâm. Không tác phẩm nào mà ông không sửa chửa lại nhiều lần, bởi ông rất chú ý gọt giũa lời văn, và ông  khuyến khích người viết văn luôn làm một thứ “tổng vệ sinh văn học”.

Đó là tất cả những gì còn lại của người có khi tự nhận là “một tên khổ sai bằng bút mực, một gã đi bán tư tưởng thật sự”, có khi tự cho mình có thể vượt qua Napoléon “hoàn thành những thứ gì mà người không thể hoàn thành bằng lưỡi kiếm”. Và sự thật thì cái “đế chế” mà Balzac trị vì- thế giới của Tấn trò đời- còn tồn tại mãi đến ngày nay, trong khi đế chế của Napoléon chỉ tồn tại trong 20 năm.

2. GIỚI THIỆU 3 TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU

EUGENIE GRANDET

Lão Grandet là thợ đóng thùng ở thị trấn Saumur nhờ “đục nước béo cò” mà phất lên sau cách mạng 1789. Lão mua với “giá rẻ như cho” những cánh đồng nho- tài sản bán đấu giá, lão buôn vàng, đầu cơ tích trữ rượu vang và trở thành một tay tư sản giàu xụ nhưng lại hết sức keo kiệt. Chính bản thân lão cùng vợ lão, cô con gái độc nhất- Eugenie, mụ quản gia Nanon phải chịu thiếu thốn mọi bề. Lão nắm giữ tất cả chìa khóa hòm tủ trong nhà, hằng ngày lão đích thân phát từng mẩu bánh, từng viên đường cho vợ con.

Cruchot và Des Grasims là hai gia đình có thế lực ở Saumur thường tới lui bợ đỡ lão, hòng giành nhau cô gái thừa kế triệu phú Eugenie. Nhưng lão thì chẳng bao giờ lo nghĩ đến hạnh phúc của con.

Em trai lão Grandet ở Pari bị phá sản, trước khi tự tử gửi con là Charles về Saumur nhờ lão cưu mang, nhưng lão lại vội tống khứ thằng cháu đi Ấn Độ để giữ nợ cho y sau này tự trả. Thời gian ngắn ngủi ở Saumur, giữa Charles và Eugenie nảy nở một mối tình. Eugenie giấu cha đem số vàng của mình tặng người yêu làm vốn kinh doanh. Khi lão biết chuyện liền giam con gái vào buồng kín chỉ cho nước lã và bánh mì lạt. Bà Grandet vì đau buồn mà  mất. Sợ vợ chết con đòi chia gia tài lão buộc phải giảng hòa với con. Sau khi lão mất thì chỉ còn Eugenie sống bơ vơ với một hi vọng là chờ người yêu trở về.

Sau bảy năm sống ở Ấn Độ, Charles kiếm được số tiền lớn và biến chất. Trên đường về Pari hắn đính hôn với một cô gái quý tộc xấu xí nhằm chen chân vào xã hội thượng lưu và quên hẳn mối tình thơ mộng với Eugenie. Mặc dù bị phụ bạc nhưng Eugenie vẫn đứng ra trả nợ giùm Charles,  sau đó kết hôn với một người nàng không yêu. Năm 33 tuổi Eugenie phải sống cuộc đời góa bụa.

Tác phẩm “Eugenic Grandet” là một trong những tác phẩm được Balzac “viết hoàn mỹ nhất”. Thành tựu quan trọng nhất của tiểu thuyết này là đã tạo dựng được một điển hình keo kiệt bủn xỉn- lão Grandet. Balzac đã phơi bày tính chất tham lam, xem tiền như mạng sống của giai cấp tư sản. Hình tượng Grandet là hình tượng sinh động của giai cấp tư sản sùng bái tiền bạc như một thứ tôn giáo. Tác phẩm phơi bày sức mạnh nghiệt ngã của đồng tiền, chính nó đã hủy hoại tâm hồn con người, giết chết những tình cảm thiêng liêng nhất và có thể biến con người thành ác thú.

Tiểu thuyết còn miêu tả quá trình phất lên của giai cấp tư sản sau cuộc đại cách mạng Pháp, nói lên đặc điểm về việc vơ vét tiền để phát tài của giai cấp tư sản trong những điều kiện lịch sử mới.

LÃO GORIOT( LE PÈRE GORIOT)

Lão Goriot là một tư sản sa sút phải đến sống trong nhà trọ của mụ Vauqueur ở ngoại ô Pari. Sớm góa vợ, lão dồn tình thương vào hai cô con gái là Anastasie và Delphine. Lão hết sức chiều chuộng con và tìm mọi cách để cho con được hạnh phúc, bao nhiêu tiền của lão đều bỏ ra nhằm lo cho con có được tấm chồng giàu sang. Nhưng các cô con gái và các chàng rể chẳng hề yêu thương lão mà chỉ xem lão như một con bò để vắt sữa. Khi lão hết tiền thì các con không dòm ngó tới lão.

Cùng ở nhà trọ của mụ Vauqueur còn có  Rastignac- dòng dõi quý tộc tỉnh lẻ sa sút, lên Pari học trường luật mong tìm đường tiến thân. Vautrin- tên tù khổ sai vượt ngục thay đổi họ tên trốn tránh tại quán  trọ bày cách làm giàu độc ác bẩn thỉu cho Rastignac. Nhưng Rastignac lại muốn tiến thân theo lời khuyên của người chị họ là làm quen và trở thành tình nhân của Delphine, mong lợi dụng người này để bay nhảy trong giới thượng lưu xã hội.

Chẳng lâu sau, lão Goriot vì  đau buồn chuyện vợ chồng con cái lục đục đâm ra ốm nặng, chủ yếu vì thất vọng: bao nhiêu công sức đổ vào hai đứa con gái mà vô hiệu. Lúc này lão đã hết tiền để giúp con. Các con lão chẳng thèm quan tâm. Lúc hấp hối lão kêu gào thảm thiết với một ước vọng là gặp con lần cuối những họ vẫn thờ ơ. Lão mất, Rastignac và  anh bạn sinh viên y khoa Bianchon góp tiền chôn cất lão. Hai cô con gái, hai chàng rể đều không đến đưa cha vào nghĩa địa. Khi đắp xong nắm đất cuối cùng lên mộ lão Goriot, Rastignac quay về phía thủ đô Pari lúc ấy đã lên đèn và ném lời thách thức: “Bây giờ chỉ còn ta với mày”. Và đến ăn tối tại nhà Delphin-  những kẻ mà anh khinh bỉ! Điều đó cho thấy anh sẵn sàng hoà nhập với những kẻ ấy.

Lão Goriot rõ ràng là nạn nhân của đồng tiền tư bản. Tiền là mục tiêu cao nhất, quan hệ bố con có nghĩa lý gì khi mà  quan hệ ấy không giúp cho lũ con bất hiếu có thêm một đồng tiền nào nữa.

Tác phẩm miêu tả quá trình trưởng thành của những nhà tư sản quý tộc có tham vọng, đồng thời phê bình, đả kích quan điểm đạo đức của giai cấp tư sản, vạch trần dục vọng của con người tràn ngập khắp xã hội hiện thực. Tác phẩm cũng phản ánh sự hiểu biết sâu sắc của Balzac đối với những mối quan hệ trong hiện thực. Tiểu thuyết thông qua sự thất bại trên tình trường của phu nhân tử tước nói lên sự thay đổi lịch sử trong giai đoạn thế lực phong kiến ngóc đầu dậy, sau khi đã bị giai cấp tư sản thay thế.

VỠ MỘNG (LES ILLUSEONS PERDUES)

Lão Nicolas  Séchard từ công nhân trở thành chủ nhà in, khi về già lão bán lại doanh nghiệp cho con trai là David Séchard. Nhưng David lại ham mê sáng chế bột giấy hơn việc quản lý nhà in, để mặc cho bọn tư sản Cointet trong vùng cạnh tranh ráo riết .

David có người bạn là Lucien Chardon, nhà nghèo, sống với mẹ và chị. David lấy chị của Lucien và giao nhà in cho nàng.

Bà quý tộc De Bargeton sính văn chương tỏ ra đam mê chàng thi sĩ Lucien. Để được tự do yêu đương, bà bỏ chồng và  rủ Lucien trốn lên Pari.Đến Pari, bà lại bỏ rơi Lucien.

Thế là Lucien bơ vơ, chàng đem văn thơ đi dạm các nhà xuất bản thì bị từ chối. Bấy giờ phía cộng hòa phía tả có nhóm Darthez gồm nhiều loại trí thức (triết gia, nghệ sĩ, nhà văn, khoa học, chính trị gia) sống có lí tưởng, miệt mài sáng tạo, phát minh với những điều gay go. Nhóm có Michel Chrestien, một người mang chí lớn “mong thay đổi bộ mặt thế giới” đánh đổ nhà nước tư bản, xóa chiến tranh, đã từng có mặt ở chiến lũy cách mạng những năm 1830 và hi sinh 1832 ở Xanhmer. Đó là một nhà chính trị sắc sảo và đầy dũng khí. Những người này rủ Lucien gia nhập, nhưng vì  không quen  với đời sống của đám thanh niên nghèo nên Lucien đã bỏ đi theo tay nhà báo Lousteau gian xảo, tham gia vào làng báo tư sản với triết lí “ca ngợi hoặc chửi bới bất kì ai miễn là được cấp nhiều tiền”. Rồi  sau quen được cô đào trẻ Coralie.

Lucien mượn lời trên báo để trả thù bà Bacgiơtông. Bà phản công bằng cách vờ lôi kéo Lucien về phía bảo hoàng, Lucien tráo trở bỏ ngay báo chí cộng hòa và công kích bạn bè cũ. Chẳng bao lâu bọn quý tộc lại bỏ rơi Lucien.

Lucien xuống dốc rất thảm hại, phải giả tên anh rể David làm hối phiếu để xoay tiền, tình hình không khá hơn. Sau khi cô tình nhân Coralie mất thì  anh cũng chẳng còn gì đành thất thiểu lội bộ về quê.

Ở quê nhà, sau khi Lucien đi thì David tiếp tục nghiên cứu bột giấy, khi gần thành công thì bị bọn Cointet dựa vào những tờ hối phiếu giả do Lucien làm mà nhẫn tâm cướp không phát minh của David. David không có tiền thanh toán hối phiếu phải trốn chạy. Lucien lại vô tình tiết lộ chỗ ấn nấu của David nên David đã  bắt buộc phải bán phát minh cho họ.

Lucien buồn bã định tự vẫn thì gặp ngay tên Vautrin, vừa vượt ngục đội lốt cố đạo rủ đi với hắn lên Pari. Lucien mượn tiền của Vautrin trả nợ cho David. Ra khỏi tù vợ chồng David đành chọn cuộc sống âm thầm nơi thôn quê.

*******

Cếu nói : cả pho “Tấn trò đời” đều thấm mùi hôi tanh của đồng tiền thì ở tiểu thuyết “Vỡ mộng”, hơn đâu hết  mùi hôi tanh đó nồng nặc đến kinh người. Balzac đã nhìn thấu cơ cấu kinh tế của thời đại mà điểm nổi bật là sự cạnh tranh tư bản chủ nghĩa tàn bạo và David là một nạn nhân bi đát. Balzac còn vạch trần bộ mặt xấu xa của các đảng phái chính trị, luôn kèn cự lẫn nhau vì tiền tài và địa vị. Bên cạnh đó ông còn phơi ra ngoài ánh sáng cái hậu trường đen tối của hoạt động văn học nghệ thuật như xuất bản, sân khấu, văn chương và nhất là báo chí- điểm vinh quang mà cũng là “mối điên cuồng” của thời đại.

CHƯƠNG III: GIỌNG LẠNH LÙNG KHÁCH QUAN CỦA NHÀ VĂN TỰ NHẬN LÀ “THƯ KÍ CỦA THỜI ĐẠI”

I. TIỂU THUYẾT EUGENIE GRANDET

1. Lão Grandet- một điển hình của giai cấp tư sản.

Tiểu thuyết “Eugenie Grandet” xoay quanh cuộc đời và số phận 3 nhân vật: lão Grandet giàu có keo kiệt, cô gái  thánh thiện Eugenie và tên bạc tình đáng nguyền rủa- Charles. Là một nhà văn hiện thực, Balzac đã đứng ra  kể cho chúng ta nghe những gì tồn tại trong xã hội tư bản, thế nào là tình thương, thế nào là tiền bạc. Từng trải trong xã hội đó, Balzac hiểu rõ bản chất thối nát của nó. Balzac có thái độ lạnh lùng khách quan khi miêu tả quá trình làm giàu của lão Grandet bởi lẽ một con người chỉ sống  vì tiền và chết cũng vì tiền như lão Grandet không phải là xa lạ với Balzac. Trong thế giới nhem nhuốc và hôi tanh mùi tiền ấy, lão Grandet chỉ là một thành viên, và còn nhiều nhiều lão Grandet nữa nếu xã hội ấy còn tồn tại.

Lão chọn được một người vợ vừa mang lại cho lão những khoảng tiền thừa kế đáng kể (nhờ đó lão có của để tham gia đấu giá những cánh đồng nho sau cách mạng 1789 và trúng thầu rất rẻ), lại vừa là một nội trợ chí tình, hết mực ngoan đạo và tế nhị để cho chồng vét hết tiền tiết kiệm của mình đồng thời biết tránh hỏi chồng những xu nhỏ. Balzac chẳng lấy làm lạ mà thẳng thắn nhận xét “già cả như thế mà còn rụt rè e sợ mặt chồng”. Điều đó chứng tỏ bà Grandet hoàn toàn toàn phụ thuộc vào chồng và khổ sở vì cảnh sống phụ thuộc ấy. Nói thế chẳng phải Balzac lạnh lùng đâu mà bởi ông chẳng thể làm gì thay đổi được số phận của những con người đáng thương ấy nên đành khách quan mà nhận xét, trong sự lạnh lùng dường như ẩn chứa sự cảm thông, chia sẻ. Tính tự trọng âm thầm dại dột ấy, cốt cách ứng xử cao thượng ấy là điểm nổi bật trong thái độ xử thế của bà, nhưng “Grandet không hề biết đến và luôn luôn xúc phạm”

Cả gian nhà ấy chỉ có mỗi một ngọn nến, mà khi cần thì “Grandet cầm nến đi ra, để mặc vợ con và mụ ở ngồi lại với ánh lửa lập lòa của lò sưởi”. Bằng sự khách quan, Balzac cho ta thấy rõ bản chất keo kiệt của lão Grandet, đáng sợ ở chỗ lão là đại diện cho một xã hội kim tiền, có bao nhiêu người như lão thì sẽ có bấy nhiêu con người đáng thương như vợ lão, con gái lão và mụ Nanon

Balzac dường như hiểu quá rõ tính cách của nhân vật này bởi thế trước những hành động ích kỷ, nghĩ cho riêng mình của lão, Balzac không lấy làm ngạc nhiên. Chứng kiến để rồi miêu tả sinh động nhân vật Grandet, Balzac sử dụng một giọng điệu khá là khách quan, không nói thêm nói bớt cho nhân vật tí nào, mà đó là bản chất của lão, tự thân lão thể hiện thói keo kiệt của mình. Với giọng điệu lạnh lùng ta dễ nhận ra thái độ phủ nhận xã hội tư sản của Balzac, đó là một xã hội mà đồng tiền là thứ quyền lực cao nhất. Bởi càng giàu có thì trái tim Grandet càng khô quắt lại, lão “dè xẻn đến cả cử động” của mình, lão đếm từng miếng đường, cái bánh trong bữa ăn. Ngôi nhà không ánh sáng, không lửa ấm như chìm ngập trong tập quán keo bẩn của lão gia trưởng Grandet.

Lão Grandet không thích tốt bụng với ai, người nhà, bà con, hay khách khứa cũng chẳng là gì. Lão chẳng bao giờ nghĩ đến người xung quanh dù chỉ một lần, đối với lão “đời là một công việc làm ăn” thế nên lão chỉ để cho trái tim xúc động khi mà có đủ lí lẽ để tin rằng sự xúc động ấy “không tốn kém”.

Grandet không là một tên keo kiệt bình thường mà là tên keo kiệt đặc biệt, với những nét riêng không giống bất kỳ tên keo kiệt nào trong văn học. Mỗi chi tiết Balzac sử dụng đều giàu sức biểu hiện, vừa có tính khái quát cao vừa có nét riêng biệt, độc đáo như chi tiết “ông đã mang cây đèn duy nhất trên bàn đi để đọc thư mà không cần chú ý đến khách và cuộc vui của họ”. Chi tiết này vừa nêu rõ tính keo kiệt vừa thể hiện thói thô lỗ không cần điếm xỉa tới ai. Chi tiết được thể hiện với một giọng điệu bình thản, hiển nhiên có phần lạnh lùng của Balzac càng làm ta hiểu hơn về lão phó thùng  bạc triệu này

Grandet là một con người rất thực tế, từ việc thuê “một Nanon hộ pháp”, đến những thủ đoạn trong kinh doanh, Grandet cao tay đến mức lão thường tự làm như người dốt, nói năng lúng ta lúng túng, nhức đầu rối trí, để đối thủ của lão mất cảnh giác mà để lộ mưu cơ. Lão nói với con “quả thật những đồng êquy sống và bò trườn lúc nhúc như con người, chúng đi chúng lại chúng vã mồ hôi, chúng sinh sản”. Lão đã khởi đầu với 200 đồng và kết thúc ở 17 triệu. Grandet là hiện thân của vị thần hiện đại duy nhất mà người ta tín ngưỡng, vị thần tiền với tất cả quyền uy của thần.

Balzac cũng phơi bày sự thoái hóa đạo đức của Grander, hậu quả của việc kinh doanh tư bản chủ nghĩa. Grandet làm chủ một tài sản khổng lồ, nhưng lão cũng bị chính tài sản đó làm chủ. Lòng tham vô hạn đã khiến lão mất đi những tình cảm thông thường của loài người, những tình cảm thiêng liêng nhất- tình vợ chồng, tình cha con, tình anh em, tình chú cháu.

Tác giả nhiều lần cố ý so sánh Grandet với loài vật. “Ông Grandet vừa giống một con hổ, vừa giống một con trăn: ông biết cách nằm, cách thu hình lại, rình miếng mồi rất lâu và nhảy ra vồ đúng lúc, rồi há mõm túi tiền ra nuốt chửng một đống vàng, xong, lại nằm im lìm như một con trăn đang tiêu hóa, thản nhiên, lạnh lùng, có cách thức”, hay lão vồ cái hộp vàng trong tay con gái như “con cọp vồ một em bé ngủ”, mắt lão thao tháo như “mắt rắn thiêng trong thần thoại”, dân Saumur không ai không bị “những vuốt thép trơn bóng” của lão cấu xé một lần.

Sự tàn nhẫn, vô tâm của Grandet làm cho người khác phải sợ hãi. Tuy đã quen nết trơ như đá của một người trưởng khế, nhưng ông Cruchot cũng thấy lạnh sau xương sống, khi nghĩ rằng “ông em ở Pari đã kêu cứu vô hiệu quả với ông anh triệu phú này”. Grandet còn là một tên tư sản keo kiệt độc ác. “Ông ta viết con tính lên tờ báo đăng tin người em chết, bên tai, tiếng than vãn của người cháu nghe rất rõ ràng, tuy ông không chú ý”

Những người thân thiết nhất của lão cũng không là gì nếu làm tổn thương tiền vàng của lão. Trong việc Eugenie tặng vàng cho Charles, số vàng ấy lão đã tặng cho con thì con có quyền sử dụng thế nhưng với lão thì chẳng qua là đem tiền ở hòm này bỏ sang hòm khác. Khi phát hiện ra mất số vàng thì lão lồng lộn, tưởng như có thể giết cả vợ và con mình. Mẹ con Eugenie thật tội nghiệp nhưng Balzac buộc phải dùng lời nói khách quan để miêu tả thái độ hoảng sợ của họ, như vậy mới làm rõ được bản chất khát vàng của lão già keo kiệt. “Hai mẹ con Eugenie nghe thấy thế vội chuồn về phòng riêng và tót lên giường nhanh nhẹn như những con chuột hoảng sợ vội rút vào hang”.

Vợ của người giàu nhất thị trấn này phải có trạng thái như sau khi trót bao che việc làm của con. “Người đàn bà tội nghiệp ấy nằm trằn trọc như em học sinh không học bài lo sáng hôm sau sẽ nhìn thấy vẻ mặt dữ tợn của thầy giáo. Bà sợ quá quấn chăn kín mít để đừng nghe thấy gì”

Cô con gái bé bỏng cũng không thoát khỏi móng vuốt của cha mình.    “Một ngày đã trôi qua, một ngày trọng đại, nó sẽ tác động sâu sắc đến cuộc đời của cô tiểu thư thừa tự giàu sụ mà nghèo xơ ấy. Giấc ngủ của cô từ nay sẽ không say mê cũng không trong sáng như xưa nữa”.

Sinh ra và lớn lên trong lòng xã hội tư sản, Balzac thừa hiểu biết về cái xã hội tráng lệ mà cũng thối tha này, xã hội mà tiền bạc là chuẩn mực để đánh giá mọi thứ tình cảm trên đời, thì tránh sao khỏi việc ông phủ nhận xã hội ấy. Khi mà “những kẻ đức hạnh và am hiểu sự đời cũng đắn đo tính toán như kẻ gian tà” thì buộc lòng Balzac phải lột bỏ bộ mặt xấu xa, giả dối của xã hội ấy, chỉ cho chúng ta bản chất của chúng, đó là tinh thần trong văn Balzac và cũng là đích hướng tới của chủ nghĩa hiện thực phê phán.

Trên tinh thần phê phán ấy, giọng văn của Balzac không thể ủy mị. Bởi không chủ trương cải tạo xã hội bằng tình thương như Hugo nên Balzac phải chọn cho mình một giọng điệu khá lạnh lùng, lạnh lùng như bản chất xã hội ấy và có như vậy mới thể hiện một cách chân thực sự xấu xa đầy rẫy trong xã hội. Phải khách quan mà nhận xét, phải bóc trần sự thật, những sự thật mà từ lâu bị cái phù hoa tráng lệ, cái văn minh giả tạo che lấp. Phải nhìn thẳng và nói thẳng sự thật, sự yếu đuối sẽ không cho ta sức mạnh bóc trần sự thật. Và Balzac đã làm được như vậy, ông nhận định một cách chính xác về khái niệm “người biển lận”- một loại người đầy rẫy trong xã hội tư sản- “quyền lực của con người ta làm bằng thời gian và sự kiên trì. Người biển lận luôn luôn đem quyền lực của con người phục vụ bản ngã. Hắn chỉ dựa vào hai tính nết: tính tự kỷ và tính vụ lợi”. Có lẽ vì vậy những nhân vật biển lận được thể hiện khéo trên sân khấu bao giờ cũng làm cho công chúng chú ý không biết ngần nào.

Ngay với Grandet, Bazac dù đã quá quen thuộc tính nết của lão, nhưng rồi cũng phải thốt lên một câu khách quan rằng “Grandet quả có cái gì khác thường thật”. Phải chăng vì “cũng như tất cả những người biển lận khác, ông ta luôn luôn thấy thèm đánh một nước bài gì với lũ người, để lùa tiền của chúng một cách hợp pháp. Buộc được người ta đem của nộp cho mình, như thế không phải là biểu thị quyền lực của mình hay sao? Không phải là giành vĩnh viễn cái quyền khinh thị những kẻ cam chịu xé xác vì quá yếu hèn trên quả đất này hay sao? Ôi, ai hiểu được cái hình tượng con cưù non nằm bình yên dước chân Chúa? Đó là biểu hiện cảm động nhất về những kẻ bị thiệt thòi trên cõi đời, đồng thời là biểu tượng của tương lai họ, tóm lại đó là sự đau khổ, sự yếu hèn được biểu dương. Con cừu non ấy người biển lận để yên cho nó béo mập lên, rồi hắn ta nhốt nó lại, giết nó, nấu thịt nó, ăn thịt nó và khinh rẻ nó. Thức ăn của bọn biển lận là tiền bạc và sự khinh người”

 Mọi hoạt động, suy tính của lão Grandet này chỉ nhằm một lý tưởng cao nhất đời lão là “riêng mình không phải bỏ ra một đồng xu nhỏ nào”.

 2. Tiểu thư Eugenie Grandet- sự ngập ngừng của Balzac

 Một người như lão Grandet nhận được thái độ lạnh lùng của Balzac là điều dễ hiểu, nhưng với nhân vật Eugenie, người mà Balzac lấy làm ưu ái khi xây dựng thì đôi khi tác giả cũng khách quan miêu tả quá trình phát triển tâm lý của nhân vật. “Người cha và người con gái đều kiểm kê tài sản của mình, cha để mang vàng đi bán, con để đổ vào biển ái nguồn ân”.

Tính cách Eugenie phát triển, cùng với sự thức tỉnh của tình yêu, trong nàng hình thành những nét tâm lý mới. Vốn phục tùng và giản đơn, nàng bắt đầu có nhận xét và phản ứng. “Nghe cha nới một cách phù phàng về nỗi đau mất bố của Charles, Eugenie rùng mình. Từ giờ phút ấy nàng bắt đều xét đoán cha mình”

“Hắn sẽ đi Ấn Độ, cô sẽ không bao giờ gặp lại hắn”. Lời phán quyết của cha  không dập tắt tình yêu trong nàng. Từ cái nhìn “bình tĩnh” khi lấy lại đĩa đường, thái độ “gan góc” đưa nho mời cha và Charles đến việc tặng vàng, bảo vệ kỷ vật của người yêu, sự chống đối của nàng quyết liệt dần. Sự nhảy cảm khiến nàng sắc sảo không ngờ. Đương đầu với Grander trong vụ túi vàng, nàng “lạnh lùng” trước sự tra hỏi, “thản nhiên” khi bị quát mắng, và “kiêu hãnh” chịu phạt giam. Điều đó khiến lão già Grandet phát khùng mà thừa nhận “gan lì hơn cả cha”. Thực tế là tác giả đã giảm bớt giọng lạnh lùng khách quan khi tả  Eugenie, ông dùng khá nhiều lời văn lãng mạn trân trọng nhân vật này. Về sau khi tính cách của cô thay đổi nên nhà văn mới đổi sang giọng lạnh lùng, thế nhưng Balzac vẫn còn sự ngập ngừng.

Cuối cùng nàng không phải là người chiến thắng, cái thế giới của Grandet đã nghiền nát giấc mơ yêu đương hạnh phúc của nàng, ảnh hưởng của nó còn len lỏi con người nàng, chi phối tính cách  của nàng. Dẫu xót thương và yêu mến Eugenie vô hạn nhưng Balzac vẫn lạnh lùng chỉ ra sự thật đáng buồn. “Tối tối cái sân chầu của Eugenie vẫn đủ mặt bá quan” như hệt bảy năm về trước, với Eugenie thì việc “được tôn nữ hoàng dần dà làm nàng quen đi”, cái thói quen làm con người tê liệt. Sau những tháng năm chờ đợi những gì còn lại với cô là cảnh đổ vỡ hoàn toàn và ghê gớm. Eugenie mất cả niềm tin tưởng, nàng nói với kẻ cầu hôn mình “Thưa ông chánh án, tôi biết ông lấy tôi vì cái gì”

Một người thánh thiện như Eugenie quả là hiếm hoi trong xã hội tư bản, nhưng xã hội ấy có để yên cho những con người hiền lành ấy không, hay nó buộc Eugenie trở thành người đồng lõa với nó. Dẫu rất thương nhân vật nhưng Balzac đành lạnh lùng chứng kiến nhân vật của mình đi vào ngõ cụt.

Eugenie trong sáng trở thành vật hy sinh cho quá trình tha hóa của đồng tiền, số phận đau buồn của nàng là sự hy sinh cho túi tiền của Grandet và Charles. Eugene cô đơn giữa những vòng vây, những âm mưu, những toan tính tham lam và tàn nhẫn của giai cấp tư sản, đây không phải là trường hợp bất thường mà là cảnh muôn đời diễn ra trong khắp xã hội tư sản. Thế nên “cái quả tim cao quý chỉ đập vì tình thương yêu lại mắc vào vòng tính toán danh lợi của người đời, tiền bạc đã truyền hơi lạnh qua con người ấy và làm cho một người đàn bà hoàn toàn tình cảm đâm ra nghi ngờ các thứ tình cảm”

3. Charles – con người chạy theo tiền tài, chìm trong ước mơ danh vọng

 

Một nhân vật nữa được Balzac miêu tả với thái độ lạnh lùng bởi tác giả  phần nào dự đoán trước những việc y làm, đó là chàng công tử Pari xinh đẹp, phong nhã- Charles,  nhưng sau những năm  nổi trôi, miền đất Ấn Độ đã nhào nặn lại cho Charles một hình thức mới, một đạo đức mới, không còn dáng vẻ yếu đuối, khờ khạo của ngày xưa nữa. Chàng đã chiụ sự giáo dục kinh khủng của cái xã hội thượng lưu. Ở xã hội ấy, “bằng tư tưởng, bằng lời nói, trong một buổi tối người ta phạm nhiều tội ác bị trừng trị từ xưa tới nay trong các phiên tòa đại hình: ở xã hội ấy, những câu hóm hỉnh giết chết những tư tưởng lớn lao nhất, ở xã hội ấy chỉ có những người nhận xét đúng mới là người cừ, mà ở đây nhận xét đúng nghĩa là không tin gì cả, không tin tình nghĩa, không tin người, không tin cả đến sự việc, về sự việc thì họ muốn đặt để ra gì tùy ý”. Ở đây, muốn nhận xét đúng, phải “nhấc túi tiền của bạn mỗi buổi sáng xem thử nặng nhẹ, phải biết khôn khéo đặt mình lên mọi biến cố, phải biết lâm thời không khâm phục một cái gì cả, không khâm phục những tác phẩm nghệ thuật, không khâm phục những hành động cao quí, cho mọi việc ở đời đều do một động cơ duy nhất là quyền lợi cá nhân”.

Bản chất xã hội là thế phải đâu Balzac bôi đen cuộc sống, không có chút chủ nghĩa nhân đạo nào. “Chàng đã bị tiêm nọc độc ích kỷ mà chàng không biết. Cái mầm kinh tế học chính trị học riêng của Pari lâu nay ngấm trong cơ thể chàng, sẽ tức tốc nảy nở, đâm hoa kết quả khi chàng không còn làm người khách xem nhàn rỗi, mà trở thành người diễn viên trong tấn trò đời”

Giờ đây “Kiên quyết làm giàu bất chấp thủ đoạn, hắn giống như những người vội vã sống cho xong cảnh đê hèn”. Với suy nghĩ ấy “Charles xây dựng cơ đồ một cách rực rỡ và chóng vánh”. Gã cũng chạy theo công việc làm ăn, chạy theo tiền và chìm đắm trong dục vọng. “Tim hắn đã đông đặc lại, co nhỏ lại, khô héo”. Charles bỏ quên Eugenie bởi một lý do đơn giản quá mức “ tiền đã giết chết tình”.

*******

 Là bức tranh xã hội rộng lớn “Eugenie Grandet” phản ánh chân thật con đường tư sản hóa của giai cấp quý tộc Pháp. Tác phẩm thể hiện sâu sắc nhận xét của Mac và Engels. “Giai cấp tư sản đã biến phẩm cách con người thành một giá trị trao đổi tầm thường, giai cấp tư sản đã xé toạc bức màn tình cảm phủ lên trên những quan hệ gia đình và biến những quan hệ ấy thành ra chỉ còn là những quan hệ tiền nong đơn thuần”. Lạnh lùng miêu tả quá trình thoái hóa của đồng tiền đâu phải là lỗi của Balzac. Qua tác phẩm ta nhận thấy rằng, Balzac là người xuất sắc hiểu biết sâu xa về mối quan hệ thực tại.

II. TIỂU THUYẾT LÃO GORIOT

1. Quán trọVauquer- Pari thu nhỏ

Câu chuyện này diễn ra chủ yếu tại nhà trọ Vauquer, một xó xỉnh trong lòng đại dương Pari mênh mông, nơi tàng ẩn của những kẻ bị cơn bão cuộc đời xô dạt hay những kẻ ẩn nấp chờ cơ hội xông ra cuộc sống. Những con người thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau tập hợp tại đây: sinh viên, công chức, quý tộc phá sản, tù khổ sai …..rất nhiều hạng người nữa nhưng “Pari đẹp đẽ này không biết đến những gương mặt nhợt nhạt vì những đau khổ tinh thần hay thể xác nào đó. Pari là một đại dương thực thụ. Bạn hãy ném vào đó một chiếc máy dò, bạn sẽ không  bao giờ đo nỗi độ sâu của nó đâu! Bạn hãy đi vòng quanh khắp lượt, hãy miêu tả nó! Dù bạn có thận trọng khi đi qua nó, mô tả kỹ nó, dù những nhà thám hiếm đại dương có đông đúc và hứng thú đến đâu, vẫn luôn bắt gặp ở đó một nơi khai sinh, một hang động chưa ai biết đến, những hoa, những viên ngọc trai, những con quỷ, một vài thứ kì lạ khó tin, bị lãng quên bởi những thợ lặn tài tử. Nhà trọ Vauquer là một trong những nơi quỷ quái lạ lùng đó”. Lời giới thiệu mới lạnh lùng làm sao. Xã hội Pari hiện lên qua lời giới thiệu ấy tuy chưa rõ nét nhưng ta phần nào hình dung được những ung nhọt, thối nát bên trong nó. Thật đáng sợ khi biết rằng nhà trọ này là Pari thu nhỏ.

Những người cư ngụ trong nhà trọ ấy vốn không có nhiều tiền. Điều đó chẳng có gì lạ khi quán trọ ấy chẳng có vẻ gì sang trọng. Đáng lưu ý là những khách trọ ở đây cũng nghèo về tình cảm.“Mỗi người đều có một sự dửng dưng trộn lẫn với việc không tin tưởng đối với những kẻ kia, do các cảnh ngộ riêng tư của mỗi người. Nó cho thấy sự bất lực trong việc chia sẻ nỗi đau của họ”. Tất cả đều “tỉnh bơ đi trên đường phố trước một người mù, nghe kể chuyện về một người bất hạnh không chút cảm xúc và nhìn thấy ở cái chết giải pháp cho vấn đề nghèo khổ, điều đó làm cho họ lạnh lùng trước cả cảnh hấp hối kinh hoàng nhất”.

Trên đây là lời giới thiệu sơ lược của Balzac về xã hội Pari, về quán trọ của bà Vauquer và về tình cảm con người trong xã hội ấy. Không dài dòng không triết lý, Balzac nói rất ngắn, rất khẽ thế nhưng thật ngậm ngùi. Là nhà văn hiện thực ông lên tiếng tố cáo xã hội tư sản, tố cáo thời đại mà đồng tiền là cán cân công lý. Trong cái thế giới quỷ quái ấy con người chỉ biết sống cho riêng mình, họ thờ ơ với tất cả, thản nhiên với tất cả. Dẫu sao thì trên đây cũng chỉ là lời khái quát, còn cụ thể ra sao chắc phải đi sâu vào tác phẩm ta mới  hiếu hết ý nghĩa những lời nhận xét lạnh lùng này của Balzac.

2. Vautrin- người phát ngôn của Balzac

Tiểu thuyết Lão Goriot là một tác phẩm không kém phần quan trọng trong việc đánh dấu bước phát triển mới trong sự nghiệp sáng tác của “bậc thầy chủ nghĩa hiện thực”. Trong tiểu thuyết này lần đầy tiên Balzac nảy ra ý nghĩ vẽ lên toàn bộ bức tranh xã hội rộng lớn trong cả pho “Tấn trò đời” của ông. Và cũng lần đầu tiên ông có sáng kiến xây dựng những nhân vật “tái xuất hiện” ở nhiều tác phẩm khác trong bộ “Tấn trò đời”. Vautrin và Rastignac thuộc vào những nhân vật tái xuất hiện đó, có thể xem đây là hai nhân vật loại trung tâm của “Tấn trò đời”.

 Vautrin chỉ đóng vai phụ trong tác phẩm này nhưng hắn biết rõ hơn ai hết cái động cơ của xã hội tư sản là đồng tiền. Hắn từng truyền giáo lý bẩn thỉu cho những thanh niên non trẻ như Rastignac nhằm biến họ thành tay chân của hắn. Trong những lần đầu nhân vật này xuất hiện, Balzac đã kín đáo nhận xét về hắn, bằng giọng khách quan ta thấy nhà văn đã cảnh báo cho mọi người về đạo đức của hắn. Đây không phải một người lương thiện. “Những người hời hợt nông cạn như bọn thanh niên trẻ tuổi bị lôi cuốn vào vòng xoáy của cuộc sống ở Pari, hoặc là những người già kia thờ ơ với những gì không trực tiếp đụng chạm tới họ thì không nói làm gì, chứ những người sâu sắc hơn hẳn sẽ không dừng lại ở cảm giác e ngại mà Vautrin gây ra cho họ. Ông ta biết hoặc đoán biết được công việc của những người ở xung quanh mình trong khi đó thì không  gì có thể xâm nhập vào ý nghĩ cũng như công việc của ông ta”.

Nói đến ý nghĩa xã hội của tiểu thuyết này, của bộ “Tấn trò đời” không thể bỏ qua vai trò của nhân vật Vautrin, nhất là cái bài học vào đời đáng sợ mà hắn truyền cho chàng thanh niên Rastignac trong quán trọ của mụ Vauquer. Những câu như “cậu còn quá trẻ để hiểu rõ Pari. Sau này cậu sẽ hiểu được đây là nơi gặp gỡ của những con người đầy dục vọng”. Thật vậy, Pari là nơi gặp gỡ của những con người đầy dục vọng, hai cô con gái của lão Goriot mãi đeo bám vào bậc thang của xã hội thượng lưu, chàng sinh viên luật cũng đua đòi lên cho được bậc thang ấy, mụ chủ quán cũng mong rời bỏ quán trọ tồi tàn, bản thân Vautrin muốn kiếm một số tiền lớn để sang Mỹ làm lại cuộc đời….. Mỗi người một tham vọng và họ gặp nhau tại quán trọ này.

Vautrin là người phát ngôn, nhưng đằng sau ấy là giọng của Balzac. Rất nhiều câu nói của Vautrin làm ta suy nghĩ, nhất là thái độ bất mãn của hắn đối với xã hội này, cách nhận xét ấy là của một tên tù vượt ngục hay là của một con người đã từng sinh ra, trưởng thành, trải qua sống gió của xã hội tư sản như Balzac. Những lời nhận xét về con người tham vọng trong xã hội tư sản rất sắc sảo. “Những kẻ đó thường có một ý định nào đó nhưng lại không biết thực hiện nó như thế nào. Họ chỉ khát một thứ duy nhất được lấy từ một nguồn nước nhất định mà thường lại là nước tù đọng. Để uống được thứ nước đó, họ bán vợ, bán con, bán luôn cả tâm hồn họ cho quỷ dữ. Đối với kẻ này thì nguồn nước đó là cờ bạc, là thị trường chứng khoán, là bộ sưu tập tranh hoặc côn trùng, âm nhạc, còn với kẻ khác lại là một phụ nữ biết làm các kiểu loại bánh kẹo. Với những kẻ này dù cậu có tặng họ tất cả đàn bà trên thế giới này thì họ cũng chẳng cần. Họ chỉ muốn có người phụ nữ biết thỏa mãn dục vọng của họ mà thôi”.

Pari là thế giới mà giai cấp quý tộc làm chủ, là thế giới của kẻ có tiền. Tiền là thang điểm đánh giá đạo đức con người. “Những người đi xe đến đây đều được coi là những người danh giá. Còn những ai đi bộ đến đều bị coi là quân lưu manh”.

Bài học đầu đời  bẩn thỉu nhưng là những sự thật, là vấn đề thời sự. “Giàu có nhanh chóng là một vấn đề mà trong lúc này năm mươi nghìn thanh niên trẻ tuổi dự định sẽ đạt  được”. Để vượt qua năm mươi nghìn thanh niên khác thì Rastignac phải làm đúng những gì Vautrin chỉ dạy. “Người ta phải theo ánh hào quang của các bậc anh tài hoặc sự khéo léo trong lừa lọc mua chuộc. Cần phải thâm nhập vào đám đông người đàn ông như một loạt đạn đại bác, hoặc len lỏi vào đó như một bệnh dịch. Thành thực chẳng để làm gì cả. Chúng ta phục tùng quyền lực của bậc anh tài, chúng ta căm ghét hắn, chúng ta ra sức vu khống hắn, bởi vì hắn ta không chia sẻ với chúng ta, nhưng chúng ta vẫn phải phục tùng vì chúng luôn tồn tại. Nói tóm lại, chúng ta quỳ gối ngưỡng mộ hắn khi chúng ta không thể chôn vùi hắn dưới bùn đen”. Rastignac có thể làm theo lời giáo huấn ấy không? Sợ rằng không thuyết phục được chàng thanh niên trẻ, Vautrin nhấn mạnh “Ở Pari một người quân tử là một người im lặng, và từ chối chia sẻ”.Thật đáng sợ, người quân tử mà thế ư?

Làm giàu theo cách thối tha nhất, Vautrin không ngần ngại phô bày những thủ đoạn kiếm tiền dơ bẩn cho chàng trai nhằm dẫn dắt chàng vào đạo quân ăn cướp của mình, trở thành đồng bọn, tay chân cho mình. “Để làm giàu vấn đề là phải đánh những quả lớn; nói một cách khác là lừa đảo. Nếu như trong hằng trăm nghề muốn làm, ngươi gặp mười người đàn ông chớp nhoáng trở nên giàu có thì cả mười tên đều bị công chúng gọi là những tên kẻ cắp. Hãy rút ra bài học cho mình đi, đời là vậy ! Điều đó chẳng đẹp hơn gì cái bếp bẩn thỉu bốc mùi, nếu đôi bàn tay có bị nhơ bẩn vì sự ăn vụng thì phải biết rửa sạch khi xong việc. Cái đó là một đạo lý trong thời kỳ hiện nay”. Đạo lý trong giai đoạn này ư? Nếu đó được xem là đạo lý thì chắc rằng xã hội ấy chỉ hợp với loài vật mà thôi. Nhưng tiếc rằng đó lại là xã hội của con người, con người thượng lưu! Lời văn thật đáng sợ nhưng chẳng thể nói khác sự thật, Vautrin khẳng định lần nữa những gì mình vừa nói. “Ta nói với ngươi như vậy về thiên hạ, bởi thiên hạ đã dạy ta như thế, ta rất biết điều đó”.

Thoát sao khỏi thế giới khủng khiếp ấy, bao nhiêu thủ đoạn, bao nhiêu cách kiếm tiền được phơi bày qua giọng văn lạnh lùng của Balzac. “Có nhiều cách để săn: kẻ này săn của hồi môn, kẻ khác lại săn cái loại hối phiếu có giá trị thanh toán, lại có kẻ câu tư tưởng của người khác hoặc ngược lại tự bán những gì mình vốn có. Những kẻ nào trở về với cái túi đầy tiền thì sẽ được xã hội thượng lưu chào mừng, cổ vũ và đón nhận”.

Xã hội này chỉ dung nạp những kẻ có tiền, tiền là tất cả, đạo đức chẳng đáng đồng xu, tình người chỉ là thứ xa xỉ, Pari này nhận vào hàng ngũ của nó những kẻ chỉ biết đến tiền. “Nếu những nhà quý tộc cao ngạo trên thế giới từ chối một nhà triệu phú bỉ ổi vào hàng ngũ của họ, thì chính Pari sẽ chìa tay ra đón nhận, sẽ ăn tối và cụng ly để chúc mừng những chiến công mà hắn đã đạt được”.

Bài học của Vautrin khó nuốt thật. Sợ chàng sinh viên luật cân nhắc giữa thủ đoạn này với luật pháp đã học được. Vautrin dặn dò “hãy bỏ qua con người và hãy nhìn tấm lưới xem qua đó người ta có lọt ra khỏi Bộ luật được không. Bí mật của những tài sản lớn không có nguyên nhân rõ rệt chính là một tội ác đã được quên đi bởi lẽ nó không để lại dấu vết gì”.

Balzac không xa lạ với xã hội này, ông mượn lời của Vautrin để tố cáo nó, để mọi người thấy bản chất của giới tư sản, một xã hội chỉ biết đến hình thức bên ngoài chứ chẳng cần sự lương thiện bên trong. “Hầu như tất cả thanh niên đều bị khuất phục bởi một quy luật với vẻ bề ngoài khó hiểu. Giàu hay nghèo, họ không bao giờ đủ tiền để trang trải những nhu cầu cuộc sống, trong khi đó họ luôn luôn tìm thấy những điều cần thiết cho kiểu cách của họ. Cho đi tất cả những cái đạt được, họ keo kiệt với tất cả những cái họ cần phải có và hình như họ muốn rửa nhục những cái mà họ không có bằng cách tiêu xài lãng phí những cái họ có thể có. Như vậy để thấy rõ vấn đề một sinh viên chú trọng đến chiếc mũ của mình hơn là đến quần áo”

Ý đồ của Vautrin là đánh đổ những băn khoăn của Rastignac, thế nên y triết lý về đạo đức. “Tính vô tâm của những kẻ ích kỷ ở Pari là mỗi buổi tối họ đều cần đến những miếng mồi khác nhau để xâu xé mổ xẻ”. Sau đó y nêu lên những tội ác không được đưa ra ánh sáng để kết luận lương tâm chỉ có trong tưởng tượng. Muốn sống trong xã hội này thì hãy vứt bỏ lương tâm đi và tập giả dối. “Tình yêu ở Pari khác hẳn với những nơi khác, ở đây không một người đàn ông hay một người phụ nữ nào lại khờ khạo phô trương tình cảm của mình ở những nơi công cộng, nơi mà ai cũng tỏ ra tế nhị khi bộc lộ các gọi là tình cảm vô tư, trong sáng của minh, một người phụ nữ không được chỉ hài lòng với quan hệ tình cảm và ham muốn dục vong mà họ còn có rất nhiều nghĩa vụ phải thực hiện và hàng nghìn điều đáng tự hào mà cuộc sống tự tạo nên. Ở trong xã hội đó tình yêu chủ yếu giống  sự khoe khoang, bịp bợm thật phung phí, trơ trẽn và xa xỉ”.

Những câu nói phũ phàng về xã hội làm tê liệt Rastignac. Bài học của Vautrin thì đã kết thúc nhưng dư âm của nó thì vẫn ngân vang trong trí óc chàng trai trẻ. Balzac mượn lời Vautrin để nói về xã hội tư sản này và ông đã nói rất chính xác. Balzac, người thư kí của xã hội Pháp tuy đặc tả về những cái xấu, cái ác trong tác phẩm nhưng không vì thế mà ông mất niềm tin vào con người. Cái nhìn của ông về con người rất sâu sắc.

Dầu xã hội trong Lão Goriot dần hư hỏng nhưng không hẳn tắt ngấm ngọn lửa tình người. Balzac đã  khẳng định những phẩm chất cao đẹp của con người ở một giọng điệu khác, giọng điệu lãng mạn và phần sau ta sẽ  tìm hiểu. Ở giọng điệu lạnh lùng này, ta chỉ xem xét những câu văn mang tính ghi nhận, chép lại sự thật xã hội từ người thư kí Balzac.

3. Bà tử tước – người thầy thứ 2 của chàng sinh viên trẻ

Bài học ấy không được Rastignac chấp nhận. Chàng tìm con đường tiến thân khác, nhẹ nhàng và có phần danh giá hơn. Chàng tìm đến một bà giáo dạy phép thanh lịch, không ai xa lại đó là người bà con xa của chàng, bà tử tước Beauseant. Không phụ lòng dạy bảo của bà, chàng Rastignac, một con người vốn có tấm lòng trong sáng, lương thiện dần thay đổi. “Chàng đã nghiên cứu được bộ luật của riêng Pari mà không có một trường nào dạy cả. Nếu thuộc và ứng dụng nó tốt thì sẽ đạt được mọi điều mà mình mong muốn”.

Bà tử tước không hoạt động trong giới tư sản, bà là một phụ nữ quý phái, có giành được chút thiện cảm của Balzac. Về phương diện nào đó bà cũng là nạn nhân của thế giới độc ác này. Thế nhưng bà không giúp anh xa rời nó mà giúp anh thích nghi. “Hãy đối xử với cuộc đời này đúng  với bản chất của nó”

Người đàn bà từng yêu và đã bị tình yêu chân thật làm tổn thương ấy giờ hiểu ra lẽ đời và truyền lại kinh nghiệm ấy cho chàng trai trẻ. “Cậu càng tính toán lạnh lùng cậu càng đi đến đích trước. Đánh không thương tiếc, cậu sẽ được thiên hạ sợ. Chỉ chấp nhận những người đàn ông và những người đàn bà như những con ngựa đưa thư mà cậu sẽ để mặc cho nó mệt lử qua mỗi trạm nghỉ tiếp sức thôi, cậu sẽ đến được đỉnh cao của dục vọng. Hãy nhìn xem, cậu sẽ chẳng là gì ở đây nếu không có một người phụ nữ quan tâm đến cậu. Người phụ nữ mà cậu cần phải trẻ trung, giàu có và rộng lượng. Nhưng nếu cậu có tình cảm thực sự hãy giấu nó đi như một tài sản, đừng bao giờ để tài sản đó bị nghi ngờ, anh bạn sẽ mất tất cả đây. Cậu sẽ không còn là kẻ tàn nhẫn nữa nếu cậu trở thành nạn nhân! Nếu cậu chưa bao giờ yêu, hãy giữ lại thành bí mật của mình, đừng giao nó trước khi biết rõ về người mà cậu muốn mở trái tim mình. Để cố giữ tình yêu này trước khi nó không còn tồn tại nữa, cậu nhớ hãy học cách đề phòng cái thế giới này”.

Lời dạy của bà dẫu không trâng tráo như bài học của Vautrin nhưng cũng giúp tố cáo cái xã hội tư sản đểu giả. Con người muốn sống lương thiện cũng không được, phải sống nhỏ nhoi, sống tàn nhẫn. Bạn sẽ trở thành nạn nhân nếu bạn nghĩ đến người khác. Đó là lối sống duy nhất nếu muốn tồn tại ở thế giới này. Bài học cuộc đời đã có cách giải. Muốn vào đời phải nhuộm đen lương tâm đi, bán linh hồn đi đã. Và bà tử tước còn trao cho Rastignac chiếc chìa khóa vàng mở của vào xã hội thượng lưu, đó là nàng Delphin.

4. Chàng sinh viên dần sa ngã bởi những bài học  kinh khủng

             Những giáo huấn của Vautrin, của bà tử tước không ít thì nhiều dần ngấm vào trí óc chàng trai trẻ. Balzac khách quan miêu tả sự thay đổi ở con người ấy. “Trí tưởng tượng bay đến tận đỉnh cao xã hội Pari, đã nhồi vào tư tưởng chàng hàng nghìn tư tưởng xấu xa, mở rộng tầm nhìn và nhận thức cho chàng. Chàng sống trên đời như thể chàng là luật pháp và là luân lý nhưng không có hiệu lực của giới giàu có”.

Chàng đã ngẫm ra một chân lý “của cải là sức mạnh”. Và  Rastignac quyết định mở hai chiến hào song song “ở tình yêu và học vấn để tiến đến sự giàu sang, vừa là một tiến sĩ khoa học vừa là con người hợp thời, nhưng chàng vẫn còn quá ngây thơ! Hai con đường đó không bao giờ đồng hướng mà nhất lại là ở con người của Eugéne”. Nhận định này của Balzac thật chính xác, làm sao đạt được cả hai điều ấy. Tình yêu và danh vọng chỉ đi chung trên con đường được trải bằng những đồng tiền vàng, chàng chưa nhuộm đen lương tâm mà đã muốn có những thứ được đặt ở đỉnh cao trong xã hội. Con đường làm giàu của chàng sẽ rất khó khăn bởi chàng mới hiểu về xã hội qua lý thuyết, khi nào chứng kiến tận mắt, khi nào là nạn nhân của nó chàng mới thành công được.

“Cuộc sống ở đất thị thành Pari là những trận chiến liên miên không dứt”. Biết là vậy nhưng mơ ước bước vào thế giới thượng lưu vẫn rực cháy trong tim chàng sinh viên nghèo. Balzac tỉ mỉ miêu tả chàng trong niềm vui nhận được tiền trợ cấp của gia đình. “Khi nghe thấy những tiếng sột soạt của tiền trong túi thì chàng sinh viên nghèo như thấy mình đang được dựa vào một cái cột thần kỳ. Chàng bước đi kiêu hãnh và vững vàng hơn trước, chàng đã có một điểm tựa cho chiếc đòn bẩy của cuộc đời mình. Chàng nhìn vào điểm tựa đó, chàng cảm thấy mọi hoạt động của mình trở nên linh hoạt hơn”.“Chàng như con chim tìm lại được đôi cánh đã mất của nó”. Chỉ với từng ấy tiền cũng đủ cho chàng bay bổng trong giấc mơ, “Pari đã hoàn toàn thuộc về chàng”.

Muốn làm người lương thiện trong một xã hội thối nát không phải là dễ. Từ một người có tình cảm chàng dần thay đổi. “Chàng nhìn thế giới như một đại dương đầy bùn, trong đại dương ấy người đàn ông sẽ bị ngập sâu đến cổ, nếu nhúng chân vào đó, ở đó toàn là những tội ác ti tiện”. Và chàng nhận thấy “Ba biểu hiện lớn của xã hội: sự phục tùng, sự vật lộn và sự nổi loạn, tức là gia đình, xã hội thượng lưu và Vautrin”.

*******

Trong tiểu thuyết Lão Goriot, Balzac đóng vai trò của một nhà khoa học chuyên nghiên cứu về con người tư sản, có khi nhà văn trực tiếp lên tiếng, khi lại nhờ nhân vật trong tác phẩm nói hộ mình những nhận định hết sức sắc sảo về những con người tư sản ấy. Bằng giọng lạnh lùng Balzac chỉ rõ bản chất của xã hội thượng lưu. Nơi ấy tiếp nhận mọi con người bẩn thỉu, mọi loại người xấu xa. Đạo đức, lương tâm, nhân cách chẳng đáng một xu. Hãy học những giáo lý từ Vautrin, bà Beauseant, bạn sẽ nhanh chóng bước vào xã hội của những con người quý tộc, ngồi trên những cỗ xe lộng lẫy, với những phu nhân xinh đẹp. Balzac biết về con người tư sản một cách cặn kẽ. Hiểu chúng, miêu tả chúng, lột bộ mặt giả dối của chúng để chúng ta nhận dạng, để chúng ta sợ hãi mà tránh xa.

III. TIỂU THUYẾT VỠ MỘNG

1.  Xã hội Pari- nơi chỉ chiếu cố đến kẻ giàu có

 

“Vỡ mộng”- một trong những tác phẩm tiêu biểu của “Tấn trò đời”, được viết từ 1837- đến 1843, gồm 3 quyển. Hiện thực được phản ánh trong cuốn tiểu thuyết rất phong phú. Tiểu thuyết “Eugenie Grandet” chỉ thể hiện những biến cố trong một gia đình tư sản ở tỉnh lẻ. Sự việc trong tiểu thuyết “Lão Goriot” có phức tạp hơn, diễn ra trong khung cảnh rộng hơn, ngoài quán trọ Vauquer còn có các phòng khách của giới thượng lưu Pari. Còn “Vỡ mộng” thì bao gồm cả cuộc sống tỉnh lẻ và cả ở Pari, phản ánh nhiều mối quan hệ nhiều loại người khác nhau như: quý tộc, tư sản, nhà văn, nhà báo, nhà xuất bản, nhà khoa học, diễn viên, nhà cách mạng dân chủ….Vậy nên, “Vỡ mộng” là bức tranh đầy đủ nhất, duy nhất trong đó tác giả bao quát được xã hội ở thời đại mình.

Chủ đề tác phẩm cũng mang tính khái quát lớn. Tác phẩm  nêu lên sự tan vỡ của các lý tưởng trước thực tế tư sản tàn nhẫn. Trong tiểu thuyết, Balzac đã thâu tóm được tâm trạng con người ở thế kỉ XIX và nội dung cơ bản của hầu hết tác phẩm văn học thế kỉ này. Tài năng và cảm hứng của nghệ sĩ, trí tuệ và nghị lực của nhà nghiên cứu, nhiệt tình của tuổi trẻ, những ước mơ về vinh quang, hạnh phúc, phát minh, sáng tạo….đều biến thành con số không. Những năng lực, những tham vọng được thức tỉnh sau cách mạng tư sản, những sản phẩm cao nhất của bước phát triển tư sản bị chính nền tảng xã hội tư sản hủy diệt.

Balzac viết tiểu  thuyết này khi ông bước vào giai đoạn sáng tác già dặn nhất. Thế nên khi so với “Miếng da lừa” hay “Eugenie Grandet” thì rõ ràng chủ nghĩa hiện thực ở Balzac trong “Vỡ mộng” đã cao hơn, sâu sắc hơn, nhạy bén hơn. Một mặt nó đã thoát khỏi về căn bản ảnh hưởng ban đầu của chủ nghĩa lãng mạn với những yếu tố hư ảo, quái đãn, có khá nhiều trong “Miếng da lừa”. Mặt khác mức độ điển hình hóa, khái quát hóa xã hội của nó đã vượt hẳn “Eugenie Grandet”.

Bằng giọng lạnh lùng, người thư kí của thời đại viết lại cho người đọc trang sử xã hội mình đang sống. Trước hết về chính trị “thời đó đầu óc đảng phái gây nên những mối căm thù nghiêm trọng hơn nhiều so với ngày nay. Ngày nay lâu dần cái gì cũng nhụt đi vì tình thế căng thẳng quá. Ngày nay sau khi vùi dập quyển sách của một người, giới phê bình lại bắt tay với hắn. Kẻ nạn nhân phải hôn người đã hi sinh hắn, nếu không sẽ phải ăn đòn của sự giễu cợt. Nếu từ chối nhà văn sẽ mang tiếng là khó chơi, khó tính, đầy tự ái, khó gần hay mang oán, mang thù. Ngày nay, khi một tác giả bị kẻ phản bội đâm vào lưng, khi anh ta tránh thoát cạm bẩy của sự giả dối đê hèn, chịu đựng những đối xử tàn tệ nhất, thì anh ta liền được nghe bọn sát nhân chúc tụng anh, bày tỏ ý muốn được anh quý mến, thậm chí được kết thân với anh. Cái gì cũng miễn thứ được, biện bạch được ở thời đại mà người ta đã biến đức hạnh thành thói xấu, cũng như người ta đã đề cao một số thói hư thành nết tốt.

Ở thời đó, nếu người ta nhớ lại đối với một số nhà văn bảo hoàng và một số nhà văn tự do, thì “phải có cam đảm mới dám gặp nhau trong cùng một rạp hát. Người ta thường nghe thấy những lời lẽ khiêu khích đầy căm hờn. Những con mắt nhìn nhau ghê gớm như những súng lục đã lắp đạn, chỉ một tia lửa nhỏ đủ làm nổ phát súng khai chiến. Ai mà chẳng bất chợt nghe kẻ bên cạnh lên tiếng chửi rủa khi họ thấy bước vào một số người đặc biệt làm mồi cho sự đả kích của đảng nọ, đảng kia. Bấy giờ chỉ có hai đảng, bọn bảo hoàng và bọn tự do, bọn lãng mạn và bọn cổ điển”.

 

Pari kì bí lắm! Đến Pari là một chuyện, sống được trong xã hội ấy lại là chuyện khác. Điểm nổi bật, thu hút con người khi mới đặt chân đến Pari là vẻ hào nhoáng, tráng lệ của nó. Sự lộng lẫy đến choáng ngợp. “Ở Pari, những khối lượng chiếm đoạt sự chú ý của người ta trước hết: vẻ tráng lệ của những cửa hiệu, bề cao của các tòa nhà, sự nhộn nhịp của ngựa xe những trái ngược đầy rẫy giữa sự xa hoa cùng cực và sự nghèo khổ cùng cực làm người ta sửng sốt hơn hết”.

Ở nơi phồn hoa ấy, con người trở nên nhỏ bé, chẳng còn chút ảnh hưởng. Thế giới xung quanh thay đổi hoàn toàn vị trí của họ. “Những người được trọng vọng ở tỉnh nhỏ, và ở đó cứ một bước chân đi lại gặp một bằng chứng về tầm quan trọng của mình, họ chẳng chịu được cảnh thấy mình đột nhiên và hoàn toàn bị tiêu ma giá trị. Là một nhân vật tai mắt ở địa phương mình và chẳng là cái gì ở Pari, đó là hai trạng thái cần có bước quá độ, và những ai bước đột ngột quá từ trạng thái nọ sang trạng thái kia thường sa vào tình thế chưng hửng”.

Balzac lạnh lùng chỉ ra quy tắc sống còn trong xã hội thượng lưu. “Trong cái xã hội này, những điều nhỏ nhặt trở thành to lớn, một lời nói, một cử động đủ làm cho kẻ mới xuất đầu lộ diện tiêu ma. Giá trị chủ yếu của những phong cách thanh lịch và cái tư thái của xã hội thượng lưu là tạo nên một toàn bộ nhịp nhàng trong đó mọi cái đều hài hòa với nhau đến mức chẳng có cái gì là chướng cả”.

Theo Balzac “xã hội ngày này mời tất cả con em của nó dự chung một buổi tiệc, đã thức tỉnh tham vọng trong họ ngay khi họ mới bước vào đời. Xã hội làm cho tuổi trẻ mất tính chất đáng yêu và làm hư hỏng hết tình cảm rộng rãi để xen vào đó mọi tính toán”.

Người thư kí của thời đại không chỉ khách quan ghi lại lịch sử, chính trị mà còn ghi nhận những cái gọi là trào lưu đang thịnh hành trong xã hội thời ấy. “Thời bấy giờ thịnh hành một hội của đám thanh niên cả giàu lẫn nghèo gọi là bọn ăn chơi, hết thẩy đều vô công rồi nghề, họ thật sự sống một cách vô lo đến lạ lùng. Ăn dữ, uống lại còn dữ hơn. Hết thảy đều sài phí tiền bạc và tìm kiếm những trò đù hết sức cợt nhã cho cuộc sống, chẳng phải điên mà là rồ dại, chúng không lùi bước trước một việc nào gọi là không là nổi, chúng lấy làm hãnh diện về những việc làm càn rỡ của chúng, những việc đó tuy nhiên cũng chỉ đóng khung trong những giới hạn nào đó làm với một tinh thần hết sức độc đáo đến không thể không tha thứ cho chúng được. Bọn trẻ không biết sử dụng sức lực của mình vào việc gì, không phải chỉ vun sức vào hoạt động báo chí vào những âm mưu chống đối, vào văn học và nghệ thuật, mà còn phí phạm vào những chuyện phóng đãng kỳ khôi nhất”.

Vốn chuyên cần, đám thanh niên xinh tươi đó khát khao quyền lực và vui thứ, vốn tính nghệ sĩ, họ đòi hỏi tiền bạc, vốn nhàn rỗi, họ ưa kích động những dục vọng của họ, bất kể thế nào, họ muốn một chỗ đứng, thế mà chính trị chẳng để cho họ một chỗ nào. “Bọn ăn chơi hầu hết là những kẻ có năng lực xuất chúng, một số đã để mất mát trong cuộc sống bực dọc này, một số khác chống chọi lại cuộc sống đó”

Đám thanh niên ấy ngày càng chìm trong sa đọa để tự mang cho mình một món nợ ăn chơi. Nhưng họ chẳng bận tâm vì việc nợ nần ấy. Balzac giải thích dùm họ. “Nợ nần! Có con người hùng nào mà không mắc nợ! Nợ nần biểu thị những nhu cầu được thỏa mãn, những thói hư riết róng. Một con người chỉ đạt khi nào bị bàn tay sắt của túng thiếu thúc bách”. Câu nói này Balzac còn nói về chính mình, về nỗi đau trong những năm tháng kinh doanh. Rời thương trường ông phải gánh một số nợ khá lớn và quãng đời còn lại ông viết để trả nợ thương mại ấy, viết trong sự thúc bách của túng thiếu.

Với vẻ xa hoa lộng lẫy bề ngoài, Pari khéo che đậy những ung nhọt và tội ác bên trong nó. “Ở Pari có không ít những tài sản khả nghi, chiếm được bằng ít nhiều thủ đoạn hợp pháp, thường là bằng những âm mưu tội lỗi, được kể thành những câu chuyện thú vị”

Balzac chỉ ra một trong những thủ đoạn kiếm tiền bẩn thỉu thời ấy: nạn tống tiền. Phi vụ được tiến hành như sau: “gã tống tiền đi kiếm một tài tiệu quan trọng nào đó rồi hẹn gặp tay mới mất. Nếu tên gian này không cho gã kia một món tiền thì gã tống tiền cho biết báo chí sẵn sằng bới long tìm vết làm hại hắn. Tên có tiền hoảng và phải xùy tiền ra. Thế là xong việc. Anh đang tiến hành một hoạt động nguy hiểm nào đó, nếu báo chí vạch ra thì tong”. Gã tống tiền thật xấu xa, thế nhưng kẻ bị tống tiền còn xấu xa gấp bội. Bởi nếu hắn không làm những chuyện bất hợp pháp, nếu hắn không có những hoạt động nguy hiểm thì sợ gì bị phanh phui, và như thế thì gã nào tống tiền được hắn.

Pari có những quy tắc riêng của nó, muốn tồn tại thì phải biết những quy tắc ấy và hãy khéo léo phục tùng. Balzac chỉ ra những quy tắc nghiệt ngã của xã hội thượng lưu- những quy tắc không trường lớp hay sách vở này chỉ dạy. Ta chỉ tìm nó trong văn Balzac, nghe được nó bằng chính giọng của Balzac “Ở đây người ta chỉ chiếu cố đến kẻ giàu có”, hay “ở Pari sự nghiệp có hai loại: sự nghiệp vật chất tức là tiền bạc và mọi người đều tìm kiếm được cả, và sự nghiệp tinh thần, tức là những quan hệ, địa vị, việc đặt chân vào một xã hội nào đó, không phải ai cũng lọt vào được, mặc dầu có tiền của”.

2. Nghề văn- cần cù lao động chẳng phải là bí quyết làm nên sự nghiệp văn chương

 

“Vỡ mộng” là tiếng cười bi đát về quá trình tư bản hóa tinh thần, quá trình văn học nghệ thuật trở thành hàng hóa. Từ những cảm xúc trữ tình bay bổng của Lucien đến cơ sở vật chất của nó là việc sản xuất  giấy in của David, tất cả đều không ngoại lệ. Biết thế Balzac sớm cảnh báo. “Việc xây dựng những lâu đài sự nghiệp thiên tài đòi hỏi hoặc phải có sẵn nhiều tiền bạc hoặc phải chịu đựng một cách cao thượng cuộc sống cực khổ, ê chề”

Balzac có những nhận định rất chân xác về nghề văn. “Thiên tài tưới sự nghiệp của mình bằng nước mắt. Tài năng là một nhân vật tinh thần, nó cũng như mọi sinh mệnh có một thời ì ấu trĩ dễ mang tật bệnh. Xã hội cự tuyệt những tài năng bất túc, cũng như tự nhiên gạt bỏ những nhân vật yếu đuối hay tàn phế. Kẻ nào muốn vươn lên trên mọi người phải tự chuẩn bị cho một cuộc đất tranh, không lùi bước trước một khó khăn nào. Một nhà văn lớn là một kẻ chịu khổ nhục mà không chết, có thế thôi”.

Qua đó Balzac nhắn nhủ “nếu anh không mang ý chí của nó trong lòng, nếu anh không có đức kiên trì thần thánh của nó, mặc dù số phận éo le đưa anh đi xa mục đích tới đâu, anh không quay trở về con đường lí tưởng vô tận của anh, như loài rùa dù ở xứ sở nào cũng hướng tới đại dương thân thiết của chúng, thì anh hãy rút lui từ ngay bây giờ”.

Nghề văn thật lắm thăng trầm. Trong khi người sáng tác lao tâm khổ trí lo lắng cho đứa con tinh thần của mình thì bọn xuất bản cò kè, toan tính làm thế nào để bóc lột nhà văn triệt để nhất và làm lợi cho chúng nhanh chóng nhất. Balzac cho thấy tòa soạn, nhà xuất bản, hiệu sách, rạp hát… đều là công cụ kiếm lời. Hiệu sách là “một vũng lầy”. Chủ hiệu là những tên “buôn bán đồ sắt vụn văn chương”. Tòa báo là “một cửa hàng bán những lời lẽ màu mè tùy theo sở thích của công chúng”. Vinh quang là gì? Tên chủ xuất bản giải thích: “đối với nhà xuất bản, đó là sự lựa chọn một trong hai điều hoặc lỗ, hoặc lãi mười vạn quan” và nên lên nguyên tắc của y “ tôi không bỏ ra hai trăm quan cho một quyển sách để cũng thu được chừng ấy, tôi kiếm lời trong văn chương”.

Nhà báo và nhà văn là những người bị bóc lột, tài năng của họ trở thành hàng hóa, thành vật sinh lợi nhuận cho chủ nghĩa tư bản văn chương. Những chủ nghĩa tư bản này làm họ sa đọa, bản thân họ cũng muốn thành kẻ bóc lột hay ít nhất thành trung tâm môi giới bóc lột. Chẳng hạn như trước khi Lucien vào làng báo, Lousteau bày cho y bóc lột lao động người khác và hắn không quên lấy của Lucien năm trăm quan tiền mặt coi như hoa hồng vì đã giới thiệu Lucien với hai nhà xuất bản. Lousteau cũng chỉ rõ phải viết theo ý các ông chủ.

Văn chương không hơn gì một chiến trường bởi nó được “chia làm nhiều khu vực, nhưng các tay cự phách của chúng ta lại chia làm hai phe. Phe bảo hoàng thì lãng mạn, phe tự do thì cổ điển. Sự khác nhau về tư tưởng văn học gắn với sự khác nhau về tư tưởng chính trị. Do đó mà cuộc giao tranh diễn ra bằng đủ mọi thứ vũ khí, mực chảy như thác, lời hóm hỉnh sắc như dao, do không mũi nhọn hoặc, tên chế nhạo  đặt quá quắt, giữa những tài danh chớm nở và những tài danh về chiều”. Một điều kì quặc đặc biệt là “phe bảo hoàng lãng mạn yêu cầu tự do văn học và yêu cầu hủy bỏ mọi luật lệ quy định những hình thức ước lệ trong nền văn học của chúng ta”. Trái lại phe tự do lại muốn “duy trì quy tắc tam duy nhất, thể thơ mười hai âm tiết và chủ đề cổ điển. Như vậy là ở mỗi phe, tư tưởng văn học bất đồng với tư tưởng chính trị. Nếu anh có thái độ chiết trung thì chẳng ai đi với anh đâu”.

Balzac nhận thức được sự khác nhau về tư tưởng văn học gắn với tư tưởng chính trị, cho nên tinh vi hơn, sâu sắc hơn hết, ông phơi được ra ngòai ánh sáng cái hậu trường đen tối, phức tạp của mọi hoạt động văn học và nghệ thuật như xuất bản, sân khấu, và cả báo chí. “Đời sống văn chương có hậu trường của nó. Những thành công bất ngờ hay xứng đáng, thì cũng đều được công chúng hoan hô; những thủ đoạn bao giờ cũng bỉ ổi, những gã chạy hiệu được tô son, bọn vỗ tay thuê và nhân viên phục dịch, đó là những cái nấp sau hậu trường”

Ông ví chính trị như một bộ tuồng bất tuyệt và giới chính trị cũng đồi bại như giới văn học, mỗi con người  của nó xấu xa không thể tưởng được. Balzac khuyên nhủ “anh đừng tưởng giới chính trị cao quý hơn giới văn chương lắm đâu, trong cả hai giới đó hết thảy đều là đồi bại. Mỗi con người của chúng hoặc là kẻ gây trụy lạc, hoặc là kẻ bị trụy lạc”

Ông mệnh danh những tên xuất bản “kẻ lái giấy”. Đối với chúng thì “sách cũng như mũ đối với người hàng mũ, là một món hàng mua rẻ bán đắt”. Ông gọi làng văn “buôn văn bán chữ”, giới phê bình là kẻ làm “nghề hành thích tư tưởng và tiếng tăm”. Đến báo chí thì cực kì kinh khủng. Balzac kết án đanh thép đến không bào chữa được “ báo chí là kho chứa nọc độc”, “ tờ báo chẳng thà nhè bố đẻ ra để khôi hài cho thêm đậm chứ chẳng chịu bó tay không mua vui và lôi kéo công chúng”, “bọn chủ báo là thầu khoán”. Nhà báo là những tay thợ nề mà lương tâm chỉ là “chiếc gậy để nện anh hàng xóm”, và họ phải “sẵn sàng nuốt thuốc đắng, nhịn nhục hết thảy, mơn trớn những dục vọng của bọn trùm văn chương”. Kết lại “anh bạn ạ, bút chiến là bậc thang lên của những kẻ danh tiếng”. Khẳng định  “hiếm những tình nhân chân thật trong giới yêu đương, hiếm những tài sản lương thiện trong giới tài chính, hiếm những người trong sách trong giới báo chí”. Bởi “một quyển sách dù là kiệt tác đi chăng nữa, thì dưới ngòi bút phê bình phải trở thành một cái gì lố bịch, một tác phẩm nguy hại”. Thế nên “mọi người chỉ là phương tiện trong tay những kẻ mạnh”.

Balzac nhận định sắc sảo “Thiên tài là một ác bệnh, mỗi nhà văn mang trong lòng một quái vật nó như con sán trong ruột, ngốn nuốt hết mọi tình cảm nẩy nở ra. Kẻ nào sẽ thắng? Bệnh thắng người hay người thắng bệnh? Quả thật phải là một vĩ nhân để giữ được sự cân đối giữa thiên tài và tính cách của mình. Tài năng phát triển lên thì trái tim khô cằn đi. Trừ phi là một tay khổng lồ, trừ phi có tầm vóc của Hecquyn, người ta hoặc không có trái tim hoặc bất tài”. Thế thì “cần cù lao động chẳng phải là bí quyết để làm nên trong sự nghiệp văn chương, vấn đề là bóc lột lao động của kẻ khác”.

*******

Nếu cả thiên “Tấn trò đời” đều có mùi tanh của đồng tiền thì ở “Vỡ mộng” mùi tanh đó nồng nặc đến kinh người. Là vì ở đây, đồng tiền như một thứ siêu vi trùng, đã xâm nhập vào tận những cơ cấu xung yếu nhất, những điểm huyệt nhạy cảm nhất của trật tự quý tộc và tư sản, làm cả xã hội như nhiễm độc, tỏa ra mùi “xác chết” như Balzac nhận định. Kinh tế, chính trị, văn hóa, chẳng có gì chẳng gì thoát khỏi con mắt có tầm phóng đại của nhà văn, bác học kiêm sử gia Balzac. Ông nhìn thấu tận cơ cấu kinh tế của thời đại mà điểm nổi bật là cạnh tranh tư bản chủ nghĩa. Ông vạch mặt các đảng phái chính trị, chúng kèn cựa lẫn nhau vì tiền tài và địa vị. Bộ máy nhà nước và tòa án đương thời chỉ biết phục vụ cho bọn tư sản.

3. Chủ nhà băng- người nắm trong tay đồng tiền,“vương quyền” thực sự của xã hội Pháp

Điều tuyệt diệu ở Balzac là ông có thật phong phú những chi tiết, ngôn ngữ và hình ảnh ý vị và chính xác, độc đáo đến bất ngờ, sắc sảo đến chết người để chỉ đích danh, để đánh đúng nọc và làm hiện nguyên hình bộ mặt quỷ quái của mọi cơ cấu, thể chế của xã hội thối nát đương thời. Ông gọi đích danh bọn chủ nhà băng “lũ lang sói”, “bọn săn mồi”. Chúng nắm trong tay “thứ vương quyền”, “thống trị cả ngai vàng lẫn nhân dân”, chúng làm cho đồng tiền cũng phải vãi mồ hôi.

Balzac kể rằng “ở đây nói dài mấy cũng không đủ. Trong số một trăm bạn đọc thì chín mươi người sẽ bị thu hút vì những chi tiết sau đây như một chuyện gì mới lạ hấp dẫn. Và như thế càng chứng minh được sự đúng đắn của định lí này: Chẳng có cái gì ít được biết hơn là cái người ta đều phải biết, đó là : Pháp luật”.

Quả thật, đối với đại đa số người Pháp mô tả khéo sự vận dụng của những cơ cấu của ngân hàng sẽ hấp dẫn họ như một chương kể chuyện du lịch ở nước ngoài. Bởi việc giải thích sẽ chứng minh cho bạn thấy bao nhiêu sự tàn ác được che đậy dưới danh từ ghê gớm: Pháp chế!

Balzac đưa ra hẳn một bản Kết toán tổng hoàn.

“KẾT TOÁN TỔNG HOÀN VÀ KINH PHÍ

- Chính khoản                                   1000.00

- Chứng thư                                       1235

- Hoa hồng nửa phần trăm             500

- Hoa hồng trọng mãi một phần

tư trăm                                               250

- Tem phiếu quy hoàn của

chúng tôi và chứng từ hiện diện 135

- Lãi và cước phí                               300

 

                                                1.02420

- Chuyển cỗ một và một phần

tư trăm của số 1.024,20                   1325

                                                1.03745”

Tiếp đến ông phân tích tỉ mỉ để người đọc thấy cái tài của giới ngân hàng. “Các bạn hãy xét kĩ những phương thức hoàn toàn hợp pháp mà người ta dùng, để trong vòng mười phút, về mặt Ngân hàng là cho một số vốn một nghìn quan sinh lời hai mươi tám quan”.

Khoản thứ nhất của Kết toán tống hoàn là khoản duy nhất không chối cãi được. Rồi đến khoản thứ hai gồm có phần của sở thuế và của thừa phát lại. Số sáu quan mà Công khố thu để đăng kí nỗi phiền muộn của con nợ và cung cấp giấy tín chỉ sẽ còn duy trì lâu dài hà lạm! “Bạn biết rằng khỏan đó làm lãi cho chủ băng một quan rưỡi”. Thêm vào “Món hoa hồng nửa phần trăm, ở khoản thứ ba, được đặt ra với cái cớ tinh vi là việc không được thanh toán nợ, thì về ngân hàng tương đương với việc chết kháu một thương phiếu”. Ai đã đem phiếu đi để chiết khấu đều biết rằng ngoài cái số sáu phần trăm phải mất theo luật định, kẻ chiết khấu còn lấy thêm, dưới danh nghĩa khiêm tốn là hoa hồng, bao nhiêu phần trăm coi như tiền lãi mà cái tài làm sinh lời vốn của hắn đem lại cho hắn, ngoài lãi xuất hợp pháp. Hắn càng kiếm ra tiền bao nhiêu thì càng đòi bạn bấy nhiêu. Vì vậy “nên biết chiết khấu ở nhà những thằng ngốc, đỡ tốn hơn….Nhưng về ngân hàng, có ai là ngốc không?”

Thời đó pháp luật buộc chủ nhà băng phải đưa một viên trọng mãi chứng thực lãi suất hối đoái. Ở những thị trường tồi đến nỗi chẳng có một sở hối đoái thì viên trọng mãi được thay thế bằng hai thương nhân. Cái hoa hồng gọi là trọng mãi ấn định là một phần tư trăm số tiền ghi trong phiếu cự tuyệt. Theo lệ thì coi hoa hồng đó là tính cho những thương nhân hay viên trọng mãi “nhưng người chủ băng vẫn ung dung bỏ nó vào quỹ mình. Do đó có khoản ba của bảng kết toán tuyệt diệu đó”.

Khoản thứ tư nói về giá của mảnh giấy chứng chỉ dùng để thảo bản Kết toán tổng hoàn và giá tem của cái mà người ta gọi một cách khéo léo là phiếu quy hoàn, “tức là tấm phiếu mới mà chủ băng lập để bắt bạn đồng nghiệp trả lại tiền”. Rồi thì khoản thứ năm gồm “giá cước phí lãi hợp pháp của số tiền trong suốt thời gian nó có thể vắng mặt trong quỹ nhà băng”.

Cuối cùng đến kinh phí chuyển chỗ, nó chính là đối tượng của ngân hàng tức “là tiền phí tổn phải trả để được trả tiền chuyển từ nơi này sang nơi khác”

Bây giờ bạn hãy xét chi li bản kết toán. Bản kết toán kỳ quái đó thật sự chỉ đáng là một nghìn quan tiền nợ, với mười ba quan tiền chứng thư không trả nợ và một số lãi nửa phần trăm vì chậm một tháng, cả thảy khoảng một nghìn mười tám quan. Nếu một nhà băng lớn ngày nào trung bình cũng lập một Kết toán tổng hoàn của một chứng khoán một nghìn quan thì họ ngày nào cũng được lãi hai mươi tám quan. Thật đúng “nhờ ơn trời và nhờ hiến chương của ngân hàng, thứ vương quyền mà người Do Thái phái minh vào thế kỉ thứ 12, và ngày nay nó thống trị cả các ngai vàng lẫn nhân dân. Nói một cách khác, một nghìn quan làm lợi cho ngân hàng đó hai mươi tám quan một ngày hay một vạn hai trăm hai mươi quan một năm”. Hãy nhân ba số kết toán tổng hoàn trung bình, bạn sẽ thấy những tư bản hư cấu ấy mang lại một số lợi tức là ba vạn quan. Vì vậy chẳng có gì được nâng niu, vun trồng hơn là Kết toán tổng hoàn.

Như vậy “Kết toán tổng hoàn” là một chuyện đầy những hư cấu ghê gớm mà khách nợ khi suy nghĩ về trang sách hữu ích này, từ nay cảm thấy mối kinh hãi bổ ích.

   4. Lucien- con người vỡ mộng

 Nhà phát minh chân chính, cao thượng như Davd phải nhận một một kết thúc bi đát. Thế một con người có tài văn thơ, đầy tham vọng như Lucien thì tương lai có sáng sủa hơn chăng? Tính cách của Lucien- hình ảnh của Balzac một phần- đã được nhà văn phân tích tỉ mỉ và vạch rõ sự hình thành cũng như sự phát triển do những ảnh hưởng khá phức tạp của gia đình và xã hội. Ngọn bút hiện thực của Balzac ở đây trở nên tinh vi, sắc bén vô cùng. Nhà văn đã cắm sâu nhân vật của mình vào những quan hệ xã hội phong phú, đa dạng, do đó nó vừa nói lên tác động của hoàn cảnh đối với tính cách của nhân vật, đồng thời vẽ ra một bức tranh xã hội rộng lớn và hết sức sinh động. Balzac cho ta theo dõi từng bước sự phát triển tính cách của nhân vật.

Anh học trò nghèo được gia đình nuông chiều, có tham vọng  và cũng có lý tưởng đẹp đẽ qua bao va chạm với cuộc đời hắn tiếp thu được nhiều bài học xử thế. Đây là một trong những hình ảnh của bước tiến triển đầu tiên của Lucien. “Qua hai tiếng đồng hồ, Lucien nghe thấy rằng hết thảy mọi viêc đều giải quyết bằng đồng tiền. Ở rạp hát cũng như ở hiệu sách, ở hiệu sách cũng như ở tòa báo, chẳng có vấn đề nghệ thuật là vinh quang. Khối óc và trái tim của hắn bị cái qủa lắc lớn của đồng tiền nện nhịp liên hồi”.

Là một thanh niên của thế kỉ XIX, Lucien theo đuổi người đàn bà quý tộc Bargeton. Y khao khát tình yêu và cả vinh quang. “Hai điều khao khát rất tự nhiên ở các chàng trai vừa thỏa mãn trái tim vừa phải khắc phục cảnh nghèo hèn”. Với Blazac điều đó  rất tự nhiên chẳng những vì Lucien thực chất là một kẻ vị kỉ, mà còn vì sự quy định của thời đại, của điều kiện xã hội. Và cũng như các chàng trẻ tuổi nhiều tham vọng, ban đầu ở Lucien “những khuynh hướng tham vọng đó còn được kiềm chế vì những ảo tưởng đẹp đẽ của tuổi thanh niên, vì nhiệt tình hướng về những biện pháp cao thượng”. Nhưng khi “ai nấy xung quanh hắn tiếp tục nâng cao chiếc bệ tưởng tượng lên cho hắn ngồi. Những mối tham vọng của hắn được hết thảy mọi người nuôi dưỡng, từ bạn hắn cho đến những địch thủ điên cuồng của hắn, hắn đi vào một thế giới đầy ảo tưởng”. Trí tưởng tượng của tuổi trẻ phụ hoạ với những lời và những ý nghĩ đó một cách tự nhiên, tất thảy đều sốt xắn phục vụ một chàng thanh niên đẹp trai và tương lai đầy hứa hẹn, cho nên “chí ít cũng phải một bài học cay đắng và giá lạnh mới đánh tan được những ảo tường kia”.

Chàng vĩ nhân tỉnh nhỏ lên Pari, mang theo cả một hoài bảo lớn lao được người tình cao quý hứa hẹn nâng đỡ đủ điều. Nhưng nghiệt ngã thay, bài học đầu tiên mà Pari trao tặng cho chàng thật tàn nhẫn làm sao, đau đớn làm sao! Xã hội quý tộc Pari quyền thế, hống hách, cùng bọn công tử ăn chơi ngông cuồng, cười vào tận mũi chàng nhà quê ấy, cả người yêu hắn cũng ruồng rẫy hắn. Điều đó khiến chàng thi sĩ háo danh và tham vọng ấy bắt đầu mở mắt và tỉnh mộng.

Cái cơ cấu xã hội đó được vận dụng bằng chiếc lò xo duy nhất và căn bản, đó là đồng tiền. Ngay từ buổi đầu lên Pari, sau bước ruổi đầu tiên, Lucien nhận ngay ra điều bí mật đó và “Vỡ mộng” để phải kêu lên “trời ơi! Phải có tiền bằng bất cứ cách nào!- Lucien tự nhủ- đồng tiền là thứ quyền lực duy nhất bắt cái xã hội này phải quỳ gối”. Hắn quyết tâm “tôi sẽ thắng, tôi sẽ qua đại lộ này bằng xe bốn bánh có quân hầu!”

Càng đi sâu vào xã hội hắn nhận thấy rằng tài năng cũng chẳng là gì nếu không có đồng tiền làm “điểm tựa”. Tất cả tấn bi kịch của chàng thi sĩ có tài văn thơ, cũng như số phận của nhà phát minh là ở chỗ đó! Nhưng David thì giữ được tấm lòng trong sạch và cao thượng, rút vào cuộc sống an phận. Còn Lucien lắm tham vọng, không đủ nghị lực để kìm giữ mình thì như quả lắc nhảy từ vị trí này sang vị trí khác, báo này sang báo khác, đảng này sang đảng khác, tùy theo tiếng gọi của tiền tài và danh vọng. Người như thế tương lai xán lạn chăng?

Trong bức thư gửi cho chị, hắn tự an ủi mình. “Nếu hiện tại lạnh lẽo, trần trụi, hèn kém thì tương lai sẽ giàu có và huy hoàng. Phần nhiều những bậc vĩ nhân thường trải qua những thăng trầm, chúng giày vò em mà chẳng làm quỵ được em”. Hắn còn kiêu ngạo cho rằng “Mọi ưu phiền và sự khốn khổ chỉ có thể đánh vào những tài năng vô danh; nhưng khi họ đã nỗi danh thì các nhà văn trở nên giàu có, cho nên em sẽ giàu có”. Suy nghĩ “những vĩ nhân của thời đại cần phải sống cách biệt. Họ chẳng phải là những chim rừng đó sao? Họ ca hát, họ tô điểm cho thiên nhiên và chẳng một ai nên nhìn thấy họ”.

Thế nên hắn tự hào gắn bó với Pari, không thể rời bỏ nơi lí tưởng như vậy. “Đây là xứ sở cuả các nhà văn, nhà tư tưởng, nhà thơ. Chỉ ở nơi đây danh vọng mới được vun xới và em biết được những hoa quả tốt tươi mà nó đang được nảy nở. Chỉ ở đây các nhà văn mới kiếm được trong các viện bảo tàng và nơi sưu tập những tác phẩm của thiên tài của quá khứ, chúng nung nấu và kích thích trí tưởng tượng. Chỉ ở nơi đây mới có những thư viện đồ sộ, luôn luôn mở cửa để cung cấp cho trí tuệ những điều cần biết và một món ăn. Sau hết, ở Pari trong không khí và trong bất cứ chi tiết nhỏ nào cũng ẩn một tinh thần linh hoạt đượm nhuần trong các sáng tạo văn học. Người ta học đuợc trong chuyện trò ở quán cafe, ở nhà hát, chỉ nửa tiếng đồng hồ, nhiều điều hơn là sống 10 năm ở tỉnh nhỏ. Ở đây tất cả quả thật đều là ngắm xem, so sánh và học tập, hết sức rẻ mà cũng hết sức đắt. Đó là Pari, nơi mà con ong nào cũng có cái ổ của nó và tâm hồn nào cũng tiếp thu được cái gì hợp với nó”

Khuyên Eve “Chị đừng mong nhận thư em đều đặn, một trong những đặc điểm của Pari là người ta thực tế chẳng biết thời gian trôi qua như thế nào. Cuộc sống ở đây dồn dập đến hãi hùng”. Y biết rõ về Pari nhưng vẫn lao vào, vẫn thân thiết gắn bó. Thật một người tham vọng.

Y đụng phải trong làng báo bảo hoàng và chính trị mối ghen tị mà chính mình cũng chẳng bao giờ ngờ đến. Đó là “Mối ghen tị phát sinh ra giữa mọi con người đứng trước một miếng bánh để chia. Chẳng khác gì lũ chó tranh nhau một miếng mồi, bây giờ giữa họ cùng xảy ra chuyện gầm gừ, những thái độ, những tính cách như thế. Bọn nhà văn ấy chơi nhau hằng nghìn đòn ngấm ngầm để làm hại nhau, bên cạnh chính quyền chúng kết án nhau là thiếu nhiệt tình và để trừ khử mọi kẻ cạnh tranh, chúng tìm ra những mưu mô hiểm độc nhất”

Nhưng dẫu sao thì việc “bắt Pari phải quan tâm đến mình khi đã nhận rõ đô thành đó rộng lớn đến thế nào và nỗi khó khăn để trở thành kẻ tai mắt ở đấy, điều đó làm Lucien say sưa thích thú”.

Quá trình tha hóa của Lucien diễn ra khá nhanh. Nhu nhược và vị kỉ, y không chống nổi sự cám dỗ. Trước viễn cảnh phú quý do bà Bargeton phác họa, y vội vã “từ bỏ những tư tưởng của đám mạt dân về sự bình đẳng ảo tưởng nêu lên năm 1793”. Y từ gã đẳng viên tự do “trở thành bảo hoàng đến tận gan ruột”. Y theo bà ta lên Pari, rời bỏ mẹ, chị, anh rể, những người tận tụy yêu thương y, coi tương lai của y là lẽ sống. Y đã trải qua nhiều bước thăng trầm, lâm vào cảnh bơ vơ túng thiếu rồi trở thành nhà báo có tiếng tăm, được nể sợ, sao đó nhận một kết thúc cực kì thảm hại. Đường đời của y còn nhiều bước ngoặt. Tính cách y thì theo hướng đi xuống. Y đi từ sa đọa về sinh hoạt đến trụy lạc về tư tưởng, từ hư hỏng về tư cách đến phản động về chính trị. Y lặp lại cuộc sống vô sỉ của Lousteau mà có lúc y đã biết ghê tởm. Y cờ bạc trác táng, quan hệ với bọn “apphe” sách báo, điều căn bản là buôn bán cả tài năng. Thơ đối với y trước đây là mục đích, nay chỉ còn là phương tiện. Trong buổi đọc thơ ở Angulem, giữa đám quý tộc tỉnh lẻ ngu muội, y còn biết đau đớn, thốt lên lời tự hào chân chính. “Người ta không biết những nỗi đau khổ của chúng tôi. Những câu thơ là những hạt giống sẽ đâm hoa kết quả trong trái tim con người”. Vậy mà chính nhà thơ ấy lại viết bài bôi nhọ quyển sách mà y công nhận rằng hay, hơn nữa lại là của D’Arthez- ân nhân và là bạn thân của y. Nhà thơ ấy lại còn ngồi bên xác người yêu làm những bài thơ tục tĩu, rẻ tiền  mua vui cho quán rượu để kiếm tiền chôn cất nàng. Điều đó làm “giá lạnh tâm hồn” những người phải chứng kiến cảnh đê hèn và khốn khổ tột cùng này.

Cũng từ tỉnh nhỏ ra đi tìm danh vọng, nhưng Rastignac thành đạt còn Lucien thì hoàn toàn thất bại. Y không thuộc dòng dõi quý tộc, thiếu nghị lực và sự cứng rắn, thiếu cả sự khôn khéo dứt khoát. Rastignac tiếp thu bài học từ người bà con xa sau đó sửa chữa và biết xoay chuyển tình thế theo hướng có lợi nhất bằng sự quỳ lụy được tính toán nhanh nhẹn và đúng lúc. Còn Lucien khi có nhiều khả năng nhất để chinh phục bà Bargeton thì lại biến bà thành kẻ thù. Bản chất yếu đuối, y chóng mặt vì chút hư danh. Bị cuốn vào cơn lốc ăn chơi, y thôi tính toán, trở thành “đồ chơi của bọn người tham lam, đố kị và nham hiểm”. Tự nhận mình “là con bướm lượn từ đón sáng này sang đóm sáng khác, không kế hoạch nhất định, nô lệ của hoàn cảnh” sau khi bọn quý tộc lừa bịp, lợi dụng và trở mặt.

Hình tượng Lucien làm sáng tỏ “sự tự vận động của tính cách” trong nghệ thuật điển hình hóa hiện thực chủ nghĩa. Lucien không kiên định trong điều hay cũng như trong điều dở. D’Arthez đã so sánh y “cây thụ cầm mà các dây căng ra hay chùng lại theo sự thay đổi của thời tiết”. Ở tỉnh nhà y ngả nghiêng giữa David và bà Bargeton. Lên Pari y dao động trước ảnh hưởng của nhóm D’Arthez và nhóm Lousteau . Khi y thấy “trí tuệ là đòn bẩy”, nhờ nó người ta có thể xoay chuyển tình thế, khi y lại cho rằng “điểm tựa của trí tuệ là đồng tiền”. Bị ruồng bỏ y kết luận “mọi người đều quỳ dưới chân vàng”, sau đó lại nghe lương tâm kêu lên rằng “lao động cần cù sẽ đưa tới vinh quang”. Bản chất của y được hình thành do gia đình, xã hội, và môi trường bao quanh y. Sự nuông chiều rất mực, sự hi sinh nhẫn nhục của gia đình là nguồn gốc của thói vị kỉ và nhu nhược. Còn xã hội thì như Balzac nói: “chẳng có sự kiện nào kết án hùng hồn hơn tình trạng đớn hèn mà thời kì Trùng hưng đày đọa đám thanh niên vào”.

Nhân vật Lucien ở khá nhiều nét chẳng phải là hình ảnh của chính Balzac đó sao? Từ chuyện tình duyên đến mối tham vọng không bờ, từ cảnh hàn vi ban đầu đến bao bước gian truân của cuộc đời làm văn làm báo. Xét cho cùng, chẳng phải Balzac không có thiện cảm với chàng thi sĩ nhưng không vì thế mà Balzac không nghiêm khắc phê phán Lucien và không khách quan vạch trần những suy nghĩ thầm kín nhất, tráo trở nhất của con người ngả nghiêng đó. Tình cảm của ông, một phần không ít dành cho Lucien nhưng lí trí thì đứng hẳn về phía những người như David, Eve, D’Arthez, Michel…..để phê phán Lucien. Cuối cùng Balzac không thể không để nhân vật của mình rơi xuống vực thẳm. Đó là điều dũng cảm và cũng là mối mâu thuẫn trong Balzac.

5. Vautrin- nhân vật “cừ khôi” của Balzac

 

Khi đã bị tắt hết mọi lối, Lucien đành bán mình cho tên trùm tội phạm đội lốt linh mục. Hắn muốn lợi dụng chàng thi sĩ để tấn công vào xã hội quý tộc và tư sản. Tên quỷ sứ ấy bồi cho Lucien những bài học còn kinh khủng gấp ngàn lần những bài học của Lousteau. Đó là bài học bất nhân, bài học giả dối, đó là lời tuyên chiến công khai của cá nhân chống lại xã hội.

Trước hết hắn khuyên “Anh hãy nên coi những con người, nhất là người phụ nữ chỉ là những dụng cụ, nhưng chớ để cho họ thấy điều đó, anh hãy thờ phụng như thờ chúa vậy, kẻ nào ở địa vị cao hơn anh, có thể hữu ích cho anh và đừng có rời khỏi họ khi chưa bắt họ phải trả thật đắt sự luồn lọt của anh”. Hắn dò hỏi:“Anh muốn ngự trị thiên hạ phải không?”, và chỉ bảo: “Thế thì trước hết phải tuân theo thiên hạ và học hỏi họ chu đáo”.

Để tăng sức thuyết phục, hắn dẫn chứng rằng  “những kẻ quyền cao chức trọng cũng làm những việc đê hèn gần như những kẻ mạt hạng, nhưng chúng làm trong bóng tối và phô trương ra đức hạnh của chúng, chúng vẫn quyền cao chức trọng mãi. Những người thấp hèn bộc lộ đức hạnh của họ trong bóng tối và phơi bày nỗi khốn cùng của họ ra thanh thiên bạch nhật: Họ bị kinh rẻ”.

Hắn ta tuyên án đối với xã hội “xã hội của anh chẳng còn thờ thượng đế chính thống nữa, mà là tôn thờ con Bê vàng!”. Điều đó có gì khác là bảo mọi thần dân hãy cố gắng mà làm giàu.

Đút kết lại những lập luận sảo trá vừa rồi, hắn nói với giọng khuyên nhủ. “Tự đặt cho mình một mục đích huy hòang, và che dấu những thủ đoạn thành đạt đi, đồng thời che dấu bước tiến của mình. Trước đây anh đã xử sự như đứa trẻ, bây giờ hãy như người lớn, trở nên kẻ đi săn, hãy mai phục đi, nấp ẩn trong cái xã hội Pari, chờ đợi một miếng mồi là chờ đợi cơ hội, chẳng nên tiếc thân mình và cũng chẳng nên tiếc cái mà người ta gọi là phẩm giá, là vì tất cả chúng ta đều tuân theo một cái gì, một thói hư, một nhu yếu nhưng phải tôn trọng cái quy luật tối cao! Bí mật!”

Thế còn chưa đủ để chàng trai trẻ tin theo lời mình, hắn thêm vào “kẻ tham vọng nào muốn chiến đấu bằng những phương châm đạo đức trong một trường đua mà đối phương của hắn bất chấp tất, thì chỉ là một đứa trẻ mà những tay chính trị cáo già bảo vào mặt cái điều mà những tay chơi thường bảo vào mặt những kẻ không biết lợi dụng bo xì của hắn”. Theo lời Vautrin thì chẳng còn pháp luật nữa, chỉ còn những tục lệ, chỉ là những cái giả hiệu, chung quy là hình thức.

Rất tự nhiên, rất dễ hiểu khi chàng sinh viên ôm mộng trong trắng xưa kia, qua bao nhiêu sự giày vò, ma luyện của xã hội tư sản, qua bao nhiêu bước phạm lỗi rồi hối cải cứ như lăn dần xuống một cái dốc không cưỡng lại được. Cuối cùng hắn có thể tiếp thu một cách trơn tru bài học mà Vautrin tóm tắt trong mấy câu. “Được ăn cả, ngã về không. Ta hãy tính toán đi. Khi anh ngồi vào bàn xì, anh có bàn cãi về những điều kiện không? Luật đã định rồi anh chỉ có việc thừa nhận”. Đó chính là cái luật lệ ăn cướp của xã hội tư sản. Và chính đó cũng là một quy luật phát triển của xã hội tư bản mà Balzac đã nắm được để nâng cao cuốn tiểu thuyết của ông lên trình độ một bức tranh khái quát rộng lớn và đồng thời đưa chủ nghĩa hiện thực lên đỉnh cao của nó.

Với bài học như thế, Lucien sau khi định tự tử lại xông vào cái xã hội Pari một lần nữa và cuộc đời của hắn sẽ kết thúc thảm hại bằng sợi dây treo cổ trong một cuốn tiểu thuyết khác trong “Tấn trò đời”.

Như vậy, bức tranh mà Balzac trình bày trong “Vỡ mộng” chẳng phải là đen tối, khủng khiếp lắm sao? Ngọn bút phê phán của ông đã chẳng ác liệt đến mức tối đa hay sao? Chính Balzac cũng tự nhận thức rõ điều đó. Trong lời đề tặng Victo Hugo trên đầu cuốn tiểu thuyết, Balzac nói hẳn rằng tác phẩm của ông “là một hành vi can đảm và cũng là truyện đầy sự thật”. Dũng cảm nói lên sự thật đó là một nét chủ yếu  trong thái độ của Balzac. Balzac biết trước rằng tác phẩm của mình khi ra đời sẽ nhận không ít búa rìu sấm sét của dư luận xã hội tư sản và quý tộc, cả bọn thống trị đương thời. Nhưng chẳng một lẽ gì khiến Blazac có thể xa rời sự thật, cho dù sự thật có chỗ nào đó trái với thiện cảm giai cấp, với tình cảm riêng của ông.

6. Tác giả- mượn lời nhân vật nêu lên những phát kiến về sáng tạo văn học nghệ thuật

 

Một đặc điểm khác là tiểu thuyết này không những thông qua hình tượng nghệ thuật để đạt tới đỉnh cao của Chủ nghĩa hiện thực mà nó còn chứa đựng khá phong phú những phát kiến của tác giả, hoặc trực tiếp hoặc mượn lời nhân vật về những vấn đề sáng tác văn học nghệ thuật. Nói lên phần nào những kinh nghiệm sáng tác cũng như những quan điểm mỹ học của nhà văn.

Chẳng hạn Balzac mượn lời D’Arthez nói lên ý kiến xác đáng của ông về thiên tài và sáng tác nghệ thuật. “Thiên tài đó là sự kiên trì. Sự kiên trì ở con người quả là cái giống nhất với phương thức mà tự nhiên sử dụng trong sáng tạo của minh. Nghệ thuật là gì hở anh? Đó là tự nhiên chung đúc lại”. Sau đó Balzac nói “D’Arthez không thừa nhận thiên tài siêu việt mà không có nhận thức sâu xa về triết học. Hiện nay anh đang tìm tòi và tiếp thu hết tài sản triết học cổ đại và cận đại. Anh muốn như Molie trở thành một triết gia uyên thâm trước khi viết hài kịch. Anh nghiên cứu cuộc đời trong sách và cuộc đời thực tại. Anh kết bạn với những nhà khoa học, bác học tự nhiên, những thầy thuốc trẻ tuổi, những nhà văn chính trị và những nghệ sĩ..”

Ở một chỗ khác, Balzac lại mượn lời thi sĩ Lucien để nói rằng “mục đích của thơ là đưa những ý niệm tới đúng cái điểm để hết thảy mọi người đều có thể nhìn thấy và cảm thấy. Muốn vậy thì nhà thơ phải luôn luôn đạt tới mọi trình độ của trí tuệ con người để làm thỏa mãn được tất thảy. Họ phải che đậy dưới những màu sắc rực rỡ nhất bởi logic và tình cảm là hai lực lượng đối địch nhau. Họ phải thâu gôm cả một loạt tư tưởng vào một tiếng. Tóm tắt những hệ thống triết lý toàn vẹn vào một bức tranh. Sau hết thơ của họ là những hạt giống phải nở hoa trong lòng mọi người, theo những luồng của tình cảm riêng tư. Phải chăng là cần cảm xúc hết thảy để biểu thị được hết thảy? Mà cảm xúc mảnh liệt phải chăng là đau khổ? Vì vậy văn thơ chỉ có thể nảy nở sau những chuyến đi gian khổ, qua những địa hạt rộng lớn của tư tưởng và của xã hội. Phải chăng những công trình bất tử là những tác phẩm tạo nên cho chúng ta những nhân vật mà cuộc sống còn xác thực hơn cả những con người đã sống thực”. Đó là những ý kiến rất cơ bản và xác đáng của nhà văn hiện thực chủ nghĩa vĩ đại, thiết tưởng vẫn còn bổ ích cho chúng ta hiện nay.

Không những Balzac đưa ra những ý kiến chung về thiên tài, về sáng tác nghệ thuật như thế, trong “Vỡ mộng” ông còn có những chỗ đi sâu vào phương pháp sáng tác nghệ thuật, nhất là về thể loại tiểu thuyết. Có chỗ ông viết “tiểu thuyết đòi hỏi tình cảm, bút pháp và hình tượng, và sáng tạo hiện đại vĩ đại nhất. Nó kế tục haì kịch, loại này với những quy tắc cũ kĩ của nó không hợp với phong tục hiện đại nữa. Nó bao quát sự kiện và tư tưởng trong những sáng tạo đòi hỏi vừa trí xảo, vừa đạo đức sắc cạnh của La Bruye, những tính cách cấu tạo lớn theo kiểu Molie, những cơ cấu lớn lao của Secxpia và sự mô tả những khá cạnh tinh vi nhất của dục vọng”.

Và đây là lời D’Arthez khuyên Lucien về cách viết tiểu thuyết.“Anh không muốn là kẻ học đòi Walter Scolf thì anh phải sáng tạo một phong cách khác, thế mà anh lại đi bắt chước ông ta. Cũng như ông ta, anh bắt đầu những đàm thoại dài dòng để trình bày nhân vật. Khi chúng đã trò chuỵện rồi anh mới đi vào miêu tả và hành động. Cái xung đột cần thiết cho mọi tác phẩm có kịch tính đến cuối cùng. Anh hãy đảo lộn số hạng của bài toán đi. Hãy bỏ những đàm thoại rườm rà kia. Ở Walter Scolf thì tuyệt diệu nhưng ở anh thì lại nhợt nhạt. Hãy bằng những miêu tả thích hợp với ngôn ngữ của chúng ta. Anh hãy lấy đối thoại làm kết qủa tất yếu nó hoàn thành mọi sự chuẩn bị của anh. Hãy đi vào hành động ngay từ đầu. Anh hãy nắm lấy chủ đề khi ở ngang giữa, khi ở phần cuối, nghĩa là hãy thay đổi bố cục cho khỏi lặp lại mãi một cách”

Những ý kiến về sáng tác văn học và những kinh nghiệm sáng tác như thế đã được Balzac áp dụng ngay chính “Tấn trò đời” mà “Vỡ mộng” là một điển hình xuất sắc. Thật vậy, trong tiểu thuyết của mình Balac đã đạt được cái tinh thần thời đại nhờ nhân vật điển hình, nhờ bao nhiêu chi tiết chân thật, cụ thể và phong phú mà ông đã tích lũy được. Nhưng ông cũng không tránh nhược điểm là kể lể một cách nặng nề như chính ông đã dự báo. Dù sao, nếu độc giả không quan niệm đọc tiểu thuyết  chỉ là sự mua vui đơn thuần thì những cố gắng suy nghĩ trong khi đọc tác phẩm của Balzac sẽ cung cấp cho họ một vốn sống thật là phong phú và một sự hiểu biết sâu sắc, thấu đáo về xã hội nước Pháp ở nửa đầu thế kỉ XIX.

*******

Giá trị thời sự và phổ biến của tiểu thuyết “Vỡ mộng”, đối với chúng ta ngày nay chính là ở chỗ Balzac đã phê phán cái hiện thực xã hội tư sản một cách tinh vi và ác liệt. Ngọn bút hiện thực nhạy bén và sắc sảo  đi sâu vào phanh phui tận ruột gan, lột trần bộ mặt tàn ác của xã hội đó. Nhìn vào bức tranh xã hội Pháp từ hơn 100 năm này mà Balzac đã vẽ lên trong “Vỡ mộng” chúng ta nhận ra nó còn nhiều nét giống với bức tranh của xã hội tư sản ngày nay. Đó là điểm lỗi lạc của thiên tài Balzac, khiến “Vỡ mộng”  nói riêng, “Tấn trò đời” nói chung được bao thế hệ độc giả hâm mộ cho tới hôm nay.

 

IV. Kết luận về giọng điệu lạng lùng khách quan

 

Đương thời Balzac không được giới phê bình đón nhận, vì nhiều nguyên nhân. Trước hết là vì sự phê phán, ở ông quá sắc sảo. Trong khi Marc khen ngợi Balzac “xuất sắc ở sự am hiểu sâu các quan hệ hiện thực”, thì người ta ra sức chứng minh ngược lại. Hoặc kết án Balzac vô đạo đức, trách Balzac bị đồng tiền  ám ảnh  bởi cuộc sống của ông túng thiếu, phàn nàn Balzac chỉ miêu tả mặt xấu của xã hội trong khi nhân loại tốt đẹp hơn nhiều….Tất cả đều là trạng thái của cùng một nỗi hoảng sợ trước sự thật, cùng một ý muốn, cố tình giảm nhẹ ý nghĩa “đồng trăm xu vạn năng” trong tác phẩm Balzac.

Balzac bị dè bỉu, chán ghét bởi điều mà chúng ta trân trọng và yêu mến nhất: giá trị nhận thức và tố cáo của tác phẩm. Người ta còn không hiểu và không ưa Balzac vì một nguyên nhân khác: sự cách tân của ông, hoàn toàn không giống quan niệm phổ biến đương thời coi trọng trước hết văn tài, bút pháp. Chính nhờ cái tính chân thật cao, tính hiện thực sâu sắc dựa trên quan điểm lịch sử và quan điểm khoa học đúng đắn, tác phẩm Balzac đạt tới trình độ tố cáo kinh hồn đối với giai cấp tư sản.

Tác phẩm của Balzac quả là lời tuyên án với xã hội tư sản, lời buộc tội không chống án được, vì Balzac hơn ai hết đã mổ xẻ con người tư sản đến tinh vi, đã hiểu thấu được bản chất tội ác của giai cấp tư sản. Một cái xã hội mà nền tôn giáo thiêng liêng hơn cả là tôn giáo “con bê vàng”.

Balzac đã vẽ nên sắc nét hơn ai hết bộ mặt đen tối, bỉ ổi của xã hội quý tôc và tư sản, nhưng phải đầu là tại tác giả “khi sự vật tự nó nói lên bản thân nó và nói to đến thế”. Thế nên, Victo Hugo trong bài điếu văn đọc trược mộ Balzac có nói: “Ông đào bới thói hư, ông mổ xẻ dục vọng. Con dao mổ của ông thọc vào con người, vào tâm hồn, vào quả tim, vào lòng ruột, vào não óc, vào cái vực thẳm mang ở mỗi con người”.

Balzac nghiên cứu đời sống xã hội như một nhà bác học tìm tòi, một nhà quan sát thấu suốt. Balzac không dừng ở việc tập hợp tài liệu, nêu sự kiện. Ông muốn đi sâu tìm nguyên nhân của chúng, muốn nghiên cứu lí do của những thực trạng xã hội đó, khám phá ra ý nghĩa giấu bên trong cái đám to lớn những nhân vật dục vọng và biến cố đó. Lấy tư cách một nhà sử học ông muốn phát hiện ra động cơ của lịch sử, lí do vận động của xã hội. Chính quan niệm tiến bộ về lịch sử mà tiểu thuyết của ông đạt tới trình độ khái quát hoá nghệ thuật cao, tạo nên những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Như vậy, qua giọng lạnh lùng khách quan của Balzac ta nhận thấy tác giả như nhà khoa học chuyên nghiên cứu con người tư sản. Và đây là giọng chủ đạo trong tiểu thuyết Balzac.

Ngày nay khi trên văn đàn thế giới tư sản vẫn còn đầy dẫy những xu hướng bi quan hắc ám kiểu chủ nghĩa hiện đại hay chủ nghĩa hiện sinh, thì chủ nghĩa hiện thực phê phán của Balzac vẫn là một tấm gương sáng. Hơn thế nữa chủ nghĩa hiện thực phê phán phải là người bạn đồng hành của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong cuộc đấu tranh cho hoà bình, cho chủ nghĩa nhân dạo, cho một nền nghệ thuật tiến bộ chân chính.

CHƯƠNG IV:   GIỌNG TRÀO PHÚNG, CHẾ GIỄU CỦA NGƯỜI Ở ĐỊA VỊ CAO HƠN XÃ HỘI

 I. Trong tiểu thuyếtEUGENIE GRANDET
1. Lão Grandet- không phải tên keo kiệt bình thường

Tác phẩm nổi bật một nhân vật đại diện cho xã hội tư sản- lão Grandet. Cái tâm địa tư sản của Grandet đã được Balzac miêu tả với môt nghệ thuật gân guốc và đặc sắc. Giọng điệu Balzac khi miêu tả nhân vật này cũng có sự phong phú. Trước sự keo kiệt của lão, Balzac khách quan mà miêu tả, nhưng khi không chịu nổi sự tàn nhẫn trong đạo đức của tên tư sản này Balzac dùng giọng điệu chế giễu để lão ta hiện rõ bản chất tàn ác của mình. Chính Balzac đã nhận định “Đó không phaỉ là một người keo kiệt bình thường, mà dục vọng của nó chắc chắn đã che giấu một niềm lạc thú sâu xa, những quan niệm thầm kín”.

Grandet là điểm gặp gỡ và cũng là sản phẩm của một thời cách mạng Pháp đã qua. Lão có nét tính cách của một gã tư sản mới lên, hung hăng, vô tâm làm con tính trên tờ báo đăng tin người em trai vừa chết nhưng cũng có cái khôn ngoan thực tế của bác phó thùng quen sống tằn tiện vất vả. Grandet nhìn tất cả mọi điều từ quan điểm lợi nhuận, mọi hành động đều bộc lộ sự tàn bạo, độc đoán của một kẻ có ý thức về quyền lực của mình. Lão bóc lột người ở, lợi dụng bọn cầu hôn, nhẫn tâm với cháu, phá hoại hạnh phúc của con, buộc con trở thành kẻ canh giữ tài sản cho mình, biến vợ thành nô tỳ và nhẫn tâm dày vò khiến bà buồn phiền đến chết.

Xây dựng nhân vật Grandet, Balzac sử dụng biện pháp phóng đại và cường điệu. Biện pháp phóng đại được sử dụng một cách có ý thức nhằm làm nổi bật bản chất của hiện thực. Đồng thời với biện pháp phóng đại Balzac còn sử dụng một giọng điệu trào phúng, đôi khi là sự chế giễu mỉa mai đối với con người keo kiệt này. Điều đó càng làm cho bản chất hám vàng của lão hiện ra  không gì che giấu được. Nhân vật này còn là sự thừa kế của Moliere thế kỉ 17( với nhân vật Acpagon- Lão hà tiện).

Môi trường hoạt động của các nhân vật trong “Tấn trò đời” rất đa dạng. Balzac tạo cho mỗi nhân vật chính một môi trường sống hết sức phong phú và thích hợp đến không ngờ, đồng thời Balzac khéo léo tạo những tình huống để nhân vật tự bộc lộ tính cách của mình. Ông đã dựng lên những “hoàn cảnh điển hình” cho những “nhân vật điển hình”, khiến cuộc sống trong tác phẩm hiện ra một cách đa dạng, sinh động không thua gì cuộc sống thực. Trong thực tế vấn đề tiền bạc quyết định mọi ý nghĩ và hành động của nhân vật tư sản, nó khơi ra, buộc nút, cởi nút mọi câu chuỵện trong xã hội tư sản. Trong xã hội này tiền bạc là dục vọng cao nhất, mỗi nhân vật trong tác phẩm này đều được Balzac đặt cho trong lòng họ những dục vọng ấy.

Từ một thợ đóng thùng trở thành ông Grandet là cả một con đường đầy thủ đoạn. Sáng suốt chộp thời cơ Cách mạng để mua lại những cánh đồng nho và trại ấp với giá rẻ như cho không để từ đó đồng tiền sinh sôi nảy nở một cách bí ẩn, mờ ám dưới bàn tay điều khiển thần kỳ của chủ nhân. Balzac sớm nhận ra tài năng đó của ông Grandet và mỉa mai. “Nếu không kể tiểu sử ông ra đây thì không tài nào các bạn lĩnh hội ý nghĩa của mấy tiếng nhà của ông Grandet”. Thật vậy, phải kể rõ quá trình làm giàu của con người triệu phú này, độc giả mới hiểu hết thế nào là đồng tiền tư bản.

Balzac đã chứng minh quá trình tích lũy của giai cấp tư sản đương thời, họ lợi dụng cách mạng để làm giàu, chiếm hữu ruộng đất phát mãi và đầu cơ, phất nên bằng nhiều thủ đoạn trong thương mại …, lịch sử làm giàu của Grander gắn chặt với thực tế lịch sử của nước Pháp sau cách mạng 1789, bọn tư sản làm giàu bằng xương máu của nhân dân.  “Dân Saumur hiếm người cách mạng, cho nên bác Grandet được xem là người táo bạo, là chiến sĩ cộng hòa, là nhà ái quốc, là người tiếp thu tư tưởng cấp tiến, trong khi sự thật bác ta chỉ tiếp thu những cánh đồng nho”

Gia tài khổng lồ mà lão Grandet có được thực chất là công sức của những người dân của thị trấn Saumur. “Ông thị trưởng cai trị khéo, thu hoạch nho lại càng khéo hơn”. Trước  thủ đoạn làm giàu của con người tư sản, Balzac chế giễu chúng. “Giá ông viện thành tích ấy ra thì ông có thể xin ân thưởng Bắc đẩu bội tinh”.

Như đã nói, xã hội tư bản là nơi mà đồng tiền là cán cân công lý, là chuẩn mực đạo đức và cũng là lương tâm của con người, là thế lực duy nhất khiến xã hội phải quỳ gối. Bởi thế nên “một cái gia sản to như thế làm cho tất cả những hành động của ông Grandet đều như trùm bọc hào quang”. Biết lão không đạo đức gì nhưng mọi người đều trầm trồ thán phục và kính nể, có lẽ vì vàng của lão làm con người ta bị mất trí cũng nên. “Ngôn ngữ của ông cũng như y phục, điệu bộ, cho đến cái nheo mắt, đều thành khuôn vàng thước ngọc cho mọi người”. Đó là thái độ của người dân nhưng với Balzac thì ông mỉa mai rất chua cay bọn tư sản. “Người ta quan sát ông như nhà sinh vật học khảo sát những biểu hiện ở bản năng của con thú”.

Trên đây chúng ta đã kể ra quá nhiều những thói xấu của người tư sản, sự thật thì không phải là họ hoàn toàn xấu. Ở bọn tư sản mà nổi bật là ông Grandet đáng kinh này vẫn có một đức tính tốt. Hãy lắng nghe Balzac nói gì về tính tốt hiếm hoi của lão Grandet bủn xỉn nhé! “Ông không động đến cái gì của người ta vì ông luôn luôn tôn trọng tư hữu”. Đây là một tính tốt khi ý thức được về tài sản cá nhân, không lấy của ai cả bởi sợ người ta lấy của mình, mà ở thị trấn này ai có thể lo lắng hơn lão về việc bị mất trộm.

Thói keo kiệt thấm sâu vào máu huyết, bởi thế chẳng đời nào lão bỏ tiền ra sắm sửa bất cứ thứ gì. Hãy quan sát ngôi nhà buồn tẻ của lão, bạn sẽ nhận ra ngay sự tồi tàn về vật chất của con  người giàu có bậc nhất này. “Các ghế tựa kiểu cổ có phủ thảm thêu; mấy hình thêu ấy minh họa thơ ngụ ngôn Laphongten, nhưng nếu không biết trước thì không tài nào nhận ra chủ đề vì màu chỉ đã bạc thếch, hình thêu bị mạng bị vá chằng chịt, khó lòng nhìn thấy”. Keo kiệt thì chẳng có gì lạ, nhưng keo kiệt như lão thì thật đặc biệt, Balzac giải thích. “Cái món trang trí sang trọng này không ăn khớp tí nào với tập quán của Grandet, nhưng khi ông ta mua nhà thì đã có sẵn”

Đành rằng lão không thích mua sắm, không thích sự hoang phí thế nhưng với những điều kiện sinh hoạt bình thường nhất lão cũng nhất mực keo kiệt thì thật là đáng sợ. Những người thân yêu của lão phải sống trong sự thiếu thốn tột độ. “Nhất định đến 31 tháng 3 thì ông ta tắt lửa, bất chấp những ngày rét mướt đầu xuân và cuối thu. Bà Grander và cô con gái mà chịu được những ngày rét tháng tư và tháng mười là nhờ chiếc lồng ấp bỏ mớ than hồng mụ Nanon khéo léo gắp từ trong bếp ra”

Ba người phụ nữ đáng thương đã phải cúi đầu cam chịu cuộc sống khắc khổ ấy đến suốt đời. Dẫu là một nhà văn hiện thực nhưng trước cảnh đời của những con người đáng thương Balzac đã chế giễu cuộc sống buồn tẻ của họ, mà chủ yếu là chế giễu con người gia trưởng Grandet. “Chế độ ăn uống trong nhà thanh đạm khắc khổ, nên không ai đau ốm bao giờ và mụ Nanon cũng vui vẻ tham gia những lợi ích vệ sinh ấy”. Điều này cũng thật dễ hiểu, chắc rằng việc chi tiền thuốc sẽ làm cho lão Grandet điên lên mất, đó là một sự xa xỉ, một nhát dao có thể giết chết lão, tiền thuốc sẽ là một sự lãng phí kinh khủng.

Bà Grandet và Eugenie buộc phải cam chịu bởi một sợi dây tình thân máu mủ  vô hình gắn kết họ với Grandet. Còn với mụ Nanon thì sao? Lão già keo kiệt ấy đã ban phát lòng thương hại cho người đàn bà ấy, lão cứu giúp để rồi bóc lột, bởi một con người khéo léo tính toán như Grander không  thể vung vãi tình cảm cho một người nào cả. Hãy đọc kỹ  bạn sẽ nhận ra giọng điệu mỉa mai của Balzac khi nói về sự phung phí tình cảm này.  “Niềm thương ấy làm cho người con gái già hoan hỉ, nhưng ở Grandet nó lại có một cái gì gớm ghiếc”. Nó không phải là sự lãng phí, nó là một nước cờ dù nhỏ nhưng vẫn trong kế hoạch làm giàu của Grandet. “Nó gợi lên hằng ngàn sự đắc ý về những món lợi mà Nanon làm ra”

Grandet thường mừng tuổi con mình bằng một đồng tiền vàng. Thật khó tin! Một người như Grandet mà dám cho con những đồng tiền vàng ư! Không để chúng ta ngạc nhiên lâu, Balzac chú thích ngay:“làm thế chẳng qua là đem tiền hòm này bỏ sang hòm khác, không mất gì mà lại gây dựng được đức tính hà tiện cho cô thừa tự”. Đúng thật  một công mà hai việc, vừa được tiếng yêu con, vừa âm thầm truyền cho con cái dòng máu keo kiệt của mình.

Với người vợ đáng thương thì lão cũng chẳng có gì là tử tế, đôi khi lão cố đòi cho được khoản kim găm tóc khi bán hoa lợi trong năm cho vợ, rồi vờ như vợ chồng vẫn thường chi tiêu chung mà hỏi mượn lại mấy đồng. Grandet thì cứ tưởng rằng mình đối sử với vợ hào phóng lắm rồi, nhưng sự thật thì “nhà triết học mà gặp những mụ Nanon, những bà Grandet, những cô Eugenie thì hẳn cũng có quyền khẳng định rằng bản chất của tạo vật là trớ trêu, mỉa mai đấy nhỉ?”.

Mọi lúc mọi nơi, không khi nào Grandet được nghỉ ngơi bởi lão luôn căng mắt lên để nhìn ra sự lãng phí và lập tức làm một bài toán để dập ngay, chặn ngay cái sự lãng phí chết người ấy. Có đôi khi ta hiểu lầm rằng Grandet rất quan tâm đến những người quanh mình, ví dụ như tình huống sau: “mụ Nanon, mụ có vùi lửa, tắt nến  rồi lên trên này với chúng tôi không? Rõ nhỉ! Gian phòng cũng đủ chỗ để chứa hết chừng này người chứ?”, đây chắc là bài toán nhằm vào việc duy trì tài sản của mình, một tí củi, một tí lửa cũng không để hoang phí, nhưng bề ngoài thì lão cố làm như là quan tâm đến mụ Nanon, không muốn mụ ở một mình, trên này đông vui hơn.

Sống mãi trong cảnh khắc khổ và hoàn toàn mù tịt về gia sản cuả cha, cô gái thừa tự Eugenie trước một món quà vào loại tạp hóa tầm thường cũng cảm thấy là xa xỉ. Khi Adon tặng chiếc hộp khâu, Eugenie khẽ nhìn cha xem có được nhận không, Grander buông một tiếng “Nhận đi con ạ!” mà theo Balzac thì những tiếng ấy được Grander nói “với một giọng điệu có thể làm cho một diễn viên trở thành bất tử”. Trong khi đó bộ ba Cruyso kinh hoàng nhìn đôi mắt hân hoan sinh động của cô thừa tự giàu sụ hướng về Adon, bởi họ đâu biết rằng “đối với nàng những thứ sang trọng như thế thật hãn hữu”.

Vẫn biết đồng tiền tư sản có ma lực đáng sợ, thế nhưng trong mỗi chúng ta vẫn không tin rằng tiền có thể làm con người ta quên đi tất cả, chẳng lẽ tiền bạc còn nặng hơn đạo lý ở đời? Balzac không che đậy sự thật đau lòng về quá trình tha hóa của con người trong đời sống tư bản. Thật vậy tiền là tất cả, tiền là sự sống và với một con người tư sản như Grandet thì không nghi ngờ gì nữa, với lão tiền là tôn giáo, là vị thần duy nhất mà lão thờ phụng. Trước hoàn cảnh thảm thương của người em ở Pari, ông ta lo lắng không nguôi, trăn trở tìm cách giải quyết nhưng chẳng phải để giúp người em khổ sở, người cháu mồ côi mà chỉ để mình yên thân, kẻo liên lụy đến tiền của mình thì khốn khổ nào hơn, Balzac mỉa mai con người tàn nhẫn ấy. “Khi ông Grandet em cầm bút viết bức chúc thư đau lòng trên kia, ông hết sức bức rứt, nhưng ông anh khi nghĩ đến hậu quả của chúc thư ấy, có lẽ còn bức rức hơn”. Bởi lo lắng về hậu quả của chúc thư, nên Grandet đang căng óc ra tìm cơ hội  tống thằng cháu nghèo xơ ra khỏi nhà mình.

Tham lam và keo kiệt giúp Grandet có một khiếu quan sát thật tinh tế, trong nhà này đố ai qua mắt được lão. Eugenie luôn thấp thỏm vì mẩu nến lạp, vì mấy thanh củi để đốt trong phòng Charles. Trước ông bố bủn xỉn nàng phải đấu tranh hết mình để có được chút bơ, lạng bột, miếng đường. Balzac chỉ ra tính chất của cuộc đấu tranh vừa hài hước vừa bi đát này. “Người thiếu phụ Pari gắng hết sức bình sinh cầm cái dải lụa cho chàng nhân tình leo gác có lẽ cũng không can đảm bằng Eugenie khi nàng đem đĩa đường đặt lại lên bàn”

Như đã nói ở trên, cái chết của người em trai không làm Grandet ngạc nhiên hay đau lòng gì, thế nên “Grandet không thấy khó khăn lúng túng gì trong việc báo tin cha Charles chết”. Điều quan trọng và khó xử của Grandet ấy là “ông cảm thấy như thương hại Charles khi nghĩ rằng anh chàng không có một xu dính túi”. Nghĩ vậy cho nên  “ông tìm lời nói để cái sự độc ác ấy một cách êm ái”.

Đồng tiền tư sản làm tim lão co lại, mọi thứ tình thương cao đẹp, nhân bản đều ngụi tắt nhường chỗ cho lòng hám vàng, lão chỉ xúc động khi tin rằng nó không làm hao một xu nhỏ nào trong kho báu của mình. Thế nên việc để tang cho em trai cũng làm lão phát điên lên được, nó tốn kém lắm đấy “để tang thì để trong lòng chứ để gì trên quần áo”.

Ngoài đức tính tốt là tôn trọng tư hữu thì ngay đây ta phát hiện ra một đức tính tốt ở lão như là việc lão đãi cơm bạn bè. Theo bà Grandet thì “từ thủa mẹ về với cha con lần này là lần thứ ba ông ấy đãi cơm”. Thấy đấy, không phải lúc nào lão cũng keo kiệt, lão đãi cơm khách những 3 lần cơ, thế là hào phóng quá còn gì, nhưng chắc rằng sự hào phóng này đem lại cho lão những khoản thu lớn gấp bội lần những bữa cơm ấy.

Hình tượng Grandet nổi bật với tính tham lam, keo kiệt và đó còn là một con người rất mực khôn ngoan, lắm thủ đoạn. “Ông ta lấy dáng điệu một chú học trò tinh quái, ngoài mặt vờ chăm chú nghe lời thầy giảng, mà trong lòng thì cười thầm thầy ngây thơ”

Grandet là người gia trưởng, chút phong kiến còn sót lại trong nhân vật tư sản, mọi mệnh lệnh  y ban ra thì 3 người phụ nữ đáng thương phải phục tùng không một thắc mắc, đơn giản nhất như việc đi ngủ. “Grandet ưa đi ngủ sớm; mà hễ ông ta đã ngủ thì cả nhà cũng phải ngủ, cũng như khi Oguytsto uống rượu thì cả nước Ba Lan say”

Khi mụ Nanon vắng nhà, bảo là đi thu xếp việc gì cho ông chủ thì lập tức Balzac mỉa mai “làm như ông Grandet có thể để vương vãi cái gì!”. Thật vậy, nếu Grandet mà làm vương vãi một thứ gì thì chắc đó không còn là Grandet nữa, mà có vậy thì vợ con lão đã sống thoải mái hơn từ những miếng đường, cân bột lão vương vãi và chắc là dân Sammur cũng nhờ sự vương vãi của lão mà khá hơn chăng?

Người vợ đáng thương của lão, vì chẳng được hưởng một cuộc sống dư giả, chẳng được nhận đủ nguồn dinh dưỡng nên nước da nhợt nhạt.  Grandet thì  không nhận ra sự thiếu thốn dinh dưỡng ấy mà chia xẻ cùng vợ  một câu hết sức buồn cười. “Nước da bà kể cũng vàng một tí nhưng tôi thích màu vàng”. Đúng thật là Grandet thích màu vàng bởi vì nó là màu của một kim loại quý, là màu vàng lấp lánh của những đồng tiền. Màu của nước da vợ nay trùng với màu sắc lão yêu thích thì còn gì tuyệt bằng. Nói đi nói lại rồi thì lão cũng chẳng quan tâm gì đến sức khỏe của vợ mình, nói thích nước da bà màu vàng cũng chỉ vì nói thế nó sẽ không mất thêm tiền chi cho việc ăn uống tầm bổ, nếu tẩm bổ thì vợ lão sẽ mất đi màu da vàng nhợt nhạt và lão sẽ tốn một khoản nhỏ. Thế thì người vợ đáng thương kia hãy cứ chịu cuộc sống hiện thời vậy, cứ giữ màu da vàng ấy nhé! Vì thói hám vàng mà lão giết dần giết mòn người vợ hiền lành ấy- kẻ hùn vốn và cũng là nô lệ của lão.

Grandet là một tên tư sản không chỉ keo kiệt mà còn tàn nhẫn. Lão thờ ơ trước cảnh khổ của em trai, đẩy thằng cháu đi Ấn Độ cho rảnh nợ, bỏ mặc hạnh phúc của con và giờ đây thì muốn vợ đi sớm để khỏi tốn tiền thang thuốc, nhưng có một điều nằm ngoài dự kiến của lão. “Bà Grandet mà chết thì vấn đề thừa kế di sản của bà ta cũng làm cho Grandet chết đi được”. Sự thật bất ngờ làm Grandet thay đổi hẳn thái độ, bác sĩ được mời đến để chăm sóc cho bà Grandet và  “bởi vậy ông ta thành tâm cầu nguyện cho bà sống”.

Nếu cái chết của người vợ thánh thiện ấy không dính gì tới tiền của lão thì chắc rằng bà đã được lão ta đối xử như cách lão đối với em trai lão. May mắn thay bà vẫn được sống thêm một thời gian vì bà có hùn vốn với lão. Bà mất đi thì cái vốn ấy sẽ phải chia cho Eugenie, chỉ cần nghĩ đến việc túi tiền của mình bị chia ra, mình không còn được giữ những đồng tiền vàng đáng yêu thì lão Grandet tưởng như đến ngày tận thế. Giờ thì lão thành tâm mong bà kéo dài sinh mệnh, chăm sóc cho bà như chăm sóc cho túi tiền của lão vậy.

Hạnh phúc lớn nhất đời lão là khi Eugenie tự tước quyền thừa kế tài sản của mẹ, chuyển quyền ấy cho Grandet không một đòi hỏi nào. Balzac chia sẻ niềm vui ấy cùng Grandet, niềm vui của một người được tái sinh. “Con ơi! Thật là con đẻ ra cha. Con làm thế là con trả nợ sinh dưỡng cho cha: cha con ta không nợ nần gì nhau nữa. Công việc làm ăn thì phải như thế”. Với Grandet thì thật sòng phẳng, thật toàn mỹ, nhưng với Eugenie thì có công bằng không? Điều đó  người đọc đều nhận thấy, Balzac không bàn thêm. Bazac chia sẻ niềm vui cùng con người gian trá bằng giọng điệu mỉa mai “lão sung sướng vì đã đầu cơ được tình cảm của con”

Hạnh phúc vì được sống cùng vàng thể hiện qua lời tâm sự của Grandet. “Cái này làm người tôi ấm lại”. Nhưng đồng tiền không làm cõi lòng lão ấm lại như suy nghĩ của lão mà nó càng làm cho tâm hồn lão lạnh giá, lão cô độc, không bạn bè, không người thân yêu. Bởi vợ là kẻ hùn vốn, con gái sẽ giết lão bằng việc hưởng gia tài, cháu thì chẳng là gì bởi nó nghèo xơ.

Trong cơn hấp hối, ông cố đạo đưa cây thánh giá mạ vàng kề môi ông để ông hôn hình đức Giêsu thì “lão ta vùng lên một cách khủng khiếp để chụp lấy cây thánh giá. Sự gắng sức cuối cùng này làm cho ông kiệt sức”. Tên tư sản ấy đã nằm xuống sau một cơn hấp hối khủng khiếp của bệnh nghiện vàng. Cái chết của lão chẳng phụ cách sống của lão, lão chết trong cuộc chiến đấu cuối cùng- tuy nhỏ nhưng vì vàng- sau nhiều chiến công trên trần thế.

 2. Charles- hình ảnh bổ sung trọn vẹn cho tính cách của Grandet

Có Grandet thì có những tên tư sản mới kế thừa, Charles đã chứng minh rằng “dòng máu Grandet không chảy hoài công trong mạch hắn”

Ban đầu Charles là một nhân vật lãng mạn đáng yêu, ở chàng có được những đức tính tốt, sống rất chân thật. Nhưng khi sang Ấn Độ thì chàng dần dần biến chất. Dấn thân vào con đường làm giàu của chủ nghĩa tư bản, chàng nhanh chóng trút bỏ lốt duyên dáng, hào hoa của một công tử Pari. Từ một con người biết cảm, biết nghĩ, biết yêu thương Charles trở nên lạnh lùng, tàn nhẫn. Y giàu lên ở Ấn Độ, khi về Pari lại muốn có được danh vọng nên vội vàng kết hôn cùng người con gái xấu xí, chấp nhận cuộc hôn nhân không tình yêu, xem đó là chiếc cầu nối vào xã hội thương lưu.

Trong bức thư bạc bẽo mà Charles gửi cho Eugenie, hắn lập luận “trong hôn nhân ái tình là ảo tưởng”. Bởi lẽ “cần phải tuân theo tất cả những tập quán xã hội, và muốn kết hôn, phải thỏa mãn tất cả những ước lệ mà xã hội thượng lưu đời hỏi”. Mà đòi hỏi của xã hội thượng lưu là gì, phải chăng là tiền tài và chức tước?

Cuộc hôn nhân với cô nàng quý tộc là một sự hy sinh lớn lao. “Chúng ta phải sống vì con cái chúng ta”, câu nói trên có thể làm cho Charles trở nên cao thượng bởi cho thấy rằng chẳng phải hắn tham sang phụ khó gì trong việc bỏ quên Eugenie. Charles thật vĩ đại, một sự vĩ đại đểu giả, bịp bợm, lời ngụy biện đáng khinh nhất. Lời nói ấy của y làm Eugenie tan nát cõi lòng.

Chứng kiến hết việc làm của Charles, Balzac nhận định về hắn như sau: “Charles học làm con người đỏm dáng ủy mị, lại vừa học làm con người vật chất. Thối nát hai lần, những thối nát lịch sự, cao sang, đúng điệu”

******

Trong tiểu thuyết “Eugenie Grandet” này, Balzac đứng ở vị trí của người kể, người quan sát từ đầu đến cuối, bằng giọng điệu chế giễu, mỉa mai ông làm rõ bản chất keo kiệt của bọn tư sản qua hình tượng Grandet và bổ sung cho hình tượng này là tên Charles. Tác phẩm phơi bày một cuộc đấu tranh ráo riết của xã hội thượng lưu tư sản, trong đó tồn tại những hạng người lấy lợi và danh làm lẽ sống.

II. TIỂU THUYẾT LÃO GORIOT

1. Quán trọ Vauquer- không nơi nào ở Pari nhàm chán và khủng khiếp hơn

 Câu chuyện này diễn ra chủ yếu ở quán trọ của bà Vauquer. Đây là một quán trọ cũ rích, long lở, xộc xệch.  Khách đến đây trọ chắc chắn không phải là  người giàu. Quán là nơi tá túc của nhiều hạng người trong xã hôi.

Tấm biển của quán trọ cũng gợi mở nhiều điều: QUÁN TRỌ TRUNG LƯU CỦA NAM GIỚI, NỮ GIỚI VÀ MỌI NGƯỜI. Ta tưởng như nghe thấy tiếng cười châm biếm kín đáo, “mọi người” bình đẳng với những chủ khác khiến ta nghĩ đến sự dốt nát của chủ nhân. Nếu đã nói rõ dành cho “nam giới, nữ giới” thì “mọi người” là chỉ nam hay nữ?

Quán trọ này trở thành nơi các nhân vật lộ ra qua các vai diễn, việc miêu tả quán trọ ngoài ý nghĩa định vị cho các sự kiện còn là cánh cửa để ta thâm nhập vào xã hội “Tấn trò đời”.

Vừa rồi chỉ là lời mở đầu, phần tiếp đến còn đặc sắc hơn. “Ngôi nhà trọ gồm có ba tầng, những tầng trên cùng có mái được xây bằng đá và quét một lớp ve vàng, thế là tự nó bỗng dưng tạo ra cho bản thân một sự hèn kém so với tất cả những ngôi nhà thời  ấy ở Pari”. Miêu tả quán trọ đồng thời nhận xét về nó bằng giọng trào phúng, Balzac giúp ta hình dung ra quán trọ tồi tàn ấy. Đi sâu vào nội thất mới thấu hiểu sự xấu xí của nó. “Lò sưởi bằng đá, mặt bếp sạch sẽ đã chứng thực là nó chỉ được đốt vào những dịp trọng đại, người ta trang trí bếp lò bằng hai bình cắm hoa cũ mèm đi kèm với một chiếc đồng hồ quả lắc bằng đá hoa cương màu xanh nhạt còn kém thẩm mỹ hơn nữa. Căn phòng đầu tiên này tỏa ra một thứ mùi không có trong ngôn ngữ và có lẽ nên gọi là mùi nhà trọ. Nó có vẻ như mùi của chỗ không thoáng khí, mùi mốc, mùi ôi khét; nó tạo ra sự lạnh lẽo, ẩm ướt xông lên mũi, nó xâm nhập vào quần áo, nó có mùi vị như tất cả các mùi hợp lại, mùi một căn phòng sau bữa tối, mùi nhà bếp, mùi nhà tế bần”.

Quán trọ hiện ra một cách rõ ràng, một không gian tù hãm, một hang ổ. Không để người đọc mệt mỏi hơn nữa, Balzac đóng khung phòng khách vừa rồi bằng một phép so sánh rợn người, bằng câu văn hết sức trào phúng. “Dù chỗ này là đáng ghê tởm nhưng nếu bạn đem nó ra so sánh với phòng ăn ở cạnh đó bạn sẽ thấy phòng khách này còn quá lịch sự và thơm tho biết bao, như một phòng riêng của thiếu nữ vậy. Phòng ăn đó hoàn toàn được ghép bằng gỗ, không biết trước kia được sơn bằng màu gì mà giờ đây không còn nhận biết được nữa, nó trở thành một cái nền mà trên đó cáu ghét đã vẽ lên những khuôn mặt kỳ dị”. Balzac so sánh để khẳng định sự hơn thua giữa phòng khách và phòng ăn đồng thời phủ định luôn cả quán trọ. Ở đây ngoài lời bình phẩm giễu cợt Balzac còn sử dụng khéo léo nghệ thuật cường điệu, phóng đại để xác lập thái độ của mình đối với quán trọ- thế giới thu nhỏ của Pari.

Thêm vào đó là lời bình luận hết sức mỉa mai. “Ở đây người ta tìm thấy những đồ đạc không thể xóa bỏ được, chúng không tồn tại ở khắp nơi nhưng lại hiện diện ở đây như nó phải thế, như những tàn tích đặc trưng cho nền văn minh của những người bị bệnh nan y”.

Đến đây Balzac kết thúc việc miêu tả quán trọ. “Để giải thích rõ đồ đạc ở đây cũ kỹ, nứt nẻ, mục nát, yếu ớt, mòn vẹt, què cụt, tồi tan, hoang phế, hấp hối đến như thế nào, có lẽ cần một bài văn miêu tả về nó mà vì thế có thể làm chậm lại quá nhiều hứng thú đối với câu chuyện này và những người bận rộn sẽ không tha thứ cho điều đó”. Tóm lại là “cái nghèo ngự trị không khoang nhượng lên tất cả đời sống trong sự dè sẻn, cô đọng và trơ sờn. Nếu như nó chưa lấm bùn đen thì nó đang có những vết bẩn và nếu như nó không thủng lỗ cũng không rách rưới, thì rồi nó cũng sẽ rơi vào tình trạng mục nát mà thôi”.

2. Chủ nhân của quan trọ – người đàn bà khả ố, ti tiện

Chủ nhân quán trọ xuất hiện, bà là người phụ nữ nhận được nhiều lời chế giễu nhất của tác giả. “Bà góa xuất hiện với chiếc mũ nồi bằng vải tuyn kì cục trên một vòng tóc giả không được chải chuốt tử tế, bà ta vừa đi vừa kéo lê đôi giày nhăn nhúm. Gương mặt bà có vẻ già cũ, béo tròn như hạt mít, ở giữa mọc lên một cái mũ khoằm giống như chiếc mỏ của con vẹt, đôi tay nhỏ béo mũm mĩm, thân hình mập mạp như một con chuột trong nhà thờ, chiếc áo nịch ngực đầy ắp và phập phồng; tất cả như hài hòa với căn phòng này, nơi sự bất hạnh đang rò rỉ và sự bóc lột đang ẩn nấp, còn bà  Vauquer thì hít thở mùi hôi thối một cách nhiệt tình mà không cảm thấy buồn nôn”

Balzac đưa ra lời bình luận rất sắc sảo về bà chủ quán này. “Toàn bộ con người bà thể hiện tính chất nhà trọ cũng như ngôi nhà trọ bao hàm hình ảnh con người bà. Địa ngục trần gian sẽ không ổn nếu như không có cai ngục, bạn sẽ không thể nào tưởng tượng ra cảnh này mà không có thứ kia. Tình trạng nhợt nhạt và phì nộn của người phụ nữ  nhỏ bé đó là sản phẩm của cuộc sống này giống như bệnh sốt truyền nhiễm là hậu quả của mùi xú uế từ một bệnh viện”. Và “Khi bà có mặt thì bức tranh ở đây hoàn tất”.

Trong đoạn miêu tả quán trọ này thì ngoài bà chủ ra ta không thấy xuất hiện thêm nhân vật nào. Mặc dù Balzac ẩn mình đi, không một lần xưng “tôi” nhưng ta vẫn có cảm giác rằng nhà văn đang hướng dẫn chúng ta tham quan nhà trọ. Sự có mặt của tác giả bộc lộ qua những lời bình luận, nhận xét rất tinh tế sát thực và rất trào phúng. Qua giọng điệu của tác giả ta biết được rất nhiều về quan trọ này, cái quán nghèo nàn, cũ rích, chủ nhân là người chẳng đáng yêu chút nào, cái nghèo lộ ra ở đồ vật, ở không khí lạnh lẽo, thiếu ánh sáng.

Quán trọ khủng kiếp là thế nhưng với chủ nhân của nó thì nó thế nào? “Đối với riêng bà, ngôi nhà màu vàng buồn tẻ tỏa mùi rỉ đồng của một quầy hàng này lại rất có thẩm mỹ. Những căn buồng như để nhốt người điên ấy thuộc về bà”. Bởi những kẻ nghèo khổ kia có thể tìm đâu thấy ở Pari, cái giá rẻ mà bà đặt ra cho họ, những thức ăn ngon, đầy đủ  và một căn phòng mà họ là những người có quyền sắp xếp, dẫu không lịch sự tiện nghi thì cũng chút ít sạch sẽ và trong lành như vậy? Tác giả vừa cho chúng ta tham quan nhà trọ, vừa đi vừa tả, vừa bình giá. Quán trọ của bà Vauquer chỉ là chỗ dung thân tạm thời cho một loại người nào đấy và thật không may cho ai vì thiếu tiền mà phải rơi vào hang này.

Quán trọ khủng khiếp ấy được điều hành bởi mụ chủ quán còn khủng khiếp hơn. Hãy lắng nghe lời chế giễu của Balzac về bà chủ quán này khi bà biết được thông tin về tài sản của lão Goriot. Khi bà Vauquer  “thấy rõ bằng con mắt chim quạ của mình” tài sản của lão thì con người  đó “thực tế là bốn mươi tám tuổi nhưng chỉ công nhận mình ba chín tuổi đã có một số ý đồ”.

Cụ thể là “bà lên giường ngủ buổi tối cứ như đang bị thiêu đốt, giống như một con gà bọc trong lá mỡ dưới làn lửa thiêu cháy, bởi lòng ham muốn rời bỏ tấm vải liệm nhà Vauquer để tái sinh thành người nhà Goriot”. Bởi bà tính sẽ làm đám cưới, bán nhà trọ đi, đưa tay cho bông hoa tư sản tinh tế đó, trở thành một bà quý tộc trong khu phố, đi quyên góp tiền cho những kẻ bần cùng nghèo khó, dự những buổi tiệc nhỏ ở nơi sang trọng. Bà tự cho rằng “mình rất xứng với người đàn ông ấy”.

Với nhân vật này Balzac tỏ rõ thái độ chế giễu, xem thường. Balzac có những nhận xét chính xác về bà. “Những kẻ vốn đầu óc con buôn chẳng làm điều gì tốt đẹp cho bạn bè người thân như trách nhiệm họ phải làm; trái lại họ giúp đỡ những người xa lạ để nhận được cái lợi là sĩ diện! Thế là thành ra “xa thương gần thường”. Bà Vauquer có được cả hai điều ấy: “ti tiện, giảo trá và khả ố”.

Quán trọ sâu hun hút tựa cái hang không đáy, chỉ có một cửa vào và cũng là cửa ra. Quán trọ đặc biệt đã đành mà chủ nhân của nó cũng dị dạng không kém: mụ Vauquer góa chồng, mập ú, tham lam vô độ. Đám khách trọ cũng lổn nhổn, mỗi người một tham vọng, một hoàn cảnh. Qua quán trọ này  ta thấy được bộ mặt của xã hội Pari. Đây là quán trọ của cuộc đời, quán trọ như thế khó lòng tồn tại: tên tù vượt ngục bị bắt, kẻ làm mật thám bị tẩy chay, lão Goriot qua đời, chàng thanh niên nghèo đánh mất lương tri.

3. Xã hội Pari với những nhân vật điển hình

Rời quán trọ ấy ta bước vào xã hội thượng lưu với những gương mặt điển hình như bà tử tước Beauseant. Đó là người đàn bà “sau khi đã ngâm nga những khúc bi thương trong suốt hai giờ đồng hồ, rồi giả bộ chết ngất rồi đòi được ngửi muối hồi sinh”.

Tiếp đến là quý ông nổi tiếng và giàu có người Bồ Đà Nha, hầu tước Auda-Pinto, thượng lưu là thế nhưng đạo đức chẳng ra gì. Qua vài lời nhận xét bằng giọng chế giễu ta rất dễ hình dung ra nhân phẩm của con người giàu có này. “Khi mà một người đàn ông không chung tình thì buộc hắn phải dùng hết lời nói dối này đến lời nói dối khác”. Khi đến báo tin cuộc hôn nhân của mình cho bà tử tước, “Ông ta vừa đáp vừa cố nhìn nàng với ánh mắt tình tứ, ánh mắt đã từng làm yên tâm nhiều phụ nữ khác”

Delphine- con gái lão Goriot- cũng được Balzac nói với giọng chế giễu. Khi nhận bảy nghìn phơ-rang từ tay Rastignac “Delphine ôm hôn chàng một cách điên dại nhưng không phải vì tình yêu”.

Delphine không nhận được chút thiện cảm nào của Balzac, ông nhận định rất chua chát về người đàn bà này. “Sau khi đã chịu đựng thú vui đồi bại của một con quỷ thực sự, một thanh niên phóng đãng, nàng muốn cảm nhận được những hương vị ngọt ngào, dạo chơi trong những vùng nở đầy hoa của tình yêu, và chắc chắn đó là một cám dỗ đối với nàng khi chiêm ngưỡng nó, lắng nghe rất lâu những tiếng run rẩy và để mặc rất lâu những vuốt ve âu yếm mà chìm đắm trong những cái hôn nồng nàn của gió. Tình yêu chân chính trả giá bằng những điều xấu xa. Bất hạnh thay điều nghịch lý này sẽ xảy ra thường xuyên chừng nào những người đàn ông không biết được bao nhiêu bông hoa bị tan nát trong tâm hồn của một người phụ nữ trẻ đẹp ngay từ đầu những lần lừa phỉnh”. Tình cảm Delphipe đối với chàng trai trẻ chỉ là một cuộc chơi, một cái gì mới lạ, nàng rất tự hào, đắc thắng về những việc làm của mình. “Nàng biết mình được yêu và chắc chắn hướng người tình theo một trò tiêu khiển đế vương của mình”.

 Vautrin không phải nhân vật chính nhưng con người không được xã hội thừa nhận này thường hay phát biểu dùm nhà văn. Thái độ chống đối xã hội của Vautrin thực ra là của Balzac. Trước hết là thái độ đối với những người phụ nữ quý tộc, Balzac mỉa mai “nếu có khi nào cậu nhìn thấy trái tim của các quý bà ở Pari, cậu sẽ thấy gã cho vay nặng lãi luôn chiếm vị trí quan trọng hơn cả tình nhân của các bà”.

Vautrin còn biết rất rõ về họ: “hôm trước thì vui sướng cực độ ở nhà một công tước phu nhân”, “sáng ngày hôm sau lại ở dưới đáy của xã hội, ở trong nhà gã buôn thương phiếu: những phụ nữ Pari là vậy. Nếu chồng họ không thể bảo trợ cho những cuộc vui xa hoa và phóng túng đó thì các bà ấy tự bán đi nhân phẩm của mình. Nếu không còn cách nào thì họ lại tìm đến những người sinh ra họ để moi tiền nhằm phục vụ cho những cuộc chơi bời tiệc tùng. Rốt cuộc họ làm tan nát trái tim những người thân yêu của họ”.

Vautrin hiểu rõ bản chất xã hội Pari này nên thách thức: “Ta thách nhà ngươi đi được hai bước ở Pari mà không gặp những kẻ mánh khóe quỷ quyệt”. Chỉ nói có thế thôi nhưng đủ cho ta biết xã hội ấy giả dối, khốc liệt như thế nào. Còn nhiều sự thật nữa được phơi bày “cứ 60 cái đám cưới đẹp đẽ diễn ra ở Pari thì có tới 47 đôi có cuộc thương lượng tiền bạc”, tình cảm vợ chồng cũng trở thành hàng hóa để đổi trao, thương lượng, những sự thật như thế được che đậy rất khéo bởi cái vẻ hào nhoáng bên ngoài.

Có nghe những lời chế giễu này của Vautrin ta mới biết xã hội ấy nó tồi tệ ra sao, thối nát đến mức nào. Sau đây là sự thật về nền chính trị Pháp “nếu luật pháp chặt chẽ thì nhân dân chẳng yêu cầu thay đổi luật liên tục như là người ta thay áo. Một người ít giúp ích cho nước Pháp nhất, lại là một kẻ được tôn trọng và ngưỡng mộ, nhưng bất quá hắn chỉ đáng được đem bày trong một cái trạm bảo dưỡng giữa đám máy móc cũ rỉ. Trong khi đó một hoàng thân bị ném đá, khạc nhổ vào mặt khi ông này có ý chê bai nhân loại và ngăn cản việc phân chia nước Pháp tại hội nghị Vienne, đáng lẽ được nhận vòng hoa thì lại bị ném vào vũng bùn. Trên toàn quốc gia, người đàn ông không còn tuyệt đối như trước nữa. Ai ít phục vụ cho nước Pháp là một biểu hiện đáng tôn trọng và luôn có được sự ngưỡng mộ, trong các trạm bảo dưỡng”. Nền chính trị tư sản qua lời Vautrin đã tự phơi bày tất cả những gì xấu xa nhất. Cả xã hội lố lăng, không phân biệt đen trắng ấy có thể tồn tại mãi ư?

Quay về quán trọ, gặp lại những con người nghèo nàn nơi đây, ta càng ghê sợ hơn khi chứng kiến một người cha kêu gào thảm thiết trong cơn hấp hối chỉ mong gặp những đứa con, nhưng chúng thì chẳng quan tâm gì, chẳng lo âu, cũng chẳng bận lòng ghé thăm. Rastignac không là con, không quan hệ máu mủ cũng cuống cuồng đến tìm gặp những đứa con để báo tin nhưng thái độ lạnh nhạt của Delphine làm chàng phải choáng. Balzac nhận xét rất mỉa mai tình cảnh đó. “Chàng thanh niên đang hoảng sợ về cái kiểu giết cha mẹ lịch lãm này”. Ở đây cũng cần hiểu là những đứa con bội bạc, tàn nhẫn không hẳn vì họ rắp tâm làm thế, mà có phần do họ bị lôi cuốn vào xã hội thượng lưu, quen với sự cưng chiều, không  quan tâm đến người khác. Chắc rằng bản thân họ cũng không nghĩ rằng mình xấu xa đến thế.

Hai cô con gái, hai chàng rể quý tộc chẳng dòm ngó gì tới đám tang, chẳng ghé vào nghĩa địa, chẳng gởi tiền mai táng, chẳng làm gì cho người cha đáng thương ấy. Người cha đã hi sinh tất cả để con mình được sung sướng. Cuối tác phẩm Balzac cho Ractignhac chế giễu hạng quý tộc ấy. “Đây là nơi an nghỉ ông Goriot, cha của bá tước Restaud và nam tước Nucingen, được chôn cất bằng tiền của hai cậu sinh viên”.

Con người của xã hội tư sản thật không làm nên điều gì có tình nghĩa, tất cả thời gian, tiền bạc của họ đều phục vụ cho thói ăn chơi phóng đãng, cho những câu chuyện tình tay ba quý tộc. Khi bà tử tước bị phụ tình thì “những nhân vật đáng kính nể của triều đình, những vị sứ thần, những ngài tỉnh trưởng, những nhận vật nổi tiếng đủ các loại, đủ loại bội tinh, huy chương, thánh giá các màu chen chúc nhau đứng vây quanh bà bá tước”,  Họ vây quanh bà chẳng phải để chia sẻ hay là điều tốt đẹp mà là để xem người phụ nữ ấy đương đầu thế nào với dị nghị của xã hội thương lưu. Mọi người muốn xem bà phản ứng thế nào. Bà tử tước muốn khóa miệng những kẻ nói xấu mình, không cho người khác đọc tâm hồn mình, bình tĩnh “ra đón những kẻ có danh hiệu là bạn bè”.

Trong xã hội ấy có cái gì là thật không, có tình cảm nào là xuất phát từ con tim không ? Tình cha con không có, tình yêu cũng chẳng chân thật, tình bạn bè cũng là sự giả tạo. Xã hội tư sản thật đáng sợ, xã hội ấy chỉ dung nạp những con người biết sống cho riêng mình, sống vì tiền, sống vì danh vọng.

III. TIỂU THUYẾT VÕ MỘNG

1. Cha của David- đã là chuyện làm ăn thì chẳng có bố con gì hết

 

Tiểu thuyết “Vỡ mộng” gồm ba phần, nội dung truyện phát triển trên hai tuyến: tuyến thứ nhất xoay quanh nhân vật chính thứ nhất là David, con một công nhân nhà in trở thành chủ xưởng in; tuyến thứ hai quan trọng hơn xoay quanh nhân vật Lucien, người có tài văn thơ và nhiều tham vọng giàu sang phú quý, nhưng kết cục bi thảm: bán linh hồn cho Vautrin. Nhân câu chuyện đó, Balzac vẽ nên sắc nét vô cùng một số nhân vật điển hình của xã hội tư sản: như lão Nicolas Sechard. Một gã tư sản hãnh tiến, nguyên là công nhân nhà in lợi dụng cách mạng mà trở thành chủ xưởng và làm giàu. “Cái ngày mà lão thợ in thoáng thấy mình có cơ làm giàu, thì mối lợi đã gây cho lão một ý thức cụ thể về tình cảnh của mình, một ý thức tham lam, đa nghi và thấu suốt”.

Lão ta trở nên tham lam, tàn ác, thậm chí bóc lột không thương tiếc đứa con trai duy nhất. Lão đối xử với nó rất nghiêm khắc nhằm kéo dài thời gian sử dụng cái quyền làm cha của lão. Vì vậy “những ngày nghỉ, lão bắt con học sắp chữ và bảo  nó phải học kiếm kế sinh nhai hòng một ngày kia báo hiếu ông bố khốn khổ đã vãi mồ hôi nước mắt để nuôi nó”.

Thô bạo hơn nữa là nếu trước kia lão còn thấy David là con một của lão thì sau này lão chỉ thấy nó là một khách mua hàng tự nhiên mà quyền lợi đối lập với quyền lợi của lão: lão thì muốn bán đắt mà David tất phải mua rẻ, vậy con trai trở thành một địch thủ mà lão phải đánh bại. “Sự biến đổi tình cảm thành quyền lợi riêng tư ấy thường thường ở những kẻ có giáo dục thì nó diễn biến từ từ, ngoắt ngéo và giả dối, nhưng ở con gấu già kia thì nó mau lẹ và thẳng thừng”. Phương châm trắng trợn của lão: “đã là chuyện làm ăn thì chẳng có bố con gì hết”

Lão già ấy có bệnh nghiện rượu, rượu thường làm cho con người mất tỉnh táo, dễ dãi. Thế mà với lão già ấy “cặp mắt nhỏ xám của lão ánh lên vẻ xảo quyệt của tính keo kiệt giết chết hết thảy trong con người lão, kể cả tình cha con, cho đến ngay trong cơn say rượu lão vẫn giữ nguyên vẹn tinh thần của nó”

Nhiều lần ta bắt gặp giọng châm biếm, chế giễu mà Balzac dành cho con người tư sản này. “Gian buồng chỉ quét nguyên một thứ nước vôi trắng để lộ ra cái vẻ đơn bạc trắng trợn của tính keo kiệt của con buôn”, hay những câu như “từ chiếc khung nhỏ in một bát chữ, những mảnh gỗ để tháo chữ, những cái chậu, hòn đá và những bàn chải để cọ, nhất nhất đều được kê giá theo cách chi li của một gã keo kiệt”

Với con người tư sản, Balzac không xa lạ, không ngạc nhiên với những bài tính nhỏ nhặt li ti dù chỉ để tiết kiệm thêm một tí của nào của họ. Đặc sắc nhất là Balzac phát ngôn dùm, biện hộ dùm họ lí do của tính keo kiệt ấy bằng câu nói hết sức trào phúng. “Những con người rộng lượng là những thương nhân tồi”. Vậy ai muốn thành người thành đạt trong kinh doanh thì đừng bao giờ rộng lượng.

Một điểm gặp gỡ giữa lão Grandet và lão Nicolas là nơi ở. Những con người giàu có ấy chỉ thích ở những nơi thật khiêm tốn, nếu không muốn nói là tồi tàn, dơ bẩn. Bởi chẳng bao giờ họ phí tiền cho việc sửa chữa nơi ở “bề ngoài ngôi nhà của Séchard ăn khớp với vẻ keo kiệt cáu bẩn ở bên trong, mà con gấu già chẳng bao giờ sửa sang gì hết”.

Con người tư sản có những suy nghĩ thật khác với đạo đức của con người thường. Balzac mỉa mai những suy nghĩ toan tính ấy “lão già lấy làm khoái trá đã đặt con vào một tình huống khiến lão ta chẳng cần cho con cái gì mà vẫn tỏ ra hết lòng là cha”. Cho nên David chỉ được cha đồng ý về việc hôn nhân và “được phép” bỏ tiền túi ra xây dựng tất cả mọi thứ cần thiết trong ngôi nhà của cha. Con gấu già, kiểu mẫu của những ông bố bảo thủ, gia ơn cho con là “không đòi tiền nhà và không đoạt lấy số tiền mà hắn đã dại dột để cha biết”. Đồng tiền quả thật có sức mạnh ghê gớm, tình cha con trở nên tàn lụi vì nó và tình cha con bỗng trở nên cao thượng khi cha không cướp lấy tiền của con. Sự cao thượng khủng khiếp chỉ xảy ra trong quan hệ tư bản.

2. Giới quý tộc địa phương – già nua, bảo thủ, thối tha, dốt nát

 

Tiểu thuyết của Balzac đạt đến mức cao nhất về nhân vật điển hình. Balzac hơn ai hết có ý thức đầy đủ về điều này khi ông nhận định mỗi thế hệ xã hội gồm chừng ba bốn nghìn nhân vật tiêu biểu, và ông muốn vẽ lên từng ấy nhân vật trong “Tấn trò đời” của mình. Thế mà chỉ riêng tiểu thuyết “Vỡ mộng” đã có đến hằng trăm nhân vật đủ kích cỡ, đủ loại, phong phú vô cùng. Mỗi loại người có hằng loạt cá tính khác nhau thể hiện sinh động những nét chung nhất của một thế giới, một tầng lớp xã hội nhất định.

Về xã hội thượng lưu ở Angulem, người được nói đến đầu tiên chắc hẳn là bà chúa của xứ này: bà Bargeton. Balzac nói về những con người quý tộc ấy với giọng điệu mỉa mai, châm biếm hết sức rõ ràng. “Trong cái xó tỉnh nhỏ này bà Bargeton có sở thích về âm nhạc và văn học cũng là do những trường hợp khá hiếm có”

Người đàn bà quý tộc ấy được Balzac miêu tả như sau: “Cô ta có cái vẻ ngông nghênh thoạt nhìn thì tưởng độc đáo, những nó chỉ thích hợp với những người đàn bà sống cuộc đời phóng đãng”.

Người phụ nữ ấy lại là người thầy đầu đời của Lucien, giúp anh định hướng cho con đường danh vọng của mình bằng những triết lí hết sức sa đọa. Cứ như bà thì “những bậc thiên tài chẳng có anh, có chị. Có cha, có mẹ: vì phải xây dựng sự nghiệp lớn, họ bắt buộc phải ra mặt ích kĩ, họ phải hi sinh tất cả vì tiếng tăm của họ. Nếu gia đình lúc đầu có phải chiụ mọi thiệt hại, tốn kém cho một khối óc kì vĩ thì sau này khi chia chiến quả, nó sẽ thu hoạch gấp trăm lần giá trị của những hi sinh đủ loại cần thiết cho những cuộc chiến đấu ban đầu của bậc bá vương vì bị trở ngại. Bậc thiên tài chỉ phụ trách với bản thân mình, nó tự quyết định lấy thủ đoạn của nó vì chỉ một mình nó nhận rõ cứu cánh, do đó nó phải đứng trên luật pháp mà nó có sứ mệnh cải tạo, mà chẳng kẻ nào định làm chủ thời đại mình thì có thể chiếm đọat tất, hi sinh tất, vì tất cả thuộc về nó”. Những lời bà chỉ dạy thật khó lòng thực hiện ở một con người lương thiện. Nhưng qua lời dạy của bà ta thấy đó là lời chế giễu xã hội của Balzac, xã hội mà đồng tiền là tối thượng, danh vọng là nấc thang mà nghìn con người mơ ước đặt chân đến thì phải có những triết lí như bà Bargeton mới sống được, tồn tại được trong xã hội ấy.

Bargeton còn là một người đàn bà khoác lác, “bà ta phóng đại giá trị của bản thân. Trong con mắt của mình, bà là một bà chúa, một Beatorix, một Loro. Như ở thời trung cổ, bà tọa ngự dưới chiếc tán của cuộc tỉ thí văn chương và Lucien phải dành nhiều chiến thắng mới xứng đáng với bà, hắn phải làm u mờ cậu bé trác việt”. Hơn thế nữa, qua bà, Balzac còn nêu ra những thói xấu của phụ nữ tỉnh nhỏ. “Cũng như nhiều phụ nữ tỉnh nhỏ muốn buộc người ta phải mua thân mình bằng một thứ phục tùng nô lệ, bằng một thời gian kiên trì khiến bà đánh giá được lòng bạn”

Trào phúng nhất có lẽ là khi bà giới thiệu với Lucien về Pari. Nơi mà hai người dự định đến và xây hạnh phúc cho riêng mình, thoát khỏi búa rìu dư luận của tỉnh nhỏ. “Tôi sẽ đón mình lên xe và chẳng mấy chốc chúng mình sẽ tới Pari. Ở đó mới là nơi sống của những người siêu việt. Người ta chỉ sống thoải mái giữa những người bằng vai phải lứa, ở bất cứ nơi nào khác cũng rất khổ. Vả lại, Pari thủ đô của xã hội trí thức, là đất cho mình dụng võ, mình hãy mau mà vượt khoảng cách giữa  nó với mình. Đừng để cho tư tưởng của mình cùn đi ở tỉnh nhỏ, nên sớm giao thiệp với những bậc vĩ nhân tiêu biểu cho thế kỉ XIX. Hãy gần gũi triều đình và nơi quyền thế. Danh dự và vinh quang chẳng tìm đến tài năng cam chịu héo hon đi ở một thị trấn nhỏ. Và mình cứ thử kế xem có bao nhiêu sự nghiệp vẻ vang xây dựng nên ở tình nhỏ!”

Bà giới thiệu thật hồ hởi những điều Pari sẽ đem đến cho tài năng trẻ. “Mình chẳng thể ngờ hết điều lợi ích cho một tài năng trẻ được xã hội thượng lưu đưa ra ánh sáng”. Qua đó cho thấy bà thật chẳng biết gì về chính cái xã hội mà mình đang sống, bà cũng chỉ thấy cái hòa nhoáng bên ngoài mà chưa hiểu gì về luật lệ bên trong xã hội ấy. Thế nên bà có những suy nghĩ thật ngây thơ. “Mình đẹp trai, trẻ, có thiên tài mà chẳng làm cho họ chú ý có phải là vụng lắm sao. Những bậc tài năng lớn họ chẳng nhỏ nhen, họ sẽ ủng họ mình. Khi người ta biết mình có địa vị cao thì mình sẽ có giá trị lớn. Đối với các nghệ sĩ vấn đề chủ yếu cần giải quyết là làm mọi người chú ý”. Lời nhân định ấy cho thấy giới nghệ sĩ cũng chỉ là bọn chạy theo danh vọng, thích ồn ào hư danh, chứ chẳng kể gì về tài năng chân chính. Khi lên đến Pari thì bà sáng mắt ra, và hiểu mình không thể chôn cuộc đời vàng son của một quý bà cùng một tình yêu lãng mạn, thế là bà bỏ rơi Lucien.

Cũng cần nói sơ về cha bà, ông ta thật không thua kém gì cha của David. “Ông ta có thể gán tất cả sách tủ con gái để chữa một con bò ốm, là vì ông ta keo kiệt đến mức chẳng cho con gái qua hai đồng trích từ số lợi tức mà cô ta có quyền hưởng, dù chỉ để mua vài thứ vặt vãnh cần thiết nhất cho sự giáo dục của cô”. Đến khi lão tự thấy không đủ sức để chịu đựng cuộc đấu tranh sắp nổ ra giữ tính keo kiệt của lão với tính độc lập của cô con gái vô công rỗi nghề thì lão tính chuyện gã chồng cho con.

Như nhiều ông bố khác, lão định cho con gái lấy chồng “chẳng phải vì con mà cốt để cho mình được yên thân”. Ông muốn tìm cho con một tay quý tộc nào kém phần linh lợi, chẳng biết thưa kiện gì về việc tính toán tài sản trả con gái do ông bảo trợ, khá đần độn và nhu nhược để cho Nait dễ hoành hành, ít hám lợi để lấy vợ không hồi môn. Một anh chàng như thế “quả là một con phượng hoàng trong các chàng rể”.

Ông đã được thỏa nguyện khi tìm được con phượng hoàng ấy. Ông Bergeton, bốn mươi tuổi, “là người đã suy nhược vì những chuyện trai gái phóng đãng lúc thanh nên, và có tiếng là đầu óc đần độn, là thượng lưu, nhưng ông lại còn đủ lương tri để quản lí tài sản của ông và khá đủ tư cách để sống giữa xã hội thượng lưu  Angulem mà không phạm điều gì thất thố vụng về”.

Trớ trêu và mỉa mai ở chỗ, cả ông bố vợ và chàng rể phượng hoàng đều có những tính toán riêng tư. “Ông Bergeton tưởng vớ được một cuộc hôn nhân bở khi tính rằng bố vợ chẳng bao lâu sẽ để lại cho ngôi đất mà ông sẽ nâng niu góp vào của mình cho tròn: nhưng chính lúc đó ông Negroonitxo lại tỏ ra là người sẽ phải viết mộ chí cho chàng rể”

Người đàn bà thượng lưu ấy lấy phải ông chồng hầu như không xứng với tài trí của mình. Balzac miêu tả ông. “Nhà quý tộc này thuộc vào hạng những đầu óc nhỏ, im lặng xếp vào giữa trình độ bất tài, vô thưởng vô phạt tuy nhiên còn  có phần hiểu biết với thói ngu xuẩn kiêu căng chẳng muốn tiếp thu cái gì mà cũng chẳng phát biểu cái gì. Thấu hiểu nhiệm vụ của mình đối với xã hội thượng lưu và cố gắng làm đẹp lòng người, ông ta lấy nụ cười của kẻ khiêu vũ làm ngôn ngữ duy nhất. Dù hài lòng hay bất mãn ông cũng mỉm cười. Nhận một tin nguy khốn ông ta cũng mỉm cười như khi báo một tin vui mừng”. Và “nếu phải tán thành trực tiếp thì ông dằn mạnh nụ cười bằng một cái cười chiều lòng  và cùng đến mới thốt ra một lời”, “khi đó bắt buộc ông ta phải moi ra một cái gì trong cái trống rỗng mênh mang của đầu óc ông”.

Cần nhắc đến một nhân vật nữa trong xã hội này, tên Satole. “Y tự phục là có tài ngoại giao, môn khoa học của những kẻ chẳng có chút khoa học và sâu sắc ở chỗ rỗng tuyếch”, và  “Y dạo phong cầm làm cho bọn dốt nhạc phục lăn”

Đoạn sau này mới thật đặc sắc. Một xã hội quý tộc ở tỉnh nhỏ, màu mè, nhố nhăng lần lượt xuất hiện. Balzac mặc sức miêu tả, mặc sức châm biếm. Bà De Sangdua và chồng, “hai nhân vật kì dị mà người nào không am hiểu tình trạng trong tỉnh dễ xem như một trò ngông”. Bởi lẽ  “trang phục của ông có vẻ quá quắt khiến ông giống hệt những tranh bỉếm họa mà khách trông thấy không khỏi mỉm cười”, còn bà vợ thì “nói oang oang, vênh váo với cái đầu mùa hạ cắm đầy lông, mùa đông đầy hoa”.

Thêm vào giới quý tộc ấy là những người như vợ chồng ông  De Xanhtot. “Được tiếng là nhà bác học hạng nhất. Hắn dốt như bò, thế mà đã viết những mục Đường và Rượu mạnh trong một bộ tự vị nông nghiệp, hai tác phẩm ăn cắp từng chi tiết ở tất cả những bài báo và những sách cũ nói về hai sản phẩm đó”. Đèo thêm bà vợ là một nhân vật giống như “một cây đuôi chồn héo quắt”, tên Elida – gọi tắt Lili, nghe tên đó người ta tưởng bà có cái gì như tính trẻ con, trái hẳn thế, về tính chất và điệu bộ  bà “là một người trịnh trọng, mộ đạo, một con bạc khó tính và cay cú”.

Rồi đến là Ông Bartaxx “con người chuyên hát giọng nửa trầm, rất tự phụ về âm nhạc”. “Nghề nhạc trở thành món nghiện của hắn, hắn chỉ hoạt bát khi nào nói đến âm nhạc”. Sau khi đã róng lên một điệu, “cuộc sống của hắn bắt đầu: hắn vênh váo, hắn kiễng gót lên để nhận lời khen, hắn làm điệu khiêm tốn nhưng hắn vẫn đi hết nhóm nọ đến nhóm kia để thu lượm những lời ca tụng”.

Thêm nữa ông Alecang de Brebiang, được giới thiệu một cách trịnh trọng “tay hảo hán về tranh vẽ, nhà họa sĩ phá quấy phòng ở của bạn bè bằng những tác phẩm sống sượng và làm bẩn tất cả các tập anbum trong tỉnh”

Những quý bà cũng được miêu tả sắc nét không thua kém phái mày râu như Bà Lolot và bà Fìin. “Hai bà bó mình như những con búp bê trong những chiếc áo cắt hà tiện vải, mang trên người cả một cuộc triển lãm màu sắc kì khôi như chửi vào mắt người ta”. Trong khi đó  các ông chồng, “danh nghĩa là nghệ sĩ tự cho phép mình có thói bừa bãi tỉnh nhỏ, trông họ đến kì quặc. Áo của họ nhàu nát khiến cho họ có vẻ tay diễn viên phụ ở những rạp hát nhỏ đóng vai thượng khách dự tiệc cưới”.

Bao nhiêu chưa đủ làm nên bộ mặt của giới thượng lưu, cần thêm nữa bá tước De Xenongo, gọi một cách quý phái là Giác, “một tay săn bắn cừ khôi, ngạo nghệ, khô khan, mặt rám nắng, dịu dàng như con lợn lòi, đa nghi như người Moow”, đi cùng người vợ “cao lớn, đẹp nhưng mặt bị sần da cam”, và “vóc người mảnh dẻ, thân hình cân đối một cách thanh nhã khiến cho bà có dáng điệu lả lươt ra vẻ màu mè, nhưng nó để bộc lộ dục tình và những thói ưỡn ẹo luôn luôn được thỏa mãn của một người được yêu”

Nhân vật nữa bổ sung trọn vẹn cho giới quý tộc tỉnh nhỏ. Ông Due Hotoa. “Một chàng công tử kiểu cách mà thói chăm sóc bản thân đã trở thành tính ủy mị và tính trẻ con”

Trong xã hội ấy, người phụ nữ được ưu ái rất nhiều, nhất là những lỗi lầm mà họ gây ra. Balzac lập luận một cách trào phúng về họ. “Các bà trong xã hội thượng lưu có cái tài kì diệu làm nhẹ lỗi của họ bằng cách đem nó ra mà nói pha. Các bà có thể và biết cách xí xóa hết thảy bằng một nụ cười, bằng một câu hỏi làm ra vẻ ngạc nhiên. Các bà chẳng nhớ gì hết, các bà giải thích được hết, các bà lấy làm lạ, các bà hỏi, các bà bình luận, các bà xé nó ra to, các bà gây chuyện và cuối cùng xóa bỏ hết mọi lỗi lầm của mình như người ta tẩy một vết ố bằng một ít xà phòng: bạn biết họ nhơ bẩn đấy, chỉ một lát họ hóa trắng tinh và vô tội. Còn bạn thì thấy mình rất hế hả vì không phạm tội lỗi nào là không tha thứ được”.

Xã hội quý tộc địa phương ở Angulem già nua, bảo thủ kiết xác mà cũng thối tha, dốt nát, khăng khăng đóng cửa và kình địch với giai cấp tư sản hãnh tiến nắm mọi nguồn lợi kinh tế trong tay. Cái xã hội đó đã được Balzac vẽ lên một cách mỉa mai với một loạt nhân vật nhiều vẻ, xuất hiện lần lượt. Kể từ bà chúa của nó bà Bargeton, kiêu kì, sính văn chương sống bên cạnh lão chồng già ngu đần, chỉ biết ăn ngon và phục tùng vợ như một con chó ngoan; rồi đến những cặp vợ chồng như De Sangdua ngông nghênh, bảnh chọe; như ông De Xanhtot dốt như bò mà muốn lên mặt bác học với bà vợ mộ đạo mà cờ bạc cay cú; hay như gia đình tay ba rất chuẩn mực của bá tước De Xenongxo chuyên đi săn để vợ là Zephirin đỏng đảnh, màu mè sống cùng ông bạn chí thiết của họ- nhà ngoại giao ẻo lả Duy Hotoa (gọi là Frangi)……Chính xã hội đó, chẳng kể tài năng, họ hết sức bất bình trước việc bà chúa của họ hạ mình yêu Lucien con nhà tiểu tư sản nghèo.

Con người sống trong xã hội ấy chưa chắc đã hạnh phúc, bởi những soi mói, canh me thật chẳng ra làm sao. Lucien và bà Bargeton “mới chỉ mắc tội hôn hít vài cái họ đã bị thiên hạ kết án là đã phạm vào cái hạnh phúc tội lỗi nhất”. Balzac phê phán  “Trong những cái kì khôi của xã hội, bạn có nhận thấy những phê phán ỡm ờ và những yêu sách điên rồ của nó không? Có những kẻ làm gì cũng được: họ có thể làm những chuyện phi lí nhất, cái gì ở họ cũng là thích đáng cả: thôi thì ai cũng ca tụng hành động của họ, nhưng có những người mà thiên hạ nghiêm khắc quá quắt với họ: họ làm cái gì cũng phải thật tốt, không có nhầm lẫn, sai sót bao giờ, cả đến thốt ra một điều ngốc nghếch, họ dường như những pho tượng mà người ta hạ ngay khỏi bệ nếu mùa đông làm chúng rụng mất một ngón ta hay sứt cái mũi, người ta không cho phép họ có cái gì là con người, mà bao giờ cũng phải hoàn hảo như thần thánh. Bà Bergeton chỉ liếc nhìn Lucien một cái mà người ta đa coi ngang mười hai năm dan díu giữa Zizin và Frangi”

Đặc sắc hơn khi ở tỉnh nhỏ, một chuyện như vậy trở nên nghiêm trọng vì “cái cách nó được kể lại”. Chẳng mấy lúc mà ai cũng biết người ta biết được Lucien ngã đầu vào gối Nait. Ông De Sangdua, hả dạ vì câu chuyện đó “làm ông trở nên quan trọng, bắt đầu kế lại biến cố to lớn đối với nhóm mình, rồi ông đi kể từng nhà”. “Hắn càng cường điệu từng chi tiết, tự thấy mình hớm hỉnh càng thêm thắt vào câu chuyện”.

Tối đến thiên hạ ùa tới nhà Emii. “Cứ vào buổi tối là những lời đồn đại ngoa ngoắt nhất truyền đi trong xã hội quý tộc Anggulem”. Họ phản đối đôi tình nhân ấy vì họ làm chuyện trái lẽ  hay vì ghanh với hạnh phúc của họ. Đám phụ nữ giấu mặt để la ó mạnh nhất về câu chuyện đồi bại là Ameli, Zephin, Fifin, Lolot “cả bọn ít nhiều đều vướng chuyện yêu đương bất hợp pháp”

Điều đáng chú ý là bọn người giàu có kia, kiểu cách kia không tha thiết lắm với cái gọi là trí tuệ. “Cái cảm quan cần thiết để hiểu thơ rất hiếm ở nước Pháp, ở đây trí tệ sớm là khô kiệt nguồn lệ thiêng của hứng khởi, ở đây chẳng ai chịu khó tìm hiểu, khơi sâu cái trác tuyệt để cảm thấu được cái vô cùng của nó. Lucien sắp kinh qua lần đầu tiên cái dốt nát và lạnh lùng của giới thượng lưu”.

Tài năng của Lucien là có thật, tiếc là không có đất để sử dụng. Trong nỗi ê chề của chàng thi sĩ, có sự nhạo báng xã hội của Balzac, một lũ ngu dốt. “Trong lúc đọc, Lucien cảm thấy nỗi khổ tâm ghê gớm mà chỉ có những nghệ sĩ ưu tú hay những người nhiệt tình mà trí thông minh cao ngang họ mới hiểu được. Muốn cho thơ diễn tả được bằng tiếng nói, cũng như lĩnh hội được sâu sắc, cần phải có sự thành tâm chú ý. Giữa người đọc và người nghe phải có mối giao tâm mật thiết nếu không thì những luồng điện giao cảm chẳng thể có được. Sự gắn bó về tâm hồn đó mà thiếu thì nhà thơ giống như một thiên thần muốn xướng bản thánh ca giữa những âm thanh nhạo báng của âm ti. Thế mà trên miếng đất dụng võ của họ, những bậc tài trí có cái nhìn bao quanh của con ốc sên, cái mũi thính của con chó và cái tai của con chuột chũi”.

Tất nhiên những người hiểu thơ thì tìm cách phát triển trong tâm hồn họ những điều mà tác giả mới làm nảy mâm trong thơ, còn những thính giả nguội lạnh kia thì không những không hưởng ứng tâm hồn thi sĩ, mà ngay đến giọng hắn cũng chẳng buồn nghe.

IV. KẾT LUẬN

 Bức tranh mà các tác phẩm trên trình bày quả thật là đen tối, ảm đạm nhưng đó lại là thực chất của xã hội quý tộc và tư sản đương thời. Tính phê phán của tác phẩm vì thế đạt đến mức ác liệt chưa từng thấy. Balzac đã quất vào tận mặt xã hội tư sản, quý tộc ở những điểm nhạy cảm nhất như văn học nghệ thuật, chính trị, nhất là báo chí. Tác phẩm của ông khi ra đời đã gây nên một mối căm hờn của giai cấp thống trị và bọn phê bình tư sản. Balzac đã dự đoán được sự phản ứng ghê gớm đó. Nên ông đã đề tặng tác phẩm cho Hugo muốn nhờ uy tín của ông để đối phó tất cả bọn bồi bút của giai cấp thống trị đương thời.

Vậy ở giọng văn châm biếm, chế giễu, ta thấy nhà văn  đứng cao hơn những con người trong xã hội thối nát đó, nhân cách nhà văn cao cả hơn, vạch mặt chúng, khinh bỉ chúng, xem chúng như “con vật”.

CHƯƠNG NĂM: GIỌNG TRỮ TÌNH LÃNG MẠN THẮM THIẾT TÌNH NGƯỜI CỦA NGHỆ SĨ BALZAC

 I. TIỂU THUYẾT EUGENIE GRANDET

 “Eugenie Grandet” không chỉ mang ý nghĩa tố cáo, phê phán, “Eugenie Grandet” còn có phần biểu dương ca ngợi. Đối lập với sự dối trá, tàn nhẫn của Grandet và Charles, Balzac làm nổi bật lên hình ảnh 3 người phụ nữ trong sáng: Eugenie thủy chung, kiêu hãnh, khoan dung; bà Grandet giàu tình thương và đức hy sinh; mụ Nanon nhân hậu. Nếu khi xây dựng nhân vật Grandet, Charles… Balzac đi theo lối vẽ tranh biếm họa thì đến những nhân vật chính diện ông đặt lên đầu mỗi nhân vật vành hào quang của Chúa. Tiểu thuyết “Eugenie Grandet” một mặt nêu lên những số phận bi thảm, một mặt khẳng định phẩm chất cao quý thơm ngát hương sen của những con người sống trong lòng xã hội tư sản xấu xa nhưng họ “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.

Tiểu thuyết “Eugenie Grandet” còn là cuộc chia tay đầy lưu luyến của Balzac với chủ nghĩa lãng mạn, bởi thế tác phẩm khá nhiều những câu văn được tác giả nói lên bằng một giọng điệu trữ tình thắm thiết tình người. Chia sẻ cùng những người phụ nữ ấy, Balzac nói về cảnh sống thiếu thốn vật chất lẫn tinh thần của họ: “ở đây những tình cảm êm đềm của cuộc sống  giữ vai trò thứ yếu, nó chỉ bùng cháy trong ba trái tim trong trắng là tim của mụ Nanon, của Eugenie và của mẹ nàng. Trong trắng như thế một phần là nhờ tối tăm mù mịt, mẹ con Eugenie chẳng biết gì về gia tài của Grandet, họ phán đoán sự việc với thứ trí thức mập mờ của họ, họ không nâng niu, cũng không coi thường tiền bạc, vì quen sống không cần tiền bạc. Tình cảm của họ bị giày vò- mà họ không biết- nhưng lại có sức sống mãnh liệt, lối sinh hoạt cách biệt kỳ khôi trong đám người sống hoàn toàn vật chất ấy. Số phận con người quả thật là khốn nạn! Không có thứ hạnh phúc nào không đổi bằng một thứ mù mịt nào đó!”. Những lời văn chất chứa một sự cảm thông, gợi cho người đọc cảm giác như muốn chia sẻ nỗi lòng cùng những con người nhỏ bé đang sống lay lắt trong cảnh buồn thảm.

1. Eugenie Grandet – đứa con tinh thần yêu mến nhất của Balzac

Ở đây mọi việc xảy ra đều bình thường, đến mức tầm thường. Theo Balzac, “Eugenie Grandet” đánh dấu cuộc cách mạng của ông trong tiểu thuyết, mở đầu một giai đoạn sáng tác mới của ông. Đó là sự phát hiện và thể hiện cái bi kịch chứa đựng trong những trường hợp bình thường nhất của cuộc đời tư. “Trong cuộc đời trong trắng và tẻ nhạt của các cô thiếu nữ, bỗng xảy đến cái giờ phút kỳ diệu mà cõi lòng bừng đón ánh sáng mặt trời và tiếp nhận nỗi niềm tỉ tê của hoa lá. Lúc ấy sự sống dạt dào và nóng hổi từ con tim phập phồng dâng lên trí óc và làm mọi ý nghĩ hòa tan thành một niềm khát khao mơ hồ. Cái giờ phút ấy là giờ phút bâng khuâng vô tội và thích thú trâm trầm: khi đứa trẻ bắt đầu nhìn thấy sự vật thì nó mỉm cười như hồi thơ ấu. Nếu ánh sáng là tình yêu thứ nhất trong đời người, thì tình yêu không phải là ánh sáng trong lòng người sao?”

Là một nhà văn quá độ giữa lãng mạn và hiện thực, là người đặt nền móng cho chủ nghĩa hiện thực phê phán, Balzac chưa thể ngay một lúc rời xa chủ nghĩa lãng mạn. Với cô Eugenie, Balzac trả nợ chủ nghĩa lãng mạn từng góp sữa nuôi mình khôn lớn.

Ngòi bút của Balzac quả đã tập trung rất nhiều vào phẩm chất thiên thần của Eugenie. “Cảnh vật tuy tầm thường quen thuộc, nhưng hôm nay lại có những vẻ đẹp mới lạ dưới con mắt của Eugenie. Trăm thứ mơ tưởng mơ hồ lại hiện lên trong trí nàng và nẩy nở theo với ánh nắng. Tóm lại, nàng cảm thấy có một niềm khoái cảm lờ mờ, khó hiểu, bao trùm tâm hồn tựa như một đám mây mờ bao quanh cơ thể. Ý nghĩ miên man của nàng hòa hợp với các chi tiết trong khung cảnh riêng biệt, khúc nhạc lòng hòa điệu với bài ca nhịp nhàng của thiên nhiên”.

Cô gái tỉnh lẻ đang say trong giấc mơ hồng của mối tình đầu tiên. “Mỗi chiếc lá lìa cành rơi sột soạt trên sân nhập âm vang là một tiếng đáp cho những câu hỏi thầm của cô thiếu nữ. Nàng có thể ngồi đấy cả ngày mà vẫn không thấy thời gian trôi qua. Thế rồi tâm hồn nàng xao xuyến. Cứ giây lát nàng lại đứng lên, đến trước gương để soi mặt, giống như một tác giả có thiện chí soát lại tác phẩm của mình để tự chỉ trích phê bình”. Đôi khi nàng tự đánh giá mình với những suy nghĩ khiếm tốn, Eugenie tự bảo: “Ta không đẹp, không xứng với chàng!”. Balzac bênh vực cho người con gái ấy rằng không phải cô chẳng đẹp mà đó chỉ là “Tư tưởng tự ti, mẹ đẻ của những giày vò!”. Balzac nhấn mạnh thêm lần nữa  cái đẹp trong tâm hồn nàng “Tội nghiệp! nàng không biết tự đánh giá mình, nhưng tính khiêm tốn, hơn nữa tính sợ sệt vẫn là một đức tính lớn trong tình yêu”

Eugenie nhận được một tình cảm trìu mến từ Balzac. Qua một giọng điệu nhẹ nhàng, êm thắm Balzac như một nhà văn lãng mạn miêu tả cô. “Nàng có một thứ sắc đẹp rất dễ nhận thấy, một thứ sắc đẹp chỉ có người nghệ sĩ là say mê. Nhà họa sĩ đi tìm con người mẫu trên đời này để vẽ bà Mari trong trắng thiêng liêng, con người mẫu có đôi mắt vừa khiêm tốn vừa tự hào, mà Raphaen đã đoán thấy, với những đường nét do trời sinh và người duy trì nhờ nếp sống kính tin và trong sạch, người hoạ sĩ khát khao người mẫu hiếm có ấy giá gặp Eugenie sẽ thấy ngay trên khuôn mặt nàng cái vẻ cao quý bẩm sinh mà tự nàng không biết; họa sĩ sẽ nhìn thấy dưới vừng trán phẳng lặng cả một đại dương tình cảm, và trong đáy mắt qua hàng mi, ngùn ngụt một vẻ cao cả thần tiên. Vẻ mặt và đường nét chưa hề bị những cuộc truy hoan hủy phá, nổi bật lên êm đềm như chân trời xa trên mặt nước hồ yên tĩnh. Cái dung nhan điềm đạm, mặn mà, viền sáng như đóa hoa xinh vừa nở ấy bắt buộc người ta phải ngắm nhìn, khiến người ta thư thái và truyền cho người ta cái duyên kín đáo của tâm hồn ánh lên trên đó. Eugenie hãy còn ở trên bờ của cuộc đời, nơi những ảo tưởng của tuổi xanh đâm chồi nảy lộc, nơi người ta nhắt cánh hoa macrorit để bói chuyện tình duyên với niềm khoái cảm không bao giờ tìm thấy về sau”

Eugenie là một cô gái biết yêu và rất mực thủy chung trong tình yêu, cô gái thánh thiện ấy chỉ yêu một lần trong đời, lần đầu và cũng là lần cuối. Balzac luôn đứng về  nhân vật chính diện, bào chữa cho họ bằng những lời thắm thiết tình thương. “Ngây thơ và trung thực, nàng nhắm mắt đi theo thiêng tính trong trắng của mình, không mảy may đề phòng các thứ cảm giác và tình cảm tự phát”

Ở tiểu thuyết này, bi kịch diễn ra ngay ở những cái tầm thường, những cảnh hằng ngày của đời sống tư sản. Tình yêu đến đột ngột, rực rỡ, chấm dứt quãng đời mù mịt và bình thản của nàng. Balzac âu yếm theo dõi và miêu tả mối tình trong trắng ấy với tất cả những diễn biến tế nhị của nó. Vừa chớm nở tình yêu vấp phải trở lực lớn. “Những mơ ước xa xôi vừa nhú lên trong lòng nàng chợt nở cánh thành hình trong một phút, như một chùm hoa đẹp, lại chợt bị cắt ngang vung vãi xuống đất”. Sự ngăn cách không phải từ phía gia đình hay tôn giáo, mà mối tình ấy đụng phải thói keo kiệt của người bố. Làm sao để người yêu được thoải mái trong gia đình khi mà hằng ngày bố phát từng miếng bánh, đếm từng viên đường, mà chế độ ấy không tăng cũng không giảm dù nhà có thêm người, thà rằng lão già ấy nhịn chứ không tăng thêm một viên đường nào. Hạnh phúc nhỏ bé không được đồng tiền tư sản ủng hộ. Eugenie luôn phải thấp thởm vì những thứ vặt vãnh.

Trước cảnh đau lòng của người em họ, cô gái giàu tình thương ấy sẵn sàng an ủi, chia sẻ với tình thương chân thành nhất. Tình cảm ấy vốn có và tràn ngập trong trái tim yêu thương của người con gái hiền lành nhân hậu. “Niềm đau thương bộc lộ thành thật, sôi nổi, không tính toán, không dụng ý, làm cho người ta vừa thương tâm, vừa trìu mến”. Nghĩ thế nên “điều ao ước đầu tiên của người thiếu nữ đáng yêu ấy là được chia sẻ cảnh tang tóc của cậu em họ”

Tuy sống eo hẹp trong tay một ông bố keo kiệt, sống giữa một xã hội chỉ quen lấy tiền làm bửu bối. Eugenie vẫn giữ cho mình lối sống đầy phẩm hạnh. Cô là một con người trong sáng và chân thành, đặt tình người lên mọi thứ. Đời sống của nàng trước đây càng yên tĩnh bao nhiêu thì bây giờ cái tính thương người của nữ giới càng bừng tỉnh bấy nhiêu trong lòng nàng, “mà lòng thương người thì thường có sức sáng tạo ghê gớm”. Chắc hẳn vì “lòng nhân ái là một trong những ưu thế quý báo nhất của người đàn bà”

Say sưa vun đắp cho mối tình ngọt ngào ấy, Eugenie chẳng chú ý gì đến xung quanh. Lặng lẽ quan sát diễn biến mối tình đầu của cô thiếu nữ tỉnh lẻ Balzac chia sẻ cùng họ. “ Cái thang hễ động đến là kêu răng rắc, cái thang gác ấy hôm nay Eugenie lên xuống không ngớt và thấy nó mất hết cái già cỗi ngày trước. Nó trở nên rực rỡ ánh sáng, nó như biết nói, nó cũng trẻ trung như nàng, như mối tình đầu của nàng, nó phục vụ mối tình ấy”

Không chủ trương cải tạo xã hội bằng tình thương, bản thân đang muốn bước sang hàng ngũ của những nhà văn hiện thực. Nhưng thật sự không thể một lời mà Balzac từ bỏ ngay được chủ nghĩa lãng mạn. Trong “Eugenie Granndet” ta bắt gặp nhiều lần sự lưỡng lự của Balzac khi nhìn nhận sự việc ở góc độ tình cảm. “Sự khốn khổ san bằng mọi đẳng cấp. Người đàn bà giống như thiên thần ở chỗ cảm thông với những đau khổ của con người”

Tình yêu luôn có cái ý vị và ngọt ngào riêng. Balzac như lờ đi để nhân vật tận hưởng niềm hân hoan ấy. “Một luồng nhiệt khí bốc lên trong người làm tăng cái ý vị say sưa của mối tình đầu”. Với một cô gái như Eugenie thì tình yêu còn mang một hương sắc khó tả. “Những thiếu nữ được nuôi dạy trong đạo Chúa, khờ khạo, trong trắng, khi họ bước chân vào thế giới yêu đương kỳ ảo thì cái gì họ cũng thấy là đáng yêu cả. Tâm hồn họ tỏa một thứ ánh sáng thần kỳ và họ đi lại trong ánh sáng ấy”

Tình yêu luôn đi đôi với sự mù quáng và cả tin. Balzac thì không muốn nhìn nhận nhân vật của mình như vậy. Ông luôn đứng ra bảo vệ, bênh vực cho hành động sai lầm của họ bằng một sự cảm thông. “Hầu hết những lỗi lầm của người đàn bà đều do ở lòng tin mà ra, tin ở chữ chân, chữ thiện”. Không thể trách họ vì họ quá thánh thiện nhân hậu, có lỗi gì đâu khi hướng lòng mình vào chữ tin, chữ thiện.

Lén cha đem tặng số vàng cho Charles, Eugenie chỉ nghĩ đến hoàn cảnh khó khăn của người em họ chứ nào nghĩ đến chuyện trả vay. Trong tình cảnh đó chúng ta thấy tiền thật không là gì cả bởi Balzac đã mớm cho nhân vật một câu nói rất hay, rất tuyệt về giá trị của đồng tiền. “Nhờ có tình cảm, tiền bạc mới có chút đỉnh ý nghĩ”. Thật vậy, nhờ có tình cảm giữa những con người trao tặng cho nhau đồng tiền mới làm nên những giá trị. Hãy giữ những tình cảm chân thật cao cả để đồng tiền mãi là công cụ, là đầy tớ của con người, đừng xem tiền là mạng sống, khi ấy tiền trở thành ông chủ và con người phải phục tùng chúng một cách đáng thương và đáng khinh.

Trái tim yêu thương ngập chìm trong hạnh phúc của mối tình đẹp đẽ.“Một mùa xuân yêu thương bắt đầu với Eugenie. Từ hôm trong cảnh đêm vắng lặng, nàng trao cái túi vàng cho Charles thì nàng cũng trao luôn quả tim nàng”. Balzac như quên mất ý định là một nhà văn hiện thực. Đọc những đoạn văn sau ta sẽ hiểu vì sao có người cho rằng Eugenie là một nhân vật lãng mạn. Phải chăng vì Balzac dành cho cô quá nhiều những lời trữ tình, những câu văn bay bướm. “Thời kì bắt đầu của tình yêu há không có những nét ý nhị giống như thơi kì thơ ấu của con người sao? Không phải người ta cũng ru trẻ bằng những bài hát êm ái, những cái nhìn âu yếm sao? Người ta không kể cho trẻ nghe những chuyện huyền diệu làm ngời sáng tương lai là gì? Đối với trẻ hy vọng há không luôn luôn mở đôi cánh rực rỡ đó sao? Trẻ thì cũng khi thì khóc buồn, khi thì khóc vui. Trẻ cũng giận dỗi gây gổ vì những chuyện không đâu, vì những hòn đá cụi để xây một tòa lâu đài chông chênh, vì những chùm hoa vừa bẻ xong đã bị bỏ xó. Trẻ cũng háo hức tranh lấy thời gian, muốn chóng trưởng thành trong cuộc sống. Ái tình là sự biến đổi thứ hai trong đời ta”. Ra đời trong cảnh tang tóc, mối tình của họ lại càng thích hợp trong ngôi nhà cũ kỹ. Trao đổi một vài lời bên miệng giếng, ngoài sân vắng vẻ, ngồi cạnh nhau trên chiếc ghế phong rêu trong mảnh vườn con cho đến lúc mặt trời khuất núi, để nói với nhau những cái chả có gì mà trọng đại nhất đời.

Cuộc tình nhỏ bé ấy được bắt đầu trong ngôi nhà buồn tẻ với những lần hẹn hò vụng trộm nhưng vì thế mà nó có hương sắc riêng, nét đẹp riêng. “Cái tính chất tội lỗi, vi phạm cấm kị của những cuộc hẹn hò ấy, dù nhỏ, cũng làm cho mối tình trong sạch kia trở nên bội phần ngon lành, hấp dẫn như những quả cấm”.

Trước tình cảm ấy ta không trách cứ gì cô gái dáng thương mà càng hiểu thêm nỗi khát khao tình cảm từ con người ấy. Sống mãi trong sự hà khắc của người bố keo kiệt,  xem con gái là người giữ của cho mình chứ chưa lần nào lo lắng cho hạnh phúc của riêng con, chưa quan tâm đến những mơ ước nhỏ bé nhất của nàng, thì dẫu có bồng bột có vội vàng chạy theo tiếng gọi của con tim thì cũng không phải là điều tội lỗi. Balzac đứng bên nhân vật và luôn biện hộ cho nàng. “Ai đã có lần yêu đắm đuối mà hối hả, vì phải tính tháng tính ngày cái thời gian yêu đương, bởi lẽ tuổi tác đã cao hoặc vì ngày hợp mặt có hạn, hoặc vì bệnh tật nan y, hay là vì một vận hạn oái ăm nào, người ta sẽ hiểu nổi lòng của Eugenie. Nhiều khi nàng khóc thầm trong lúc đi dạo mảnh vườn bây giờ hóa ra quá chật hẹp, tù túng, cũng như cái sân, cái nhà, cả cái thành phố ấy: nàng để cho tâm trí nàng đi lên trước, lao vào khoảng trời biển mênh mông”.

Và tình yêu ấy chấp cánh cho con người khổ hạnh kia đi vào vùng trời mới, vùng trời tự do, không còn những lo toan về vật chất, không đắn đo sợ hãi điều gì. Tình yêu của họ thật tuyệt vời, lời nguyền của họ vì thế thiêng thiêng bội phần. “Lòng trong trắng của Eugenie đã là cho tình yêu của Charles trở nên cao thượng một lúc, cho nên trên cõi đời này dễ không có lời nguyền nào thanh khiết như lời nguyền của họ”.

Sự đời không như con người hay dự đoán. Tình yêu đẹp cần một môi trường tốt nuôi dưỡng, nhưng cô gái Eugenie trót sinh ra trong xã hội hôi tanh mùi tiền nên tình yêu của nàng dẫu đẹp muôn phần nhưng không ra khỏi móng vuốt đáng sợ của đồng tiền tư bản. Chờ đợi và hy vọng, sau bảy năm dài cái mà nàng nhận được chỉ là một một bức thư. Làm sao để nàng quên đi con người bạc bẽo ấy, làm sao để nàng đủ sức đứng lên sau cú ngã này. Balzac chứng kiến tất cả và thật quá đau lòng cho nhân vật. Ông nói lên với tất cả niềm thương, an ủi sẻ chia. “Ở hoàn cảnh nào người đàn bà cũng có lắm cớ đau khổ hơn người đàn ông và họ đau khổ hơn đàn ông bội phần. Trang tiểu sử của người đàn bà bao giờ cũng gồm mấy chữ cảm xúc, yêu thương, đau buồn và tận tụy. Eugenie là hiện thân của phụ nữ, duy thiếu nguồn an ủi mà phụ nữ thường có”. Không chỉ thế hạnh phúc của nàng, “nàng thu nhặt  như thu nhặt từng cái đanh đóng trên tường, thế mà chung quy vẫn không đầy lòng bàn tay”. Đến như chuyện buồn thì chẳng phải đợi, “với Eugenie nó tới rất nhanh”.

Cô gái tỉnh lẻ bị hút hồn bởi cái hào hoa của cậu công tử Pari, để rồi mòn mỏi đợi chờ hình bóng ấy trong bảy năm dài. Chờ mãi đến ngày hoàn toàn bị cự tuyệt, không một chút thương cảm hay day dứt. Sự đời là thế. Tình yêu thức dậy tâm hồn nàng nhưng dù nàng có đủ cản đảm vượt qua sự cản ngăn của người cha keo kiệt thì nàng cũng không thể chiến thắng cái nghiệt ngã của đồng tiền. “Trước khi Charles đến, có thể so sánh Eugenie với Đức Mẹ đồng trinh lúc chưa hoài thai; sau khi Charles đi, nàng giống Đức Mẹ đã có con: thai nhi của nàng là tình yêu”, nhưng buồn thay “tình yêu của nàng là thứ tình yêu cô đơn, thứ tình yêu chân chất, nó bền bỉ , nó len lỏi vào tất cả mọi ý nghĩ và trở thành suốt đời” .

Dành nhiều tình thương cho nhân vật chính diện, Balzac vẽ quanh họ nhiều vầng hào quang. Sau những gì bi kịch nhất ở Eugenie vẫn ngời một tấm lòng trong sáng, không toan tính, không thù hằn. “Trong tư tưởng nàng cũng như trong tư tưởng tất cả những người phụ nữ có tình có nghĩa, yêu thương là tất cả ở đời”. Khi Charler phản bội, cô nghĩ thế là hết, dù hắn có trả đủ vốn lẫn lãi thì với cô tất cả đã hết bởi đồng tiền không bù đắp được tình cảm! Tiếp đó là cuộc tình duyên với người mình không yêu, cuộc đời nàng như ngọn nến héo hắt trong ngôi nhà cũ kỹ rêu phong, lấy hoạt động từ thiện làm lẽ sống. Balzac đã viết về cô như sau: “Ở nàng có tất cả cái cao quý của sự đau khổ, cái trong sạch của con người, tuy cọ xát với đời mà tâm hồn không vấy bẩn”. Dẫu nàng có kinh doanh theo gương cha nhưng nàng không tàn nhẫn, không sống trên xương máu của người khác, nàng sống với  tấm lòng mộ đạo, con người hướng thiện. Giữa sự phá phách, đảo lộn tình đời do sức mạnh tha hóa của đồng tiền, ngọn nến Eugenie vẫn leo lét cháy trong tinh thần nhân đạo.

Eugenie quả là một nhân vật hiếm hoi trong trong xã hội tư sản, nàng sống và luôn tâm niệm một lý thuyết cao thượng. “Tâm hồn cũng hô hấp như cơ thể: mỗi tâm hồn cần hấp thụ tình cảm của một tâm hồn khác, biến nó thành tình cảm của mình để trở lại cho người ta phong phú hơn xưa. Không có sự trao đổi đẹp đẽ thường tình ấy thì quả tim không sống được. Nó sẽ thiếu không khí, quằn quại và chết mòn”.

Nhưng chẳng vì lý thuyết ấy mà nàng không biết đau khổ, đôi khi ta bắt gặp ở nàng những nỗi buồn đau thầm kín. “Eugenie bắt đầu buồn khổ. Nàng không coi sự giàu có là một uy thế, cũng không lấy đó làm một niềm an ủi. Nếu không có tình yêu, không có đạo chúa, không có đức tin ở tương lai thì nàng không thể sống. Tình yêu làm cho nàng hiểu cái vũ trụ vô thủy vô chung. Quả tim nàng cùng với quyển Kinh Thánh đã vạch cho nàng thấy hai thế giới ước ao. Ngày đêm hồn nàng vật vờ trong cõi vô tận ấy, hai nhưng đối với nàng có lẽ chỉ là một . Yêu và tin là mình được yêu, nàng thu mình vào đời sống bên trong”. Làm sao không đau đớn, một tình yêu không vụ lợi được nàng ấp ủ hơn bảy năm dài, mối tình  đẹp từ tâm hồn đến thể chất. Thế nên khi bị phụ bạc nàng tưởng như thế giới sụp đổ, nàng không chết hay đúng hơn Balzac không cho nàng chết, nàng vẫn sống dẫu trong đau khổ. “Sự tang tóc hoàn toàn và kinh khủng: con tàu chìm bặt tăm, không để lại một đoạn dây, một mảnh ván nhỏ nào trên mặt biển hy vọng mênh mông”.

 Có những người đàn bà khi bị ruồng rẫy thì chạy đến đoạt lại người yêu từ trong tay kẻ tình địch, rồi giết phăng nó rồi chạy trốn ở tận cuối chân trời hay dưới mồ. Có những người khác cúi đầu và lặng lẽ chịu đau khổ; họ sống thoi thóp, nhẫn nại, họ khóc và họ tha thứ, họ cầu nguyện và đến hơi thở cuối cũng họ vẫn không quên. Eugnie đã chọn cách sống như thế “Đó là tình yêu, tình yêu chân chất, tình yêu của thiên thần, tình yêu kiêu hãnh sống bằng đau khổ và chết vì khổ đau”. Giọng văn thật xót xa thương cảm, hẳn khi viết những dòng trữ tình này, trái tim của Balzac đã rung lên, đau cùng nỗi đau của Eugenie. Một mối tình đẹp đẽ mà không có được kết thúc mỹ mãn, sự đời mới chua chát làm sao! Người con gái ấy có lỗi gì đâu, hay lỗi lầm lớn nhất của nàng là đã được sinh ra trong xã hội ấy? Câu văn của Balzac vang lên như câu hỏi cho đời, còn có bao nhiêu người như Eugenie nữa, còn bao nhiêu cảnh trái ngang như thế nữa khi mà xã hội ấy vẫn tồn tại, những con người phản bội tàn nhẫn vẫn ung dung trên con đường làm giàu bất chính của mình sao?

Từ đó nàng lặng lẽ sống tiếp cuộc đời thầm lặng.“Eugenei chỉ muốn về chầu chúa, nàng sống mộ đạo và từ tâm trí luôn luôn nghĩ những điều thanh khiết, tay luôn luôn bí mật cứu giúp những kẻ khốn cùng”. Bàn tay nàng băng bó những vết thương kín đáo của mọi gia đình. Nàng đi lên trời cùng với cả một đoàn làm việc thiện nghĩa. “Lịch sử của nàng là lịch sử của một người đàn bà sống giữa cõi trần, không phải là người của cõi trần, có khả năng tuyệt vời để làm vợ làm mẹ nhưng lại không chồng, không con, không thân thích”.

Đó là số phận khốn khổ của Eugenie, một trong những gương mặt trong trẻo hiếm hoi của “Tấn trò đời”. Theo Banzac những con người có “cốt cách cao thượng” như mẹ con Eugenie, đôn hậu như Nanon là những ngoại lệ kì khôi. Họ bị bơ vơ lạc lõng hoặc bị nghiền nát trong cuộc giao tranh dữ dội vì quyền lợi của những cá nhân vị kỷ. “Eugenie Grandet” kết thúc không máu đổ, không chết chóc bi thảm. Tác phẩm khép lại, cuộc sống của Eugene vẫn tiếp diễn, những cái kết cục bình thường mà rất hiện thực ấy mới ảm đạm làm sao. Trong cuộc sống buồn tẻ của Eugenie có gì đó thật não lòng. Chúng ta tin rằng nàng sẽ lại lấy chồng, nhưng nàng vẫn sống cảnh “không chồng không con”. Tác phẩm khép lại những vẫn còn đó tiếng thở dài não ruột.

 2. Bà Grandet- người đàn bà khổ hạnh

 Nếu Eugene đau đớn trong mối tình tuyệt vọng, chẳng có lối thoát thì mẹ nàng có lẽ may mắn hơn. Bà đã có con đường để đi, để thoát khỏi cái thế giới giả trá và bẩn thỉu này. Bà là người hùn vốn, là vợ của kẻ giàu có nổi tiếng nhưng bà chẳng bao giờ được hưởng những cái lẽ ra của mình, bà sống trong câm lặng và chết trong sự câm lặng. Balzac thương cảm cho người phụ nữ ấy, ông viết về bà như một thiên thần sống giữa cõi trần, nhẫn nại không than vãn, cúi đầu và chấp nhận mọi thứ.

Trong buổi hoàng hôn của đời người bà thật cao đẹp, vẻ đẹp của tâm hồn làm bà tươi trẻ. Ta thấy bà có vẻ  hạnh phúc phải chăng vì bà sắp được giải thoát. “Mệnh bà mong manh như chiếc lá mùa thu chực rụng. Ánh sáng thiên đường làm cho bà rực rỡ, cũng như ánh nắng mặt trời xuyên vòm cây làm đỏ ối lá thu”, “ngọn đèn riu riu tắt bà không một tiếng kêu rên. Bà về chầu trời như con cừu non trong trắng, không luyến tiếc một cái gì ở cõi trần này, trừ người bạn đời đôn hậu Eugenie”. Bà đã đi đến một thế giới mới, đến với tự do. Chẳng biết thế giới mới ấy có tốt hơn cái thế giới đã giam hãm đời bà không? Thật lòng cầu mong rằng ở đấy bà không phải chịu nhiều sự giày vò như khi còn ở trần thế.

   3. Charles- lãng mạn, đáng yêu khi chưa sang Ấn Độ

 Sống trong tình thương và vòng tay ấm áp của những con người phúc hậu. Chàng hoàng tử chốn kinh thành rồi cũng dần nhận ra những gì khổ hạnh mà những con người nhỏ bé phải cam chịu, chợt thấy như mủi lòng cho cuộc đời mù mịt của họ. “Càng đau khổ, Charler càng cảm thấy tấm tình của họ êm ái, mặn mà và nhận ra mối thông cảm thắm thiết của đôi tâm hồn tù túng, một phen được tự do bay lượn trong bầu trời tự nhiên của họ, bầu trời khổ đau”

Tình yêu có thể thay đổi một người đàn ông không? Đây là một câu hỏi khó, tạm thời trong giây phút này câu trả lời là có, tình yêu có đủ tự tin để thay đổi Charles. “ Thỉnh thoảng cặp mắt dịu hiền và mơn trớn của người chị họ dừng lại ở chàng sáng lên trên người chàng, buộc chàng phải từ bỏ những tư tưởng u ám, để cùng nàng bay lên bầu trời của hy vọng, của tương lai”

Chàng công tử quen sống trong xa hoa và những thú vui trụy lạc được tắm mình trong mối tình trong sáng bỗng có sự thay đổi lạ thường. Chàng đã có niềm tin vào tình yêu chân thật. “Sống trong cảnh ấy Charles mới hiểu tình yêu là thiêng liêng”“chàng đang rời bỏ cái thú tình ở thành thị đàng điếm, phù hoa, hào nhoáng, để đi vào con đường tình trong lành, chân chất”.

*******

Nếu chỉ xem xét mặt phê phán của tác phẩm đối với xã hội tư sản mà xem nhẹ mặt lý tưởng nhân văn thì thật là thiếu sót. Với tài năng của mình, Balzac tạo ra cái nhìn hiện thực sắc sảo có giá trị chiến đấu cao, ông xây dựng nên những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình, nhưng cũng cho người đọc thấy được đằng sau sự phê phán dữ dội đó là một tấm lòng khoan dung nhân hậu, khẳng định con người và giá trị con người qua giọng điệu thương yêu trìu mến. Quan niệm này mang đến cho tác phẩm của ông những giá trị nhân đạo sâu sắc. Chủ nghĩa hiện thực của Bazac không dừng lại ở việc phê phán những gì chưa đạt tới của con người mà còn chỉ ra những gì cần phải đạt tới, cần có sự phê phán triệt để nhưng cũng cần có tình người trong sự phê phán đó. Phê phán đồng thời bồi đắp lý tưởng nhân văn cho thời đại, cho nhân loại. Vì thế mà M.Gorki đã đưa ra nhận xét rất đúng rằng “sách của Balzac đối với tôi than thiết hơn cả vì tình thương yêu đối với con người, vì sự hiểu biết kì diệu đối với cuộc sống mà tôi bao giờ cũng cảm thấy có trong sáng tác của ông với một nỗi xúc động mạnh và một niềm vui lớn”

II. TIỂU THUYẾT LÃO GORIOT

 “Lão Goriot” xuất bản năm 1834, là một bước phát triển trong nghệ thuật tiểu thuyết của Balzac. Tác phẩm được cấu tạo bởi nhiều dòng chủ đề: người cha bị các con ruồng bỏ, chàng thanh niên tỉnh lẻ bước đầu sa ngã ở Pari, gã tội phạm chống lại xã hội và cám dỗ chàng trai…. Giữa các chủ đề có sự đan chéo và liên quan khắng khít, mỗi chủ đề đều cần thiết để lý giải vấn đề số phận lão Goriot.

Mở đầu tác phẩm ta bắt gặp ngay những lời nói cảm động của tác giả về câu chuyện sắp diễn ra, một “tấn bi kịch âm thầm nhưng vô cùng bi đát khủng khiếp”. Balzac giới thiệu về câu chuyện sắp diễn ra bằng nỗi xúc động mạnh, từ trái tim của một con người cao cả. Giọng văn lãng mạn được tác giả sử dụng một cách khéo léo, vừa giới thiệu, vừa biện luận rằng đấy là sự thật. “Câu chuyện này không chỉ là một bi kịch theo đúng nghĩa của nó mà suốt từ đầu chí cuối nó làm cho người ta xúc động tới tận con tim. Gập trang sách lại bạn đọc thấy lòng mình xót xa, còn trên khóe mắt thì lệ rơi lã chã. Nhiều người không khỏi thầm thắc mắc: ngoài những người dân Pari quen thuộc ra, liệu còn có ai quan tâm và thông cảm với chuyện này nữa được không? Bởi vì các tình tiết của nó xem chừng quá tủn mủn”. Ở thung lũng này “khổ đau thì đầy ắp và thực tế còn những niềm vui thì hiếm hoi đến nỗi trở thành hão huyền và người ta chẳng mong có điều gì đó khả dĩ tạo ra được ấn tượng trong chốc lát ở nơi này”. Và trước những đau khổ ấy thì “sự ích kỷ, những quyền lợi đang đòi hỏi đều bảo nhau tạm ngừng lại và thương xót”.

Lão Goriot, số phận của lão ta chưa biết thế nào, ra làm sao nhưng với lời giới thiệu của Balzac, phần nào ta cảm nhận được những sóng gió, bi thảm sẽ đến với nhân vật này. “Bạn tự nhủ rằng sau khi đã đọc hết, biết hết những bí mật của lão Goriot bất hạnh, bạn vẫn có thể đánh chén buổi tối một cách ngon lành và tự cam đoan rằng sự dửng dưng của bạn chẳng qua là vì tác giả quá thơ thẩn mà nói ngoa, thổi phồng sự việc. Nhưng xin bạn chớ vội kết tội tác giả, bởi vì đây không phải là một chuyện viễn tưởng, cũng không hề được hư cấu, thêm bớt mà nó là một thảm kịch thực sự. All is true- tất cả đều là sự thật, nó thật tới mức mà khi đã có nó rồi, mỗi người đều nhận thấy ở nó một phần con người của mình, nội tâm của mình”.

 1. Cô Victorine, cũng như Eugenie Grandet, đứa con tinh thần trìu mến của Balzac

Là một nhà văn hiện thực, Balzac không dùng quá nhiều những câu văn lãng mạn trong tác phẩm của mình, nhưng với tấm lòng yêu thương con người ta vẫn gặp không ít những lời thắm thiết ông trao tặng cho những nhân vật bất hạnh.

Trong tiểu thuyết “Lão Goriot” này, người hạnh phúc được Balzac dành cho những lời văn nhẹ nhàng ưu ái là cô Victorine. Khi miêu tả nhân vật này giọng văn Balzac mới trữ tình làm sao. “Victorine Taillefer là cô gái trắng trẻo, ốm yếu, giống như nước da của các cô gái bị bệnh xanh xao, và dù cô hòa mình với sự đau đớn, nó làm nền cho bức tranh này bởi một nỗi buồn quen thuộc, bởi một phong cách e ấp, ngượng ngùng, bởi một vẻ nghèo túng và yếu đuối thì gương mặt của cô vẫn không cằn cỗi, các cử chỉ và giọng nói của cô vẫn còn nhanh nhẹn, hoạt bát. Con người trẻ tuổi bất hạnh này giống như một cây con đã có lá vàng, mới bị trồng trong một mảnh đất không phù hợp. Sắc diện của cô ửng đỏ, mái tóc màu vàng hung, dáng người quá mảnh mai, thể hiện sự duyên dáng của các nhà thơ hiện đại tìm thấy trên các bức tượng nhỏ thời trung cổ. Đôi mắt màu xám đen biểu hiện một sự dịu dàng, sự ngoan đạo của một tín đồ Cơ Đốc giáo. Quần áo cô mặc đơn giản, không quá đắt tiền, để lộ những đường nét trẻ trung. Cô xinh đẹp một cách chắp nhặt. Nếu cô sung sướng chắc là đẹp mê hồn: hạnh phúc là chất thơ của phụ nữ cũng như kem phấn là chất liệu của việc trang điểm vậy. Giá như niềm vui luôn làm gương mặt ửng hồng trên làn da xanh xao của cô, giá như những ngọt ngào của cuộc sống thanh lịch được đong đầy, tô đỏ lên đôi má đã hơi lõm một chút, giá như tình yêu làm tươi vui lại đôi mắt buồn của cô, Victorine đã có thể sánh được với những cô gái trẻ đẹp nhất. Cô thiếu thứ mà người phụ nữ cần có, những áo quần son phấn và những bức thư tình”

Cô là đứa con không được người cha triệu phú thừa nhận, lão hắt hủi, ruồng bỏ cô, nhưng ở cô lúc nào cũng sáng ngời tình cha con- dù là đơn phương. Khi họ chửi rủa gã triệu phú đáng ghê tởm đó, “Victorine lại nói lên những lời ngọt ngào, giống như bài ca của con bồ câu xám bị thương mà tiếng rên đau đớn của nó vẫn còn thể hiện tình yêu”.

Balzac dành cho cô gái bất hạnh những lời thiết tha nhất, nhẹ nhàng mà cao quý nhất. “Victorine giống như một trong những bức họa tươi sáng của thời trung cổ mà trong đó tất cả các yếu tố phối hợp miêu tả đã bị người họa sĩ bỏ qua, ở đây người họa sĩ bằng ngòi bút kì diệu đã bình tĩnh vẽ khuôn mặt nhợt nhạt, nhưng mặt trời đã chiếu rọi làm nó lấp lánh hoàng kim”.

Không chỉ thiếu thốn trong tình cảm gia đình, cô còn thiếu cả tình yêu, Balzac chia sẻ “Trái tim một cô gái đáng thương, bất hạnh và khốn khổ giống như một miếng xốp khô đang háo hức được yêu, một miếng xốp khô nhanh chóng phồng lên khi nhỏ vào đó một giọt tình cảm”.

2. Lão Goriot- vua Lia của thế kỉ XIX

Nhân vật thứ hai trong tiểu thuyết này được Balzac nói với giọng văn trữ tình là người cha đáng thương- lão Goriot. Qua câu chuyện của lão Goriot và hai cô con gái, Balzac tiếp tục khai thác vấn đề trong tiểu thuyết “Eugiene Grandet”: quan hệ gia đình, cha con trong xã hội tư sản quý tộc và ở đây người cha là nạn nhân.

Lão Goriot được giới thiệu với độc giả bằng giọng văn thương xót. “Lão Goriot, mà trên đầu lão, một họa sỹ cũng như một nhà sử học đã đổ vào đấy tất cả ánh sáng của bức tranh. Bởi sự tình cờ nào mà sự miệt thị nửa  thù hằn, sự không tôn trọng kẻ bất hạnh trộn lẫn với lòng thương xót lại đập vào người khách trọ cao tuổi nhất? Có phải ông lão đã gây ra một vài trò nực cười và kì cục mà người ta khó tha thứ cho nó hơn là tha thứ cho những thói hư tật xấu khác chăng? Những câu hỏi này liên quan đến phần nhiều những sự bất công trong xã hội. Có thể nó nằm trong bản chất của con người là khiến cho những ai hoàn toàn đau khổ bởi sự tự ti, bởi sự yếu đuối hay sự lãnh đạm đều phải chịu đựng tất cả”.

Người cha ấy thật cao thượng, hy sinh tất cả cho hai cô con gái lên đỉnh cao của xã hội thượng lưu, để rồi nhận lấy bi kịch cho chính mình.  “Một người cha  đã cho chúng cuộc sống, đã cho mỗi đứa năm hoặc sáu trăm nghìn phơ-răng của hồi môn để tạo hạnh phúc khi gả chồng cho chúng, và chỉ giữ lại cho mình tám đến mười nghìn făng lợi tức. Ông tin rằng những đứa con của mình vẫn sẽ là những đứa con của mình như hồi nào, và ông đã tạo ra hai gia đình, hai căn nhà nơi mà ông được tôn thờ, được nuông chiều, được chăm lo. Nhưng chỉ trong hai năm, những đứa con của ông đã đuổi ông ra khỏi cuộc đời chúng như một người khốn khổ”. Nói đúng hơn là ông nhận thấy mình làm cho các con phải xấu hổ. Ông tự rời khỏi chúng, tìm đến quán trò nghèo. Balzac tả rất hợp lí sự lựa chọn của ông. Ông hi sinh vì con, muốn con luôn vui vẻ hãnh diện khi sống trong giới quý tộc, chẳng phải mất mặt vì có một người cha không thuộcc giới thượng lưu như ông.

Balzac còn mượn lời nhân vật khác để trao lời thương mến đến nhân vật. “Ông bố này đã cho tất cả. Trong 20 năm ông dành trọn tình thương của một người mẹ, tình yêu của một người cha cho các con mình; rồi một ngày ông cụ cho đi tất cả cơ nghiệp của mình. Quả chanh đã bị vắt kiệt, rồi các cô con gái lại đem chính quả chanh ấy vứt bỏ ở góc đường đi”

Tình cha con quá quắt khiến“Goriot đặt các con gái của mình vào hàng thiên thần”. Balzac xót xa  “đúng là một người đàn ông đáng thương. Lão yêu cả những cái xấu mà các cô con gái làm với lão”. Balzac thương cho  người cha ấy, cố gắng biện minh cho hành động mù quáng của nhân vật. “Ông lão đã hy sinh bởi vì ông lão là bố”.

Goriot coi con gái mình như là tình nhân, là người đem lại cho mình niềm hạnh phúc và lão sẽ trả tiền cho con để được niềm vui đó. “Lão giống như một người trẻ tuổi đang yêu, hạnh phúc vì một mưu mẹo để có thể giúp lão gặp gỡ với tình nhân của mình mà không bị nghi ngờ gì cả”. Tình cha con trở nên quái gỡ nhưng là một tình cảm chân thật. “Tình yêu của người cha hoàn toàn không bị tì vết vì một chút lợi ích cá nhân nào”

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra: chính nỗi khát khao làm cha trong tâm hồn Balzac là nhân tố quyết định thành công khi xây dựng hình tượng lão Goriot. Tình yêu con của lão thật vô tiền khoáng hậu, thế nên Balzac luôn ca ngợi tình cảm ấy với giọng văn thắm thiết.“Thần tượng của người cha luôn trong sáng và đẹp đẽ, và tình yêu con tha thiết đã lớn dần lên trong quá khứ cũng như trong tương lai”.

Rồi lão đã hoài nghi và hiểu thực bản chất của những cô con gái, nhưng bản năng của người cha lại tìm cách bào chữa cho chúng. Cứ thế, lão bị giằng xé giữa nhiều chiều tình cảm trái ngược. Trước khi chết lão dần nhận ra sự thật, hiểu rằng lão mất con vì không còn tài sản. “Một người cha cần phải luôn luôn giàu, ông ta cần phải kiềm chặt những đứa con như kiềm chặt những con ngựa xảo trá. Thế mà ta đã quỳ xuống trước mặt chúng. Những đứa khốn nạn, chúng đã kết thúc xứng đáng cách đối xử với ta suốt mười năm nay”. Người cha đau đớn bởi biết rằng người gây nên vết thương cho mình là những cô con gái bé bỏng mà hằng ngày ông tôn sùng, thương nhớ. “Tất cả đều rất khéo léo và chúng đã đâm thủng trái tim ta. Ta thấy rõ ràng đó là những điều giả dối, những nỗi đau này không có thuốc gì  chữa được”

Người cha đầy lòng hi sinh ấy không hề muốn kết tội con mình.“Ta là một người khốn khổ, ta đã bị trừng phạt đích đáng. Ta là nguyên nhân duy nhất của sự sa đọa của những đứa con, ta đã làm hư hỏng chúng”. Những lời thú nhận này chứa đựng một sự thật cay đắng. Tình cảm vị tha, chân thành trong xã hội đương thời là một nhược điểm, một điều tai hại. Tình cha con đáng thương nhưng cũng thật đáng cười, nụ cười chan hòa nước mắt. “Ta chính là thủ phạm nhưng ta làm thế là vì tình yêu. Giọng nói của chúng mở cửa trái tim ta”

Balzac chứng kiến tất cả, hiểu thấu tất cả nhưng không làm gì thay đổi đươc, ngậm ngùi chia sẻ cùng người cha ấy. “Tiếng kêu bi thảm này phát ra như lời rên rỉ của kẻ hấp hối và nó càng thể hiện rõ sự yếu ớt, kiệt sức đến nỗi trở thành bất lực trong trạng thái tình cảm của ông lão. Hai chị em gái vẫn yên lặng. Sự ích kỉ nào vẫn có thể lạnh lùng với tiếng kêu tuyệt vọng này chứ? Nó giống như hòn đá bị ném xuống vực thẳm và độ sâu của vực thẳm thì ta làm sao đo được”.

Sự tan vỡ của gia đình Goriot là hậu quả của một xã hội bị đồng tiền thống trị. Vào giờ phút hấp hối, người cha bị ruồng bỏ, vua Lia của thế kỉ XIX hiểu ra nguyên nhân xâu xa nỗi bất hạnh đời mình. “Ta cam đoan rằng đất nước sẽ tiêu vong nếu như những người cha bị giẫm đạp. Điều đó là rõ ràng. Xã hội, thế giới được vận hành bởi tình phụ tử, mọi thứ sẽ sụp đổ nếu những đứa con không yêu cha của chúng”. Thất bại của lão là thất bại của người dựng xây mà bị chính thành quả của mình vùi dập. Câu chuyện của lão lớn hơn câu chuyện của người cha bị ruồng bỏ.

Tình cha con tha thiết, số phận đau thương của lão làm ta phải xúc động. Balzac đã viết thư cho Hanskan nói rằng có một cảm giác đau buồn kinh khủng đã vò xé ông suốt 10 ngày sao khi viết tác phẩm này. Nhưng lòng thương con của lão Goriot dù lớn lao vẫn có gì đó chật hẹp bởi mù quáng, bản năng, thói tật. Biết con là bọn vô ơn, để cha chết trong cô đơn nghèo khổ, lão sỉ vả, nguyền rủa nhưng rồi tha thiết mong gặp chúng, muốn có tiền để đem chúng lại bên mình, lúc tắt thở dành lời cuối cùng để ban phúc cho chúng- một tình cha con như vậy kể ra cũng thật đáng quý.

Người cha ấy đã sống trong đau khổ quá nhiều, thế nên khi nhân vật nhắm mắt, Balzac thấy ở lão một niềm vui hiếm hoi dù cũng còn nhiều chua xót. “Tiếng thở cuối cùng của người cha già hẳn là hạnh phúc. Cả cuộc đời lão hiện lên trong tiếng thở hạnh phúc đó, đến giờ ông lão vẫn bị lừa”.

Gần cuối tác phẩm giọng văn của Balzac thật thắm thiết tình người. Người cha hấp hối trên giường nát, cô độc, nhớ mong quằn quại “luôn luôn khát mà chưa bao giờ được uống”. Và một đám tang thật lãnh lẽo, đến đưa tang là hai xe song mã lộng lẫy, có gia huy nhưng không có người. Balzac khép lại cuộc đời lão Goriot đáng thương bằng câu văn thương xót vô hạn. “Đây là kết cục của một kiếp nghèo khổ, không ai đoái hoài, không người thân, không bạn bè đưa tiễn”.

Lão Goriot không những là một người cha mà hơn thế nữa là hiện thân của tình cha-con. Con vô ơn bao nhiều thì tình cha thương con tăng lên bấy nhiêu. Balzac trao cho ông trách nhiệm nói lên cái gì cao thượng nhất trong tình cha con như bản thân tác giả quan niệm và ước mơ, đền bù cho nỗi đau không được làm cha của tác giả. Nhưng lão Goriot làm cha trong xã hội tư sản đang phồn thịnh nên tình cảm cao quý ấy bị đồng tiền làm hoen ố, hư hỏng đến tận cội rễ, nên nó có tất cả sự đê hèn, nhục nhã, ghê tởm. Ý nghĩa tác phẩm là ở chỗ đó, là mâu thuẫn bi đát giữa cái cao thượng và cái mù quáng.

Lão là một bi kịch, bi kịch ấy do xã hội tư sản tạo nên nhưng cũng có phần do chính lão tạo lấy. Chính lão quan niệm rằng chỉ có tiền mới mua được hạnh phúc. Trong cơn hấp hối, lão nhìn thấy tội lỗi của những đứa con, nguyền rủa chúng nhưng sau đó lại muốn mình có nhiều tiền để giữ chúng bên cạnh. Sai lầm ấy của lão góp phần dẫn đến bi kịch đau lòng này.

3. Rastignac- tâm hồn trong sáng nhưng chịu nhiều sự cám dỗ

 

Nhân vật thứ ba cũng chiếm được không ít tình cảm ưu ái của nhà văn là chàng sinh viên luật trẻ tuổi. Ý nghĩ ban đầu của anh rất đẹp, anh mơ ước bay nhảy trong xã hội thượng lưu nhưng khi biết được mẹ đã phải bán đi đồ trang sức, dì anh cũng phải xa rời vài món cổ vật để có tiền nuôi dưỡng khát vọng của mình thì anh ray rức lắm. Balzac ghi nhận những suy nghĩ ấy với sự trân trọng. “Chàng cảm thấy tâm can như bị một ngọn lửa thiêu đốt. Chàng muốn từ bỏ xã hội thượng lưu mà chàng đang đeo đuổi, chàng không muốn nhận số tiền này nữa. Trái tim chàng dâng trào một nỗi hối hận cao thượng mà ít thấy ở những kẻ khác trong xã hội thượng lưu này”.

Khi ấy tâm hồn chàng còn rất trong sáng và những suy nghĩ của chàng được Balzac thể hiện bằng giọng văn thật lãng mạn. “Thời thanh xuân của mình vẫn còn xanh trong như bầu trời không một gợn mây, mong muốn được trở nên vĩ đại và giàu có, thế mà phải dối trá, phục tùng, luồn cúi, gắng gượng, nịnh bợ, che dấu ư? Vì thế mà chấp nhận tự trở thành đầy tớ của những kẻ dối trá, xu nịnh và luồn cúi ư? Trước khi trở thành đồng bọn chúng thì phải phục tùng chúng. Thật lầm lạc! Không. Mình muốn làm công việc thanh cao, trong sạch ; mình muốn làm việc cả ngày lẫn đêm, chỉ để tạo ra cơ đồ bằng chính nghề nghiệp của mình. Đó là cách taọ lập cơ nghiệp chậm chạp nhất, nhưng mỗi ngày đầu mình sẽ được đặt trên gối mà không mảy may một ý xấu xa nào. Có gì đẹp hơn là lặng ngắm cuộc đời mình và thấy nó thanh khiết như một bông hoa bách hợp?”

Có thể xem anh là loại nhân vật khát vọng, đang mơ ước xây dựng con đường tiến thân. Ở tác phẩm này anh vẫn còn mang vẻ đẹp của người trai trẻ, vẻ đẹp của bông hoa bách hợp, điều đó được thể hiện qua tình cảm giữa anh và lão Goriot. “Tình bạn thiêng liêng của họ được xây dựng trên cơ sở tâm lý đối lập hẳn với thứ tình cảm giữa Vautrin và chàng sinh viên”. Thế nên lão Goriot “người luôn để tình cảm vượt ra khỏi ý chí, đã được soi sáng bởi lòng trắc ẩn, sự cảm thông mà chàng sinh viên trẻ tuổi đã dành cho mình”.

Song tất cả tình cảm đó không tồn tại lâu, chàng trai ấy sớm bị dòng đời cuốn đi. Những bài học vỡ lòng quan trọng đã đặt chàng vào một đường ray mới. Ở đó anh tự nguyện bán linh hồn cho quỷ dữ, từng bước leo lên bật thang của xã hội thượng lưu.

Khi lão Goriot mất, chàng sinh viên nghèo đứng ra lo liệu mọi bề. Người đọc xúc động biết bao trước những việc làm không chút tính toán, mưu lợi ấy. Chàng là người nhỏ lệ xót thương lão già bất hạnh chết trong sự lãng quên của những đứa con mà ông rất mực yêu thương. “Cúi nhìn lần nữa ngôi mộ, giọt nước mắt cuối cùng của chàng trai trẻ lăn dài, giọt nước mắt trào ra bởi những rung cảm thiêng liêng của một trái tim trong trắng”. Song đó là giọt nước mắt cuối cùng của chàng trai trẻ, thiêng liêng lắm bởi từ nay không còn những giọt nước mắt thương người như vậy. Với những giọt nước mắt ấy Rastignac như để tang cho chính mình, khóc cho chính mình- Rastignac đã chết. Đám tang lão chôn vùi luôn cả hình ảnh một thanh niên biết yêu thương biết xúc động trước nỗi bất hạnh của người khác, chỉ còn lại kẻ tán thành lối sống tàn bạo, sặc mùi tư sản ấy. Đám tang chôn bốn người: lão Goriot, chàng Rastignac, hai cô con gái.

Lời thách thức của Rastignac thực chất là lời đầu hàng, anh sẽ phục tùng nó để tiến thân. Câu nói này mang nghĩa nước đôi: hoặc là bản thân ta, một kẻ không tiền sẽ phải nhận  một kết thúc như lão già đáng thương, hoặc ta phải sát phạt với cuộc đời đen bạc, phải hòa vào chúng để được sống trong tột đỉnh vinh quang. Rastignac tuyên chiến  nhưng lại hòa mình vào xã hội đó bằng hành động đến ăn tối nhà người mà chàng khinh rẻ. Một trái tim biết yêu thương, thương xót rồi cũng bị đồng tiền cán nát: từ một người tốt bụng rồi sẽ trở thành kẻ bất nhân, sống vì tiền.

Tác phẩm khép lại, cuộc đời lão Goriot kết thúc, cuộc chinh phục xã hội của Rastignac bắt đầu, Goriot được thay bằng Rastignac, đại biểu một thời kì khác của sự phát triển tư bản chủ nghĩa.

4. Chút ưu ái  Balzac dành cho phụ nữ thượng lưu

 Trong tác phẩm đôi lần ta bắt gặp thái độ xem thường của Balzac đối với những người phụ nữ trong xã hội thượng lưu, nhưng đọc kĩ ta cũng gặp được những lời cảm động, chia sẻ của Bazac đối với những người phụ nữ ấy. “Những người phụ nữ Pari, với bề ngoài xa hoa lộng lẫy, xa hoa nhưng sâu thẵm trong tâm hồn họ chứa chan những điều muộn phiền lo lắng”.

Balzac hay cảm thông cho họ, nhìn thấy khía cạnh tốt ở họ. “Nếu như những người phụ nữ Pari thường xuyên giả dối khoe khoang, làm dáng, lạnh lùng, chắc chắn rằng khi họ yêu, họ dành tình cảm cho niềm đam mê của mình nhiều hơn những người phụ nữ khác, từ những tính hẹp hòi của mình họ đã dần trưởng thành và họ trở nên cao quý”.

*******

Cuốn tiểu thuyết không tái hiện những cảnh dao đâm, máu đổ nhưng thực trạng xã hội toát lên thật buồn thảm. Một người cha suốt đời vì con lại bị bỏ chết trong ghẻ lạnh tại quán trọ nghèo nàn, một con người từ bỏ lối sống lương thiện lao vào vực thẳm đen ngòm của Pari trong vòng xoáy của đồng tiền. Bức tranh xã hội hiện lên với tất cả những khía cạnh của nó : một hiện thực phũ phàng không tô vẽ, không giấu giếm.

III. TIỂU THUYẾT VỠ MỘNG

1. David- mang nỗi đau khổ của nhà phát minh

Hình tượng David được Balzac đặc biệt chú ý. Nhân vật tích cực này được xây dựng thành nhân vật trung tâm trong tập III, nhân vật chính thứ hai của bộ tiểu thuyết, song song và tương phản với Lucien. Tập I mang cái tên gọi chung trìu mến, nếu có phảng phất chút chế giễu thì cũng đầy thiện cảm “Hai chàng thi sĩ”. Tập II dành cho Lucien với lời châm biếm “ Vĩ nhân tỉnh lẻ ở Pari”, tiêu đề này nhằm nhấn mạnh cái vinh quang ồn ào nhưng ngắn ngủi của Lucien. Trái lại, ở tập cuối cùng Balzac dành cho David thái độ trân trọng, cảm thông không che dấu: “Nỗi đau khổ của nhà phát minh”.

Ngay khi vừa xuất hiện (tập I) David được giới thiệu ngay là người lao động không sống cảnh an nhàn, không làm những công việc dễ dãi. Dù tự gọi là một thương nhân nhưng anh xác định rõ với Lucien những gì thuộc về mình. “Phần tôi là cuộc đời đạm bạc của thương nhân, và những hoạt động khoa học kiên trì”. Với quan điểm đó anh cách biệt với bọn giàu có để hòa vào đời sống của người lao động bình dân.

Quan hệ giữa David và cha mình tương tự như quan hệ giữa Eugenie và cha cô. Như cô gái ngây thơ ấy, anh không biết gì về tài sản của cha mình và chính anh cũng bị bố thẳng tay bóc lột. David có trái tim dịu dàng và tế nhị, bởi thế “anh nén mọi nỗi đau đớn trong lòng và cảm thấy trơ trọi, không chỗ dựa, khi thấy ở cha một tên đầu cơ”. Ở anh luôn sáng ngời một trái tim nhân ái. Người cha tàn nhẫn và tính toán là thế nhưng  anh thì không lời oán trách hay trở lại tính toán với người cha bởi “Lòng cao thượng bắt anh phải nhận lấy cái trách nhiệm đè lên an”.

 Sau này khi Eve cho biết sự phản bội của thẳng nhãi Xeride mà anh cưu mang, anh đáp với vẻ ngượng của người có lỗi: “thằng bé tội nghiệp, thì nó cũng phải sống chứ”. Balzac giải thích thái độ ấy “những tâm hồn cao quý khó tin rằng có người xấu, có người bất nhân, cần phải qua những bài học cay đắng để họ thừa nhận tình trạng đồi bại của con người phổ biến đến thế nào”. Bọn bất nhân thì không bao giờ hiểu được những điều đó, nên thằng oắt phản bội ấy gọi David là gã khờ, hay chính David cũng từng tâm sự cùng Eve “anh lẫn em đều không có đủ tư chất để trở thành con buôn. Chúng ta chẳng có tính tham lợi cũng như thói ngoan cố không muốn rời đồng tiền”.

David cũng ôm ấp giấc mơ thành đạt. Nhưng anh muốn giàu và giàu nhanh chóng chẳng phải cho mình mà cho vợ và em vợ. Anh tự nhận “ta trở nên giàu có chỉ để đền đáp những người tốt như thế”.

David là nhân vật chính diện được tác giả kính trọng và yêu mến không phải chỉ vì anh là người lao động nhân hậu, một người chồng, người anh rể tuyệt vời mà chủ yếu vì anh là nhà khoa học say mê “thâm nhập những điạ hạt mới lạ”. Balzac luôn luôn tôn trọng các nhà khoa học, ông thấy họ những nhà sáng tạo, thể hiện quyền lực của con người đối với thiên nhiên.

Công cuộc chinh phục thiên nhiên của David càng gay go thêm bởi lực cản từ xã hội. David- nhà phát minh thế kỉ XIX- ngồi tù chẳng vì nạn khủng bố tôn giáo mà vì nợ. Trong ngục anh băn khoan tự hỏi đã làm gì cho gia đình chưa, sao không lo kiếm tiền lo cho gia đình rồi  mới cắm đầu vào phát minh. Những suy nghĩ ấy giày vò con người lương thiện mãi.

Tình cảnh của anh điển hình cho vận mệnh của nhà khoa học trong xã hội tư sản, thật đáng thương, “chẳng khác gì con hải li ở giữa bọn đi săn, khéo mà để lột mất da”. Bọn đi săn có đồng tiền và pháp luật làm vũ khí bảo vệ đã chiến thắng. David thành công trong sáng chế nhưng phát minh của anh bị cướp trắng trợn. Anh chẳng phàn nàn mà tự tìm lời an ủi “tôi là người thế nào đối với nước nhà?… Một con người bình thường. Miễn là điều bí mật của tôi có lợi cho hết thảy mọi người, thế là tôi vui lòng!” Đó là suy nghĩ của anh, cũng là ý kiến của Balzac. Những nỗi đau khổ của nhà phát minh chúng không vô bổ mà đem lại lợi ích cho nhân loại.

David tự rút lui khỏi xã hội bị bợp, thối tha đó, anh “vĩnh biệt dứt khoát với danh vọng” để yên ổn với hạnh phúc riêng. Người nào muốn sống trong sạch và thanh thản phải ra khỏi guồng máy của chủ nghĩa tư bản.

Với câu chuyện của David, Balzac muốn nói lên số phận đau đớn của một người phát minh chân chính trong xã hội tư sản. Họ hoàn toàn lệ thuôc vào đồng tiền và là nạn nhân của cái quy luật tự do cạnh tranh tàn khốc của chủ nghĩa tư bản. Chung quy thì nó chỉ có lợi cho những kẻ mạnh, tàn bạo và có đồng tiền làm hộ vệ.

2. David và Lucien – tình bạn giữa hai nhà “thi sĩ”

Nhà văn hiện thực Balzac cũng rất trân trọng đề cao tình bạn giữa hai nhà thi sĩ, ông miêu tả họ với trái tim trìu mến, với giọng yêu thương “Tình bạn học được nối lại chẳng mất chốc càng thêm thắt chặt giữa hai người vì số phận giống nhau mà cũng vì tính cách khác nhau. Cả hai cùng ôm những hoài bão lớn lao, cùng có tài trí hơn người để bước vào những địa vị cao sang, nhưng lại thấy mình bị ném xuống đáy xã hội”

Lãng mạn nhất có lẽ là khi Balzac  miêu tả về hai con người thiên tài này. “Những tia nắng giỡn trên dây nho leo hàng rào mơn trớn hai chàng thi sĩ, bao bọc họ trong một làng ánh sáng như hào quang. Sự tương phản giữa hai tính cách và hai bộ mặt trái ngược nhau nổi bật lên, có thể lôi cuốn  bút sơn của một danh họa. David có cái dáng dấp của những nhân vật mà tạo hóa sinh ra là để đương đầu với cuộc vật lộn lớn lao, lừng lẫy hay âm thầm. Nửa người trên nở nang với đôi vai khỏe ăn nhịp với toàn thân vạm vỡ, bộ mặt màu nâu có khí sắc, đẫy đà với cái cổ to, bộ tóc đen rậm như rừng, thoạt trông giống như mặt những thầy tu mà Boalo ca ngợi; nhưng nhìn kĩ trong những đường ngắn của cặp môi dày, trong cái cằm hõm, trong đường mũi vuông vắn với lá mía khúc khuỷu nhô lên, nhất là trong đôi mắt, thì thấy ngọn lửa bền bỉ của một mối tình đắm say duy nhất, mối ưu tư chung  nấu của một trí tuệ có thể thâu tóm từ đầu đến cuối chân trời, thâm nhập vào từng ngõ ngách sự việc và dễ ngán những niềm vui thuần lí tưởng vì đem rọi và đó ánh sáng của sự phân tích. Nếu người ta đoán thấy trên bộ mặt đó tia chớp của thiên tài vươn lên, thì người ta cũng nhìn thấy những đám tro bên cạnh núi lửa ở đó hi vọng tắt ngấm trong một ý thức sâu sắc về cái địa vị xã hội hèn mọn của bao nhiêu trí tuệ ưu việt chỉ vì xuất thân nơi tăm tối và vì cảnh nghèo nàn”.

David là thế, Lucien lại còn tuyệt hơn với những lời nhẹ nhàng tinh tế mà Balzac dành tặng. “Bên cạnh anh thợ in hèn chán ngán đến buồn nôn tình cảnh của mình mặc dầu nó rất gần trí thức, bên cạnh thần Xilen khệ nệ trên thân mình, dài hơi nốc chén khoa học và văn thơ để say sưa quên hết mọi khốn khổ của cuộc đời tình nhỏ đó, Lucien đứng trong một tư thế duyên dáng mà các nhà điêu khắc đã tìm ra cho tượng thần Bacquit Ấn Độ . Mặt chàng có những nét đặc biệt của vẻ đẹp cổ đại: một vầng trán và một cái mũi Hi Lạp, da trắng mịn như nhung của phụ nữ, cặp mắt đen vì màu xanh đậm, những con mắt thắm thiết mà lòng trắng mát tươi như mắt trẻ em. Đôi mắt đẹp nằm dưới hai hàng lông mày như vẽ bằng ngọn bút lông tàu và viền những hàng lông mi dài màu hạt dẻ. Hai bên má óng ánh  hàng lông tơ hòa màu với làn tóc vàng hun uốn quăn một cách tự nhiên. Hai bên thái dương trắng ánh vàng tỏa ra một làn hương dịu thần tiên. Một vẻ cao quý vô song đượm trên chiếc cằm nhô ra chẳng đột ngột . Nụ cười của những thiên thần sầu muộn lướt qua trên cặp môi tựa san hô của chàng được tôn lên với với những hàm răng tuyệt đẹp. Chàng có đôi bàn tay của con nhà nòi, đôi bàn tay thanh lịch chỉ ra hiệu một cái là mọi người răm rắp tuân theo và phụ nữ chỉ muốn nâng hôn”. Xét kĩ ta thấy Balzac rất ưu ái với những con người tài năng, ở họ là những tài năng thật sự nhưng vì không sinh ra đúng thời, không tìm thấy mảnh đất tốt để gieo mầm nên phải chịu cảnh thất bại. Balzac yêu quý họ, trân trọng họ, dẫu ông không tha thứ lỗi lầm của họ.

Trong những câu văn nhẹ nhàng, tình cảm này, Balzac như đã dự đoán trước sự số phận bi thảm của hai con người trác tuyệt này. “Mặc dù bề ngoài có vẻ cường tráng và cục mịch, anh thợ in là một thiên tài đa sầu và ốm yếu, anh tự ngờ mình; còn Lucien thì bẩm sinh có một tinh thần mạnh dạn, nhưng bấp bênh, tính táo bạo không ăn khớp với điệu bộ ẻo lả, hầu như bạc nhược nhưng duyên dáng của phụ nữ”. Họ có những  yếu điểm, những cái đa sầu, bạc nhược, bởi thế họ thất bại. Trân trọng những con người tài năng, miêu tả sự thất bại của họ nhưng thật lòng Balzac đau đớn lắm. Trong những lời lạnh lùng ông xen vào những câu văn dịu dàng, tha thiết như san sẻ nỗi đau cùng những con người bất hạnh.

Cuộc đời của David và Lucien rốt cục là hình ảnh của mối mâu thuẫn đau đớn giữa cá nhân và xã hội ở thời đại tư sản. Mâu thuẫn đó đưa mỗi con người theo những hướng khác nhau, tùy theo tính cách của họ, nhưng tất cả họ đều nhận lấy kết cục thật bi thảm. Điều đáng chú ý là ở hai nhân vật này họ chẳng phải là những cá nhân đơn lẻ, mà họ tiêu biểu cho những lực lượng xã hội, giai cấp xã hội nhất định. Và cuộc đấu tranh của họ nằm trong cuộc đấu tranh của các  lực lượng xã hội khác nhau: đấu tranh giữa giai cấp quý tộc và tư sản, tư sản lớp trên và tư sản lớp dưới, tư sản con buôn và tư sản công nghiệp. Cái giá trị lớn của tiểu thuyết “Vỡ mộng”, mà cũng là một nét tiêu biểu đưa chủ nghĩa hiện thực của Balzac lên một đỉnh cao chính ở chỗ nhà văn đã có phần nhìn rõ cuộc đấu tranh giai cấp đó .

3. David và Eve, mối tình êm ái, thầm lặng.

  Trong những toan tính, mưu mô của xã hội tư sản vẫn có những tình cảm chân thật điển hình như mối tình cao đẹp, sắt son giữa David và Eve. Họ đến với nhau bằng một thứ tình cảm trong sáng, thiêng liêng, thứ tình cảm hiếm thấy trong xã hội sặc mùi tiền ấy. “Liền đó David thoáng gặp nàng Eva xinh đẹp và yêu say mê như những tâm hồn đa sầu và trầm mặc thường say mê”. Khi người tình lang đã thấu hiểu những hi vọng ngấm ngầm mà mẹ và chị Lucien đặt vào vầng trán của thi nhân mỹ lệ đó, khi chàng biết rõ lòng tận tụy đến mê muội của họ thì “chàng cảm thấy thắm thiết được xích gần lại người yêu để chia sẻ với nàng những hi sinh và hi vọng”.

Dù còn nhiều khó khăn, thiếu thốn về vật chất, nhưng mối tình ấy vẫn tươi sáng, vươn lên trong sự kiêu hãnh của một mối tình nghèo thanh bạch. “Ở đây tỏa ra một cái không khí đầm ấm của một gia đình mới, có hoa cam, có khăn che mặt của cô dâu tô điểm cho cuộc sống bên trong, ở đấy mùa xuân của tình yêu được phản ánh trong mọi vật, tất cả đều trắng tinh, sạch sẽ và nở hoa”

Balzac hết lời ca ngợi tình cảm của họ, ông dành nhiều câu văn thắm thiết cho đôi tình nhân ấy. “Để nói lên những chỗ khác nhau của mối tình êm ái thầm lặng đó với những dục vọng sôi sục, phải so sánh nó với những bông hoa dại ngoài đồng  trái với những bông hoa rực rỡ trong vườn cảnh. Đó là những cái đưa mắt dịu dàng và tế nhị  như những bông sen xanh biết nổi trên mặt nước, những biểu hiện thoáng qua như làn hương thoang thoảng của đóa tường vi, những nỗi buồn đằm thắm như làn rêu nhung. Những bông hoa của hai tâm hồn đẹp nảy nở trên mảnh đất màu mỡ, phì nhiêu, không suy suyển”

Những khoảng khắc yêu thương, hẹn hò giữa họ cũng được Balzac khéo léo miêu tả, tô điểm bằng chất giọng nhẹ nhàng, tha thiết. “Những kẻ đang yêu thường vô cùng khoái trá tìm ra  trong những biến đổi của phong cảnh, trong không trung trong suốt, trong hương đất cái ý thơ mang trong tâm hồn họ. Tạo vật nói lên thay họ”

Tình yêu của họ được Balzac ví như “một trong những bông hoa của tình yêu và trìu mến nở ra trên bờ sông những con đường gay go nhất của nghèo khổ  và đôi khi cả ở dưới đáy vực thẳm”. Dẫu khó khăn, bất hạnh liên tục ập đến nhưng đôi tình nhân ấy vẫn sát cánh bên nhau, không gì chia lìa và khuất phục được tình cảm chân thành giữa họ.

Người cha, người mẹ nhân từ ấy chắc chắn sẽ cho ra đời những đứa con cũng ngàn lần tuyệt vời như họ. Quả là thế, hãy nghe Eve nói về đứa con yêu dấu của mối tình ấy “Bé Lucien vẫn khỏe mạnh. Cũng là cảnh lạ khi đóa hoa đó thắm sắc và nở lên giữa những cơn bão táp của gia đình”

4. Eve- con người cao quý

             Eve cũng là nhân vật được Balzac trân trọng, cô thánh thiện và nhân từ, chấp nhận mọi gian khổ. Tấm lòng cao cả của người chị, trái tim nhân hậu của người vợ đã tạo cho Eve một hào quang như thứ hào quang mà Balzac khoác lên Eugenie, mẹ Eugenie và cả mụ Nanon đáng mến. Balzac hay gọi cô bằng những từ ngữ  trân trọng “cô gái nghèo hèn”, “con người cao quý”, hay “Evơ nở nụ cười của các nữ thánh  giữa cảnh nhục hình. Nỗi ưu phiền làm cho bộ mặt của một thiếu phụ kiều diễm trở nên trác tuyệt”, thế cũng đủ để thấy ông yêu mến nhân vật này thế nào !

Trước những việc làm sai trái của Lucien, Eve rất không đồng ý nhưng khi nghe đứa em khốn khổ tâm sự thì trái tim của nàng vỗi vã rung cảm. Balzac rất mến cô nhưng dường như không tán thành thái độ bao dung tuyệt đối như thế. “Lòng hiền hậu của nàng trở thành nụ cười trên môi, và Lucien nén khóc để đáp lại. Sự có mặt như những phép màu làm thay đổi những thái độ giận dữ nhất giữa những tình nhân cũng như trong những gia đình, dù những duyên cớ bất bình trầm trọng đến mức nào. Phải chăng tình thương yêu vạch ra trong trái tim những con đường mà người ta ưa lại đặt chân vào? Hiện tượng đó phải chăng thuộc khoa từ tính học? Phải chăng lí trí khuyên người ta hoặc tha thứ cho nhau hoặc đứng nhìn lại mặt nhau?”. Balzac có trách Eve vì nàng quá cao thượng nhưng nhìn chung ông cũng rất yêu thương nhân vật này. Ông tiếp tục ca ngợi những đức tính cao quý của nàng. “Eva thấy cảnh nghèo càng thêm cay cực lại càng tăng lòng dũng cảm. Tính cao thượng của chồng, lòng ngây thơ của người sáng chế, những giọt nước mắt mà đôi khi nàng bắt chợt trên mắt con người hào hiệp và thi sĩ đó, tất thảy phát triển ở nàng một sức chống chọi phi thường”

5. Những người bạn trong nhóm D’Arthez- tất cả bẩm sinh có một tâm hồn cao quý

 “Vỡ mộng” đã biểu hiện cực kì cụ thể và sinh động sự lệ thuộc vào đồng tiền của văn nghệ sĩ trong xã hội tư bản. Tác phẩm nào phơi bày sắc sảo thói ngụy biện của nhà báo tư sản. Chỉ trong mấy ngày, Lucien phải viết lời phê bình cho cùng một quyển sách với nội dung hoàn toàn trái ngược nhau. Lần đầu thì đả kích kịch liệt, nhưng lần thứ hai lại ca ngợi hết lời, tán dương hết mực. Balzac miêu tả bọn làm báo tư sản đã sử dụng trí thông minh như một trò nhào lộn. Chúng có thể viết rất hay về mọi vấn đề, tùy yêu cầu tán thành hay phản đối. Lousteau hôm nay hay Lucien ngày mai tất cả đều là loại trí thức phải đem xúc cảm và trí tuệ của mình ra thị trường.

Đối lập với những trí thức đồi bại ấy, Balzac xây dựng hình tượng nhóm nghiên cứu D’Arthez, gồm những người trẻ tuổi hoạt động trong những lĩnh vực văn hóa khác nhau “họp thành một nhóm nghiên cứu, trong đó lòng tôn trọng lẫn nhau và tình bạn khiến họ sống hòa thuận mặc dầu họ có những ý kiến và những chủ nghĩa trái ngược nhất”. Thành viên của nhóm thuộc nhiều tầng lớp, nhiều chính kiến, có người dòng dõi quý tộc, có người xuất thân bình dân, có nhà bảo hoàng, có chiến sĩ cộng hòa, có người theo chủ nghĩa xã hội không tưởng. Người này tin ở thuyết linh hồn bất tử, người khác vô thần. Sự không đồng nhất ấy không hề ngăn trở tình bạn, những cuộc tranh luận biến thành cuộc trao đổi ý kiến, học hỏi lẫn nhau. “Họ chẳng hiếu danh vì chính họ lại làm thính giả của họ. Họ cho nhau biết công trình của họ và hỏi ý kiến nhau với lòng chân thành đáng quý của tuổi trẻ”

Thế giới nội tâm phong phú và trong trẻo tách biệt họ với xung quanh, với những văn nghệ sĩ, bọn tư sản, quý tộc lớn hay nhỏ, ở tỉnh lẻ cũng như ở Pari. “Hầu hết họ có tinh thần hồn hậu và khoan dung, hai đức tính chứng tỏ tính ưu việt của họ. Ở họ không có lòng đố kị, sản phẩm ghê gớm của những hi vọng hụt, của những tài năng đẻ non, của những thất bại, của những tham vọng bị tổn thương”

Ở họ nổi bật những đức tính cao thượng, đáng quý trọng “chia sẻ lẫn nhau niềm vui và nỗi buồn”, “sẵn sàng vì bạn mà hi sinh những lợi ích cần thiết của mình”. Lối sống cao đẹp đó khiến họ không hiểu vì sao Lucien trả lại tiền cho họ khi họ muốn giúp hắn, Brido nhắc nhở “người ta không cho vay mà chỉ cho nhau”. Radan phê phán Lucien đã đem thói háo danh và lòng tự ái vào tình bạn “đó là thuốc độc đối với tình bạn”.

Các thành viên trong nhóm là những con người lao động chân chính. Lần đầu xuất hiện, D’Arthez “người lạ mặt cần mẫn” thường xuyên làm việc trong thư viện. Anh đã chỉ cho Lucien con đường lao động cao quý. Lối sống giản đơn của anh tiêu biểu cho cuộc đời trong sạch, thuần khiết và khắc khổ.

Qua D’Arthez, Balzac muốn xây dựng một mẫu nhà văn lí tưởng có “tư chất tráng kiện và toàn diện” dũng cảm vượt mọi thủ thách, đạt tới mục đích bằng con đường lao động kiên trì. “Tài năng chân chính bao giờ cũng hồn nhiên và trong trắng, cởi mở, chẳng đạo mạo, ở nó lời phúng thích mơn trớn trí tuệ  chứ không bao giờ nhè lòng tự ái”

Tất cả, bẩm sinh có một tâm hồn cao quý, nó ánh lên những bộ mặt trẻ trung những khí sắc thần thánh, họ đều mang những nét có phần khắc khổ mà cuộc đời trong trắng và tư tưởng nồng nhiệt làm đều đặn thuần khiết lại. “Vầng trán rộng nên thơ của họ nổi bật lên. Mắt họ linh hoạt và trong sáng làm chứng cho một cuộc sống không vết nhơ”. Khi nào bị những đau khổ của cảnh sống nghèo khổ giày vò, “họ chịu đựng một cách vui vẻ, họ thích ứng một cách hăng hái đến mức không làm gì biết được vẻ thanh thản đặc biệt trên mặt của những thanh niên chưa có lầm lỗi nghiêm trọng, họ chẳng hạ mình bằng những hàng động thỏa hiệp hèn nhát vì không chịu được nghèo khổ, vì thèm khát được giàu sang chẳng kể thủ đoạn nào và vì tính dễ dãi của con nhà văn trong việc dung túng những sự phản bội”.

Balzac rất nhiều lần ca ngợi những con người ấy. “Trong gác xếp lạnh lẽo kia đã thực hiện ước mơ về tình cảm đẹp đẽ nhất. Ở đó, những người anh em, ai nấy đều giỏi về các lĩnh vực khoa học khác nhau, thành tâm soi sáng nhau, nói hết vói nhau, kể cả những ý nghĩ xấu xa, ai nấy đều có một học thuyết uyên bác, ai nấy đều được tôi luyện trong nghèo khổ”. Và những người bạn ấy đã cho Lucien một điểm tựa. “Thế là giữa sa mạc Pari, Lucien tìm ra một ốc đảo”.

Thành viên đặc biệt nhất của nhóm nghiên cứu là Michel, một trong những nhân vật tích cực của “Tấn trò đời”, “con người chân chính của tương lai”. Về quan điểm chính trị Misen đối lập với Balzac, anh theo chủ nghĩa xã hội không tưởng. Balzac đã nói đến kẻ thù chính trị quyết liệt nhất của mình với niềm ngưỡng mộ không che dấu. Ông gọi Michel là “nhà  cộng hòa cỡ lớn”, “nhà chính trị lỗi lạc”, “có khả năng thay đổi bộ mặt Châu Âu”. Ở anh hài hòa nhiều nét đẹp “nhà chính trị có tầm vóc Xanh Giut và Dangton nhưng diụ dàng và ngây thơ như một thiếu nữ, đầy thơ mộng và yêu thương, với giọng hát du dương có thể làm mê hồn Mozart, Ebo hay Roxtini, anh ca những ca khúc của Berangie khiến lòng người nao nức vì tình yêu, chất thơ và hi vọng”

Misen giống các bạn ở tâm hồn cao thượng và phẩm chất ưu tú. Nhưng anh cứng rắn và quyết liệt hơn họ. Trong quan hệ với Lucien, anh thường mở đầu những cuộc đối thoại mang tính giáo dục. Chính anh thách đấu với Lucien để trừng phạt tội phản bội của y. Balzac rất yêu thương và trân trọng Michel, thương tiếc khi người anh hùng ngã xuống. “Một trong những con người cao quý nhất đã từng sinh ra trên đất Pháp”.

Sự sáng tạo hình tượng Michel cũng là một trong những thắng lợi của chủ nghĩa hiện thực của Balzac. Nhưng bóng dáng đẹp đẽ của anh chỉ thấp thoáng sau vài trang sách, phảng phất chút mơ hồ bí ẩn, như một phác thảo hơn là một nhân vật hoàn chỉnh. Có thể giải thích điều này, những người như Michel còn ở ngòai kinh nghiệp sống và tầm tư tưởng của Balzac, chưa được nhà văn am hiểu tường tận. “Tấn trò đời” của ông là một hài kịch, bởi thế nhân vật chính của nó phải là những con người như Grandet, Nucingen, Cointe, đại diện cho xã hội mà Balzac ngửi thấy tử khí ngay khi đang phồn thịnh. Nếu tập trung thể hiện những anh hùng bất tử bị tiêu vong, nó sẽ thành bi kịch.

Nhóm bạn thường khuyên can việc gia nhập nghề báo của Lucien, bởi họ biết quá rõ cái xấu xa, bẩn thỉu của bọn nhà báo, họ luôn khuyên nhủ Lucien. “Đó sẽ là nấm mồ của Lucien trác tuyệt, thanh nhã mà chúng tôi hiểu biết và yêu mến đấy”. Họ phân tích tỉ mỉ cho Lucien hiểu. “Anh không cưỡng lại sự đối lập thường xuyên giữa thú ăn chơi và lao động trong đời người viết báo đâu”, “anh sẽ say sưa vì sử dụng quyền lực, vì có quyền sinh sát đối với những tác phẩm của tư tưởng”. Họ dẫn chứng cụ thể hơn để Lucien thấy rõ cái đen tối, những móng vuốt của làng báo tư sản “nghề làm báo là một địa ngục, một vực sâu chứa những bất công, xảo trá, phản bội, người ta chỉ vượt qua và bước chân ở đó ra còn trong trắng nếu được che chở  bằng cành nguyệt quế thiêng liêng”.

Và họ khẳng định dứt khoát “tình bạn tha thứ sự lầm lỡ, bồng bột thiếu suy nghĩ vì dục vọng, nó phải nghiêm khắc trước việc cố ý bán linh hồn, bán trí tuệ và tư tưởng”. Nhấn mạnh điều đó bởi họ không muốn mất đi một người bạn, không muốn Lucien thiên tài phải chôn mình trong nấm mồ báo chí. Những người bạn chân chính giúp nhau không vì sự tị nạnh, lòng háo danh hay ích kỉ, họ chân thật, khoan dung, nhưng rất nghiêm khắc. Thật hiếm có một tình bạn như thế. Vậy mà Lucien chẳng biết trân trọng, xa rời họ đến với giới báo tư sản với sự chỉ dẫn của tên Lousteau gian xảo.

6. Coralie- tình yêu chân thành dành cho Lucien

  Dẫu không sánh được với tình cảm của David và Eve nhưng mối tình chân thật, không toan tính mà Coralie dành cho Lucien cũng đủ để cô nhận được tình cảm trìu mến của Balzac. Khi Lucien mê đánh bài, Coralie không ngăn cản còn khuyến khích hắn miệt mài với “sự mù quáng đặc biệt ở những mối tình trọn vẹn thường chỉ nhìn thấy hiện tại, hi sinh tất thảy, cả tương lai cho sự hưởng thụ trước mắt. Tính chất của tình yêu chân chính có những điểm thường xuyên giống với tuổi thơ; cũng như tuổi thơ, nó có cái thiếu suy nghĩ, cái dại dột, cái đắm say, tiếng cười và tiếng khóc”

Khi Coralie nằm xuống, người đau đớn nhất chắn hẳn là Lucien. Qua lời văn miêu tả ta như nhận thấy giọng thương tiếc mà Balzac dành cho nàng. Nàng rất chung thủy với Lucien, tình yêu của nàng đáng được trân trọng. Mối tình như vậy quả cũng rất hiếm thấy trong xã hội kim tiền kia. “Trên mặt Coralie sáng ngời cái vẻ đẹp như hoa nó nói hùng hồn với người sống bằng sự biểu thị một mối điềm tĩnh tuyệt đối”, “chốc chốc đôi môi tím nhạt của nàng muốn hé mở và nói thầm tên của Lucien, cái tên đó xen với tên Chúa đã được nàng nhắc tới trước khi tắt thở”.

Lucien cũng thừa nhận sự quan trọng của nàng trong đời mình. Con người ấy đau đớn, xót xa cho sự ra đi của người phụ nữ đáng thương, người cho anh niềm hạnh phúc, cho anh tình yêu chân thật. “Em đã đón nhận hơi thở cuối cùng của một trong những nhân vật kiều diễm nhất do thượng đế sáng tạo, người đàn bà duy nhất vừa biết yêu em như chị, như David và mẹ vừa gắn với những tình cảm rất vô tư, cái đó một người mẹ, một người chị không thể đem lại được: mọi hạnh phúc tuyệt vời của tình yêu! Sau khi đã hi sinh tất cả cho em có lẽ nàng Coralie tội nghiệp vì em mà chết!”.

Chàng ngẹn ngào thương xót cho người tình xấu số “Người con gái trong trắng đó, em tin rằng nàng đã được thượng đế tha thứ, vì nàng chết như người ngoan đạo. Chao ôi! Pari! …. Chị ơi Pari vừa là tất cả sự vinh quang vừa là tất cả sự ô nhục của nước Pháp, bao nhiêu mộng tưởng của em đã tan vỡ ở đó, và còn bao nhiêu nữa sắp tan vỡ khiến  em ngửa tay xin tiền cần thiết để chôn cất thể xác một thiên thần nơi đất thánh!”

7. Bà Bargeton- nỗi đau thầm kín của người phụ nữ quý tộc

 Người phụ nữ quý tộc này đáng lẽ nhận được nhiều lời chế giễu của Balzac hơn là là lời văn nhẹ nhàng. Nhưng đọc kĩ ta vẫn thấy dường Balzac  thấu hiểu và cố giải thích cho  những đau khổ thầm kín của bà. Bà cũng là một nạn nhân của xã hội, tuy không trực tiếp chịu sự chi phối của đồng tiền nhưng nỗi đau của bà cũng không kém phần thê thảm. Bà chịu nỗi đau về tinh thần, chịu sự thiếu thốn về tình cảm, những tình cảm chân thật, tha thiết. “Đau đớn đã phủ lên mặt người đàn bà đó một tấm màn sầu thảm. Bóng mây đó chỉ tan đi vào cái tuổi kinh khủng mà người đàn bà bắt đầu luyến tiếc những năm đẹp đã qua mà mình không tận hưởng, mà họ nhìn thấy nhan sắc của mình tàn tạ, mà những khát khao cả tình yêu tái sinh với ước nguyện kéo dài những nụ cười cuối cùng của tuổi thanh xuân. Tất cả mọi điểm ưu việt của bà để lại vết thương trong lòng khi bà bị ốm rét trong hơi lạnh tỉnh nhỏ. Như loài chồn trắng, bà sẽ chết vì ưu phiền nếu ngẫu nhiên bà bị uế tạp vì chung đụng với những kẻ đàn ông chỉ biết đánh ván bài xu vào buổi tối sau bữa ăn ngon. Tính kêu hãnh làm bà tránh được những mối tình chán ngắt ở tỉnh nhỏ. Giữa bọn đàn ông bất tài ở chung bà và cõi hư vô. Một người đàn bà ưu tú như bà tất chọn cõi hư vô. Cho nên hôn nhân và xã hội đối với bà là một tu viện. Bà sống bằng thơ như người tu khổ hạnh sống bằng tôn giáo”.

Người phụ nữ ấy cũng chịu áp lực. Sống trong xã hội thượng lưu không hẳn là hạnh phúc đôi khi con người cũng bị chúng tra tấn bởi những lề thói của xã hội ấy. Cuộc sống ở tỉnh nhỏ đặc biệt không thuận lợi cho những sự thỏa mãn về tình yêu, nó thường đẩy những tâm hồn sôi nổi tới những biện pháp cực đoan. Bởi vì  “cuộc sống đó dựa vào một sự do thám rất tỉ mỉ vào tình trạng mọi việc trong nhà hở ra ngoài, nó rất ít cho phép sự gần gũi thân mật để an ủi, những quan hệ trong sạch nhất bị kết tội rất vô lí, đến nỗi nhiều người đàn bà bị sỉ nhục mặc dầu họ vô tội”.

Ban đầu bà chẳng làm gì nên tội nhưng xã hội thượng lưu chẳng cho con người sống an phận. Bởi thế “một số trong họ đâm ra giận mình đã không tận hưởng lạc thú của một lỗi lầm đã gây ra cho họ bao nhiêu điều khốn khổ. Xã hội chê trách hay phê phán mà không xét kĩ những sự kiện hiển nhiên kết thúc bao nhiêu đấu tranh ngấm ngầm, dai dẳng, là đồng lõa một cách thô thiển với những chuyện tai tiếng kia. Nhưng phần nhiều những kẻ phỉ báng những chuyện gọi là tai tiếng của những người đàn bà bị vu cáo một cách vô lý, họ không hề nghĩ tới những nguyên nhân đã đưa những người này tới một giải pháp công khai. Bà Bargeton sắp rơi vào một cái cảnh kì khôi mà nhiều phụ nữ mắc phải, họ chỉ hư hỏng sau khi bị kết án một cách bất công”. Balzac cảm thông cho người phụ nữ ấy, lỗi lầm của bà một phần do xã hội gây nên.

*******

Tiểu thuyết “Vỡ mộng” có không ít những nhân vật ưu tú, lương thiện. Bên cạnh Michel còn có nhiều nhân vật khác. Tuy không ở cái cỡ của anh nhưng cũng là những con người chân thật, ngay thẳng, căm ghét những tệ lậu của xã hội tư sản, không a dua với nó, không bị đồng tiền khuất phục, giữ được phẩm chất cao quý của con người. Đó là D’Arthez cùng những người khác trong nhóm của anh, hay như David, vợ David… Bên cạnh bao nhiêu chuyện xảo trá, lật lọng, phản bội, ăn cướp đầy rẫy trong xã hội tư sản- quý tộc đó, vẫn còn có chỗ cho những mối tình cao đẹp, chung thủy, những lí tưởng trong sáng như tình bạn giữa nhóm nghiên cứu, tình yêu giữa Lucien-Corelie, tình vợ chồng  David và Eve tỏa sáng. Chính vì vậy mà đối với sáng tác của Balzac, tiểu thuyết “Vỡ mộng” nói riêng cũng như nền văn học hiện thực phê phán nói chung không phải hoàn toàn vắng bóng những nhân vật tích cực, nhân vật chính diện. Những nhân vật như thế với tư tưởng và tình cảm của họ, với tấm lòng và lý tưởng của họ đã mang lại cho tiểu thuyết của Balzac nói chung một viễn tưởng nào đó về tương lai, một tinh thần lạc quan nhất định. Chỉ tiếc rằng họ chưa thể trở thành nhân vật trung tâm trong “Tấn trò đời” của ông! Tất cả tạo thành yếu tố lãng mạn trong chủ nghĩa hiện thực của Balzac.

   4. Kết luận về giọng lãng mạn

Balzac không những nhìn thấy bước tận cùng không tránh khỏi của giai cấp quý tộc mà còn nhìn thấy những con người chân chính của tương lai. Đó là những người như chiến sĩ cộng hoà oanh liệt Misen, nhà chính trị lớn có thể làm thay đổi bộ mặt thế giới. Cũng phải nói tới sự có mặt trong tác phẩm cuả Balzac không ít hình tượng những con người bình thường mà trong sạch, cao quý kiểu như  David, nàng Eve….Chính sự có mặt trong tiểu thuyết Balzac hình tượng những con người chân chính của tương lai và những con người bình thường cao quý như vậy đã đem lại cho “Tấn trò đời” một viễn tưởng lịch sử đúng đắn và bác bỏ luận điệu của một số nhà tư sản cho là Balzac bi quan. Chính điều này lại chứng tỏ rằng  nhà văn hiện thực lớn Balzac không hề gạt bỏ những yếu tố trữ tình, yếu tố lãng mạn. Sự thật, Balzac đã kế thừa những truyền thống tốt đẹp của chủ nghĩa lãng mạn tích cực và ông nâng lên một trình độ cao hơn. Tác phẩm của ông chứng minh một cách đầy đủ rằng chủ nghĩa hiện thực chân chính bao giờ cũng kết hợp tả chân với trữ tình, hiện thực với lãng mạn, vì đó là bản chất của đời sống, của con người.

D’Arther, Misen hay Eugnie Grandet, David, Eve, Coralie….như những ngôi sao loé lên, dù trong khoảng khăc của bóng đêm, họ đem lại niềm tin, hay đúng hơn họ giữ vững niềm tin ở con người, ở cuộc đời. Rõ ràng Balzac đã nắm được vấn đề tả chân với trũ tình, hiện thực với lãng mạn, chính trong tác phẩm của mình ông chứng minh điều đó. Mối tình trong sáng của Eugenie Grandet, tình yêu thắm thiết của Coralie dành cho Lucien, tình yêu con quá quắt của lão Goriot, tình bạn chân thành của nhóm D’Arthez…..tất cả đều là trữ tình, là lãng mạn và có biểu hiện lãng mạn nào bằng sự tin tưởng ở con người và dõi tới tương lai, cho dù tương lai đó ở Balzac cũng như ở thời đại ông nó chỉ là mường tượng mơ hồ.

Nhà văn XôViết A.Fadêv viết về Balzac như sau: “Balzac vĩ đại vì trong các nhà nghệ thuật tư bản Tây Âu, ông thể hiện trong tác phẩm của mình sự mãnh liệt hơn cả sự tổng hợp chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn. Chính vì thế mà ông là nhà văn hiện thực lớn nhất Tây Âu thế kỉ XIX”

Mặc dầu nhìn thấy xã hội đương thời xấu xa, ghê tởm và không ngần ngại vạch trần bộ mặt xấu xa thảm hại của nó nhưng nhà văn vẫn không rơi vào chủ nghĩa bi quan. Ông vẫn còn giữ được lòng tin ở cuộc đời và con người. Giữa cái xã hội lang sói đó, giữa cảnh vật lộn điên cuồng tàn khốc đó, vẫn có những bông sen toả hương thơm, vẫn còn những con người chân chính nhất là trong dân nghèo, vẫn còn những mối tình thắm thiết chẳng bị hoan ố, hôi tanh vì đồng tiền.

Là bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực nhưng ta vẫn bắt gặp trong văn Balzac không ít câu văn trữ tình thắm thiết. Chính ở chỗ đó chủ nghĩa hiện thực của Balzac đạt tới chỗ bao gồm tả chân lẫn trữ tình, và nó mang trong nó yếu tố lãng mạn như một bộ phận hữu cơ của bản thân hiện thực xã hội.

CHƯƠNG VI: ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC PHÁP ĐẾN CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC PHÊ PHÁN TRONG NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM

1. Đặc điểm của chủ nghĩa hiện thực

            Chủ nghĩa hiện thực rất quan tâm đến hiện thực đời sống  xã hội. Nó có nhu cầu phản ánh, miêu tả chân thật sự thật khách quan của bức tranh đời sống. Nó có tham vọng đi tìm chân lí, đi tìm bản chất và quy luật của cuộc sống nằm ở bề sâu của các hiện tượng. Nó phân tích, lí giải để mong muốn soi sáng chân lý ấy. Do đó những tác phẩm hiện thực thường đem đến cho người đọc hiểu biết đa dạng, phong phú về cuộc sống.

Khát vọng của chủ nghĩa hiện thực là muốn nói lên sự thật. Khi phản ánh cuộc sống, các nhà văn thường đặt chúng trong khung cảnh của một thời đại nhất định để thể hiện cuộc sống một cách chân thật- lịch sử- cụ thể và nhận thức cuộc sống trên quan điểm xã hội lịch sử nhất định. Các nhà văn hiện thực rất ý thức về thời đại mình đang sống và thể hiện thời đại ấy vào trong tác phẩm. Nhưng khác với nhà sử học, nhà văn biết lựa chọn vấn đề, sự kiện quan trọng để thể hiện thời đại mình. Những gì được phản ánh trong tác phẩm của họ không hoàn toàn chính xác như sử học mà quan trọng là khi phản ánh hiện thực phải phù hợp với tinh thần và bản chất của thời đại.

Chủ nghĩa hiện thực yêu cầu phải theo nguyên tắc điển hình hóa, nghĩa là phải xây dựng các điển hình: tính cách điển hình, hoàn cảnh điển hình, vì đó là công cụ để phản ánh, nhận thức, khám phá bản chất và quy luật khách quan của cuộc sống.

Tinh thần của chủ nghĩa hiện thực là phân tích xã hội và phân tích thế giới nội tâm của con người. Để đạt được khát vọng đi tìm chân lí, khám phá ra bản chất, quy luật của cuộc sống, các nhà văn hiện thực thường đi sâu phân tích nhiều vấn đề, nhiều xung đột phức tạp của xã hội. Từ việc phân tích họ lí giải nguyên nhân dẫn đến những cái xấu trong xã hội.

Khuynh hướng tư tưởng của các nhà văn hiện thực phê phán là đấu tranh cho nền dân chủ chủ nghĩa nhân đạo.

Chủ nghĩa hiện thực với những đặc điểm của nó thường tìm đến với các thể loại thích hợp như truyện ngắn, tiểu thuyết và phóng sự.

2. Văn học hiện thực phê phán Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945

2.1. Sự hình thành khuynh hướng văn học hiện thực phê phán ở Việt Nam

 Một khuynh hướng văn học bao giờ cũng xuất hiện trên cơ sở những tiền đề nhất định. Những mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp trong xã hội Việt Nam thời kì 1930-1945, những ảnh hưởng qua lại trên lĩnh vực ý thức hệ, những tác phẩm hiện thực chủ nghĩa trong các thế kỉ trước và thời kì cận đại. Đó là các tiền đề khách quan giúp cho khuynh hướng văn học hiện thực phê phán hình thành và phát triển.

 Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học xuất hiện ở các nước phương Tây vào thế kỉ XIX và phát triển với nhiều thành tựu rực rỡ ở Anh, Pháp, Nga. Ở Việt Nam khuynh hướng văn học này thực sự ra đời vào những năm 1920 và phát triển mạnh mẽ từ khoảng 1936 đến 1945.

Chủ nghĩa hiện thực chỉ thể hiện đầy đủ đặc trưng của có trong văn xuôi, đặc biệt là trong thể văn tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự. Nền văn xuôi tiếng Việt của ta chỉ thật sự ra đời vào thế kỉ XX. Bởi thế văn học hiện thực phê phán chỉ thật sự phát triển vào những năm hai mươi của thế kỉ.

Trước 1930 đã có một số nhà văn sáng tác theo khuynh hướng chủ nghĩa hiện thực phê phán như: Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Phú Đức, Trọng Khiêm…. Nhìn chung tác phẩm của họ cũng chưa thật sự hiện đại, vẫn ảnh hưởng nhiều từ lối viết cũ. Nhưng đây là những dấu hiệu cho sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của khuynh hướng văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930-1945. Có thể xem Hồ Biểu Chánh là người đặt dấu mốc mở đầu cho trào lưu văn học hiện thực phê phán, là nhà tiểu thuyết hiện thực phê phán đầu tiên ở nước ta. Ông có sức viết khá dồi dào, những tác phẩm quen thuộc của ông như: Cay đắng mùi đời, Tiền bạc bạc tiền, Tỉnh mộng, Ngọn cỏ gió đùa, Cha con nghĩa nặng, Vì nghĩa vì tình, Con nhà nghèo ….và nhiều tác phẩm khác.

2.2. Quá trình vận động và phát triển của văn học hiện thực phê phán Việt Nam

Từ đầu những năn 1930, văn học hiện thực đã phát triển mạnh mẽ hơn theo tiến trình hiện đại hóa chung của nền văn học dân tộc. Người ta thấy xuất hiện truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan, những thiên phóng sự đặc sắc của Vũ Trọng Phụng, phóng sự của Tam Lang…. Tuy nhiên, giai đoạn 1930-1935, văn học lãng mạn vẫn nổi trội hơn với những thành tựu của Thơ Mới, của nhóm Tự lực văn đoàn. Và văn học hiện thực giai đoạn này chưa có những tác phẩm thật sự xuất sắc, tác phẩm chưa bao quát được một hiện thực rộng lớn, đầy đủ các mặt của đời sống và cũng chưa nêu được những vấn đề thuộc bản chất xã hội.

Văn học hiện thực ở Việt Nam chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ và chiếm ưu thế trên văn đàn văn học công khai từ 1936 trở đi. Vì lúc này Mặt trận Dân chủ Đông Dương phát triển, thực dân Pháp nới rộng tự do dân chủ. Nhiều tác phẩm văn học hiện thực có giá trị ra đời. Vũ Trọng Phụng vốn được biết đến như cây bút viết phóng sự sắc sảo thì bây giờ tài năng của ông càng nở rộ với những tiểu thuyết thật sự có thể xem là kiệt tác: Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê. Nguyễn Công Hoan thời kì này thể hiện sức sáng tạo dồi dào với hằng trăm truyện ngắn và những tiểu thuyết hiện thực như: Bước đường cùng, Cái thủ lợn. Đây cũng là thời kì Ngô Tất Tố cho ra đời Tắt đèn, Lều chõng. Nguyên Hồng  viết Bỉ vỏ, Những ngày thơ ấu…..Nhiều truyện ngắn hiện thực của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếch.

Văn học hiện thực phê phán không chỉ đáp ứng những yêu cầu của cuộc đấu tranh xã hội trong một thời kì lịch sử sôi động mà còn phản ánh qúa trình vận động của các hệ tư tưởng. So với trước 1930, ảnh hưởng của hệ tư tưởng phong kiến đối với tầng lớp tri thức, văn nghệ sĩ có yếu đi, trong khi đó tư tưởng dân chủ tư sản với chủ nghĩa xã hội khoa học ngày càng ảnh hưởng sâu đậm đến các nhà văn hiện thực.

Luồng tư tưởng tư sản tác động đến các nhà văn theo hai chiều hướng: tiến bộ và phản động. Bọn thực dân thì khuyến khích khuynh hướng duy tâm tư sản như tư tưởng Hồ Thích, triết học Kant, Bergson, học thuyết Freud, Nietzsche và những tác phẩm văn học của Marcel Proust, Andre Gide. Tuy nhiên, luồng tư tưởng tư sản tiến bộ vẫn tác động đến các nhà văn hiện thực Việt Nam qua các tác phẩm của Diderot, Voltaire, Rouseu và đặc biệt là Balzac, Stendhal,…Tinh thần khoa học và triết học duy vật đã giúp các nhà văn hiện thực xác định phương pháp miêu tả theo chủ nghĩa khách quan lịch sử, phương pháp miêu tả tâm lí, xây dựng các tính cách điển hình và các hoàn cảnh điển hình, xây dựng các kết cấu tiểu thuyết theo khuynh hướng hiện đại. Một số nhà văn đã tránh được lối lý tưởng hóa nhân vật, biến nhân vật thành loa phát ngôn đạo đức, mặc khác đã bắt đầu hình thành lối cá thể hóa nhân vật, tôn trọng đời sống khách quan của nó. Các nhà văn hiện thực Việt Nam đã chịu ảnh hưởng rất rõ ràng từ phương Tây như Vũ Trọng Phụng, Nam Cao với lối viết mới hơn so với các nhà văn đi theo con đường truyền thống quen thuộc.

Ngoài ra thời kì này các nhà văn tiến bộ còn được tiếp xúc với sách nghiên cứu về chủ nghĩa Marx, về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Đặc biệt là những tác phẩm của nền văn học xã hội chủ nghĩa  của Liên Xô: Người mẹ của Groki, Thép đã tôi thế đấy của Oxtrotxki…..Ảnh hưởng từ các phong trào đấu tranh cách mạng và ánh sáng của chủ nghĩa xã hội khoa học đã giúp các nhà văn hiện thực phê phán thấy rõ hơn vấn đề giai cấp và cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội.

Văn học hiện thực phê phán Việt Nam xuất hiện sau chủ nghĩa hiện thực phương Tây gần một thế kỉ. Khi chủ nghĩa hiện thực phê phán Pháp đã nhường chỗ cho chủ nghĩa tự nhiên cuối thế kỉ XIX và tác phẩm của Macxim Gorki đã khai sinh phương pháp sáng tác mới của thời đại. Bên cạnh đó chủ nghĩa hiện thực Việt Nam còn phát triển song song với dòng văn học lãng mạn và văn học cách mạng. Do đó, văn học hiện thực phê phán của Việt Nam mang nhiều phức tạp và mâu thuẫn.

Năm 1939, thời kì Mặt trận Dân chủ Đông Dương chấm dứt, văn học hiện thực phát triển theo hướng khác. Các nhà văn không có điều kiện đề cập những vấn đề nóng bỏng trong xã hội như trước, họ phải viết khéo léo và kín đáo hơn. Phần lớn tác phẩm đi vào chuyện đời tư, đời thường, chuyện phong tục, đặc biệt là những suy ngẫm về cuộc đời, ý nghĩa cuộc sống của nhà văn. Tuy vậy các tác phẩm cũng đạt đến chiều sâu tư tưởng mới, sâu sắc về cuộc đời, về thân phận con người, nhất là ở các tác phẩm của Nam Cao.

Tuy vẫn còn hạn chế về tư tưởng, về thế giới quan nhưng các nhà văn hiện thực cũng đã mang đến cho nền văn học Việt Nam những tác phẩm có giá trị hiện thực, góp phần phản ánh một thời kì lịch sử phức tạp của dân tộc, tái hiện được những xung đột xã hội gay gắt trước Cách mạng tháng Tám và nỗi khổ của con người trong xã hội cũ. Tác phẩm hiện thực còn thấm một tinh thần nhân đạo sâu sắc khi thể hiện sự cảm thông đối với thân phận con người, tố cáo cái xã hội tàn bạo đã áp bức con người đến cùng cực. Nhưng vì chưa tìm ra lối thoát cho con người nên kết thúc tác phẩm thường là bế tắc. Dẫu sao thì các nhà văn cũng thể hiện rõ sự trân trọng và niềm tin vào bản chất tốt đẹp của con người.

Những đóng góp quan trọng của chủ nghĩa hiện thực phê phán việt Nam 1930-1945 đã góp phần hoàn thành quá trình hiện đại hóa nền văn học Việt Nam ở chặng đường đầu tiên. Thành tựu của văn học hiện thực đã đánh dấu cột mốc quan trọng trong sự phát triển của văn chương dân tộc.

3. Những tác giả tiếp thu ảnh hưởng phong cách “đa giọng điệu” của Balzac

 Nhiều nhà nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại nhận xét: một trong những đặc điểm của trào lưu văn học hiện thực Việt Nam thời kì 1930-1945 là tính chất trào phúng. Có thể nói tiếng cười trong văn xuôi thời kì này đã đạt được những thành tựu phong phú, đa dạng chưa từng có. Đầu những năm 30, đặc biệt là từ 1935 trở đi, văn xuôi trào phúng đã phát triển thành phong trào, với những bước tiến rực rỡ về số lượng lẫn chất lượng. Và được kết tinh ở những đỉnh cao như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao….. Những đóng góp của họ cho nền văn học trào phúng Việt Nam hiện đại quả thật đáng kể, thể hiện ở hai phương diện:

Thứ nhất: các ông đã sáng tạo hàng loạt tác phẩm trào phúng độc đáo, thể hiện khuynh hướng tư tưởng tiến bộ và đạt chất lượng nghệ thuật cao

Thứ hai: Mỗi nhà văn tự tạo cho mình một giọng cười riêng không thể trộn lẫn. Vũ Trọng Phụng sáng tạo mô hình giễu nhại ở quy mô toàn xã hội với hàng loạt tình huống vô nghĩa lí, hàng loạt chân dung nhân vật vô nghĩa lí được khắc họa bằng những nét hí họa hết sức phóng túng và có giá trị điển hình sâu sắc. Hơn thế nữa, khả năng sử dụng ngôn ngữ đối thoại, nhất là việc sáng tạo những giọng điệu giễu nhại phong phú và những cung bậc tiếng cười đa dạng đồng thời kết hợp hài hòa hai yếu tố truyền thống và hiện đại, phương Đông và phương Tây càng làm cho tiếng cười Vũ Trọng Phụng thêm sức mạnh và sức hấp dẫn. Nam Cao thì luôn nhìn đời bằng con mắt của tình thương, nên tiếng cười, giọng văn của ông vì thế cũng mang âm hưởng của tình thương. Ông dùng tiếng cười để giúp con người nhận ra và biết xấu hổ với những gì phàm tục, tầm thường của bản thân trong cái môi trường xã hội tù hãm, u ám đang vây quanh họ.

Một bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực như Balzac chắc hẳn sẽ có nhiều người theo học tập. Sự ảnh hưởng của Balzac đối với một nền văn học của một nước, đối với các tác giả của nền văn học ấy cũng là điều dễ hiểu. Trong sự hạn hẹp của luận văn, chúng tôi chỉ nêu ra đây 2 tác giả trong dòng văn hiện thực của Việt Nam có sự ảnh hưởng phong cách đa giọng điệu của Balzac: Vũ Trọng Phụng và Nam Cao.

3.1. Vũ Trọng Phụng

Ở thời kì cận đại, văn xuôi chủ yếu sử dụng độc thoại, mang tính ước lệ (lời kể của tác giả hay người kể chuyện, lời độc thoại của nhân vật). Đến thời hiện đại, văn xuôi phát triển theo hướng đa thanh, đa âm, đa giọng điệu. Ở đây giọng tác giả  trở thành yếu tố quan trọng trong việc liên kết các giọng điệu của một cuộc hội thoại mang tính chất xã hội rộng lớn. Vũ Trọng Phụng là một trong số không nhiều nhà văn tạo ra được những tác phẩm như thế và “Số đỏ” là một ví dụ tiêu biểu. Đọc tác phẩm này ta thấy trong mỗi câu, mỗi đoạn, mỗi trang, mỗi chương và trong toàn bộ tác phẩm luôn ăm ắp tiếng cười lớn nhỏ. Tiếng cười ấy được dệt nên, được kết thành bởi những giọng điệu trào phúng phong phú, đa dạng. Giọng điệu trào phúng chính ở “Số đỏ” là giọng giễu nhại. Và có thể xem giọng giễu nhại như một trong những nét nổi trội trong phong cách trào phúng của Vũ Trọng Phụng.

“Số đỏ” giễu nhại ai, giễu nhại sự việc gì? Khó mà nêu ra đầy đủ bởi xã hội trong “Số đỏ” không có thứ gì là không đáng nhại, đáng cười. Tuy nhiên có thể thấy nét chính trong giọng điệu trào phúng của tác giả, ông nhại những phong trào tư tưởng văn hóa lai căng đang lên cơn sốt ở xã hội thành thị thời bấy giờ, những phong trào đã trở thành mốt của thời đại.

Phong trào Âu hóa về phương diện nào đó cũng có những nét tính cực. Nhưng với Vũ Trọng Phụng, Âu hóa chỉ là trụy lạc hóa. Có thể nói “Số đỏ” giễu nhại cả xã hội vô nghĩa lí và điểm tập trung nhất là giễu nhại cái xã hội thành thị Việt Nam với hàng loạt những cải cách rất lố bịch, rất nực cười. Nào là mốt bình dân, mốt tín ngưỡng theo lối cải cách Phật giáo cho hợp thời trang. Mốt phụ nữ phải có “hai cái tình”, nghĩa là “có chồng thôi mà không có nhân tình gì hết là hèn, là xấu, không đức hạnh gì cả, không có thông minh nhan sắc gì cả, nên chẳng có ma nào nó theo. Nếu tôi không nhân tình thì bạn hữu tôi sẽ khinh bỉ tôi, tôi còn sống với đời sao được?” (lời Hoàng Hôn, vợ Phán dây thép). Mốt khai trí tức là đưa những từ như “nước mẹ gì”, “mẹ kiếp” vào ngôn ngữ giao tiếp. Nào là mốt lịch thiệp, mốt nói tiếng Tây làm sang…..Tất cả những cái rởm đời, nhố nhăng ấy đều nhận lấy sự chế giễu qua giọng điệu hết sức trào phúng của Vũ Trọng Phụng.

Tiếp đến là giễu nhại phong trào thể dục thể thao. Bản thân hoạt động này không đáng bị giễu nhại, ngược lại đáng ca ngợi. Song lợi dụng hoạt động này để làm điều không lạnh mạnh thì thật đáng phê phán. Vũ Trọng Phụng dành nhiều trang để giễu nhại phong trào thể dục thể thao do thực dân phát động, nhất là việc phụ nữ tập thể thao. Bà Văn Minh được xem là một mẫu mực của phong trào này, bà hành động thực tế, với trang phục rất “hợp thời trang”. Thầy dạy là Xuân Tóc Đỏ, người đã từng đánh hỏng máy quả banh trong khi dạy vì nhìn thấy cặp đùi của cô học trò này. Ông “ giáo sư quần vợt” này nguyên là thằng nhặt banh quần, nay trở thành “gia sư” cho bà Phó Đoan. Người đàn bà luôn lo lắng “dễ tôi cũng phải tập thể thao mới được, khéo mà già đi mất”, nghĩ thế bà bỏ tiền ra xây sân quần để “giăng phơi những đồ lót của phụ nữ” ngay trong ngày khánh thành. Đối với bà việc “chinh phục” trái tim chàng Xuân “trẻ trung” quan trọng hơn là việc rèn luyện sức khỏe cho bản thân mình. Vũ Trọng Phụng chế giễu không thương tiếc người đàn bà nạ dòng này “tín đồ của chủ nghĩa khỏa thân”, một người chính chuyên đến nỗi chồng bà kiệt sức, cạn sức, “phải chốn xuống suối vàng”, một mệnh phụ “quyết tâm thủ tiết với hai đời chồng”. Bà  “lẳng lơ theo đúng nghĩa lí của sách vở thánh hiền”, “ trót hư hỏng một cách có tính chất khoa học”, cuối cùng nhận được “ bằng tiết hạnh khả phong”.  Trong “Số đỏ”, rõ ràng  phong trào thể dục thể thao, một chính sách mà thực dân phong kiến làm rùm beng, trở thành trò cười dưới ngòi bút của Vũ Trọng Phụng.

Văn chương lãng mạn Việt Nam cũng có những điểm tích cực và không ít nhược điểm. Bằng giọng trào phúng, Vũ Trọng Phụng xoáy vào nét tiêu cực của phong trào văn chương lãng mạn, nhất là tiểu thuyết lãng mạn. Như cô Tuyết, người từng tuyên bố với Xuân “anh biết cho rằng em lãng mạn lắm”. Như một số nhân vật nữ lãng mạn, Tuyết rất lãng mạn “một trang bán xử nữ, nghĩa là demi vierge, nghĩa là còn tân một nữa”. Người phụ nữ này chỉ muốn  “cách mệnh cái gia đình hủ lậu và khốn nạn để được tự do”, để được sung sướng  “viết ngay một cuốn tiểu thuyết của đời mình”. Hay những khi cao hứng của lãng mạn, nàng nói với Xuân “em sung sướng quá! Em muốn chết anh ạ! Em muốn tự tử….Nếu cả hai ta cùng nhảy xuống lớp sóng bạc kia thì có phải cả nước sẽ bàn tán mãi về cuộc tình duyên ghê gớm của chúng ta không!”

Bên cạnh đó, thơ lãng mạn cũng là đối tượng trào phúng của Vũ Trọng Phụng. Tác giả xây dựng lên một thi sĩ lãng mạn-  hôn phu của Tuyết. Với dáng người nhỏ bé, mặt hốc hác, đôi mắt lờ đờ, thân thể ốm o trong bộ âu phục, thi sĩ đọc những bài thơ xúc cảm, ướt át nhưng chẳng ăn nhằm gì với vài câu thơ cảm cúm nhức đầu của Xuân thời bán thuốc dạo. Bài thơ khi đọc lên Tuyết phải trầm trồ “giời ơi anh là bậc kì tài”. Còn chàng thi sĩ kia “thán phục”, “cúi đầu” chào rồi chuồn mất với cái mặt đỏ vì hổ thẹn.

Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng là chuỗi cười dài nhiều giọng điệu, sắc thái, cung bậc. Ngoài giọng chủ đạo là giễu nhại ta còn nhận ra nhiều giọng trào phúng khác:

_ Giọng vui đùa cười cợt ( đoạn Xuân ghẹo chị hàng mía).

_ Giọng bông phèng thoải mái ( “Trong lúc gia đình đang nhốn nháo, thằng bồi tiêm đếm được 1872 câu “Biết rồi khổ lắm nói mãi” của cụ Cố Hồng”)

_Giọng châm biếm (chân dung nhà sư “ông này cũng tân thời âu hóa theo văn minh vì ông có ba cái răng vàng trong mồn, cái áo lụa Thượng Hải nhuộm nâu, đi đôi dep láng đế cao su, và nhất là đẹp giai lắm, trông phong tình lắm”)

_ Giọng mỉa mai ( cái chết của cụ tổ đã “làm cho nhiều người sung sướng lắm”, “một bầy con cháu chí hiếu chỉ nóng lòng đem chôn cho chóng cái xác chết”, “tưng bừng đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê đám ma”, “một đám to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài mỉm cười sung sướng” )

Giọng điệu trào phúng ở Vũ Trọng Phụng rất đặc sắc, rất thâm thúy. Chỉ xét trong “Số đỏ” và với một thời lượng ngắn thì chưa đủ thấy hết cái hay và đặc sắc trong giọng điệu trào phúng của ông. Nhưng qua phần trên giúp ta nhận thấy rằng ông đã học tập phong cách đa giọng điệu từ Balzac.

Ở Vũ Trọng Phụng cũng có những hạn chế nhất định. Nhiều điều ông chưa thể sánh kịp Balzac. Như về quy mô hiện thực và nhất là quá trình hình thành và phát triển tính cách của nhân vật điển hình, nhân vật của ông còn thiếu độ dày, độ sâu. Đặc biệt, nghệ thuật trào phúng của ông thiên về khoa trương, cường điệu, tượng trưng, điều này làm “Số đỏ” bị giảm tính chân thật khách quan, nặng tính chủ quan và định kiến.

Nhưng với những đóng góp to lớn của ông vào nền văn học hiện thực phê phán nước nhà, ông vẫn được đánh giá “nhà văn của thời đại”, “người chiến sĩ tranh đấu đến phút cuối cùng”, “một nhà văn mà cái thiên tài không còn nghi ngại được”,  “được đặt vào vị trí vinh quang của những người bất tử”(Nguyễn Hoàng Khung trong “Vũ Trọng Phụng- Tài năng và sự thật).

3.2. Nam Cao

 Từ điển thuật ngữ văn học xác định : “Trong tác phẩm, ngôn ngữ văn học là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của mỗi nhà văn. Mỗi nhà văn lớn bao giờ cũng là một tấm gương sáng về mặt hiểu biết sâu sắc ngôn ngữ nhân dân, cần cù lao động để trao dồi ngôn ngữ trong quá trình sáng tác”. Nam Cao là một nhà văn lớn bởi ông là một nghệ sĩ ngôn ngữ đầy tài năng. Với năng lực đặc biệt trong việc “vận dụng tiếng nói của đời sống một cách chủ động với  một trình độ nghệ thuật cao”, Nam Cao đã tạo ra trong tác phẩm của mình hầu như đủ mọi giọng điệu. Xét trong phạm vi những sáng tác có tính trào phúng, giọng hài hước Nam Cao được thể hiện một cách phong phú, đa dạng. Có thể nói, tiếng cười Nam Cao là một tiếng cười nhiều giọng điệu. Tiếng cười cuả ông là tiếng cười hướng nội rất sâu. Tiếng cười Nam Cao chủ yếu hướng vào đối tượng tiểu tư sản, những con người có đời sống tinh thần không đơn giản, một chiều, luôn có đời sống nội tâm sôi sục bởi cuộc đấu tranh âm thầm và quyết liệt giữa cái tốt và cái xấu, cái cao thượng và cái phàm tục, cái nhân ái và cái ích kỉ, cái chân thực và cái giả dối…. Tiếng cười Nam Cao vì thế đa dạng hơn, sâu sắc hơn, phức tạp hơn.

Về ngôn ngữ, người ta thấy Nam Cao thiên về tạo nên những giọng điệu khác nhau làm cho tiếng cười trở nên đậm đà, thấm thía, đau xót vì đó là tiếng cười ra nước mắt. Trong tác phẩm văn học, câu văn phải có hồn, tức là câu văn có giọng, có ngữ điệu. Dù bài văn được chọn có thông báo nhiều điều quan trọng nhưng nếu bài văn không có giọng thì  đọc lên vẫn nhạt nhẽo, vô vị. Sự phong phú, tính đa nghĩa  ý vị đậm đà của bài văn trước hết là ở giọng. Như vậy giọng điệu có vai trò hết sức quan trọng trong tác phẩm văn học. Nó là thái độ, tình cảm, lập trường đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc độ tình cảm …. Giọng điệu có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho người đọc. Với ý nghĩa như vậy chúng tôi tin rằng việc tìm hiểu giọng điệu trào phúng Nam Cao sẽ giúp ích rất nhiều cho việc nhận ra nét đặc sắc, độc đáo của tiếng cười của nhà văn, đồng thời góp phần chứng minh rằng Nam Cao là một nhà văn đa giọng điệu.

Đã có rất nhiều người nói về sự phong phú của giọng điệu Nam Cao. Ở đây chúng tôi nhấn mạnh và khẳng định rằng tuy không chuyên về trào phúng nhưng giọng cười Nam Cao lại rất phong phú, đa dạng: có vui đùa thoải mái (Rình trộm), có cười cợt giễu nhại (Giăng sáng, Chuyện tình), có mỉa mai nhẹ nhàng (Cười, Sống mòn), có mỉa mai cay độc (Cái mặt không chơi được, Chí Phèo), có mỉa mai triết lí (Một bữa no, Sống mòn, Chí Phèo), có tự trào …. Trong những giọng cười này, tự trào bao giờ cũng nổi lên như một âm chủ. Tự trào là một hình thức châm biếm thú vị. Nam Cao luôn tỉnh táo để phân biệt một cách mẫn cảm, rõ rệt ranh giới giữ cái nghiêm túc và khôi hài, hay và dở, đúng và sai trong bản thân mình. Nam Cao cũng rất thẳng thắn và mạnh dạng để nói ra những nhược điểm, những ý nghĩ buồn cười của bản thân mà châm biếm. Giọng tự trào của Nam Cao được thể hiện trong những tác phẩm có tính trào phúng của ông dưới nhiều dạng thức khác nhau: khi thì tự trào lạnh lùng, lúc lại tự trào hờn dỗi, phổ biến nhất là tự trào cay đắng, chua chát, ngậm ngùi. Nói thể để thấy sắc thái tự trào ở tiếng cười Nam Cao rất phong phú, đa dạng. Những sắc thái cười ấy thường đan xen, trộn lẫn, khó phân biệt rành mạch. Chẳng hạn: “Hỡi thượng đế mà người ta đồn là rất công bình và chỉ làm toàn điều nhân, sao người lại cho tôi một cái mặt tai hại thế này?  Một cái mặt.. nó thế nào! Ai chỉ gặp tôi có một lần cũng có cảm tưởng khó chịu về tôi, mặc dù tôi gặp ai cũng cố làm mình không đến nỗi là thằng đáng ghét. Tôi lễ phép, tôi nhã nhặn, hay thân mật tùy trường hợp. Tôi lưu ý mỗi người để chiều người. Thật công toi! Bởi rồi người ta cứ phải ghét tôi, tuy tôi không có cớ để ghét mới khổ cho tôi chứ. Tôi khinh khỉnh ư, tôi ngạo nghễ ư? Tôi lèo lá quá ư? Hay trái lại tôi khúm núm, tôi đê tiện quá. Hay là tôi thô tục. Không, không họ không nói thế. Họ biết tôi không có một tí gì như thế. Nhưng cái mặt tôi trông làm sao ấy. Chao ôi, chao ôi thế thì tôi còn biết làm sao bây giờ! Sinh ra cái mặt tôi là giời”( Cái mặt không chơi được). Ta nhận ra tiếng cười tự trào ở đây có gì là mỉa mai chua chát, pha buồn tủi, những bao trùm vẫn là giọng tự trào lạnh lùng của con người vốn luôn biết yêu thương, nhưng lặng quá, kín đáo quá.

Nam Cao là một người nhũn nhặn, khiếm nhường nhiều khi e dè , ít nói. Ông tự phê phán nét tâm lí tính cách này bằng những lời tự trào hờn dỗi: “Y nhớ đến hai tiếng hãi người mà  ngày xưa bà y, bố mẹ y vẫn dùng để mắng y, bởi vì y chỉ ru rú ở nhà, chẳng dám đi đâu, chẳng dám đến nhà ai, mà giá có dám đến chơi nhà ai cũng tìm cách lãng đi, bởi chẳng biết nói năng với người ta thế nào. Y đã ngấm ngầm khổ sở rất nhiều vì cái tật hãi người. Y cố sửa nó từ lâu. Mấy năm ở Sài Gòn y đã cố tạo cho y một cá tính khác hẳn cá tính của y. Y ra ngòai thật nhiều, tìm những cuộc họp hội, những chỗ đông người, cố ý bẻn mép, ầm ĩ, trâng tráo, nghênh ngang và luôn luôn tự bảo mình không bao giờ sợ lố.  Y cũng chữa mình được ít nhiều. Những y nghiệm ra rằng y chỉ có thể bạo dạn ở những nơi chẳng có người nào biết y thôi, hay là những khi y thuộc vào một bọn đông. Lẻ loi và những chỗ người ta nhẵn mặt mình, vụng về, ngượng ngịu, y vẫn hãi người như xưa. Khổ cho y là y biết rõ hơn ai hết đó là  một cái kém cõi, một sự đớn hèn. Và y luôn cáu kỉnh với mình, mạt sát mình “ăn không nên đọi, nói không nên lời thì còn làm được trò trống gì ở trên đời này?” (Sống mòn)

Tiếng cười tự trào của Nam Cao chủ yếu hướng vào những người thuộc tầng lớp nình, những con người luôn ý thức một cuộc sống có ý nghĩa  nhưng cứ phải sống mòn bởi cảnh “áo cơm ghì sát đất”. Cũng có khi tiếng cười tự trào của ông đậm vị đắng cay của người ước muốn làm điều ngoài tầm với mình.“Y nhớ đến một vài thiếu nữ quen mặt khác, sáng sáng cắp rổ hay xách làn mây đi qua trước cửa trường, y vẫn làm ra vẻ bạo dạng, ra đứng hiên gác để được nhìn thấy họ, trông họ rất tự nhiên. Những lúc ấy chắc mặt y phái vênh váo lắm đấy chứ chẳng chơi đâu! Rõ thật dơ! Giáo khổ trường tư mà cũng đòi nhìn mặt gái tân thời! Liệu lương có đủ tiền cho người ta mua phấn đánh không: bụng toàn rau muống luộc đấy, ai mà còn chẳng biết! Thứ tưởng ra những lời nói chanh chua ấy. Y thấy mình “lố vô cùng” (Sống mòn)

Đọc Nam Cao ta thấy giọng văn của ông hết sức phong phú đa dạng. Chỉ ở tự trào giọng văn cũng đã được thể hiện ở nhiều dạng thức khác nhau. Trong “Những chuyện không muốn viết” tiếng cười tự trào của tác giả có gì thật cay đắng, đồng thời cũng là sự hờn dỗi tủi thân “Tôi đã hứa với tôi, chẳng bao giờ viết chuyện mình. Tôi sẽ chẳng bao giờ thèm đả động đến cái tôi-mà cái tôi là đáng ghét.  Vẫn biết nhiều bạn đồng nghiệp khả kính của tôi không nghĩ thế. Suốt đời họ, họ chỉ toàn nói về họ. Họ phân tích tâm hồn họ mà họ làm thế chẳng phải là vô ích. Nhưng họ khác mà tôi khác.  Cái nghề văn kị nhất cái lối thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào. Khi người ta nói đến mình là nhận ra mình có một cái gì đáng nói. Còn tôi chẳng có gì. Tâm hồn tôi nó hơi nông. Mà đời tôi thì không có chuyện. Cái tôi của tôi rất xoàng. Trọn đời tôi, tôi chỉ lo chết đói. Như thế bảo nghĩ đến cái to tác sao được. Nguyện vọng của tôi? Ấy là làm thế nào cho vợ con có tiền đong gạo, mua nước mắm và mua ba xu thuốc trốc đầu của bà lang lùn về cho con. Không có mộng. Nói vậy có hơn quá quăt. Thật ra tôi có chút mộng văn chương. Nhưng cái mộng ấy cũng hơi…khi khỉ. Tôi cũng muốn vừa có thể phụng sự nghệ thuật lại vừa có thể kiếm tiền về nuôi cả nhà. Nghĩa là tôi ham viết lắm. Những giá thử viết mà không được đồng xu nhỏ thì có lẽ tôi cũng làm vừa vừa thôi.  Cái tôi của tôi thật sự thì nó bỉ ổi như thế đấy. Tôi còn nói đến tôi làm gì. Tôi tìm những cái khác để nói vậy ?”

Trên đây là những giọng cười tiêu biểu của Nam Cao, tuy chưa phải là một thống kê đầy đủ nhưng hi vọng phần nào chứng tỏ một phong cách trào phúng đa giọng điệu, nhiều sắc thái. Có được điều này một phần là ảnh hưởng chủ nghĩa hiện thực của Balzac nói chung, phong cách đa giọng điệu  Balzac nói riêng.

3.3. Kết luận

Vũ Trọng Phụng và Nam Cao là hai nhà văn xuất sắc trong trào lưu hiện thực phê phán ở Việt Nam. Trong chương này chúng tôi chỉ xét về giọng điệu của hai tác giả trên và cố gắng chứng minh rằng họ ảnh hưởng phong cách đa gịong điệu của Balzac. Nhưng vì luận văn có giới hạn nên chưa thể đi sâu phần này. Mà chỉ mới khai thác chuỗi cười nhiều giọng điệu của Vũ Trọng Phụng và tiếng cười đa sắc thái của Nam Cao.

Qua sự phân tích, có thể nhận thấy Nam Cao gần với Balzac hơn khi tạo cho mình khá nhiều giọng điệu. Nếu Vũ Trọng Phụng nổi trội với giọng giễu nhại thì trong sáng tác của Nam Cao, ngoài giọng cười nhiều sắc thái còn nhiều giọng nổi bật khác như giọng xót xa thương cảm, giọng triết lí…..

KẾT LUẬN

1. Tổng kết những luận điểm cơ bản

             Balzac là một nhà văn có tài. Tài năng của ông không chỉ ở việc ông sáng tác nên một công trình văn học đồ sộ  mà hơn thế nữa ông đã phát triển rực rỡ những giá trị nội dung, tư tưởng nghệ thuật của dòng văn học hiện thực Tây Âu thế kỉ XIX.

Balzac đã treo một tấm gương sáng về lao động nghệ thuật cần cù, bền bỉ, dũng cảm. Mặc dầu, nhất thời ông có lúc chạy theo cuộc sống xa hoa, kiểu cách quý tộc như những chàng công tử phong lưu Pari mà ông đã vẽ lên trong nhiều tác phẩm của mình. Về căn bản ông vẫn là một người lao động không mệt mỏi như những nhân vật yêu mến nhất trong tác phẩm của ông là D’Arthez, là nhà phát minh David….Ông đã từng nói “Tôi sống một cuộc đời lao động say mê. Lao động là tất cả đối với tôi”.

Qua  tác phẩm của ông nói chung, giọng điệu nghệ thuật nói riêng, ông đưa ra những nhận định khái quát và chân xác về xã hội Pháp đầu thế kỉ XIX. Ông mỉa mai  lề thói hám tiền hơn mạng sống của con người tư sản đang lên, nhưng ông cũng nhận ra sự đau khổ và bế tắc của những nạn nhân trong xã hội thối nát đó để rồi dành cho họ những lời cảm thông tha thiết.

Sự nghiệp vĩ đại mà ông để lại đã nói lên rằng ông đã sử dụng những năm tháng trong cuộc đời ngắn ngủi của mình với mức tối đa với hiệu suất phi thường. Chính ông đã từng nói: “Vấn đề cuộc sống chẳng phải là ở thời gian dài hay ngắn của nó mà là ở tính chất lượng, tính đa dạng, ở số lượng những cảm xúc của nó”. Có thể nói ông đã thực hiện được cái chí hướng làm nên một Napoleong trong văn học. Điều chủ yếu là cần khách quan xem xét trong sự nghiệp của ông, ông để lại đã có những gì có ích cho đời.

Rõ ràng sự nghiệp sáng tác vĩ đại của Balzac và cả cuộc đời lao động bền bỉ của ông là phần đóng góp tích cực và lớn lao vào nền văn học Pháp và văn học thế giới. Ta cũng không quên rằng sự nghiệp vĩ đại đó đã được tạo nên trong một cuộc đời vẻn vẹn 51 tuổi, với bao nhiêu khó khăn trở lực, qua bao nhiêu đau đớn khổ cực do cái xã hội tư sản đẻ ra để vùi dập tài năng.

Balzac là một trong những nhà văn lớn không được đánh giá đúng mức khi còn sống. Cả đội quân báo chí tư sản đương thời, cả giới phê bình tư sản đương thời đã vây quanh để chửi bới, vu khống, mạt sát, rẻ rúng ông bởi chính ngay cái tội đã làm ông trở nên vĩ đại. Đó là bóc trần bộ mặt xấu xa ghê tởm của chính giai cấp ông, giai cấp tư sản. Có lần ông viết cho bà Hanska: “Ở nước Pháp người ta sẽ bị khốn đốn một khi người ta tự ghi cho mình tiếng tăm và được hoan nghênh lúc sinh thời. Chửi rủa, vu cáo, mạt sát, tất cả những cái đó giày vò tôi. Một ngày kia, người ta sẽ biết rằng, nếu tôi đã sống bằng ngòi bút của tôi thì chẳng hề có đồng chinh nào lọt qua túi của tôi mà không phải do khó nhọc và cần cù mới kiếm được. Tôi thật dửng dưng với mọi lời chê khen. Tôi đã xây dựng sự nghiệp của tôi giữa những tiếng la căm hờn, những làn đạn văn học. Tôi tiến lên với bàn tay vững vàng và không nao núng”.

Muốn trở thành một nhà văn hiện thực ở thời đại cũ thì phải có can đảm, dũng khí. Cái tinh thần dũng cảm đó, chính là một đặc điểm gắn chặt với chủ nghĩa hiện thực phê phán. Ta không quên rằng, chính Max và Enghen đã phát hiện một cách đúng mức và sâu sắc giá trị xã hội của sự nghiệp văn học của Balzac.

2. Kết quả nghiên cứu đạt được

Tìm ra 3 giọng điệu nghệ thuật thường được nhà văn Balzac sử dụng:

giọng lạnh lùng khách quan, giọng trào phúng chế giễu, giọng trữ tình lãng mạn.

Mỗi giọng điệu phản ánh một cách nhìn, cách đánh giá của tác giả với thực tại xã hội. Tự nhận mình là thư kí của thời đại, Balzac đã đứng ra kể lại một cách chân thực khách quan về những gì ông mắt thấy tai nghe. Trước thời đại đảo điên vì sức mạnh của kim tiền ông buộc phải đánh vào nó những lời phán xét chua cay, những câu mỉa mai trào phúng. Trong văn Balzac ta còn bắt gặp những lời nói thân tình của một trái tim yêu thương dành tặng cho những cuộc đời bi kịch, nhưng vì chọn chỗ đứng trong hàng ngũ của nhà văn hiện thực nên ông phải nhiều lần cố nén lại cảm xúc của chính mình.

Đến đây chúng ta đã có một vài ý niệm về nền văn học Pháp thế kỉ XIX. Đây là một thế kỉ chứng kiến và thể hiện sự phát triển của đồng tiền tư bản. Những đồng tiền tư bản có mặt trái ghê gớm của nó. Nó có thể đảo lộn nhân cách và số phận con người. Bởi thế nhà lao động và những nhà văn có lương tâm tất yếu phải đối lập với thế lực của đồng tiền. Chủ nghĩa lãng mạn và hiện thực hiện thực phê phán đều xuất phát từ thái độ chung: phủ định xã hội tư sản đó. Chủ nghĩa lãng mạn chán cái thực trạng đen tối của xã hội và không muốn nhìn thấy nó nữa, nên tìm đến những ước vọng tốt đẹp của tâm hồn, hồi tưởng những cảnh êm đềm quá khứ, hoặc vươn lên cải cách tương lai. Trong khi đó chủ nghĩa hiện thực phê phán phủ định cái ác của xã hội tư sản bằng cách bóc trần nó ra như Balzac đã làm.

3. Hạn chế của luận văn

Sự  nghiệp văn học mà Balzac để lại thật lớn lao, bộ “Tấn trò đời” đã có 97 tiểu thuyết, nhưng luận văn này chỉ khai thác được 3 tiểu thuyết tiêu biểu, quen thuôc nhất, đây là sự hạn chế về số lượng của luận văn.

Tinh thần của luận văn là “cảm nhận” vì vậy nó mang nhiều ý kiến chủ quan của người viết, điều này cũng là hạn chế của luận văn.

Luận văn được hoàn thành bởi một sinh viên còn nhiều hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không tránh khỏi những thiếu sót về tri thức, những yếu kém về năng lực. Vì vậy chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quí thầy cô, quý bạn đọc để luận văn ngày càng hoàn thiện hơn.

4. Hướng phát triển của đề tài

Thời gian sau, khi đã hoàn thiện hơn về tri thức chuyên môn cũng như kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời được tạo điều kiện nghiên cứu tôi sẽ phát triển đề tài này thành: “CẢM NHẬN GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT CỦA NHÀ VĂN BALZAC TRONG BỘ TẤN TRÒ ĐỜI”.

Hết

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 90 other followers

%d bloggers like this: