"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

LS.Lê Luân: THANH NIÊN THỜI NAY HỌC HỎI ĐƯỢC GÌ TỪ ÔNG HỒ?

 
Thanh niên thời nay học hỏi được điều gì từ Ông ấy?
Thanh niên, đoàn viên cộng sản có biết ông Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc, sau này là Hồ Chí Minh) đã làm những gì khi còn trẻ và ngay cả khi đã tham gia Đảng cộng sản Việt Nam?

Ông ấy là một người hoạt động tích cực, dám lên tiếng phản kháng và đòi hỏi chính quyền thời bấy giờ cả trong nước lẫn ở nước ngoài, một cách mạnh mẽ nhất. Đưa ra các yêu sách đòi quyền lợi cho những người công nhân, tầng lớp nông dân, đòi quyền tự do hội họp, tự do báo chí và tự do ngôn luận, ký các bản phản đối sưu cao thuế nặng do Pháp đặt ra. Trực tiếp tham gia biểu tình và tổ chức biểu tình để phản đối các chính sách bất công, hà khắc của thực dân dùng để áp bức dân chúng. Ông ấy còn đòi thay thế chính quyền và thành lập chính quyền mới, sau này có điều kiện là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, khai sinh vào năm 1945 mà Hồ Chí Minh là chủ tịch.

Vậy các bạn trẻ có khi nào biết và làm được những điều ông ấy đã làm, là lên tiếng thể hiện chính kiến trước các thực trạng bất công của đất nước, đòi hỏi các quyền lợi chính đáng của người dân đã bị tước mất?

Chúng ta hiện nay không được biểu tình, dù có điều 25 Hiến pháp 2013 quy định, nhưng ai thực hiện nó được coi là thành phần phản động, chống đối chính quyền. Không có tự do báo chí khi báo chí hoàn toàn thuộc về nhà nước mà đại diện là Ban tuyên giáo kiểm soát chặt chẽ. Chúng ta không được tự do hội họp và đang bị cấm nói về thể chế xã hội dân sự, đa nguyên tư tưởng và đa nguyên chính trị. Nhiều người đã vào tù vì lên tiếng phản ánh, chống tiêu cực, bất công xã hội với điều 88 và 258 như một chiếc thòng lọng siết chặt quyền tự do ngôn luận của người dân.

Thời chiến tranh, và kể cả cho đến trước năm 1976 thì vẫn luôn tồn tại đa đảng phái chính trị, mà chỉ sau năm 1976 Đảng Lao động Việt Nam đổi tên thành Đảng cộng sản Việt Nam như bây giờ mới có tình trạng độc đảng. Thời năm 1946 đến 1959, Hiến pháp không quy định đảng phái chính trị vào trong văn bản này vì quyền thành lập đảng thuộc về quyền tối cao của người dân (thời kỳ đó có rất nhiều đảng hoạt động trên cả nước). Nhưng kể từ Hiến pháp 1980 trở đi cho đến nay thì điều này bị nghiêm cấm và chỉ có một đảng duy nhất nắm toàn quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội.

Các thanh niên thời nay học hỏi được điều gì từ Ông ấy ?

LL
Advertisements

“LỖI ĐÁNH MÁY” VÀ TÌNH TRẠNG KHÔNG BIẾT XIN LỖI CỦA QUAN CHỨC

MCHôm qua 12.12 đài VTV1 phát một chương trình bàn tròn khá hay, rất hiếm có. Tên chương trình là LỖI ĐÁNH MÁY. Nữ biên tập viên khá xinh đẹp, ước trên 30 tuổi, vẻ dày dạn nghề nghiệp, thỉnh thoảng cặp môi đỏ xinh của chị mím chặt lại vẻ cương quyết nhưng vẫn đẹp. Chị nối lời thích hợp với mấy vị cán bộ lão thành tham gia bàn luận. Họ xoay quanh thói xấu của quan chức khi sai lầm hay mắc lỗi thì tìm cách đổ cho cấp dưới, làm như lãnh đạo chẳng bao giờ sai. Lại còn cái tệ không đủ can đảm từ chức đúng lúc… Các vị khách mời và MC chưa thể (chưa dám) khái quát một căn bệnh mang tên: thói kiêu ngạo cộng sản mặc dù nội dung bàn bạc đã toát lên điều đó. Tiếc là chưa biết tên chị MC dù rất quen mặt trong nhiều chương trình của chị. Đài VTV lạc hậu, đáng lẽ luôn luôn ghi tên MC phụ đề bên dưới. Đó cũng là do căn bệnh coi trọng chủ nghĩa tập thể, coi khinh cá nhân).

ĐIỂN CỐ

“Lỗi đánh máy” là sáng tạo lập ngôn để đời của TS.PGS Đào Duy Quát, cựu phó trưởng ban Tuyên giáo trung ương kiêm TBT trang điện tử mang tên hoành tráng: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM.

Đó là một điển tích điển cố bi hài hiếm có trong lịch sử nghề báo chí nước ta. Chuyện xảy ra năm 2009.

Đào Duy Quát ngứa ngáy đăng bài dịch bản tin của báo Phượng Hoàng TQ “Tư lệnh hải quân TQ chỉ huy tập trận ở vùng đảo Hoàng Sa”.

Khi giới blogger rải rác cả nước (hồi ấy chưa có FB) phát hiện và phê phán bài báo (vô tình hay hữu ý) đã công nhận TQ có chủ quyền hai quần đảo, Quát bị báo TUỔI TRẺ phỏng vấn và cãi chày cãi cối “Tôi đã ghi chú bên lề bản dịch, chen 2 chữ vào câu “Tư lệnh hải quân TQ đã NGANG NGƯỢC nói…” nhưng “cậu đánh máy” vội về nhà nên bỏ sót”. Những người dịch thuật và nhà báo cả nước bật cười cái rầm. Bản dịch thì phải trung thực, sao dám chen ý riêng của mình vào ? Toà soạn có thể đăng bài khi không đồng ý nội dung bản tin/bài báo thì phải có lời DẪN nêu rõ quan điểm của mình chứ, sao lại có chuyện “chen” một câu phản đối vào giữa BẢN TIN của người ta ?

Quát bị Đảng khiển trách và bị Bộ 4T phạt 30 triệu đồng (Quát lại lấy tiền ngân sách của Báo để nộp phạt).

Thế là con đường tiến vào ĐH đảng XI với hi vọng trúng cử uỷ viên trung ương, ngấp nghé kế thừa người cha vào Bộ chính trị, ngồi ghế Trưởng ban tuyên giáo trung ương đã lâm vào ngõ cụt. Tương lai trong mơ đã vĩnh viễn khép lại trước mặt Quát.

Đảng không cam tâm sa thải Quát vì nể nang ông Đào Duy Tùng quá cố.

Đảng cho Quát làm phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Phê bình văn học nghệ thuật trung ương (chủ tịch hình thức là Nguyễn Hồng Vinh, vốn là cựu TBT báo Nhân Dân). Vậy là, Quát thực chất chỉ huy toàn bộ lý luận phê bình văn học nghệ thuật Việt Nam.

Đảng khinh rẻ văn học nghệ thuật đến thế là cùng ! Đưa tiến sĩ chuyên ngành triết Mác Lê phế thải của ngành tuyên huấn sang cầm đầu giám sát văn nghệ. Bây giờ là năm nào rồi mà tư duy còn cũ rích thế này!

Giá như năm 2009 Quát không bị sự cố thì bây giờ anh Võ Văn Thưởng được qui hoạch đi chỗ khác, ghế TRƯỞNG BAN TUYÊN GIÁO là của QUÁT.

Nếu vậy thì đài VTV1 và nữ BTV xinh đẹp cũng sẽ không làm chương trình bàn tròn LỖI ĐÁNH MÁY ngày 12/12 mới đây.

Nói vậy thôi, chúng ta cũng cần công nhận và biểu dương những nhà báo quốc doanh có tâm, có bản lĩnh với sứ mệnh nghề báo cao cả. Xin đừng vơ đuã cả nắm. Mặc dù họ phải tác nghiệp trong “vòng kim cô”, nhưng báo chí hiện nay chấp nhận một cái “vòng kim cô rộng và co giãn linh động” tùy theo khí hậu thời tiết chính trị, mặt khác họ cũng có những thủ thuật “lách vòng” để tác nghiệp.

PHN

Trong hình ảnh có thể có: 1 người

Tập Cận Bình sợ điều gì?

