"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

Ai là người cầm đầu trong vụ án Trần Việt Tân – Bùi Văn Thành – Phan Hữu Tuấn – Vũ Nhôm? Ai/Cái gì đã ép Tòa án Hòa Bình nhất quyết phải bỏ tù BS Hoàng Công Lương?

Nguyễn Ngọc Chu

Chừng nào chưa xóa bỏ nền tư pháp què quặt phụ thuộc để thay thế bằng một hệ thống tòa án sòng phẳng độc lập, thì chừng đó đừng nói đến công lý cho người nghèo kẻ yếu. Nguy hiểm hơn, cả xã hội không có lòng tin vào lẽ phải, không có lòng tin vào chính quyền, và đất nước không thể phát triển bền vững lành mạnh

CẦN MỘT HỆ THỐNG TÒA ÁN SÒNG PHẲNG ĐỘC LẬP

Đầu năm 2018 nền Tư pháp Việt khởi đầu bằng vụ án oan sai Đặng Văn Hiến.

Đầu năm 2019 nền tư pháp Việt lại tiếp tục khởi đầu bằng hai vụ án oan sai: Trần Việt Tân – Bùi Văn Thành – Phan Hữu Tuấn – Vũ Nhôm và BS Hoàng Công Lương. Thêm một lần minh chứng rằng: OAN SAI LÀ THUỘC TÍNH CỦA NỀN TƯ PHÁP VIỆT.

Trước hết hãy nói về vụ án Trần Việt Tân – Bùi Văn Thành – Phan Hữu Tuấn – Vũ Nhôm.

XÁC ĐỊNH SAI ĐỐI TƯỢNG CẦM ĐẦU VỤ ÁN

Phải khẳng định rằng, không phải Vũ Nhôm, mà Trần Việt Tân – Bùi Văn Thành – Phan Hữu Tuấn mới đúng là tên gọi chủ đạo của vụ án. Chính xác là vụ án Trần Việt Tân – Bùi Văn Thành – Phan Hữu Tuấn – Vũ Nhôm. Có thể còn có tên người khác nữa bỏ sót, chưa đứng trong tên vụ án. Nhưng rõ ràng là đã xác định sai đối tượng cầm đầu nên đã gọi không đúng tên vụ án. Từ đó dẫn đến xử sai.

Để làm sáng tỏ khẳng định trên, chúng ta bắt đầu bằng câu hỏi dưới đây:

AI LÀ NGƯỜI CẦM ĐẦU TRONG VỤ ÁN TRẦN VIỆT TÂN – BÙI VĂN THÀNH – PHAN HỮU TUẤN – VŨ NHÔM?

Điều hiển nhiên ai cũng rõ, rằng mưu sĩ có thể hiến kế, nhưng chủ tướng có thể dùng hay không dùng kế của mưu sĩ. Việc thành bại là do chủ tướng quyết định và chịu trách nhiệm.

>Cụ thể cho trường hợp đánh chiếm thành:

KẾ ĐÁNH THÀNH CÓ THỂ DO MƯU SĨ ĐỀ XUẤT. TƯỚNG DÙNG KẾ CỦA MƯU SĨ CHIẾM THÀNH MỚI LÀ CHỦ THÀNH TRÌ CHỨ KHÔNG PHẢI MƯU SĨ.

Từ đó thì suy ngay ra được câu trả lời cho câu hỏi: “Ai là người cầm đầu trong vụ án Trần Việt Tân – Bùi Văn Thành – Phan Hữu Tuấn – Vũ Nhôm?”.

Dứt khoát không phải Vũ Nhôm. Mà chính Trần Việt Tân – Bùi Văn Thành và những quan tướng khác mới là người đẻ ra các công ty đứng tên Vũ Nhôm để chiếm đoạt công sản, mà không phải là công ty bình phong để hoạt động tình báo. “Tình báo” là bình phong để chiếm đoạt công sản. Điều này được khẳng định bởi lời thừa nhận trước Tòa của ông Phan Hữu Tuấn – nguyên Tổng cục phó Tổng cục Tình báo: “Đến nay, cả hai công ty này (Công ty Xây dựng Bắc Nam 79 và Công ty Nova Bắc Nam 79) chưa hề có hoạt động nghiệp vụ nào đối với lĩnh vực tình báo” (Dân trí, 29/01/2019). Trong khi đó thì hai công ty Xây dựng Bắc Nam 79 và Nova Bắc Nam 79 đã kịp chiếm đoạt hàng ngàn tỷ đồng nhà công sản.

Ngay cả ông Phan Hữu Tuấn cũng không phải người cầm đầu. Vì ông Trần Nhật Tân – Bùi Văn Thành không dùng kế của ông Phan Hữu Tuấn thì không có các công ty bình phong đứng tên Vũ Nhôm.

Vũ Nhôm không thể tự mình trở thành công ty bình phong của Tổng cục Tình báo (Bộ Công an). Ngay cả khi Vũ Nhôm là người đầu tiên đề xuất ý tưởng, thì Vũ Nhôm cũng không thể tự trở thành công ty bình phong của Tổng cục Tình báo. Trong mọi trường hợp Vũ Nhôm không thể là người cầm đầu. Đề xuất mưu kế không có nghĩa là cầm đầu. Trần Việt Tân – Bùi Văn Thành không phải là người tiếp tay cho Vũ Nhôm, mà Trần Việt Tân – Bùi Văn Thành là những kẻ cầm đầu băng nhóm chiếm đoạt công sản. Vũ Nhôm chỉ là chiếc áo khoác và là thuộc hạ thừa hành.

Xác định sai đối tượng cầm đầu nên xét xử không đúng. Cầm đầu băng nhóm cướp đoạt hàng ngàn tỷ đồng tiền nhà công sản mà chỉ có 3 năm tù cho Trần Việt Tân và 2 năm rưỡi tù cho Bùi Văn Thành là các quan tòa đã ngồi xổm trên luật pháp.

TỚI VỤ ÁN BÁC SĨ HOÀNG CÔNG LƯƠNG

Bác sĩ Hoàng Công Lương được giới bác sĩ chuyên môn ủng hộ vô tội.

Ngay cả gia đình các nạn nhân cũng kêu oan cho BS Hoàng Công Lương.

Quan trọng nữa, dư luận xã hội liên tục lớn tiếng về sự vô tội của BS Hoàng Công Lương.

Đến báo chí của Nhà nước cũng kêu oan cho BS Hoàng Công Lương.

Đến các ĐBQH cũng chất vấn vụ BS Hoàng Công Lương. Vụ án BS Hoàng Công Lương đã trở thành không thể che giấu.

Vậy mà, đại diện VKS tỉnh Hòa Bình nhất quyết buộc tội. Và Tòa án tỉnh Hòa Bình nhất quyết xử 42 tháng tù đối với BS Hoàng Công Lương.

Câu hỏi hiển nhiên là: Ai đã ép Tòa án Hòa Bình nhất quyết phải bỏ tù BS Hoàng Công Lương?

Nếu không có quyền lực nào ép VKS và Tòa án Hòa Bình bỏ tù BS Hoàng Công Lương thì câu hỏi tiếp theo sẽ là: Đồng tiền nào đã ép bỏ tù BS Hoàng Công Lương?

Nếu không phải đồng tiền đã ép bỏ tù BS Hoàng Công Lương thì câu hỏi tiếp theo sẽ là: Sự ngu dốt nào đã bỏ tù BS Hoàng Công Lương?

Cả 3 câu hỏi trên đã nói lên bản chất nền Tư pháp Việt qua vụ án BS Hoàng Công Lương.

Từ vụ án Trần Việt Tân – Bùi Văn Thành – Phan Hữu Tuấn – Vũ Nhôm và vụ án BS Hoàng Công Lương có thể thấy được sự chính xác không chối cãi của khẳng định sau:

Không chỉ Oan Sai, mà Bẻ Cong Công Lý chắc chắn cũng là một Thuộc Tính của nền Tư pháp Việt.

Chừng nào chưa xóa bỏ nền tư pháp què quặt phụ thuộc để thay thế bằng một hệ thống tòa án sòng phẳng độc lập, thì chừng đó đừng nói đến công lý cho người nghèo kẻ yếu. Nguy hiểm hơn, cả xã hội không có lòng tin vào lẽ phải, không có lòng tin vào chính quyền, và đất nước không thể phát triển bền vững lành mạnh.

Nền Tư pháp Việt không chỉ đang tự biến mình thành kẻ thù của Nhân dân, mà một cách vô tình còn là kẻ thù nguy hiểm cho chính Nhà nước CHXHCN Việt Nam.

 N.N.C.

 Nguồn: FB Nguyen Ngoc Chu

Advertisements

tản mạn tâm linh

 VIệT NAM MÙA TẾT: MÙA TÍN NGƯỠNG & TÔN GIÁO

Tựa: Ôi đất nước nhạt nhòa trong hương khói !

***

Tôi và thế hệ mình nhiều lần nghe các thầy dạy chính trị và nhiều người nhắc lại câu này của Marx “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”. Từ đó họ đả kích tôn giáo và giương cao thuyết vô thần.

Thực ra bọn họ dùng xảo thuật trích dẫn một câu văn đơn lẻ trong một đoạn văn. Xảo thuật này đi ngược lại với ngụ ngôn “thầy bói xem voi”. Họ nói “con voi giống như 4 cái cột nhà”.

Chúng tôi dạy Ngữ văn và giảng cho SV rằng “một câu văn chỉ có ý nghĩa xác định trọn vẹn trong một đọan văn, một đoạn văn được xác định trong một bài văn ”. Đám tuyên huấn ngày xưa học hành tào lao hay là họ biết mà cố tình lừa dối người học bằng thủ đoạn tầm thường ấy?

Đây, hãy đọc cả đoạn văn có câu nói đó của Marx.

Trong tác phẩm “Lời nói đầu Góp phần phê phán triết học pháp quyền của ​H​egel​,​ Karl Marx viết như sau: “S​ự đau khổ của tôn giáo, một mặt là biểu hiện của sự đau khổ hiện thực và mặt khác là sự phản kháng chống sự khổ đau hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân“.

Mặt khác, để hiểu một từ ngữ lại cần khảo sát  kỹ gắn với thực tế.

Thuốc phiện là gì ?

Thuốc phiện (ma túy, opium) có hai mặt: 1. Là chất thuốc cần thiết trong y khoa và không thể thiếu khi điều trị nhiều căn bệnh. 2. Là thứ thuốc ăn chơi sinh ra nghiện ngập và vô số hậu quả tai hại khác. Trong văn cảnh (đoạn văn) nói trên, ý của Marx rất rõ: thuốc phiện là chất giảm đau đớn vì nỗi đau khổ hiện thực, tương ứng với tác dụng thứ nhất của thuốc phiện.

Tiến sĩ Nguyễn Quốc Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu tôn giáo, Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia đã viết bài Kiến nghị giữ lại nguyên trạng Hội dòng Mến thánh giá Thủ Thiêm, Nhà thờ Thủ Thiêm và các cơ sở tôn giáo lâu đời ở vùng đất này. Bài đăng trên Người Đô Thị ngày thứ Sáu, 03/03/2017. Mục tiêu kiến nghị của ông hợp lòng dân và được nhân dân cả nước ủng hộ.

Tuy nhiên cần bàn lại về quan điểm hơi có chút lạc quan sau đây của Ts Tuấn:

Nhờ sự phát triển của kinh tế mà ngày nay văn hóa truyền thống, đặc biệt là văn hóa tâm linh, đang được coi trọng, củng cố ”.

Tiến sĩ cho rằng văn hóa tâm linh ngày nay phát triển là nhờ “kinh tế phát triển”. Tôi e rằng các nhà kinh tế nghiêm túc sẽ phản bác quan điểm này.

Tuy nhiên ý kiến sau của ts Tuấn về tình trạng “tâm linh nhốn nháo” lại có thể chấp nhận được.

Hiện nay có ý kiến rằng lối sống của người Việt Nam đang bị phá vỡ, bon chen, nhốn nháo…Vì thế, những nơi tâm linh là nơi đọng lại tâm hồn con người, giúp con người hướng thiện, sống tốt đẹp hơn. Xã hội hiện đại cần có những hạt nhân tinh thần chi phối đời sống con người, đời sống tâm linh”.

Vấn đề tâm linh nước ta cần nhìn lại cả một quá trình lịch sử.

Trước khi xuất hiện chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhân dân ta cũng đã có sẵn đức tin. Tin vào Trời, Phật, Chúa. Mấy chục năm sau đó, nhà cầm quyền áp đặt “thuyết duy vật vô thần” đã kịp tàn phá một phần không nhỏ đức tin tôn giáo truyền thống của Nhân Dân… Vài chục năm lại đây, thuyết vô thần phá sản không phanh kịp, “đức tin” của nó cũng tiêu biến mất. Thành ra một chế độ mồ côi tâm linh. Con người ta hóa ra bơ vơ về tâm linh. Nhà văn Trần Thanh Cảnh gọi đó là tình trạng “người Việt mồ côi đức tin”. Mồ côi thì bơ vơ, hành vi sẽ tùy tiện, bởi chẳng còn có gì ràng buộc nữa.

Một khi con người ta có đức tin, có niềm tin vào luật Trời, luật nhân quả… người ta sẽ tự tin sống thiện lương. Không cần phải “dâng sao giải hạn” hay cầu cạnh thần linh. Bởi cưỡng cầu cũng không được. Trời có mắt. Tất cả những hành động vô lương tàn ác của ai đó có thể giấu được người chứ không có cách gì che được Trời. Và ngài ghi sổ đầy đủ. Họ sẽ phải trả ngay kiếp này hoặc ở kiếp sau, tùy theo cuộc sống xoay vần. Đó là luật rồi. Thế nên chúng ta hãy sống tử tế, đừng làm điều ác, chẳng phải cầu cúng gì mọi sự vẫn an lành.

Nghe tin phi vụ “dâng sao giải hạn” năm ngoái ở chùa Phúc Khánh Hà Nội tổng doanh thu đến 84 tỷ đồng. Siêu lợi nhuận. Ngân sách thì đang thâm thủng. Liệu cơ quan thuế có biết mò tới  chùa mà xử lý  ? Năm nay không có gì bảo đảm rằng các loại lễ “dâng sao giải hạn” không trên đà phát triển rộng khắp hơn, tràn lan hơn “cùng kỳ năm ngoái”.

Nhóm lợi ích địa phương kết hợp nhóm lợi ích buôn thần bán thánh. Nhìn hình ảnh sau đây mà thấy sợ hãi cho thời buổi nhiễu nhương này.

Có người thử giải thích: Vì mưu sinh quá khổ cực, mất niềm tin vào cuộc sống, nên dân ta cứ mê muội tin vào thánh thần rồi tâm linh, mong có cuộc sống sung sướng. Nhưng càng tin càng thất vọng, bọn người vô luân kia nhân cơ hội tranh tối tranh sáng thu lợi bất chính trên sự đau khổ của dân chúng.

Người khác nói:  Khủng hoảng niềm tin nghiêm trọng, không biết bấu víu vào điều gì nên người ta phải tìm đến Đấng Siêu Nhiên.

Người khác thất vọng: Không còn đức tin thì sớm muộn cũng loạn. Không có tôn giáo chắc cũng thế mà thôi.

Ngày nay đảng viên và công chức đi chùa chiền nhà thờ là chuyện bình thường.

Tuy nhiên từ các đảng viên lan sang công chức, trong các hồ sơ lý lịch phần lớn ở mục ghi TÔN GIÁO vẫn ghi là “Không” (!?).

Rất nhiều người lãnh đạo, từ cán bộ cấp cao nhất là tổng bí thư chủ tịch nước trở xuống đi lễ chùa cầu xin phù hộ để đạt mọi mong muốn. Ai muốn tránh mặt thì sai vợ đi thay.

Chức tước thì do Đảng và tổ chức phân công, cớ gì phải đi lạy lục chỗ này chỗ kia ?

Câu cửa mồm của những kẻ lụy “thánh thần mác lê” là: “tin tưởng tuyệt đối vào đảng” hóa ra xáo rỗng giả dối. Hình ảnh lan rộng trên mạng hai năm qua là ông Nguyễn Tấn Dũng và ông Trần Đại Quang thành kính trầm tư trước Phật đài tiêu biểu cho sự khủng hoảng “đức tin” của Đảng.

Có bao nhiêu cán bộ đảng viên như thế nữa ?

Ngày Tết đi chơi, ghé vãn cảnh chùa chiền đền miếu cũng tốt. Trước Tam bảo hay trước Hậu cung mà ngẫm về cuộc sống cũng có cái thú vui riêng.

Việc thờ cúng ông bà tổ tiên, ơn nhớ những người đi trước, nhất là những người đã bỏ mình vì đại nghĩa là tình cảm tự nhiên của những ai làm người. Chẳng có gì mà ầm ỹ. Lại càng không cần quá nhiều nghi lễ rườm rà. Nghi lễ “cách mạng”luôn có nguy cơ bị tha hóa thành “trò diễn”. Chỉ tổ nuôi béo đám đạo diễn và ca sĩ ca công chạy sô mệt nghỉ.

Năm mới, phong tục mới ra đời.

Lại đến Tết, lại mùa Lễ hội, lại om sòm ỏm tỏi khắp nơi xung quanh các từ khóa “cướp”, “giật”, “đốt”, “chen”, “lấn”, “phát”, “ấn”…. tóm lại là những phàn nàn muôn thưở.

Thấy ai cũng luyến tiếc ngày xưa nó thế này, ngày xưa nó thế khác còn ngày nay thì nó nào là “mất đi” nào là “xuống cấp” nào là do mặt trái kinh tế thị trường ….và thể nào cũng đổ lỗi một phần do giới trẻ!

Cho nên Lễ hội những năm gần đây là làm đầy thêm, làm phì đại cái mặt trái, mặt dở của cái gọi là “truyền thống” chứ có mất đi cái gì đâu!

Cả hệ thống xã hội tham gia vào việc “làm đầy” này, chả thấy ai nỗ lực làm vơi, hay phát huy truyền thống tôn giáo dân tộc!

 Năm ngoái về trước, tục “chém lợn ngang lưng” man rợ bị công luận đả kích dữ dội, nhà cầm quyền địa phương đành phải ra tay. Họ ra qui định hạn chế hành lễ chém lợn trong phạm vi hẹp, kín, cấm người xem.

Năm nay, phong tục mới nảy ra: “nhổ lông lợn cầu may” (xem ảnh).

NHO LONG LON CAU MAY

Chẳng lẽ bây giờ người Việt lại khát trò hành hạ súc vật đến thế này. Họ đang tâm hành hạ con lợn theo kiểu “tùng xẻo” chết dần từng phút. Nhổ từng cái lông cho đến khi nó sống dở chết dở sau đó mới mổ thịt.

Lợn bị xả phanh thây, sau đó người ta chen chúc quệt mảnh giấy vào máu lợn lấy may!

Lợn mổ phanh chấm máu lấy hên

Kết

Sẽ có ít nhất ba tháng liền sau Tết Kỷ Hợi – mùa lễ hội tưng bừng triền miên. Các nhà báo tha hồ được cử đi phản ánh “niềm vui” dân chúng và làm đầy trang báo nhà.

Báo DÂN TRÍ hôm qua góp phần mở mang “dân trí”:

Lòng đường tắc nghẹt để “dâng sao giải hạn” vì sân chùa đã hết chỗ.

Đúng 19h ngày 12/2 (mùng 8 tháng Giêng âm lịch), tại sân chùa Phúc Khánh (quận Đống Đa, Hà Nội) chật kín người đến làm lễ dâng sao giải hạn đầu năm.

Xem VTV1 lúc 19h ngày hôm qua 12/02/2019, thấy đưa tin Thủ tướng Phúc đi kiểm tra thi công chuẩn bị cho Vesak tại ngôi chùa LỚN NHẤT THẾ GIỚI tại Việt Nam.

 

TT PHUC ĐI THĂM CHÙA LỚN NHẤT VN

tt phuc 3Này ông Thủ tướng ơi, ông theo đường lối cộng sản chủ nghĩa mà sao rảnh quá dành cho tâm linh, không còn việc gì điều hành hay sao ?

tt phuc 2

Hay là, nước ta đang ngầm “tự chuyển biến” làm Cộng Hòa XHCN PHẬT GIÁO VIỆT NAM rồi?

Để “Toàn đảng toàn dân cầu xin và hy vọng Phật tổ phù hộ cho nước nhà mau tiến lên được CNXH ”?

Đất nước nhạt nhòa trong hương khói thật rồi ư !

Giang Nam tôi kiến nghị Bộ GD và hoặc Học viện Chính trị Quốc gia HCM cũng nên mở thêm mã ngành Phật giáo hay Bụt giáo gì đó trong hệ thống các trường ĐH, CĐ và TC để đào tạo thầy tu cấp tốc, kẻo quá thiếu nhân lực khi chùa chiền phát triển “nóng” quá nhanh khắp toàn quốc. Tất cả đảng viên phải đi học lớp “Vái, lạy tạ, gục đầu vào vách núi, ngồi bệt, quỳ gối” để phục vụ việc lễ Chùa ! (ý kiến Fb Lê Quang Hợp).

PHN

CÂU CHUYỆN VĂN HỌC ĐẦU NĂM: MỘT SỐ KIẾN GIẢI VỀ BÀI THƠ QUAN HẢI

Phùng Hoài Ngọc

 ————————————-

DẪN: QUAN HẢI của Nguyễn Trãi là một bài thơ có nhiều điểm thú vị về mặt ngữ nghĩa dịch thuật, nhưng thú vị nhất có lẽ nằm ở tựa bài thơ: QUAN HẢI. Vậy QUAN HẢI là gì?

HẢI là biển thì ai cũng biết. Thế nhưng QUAN có nhiều nghĩa, mà nếu không xác định được nghĩa nào, thì bản dịch có khi rất buồn cười. Có người hiểu QUAN là CỬA nên QUAN HẢI là CỬA BIỂN. Có người hiểu QUAN là ĐÓNG nên QUAN HẢI là ĐÓNG CỬA BIỂN. Có người hiểu QUAN là NGẮM nên QUAN HẢI là NGẮM BIỂN . Có người lại hiểu QUAN HẢI là CÔNG TÁC PHÒNG NGỰ TRÊN BIỂN (!) …

Nhưng TỰA THƠ chính là NỘI DUNG rút gọn của cả bài thơ. Hiểu TỰA THƠ khác nhau tất sẽ hiểu NỘI DUNG bài thơ khác nhau. Tuy nhiên đa số các dịch giả Việt Nam, dù hiểu tựa thơ khác nhau, nhưng lại phản ánh được tư tưởng của nội dung bài thơ khá thống nhất: CHỈ CÓ CHÍNH NGHĨA MỚI THẮNG ĐƯỢC HUNG TÀN!

Nếu coi QUAN HẢI là một kiệt tác của danh nhân văn hoá Nguyễn Trãi, thiết tưởng ngữ nghĩa của bài thơ nói chung, và tựa thơ nói riêng cũng nên xem lại. Đối với vấn đề  này, nhà nghiên cứu Phùng Hoài Ngọc đã đưa ra một số kiến giải, xin giới thiệu cùng quý vị độc giả gần xa . Trân trọng. TS VĨNH TUỆ

——————————-

Về bài thơ QUAN HẢI, hiện có hai bản tựa đề khác nhau trôi nổi trên mạng:

關海 (quan hải: đóng cửa biển) chữ “quan” giản thể là: 关

观海( quan hải: quan sát biển, đứng ngắm biển)

Từ đó tồn tại hai kiểu dịch tựa đề khác nhau. Khi in ấn bản gốc nào đó, có thể do ai đó hiểu sai chính tả khi viết chữ « quan » đồng âm, khác chữ (關 và 观). Chúng ta biết chọn chữ nào đây ?

Vậy phải phân tích về nội dung thơ, xét xem tựa đề nào phù hợp nội dung hơn, ta sẽ chọn tựa đề đó.

Có nhiều chữ “quan” khác nhau, xin dẫn ra 2  chữ quan quen thuộc nhất với các nhóm /trường nghĩa khác nhau:

QUAN 1: (ca, đóng cửa) 

1.1 Nghĩa cụ thể, vật chất

Động từ:

Quan hải: 关海đóng cửa biển

Bế quan: 閉关 khép cửa biên giới

Danh từ: Hải quan 海关(nơi xét giấy tờ, hàng hóa, đóng thuế), như Quan thuế

Mục Nam quan (cửa ải nhìn về phương Nam), Quan tái/ Quan ải (cửa khẩu biên giới),

Quan môn (cửa quan)

Quan san: núi non và cửa ải (thế giới nói chung, hàm ý xuyên quốc gia, nghĩa cổ)

v.v…

1.2. Nghĩa trừu tượng, tinh thần, tình cảm, tâm trạng với cường độ mạnh

Quan ngại :关碍: e ngại vì bị cản trở (cô Lê Thu Hằng spokeswoman Bộ ngoại giao hay nói “quan ngại” về tình hình China gây hấn trên biển Đông với ý phản đối rụt rè, nhẹ nhàng. v.v…)

Quan liên 关联: liên quan, dính dáng (chữ này người Việt đọc viết ngược với Hán)

Quan tâm 关心 lưu ý, chăm sóc, giúp đỡ

Quan hoài 关懷: lo lắng chăm sóc giúp đỡ (mạnh, sâu sắc hơn quan tâm)

Quan thiết 1:关切 xem (ai, cái gì) là quan trọng (về ý thức, ý chí)

Quan thiết 2:关切 gần gũi quan tâm (về tình cảm)

Quan hệ:关系 mối liên hệ, liên lạc (như can hệ 干系)

* Nhân tiện, thử phân tích 1 động từ “quan tâm”: đóng, khoá, ngừng trái tim để dành cho/với ai đó (ví dụ: anh A hồi này rất quan tâm tới cô B: tức là, anh A hồi này khóa/dừng/tạm khép trái tim/tâm hồn với người khác, chỉ dành cho cô B. Tức là, anh A đã dành tình cảm và hành động cho/vì cô B.

