"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

BVN 24/02/2018

Bàn về hành động chung 

BÙI TÍN / VOA
Liu ông tng bí thư có dám làm mt cuc « trưng cu dân ý » hay mt cuc tho lun dân ch trong đng t chi b cơ s tr lên?
 
Bước vào năm mới, mọi người Việt Nam đều mong muốn cầu chúc đất nước đổi mới và phát triển hài hòa với tốc độ cao để thành tựu mọi mặt toàn dân cùng chung hưởng.
Thế nhưng nguyện vọng chính đáng, cháy bỏng này của cộng đồng không thể thành hiện thực vì vấp phải cái thành trì kiên cố của bảo thủ mà tiêu biểu là «8 điều kiên trì » mà tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính trị dưới quyền ông một mực bảo vệ đến cùng.
Xin nhắc lại, đó là 8 điều về đường lối, chính sách của đảng Cộng sản: Kiên trì học thuyết Mác-Lênin, kiên trì chế độ độc đảng, kiên trì nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kiên trì mô hình tam quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp gắn chặt không phân lập do đảng thống nhất lãnh đạo, kiên trì phương châm « đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thay mặt quản lý », kiên trì đường lối coi « sở hữu quốc doanh là chủ đạo », kiên trì chính sách đối ngoại ngả hẳn về một bên (nhất biên đảo) với chính sách 3 không (không có căn cứ quân sự, không có quân đội nước ngoài đóng trên lãnh thổ ta, không liên minh với nước này để chống nước khác).
Đã có rất nhiều nghị quyết về đổi mới, có cả nghị quyết về « đổi mới mô hình cai trị », « đổi mới ngành tư pháp », nhưng 8 điều kiên trì trên đây đã nghiễm nhiên xóa bỏ, phủ định, cản trở, nên tuy đổi mới nhưng không có gì thật mới, còn giáo điều, thủ cựu, cực đoan hơn trước. Sự kiên trì bệnh hoạn ngoan cố dẫn đến cái Nghị quyết 102 về kỷ luật đảng viên có 1 không 2, là hễ đảng viên nào có ý kiến chủ trương đa đảng, 3 quyền phân lập, khuyến khích các tổ chức xã hội dân sự là bị khai trừ, đuổi ngay ra khỏi đảng.
Đây là thái độ mang tính chất phát xít phản dân chủ, cũng là thái độ hốt hoảng run sợ trước sự thức tỉnh của quần chúng và không ít đảng viên trí thức và đoàn viên thanh niên có mong muốn chân thành xây dựng nền dân chủ văn minh của thời đại, sự thức tỉnh mà ông tổng bí thư chụp mũ là cái nguy cơ « nhạt đảng, nhạt đoàn, lung lay niềm tin ở đảng và chế độ, bị ảnh hưởng của bọn phản động ».
Nếu ông tổng Trọng huênh hoang rằng ý đảng hợp với lòng dân, vậy ông có dám làm một cuộc « trưng cầu dân ý » hay làm một cuộc thảo luận dân chủ trong đảng từ chi bộ cơ sở trở lên, có biểu quyết và ghi biên bản hẳn hoi xem còn có bao nhiêu đảng viên tin ở học thuyết Mác-Lê, ở chế độ độc đảng, ở tam quyền gắn bó, ở chính sách đối ngoại « nhất biên đảo » theo Trung Cộng… ? Ngay trong Bộ Chính trị hãy làm một cuộc phát biểu công khai từng người xem, sự nhất trí ra sao, ở mức nào. Có phải toàn đảng đều lú cả hay không?
Có thể nói « 8 điều kiên định » trên đây là nét đặc thù chính trị của riêng ông tổng Trọng, mà tất cả các tổng bí thư trước ông không ai dám « kiên định », đây là cái lô cốt bảo thủ – giáo điều phản dân tộc – phản nhân dân – phản thời đại nguy hiểm nhất hiện nay mà mọi lực lượng dân tộc – dân chủ trong và ngoài nước phải đương đầu, có nhiệm vụ phá bỏ để cứu nguy dân tộc.
Ông tổng Trọng đã ngang nhiên bỏ ngoài tai bao nhiêu là góp ý, kiến nghị, đề đạt, thuyết phục, những lời tâm huyết của nhân sĩ, trí thức, đảng viên, như các ông Nguyễn Trung, thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, trung tướng Đặng Quốc Bảo, nhà lão thành Nguyễn Khắc Mai, trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nhà văn Nguyên Ngọc, nữ nghệ sỹ Kim Chi, đại tá về hưu Nguyễn Đăng Quang… cũng như của hàng mấy trăm chiến sĩ dân chủ trong hơn 40 tổ chức xã hội dân sự non trẻ mà kiên định vững vàng kết keo sơn chống chế độ độc đảng độc đoán đã lỗi thời, một chế độ gần như hết hơi vì lạc lõng trong thế giới mới hiện đại văn minh.
Cho nên năm 2018 – Mậu Tuất phải là năm toàn dân phất cao lá cờ Dân chủ và Nhân quyền, các tổ chức dân chủ hiệp thương cho ra mắt một tổ chức kết hợp nhau đấu tranh cho một đồng thuận, một lộ trình đi đến một mục tiêu thống nhất là một mô hình dân chủ đa nguyên mà tình thế đòi hỏi.
Lộ trình này khi hình thành chắc chắn sẽ được thế giới dân chủ hết lòng ủng hộ và yểm trợ, vì thế giới rất cần đến một Việt Nam dân chủ vững mạnh để đương đầu với mưu đồ bá chủ của Trung Cộng. Thái độ giả làm bạn với mọi nước nhưng « nhất biên đảo » không che mắt được thế giới dân chủ, chỉ làm cho nước Việt nam xã hội chủ nghĩa bị cô lập giữa thế giới đang phân cực.
Theo phương hướng và mục tiêu trên đây chúng ta phải làm gì?
Để cho dân tộc được đổi đời, chế độ được đổi mới theo mô hình cai trị tiên tiến, có rất nhiều việc phải làm cho mọi người tự nguyện dấn thân vì đại nghĩa.
Từ việc thông tin truyền thông để xã hội nắm bắt tình hình, tuyên truyền giáo dục nâng cao dân trí, tăng cường dân khí, hướng dẫn nhân dân hành động. Từ việc thức tỉnh đồng bào trong ngoài nước dám cũng đứng lên đồng lọat theo hành động chung cứu nước đến việc tiếp cận các chính quyền dân chủ ở Hoa Kỳ, Liên Âu – nhất là CHLB Đức, ở Canada, Úc châu… vận động bền bỉ và có hiệu quả các tổ chức quốc tế bênh vực nhân quyền và ở Liên Hợp Quốc. Từ việc họp hành của các tổ chức xã hội dân sự để trao đổi tình hình, ra tuyên ngôn, tuyên bố, kêu gọi, kiến nghị theo lộ trình và mô hình nói trên đến việc bàn bạc để có những cuộc xuống đường đồng loạt quy mô, là cả một khối lượng công việc không nhỏ của hàng triệu con người yêu nước thương dân cần làm.
Hành động! hành động! hành động! phài là châm ngôn chung.
Đầu năm chúng ta phấn chấn được tin vui, cô Cấn Thị Thêu, chiến sĩ can trường bênh dân oan được tự do trở về trong những cánh tay anh chị em thân thiết, cô Đoan Trang năng động trong hàng động và viết sách « Chính trị bình dân » được quốc tế vinh danh làm nức lòng chúng ta. Nhạc sỹ Việt Khang mang bài hát « Anh là ai » và « Việt Nam tôi đâu » ra thế giới tự do được đón tiếp thân tình., đầm ấm. Bản tin quốc tế « NOW » – « Ngay bây giờ, » đựoc phát hành rộng đòi trả tự do ngay cho 166 tù nhân chính trị, phần lớn là các chiến sỹ dân chủ và dân oan mất đất; bản tin ghi rõ 166 danh xưng với tiểu sử tỉ mỉ, được cập nhật từng ngày.
Theo kinh nghiệm lịch sử thì hành động cuối cùng có hiệu quả hơn cả là tổ chức biểu tình, tuần hành không bạo động nhưng bền bỉ quyết liệt, can trường theo những khẩu hiệu thích hợp. Đó là sức mạnh vô địch của lòng dân của hàng triệu quần chúng giác ngộ có thể làm nên lịch sử.
Đó là hàng triệu dân Ấn Độ theo gót chân của Mahatma Gandhi, là hàng triệu dân Nam Phi theo lá cờ của Nelson Mandela, là hàng chục vạn dân Tunisia, Ê-gýp, Libya gần đây. Đó cũng là hàng vạn dân Balan dưới ngọn cờ Công đoàn Đoàn kết, hàng chục vạn dân Tiệp khắc theo lời kêu gọi của Hiến chương 77, của hàng vạn dân Potsdam/Đông Đức và vùng lân cận xuống đường làm sụp đổ bức tường oan nghiệt Berlin cuối năm 1989.
Theo các học giả, trí thức Tiệp trong Hiến chương 77, các « cuộc nổi dậy không bạo lực mang sức mạnh vô biên của những kẻ không quyền lực », có khả năng hạ bệ những quyền lực hung hãn nhất. Đây là chân lý thời đại mỗi người Việt Nam dấn thân hãy nghiền ngẫm và cùng đồng tâm thực hiện và chứng minh.
Ở Việt nam ta, đã có những cuộc xuống đường quy mô hàng nghìn đến hàng vạn của những người dân không quyền lực có trái tim đầy hứng khởi, chống bành trướng, chống tai họa bôxit, tai họa Formosa, chống ô nhiễm môi trường, chống tham nhũng, chống BOT, kỷ niệm các liệt sĩ Hoàng Sa, Trường Sa, biên giới phía Nam và biên giới phía Bắc… có khí thế bền bỉ bất khuất, bảo vệ nhau chống bọn côn đồ cùng công an hung hãn.
Có những cuộc xuống đường hòa bình đòi tự do tôn giáo của bà con Xã Đoài Nghệ an đạt đỉnh cao 4 đến 5 ngàn người, có trật tự trong cầu nguyện và niềm tin, buộc hàng tiểu đoàn công an định phá đám đàn áp phải nao núng đứng nhìn rồi cuốn gói chuồn thẳng. Cả một kho kinh nghiệm sống về liên kết đấu tranh, về tổ chức hàng ngũ, giữ trật tự vệ sinh công cộng, công tác tuyên truyền cổ động, hướng dẫn nhân dân, vận động lực lượng đàn áp, đưa ra các khẩu hiệu thích hợp, công tác hậu cần, vận động liên tôn nhiều tôn giáo kết hợp, liên tôn với các tổ chức xã hội dân sự khác cùng chung sức đấu tranh. Xuống đường bền bỉ kéo dài vài ngày của các lực lượng dân sự cùng chung hàng ngũ với mọi tín đồ các tôn giáo là cả một thử thách, một khoa học và nghệ thuật đấu tranh dẫn đến thắng lợi từng bước và thắng lợi hoàn toàn.
Trong năm 2018, Mậu Tuất này, khả năng trong nước có những cuộc xuống đường đòi dân chủ, nhân quyền, đòi quyền sống tự do không bị cướp đất, cướp của, không có tham nhũng cửa quyền, đòi tự do cho 170 chiến sỹ dân chủ bị cầm tù… lên đến hàng vài ngàn đến 10 ngàn, 20 ngàn dân là hoàn toàn trong tầm tay, khi lòng đã đồng, tâm đã quyết. Lòng dân là ý Trời.
Đứng riêng 1 người, ta chỉ là con số không, không tác dụng. Đứng chung trong hàng ngũ hàng ngàn, chục ngàn, chúng ta là hàng chục, hàng trăm ngàn con sóng Tsunami có thể cuốn phăng những lô cốt cộng sản « 8 kiên trì » xây trên cát lỏng của quá khứ cổ lỗ thời mácxit đã suy tàn vĩnh viễn.
B. T. Tác giả gửi BVN
Advertisements

VIỆT CỔ: CÁI NÔI CỦA VĂN MINH CHÂU Á

 Tao Babe

 
Hà Văn Thuỳ giới thiệu “Cô gái làm sụp đổ nền ngụy khoa học”
 
Bạn tôi, ông Alan J. Patterson, người Canada, là cơ trưởng của Hãng máy bay Boeing. Sau phần đời dài lang thang khắp bầu trời thế giới, ông chọn nơi đậu cuối cùng là Sài Gòn, bên cạnh người vợ Việt Nam quá cố. Ông đang giúp tôi hiệu đính bản tiếng Anh cuốn Viết lại lịch sử Trung Hoa. Ông gửi tôi bài báo của cô gái người Việt ở Mỹ, nhan đề Ancient Việt: Cradle of Asian Civilization. Theo link từ bài viết, tôi vào trang https://taobabe.wordpress.com, gặp cô gái còn rất trẻ có bút danh Tao Babe. Người phương Tây không hiểu nghĩa bút danh này nhưng theo tôi, phải chăng là Bé Tạo hay Con Tạo? Nếu vậy cô bé muốn làm Tạo Hóa? Có thể, vì cô cho rằng mình là người đầu tiên khám phá sự thật về lịch sử dân tộc Việt! Cô bé viết, từ khi còn nhỏ, cô luôn buồn tủi vì được dạy rằng tổ tiên cô bất tài vô dụng không làm nên chuyện gì cho nhân loại. Đồng bào cô sống gần như trần truồng đói khổ bên cạnh Trung Quốc hùng cường với nền văn minh vĩ đại. Nhưng rồi cô là người đầu tiên phát hiện: tổ tiên cô sinh ra các dân tộc châu Á. Toàn bộ nền văn minh phương Đông trước năm 111 BC đều là của người Việt. Khi viết những dòng như vậy, tim cô rộn niềm vui…
 
Đọc cô, tôi gặp lại mình, vào một đêm tháng Tám năm 2004, choáng váng như say sóng khi biết rằng người Homo sapiens từ châu Phi theo ven biển Ấn Độ tới Việt Nam 70.000 năm trước… Những thông tin gây chấn động. Không chỉ dẫn tới viết lại lịch sử mà còn làm thay đổi vận mệnh dân tộc! Tôi dừng công việc văn chương, tập trung tâm trí tìm về cội nguồn. Từ đó cho ra những tiểu luận và những cuốn sách. Điều lạ lùng là, suốt những năm tháng ấy, tôi nói tiếng Việt giữa cộng đồng người Việt mà như độc thoại cùng sa mạc. Không một học giả nào đáp lại tôi, dù đồng tình hay phản đối. Sách của tôi họ liếc qua rồi vứt xó. Họ khép cửa phòng hì hục sao chép những điều tưởng như tuyệt vời trí tuệ nhưng thực ra là dối trá và ngớ ngẩn! Là những người được đặc tuyển, họ cho mình độc quyền ban phát chân lý! “Hà Văn Thùy ư? Một kẻ ghen ăn tức ở, thấy ông Nguyễn Tài Cẩn quá nổi tiếng thì quậy phá!” Một vị chức sắc trong môi trường Đại học tuyên bố. “Hà Văn Thùy chỉ là một thường dân. Ở phương Tây không có chuyện thường dân phê phán các giáo sư!” Vị giáo sư đại học Mỹ phán. “ Ông ta chỉ cóp nhặt trên mạng về rồi viết nhăng cuội, không đáng tin!” Một vị giáo sư khác phát biểu. Họ kê cao gối ngủ trên tấm đệm kiến thức bốc mùi. Yên chí lớn: chỉ khi mình mở mắt thì trời mới được sáng!
 
Trong khi đó một cô gái trẻ, tuổi chỉ bằng con cháu họ nói với họ chính những điều Hà Văn Thùy từng nói. Nghe hay không, không còn là việc riêng của họ! Một điều chắc chắn, như giọt nước tràn ly chính cô gái trẻ này sẽ làm sụp đổ nền học thuật dối trá và ngu dân họ đã tạo dựng. Dưới chân cô, những bộ “cuốc sử” mới ra đời hay đương hoài thai trở thành nỗi ô nhục của những người tự xưng là trí thức!
 