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Andrew J. Nathan, “What Is Xi Jinping Afraid Of?” Foreign Affairs, 08/12/2017.

Biên dịchHuỳnh Hoa

Chế độ của Trung Quốc bất an hơn vẻ bề ngoài

Ông Tập Cận Bình (Xi Jinping) sợ điều gì? Trong mấy năm trước khi diễn ra đại hội lần thứ 19 của đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 10 vừa qua, chính phủ của ông Tập đã siết chặt sự kiểm soát các luật sư, học giả, người hoạt động xã hội dân sự và trí thức công. Chính phủ Trung Quốc cũng gia tăng quản lý báo chí truyền thông trong lúc nâng cao mức độ tuyên truyền về sự xuất sắc của sự lãnh đạo của ông Tập và đòi hỏi các đảng viên và cán bộ nhà nước phải trung thành nhiều hơn nữa. Chiến dịch chống tham nhũng đã tiếp tục nhổ bật gốc nhiều quan chức cao cấp, những người tỏ ra không đủ trung thành cá nhân với ông Tập.

Trường hợp gần đây gây ngạc nhiên nhất là vụ ngã ngựa hồi tháng 9 của ông Tôn Chính Tài (Sun Zhengcai), một ủy viên bộ chính trị và bí thư thành ủy đảng Cộng sản Trung Quốc của đại đô thị Trùng Khánh vùng tây nam Trung Quốc. Giống như tất cả các quan chức cao cấp bị hạ bệ khác, Tôn bị cáo buộc tội tham nhũng, dâm loạn về tính dục và nhiều tội lỗi khác – những cáo buộc mà hầu như đồng chí đồng nghiệp nào của ông cũng đều phạm phải – nhưng tội lỗi thật của ông ta có lẽ là đã không nỗ lực đầy đủ để khuếch trương sự ủng hộ ông Tập ở thành phố Trùng Khánh, nơi cựu đối thủ của ông Tập – cựu bí thư Bạc Hy Lai (Bo Xilai) – được cho là vẫn còn được ủng hộ nhiều hơn so với ông Tập dù 5 năm đã trôi qua kể từ khi ông Bạc bị tước mất quyền lực một cách ngoạn mục. Ông Tôn đã bị thay thế bởi ông Trần Mẫn Nhi (Chen Min’er), mà nhiệm vụ hàng đầu là xóa bỏ di sản của ông Bạc khỏi đất Trùng Khánh.

Tại đại hội đảng mới đây, ông Tập bố trí vào ủy ban trung ương và hai cơ quan lãnh đạo cấp cao hơn – bộ chính trị và ủy ban thường vụ bộ chính trị – những người trung thành với ông. Mười lăm trong số 25 ủy viên bộ chính trị có lịch sử giao du với ông Tập từ những ngày ông bắt đầu sự nghiệp chính trị ở các tỉnh Phúc Kiến và Chiết Giang (thậm chí có một trường hợp đã quen với ông trong những ngày ông còn là thanh niên bị đưa xuống nông thôn tỉnh Thiểm Tây trong thời Cách mạng Văn hóa). Mười ủy viên còn lại gồm các nhà kỹ trị, một phụ nữ làm kiểu, và hai sĩ quan quân đội theo tiêu chuẩn là những người mang ơn ông Tập đã phong hàm cho họ – không có ai đại diện cho một thách thức chính trị có ý nghĩa. Và không ai trong số bảy ủy viên ủy ban thường vụ có cấp bậc hoặc tuổi tác phù hợp để kế vị ông Tập, cho thấy ông có ý định phục vụ nhiều hơn hai nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ 5 năm, thường thấy của vị trí tổng bí thư. Việc đưa vào cương lĩnh của đảng một hệ tư tưởng có vai trò dẫn dắt mới, gọi là Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội với đặc điểm Trung Quốc trong kỷ nguyên mới, càng cho thấy rằng ngay cả khi ông Tập cuối cùng sẽ bước xuống thì ông vẫn tiếp tục thống trị.

Bài diễn văn của ông Tập trước đại hội – một diễn văn kéo dài ba tiếng rưỡi đồng hồ chỉ nhắc lại hết câu khẩu hiệu này đến câu khẩu hiệu khác mà không giải thích được chúng có ý nghĩa gì – huênh hoang rằng cán bộ đảng và quan chức chính phủ sẽ được thăng tiến dựa trên thành tích. Nhưng nó định nghĩa thành tích như là “tuân theo sự lãnh đạo của hạt nhân [tức là ông Tập], đi theo sự lãnh đạo của trung ương đảng [ông Tập]” và “ủng hộ quyền uy của ủy ban trung ương [ông Tập]”. Ông Tập đã định nghĩa lại chế độ trọng dụng nhân tài (meritocracy) thành chế độ đi theo (followocracy). Trong các cuộc thảo luận tổ suốt thời gian đại hội, các đại biểu đảng tranh nhau vươn tới các đỉnh cao mới về nhiệt tình tôn vinh sự lãnh đạo của ông Tập.

Tại sao lại có sự tập trung quyền lực mạnh mẽ và nhấn mạnh vào sự tuân phục như vậy? Ông Tập tuyên bố rằng, Trung Quốc đang sắp hoàn thành giấc mộng vĩ đại là trẻ hóa dân tộc. Nhưng nhiều động thái mà ông đã thực hiện như là dấu hiệu về sức mạnh của ông lại là những chứng cớ bộc lộ nỗi âu lo của ông Tập. Như chính ông Tập đã thổ lộ trong bài diễn văn trước đại hội đảng: “Triển vọng rất tươi sáng nhưng thách thức rất nghiêm trọng”.

Những thập niên nguy hiểm nhất

Thách thức đầu tiên là sự phản kháng đối với sự vươn lên của Trung Quốc mà Bắc Kinh dự đoán từ phía Washington. Các nhà chiến lược Trung Quốc gần như đều bám vào lối suy nghĩ thực tế gắn liền với tư tưởng của John Mearsheimer và Graham Allison, vốn cho rằng một thế lực thống trị được kỳ vọng sẽ chống lại sự trỗi dậy của một đối thủ cạnh tranh cùng trang lứa. Mười năm về trước, khi ông Tập vẫn còn là người chuẩn bị kế vị mà chưa phải là tổng bí thư đảng, ông đã nói rõ cái lý thuyết về một “kiểu quan hệ mới giữa các cường quốc quan trọng”, với hy vọng thuyết phục các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ tạo điều kiện thuận lợi cho cái mà Trung Quốc miêu tả là “lợi ích cốt lõi” của nước này. Nhưng thay vì vậy, dưới thời tổng thống Barack Obama và ngoại trưởng Hillary Clinton, Washington lại theo đuổi chính sách “xoay trục sang châu Á”, xoay quanh các chính sách như đàm phán một hiệp định thương mại Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), phục hồi các liên minh quân sự trong khu vực và vun đắp mối hợp tác quốc phòng với các đối tác châu Á chưa phải là đồng minh chính thức của Hoa Kỳ. Đối với các nhà lãnh đạo Trung Quốc, các chính sách như vậy đại diện cho một nỗ lực làm suy yếu sức mạnh của Trung Quốc và duy trì mãi mãi vị thế thống trị của Hoa Kỳ.

Sự xuất hiện của ông Donald Trump đã mang lại cho Trung Quốc một nỗi nhẹ nhõm khỏi áp lực của Hoa Kỳ. Trump đã rút ra khỏi TPP, làm lung lay niềm tin của các đồng minh vào cam kết bảo vệ an ninh của Hoa Kỳ và đóng một vai trò hỗ trợ trong việc xây dựng sự sùng bái ông Tập. Nhưng là những người Marxist hiện đại, các nhà lãnh đạo Trung Quốc nghĩ rằng, những lợi ích thuộc về cấu trúc thì quan trọng hơn nhiều so với các cá nhân. Chẳng sớm thì muộn, bằng cách này hay cách khác, có hoặc không có ông Trump, Hoa Kỳ vẫn sẽ cố gắng chặn đứng đà vươn lên của Trung Quốc. Trong mắt nhìn của họ, những thập niên cuối cùng sẽ tới trong động lực vươn tới một quốc gia vĩ đại (mà ông Tập xác định thời điểm vào năm 2049), là đặc biệt nguy hiểm. Ngay cả bây giờ, cái mà Trung Quốc nhìn thấy như là sự xử trí sai lầm của Hoa Kỳ đối với tình hình Bắc Hàn – cường điệu cuộc khủng hoảng và đe dọa chiến tranh thay cho giảm căng thẳng và đàm phán – được các nhà phân tích Trung Quốc coi như một âm mưu xảo quyệt của Mỹ. Lối suy nghĩ này cho rằng, căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên có nghĩa là buộc Trung Quốc phải từ bỏ vùng đệm Bắc Hàn cách ly lực lượng Hoa Kỳ và kích thích các đồng minh của Hoa Kỳ ở châu Á nâng cấp khí tài quân sự và thậm chí còn có thể thủ đắc vũ khí hạt nhân.

Với những mối lo sợ như vậy trong tâm trí, ông Tập nhắc đi nhắc lại trong bài diễn văn của ông tại đại hội đảng cái nhu cầu “thực hiện chính sách ngoại giao nước lớn với đặc điểm Trung Quốc, [một chính sách ngoại giao] nhắm tới việc nuôi dưỡng một kiểu mới của quan hệ quốc tế và xây dựng một cộng đồng cùng chia sẻ tương lai của nhân loại”. Nói cách khác, hãy tiếp tục cố gắng để Washington chấp nhận một cách hòa bình sự trỗi dậy của Trung Quốc càng lâu càng tốt.

Thêm luật lệ, thêm kẻ cắp

Một thách thức khác cho chế độ của ông Tập là thách thức nội bộ. Như ông đã nói trong bài diễn văn trước đại hội, “Những gì chúng ta đang đối mặt bây giờ là mâu thuẫn giữa một bên là sự phát triển không cân bằng, không cân đối và một bên là nhu cầu ngày càng tăng của người dân về một đời sống tốt đẹp hơn”. Ông đã đề cập tới cuộc cách mạng của các kỳ vọng dâng trào – kỳ vọng có không khí sạch hơn, nhà cửa vừa túi tiền hơn, sản phẩm an toàn hơn và dịch vụ công tốt hơn – từ phía tầng lớp trung lưu đang gia tăng nhanh chóng, từ các giai cấp nông dân và lao động khao khát vươn lên của Trung Quốc. Cuộc cách mạng này xảy đến giữa lúc tăng trưởng kinh tế đang chậm lại và một nhu cầu khẩn cấp phải thực hiện những cuộc cải cách khó khăn để làm giảm nợ nần của ngân hàng và chính quyền địa phương, phục hồi các doanh nghiệp nhà nước và tái tạo nền kinh tế năng lượng của Trung Quốc.

Nhiều xã hội đã từng trải qua những áp lực và căng thẳng nội bộ mà chế độ cai trị không hề bị sụp đổ. (Xã hội Mỹ ngày nay là một ví dụ tốt, trong đó gần như mọi người đều tức giận về tình trạng của nền chính trị và kinh tế). Nhưng ở Trung Quốc, ngay cả một biểu hiện nhỏ của sự bất mãn cũng bị coi là mối đe dọa sống còn cho đảng cầm quyền. Chuyện này được minh họa rõ nét vài tuần trước đây khi chính phủ nhanh chóng dập tắt sự biểu lộ nỗi giận dữ của công chúng trước vụ bạo hành trẻ em tại một nhà trẻ ở Bắc Kinh. Cần thiết phải triệt tiêu những biểu hiện giận dữ không dự liệu trước của dân chúng trước khi chúng lan tràn, bởi vì như ông Tập nói trước đại hội, “Yếu tố xác định chủ nghĩa xã hội mang đặc điểm Trung Quốc là sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Trung Quốc”.

Sách Đạo đức kinh của đạo Lão khuyên bảo, “Càng có nhiều luật lệ, nhiều mệnh lệnh thì càng có nhiều kẻ cắp và kẻ cướp”. Bằng cách nhấn mạnh vào sự độc chiếm quyền lực, đảng Cộng sản Trung Quốc đã biến mọi tiếng nói độc lập thành một mối đe dọa sinh tử. Ấy thế nhưng mục đích được tự xác định cho sự tồn tại của đảng là tạo ra một xã hội hiện đại, và trong cái xã hội hiện đại ấy, các tiếng nói độc lập sẽ liên tục vang lên. Sự cai trị đang diễn ra của ông Tập – cho dù nó được kéo dài thêm 5 năm, 10 năm hoặc thậm chí lâu hơn nữa – sẽ thử nghiệm những gì mà mọi người bắt đầu gọi là “mô hình Trung Quốc”, một mô hình hoàn toàn phụ thuộc vào niềm tin rằng công cuộc hiện đại hóa tiên tiến có thể tương thích với một chính quyền chuyên chế và đàn áp.

Andrew J. Nathan là giáo sư khoa học chính trị, trường đại học Columbia, đồng tác giả với Andrew Scobell viết cuốn sách “China’s Search for Security” (Trung Quốc tìm kiếm an ninh).

Nguồn: Viet-studies

13/12/2017

Nhìn lại những năm tháng Khủng bố Đỏ ở Liên Xô 

       

Để dẫn bài này, có lẽ không gì thiết thực hơn là nhắc bạn đọc nhớ rằng vào ngày 20-1-2017, một bức tượng Dzerzhinsky đã được khánh thành tại Học viện Cảnh sát nhân dân ở Hà Nội.

Bauxite Việt Nam

Tháng 8-1918, một phụ nữ đã bắn súng vào lãnh đạo Liên Xô Vladimir Lenin khi ông đi thăm một nhà máy ở Moscow. Vụ ám sát này là một chất xúc tác cho hàng trăm ngàn cuộc hành quyết mà chính quyền Liên Xô đã thực hiện từ năm 1918 đến đầu những năm 1920.

Người ám sát đó là Fanya Kaplan, một nhà hoạt động xã hội bất mãn với chính quyền của Lenin. Vài ngày trước khi bị hành quyết, Kaplan nói cô chỉ hành động một mình. Tuy nhiên, có nhiều người đồng cảm với mối bất bình của cô.

Những người Bolshevik đã nhanh chóng thành lập chế độ độc tài chưa đầy một năm trước đó, trong Cách mạng Tháng Mười 1917. Họ đã cống nạp nhiều lãnh thổ cho Đức để đổi lấy hòa bình và giải thể cuộc thử nghiệm chế độ dân chủ đầu tiên trên đất nước này. Những sự phản bội đó đã làm nhiều người cộng sản và các nhà cách mạng cánh tả khác tức giận. Họ là những người từng giúp Lenin lên nắm quyền, bắt đầu từ những cuộc nổi dậy đầu năm 1917 nhằm lật đổ Nga Hoàng Nicholas II. Giờ đây, khi sự thành lập chế độ độc tài Mác-xít đã được quan tâm, những nhà cách mạng không thuộc Bolshevik dường như không còn hữu dụng nữa. Sau một vài cuộc nổi dậy của nhóm các nhà xã hội chủ nghĩa và ngay trước khi bị Kaplan ám sát, Lenin đã tuyên bố cần phải có một cuộc khủng bố tàn bạo để “làm sạch” các cuộc nổi dậy.

Và khủng bố đã đến, không chỉ dưới sự cai trị của Lenin mà trong nhiều thập kỉ sau cái chết của ông, từ Liên Xô đến Đông Âu, Trung Quốc, Bắc Hàn và mọi quốc gia khác không may nằm dưới sự cai trị của một đảng cộng sản.

Xây dựng Nhà nước cảnh sát Liên Xô

Dưới thời Lenin, việc bảo vệ cuộc cách mạng và củng cố ý thức hệ bạo lực của chính quyền đi cùng với sự khủng bố. Chỉ vài tuần sau cuộc Cách mạng Tháng Mười năm 1917, Đảng Bolshevik đã thành lập Ủy ban Khẩn cấp, còn được biết đến với cái tên Cheka. Người đứng đầu ủy ban này là nhà quý tộc người Ba Lan Felix Dzerzhinsky, một người cuồng tín đã chuyển sang tôn thờ chủ nghĩa xã hội và sau đó là chủ nghĩa cộng sản từ khi còn trẻ. Với chỉ vài trăm thành viên vào năm 1917, Cheka nhanh chóng mở rộng khi những người Bolshevik tăng cường cuộc chiến chống lại quân Bạch vệ. Trong vòng 2 năm, tổ chức cảnh sát bí mật này đã có khoảng 200.000 thành viên.

Cuộc Khủng bố Đỏ

Vụ ám sát Lenin vào tháng 8-1918 là một chất xúc tác cho hàng trăm ngàn cuộc hành quyết mà Cheka ước tính đã thực hiện từ năm 1918 đến đầu những năm 1920. “Chúng tôi chủ trương khủng bố có tổ chức – điều này cần được thẳng thắn thừa nhận. Khủng bố là điều hoàn toàn cần thiết trong thời gian cách mạng… Chúng tôi xét xử nhanh chóng. Trong hầu hết các trường hợp, chỉ cần một ngày để kết tội và tuyên án” – lãnh đạo Cheka, Dzerzhinsky cho biết vào tháng 7-1918.

Mang những bộ quần áo bằng da thuộc, các thành viên Cheka thường đi theo quân đội Bolshevik, bắt giữ những người bị tình nghi, bao gồm chủ sở hữu đất, người thuộc tầng lớp quý tộc, chủ doanh nghiệp và thậm chí đơn giản là những người đi lang thang sau giờ giới nghiêm. Sau những vụ bắt giữ này sẽ là các cuộc hành quyết tập thể.

Ngay từ năm 1924, sử gia Nga đào thoát tên là Sergei Melgunov đã tiết lộ trong cuốn sách của ông “Red Terror in Russia” (Khủng bố Đỏ ở Nga) đây là một cuộc tàn sát có hệ thống. Ông cũng cung cấp cả tài tiệu và hình ảnh về cuộc khủng bố này.

Chính Cheka cũng từng tự hào công bố các báo cáo về một phần số người bị chết. Ở nhiều vùng, mọi loại tội phạm – đã xác thực hoặc tình nghi – đều bị án tử hình.

Những hành động của Cheka đi theo triết lí của cuộc đấu tranh giai cấp, xa rời đạo đức và phẩm giá con người. Nó tuyên bố bất cứ điều gì chống lại tư tưởng này là phản cách mạng. Nạn nhân hoặc các thành viên trong gia đình họ thường bị ép cởi quần áo trước khi bị dẫn đến nơi hành quyết. Một số tù nhân khác bị tống vào sà-lan, đưa ra biển và chết đuối khi những người Bolshevik làm đắm tàu. Melgunov cho biết: “Ở Kiev, cách hành quyết là làm cho những người bị kết tội nằm sấp giữa máu đông trên sàn nhà trước khi bị bắn xuyên qua đầu hoặc não”.

Ngoài những vụ hành quyết tập thể, những người Cheka còn hứng thú với việc tra tấn tàn bạo và hãm hiếp phụ nữ.

Đối với chế độ cộng sản, giết chóc đã trở thành một công cụ hữu ích để kiểm soát người dân. Sau khi Lenin qua đời vào năm 1924, Cheka đã được đổi tên nhiều lần nhưng vẫn phục vụ cho mục đích tương tự. Joseph Stalin, người kế nhiệm Lenin và tiếp tục chế độ độc tài của Lenin, đã ca ngợi Dzerzhinsky là “một hiệp sĩ mộ đạo của giai cấp vô sản” khi ông này chết vào năm 1926.

Dưới thời Stalin, cuộc đàn áp chính trị ở Liên Xô đạt đến đỉnh cao với hàng loạt các vụ trấn áp được biết đến dưới tên Đại thanh trừng, trong đó hàng trăm ngàn nạn nhân là đồng bào Ba Lan của Dzerzhinsky.

Năm 1919, Lenin đã có chuyến đi bí mật tới chỗ Ivan Pavlov, nhà tâm lí học nổi tiếng với những thí nghiệm về việc huấn luyện kích thích có điều kiện ở chó. Theo nhà sử học Anh Orlando Figes, vị lãnh đạo Liên Xô nói:

– Tôi muốn dân chúng Nga đi theo một khuôn mẫu tư duy và phản ứng kiểu cộng sản.

– Có phải ý ông là ông muốn thuần hóa người Nga? Làm cho mọi người đều hành xử theo cùng một cách? – Pavlov ngạc nhiên.

– Chính xác! – Lenin nói – Con người có thể bị cải biến. Con người có thể làm những gì chúng ta muốn họ làm.

Hồng Liên (theo Epoch Times)

Nguồn: http://tinhhoa.net/nhin-lai-nhung-nam-thang-khung-bo-do-o-lien-xo.html

 

Bình luận Quy định 102 của ĐCSVN

 Nguyễn Đình Cống

I. Giới thiệu Quy định 102

Ngày 15 tháng 11/2017 Đảng CSVN ban hành QĐ số 102 – QĐ/TW về XỬ LÝ KỶ LUẬT ĐẢNG VIÊN VI PHẠM. QĐ này thay cho QĐ số 181 – QĐ/TW ngày 30/3/2013. Về hình thức: QĐ 102 gồm 31 trang A4, tổng trên 2 vạn chữ, quá dài. Về nội dung, có 5 chương với 37 điều. Chương I – Qui định chung (6 điều). Chương II – Các vi phạm về chính trị, tổ chức. Điều 7 – Quan điểm chính trị. 8 – Tập trung dân chủ. 9 – Bầu cử. 10 – Tuyên truyền, phát ngôn. 11 – Tổ chức, cán bộ. 12 – Bí mật. Chương III – Các vi phạm về chính sách, pháp luật. Điều 13 – Phòng chống tội phạm. 14 – Thanh tra, kiểm tra. 15 – Khiếu nại tố cáo. 16 – Tham nhũng lãng phí. 17 – Đầu tư xây dựng. 18 – Tài chính ngân hàng. 19 – Nhân đạo từ thiện. 20 – An sinh xã hội. 21 – Đất đai, nhà ở. 22 – Văn bằng chứng chỉ. 23 – Lập hội, biểu tình. 24 – Hôn nhân gia đình. 25 và 26 – Kết hôn, quan hệ với người nước ngoài. 27 – Kế hoạch hóa gia đình. 28 – Đạo đức y tế. Chương IV – Các vi phạm về đạo đức lối sống, tín ngưỡng tôn giáo. 29 – Lãnh đạo điều hành. 30 – Chức trách công vụ. 31 – Tệ nạn xã hội. 32 – Bạo lực gia đình. 33 – Đạo đức, nếp sống. 34 – Tín ngưỡng tôn giáo. Chương V – Điều khoản thi hành (3 điều).

QĐ 102 có hình thức và nội dung tương tự so với QĐ 181, có thêm 1 điều về thời hiệu xử lý kỷ luật (điều 3). Mỗi điều của các chương II; III; IV có 3 mục 1; 2; 3 ứng với 3 mức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo (hoặc cách chức), khai trừ. Mỗi mục (1; 2; 3) lại có các tiểu mục a; b; …I, k, kể ra chi tiết các hành động, lời nói, ý nghĩ vi phạm kỷ luật.

Tôi chưa so sánh toàn bộ từng chi tiết của QĐ 102 và 181, chỉ xin lấy vài so sánh làm thí dụ: mấy chữ cuối tiểu mục a, mục 3, điều 8 QĐ 102 viết là “Đảng và dân tộc” thì ở QĐ 181 viết là “Đảng và nhân dân” (thay Nhân dân bằng Dân tộc), ở cuối mục 3 điều 8 của QĐ 102 là: “đơn vị nơi mình sinh hoạt”, còn tương đương ở QĐ 181 là: “đơn vị nơi mình sinh hoạt, công tác” (bớt chữ công tác), ở cuối mục 3 điều 10 là “đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta”, còn ở QD 181 là “đối với Đảng” (thêm Nhà nước và chế độ ta), hoặc như tiểu mục e và g, mục 3 điều 13 là chia đôi nội dung tiểu mục e của QĐ 181. v.v…

Tôi chỉ mới tập trung xem các vi phạm bị khai trừ (mục 3 trong các điều), vấn đề được nhiều người quan tâm. Thấy rằng Ở QĐ 102 thêm vào khá nhiều việc mà ở QĐ 181 chưa nói tới. Lấy dẫn chứng điều 7 QĐ 102, có 10 tiểu mục (a đến k) với khoảng 350 từ, tương đương của QĐ 181 có 6 tiểu mục (a đến e) với 174 từ. QĐ 102 thêm vào các việc như là: “Phản bác nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế tam quyền phân lậpxã hội dân sựđa nguyên, đa đảng. Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng.Tác động, lôi kéo, định hướng dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng. Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi ‘phi chính trị hóa’ quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học – nghệ thuật. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước”.

Điều 8, có thêm: “Trả thù người góp ý, đấu tranh, phê bình, tố cáo hoặc người cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến vi phạm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân mình”. Điều 16 thêm 7 tiểu mục (từ e đến m) về các vi phạm liên quan đến lợi dụng chức vụ để tham nhũng, trục lợi, Điều 18 thêm tiểu mục e về thông đồng với cấp dưới để tham nhũng. Điều 31 vẫn giữ nguyên 5 tiểu mục, nhưng nội dung về đánh bạc được chuyển từ tiểu mục a (QĐ181) xuống tiểu mục đ (QĐ102).

II. Vài lời bình luận

Đọc xong QĐ 102 tôi có một số nhận xét sau:

1. Sự quá suy yếu của ĐCS

Một tổ chức (hoặc xã hội) là vững chắc, mạnh mẽ khi các thành viên tự giác hiểu rõ và thực thi đúng đắn, đầy đủ nghĩa vụ của mình mà ít cần đến khen thưởng hoặc kỷ luật. ĐCSVN đang mắc vào lỗi nặng. Một mặt khi đảng viên (ĐV) vi phạm luật pháp thì được tổ chức Đảng bao che bằng Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày 7/7/2007, mặt khác, trong nội bộ lại ban hành nhiều qui định quá rườm rà về kỷ luật. Năm 1988 có Chỉ thị số 27-CTCT/TW, ngày 4 tháng 2. Tiếp đến Qui định số 94/QĐ-TW ngày 25/10/2007, tiếp theo là 181-QĐ/TW, ngày 30/3/2013, rồi đến QĐ 102. Trong QĐ 94 năm 2007 mới chỉ có 12 điều. Càng ngày QĐ càng dài thêm.

Người ta nhầm tưởng ban hành QĐ kỷ luật ĐV càng dài, càng chi tiết chứng tỏ sự nghiêm minh và sáng suốt của cấp trên. Không phải. Nghĩ như thế, làm như thế là vấp phải nhầm lẫn lớn. Đảng đã có điều lệ, trong đó viết khá rõ về kỷ luật ĐV.Đối với một tổ chức có trí tuệ, vững mạnh, như thế là đủ. Tại sao ĐCSVN lại thấy chưa đủ. Phải ban hành thêm hết QĐ này đến QĐ khác chỉ với một nội dung xử lý kỷ luật ĐV, rồi cảm thấy còn thiếu nên ban hành thêm 19 điều cấm.

Để thắt chặt một tố chức có hai loại liên kết: bên trong và bên ngoài. Liên kết bên trong là chất keo, đó là lý tưởng, là đoàn kết. Liên kết bên ngoài là các dây buộc, đó là các điều cấm, các loại kỷ luật. Liên kết trong làm cho người ta yêu thương, tin cậy nhau. Liên kết ngoài làm người ta nghi kỵ nhau, đề phòng nhau. Đã không thể tạo lập liên kết trong mà phải nhờ cậy liên kết ngoài thì còn đâu là tổ chức vững mạnh, chỉ cần đứt một vài dây buộc là tất cả sẽ tung ra. Hiện trạng của ĐCS bây giờ là không có cách gì tạo được liên kết trong rộng rãi. Đúng ra khi đã rơi vào trạng thái như vậy thì phải tìm cách thay đổi từ gốc, tìm một loại liên kết trong khác, phù hợp, nhưng lãnh đạo ĐCSVN. vì thiếu trí tuệ nên chỉ thấy liên kết ngoài, chỉ có thể dùng dây buộc mà không thể dùng keo.

2. Ẩn giấu sự thiếu lòng tin vào cấp dưới và ĐV

Điều lệ Đảng đã ghi rõ 3 hình thức kỷ luật, cách tự kiểm điểm và kiểm điểm tại chi bộ, thẩm quyền thi hành kỷ luật, báo cáo, quyết định, khiếu nại. Mặc dầu trong điều lệ không ghi rõ các lĩnh vực và mức độ vi phạm ứng với từng mức kỷ luật, nhưng mỗi ĐV có trình độ bình thường đều hiểu được rằng mắc lỗi nhẹ thì chỉ phê bình, góp ý, mắc lỗi vừa thì khiển trách, nặng hơn thì cảnh cáo, quá nặng thì khai trừ. Như thế nào là nhẹ hoặc nặng thì tập thể chi bộ thảo luận trên từng sự việc cụ thể, nếu không thống nhất thì còn báo cáo cấp trên, nếu không thỏa đáng thì còn khiếu nại. Tôi nghĩ, chỉ trừ vài trường hợp quá đặc biệt, tuyệt đại đa số các chi bộ đủ trí tuệ để biết mức độ kỷ luật cần thiết cho từng trường hợp.

Nếu đã tin vào khả năng các cơ sở đảng có thể vận dụng điều lệ thì cần gì phải ban bố hết QĐ này đến QĐ khác với những hướng dẫn rất chi tiết. Chỉ vì cấp trên không tin. Họ nghĩ rằng nếu không được hướng dẫn thật chi tiết thì cấp dưới có thể không biết, làm sai, không bảo đảm tính nghiêm minh. Việc này còn che giấu thói kiêu ngạo, coi thường người khác.

Người ta cho rằng phải vạch ra cho đầy đủ mọi trường hợp, mọi tình huống. Nhưng trí tuệ một vài người làm sao bao quát được mọi chuyện có thế xẩy ra, chưa xẩy ra trong cuộc đời. Mà thực ra không nên làm như vậy, không thể làm như vậy. Để đề phòng chuyện này trong QĐ cũng có nêu: Trường hợp đảng viên vi phạm những nội dung chưa có trong Quy định này thì căn cứ vào quy định của Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước và vận dụng Quy định này để xử lý kỷ luật cho phù hợp” (điều 1). Đã có Điều lệ Đảng và Pháp luật Nhà nước thì cần gì phải thêm QĐ 102. Còn nữa: “Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc cần bổ sung, sửa đổi thì báo cáo để Bộ Chính trị xem xét, quyết định” (điều 37).

3. Thể hiện sự kém trí tuệ, làm một việc quá lãng phí.

ĐCSVN từ một đảng làm cách mạng chuyển thành đảng cầm quyền. Điều này đòi hỏi phải thay đổi nhiều thứ để phù hợp với vai trò và nhiệm vụ mới. Nhưng lãnh đạo của đảng vẫn cố duy trì cung cách cũ nên gặp phải nhiều mâu thuẩn, phát sinh nhiều khó khăn. Để giải quyết các khó khăn và mâu thuần này lãnh đạo không nghĩ ra được điều gì hay mà lại không chịu nghe những góp ý chân thành. Đó chỉ là do họ muốn bảo vệ lợi ích cá nhân và nhóm

Nếu không vì lợi ích cá nhân và nhóm mà thật sự vì lợi ích của Đảng và của Dân tộc thì những người lãnh đạo nên và phải làm theo cách khác. Cách nào? Cách mà phần lớn các nước đang thực hành có hiệu quả là dựa vào 3 nguồn: Kinh tế thị trường tự do, Chế độ dân chủ đa nguyên với tam quyền phân lập, Xã hội dân sự.

Lãnh đạo cứ tưởng ban hành QĐ 102 sẽ củng cố được kỷ luật, tăng cường đoàn kết. Không đâu, ngược lại thì có. Có thể các ĐV sẽ dè dặt hơn trong phát ngôn và hành động, nhưng sẽ sôi sục hơn trong ý nghĩ. Các ĐV sẽ đề phòng nhau, tỏ ra sợ sệt hơn. Sự kém trí tuệ còn thể hiện trong một số chỗ nhầm lẫn và trinh bày ngô nghê, mà phải phân tích kỹ mới thấy được. Về trình bày: Tuy nêu ra nhiều chi tiết vi phạm thuộc nhiều lĩnh vực, nhưng nhiều việc vẫn ở dạng tù mù vì chỉ là định tính trong một khoảng rất rộng. Nhiều câu văn, nhiều nội dung trùng lặp hàng vài chục lần, quá nhàm chán.

Cứ cho rằng khi mà kỷ luật trong đảng đã quá rệu rã, nguy cơ tự diễn biến quá cấp bách, rất cần xiết chặt tổ chức thì phải ban hành QĐ về xử lý kỷ luật ĐV vi phạm như là một giải pháp tình thế. Nếu thế thì việc gì phải ra QĐ 102 dài dòng, chỉ cần bổ sung và sửa chữa một chút QĐ 181 là được. Việc soạn thảo, ban hành QĐ 102 gây ra tốn kém không cần thiết. Hay QĐ 181 do một người khác ký, bây giờ người mới phải ký để tạo uy danh. Không phải thế đâu. Với những người hiểu biết thì họ xem việc đó như là một kiểu đạo văn.

4. Ẩn giấu sự run sợ

Ban hành QĐ 102, bên ngoài tỏ ra kiên quyết, nhưng bên trong ẩn giấu sự run sợ, thể hiện bởi tăng cường kỷ luật khai trừ đối với nhiều vi phạm vừa được thêm vào. Đó là những lời dọa dẫm những kẻ yếu bóng vía, là nắm giẻ bịt miệng những kẻ cầu an, nhưng là trò cười đối với người có bản lĩnh. Các lãnh đạo ĐCSVN quá tôn thờ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền XHCN, nền kinh tế thị trường định hướng XHVN nên ĐV nào có ý phản bác là khai trừ ngay. Họ cũng quá thù hận thể chế ‘tam quyền phân lập’, ‘xã hội dân sự’, ‘đa nguyên, đa đảng’. nên ĐV nào dám đòi thực hiện thì phải khai trừ ngay. Họ cũng phải giữ cho được sự toàn trị, phải nắm thật chắc lực lượng vũ trang và báo chí,văn học, nghệ thuật, ĐV nào nghi ngờ đến sự lãnh đạo trong 2 lĩnh vực đó phải khai trừ ngay. Thử hỏi tôn thờ những thứ độc hại và mơ hồ, thù hận những xu hướng tiến bộ mà đại đa số các nước văn minh theo đuổi thì liệu có tồn tại được lâu dài. Chắc họ biết dư luận cho rằng khó có thế lực bên ngoài đánh đổ được CS, mà CS chỉ bị sụp đổ từ bên trong. Họ quá lo sợ cái thế lực bên trong ầy nên tìm cách tận diệt. Nhưng diệt thế nào được lực lượng phát sinh và phát triển theo đúng quy luật.

5. Ra oai và lên gân

Những vi phạm về tham nhũng, lảng phí viết ở điều 16.. Điều này được bổ sung nhiều tiểu mục, kể ra rất nhiều hành vi, nhưng xem ra chỉ là đánh trống và hô khẩu hiệu. Việc chống tham nhũng và lãng phí ở dạng “đã hổ” tuy có làm dăm ba vụ nhưng hiệu quả chưa rõ ràng, còn loại ruồi nhặng tràn lan khắp nơi thì vài chục cái QĐ 102 chẳng làm gì được.

III. Nhận xét chung

Toàn bộ tinh thần, nội dung và văn bản của QĐ 102 thể hiện một trình độ trí tuệ quá thấp, có cái nhìn thiển cận, sự bảo thủ nặng nề, sự độc đoán lên tột đỉnh, sự quẩy đạp trong hấp hối. Rồi cũng sẽ giống như số phận của nhiều quyết định hoặc nghị quyết khác, tốn nhiều công sức và giấy mực để làm ra, tốn nhiều thời gian và công sức để phổ biến và quán triệt, nhưng rồi chẳng mang lại được nhiều kết quả tích cực, sẽ là lợi ít hại nhiều. Để cứu vớt phần nào uy tín và danh dự của Đảng thì phải có những cải cách triệt để chứ không phải bằng cách tạo ra nhiều nghị quyết hoặc quyết định có giá trị quá thấp, mà lại cứ nhầm tưởng là kết quả của đỉnh cao trí tuệ.

N.Đ.C.

Tác giả gửi BVN.

Từ Đồng Tâm đến Cai Lậy: Những bài học chính yếu

 Nguyễn Quang Dy

Năm 2017 bắt đầu với sự kiện Đồng Tâm (4/2017) đầy kịch tính và đang kết thúc với sự kiện BOT Cai Lậy (12/2017) còn nóng hổi và không kém bi kịch. Trước đó một năm, vụ Formosa (4/2016) gây thảm họa môi trường miền Trung làm cả nước rung chuyển, vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ lớn như một quả bom nổ chậm chưa được tháo ngòi. Đây là những vụ bê bối lớn tầm quốc gia, gây tắc nghẽn về thể chế (institutional bottlenecks) vẫn chưa được tháo gỡ, làm “chính phủ kiến tạo” mắc kẹt trong thế “tiến thoái lưỡng nan”…

Đồng Tâm “cùng tắc biến”

Vụ khủng hoảng con tin Đồng Tâm là một sự kiện điển hình về quy luật “cùng tắc biến”. Tuy kết thúc “có hậu” đầy kịch tính được dư luận lúc đó đồng tình, nhưng vì quyền lực và tham nhũng chưa được kiểm soát do thể chế chưa đổi mới, nên kết thúc có hậu đang bị người ta tìm cách đảo ngược. Hành động này đang gây khủng hoảng lòng tin trong dân, và tiềm ẩn nguy cơ như một quả bom nổ chậm có thể gây ra tai họa khó lường. Vì vậy, Đồng Tâm vẫn ách tắc mà chưa được hóa giải để “biến tắc thông” như dư luận mong đợi.

Những vụ bê bối này có cùng một nguyên nhân cốt lõi là thể chế bị các nhóm lợi ích thân hữu thao túng, bất chấp lòng dân bất bình, để đạt mục đích trước mắt là tận thu vì lợi ích nhóm. Họ có thể chiếm đoạt đất đai của dân (như tại Đồng Tâm) hay tận thu phí cầu đường (như tại Cai Lậy và các trạm BOT khác). Mẫu số chung là lòng tham vô đáy, mà nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thi Doan đã mô tả là “ăn của dân không từ một cái gì”.

Chính họ đang cố trì hoãn đổi mới, làm đất nước tụt hậu, và đẩy người dân đến bước đường cùng, buộc phải phản kháng (bất bạo động) như tại Đồng Tâm và Cai Lậy. Những người nông dân Đồng Tâm hay những tài xế trên Quốc lộ 1 không phải là “thế lực thù địch” đang “diễn biến hòa bình” mà chính những nhóm lợi ích đang đẩy họ tới bước đường cùng để làm giàu bất minh đang “tự diễn biến” để tận thu, trước khi tẩu tán ra nước ngoài.

Quy trình tận thu

Tại BOT Cai Lậy, chính quyền địa phương (Tiền Giang) hay cơ quan chức năng (Bộ Giao thông) vẫn ứng xử theo “đúng quy trình” như tại Đồng Tâm hay Formosa. Điều đó cũng dễ hiểu, vì các nhóm lợi ích thân hữu thường bảo vệ “lợi ích bất minh” của mình bằng cách thao túng thể chế như một thế lực ngầm. Khi quyền lực bất minh không bị kiểm soát thì chống tham nhũng sẽ biến thành tranh giành quyền lực giữa các phe nhóm.

Thực ra các “nhóm lợi ích” (interest groups) ở đâu cũng có, như một thực tế bình thường trong xã hộị, không có vấn đề gì đặc biệt. Nó chỉ có vấn đề khi bị các thế lực độc quyền bóp méo và thao túng biến thành lợi ích “đặc biệt” (special/vested interests) với mục đích và phương tiện bất minh. Cũng như vậy, BOT là một phương thức đầu tư tốt, không có vấn đề. Nó chỉ có vấn đề khi bị các thế lực độc quyền bóp méo và thao túng biến thành công cụ đặc quyền để tận thu của dân và của nhà nước. Một khi họ đã tận thu nguồn ngân sách nhà nước đến cạn kiện thì họ sẽ tìm mọi cách tận thu của dân bằng các hệ thống thu phí (rents-seeking).

Những xã hội chuyển đổi (transitional) như Việt Nam hay Trung Quốc, là môi trường thuận lợi (và béo bở) để các thế lực độc quyền và tham nhũng thao túng và làm giàu dưới các hình thức biến thái của hệ thống thu phí. Họ làm được điều đó không phải vì tài giỏi, mà vì thể chế và hệ điều hành yếu kém, không dựa trên pháp quyền và “tam quyền phân lập”, nên dễ bị thao túng. Trong khi đó, đa số người dân còn thiếu hiểu biết và thiếu ý thức, nên thường sợ chính quyền và cam chịu số phận. Vì vây, người ta mới nói, “dân nào thì chính phủ ấy”. Nhưng vụ Đồng Tâm và Cai Lậy đang tạo ra tiền lệ mới, như một bước ngoặt quan trọng.

Hàn xoong hàn nồi

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có lần nói đến nghề “hàn xoong hàn nồi” thời trước, tuy nay không còn, nhưng thói quen tư duy chắp vá cho qua chuyện đến nay vẫn còn. Nhiều người vẫn nghĩ rằng cái gì họ cũng xử lý được bằng cách chắp vá, nhưng hàn được chỗ này thì lại thủng chỗ khác. Hình tượng “hàn xoong hàn nồi” rất giống thực trạng khi người ta tìm cách bịt các lỗ thủng của một hệ thống bất cập như cái xoong cũ bị thủng. Đồng Tâm và Cai Lậy là hai trường hợp điển hình mà người ta đang đối phó như “hàn xoong hàn nồi”. Nhưng liệu Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể có hàn được lỗ thủng do chính mình tạo ra? Liệu Việt Nam có thể chống được tham nhũng, nếu không dẹp được các BOT “biến thái”? Như Einstein từng nói, “bạn không thể giải quyết được vấn đề bằng chính tư duy đã tạo ra nó”.

Theo báo Tuổi Trẻ (4/12/2017) trong bài Trạm BOT Cai Lậy nhầm chỗ: Bộ Trưởng Nguyễn Văn Thể cần sửa sai!, ngày 28/10/2013, ông Nguyễn Văn Thể (nguyên thứ trưởng Bộ GTVT) đã ký ba công văn hỏa tốc gửi HĐND, UBND và đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tiền Giang về việc “thống nhất vị trí đặt trạm thu phí hoàn vốn dự án đầu tư xây dựng quốc lộ đoạn tránh qua thị trấn Cai Lậy theo hình thức BOT”. Ngày 19/12/2013, ông lại ký quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình Quốc lộ 1 đoạn tránh thị trấn Cai Lậy. Ông Nguyễn Văn Thể (Bộ trưởng) và ông Nguyễn Nhật (thứ trưởng) đã thao túng thể chế (bằng văn bản) và quy trình (bằng chỉ định thầu) chẳng khác gì ông Võ Kim Cự (vụ Formosa).

Họ có thể chọn nhà thầu là “sân sau” của ai đó, và tùy tiện thay đổi chủ đầu tư (như công ty Bắc Ái) theo “đúng quy trình” (bất minh), để được “lại quả” (một cách xứng đáng). Vì vậy mà lúc đầu ông Nguyễn Nhật luôn lớn tiếng khẳng định để bảo vệ dự án BOT Cai Lậy là “không có gì sai cả… tất cả đều đúng quy trình…” và ai chống lại quy trình sẽ bị xử lý. Nhưng khi sự việc vỡ lở, trở thành điểm nóng của cả nước, thì “tư lệnh ngành” Nguyễn Văn Thể đột nhiên im lặng một cách khó hiểu (chắc lúc này “im lặng là vàng”). Theo báo chí (chính thống), khi còn là Thứ trưởng bộ GTVT, ông Thể đã ký duyệt quá nửa trong tổng số gần 90 dự án BOT tại Việt Nam, trong đó có 7 dự án BOT đặt trạm thu phí sai vị trí (như Cai Lậy).

Ngưu tầm ngưu mã tầm mã

Cũng theo báo Tuổi Trẻ, trong tháng 2/2017, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kết luận ông Nguyễn Nhật vào thời điểm giữ cương vị Ủy viên Ban cán sự Đảng UBND tỉnh Hà Tĩnh, “có phần trách nhiệm trong việc buông lỏng quản lý, điều hành, thiếu kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện dự án, để xảy ra các vi phạm trong thẩm định, phê duyệt, cấp phép và quản lý nhà nước đối với dự án Formosa Hà Tĩnh”. Tháng 11/2014, ông Nhật (nguyên Cục trưởng Cục Hàng hải, Bộ GTVT, đã bị “phê bình nghiêm khắc” do để xảy ra sai phạm tại 3 dự án nạo vét duy tu luồng hàng hải (là Hòn Gai – Cái Lân, Vũng Tàu – Thị Vải, Soài Rạp – Hiệp Phước). Nhưng với những thành tích bất hảo đó, ông Nhật vẫn trở thành Thứ trưởng bộ GTVT, một ngành mà người ta hay gọi là “lục lộ” (và thu phí BOT như “mãi lộ”).

Theo Infonet (5/12/2017) công ty Bắc Ái là chủ đầu tư thực sự của BOT Cai Lậy. UBND huyện Sông Lô (Vĩnh Phúc) đã từng gửi công văn đến UBND tỉnh Vĩnh Phúc yêu cầu làm rõ trách nhiệm của CTCP Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bắc Ái trong việc làm sạt lở bờ sông Lô, khu vực xã Cao Phong, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Nói cách khác, đó là một công ty khai thác cát (mà người ta hay gọi là “sa tặc”) đã góp phần hủy hoại môi trường một số nơi, nhưng lại là sân sau của Bộ GTVT. Người ta hay nói “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”, hoặc theo lời ông Lưu Vân Sơn khi đến thăm Việt Nam thì đó là cộng đồng “có chung vận mệnh”.

Nhưng không may cho họ là lúc này “tay phải và tay trái” đang tìm cách sát phạt lẫn nhau để chuẩn bị cho đại hội giữa kỳ. Theo quy luật, để duy trì quyền lực trong một thế giới biến động khôn lường, thì tranh giành quyền lực giữa các phe phái càng gia tăng, để giành giật lợi ích và để giữ ghế (thậm chí để bảo toàn tính mạng). Nếu dân chúng bị dồn đến bước đường cùng, họ buộc phải hành động ngày càng táo bạo và khôn ngoan (như các tài xế trả tiền lẻ cho trạm thu phí BOT) để bày tỏ thái độ bất bình của mình. Đó là cách họ phản đối việc thu phí bất minh của trạm BOT Cai Lậy, tuy ôn hòa nhưng rất hiệu quả bằng “bất tuân dân sự” (civil disobedience). Đó là một bước trưởng thành từ Đồng Tâm đến Cai Lậy…

Cai Lậy “biến tắc thông”

Theo luật sư Trần Quốc Thuận, nếu có một cuộc điều tra công khai minh bạch thì sẽ thấy “tất cả đều là đại án”. Tại sao trong mười năm qua, các trạm thu phí cầu đường thi nhau mọc lên như nấm trên khắp Việt Nam, khiến dân chúng điêu đứng? Hầu như 100% dự án BOT cầu đường có vấn đề vì từ năm 2011 đến 2015, trên toàn Việt Nam có 71 dự án BOT cầu đường thì cả 71 dự án đều không tổ chức đấu thầu, mà chỉ định “nhà đầu tư”. Tất nhiên họ không phải là thường dân. Ai cũng biết chủ đầu tư của BOT Cầu Giẽ và Hà Nội-Bắc Giang là bà Đỗ Huyền Tâm (phu nhân ông Nông Đức Mạnh). BOT Cai Lậy cũng không phải ngoại lệ.

Vì vậy, sự phản kháng của dân chúng đối với các dự án BOT, mà điển hình là với trạm thu phí BOT Cai Lậy, đã được dư luận đúc kết (tóm tắt như sau). Thứ nhất, lợi ích nhóm tồn tại khắp nơi. Thứ hai, BOT là mảnh đất màu mỡ nhất của lợi ích nhóm. Thứ ba, BOT là hình thức bóc lột người dân trắng trợn nhất. Thứ tư, một số quan chức bộ GTVT cùng nhóm lợi ích BOT. Thứ năm, các nhóm lợi ích BOT sẽ chống đối đến cùng (vì “chung vận mệnh”). Những gì đã diễn ra tại Đồng Tâm có thể diễn ra tại Cai Lậy và một số nơi khác tương tự. Tại Đồng Tâm và Cai Lậy, sự trấn áp bằng bạo lực của chính quyền đã bị vô hiệu hóa.

Câu chuyện không phải chỉ là BOT Cai Lậy hay các dự án BOT khác, mà là sự bất bình và phản kháng của người dân bị dồn đến bước đường cùng. Nói cách khác, đó là sự tồn vong của chế độ.

Trong số các câu hỏi cần đặt ra về những khuất tất của dự án BOT Cai Lậy, phải làm rõ tại sao Công ty TNHH BOT Đầu tư Quốc lộ 1 Tiền Giang (pháp nhân quản lý trạm thu phí BOT Cai Lậy) thành lập vào tháng 4/2014 trong khi công trình khởi công vào tháng 2/2014?; Công ty này có vốn đối ứng để thi công không hay 100% là vốn đi vay ngân hàng? Công ty này có đủ điều kiện đáp ứng các quy định về nhà đầu tư BOT hay không?

Những bài học chính yếu

Vụ khủng hoảng BOT Cai Lậy đã làm rõ mấy bài học chính yếu. Thứ nhất, họ đặt sai vị trí trạm thu phí để “đón lõng” tất cả xe đi qua đường số 1, để tận thu phí một cách bất minh. Thứ hai, họ không đếm xỉa đến lý do tại sao người dân bức xúc và phản ứng. Thứ ba, thái độ coi thường dân của chính quyền địa phương và cơ quan chức năng càng lộ rõ khi họ huy động không chỉ có cảnh sát giao thông mà còn cả cảnh sát cơ động và phương tiện trấn áp để “dằn mặt” lái xe như hành vi khủng bố người dân để bảo kê cho nhóm lợi ích BOT. Thay vì kiểm soát quyền lực để chống tham nhũng, họ đã ngang nhiên tham nhũng quyền lực.

Để sửa sai vị trí đặt trạm thu phí, Chính phủ cần lắng nghe ý kiến các chuyên gia (như tiến sỹ Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng VEPR) khuyến nghị Nhà nước sử dụng ngân sách để thanh toán 300 tỷ tiền đầu tư của nhà thầu đã nâng cấp đoạn đường cũ đi qua thị xã Cai Lậy. Đồng thời ông Thành đề nghị dời trạm thu phí BOT Cai Lậy vào đầu đoạn đường tránh mới xây, và yêu cầu kiểm toán lại dự án để đảm bảo công bằng. Người dân cũng cần rút ra bải học cơ bản về đấu tranh bằng phương thức “bất tuân dân sự” để gây sức ép. Yếu tố cốt lõi là phải tập hợp đông đảo người dân một cách hợp pháp, có tổ chức và đoàn kết chặt chẽ, đồng thời huy động báo chí lề trái và lề phải cùng vào cuộc để có tiếng nói chung mạnh mẽ hơn.

Tiếp theo dự án Formosa gây ra thảm họa môi trường tại Miền Trung (cách đây hơn một năm) thì cuộc khủng hoảng con tin tại Đồng Tâm do tranh chấp đất đai chưa có hồi kết (đầu năm nay) và cuộc khủng hoảng BOT Cai Lậy làm náo động dư luận cả nước (hiện nay) đang đặt “chính phủ kiến tạo” vào thế mắc kẹt làm tiến thoái lưỡng nan. Trước mắt, Thủ tướng đã quyết định dự án BOT Cai Lậy ngừng thu phí một/hai tháng như giải pháp tình huống cần thiết (tuy hơi giống “hàn xoong hàn nồi”). Nhưng về lâu dài, phải có giải pháp căn cơ hơn theo hướng đổi mới thể chế và dân chủ hóa, để tháo ngòi những quả bom nổ chậm nói trên. Nếu muốn dự án BOT Cai Lậy “biến tắc thông”, Việt Nam phải cải cách thể chế toàn diện, chuyển đổi hẳn sang cơ chế thị trường (bỏ định hướng XHCN). Nói tóm lại, Việt Nam phải thoát khỏi cái bẫy ý thức hệ tại ngã ba đường, bằng đổi mới vòng hai (2.0) trước khi quá muộn.

7-12-17

N.Q.D.

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 7-12-17

Nguồn: http://www.viet-studies.net/kinhte/NQuangDy_TuDongTamDenCaiLay.html

BVN 09/12/2017

Liệu có phải khai trừ đồng chí Mác và đồng chí Ăng-ghen?

 Nguyễn Khắc Mai

Karl Mars. Theo tôi biết thì cụ Mác, ban đầu viết tên như thế, sau này có người viết là Marx, và cụ chấp nhận như vậy (bây giờ ai cũng nghĩ tên cụ có nghĩa là thần chiến tranh). Nhưng điều quan trọng hơn, cụ là tổ sư của các đảng cộng sản. Các đảng cộng sản trên thế giới, kể cả cái hội nghị gì ở “Pẩy chinh” vừa qua cũng không nói gì khác. Như thế vẫn phải công nhận cụ là tổ sư của Đảng.

Thế nhưng đồng chí Karl Mars đang bị lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam đưa vào danh sách những đảng viên phạm kỹ luật có thể khai trừ, theo cái quy định trong Quyết định số 102 QĐ/TW do một ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức ký nhằm xử lý kỷ luật đảng viên.

Nguyên văn mà báo Tuổi Trẻ (thường) số ra ngày thứ Sáu 8-12-2017 đưa tin: Khai trừ Đảng nếu bôi nhọ lãnh tụ và Đảng, cụ thể là: “Đảng viên sẽ bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ nếu đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự”, “đa nguyên đa đảng”… bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Đảng… hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng”.

Thế thì cả ông Mác, cả ông Ăng-ghen là hai vị tổ sư, như tôi biết đều từng vi phạm mấy điều cấm kỵ đó của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng chí Mác từng nói và Ăng-ghen đã cho công bố trong Lời tựa tác phẩm của Mác Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848-1850, rằng, không có lý tưởng cộng sản cao đẹp nào cả, chẳng qua đó chỉ là một mệnh đề “trẻ con” của người sáng lập Chủ nghĩa Mác lúc thiếu thời, và đã vứt bỏ trong cuối đời. Dám vứt bỏ lý tưởng cộng sản của Đảng thì to gan thật. Tội chắc không thể tha. Điều thứ hai đồng chí Mác lại còn cả gan nêu lên như một nguyên lý: Nhà nước có cơ sở (nền tảng) tự nhiên là gia đình, có nền tảng nhân tạo là xã hội dân sự. Mác còn cho rằng tự do chính là biến nhà nước, cơ quan đặt trên xã hội, thành cơ quan hoàn toàn phụ thuộc vào xã hội! Ông không nói tào lao mà coi xã hội dân sự là nền tảng. Rõ ràng đồng chí Mác đã bác bỏ tư tưởng coi Đảng là nền tảng của nhà nước và xã hội. Về tư tưởng đa nguyên đa đảng thì cả hai đồng chí ấy đã đưa thành nguyên tắc trong Tuyên ngôn Cộng sản, không chỉ nói mà bằng văn bản hẳn hòi, không chối cãi được: “Các đảng cộng sản phải phấn đấu (xin nhấn mạnh hai chữ phấn đấu mà không biết PGS Bùi Hiền đề nghị viết thế nào), để đoàn kết và hợp tác với các đảng dân chủ, dân tộc trong mỗi quốc gia”. Hai đồng chí ấy khẳng định phải phấn đấu (nỗ lực, cố gắng) để vừa hợp tác lại vừa đoàn kết, chứ không hề nói phải xóa bỏ, thủ tiêu. Nói rõ là không những phải tôn trọng mà phải thực hành đa đảng lại ghi trong Cương lĩnh như đã biết.

Riêng cái tội “hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng” thì đồng chí Ăng-ghen có tội khi cho rằng: cuối cùng cũng phải làm sao để mọi người chấm dứt kiểu cư xử với các quan chức của Đảng – những người đầy tớ của mình – luôn luôn bằng sự tế nhị đặc biệt và thay cho sự phê bình lại ngoan ngoãn vâng lời họ như những-kẻ-quan-liêu-không-bao-giờ-mắc-sai-lầm. Cớ sao các đảng viên không coi các quan chức của mình là đầy tớ, để bảo ban, phê bình, mà lại quay ra coi họ như một đám-quan-liêu-không-bao-giờ-mắc-sai-lầm. (xin nhấn mạnh, ông không hề gọi là lãnh đạo. Dám coi vai trò lãnh đạo là đầy tớ, kẻ giúp việc mà thôi. (trích trong bài Chúng tôi đã vạch trần)

Đúng hai đồng chí này đã nói và làm trái với quan điểm, với quy định của Đảng. Nhưng cái khó là nếu khai trừ họ, thì còn đâu là chính danh, chính thống nữa, mà không, thì chả nhẽ lại cho rằng quan điểm hiện nay của Đảng là xét lại là phản bội các tổ sư Mác, Ăng-ghen.

Hay là phải bỏ đi cái văn bản, bởi dù sao văn bản không thể cao hơn nguyên lý mà hai vị tổ sư đã vạch ra. Nan giải thật đấy.

N.K.M.

Tác giả gửi BVN.

Mây thẻ