QUAN 2: (nhìn, ngắm…)

Quan hải: : quan sát biển

Quan sát 观察 (nhìn tìm hiểu), quan khán 观看(nhìn thưởng thức)

Quan trắc 观测: đo đạc bằng mắt và dụng cụ

Kỳ quan 奇观: vật hiếm lạ quí

Giác quan 覺观

Quan điểm: 观点

Quan niệm: 观念

Thế giới quan:世介观

Hiện nay, bạn đọc đang băn khoăn giữa QUAN 1 hay QUAN 2, vậy cái nào là tựa đề của Nguyễn Trãi ?

關海   hay là ?

Chọn một bản gốc:

樁木重重海浪前,
沉江鐵鎖亦徒然。
覆舟始信民猶水,
恃險難憑命在天。
禍福有媒非一日,
英雄遺恨幾千年。
乾坤今古無窮意,
卻在滄浪遠樹煙。

(câu 8 có dị bản: 卻在滄遠樹煙)

Phiên âm:

 QUAN HẢI

Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền,
Trầm giang thiết toả diệc đồ nhiên.
Phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ,
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên.
Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật,
Anh hùng di hận kỉ thiên niên.
Kiền khôn kim cổ vô cùng ý,
Khước tại thương lang viễn thụ yên.

Dịch nghĩa

Cọc gỗ lớp lớp trồng trước sóng biển
Xích sắt cũng được trầm dưới nước để phong toả như thế
Thuyền có bị lật mới biết rằng dân chẳng khác gì nước
Cậy vào địa thế hiểm trở cũng khó bằng mệnh trời
Họa phúc đều có duyên do, đâu phải chỉ một ngày.
Anh hùng để lại mối hận nghìn năm
Xưa nay ý trời đất thì vô cùng tận
Lui về chốn cây cỏ s
ương khói xa xôi.

 Bản dịch của nhóm Đào Duy Anh :

 Lớp lớp rào lim ngăn sóng biển,
Khoá sông xích sắt cũng vầy thôi.
Lật thuyền mới rõ dân như nước,
Cậy hiểm khôn xoay mệnh ở trời.
Hoạ phúc gây mầm không một chốc,
Anh hùng để hận mấy trăm đời.
Vô cùng trời đất gương kim cổ,
Cây khói xa mù bát ngát khơi.


(Nguồn: Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học xã hội, 1976)

Nhiều bản dịch khác chọn “xứ Thương Lang”: (địa danh)

Bản dịch của NGUYỄN ĐẠI HOÀNG:

 ĐỨNG TRƯỚC BIỂN

 Cọc gỗ trùng trùng chắn biển khơi

Sông sâu lưới sắt bủa nơi nơi

Lật thuyền mới biết dân như nước

Cậy hiểm nào hay mệnh tại trời

Hoạ phúc ngọn nguồn đâu một lúc

Anh hùng để hận đến muôn đời

Chuyện trời đất cổ kim vô tận

Khói rừng xa suối biếc sương rơi…

Bài thơ QUAN HẢI của Nguyễn Trải tương truyền được ông làm ra, nhân khi đi qua công trình phòng thủ mà nhà Hồ đã xây dựng để chống giặc Minh xâm lược. Tuy chiến thuật này là giống với chiến thuật của các bậc tiền nhân- như Ngô Quyền chống quân Nam Hán, Lê Hoàn chống quân Tống, Trần Hưng Đạo chống Nguyên Mông- nhưng tiền nhân đại thắng, còn cha con Hồ Quý Ly đại bại.

 Nhà Hồ cũng vẫn sử dụng hiểm địa, dùng cọc lim trồng ở cửa biển, xích sắt giăng ngầm đáy sông…nhưng lòng dân, niềm tin của dân bây giờ đã khác. Đây là giai đoạn nhà Hồ mới đoạt vương quyền nhân lúc nhà Trần suy thoái, nhưng lòng dân chưa theo nhà Hồ. Đó là lý do Nguyễn Trãi nói: “Phúc do thuỷ tín dân do thuỷ”.

 Nguyễn Trãi viết “Phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ” là dựa vào điển cố Tuân Tử, một triết gia nước Triệu (Trung Quốc, sống từ khoảng giữa thế kỷ 4 và 3 trước Công Nguyên). đã nói: “Dân do thủy dã, thủy năng tải chu, nhi năng phúc chu” (Dân cũng như nước, nước chở thuyền được mà cũng làm lật thuyền được).

Ta nên chọn tựa đề nào cho bài thơ thất ngôn bát cú ?

 Chỉ có 2/8 câu thơ mở đầu nói về việc “đóng cửa biển, khóa biển” (quan hải 關海). Thực ra phải dịch là “chặn biển” tức là hành động ngăn chặn quân xâm lược phương Bắc, phù hợp với hoàn cảnh nhà Hồ sắp mất vào nhà Minh xâm lược (nghĩa chung của “quan hải” là: nhà cầm quyền tuyên bố lệnh cấm tàu thuyền nước khác đi vào vùng biển chủ quyền của mình).

Tuy nhiên, phần chính bài thơ còn tới 6/8 câu thơ tả việc nhà thơ quan sát biển mà suy ngẫm về sức mạnh Nhân dân, về Mệnh trời, về anh hùng thất thế, và đặc biệt câu kết bài thi nhân tỏ vẻ thất vọng nhà Hồ, tỏ ý lui về chốn xa xôi hoang vắng ẩn mình.

Rút cục thì, “chặn biển” hay là “quan sát biển, ngắm biển”? Phải chọn một chứ không thể dung hòa.

Trộm nghĩ rằng, tựa đề phải là “quan sát biển” mà bản dịch “Đứng trước biển” của Nguyễn Đại Hoàng vừa chính xác vừa đậm tính văn chương.

Câu 8 cuối cùng cũng có hai dị bản: thương lãng hay Thương Lang ?

滄 thương: biển, màu xanh, rét lạnh,  浪 lãng: sóng nước. Thương lãng: sóng xanh/biếc

蒗 lang: tên đất (ví dụ 滄蒗:Thương Lang). 

“Lang” sinh ra từ chữ lãng thêm bộ thảo (cỏ 艹) trên đầu: , chỉ địa danh.

Hai dị bản câu cuối đều phù hợp bài thơ, chọn cái nào cũng được.

Giá như chữ Hán có qui định viết hoa như chữ la tinh thì điạ danh “Thương Lang” được biết ngay.

CUỘC TRAO ĐỔI NGẮN VỚI NGUYỄN ĐẠI HOÀNG

Tôi đem bài thơ nói trên trao đổi với Nguyễn Đại Hoàng. Nguyễn quân bảo chỉ mạo muội trao đổi, góp ý với các bạn trẻ, các bạn sinh viên học sinh, những bạn vốn chưa học qua chữ Hán và các điển tích mà thôi.

> VỀ TỰA BÀI THƠ :

Khi được hỏi vì sao lại dịch QUAN HẢI là ĐỨNG TRƯỚC BIỂN, Nguyễn Quân luận rằng: 

 Chữ HẢI là biển thì ai cũng biết.Thế nhưng chữ QUAN lại có nhiều nghĩa, mà nếu không xác định được nghĩa nào, thì bản dịch có khi rất buồn cười. Có người hiểu QUAN là CỬA nên dịch là CỬA BIỂN. Có người hiểu QUAN là ĐÓNG nên dịch là ĐÓNG CỬA BIỂN. Có người hiểu QUAN là NHÌN NGẮM, QUAN SÁT nên dịch là NGẮM BIỂN, thậm chí có người còn đi xa hơn khi dịch QUAN HẢI là CÔNG TÁC PHÒNG NGỰ TRÊN BIỂN (sic)! Theo tôi QUAN dịch là QUAN SÁT, NGẮM NHÌN là phù hợp. Nhưng nên hiểu : NGẮM bằng MẮT, và CẢM bằng TIM. Nói cách khác, đằng sau chữ QUAN hữu hình còn một chữ QUAN vô hình khác nữa. Và bởi không có một chữ QUAN thứ ba nào khác có thể thay thế cho 2 chữ QUAN trên. Nên cụm từ ĐỨNG TRƯỚC BIỂN là khả dĩ nhất để dịch tựa bài thơ QUAN HẢI. Đứng trước biển là để NGẮM và để NGHĨ. Chỉ vậy thôi!

> VỀ CÂU THƠ CUỐI :

卻在滄浪遠樹烟

Khước tại thương lang viễn thụ yên

Khi bàn về ý nghĩa câu thơ này, Nguyễn quân cho rằng : “thương lang” 滄浪 có mấy nghĩa sau đây :

  1. Thương Lang : phần hạ lưu sông Hán (Trung Quốc).  Trong bài ca Ngư Phủ của Khuất Nguyên, có hai câu :Thương Lang chi thủy thanh hề, khả dĩ trạc ngã anh
    Thương Lang chi thủy trọc hề, khả dĩ trạc ngã túc.

Dòng nước Thương Lang trong ư? Ta có thể giặt giãi mũ
Dòng nước Thương Lang đục ư? Ta có thể rửa chân

Trong thi văn, Thương Lang thường dùng để chỉ nơi ẩn dật.

 2.Thương lang : Nước xanh ( biếc). 

Trong bản dịch của mình, Nguyễn quân đã chọn thương lang với ý nghĩa là “nước biếc, suối biếc”.

Nguyễn quân cũng lưu ý:

Chữ YÊN trong câu thơ nói trên có nghĩa là sương, khói – chứ không phải là bình yên như nhiều bạn trẻ đã hiểu. Nhân tiện cũng nói thêm về câu thơ :英雄遺恨幾千年 – Anh hùng di hận kỷ thiên niên thì chữ kỷ trong kỷ thiên niên (kỷ: vài ba, several) khác với chữ kỷ trong thiên niên kỷ (kỷ: giai đoạn, period)! Câu thơ nói trên cũng bị nhiều bạn trẻ hiểu đại khái là: anh hùng HẬN đến ngàn năm. Trong đó HẬN là động từ.

Nhưng thực ra phải hiểu là: dù là anh hùng, nhưng nếu làm sai, thì anh hùng BỊ hậu thế HẬN cả ngàn năm.  Nghĩa là ANH HÙNG BỊ HẬN chứ không phải ANH HÙNG HẬN đâu! Quả đúng vậy :英雄遺恨幾千年 – Anh hùng di hận kỷ thiên niên. Các bạn hãy xem chữ DI HẬN遺恨 thì rõ. Về mặt ngữ pháp thì DI ở đây là động từ, còn HẬN là danh từ! Anh hùng để hận đến muôn đời. Tôi hiểu vậy, không biết Phùng tiên sinh và quý vị thân hữu nghĩ sao? ….”

Tôi chưa kịp trả lời thì Nguyễn quân đã hẹn sẽ cùng tôi trở lại bài QUAN HẢI trong một dịp khác. Sâu xa và khúc chiết hơn. Ít nhất là sẽ luận về 2 câu kết, khi tôi toan lôi kéo Nguyễn quân quay trở lại câu thơ cuối, bằng cách buông lời “khích bác” theo kiểu kiếm hiệp :   

卻在滄浪遠樹烟

Khước tại thương lang viễn thụ yên

Khói rừng xa suối biếc sương rơi….

“ Này các hạ! Viễn Thụ mà dịch là Rừng Xa nghe được đấy! Nhưng mà câu thơ dịch Khói rừng xa suối biếc sương rơi…. tại hạ nghe có vẻ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư thế chứ! Liệu có đúng ý cụ Nguyễn Trải không hả Nguyễn đại nhân …?

 Nguyễn quân cũng chỉ cười trừ mà rằng: Đã hẹn rồi mà! Và nói thêm: Tôi sẽ tiếp tục trao đổi cùng Phùng tiên sinh, nếu tiên sinh đối được câu sau đây trong vòng 5 phút: 

“Quan hải quan quan hải”

….………………………..

Thôi thế thì thôi vậy, tôi đành hẹn lại quý vị thân hữu trong những bài viết sau vậy. Kính chúc quý vị thân hữu, các bạn trẻ gần xa một năm mới hạnh phúc, thành công (Đừng quên đối lại câu xuất nói trên của Nguyễn quân nhé!

Trân trọng.

 PHÙNG HOÀI NGỌC

2/2019

Sự tích Táo quân, đài VTV3 và Cụ Tổng đi phóng sinh cá chép Hồ Gươm

Phùng Hoài Ngọc

*** Đăng trên tờ VNTB

Ngày 22 tháng Chạp âm lịch năm con chó Mậu Tuất, vợ chồng ông Tổng Chủ và giàn quan chức năm nay sáng kiến tô đậm hình ảnh tân chủ tịch Nước và Đệ nhất phu nhân. Họ đi phóng sinh một thau cá chép đỏ ở Hồ Kiếm, nhân tiện gắn tên tuổi tân vương với cựu vương Lê Lợi trả kiếm cho hồ. Có vẻ quan chức cao cấp nước ta và Tổng Chủ quí trọng bảo tồn truyền thống dân gian, tôn vinh Táo quân dịp Tết năm con heo Kỷ Hợi 2019.

sư tich Tao quan

Tuy nhiên, éo le thay, tối 30 tết, VTV3 lại công diễn chương trình GẶP GỠ CUỐI NĂM, còn gọi “Táo quân về trời” được nhiều báo chí khai thác từ lúc giàn diễn viên hề còn đang tập luyện và đùa giỡn khá tục tĩu. Dân chúng thì nao nức haó hức chờ đón giờ truyền hình cuối năm âm lịch. Họ chờ đợi điều gì ? Họ dự đoán năm nay chuyện gì và nhân vật nào của hệ thống chính trị xã hội sẽ bị chế giễu. Báo chí quốc doanh và Mạng Xã Hội đăng lại nhiều góc hình diễn viên hài đang tập luyện… Lời bình rôm rả.

Hai sự kiện trên đã thể hiện rõ nét tính nước đôi  văn hóa Việt Nam.

“Tư tưởng nước đôi” này chính là cái nhược điểm chết người của dân tộc ta, khiến nó cứ bùng nhùng không phân định được đâu là truyền thống đâu là hủ tục.

Nhân đây tôi xin đóng vai nhà Folklore học khảo lại sự tích Táo quân, từ đó soi chiếu vào “hai hiện tượng” trên.

Truyện cổ tích Việt Nam: “Sự tích ba ông đầu rau”

 Từ hình ảnh cái bếp gồm ba cục đất nặn hình hộp vuông hoặc khối chữ nhật (sau này phát triển thành kiềng sắt ba chân), ai đó sáng tác chuyện “Sự tích ba ông đầu rau”. Chuyện kể hai vợ chồng nghèo, người chồng phải tha phương đi làm ăn xa. Luôn luôn gặp khó khăn, người chồng không thể về quê. Vợ ở nhà chờ đợi mãi không có tin tức gì, nghĩ chồng đã chết rồi nên đã đi bước nữa. Một ngày nọ người chồng cũ lần tìm về quê nhà. Một cuộc đoàn viên tay ba éo le mừng mừng tủi tủi. Khó xử cho cả ba người. Người vợ xấu hổ nên đã đâm đầu vào đống lửa tự vẫn. Lần lượt hai ngừi chồng cũng đâm vào chết theo cho trọn nghĩa vợ chồng. Thượng đế thương tình và cám cảnh ba người chung tình liền cho họ làm ba ông đầu rau để được sống mãi bên nhau.

Rõ là thi pháp của truyện cổ tích là tìm cách gán cho ba cục đất mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Từ đó lại đẻ thêm truyện ông vua Bếp hàng năm bay về thượng giới trình báo chuyện nhân gian cho Ngọc Hoàng biết.

Lại sinh thêm truyền thuyết vua Bếp về báo cáo việc cai trị của vua chúa quan lại địa phương cho thiên đình nắm được. Câu chuyện này mang ý nghĩa phản phong, phát triển từ câu chuyện trước. Đó cũng là một cách phản biện dân gian về chính trị xã hội.

Các nhà sáng tác hài kịch dân gian lại vẽ thêm “con cá chép” được chọn cho vua Bếp cưỡi. Còn vua Bếp chỉ mặc áo thụng, không mặc quần (vì ngồi trong bếp sợ quần bén lửa). Vua Bếp hiện ra vừa trân trọng linh thiêng lại vừa hài hước dung tục. Đó cũng chính là sự thể hiện “tính nước đôi” trong sáng tác dân gian. Bởi vậy ngay từ thời phong kiến, giai cấp thống trị không phải ngẫu nhiên mà đều rất coi khinh coi rẻ văn nghệ dân gian vì cái tính thiếu nhất quán của nó.

Phong tục cúng ông Táo

Táo quân (chữ Hán: 灶君); Táo vương (灶王) gốc Trung Hoa có nghĩa Vua Bếp, người ta gọi  nôm là Ông Táo trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, được xem là vị thần cai quản việc bếp lửa trong mỗi nhà. (Táo: 灶, zào, có nghĩa là bếp (bộ hỏa kết hợp bộ thổ).  Chữ Táo cũng dùng gọi ba suất ăn trong hệ thống chính trị Trung cộng nhập khẩu vào Việt Nam từ hồi chiến tranh Việt- Pháp. Ban đầu chỉ áp dụng cho cố vấn và lính  Trung cộng sau  cán bộ sĩ quan của ông Hồ Chí Minh cũng học theo, ngay từ trong kháng chiến 9 năm. “Tiểu táo” dành cho cán bộ tướng lĩnh và cán bộ cao cấp, “trung táo” cho cán bộ trung cấp, còn “đại táo” dành cho lính trơn ! Mới đầu bộ đội nghe được ăn “đại táo” tưởng là mâm to, cỗ đầy, ngờ đâu “đại” là cái nồi, chảo to nấu ăn cho lính tráng ăn “đại trà”. “Tiểu táo” tuy nhỏ nhưng là suất ăn đặc biệt nấu trong bếp nhỏ, nồi nhỏ cho cao cấp).

Tín ngưỡng dân gian Việt Nam và Trung Quốc đều phong thần cho hai vị trí đặc biệt trong mỗi ngôi nhà. Góc nhà là nơi thờ thần Đất (Địa công, ông Địa) với niềm tin vị thần này giữ gìn an ninh con người và nhà cửa. Hỏa thần (tức Táo quân, vua Bếp) phù hộ việc ăn uống. Đó là nguồn gốc thờ thần Bếp. Hàng năm dân chúng chọn một ngày cúng lễ vua Bếp, 23 tháng Chạp âm lịch. Tín ngưỡng này không liên quan gì chuyện Táo quân về Trời báo cáo và cưỡi cá chép.  Mỗi gia đình một mâm cỗ cúng là xong.

Phong tục thả cá phóng sinh bắt nguồn từ giáo lý nhà Phật.

  Đạo Phật có lời răn giới “Chim sa cá nhảy”. Các nhà sư dạy rằng đi đường gặp “chim sa” tức con chim bị bệnh rơi xuống thì nuôi dưỡng nó, khi nó khỏe rồi thì thả bay đi. “Cá nhảy” là con cá dưới ao hồ vì nhảy mạnh lỡ đà văng lên mặt đất. Ai bắt gặp thì thả con cá xuống nước. Đi đường gặp “chim sa cá nhảy” chớ ham ăn mà bắt mang về mang tội rất nặng. Từ đó nhà chùa lại đẻ ra tục lệ “phóng sinh” thực ra trải qua bao thế kỷ, không phải ai cũng làm theo, ngay cả bây giờ cũng vậy. Con chim đang sống tự do, con cá đang vùng vẫy chốn ao hồ, dùng bẫy và lưới bắt về rồi lại làm “lễ phóng sinh”, chẳng phải là sự gian dối hay sao.

Đó cũng là tính nước đôi của phong tục tập quán nước ta và Tàu.

Sự tích Táo quân cưỡi cá chép mang tính hư cấu tùy tiện. Nhà folklore chất vấn tại sao chỉ là cá chép, mà không thể là con cá khác ? Sao không cưỡi chim mà lại cưỡi cá ? Thiên đình tọa lạc ở dưới thủy cung hay sao ?

“Gặp gỡ Táo quân vừa tôn trọng vừa chế giễu hài hước

Đây vẫn là biểu hiện rõ nét về tính nước đôi của văn hóa ngệ thuật Việt.

Suốt 15 năm qua đài truyền hình quốc gia VTV dàn dựng công phu tiết mục “Táo quân” tức “Gặp gỡ cuối năm”. Nội dung vừa tôn trọng vừa chế giễu các vị Táo quân và cả thiên đình. Cảm hứng chế giễu rõ ràng lấn át cảm hứng trân trọng. Thêm một tính nước đôi văn hóa Việt mang tính ngụy biện.

Sự kiện vợ chồng ông Tổng Chủ chọn ngày 22 tháng Chạp âm lịch ra bờ Hồ Hoàn Kiếm làm lễ phóng sinh một thau cá chừng một kí lô, rõ là một động thái hình thức “diễn” để xây dựng hình ảnh một lãnh tụ làm gương cho Dân ngày 23 hưởng ứng phóng sinh. Sau đó 7 ngày công chúng lại xúm quanh ti vi xem Táo quân và triều đình diễn hề, mặc dù được tiếng vớt vát là phê phán thói hư tật xấu. Các đài miền Nam nhất là Sài Gòn cũng đua đòi theo VTV đổ tiền bạc làm trò hề Táo quân, phiên bản miền Nam. Làm mãi cũng nhàm nhưng còn biết làm gì hơn !

Đài truyền hình quốc gia VTV đã chính thức “giải thiêng” hình ảnh Táo quân và Ngọc Hoàng thượng đế. Tuy nhiên đến cuối tiết mục lại ca tụng, đánh bóng hình ảnh Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu và các Táo cùng nhau đồng thanh nói/ hát một câu “kết luận” theo đúng “định hướng xã hội chủ nghĩa”, lấy lại lập trường kiên định.

Sáng tạo tiết mục “Gặp gỡ Táo quân” đã vô hình trung phá bỏ hình ảnh đáng tôn trọng của tín ngưỡng dân gian.

Những ông, bà Táo ăn mặc đủ kiểu nhí nhố, cãi lộn, chọc tức nhau, thậm chí cùng với hai vị quan triều đình Nam Tào, Bắc Đẩu dám giễu cợt cả Ngọc Hoàng ! Công chúng phần nhiều ngóng theo để được cười xả láng. Như vậy công chúng tự mâu thuẫn với mình khi họ vừa cúng lễ trịnh trọng ngày 23 thì đúng một tuần sau lại hồi hộp theo dõi các Táo  diễn trò và cả Ngọc Hoàng cũng tự chế giễu, bị chế giễu ! Giữa cái văn hóa tín ngưỡng nước đôi như thế, ông Tổng Chủ vốn gốc dân Văn nghĩ gì, hay là tranh thủ làm gì đó cho hình ảnh của mình và hệ thống  là được ?

Đó là vì “tư tưởng văn hóa nước đôi” !

“Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Tín ngưỡng cúng 23 tháng Chạp vốn không kèm theo hủ tục, xin cứ việc giữ gìn vì nó vô hại.

Chuyện cá phóng sinh vốn thuộc Phật giáo, không nhất thiết phải gắn vào ngày cúng ông Táo thuộc phạm trù Nho giáo.

Năm nay không khí chờ đợi được nhắc nhở sớm hơn. Ấy là nhờ vợ chồng ông Tổng Chủ làm ra màn daọ đầu hấp dẫn. Đệ nhất phu nhân nước Việt mặc đồ rất chói mắt: áo thêu rồng đỏ chói và tấm quần vàng chóe: một game màu nóng hực lên giữa trời Hà Nội se lạnh. Ông xã bận complet xám chính khách. Đội ngũ tháp tùng cà vạt com lê xúm quanh hình bán nguyệt  lại thêm một nhà sư áo vàng và ông đạo sĩ áo đỏ, vỗ tay cười hỉ hả. Cameraman đứng từ phiá bờ hồ đối diện chụp nhiều góc máy, đăng trên nhiều báo chí quốc doanh…

Đó là ca tụng hay là chế giễu ?

Lại thể hiện tính nước đôi của văn hóa Việt !

PHN

TẦM QUAN TRỌNG CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI-NHÂN VĂN TẠI MỸ

HÔM NAY 11/2/2019 tờ báo OBSERVER (Người quan sát) đăng bài viết của nhà nghiên cứu Nguyễn Hải Hoành. Tờ “Nghiên cứu quốc tế.org” đăng lại bản tiếng Việt.

Observer (Người quan sát) là một tờ báo của nước Anh được xuất bản vào chủ nhật. Ở cùng một vị trí chính trị như các tờ báo chị em của nó The Guardian (Người bảo vệ) và The Guardian Weekly (tuần báo Người bảo vệ), có công ty mẹ là Guardian Media Group Limited, theo đường lối dân chủ xã hội hoặc tự do xã hội trong hầu hết các vấn đề.

Tờ báo Observer xuất bản số đầu tiên năm 1791.

Tác giả: Nguyễn Hải Hoành

Cho tới nay vẫn còn có người cho rằng nước Mỹ chỉ chú trọng phát triển khoa học tự nhiên và kỹ thuật (viết tắt KHKT) mà coi nhẹ khoa học xã hội và nhân văn (KHXHNV). Một số học giả Trung Quốc nói văn hóa Mỹ và phương Tây chỉ nhấn mạnh cách làm việc mà coi nhẹ luân lý đạo đức, chỉ có văn hóa Trung Hoa (nhất là Nho học) nhấn mạnh luân lý đạo đức, chú ý trau dồi cách tu dưỡng làm người.

Sách Nghiên cứu chiến lược xuất bản năm 2003 của nhà chiến lược học nổi tiếng TQ Nữu Tiên Chung viết đại ý:

“Người Mỹ coi trọng công nghệ mà không coi trọng tư tưởng, coi trọng quản lý mà không coi trọng chiến lược. Họ có tâm trạng ăn xổi ở thì, chỉ cầu lợi trước mắt, dân Mỹ thiếu ý thức lịch sử, với bất cứ vấn đề nào họ đều muốn tìm kiếm giải đáp có tính kỹ thuật.[1]”.

 Ngay ở nước Mỹ hiện nay vẫn có học sinh vì cho rằng tư duy kỹ thuật cần được coi trọng hơn tư duy xã hội mà phân vân trước việc nên ưu tiên học ngành KHKT hay các môn xã hội và nhân văn.[2]

Thực ra từ ngày lập quốc tới nay, chính quyền cũng như giới tinh hoa nước Mỹ luôn luôn chú trọng phát triển cả KHKT cũng như KHXHNV; nhưng vì thành tựu KHXHNV ít có các biểu hiện bề nổi nên người ta khó nhận thấy. Nếu coi nhẹ KHXHNV, coi nhẹ tư tưởng, thiếu ý thức lịch sử và đầu óc chiến lược thì nước Mỹ sao có thể chỉ sau hơn trăm năm lập quốc mà vượt qua tất cả các cường quốc có lịch sử lâu đời, vươn lên vị trí siêu cường số một thế giới cả về sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Tiến trình ấy có lúc trắc trở, thất bại nhưng nhìn chung là một chặng đường thuận lợi. Từ lúc đấu tranh giành độc lập cho tới lúc mở mang bờ cõi, xây dựng đất nước, chiến thắng các quốc gia thù địch trong hai cuộc thế chiến và chiến tranh lạnh, nước Mỹ luôn tiến lên với tốc độ cao, từ đầu thế kỷ 20 cho tới nay giữ vị trí hàng đầu về KHKT và KHXHNV; sau Thế chiến II trở thành quốc gia lãnh đạo thế giới và có tiềm lực giữ được vai trò này trong một thời gian dài nữa.

KHOA HỌC XÃ HỘI ĐI TRƯỚC, QUYẾT SÁCH NHÀ NƯỚC ĐI SAU

Sự phát triển KHXHNV Mỹ có đặc điểm là nghiên cứu KHXHNV phục vụ trực tiếp cho việc chính quyền hoạch định đường lối chính sách đối nội đối ngoại. Đó là do các thế hệ nhà lãnh đạo Mỹ đều chủ trương mọi quyết sách lớn của nhà nước phải dựa vào các nghiên cứu đi trước của giới KHXHNV. Mặt khác, trong xã hội dân sự, mọi người dân đều có ý thức làm chủ đất nước, các nhà KHXHNV Mỹ luôn mong muốn kết quả nghiên cứu của mình có thể tác động tới chính quyền và xã hội, chứ không muốn nghiên cứu để mà nghiên cứu. Tương tác như vậy giữa chính quyền với giới khoa học đã giúp cho KHXHNV Mỹ phát triển rất sôi động; đầu tư vào ngành KHXHNV đem lại hiệu quả thiết thực. Phần lớn chính sách đối nội về cơ bản phù hợp nguyện vọng của dân, nhờ thế xã hội Mỹ từ ngày lập quốc (1776) tới nay luôn giữ được ổn định không hề xảy ra đảo chính hoặc cách mạng lật đổ chính phủ, cho dù dân chúng được hưởng quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp biểu tình (thậm chí được sở hữu vũ khí) và phế truất Tổng thống. Duy nhất có một lần tổng thống từ chức (Nixon, do vụ bê bối Watergate).

MINH BẠCH CÁC TƯ LIỆU LỊịCH SỬ là điều kiện tiên quyết cực kỳ quan trọng để khoa học XHNV phát triển, bởi lẽ tư liệu lịch sử là “nguyên vật liệu” để làm ra các sản phẩm KHXHNV; tư liệu mập mờ hoặc sai sự thật thì không thể có sản phẩm KHXHNV tốt. Chính phủ Mỹ quy định mọi sự thật lịch sử sau 30 năm phải được công khai cho dư luận biết; mới đây họ đã công khai toàn bộ hồ sơ về chiến tranh Việt Nam. Từ đầu thế kỷ 20, chính phủ Mỹ đã lập Cục Thống kê nhà nước, một việc làm rất quan trọng thể hiện nhà nước quan tâm phát triển KHXHNV. Hiển nhiên, không có các số liệu thống kê tin cậy về mọi mặt thì giới KHXHNV, trước hết là kinh tế học, sẽ không có căn cứ để tiến hành nghiên cứu hữu hiệu.

Trong Thế chiến I, quân đội Mỹ vận dụng tâm lý học để trắc nghiệm tâm lý binh sĩ, thiết thực dùng tâm lý học phục vụ chiến tranh. Cuối thập niên 1920, Tổng thống Hoover tổ chức các nhà KHXHNV nghiên cứu vấn đề xu thế phát triển xã hội Mỹ. Trong Đại khủng hoảng kinh tế thập niên 1930, chính phủ đã áp dụng nhiều thành tựu KHXHNV nhất là kinh tế học để vạch ra Chính sách kinh tế mới (New Deal). Trước Thế chiến II, chính phủ Roosevelt đưa ra các nguyên tắc cơ bản phát triển KHKT và KHXHNV sau chiến tranh.

Trong Thế chiến II, chính phủ Mỹ động viên nhiều nhà KHXHNV trong các trường đại học và cơ quan nghiên cứu tư nhân tham gia nghiên cứu tình hình trong nước và quốc tế để cung cấp căn cứ lý luận giúp chính phủ ấn định các quyết sách.

Cơ quan điều tra xã hội của chính phủ Anh nhận xét: Các nhà KHXHNV Mỹ trong mọi lĩnh vực đều tham gia chiến tranh. Các nhà nhân học và địa lý học nhận nhiệm vụ cung cấp các thông tin về dân tộc và địa lý ở vùng Thái Bình Dương. Các nhà kinh tế và chính trị học nghiên cứu việc sản xuất và kiểm soát các vật tư quân sự. Các nhà tâm lý học hăng hái tòng quân để làm công tác tuyên truyền trong quân đội. Từ cuộc chiến tranh này, chính phủ Mỹ hiểu được rằng địa vị quốc tế mới của nước Mỹ đòi hỏi phải có những người hiểu được lối sống và ngôn ngữ của các dân tộc khác.

Ngành KHXHNV đã đề xuất nhiều biện pháp cụ thể về chính sách kinh tế, phân phối tài nguyên, chiến tranh tâm lý. Như nghiên cứu đưa ra bản báo cáo về tình trạng tâm lý của con người Hitler để chính phủ Mỹ dùng làm căn cứ lên kế hoạch tấn công nước Đức. Trước chiến dịch giải phóng các đảo quốc Nam Thái Bình Dương, ngành KHXHNV Mỹ đã nghiên cứu văn hóa, phong tục dân gian các xứ này để quân đội Mỹ dựa vào đó đưa ra các điều lệ quy định cách ứng xử khi chiếm đóng các đảo quốc nhằm giữ được quan hệ thân thiện với dân địa phương. Cũng với cách làm đó, khi chiếm đóng các quốc gia thù địch Đức, Nhật, quân đội Mỹ đã gây được ấn tượng tốt với dân bản xứ. Một nhà ngoại giao Nhật nói: “Trong keo vật tinh thần với người Mỹ, chúng tôi bị một dạng quan niệm cao hơn đánh bại. Vấn đề đích thực là vấn đề về đạo đức; chúng tôi thua về đạo đức”. Dưới sự chỉ huy của tướng MacArthur, quân đội Mỹ chiếm đóng Nhật đã để lại ấn tượng tốt trong lòng người dân Nhật.

Khi vừa mới tham gia Thế chiến II, giới tinh hoa Mỹ nhìn xa trông rộng đã lập tức nghiên cứu thiết kế tổng thể thế giới sau khi chiến tranh chấm dứt. Chính phủ tập hợp các học giả, nhà báo, nghị sĩ, sĩ quan vào các nhóm tư vấn để nghiên cứu bàn thảo rộng rãi về mọi công việc sau chiến tranh như cách thức chiếm đóng các nước thù địch, cách điều chỉnh lãnh thổ thế giới, an ninh quốc tế, phục hồi quan hệ thương mại… Một ví dụ: ngay trong khi thừa nhận nước Trung Hoa Dân quốc của Quốc dân đảng TQ là đồng minh chống phát xít, Mỹ đã đưa ra chiến lược ngăn chặn sự bành trướng của ông bạn này, vì họ cho rằng TQ trước sau dứt khoát sẽ bành trướng.

Khi Thế chiến II chấm dứt, Mỹ lập tức thi công bản thiết kế tổng thể đó, ra sức tạo dựng một thế giới phù hợp lợi ích của mình. Họ đã xây dựng được một hệ thống thể chế có tính toàn cầu về kinh tế, tài chính-tiền tệ, tư tưởng, quân sự và các quy chế chung. Từ đó nước Mỹ dẫn đầu thế giới trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực KHXHNV nói riêng và sức mạnh mềm nói chung.

Bước vào cuộc chiến tranh lạnh với Liên Xô, Mỹ không chỉ ra sức phát triển công nghệ hạt nhân và vũ trụ mà còn ra sức phát triển KHXHNV theo quan điểm lấy con người làm gốc; xây dựng hệ thống lý luận về chiến tranh lạnh trên cơ sở dùng tăng trưởng kinh tế cao và ưu thế về giá trị quan tự do, dân chủ, nhân quyền để thắng đối phương mà không cần đụng độ về quân sự.

Chương trình khôi phục kinh tế của Tổng thống Truman đề xuất quan điểm: “Đẩy mạnh phát triển KHXHNV là yếu tố quan trọng để nước Mỹ giữ vai trò lãnh đạo thế giới”. Các Quỹ tư nhân đều ủng hộ quan điểm này. Năm 1950, Quỹ Ford tài trợ kinh phí lớn cho việc nghiên cứu các ngành khoa học hành vi[3] như tâm lý học, xã hội học, nhân học; trong 6 năm Quỹ này đã lập một số trung tâm nghiên cứu; về sau mở rộng sang kinh tế học, chính trị học, ngôn ngữ học, v.v.. Một loạt think-tank mọc ra như nấm đưa nghiên cứu KHXHNV lên một cao trào mới.

Năm 1958, Tổng thống Eisenhower lập các nhóm chuyên gia nghiên cứu đưa ra báo cáo Nhà nước ủng hộ khoa học hành vi”, đề xuất KHXHNV Mỹ phải giữ được ưu thế rõ rệt so với Liên Xô, muốn vậy nhà nước phải tăng mạnh tài trợ. Năm 1962, Tiểu ban Cố vấn khoa học của Tổng thống đưa ra báo cáo “Tăng cường khoa học hành vi”, kiến nghị đưa giáo dục tri thức KHXHNV vào chương trình phổ thông trung học và kiến nghị tất cả các chính sách lớn của chính phủ đều phải căn cứ vào kết quả nghiên cứu đi trước của ngành KHXHNV.

Báo cáo “Biến trí thức thành hành động: cải tiến việc nhà nước sử dụng KHXHNV “đưa ra năm 1969 vào lúc các mâu thuẫn nội bộ xã hội Mỹ trở nên căng thẳng, một lần nữa nhấn mạnh phải coi trọng KHXHNV vì “so với các khoa học khác, KHXHNV có mối quan hệ khăng khít hơn với nhiều chính sách đối nội bức thiết nhất”, trước khi triển khai một chính sách xã hội mới, chính phủ phải hỏi ý kiến các nhà KHXHNV. Báo cáo yêu cầu nhà nước tăng tài trợ cho KHXHNV, tăng số nhà KHXHNV làm việc trong Nhà Trắng v.v…

HỆ THỐNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI

KHXHNV chủ yếu được nghiên cứu tại các Viện, Trung tâm nghiên cứu thuộc nhà nước hoặc tư nhân; đặc biệt hệ thống think-tank và trường đại học góp phần rất quan trọng.

Hệ thống think-tank ở Mỹ do nhà nước và tư nhân tài trợ, chủ yếu nghiên cứu đưa ra quan điểm về các vấn đề có tính thời sự, hình thành các giải pháp có tính khả thi nhằm giải quyết những vấn đề trước mắt hoặc tương lai. Nước Mỹ có 1777 think-tank (toàn thế giới có 5465; Trung Quốc — 74), được đầu tư lớn, ví dụ ngân sách hàng năm của Viện Brookings là 60 triệu USD, của Công ty Rand là 250 triệu USD (1.600 nhân viên). Chính phủ Mỹ rất coi trọng các think-tank.

Các trường Đại học thường là nơi ra đời những tư tưởng, học thuyết mới. Trong lĩnh vực sử học và quan hệ quốc tế xuất hiện nhiều học giả nổi tiếng, như R. Keohane (ĐH Princeton),  Paul Kennedy (ĐH Yale), S.Huntington, E. Vogel, J. Nye (ĐH Harvard), J. Mearsheimer (ĐH Chicago), Warren I. Cohen (ĐH Maryland) v.v…Các tác phẩm và phát ngôn của họ thường có tiếng vang ở Mỹ và trên thế giới, được nhiều người trích dẫn, tác động lớn tới chiến lược của chính phủ Mỹ.

Chẳng hạn N. J. Spykman (ĐH Yale) đề xuất Chiến lược kiềm chế (containment) và Thuyết Vùng biên (Rimland theory); ngay từ năm 1941 ông đã đưa ra quan điểm Mỹ cần kiềm chế Trung Quốc (chứ không phải Nhật!). Thuyết Đụng độ giữa các nền văn minh của S. Huntington mới đầu bị chê trách, về sau được thực tiễn kiểm nghiệm xác nhận là đúng, đi trước thời đại.

Hiện nay J. Nye là học giả có ảnh hưởng lớn đối với chính sách đối ngoại của nhà nước Mỹ. Khái niệm Sức mạnh mềm do ông đề ra đã tác động rất lớn đến hướng nghiên cứu của giới KHXHNV Mỹ và toàn thế giới. Ông từng 3 lần sang thăm Việt Nam, gặp Thủ tướng nước ta và nói chuyện với giới doanh nhân nước ta.

Lĩnh vực chính trị học đạt được nhiều thành tựu đáng kể, bởi lẽ người Mỹ thường quy kết mọi tồn tại trong xã hội như khủng hoảng kinh tế, bất đồng xã hội (ví dụ: do chiến tranh Việt Nam, do vụ Watergates …) đều có nguyên nhân là chế độ chính trị có vấn đề. Vì thế mỗi khi xảy ra tình hình trên thì khoa học chính trị lại được dịp đẩy lên một bước. Chính trị học, chính trị học so sánh (comparative politics), quan hệ quốc tế, lý luận chính trị là 4 lĩnh vực chính hợp thành ngành khoa học chính trị (political science) trong các trường ĐH. Các nhà chính trị học nghiên cứu rất nhiều vấn đề như chủ nghĩa tinh hoa (Elite Approach), thuyết đồng thuận (Consensus Theory) v.v.. Chủ nghĩa đa nguyên (Pluralism) là lĩnh vực được nghiên cứu tương đối chín muồi, thu hút nhiều người tham gia.

Các cá nhân quan tâm tới KHXHNV cũng có những đóng góp đáng kể. Như A. Mahan (1840-1914), một sĩ quan quân đội yêu sử học, đã sáng lập thuyết Sức mạnh biển, góp phần quan trọng làm tăng sức mạnh địa-chính trị của nước Mỹ; ông được Tổng thống F. Roosevelt ca ngợi là một trong những nhân vật vĩ đại có ảnh hưởng nhất ở Mỹ; một số tàu chiến Mỹ mang tên ông.

Hầu hết nhà lãnh đạo và ngoại giao, nghị sĩ Mỹ đều giỏi về KHXHNV. Tổng thống W. Wilson là tiến sĩ chính trị học, nguyên hiệu trưởng ĐH Princeton lừng danh (1902-1910), từng xuất bản hơn 40 tác phẩm, trong đó có các bestseller. Các Tổng thống Monroe, T. Roosevelt, F. Roosevelt, Truman v.v.. và nhiều nghị sĩ đều tốt nghiệp khoa luật các ĐH danh tiếng, họ đã đề xuất những chiến lược lớn có tính thời đại nhằm để nước Mỹ trở thành cường quốc. Nhà ngoại giao G. Kennan cha đẻ Thuyết Ngăn chặn (Containment theory), là nhân vật chính của lý thuyết chiến tranh lạnh: năm 1946 khi làm Đại biện lâm thời Mỹ tại Liên Xô, ông gửi về Mỹ một bức điện báo dài đề xuất chính sách đối với Liên Xô, được chính phủ Mỹ chấp nhận. Các cựu Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Condoleezza Rice và G. P. Schultz từng là thành viên Hội Nghiên cứu KHXHNV Mỹ (Social Science Research Council, SSRC).

HỆ THốNG ẤN PHẨM HOÀN THIỆN VỂ KHOA HỌC XÃ HỘI

Khác với khoa học tự nhiên, ngành KHXHNV có đặc điểm là người đi sau phải kế thừa, tham khảo thành tựu nghiên cứu của người đi trước, nếu không sẽ chẳng thể sáng tạo được lý thuyết, ý tưởng gì mới. Các thành tựu đó chủ yếu được thể hiện dưới dạng văn bản, ấn phẩm (chứ không phải là sản phẩm vật chất thực thể và nói chung không cần giữ bí mật như trong KHKT). Các trường ĐH đều yêu cầu thầy giáo và sinh viên (SV) ngành KHXHNV phải đọc một lượng sách báo rất lớn. Quy mô thư viện là một tiêu chí đánh giá chất lượng các trường ĐH. Quốc hội Mỹ có thư viện lớn nhất thế giới. Các Tổng thống Mỹ khi nghỉ hưu thường bỏ tiền túi lập thư viện để phục vụ xã hội.

Vì vậy tổng thuật một cách khoa học và hệ thống các công trình nghiên cứu KHXHNV là việc rất quan trọng và bức thiết; nó giúp các nhà KHXHNV tổng kết thành tựu đã đạt được và xác định hướng nghiên cứu.

Ngày nay nước Mỹ đã xây dựng được một cơ chế tổng thuật thành tựu nghiên cứu KHXHNV có tính hệ thống cao, gồm các tập san học thuật, các ấn phẩm tổng thuật chuyên ngành.

Nước Mỹ có nhiều tập san danh tiếng được cả thế giới đọc và trích dẫn, như American Journal of Sociology, American Sociological Review, American Political Science Review, Public Administration Review…Các tập san được biên tập rất công phu. Thí dụ American Political Science Review số 4/2006 (kỷ niệm 100 năm tập san này) được chuẩn bị trong hai năm, chọn đăng 24 trong số 100 bài chất lượng cao nhận được.

Nhưng vì thể loại tập san thường bỏ đi nhiều bài, để bổ cứu, người Mỹ còn xuất bản các loại Annual Reviews (hơn 40 loại) không kiếm lời, đưa ra những thông tin có tính khái quát nhằm giúp các nhà KHXHNV có thêm tư liệu tham khảo.

Các hội học thuật và nhà xuất bản còn ra những loại ấn phẩm tổng thuật thành tựu nghiên cứu KHXHNV của cả một thời gian dài. Ví dụ Hội chính trị học Mỹ cứ 10 năm tổ chức một đợt tổng thuật thành tựu 10 năm qua.

TĂNG CƯờNG GIảNG DạY KHOA HọC XÃ HộI TRONG CÁC TRƯờNG HọC

Thời xa xưa các trường học trên thế giới đều chỉ dạy môn KHXHNV, mãi sau này mới có khoa học tự nhiên và kỹ thuật. Người Trung Quốc dạy luân lý đạo đức, văn thơ lấy từ các kinh điển như Tứ thư Ngũ kinh. ĐH Harvard ban đầu vốn là trường đào tạo linh mục tôn giáo. Từ giữa thế kỷ 19, khi KHKT bắt đầu phát triển mạnh thì các kiến thức thực dụng như khoa học tự nhiên và kỹ thuật dần dần chiếm ưu thế. Về sau người Mỹ nhận ra mặt tiêu cực của sự phát triển KHKT như làm xấu môi trường sống, giảm cơ hội con người tiếp xúc với thiên nhiên, hạ thấp phẩm chất con người, làm phai nhạt mối quan hệ người-người; phát triển lệch về giáo dục KHKT ngày càng bất lợi cho việc giải quyết mâu thuẫn người với thiên nhiên, người với người, thậm chí còn làm tăng các mâu thuẫn đó. Vì vậy trong khi phát triển kinh tế, xã hội Mỹ càng nhấn mạnh tính quan trọng của tinh thần nhân văn.

Hiện nay các trường ĐH Mỹ rất chú trọng nghiên cứu và giảng dạy KHXHNV nhằm giúp SV hình thành nhân sinh quan, giá trị quan, đạo đức nghề nghiệp và cảm giác trách nhiệm với xã hội, trau dồi nhân cách lành mạnh, giúp họ hiểu biết về văn hóa và văn minh của loài người và trở thành người tích cực tham gia nền văn hóa đó.

Các trường ĐH đều theo đuổi mục tiêu giáo dục tổng thể (general education), cho rằng ngoài các môn chuyên ngành ra, SV còn phải học một chương trình rộng hơn mà tất cả các chuyên ngành đều cần; điều đó có lợi cho cả cuộc đời của họ. Nhà trường yêu cầu SV học các môn cơ bản (core curriculum) với trọng tâm là khoa học xã hội (tâm lý, lịch sử, địa lý, nhân học, chính trị, kinh tế, xã hội học) và khoa học nhân văn (triết học, ngôn ngữ, cổ điển học, ngoại ngữ, âm nhạc, lịch sử nghệ thuật). Cụ thể học môn nào thì do mỗi trường tự quyết định. Ở ĐH Harvard mỗi SV khóa cử nhân phải học 32 môn học cơ bản của 7 loại: văn hoá nước ngoài, nghiên cứu lịch sử, văn học nghệ thuật, luân lý đạo đức, toán lý hóa, khoa học và phân tích xã hội, nhằm giúp sinh viên nâng cao năng lực tư duy phê phán và sức tưởng tượng, học cách phát hiện và kiểm định chân tướng sự thật, kiên trì phân tích nghiêm ngặt sự vật, nhận thức các vấn đề một cách có cơ sở lịch sử và có lý trí v.v…

Từ năm 1981 trở đi, SV ngành nào hai năm đầu cũng phải chọn học một bộ 10 môn cơ bản, trong đó 7 môn là KHXHNV. Việc giảng dạy các môn này là do một nửa số giáo viên phụ trách, cán bộ lãnh đạo nhà trường cũng tham gia giảng dạy. Các trường cao đẳng cộng đồng chế độ 2 năm cũng phải học các môn KHXHNV.

Nội dung giáo dục KHXHNV gồm tinh thần nhân văn, giá trị quan, các quy chế xã hội và tinh thần dân tộc, kỹ năng giải quyết các vấn đề đời sống hiện thực, khả năng hiểu biết đạo đức. Trong khi nhấn mạnh tính dân tộc lại đồng thời coi trọng tính quốc tế, chẳng hạn ĐH Harvard yêu cầu SV phải nắm vững di sản văn hóa phương Tây.

Năm 1987, bang California đi đầu ấn định phương án giảng dạy môn lịch sử-xã hội học (history-social science curriculum) cấp trung-tiểu học, nhấn mạnh dùng lịch sử và địa lý làm nòng cốt để xây dựng chương trình học môn xã hội học. Năm 2000, cơ quan giáo dục California hoàn thiện chương trình nói trên, lập quy hoạch thống nhất nội dung giảng dạy môn lịch sử- xã hội học ở các cấp học.

KHOA HỌC XÃ HỘI PHÁT TRIỂN SÔI ĐỘNG, HIỆU QUẢ THIẾT THỰC

Năm 1971, tạp chí Science đăng báo cáo khảo sát của một nhóm chuyên gia ĐH Harvard, cho biết trong 62 thành tựu nghiên cứu về KHXHNV trên toàn thế giới thời gian 1900-1965 thì 45 là của Mỹ.

Cho tới 2011 hầu hết chủ nhân giải Nobel kinh tế (46/66) là người Mỹ. Giải Nobel kinh tế 2018 cũng thuộc hai người Mỹ (William Nordhaus và Paul Romer). Giới kinh tế Mỹ đóng góp rất nhiều ý kiến vào việc đối phó khủng hoảng tài chính toàn cầu. Như Krugman (Nobel kinh tế 2008) đưa ra nhiều giải pháp về tài chính. Sách giáo khoa kinh tế các nước XHCN như Trung Quốc, Việt Nam sử dụng nhiều lý thuyết kinh tế của Mỹ.

Phần lớn các học thuyết mới, khái niệm mới, tư tưởng mới trong KHXHNV đều xuất hiện ở Mỹ, người Mỹ chiếm đa số trong số các nhà KHXHNV được thế giới trích dẫn nhiều nhất. Ví dụ trong sách Giấc mơ Trung Quốc của đại tá Trung Quốc Lưu Minh Phúc, lượng trích dẫn từ các nhà KHXHNV Mỹ gấp vài chục lần lượng trích dẫn từ các nhà KHXHNV Trung Quốc. Phần đông truyền thông các nước khi nói về các sự kiện quốc tế lớn đều nhắc tới quan điểm của truyền thông Mỹ. Phát biểu của các nhà KHXHNV hoặc nhà báo Mỹ thường được thế giới quan tâm.

Thông kê năm 1978 cho biết nước Mỹ có hơn 1,3 triệu nhà khoa học, trong đó có khoảng 330 nghìn nhà KHXHNV, chiếm chừng 25%.

Các cuộc bàn cãi học thuật trong giới KHXHNV Mỹ thường diễn ra hết sức sôi động. Thí dụ suốt hơn 40 năm qua người Mỹ tranh cãi về vấn đề ai cai trị nước mình. Hai cuốn sách Who Rules America? và Who’s Running America? cứ dăm năm lại bổ sung, tái bản một lần, tới nay đã ra bản thứ 6.[4]

Báo cáo điều tra năm 2008 của TRIP (Teaching, Research and International Policy) cho thấy người Mỹ chiếm 8 trong số 10 học giả chuyên ngành quan hệ quốc tế có ảnh hưởng nhất thế giới. Đó là: R. Keohane (xếp hạng thứ 1), K. Waltz (3), J. Mearsheimer (4), J. Fearon (5), J. Nye (6), R. Jervis (7), S. Huntington (8), P. Katzenstein (9).[5]

Rõ ràng KHXHNV Mỹ đang dẫn đầu thế giới và thu hiệu quả thiết thực.[6] Họ đạt được thành tựu ấy là do có môi trường nghiên cứu tuyệt đối tự do, dân chủ, lại được nhà nước coi trọng và tăng mạnh đầu tư. Ngành KHXHNV Trung Quốc hiện nay dường như cũng đang phát triển theo hướng này; chính phủ bước đầu nới rộng phạm vi chọn đề tài, cho phép nghiên cứu các vấn đề  thuộc “vùng cấm”.

——————

[1] 钮先钟Niu Xian Zhong, 1913-2004, Giáo sư chuyên nghiên cứu vấn đề chiến lược của phương Tây, làm việc tại Viện Nghiên cứu châu Âu, ĐH Đạm Giang, TQ

[2] Người Mỹ trăn trở: Học ngành KHKT hay Nhân văn. T/c Tia Sáng ngày 20/5/2011.

[3] Khoa học hành vi (Behavioral Science) là khoa học dùng thực nghiệm để nghiên cứu hành vi của con người, nghĩa rộng gồm cả kinh tế học, chính trị học, xã hội học, tâm lý học, nhân loại học, ngôn ngữ học v.v…

[4] Xem: WhoRulesAmerica.net.

[5] TRIP survey of International Relations in Ten Countries

http://irtheoryandpractice.wm.edu/projects/trip/Final_Trip_Report_2009.pdf

[6] Để so sánh: TQ có nhiều cán bộ KHXHNV nhất thế giới (trong các viện, trung tâm, trường ĐH, trường Đảng các cấp) nhưng hiệu quả nghiên cứu hữu hạn, vì định hướng nghiên cứu bị giới hạn trong các kinh điển Marx -Mao- Đặng đã khai thác cạn kiệt. Thập niên 90, bà Thatcher nói trong vài chục thậm chí cả trăm năm tới TQ không thể có bất cứ tư tưởng mới nào. Tướng Lưu Á Châu chính ủy ĐH Quốc phòng Trung Quốc nói “TQ không có nhà tư tưởng, chỉ có nhà mưu lược”.

“DỐI TRỜI LỪA DÂN ĐỦ MUÔN NGÀN KẾ”

Đọc báo và MXH hơn chục ngày qua, tôi biết vụ dỡ phá 200 căn nhà của 112 hộ gia đình khu Lộc Hưng này rất phức tạp. Tuy nhiên nhìn cảnh dân chúng tang thương mà cám cảnh lắm. Nhưng chưa hiểu sự thật nên đành im lặng. Thực ra tôi đã chớm nghi ngờ khi thấy báo chí nhà nước im miệng suốt 4,5 ngày (kể từ 4/1). Và khi nhà báo được phép gỡ băng keo thì đăng theo văn bản của UBND Tân Bình, quyết không đi phỏng vấn nạn nhân nào hết ! Dấu hiệu đó cho thấy kẻ bịt miệng nhà báo là ai và vì sao.

Đọc nữ nhà báo tự do Bạch Hoàn, tôi đã hiểu rõ nguồn cơn.

 

bản tiếng việt

DốI TRờI LừA DÂN Đủ MUÔN NGÀN Kế.

bẢn tiÊng phÁp

 bản gốc tiếng Pháp

Nhà báo Bạch Hoàn

Hai tấm hình tôi post kèm status này là hai tài liệu, một bản tiếng Pháp, một bản tiếng Việt, cho thấy khu đất Vườn rau Lộc Hưng, Q.Tân Bình, TP.HCM, từ 1955 đã thuộc quyền sở hữu của Hội thừa sai Sơn Tây mà đài phát sóng chỉ được mượn chỗ dựng cột anten.

Những bằng chứng không thể chối cãi này đã đập tan luận điệu đất Vườn rau Lộc Hưng là của đài phát sóng chế độ cũ nên chính quyền tiếp quản vì nó là “đất công”.

Vậy là, người dân có trong tay những bằng cứ xác đáng chứng minh họ đã sử dụng đất ổn định từ nhiều chục năm về trước. Theo các QUY ĐịNH pháp luật về quản lý đất đai, khu đất đó PHảI ĐƯợC cấp chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân.

Trong khi đó, chính quyền quận Tân Bình chưa đưa ra được thứ gì đủ thuyết phục cho tuyên bố khu Vườn rau Lộc Hưng là đất công, ngoài dùng quyền lực nhà nước, dùng sức mạnh bạo quyền, dùng tuyên giáo bưng bít sự thật, dùng dư luận viên lộng ngôn, dùng báo chí công cụ, để nhồi sọ nhân dân những điều đến thời điểm này có thể hiểu là dối trá.

Nếu chính quyền quận Tân Bình, đúng hơn là chính quyền TP.HCM, không đưa ra được chứng lý nào bằng giấy trắng mực đen với con dấu đỏ cho thấy Hội thừa sai Sơn Tây đã chuyển quyền sở hữu khu đất ấy cho chính quyền, thì có thể nhận định rằng, những ai cố tình dối trá là một lũ cướp ngày.

Nếu không có bằng cớ về việc đó thì ngay từ bây giờ, việc cần làm là trả lại cho dân quyền lợi chính đáng và chịu sự trừng phạt của pháp luật.

Và, giờ là lúc những cán bộ tuyên giáo với cái miệng vừa ngồm ngoàm nhai mít vừa nói láo một cách mẫn cán như Thân Thị Thư, trưởng Ban Tuyên giáo Thành uỷ TP.HCM và cộng tác viên dư luận xã hội hãy biết thân biết phận mà ngậm miệng lại.

Có những tờ báo, thay vì thông tin sự thật, đấu tranh đòi hỏi quyền và lợi ích chính đáng cho người dân, bảo vệ kỉ cương phép nước, bảo vệ đạo lý thường tình, đã ngoạc miệng ra làm cái loa phát thanh cho quận Tân Bình. Có những trang báo, lẽ ra phải chuẩn mực về luận cứ, phải chất chứa lòng nhân và thấm đẫm tình người, đã biến thành những trang viết vô cảm và phản bội nhân dân, hệt như tờ thông cáo dán ở nơi công cộng của chính quyền Tân Bình.

Bây giờ là lúc tác giả những bài báo ấy cần bẻ bút và sám hối.

Bây giờ cũng là lúc những tờ báo đã dập đầu khấu lạy chính quyền Tân Bình phải quỳ xuống cầu xin sự tha thứ của nhân dân.

Bởi vì, với Nhân dân, đó là tội ác. Bởi vì, với chế độ, đó chính là phá hoại.

Và bởi vì, cơn phẫn nộ sẽ không dừng lại.

(kèm theo Hai ảnh bằng chứng)

(Fb Bach Hoan: https://www.facebook.com/bachhoanvtv24

Ghi chú:

“Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế 
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm.
Bại nhân nghĩa nát cả đất trờị 
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi…”

(trích Bài cáo bình Ngô- Nguyễn Trãi)

“CUộC CHIếN BIÊN GIớI TÂY NAM” và ANH TÔI LẠI ĐI TÌM ĐỒNG ĐỘI

đăng báo VNTB

***

Tuần cuối năm 2018, bộ máy tuyên giáo mở đợt “Triển lãm cuộc chiến Việt Nam- Campuchia 1975 – 1978- 1989” trên đài truyền hình quốc gia VTV.

Bất ngờ trưa hôm 30/12/2018 lúc 12h30 tôi nhận được điện thoại của anh trai từ cửa khẩu quốc tế Mộc Bài (Tây Ninh).

Anh dẫn đoàn 5 người qua đất Campuchia tìm hài cốt đồng đội năm xưa. Anh là trưởng đoàn, cùng với 3 người thân nhân liệt sĩ quê Hà Nam và đặc biệt còn có nhà ngoại cảm Vũ Thị Minh Nghĩa, thường gọi cô Năm Nghĩa, cựu thượng úy. Anh nói vừa xuất trình hộ chiếu và CMND đi qua cửa khẩu, mới bước chân sang tỉnh Kompon Cham rồi đi Prey Veng. Anh hẹn khi quay về chỗ này sẽ gọi lại tôi và sẽ đến thăm chúng tôi. Điện thoại cắt sóng.

Cách đây mấy năm, anh đã dẫn gia đình liệt sĩ ấy đi CPC tìm mộ đồng đội theo yêu cầu gia đình. Tuy nhiên ở nơi người đồng đội hi sinh mà anh tự tay chôn cất, mặt đất nay đã thay đổi nhiều, không còn thấy đâu là cái bờ ruộng và hàng cây ghi nhớ gần một ngôi chùa…Thất vọng trở về.

Vậy là, cuối 2018 năm nay gia đình vẫn tha thiết đi tìm liệt sĩ, đã nhờ cậy bà Năm Nghĩa nhà ngoại cảm nổi tiếng (và khá phức tạp còn nhiều nghi vấn) hiện sống ở thị xã Bà Rịa, Vũng Tàu cùng đi tìm.

Trong khi hồi hộp chờ đợi anh về và kết quả, tôi nhớ lại cuộc chiến biên giới An Giang- CPC kinh hoàng cách đây hơn 40 năm trong ký ức cảm giác của chính mình.

Năm 1978 tôi sống ở ven bờ sông Hậu, bên quốc lộ 91 xuyên dọc thị xã Châu Đốc- Long Xuyên- Cần Thơ. Trong suốt 5, 6 đêm chính tai tôi nghe tiếng súng pháo nổ uỳnh oàng, nghe đài báo nói sơ sơ quân Khmer đỏ, tức bọn cộng sản CPC vượt biên giới tấn công bất ngờ thảm sát dân ta. Nghe đài BBC,VOA tường thuật rõ ràng hơn đài báo ta. Cách biên giới theo đường chim bay ước 60 km, sao tôi lại nghe tiếng súng phaó rõ như thế ? Sau tôi tự giải thích dòng sông Hậu thấp hơn mặt bằng xung quanh hai bờ, như một cái ống khổng lồ dẫn âm thanh đi xa xuôi dòng về phiá hạ lưu (tức Cần Thơ)… Nhà ngay ven đường 91, tôi nhìn thấy những người phụ nữ Khmer (bên kia và bên này biên giới) và người Việt đeo giỏ xách, dắt những em bé, mặt bóng mồ hôi, tóc rũ rượi, hoảng hốt đi dọc lộ, đi chừng nào mệt thì nghỉ, tạt vào những gầm cầu xi măng dọc lộ ngủ lại. (sau đó chính quyền địa phương dọc lộ bố trí giúp họ nơi ăn nghỉ tạm, chờ khi biên giới AG- CPC ổn định thì quay về). Ngày và đêm những đoàn xe tăng, xe quân sự rầm rầm hành quân ngược lại, từ phiá Cần Thơ hướng lên biên giới, xe chạy sát bên vách nhà tôi, rung rinh cả sàn nằm ngủ…

Khi quân đội VN tiến sâu đánh vào CPC, vùng biên trở lại yên ổn, chúng tôi đi lên thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn, AG thăm nơi bị CPC cộng sản tàn sát. Ngôi chùa Phi Lai máu đỏ vung vãi khắp các bức tường, hơn 3 000 xác chết dân thường được gom lại từ các cánh đồng, hàng nghìn đầu lâu vỡ nứt được xếp trong một số nhà kính.

Tôi căm thù bọn cộng sản Campuchia không lời nào tả xiết.

Tôi cũng biết rằng đứng sau hỗ trợ bọn diệt chủng là kẻ thù Trung cộng. Anh tôi từng kể toàn bộ vũ khí và quân dụng của bọn Khmer Đỏ đều mang nhãn hiệu Made In China.

Anh tôi kể về cuộc tìm mộ: Bên ngôi chùa ở tỉnh Prey Veng, anh xác định được mảnh ruộng gần chùa nơi anh chôn cất liệt sĩ.

Bà ngoại cảm đốt nhang khấn nguyện: “Nếu chú sống khôn thác thiêng hôm nay hiện về chỉ rõ nơi chú nằm, cho đồng đội biết. Chú nhập vào quả trứng này cho thân nhân và đồng đội nhìn thấy” (tôi chỉ thuật ý không đủ nguyên lời).

Bà xòe một bàn tay, duỗi thẳng 5 ngón, ngửa lên, tay kia đặt quả trứng gà nằm gọn trong lòng tay. Quả trứng từ từ dựng đứng lên trên bàn tay (đầu to nằm dưới, đầu nhỏ chĩa lên trời). Có nghĩa, vong hồn liệt sĩ đã nhập vào quả trứng. Bà ngoại cảm khấn tiếp: “chú hãy chỉ chỗ chú nằm cho chúng tôi thấy. Chú đồng đội này cũng còn có chú ruột là liệt sĩ chống Pháp chưa tìm thấy hài cốt, cũng đã lặn lội đường xa cùng ba người con của chú lần trước năm 2013 đi tìm chưa được, chú hãy giúp họ. Chú nằm hướng nào thì xin chỉ ra”. Quả trứng từ từ đổ ngang, đầu nhọn chỉ ra một hướng. Anh tôi và ba người con liệt sĩ đi theo hướng đó… Không gian được chọn khoanh vùng từ trước khá hẹp, anh tôi đặt nhát xẻng xuống mặt đất đào thử, vài lần. Bà ngoại cảm nhặt cục đất lần lượt ngửi và sau cùng bảo chỗ này, vì bà đã ngửi thấy mùi xương người. Đoàn đào sâu xuống, bà tiếp tục ngửi và xác định hài cốt đã nát tan vào đất cát. Đoàn xúc một ít đất, chừng mấy kí lô, bỏ vào bọc, mang về.

Tôi hỏi anh tôi có tin tưởng kết quả này không.

Anh ngập ngừng nói cũng rất khó tin. Có điều, bà ngoại cảm nói đúng hoàn cảnh gia đình chúng tôi có người chú ruột liệt sĩ mất hài cốt từ trận đầu chống Pháp năm 1946 ở Hà Nội, mà anh chỉ mới quen biết bà ngoại cảm vài bữa nay, chưa hề nói chuyện gia đình với bà ấy. Dù sao cũng cảm phục bà ấy.

Tôi hỏi anh về bối cảnh cuộc chiến mà đồng đội anh hi sinh ở tỉnh Prey Veng.

Anh kể:

Năm ấy 1973 quân ta có quan hệ khá tốt với Cộng sản Khmer (Khmer Đỏ). Họ giúp quân ta đóng quân trên đất họ như là hậu cứ trong cuộc chiến miền Nam Việt Nam. Lúc này tình hình chính trị CPC phức tạp, nhiều phe phái.

Ở một ngôi chùa Phật tỉnh PreyVeng, quân ta xây dựng một trạm lương thực. Giao cho hai bộ đội canh giữ và phân phối lương cho các đơn vị trong tỉnh đến nhận. Đêm đó, một bọn người lạ đột nhập vào chùa, dí súng bắn chết 1 bộ đội, người kia may mắn đi vắng nên sống sót. (Nhưng sau đó chuyển về miền Nam và anh ấy lại hi sinh ở chiến trường B). Đơn vị cử anh tôi đến ngôi chùa chôn cất đồng đội hi sinh và thay thế làm công tác phân phối lương thực. Người bộ đội xấu số được chôn tại một mảnh ruộng gần chùa.

Vì người liệt sĩ năm 1973 mà anh tôi và thân nhân đi tìm mộ hai lần rồi.

Tôi hỏi các anh có biết ai bắn người bộ đội đó.

Anh nói:

– Du kích Khmer Đỏ chứ ai.

– Sao kỳ vậy, quan hệ hai Đảng lúc ấy đang tốt mà ?

– Không hẳn, bọn Khmer Đỏ sống hai mặt. Nó vẫn cứ ghét Việt cộng. Nó tuyên truyền cho binh lính và dân chúng, ai lấy trộm được súng đạn của bộ đội Bắc Việt thì được khen thưởng (!).

Năm 2013 anh tôi và thân nhân đi tìm mộ lần đầu, được biết ngôi chùa sau này đã xây dựng sửa chữa tôn tạo chùa, xe cẩu múc đất xung quanh làm mặt đất biến dạng và gây khó cho Đội qui tập hài cốt và anh tôi suốt từ 2013 đến mấy ngày đầu 2019.

Đoàn đã tìm được mộ liệt  sĩ  ở tỉnh Prayveng, quay trở về Bà Rịa sau một ngày mệt mỏi… Chiều tối hôm qua anh đến thăm tôi. Kể chuyện. Có vấn đề rắc rối về thủ tục. Chờ sáng mai qua nghỉ Lễ tế dương lịch sẽ đi  đến Tỉnh đội L. làm thủ tục giấy tờ đưa bọc đất trộn cốt về quê.

Lại thêm một ngày Đoàn tìm mộ lặn lội tìm đến Đội qui tập liệt sĩ tỉnh L. xin xác nhận hài cốt. Họ trả lời tỉnh bơ vì không trực tiếp đi qui tập nên không xác nhận.

Hãy cùng nhìn lướt quá trình Lịch Sử Khmer Đỏ

 Khmer Đỏ tên chính thức Đảng Cộng sản Campuchia thành lập 1951 tách ra từ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG và sau này đổi tên “Đảng Campuchia Dân chủ”, là một tổ chức chính trị nhờ cậy Đảng CS Việt Nam hỗ trợ mà được cầm quyền tại Campuchia từ 1975 đến 1979.

 Ban đầu Khmer Đỏ tuyên bố đi theo chủ nghĩa Cộng sản, thế nhưng sau những mâu thuẫn nội bộ và việc thủ lĩnh đảng là tổng bí thư Pol Pot tiêu diệt những đảng viên phản đối tư tưởng cực đoan của ông ta (trong đó có nhóm trung tá Hunsen), Khmer Đỏ đã dần trở thành một tổ chức theo chủ nghĩa bài ngoại. Tới năm 1981, Khmer Đỏ chính thức tuyên bố họ không đi theo chủ nghĩa Cộng sản.

 Thời kỳ cầm quyền của Khmer Đỏ ở Campuchia chấm dứt khi quân đội Việt Nam đổ quân đánh chiếm Campuchia vào năm 1979, lật đổ chính quyền của Pol Pot và lập nhà Nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia với Hun Sen lên làm thủ tướng. Chế độ Khmer Đỏ đã giết chết khoảng 2 triệu người (trong tổng dân số 7,1 triệu) bằng nhiều cách dã man nhất – thường được so sánh với chế độ của Adolf Hitler.

Trong thời gian cầm quyền, chính quyền Khmer Đỏ đã được hậu thuẫn bởi Trung cộng, vì muốn cô lập nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam lúc đó đang được Liên Xô hậu thuẫn.

Năm 1979, Khmer Đỏ bị quân đội Việt Nam lật đổ, với lý do đưa ra là trả thù hơn chục ngàn dân Việt vùng biên giới bị tàn sát dã man..

 Kết

Ngày 7 tháng 1 năm 1979 , chuẩn úy Trần Ngọc Giao, 25 tuổi, trưởng xe tăng số hiệu 975 củng quân đoàn 4 tiến vào giải phóng thủ đô Phnompenh. Thủ đô hoang vắng không có dân chúng (bị đuổi tất ra khỏi thành phố từ nửa năm trước), chỉ có lính Polpot cố thủ và cuối cùng chịu không nổi bỏ chạy.

Từ đây mở ra 10 năm chiến tranh tìm diệt của quân đội Việt Nam và kháng chiến kiểu du kích của quân Khmer Đỏ… Các thế lực phản động Mỹ, Thái Lan, Trung cộng ra sức yểm trợ bọn Khmer Đỏ lưu vong bên đất Thái. Năm 1989 chính quyền của Đảng Nhân dân CPC của Hunsen đã nắm vững kiểm soát, ta còn giúp họ xây dựng lại đất nước tan hoang,  Mỹ và phương Tây ra sức đả kích Việt Nam “xâm lược” Campuchia và cấm vận kinh tế. Quân ta rút về hết. Tạm để lại hài cốt hàng chục ngàn liệt sĩ.

KẾT

CUỘ “TAM CỘNG DIỄN NGHĨA” đã vỡ ra và đang chuyển qua một tình thế mới.

Chỉ còn HAI CỘNG SẢN giữ danh hiệu gốc chưa cam lòng gỡ bỏ.

Người cộng sản Khmer không còn mặt mũi nào mang cái tên cũ đẫm máu man rợ, vội vã đổi tên là “ĐảNG NHÂN DÂN CAMPUCHIA”. Không thể “kiên trì lý tưởng cộng sản”, họ nêu cao lý tưởng dân tộc, tuyên bố từ bỏ ý thức hệ Mác Lê Nin.

Trong khi Trung cộng và Việt cộng hiện giờ ra sức co kéo “Cựu Cộng Sản Khmer” về phe mình thì anh ruột tôi vẫn kiên trì đi tìm mộ đồng đội chết tại CPC năm 1973.

Và mấy bữa nay, đầu năm 2019, anh tôi vẫn thấp thỏm theo yêu cầu của gia đình liệt sĩ ở tỉnh Hà Nam đi gõ cửa một ông cựu tướng QK7 ký cho cái giấy xác nhận hài cốt. Đủ thủ tục như vậy, bọc đất pha xương mục kia mới được chính quyền địa phương đón tiếp, làm lễ truy điệu và cho một thước đất trong nghĩa trang liệt sĩ quê nhà nơi đồng chiêm trũng Hà Nam. Khi tôi viết những dòng này, anh tôi và ba người con liệt sĩ vẫn còn ôm “bọc đất Khmer” lưu lại đất Sài Gòn chờ một chữ ký.

Sáng nay cuộc Lễ kỷ niệm 40 năm chiến thắng bọn diệt chủng Polpot diễn ra ở Hà Nội, trực tiếp trên VTV. những diễn văn của hai bên Việt và CPC đều cân nhắc từng con chữ. Hai bên đều né tránh gọi Polpot là “đảng cộng sản” và không hề nhắc đến “kẻ nước ngoài chống lưng cho Khmer Đỏ”.

GN

Mây thẻ