Hà Văn Thùy
Tôi sinh ra ở Việt Nam.
Khi viết những lời này, tôi suy nghĩ tới ý nghĩa thực sự và sâu sắc nhất của chúng. Ra khỏi cái bóng tối tăm của quê hương tôi trong quá khứ, trộn lẫn sương mù và khói thuốc pháo, tôi hầu như không thể nhìn thấy diện mạo của những người đến trước tôi; những khuôn mặt quen thuộc thoáng qua của một ngàn năm xa vắng; những người tự gọi mình là người Việt Nam.
Khói và sương mù trở nên dày hơn, xa xăm hơn, tôi cố gắng nhìn thấu. Sau hai ngàn năm, không khuôn mặt nào còn lại, chỉ có những hình ảnh mơ hồ. Quá khứ, chỉ có bóng tối. Và nó ở lại … hàng ngàn năm Bóng Tối.
Tôi lớn lên với ý nghĩ, chúng ta chỉ là một phần nhỏ bé của một nền văn minh khổng lồ và mạnh mẽ ở phía bắc, xa hơn rất nhiều trong lịch sử được ghi lại; một nền văn minh đã phát minh ra hàng ngàn điều quan trọng, từ gốm, giấy, lụa. Đối với người Việt Nam, chúng tôi đã được chứng minh là hoàn toàn không có sáng tạo, tích cực gì; xã hội của chúng ta không có kỹ thuật và tiên tiến đủ để có những người khổng lồ tinh thần có khả năng làm những kỳ công như vậy. Tôi nghĩ rằng chúng tôi đã phát minh ra nước mắm, nhưng rồi cũng thất bại trong cuộc tranh luận vì trong lịch sử, người Hy Lạp đã khẳng định trước ý tưởng đó.
Người Trung Quốc ở phía Bắc là một quốc gia giàu có và mạnh mẽ mà chúng tôi là những người nghèo khó ở phía nam, những người hầu như trần truồng và đói khát. Tôi lớn lên với suy nghĩ rằng sở dĩ tiếng nói và phong tục tập quán Việt tương tự như Trung Quốc bởi vì chúng tôi đã sao chép chúng, mà không hề có nguyên bản gốc của mình.
Tôi rất xin lỗi.
Tôi chỉ có thể xin tổ tiên của tôi tha thứ. Tôi không biết. Làm thế nào tôi biết được? Chúng tôi chưa bao giờ biết sự thật, và sự thật là: 
Đất Việt cổ, phía nam sông Hoàng Hà, là cái nôi của nền văn minh châu Á!
Vậy làm sao chúng tôi có thể trở thành cái nôi của nền văn minh châu Á? Rõ ràng, chúng tôi không có các tác phẩm lịch sử ghi lại điều này. Tất cả lịch sử lâu đời và nổi tiếng của chúng tôi đã bị xoá bỏ hơn hai ngàn năm trước và bị đàn áp trong đau đớn và chết chóc. Và ngoài ra, các bài viết lịch sử không phải bao giờ cũng là chứng cứ bởi lẽ mọi người đều biết lịch sử được viết bởi những người chiến thắng và không nhất thiết gần với sự thật.
Không, đây là một tuyên bố phi thường, và như Carl Sagan nói, ‘yêu sách phi thường đòi hỏi phải có bằng chứng phi thường.’ Vì vậy, với ít tác phẩm lịch sử trưng dẫn này, cái “bằng chứng bất thường của tôi”đến từ đâu? Hai từ-khảo cổ di truyền học và khảo cổ học.
Khảo cổ di truyền học
Hãy bắt đầu với Archaeogenetics (khảo cổ di truyền học), vì nó có các gen để tìm ra những người tạo ra một nền văn minh. Archaeogenetics là một phương pháp tương đối mới để nghiên cứu khoa học quá khứ của con người bằng cách áp dụng các kỹ thuật di truyền phân tử: phân tích ADN thu được từ các di tích khảo cổ học, phân tích ADN từ dân số hiện đại và áp dụng các phương pháp toán thống kê các tài liệu khảo cổ học và vật liệu di truyền.
Phương pháp này gần đây đã có sẵn do công việc đột phá của các nhà di truyền học khám phá bộ gen của con người. Với bản in màu xanh khoa học này, các nhà khoa học đã có thể khảo sát dòng dõi con người từ quá khứ xa xôi và làm sáng tỏ những gì trước đây không rõ ràng.
Đây là tuyên bố công khai mở từ một tài liệu được phát hành vào năm 1992 bởi một nhóm các nhà di truyền học thuộc Hiệp hội Di truyền Hoa Kỳ.
DNA của ty thể (mtDNAs) từ 153 mẫu độc lập bao gồm bảy quần thể châu Á đã được khảo sát về biến thể tuần tự bằng cách sử dụng phản ứng chuỗi polymerase (PCR), phân tích endonuclease hạn chế và lai tạo oligonucleotide.
Tất cả các quần thể châu Á chia sẻ hai hình thái đa dạng sinh học AluIIDdI cổ ở 10394 và 10397 và tương tự về mặt di truyền cho thấy chúng có chung tổ tiên. Sự đa dạng mtDNA lớn nhất và tần số cao nhất của mtDNAs với HfiaI / HincII morph 1 đã được quan sát thấy ở người Việt Nam cho thấy một nguồn gốc Mongoloid Nam của người châu Á.
Tần số đa dạng cao của người Việt Nam và tần số cao của HincII / H # aI morph 1 haplotypes cho thấy phía Nam Trung Quốc là trung tâm của phát tán mtDNA châu Á (BLANC et al.1983) … Các tần số cao của nhóm haplotype xóa D * mtDNAs ở Đông Nam Á, các hòn đảo Thái Bình Dương và Thế giới Mới ngụ ý rằng những người di cư mang nhãn hiệu này là hậu duệ từ một cộng đồng người sáng lập đơn lẻ. ( Hiệp hội Genetics của Mỹ) * Nghiên cứu kỹ càng của về trình tự gen của họ đã cho thấy một sự thật đáng kinh ngạc: “Dữ liệu cung cấp bằng chứng cho thấy người Việt Nam đa dạng nhất, và do đó, dân số già nhất.” * Điều này có nghĩa là (trống vui lòng), lịch sử mà con người liên quan đến chúng ta, thực hiện những lời dạy thầm vì thiếu bằng chứng bằng văn bản, về Đế quốc Việt Nam vĩ đại của chúng ta, thật sự là tất cả.
Khảo cổ học
Bây giờ chúng ta đến với Khảo cổ học. Sách có thể bị đốt cháy và các nhà sử học có thể bị chôn sống để trấn áp sự thật và lịch sử, nhưng số lượng lớn các hiện vật cổ xưa nằm không bị xáo trộn, dưới lòng đất ngàn năm không dễ bị phá hủy như vậy. Với việc khôi phục các hiện vật cũng đi đến sự phục hồi của quá khứ cổ xưa của nhân dân tôi.
Tất cả những gì cần làm là:
1) Xác định di cốt và những thứ khác
2) Niên đại của chúng
3) Ghi lại các vị trí địa chất của chúng
Sự thật sẽ xuất hiện một khi các hiện vật cổ đã được tìm thấy.
Niên đại và vị trí là rất quan trọng bởi vì trước năm 111 TCN, khu vực Nam sông Dương Tử, từ Thái Bình Dương đến biên giới phía đông của Miến Điện, là toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Bản đồ dưới đây cho biết đâu là lãnh thổ của Việt Nam và được gọi là gì.
Bản đồ này không cho thấy Đài Loan, mặc dù các mô hình di cư cho thấy tổ tiên cổ của tôi đã đi tới đảo đó ít nhất là ba đợt liên tiếp. Làn sóng đầu tiên là vào năm 4.000 trước Công nguyên từ khu vực gần Hòa Bình (trong vùng Bắc Việt Nam hiện nay). Dụng cụ đá và vật liệu di truyền từ các mảnh xương khớp với những vật liệu được tìm thấy từ cả hai địa điểm. Làn sóng thứ hai xuất phát từ khu vực Bắc Sơn (cũng tại Bắc Việt Nam ngày nay) và cũng có các công cụ, rìu, di truyền, vv … làn sóng thứ ba là đa dạng nhất, đến từ Java và Malaysia. Đợtg cuối cùng này định cư dọc theo khu vực duyên hải miền Trung Việt Nam và tạo nên người Champa ngày nay (mô hình chuyển đổi này sẽ được trình bày kỹ hơn trong bài đăng sau).
Bản đồ cho thấy thời cổ đại Bách Việt (百越 / 百 粵) cổ xưa như thế nào. Thuật ngữ Bách Việt có nghĩa là một trăm bộ lạc người Việt, nối lại câu chuyện cổ đại của Lạc Long Quân và Âu Cơ, và 100 con của họ sinh ra từ một túi trứng với 100 quả trứng. Mặc dù thần thoại giống như câu chuyện cổ tích của trẻ em nhưng nó là nghiên cứu khoa học về di truyền học xác định sự lan rộng địa lý của người Việt Nam trong khu vực đó chứ không phải trí tưởng tượng kỳ diệu của ai đó về một quá khứ vinh quang mà có thể hoặc không thể tồn tại.
Bất cứ thứ gì tìm thấy trong vùng đó có niên đại trước năm 111 TCN là nguồn gốc Việt Nam vì đó là nơi mà người Việt Nam đã sống hàng ngàn năm trước năm 111 TCN. Vâng, bây giờ là lãnh thổ Trung Quốc và bất cứ điều gì xảy ra sau năm 111 TCN đều có thể được Trung Quốc tuyên bố chủ quyền, nhưng điều đó không phủ nhận thực tế là người Việt Nam sống ở khu vực đó trước khi bị người Hán chiếm giữ. Điều này có nghĩa là bất kỳ hiện vật cổ nào cũng phải thuộc về người Việt Nam chứ không phải người Hán.
Vì tôi không thể đi vào chi tiết của tất cả các hiện vật khác nhau có nguồn gốc Việt Nam do phạm vi bài viết nhỏ này, bây giờ tôi sẽ tập trung vào gốm sứ. Tôi sẽ cố gắng tìm hiểu chi tiết những khám phá khảo cổ khác trong các bài đăng sau này.
Theo LADIR Dynamics, Phòng thí nghiệm Tương tác và Phản ứng ở Đại học Paris 6, các miếng gốm cổ có từ 4000 năm trước Công nguyên (đã hơn 6.000 năm trước). Trong phân tích của họ, đồ sứ và đồ trang sức đã xuất hiện ở khu vực Đông Nam Á, nơi người Việt đang sinh sống vào thời đó.
Những mảnh gốm cổ nhất (<4000 B.C.) được tìm thấy ở Đài Loan, ở Philippines và ở Việt Nam. Các đồ gốm sứ Việt Nam đầu tiên có từ thời Hùng (700 TCN). Mẫu vật bao gồm từ màu nâu đỏ đến màu be-vàng, từ màu xám đến trắng, và phong cách của chúng rất đơn giản, theo truyền thống Phật giáo. Đồ gốm Celadon xuất hiện với sự độc lập về chính trị, dưới triều Lý (1009-1225) và Trần (1225-1400) và trở nên phổ biến ở Trung Quốc.
Cũng có bằng chứng bằng văn bản về điều này vẫn còn tồn tại ở Mông Cổ theo yêu cầu của Kubilai Khan:
Kubilai Khan, vị hoàng đế Mông Cổ, đã yêu cầu “bát sứ trắng” bao gồm trong cống mà ông hoàng của Việt Nam nợ ông. Các đồ gốm đơn sắc của Lý và Trần được phủ ba loại men (màu ngà, nâu và ngọc bích); chúng bao gồm các bình lớn, bát, đĩa, chén, bình, và có thể được trang trí bằng lá, hoa, động vật, v.v.
Các phân tích cũng xác định loại đất sét, nguyên liệu cùng các kỹ thuật được sử dụng và khu vực địa lý mà đất sét được lấy.
Cấu trúc vi mô của gốm sứ chứa rất nhiều thông tin về các kỹ thuật và vật liệu được sử dụng vào thời điểm đó. Nhờ quang phổ Raman, thành phần có thể được phân tích mà không gây nguy hiểm cho bản thân đối tượng. Có vẻ như đồ gốm Việt Nam có tỷ lệ ôxít sắt tương đối cao, nó giải thích màu sắc của chúng, cũng như oxit kali và đặc biệt là nhôm (> 30%) và phải được nung ở nhiệt độ rất cao. Quang phổ Raman có thể cho thấy sự khác biệt giữa các bản sao hiện đại và cổ đại.
Với tất cả những bằng chứng này, tôi đã nhận ra rằng tổ tiên tôi là một đế quốc hùng mạnh một thời, rộng khắp khắp lục địa Châu Á. Chúng tôi đã có một quá khứ dài và nổi tiếng, đầy những anh hùng vĩ đại và các vị vua hùng mạnh.
Người dân chúng ta lan rộng khắp nơi, di cư đến các vùng đất xa về phía bắc của nước Việt Nam ngày nay. Các gen của chúng ta-máu mẹ của chúng ta chảy qua anh em chúng ta ở phía bắc (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) và phía Nam (Malaysia, Indonesia, Philippines).
Sự thật đau đớn là, chúng ta là một đế chế sụp đổ. Chúng ta đã mất lịch sử, chữ viết, kiến thức, mất cả mối quan hệ máu máu huyết với đất nước chúng ta, thậm chí chúng ta đã mất đi ký ức về vương quốc hùng mạnh đó. Nhưng từ tro tàn, một con phượng mới tri thức sống dậy. Sự thật đã giải phóng tôi khỏi phức cảm tự ti mà tôi thường mang theo từ khi còn nhỏ.
Bây giờ tôi biết rằng chúng tôi đã không sao chép bất cứ ai và chúng tôi không phải là kẻ bắt chước. Kiến thức và trí tuệ của chúng tôi đã được kết hợp chặt chẽ với lối sống Hán, ngôn ngữ và phong tục của chúng tôi, lộn xộn và đồng hóa cho đến khi chúng tôi, những đứa trẻ Việt Nam, thậm chí còn không nhận ra nó là gì, như đã từng thuộc về chúng ta. Nhưng trong động mạch và tĩnh mạch của tôi chảy dòng máu cổ từ một đế chế tuyệt vời và vinh quang. Ngay cả khi tôi là người duy nhất nhận ra điều này, ít nhất trong khi tôi vẫn còn sống, những ký ức về tổ tiên của tôi vẫn còn.
Hầu hết người Hán miền Nam trên thực tế là người lai hoặc người Việt / Yueh hoàn toàn. Máu không bao giờ bị mất vì hầu hết người Hán ở Giang Nam vẫn có thể cảm nhận được một số kết nối với Việt Nam. Thử nghiệm DNA không nói dối. Miền Bắc Việt Nam không khác biệt với người Hán phía Nam Trung Quốc.
T.B.

HÀ NỘI NHẢY MÚA LỐ BỊCH QUANH TƯỢNG ĐÀI LÝ THÁI TỔ  MƯU ĐỒ NGĂN CẢN thắp nhang TƯỞNG NIỆM 17/2 (MÙNG 2 TẾT MẬU TUẤT)

 Phùng Hoài Ngọc

*** 

Tràn ngập FB năm nay là con số 17/2 và hình ảnh biên giới.

Năm 2015 bọn vong quốc nô ở Hà Nội đã theo một sự chỉ đạo nào đó, bày trò ngăn cản người thắp nhang tưởng niệm 17/2.

Bắt đầu từ sự kiện ngày 17/2/2014, ở Bờ Hồ có một đám cụ già cưa sừng làm nghé và đoàn viên thanh niên DLV (dư luận viên hoặc Lực lượng 47) nhảy múa tung tăng chiếm chỗ quảng trường tượng đài Lý Thái Tổ. Ai đó đã xua họ ra đây nhằm cản trở Cuộc tưởng niệm chiến tranh biên giới 1979.

Tức cảnh, thi nhân Thái Hữu Tình viết bài thơ “Vong quốc nô nhảy bài vong quốc vũ”, trích một khổ thơ:

 “Không một nén nhang

Tri ân những anh hùng tử trận ?

Lại xua một lũ “bất tri vong quốc hận”

Nhảy múa lăng nhăng cho đẹp ý quân thù !”

NHAY MUA CHIEM CHO TUONG DAI LI THAI TO

Năm nay, ngày 17 tháng 2/2018 (mùng 2 Tết Mậu Tuất), một số anh chị em nhân sĩ trí thức không hẹn nhau đi tưởng niệm, ai đến sớm thì thắp nhang sớm, ai đến sau thắp sau.

Những người đến trước 8 giờ sáng mùng 2 Tết thấy nơi đây còn vắng. Nhìn ra xa thấy có vài xe an ninh có vẻ ngái ngủ đỗ bên lề đường, ngoài ra không có bóng sắc phục nào. Chỉ có một sắc phục tản bộ thong thả qua lại, vẻ yên tâm lắm.

BH 4

Những người đến sau thấy một bọn người phần nhiều tuổi sồn sồn, ôm nhau nhảy múa nhưng mắt liếc ngang dọc, vẻ mặt đầy…sát khí. Không có vẻ gì là đến đây khiêu vũ cho thư giãn giải trí. Bọn người này cố tình đứng giăng ra, chiếm chỗ bao quanh chân tượng Lý Thái Tổ để ngăn cản người đến viếng và thắp nhang. Chúng còn mở cassettes ầm ĩ gây nhiễu không khí trang nghiêm tưởng niệm.

(Người đi khiêu vũ sinh hoạt bình thường đến phòng khiêu vũ vào buổi tối nơicó  trang trí ánh sáng âm thanh thích hợp, kèm thêm giải khát). Chẳng thể có người dân lương thiện Hà thành nào đi khiêu vũ công cộng sáng mùng 2 Tết- cái ngày Tết bên ngoại, tết Mẹ theo truyền thống.

Còn đây, một cặp đôi nét mặt căng thẳng rất ngầu, chẳng phải người khiêu vũ.

bh 3

Nếu ai đã từng đi khiêu vũ, những cặp đôi bình thường nhìn nhau trao đổi chuyện trò giao lưu thoải mái. Bọ người này có vẻ đang làm nhiệm vụ “chính trị”…

 Và đây: ba cô DLV không có đối tác thì đứng tạo dáng chụp hình với nhau:

BH 2

Nghe bạn hữu trên Fb  nói đây là “sáng kiến” của hệ thống chính trị phường Tràng Tiền quận Hoàn Kiếm cố tình “lập công dâng Đảng và dâng Tàu cộng”.

Người Hà Nội thanh lịch không bao giờ làm trò khỉ trò mèo như thế này.

Cụ bà Lê Hiền Đức đến gần khuyên bảo một mụ nặc nô. Mụ này nhe răng giơ nắm đấm đe doạ hành hung cụ bà.

BH 1

Nhà thơ Thái Thăng Long sau khi đi tưởng niệm biên giới về đến Bờ Hồ Hà Nội, cám cảnh viết bài thơ:

 TƯỞNG NIỆM !

Hoa đào năm xưa vẫn còn vương máu

Gần 40 mươi năm

Thuốc súng khét vẹn nguyên

Nghìn nầm mồ cỏ xanh bên

Nghìn căm hận

Những trái tim mãi đập…

Máu chảy về đây

Mà hồn câm lặng

Bán nước trong điệu luân vũ xập xình…

Bán nước để cầu vinh

Bán nước trong nỗi đau uất nghẹn

Vị Xuyên, Đồng Đăng, máu thấm đỏ Lão sơn…

Có ai đứng bên đường khóc

Thành phố không yên lặng

Máu đỏ, hoa đào giá lạnh sưởi lòng ta

Có một ngày không xa

Có một ngày sẽ đến

Thành phố đêm đêm hát dưới Tự do…

TTL

 

Báo Tuổi trẻ 17/2: “Đón tết, đừng quên dưới bóng hoa đào…” 

Lê Đức Dục

***

Giang Nam lãng tử thích nhất câu này, đó là lời trách móc nặng tựa thái sơn :

Chúng ta nhìn lại chiến tranh biên giới, trước hết là để học bài học cho chính mình: cái gì lẽ ra đã có thể tránh được, cái gì cần nhớ để nhắc lại cho thế hệ sau“.

 Vâng, đúng vậy: “cái gì lẽ ra đã có thể tránh được,…”

Hãy gửi câu này đến vong linh các ông Lê Duẩn và đồng sự.

 

 

Chuẩn bị mâm cúng tưởng niệm những người lính hy sinh trong cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung năm 1979 ở đồn biên phòng A Mú Sung, tỉnh Lào Cai – Ảnh: CÔNG THÀNH

***
Đón tết, đừng quên dưới bóng hoa đào… 

Tuổi trẻ
17/02/2018 13:35 GMT+7 

TTO – 39 năm và mãi mãi về sau, mỗi mùa xuân hoa đào nở, bên hoa đào chúng ta chúc nhau ly rượu mừng, xin đừng quên một mùa hoa đào đã rực đỏ vì thấm máu người lính. 

Hoa đào biên giới tháng 2…
Thầy giáo cùng học trò tưởng niệm liệt sĩ chiến tranh biên giới
‘Lịch sử Việt Nam’ đã nhìn nhận lại chiến tranh biên giới phía Bắc

 
Hình ảnh đẹp nhất những ngày này là dưới tán những cành đào đang trổ hoa rực rỡ, mọi người đang hân hoan với Tết.

Bên nhánh hoa đào người ta chúc nhau lời chúc đầu xuân. Bên hoa đào dập dìu bao nhiêu hương sắc. Giờ đây, ở dọc dặm dài biên giới Việt – Trung, hoa đào cũng đang nở rực hồng khoảng trời biên ải. Dưới bóng hoa đào ấy có mộ phần hàng ngàn người lính đã hy sinh trong 39 năm trước, trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới xảy ra vào ngày này, 17-2. Những cánh hoa đào phủ lên hàng hàng hàng bia mộ ở Ma Lù Thàng, ở Dào San, ở Si Ma Cai, ở A Mú Sung, ở Chi Ma, ở Pò Hèn… những địa danh mà 39 năm trước đã vang lên mỗi ngày trong các bản tin chiến sự của Đài Tiếng nói Việt Nam.

Khi được sống hòa bình hãy nhớ đến các anh

Những năm tháng đó, lũ trẻ thiếu niên chúng tôi, cứ chiều chiều lại ra nghe “thời sự” qua cái loa treo trên chót vọn một cây gội già đầu xóm, và những bản tin ấy, in sâu và tâm khảm nhiều đứa học trò ấy cho đến tận bây giờ.

Hơn phần tư thế kỷ, kể từ khi nghe những địa danh trong các bản tin chiến sự qua chiếc loa truyền thanh ấy, tôi mới đặt chân lên những ngọn đồi biên viễn, mới đốt nén nhang lên những mộ phần người lính dọc biên cương phía Bắc. 

Và đọng lại, vẫn là hình ảnh hoa đào nghiêng xuống trên những nấm mộ, cánh hoa phủ hồng nơi chốn các anh nằm. 

Hình ảnh những người dân vui Tết bên hoa đào giữa thị thành đô hội hay nơi làng bản xa xôi và hình ảnh những mộ phần dưới bóng hoa đào biên ải dễ gợi trong tôi dòng thư của một người lính hy sinh Thành Cổ Quảng Trị: “Khi được sống hòa bình hãy nhớ đến anh”. 

Người viết lá thư đó là Lê Văn Huỳnh, chiến sĩ Thành cổ của mặt trận năm 1972. Người nhận thư là vợ anh, chị Đặng Thị Xơ ở Thái Bình. Bức thư kì lạ ấy đã được nhắc đến nhiều khi ngày tháng đề trên bức thư cách ngày anh Huỳnh hy sinh đến 3 tháng. 

Vậy mà trong lá thư ấy, anh hướng dẫn cho vợ mình ngày hòa bình, hãy vào Quảng Trị để tìm mộ của anh chính xác như tất cả những gì anh dự báo.

Nhưng vượt lên những tiên cảm về sự hy sinh, điều đọng lại trong bức thư vẫn là niềm nhắc nhớ ấy: khi được sống hòa bình hãy nhớ đến anh, đến những người lính đồng đội của anh.

Sinh ra ở một đất nước mà mỗi trang sử đều được viết bằng máu của những người dân dài qua hàng chục thế kỷ, liên tiếp những cuộc chiến tranh vệ quốc.

Từ hàng ngàn năm trước,trang huyền sử Thánh Gióng ba tuổi đã phải vươn vai thành người khổng lồ để chống giặc Ân, rồi khi không còn huyền sử, hết Hán, rồi nhà Đường – Tống – Nguyên – Minh – Thanh… tất cả đều in bóng rõ ràng lên từng trang lịch sử. 

Tuổi thơ học trò nào không từng dùng các trích đoạn lịch sử ấy để thực hiện các bài ngoại khóa về cờ lau Đinh Bộ Lĩnh, về trái cam Trần Quốc Toản. 

Với một lịch sử như thế, nên chuyện ra trận khi Tổ quốc gọi tên là chuyện hết sức bình thường với người lính. Chỉ không bình thường nếu như sự hy sinh đó bị lãng quên.

Không thể phủ nhận lịch sử có những khúc quanh, nhưng lịch sử luôn cần được đối xử sòng phẳng.

Họ tên những người lính hy sinh ngày 17-2-1979 ở Đồn biên phòng Sì Lờ Lầu, 
tỉnh Lai Châu – Ảnh : TIẾN LONG
***

Nhắc nhớ cho thế hệ sau

Tròn 5 năm trước, dịp kỷ niệm 17-2 năm 2013, đại tá Nguyễn Mạnh Hà (Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng Học viện CTQGHCM) nói trên Tuổi Trẻ: “Là một người nghiên cứu lịch sử, nhưng cũng là một người lính, tôi xin nói thẳng là dù bất cứ hoàn cảnh nào thì hòa bình vẫn là quý giá nhất. 

Chiến tranh biên giới kết thúc thật sự, chúng ta mới có thể tiếp tục sự nghiệp đổi mới, có những chính sách lâu dài và bền vững để phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống nhân dân, để có một vị thế mới trong bản đồ ngoại giao thế giới như hôm nay.

Nhưng như vậy không có nghĩa là trang sử về chiến tranh biên giới đã khép lại. Lịch sử bản chất là sòng phẳng, khách quan, cái gì đã xảy ra rồi cũng có lúc sẽ được đặt lại trên bàn cân lịch sử để luận định. 

Chúng ta nhìn lại chiến tranh biên giới, trước hết là để học bài học cho chính mình: cái gì lẽ ra đã có thể tránh được, cái gì cần nhớ để nhắc lại cho thế hệ sau”.

Ngày này, đúng hai năm trước, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến dâng hương ở Nghĩa trang liệt sĩ huyện Trà Lĩnh, nơi an nghỉ của các liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược năm 1979. 

Trước đó một ngày, ngày 16-2-2016, ông cũng dâng hương ở Nghĩa trang liệt sĩ Lạng Sơn. Sự kiện đó đã mang một thông điệp ấm áp cho những người lính đã ngã xuống cách nay tròn 39 năm trước.

39 năm và mãi mãi về sau, mỗi mùa xuân hoa đào nở, bên hoa đào chúng ta chúc nhau ly rượu mừng, xin đừng quên một mùa hoa đào đã rực đỏ vì thấm máu người lính.

Nén nhang tưởng niệm những người lính hy sinh trong cuộc chiến tranh biên giới 
Việt – Trung năm 1979 ở đồn biên phòng Sì Lờ Lầu, tỉnh Lai Châu.Ảnh: CÔNG THÀNH

Nén nhang tưởng niệm nhân ngày 17-2

Nén nhang tưởng niệm những người lính hy sinh trong cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung năm 1979 ở đồn biên phòng A Mú Sung, tỉnh Lào Cai – Ảnh: TIẾN LONG
**

Trong một chuyến đi tác nghiệp bằng xe máy dọc theo đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc từ A Pa Chải đến Móng Cái, nhóm phóng viên, cộng tác viên báo Tuổi Trẻ đã ghé thăm các cán bộ, chiến sĩ các đồn biên phòng và thắp nhang tưởng niệm những người lính ngã xuống, bảo vệ bờ cỏi, quê hương trong cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung năm 1979. 

Họ là những người lính còn rất trẻ, hy sinh ở độ tuổi đôi mươi, tuổi của nhiều ước mơ và hoài bão. Trên các tấm bia, chúng tôi thấy các anh phần lớn hy sinh trong những ngày 17, 18, 19, 20-2-1979 – những ngày ác liệt nhất của cuộc chiến. 

Khoảng 5h-6h sáng ngày 17-2-1979, chiến tranh biên giới phía Bắc bùng nổ… 

LÊ ĐỨC DỤC

17 THÁNG HAI 1979: TRUNG QUỐC TẤN CÔNG VIỆT NAM

Bi kịch lịch sử quốc tế cộng sản nhiều tập lại tiếp diễn.

 Lúc 4 giờ sáng, quân Trung cộng tấn công sáu tỉnh biên giới đang yên giấc.

CUỘC  CHIẾN TAM QUốC CỘNG SảN DIễN NGHĨA

Tam quốc cộng sản: Việt Nam- Trung Quốc- Liên Xô.

Trước năm 1960, ba anh em thân thiết.

Mâu thuẫn LX- TQ nổ ra từ  các vấn đề biên giới và chủ nghĩa xét lại LX.

Việt Nam em út tựa như số phận Tôn Quyền, băn khoăn đứng giữa Lưu Bị và Tào Tháo, cố gắng giữ hoà khí với cả hai bên.

Nhưng TQ đòi VN phải rạch ròi, không cho bắt cá hai tay. VN đành chọn LX, bỏ TQ.

Bi kịch lịch sử bắt đầu từ đây.

Số phận Cộng sản Campuchia mắc dính vào mưu đồ lôi kéo đồng minh của TQ và VN.

Mỹ cũng tham gia vào việc ủng hộ TQ, cô lập VN.

Năm 1974: TQ tấn công chiếm đảo Hoàng Sa với sự đồng tình của Mỹ.

Giai đoạn 1: từ 1975 đến 1978: Khmer Đỏ  do TQ xúi giục và trợ giúp, tổ chức nhiều cuộc tấn công lãnh thổ Việt Nam, phá hủy nhiều ngôi làng và giết hại hàng ngàn thường dân Việt Nam. Phía Việt Nam chỉ tổ chức phòng ngự và cố đàm phán tìm giải pháp hòa bình, nhưng Khmer Đỏ bác bỏ.

Giai đoạn 2: Từ tháng 12/1978 đến tháng 5/1979: Khmer Đỏ với 19 sư đoàn tổ chức cuộc tấn công lớn nhất vào lãnh thổ Việt Nam nhưng bị Việt Nam bẻ gãy. Sau cuộc tấn công, Việt Nam thấy không có cơ hội để đàm phán hòa bình nên đã tổ chức tấn công lớn vào Campuchia, lật đổ Khmer Đỏ và lập nên chế độ mới do Hun Sen đứng đầu. Tàn quân Khmer Đỏ chạy sang ẩn náu bên kia biên giới Thái Lan.

Giai đoạn 3: Từ 1979 đến cuối năm 1985: Khmer Đỏ với sự trợ giúp về lương thực, vũ khí của Thái Lan, Trung Quốc và Hoa Kỳ đã tổ chức đánh du kích và đe dọa sự tồn tại của chế độ Hun Sen. Năm 1982, Việt Nam rút bớt quân khỏi Campuchia, ngay sau đó Khmer Đỏ hoạt động mạnh trở lại và tái chiếm một số khu vực. Nhận thấy quân đội Hun Sen còn rất yếu ớt không thể tự vệ được, Việt Nam tiếp tục đóng quân tại Campuchia để bảo vệ chế độ Hun Sen và truy quét Khmer Đỏ. Mùa khô 1984 – 1985, cuộc tấn công quyết định của Việt Nam đã phá hủy các căn cứ chính của Khmer Đỏ, khiến chúng suy yếu đi nhiều và không còn đủ sức đe dọa chế độ mới của Hun Sen.

Giai đoạn 4: Từ 1986 tới 1989: Sau chiến dịch mùa khô năm 1985, nhận thấy chế độ Hun Sen đã tự đứng vững được, từ năm 1986 Việt Nam rút dần quân khỏi Campuchia và đến năm 1989 thì rút hết.

NHỮNG KHÚC DẠO ĐẦU

Theo công bố trong Bị vong lục Bộ Ngoại giao CHXHCNVN ngày 15/2/1979, số vụ xâm phạm vũ trang của Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam năm 1978 là 583 vụ, trong tháng 1 và những tuần lễ đầu tháng 2 năm 1979 là 230 vụ. Trung Quốc còn cho trên 100 lượt máy bay xâm phạm vùng trời và 481 lượt tàu thuyền hoạt động khiêu khích trên vùng biển Việt Nam. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần ra tuyên bố và gửi công hàm phản đối hành động xâm phạm biên giới Việt Nam tới Bộ Ngoại giao Trung Quốc.

Tên thừa tướng TBT Đặng Tiểu Bình tuyên bố “dạy cho VN một bài học” (thực chất ám chỉ “dạy cho” người đồng nhiệm TBT Lê Duẩn).

LỰC LƯỢNG HAI BÊN

TQ: 300.000 đến 400.000  bộ binh và 400 xe tăng, hàng chục vạn dân công hỗ trợ vận tải (theo Việt Nam công bố có hơn 600.000 lính Trung Quốc tham chiến).

VN: 60.000 đến 100.000 bộ đội địa phương và chính qui.

(7 sư đoàn, 15 trung đoàn độc lập, biên phòng và dân quân tự vệ)

TQ RÚT QUÂN SAU 29 NGÀY:

TQ THIỆT HẠI

Trung Quốc nói: 6.954 lính chết, 14.800 bị thương.

Việt Nam nói: 26.000 chết, 37.000 bị thương, 280 xe tăng bị phá hủy.

VN THIỆT HẠI

Trung Quốc tuyên bố 30.000 lính VN chết.

Phương Tây nói: 20.000 chết và bị thương.

Việt Nam tuyên bố 10.000 dân thường chết, không công bố số bộ đội hi sinh.

4 thị xã bị phá hoại hoàn toàn, hơn 20 thị trấn, huyện lỵ, nhiều làng xóm, nhà máy, hầm mỏ, nông trường, cầu đường, nhà cửa… bị tàn phá.

Cuộc giằng co biên giới Việt – Trung còn diễn ra  từ 1984 đến 1989 mới chấm dứt.

Bọn TQ tiếp tục mở ra mặt trận biên giới Vị Xuyên, Hà Giang  1984 -1989.

Từ 2/4 đến 27/4/1984, Trung cộng tiến hành một đợt bắn phá lớn trên toàn tuyến 6 tỉnh biên giới với trên 28.000 viên đạn pháo, sau đó xua bộ binh đánh lần lượt chiếm các điểm cao. Cuộc giằng co quyết liệt.

Từ cuối tháng 12/1988, Trung Quốc ngừng bắn pháo và từ tháng 3 đến tháng 9/1989 lần lượt rút quân khỏi các vị trí chiếm đóng còn lại trên lãnh thổ Việt Nam.

Trong 5 năm chiến đấu bảo vệ lãnh thổ trên mặt trận Vị Xuyên – Yên Minh (Hà Giang) , các lực lượng vũ trang Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn quân địch, phá hủy 200 khẩu pháo cối, 170 xe vận tải và nhiều kho tàng, trận địa, bắt sống 325 tù binh.

Bên ta không công bố số bộ đội thương vong (có lẽ không có ai bị trầy xước cái móng tay nào).

KẾT

Rất kỳ lạ, suốt từ 1975 đến 1989, các cuộc chiến VN tang thương lãnh đủ đều là các cuộc hỗn chiến cộng sản, xuất phát từ quan hệ “tam quốc diễn nghĩa Việt – Xô- Trung” tan vỡ..

Hiện tại còn hàng nghìn bộ đội hi sinh biên giới mất tích (mất xác vì tan nát) và còn nằm ở bãi mìn biên giới chưa thể tháo gỡ.

Thế mà năm 2018 các quan chức cấp cao mải lo xây  dựng “Bãi tha ma nghìn tỷ dành cho cán bộ cấp cao chưa chết” !

 

VTV1 viết SAI NGỮ PHÁP TIẾNG ANH

Giáp tết, tối 4/2/2018: Xem chương trình Gala “WeChoice Awards 2017“: MC nói tiếng Việt đây là  chương trình “Chúng ta truyền cảm hứng”. Vài năm nay, cứ đầu năm mới VTV bình chọn 10 nhân vật truyền cảm hứng nhất trong cộng đồng của năm trước (một kiểu “người tốt việc tốt”).

 

WE CHOICE 2wechoice awards 2017gala wechoice award 2017

Ảnh 1: mở đầu chương trình là hoa hậu H’Hen Niê mặc đồ vest và cô áo đầm trắng VTV

Ảnh 2 a, b : tên chương trình cả Việt và Anh

Chương trình này VTV học từ nước ngoài nhưng tôi nhìn thấy ngưa ngứa con mắt. VTV viết tiếng Anh hình như sai sai: “WE CHOICE AWARDS 2017”.

Tôi biết chắc choice là danh từ, không phải động từ. Đã dùng WE là chủ ngữ  hành động thì phải đi với CHOOSE (We Choose Awards 2017).

Còn nếu dùng đúng mẫu Tây phương thì phải là People”s Choice A wards 2017” hoặc the VTV’s Choice Awards 2017” chí ít là OUR CHOICE AWARDS 2017.

Chả lẽ Việt Nam sáng tạo cả tiếng Anh à ?

Các ảnh 3,4,5,6 của phương Tây người ta dùng chủ sở hữu, sở hữu cách (The Readers’ – Kids’ – People’s – Critics’) tạo ngữ  danh từ, chứ không dùng chủ ngữ hành động (như We của VTV) để tạo câu. Mặt khác, chả biết WE là đại từ phiếm chỉ, có lẽ anh chàng VTV chứ ai. Bọn VTV này tự chọn với nhau để trao giải,  rồi gỉa bộ nói quần chúng bình chọn. Nên dùng mẫu  “People’s Choice Awards 2017” là đúng nhất. VTV chỉ là cơ quan phát động bình chọn.

So sánh 4 mẫu của Tây phương rõ ràng chính xác như sau:

The Readers’ Choice Awards 2018

readers choice

Kids’ Choice Awards 2017

CHOICE 1

People’s Choice Awards …

choice 2

23re Annual Critics’ Choice Awards

Print

Mong các bậc cao minh ngoại ngữ cho ý kiến xác minh.

TB: Ngày xưa học tiếng Anh trầy trật lắm. Về sau ngẫm ra học tiếng Anh hay bất kỳ ngoại ngữ nào thì điều kiện tiên quyết là cứ bắt chước người ta cho đúng.

PHN

 

 

Cung chúc tân xuân

 TRANG WEB BOXIT VIỆT nAM
 
Một năm mới lại đến trên đất nước ta. Nhưng mới là mới ở đất trời, luân chuyển theo vòng tuần hoàn nên cảm thấy mới. Còn con người thì ngày một cũ, tầng lớp đương quyền đương chức lại càng cũ, chỉ có khả năng “ăn không chừa thứ gì” là đổi mới từng ngày từng tháng từng năm theo cấp số nhân. Và có lẽ đó là cái mới duy nhất làm cho mọi thứ càng trở nên già cỗi, nặng nề hơn: thuế tăng, xăng tăng, trạm BOT mọc lên nhan nhản, rừng vàng biển bạc cạn kiệt, kho tàng nhà nước cũng cạn theo. Dân chúng thêm mệt nhọc vì vai còng thêm, đất mất thêm, môi trường ô nhiễm nặng thêm, mà kêu trời không thấu.
 
BVN chỉ có một lời chúc chân thành: dân tộc Việt Nam vốn thông minh, kiên cường sẽ mau chóng tìm cách tự cứu lấy mình để sớm cởi hết mọi thứ tai ách quàng lên mình đã quá lâu.
 
Cũng như thông lệ, dịp Tết này Ban biên tập chúng tôi xin phép nghỉ từ ngày thứ Tư 14-2-2018 (tức 29 tháng Chạp Âm lịch), và sẽ lên bài trở lại vào ngày thứ Năm 22-2-2018 (tức mồng 7 tháng Giêng năm Mậu Tuất).
 
Kính mong gặp lại bạn đọc trong tinh thần một mùa xuân mới.
 
Bauxite Việt Nam
 

BẢN LÊN TIẾNG VỀ QUYỀN ĐƯỢC NÓI VÀ NGHE SỰ THẬT 

          Nhận định:
 
          1– Nói sự thật và nghe sự thật, đó là quyền lợi và nghĩa vụ của con người cũng như của một nhà nước. Điều này nằm trong chính phẩm giá của một công dân tự do, trong bản chất của một chính quyền biết phục vụ quần chúng lẫn thăng tiến xã hội, và được hàm chứa trong Điều 19 Tuyên ngôn Nhân quyền lẫn Điều 19 Công ước về các Quyền dân sự và chính trị. Bởi lẽ chỉ có sự thật mới đem lại tự do, thăng tiến nhân quyền, kiến tạo hòa bình, hỗ trợ phát triển.
          2- Thế nhưng, qua vụ án blogger bác sĩ Hồ Văn Hải, vụ án Phong trào Chấn hưng Nước Việt (với 3 bị cáo Vũ Quang Thuận, Nguyễn Văn Điển và Trần Hoàng Phúc), cả hai đều bị truy tố theo điều Điều 88 của Bộ luật Hình sự: “Tuyên truyền chống nhà nước”, và vụ án nhóm đấu tranh chống Formosa Hoàng Đức Bình + Nguyễn Nam Phong, bị truy tố  theo điều 258 BLHS cũ: “Lợi dụng quyền tự do dân chủ”,  toàn những tội danh hết sức mơ hồ và không hề có trong nền pháp chế của nhân loại tiến bộ, nhà cầm quyền đã thẳng tay chối bỏ quyền nghe và nói sự thật của công dân.
          3- Cả 6 người đã chỉ dùng mạng xã hội với các bài viết và video clip để phân tích hiện trạng của xã hội, trình bày bộ mặt của chế độ, nhận định công việc của chính phủ, đưa ra đòi hỏi của quần chúng về nhân quyền và dân chủ (cụ thể qua thảm họa Formosa), nhằm nói lên mọi sự thật về đất nước cho nhân dân cũng như cho nhà nước, để hàng lãnh đạo rút kinh nghiệm mà hành xử và để mọi giới đồng bào cộng tác cách xứng hợp mà xây dựng Tổ quốc. Thế nhưng họ đã bị vu khống là xuyên tạc chân lý, lợi dụng dân chủ và chống lại nhà cầm quyền.
          4- Ngay cả 3 phiên tòa đối với 6 bị cáo cũng cho thấy ý đồ bưng bít và lấp liếm sự thật. Như công an cấm cản thân nhân, bằng hữu của bị cáo và báo chí độc lập tham dự, thậm chí đánh đập cướp bóc họ; quan tòa lẫn công tố không thèm xem xét chứng cứ, ngăn cản luật sư biện hộ, dưa ra những lập luận ngụy biện, những nhận định võ đoán, rồi cuối cùng tuyên các bản án nặng nề để trả thù những công dân can đảm nói sự thật, chứ không phải để bảo vệ công lý cho toàn xã hội.
          5- Một sự thật cũng cần được trình bày cho công luận lúc này là cuộc chiến Mậu Thân cách đây nửa thế kỷ. Nhiều chứng cứ, chứng từ và chứng nhân cho thấy đó là một sự thất bại của Cộng sản về mặt quân sự và chính trị (lòng người), một sự phản bội cam kết ngưng bắn vào dịp đầu Xuân, một sự chà đạp ý nghĩa thiêng liêng của Ngày Tết, một sự thảm sát rùng rợn đối với hàng vạn Đồng bào vô tội. Thế nhưng nhà cầm quyền vẫn cứ xuyên tạc sự thật, rầm rộ ăn mừng, coi đó là một chiến thắng, thản nhiên chối bỏ tội ác lẫn sai phạm, bất chấp nỗi khổ đau của các oan hồn lẫn gia đình họ và vết thương trên trái tim Dân tộc.
          Tuyên bố: Đòi hỏi nhà cầm quyền phải tôn trọng quyền được nói và được nghe sự thật của nhân dân:
 
          1- Bằng việc hủy bỏ các Điều 79, 88 và 258 của Bộ luật Hình sự cũ (Điều 109, 117 và 331 Bộ luật Hình sự mới), trả tự do cho mọi công dân đã bị kết án vì các điều mơ hồ, ngụy biện, bất công này. Đó là những khoản luật (hình sự hóa các nhân quyền) mà toàn thể quốc dân và quốc tế đang lên án kịch liệt.
          2- Bằng việc chấm dứt mọi hình thức bạo lực và mọi lực lượng truyền thông có mục đích củng cố và bảo vệ sự dối trá, vì điều đó chỉ gây ra hậu quả tai hại: xã hội đầy lường gạt và bạo hành, nhân dân sống trong hoang mang và sợ hãi, khí phách dân tộc nên bạc nhược, đạo đức và văn hóa suy tàn. Từ đó Tổ quốc và giống nòi dễ lâm nguy trước ngoại bang xâm lược đang rình chực từng ngày.
          3- Bằng việc trả lại toàn bộ sự thật liên quan đến biến cố Mậu Thân, thành tâm sám hối trước tất cả những đồng bào nạn nhân của cuộc thảm sát mùa Xuân ấy và để cho mọi công dân tự do tưởng niệm biến cố đau thương này. Đó là món nợ mà đảng và nhà cầm quyền Cộng sản đang mắc đối với lịch sử và dân tộc. Bằng không, sẽ chẳng nhận được sự tha thứ của toàn dân.
          Lên tiếng quốc nội và hải ngoại ngày 09 tháng 02 năm 2018, trong bầu khí tưởng nhớ 50 năm Tết Mậu Thân
          Các tổ chức đồng ký tên (đợt 1)
1- Ban Bảo vệ Tự do Tín ngưỡng đạo Cao đài. Đại diện : Hiền tài Nguyễn Thanh Liêm, California, Hoa Kỳ.
2- Ban Đại diện Khối Nhơn sanh đạo Cao đài. Đại diện: Các CTS  Hứa Phi, Nguyễn Kim Lân, Nguyễn Bạch Phụng.
3- Báo điện  tử Tiếng Dân Việt Media. Đại diện: Nhà báo Trần Quang Thành.
4- Diên Hồng Thời Đại Việt Nam. Đại diện: Ông, Phạm Trần Anh .
5- Diễn đàn Dân chủ Đuốc Việt. Đại diện: Ông Lưu Hoàn Phố, Bà Thái Hằng
6- Diễn đàn Xã hội Dân sự. Đại diện: Tiến sĩ Nguyễn Quang A
7- Đảng Dân Chủ Việt. Đại diện: Ông Hương Huỳnh
8- Đảng Dân chủ Nhân dân. Đại diện: BS Lê Nguyên Sang.
9- Giáo hội Cộng đồng Tin lành Lutheran VN–HK. Đại diện: MS Nguyễn Hoàng Hoa.
10- Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo VN. Đại diện: Ông Cao Xuân Khải
11- Hội Cựu Tù nhân Lương tâm. Đại diện: BS Nguyễn Đan Quế và LM Phan Văn  Lợi.
12- Hội Dân oan Đòi Quyền sốn. Đại diện: Bà Hồ Thị Bích Khương.
13- Hội Người Việt Tự Do tại BC Canada. Đại diện: Ông Phan Mật
14- Hội Pháp Việt Tương Trợ AFVE. Đại diện: Ông Bùi Xuân Quang.
15- Khối Tự do Dân chủ 8406. Đại diện: KS Đỗ Nam Hải, Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa.
16- Khối Tự do Dân chủ 8406 Hoa Kỳ. Đại diện: Ông Vũ Hoàng Hải
17- Liên minh Dân chủ Tự do cho Việt Nam. Đại diện: Ông Huỳnh Hưng Quốc
18- Little Saigon Vancouver Foundation. Đại diện: Ông Nguyễn Hữu Ninh
19- Người Bảo vệ Nhân quyền (Defend the Defenders). Đại diện: Ông Vũ Quốc Ngữ.
20- Nhóm Bảo vệ Tự do tôn giáo và bình đẳng sắc tộc. Đại diện: Huỳnh Trọng Hiếu 
21- Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền. Đại diện: LM Nguyễn Hữu Giải và LM Nguyễn Văn Lý
22- Nhóm Yểm Trợ Bns/TDNL. Đại diện: Ông Nguyễn văn Lợi & Ông Sơnny Nguyễn. 
23- Tăng đoàn Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất. Đại diện: Hòa thượng Thích Không Tánh.
24- Trung tâm Sinh hoạt Văn hoá Việt Nam tại BC Canada. Đại diện: Bà Mai Kim Huyen
25- Phong trào Đồng Tâm (We Are One Global, Úc châu). Đại diện: Ông Nguyễn Việt Hưng
26- Phong trào Yểm trợ Khối 8406 Canada. Đại diện: Ông Lạc Việt.
27- Phong trào Yểm trợ Tự do Tôn giáo và Nhân quyền VN. Đại diện: HT Thích Nguyên Trí.
28- Tập hợp Quốc Dân Việt Úc châu. Đại diện: Ông Nguyễn Việt Hưng
29- Tập hợp Quốc dân Việt Vancouver Canada. Đại diện: Ông Lê ngọc Diệp
30- Trang mạng nganlau.com Hoa Kỳ. Đại diện: Ông Vũ Hoàng Anh Bốn Phương.
  
          Các cá nhân đồng ký tên (đợt 1)
1- Bùi Quang Vơm, Kỹ sư, Paris, Pháp
2- Cao Xuân Lý, Nhà văn, Australia.
3- Hoàng Hưng, Nhà thơ, Sài Gòn
5- Kha Lương Ngãi, nguyên PTBT báo SaiGon GP, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng
6- Lê Anh Hùng, Nhà báo độc lập, Hà Nội
7- Lý Đăng Thạnh, Người chép Sử, Sài Gòn. 
8- Nguyễn Thế Quang, Giáo viên. Hoa Kỳ
9- Nguyễn Văn Thái, Ph.D., GSTS, Pennsylvania, USA.
10- Nguyễn Việt Hưng (Facebooker Trung Le), Melbourne Úc châu 
11- Thích Thiện Minh, Thượng tọa, Bạc Liêu
12- Trần Thị Mỹ Nhật, Cựu Giáo sư Trung học, Pennsylvania, USA
 
          Các tổ chức đồng ký tên (đợt 2)
31- Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo Thuần túy. Đại diện: Ông Lê Quang Hiển, Ông Lê Văn Sóc.
32- Giáo xứ Phú Yên, Giáo phận Vinh. Đại diện: LM Đặng Hữu Nam.
33- Hội đồng Liên kết Quốc nội Hải ngoại Việt Nam: Đại diện: Đồng Chủ tịch: Hòa thượng Thích Không Tánh, Lm Phan Văn Lợi, Chánh trị sự Hứa Phi, Đạo huynh Lê Văn Sóc, Mục sư Nguyễn Hoàng Hòa, BS Võ Đình Hữu, BS Đỗ Văn Hội, Nhân sĩ Lưu Văn Tươi, Nhân sĩ Nguyễn Văn Tánh, Nhà biên khảo Phạm Trần Anh, Phó trị sự Trần Viết Hùng, Nhân sĩ Cao Xuân Khải, Nhân sĩ Trần Ngọc Bính, Nhân sĩ Trần Văn Đông, BS Hoàng Thị Mỹ Lâm. Cố vấn: LM Nguyễn Văn Lý, Hòa thượng Thích Minh Tuyên.
34- Hội thánh Tin lành Mennonite Cộng đồng. Đại diện: Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng.
35- Nhóm Anh Em Thiện Chí San Jose. Đại diện: Trần Long, Hoàng Lan.
36- Phong trào Giáo dân Việt Nam Hải ngoại. Đại diện: Ông Phạm Hồng Lam.
37- Phong trào Thăng Tiến Việt Nam. Đại diện : Hoàng Lê Hy Lai.
38- Radio VNHN Âu châu. Đại diện: Ông Đinh Kim Tân 
39- Tập hợp Quốc Dân Việt. Đại diện: Nguyễn Trung Kiên.
          Các cá nhân đồng ký tên (đợt 2)
13- Đặng Hữu Nam, Linh mục, Nghệ An.
14- Nguyễn Khắc Mai, Cán bộ hưu trí, Hà nội
15- Nguyệt Quỳnh, Nhà báo, Hoa Kỳ.
16- Trần Viết Tuyên, Kiến trúc sư, Hamburg, CHLB Đức
17- Võ Văn Tạo, Nhà báo, Nha Trang
 (Cập nhật và chấm dứt chữ ký ngày 12-02-2018)

Mây thẻ