"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

CHÂN DUNG 100 NHÀ VĂN

Xuân Sách

Chân dung biếm họa 100 nhà văn, nhà thơ Việt Nam hiện đại”

Nhà xuất bản Văn học  in năm 1992

Bìa sách in lần đầu năm 1992, không phát hành rộng rãi.

Bìa sách in lần đầu năm 1992, không phát hành rộng rãi.

 Tâm sự tác giả

Những bài thơ chân dung các nhà văn của tôi ra đời trong trường hợp rất tình cờ. Hồi ấy bước vào thập kỉ 60, tôi đang độ tuổi ba mươi, từ đơn vị được chuyển về Tạp chí Văn nghệ quân đội ở ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế, Hà Nội. Ngoài công việc của tòa soạn, thời gian chúng tôi dành nhiều cho học tập chính trị. Những vấn đề thời sự trong nước, thế giới, những đường lối chỉ thị nghị quyết, những vấn đề tư tưởng lâu dài và trước mắt… đều phải học tập nghiêm túc, có bài bản. Học một ngày, hai ngày, có khi cả tuần cả tháng. Lên lớp, thảo luận, kiểm điểm, làm sao sau mỗi đợt học, nhận thức và tư tưởng từng người phải được nâng cao lên một bước. Những buổi lên lớp tập trung tại hội trường gồm hàng ngàn sĩ quan, anh em văn nghệ. Các nhà văn, các họa sĩ, nhạc sĩ…thường ngồi tập trung với nhau ở những hàng ghế cuối hội trường thành một “xóm” văn nghệ. Để chống lại sự mệt mỏi phải nghe giảng về “hai phe, bốn mâu thuẫn”, về “ba dòng thác cách mạng”, về “kiên trì, tăng cường, nỗ lực, quyết tâm…” mấy anh văn nghệ vốn quen thói tự do thường rì rầm với nhau những câu chuyện tào lao, hoặc che kín cho nhau để hút một hơi thuốc lá trộm, nuốt vội khói nhiều khi ho sặc sụa. Nhưng rồi những chuyện đó cũng bị phát hiện, bị nhắc nhở phê bình. Vậy phải thay đổi, chuyển sang “bút đàm”.

            Vào năm 1962, có đợt học tập quan trọng, học Nghị quyết 9, nghị quyết chống xét lại, chống tư tưởng hòa bình chủ nghiã, và dĩ nhiên văn nghệ là một đối tượng cần chú ý trong đợt học này. Hội trường tập trung đông, trời nắng, hơi nóng từ cái sân láng xi măng hắt lên như thiêu như đốt. Quân đội đang tiến lên chính quy hiện đại, ăn mặc phải tề chỉnh, đầy đủ cân đai bối tử, đi giày da, những đôi dày cao cổ nặng như cùm. Bọn tôi trừ vài trường hợp như Vũ Cao, Nguyễn Khải có đôi chân quá khổ, có cớ chưa có giày đúng số để đi dép, nhưng cũng là những đôi dép có quai hậu, ngồi học cũng không được tụt quai. Nhân đây tôi nói thêm về Vũ Cao, ông là người có biệt danh” quanh năm đi chân đất”, ở nhà số 4 các phòng sàn ván đều được lau bóng để đánh trần nằm xuống mà viết. Qui định ai vào phòng phải bỏ giầy dép trừ Vũ Cao, bởi để ông đi dép vào phòng còn sạch hơn đi chân trần. Giờ đây ngồi học được ưu tiên đi dép vẫn là nỗi cực khổ đối với ông.

            Trong buổi lên lớp căng thẳng như thế, Nguyễn Trọng Oánh xé vỏ bao thuốc lá Tam Đảo viết một bài thơ bằng chữ Hán trao cho tôi. Ở Văn nghệ quân đội, Oánh được gọi là ông Đồ Nghệ giỏi chữ Hán, và tôi được gọi là Đồ Thanh bởi cũng võ vẽ đôi ba chữ thánh hiền. Oánh bảo tôi dịch bài thơ Oánh viết vịnh Xuân Thiều. Xuân Thiều cũng ở lứa tuổi chúng tôi nhưng trông già dặn vì cái đầu hói, tóc lơ thơ. Con đường văn chương mới bước vào còn lận đận. Mới in được tập truyện ngắn đầu tay “Đôi vai”, tiểu thuyết “Chuyển vùng”viết về cuộc chiến đấu chống Pháp ở Bình Trị Thiên mà Thiều tham dự; đã sửa chữa nhiều lần; đưa qua vài ba nhà xuất bản, chưa “nhà” nào chịu.

Tôi thấy bài thơ Oánh viết rất hay và tôi phiên âm, dịch:

            Văn nghiệp tiền trình khả điếu quân

            Mao đầu tận lạc tự mao luân

            Lưỡng kiên mai liễu phong trần lý

            Chuyển địa hà thời chuyển đắc ngân

   Dịch nghĩa:

Con đường văn nghiệp khá thương cho ông

Lông đầu ông đã rụng trụi như bánh xe

“Đôi vai” lầm lũi trên con đường gió bụi

“Chuyển vùng” đến bao giờ thì chuyển thành tiền được ?

 Dịch thơ:

            Con đường văn nghiệp thương ông

            Lông đầu rụng hết như lông cái đầu

            Đôi vai gánh mãi càng đau

            chuyển vùng nào nữa, làm sao thành tiền ?

 Dịch xong tôi chuyển bài thơ cho anh em đọc. Oánh tỉnh bơ với bộ mặt lạnh lùng cố hữu, còn mọi người phải nén cười cho khỏi bật thành tiếng. Nguyễn Minh Châu gục xuống bàn kìm nén đến nỗi mặt đỏ bừng và nước mắt ràn rụa.

 Tự nhiên trong đầu tôi lóe lên cái ý nghĩ mà người ta thường gọi là “tia chớp”. Thơ chân dung ! Trong bài thơ của Oánh phác họa một Xuân Thiều với hình dáng và văn nghiệp bằng cách dùng nghĩa kép của tên tác phẩm“Đôi vai”, “Chuyển vùng”. Và sau chốc lát, tiếp tục “trò đùa” của Oánh, tôi viết bài thơ về Hồ Phương đang ngồi cạnh tôi, bài thơ số 1 về chân dung nhà văn ra đời. Hồi đó Hồ Phương đã là tác giả in nhiều tác phẩm, đã được một số giải thưởng các cuộc thi sáng tác văn học. Tôi dùng tên các tập truyện của anh “Trên biển lớn”, “Xóm mới”, “Cỏ non” và cái truyện ngắn đầu tay vẫn được nhắc đến “Thư nhà”. Tôi viết bài thơ ra mẩu giấy:

             Trên biển lớn lênh đênh sóng nước

           Ngó trông về xóm mới khuất xa

            Cỏ non nay chắc đã già

               buồn tênh lại giở thư nhà ra xem

         Tôi đưa bài thơ cho Nguyễn Khải. Anh đọc xong, trên mặt có thoáng chút ngạc nhiên và nghiêm nghị chứ không cười như tôi chờ đợi. Anh bỏ bài thơ vào túi chứ không chuyền cho người khác. Đến giờ giải lao, chúng tôi ra ngồi quanh gốc cây sấu già, Nguyễn Khải mới đưa cho Hồ Phương đọc. Mặt Hồ Phương hơi tái và cặp môi mỏng hơi run. Nguyễn Khải nói như cách sỗ sàng của anh “Thằng này (chỉ XS) ghê quá, không phải trò đùa nữa rồi !”.

            Tôi hơi hoảng, nghĩ rằng đó chỉ là trò chơi chữ thông thường. Sau rồi tôi hiểu ngoài cái nghĩa thông thường, bài thơ còn đụng chạm vào tính cách và sự đánh giá nhà văn. Mà đánh giá nhà văn thì có gì quan trọng hơn là tính cách và tác phẩm ?! Bài thơ ngụ ý rằng Hồ Phương viết nhiều chăng nữa vẫn không vượt được tác phẩm đầu tay và vẫn cứ “buồn tênh lại giở thư nhà ra xem”.

            Trước kia, khi còn là lính địa phương, cái xã hội nhà văn đối với tôi đầy thiêng liêng bí ẩn. Đấy là những con người dị biệt, rất đáng ngưỡng mộ, rất đáng yêu mến, dường như họ là một “siêu đẳng cấp” trong xã hội. Mỗi hành động, cử chỉ lời nói của họ đều có thể trở thành giai thoại, và cả tật xấu nữa, dường như cũng đứng ngoài vòng phán xét thông thường. Tóm lại đó  là một thế giới đầy sức hấp dẫn đối với người say mê văn học và tập tễnh nuôi mộng viết văn như tôi. Khi về Hà Nội tôi được vào một cơ quan văn nghệ dù là ở quân đội (hoàn cảnh nước ta, quân đội có một vị trí đặc biệt trong xã hội, kể cả lĩnh vực văn chương) tôi bắt đầu đi vào cái thế giới mà trước kia tôi mơ ước. Điều tôi nhận ra là ngoài cái phần tôi hiểu trước đây thì thế giới nhà văn còn có những chuyện khác. Đấy là cái mặt đời thường, cái mặt rất chúng sinh, và chúng cũng góp phần quan trọng làm nên các tác phẩm và tính cách nhà văn. Vì vậy chân dung của họ không thể bỏ qua. Hơn nữa, nếu “vẽ”được chính xác những bức chân dung đó thì bộ mặt xã hội của thời đại họ đang sống đang viết cũng qua đó mà hiện lên. Có thể, tôi nghĩ, không có tầng lớp nào hơn các nhà văn thể hiện rõ nhất bộ mặt tinh thần của dân tộc qua từng giai đoạn. Những điều này tôi nhận ra sau một thời gian dài, khi những bài thơ chân dung lần lượt ra đời, được phổ biến không chính thức nhưng sâu rộng và dai dẳng, vượt cả mong muốn của tôi.

            Cũng chính các nhà văn giúp tôi nhiều trong sáng tác cũng như phổ biến các bài thơ. Bởi khi nhận xét về tính cách con người, tính cách nhà văn thì không ai sắc sảo bằng các nhà văn. Người giúp tôi nhiều nhất là anh Nguyễn Khải. Anh có mối quan hệ rộng rãi trong giới, có lối nhận xét người rất sắc sảo chính xác dù có đôi lúc cực đoan. Anh không mấy thích thơ nhưng anh lại thích “thơ chân dung nhà văn”. Anh có nói đại ý là các nhà văn chúng ta quen đánh giá mọi lớp người trong xã hội thì cũng cần tự đánh giá giới mình, cũng có cái tốt cái xấu như ai. Về sau thêm anh Vương Trí Nhàn về Văn nghệ quân đội. Nhà phê bình văn học trẻ tuổi này hết sức cổ súy tôi, đôi khi anh còn thách đố. Chúng tôi thường ngồi trong cái phòng toilet cũ khoảng ba mét vuông. Do hệ thống bơm nước lên tầng hai bị hỏng nên cái phòng vệ sinh đó biến thành “phòng văn”, được ốp gạch men trắng bóng lau sạch ngồi thật mát và thoải mái kín đáo. Có những hôm Nhàn mua sẵn vài điếu thuốc lá lẻ, vài cái kẹo lạc, một ấm trà ngon rồi thách thức tôi viết ngay tại chỗ. Và đã có nhiều bài thơ ra đời như thế. Nhàn nói : “Những bài thơ này ông Sách viết ra khi có con quỉ ám vào ông ấy”. Bởi Nhàn đánh giá tôi có một giọng điệu khác hẳn với những bài thơ không thuộc loại “chân dung”. Nhàn là người rất thuộc thơ, và khi bài thơ tôi vừa làm xong thường anh là người phổ biến rộng rãi. Một số anh em trẻ khác như Định Nguyễn, Trần Hoàng Bách thường đem những bài thơ đó đi phổ biến để được chiêu đãi bia hơi. Có thể nói bia hơi là “nhuận bút” đầu tiên nhưng không thuộc về người sáng tác mà về người phát hành.

            Tất nhiên những bài thơ đó được phổ biến rộng rãi trong giới nhà văn. Lúc đầu còn kín đáo, dần dần thành công khai và nhất là thành một “tiết mục” không thể thiếu trong những buổi liên hoan của anh em văn nghệ. Có một buổi khá đông đủ nhà văn, khi vào tiệc rượu, mọi người yêu cầu tôi đọc thơ về các nhà văn có mặt lúc đó. Trong không khí như vậy, dù các anh các chị ấy có giận cũng cười xòa làm vui, riêng tôi thấy mình làm được trò vui cho mọi người cũng hay chứ sao nữa. Tôi nhớ sau buổi vui, anhNguyễn Đình Thi có nói đại ý nên đem cái tài đó làm những việc có ích hơn là châm chọc nhau. Ngay lúc đó một anh ngồi bên cạnh rỉ tai tôi “châm chọc cũng cần có tài và có ích lắm chứ”.

            Những bài thơ ấy cũng được lan truyền trong nhiều giới khác. Hồi đó tướng Lê Quang Đạo là phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị, cấp trên của giới văn nghệ quân đội, ông rất thích những bài thơ chân dung. Thường trong giờ nghỉ những buổi họp với giới văn nghệ, ông đề nghị đọc cho ông nghe. Sự thích thú đó tuy có tính cách cá nhân  nhưng rất hay cho tôi. Tôi cũng nhận được nhiều phản ứng khác nhau, có khi khen quá lời, có khi bực tức. Tôi kể ra vài trường hợp đặc biệt. Khi tôi đã tìm hiểu được những ứng xử, những tính cách của các nhà văn, ngoài những tác phẩm của họ mà tôi hằng ngưỡng mộ, tôi cứ băn khoăn tự hỏi: Sao thế nhỉ ? với bề dày tác phẩm như thế, vị trí trong xã hội như thế, trong lòng người đọc như thế, sao họ còn ham muốn những thứ phù phiếm đến thế, một chức vụ, một quyền lực, một chuyến đi nước ngoài. . . Mà đã ham muốn thì phải mưu mẹo, dối trá, và nhất là phải sợ hãi. Một lần trên báo đăng bài thơ dài của một nhà thơ có tên tuổi viết theo “thời tiết” chính trị, quay ngược lại những điều vừa viết chưa lâu, Nguyễn Khải chỉ bài thơ nói với tôi “Rất tiếc, một tài năng lỡ tàu”.

            Tôi không nghĩ mình đứng ra ngoài cuộc để phán xét, muốn làm cặp mắt thứ hai trong mỗi bài thơ để tự bạch, tự cảm thông với mình và cũng tự giận mình. Tôi vốn yêu thích và kính phục tài tứ thơ Chế Lan Viên, nhưng bài thơ tôi viết về ông lại nói khía cạnh khác. Mỗi lần gặp lại tôi, ông lại tỏ ra rất thân thiện. Điều đó làm cho tôi bối rối, phải chăng ông đã hiểu điều gì đó về ông về tôi. Lúc ông Hoài Thanh già yếu phải vào bệnh viện, tôi đến thăm ông. Ông không giận tôi nữa, còn cho tôi là người có tình và ông thấy những gì tôi viết về ông có phần đúng, ông đề nghị chữa một chữ trong bài thơ. Khi ông mất, tôi đi viếng, nhìn khuôn mặt ông qua tấm kính, và các con ông òa khóc, tôi bỗng thấy mình như người có tội.

            Một lần tôi gặp Xuân Diệu trong quán bia hơi, tôi nâng cốc bia đến chúc mừng ông vừa được bầu làm viện sĩ của Viện hàn lâm nghệ thuật nước CHDC Đức, ông chạm cốc “Chúc mừng họ Ngô nhà ta, những bài thơ của cậu đi vào cõi bất tử”.

            Điều tôi không ngờ là cụ Đặng Thai Mai cho người gọi tôi đến nhà bảo tôi đọc thơ chân dung cho cụ nghe. Con người nổi tiếng uyên bác thâm trầm ấy, ngồi đặt cằm lên đầu gối cười khục khục. Đột ngột cụ ngước cặp mắt tinh anh lên nhìn tôi “Thế còn Đặng Thai Mai ?”. Tôi lúng túng “ Viết về bác rất khó, cháu đang suy nghĩ, thưa bác”. Dường như ông cụ không tin lời tôi. Ít lâu sau cụ lại gọi đến “Anh viết về tôi rồi chứ ?”. Trước tôi chỉ nghĩ cụ không để ý đến cái trò chơi chữ ngông nghênh này, hóa ra cụ quan tâm thật sự; khiến tôi vừa cảm động vừa thích thú. Nhưng biết sao được, viết về cụ thật là khó và đến nay tôi vẫn chưa viết được.

            Còn cụ Nguyễn Tuân, con người vốn thích đùa một cách cao sang và thâm trầm, thích ăn nem rán nóng bỏng thì gắp lên đặt xuống cái nem, nghe thơ và phán: “Hóm, thằng này hóm !”.

            Nói về đồng nghiệp cũng là nói về mình. Cái hay cái dở của một người cũng là của một thời. Câu thơ “Từ thuở tóc xanh đi vỡ đất. Đến bạc đầu sỏi đá chửa thành cơm”đâu chỉ là số phận của một nhà thơ. Hơn ai hết, tôi nghĩ, nhà văn là đại diện của một thời, là lương tri của thời đại. Đã đành khó ai vượt qua được thời đại mình đang sống, không dễ nói hết, nói công khai những điều suy nghĩ. Nhưng cũng thật đau lòng và xấu hổ khi những nhà văn bán rẻ lương tâm, cong lưng quì gối trước quyền uy, mê muội vì danh lợi. Có lẽ đó là động cơ thúc đẩy tôi viết, nếu có nói quá lời cũng dễ hiểu, cái con “quỉ ám” nếu có thì cũng là sản phẩm của những cảm xúc ấy, nỗi đau chung ấy. Nhiều nghịch lý vốn tồn tại trong cuộc đời cũng như trong nghệ thuật. Tiếng cười nhiều khi xuất phát từ nỗi đau.

            Những bài thơ chân dung đã có cuộc sống riêng của nó, không phải kì lạ nhưng cũng độc đáo. Nó được lưu truyền đến nay đã ba mươi năm. Đã có nhiều bài “khảo dị”, nhiều bài “ngoài luồng” cũng được gán cho tác giả, bây giờ in ra cũng coi như một sự đính chính. Nó cũng là “một cái gì đó” như có người đã nói nên mới tồn tại được, nếu nó có ích thì tác giả cũng lấy làm mãn nguyện”

Ngày xuân năm Nhâm Thân

Xuân Sách

Tư liệu của n văn Nht Tun

Năm 1992 một sự kiện ầm ĩ nổ ra trong giới xuất bản. Chuyện bắt đầu từ tập thơ “Lên chùa” của nhà thơ Xuân Sách vốn được sáng tác lai rai từ 30 năm trước. Vào một dịp thăm Xuân Sách ở Vũng Tàu, trung tướng Trần Độ ghi âm Xuân Sách đọc gần 100 bài thơ này. Cuối năm 1992, nhà văn Hoàng Lại Giang lúc đó là Trướng Chi nhánh NXB Văn Học tại TP HCM được nghe cuốn băng này và đề nghị  Xuân Sách cho xuất bản với tên “ CHÂN DUNG NHÀ VĂN”.

 Nhưng khi sách in xong, chưa kịp phát hành, nhà văn Hoàng Lại Giang cho biết:

“Phản ứng của nhà văn rất lớn, và đấy là điều tôi không ngờ đến. Những nhà văn lớn có bản lĩnh, họ chịu đựng nổi, im lặng. Nhưng những nhà văn tầm tầm, lồng lộn, rất gay gắt yêu cầu Bộ Văn hóa kiểm điểm và thu hồi”.

  Một cuộc họp của Bộ Văn hóa diễn ra, với năm đại diện: Ba thứ trưởng (Phan Hiền, Huy Cận và Nông Quốc Chấn), đại diện Hội Nhà văn Vũ Tú Nam, cùng Giám đốc NXB Văn học Lữ Huy Nguyên quyết định không thu hồi nhưng niêm phong số bản in 3000 cuốn. 20 năm sau, cho tới tận bây giờ, số sách này vẫn bị chôn dưới hầm cầu thang chi nhánh NXB Văn Học tại 290/20 Nam kỳ Khới  nghĩa Q3 TP HCM, chắc đã làm mồi cho mối.

 Lúc đầu Xuân Sách đặt tên tập thơ là “Lên chùa”, hàm ý gặp 100 pho tượng tức 100 chân dung ở đó.  Sau mới đổi tên là «Chân dung 100 nhà văn» 

Lời người gõ vi tính và biên tập “Chân dung nhà văn» online

 Thuở nhỏ tôi cậu bé làng Đông Lao ngoại thành Hà Nội từng vùi đầu đọc cuốn truyện “Đội thiếu niên du kích Đình Bảng” của Xuân Sách. Đến tuổi thanh niên, hát mãi bài thơ “Đường chúng ta đi” của Xuân Sách theo nhạc Huy Du “Việt Nam trên đường chúng ta đi. Nghe gió thổi đồng xanh quê ta đó. Nghe sóng biển ầm vang xa tận tới chân trời. Nghe ấm lòng những khi đang dồn bước mà vui sao ta chẳng nói nên lời .  . . ”

Nhà thơ Ngô Xuân Sách quê xã Trường Giang huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá. Sau truyện đầu tay “Đội thiếu niên du kích Đình Bảng” ông còn viết tiểu thuyết “Mặt trời quê hương”,  “Rừng bên sông”, truyện ngắn “Cô giáo làng”  (trước 1975), hai tiểu thuyết “Phía núi bên kia”và “Cuộc hôn nhân bị đánh cắp” (sau 1975).

 Vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, lúc này tinh thần nhiều người trở nên uể oải, bi quan vì cuộc kháng chiến đã kéo dài quá lâu. Mặt khác những cái tiêu cực của chế độ XHCN bộc lộ từng mảng từng mảng khiến lòng tin bao người rã rời, ngơ ngác… Đây là lúc truyện tiếu lâm hiện đại mọc mầm và lan tỏa rộng rãi ở vùng Hà Nội. Thỉnh thoảng tôi nghe những bài thơ “dân gian” vịnh các nhà văn nhà thơ mà bật cười, chẳng mấy ai biết đấy là sáng tác của Xuân Sách. Không ai ngờ Xuân Sách là bởi giọng điệu thơ  Chân dung rất lạ…

 Khi biết là sáng tác của Xuân Sách, người đọc cảm phục bản lĩnh và tài hoa của nhà thơ . Một phong cách nhà thơ kẻ sĩ vừa cổ điển vừa hiện đại trong thơ ông. Cây bút của ông đứng cao hơn thời đại, rất hiếm có trong giới văn sĩ thời ấy.

 Tôi thử đặt tựa đề cho mỗi bài  theo hiểu biết của mình, từ đó làm cái mục lục bút danh.

Nhà thơ  được vịnh  sẽ nghĩ  thế nào về chân dung của họ ?

 Họ biết họ vẫn được sự cảm thông sâu sắc của Xuân Sách đồng thời họ phải cam chịu làm cái cớ cho nhà thơ châm biếm những cái non kém của thời cuộc, của chế độ xã hội …Họ làm cái thớt cho nhà thơ giận cá chém vào… Cũng có những người “nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào” nhưng không cãi được ! Chỉ đọc mà chơi thôi. Cái thú vị của văn chương là thế chăng ?

 Với sách này, cái tên Xuân Sách xứng đáng ghi vào dòng văn học trào phúng hiện đại của lịch sử văn học nước nhà. 

 Xuân Sách sáng tạo một thể tài trào phúng hiện đại độc đáo sau khi kế thừa Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, tiếng cười dân gian, tiếng cười chèo cổ …Thơ trào phúng Xuân Sách phát tán nhanh trong khí hậu văn chương tiếu lâm chính trị đang nóng lên ở đất Thăng Long Hà Nội. Có cái gì đó mới mẻ hiện đại trong thơ trào phúng Xuân Sách. Chỉ những người cầm bút chân chính mới viết được những lời đắng cay mà pha chút thân thiết đùa vui trong tình đồng chí đồng nghiệp.

 Tuy nhiên đọc thơ trào phúng Xuân Sách, ta thấy có một cái gì hẫng hụt. “Chân dung” như vậy ư ? Nghiêm túc mà nói, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước, binh đoàn văn thơ với cây bút làm vũ khí đã đóng góp chiến công đáng kể ! Vậy nên chăng đặt tên tập thơ là 100 chân dung biếm hoạ ? Những nét tươi sáng tốt đẹp của chân dung thì mọi người đã biết, Xuân Sách không vẽ lại trong tập thơ này. Nếu chỉ đặt hai chữ “chân dung” thì không được công bằng toàn diện khi đánh giá 100 nhà thơ nhà văn Việt Nam ấy.

 Trước hết Xuân Sách là một người nghiên cứu văn học độc đáo, đọc mỗi nhà văn, ông bắt ngay được cái nét tầm thường tiêu cực của họ. Thực ra ông vẽ  kí họa  chứ không vẽ  được “chân dung” nhà văn.

 Bên cạnh cảm hứng trào phúng còn có cảm hứng bi kịch. Những nỗi đau không thể nói ra của nhà văn nhà thơ Việt Nam. Những hi sinh thầm lặng cắn răng chịu đựng cho sự nghiệp lớn của dân tộc. Bi thương chung và riêng biến thành cái cười cay đắng trong lời thơ Xuân Sách.

 Căn cứ Lời nói đầu của tác giả, năm Nhâm Thân là 1992. Đó là những năm tháng tưng bừng không khí Đổi Mới ở Việt Nam. Nghe nói tác phẩm sắp in, ông nghe bạn hữu can ngăn mà bản thảo phải đình lại. Tác giả bèn phát hành theo kiểu photocopy bản viết tay, truyền tay cho bạn bè photo tiếp sức. Thứ tự 100 bài có lẽ do tác giả đánh số tự nhiên theo thời gian viết ra chứ không có ý nào khác. Tôi nhận được tập bản thảo photo lần thứ “n” mờ mịt của thạc sĩ Phạm Xuân Đại một người bạn văn Hà Nội gửi cho,  rồi đánh máy lại, viết phần mở đầu bày tỏ mấy ý kiến riêng. Tôi in nghiêng những gì biết khá chắc đó là tên tác phẩm và ý thơ văn của nhà văn mà Xuân Sách đã  “mượn”, “tập”, “nhại” theo.

 Nỗi đau nhà văn không phải của riêng họ mà là nỗi đau chung của người trí thức Việt Nam một thời.

 Tôi in ra đây bài thơ nổi tiếng “Đường chúng ta đi” của Xuân Sách để bạn đọc đối chiếu sự khác biệt lạ lùng, sự đổi thay phong cách giọng điệu của nhà thơ độc đáo này.

 Đường chúng ta đi

Thơ Xuân Sách – nhạc Huy Du

 Việt Nam

trên đường chúng ta đi

Nghe gió thổi đồng xanh quê ta đó

Nghe sóng biển ầm vang xa tận tới chân trời

Nghe ấm lòng những khi đang dồn bước

mà vui sao ta chẳng nói nên lời

Dặm đường xa ta đi giữa mùa xuân

ta đi giữa tình thương của Đảng

tiếng Bác Hồ rung động mãi trong tim

Đường ta đi ánh lửa soi đêm dài

đường ta về trong nắng ấm ban mai .

Việt Nam Việt Nam

qua từng bước gian nan lớn lên rồi đẹp những mùa xuân

 *

Ta đi qua phố qua làng ngọn đèn sáng giục lòng ta đó

Lời mẹ nói ấm lành ngọn gió, đàn em vui ríu rít mái trường

Ta đi đường rợp bóng hàng dương, đất bom đào đã lên màu cỏ mới

Những cặp mắt đêm đêm trông đợi

chiến trường xa dồn dập những chiến công

Miền Nam ơi miền Nam

Hỡi những dòng sông soi bóng dừa xanh

những đỉnh núi khuất mây mù xa tắp

Ta sẽ đến nơi đâu còn giặc

Ta chưa về khi tổ quốc chưa yên

Miền Nam, miền Nam, nghe từng tiếng vang vang .

 Danh mục 100 bài thơ tôi tạo ra là 100 bút danh nhà văn

 Trong bản chép tay, nhà thơ Xuân Sách chỉ đánh số từ 1 đến 100. Giang Nam lãng tử đọc thơ và doán tên tác giả , ghi làm tựa đề mỗi bài.

 Bến Tầm Dương

 Đại học An Giang

 Ngày 12 tháng 6 năm 2003.

 Phùng Hoài Ngọc cẩn bút

 

 Danh mục 100 nhà thơ, nhà văn:
1. Nguyễn Đình Thi

2. Hồ Phương

3. Tô Hoài

4.  Nguyên Hồng

5.  Nguyễn Công Hoan

6.  Nguyễn Tuân

7.   Huy Cận

8.   Xuân Diệu

9.  Tế Hanh

10.  Chế Lan Viên

11.  Nguyễn Thi (Nguyễn Ngọc Tấn)

12.  Kim Lân

13.  Tú Mỡ

14.  Đồ Phồn (Bùi Huy Phồn)

15. Hoài Thanh

16.  Vũ Tú Nam

17.  Hữu Mai

18.  Đỗ Chu

19.  Xuân Quỳnh

20.  Phạm Tiến Duật

21. Nguyễn Thành Long

22.  Đào Vũ

23.  Nguyễn Bính

24. Nguyễn Văn Bổng (Trần Hiếu Minh)

25. Nguyên Ngọc (NguyễnTrung Thành)

26.  Vũ Thị Thường

27.  Quang Dũng

28.  Mai Ngữ

29.  Nguyễn Khải

30.  Hoàng Trung Thông

31.  Chính Hữu

32. Thanh Tịnh

33. Chu Văn

34.  Ngô Tất Tố

35. Nam Cao

36.  Xuân Thuỷ

37.  Lưu Trọng Lư

38.  Nguyễn Khoa Điềm

 39.  Nguyễn Kiên

 40. Anh Thơ

 41.  Xuân Thiều

 42.  Nguyễn Thị Như Trang

43.  Anh Đức (Bùi  Đức Ái)

44.  Thế Phương

45.  Vũ Trọng Phụng

46.   Xuân Thiêm

47.   Đào Hồng Cẩm

48.   Nguyễn Quang Sáng

49.   Trần Thanh Giao

50.   Phù Thăng

51.  Nguyễn Thị Ngọc Tú

52.  Vũ Cao

53. Phan Tứ

54.  Nguyễn Huy Tưởng

55. Thu Bồn

56. Bùi Hiển

57.  Võ Huy Tâm

58.  Nông Quốc Chấn

59. Thế Lữ

60.  Nguyễn Minh Châu

61. .Phạm Huy Thông

62.  Giang Nam

63.  Bằng Việt

64.  Nguyễn Trọng Oánh

65.  Nguyễn Xuân Sanh

66.  Thâm Tâm

67. Nguyễn Huy Thiệp

68.  Phùng Quán

69. Tố Hữu

70. Dương Thu Hương

71. Hữu Thỉnh

72. Trần Bạch Đằng

73.  Nguyễn Duy

74.  Nguyễn Mạnh Tuấn

75. Trần Mạnh Hảo

76.  Hoàng Cầm

77.  Lê Lựu

78.  Vũ Quần Phương

79.  Hữu Loan

80.  Lí Văn Sâm

81. Tản Đà

82.  Lưu Quang Vũ

83.  Hà Minh Tuân

84.  Minh Huệ

85.  Văn Cao

86.  Ma Văn Kháng

87.  Vũ Bão

88.  Hồ Dzếnh

89.  Hoàng Phủ Ngọc Tường

90. Phạm Thị Hoài

91. Thanh Thảo

92. Trần Dần

93. Khương Hữu Dụng

94. Bùi Minh Quốc

95. Ý Nhi

96. Yến Lan

97. Phan Thị Thanh Nhàn

98. Trần Đăng Khoa

99. Hòang Lại Giang            

100. Tự  hoạ (Xuân Sách)

(Lưu ý: những chữ in nghiêng là tên tác phẩm hoặc câu thơ, câu văn của nhà thơ, nhà văn).

1. Hồ Phương

Trên biển lớn lênh đênh sóng nước

Ngó trông về xóm mới khuất xa

Cỏ non nay chắc đã già

buồn tênh lại giở thư nhà ra xem

2. Nguyễn Đình Thi

Xung kích tràn lên nước vỡ bờ

Đã vào lửa đỏ hãy còn mơ

Bay chi mặt trận trên cao ấy

Quên chú nai đen vẫn đứng chờ.

3 . Tô Hoài

Dế mèn lưu lạc mười năm

để O chuột phải ôm cầm thuyền ai

Miền Tây sen đã tàn phai

Giăng thề một mảnh lạnh ngoài đảo hoang.

                                  (chú thích: Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen)

4. Nguyên Hồng

Bỉ vỏ một thời oanh liệt nhỉ

Sóng gầm sông Lấp mấy ai hay

Cơn bão đến động rừng Yên Thế

Con hổ già uống rượu giả vờ say .

 5. Nguyễn Công Hoan

Bác Kép Tư Bền rõ đến vui

Bởi còn tranh tối bác nhầm thôi

bới tung đống rác nên trời phạt

trời phạt chưa xong bác đã cười.

6. Nguyễn Tuân

Vang bóng một thời đâu dễ quên

Sông Đà cũng muốn đẩy thuyền lên

Chén rượu tình rừng cay đắng lắm

Tờ hoa lại trút lệ ưu phiền .

7. Huy Cận

Các vị La Hán chùa Tây Phương

Các vị gầy quá tôi thì béo

Năm xưa tôi hát vũ trụ ca

Bây giờ tôi hát đất nở hoa.

Tôi hát chiến tranh như trảy hội .

Đừng nên xấu hổ khi nói dối

Việc gì mặt ủ với mày chau

Trời mỗi ngày lại sáng có sao đâu !

8.  Xuân Diệu

Hai đợt sóng dâng một khối hồng

Không làm trôi được chút phấn thông

Chao ôi ngói mới nhà không mới

Riêng còn chẳng có, có gì chung !

9. Tế Hanh

Quá tuổi hoa niên đã bạc đầu

Tình còn dang dở tận Hàng Châu

Khúc ca mới hát sao buồn thế

Hai nửa yêu thương một nửa sầu

10. Chế Lan Viên

Điêu tàn ư ? Đâu chỉ có điêu tàn

Ta nghĩ tới vàng sao từ thuở ấy

Chim báo bão, lựa chiều cơn gió dậy,

lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa

Thay đổi cả cơn mơ

Ai dám bảo con tàu không mộng tưởng

mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng .

Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống

mặt anh em trong suối cạn Hội nhà văn .

11Nguyễn Thi

Trăng sáng soi riêng một mặt người

Chia ly đôi bạn cách phương trời

Ước mơ của đất anh về đất

Im lặng mà không cứu nổi đời

 12. Kim Lân

Nên danh nên giá ở làng

Chết vì ông lão bên hàng xóm kia

Làm thân con chó sá gì

Phận đành xấu xí cũng vì miếng ăn

13. Tú Mỡ

Một nắm xương khô cũng gọi mỡ

Quanh năm múa bút để mua cười

Tưởng cụ vẫn bơi dòng nước ngược

Nào ngờ trở gió lại trôi xuôi .

14. Đồ Phồn

Phất rồi ông mới ăn khao

Thơ ngang chạy dọc bán rao một thời

Ông đồ phấn ông đồ vôi

Bao giờ xé xác để tôi ăn mừng .

15. Hoài Thanh

Vị nghệ thuật nửa cuộc đời

Nửa đời sau lại vị người ngồi trên

Thi nhân còn một chút duyên

Lại vò cho nát lại lèn cho đau

Bình thơ tới thuở bạc đầu

Vẫn chưa thể tất nổi câu nhân tình

Giật mình mình lại thương mình

Tàn canh tỉnh rượu bóng hình cũng tan .

16. Vũ Tú Nam

Vốn cùng nhân dân tiến lên

Mùa đông năm ấy bỏ quên cờ đào

Quay về nấp bóng ca dao

Giật mình nghe một tiếng chào: Văn Ngan !

 

17. Hữu Mai

Hỏng đôi mắt phải đâu là mất hết

Trong cặp còn hồ sơ điệp viên

Ông cố vấn chẳng sợ gì cái chết

Cao điểm cuối cùng quyết chí xông lên .

 

18. Đỗ Chu

 Đám cháy ở sau lưng

 Đám cháy ở trước mặt

 Than ôi mày chạy đâu

 Dưới vòm trời quen thuộc

  Đốt bao nhiêu cỏ mật

  không bay mùi thơm tho .

  Càng hun càng đỏ mắt

  quay về thung lũng cò .

19. Xuân Quỳnh

Mải hái hoa dọc chiến hào

Bỏ quên chồi biếc lúc nào không hay

Thói quen cũng lạ lùng thay

Trồng cây táo lại mọc cây bạch đàn .

20. Phạm Tiến Duật

Trường Sơn đông em đi hái măng

Trường Sơn tây anh làm thơ cho lính

 Đời có lúc bay lên vầng trăng

Lại rơi xuống chiếc xe không kính

Thế đấy ! Giữa chiến trường

Nghe tiếng bom cũng mạnh .

21. Nguyễn Thành Long

Thao thức năm canh nghĩ chẳng ra

Trò chơi nguy hiểm đấy thôi mà

Lửng lơ giữa khoảng trong xanh ấy .

Để mối đùn lên cái gốc già .

22. Đào Vũ

Trời thí cho ông vụ lúa chiêm

Ông xây sân gạch với xây thềm

Con đường mòn ấy ông đi mãi

Lưu lạc lâu rồi mất cả tên .

23.  Nguyễn Bính

Hai lần lỡ bước sang ngang

Thương con bướm đậu trên giàn mồng tơi

Trăm hoa thân rã cánh rời

Thôi đành lấy đáy giếng thơi làm mồ .

24. Nguyễn Văn Bổng

Nhọc nhằn theo bước con trâu

Hỡi người áo trắng nông sâu đã từng

mỗi bước đi một bước dừng 

mà sao vẫn lạc giữa rừng U minh .

25. Nguyên Ngọc

Mấy lần đất nước đứng lên

Đứng lâu cũng mỏi cho nên phải nằm

Hại thay một mạch nước ngầm

cuốn trôi đất Quảng lẫn rừng xà nu .

26. Vũ Thị Thường

Từ trong hom giỏ chui ra

Đã toan gánh vác sơn hà chị ơi

Định đem cái lạt buộc người

Khổ thân ông lão vịt trời phải chăn .

27. Quang Dũng

Sông Mã  xa rồi Tây tiến ơi

Về làm xiếc khỉ với đời thôi

 Nhà đồi một nóc chênh vênh lắm

 Sống tạm cho qua một kiếp người

 Áo sờn thay chiếu anh về đất

Mây đầu ô trắng, Ba Vì xanh

Gửi hồn theo mộng về Tây tiến

 Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

28. Mai Ngữ

Tưởng chuyện như đùa hoá ra thật

 Biết ông sòng phẳng tự bao giờ

 Cái con thò lò quay sáu mặt

 Vỗ  hụt mấy lần ông vẫn trơ

29. Nguyễn Khải

Cha và con và . . . họ hàng và …

Hết bay mùa thóc lẫn mùa lạc

Cho nên chiến sĩ thiếu lương ăn

Họ sống chiến đấu càng khó khăn

Tháng ba ở Tây nguyên đỏ lửa

Tháng tư lại đi xa hơn nữa

Đường đi ra đảo đường trong mây

Những người trở về mấy ai hay

Xung đột mỗi ngày thêm gay gắt

Muốn làm cách mạng nhưng lại nhát!

30Hoàng Trung Thông

 Đường chúng ta đi trong gió lửa

 Còn mơ chi tới những cánh buồm

 Từ thuở tóc xanh đi vỡ đất

 đến bạc đầu sỏi đá chửa thành cơm .

31.  Chính Hữu

Tấm áo hào hoa bạc gió mưa

Anh thành đồng chí tự bao giờ ?

Trăng còn một mảnh treo đầu súng

Cái ghế quan trường giết chết thơ .

32. Thanh Tịnh

Bao năm ngậm ngải tìm trầm

Giã từ quê mẹ xa dòng Hương Giang

Bạc đầu mới biết lạc đường

Taykhông nay lại vẫn hoàn tay không

Mộng làm giọt nước ôm sông

Ôm sông chẳng được, tơ lòng gió bay .

33. Chu Văn

Một con trâu bạc già nua

Nhờ cơn bão biển  thổi lùa lên mây

Trâu ơi ta bảo trâu này

quay về đất mặn kéo cày cho xong

34.  Ngô Tất  T ố

Tài ba thằng mõ cỡ chuyên viên

chia xôi chia thịt lại chia quyền .

Việc làng việc nước là như vậy

 Lộn xộn cho nên phải tắt đèn .

35Nam Cao

Anh còn đôi mắt ngây thơ

sống mòn mà vẫn đợi chờ tương lai

Thương cho thị Nở ngày nay

kiếm không đủ rượu làm say Chí Phèo .

36. Xuân Thủy

Xoắn mãi dây tình thơ bật ra

Paristhì thích hơn ở nhà

Đông y ắt hẳn hơn tây dược

Xe tải không bằng xe von ga

Trên đời kim cương là quí nhất

thứ đến tình thương dân nghèo ta

Em chớ chê anh già lẩm cẩm

Còn hơn thằng trẻ lượn honda .

37. Lưu Trọng  Lư

Em không nghe mùa thu

Mùa thu chỉ có lá .

Em không nghe rừng thu

rừng mưa to gió cả .

Em thích nghe mùa xuân

Con nai vờ ngơ ngác

Nó ca bài cải lương .

38. Nguyễn Khoa Điềm

 Một mặt đường khát vọng

cuộc chiến tranh đi qua

rồi trở lại ngôi nhà

đốt lên ngọn lửa ấm

Ngủ ngoan a kai ơi

 ngủ ngoan a kai à . . .

39. Nguyễn Kiên

Anh Keng cưới vợ tháng mười

những đứa con lại ra đời tháng năm .

Trong làng kháo chuyện rì rầm

vụ mùa chưa gặt thóc đã nằm đầy kho .

 

40. Anh Thơ

Ấy bức tranh quê đẹp một thời

Má hồng đến quá nửa pha phôi

Bên sông vải chín mùa tu hú

 khắc khoải kêu chi suốt một đời  .

41. Xuân Thiều

Đôi vai thì gánh lập trường

Đôi tay sờ soạng ven đường cuối thôn

Nghe anh kể chuyện đầu nguồn

về nhà thấy mất cái hồn của em .

42. Nguyễn Thị  Như  Trang

Nhá nhem khoảng sáng trong rừng

để cho cuộc thế xoay vần hơn thua .

Xác xơ màu tím hoa mua

Lửa chân sóng hoá mây mưa suốt ngày .

43. Anh Đức

Chị Tư Hậu đẻ ra anh

Ví như hòn đất nặn thành đứa con

Biển xa gió dập sóng dồn

Đất tan thành đất chỉ còn giấc mơ .

44. Nguyễn Thế  Phương

 Đi bước nữa rồi đi bước nữa

Phấn son mưa nắng đã tàn phai

Cái kiếp đào chèo là vậy đó

Đêm tàn bạn cũ chẳng còn ai .

45. Vũ Trọng Phụng

  Đã đi qua một thời giông tố

Qua một thời cơm thầy cơm cô

còn để lại những thằng Xuân tóc đỏ

vẫn nghênh ngang cho đến tận bây giờ .

 46. Xuân Thiêm

Thơ ông tang tính tang tình

Cây đa bến nước mái đình vườn dâu

Thân ông mấy lựơt lấm đầu

miếng mồi danh lợi mắc câu vẫn thèm .

47.   Đào Hồng  Cẩm

Bắt đầu từ lão nghị hụt

Cầm dao giết một mạng người

Chị Nhàn phải đi bước nữa

lấy đại đội trưởng của tôi .

Cuộc đời mấy phen nổi gió

phải đem tổ quốc thề bồi .

Lần này ông ra ứng cử

chắc là trúng nghị viên thôi

48. Nguyễn Quang Sáng

Ông Năm Hạng trở về đất lửa

với chiếc lược ngà vượt Trường sơn

Bỗng mùa gió chướng vừa nổi dậy

ông biến thành thằng nộm hình rơm .

49. Hoàng Văn Bổn (*)

Có những lớp người đi vỡ đất

Mùa mưa không trồng lúa trồng ngô

lại gieo hạt bông hường bông cúc

Trên mảnh đất này hoa héo khô .

50.  Phù Thăng

  Chuyện kể cho người mẹ nghe

biển lửa bốc cháy bốn bề tan hoang

Đứa con nuôi của trung đoàn

Phá vây xong lại chết mòn trong vây  .

51.  Nguyễn Thị Ngọc Tú

  Đất làng vừa một tấc

Bao nhiêu người đến cày

Thóc giống còn mấy hạt

đợi mùa sau sẽ hay .

52.  Vũ Cao

Sớm nay nhấp một chén khà

Bâng khuâng tự hỏi đâu là  núi Đôi

những người cùng làng với tôi

muốn sang đèo trúc, muộn rồi đừng sang .

53. Phan Tứ (Lê Khâm)

Bên kia biên giới anh sang

Trước giờ nổ súng về làng làm chi .

Mẫn và tôi  tính chi li

Gia đình má Bảy lấy gì nuôi anh ?

 

54. Nguyễn Huy Tưởng

Anh chẳng còn sống mãi

 với thủ đô, luỹ hoa .

 Để những người ở lại

 bốn năm sau khóc oà .

55. Thu Bồn

  Chim Chơ rao cất cánh ngang trời

Tình như chớp trắng nháy liên hồi

Đám mây cánh vạc tan thành nước

Mà đất ba dan vẫn khát hoài .

56. Bùi Hiển

Sinh ra trong gió cát

Đất Nghệ  An khô cằn

Bao nhiêu năm nằm vạ

trước cửa Hội nhà văn .

57. Võ Huy Tâm

Đem than từ vùng mỏ

về bán tại thủ đô

Bị đập chiếc cán búa

hoá ra thằng ngẩn ngơ .

58. Nông Quốc Chấn

 Tưởng anh dọn về làng xưa

 ngờ đâu về tận thủ đô nhận nhà.

 Sướng cái bụng lắm lắm à

 Đêm là đèo gió, ngày là hồ Tây .

59Thế Lữ

Với tiếng sáo thiên thai dìu dặt

mở ra dòng Thơ Mới cho đời .

Bỏ rừng già về vườn bách thú

Con hổ buồn lặng lẽ trút tàn hơi . 

60Nguyễn Minh Châu

Cửa sông cất tiếng chào đời

rồi đi ra những vùng trời khác nhau

Dấu chân người lính in mau

Qua miền cháy với cỏ lau bời bời .

 Đọc lời ai điếu một thời

Tan phiên chợ Giát hồn người về đâu ?

61. Phạm Huy Thông

Nếu Trương Lương không thổi địch sông Ô

liệu Hạng Võ có lên ngôi hoàng đế  ?

Nhưng buồn thay đã đánh mất Ngu cơ

đời chẳng còn gì,  thơ cũng thế .

62. Bằng Việt

Nhen lên một bếp lửa

Mong soi gương mặt người

bỗng cơn giông nổi dậy

mây che một khung trời

Đất sau mưa hỡi đất

Màu mỡ trôi về đâu ?

Còn trơ chiếc guốc võng

Trăng mài mòn canh thâu .

63. Giang Nam

Xưa tôi yêu quê hương vì có chim có bướm

Có những ngày trốn học bị đòn roi

Nay tôi yêu quê hương vì có ô che nắng

Có ghế ngồi viết những điệu thơ vui .

64.  Nguyễn Trọng Oánh ( ?)

 Một chút hương thơm trải bốn mùa

mười năm lăn lóc chốn rừng già

Quay về khứng chịu ơn mưa móc

Đất trắng mưa rồi đất lại khô .

  65. Nguyễn Xuân Sanh

 Xưa thơ anh viết không người hiểu

Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà

Nay anh chưa viết, người đã hiểu

Sắp sáng thì nghe có tiếng gà .

66. Thâm Tâm

        Người đi, ừ nhỉ, người đi thật  

       Đi thật nhưng rồi lại trở về

       Nhẹ như hạt bụi, như hơi rượu

       Mà đắm hồn người trong tái tê  .

67.  Nguyễn Huy Thiệp

Không có vua thì làm sao có tướng

Nên về hưu vẫn phải chết ở chiến trường .

Kiếm sắc chém bao nhiêu đầu giặc

để vàng tôi trong lửa chịu đau thương .

68. Phùng Quán

 Hồn đã vượt Côn đảo

thân xác còn trong lao

Bởi nghe lời mẹ dặn

Nên suốt đời lao đao

 

69. Tố Hữu

Ta đi tới đỉnh cao muôn trượng

Mắt trông về tám hướng phía trời xa .

Chân dép lốp bay vào vũ trụ

Khi trở về ta lại là ta .

              Từ ấy  tim tôi ngừng tiếng hát

               Trông về Việt Bắc tít mù mây

               Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt

               Máu ở chiến trường, hoa ở đây.

70Dương Thu Hương

Tay em cầm bông bần li

Bờ cây đỏ thắm làm chi não lòng

Chuyện tình kể trước rạng đông

Hoàng hôn ảo vọng vẫn không tới bờ

Thiên đường thì quá mù mờ

Vĩ nhân tỉnh lẻ vật vờ bóng ma .

Hành trình thơ ấu đă qua

Hỡi người hàng xóm còn ta với mình .

71. Hữu Thỉnh

Cùng đoàn quân anh đi tới thành phố

bị lạc đường, về Hội nhà văn.

Ừ nhỉ bao giờ quay trở lại

với năm anh em trên một chiếc xe tăng  .

72. Trần Bạch Đằng

(Hưởng Triều, Hiểu Trường, Ng.Trương Thiên Lý)

  Ván bài lật ngửa tênh hênh

Con đường thiên lý gập ghềnh mãi thôi

Thay tên đổi họ mấy hồi

vẫn chưa tới được chân trời mộng mơ .

 

73. Nguyễn Duy

 Mẹ và em đang ở đâu

giữa vùng cát trắng đêm thâu gió lùa ?

Ổ rơm teo tóp ngày mùa

xác xơ thân lúa vật vờ thân tôi

Bờ tre kẽo kẹt liên hồi

Bầu trời vuông với một ngôi sao trời

Đánh thức tiềm lực suốt đời

Ai ? – Chẳng ai đáp lại lời của tôi .

 

74. Nguyễn Mạnh Tuấn

Anh đã đứng trước biển

Cù Lao Tràm  kia rồi

Những khoảng cách còn lại

Xa  vời  lắm  anh  ơi .

75. Trần Mạnh Hảo

Ôi thằng Trần Mạnh Hảo

đi phỏng vấn Chí Phèo.

Lão chết từ tám hoánh

đời mày vẫn gieo neo .

Còn cái lão Bá Kiến

đục bản in thơ mày.

Bao giờ mày say rượu

Bao giờ mày ra tay  ?

76Hoàng Cầm

Em ơi buồn làm chi

Em không buồn sao được

Quan họ đã vào hợp tác

Đông Hồ gà lợn nuôi chung

Bên kia sông Đuống em trông

Tìm đâu thấy lá diêu bông hỡi chàng ?

                   77.  Lê Lựu

Người về đồng cói  người ơi

Phía ấy mặt trời mọc lại

Một thời xa vắng xa rồi

Phủ Khoái xin tương oai oái

Ở đời gặp may hơn khôn

Nào ai dám ghen dám cãi

Người đã đi Mỹ hai lần

Biết rồi khổ lắm nói mãi .

                 78. Vũ Quần Phương

Anh đứng thành tro . . . em có biết

Hôm qua lại gặp chuyến xe bò

Vẫn anh đi với vầng trăng cũ

Áo đỏ bên cầu đợi ngẩn ngơ .

                              79. Hữu Loan

Ôi màu tím hoa sim

Nhuộm tím cuộc đời dài đến thế

Cho đến khi tóc bạc da mồi

Chưa làm được nhà

                                còn bận làm người       

Ngoảnh lại ba mươi năm

          tím mấy nghìn

                                 chiều hoang

                                               biền biệt .

80. Lí Văn Sâm

Kòn Trô dấn bước đường chinh chiến

Nửa gánh giang hồ nửa ái ân

Ngàn sau sông Dịch còn tê lạnh

Tráng sĩ có về  với   bến xuân .

81. Tản Đà

Văn chương thuở ấy như bèo

Thương cụ gồng gánh trèo leo tận trời

Giấc mộng lớn đã tốn hơi

Giấc mộng con suốt một đời bơ vơ

Ước chi cụ sống tới giờ

Chợ trời nhan nhản tha hồ bán văn.

                       

82. Lưu Quang Vũ

Cũng muốn tin ở hoa hồng

Tin vào điều không thể mất

Cả tôi và cả chúng ta

đứng trong đầm lầy mà hát :

Ông không phải là bố tôi ,

Con chim sâm cầm đã chết”

 Ông không phải là bố tôi

Con chim sâm cầm ai giết ?

 83. Hà Minh Tuân

Bốn mươi tuổi mới vào đời

Ăn đòn hội chợ tơi bời xác xơ

Giữa hai trận tuyến ngu ngơ

Trong lòng Hà Nội, bây giờ ở đâu  ?

84. Minh Huệ

Vỡ lòng câu thơ viết

Mời Bác ngủ Bác ơi

Đêm nay Bác không ngủ

Nhà  thơ ngủ lâu  rồi .

85. Văn Cao

Thiên Thai  từ giã về dương thế

Nhắc chi ngày ấy buồn lòng ta

Sân đình ngất ngưởng ngôi tiên chỉ

Uống rượu say rồi hát quốc ca .

 

86.  Ma Văn Kháng

Khi về xuôi anh mang theo

đồng bạc trắng hoa xoè

với một mối tình sơn cước

Mùa lá rụng trong vườn

              năm này qua năm khác

Đám cưới vẫn không thành

              giấy giá thú chửa làm xong .

                   

87.  Vũ Bão

 Sắp cưới  bỗng có thằng phá đám

Nên ông chửi bố chúng mày lên

Đầu chày đít thớt đâu còn ngán

Không viết văn thì ông viết phim .

88.  Hồ Dzếnh

Biết mấy mươi chiều khói thuốc bay

Quê nhà vạn dặm khuất trùng mây

Lui về kí ức chân trời cũ

Uống chén ruợu buồn không dám say  .

       

89. Hoàng Phủ Ngọc Tường

Trăm năm ông phủ … Ngọc Tường ôi

Cái nợ lên xanh giũ sạch rồi

Cửa Việt tung hoành con sóng vỗ

Sông Hương lặng lẽ chiếc thuyền trôi

Sử thi thành cổ buồn nao dạ

Chuyện mới Đông Hà tái nhợt môi

Từ biệt chốn xưa nhiều ánh lửa

Trăm năm ông phủ . . .Ngọc Tường ôi !

   

90. Phạm Thị Hoài

Dẫu chín bỏ làm mười

Hay mười hai cũng mặc

Chẳng ai dung thiên sứ đất này

Dụ đồng đội vào trong mê lộ

rồi bỏ đi du hí đến năm ngày .

91. Thanh Thảo

Giặc dã yên rồi

             về xoay khối vuông rubich

Đoán hậu vận rủi may,

                      thưa quí vị xin mời !

Xanh tím trắng đỏ vàng, đều đủ hết

Ta cùng vào cuộc chơi

Không gian bốn năm chiều

                   thời gian xin tuỳ thích

Đảo lộn tùng phèo thật giả trắng đen .

“Tôi như cục xà bông thứ thiệt”

Cứ đổ rượu vào

                    hình quí vị sẽ hiện lên.

         

92. Trần Dần

Người người lớp lớp    

xông ra trận       

Cờ đỏ

             mưa sa

                     suốt dặm dài

Mở đột phá khẩu

             tiến lên

                              nhất định thắng

Lô cốt mấy tầng  đè nát vai

Dẫu sông núi cỏ cây làm chứng

Hồn vẫn treo trên

                         vọng hải đài .

93.  Khương Hữu Dụng

Ba lô lên vai từ đêm Mười chín

Một tiếng chim kêu sáng cả rừng

Thì cứ khắc đi rồi khắc đến

Sao còn ngồi đấy cụ già Khương  ?

 

94. Dương Hương Li  (Bùi Minh Quốc)

  Tuổi hai mươi xung phong lên Tây bắc

 Nguyện hi sinh chiến đấu dưới cờ

 Lại xung phong vào Namđánh giặc

 với bà mẹ đào hầm đầu bạc phơ phơ .

Hoà bình rồi tiến lên đổi mới

bất ngờ ngã ngựa chốn non cao

Dẫu thân thể mang đầy thương tích

thì cuộc đời vẫn đẹp sao

Tình yêu vẫn đẹp sao !

 

95. Ý Nhi

 Trái tim với nỗi nhớ ai

Như cây trong phố đứng hoài chờ trăng

Như người đàn bà ngồi đan

sợi dọc thì rối, sợi ngang thì chùng .

96. Yến Lan

Ra đi từ bến My Lăng

Bao năm dấu kín ánh trăng trong lòng

Tuổi già về lại bến sông

Trăng xưa đã lặn, phải chong đèn dầu .

97. Phan Thị Thanh Nhàn

Giấu một chùm thơ trong chiếc khăn tay

Em hăm hở đi tìm người trao tặng ,

Những kẻ phong lưu, những tên du đãng ,

mấy ai biết hương thầm của cô gái xóm đê  .

98. Trần Đăng Khoa

Chú dế góc sân hồn nhiên ca hát

hát thành thơ như nước triều lên

Khi khôn lớn lại hồn nhiên đi giữa

Biển một bên và em một bên  .

99. Hoàng Lại Giang

 Người đàn bà mà tôi ao ước

Trên vành đai Mỹ những năm xưa

Tình yêu đã lụi tàn cùng ký ức

 Nhưng còn đây tội lỗi, đến bao giờ  ?

100.  Tự hoạ (Xuân Sách)

Cô giáo làng tôi đã chết rồi

một đêm ra trận đất bom vùi

Xót xa Đình Bảng người du kích

Đau đớn Bạch Đằng lũ trẻ côi

Đường tới chiến công gân cốt mỏi

Lối vào lửa đạn tóc da mồi

Mặt trời ảm đạm quê hương 

ở một cung đường rách tả tơi.

 

Nhà xuất bản Văn học

 Lời cuối sách

Tiếp theo cuốn sách THƯƠNG NHỚ TÀI HOA của Nguyễn Vũ Tiềm phác thảo chân dung của 50 nhà thơ nhà văn đã quá cố, những cây bút có những đóng góp đặc sắc cho nền văn học của đất nước, hôm nay Nhà xuất bản Văn học gửi tới bạn đọc một tập hợp khác về chân dung nhà văn .

Đây là những kí hoạ có tính đặc tả của Xuân Sách, những chân dung vốn đã khá phổ biến trong và ngoài giới văn học suốt vài chục năm qua.Tác giả không nêu đích danh một ai, nhưng dưới nét bút phác thảo, những độc giả quan tâm tới văn học và người làm văn học vẫn có thể nhận ra từng đối tượng. Dĩ nhiên thể loại này thường cố ý phóng to những đặc điểm và khi nhìn vào nét đặc tả ấy có mất cân đối và đôi khi phiến diện vẫn dễ dàng nhận ra diện mạo cốt cách từng nhân vật .

Chất vui hóm và nhất là khả năng chơi chữ có thể khiến người ta ngạc nhiên một cách thú vị, nhưng cũng có thể gây nên những sự không hài lòng đây đó . . .

Chúng tôi chỉ coi đây là những nét tự trào của giới cầm bút, cười đấy nhưng cũng tự nhận ra những xót xa, hạn hẹp của chính mình, những gì chưa vượt qua được trên các chặng đường quanh co của lịch sử và thời đại. Tự soi mình hoặc hiểu mình thêm qua cái nhìn của người cùng hội cùng thuyền lắm khi cũng hữu ích. Cái cười trong truyền thống dân gian vốn là vũ khí, ngày nay còn có thể là sức mạnh thúc đẩy đi tới phía trước .

Với ý nghĩ ấy, chúng tôi mong bạn đọc và các nhà văn thông cảm cho những gì bất cập hoặc chưa lột tả được thần thái của từng chân dung. Dù sao đây cũng là 100 bức tranh nhỏ về những người đã có công trong văn học, những người nổi tiếng trong làng văn, trong bạn đọc bằng chính những tác phẩm có giá trị của mình. Bạn đọc và thời gian đã là người đánh giá chính thức và công bằng nhất đối với họ.

 Rất mong độc giả và các nhà văn nhận ra mối chân tình trong cuộc vui của làng văn, và lượng thứ cho những khiếm khuyết .

Chịu trách nhiệm xuất bản: Lữ Huy Nguyên 

Biên tập: Phan Nguyễn

Tái bút của GNLT

Mời xem thêm hai bài viết về Chân dung… trong chuyên mục TƯ liệu văn học.

Chú thích:  (*) Tuần trước Lãng tử nhận được góp ý của một người bạn về mục 49 ghi tên nhà văn Trần Thanh Giao là sai, ghi đúng phải là nhà văn Hoàng Văn Bổn. Lãng tử xin sửa chữa và cảm ơn anh T. Xin đăng ảnh chụp bià 1 cuốn sách xuất bản lần đầu do anh bạn gửi tặng.

19/9/2013

GNLT

Comments on: "CHÂN DUNG 100 NHÀ VĂN" (5)

  1. Xin hỏi thầy Ngọc đã có cuốn này chưa?

  2. cảm on ban An Dung cho biết có bản gốc sẽ gưi cho chủ blog hầu điều chỉnh một số sai sót.
    TỪ hôm qua bệnh nên chưa vào inbox, chưa kịp đọc phản hồi của bạn AD

  3. Chào bác Ngọc,
    Mục 86. Ma Văn Kháng có Mùa lá rụng trong vườn phải in nghiêng. Kịch này nổi tiếng lắm, từ cái truyện vừa cùng tên của bác í. Nhớ mãi cái câu bà vợ đứng ngẩn ra rồi bảo ông chồng suốt ngày ngáp ngủ “Ờ, mà tai sao tôi lại lấy ông, ông Đông nhỉ”. Không biết trong truyện có câu ấy không.
    90. Phạm Thị Hoài có Chín bỏ làm mười, đã dịch ra tiếng Anh.
    92. Trần Dần có Người người lớp lớp cũng nổi mà. Còn “mưa sa” với “cờ đỏ” chỉ là câu thơ bị “đánh” thôi, không phải bài. Hình như cả “Vọng hải đài” nữa cũng tên 1 bài.

    • Cảm ơn bạn Viễn đã nhắc nhở, Lãng tử đã điều chỉnh.
      Một số từ ngữ trong tác phẩm cũng được in nghiêng,(Trong LỜI NGƯỜI GÕ VI TÍNH đã ghi qui ước: Lưu ý: những chữ in nghiêng là tên tác phẩm hoặc câu thơ, câu văn của nhà thơ, nhà văn).”Mùa lá rụng trong vườn” là tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, không tính là “vở kịch” (đó chỉ là chuyển thể, cải biên…).

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 95 other followers

%d bloggers like this: