"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

ST

Còn 2 ngày nữa kỷ niệm thảm họa 17/2 biên giới Việt-Trung…

Sáng 17 tháng 2 năm 1979 (thứ bẩy ngày 21 tháng giêng âm lịch năm Kỷ mùi) chúng tôi vẫn tới cơ quan làm việc bình thường, nhưng từ mờ sáng đã nghe tiếng ì ầm. Người dân thị xã chúng tôi đã quen cuộc sống thanh bình từ hàng chục năm nay nên không phân biệt được đây là tiếng pháo của Trung Quốc bắn vào các vùng phụ cận của thị xã. Tỉnh Lao Cai được giải phóng sau Chiến dịch biên giới 1950. Suốt thời chiến tranh chỉ có một lần một tốp phản lực Mỹ bay qua bắn mấy băng đạn. Đến 10 h sáng mới được tin quân Tàu đã đánh ta tại Lao Cai. Chúng bắc cầu phao vượt sông Hồng qua phía tây bắc (Quang Kim-Bát Xát) đánh về thị xã, ở phía đông bắc (đường đi Hà nội) quân chúng cũng đánh sang Bản Quẩn, Bản Phiệt rồi chia hai ngả đánh về thị xã và đánh xuôi về Phố Lu. Ngoài ra bọn giặc Tàu còn đánh sang Bát Xát từ đó vòng xuống tàn phá thị trấn nghỉ mát Sa Pa, tràn xuống Bến Đền và một hướng khác nữa từ Mường khương đánh xuống hợp quân với lũ đánh vào thị xã rồi xuôi về Phố Lu.

Trên toàn tuyến biên giới Lao Cai (185,7 km) chúng đã huy động hơn 15 vạn quân thuộc các quân đoàn 13, 14 và một số đơn vị tăng cường (do tên tướng cướp Dương Đắc Chí, tư lệnh Đại Quân khu Côn Minh chỉ huy) đồng loạt đánh vào đất của ta. Thế là người dân và viên chức của nhà nước bị xô vào một cuộc chạy giặc không được chuẩn bị trước. Cả giòng người chen nhau hơn chục cây số trên con đường từ Cầu Số Bốn vào đến Giốc Đỏ để vào thị xã Cam Đường (ngày xưa Lao Cai có hai thị xã: Cam Đường-Mỏ Apatit và Lao Cai-thủ phủ). Hàng vạn con người ra sức chạy trên con đường trống trơn ở một địa hình đồi thấp chốc chốc lại nghe tiếng rít của đạn pháo, đạn cối, tiếng hỏa tiễn H12 chíu chíu, rồi một loạt tiếng nổ đinh tai nhức óc khói lửa bốc lên mù mịt, người dân lúc đó sợ quá chỉ còn biết ôm đầu, nằm lăn ra rãnh nước bên vệ đường, úp mặt xuống đất. Thôi thì người ta dùng đủ mọi thứ có sẵn để chạy nhanh khỏi vùng chiến sự, trẻ em được gánh trên quang hoặc địu sau lưng mẹ. Mạnh ai người đó chạy vì được phổ biến chỉ đi có vài ngày và cũng không được chuẩn bị trước nên có người chỉ ra đi với một ít tiền bạc và vài bộ quần áo cùng chiếc xe đạp là tài sản quý giá nhất lúc bấy giờ. Chắng ai biết được nhà cửa, đồ đạc của họ để lại sau này sẽ chẳng còn. Thế là gần như toàn bộ dân chúng tôi ra đi với hai bàn tay trắng.

Tuy nhiên thanh niên, dân quân tự vệ và bộ đội đặc biệt là bộ đội biên phòng (lúc đó gọi là Công an võ trang) đã dũng cảm chặn đánh địch làm chậm bước tiến của kẻ thù. Tại Lao Cai xuất hiện nhiều tấm gương như anh hùng liệt sỹ Nguyễn Bá Lại (1) ở Đoàn địa chất 5, anh Bùi Nguyên Khiết (2) hy sinh trong khi làm báo và chiến đấu với quân giặc tại huyện Mường Khương. Anh Hòa cựu chiến binh chống Mỹ về nhà chưa có việc làm đã vào một đơn vị bộ đội (thuộc Tiểu đoàn Kiên Cường) tham gia đánh giặc và bắn cháy xe tăng địch (được phong anh hùng), khi mấy chục xe tăng của chúng đang co cụm tại giốc Pháo Đài từ Nhà Máy nước xuống Cầu chui. Một số em nhỏ tự nguyện không chạy giặc, cùng một đơn vị biên phòng cự lại với chúng. Bố con bác Trần Nghiêm một thương binh chống Pháp ở khu phố Duyên Hải kéo cả gia đình lên chốt chống lại bọn xâm lược. Tiểu đoàn Kiên Cường một đơn vị bộ đội địa phương mới được thành lập nòng cốt là các cựu binh thời đánh Mỹ và con em mới lớn của Nhân dân các Dân tộc Lao Cai, Yên Bái tham chiến kìm chân quân xâm lược. Các trận đánh ác liệt xẩy ra tại Bản Phiệt, Cầu chui, Phong Niên, Phong Hải, Bắc Ngầm, Bến Đền, Phố Lu đã khiến chúng không dám tiến sâu vào đất ta. Trong những ngày đầu Tiểu đoàn Kiên Cường chặn đánh 4 sư đoàn của giặc diệt rất nhiều sinh lực địch. Có chiến sỹ một mình đã hạ được 72 tên xâm lược trong một trận đánh. Kết thúc Quân Dân Lao Cai đã tiêu diệt 14.500 lính, phá hủy 273 xe tăng, 30 khẩu pháo của bọn giặc Tàu mặc áo cộng sản. Thật hả lòng, hả dạ khi thấy lũ ăn cướp bị trừng trị đích đáng!

Người dân chúng tôi thấy quá bất ngờ trước việc Trung Quốc đánh ta, dù từ  cuối những năm 60 họ đã có những việc “lạ” đối với biên giới của ta, rồi khiêu khích, tuyên truyền, nạn kiều, tiến hành các hoạt động chiến tranh tâm lí, đưa lực lượng quân đội quy mô lớn, trang bị mạnh ra áp sát biên giới, chĩa pháo sang Việt Nam, tung thám báo biệt kích sang quấy rối, gây tình hình rất phức tạp trên toàn tuyến biên giới. Nhưng mang quân đánh sang đất ta, giết Đồng bào, Chiến sỹ ta thì thật là “lạ” và không thể hiểu nổi. Thế thì chủ nghĩa quốc tế của những người cộng sản có còn tồn tại nữa không?

Sau khi bọn xâm lược tháo chạy về nước, thị xã Lao Cai xinh đẹp thanh bình của chúng tôi chỉ còn là một đống đổ nát, hoang tàn. Những công trình công cộng: nhà ga, đường xe lửa, cầu cống, nhà bưu điện, nhà máy nước, nhà máy điện, nhà máy đường, nhà máy sứ, trại giống gà công nghiệp, trụ sở làm việc của các cơ quan, đoàn thể, trường học, bệnh viện bị bọn “B52 chân đất” (3) cướp phá hết. Thứ gì không lấy đi được thì chúng phá để thứ đó không còn giá trị sử dụng, như đường ray xe lửa chỗ nào không kịp tháo cứ một m chúng dùng mìn đánh thủng một lỗ. Mấy căn nhà lắp ghép chúng đánh sập chân nhiều căn hộ tầng một khiến cho ta có cảm tưởng chỉ cần gió mạnh là các tầng trên đổ ụp xuống. Khu mỏ Apatit của ta bị chúng cướp phá sạch trơn. Nhiều thiết bị máy móc Liên xô mới giúp còn nguyên hòm cũng bị cướp bóc. Nhà cửa nhân dân, đồ gỗ, đồ điện tử, đồ gia dụng không còn. Có ý kiến cho rằng do sau chiến tranh khu vực thị xã trở thành vùng trắng ban ngày dân mới được trở lại đêm phải ra nên có hiện tượng hôi của. Nếu đúng thì đó lại là trách nhiệm của chính quyền đã không đảm bảo tài sản cho người dân. Nhưng suy cho cùng nếu không có sự tráo trở hèn hạ của người bạn “núi liến núi sông liền sông, …mối tình hữu nghị sớm như rạng đông” (4) kia gây ra, thì đâu đến nỗi người dân chúng tôi tay trắng. Trong thời gian đánh sang ta bọn Trung Quốc còn dùng mã tấu giết hại dã man mấy chục em bé tại một nhà trẻ ở trung tâm huyện Bát Xát cũ.

Đối với người từng sống nhiều năm ở Lao Cai chứng kiến những thăng trầm của lịch sử tại mảnh đất này chúng tôi mãi mãi không quên ngày 17 tháng 2 năm 1979. Những người bây giờ các phương tiện thông tin nhà nước gọi chúng nó là “đồng chí”, “bốn tốt”, “mười sáu chữ vàng”, cùng theo đuổi “lý tưởng cộng sản” chỉ là bọn đã cướp phá sạch trơn và hủy diệt dã man thị xã thanh bình xinh đẹp của chúng tôi, biến chúng tôi thành những người tỵ nạn ngay trên mảnh đất đã nhiều đời ông cha chúng tôi và chính chúng tôi đổ máu, đổ mồ hôi xây dựng nên. Nay dù bọn chúng có tự tô son vẽ phấn và lừa bịp nhiều người nhẹ dạ nhưng chúng tôi những người chạy giặc năm ấy và sau này phải sống trong điều kiện thiếu thốn căng thẳng sau cuộc xâm lược của quân bành trướng bá quyền Trung Quốc năm 1979 mãi mãi ghi sâu mối thù và sẽ truyền đời cho con cháu sự kiện tháng 2 năm 1979.

Ngày nay thị xã quê hương chúng tôi đã được xây dựng lại sau ngày tái lập lại tỉnh Lao Cai, rồi được nâng lên thành đơn vì hành chính thành phố thuộc tỉnh. Các dấu vết chiến tranh đã xóa mờ trong tâm trí người già. Chính quyền đã cố làm cho người dân quên đi những hành động thú tính tàn bạo của lũ “B52 chân đất” ngày đó bằng những từ ngữ hoa mỹ nhất, bằng việc bắt dân treo đèn lồng đỏ của Tàu dịp 01/10/2011, xuyên tạc kỷ niệm ngày tái lập tỉnh đúng vào ngày khai sinh ra cái chế độ giả danh cộng sản quái thai kia (5), bằng việc cán bộ đảng, chính quyền lũ lượt kéo nhau sang học tập “bạn” cách làm kinh tế, quản lý xã hội, xây dựng đảng và đâu đó có những người không muốn nhắc đến các chiến công, sự hy sinh, mất mát của Đồng bào và Chiến sỹ ta trong gia đoạn 1978-1988. Những ngày đau thương và căm giận đó mãi mãi không bao giờ có thể xóa đi trong trí nhớ của người dân thành phố Lao Cai và của toàn thể con dân Nước Việt chúng ta. Sự hy sinh của Nhân dân ta, Bộ đội ta đặc biệt là các tấm gương tiêu biểu như anh Nguyễn Bá Lại, anh Bùi Nguyên Khiết những người con không sinh ra tại mảnh đất Lao Cai, nhưng đã sống, lao động, chiến đấu và hy sinh vì quê hương Lao Cai mãi sống trong lòng những con người chân chính của thành phố Lao Cai chúng tôi.

Nhân ngày kỷ niệm sự kiện trên người dân thành phố Lao Cai chúng tôi xin được thành tâm thắp một nén nhanh dâng lên các anh và Quân Dân các Dân tộc Lao Cai Yên Bái, Nghĩa Lộ (tỉnh Hoàng Liên Sơn cũ) những người đã ngã xuống trong ngày này mấy chục năm trước, cùng toàn thể Đồng bào, Chiến sỹ đã hy sinh trong giai đoạn 1978-1988. Những nén tâm nhang cũng dành cho các người con của giòng máu Lạc Hồng đã ngã xuống trong trận đánh chống lại bọn xâm lược Tàu giả danh cộng sản tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974, Trường Sa năm 1988. Chúng tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sự ngưỡng mộ và hướng về Đồng bào, Chiến sỹ đang đứng chân bảo vệ các đảo của quần đảo Trường Sa hôm nay và cả những ngư dân vẫn bám biển đánh cá khẳng định chủ quyền của nước Việt chúng ta đối với hai quần đảo này!

======================================================

(1) Nguyễn Bá Lại quê Thái Bình. Anh là kỹ sư địa chất đã sống và làm việc ở Đoàn địa chất 305 (ngày đó thường gọi là Đoàn địa chất số 5). Ngày 17 tháng 2 năm 1979, bọn Tàu cho pháo bắn dồn dập và dùng lực lượng lớn vượt hai cầu phao bắc qua sông Hồng, chiếm các điểm cao và bao vây khu vực đoàn bộ đoàn địa chất 305. Trung đội anh Nguyễn Bá Lại chiến đấu ở hướng chính diện của địch tấn công từ hướng mỏ đồng Sin Quyền. Anh Nguyễn Bá Lại đã diệt bảy tên, thu một súng AK. Trung đội của anh đã đánh lui nhiều đợt tiến công của địch. Giặc Tàu dùng cối bắn cấp tập rồi ồ ạt xông lên điểm chốt của ta. Anh Nguyễn Bá Lại nhảy lên khỏi hầm dùng AK bắn thẳng vào đội hình giặc. Noi gương anh, nhiều anh em trong hầm cũng đứng lên chiến đấu. Bất ngờ một tên địch lao vào cách hầm 2m, trên tay cầm quả lựu đạn đang xì khói. Anh Nguyễn Bá Lại nổ súng bắn nó ngã gục, quả lựu đạn văng vào trong hầm. Anh lập tức nằm đè lên quả lựu đạn, nhận sự hy sinh về mình để cứu sống sáu đồng đội trong hầm. Anh Nguyễn Bá Lại đã cùng đơn vị bẻ gãy tất cả các đợt tiến công của địch, diệt nhiều tên, bảo vệ an toàn tài liệu địa chất và hơn 300 cụ già, cháu nhỏ. Anh được truy tặng Huân chương chiến công hạng ba và danh hiệu Anh hùng.

(2) Bùi Nguyên Khiết liệt sỹ, nhà văn, nhà báo, nhà giáo quê anh ở xã Xích Thổ, huyện Nho Quan (Ninh Bình). Trước ngày chiến tranh biên giới nổ ra, là phóng viên báo Hoàng Liên Sơn, Anh mang máy ảnh, sổ tay theo các đơn vị chủ lực ngược dòng người chạy xuôi, lên biên giới để tận mắt ghi lấy cảnh chiến đấu của quân và dân ta chống quân xâm lược. Anh hy sinh ngày 17/02/1979 tại bản Tả Ngải Chồ (huyện Mường Khương) trong khi đang làm báo và trực tiếp cầm súng chiến đấu với quân giặc Tàu xâm lược. <http://nganhdao.vnweblogs.com/print/12440/148383&gt;

(3) Từ báo chí ta lúc đó chỉ đội quân ăn cướp của lũ giặc Tàu mặc áo cộng sản (PLA People’s Liberation Army).

(4) Lời bài hát “Việt Nam Trung Hoa” của nhạc sỹ Đỗ Nhuận.

(5) Ngày giải phóng Lào Cai 10/11/1950 thừa thắng trong chiến dịch Chiến dịch Biên giới Thu đông 1950 (16/09-17/10/1950). Tháng 11 không phải tháng 10. Người Pháp thành lập tỉnh Lao Kay ngày 12/07/1907 (Lao Kay danh từ riêng người Pháp dùng trong văn bản giấy tờ, dân ta quen gọi Lao Cai). Ngày tái lập tỉnh Lao Cai 10/10/1991 (theo Nghị quyết kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII họp từ ngày 22/7 đến ngày 12/8/1991).

(6) Bài viết này đã được đưa lên Blog Nguyễn Xuân Diện dưới dạng Comment ngày 17/02/2011. Năm 2011 người viết bài này cũng đã tham gia nhiều lần các cuộc biểu tình của nhân dân Thủ đô chống lại sự gây hấn của giặc Tàu giả danh cộng sản trên vùng biển của Việt Nam trong mùa hè và đầu thu năm qua tại vườn hoa Canh nông và Bờ hồ. Nay xin viết và biên tập lại sau khi đã thực hiện một số cuộc trò chuyện cùng những Chiến sỹ của Tiểu đoàn Kiên cường và một số nhân chứng còn sống năm xưa tại Lao Cai.

About these ads

Comments on: "NGƯỜI CHỨNG KIẾN NGÀY 17 THÁNG 2 NĂM 1979 TẠI LÀO CAI kể lại" (21)

  1. TÂM SỰ MỘT NGƯỜI CON CỦA THÀNH PHỐ LAO CAI

    Tôi một người quê gốc Từ liêm Hà nội (đến đời cháu tôi là đời thứ 17). Nhưng đã có nhiều năm tháng tôi sống học tập, ở Lao Cai (1956-1971). Nên đối với tôi Lao Cai được coi như quê hương thứ hai. Hai nhưng là một.

    Tôi đã chứng kiến những thăng trầm của phố núi thanh bình với: “Phố Tèo” cổ kính, Cốc lếu có chợ cùng tên rộn ràng những phiên chợ tình của đồng bào H’mong. Kim Tân dài dằng dặc. Vạn Hòa thưa thớt dân cư nhưng có nhà máy đường rượu giấy do bác Hòa bố một người bạn của tôi làm giám đốc, còn Duyên Hải cũng thưa dân, Nam Cường, Sơn Mãn, Giang Đông cũng vậy nhưng những nơi đó có những vườn dứa, nương chè, cây trái xum xuê mùa nào thức ấy, nào nhãn, nào ổi, nào mít, nào hồng bì, nào na…

    Thành phố Lao Cai có hai con sông giao vào nhau phía trên cầu Cốc Lếu. Một là giòng sông Hồng đỏ nặng phù sa bồi đắp cho vùng châu thổ Bắc bộ, một là giòng sông Nậm Thi trong xanh hiền hòa. Trên giòng Nậm thi chúng tôi tắm mát mỗi chiều hè nóng bức, trên giòng Nậm thi mỗi chủ nhật, hoặc dịp nghỉ hè chúng tôi đi lấy nứa, lấy củi về giúp gia đình. Bài giảng văn “Nhớ Con Sông Quê Hương” của nhà thơ Tế Hanh thày giảng đã in đậm trong tâm hồn con trẻ của chúng tôi. Có nhiều câu trong bài thơ mang nhiều hình ảnh con sông Nậm Thi thân yêu thủa ấy:

    Quê hương tôi có con sông xanh biếc
    Nước gương trong soi tóc những hàng tre…

    …Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy
    Bầy chim non bơi lội trên sông…

    Tháng 2 năm đó tôi khi đó mới ra trường được mấy năm có nhiệm vụ đi công tác ở tỉnh Hoàng Liên Sơn có lên Lao Cai và chứng kiến. Phố núi thanh bình, ắp đầy kỷ niệm của chúng tôi đã thành đống gạch vụn sau tháng 2/1979 dưới gót dày vải của lũ “B52 chân đất”. Người bạn “núi liền núi, sông liền sông” đã trở mặt gọi chúng ta là “hooligan” (1) và họ tự cho quyền “dạy cho Việt nam một bài học” (2). Điều này chắc chỉ còn những người 45 tuổi trở lên đã từng sống ở Lao Cai là chứng kiến và có thể hiểu được. Tôi nói “có thể hiểu được” bởi vì nhiều người đã chứng kiến cảnh chạy giặc ngày 17/02/1979 nhưng bây giờ hình như đã mờ nhạt ký ức về những ngày khốn khó, đau thương, tràn đầy căm giận năm xưa, vì không ít người đã tin vào lời phỉnh, nịnh lừa gạt của bọn người “bốn tốt” “mười sáu chữ vàng” nên đã gọi chúng là “đồng chí”.

    Nhưng đối với tôi một người tự cho mình là người con của thành phố Lao Cai. Tôi không bao giờ quên điều đó. Mỗi dịp thăm lại chốn xưa, tôi lại cùng những người bạn cùng chung ý nghĩ và tình cảm giành cho thành phố của mình, ngồi đàm đạo. Để cùng nhau nhắc nhở con cháu đừng bao giờ quên những ngày khốn khó, đau thương, tràn đầy căm giận năm xưa. Đừng bao giờ quên những con ưu tú của phố núi Lao Cai như: Bùi Nguyên Khiết, Nguyến Bá Lại, các anh cũng như tôi không sinh ra ở Lao Cai nhưng đã coi Lao Cai là quê hương của mình
    =====================================================
    (1), (2) Lời nói và hành động của Đặng tiểu Bình kẻ cầm đầu giặc Tàu lúc đó.

    • Chú ý
      Hai con sông biên giới giao nhau bên bọn Tàu như cái tam giác phía dưới bụng chúng ta. Còn chúng ta là hai chi dưới

  2. Này bác Giang Nam bác nhầm một chỗ “NGƯỜI CHỨNG KIẾN NGÀY 19 THÁNG 2 NĂM 1979 TẠI LÀO CAI kể lại”. Phải đổi lại “NGƯỜI CHỨNG KIẾN NGÀY 17 THÁNG 2 NĂM 1979 TẠI LÀO CAI kể lại”

  3. Xin cám ơn Giang Nam lãng tử. cám ơn Sát Thát.
    TP Lào cai cũng là quê hương thứ 2 của HP.sau Hà Nội..Do thoát ly từ nhỏ nên HP không có mặt ở LC khi bon chó chết tràn sang. nhưng lòng căm thù thì vẫn còn ngùn ngụt cho đến bây giò….
    Tiếc là chưa gặp được Sát thát ở đoàn biểu tình…
    Cám ơn blog Mai Thanh Hải đã giành nhiều tâm huyết cho chiến tranh biên giới 1979.,cho các liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì bảo vệ biên cương ..
    Cám ơn các bạn..

  4. [...] NGƯỜI CHỨNG KIẾN NGÀY 19 THÁNG 2 NĂM 1979 TẠI LÀO CAI kể lại (Giang Nam Lãng Tử) – “Đối với người từng sống nhiều năm ở Lao Cai chứng kiến những thăng trầm của lịch sử tại mảnh đất này chúng tôi mãi mãi không quên ngày 17 tháng 2 năm 1979. Những người bây giờ các phương tiện thông tin nhà nước gọi chúng nó là ‘đồng chí’, ‘bốn tốt’, ‘mười sáu chữ vàng’, cùng theo đuổi ‘lý tưởng cộng sản’ chỉ là bọn đã cướp phá sạch trơn và hủy diệt dã man thị xã thanh bình xinh đẹp của chúng tôi…” [...]

  5. Cho đến nay có thể kết luận “sự hi sinh anh dũng của các anh trở thành VÔ NGHĨA”. Túi tiền của Dũng, Hùng., thằng Nông Đức Mạnh…đầy lên thì cái chết các anh là vô nghĩa.
    ĐAU QUÁ.

  6. Cam on cac ban da phan hoi.

  7. Bọn chúng cho làm phim vè chiến tranh 79, còn VN thì câm lặng.. bao nhiêu cột mốc bị lùi? bao nhiêu xương máu của quân dân biên giới chỉ để thêm 1 ngôi sao nữa trên lá cờ Tổ quốc.
    Lãnh đạo VN thật hèn hạ, u mê.tham quyền cố vị đến bao giờ?

  8. “НИKTO HE ЗAБЫT И HИ ЧTO HE ЗAБЫTO”
    “KHÔNG MỘT AI BỊ LÃNG QUÊN, KHÔNG CÓ GÌ BỊ LÃNG QUÊN”

    Trích trong bài thơ của Olga Bergholz (Берггольц, Ольга Фёдоровна Olga Feodorovna Bergholz sinh 05/1910 mất 13/11/1975, St Petersburg Leningrad – nhà thơ, nhà văn Nga Xô Viết). Bài thơ ca ngợi chủ nghĩa anh hùng của những người dân Xô Viết trong cuộc Chiến trang Vệ quốc Vĩ đại của Nhân dân và Quân đội Xô viết. Bài thơ được viết vào năm 1960 được khắc trên bia tưởng niệm những Nạn nhân và Chiến sỹ đã hy sinh trong trận phong tỏa Leningrad tại Nghĩa trang Piskarevskoye ở Leningrad.

    Cho dù đã có nhiều thay đổi trên quê hương của Cách Mạng Tháng Mười, cho dù chính Nhân dân Nga đã quẳng cái gọi là “Chủ nghĩa Cộng sản” vào sọt rác của lịch sử. Nhưng người dân Nga từ tổng thống cho đến người thường dân vẫn nhắc nhở con cháu tôn vinh những Người dân, những Chiến sỹ đã ngã xuống vì Tổ quốc thân yêu trong cuộc chiến tranh vị đại này.

    Nhân kỷ niệm sự kiện 17/02/1979 xin được thành tâm dâng hương những người con của đất mẹ Việt Nam ta đã ngã xuống trong ngày này 33 năm trước và xin đăng lại bài thơ của Trần Nhương: http://trannhuong.com/news_detail/12988/KH%C3%94NG-M%E1%BB%98T-AI-B%E1%BB%8A-L%C3%83NG-QU%C3%8AN

    KHÔNG MỘT AI BỊ LÃNG QUÊN
    Huỳnh Văn Úc

    Ngạn ngữ Nga:
    Никто не забыт и ничто не забыто”
    Không một ai bị lãng quên, không có gì bị quên lãng

    Mười bảy tháng hai
    Không một vòng hoa, không một nén hương
    Không một lời tỏ ý tiếc thương
    Trước vong linh những anh hùng liệt sĩ
    Chỉ gió lạnh qua hàng mộ chí
    Và mưa rơi nước mắt trong lòng.
    Không! Một ngàn lần không
    Không một ai bị lãng quên
    Không một điều đi vào quên lãng.
    Ai cấm được ?
    Ngọn nến trong lòng ta thắp sáng
    Nén tâm hương ta đốt ngang đầu
    Trong lòng ta tâm nguyện một câu
    Không một ai bị lãng quên
    Không một điều đi vào quên lãng.

  9. Xin cảm ơn Giang Nam lãng tử.
    Khi chiến tranh biên giới 1979 nổ ra HAT còn nhỏ nên không nhớ được nhiều. Những bài viết thế này giúp thế hệ trẻ biết và hiểu được sự thật về những gì đã xảy ra. Những địa danh Bản Phiệt, Tả Ngải Chồ, Cốc Lếu, Bắc Ngầm, Phố Lu … đối với HAT trở nên vô cùng thân thương, sau những chuyến đi thiện nguyện lên Bát Xát, Mường Khương trong năm qua.

  10. Cam on cac ban da doc va chia se cam xuc voi GIANG NAM LANG TU

  11. Tien Dang said:

    Bác PHN kính.
    Cái ngày 17 tháng 02 năm 1979 có thể nói là cái ngày oan nghiệt vào bậc nhất đối với con dân Việt Nam.
    Oan nghiệt là vì, bọn xâm lược, bọn ăn cướp ngang nhiên đến đất nước mình.
    Oan nghiệt vì cuộc chiến ăn cướp ấy lại được kẻ cầm quyền lớn tiếng tuyên bố : dạy cho Việt Nam một bài học. Một sự sỉ nhục chưa từng có trong lịch sử thế giới thiưiù hiện đại.
    Oan nghiệt là còn vì, sau hơn mười năm nó cứ lùi dần lùi dần vào lãng quyên bởi chính nhà cầm quyền của chúng ta.
    Oan nghiệt là còn vì: sau năm 79 bọn ăn cướp còn tiếp tục cướp thêm đất đai của Tổ Quốc chúng ta.
    Oan nghiệt cao hơn núi nhiều hơn lá rừng.
    Có ai còn nhớ những người dân nước Việt đã ngã xuống trên suốt dải biên cương trong những năm 1979? Và rồi sau đó vào những năm 1984-1986?
    Vì thế, dù là người đã từng tham gia vào sự kiện 1979 TĐ vẫn cứ cảm ơn Phùng Tiên sinh khi đưa bài này lên để cho mọi người hãy nhớ. Bởi chúng ta không được phép lãng quên.

  12. đau như thiến! sau này quân ta đã diệt ngàn tên annamite trên lão sơn ,xác chất như núi ! tại gacma giết hàng chục tên công binh vinamite cứng đầu! chúng phải nhượng đất ải nam quan và bản giốc cho ta!vinamite ngày nay hèn nhát toàn lũ tham sống sợ chết chỉ giỏi đánh võ nước bọt bay mùi mắm thúi?!

  13. ANH HÙNG TRẦN NGHIÊM

    Bác Trần Nghiêm sinh năm 1927, dân tộc Kinh, quê ở tiểu khu Duyên Hải, thị xã Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là chính trị viên khu đội tự vệ tiểu khu Duyên Hải, thị xã Lào Cai, tỉnh Lao Cai
    Trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược tháng 2 năm 1979, Bác Trần Nghiêm đã đi sát mọi người trong đơn vị động viên giữ vững quyết tâm, kiên quyết đánh địch. Bác chiến đấu rất dũng cảm, chỉ huy linh hoạt, đơn vị Bác đã diệt hơn 100 tên địch, bảo vệ cho dân sơ tán được an toàn.
    Đặc biệt trận ngày 17 tháng 2 năm 1979, ngay khi phát hiện địch tấn công, mặc dù chúng đông, được pháo binh, xe tăng yểm trợ bắn phá ác liệt vào thị xã Lào Cai, BácTrần Nghiêm đã chỉ huy đơn vị bám sát địch, liên tục chiến đấu từ 3 giờ đến 9 giờ sáng. Đơn vị Bác Trần Nghiêm diệt gần 100 địch, ngăn chặn được bước tiến công của chúng, tạo điều kiện tốt cho nhân dân sơ tán kịp thời.
    Bác Trần Nghiêm luôn giáo dục cho các con hăng hái tham gia tự vệ. Trong đợt đánh quân xâm lược tháng 2 năm 1979 Bác cùng ba người con cùng đánh địch, và đều dũng cảm lập công, cả ba người được đề nghị tặng thưởng Huân chương. Gương chiến đấu dũng cảm của gia đình Bác có tác dụng cổ vũ mọi người noi theo.
    Bác Trần Nghiêm được tặng thưởng 1 huân chương Chiến công hạng ba.
    Ngày 20 tháng 12 năm 1979, Bác Trần Nghiêm đã được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chú nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

    ANH NGUYỄN NGỌC HÒA

    Anh Nguyễn Ngọc Hòa sinh năm 1953, dân tộc Kinh, quê ở tiểu khu Lào Cai, thị xã Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Khi được tuyên dương Anh hùng, Anh là tự vệ tiểu khu Lào Cai, thị xã Lào Cai, tỉnh Lao Cai
    Năm 1971, Anh Nguyễn Ngọc Hòa vào bộ đội chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Năm 1975 Anh phục viên và từ đó tham gia tự vệ ở tiểu khu Lào Cai.
    Trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược tháng 2 năm 1979, Anh Nguyễn Ngọc Hòa đã nêu cao tinh thần rất dũng cảm, tích cực, chủ động đánh địch, thể hiện vai trò nòng cốt trong đơn trị.
    Đặc biệt, ngày 19 tháng 2 năm 1979, bộ binh địch có số lượng rất đông, được xe tăng yểm trợ mở nhiều đợt tấn công đảnh phá ác liệt vào thị xã Lào Cai. Đơn vị không có súng chống tăng, Anh Nguyễn Ngọc Hòa đã dũng cảm, nhanh chóng vượt qua khu hỏa lực địch bắn rất dữ dội đến một đơn vị bộ đội ta mượn được khẩu súng B40, rồi nhanh chóng bám sát địch, đuổi theo xe tăng địch bắn 2 quả đạn diệt 2 xe tăng. Sau đó Anh Nguyễn Ngọc Hòa bò lên mặt đường tìm chỗ có lợi dùng trung liên bắn vào đội hình bộ binh địch, diệt thêm 2 xe tăng và 20 tên địch, tạo điều kiện cho đồng đội diệt nhiều tên khác. Anh Nguyễn Ngọc Hòa đã góp vào thành tích chung của đơn vị diệt gần 70 tên địch, đánh lui nhiều đợt tấn công của chúng. Gương chiến đấu dũng cảnh của Anh đã có tác dụng động viên lôi kéo mọi người noi theo.
    Anh Nguyễn Ngọc Hòa đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất.
    Ngày 20 tháng 12 năm 1979, Anh Nguyễn Ngọc Hòa đã được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

    Đề nghị bác Phùng Hoài Ngọc sửa lại trong bài Bác Nghiên thành Bác Nghiêm.

    • Anh Hòa trước khi nghỉ hưu là trưởng ban tổ chức tỉnh ủy Lao Cai. Khi mới tái lập tỉnh lúc đó Anh công tác ở Tỉnh Đoàn TNCS anh muốn về quê hương nhưng có tin đồn do sức ép của các bọn “đồng chí nước lạ” nên không được trở lại quê. Chỉ sau này khi tỉnh thiếu cán bộ anh mới được điều động bổ sung lên Lao Cai.

  14. BỐN ĐƠN VỊ ĐƯỢC PHONG TẶNG DANH HIỆU ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TRONG CHIẾN TRANH CHỐNG GIẶC TÀU XÂM LƯỢC NGÀY 17/02/1979 CỦA TỈNH HOÀNG LIÊN SƠN (LAO CAI, YÊN BÁI, NGHĨA LỘ)

    I. ĐỒN BIÊN PHÒNG PHA LONG (ĐỒN 133) Bộ đội Biên phòng Lao Cai. Đồn Pha Long phụ trách đoạn biên giới, thuộc hai xã Tả Ngải Chồ và Pha Long. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới, sáng 17 tháng 2 năm 1979, giặc Tàu có pháo binh dọn đường chia thành ba mũi xông lên chiếm đồn. Chúng đã bị Đồn biên phòng Pha Long đánh trả quyết liệt. Ba ngày đêm liền, cán bộ chiến sĩ ta kiên cường chiến đấu, giữ vững trận địa. Sau đó, Đại đội 3 Bộ đội Biên phòng Lao Cai đến chi viện. Đồn đã phối hợp với Đại đội 3 và tự vệ lâm trường chiến đấu phản công địch, chặn đứng các mũi tấn công của chúng. Sau nhiều ngày liên tục chiến đấu, đơn vị đã phá vây, đưa thương binh và công nhân lâm trường về tuyến sau, khẩn trương phối hợp với địa phương tập hợp hàng trăm dân quân xây dựng căn cứ, tiếp tục chiến đấu. Đơn vị đã tiêu diệt, làm bị thương hàng trăm tên giặc Tàu, thu nhiều vũ khí. Đơn vị đã được tặng thưởng 2 Huân chương Quân công. Ngày 19 tháng 12 năm 1979, Đồn 133 (Pha Long) Bộ đội Biên phòng Lao Cai được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

    II. ĐẠI ĐỘI 11, TIỂU ĐOÀN 3, TRUNG ĐOÀN 16 BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG LAO CAI (C11 D3 E16) được thành lập tháng 12 năm 1978, đến ngày 1 tháng 2 năm 1979, đơn vị nhận nhiệm vụ tăng cường cho khu vực Mường Khương, tỉnh Lao Cai, bảo vệ biên giới. 21 giờ, ngày 16 tháng 2 năm 1979, chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, đơn vị cử ngay một trung đội chi viện cho Đồn Biên phòng Mường Phương. Sáng 17 tháng 2 năm 1979, giặc Tàu cho bộ binh có xe tăng và pháo yểm trợ, ồ ạt tấn công khu vực Mường Khương. Đơn vị đã triển khai đội hình chiến đấu theo phương án. 21 xe tăng địch theo đường 8, qua cửa khẩu tiến vào Mường Phương. Ngay từ những loạt đạn đầu, đơn vị đã diệt 3 xe tăng của giặc. Những chiếc xe tăng khác lùi lại. Cán bộ, chiến sĩ vận động, đánh tiếp, diệt thêm 6 chiếc buộc chúng phải tháo chạy về biên kia biên giới. Sáng 18 tháng 2 năm 1979, giặc Tàu có pháo yểm trợ, ồ ạt tấn công các điểm cao của ta, đồng thời tấn công lên núi Nà Khuy là nơi đơn vị chốt giữ. Đơn vị phản kích quyết liệt đẩy lùi 11 đợt tấn công của giặc Tàu, diệt nhiều tên. Đại đội 11 đã được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba. Ngày 19 tháng 12 năm 1979, C11 D3 E16 Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

    III. TỰ VỆ KHU PHỐ DUYÊN HẢI, THỊ XÃ LAO CAI
    Đơn vị có 73 người (61 nam 12 nữ), tổ chức thành ba trung đội. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, các chiến sỹ tự vệ đã dũng cảm chặn đánh giặc Tàu đông gấp hàng chục lần, diệt nhiều tên, thu một trung liên và một số đồ dùng quân sự, góp phần cùng bộ đội đánh nhiều trận, diệt hàng trăm tên, phá hủy ba xe tăng. Đơn vị đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất. Ngày 20 tháng 12 năm 1979, Tự vệ khu phố Duyên Hải, thị xã Lào Cai được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

    IV. ĐỒN BIÊN PHÒNG VẠN HÒA (ĐỒN 206) CỬA KHẨU LAO CAI. Đồn biên phòng 206 được thành lập năm 1959. Trước là đồn cửa khẩu Lào Cai, làm nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát, qua lại biên giới. Ngày 17 tháng 2 năm 1979, Giặc Tàu đánh phá ác liệt trận địa. Chiến sỹ ta dũng cảm, kiên cường suốt hai ngày (17 và 18 tháng 2 năm 1979) đã diệt nhiều tên, bắn cháy một xe tăng. Đồn biên phòng Vạn Hòa đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất. Ngày 29 tháng 8 năm 1985, Đồn biên phòng 206 (Vạn Hòa cửa khẩu Lào Cai) được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 70 other followers

%d bloggers like this: