"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

Author Archive

BẢN PHẢN ĐỐI VÀ YÊU CẦU

18/04/2014

Những người muốn tham gia ký tên vào Bản phản đối và yêu cầu dưới đây, nhằm bày tỏ thái độ trước quyết định vô lý và vi phạm các quy định hiện hành của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong việc hủy bằng và phủ quyết luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan, nhằm bày tỏ tinh thần tương ái đối với đồng nghiệp bị đối xử bất công, và nhằm bảo vệ tương lai nghề nghiệp của chính mình, đồng thời thể hiện trách nhiệm, danh dự và tư cách của cộng đồng giáo dục và nghiên cứu Việt Nam, xin gửi thư điện tử về địa chỉ :

congdongdaihocnghiencuu@gmail.com.

Do đặc thù của vụ việc và nội dung của Bản phản đối và yêu cầu, nên xin phép chỉ chấp nhận chữ ký của những người đảm bảo các điều kiện sau:

- Đã và đang làm việc trong lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu, tại Việt Nam.

- Ghi đầy đủ các thông tin: Họ tên, học hàm học vị (nếu có), lĩnh vực giảng dạy và nghiên cứu, Bộ môn/ Khoa (đối với các trường Phổ thông và Đại học), Phòng/Ban (đối với các Viện nghiên cứu), cơ quan công tác, địa chỉ nơi ở.

(Riêng thông tin về cơ quan công tác, sẽ không công bố nếu người ký tên nêu yêu cầu này trong thư. Nơi ở sẽ chỉ công bố tên của tỉnh/thành phố, không công bố địa chỉ cụ thể.)

- Nhận chữ ký đến 12h ngày 25/4/2014.

Bản phản đối và yêu cầu cùng tất cả các chữ ký thu thập được sẽ được gửi tới Ông Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào ngày 26/4/2014.

Những người ký tên ở văn bản dưới đây xin chân thành cảm ơn quý đồng nghiệp sẽ tham gia đồng hành cùng chúng tôi.

Kính gửi: PGS. TS. Nguyễn Văn Minh,

Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Chúng tôi, những người hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, gửi đến Ông văn bản này để bày tỏ những điều sau đây:

1. Chúng tôi phản đối và yêu cầu Ông hủy Quyết định số 667/QĐ-ĐHSPHN ngày 11 tháng Ba năm 2014 và Quyết định số 708/QĐ-ĐHSPHN ngày 14 tháng Ba năm 2014, do trường Đại học Sư phạm Hà Nội ban hành, về việc không công nhận luận văn và thu hồi bằng Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn của Đỗ Thị Thoan, bởi hai văn bản này là phi pháp và phi lý, vì các lý do:

1.1. Theo Quy chế Đào tạo Trình độ Thạc sĩ ban hành kèm theo Thông tư số 10/2011/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ký ngày 28 tháng Hai năm 2011, không có cơ sở pháp lý cho việc được gọi là “thẩm định” đối với bất cứ luận văn thạc sĩ nào.

Quy chế này chỉ quy định thẩm quyền về việc thẩm định kết quả tuyển sinh (Điều 19), chứ không quy định thẩm quyền về việc thẩm định kết quả chấm luận văn hay thẩm định hội đồng chấm luận văn. Điều 26 của Quy chế đã bao hàm toàn bộ quy trình đánh giá một luận văn, trong đó có các vấn đề về thành lập hội đồng đánh giá luận văn, nhóm họp hội đồng, và tiêu chí về kết quả của luận văn, mà hoàn toàn không có khoản nào cho phép lập hội đồng thẩm định để đánh giá lại một luận văn đã có kết quả đánh giá.

1.2. Việc đơn phương ban hành hai quyết định trên mà không đưa ra các văn bản làm chứng lý theo quy trình chuyên môn phải có (quyết định thành lập Hội đồng thẩm định, quyết định họp Hội đồng, bản đánh giá của từng thành viên Hội đồng, biên bản họp Hội đồng…), cũng như việc Hội đồng này không họp công khai, là vi phạm hết sức nghiêm trọng Khoản 1 Điều 26 của Quy chế nói trên.

1.3. Khoản 1 Điều 22 Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân ban hành kèm theo QĐ số: 33/2007/QĐ-BGDĐT, của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, ký ngày 26 tháng Sáu năm.2007 đã quy định cụ thể năm trường hợp bị thu hồi hay huỷ bỏ văn bằng: a) Có hành vi gian lận trong học tập, trong thi cử, tuyển sinh hoặc gian lận trong việc làm hồ sơ cấp văn bằng, chứng chỉ ; b) Cấp cho người không đủ điều kiện ; c) Do người không có thẩm quyền cấp ; d) Bị tẩy xóa, sửa chữa ; đ) Để cho người khác sử dụng.

Đỗ Thị Thoan không thuộc trường hợp nào trên đây, do đó thu hồi văn bằng của Bà là trái với Quy chế này.

2. Chúng tôi yêu cầu Ông minh bạch hóa toàn bộ quá trình đi đến hai quyết định nêu trên của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trên tinh thần tuân thủ các quy định có hiệu lực pháp lý.

3. Trên cơ sở pháp lý vừa nêu, trên chuẩn mực và thông lệ học thuật, việc thẩm định Luận vănVị trí của kẻ bên lề: thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa đã xâm phạm thẩm quyền và quyền lợi của Hội đồng Đánh giá luận văn, của Người ướng dẫn và Tác giả luận văn, bởi họ không hề được biết và không hề được tham gia vào quá trình thẩm định.

Chúng tôi yêu cầu Ông tôn trọng thẩm quyền khoa học và danh dự khoa học của Hội đồng Đánh giá luận văn, của Người Hướng dẫn luận văn và Tác giả luận văn khi có bất kỳ hành động hay quyết định nào liên quan đến Luận văn. Họ phải được tham gia vào mọi hoạt động và quyết định liên quan đến Luận văn, đúng như các quyền mà họ được hưởng theo quy định.

Chúng tôi mong nhận phản hồi từ Ông.

Trân trọng,

Những người ký tên:

  1. Bùi Thanh Truyền, TS Văn học Việt Nam, Giảng viên Khoa Ngữ văn, ĐH Sư phạm TP HCM

  2. Bùi Trân Phượng, TS Lịch sử, Giảng viên Đại học, TP HCM

  3. Châu Minh Hùng, TS Lý luận văn học, Đại học Quy Nhơn, Tp Quy Nhơn, Bình Định

  4. Chu Hảo, TS Vật lý, Phó Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Văn hoá Phan Châu Trinh, Hà Nội.

  5. Chu Văn Sơn, TS Văn học, Giảng viên khoa Ngữ văn, ĐH Sư phạm Hà Nội

  6. Đặng Thị Hảo, TS Ngữ văn, Hà Nội

  7. Đào Tiến Thi, ThS Văn học, Nghiên cứu Văn học, Ngôn ngữ, Giáo dục; Uỷ viên BCH Hội ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội

  8. Đỗ Thị Hoàng Anh, ThS Ngữ văn, Giáo viên THPT Chu Văn An, Hà Nội

  9. Đỗ Hải Ninh, TS Văn học Việt Nam, Viện Văn học, Hà Nội

  10. Đỗ Ngọc Thống, PGS. TS Văn học, Chuyên nghiên cứu lý luận và phương pháp dạy học Ngữ văn, Hà Nội

  11. Đỗ Xuân Khôi, TS, Giảng viên Đại học Bách Khoa Hà Nội

  12. Đoàn Ánh Dương, ThS Văn học, Nghiên cứu viên Lý luận và văn học Việt Nam hiện đại, Viện văn học, Hà Nội

  13. Hà Sĩ Phu, TS Sinh học, nguyên giảng viên đại học, Đà Lạt

  14. Hà Thúc Huy, PGS. TS Hoá học, giảng viên đại học, TP Hồ Chí Minh

  15. Hồ Thị Hoà, ThS Truyền thông, giảng viên đại học, TP Hồ Chí Minh

  16. Hồ Tú Bảo, Giáo sư Tin học, Viện John von Neumann, Đại học Quốc gia – TP HCM

  17. Hoàng Dũng, PGS, TS Văn học, Đại học Sư phạm TP HCM

  18. Hoàng Hưng, Nghiên cứu thơ hiện đại VN và thế giới, TP HCM

  19. Hoàng Phong Tuấn, ThS Văn học, Giảng viên Đại học Sư phạm TP HCM

  20. Hoàng Tố Mai, TS Văn học, Nghiên cứu viên Văn học nước ngoài, Hà Nội

  21. Huỳnh Ngọc Chênh, Cử nhân Hoá học, cựu giáo viên trường Phan Chu Trinh Đà Nẵng, TP HCM

  22. Lê Minh Hà, PGS. TS, Khoa Toán-Cơ-Tin học, Đại học khoa học tự nhiên, ĐHQG Hà Nội, Hà Nội.

  23. Lê Thanh Loan, ThS Ngữ văn, Giáo viên THPT Chu Văn An, Hà Nội

  24. Lê Thu Phương Quỳnh, ThS Văn hoá Văn học Châu Âu, Room to Read Vietnam, TP HCM

  25. Lê Tuấn Huy, TS triết học, TP HCM

  26. Mai Thái Lĩnh, phụ giảng Ban Triết học tại trường Đại học Văn khoa, Viện Đại học Đà Lạt (1970-1971), Phó hiệu trưởng trường PTTH Thăng Long (Hà Nội, 75-88), Đà Lạt

  27. Ngô Thị Ngọc Diệp, TS Văn học Việt Nam hiện đại, giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai

  28. Ngô Văn Giá, PGS. TS Lý luận Văn học, Chủ nhiệm khoa Viết văn-Báo chí, Đại học Văn hoá Hà Nội

  29. Nguyên Ngọc, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Quỹ Văn hoá Phan Châu Trinh, Hà Nội

  30. Nguyễn Đăng Hưng, GS. TSKH, Cố vấn học thuật Đại học Việt Đức, TP HCM

  31. Nguyễn Đăng Quang, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Lý luận – Ban Tư tưởng Văn hóa Trung Ương từ 1991 đến 1996, Hà Nội

  32. Nguyễn Đình Cống, GS. TS, Đại học Xây dựng, Hà Nội

  33. Nguyễn Đông Yên, GS. TSKH, nghiên cứu và giảng dạy toán học, Hà Nội

  34. Nguyễn Đức Hiệp, cựu giáo viên Vật lý trung học phổ thông, đã nghỉ hưu, TP HCM

  35. Nguyễn Hoài Anh, ThS Ngữ văn, giáo viên THPT Chu Văn An, Hà Nội

  36. Nguyễn Hoàng Ánh, PGS.TS, giảng viên trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội

  37. Nguyễn Hoàng Diệu Thuỷ, ThS Văn học, cựu sinh viên khoa Ngữ văn, ĐH SP Hà Nội, Hà Nội

  38. Nguyễn Huệ Chi, GS Văn học, Nguyên Chủ tịch Hội đồng khoa học, Viện Văn học, Hà Nội

  39. Nguyễn Hữu Việt Hưng, GS. TSKH, Khoa Toán, Đại học Quốc Gia Hà Nội

  40. Nguyễn Mạnh Tiến, ThS Văn học, Dân tộc học, Nghiên cứu văn học, dân tộc học, Hà Nội

  41. Nguyễn Nam Hải, ThS Công nghệ thông tin, nguyên giảng viên ĐH Công nghệ, ĐHQG Hà Nội, Hà Nội

  42. Nguyễn Phương Chi, nguyên Phó phòng TC Nghiên cứu Văn học, Viện văn học, Hà Nội

  43. Nguyễn Quang A, TSKH, nguyên GS Đại học Kỹ thuật Budapest, nguyên Trưởng khoa CNTT, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội

  44. Nguyễn Thế Hùng, GS. TS, Phó chủ tịch Hội Cơ học Thuỷ khí Việt Nam, Đà Nẵng

  45. Nguyễn Thị Bình, PGS. TS Văn học, nguyên Trưởng bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại, khoa Ngữ văn, ĐH Sư phạm Hà Nội, Hà Nội

  46. Nguyễn Thị Hương Thuỷ, ThS Ngữ văn, Giáo viên THPT Chu Văn An, Hà Nội

  47. Nguyễn Thị Khánh Trâm, nghiên cứu viên văn hoá, TP HCM

  48. Nguyễn Thị Từ Huy, TS Văn học, cựu giảng viên khoa Ngữ văn, ĐH Sư phạm Hà Nội, TP HCM

  49. Nguyễn Văn Long, PGS, Nhà giáo nhân dân, nguyên Chủ nhiệm Bộ môn VH Việt Nam hiện đại, Khoa Ngữ văn, ĐH Sư phạm Hà Nội, Hà Nội

  50. Nguyễn Xuân Diện, TS Ngữ văn, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội

  51. Phạm Toàn, nghiên cứu giáo dục, sáng lập viên nhóm Cánh Buồm, Hà Nội

  52. Phạm Minh Gia, TS Kinh tế, Hà Nội

  53. Phạm Quốc Lộc, TS Văn học So sánh, Trưởng Khoa Ngôn ngữ và Văn hoá, ĐH Hoa sen, TP HCM

  54. Phạm Thị Ly, TS Ngữ văn, Viện đào tạo quốc tế, ĐHQG TP HCM

  55. Phạm Thị Phương, PGS. TS Ngữ văn, Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm TP HCM

  56. Phạm Xuân Nguyên, Trưởng phòng Nghiên cứu Văn học So sánh, Viện Văn học, Hà Nội

  57. Phan Hồng Hạnh, ThS Ngữ văn, Giáo viên THPT Chu Văn An, Hà Nội

  58. Phan Thị Hà Dương, PGS. TS Toán học, Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội

  59. Phan Thị Hoàng Oanh, TS Hoá học, Giảng viên Đại học, TP HCM

  60. Phùng Hoài Ngọc, ThS Văn học, nguyên giảng viên Đại học An Giang, An Giang.

  61. Trần Đình Sử, GS. TS Văn học, Đại học Sư phạm Hà Nội

  62. Trần Đức Anh Sơn, TS Lịch sử, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển KT XH Đà Nẵng, Tổng biên tập Tạp chí Phát triển kinh tế -xã hội Đà Nẵng, Đà Nẵng

  63. Trần Hữu Tá, GS Văn học, Tp HCM

  64. Trần Ngọc Vương, GS TS Văn học, Hà Nội

  65. Trần Ngọc Hiếu, TS Văn học, Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội

  66. Trần Quang Đức, Nghiên cứu văn học, lịch sử, Phòng Văn học So Sánh, Viện Văn học, Hà Nội

  67. Trịnh Thu Tuyết, TS Văn học, Chuyên ngành văn học Hiện đại, Hà Nội

  68. Tương Lai, GS Văn học, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam, thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, TP HCM

  69. Vũ Thế Khôi, TS, nguyên Trưởng khoa tiếng Nga, ĐH Ngoại Ngữ Hà Nội, Hà Nội

  70. Vũ Thị Phương Anh, TS Giáo dục, Nguyên giám đốc Trung tâm khảo thí và Đánh giá chất lượng đào tạo ĐHQG TPHCM, TP HCM

 

 

 

Tiến sĩ họ Cù – người tù nhân đặc biệt

17/04/2014

Người Bến Nghé (ĐXT)

Tôi vốn là người yêu thơ và thơ của Huy Cận dù sau này ông là một công thần của chế độ cộng sản vẫn để lại trong chúng tôi những ký ức khó quên khi chép tay thơ ông ở lứa tuổi học trò. Bài thơ Ngậm Ngùi sau này được Phạm Duy phổ nhạc được kể là một trong những ca khúc-thơ huyền thoại ưa chuộng nhất của những người yêu nhạc và thơ.

Có điều khác với những nhà thơ có tên tuổi lớn, Huy Cận không có những cuộc tình sôi nổi mà chí thú gia đình và sản sinh ra một người con mà tôi nghĩ ông rất tự hào có cái tên khá lạ, Cù Huy Hà Vũ. Được nuôi dạy bài bản, Hà Vũ không theo con đường nghệ thuật của cha, nhưng lại trở thành tiến sĩ ngành Luật tốt nghiệp tại Pháp.

Ông cũng có khiếu về vẽ, tình cờ lại là người vẽ chân dung tài hoa mà hồi sinh thời ông tướng họ Võ đặc biệt ưu ái, chịu ngồi hàng giờ cho người con đồng chí cùng thời với mình ghi lại khuôn mặt và thần thái để đời, trở thành bức chân dung thân quí trong phòng khách.

Hà Vũ cũng là một khuôn mặt trí thức trẻ của Hà nội nhờ mối liên kết nhân thân của cha đã có nhiều dịp được tiếp xúc với nhiều khuôn mặt lãnh đạo của chế độ và qua hình ảnh minh họa cho những bài viết, ông không dấu niềm tự hào và trước mắt công chúng ông được kể là ‘con cưng của chế độ’ chỉ lên chứ không thể xuống so với thế hệ thanh niên trí thức cùng thời. Cũng được kể là may mắn khi tiến sĩ trẻ họ Cù (người lúc sanh ra ‘đã có muỗng vàng trên miệng’) khi kết hôn với một nữ luật sư vừa giỏi vừa hiền mà sau này chính người nữ này đã góp phần cứu giúp đời ông.

Thế nhưng cuộc đời có những bước ngoặt khó lường, cũng có thể do số phận sắp đặt nhưng cũng có khi bản thân tự chọn. Khác với tính cách của cha, một người đằm thắm luôn đồng tình với cơ chế cốt để tiến thân và yên thân, thì Hà Vũ có vẻ mạnh bạo hơn, can đảm hơn, đôi lúc vừa ‘ngạo mạn’ lại vừa khinh suất khi làm những chuyện khác đời, cũng có thể ông dựa vào kiến thức và học vị của bản thân, phần khác ỷ vào nhân thân và lý lịch gia đình, phần nào có ảnh hưởng với lối tư duy độc lập khi được đào tạo ở một nước có truyền thống nói và làm theo luật.

Tôi theo dấu bước chân ông từ đó vì hiếm có một công dân trong chế độ CS, dù có là tiến sĩ hay là gì đi nữa, lại đâm đơn đi ‘kiện’ thủ tướng đương quyền về nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến nhiều lãnh vực từ chính trị cho đến môi trường, từ nhân sinh cho đến đại cuộc, nội dung toàn những ý kiến ‘cản mũi kỳ đà’. Lối đấu tranh bằng lý bằng luật của ông trong môi trường xã hội hiện nay đã đưa ông từ văn phòng luật đến chốn cửa tòa và bản án tù 7 năm. Người đau đương nhiên là người thân, người buồn và thất vọng là những người còn có lòng với tiền đồ đất nước, bất kể trong ngoài nước. Có người nói nếu ông Võ còn uy tín chắc họ Cù không vướng vòng lao lý, chuyện này chưa chắc, nhưng khi Hà Vũ bị giam thì thần tượng của ông đã đi vào đời sống thực vật (bức ký họa cuối cùng được gửi ra từ nhà tù nhân VNG đúng trăm năm).

Án phạt họ Cù tất nhiên cũng khá ồn ào và Hà Vũ trở thành người tù đặc biệt. Chuyện đã rồi, người ta quay sang an ủi thăm viếng ông và tất nhiên không quên nhắc nhở các giới chức, thế lực quan tâm để trả lại tự do cho ông. Tôi không dùng cụm từ ‘lương tâm’ nhưng quả thật là ‘người tù đặc biệt’ từ lúc bắt giam, nghị án, kết tội cho đến nơi giam, phòng giam, sinh hoạt, tuyệt thực, bệnh tình, thăm nuôi, rồi chuyện can thiệp trả tự do sớm, chuyện điều kiện được thả, chuyện đi Mỹ… luôn là những thông tin nóng hổi, vừa là những lời đồn thổi vu vơ vừa là những tranh cãi thường xuyên xuất hiện trên báo in báo mạng, phải nói tổng hợp lại tiến sĩ họ Cù được nhắc đến nhiều hơn các tù nhân đấu tranh khác cộng lại.

Cũng chuyện trong nhà tù, dù ông có vài thuận lợi khi cho thăm nuôi theo định kỳ với số lượng đồ ăn không hạn chế, lại còn có cả giấy tranh và cọ để vẽ, dù người ta một mặt cũng sợ ông chết gây tiếng vang không tốt, mặt khác ông vẫn bị đưa đến một trại giam khá khắc nghiệt (Thanh Hóa) để dễ cách ly với những bạn bè muốn đi thăm nuôi. Phòng giam người ta sắp xếp chỗ ông nằm (qua kinh nghiệm bản thân một người tù gần 13 năm của tôi) thì chỗ nằm ngay cửa, gần cầu tiêu, luôn bị khuấy động lúc về đêm do tù nhân hút thuốc lào và tiêu tiểu, rất dễ trúng gió nhất là người bị chứng cao máu như ông sớm muộn rồi cũng mất ngủ, đột tử, chết do nguyên nhân ‘tự nhiên’ theo báo cáo của trại tù. Cũng là điều dễ hiểu ông phải dùng chiêu tuyệt thực để tự cứu, nếu không cũng chết trước hạn tù.

Cho nên bệnh tình của ông là có thật, hình ảnh phù phì mấy lúc sau này là những dấu chỉ của bệnh trạng nếu không ra tù sớm để chữa trị thì đành phải lên xe trâu như nhiều bạn tù hồi xưa của chúng tôi. Cũng đáng ‘biểu dương’ người bạn đời của ông, bà Dương Hà đã chăm sóc và có lời khuyên đúng lúc khi ông tuyệt thực lần thứ hai, bà sợ ông chết đút cho ông miếng cháo lúc thăm nuôi, tôi nhớ câu nói của ông khi nể tình vợ ông đã húp vài muỗng kèm theo câu ‘Thế là em giết anh!’. Cù Huy Hà Vũ có lúc rất đáng nể xét theo tư thế một con người, tôi phục ông điều này.

Nay thì ông đã qua cơn nguy khốn, nhưng lại đối mặt với những dư luận cả trong lẫn ngoài, đặc biệt đối với những người muốn ông phải là ‘anh hùng’ từ đầu đến chân. Cứ để thời gian làm nhân chứng, tôi nghĩ người cựu tù nhân đặc biệt này không dễ để bị mờ nhạt, cũng một phần vì tính cách của ông vốn năng động lại hay làm chuyện khác người, vừa là một luật gia, giỏi ngoại ngữ, ông có chỗ đứng, ông có tổ chức nghề nghiệp và đồng sự hậu thuẫn, chữa bệnh xong ông sẽ hoạt động lại, tất nhiên lần này phải khôn ngoan hơn, hiệu quả hơn.

Tôi chúc CHHV mọi sự bình an trên đất mới và xin đồng tình với một đàn anh của ông qua mấy vần thơ mới đăng trên báo mạng, gây cảm hứng cho tôi viết bài này, một điều tôi ít làm vì cũng muốn yên thân ở tuổi về già.

Thôi chú hãy yên tâm mà chữa bệnh

Khỏi thì về , mà ở lại cũng chẳng sao

Kìa bóng chú đang bước đi lệnh khệnh

Sớm về nhà rồi cũng lại vào lao.

N.B.N. (ĐXT)

Tác giả gửi cho BVN

 

CHÚNG TA ĐANG MẤT NƯỚC TỪNG PHẦN VÀO TAY GIỚI CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC  

17/04/2014

Nguyễn Trọng Vĩnh

Trung Quốc tuồn đủ mọi hàng hóa rẻ tiền vào để lũng đoạn thị trường và bóp nghẹt mọi sản phẩm của ta; họ thực hiện mọi thủ đoạn thâu tóm kinh tế, đồng thời phái thương nhân vào phá hoại kinh tế của ta; về chính trị, họ cũng chi phối phía ta; về quân sự, họ không ngừng lấn, cướp biển đảo của ta, bắt tàu cá, tịch thu tài sản, đánh thuyền viên, đâm hỏng tàu, bắn ngư dân, phá mọi hoạt động của ta trong thềm lục địa của mình; báo chí của họ luôn đe dọa dùng vũ lực với ta. Mọi sự việc nêu trên, những ai quan tâm theo dõi đều đã biết cả.

Tình hình còn nguy hiểm và bức xúc hơn là chúng ta đương mất nước từng phần vào tay những nhà cầm quyền TQ, và sẽ mất nữa:

Trước đây họ đã mua được hàng ngàn hecta rừng biên giới, một đoạn bãi biển Đà Nẵng, người Việt Nam không ai vào được. Thế là mất chủ quyền, cũng là mất một phần đất nước vào tay TQ.

Vài năm gần đây, họ đổ tiền vào đầu tư bất động sản, địa ốc, những nơi ấy họ đã xây nhà hay chưa cũng là lãnh địa của họ rồi.

Họ chi 40 triệu đôla mua hơn 6 triệu cổ phiếu của Công ty Vinacafe Biên Hòa, trở thành cổ đông lớn thứ 2 của công ty. Họ tăng cường mua cổ phần của nhiều công ty nước ta, đến một lúc họ mua được 51% cổ phần, sẽ biến thành công ty của TQ, những mảnh đất mà các công ty này tọa lạc sẽ nghiễm nhiên trở thành đất của TQ.

Tập đoàn Yulun, Giang Tô xây dựng nhà máy sản xuất sợi, dệt, nhuộm tại Vụ Bản, Nam Định chiếm 80.000 m2 đất. Lấy Tập đoàn dệt may Việt Nam làm bình phong, TQ dự kiến xây dựng nhà máy dệt tại huyện Nghĩa Hưng chiếm diện tích khoảng 1.500 ha.

Một người dân Kỳ Anh nói: “Người TQ hầu như đã làm chủ thực tế huyện Kỳ Anh”.

Họ xây dựng tường cao tốc dọc phía Đông đường quốc lộ suốt từ Kỳ Anh qua Cẩm Xuyên đến chân Đèo Ngang, phía trong bức tường ra biển, họ làm gì trong đó không ai biết được.

Họ thuê cảng Cửa Việt (Quảng Trị). Họ được Đài Loan nhượng dự án khu kinh tế Formosa bao gồm cả cảng Vũng Áng chiếm một diện tích rất rộng, riêng cảng là 3.300 ha. Cảng Vũng Áng là điểm cực kỳ xung yếu, nó là yết hầu của miền Trung, TQ làm chủ, khi họ trở mặt, họ có thể khống chế đường giao thông của ta cả trên bộ lẫn trên biển, chia cắt nước ta làm 2 phần. Cửa Việt và Vũng Áng, họ cấm người ra vào, có thể họ đương xây dựng thành căn cứ quân sự.

Tóm lại, những nơi mà TQ thuê, mua, đầu tư đã trở thành lãnh địa của TQ. Người Việt Nam, công an, chính quyền địa phương không được vào, ngay cả công trường nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân do TQ thầu đương xây dựng, phó giám đốc công an tỉnh Bình Thuận cũng không được vào. Thế là tất cả những nơi nói trên, ta mất chủ quyền, chẳng phải là mất nước từng phần là gì?

Những nơi TQ thuê, mua, đầu tư họ đều đưa người của họ sang làm. TQ trúng thầu 90% công trình trọng điểm của nước ta. Bằng nhiều thủ đoạn, bất chấp luật pháp của nước ta, họ đưa ồ ạt lao động phổ thông vào. Thế là họ vừa thực hiện được mục đích di dân vừa bố trí được đội quân thứ 5 hàng vạn người rải khắp nước ta. Rất nhiều người trong số họ lấy vợ Việt Nam, sau thời hạn 50, 70 năm sẽ có hàng trăm “làng TQ” trong nước ta.

Cứ đà này, sớm muộn nước ta sẽ trở thành “thuộc quốc” hoặc “thuộc địa kiểu mới” của chủ nghĩa bành trướng, bá quyền Đại Hán!

Vì đâu nên nỗi?

Phải nói thẳng ra đây là trách nhiệm của các cấp nắm quyền của ta từ dưới lên trên.

Hoặc do mê muội bởi “16 chữ, 4 tốt”, “cùng ý thức hệ”, mà không thấy được giới cầm quyền TQ miệng thì nói “hữu nghị”, nhưng hành động thì ác độc, đầu óc thì thâm hiểm, nên tạo cho họ mọi sự dễ dàng. Làm gì có “cùng chung ý thức hệ”? Từ khi Đặng Tiểu Bình nói: “Mèo trắng, mèo đen, mèo nào bắt được chuột là mèo tốt” thì họ đã đi theo con đường TBCN rồi, dù vẫn nêu xây dựng CNXH đặc sắc TQ. Còn ở nước ta, tuy tên nước vẫn là XHCN, nhưng trong nội dung có gì là XHCN đâu?!

Hoặc do không tiếp thu được ý chí quật cường của cha ông, nên tự ty, tự cho mình là nước nhỏ, quân yếu, nhân nhượng họ cho yên, vẫn giữ được quyền, được ghế.

Hoặc quá sợ họ đánh, nên họ đề xuất gì, yêu cầu gì đều chấp nhận; họ sai trái, vi phạm luật pháp của ta, không dám xử lý.

Hoặc có vị “ăn xôi chùa ngọng miệng”, quyền ký thì ký, quyền bỏ qua thì bỏ qua, để mặc họ muốn gì cũng được.

Hoặc chỉ thấy tiền, cho thuê, bán, cho đầu tư, cấp dự án, thì được tiền, tiền cho ngân sách đồng thời cho cả cá nhân, cho nhóm lợi ích, bất chấp sự nguy hại cho đất nước, đúng là “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”.

Phải làm gì?

1. Nhân dân kêu gọi những ai trong bộ máy cầm quyền còn tâm huyết với dân tộc, với Tổ quốc hãy đấu tranh thực hiện dân chủ, quay lại với dân, dựa vào sức mạnh của dân ngăn chặn mối nguy cho đất nước.

2. Các tổ chức, các lực lượng yêu nước liên kết nhau thành sức mạnh đấu tranh quyết liệt loại bỏ những hình bóng của loại Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, ủng họ người có thực đức, thực tàixuất hiện cùng nhau giữ độc lập, tự chủ và đưa đất nước tiến lên.

Xây dựng tuyến đường cao tốc Lào Cai – Hà Nội là chuốc họa.

Tôi rất tâm dắc với suy nghĩ của bạn Hoàng Mai về con đường cao tốc Lào Cai – Hà Nội, cho rằng: “Mục đích trước mắt của tuyến đường này là để hàng hóa TQ xâm nhập Việt Nam một cách nhanh hơn, rẻ hơn, qua đó nhằm bóp chết nền sản xuất của Việt Nam, cũng là để vơ vét tài nguyên của Việt Nam một cách nhanh hơn…”.

Tôi nghĩ, đến một thời cơ nào đó, TQ xuất quân đánh ta thì chính con đường cao tốc này cho phép bộ đội cơ giới của họ tiến rất nhanh đến Hà Nội. Từ xưa đến nay, các thế hệ cầm quyền TQ chưa bao giờ từ bỏ ý đồ thôn tính nước ta và tiến xuống bá chiếm Đông Nam Á.

Đồng ý với bạn Hoàng Mai, tôi cho rằng con đường cao tốc Lào Cai – Hà Nội lợi cho ta thì ít, lợi cho TQ thì nhiều. Trong khi tài chính của ta đương rất khó khăn, nợ nước ngoài đã chồng chất mà vay để chi một khoản tiền khổng lồ 896 triệu đôla cho con đường cao tốc này thì thật là phi lý. Là con nợ của TQ, sau này không chỉ phải trả bằng tiền mà còn phải trả họ bằng nhiều thứ khác theo đòi hỏi của họ.

N.T.V.

Tác giả gửi cho BVN

 

Trò chuyện với người phơi bày vụ 5 công an Tuy Hòa đánh chết dân

16/04/2014

Trà Mi-VOA

clip_image001

Gia đình trước bàn thờ ông Ngô Thanh Kiều, nạn nhân vụ án công an dùng nhục hình đánh chết dân ở Phú Yên.

Thêm một trường hợp công an dùng nhục hình đánh chết dân gây chấn động dư luận sau khi tòa sơ thẩm tuyên các bản án khiến công chúng bất bình và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phải lên tiếng chỉ đạo xử nghiêm vụ này.

5 sĩ quan công an thành phố Tuy Hòa (Phú Yên) ngày 3/4 bị tuyên phạt các mức án từ 1 năm tù treo đến 5 năm tù ở về tội “dùng nhục hình” dẫn tới cái chết thương tâm của một cư dân địa phương tên Ngô Thanh Kiều cách đây gần 2 năm.

Ông Kiều bị giải về đồn công an lúc 3 giờ sáng ngày 13/5/2012 dù không có lệnh bắt. Chỉ 14 giờ đồng hồ sau, gia đình ông được tin báo tử đến bệnh viện nhận thi thể nạn nhân đã bị tra tấn bầm dập, với trên 70 vết tích ‘kinh hoàng’.

Người đưa ra ánh sáng vụ công an giết người dã man này là một luật sư trẻ, chủ nhân một văn phòng luật sư khiêm tốn đặt tại một vùng quê hẻo lánh ở Phú Yên, cách tỉnh lộ hàng cây số, không truy cập được internet hay email, bốn bề bao phủ bởi cây cối ruộng vườn.

Luật sư Võ An Đôn, ngoài 30 tuổi, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên, là người tình nguyện giúp đỡ pháp lý hoàn toàn miễn phí cho gia đình nạn nhân Ngô Thanh Kiều ngay từ buổi đầu.

Ông đã hướng dẫn gia đình ông Kiều chụp ảnh khi khám nghiệm tử thi, giúp họ làm đơn tố cáo để đưa thêm một vụ công an tra tấn, giết người ra ánh sáng giữa tình trạng leo thang nạn bạo hành trong ngành công an Việt Nam.

Gia đình ông Kiều cho biết họ đã tìm tới nhiều luật sư nhưng bị từ chối vì ngại các vụ án dính líu tới công an, nhưng ngay từ lần gặp đầu tiên luật sư Đôn đã nhận lời giúp đỡ họ không công.

Ông tuyên bố sẵn sàng gánh chịu mọi rủi ro để làm sáng tỏ công lý, bảo vệ người nghèo ‘thấp cổ bé họng’. Ông nói ông không sợ hiểm nguy vì đấu tranh cho một xã hội công bằng là hạnh phúc của một luật sư chân chính.

Tại tòa, bất chấp những áp lực, luật sư Đôn nhất mực đề nghị khởi tố sĩ quan cao cấp nhất liên quan trong vụ án là ông Lê Đức Hoàn, Phó công an thành phố Tuy Hòa, nhưng đã bị tòa bác bỏ.

Từ văn phòng luật sư Võ An Đôn ở thôn Phước Thịnh, xã Hòa Bình 2, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên, luật sư Đôn chia sẻ với Tạp chí Thanh Niên nỗi bức xúc trước những gúc mắt trong bản án làm lung lạc niềm tin dân chúng về cán cân công lý tại Việt Nam, những trăn trở về môi trường pháp lý trong nước, và những ưu tư của người hành nghề luật trong điều kiện pháp luật không được thượng tôn.

Bấm vào nghe toàn bộ cuộc phỏng vấn luật sự Võ An Đôn

Luật sư Võ An Đôn: Bản án vừa rồi xử không đúng pháp luật. Họ đã đạp trên dư luận, đạp trên pháp luật để ra một bản án trái pháp luật.

Trà Mi: Theo luật sự có những dấu hiệu sót người lọt tội nào cần phải làm rõ?

Luật sư Võ An Đôn: 5 công an Tuy Hòa đánh chết anh Kiều không phải là tội ‘dùng nhục hình’ mà là tội ‘cố ý gây thương tích’ dẫn tới chết người, hoặc tội ‘giết người’ mới đúng. Họ bắt anh Kiều bất ngờ, không có giấy tờ, theo quy định pháp luật bắt người như vậy là trái pháp luật. Thứ hai, họ dùng nhục hình đánh chết anh Kiều tại trụ sở, quá trình lấy lời khai cũng không đúng, không có một biên bản nào hết. Khi đưa ra xét xử, lẽ ra phải áp dụng cùng một khung hình phạt cho 5 bị cáo, nhưng Viện kiểm sát Tuy Hòa lại áp dụng 2 khung hình phạt khác nhau.

Trà Mi: Đó là những sai phạm từ khâu bắt giữ, điều tra, truy tố. Ngay tại phiên tòa hôm 3/4 vừa qua trong phần tranh luận giữa đôi bên có gì đáng chú ý không, thưa ông?

Luật sư Võ An Đôn: Hội đồng Xét xử không dựa trên sự tranh luận tại tòa. Hình như có sự áp đặt nào đó, không dựa trên pháp luật. Thượng tá Lê Đức Hoàn, Phó Trưởng công an thành phố Tuy Hòa, phạm tới 3 tội: bắt người trái pháp luật, tòng phạm trong việc dùng nhục hình, và thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Tôi nhiều lần đề nghị khởi tố ông ta 3 tội danh này nhưng Hội đồng Xét xử lại bỏ qua. Vụ này giữa một bên là người dân thấp cổ bé họng, một bên là cơ quan quyền lực cao của nhà nước, cho nên xử rất khó.

Trà Mi: Những bản án nhẹ tay thế này sẽ gây hậu quả thế nào đối với xã hội?

Luật sư Võ An Đôn: Bản án vừa tuyên, dư luận trong nước rất phản đối, không có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm giữa lúc việc dùng nhục hình hiện nay đang diễn ra tràn lan. Bản án như vậy gây mất lòng tin của người dân đối với pháp luật. Bản án này vừa xem thường pháp luật vừa đạp trên dư luận.

Trà Mi: Ở môi trường luật pháp minh bạch, quan tòa không phải chịu một áp lực chi phối nào. Luật sư thấy  yếu tố này trong môi trường luật pháp Việt Nam như thế nào?

Luật sư Võ An Đôn: Hội đồng Xét xử không được độc lập, bị nhiều yếu tố chi phối lắm, nói ra thì đụng chạm tùm lum, rất khó. Cả một cơ chế, bộ máy như vậy thì nói ra đụng chạm lắm chị à.

Trà Mi: Có người cho rằng không phải vụ án nào ở Việt Nam cũng như thế. Nhưng có người cho rằng đó là một sự thật hiển nhiên, tất cả đều tương tự như vậy, có điều không bị phơi bày ra ánh sáng hết mà thôi. Ý kiến luật sư thế nào?

Luật sư Võ An Đôn: Đa số thường xử không đúng luật pháp. Vụ này bị dư luận, báo chí tham gia rầm rộ vậy mà người ta vẫn đạp trên pháp luật để ra bản án thế thì những vụ bình thường không có báo chí đưa tin đương nhiên sẽ xảy ra kiểu vậy, rất bình thường chị ạ.

Trà Mi: Chánh án tòa án Tuy Hòa, ông Lương Quang, nhìn nhận tòa án cũng phải chọn ‘giải pháp an toàn’ để đành bỏ lọt tội phạm. Vai trò của chánh án, tòa án coi như bị trói tay. Còn vai trò người luật sư trong việc bảo vệ luật pháp, công lý ở Việt Nam như thế nào?

Luật sư Võ An Đôn: Luật sư vai trò rất mờ nhạt, rất yếu. Nói đúng luật pháp, Hội đồng Xét xử cũng chẳng nghe. Khó khăn như vậy chị à.

Trà Mi: Xét xử không dựa trên luật mà dựa trên những yếu tố ‘nhạy cảm’, theo lời chánh án Lương Quang, cho nên có người cho rằng ở Việt Nam có luật sư cũng như không. Ông có thấy người luật sư bị ‘thừa thải’ trong môi trường pháp lý ở Việt Nam?

Luật sư Võ An Đôn: Có nhiều vụ án có luật sư cũng như không, nhưng cũng có nhiều vụ cũng rất cần có luật sư. Ví dụ như trong vụ anh Ngô Thanh Kiều, nếu không có luật sư thì sẽ không bao giờ phơi bày ra những oan ức, dân không biết kêu ai vì tòa xử dựa trên các mối ‘quen biết’.

Trà Mi: 11 năm làm việc trong ngành luật, ông đúc kết cho mình những kinh nghiệm thế nào để vừa có thể giữ được an toàn tối thiểu cho bản thân vừa không vi phạm đạo đức nghề nghiệp?

Luật sư Võ An Đôn: Ở Việt Nam luật có rất nhiều, nhưng áp dụng một nẻo. Luật sư hiện nay đa số chạy theo vật chất, đồng tiền. Luật sư muốn giàu có, làm có tiền thì phải chạy án, phải liên kết với tòa án, cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát. Những người luật sư không cần tiền mà cần công lý, lẽ phải thì số đó ở Việt Nam rất ít chị à.

Trà Mi: Luật sư chạy án, quan tòa bị chi phối, quá trình điều tra xét xử có nhiều vi phạm, và nạn bạo hành, dùng nhục hình trong ngành công an nhiễu nhương. Trước những khúc mắt đó, có giải pháp nào ông nhìn thấy có thể giúp giải quyết vấn đề nan giải hiện nay không?

Luật sư Võ An Đôn: Đó là một vấn đề lớn, cả một cơ chế, một bộ máy đòi hỏi phải cải cách cho phù hợp. Nói tới vấn đề đó thì đụng chạm, nhạy cảm lắm chị à. Luật sư biết nhưng không dám nói. Các cơ quan tiến hành tố tụng muốn làm theo công lý thì phải độc lập, không lệ thuộc vào ai thì mới có công lý được. Còn lệ thuộc như hiện nay, ông này ông kia chỉ đạo, bản án do người khác ấn định chứ không phải do ông thẩm phán. Ở Việt Nam khổ vậy chị à.

Trà Mi: Trong khi tòa xử cũng phải chọn ‘giải pháp an toàn’, như lời ông chánh án thành phố Tuy Hòa, người luật sư cứ nói lẽ phải như vậy, ông có sợ rủi ro cho bản thân?

Luật sư Võ An Đôn: Luật sư nói sự thật vì công lý thì rất nguy hiểm, nhưng tôi không sợ, cả tính mạng tôi cũng không sợ vì mình nói lên công lý-sự thật để bảo vệ người dân. Đó là hạnh phúc cho người luật sư chân chính. Tôi không sợ gì.

Trà Mi: Ông trông mong gì trong phiên phúc thẩm vụ án Ngô Thanh Kiều sắp tới đây?

Luật sư Võ An Đôn: Tôi mong bản án phúc thẩm xử đúng luật pháp không bỏ lọt tội phạm, xử lý nghiêm những người phạm tội để răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm dùng nhục hình trong thời gian tới. Tới giờ này thì tôi cũng chưa thấy gì khả quan. Muốn vụ án được khả quan phải có sự vào cuộc của các cơ quan trung ương. Nếu mong muốn của tôi không đạt được, tôi thất vọng, dư luận sẽ thất vọng. Người ta ví luật pháp Việt Nam như cái lưới chỉ bắt được những con cá bé, còn những còn cá lớn lại để sẩy. Tôi cũng hơi buồn.

Trà Mi: Tử thi nạn nhân Ngô Thanh Kiều có những vết thương kinh hoàng, theo lời mô tả của ông chánh án Lương Quang, so với những bản án vừa tuyên thì rõ ràng thấy được mức độ chênh lệch quá lớn, làm đau lòng những người yêu chuộng công lý và bảo vệ luật pháp. Vậy luật sư có thể làm gì hơn nữa để đấu tranh bảo vệ sự thật? 

Luật sư Võ An Đôn: Làm rõ một vụ án đòi hỏi rất nhiều cơ quan, chứ một cá nhân luật sư nhỏ bé thì rất là khó, với tư cách một luật sư, tôi chỉ có thể nói lên những khúc mắt của vụ án đó.

Nạn nhân Ngô Thanh Kiều mất đi để lại bố mẹ già, người vợ trẻ và hai đứa con thơ, đứa nhỏ nhất chưa một lần nhìn thấy mặt cha.

clip_image002

Con của ông Ngô Thanh Kiều

Bà Ngô Thị Tuyết, chị ruột ông Kiều nói hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn, nằm trong diện được cấp sổ ‘hộ nghèo’ ở địa phương:

“Các gia đình bị cáo, ví dụ như gia đình bị cáo Thành có điều kiện mướn tới 2 luật sư, mỗi luật sư 100 triệu. Trong khi em dâu tôi không có một hột gạo nấu cơm ăn, phải đi làm thuê tất cả các công việc, ai mướn gì làm nấy. Con thì nhỏ, ba mẹ thì già, còn phải đi làm mướn để nuôi cháu.”

Gia đình ông Kiều cho biết sẽ kháng án tới cùng với khao khát tìm kiếm công lý không chỉ cho mình mà cho những người cô thế chịu áp bức, bất công trong xã hội:

“Không phải tất cả các vụ án kiểu này được đưa ra ánh sáng hết. Cũng chính vì vậy mà gia đình tôi cố gắng tìm ra công lý để trừng trị thích đáng những người trong hàng ngũ công an dùng quyền hành của mình để đánh đập người dân đến chết như vậy. Chúng tôi làm vậy để sau này đừng xảy ra vụ việc như em tôi. Tôi hy vọng tòa tới đây sẽ xét xử công minh, trừng trị những người gây ra tội ác, lấy lại lòng tin của gia đình tôi và của toàn thể người dân sống trong đất nước Việt Nam để người dân yên tâm, tin tưởng vào pháp luật mà sống.”

Luật sư Võ An Đôn khẳng định ông sẽ tiếp tục hỗ trợ gia đình ông Kiều theo đuổi vụ án tới cùng.

Với 11 năm làm việc trong ngành luật pháp trong nước, luật sư Đôn hiện cũng là một cộng tác viên của Trung tâm Trợ giúp Pháp lý nhà nước ở tỉnh Phú Yên, chuyên nhận bào chữa miễn phí cho dân nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, phụ nữ mang thai, hay trẻ em dưới 18 tuổi.

T.M.

Nguồn: voatiengviet.com

 

 

 

 

VÌ SAO CÔNG AN CẦN MỘT CHỮ KÝ ĐẾN VẬY ?

15/04/2014

(TƯỜNG TRÌNH BUỔI LÀM VIỆC VỚI AN NINH)

PHẠM ĐÌNH TRỌNG (đại tá nhà văn)

Làm việc với tôi lúc đầu là hai người: một công an cấp thành phố tên Tuấn ngoài năm mươi tuổi, nước da màu đồng ruộng, mặt nhọn chữ V, đã quá quen mặt với tôi suốt mấy năm nay và một người trẻ hơn ông Tuấn vài tuổi, mặc áo thun đen được ông Tuấn giới thiệu cũng là công an thành phố. Tôi hỏi tên, người đó nói tên Sang.

Tôi tin chắc ông Sang không phải là công an cấp thành phố mà là công an cấp bộ. Tôi đến trụ sở công an xã Phước Kiển vào phòng trung tá Lâm Ngọc Thích, trưởng công an xã, hỏi: Thưa anh, tôi được mời đến làm việc ở phòng nào. Ông Thích hỏi ngay: Bác là bác Trọng phải không? Ông Thích mời ngồi, pha ấm trà mới tiếp khách và bảo tôi bác ngồi đợi chút, các anh đó đang đến. Tôi hỏi thăm gia đình, ông Thích bảo quê ông bà nội ngoại của ông đều ở xã Phước Hải, cạnh xã Phước Kiển này. Ông vui vẻ, cởi mở khoe rằng anh thiếu úy Lê Phương Tinh, công an khu vực dân cư nơi tôi ở, người hai lần mang giấy mời của công an đến cho tôi chính là con rể của ông, lấy con gái đầu của ông.

Uống ngụm trà rồi tôi ra sân đợi thì ông Tuấn đến. Tôi và ông Tuấn đến phòng ông Thích đi ngang qua một người mặc áo thun đen đứng bên chiếc xe máy ngay cửa phòng ông Thích. Ngôn ngữ trao đổi và cử chỉ của ông Thích và ông Tuấn cho tôi hiểu rằng ông Thích giục làm việc đi, ông Tuấn bảo đợi thêm người, ông Thích liền chỉ người mặc áo thun đen. Lúc đó ông Tuấn mới biết rằng người mặc áo thun đen đứng trước phòng ông Thích chính là người sẽ cùng ông Tuấn làm việc với tôi. Người mặc áo thun đen chính là ông Sang. Sự không quen biết nhau giữa ông Tuấn và ông Sang cho tôi hiểu rằng ông Sang không cùng đơn vị công an thành phố với ông Tuấn thì ông Sang phải là công an cấp bộ.

Sau phần thủ tục đầu tiên ông Tuấn hỏi tôi về sức khỏe để ghi vào biên bản rằng tôi đủ sức khỏe và đủ minh mẫn để làm việc, tôi nói: Lần trước các anh gửi giấy mời nhưng tôi không đi vì những bài viết của tôi là của đời sống dân sự. Hiến pháp cho công dân được tự do ngôn luận đã cho tôi được viết bộc lộ suy nghĩ, tình cảm, chính kiến. Nếu tôi viết có gì sai, các anh cứ kiện tôi ra tòa án, tôi sẽ hầu kiện. Đó là đời sống dân sự. Nhưng công an vào cuộc về những bài viết của tôi thì đã hình sự hóa đời sống dân sự rồi. Tôi không chấp nhận đời sống dân sự bị hình sự hóa như vậy. Lần này lại nhận được giấy mời của các anh, tôi đã định không đi. Nhưng thấy những bài viết bộc lộ suy nghĩ, tình cảm của tôi chỉ là việc nhỏ nhặt trong đời sống dân sự mà cứ để các anh nay mời, mai mời làm cho sự việc nhỏ trở thành lớn, trở thành căng thẳng và các anh phải đi lại nhiều lần vất vả nên tôi đến đây gặp các anh. Tôi coi đây chỉ là cuộc gặp dân sự nói chuyện để hiểu biết nhau nên tôi không ký bất kì một biên bản nào để hình sự hóa cuộc gặp này.

Ông Tuấn gọi tôi là chú. Ông Sang gọi tôi là bác. Hai người thay nhau hỏi. Bác có trang cá nhân facebook không? Bác có trang này lâu chưa? Mục đích chú lập trang facebook để làm gì? Tôi nói rằng ở thời công nghệ thông tin này, trang facebook đã trở thành rất phổ biến từ bà nội trợ đến cô học trò cấp hai, từ anh nông dân đến ông cán bộ nhà nước đều có trang facebook công khai những sự việc, những vui buồn trong ngày của mình để được cộng đồng facebook trên khắp thế giới chia sẻ, tạo ra một thế giới phẳng rộng lớn. Tôi mới có trang facebook từ năm 2013. Cũng như mọi người, tôi ghi lại những vui buồn, nghĩ suy, trăn trở trên facebook. Khác mọi người, tôi là nhà văn. Tôi không chỉ buồn vui, nghĩ suy về cá nhân tôi mà tôi buồn vui, nghĩ suy, trăn trở về đất nước, về nhân dân, về thời cuộc.

Ông Tuấn đưa cho tôi xem hai tờ giấy A4 in một list tên những bài viết của tôi từ trang web Đàn Chim Việt và hỏi đây có phải những bài viết của chú không? Chú thường gửi bài cho những mạng nào? Trả lời: Tôi thường gửi bài cho trang Boxitvn và trang Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự. Đàn Chim Việt vẫn đăng bài của chú mà? Không phải chỉ có Đàn Chim Việt, các trang web khác đều tải bài của tôi từ trang Boxitvn và trang Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự.

Có lẽ ông Sang không phải là người chuyên trách theo dõi tôi nên hỏi nhiều câu thuộc về sơ yếu lí lịch mà người chuyên trách về tôi phải rành rẽ từ đầu như: Bác có tham gia công tác cách mạng gì không? Bác có tham gia tổ chức xã hội nào không. Tôi nói tôi là người lính nhập ngũ từ năm 1963 mà cuộc chiến tranh chống Mỹ đến năm 1965 mới thực sự nổ ra. Tôi đã tham gia trọn vẹn ba cuộc chiến tranh. Chiến tranh chống Mỹ. Chiến tranh chống Pôn Pốt. Chiến tranh chống Tàu ở biên giới phía Bắc. Cuộc chiến tranh chống Mỹ, tôi là người lính ở mặt trận Tây Nguyên. Sau năm 1975, tôi được điều về Tổng cục Chính trị, là nhà văn ở tạp chí Văn Nghệ Quân Đội rồi làm biên kịch ở Xưởng phim Quân đội. Hai cuộc chiến tranh sau, tôi là nhà văn, nhà báo quân đội. Tôi là hội viên các hội: hội Nhà Văn Việt Nam, hội Nhà Báo Việt Nam, hội Điện ảnh Việt Nam.

Ông Sang có hỏi tôi về Văn Đoàn Độc Lập nhưng chỉ hỏi thoáng qua. Sau này khi nhân vật công an thứ ba xuất hiện mới hỏi nhiều về Văn Đoàn Độc Lập và nhân vật này cũng biết rất rõ về tôi và gia đình tôi mà tôi tin chắc đó chính là người chuyên trách về tôi. Hỏi qua về Văn Đoàn rồi ông Sang lại quay về cá nhân tôi: Bác là hội viên hội Nhà Văn từ khi nào? Tôi không nhớ rõ năm nào nhưng lâu rồi. Tôi trả lời và nhìn Sang, nói: Tôi biết anh không phải là công an thành phố mà là công an bộ. Sang cười. Nụ cười thú nhận. Sau cuộc gặp, nhìn lại ba công an vừa làm việc với tôi, tôi thấy ở ông Sang phần người còn nhiều hơn cả trong ba công an, phần công cụ chưa lấn át phần người. Hai người còn lại thì phần người đã bị khuất lấp sau phần công cụ.

Ông Tuấn đưa ra một tập những bài viết của tôi được in từ trên mạng và bảo tôi ký xác nhận: Lần trước chú đã ký 19 bài rồi. Hôm nay chú ký tiếp những bài này. Tôi bảo lần này tôi không ký vì ba lẽ. Một là không cần thiết. Bài viết đã ghi rõ tên tôi là đủ để xác nhận rồi. Hai là lần trước tôi ký đã tạo ra tiền lệ để lần này tôi lại được mời đến gặp các anh để ký. Mấy tháng sau tôi có những bài viết mới lại bị gọi lên ký lần thứ ba. Rồi lần thứ tư. Lần thứ n. Là nhà văn, tôi không thể thờ ơ với cuộc sống, với số phận nhân dân, số phận đất nước nên cứ phải viết cho đến lúc từ giã cuộc đời. Rồi đến lúc sắp chết sẽ lại bị các anh nhét bút vào tay bắt ký. Ba là công dân có quyền tự do ngôn luận vì thế bài viết của tôi hoàn toàn hợp pháp trong đời sống dân sự. Tôi phải ký xác nhận bài viết với công an là tôi đã tự hình sự hóa bài viết của tôi. Tôi không thể làm điều đó.

Ông Sang bảo: Bài của bác sao bác không dám ký. Bác sợ à? Tôi mỉm cười: Nếu sợ tôi đã không dám viết. Có viết cũng không dám ký tên thật mà phải dùng một cái tên ảo Nguyễn Văn Sang, Nguyễn Văn Hèn nào đó. Tất cả các bài viết của tôi trên mạng suốt bao năm nay tôi đều ghi tên đầy đủ, rõ ràng. Không có bài nào tôi phải giấu tên. Điều đó xác nhận rằng tôi chẳng có gì phải sợ hãi. Làm đúng với lương tâm, trách nhiệm và luật pháp thì có gì phải sợ hãi, anh Sang nhỉ.

Ông Tuấn cắm cúi viết chắc là ghi biên bản. Chỉ còn đối đáp của ông Sang và tôi. Việc trùng tên rất thường gặp. Cũng có khi người khác ghi tên bác ở bài của họ thì sao. Vì thế bài nào của bác, bác phải ký xác nhận để phân biệt với những bài khác. Tên của tôi và bài viết của tôi là một chỉnh thể thống nhất. Văn phong, giọng điệu, ngôn ngữ, tình cảm, thái độ và cả kiến thức, trí tuệ trong bài viết của tôi cũng đã làm nên cái tên Phạm Đình Trọng và cái tên đó luôn là một chỉnh thể thống nhất với bài viết. Bài viết cũng như vân tay của một người. Từ vân tay công an xác định được người có vân tay đó thì từ bài viết, công an cũng dễ dàng xác định được người viết bài đó.

Lặp đi lặp lại đòi hỏi bác phải ký xác nhận bài viết là của bác thì cũng lặp đi lặp lại lý do không ký: Không phải chỉ riêng tôi phải ký mà hàng trăm, hàng ngàn người khác cũng đã và sẽ bị các anh yêu cầu ký vào bài viết. Số giấy mực in lại bài viết của một người thì không đáng bao nhiêu nhưng bài viết của hàng trăm, hàng ngàn người thì tiền giấy mực không phải là nhỏ. Dân mình còn nghèo lắm. Tiền giấy các anh in bài là tiền thuế của những người dân nghèo chạy ăn từng bữa đấy. Chúng tôi cứ ký hết lần này đến lần khác là các anh cứ vô tư tiêu phí những đồng tiền thuế của dân nghèo vào những việc không đáng tiêu. Tôi không thể hình sự hóa bài viết của tôi. Tôi không thể suốt đời cứ bị gọi lên gặp các anh để ký xác nhận bài viết.

Nếu bác không ký thì không có gì xác nhận có buổi làm việc hôm nay. Ông Sang nhắc đi nhắc lại câu đó rồi hứa: Bác cứ ký đi. Đây là lần ký cuối cùng. Sẽ không có lần thứ ba nữa. Tôi bảo: Lòng tin của người dân vào công an bây giờ xuống rất thấp. Chả có gì bảo đảm rằng tôi không còn bị các anh mời lên ký xác nhận bài viết nữa. Chúng tôi sẽ ghi vào biên bản làm việc điều đó. Biên bản các anh đưa vào hồ sơ rồi cất trong tủ sắt. Tôi đâu có bằng chứng về lời hứa của các anh. Tôi đề nghị các anh ghi điều đó ra giấy để tôi giữ lời hứa của các anh bằng giấy trắng mực đen. Ông Sang im lặng rồi đi ra ngoài. Trong quá trình làm việc, ông Sang mấy lần ra khỏi phòng gọi điện thoại. Lần này ông Sang ra ngoài khá lâu. Trở vào phòng, ông Sang ngồi lặng lẽ, dáng chờ đợi.

Gần nửa tiếng im lặng chờ đợi, người thứ ba mới xuất hiện. Lời giới thiệu của ông Sang về nhân vật mới chỉ vẻn vẹn có cái tên, anh Toàn. Mặt trắng, sáng sủa. Chân râu xanh rì quanh miệng. Đầu hói khoảng ba mươi phần trăm. Dáng nho nhã của con người bureau. Nhìn ông Tuấn thấy sự hăng hái, xông xáo, thấy cả sự tất bật, băm bổ của con người hành động thì nhìn ông Toàn nhận ra sự lạnh lùng, kín đáo của con người toan tính, nhận ra cả sự tự tin của kẻ rất có ý thức về sức mạnh đang có trong tay. Cái tự tin “công an là pháp luật, pháp luật là công an” của mọi công an nhà nước cộng sản Việt Nam.

Lời đầu tiên ông Toàn nói ngay những hiểu biết của ông về tôi, tuy những hiểu biết đó chỉ là bề ngoài, không đúng thực chất và không ăn nhập với đề tài buổi làm việc: Bác còn quá khỏe, còn đi khắp nơi. Bác có hai nhà cho thuê. Lương hưu lại cao… Ông Toàn còn kể ra cả căn hộ tôi đang ở là căn hộ penthouse, căn hộ thông tầng. Tôi nói: Những điều anh Toàn nói tuy có cái không đúng như tôi làm gì có hai nhà cho thuê nhưng tôi không cần diễn giải vì đây là lĩnh vực riêng tư của đời sống cá nhân được pháp luật bảo đảm bí mật, không bàn ở đây.

Ông Toàn hỏi tôi về Văn Đoàn Độc Lập. Văn Đoàn đã có hoạt động gì? Các tổ chức quốc tế có công nhận Văn Đoàn, có ủng hộ sự ra đời của Văn Đoàn không? Trang web của Văn Đoàn do ai làm? Bác đã viết bài cho trang web này chưa? Tham gia Văn Đoàn như thế nào? Tôi bảo: Anh Toàn cũng biết thời nước ta còn bị Pháp đô hộ, còn chưa có độc lập thế mà Tự Lực Văn Đoàn còn được ra đời và hoạt động suốt mười năm, từ năm 1932, để lại một nét son, một dấu ấn sâu đậm mãi mãi trong lịch sử văn học nước nhà. Bây giờ nước ta đã có độc lập, có Hiến pháp bảo đảm quyền lập hội cho công dân thì các nhà văn thành lập Văn Đoàn Độc Lập cũng là bình thường. Một xã hội dân sự phải có các tổ chức xã hội thực sự của người dân, do người dân thành lập và duy trì hoạt động. Ông Toàn cắt lời tôi rằng trên thế giới không nước nào có xã hội dân sự cả. Tôi rất ngạc nhiên về nhận thức xã hội dân sự của ông Toàn. Tôi nói chỉ có mấy nước cộng sản là không có xã hội dân sự thôi. Phần lớn các nước trên thế giới đều là xã hội dân sự. Văn Đoàn Độc Lập chưa chính thức ra đời. Mới có 61 người tập hợp nhau lại thành ban vận động rồi mới tiến tới thành lập Văn Đoàn. Tôi chỉ là một trong 61 người đó. Anh Toàn theo dõi các trang mạng thì cũng biết các hãng thông tấn nổi tiếng thế giới như BBC, RFA đều đã có bài phỏng vấn, đưa tin về Văn Đoàn. Đó là sự ủng hộ, chào đón của họ với Văn Đoàn. Chỉ là thành viên, không có chức trách gì ở Văn Đoàn nên tôi không biết ai làm trang web của Văn Đoàn và tôi cũng chưa có bài đăng ở đó. Những người gia nhập Văn Đoàn đều là tự nguyện ghi tên xin tham gia qua email.

Ông Sang hỏi email của tôi nhưng tôi bảo email thuộc bí mật thư tín cá nhân nên tôi không thể tùy tiện cung cấp cho mọi người.

Ông Toàn giơ lên tờ giấy A4 in lại từ Facebook của tôi bài “Hoa của Bauxite Việt Nam, Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự, Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ viếng thầy Đinh Đăng Định” và hỏi: Bác có quan hệ với Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ chứ? Những ngày lễ của họ, họ vẫn mời những người như bác đến dự lễ mà. Tôi bảo: Thầy Đinh Đăng Định chỉ vì phản đối dự án khai thác bô xít Tây Nguyên mà bị tù. Thày bị bệnh hiểm nghèo, gia đình xin cho thầy ra tù để chữa bệnh nhưng công an không cho. Đến lúc bệnh của thầy không còn chạy chữa được nữa, cái chết đã cận kề, công an mới trả thầy về gia đình để rũ bỏ trách nhiệm tang lễ cho thầy. Thầy chết, những công an đã gần gũi thầy suốt nhiều năm không ai đến viếng thầy nhưng Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ xa lạ chưa hề gặp thầy đã gửi hoa viếng thầy. Hoa của Bauxite Việt Nam, hoa của Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự mang tấm lòng của cả nước đến với thầy. Hoa của Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ mang tấm lòng của loài người dành cho một con người. Ba giá hoa đẹp đó gây cho tôi sự xúc động mạnh mẽ nên tôi đã chụp ảnh đưa lên facebook của tôi.

Lại trở về với những bài viết của tôi, ông Sang: Dạo này bác viết nhiều không? Bác có nhớ viết bao nhiêu bài không? Trong đầu thoáng xuất hiện một câu hài hước, tôi nhìn ông Toàn và có lẽ trên gương mặt tôi có nụ cười thấp thoáng khi tôi nói: Tôi viết bài nào thì các anh đều biết cả. Có các anh nhớ hộ, thống kê hộ nên tôi cũng chẳng cần nhớ tôi đã viết bao nhiêu bài. Ông Toàn nói: Lần trước bác ký là năm 2012. Hơn một năm bác mới lại ký nhận bài viết của bác, đâu có nhiều. Bỗng ông Toàn căng giọng: Bác không ký thì còn làm việc dài. Hôm nay không xong thì ngày mai, ngày mốt. Tôi bình thản: Tôi sẵn sàng ngồi với các anh. Nhưng các anh không có quyền làm điều đó. Công chức nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép. Ông Toàn: Bác sợ mới không dám ký nhận bài viết của mình. Tôi biết ông Toàn sử dụng ngón nghề điều tra, đánh vào tâm lý tự ái cá nhân nhưng tôi vẫn thấy như bị xúc phạm liền nói to: Anh nói thế là xúc phạm tôi. Tôi chẳng có gì sai để phải sợ các anh. Ông Toàn vẫn không thôi ngón đòn tâm lý: Tôi biết trong lòng bác đang sợ. Kiên trì lý lẽ của mình, tôi nói ngắn gọn: Tôi không ký để tự hình sự hóa bài viết của mình. Tôi không ký để cứ phải ký suốt đời. Ông Toàn liền lớn tiếng như quát: Bác còn viết thì còn phải ký!

Bác còn viết thì còn phải ký!

Sự tự tin của ông Toàn đó! Công an là pháp luật, pháp luật là công an đó!

Không có điều luật nào cho phép công an được mời công dân đến trụ sở công an vì những bài viết hợp pháp. Không có điều luật nào buộc công dân phải ký xác nhận bài viết hợp pháp với công an. Nhưng ông Toàn vẫn nói chắc nịch như công bố một điều luật của công an: Bác còn viết thì còn phải ký! Tôi lại nhớ đến câu nói của ông Sang mới ít phút trước: Đây là lần ký cuối cùng, không có lần ký thứ ba. Con người công dân của ông Sang đó! Bác còn viết thì còn phải ký! Con người công cụ của ông Toàn đó!

Ký – Không ký. Đã nói hết lý lẽ với nhau vẫn không chấp nhận đề xuất của nhau. Chẳng còn gì để nói, tất cả đều ngồi im lặng. Chợt ông Toàn đưa ra lối thoát: Bác không ký vào từng bài thì ký vào tờ giấy ghi rằng từ ngày 10 tháng tư năm 2014 trở về trước, những bài đứng tên Phạm Đình Trọng là của bác. Chúng tôi viết rồi đưa bác ký hoặc bác tự viết tờ giấy đó cũng được. Suy nghĩ giây lát, tôi chấp nhận giải pháp này. Tôi xin tờ giấy A4 và tự viết. Ông Sang nhắc tôi ghi tiêu đề Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhưng tôi không chấp nhận. Với tôi, đây không phải là văn bản pháp luật. Tôi viết ngắn gọn: XÁC NHẬN / Những bài viết trên mạng internet ký tên Phạm Đình Trọng từ ngày 10.4.2014 trở về trước là của tôi, Phạm Đình Trọng / Phước Kiển ngày 10.4.2014 / Ký tên.

Tôi đưa tờ giấy vừa viết cho ông Toàn. Ông Toàn đề nghị tôi thay chữ “ký tên” trong câu “Những bài viết trên mạng internet ký tên…” bằng chữ “đứng tên”. Lại phải lấy tờ giấy khác viết lại.

Ông Sang ra ngoài mời cô nhân viên hành chính Ủy ban Nhân dân xã Phước Kiển và ông hàng xóm cạnh trụ sở công an xã Phước Kiển vào làm chứng việc tôi viết giấy xác nhận. Lại mời cô công an xã Phước Kiển vào viết văn bản để hai người làm chứng ký.

Trong khi chờ ông Sang đi mời mấy người vào viết giấy làm chứng, tôi hỏi ông Tuấn: Anh Tuấn có biết hình ảnh của anh được đưa lên tất cả các trang mạng tiếng Việt khắp thế giới không? Ông Tuấn im lặng. Mặt ông Tuấn vốn đã tối như càng tối hơn. Ông Toàn nói: Sự nổi tiếng ấy cũng là do các bác. Tôi bảo: Tôi có đến viếng đám tang anh Lê Hiếu Đằng nhưng lúc anh Tuấn cướp băng tang, tôi không ở đó. Không biết ai chụp được bức ảnh giây phút anh Tuấn làm việc đó và đưa lên mạng. Là người phải có cái đức. Cái đức để sống ở đời và cái đức để lại cho con cháu, anh Tuấn nhỉ.

Giấy xác nhận rồi giấy làm chứng xác nhận đã xong. Đến biên bản làm việc cũng mất khá nhiều thời gian vì Ký – Không ký. Cuối cùng tôi chấp nhận xóa chữ “Đương sự” viết thay vào chữ “Người làm việc” ở cuối biên bản và ghi: Như lúc đầu tôi đã nói đây chỉ là buổi gặp gỡ trao đổi để hiểu nhau nên tôi không ký vào bất kỳ biên bản nào. Tôi không đọc biên bản này.

LỜI CUỐI

Đến nay tôi vẫn chưa lý giải được vì sao công an cần một chữ ký của tôi đến vậy. Vì thế tôi vẫn chưa xác định được buổi làm việc của tôi với công an hôm 10.4.2014 là thất bại hay là một kết quả chấp nhận được. Chỉ nhận ra rất rõ cảm giác mệt mỏi. Mệt mỏi về thể xác song ý chí của tôi không những không hề lay chuyển mà còn giúp tôi từng trải hơn, vững vàng hơn.

Những cuộc làm việc như vậy thực sự là cuộc công an khủng bố tinh thần, nhục hình tinh thần đối với công dân, chà đạp lên quyền con người, quyền công dân của người dân. Những cuộc làm việc như vậy cũng không khác bao nhiêu với việc 5 công an ở Phú Yên dùng gậy cao su đánh chết công dân Ngô Thanh Kiều.

Nhân danh pháp luật, công an Phú Yên bắt anh Kiều trái pháp luật rồi cứ cái đà lạm quyền, lộng hành, mất tính người, 5 công an Phú Yên thay nhau đánh anh Kiều nát nhừ thân thể đến chết. Nhân danh pháp luật, công an viết giấy mời trái pháp luật, hình sự hóa đời sống dân sự. Những cuộc làm việc theo giấy mời của công an với công dân là những trận nhục hình đối với công dân nhằm giết chết con người công dân, con người xã hội, giết chết con người trách nhiệm với đất nước, với dân tộc, với đồng loại, để người dân chỉ còn được sống bằng con người sinh vật ích kỷ, chỉ biết có miếng ăn và chỉ mong được yên thân, để người dân chỉ còn được sống bằng con người thần dân, phục tùng, cam chịu như một bầy cừu.

Sự lộng hành của công an bằng gậy cao su để lại bằng chứng là cái chết của anh Ngô Thanh Kiều ở Phú Yên, cái chết của ông Trịnh Xuân Tùng ở Hà Nội, cái chết của anh Nguyễn Văn Khương ở Bắc Giang, cái chết của em học sinh Tu Ngọc Thạch ở Khánh Hòa và cái chết trong đồn công an của hàng trăm người dân lương thiện khác. Những cái chết đó khắc ghi trong lòng người dân Việt Nam tội ác của công cụ bạo lực chuyên chính vô sản.

Sự lộng hành của công an bằng việc mời trái pháp luật công dân đến làm việc để dùng quyền uy của công cụ bạo lực nhà nước đánh đòn cân não vào tinh thần, ý chí con người tuy không để lại dấu vết trên thân thể nhưng hiểm độc và nguy hại hơn nhiều lần sự lộng hành của cơ bắp. Còn gì hiểm độc và nguy hại bằng giết chết con người công dân của một dân tộc. Sự lộng hành đó cần được ghi nhận lại trung thực bằng chữ nghĩa khắc vào thời gian, khắc vào lịch sử về một loại tội ác của công cụ bạo lực chuyên chính vô sản chỉ có ở nhà nước cộng sản.

Viết xong đêm 11. 4. 2014.

Đọc lại và chỉnh sửa đêm 14. 4. 2014

P.Đ.T.

Tác giả gửi cho BVN

 

 

 

 

BỨC THƯ NGỎ GỬI QUỐC HỘI

15/04/2014

(về việc Bộ Giáo dục chuẩn bị đổi mới sách giáo khoa)

GSTS. Nguyễn Đình Cống

Kính thưa các vị Đại biểu Quốc hội

Tôi vừa được tin Bộ Giáo dục trình Quốc hội xin kinh phí 34 ngàn tỷ đồng để đổi mới sách giáo khoa phổ thông. Tôi xin góp một ý kiến phân tích và phản đối.

Việc đổi mới (hay nói đúng hơn là sửa chữa sai lầm) nền giáo dục có nhiều công việc quan trọng phải làm, trong đó có việc đổi mới chương trình (nội dung các môn học) và đổi mới sách giáo khoa. Tuy vậy 2 việc này chưa phải là quan trọng nhất, cấp thiết nhất và trong 2 việc đó thì đổi mới chương trình có tính chất quyết định và quan trọng hơn. Không thể, không nên biên soạn sách giáo khoa khi chưa có được chương trình ổn định, được chấp nhận. Nếu không kể những khoản tiền to lớn dùng cho việc hối lộ, tham nhũng và lãng phí, nếu biết tổ chức công việc cho có hiệu quả và chất lượng thì để đổi mới chương trình giáo dục phổ thông chỉ cần vài chục tỷ là cùng.

Khi đã có chương trình, việc biên soạn sách giáo khoa phải dựa vào nó và đó là công việc của các tác giả hoặc nhóm tác giả (theo sự lựa chọn, đặt hàng, hợp đồng của Bộ, của các nhà xuất bản hoặc do các tác giả tự làm). Trong trường hợp Bộ đứng ra tổ chức biên soạn một bộ sách giáo khoa mẫu thì sản phẩm cuối cùng là “mỗi môn học cho mỗi lớp chỉ cần 1 quyển”, quyển đó được biên soạn, được một số người có trình độ và trách nhiệm thảo luận và góp ý kiến, được một hội đồng chuyên môn xét duyệt và thông qua (việc in ra hàng triệu bản là của Nhà xuất bản). Biên soạn sách giáo khoa phổ thông chủ yếu là dựa vào kiến thức và kinh nghiệm sư phạm để chọn lựa và trình bày những nội dung đã có sẵn (không yêu cầu sáng tạo nội dung mới). Công sức và phần nào sự sáng tạo trong biên soạn chủ yếu là trong sự lựa chọn kiến thức, phương pháp và cách trình bày. Nếu không kể đến một khoản tiền rất lớn dùng cho tham nhũng, hối lộ và lãng phí, nếu biết tổ chức công việc hợp lý , có hiệu quả thì để biên soạn mới toàn bộ sách giáo khoa phổ thông cũng chỉ cần chưa đến 1 ngàn tỷ. Trong số 34 ngàn tỷ do Bộ Giáo dục dự trù chắc là có nhiều khoản rất lớn được ngụy trang vào việc này, việc nọ, việc kia, nhưng thực chất chắc là chỉ để tham nhũng và hối lộ, hoặc là những khoản chi tiêu quá lãng phí (mà lãng phí là một phần tiền đề của tham nhũng).

Tôi viết thư ngỏ này gửi Quốc hội để phản đối dự trù 34 ngàn tỷ của Bộ Giáo dục, mong Quốc hội thận trọng xem xét. Tôi cũng đã có nhiều suy nghĩ về cách làm có hiệu quả khi đổi mới chương trình và sách giáo khoa. Nếu được Quốc hội hoặc Bộ Giáo dục hỏi đến tôi xin sẵn sàng trình bày và nhận đứng ra tổ chức việc thực hiện.

N.Đ.C.

Nguồn: https://www.facebook.com/ngdinhcong

 

 

Trao đổi ngắn với hai tác giả Trần Việt Quang và Hồ Ngọc Thắng (báo Nhân Dân) về vụ Nhã Thuyên

April 15, 2014 at 1:06pm

Báo Nhân Dân hôm nay có một bài tranh luận về vụ Nhã Thuyên. Xin trích một đoạn mà tôi đặc biệt quan tâm:

” Liên quan đến việc thẩm định luận văn của ÐTT, thật ngạc nhiên khi trên BBC tiếng Việt, ông Phạm Xuân Nguyên đưa ra ý kiến về việc ông gọi là “chính trị hóa”, “phi khoa học” của “những thế lực” nào đó. Ở quốc gia nào cũng vậy, khi phát hiện một Hội đồng chấm luận văn có sai lầm nghiêm trọng thì đều phải thẩm tra lại.

 Ở CHLB Ðức, trường hợp tước học vị của ông Karl-Theodor zu Guttenberg, là một thí dụ. Năm 2007, luận văn phó tiến sĩ luật của ông được đánh giá rất cao, nhưng sau bốn năm lại phát hiện có sai lầm, Viện kiểm sát phải vào cuộc. Rồi năm 2013, bà Annette Schavan bị tước học vị phó tiến sĩ vì trong luận văn triết học bảo vệ năm 1980, bà đã vi phạm các quy định. Mỗi trường đại học lại đưa ra nội quy về thủ tục thi và bảo vệ luận văn thạc sĩ.

Về cơ bản, quy định tước học vị thạc sĩ của các trường là tương tự như nhau. Thí dụ, Ðiều 21 quy định thủ tục thi, bảo vệ luận văn thạc sĩ ngành kinh tế Trường Ðại học Tổng hợp Dortmund ghi rõ: Học vị thạc sĩ có thể bị tước nếu sau khi trao, phát hiệnngười làm luận văn lừa dối hoặc có sự ngộ nhận của hội đồng chấm luận văn. Hội đồng khoa có thẩm quyền quyết định việc tước học vị. Như vậy việc chấm lại luận văn là rất bình thường.

Nên ông Phạm Xuân Nguyên nói rằng có thế lực đã “chính trị hóa” việc thẩm định luận văn của ÐTT mà bỏ qua việc xác định “thơ dơ, thơ rác” có xứng đáng là đối tượng nghiên cứu, ca ngợi, rồi nhân danh khoa học để biện hộ quan điểm chính trị sai trái thể hiện trong luận văn,… thì thực chất chỉ là ý đồ biến một sự việc bình thường thành một sự kiện bất bình thường, rồi đẩy vấn đề sang lĩnh vực chính trị.

 Nguồn: http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/binh-luan-phe-phan/item/22905702-ho-dau-can-quan-tam-toi-khoa-hoc.html

—–ANH VŨ :

Nhận xét: Tôi thấy cần phải khen báo ND và những người ủng hộ ý kiến phê phán NT đã có tiến bộ trong cách tranh luận. Giờ đây họ nói năng có vẻ có lập luận và chứng cứ hơn. Rất đáng biểu dương, và mong tinh thần trao đổi, tranh luận ôn hòa sẽ được tiếp tục.

(more…)

Thư ngỏ: Vi phạm Tự do học thuật trong vụ thu hồi bằng thạc sĩ của bà Đỗ Thị Thoan

14/04/2014

clip_image001

LỜI DẪN

Những tưởng vụ án văn học Nhân Văn Giai Phẩm đã xảy ra cách đây những 60 năm sẽ không tái diễn với những thiện chí sửa sai trong giai đoạn đổi mới và hội nhập! Nhưng không, một vụ tương tự lại xảy ra mới đây tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, một sự cố lạ lùng vì có đan chen can thiệp chính trị vào sinh hoạt học thuật, có sự cộng tác đồng tình của một bộ phận của giới khoa bảng hàng đầu trong sinh hoạt học thuật.

Và sự việc xảy ra trong thời điểm nhà cầm quyền Việt Nam đang ra sức đổi mới toàn diện nền giao dục quốc dân, ra tuyên bố thành khẩn tôn trọng tự do học thuật và nhất là đang bố trí giao lại quyền tự chủ cho các đại học…

Những ai quan tâm đến tương lai của nền giao dục và học thuật Việt Nam không thể không lên tiếng.

Sau đây là bản nháp của thư phản đối đã có trên 30 chữ ký của các giáo sư, giảng viên, nhà khoa học gốc Việt đang sinh sống và tác nghiệp tại hải ngoại.

Để ký tên vào lá thư, xin bạn vui lòng gửi thông tin tới địa chỉ sau đây:

academicfreedomvn@gmail.com

Kính gửi:

- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

- Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Chúng tôi, những người quan tâm về giáo dục Việt Nam ký tên dưới đây, cực lực phản đối việc thu hồi bằng Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn của bà Đỗ Thị Thoan và ủng hộ các đồng nghiệp trong cộng đồng giáo dục và nghiên cứu Việt Nam trong việc đòi hỏi hủy bỏ quyết định này.

Luận văn của bà Đỗ Thị Thoan, “Vị trí của kẻ bên lề: thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa”, đã được hội đồng chấm luận văn của Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội cho điểm 10/10 vào năm 2010, nhưng bốn năm sau bỗng bị thẩm định lại bởi một hội đồng khác một cách thiếu minh bạch. Bằng thạc sĩ của bà Đỗ Thị Thoan bị thu hồi theo Quyết định số 667/QĐ-ĐHSPHN ngày 11/03/2014 và Quyết định số 708/QĐ-ĐHSPHN ngày 14/03/2014. Tác giả luận văn và người hướng dẫn không được cho cơ hội để phản biện. Lý do dẫn đến các quyết định này không được công bố, và nhất là không có bằng cớ nào chứng tỏ luận văn đã có sai phạm đáng kể về học thuật. Có bằng chứng là đã có sự can thiệp với động cơ chính trị, phi học thuật, nhằm tạo áp lực để Trường Đại học Sư phạm Hà Nội thu hồi văn bằng.

Những hành động trên đã

- trực tiếp vi phạm qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo (điều 22, Quyết định 33/2007/QĐ-BGDĐT), theo đó thì văn bằng chỉ có thể thu hồi nếu phát hiện hành vi gian lận, cấp cho người không đủ điều kiện, do người không có thẩm quyền cấp, đã tẩy xóa sửa chữa, hoặc đã để người khác sử dụng.

- đi ngược lại những nguyên tắc công lý căn bản, không cho tác giả luận văn và người hướng dẫn có cơ hội để phản biện, không công bố rõ ràng các lý do, luận cứ, bằng chứng, hồ sơ liên hệ đến việc tái xét và thu hồi

- vi phạm nghiêm trọng quyền tự do học thuật.

Các đại học chỉ có thể đóng góp hữu hiệu cho sự phát triển của đất nước nếu các giảng viên và sinh viên có quyền nghiên cứu bất cứ đề tài nào. Công trình của họ phải được đánh giá trên các tiêu chuẩn học thuật, bởi những nhà chuyên môn có thẩm quyền. Bằng cấp chỉ có thể bị thu hồi trong trường hợp ứng viên đã phạm những lỗi nghiêm trọng về học thuật như đạo văn, ngụy tạo dữ liệu, nhờ người viết giùm.

Vì những lý do trên, chúng tôi yêu cầu Trường Đại học Sư phạm Hà Nội hủy bỏ quyết định thu hồi bằng Thạc sĩ của bà Đỗ Thị Thoan và công bố các hồ sơ liên quan đến việc này. Ngoài ra, để tiến tới một nền giáo dục Việt Nam lành mạnh và tân tiến, chúng tôi yêu cầu nhà nước mở cuộc điều tra về những lý do đã dẫn đến vụ tái thẩm định, và thiết lập những biện pháp để ngăn ngừa sự tái diễn trong tương lai việc can thiệp một cách lén lút, bất hợp pháp vào các quy định có hiệu lực pháp lý.

Ký tên

Open letter: Violation of academic freedom in the revocation of Ms Do Thi Thoan’s Master’s degree

To

- Hanoi National University of Education

- The Ministry of Education and Training, Socialist Republic of Viet Nam

We, the undersigned, who are concerned about the Vietnamese education system, wish to register our strongest possible protest over the revoking of Ms Đỗ Thị Thoan’s Master’s degree in Language and Literature. We totally support the efforts by members of the Vietnamese education and research community to get this revocation reversed.

Đỗ Thị Thoan’s dissertation “The Marginalized’s position: Open-Mouth Group’s poetic experiments from a cultural perspective” (Vị trí của kẻ bên lề: thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa) was awarded the maximum mark by an assessment committee of Hanoi National University of Education in 2010. However, inexplicably, in 2014 her Master’s degree was secretly reviewed by another committee, then revoked through Decisions 667/QĐ-ĐHSPHN (11 March 2014) and 708/QĐ-ĐHSPHN (14 March 2014). The author and her thesis supervisor were not allowed to present their case. The reasons for the decisions were not disclosed, in particular no evidence was presented to show that any serious academic mistake or misdemeanour has been committed. There wax evidence of outside interventions of a political, non-academic nature, aimed at pressuring the university into revoking Ms Thoan’s Master’s degree.

These actions directly violate regulations of the Ministry of Education and Training (Article 22, Decision 33/2007/QĐ-BGDĐT) according to which an academic degree can only be revoked if fraud has been committed, if the candidate is not qualified to receive the degree, if the degree has been awarded by a person unqualified to do so, or if the certificate has been illegally altered or used by another person. The manner in which the re-assessment of the thesis was carried out contravene fundamental principles of justice, as its author and her supervisor were not given any opportunity to present their case, and no reason, argument, evidence or other supporting document concerning the decision has been disclosed.

The revocation of Ms Đỗ Thị Thoan’s degree represents a grave violation of basic principles of academic freedom. Universities can contribute effectively to national development only if lecturers and students are free to research any topic they choose. The assessment of their work must be based solely on academic criteria and carried out by qualified experts. Degrees can be revoked only in cases of serious academic misconduct, such as plagiarism, data fabrication or “ghost authorship”.

In view of the above, we call on Hanoi National University of Education to annul the revocation of Ms Đỗ Thị Thoan’s Master’s degree and to disclose all documentation related to this matter. In addition, with the aim of building a healthy and modern education system for Viet Nam, we urge the Vietnamese government to investigate the circumstances leading to the re-assessment and revocation, and to institute measures for preventing future similar occurrences of covert, illegal interference with due process.

Signed

Danh Sách Những Người Ký Tên

(Ngày cập nhật 13/4/2014, để ký tên vào lá thư, bạn vui lòng gửi thông tin tớiacademicfreedomvn@gmail.com)

1. Ngô Vĩnh Long, Tiến sĩ Sử học và Ngôn ngữ phương Đông, Giáo sư Đại học Maine, Maine, Hoa Kỳ.

2. Vũ Quang Việt, Tiến sĩ Kinh tế, nguyên Vụ trưởng Vụ Tài khoản Quốc gia Liên Hiệp Quốc, New York, Hoa Kỳ.

3. Trần Hữu Dũng, Tiến sĩ Kinh tế, nguyên Giáo sư Đại học Wright State, Dayton, Ohio, Hoa Kỳ.

4. Lê Xuân Khoa, nguyên Phó Viện trưởng Viện Đại học Sài gòn, nguyên Giáo sư thỉnh giảng trường SAIS, Đại học Johns Hopkins, Washington DC., Hoa Kỳ.

5. Trần Văn Thọ, Tiến sĩ Kinh tế, Giáo sư Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản.

6. Phạm Quang Tuấn, Tiến sĩ Hóa học, Phó Giáo sư Đại học New South Wales, Sydney, Úc.

7. Đỗ Đăng Giu, Tiến sĩ Vật lý, nguyên Giám đốc Nghiên cứu của CNRS, Đại học Paris-Sud, Cộng hòa Pháp.

8. Phạm Duy Thoại, Tiến sĩ Y khoa, Giáo sư Đại học Humboldt, Berlin, Cộng hòa Liên bang Đức.

9. Nguyễn Đăng Hưng, Tiến sĩ Khoa học ngành Cơ học Tính toán, Giáo sư danh dự Đại học Liege, Vương quốc Bỉ.

10. Hà Dương Tường, Tiến sĩ Toán học, nguyên Giáo sư Đại học Công nghệ Compiègne, Cộng hòa Pháp.

11. Nguyễn Ngọc Giao, nguyên Giảng viên toán, Đại học Denis Diderot (Paris VII).

12. Phạm Minh Châu, Tiến sĩ Hóa học, Giáo sư Đại học Denis Diderot, Paris, Cộng hòa Pháp và Đại học Khoa học và Công nghệ Pháp-Việt (USTH), Hà nội, Việt Nam.

13. Phạm Xuân Huyên, Tiến sĩ Toán học, Giáo sư Đại học Denis Diderot, Paris, Cộng hòa Pháp và Viện John von Neumann, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.

14. Phạm Xuân Yêm, Tiến sĩ Vật lý, nguyên Giám đốc Nghiên cứu của CNRS, Đại học Pierre et Marie Curie, Paris, Cộng hòa Pháp.

15. Trần Nam Bình, Tiến sĩ Kinh tế, Phó Giáo sư Đại học New South Wales, Sydney, Úc.

16. Nguyễn Đức Hiệp, Tiến sĩ Công nghệ Y sinh, Chuyên gia nghiên cứu khoa học khí quyển, Bộ Môi trường và Bảo tồn, New South Wales, Úc.

17. Hoàng Kháng, Tiến sĩ Vật lý, Nhà nghiên cứu khoa học, Đại học North Dakota State, North Dakota, Hoa Kỳ.

18. Dương Văn Tú, Nghiên cứu sinh ngành Công nghệ Dược phẩm, Đại học Leuven, Vương quốc Bỉ.

19. Ngô Đức Thế, Tiến sĩ Vật lý, Nghiên cứu viên, Đại học Kỹ thuật Đan Mạch, Vương quốc Đan Mạch.

20. Hồ Tú Bảo, Tiến sĩ Công nghệ Thông tin, Giáo sư Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản, Ishikawa, Nhật Bản và Viện John von Neumann, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.

21. Nguyễn Đức Tường , Tiến sĩ Vật lý, nguyên Giáo sư Đại học Ottawa, Canada.

22. Nguyễn Văn Tuấn, Giáo sư Y khoa, Đại học New South Wales, Sydney, Úc.

23. Ngô Bảo Châu, Giáo sư Đại học Chicago, Illinois, Hoa Kỳ; Giám đốc khoa học Viện nghiên cứu cao cấp về toán, Hà Nội, Việt Nam.

24. Cao Huy Thuần, nguyên Giáo sư Đại học Picardie, Cộng hòa Pháp.

25. Đặng Xuân Thảo, Tiến sĩ Điều khiển học, Laboratoire VERIMAG (CNRS), Grenoble, Cộng hòa Pháp.

26. Trần Hải Hạc, Tiến sĩ Kinh tế, nguyên Phó Giáo sư Đại học Paris 13, Cộng hòa Pháp.

27. Nguyễn Mạnh Hùng, Tiến sĩ Kinh tế, nguyên Giáo sư Đại học Laval, Quebec, Canada.

28. Phạm Đỗ Chí, Tiến sĩ Kinh tế, nguyên Phó Giáo sư thỉnh giảng chương trình MBA, American University, Washington, DC., Hoa Kỳ.

29. Giáp Văn Dương, Tiến sĩ Vật lý, Hà Nội, Việt Nam.

30. Nguyễn Trọng Hiền, Phòng Thí nghiệm Phản lực, Viện Công nghệ California, Pasadena, CA 91109, Hoa kỳ.

31. Nguyễn Thùy Phương, Tiến sĩ Giáo dục học, Đại học Paris Descartes, Paris, Pháp.

LIST OF SIGNATORIES

(Updated on 13 April 2014. How to sign this open letter? please send us an email with your information to academicfreedomvn@gmail.com)

1. Ngô Vĩnh Long, Professor, Department of History, University of Maine, Maine, USA.

2. Vũ Quang Việt, Ph.D., former Chief of National Accounts Section, United Nations Statistics Division, United Nations, New York, USA.

3. Trần Hữu Dũng, Professor (ret.), Department of Economics, Wright State University, Ohio, USA.

4. Lê Xuân Khoa, former Vice-Rector of Saigon University, former Adjunct Professor, School of Advanced International Studies (SAIS), Johns Hopkins University, Washington DC, USA.

5. Trần Văn Thọ, Professor, Faculty of Social Sciences, Waseda University, Tokyo, Japan.

6. Phạm Quang Tuấn, Associate Professor, School of Chemical Engineering, University of New South Wales, Sydney, Australia.

7. Đỗ Đăng Giu, Professor (ret.) and former Research Director of CNRS, University of Paris-Sud, France.

8. Phạm Duy Thoại, Professor, Vivantes Klinikum Neukoelln, Humboldt University of Berlin, Germany.

9. Nguyễn Đăng Hưng, Professor Emeritus, Department of Aerospace and Mechanical Engineering, University of Liege, Liege, Belgium.

10. Hà Dương Tường, Professor (ret.), Université de Technologie de Compiègne, Compiègne, France.

11. Nguyễn Ngọc Giao, Lecturer (ret.), Université Denis Diderot (Paris VII), editor Dien Dan Forum, France.

12. Phạm Minh Châu, Professor, Université Denis Diderot (Paris VII), France; and University of Science and Technology of Hanoi (USTH), Hanoi, Vietnam.

13. Phạm Xuân Huyên, Professor, Université Denis Diderot (Paris VII), France; and John Von Neumann Institute (JVN), VNUHCM, HoChiMinh City,Vietnam.

14. Phạm Xuân Yêm, Professor (ret.) and former Research Director of CNRS, Université Pierre et Marie Curie (Paris VI), Paris, France.

15. Trần Nam Bình, Associate Professor, Australian School of Business, University of New South Wales, Sydney, Australia.

16. Nguyễn Đức Hiệp, Ph.D., Senior Atmospheric Scientist, Office of Environment & Heritages, New South Wales, Australia.

17. Hoàng Kháng, Research Scientist, North Dakota State University, North Dakota, USA.

18. Dương Văn Tú, Ph.D student in Pharmaceutical Technology, KU Leuven, Leuven, Belgium.

19. Ngô Đức Thế, Ph.D., Scientist, Department of Micro-and Nanotechnology, Technical University of Denmark, Denmark.

20. Hồ Tú Bảo, Professor, School of Knowledge Science, Japan Advanced Institute of Science and Technology (JAIST), Ishikawa, Japan; and John Von Neumann Institute (JVN), VNUHCM, HoChiMinh City, Vietnam.

21. Nguyễn Đức Tường, Professor (ret.), University of Ottawa, Canada.

22. Nguyễn Văn Tuấn, Professor, Faculty of Medicine, University of New South Wales, Sydney, Australia.

23. Ngô Bảo Châu, Professor, University of Chicago, Illinois, USA; Scientific Director of Vietnam Institute for Advanced Study in Mathematics (VIASM), Hanoi, Vietnam.

24. Cao Huy Thuần, Professor (ret.), University of Picardie, Amiens, France.

25. Đặng Xuân Thảo, Ph.D., VERIMAG (CNRS) Laboratory, Grenoble, France.

26. Trần Hải Hạc, Associate Professor (ret.), University of Paris Nord (Paris XIII), Paris, France.

27. Nguyễn Mạnh Hùng, Professor (ret.), Department of Economic Science, Université Laval Québec, Canada.

28. Phạm Đỗ Chí, Ph.D., former visiting Associate Professor of economics and finance, MBA program, American University, Washington, DC., USA.

29. Giáp Văn Dương, Ph.D., founder of GiapSchool, Hanoi, Vietnam.

30. Nguyễn Trọng Hiền, Jet Propulsion Laboratory, California Institute of Technology, Pasadena, CA 91109, USA.

31. Nguyễn Thùy Phương, Ph.D., Paris Descartes University, Paris, France.

Nguồn: Trang mạng của GS Nguyễn Đăng Hưng

 

 

SAO ÔNG VŨ KHIÊU LẠI NỐI GIÁO CHO VIỆC SỬA TRUYỆN KIỀU VÔ LỐI

Thế Anh: SAO ÔNG VŨ KHIÊU LẠI NỐI GIÁO CHO VIỆC SỬA TRUYỆN KIỀU VÔ LỐI

Sao ông Vũ Khiêu lại nối giáo cho việc
sửa Truyện Kiều vô lối?
 
Thế Anh 

Có một việc mà giới văn nghệ sỹ, cũng như những người yêu văn thơ bức xúc, đó là truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du gần đây đã bị xâm hại, mà người khuyến khích cho việc làm hỗn hào này, tiếc thay lại chính là ông Vũ Khiêu – giáo sư, Anh hùng lao động, nguyên Phó viện trưởng Phó chủ nhiệm UBKHXH Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam), vẫn được tiếng (hão?) là nhà văn hóa. 

Xin đừng dung tục và hạ thấp văn chương Truyện Kiều
Trong cuộc hội thảo về Dòng chảy văn hóa xứ Nghệ từ Truyện Kiều đến phong trào Thơ Mới tổ chức tại Khu di tích Nguyễn Du (Nghi Xuân – Hà Tĩnh), mỗi đại biểu tham dự được tặng một cuốn sách (bản photo) có nhan đề Truyện Kiều Nguyễn Du với tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng và trong sáng, do KS. Đỗ Minh Xuân khảo dịch – Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin in năm 2012 và có lời Đề tựa của GS. Vũ Khiêu:

Với một tinh thần khoa học rất nghiêm túc, ông tìm lại hầu hết các bản Truyện Kiều từ trước đến nay, so sánh các dị bản, ông tìm đọc hầu hết các bài đã bình luận, phân tích tác phẩm và tác giả Truyện Kiều. Từ đó, ông đã có ý tưởng lớn là làm thế nào để phổ cập hóa Truyện Kiều cho quảng đại công chúng, ông gạt bỏ những câu chữ khó hiểu từ tiếng Hán để thay bằng ngôn ngữ thuần Việt trong Truyện Kiều… Tôi hoan nghênh công phu nghiên cứu của ông Đỗ Minh Xuân và tin rằng cuốn sách này của ông là một đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu Truyện Kiều…

Không hiểu cuốn sách này đã được Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin in và phát hành chưa, vì chúng tôi không thấy xuất hiện trên thị trường sách ở Hà Nội, vả lại cách bố cục của cuốn sách cũng có những nét đặc biệt khác với thông lệ của một ấn phẩm văn chương, chẳng hạn trong lời mở đầu cuốn sách tác giả đã có lời Kính cáo cụ Nguyễn Du và xin phép cụ để xuất bản bản khảo dịch Truyện Kiều này vì ông cho rằng người đọc Truyện Kiều ngày nay, không còn thịnh như trước đây do rào cản về điển tích, từ Hán, từ cổ, từ địa phương… Tiếp theo là Lời nói đầu (16 trang) và cuối mỗi trang đều có một câu Lời nói đầu, Truyện Kiều với tiếng Việt hiện đại (Đánh dấu tuổi 80, bản in 15-11-2012). Sau đó là văn bản Truyện Kiều thì lại đánh số trang bằng tiếng Pháp (từ page 1 đến page 109 và cuối cùng là lời Tự bạch cho Truyện Kiều 15-11-2012 (16 trang) nhưng thực chất là bản tự thuật của tác giả theo kiểu liệt kê trong gia phả và kể lể công lao thành tích trong quá trình hoạt động Cách mạng mà chẳng có gì liên quan đến vấn đề nghiên cứu Truyện Kiều cả.

Trong cuốn sách tác giả có nhắc đi nhắc lại hai lần Nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Nguyễn Du, UNESCO đã công nhận Nguyễn Du là Danh nhân văn hóa thế giới. Điều này không đúng, Nguyễn Du chỉ mới được Hội đồng hòa bình thế giới quyết định kỷ niệm 200 năm (1965) ngày sinh của ông cùng với 8 danh nhân văn hóa khác của thế giới trong đó có nhà thơ La Mã Horace, nhà thơ Ý Dante, nhà bác học và là nhà thơ Nga Lômônôxôp… chứ chưa được UNESCO công nhận.

Khái niệm khảo dịch của tác giả cuốn sách cũng không chính xác, vì thực chất ông đâu có dịch mà chỉ chữa lại văn của Nguyễn Du một cách vụng về. Chẳng hạn ông đã thay chữ nghĩ trong 4 câu Kiều bằng những chữ khác:

Câu 12: Gia tư ông cũng thường thường bậc trung
Câu 610: Vì nàng ông cũng thương thầm xót vay
Câu 894: Phía ngoài cũng đã giục liền ruổi xe
Câu 1182: Dơ tuồng hắn mới kiếm đường tháo lui

Ông cho rằng những chữ vừa thay đã làm cho 4 câu thơ trên được nâng lên một tầm cao mới (!?).
Câu 2042: Lạ lùng nàng vẫn tìm đường nói quanh được chữa lại là Lạ lùng Kiều tạm tìm đường nói quanh rồi tự khen chữ “tạm” của mình hay hơn chữ “vẫn” của Nguyễn Du (!).
Ông còn dùng từ đơn và lẻ thay cho từ chiếc trong các câu sau đây:
Câu 1523: Người về chiếc bóng năm canh (Nguyễn Du)
Người về đơn bóng năm canh (Đỗ Minh Xuân)
Câu 1526: Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường (Nguyễn Du)
Nửa in gối lẻ nửa soi dặm trường (Đỗ Minh Xuân)
Câu 1627: Kiều từ chiếc bóng song the (Nguyễn Du)
Kiều từ đơn bóng song the (Đỗ Minh Xuân)
Câu 1792: Buồng không thương kẻ tháng ngày chiếc thân (Nguyễn Du)
Buồng không thương kẻ tháng ngày đơn thân (Đỗ Minh Xuân)
Câu 2231: Kiều từ chiếc bóng song mai (Nguyễn Du)
Kiều từ đơn bóng song mai (Đỗ Minh Xuân)
Trong Truyện Kiều Nguyễn Du đã dùng nhiều từ Hán – Việt và điển cố, tác giả cuốn sách đã mạnh tay (nếu không nói là liều lĩnh) gạt bỏ và thay vào đó những từ mà ông cho là rõ nghĩa hơn và lột tả được nội dung điển tích và ý của Nguyễn Du. Chẳng hạn cha thay cho xuânmẹ thay cho huyêncha mẹ thay cho xuân huyênphụ đường hay phủ đường (!) thay cho xuân đường.
Để bạn đọc có thể hình dung được một cách cụ thể hơn, chúng tôi xin nêu lên sau đây một số trường hợp (trong gần 1000 đơn vị từ) mà tác giả đã chữa lại văn của cụ Nguyễn Du:
.
Câu Chữ của Nguyễn Du Chữ thay thế của ông Đỗ Minh Xuân
5 Lạ gì bỉ sắc tư phong Mõi người thứ có thứ không
136 Tay khấu cương ngựa
156 Một nền Đồng Tước Buồng đào nơi tạm
208 Giá đành tú khẩu Lời vàng ý ngọc
233 mộng triệu mộng ấy
235 mộng triệu mộng mị
238 đã dào mạch Tương đã chào vừng dương
266 Lam Kiều đánh liều
280 Lãm Thúy kiểu dáng
306 Hợp Phố chủ cũ
377 (thì) thời trân quả ngon
sẵn bày xách tay
Thời trân thức thức sẵn bày Quả ngon thức thức xách tay (!)
406 Nàng Ban, ả Tạ cũng đâu thế này Xưa nay hiếm thấy tài đâu thế này
439 đỉnh Giáp, non Thần tiên nữ giáng trần
464 Chung Kỳ ngưỡng vì
507 (trên) Bộc (trên) cỏ
512 Lứa đôi ai dễ đẹp tày Thôi – Trương Lứa đôi từng thấy những ngày trái ngang
1458 Châu – Trần còn có Châu – Trần nào hơn Lứa đôi còn có gì cần nhiều hơn
1638 Liệu như cung Quảng ả Hằng nghĩ nao? Liệu người ngoài cuộc khác vòng nghĩ sao?
1988 thiếp Lan Đình thiếp xem tình
3200 Ấy là Hồ Điệp hay là Trang Sinh Ấy là trong mộng hay là thực sinh
v.v…và v.v…
Trên đây chúng tôi chỉ mới nêu lên một số trường hợp làm dẫn chứng, còn thực tế trên cuốn sách ông Đỗ Minh Xuân đã sửa chữa thay thế khoảng 1/3 chữ nghĩa của Truyện Kiều mà ông cho là rườm rà, trùng lặp, không hay, thiếu logic, trái văn cảnh… Ông còn bắt bẻ cụ Nguyễn Du trong nhiều trường hợp chẳng hạn:

Khi cụ viết: Trải qua một cuộc bể dâu (câu 3). Ông phân tích: Trong đời người, đâu chỉ có một cuộc bể dâu? Phải dùng “mỗi” mới hợp.

Câu 935 cụ Nguyễn Du viết: Trên treo một tượng trắng đôi lông mày, ông cho rằng tượng không treo được và phải viếtTrên treo thần ảnh trắng đôi lông mày.

Câu 2973: Cơ duyên đâu bỗng lạ sao, ông chữa lại là Cơ duyên tác hợp khéo sao và tự cho là hay hơn (!).

Câu 2062: Bóng hoa rợp đất, vẻ ngân ngang trời, ông chữa lại: Bóng hoa rợp đất, ve ngân ngang trời mới hợp với thực tế v.v…và v.v…

Về vấn đề phân tích và lập luận của tác giả đôi khi cũng có thể làm đề tài mua vui, chẳng hạn câu 39: Tiết vừa con én đưa thoi, ông hỏi vặn lại chẳng lẽ cứ tiết trời có én bay là mùa xuân? Như thế, ngoài mùa xuân ra thì én đi bằng hai chân để kiếm sống à?

Câu 57 – 58 theo ông Xuân phải đọc là:

Se se (chứ không phải sè sènấm đất bên đường Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

Ông phân tích đó là nấm mồ vừa mới đắp, đất hơi se se, cỏ chưa hồi phục hẳn, nên đang còn nửa vàng nửa xanh.

Câu 77: Sắm sanh nếp tử xe châu, ông cho rằng đây không phải là quan tài bằng gỗ thị như nhiều người giải thích, mà chữ “tử “ ở đây phải hiểu là “chết“ mới đúng, tức là nếp dành cho người chết.

Có lẽ không cần phải dẫn chứng và bình luận gì thêm, bạn đọc cũng đã hình dung được công trình khảo dịch Truyện Kiều này của ông Đỗ Minh Xuân và liệu có phải như ông khẳng định cách làm này của ông là một cuộc cách mạng (đại ngôn vô lối) mở đầu cho việc dịch Truyện Kiều sang tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng, trong sáng và nó sẽ là cơ sở ban đầu cho các thế hệ kế tiếp hoàn thiện cho việc dịch Truyện Kiều sang tiếng Việt hiện đại hay không? Ông tin rằng việc dịch Truyện Kiều ra tiếng nước ngoài cũng sẽ thuận lợi hơn và ông tự thưởng cho mình một lời khen của cụ Tố Như cũng đầy vẻ hài hước: “… Nguyễn Du có sống lại cũng phải thốt lên hậu sinh khả úy” (nguyên văn lời của ông viết ở trang 15).

Riêng suy nghĩ của chúng tôi thì văn chương của Nguyễn Du nói chung và tiêu biểu là kiệt tác Truyện Kiều đã được nhân dân ta thưởng thức và ngưỡng mộ qua nhiều thế hệ, từ những bậc thức giả đến các tầng lớp bình dân kể cả những người không biết chữ và bạn bè quốc tế cũng dành cho nhà thơ những tình cảm tốt đẹp để ca ngợi và tôn vinh. Không hiểu với tác phẩm khảo dịch này có làm cho Truyện Kiều của Nguyễn Du được nâng lên một tầm cao mới như tác giả khẳng định hay không, hay chỉ là những câu vần vè ngây ngô làm cho văn chương Truyện Kiều bị hạ thấp và dung tục hóa đến mức khôi hài. 

Thế Anh

Đôi điều nhắn nhủ ông Vũ Khiêu:

Người xưa nói “mua danh ba vạn, bán danh ba đồng” để thấy con người ta phấn đấu để có được cái danh khó lắm thay, nhưng để mất danh thì dễ lắm thay. Ông đã có được chút danh (dù hiện nay tôi biết rất nhiều người chửi ông là hữu danh vô thực, kiến thức lỗ mỗ, chỉ giỏi xào xáo), vậy thì càng nên gắng giữ gìn. Tôi thấy dạo này ông làm nhiều việc ảnh hưởng đến danh quá, như cái vụ “giáng bút” ở Bình Đà (tìm đọc bài: “Ô hô, giáo sư AHLĐ Vũ Khiêu từ cõi tiên về giáng bút” trên blog Tễu thì rõ). Chữ nghĩa viết lời bạt in vào sách nó như văn bia ấy. Xưa cụ Nguyễn Khuyến từng cảnh báo: “Văn bia không đốt như văn tế”, vì thế khi viết lách cái gì phải hết sức cẩn trọng. Chê sai còn xin lỗi, đính chính được, chứ khen sai thì biết làm thế nào mà sửa đây. Ông hãy tìm đọc truyện ngắn “Bút máu” của nhà văn Vũ Hạnh để mà thấy cái việc cầm bút phải như thế nào. 

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả

 

 

NHỮNG CÂU NÓI BẤT HỦ CỦA NGÀI CHỦ TỊCH QH NGUYỄN SINH HÙNG

 Lời bàn

Ông Sinh Hùng sử dụng tam đoạn luận cố đại Hi Lạp như sau:
Dân bầu ra đại biểu quốc hội.
Đại biểu 1uốc hội biểu quyết sai.
 Vậy suy ra Dân sai.
Cái tư duy này nó trái với Tư duy biện chứng của ông TBT Nguyễn Phú Trọng.
Vậy mà hai ông vẫn đoàn kết nhất tri điề u hành đất nước được đấy.
Bởi vì khi điều hành, hai ông chẳng dùng tư duy nào cả.
GNLTE

 

 
Những câu nói bất hủ của ngài Chủ tịch quốc hội  Nguyễn Sinh Hùng
Nguyễn Quang Lập
Nhân câu nói bất hủ của ngài Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: “Quốc hội tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu, chứ kỷ luật ai”, ngài vừa nói hôm qua tại hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách, sáng 11/4. ( Xem tại đây), mình xin trích một số câu bất hủ khác của ông để cười cho vui ngày cuối tuần. 
1.Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng trả lời chất vấn trước Quốc hội:” “Đồng chí Lợi hỏi tôi có yên tâm với đường sắt cao tốc không, tôi yên tâm, chúng ta không thể không làm đường sắt cao tốc”( Xem tại đây) 

2.Ngày 8/6/2010, PTT vừa cười vô tư vừa nói câu này khi được các phóng viên hỏi về những lo ngại về hiệu quả kinh doanh tại Vinashin trong kỳ họp Quốc hội. Chỉ 1 tháng sau, tháng 7/2010, thông tin về vụ bê bối ở Vinashin bung ra:  “Tôi thì vẫn chưa lo”  ( Xem tại đây) 

3. Ngài trả lời phỏng vấn Báo Tuổi trẻ ngày 6/3/2008:  “Với những chính sách điều chỉnh thị trường hiện nay, tôi đảm bảo TTCK sẽ lên giá và có chất lượng hơn. Nếu là nhà đầu tư chứng khoán thì lúc này tôi sẽ mua cổ phiếu”. ( Xem tại đây) 

4. Báo Quân đội nhân dân nhấn mạnh thêm ý của Ngài:”Thị trường đã giảm đến đáy, nên trong điều hành Chính phủ quyết tâm không để giảm thêm. Thời điểm này, nếu nhà đầu tư nào bán tháo cổ phiếu thì sẽ thất bại, ngược lại người nào có quyết định mua vào thông minh sẽ thắng“. (Xem tại đây) 

5. Trả lời than thở của Phạm Thanh Bình, TGĐ Vinashin trong cuộc họp ngày 23/4/2008: “Vốn chủ yếu vay từ ngân hàng, nhưng lãi suất cao. Chúng tôi đã trình đề án xin phát hành trái phiếu sáu tháng nay nhưng chưa được phê duyệt“, ngài nói:”Ai dám hạn chế không cho các anh phát hành trái phiếu. Chính phủ sẽ không để xảy ra ngừng trệ vốn kinh doanh cho các tập đoàn” ( Xem tại đây) 

6. Ngài giải thích về những lo ngại của các đại biểu Quốc hội là Việt Nam không đủ nguồn lực làm ĐSCT: “GDP năm nay của Việt Nam tuy chỉ có 106 tỷ USD, nhưng đến 2020 sẽ tăng lên 300 tỷ USD và năm 2030 là 700 tỷ, đến 2040 ước đoán cỡ 1,2 – 1,4 nghìn tỷ USD. Đến 2050, khi hoàn thành toàn tuyến, con số đó dự kiến sẽ tăng gấp đôi”. Và:  “Thu nhập bình quân đầu người hiện nay là 1.200 USD, nhưng với tốc độ tăng trưởng kinh tế tương lai thì đến 2020 sẽ là 3.000 USD, và lần lượt tăng lên mức 6.000, rồi 12.000 và sẽ đạt 20.000 vào năm 2050“.( Xem tại đây) 

7.Trước băn khoăn của một số đại biểu khi đây là con đường sắt cao tốc “dài nhất thế giới”, Phó thủ tướng Hùng giải thích, “dài nhưng làm từng đoạn, chả có mấy nước có chiều dài như nước ta đâu, các đồng chí ạ, đi lại từng đoạn thì ngắn, cộng lại thì dài”. ( Xem tại đây) 

8.Cũng liên quan đến vấn đề trách nhiệm, trả lời câu hỏi của đại biểu Đặng Như Lợi trước đó về kỷ luật hành chính, Phó Thủ tướng Hùng nói: “Sai thì phải sửa, làm 10 việc tốt cũng có thể có một việc sai. Nếu cách chức hết thì lấy ai làm việc. Cứ nói theo quy định của pháp luật, nhưng pháp luật cũng có cái đạo, cứ dẹp đi là bầu không kịp“. (Xem tại đây)

Lấy từ Viet-studies và các báo lề phải.
Nguồn: Quê Choa.

 

Mây thẻ

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 65 other followers