"Nói phải củ cải cũng nghe"- Tục ngữ Việt Nam.

23/4/2020

post ảnh hai bé

 

 

Post hình hai bé lên đây dần dầnBONG HỒNG VÀNG

Nhắn tin tiên sinh Lí Trọng Đạo đang bôn ba viễn xứ, tại hạ mất liên lạc lâu rồi.

Xin comment vài dòng nhá.

Thư giãn cuối tuần

CHUYệN ĐÓ LÀ HÀI KịCH

(hay là Mối tình tay ba)       

truyện ngắn O. Henry

Nguyên tác The Thing’s the Play

(tập Strictly Business,1910)

Phùng Hoài Ngọc chuyển ngữ.

https://americanliterature.com/author/o-henry/short-story/the-things-the-play

bìa mớiQuen với một phóng viên báo chí thường có cặp vé mời xem hát, tôi đã được xem buổi biểu diễn vài đêm trước tại một trong những rạp hài kịch tạp kỹ nổi tiếng.

Một trong những tiết mục là bài độc tấu vĩ cầm của một người đàn ông có vẻ ngoài hấp dẫn, tuổi chưa quá bốn mươi, nhưng mái tóc dày đã ngả màu xám tro. Không bị lôi cuốn bởi bản nhạc, tôi mặc hệ thống âm thanh trôi qua tai, chỉ mải ngắm nghía người nhạc công đó.

“Có một câu chuyện về anh chàng đó khoảng một vài tháng trước”, phóng viên nói. “Họ giao nhiệm vụ cho tôi. Đó là phụ trách một chuyên mục và nó phải theo kiểu cực kỳ nhẹ nhàng và đùa giỡn. Ông sếp già có vẻ thích các chi tiết vui nhộn mà tôi viết về các sự kiện địa phương. Ồ, phải rồi, tôi đang viết bài về một vở hài kịch tả một hoàn cảnh trớ trêu. Tôi đi xuống nhà hát đó và lấy tất cả các chi tiết, nhưng chắc là tôi đã thất bại với việc đó. Tôi quay trở lại và viết bài phê bình khôi hài về một đám tang ở phía đông thay vào. Tại sao à ? Ồi, tôi dường như không thể nắm bắt được nó bằng những thủ thuật ngộ nghĩnh của mình. Có lẽ anh có thể tạo ra vở bi kịch một hồi từ chuyện đó, cho  màn kịch mở đầu đêm diễn. Tôi sẽ cung cấp cho anh dữ liệu chi tiết”.

Sau buổi biểu diễn, phóng viên bạn tôi, đã kể cho tôi nghe những chuyện ở thành phố Wrzburger.

Tôi nói sau khi anh kết thúc câu chuyện:

– Tôi thấy không có lý do tại sao chuyện đó không thể tạo ra một truyện hài hước đặc sắc. Ba người đó không thể diễn một kiểu cách ngớ ngẩn và vô lý hơn nếu họ là những diễn viên thực thụ trong một nhà hát thực sự. Tôi thực sự e ngại rằng tất cả sân khấu là cuộc đời thôi, dù sao đi nữa, với tất cả các diễn viên, cũng là người nam và người nữ mà thôi. “Chuyện đó là vở hài kịch” là câu của ông Shakespeare*[1] mà tôi dẫn ra.

“Hãy thử viết xem,” anh bạn phóng viên nói.

“Tôi sẽ viết”, tôi nói; và tôi đã làm, tôi trình bày cho anh ấy thấy làm thế nào phóng viên có thể tạo ra một cột báo hài hước về chuyện đó cho tờ báo của anh ta.

“Có một ngôi nhà gần Quảng trường Abingdon. Ở tầng trệt có một cửa hàng nhỏ hai mươi lăm tuổi, nơi bán đồ chơi, tạp hóa và văn phòng phẩm.

Một đêm hai mươi năm trước có một đám cưới trong các phòng ở trên lầu của cửa hàng. Bà góa phụ Mayo là chủ ngôi nhà và cửa hàng. Cô con gái Helen kết hôn với anh Frank Barry. Và anh John Delaney là chàng phù rể. Helen mười tám tuổi, và bức ảnh của cô đã được in trong một tờ báo buổi sáng bên cạnh tiêu đề của một câu chuyện “Nữ sát nhân hàng loạt” ở vùng Butte tiểu bang Montana. Nhưng sau khi  cặp mắt và trí thông minh của bạn đã chẳng quan tâm câu chuyện đó, bạn nắm lấy cái kính phóng đại của mình và đọc bên dưới bức chân dung mô tả cô ấy như một bức ảnh trong một loạt các mỹ nhân nổi bật ở vùng hạ miền Tây.

minh họa The Thing the Play

Frank Barry và John Delaney là bạn bè, những người trẻ tuổi “nổi bật” đang cùng theo đuổi cô gái – những người mà khán giả mong đợi nhìn vào mỗi lúc tấm màn  sân khấu kéo lên. Người ta trả tiền cho ghế nghe giàn nhạc và xem kịch hư cấu đều mong đợi điều này. Đó là ý tưởng hài hước đầu tiên xuất hiện trong câu chuyện. Hai chàng trai trẻ đã tạo ra một cuộc đua tuyệt vời mong đạt được sự hứa hôn của Helen. Khi Frank chiến thắng, John bắt tay và chúc mừng anh ta – một cách thành thật, anh ta đã làm vậy.

Sau buổi lễ, Helen chạy lên lầu để đội chiếc mũ. Cô làm lễ kết hôn trong một chiếc váy du lịch. Cô và Frank sẽ đến Old Point Comfort trong một tuần[2]*. Ở tầng dưới, đám đông như thường lệ của những người già ăn mặc cổ đại nói lắp bắp, đang chờ đợi, với những đôi bàn tay đầy những bao và túi giấy đựng bánh đúc ngô.

Bỗng nhiên, có một tiếng lách cách ở cửa lối cầu thang thoát hiểm hỏa hoạn, và chàng phù rể John Delaney điên cuồng và mê đắm nhảy vào phòng cô dâu, với một đám tóc ướt sũng mồ hôi rủ xuống trán, và với tình yêu hung dữ và đáng trách của mình đối với người yêu đã mất, anh khẩn thiết nài xin cô ta cùng chạy trốn đến vùng Riviera, hoặc vùng Bronx, hoặc bất kỳ địa điểm cũ nào có khí hậu nước Ý và âm nhạc dịu dàng và nhỏ dần đến hết.

Và Delaney ngã trượt chân khi nhìn Helen đẩy lùi anh. Với đôi mắt rực lửa và khinh bỉ, cô gần như khinh miệt anh mà nói rằng bất kể anh muốn gì cũng phải  nói năng tử tế với người đáng kính.

Trong vài khoảnh khắc cô đã đuổi anh ta đi. Danh dự nam tính đã khống chế khiến anh phải ra đi. Anh cúi thấp đầu, và nói lảm nhảm điều gì đó về “sự thôi thúc không thể cưỡng lại” và “mãi mãi mang trong mình ký ức” – và cô bảo anh bám vào lối thoát hiểm tầng một mà đi xuống.

“Tôi sẽ ra đi,” John Delaney nói, “đến những nơi xa nhất trên trái đất. Tôi không thể ở gần em và biết rằng em là của người khác. Tôi sẽ đến Châu Phi, và ở giữa những cảnh đời khác tôi cố gắng để đạt được…”

“Vì Chúa, hãy ra ngoài đi,” Helen nói, “lỡ ai đó có thể đi vào đây”.

Anh quỳ xuống bằng một đầu gối, và cô đưa cho anh một bàn tay trắng nõn để anh có thể trao cho nó một nụ hôn từ biệt.

Các cô gái ơi, ân huệ lựa chọn này của vị thần Ái  tình nhỏ bé vĩ đại đã từng ban cho các cô, phải chăng để có được anh bạn mà cô muốn thực là cứng nhắc, và có một người cô không muốn anh ta chạy đến với một lọn tóc ẩm ướt trên trán và quỳ xuống trước cô và lập bập về “châu Phi và tình yêu”, mà bất chấp tất cả, nó sẽ mãi mãi nở hoa, một cây hoa không tàn trong trái tim anh ta ? Để cô biết sức mạnh của mình, và để cảm nhận sự an toàn ngọt ngào của trạng thái hạnh phúc của chính cô; cô đuổi một kẻ không may mắn, thất tình đến mức tan nát trái tim, phải đến những vùng xa lạ nước ngoài, trong khi cô tự chúc mừng thấy anh ấy khắc nụ hôn cuối cùng của mình trên ngón tay cô, những móng tay được gọt giũa cẩn thận – có thể nói, các cô gái, thật là hào hiệp – đừng bao giờ để người ta hôn vào tay mình như thế nhé.

Và sau đó, tất nhiên – làm thế nào bạn đoán được chứ ? – cánh cửa mở ra và chú rể ghen tức, như những chùm dây thắt dần lại, lén lút đi vào.

Nụ hôn chia tay đã được in sâu trên tay Helen, và John Delaney nhảy ra khỏi cửa sổ và dưới lối thoát hiểm, hướng về phía châu Phi.

Một chút nhạc chậm rãi, nếu bạn thích – tiếng violon mờ nhạt, chỉ một hơi thở của cây kèn clarinet và một cú chạm nhẹ của đàn cello. Hãy tưởng tượng ra cảnh đó. Chú rể Frank, sôi sục, với tiếng kêu của một người đàn ông như là bị thương sắp chết bật ra từ anh ta. Helen, chạy nhào đến và ôm lấy anh, cố gắng giải thích. Anh ta bắt lấy cổ tay cô và dứt ra khỏi vai anh – một lần, hai lần, ba lần anh giằng co cô theo cách này và điều đó người quản lý sân khấu sẽ chỉ cho bạn cách  thức miêu tả – và đẩy cô xuống sàn như một thứ nát nhàu, hối hả, rền rĩ. Không bao giờ– anh kêu lên, anh nhìn vào mặt cô lần nữa, và lao ra khỏi nhà, lách qua những nhóm khách đang nhìn chằm chằm kinh ngạc.

Và, bây giờ, vì là Chuyện Đời chứ chẳng phải một vở Kịch, khán giả phải tản bộ ra hành lang thực sự của cuộc sống và rồi kết hôn, chết, tóc bạc đi, giàu, nghèo, vui hay buồn, phải chờ đợi trong suốt thời gian ngừng nghỉ hai mươi năm trôi đi, trước khi bức màn kéo lên một lần nữa.

Bà Barry được thừa hưởng cửa hàng và ngôi nhà. Ở tuổi ba mươi tám, cô chủ có thể vẫn vượt qua nhiều cô mười tám tuổi tại một cuộc thi sắc đẹp về điểm số và kết quả chung. Chỉ có một vài người nhớ đến vở kịch hài đám cưới của cô, nhưng cô không cần giữ bí mật. Cô đã không gói nó trong hoa oải hương hoặc gác bếp, cô cũng không bán nó cho một tạp chí.

Một ngày nọ, một luật sư trung niên thích kiếm tiền, đến cửa hàng của cô để mua giấy mực dùng trong nghề luật, đã cầu hôn khi cô đứng bên kia quầy .

“Tôi thực sự rất cảm ơn anh bạn”, Helen nói một cách vui vẻ, “nhưng tôi đã kết hôn với một người đàn ông khác, hai mươi năm trước. Anh ta là một con ngỗng khờ dại hơn là một người đàn ông, tuy vậy tôi nghĩ rằng tôi yêu anh ta. Tôi chưa bao giờ gặp lại anh ta kể từ khoảng nửa giờ sau buổi lễ cưới… Ông bạn muốn mua mực sao chép hay mực lỏng để viết ?

“Luật sư cúi đầu trước quầy với kiểu nhận ân sủng thời xưa và để lại một nụ hôn trân trọng trên mu bàn tay cô. Helen thở dài. Chia tay với lời chào, tuy lãng mạn, nhưng có thể gọi là quá lố. Lúc này cô đang tuổi ba mươi tám, xinh đẹp và được ngưỡng mộ; nhưng tất cả những gì cô ấy có được từ những người yêu của mình chỉ là sự tiếp xúc gần gũi và lời chào từ biệt. Tệ hơn nữa, với kẻ cuối cùng, cô cũng đã mất một khách hàng.

Kinh doanh suy giảm, và cô ấy treo biển “Cho thuê phòng”. Hai phòng lớn trên tầng ba đã được trang bị giao cho những người thuê nhà theo ý cô muốn. Người ở trọ đến và đi một cách tiếc nuối, vì ngôi nhà của bà Barry là nơi ở của sự gọn gàng, thoải mái và giàu hương vị.

Một ngày nọ, Ramonti, một nghệ sĩ vĩ cầm đăng ký vào phòng phía trước trên lầu. Những tiếng nhạc chói tai và tiếng ồn ào ở khu phố trên làm xúc phạm đôi tai cầu kỳ của anh ta; Vì vậy, một người bạn đã mách anh ta đến ốc đảo này trong sa mạc ồn ào.

Ramonti, với khuôn mặt trẻ trung bền vững, đôi lông mày đen, bộ râu ngắn, nhọn như người nước ngoài, màu nâu, mái tóc xám dễ nhận và khí chất thất thường nghệ sĩ bộc lộ một cách nhẹ nhàng, vui vẻ và dễ thương là người thuê nhà được chào đón trong ngôi nhà cũ gần Quảng trường Abingdon.

Helen sống ở tầng trên cửa hàng. Kiến trúc của tầng này thực khác thường và kỳ lạ. Phòng khách rộng và gần như hình vuông. Ở một bên, chỗ cuối phòng đó bắc lên một cầu thang mở lên tầng trên. Tại gian phòng này cô đã trang bị như một phòng tiếp khách và cũng là văn phòng. Ở đó, cô dùng một cái bàn, viết thư từ kinh doanh; và cô ngồi đó vào buổi tối bên một bếp lửa ấm áp và một ngọn đèn đỏ rực và may vá hoặc đọc sách báo. Ramonti tìm thấy bầu không khí dễ chịu đến nỗi anh đã dành nhiều thời gian ở đó, chuyện trò với bà Barry về những kỳ quan của Paris, nơi anh đã học tập với một tay kéo đàn đặc biệt khét tiếng và ồn ào.

Tiếp đến là người thuê nhà thứ hai, một người đàn ông đẹp trai, u sầu vào đầu lứa tuổi 40, với bộ râu màu nâu, bí ẩn, và đôi mắt cầu xin ám ảnh lạ lùng. Anh  này cũng vậy, thấy xã hội của Helen là một nơi đáng mong đợi. Với đôi mắt của Romeo say đắm và Othello ghen tuông, anh làm cô say mê bằng những câu chuyện về những mối tình xa xôi và tán tỉnh cô bằng những lời bóng gió trân trọng.

Ngay từ lần đầu tiên Helen đã cảm thấy một sự hồi hộp kỳ diệu và hấp dẫn trước sự hiện diện của người đàn ông này. Giọng nói của anh bằng cách nào đó đã đưa cô nhanh chóng trở lại thời kỳ lãng mạn của tuổi trẻ. Cảm giác này lớn dần, và cô chấp nhận nó, và nó dẫn cô đến một niềm tin theo bản năng rằng anh là  nhân tố trong mối tình lãng mạn đó. Và sau đó với lý luận của một người phụ nữ (ồ, vâng, đôi khi họ làm vậy), cô ấy đã nhảy qua những tam đoạn luận*[3] và lý thuyết thông thường, và logic, và chắc chắn rằng chồng cô đã quay lại với cô. Vì cô nhìn thấy cái tình yêu trong mắt anh, điều mà không người phụ nữ nào có thể nhầm lẫn, và cả ngàn tấn luyến tiếc và hối hận, làm dấy lên sự thương hại, nó gần như sự ghen tuông tình yêu được đền đáp, đó là một điều hoàn toàn cần thiết trong ngôi nhà mà người con trai xây dựng.

Nhưng cô không tỏ dấu hiệu gì. Một người chồng bước quanh góc nhà sau hai mươi năm mới lại ghé thăm một lần nữa, thì đừng nên mong đợi thấy đôi dép của mình được đặt quá thuận tiện gần đó cũng như không có một que diêm nào sẵn sàng bật lửa cho điếu xì gà của anh ta. Phải có sự giải thích, giải thích và có thể là một sự ghét cay ghét đắng. Một cái luyện ngục nhỏ cho sự ăn năn hối lỗi, và sau đó, có lẽ, nếu anh ta khiêm tốn đúng cách, anh ta có thể được tin tưởng với một sự vui vẻ như cây đàn hạc và vòng hoa. Và vì vậy, cô không tỏ dấu hiệu rằng cô biết hoặc nghi ngờ.

Và bạn tôi, anh phóng viên, chẳng thể thấy điều gì buồn cười trong chuyện này ! Được phân công đi viết một câu chuyện bỡn cợt, vui nhộn, tươi sáng về câu chuyện… nhưng mà thôi tôi sẽ không chỉ trích người anh em – chúng ta hãy tiếp tục câu chuyện.

“Một buổi tối, Ramonti dừng lại trong quầy tiếp tân ở văn phòng của Helen và nói với tình yêu của anh bằng sự dịu dàng và nhiệt tình của người nghệ sĩ say mê. Lời nói của anh là một ánh hồng sáng chói của ngọn lửa thần thánh phát sáng trong trái tim của một người đàn ông, là một người ngủ mơ và kết hợp cả hai thứ.

“Nhưng trước khi em trả lời tôi,” anh tiếp tục, trước khi cô ấy có thể buộc tội anh v sự đường đột, “Tôi phải nói với em rằng ‘RAMONTI’ là tên duy nhất tôi phải giới thiệu với em. Người quản lý của tôi đã đặt cho tôi cái tên đó. Tôi không biết tôi là ai hoặc tôi từ đâu đến. Hồi ức đầu tiên của tôi là mở mắt trong bệnh viện. Tôi là một chàng trai trẻ và tôi đã ở đó trong nhiều tuần. Cuộc sống của tôi trước đó là một khoảng trống trong trí nhớ tôi. Họ nói với tôi rằng tôi được tìm thấy nằm trên đường với một vết thương trên đầu và được đưa đến đó bằng xe cứu thương. Họ nghĩ rằng tôi phải ngã và đập đầu vào đá. Không có gì chứng tỏ cho thấy tôi là ai. Tôi chưa bao giờ có thể nhớ được gì. Sau khi được xuất viện, tôi học chơi vĩ cầm. Tôi đã thành công. Bà Barry … tôi không biết tên em ngoại trừ một điều tôi yêu em, lần đầu tiên nhìn thấy em tôi đã nhận ra rằng em là người phụ nữ duy nhất trên thế giới đối với tôi – và … ồ, đại khái là như thế.

Helen cảm thấy trẻ lại. Đầu tiên một làn sóng tự hào và một chút hồi hộp ngọt ngào của sự phù phiếm đã tràn ngập khắp cô ấy; và rồi cô ấy nhìn Ramonti vào đôi mắt, và một cơn đau nhói cực lớn xuyên qua trái tim cô. Cô không ngờ tới cái cơn đau nhói này. Nó làm cô ngạc nhiên. Anh nhạc sĩ đã trở thành một nhân tố lớn trong cuộc đời cô, và cô đã không biết rõ được điều đó.

“Ông Ramonti,” cô buồn bã nói (đây không phải trên sân khấu, hãy nhớ, đó là ở ngôi nhà cũ gần Quảng trường Abingdon), “Tôi vô cùng xin lỗi, nhưng tôi là phụ nữ đã có chồng”.

Và rồi cô kể cho anh nghe câu chuyện buồn của cuộc đời cô, như một nữ  nhân vật chính phải làm, sớm hay muộn, kể cho người quản lý sân khấu hoặc cho một phóng viên.

Ramonti nắm lấy tay cô, cúi thấp và hôn nó, rồi đi lên phòng anh.

Helen ngồi xuống và nhìn buồn tiếc vào bàn tay cô. Vâng cô chỉ có thể như vậy. Ba người cầu hôn đã hôn nó, thắng cương những con chiến mã màu lang đỏ và cưỡi đi mất hút.

Khoảng một giờ sau, vị khách trọ thứ hai- người lạ bí ẩn với đôi mắt ám ảnh bước vào. Helen ngồi ở trong chiếc ghế xích đu gỗ liễu, đan một thứ vớ vẩn bằng bông gòn. Anh ta vội vã chạy ra từ cầu thang và dừng lại để trò chuyện. Ngồi đối diện ở bàn với cô, anh cũng tuôn ra câu chuyện tình yêu của mình. Và sau đó anh nói: “Helen, em không nhớ anh à? Anh nghĩ anh đã nhìn thấy nó trong mắt em. Em có thể tha thứ cho quá khứ và nhớ cái tình yêu đã kéo dài hai mươi năm không? Anh đã cư xử thật tệ với em…Anh sợ hãi khi quay lại gặp em – nhưng tình yêu của anh đã chế ngự lý trí của mình. Em có thể, sẽ tha thứ cho anh chứ? “

Helen đứng dậy. Người lạ mặt bí ẩn giữ một tay cô trong một cái siết mạnh mẽ và run rẩy.

Cô ấy đứng đó, và tôi thương hại cho sân khấu rằng nó đã không có được một cảnh như thế và cảm xúc của cô ấy để miêu tả.

Vì cô đứng với một trái tim bị chia xẻ. Tình yêu trinh nguyên, khó quên dành cho chú rể của cô là của cô; ký ức quý giá, thiêng liêng, vinh dự về lựa chọn đầu tiên của mình đã lấp đầy một nửa tâm hồn cô. Cô tựa vào cảm giác thuần khiết đó. Danh dự và niềm tin và sự lãng mạn ngọt ngào mãi mãi hướng theo cô ấy. Nhưng nửa kia của trái tim và tâm hồn cô chứa đầy một thứ khác – một ảnh hưởng mới sau này, đầy đặn hơn, gần gũi hơn. Và thế là, cái cũ phải chiến đấu chống lại cái mới.

Và trong khi cô ngập ngừng, từ căn phòng phía trên phát ra tiếng nhạc nhẹ nhàng, réo rắt của một cây vĩ cầm. Sự mệt mỏi, âm nhạc, làm say mê một số người cao quý nhất. Những con quạ có thể mổ lên ngực áo ai đó mà không làm anh ta bị thương, nhưng bất cứ ai đeo trái tim anh ấy trên màng tai của mình sẽ không mấy cách xa cái cổ.

Âm nhạc này và anh nhạc sĩ đến thăm cô ấy, ở bên cạnh cô ấy, và tình yêu cũ giữ cô ấy lại.

“Hãy tha thứ cho tôi đi,” anh này khẩn khoản.

“Hai mươi năm là một thời gian dài để ông tránh xa người mà ông nói đã yêu,” cô tuyên bố, với một cảm xúc hối lỗi.

“Tôi có thể nói thế nào bây giờ ?” anh ta nài nỉ. “Tôi sẽ không giấu diếm cô điều gì. Tối hôm đó khi chú rể bỏ đi, tôi đi theo anh ta. Tôi phát điên vì cơn ghen. Trên một con đường tối, tôi đánh anh ta. Anh ta không đứng dậy được nữa. Tôi đã kiểm tra anh ta. Đầu anh ta đã bị đập vào một hòn đá. Tôi không có ý định giết người. Tôi phát điên vì tình yêu và sự ghen tuông.Tôi trốn gần đó và thấy một chiếc xe cứu thương đưa anh ta đi. Mặc dù cô đã kết hôn với anh ta, Helen…”.

“Ông là ai hả ? “- Người phụ nữ kêu lên, với đôi mắt mở to, giơ tay ra.

“Cô không nhớ tôi ư, Helen – người luôn yêu em nhất? Tôi là John Delaney. Nếu em có thể tha thứ…”

Nhưng cô đã chạy vụt đi, nhảy lên, vấp ngã, vội vã, bay lên cầu thang về phía tiếng nhạc và anh ta – người đã quên hết quá khứ, nhưng người ấy biết cô vì anh là mỗi người trong hai sự tồn tại, và khi cô trèo lên tới, cô khóc nức nở, kêu  và hát: “Frank! Frank! Frank!”

Ba con người phàm trần như vậy đã choi trò tung hứng với nhiều năm trời như thể là những quả bóng bi-a và bạn tôi, phóng viên, không thấy điều gì buồn cười trong đó hay sao chứ !

https://americanliterature.com/author/o-henry/short-story/the-things-the-play

LỜI BÀN NGƯỜI DỊCH

Anh ta đang làm đám cưới, phù rể ghen tức, giành giật cô dâu và đánh ngã đến mất trí nhớ. Linh giác tình yêu đưa anh ta về chốn cũ. Còn kẻ thứ ba ghen tuông mù quáng kia thì chủ động tìm về chốn cũ để cầu hôn và thành thực nhận lỗi. Nữ nhân vật chính chung thủy mối tình đầu, dù có lúc xao lãng nhưng cuối cùng đoàn tụ người yêu.

Nhà văn và phóng viên là người dẫn chuyện và tranh luận với nhau.

Trong con mắt nhà văn, ba nhân vật kia với lối ứng xử như thế đều là nhân vật hài kịch .

Anh phóng viên thì cứ khăng khăng chuyện đời chẳng có gì vui vì cho rằng mình không thể viết chuyện hài từ những bi kịch.

Một quan điểm lý luận văn học khác của O Henry qua thiên truyện ngắn.

ND

CHÚ THÍCH

[1] *William Shakespeare (26 April 1564 – 23 April 1616) nhà thơ, nhà viết kịch Anh thời Phục Hưng Tây Âu

2 * Một phong tục phương Tây: ngay khi đám cưới chưa tan, khách khứa chưa về, hai cô dâu chú rể sẽ lên xe dời đi, đến một nơi xa để hưởng tuần trăng mật (ND).

3* Tam đoạn luận của Aristote: kiểu suy luận hình thức đi từ hai mệnh đề để tiến đến một kết luận tất yếu đã ngầm chứa trong hai mệnh đề đó. Tam đoạn luận gồm ba bộ phận: tiền đề lớn, tiền đề nhỏ, và kết luận.

[1] *William Shakespeare (26 April 1564 – 23 April 1616) nhà thơ, nhà viết kịch Anh thời Phục Hưng Tây Âu

[2] * Một phong tục phương Tây: ngay khi đám cưới chưa tan, khách khứa chưa về, hai cô dâu chú rể sẽ lên xe dời đi, đến một nơi xa để hưởng tuần trăng mật (ND).

3* Tam đoạn luận của Aristote: kiểu suy luận hình thức đi từ hai mệnh đề để tiến đến một kết luận tất yếu đã ngầm chứa trong hai mệnh đề đó. Tam đoạn luận gồm ba bộ phận: tiền đề lớn, tiền đề nhỏ, và kết luận.[3] *

Chuyển ngữ, gửi tới tiên sinh Trần Đình Nhãn, Vũ Lưu Văn, Đinh Quang Minh, Lý Trọng Đạo ở nơi viễn xứ, lâu nay bặt tin ? Nếu đọc được truyện này xin hồi âm bằng cách comment nhá. Tại hạ hằng mong tin!

– Phùng Hoài Ngọc cẩn bút

Trái tim và đôi tay

Hearts And Hands

truyện ngắn O. Henry

truyện 4

http://livros01.livrosgratis.com.br/ln000059.pdf

PHÙNG ĐẠI NGC & NGUYN ĐẠI HOÀNG chuyn ng

***

Chuyến tàu tốc hành của hãng hoả xa miền Đông B&M đến ga Denver, một dòng người đổ xô lên mấy toa hành khách. Ở một toa, có một thiếu nữ kiều diễm, trang phục thanh nhã, ngồi giữa những tiện nghi xa hoa, vốn chỉ thấy ở những người quen đi lại. Trong số những khách mới lên tàu, có hai chàng trai trẻ, một anh vóc dáng đẹp đẽ, diện mạo, điệu bộ, cũng mạnh mẽ hiên ngang, còn anh kia lầm lầm lì lì, người ngợm nặng nề, trang phục luộm thuộm. Hai anh này bị còng tay vào nhau.

Đi dọc theo lối đi giữa toa tàu, hai người chỉ thấy có băng ghế đối diện với người thiếu nữ quyến rũ kia, là còn trống. Thế là cặp đôi bị còng vào nhau cùng ngồi xuống đấy. Ánh mắt xa xăm của người thiếu nữ nhìn lướt qua họ, rồi một nụ cười duyên dáng làm sáng bừng khuôn mặt nàng, đôi má nàng phớt hồng, và bàn tay nhỏ nhắn đeo găng xám của nàng đưa ra. Rồi nàng cất tiếng, một giọng nói khoan thai dịu dàng, cho thấy chủ nhân giọng nói đã từng chuyện trò với người mà nàng đang nói:

– Ah, ra là anh Easton, anh cho phép em nói trước nhé. Anh có nhận ra bạn cũ khi gặp lại ở miền Tây này không thế anh?

Anh chàng trẻ hơn trong hai  người, giật nẩy người, khi vừa nghe giọng nói nàng, một thoáng bối rối, nhưng kịp trấn tĩnh, anh khẽ nắm lấy mấy ngón tay nàng bằng tay trái của anh.

Ah, Fairchild đây mà!  Anh mỉm cười, bảo nàng. Xin lỗi vì tay phải anh đang bị vướng thế này này …

truyện 11

Rồi anh nâng nhẹ tay phải lên: một cái còng sắt sáng loáng bập vào cổ tay phải của anh và cổ tay trái của người đi cùng. Ánh mắt hân hoan của nàng từ từ chuyển sang hoang mang hãi hùng. Đôi má hồng rạng rỡ nhạt dần. Đôi môi hé mở trong nỗi đớn đau mơ hồ. Easton, cười nhẹ, có vẻ thích thú, định nói tiếp, thì người kia chen ngang. Thì ra nãy giờ khoé mắt tinh tường sắc sảo của con người lầm lầm lì lì đó, đã kín đáo quan sát nét mặt của cô gái.

-Xin lỗi, vì xen ngang câu chuyện, nhưng thấy cô có quen biết với sếp sĩ quan cảnh sát tư pháp đây, nên tôi nhờ cô bảo ông ấy nói giúp cho tôi vài lời, khi đến nhà tù, nếu ông ấy đồng ý, thì mọi chuyện ở đó sẽ dễ thở hơn cho tôi rất nhiều. Ông ấy đang áp giải tôi đến trại Leavenworth thụ án bảy năm tù về tội làm hàng giả đấy!

– Ôi trời ! Cô gái thốt lên, thở hắt ra, hồng trở lại. Vậy ra, đây là nhiệm vụ của anh sao?  Anh sĩ quan cảnh sát tư pháp!

Fairchild thân mến- Easton nói tỉnh bơ-  Anh phải làm cái gì đó. Tiền chắp cánh cho mọi thứ, em biết mà, phải có tiền mới theo kịp anh em ở Washington chứ! Và anh đã tìm thấy cơ hội này ở miền Tây, à mà, địa vị của sĩ quan cảnh sát tư pháp thì  sánh sao được đại sứ cơ chứ, nhưng …

Đại sứ ư ? cô gái sôi nổi nói–  thôi đừng nhắc nữa. Quí ông đâu nhất thiết phải vậy! Anh biết mà. Huống chi bây giờ anh đã là một người hùng của miền Tây oai dũng, cưỡi ngựa bắn súng, lao thân vào chốn hiểm nguy. Điều đó khác hẳn cuộc sống ở Washington rồi. Bạn cũ nhớ anh lắm!

Đôi mắt cô gái, như bị mê hoặc, quay lại, mở to, lặng lẽ ngắm chiếc còng sắt bóng loáng.

Đừng bận tâm, thưa tiểu thư- Người kia nói- Tất cả các sỹ quan cảnh sát tư pháp đều tự còng tay mình với tù nhân, để họ khỏi trốn thoát. Ông Easton hiểu công việc của mình mà.

– Em sẽ sớm gặp lại anh ở Washington chứ? Cô gái hỏi.

– Không sớm đâu-Easton nói- E là thời bay nhảy của anh đã qua rồi!

– Em yêu miền Tâycô gái nói bâng quơ. Đôi mắt long lanh dịu dàng, nàng nhìn ra ngoài cửa sổ toa tàu, bắt đầu nói,chân thành, mộc mạc, không điệu đà kiểu cách- Mẹ em và em nghỉ hè ở Denver. Nhưng tuần rồi, mẹ về trước, vì cha em ốm nhẹ. Em có thể sống hạnh phúc ở miền Tây này. Em nghĩ không khí ở đây hợp với em.Tiền không phải là tất cả. Nhưng người ta vẫn hiểu sai đủ thứ, vẫn ngớ ngẩn…

Này ông sỹ quan cảnh sát tư pháp– con người mặt mũi lầm lầm lì lì lên tiếng- Thật không công bằng chút nào! Tôi cần uống cái gì đó, và cả ngày cũng chưa được hút thuốc. Ông nói chuyện đủ chưa? Bây giờ dẫn tôi vào toa hút thuốc được chứ? Tôi chết thèm vì cái tẩu thuốc đây này!

 Hai người khách bị còng vào nhau cùng đứng dậy, khuôn mặt của Easton vẫn một nụ cười buồn.

Anh không thể từ chối yêu cầu được hút thuốc. Anh nhẹ nhàng nói- dù nó đồng hành với bất hạnh. Tạm biệt em, Fairchild. Nhiệm vụ mà, hiểu cho anh nhé. 

Anh giơ tay từ biệt nàng.

Thật tiếc là anh không về miền Đông– nàng nói và chỉnh lại trang phục – mà phải tiếp tục đến Leavenworth, em nói đúng chứ?

– Đúng- Easton nói-  Anh phải tiếp tục đến Leavenworth.

Hai người đàn ông theo lối đi giữa toa tàu đến toa hút thuốc.

Hai ông khách ngồi gần đó, hầu như đã nghe trọn vẹn câu chuyện. Một ông bảo:

– Anh sỹ quan cảnh sát tư pháp đó thật tốt bụng.Miền Tây này nhiều người cũng được đấy!

– Còn trẻ mà chức vụ đã vậy, có đúng không ta? Người kia thắc mắc.

Trẻ ư! Người kia thốt lên- Tại sao ư?- Ô hay- Thế anh không hiểu à? Nói đi, có bao giờ anh thấy sĩ quan cảnh sát nào lại còng tay tù nhân vào tay phải của mình chưa?

truyện 3

LỜI NGƯỜI DỊCH

Một chàng trai trẻ ở thủ đô Washington, nay là tù nhân bị áp giải đi nhà tù liên bang, vẫn hơn xa anh sỹ quan cảnh sát tư pháp về ngoại hình và trang phục. Một cuộc hội ngộ bất ngờ giữa gã tù với cô tiểu thư vốn là bạn tình, đã diễn ra trên tàu. Anh sỹ quan cảnh sát tư pháp nhận ra tình thế khó xử của gã tù và vẻ bàng hoàng thất vọng của cô tiểu thư. Anh cảnh sát đã làm một nghĩa cử  cao thượng. Phải chăng đó là niềm vui của anh cảnh sát khi có thể giúp người tù nhân dù chỉ trong muôn một ?!

Hành động nhanh trí của anh cảnh sát đã giữ thể diện cho người tù nhân, và mang lại cho cô Fairchild sự nhẹ nhõm. Rồi họ tiếp tục trò chuyện. Fairchild tin rằng Easton đã từ bỏ cuộc sống xa hoa ở Washington và nhận công việc của một cảnh sát ở miền Tây. Sau đó cô nói rằng cô yêu miền Tây và muốn sống ở đó. Một lời tỏ tình sao mà tinh tế nghe mà muốn rớt nước mắt! Đẹp lắm O. Henry tiên sinh!

Nhà văn miêu tả rất tinh tế: cảnh sát áp giải thường còng tay phải phạm nhân vào cổ tay trái của mình để giữ thế chủ động. Một hành khách đã nhận ra điều ngược lại, và giải thích cho người bạn cùng đi. Tựa đề thiên truyện cũng gọi nhiều suy ngẫm thú vị cho độc giả.

Vậy nên có thơ rằng:

“Nàng Fairchild yêu bạn cũ

Biết đâu là tù nhân

Mối duyên tình đau thương

Vấn vương lòng độc giả

*

Anh cảnh sát thuở nọ

Giải người tù lên đường 

Gởi tâm hồn cao thượng

Giữa hai bàn tay còng

*

Giữa trời cao biển rộng

Giữa cõi đời mênh mông

Giờ đây nghe câu chuyện

TRÁI TIM và ĐÔI TAY”

HUY HIỆU CỦA ANH CẢNH SÁT O’ROON

The Badge of Policeman O’Roon

TRUYỆN NGẮN O . Henry

https://en.wikisource.org/wiki/The_Badge_of_Policeman_O%27Roon

PHÙNG HOÀI NGC & NGUYN ĐI HOÀNG chuyn ng

(Thân gửi đi xa đến tiên sinh Trần Đình Nhãn nơi viễn xứ, bặt tin bấy nay ?!)

bìa HUY HIỆU CẢNH SÁT O ROON

“Không thể phủ nhận là có những cặp đôi đã phải lòng nhau, ngay từ cái nhìn đầu tiên. Những cuộc tình sét đánh đó- khi nàng vừa thấy anh đi trên phố Bradstreet, hay khi anh vừa thoáng thấy nàng ngồi vấn tóc- quả là đầy rủi ro. Nhưng chúng vẫn đang diễn ra đấy thôi, ví dụ câu chuyện sau đây, mà ơn trời, ít nhiều cho thấy, những thứ quan trọng, cụ thể, như rượu, luật lệ, ngựa xe, nữ trang, xem ra đều lu mờ hết! 

Hồi chiến tranh *[1], có một đoàn Khinh kỵ binh, với tài mật phục, đã đi vào lịch sử. Đoàn quân này được tuyển mộ từ tầng lớp tiêu biểu của những chàng trai nhiệt huyết ở cả hai miền Đông,Tây.Trong bộ quân phục vải ka ki, trông anh lính nào cũng giống anh lính nào, nên cũng chẳng có mấy chuyện để nói, nhưng họ là những người bạn thân thiết, những chiến hữu vẹn toàn.

Anh lính Ellsworth Remsen, người gốc New York, mức thuế đất đai dinh thự phải đóng hàng năm sơ sơ…mười triệu đô, vẫn vui vẻ tự nhiên ngồi xơi thịt bò hộp bên ngọn lửa trại của đoàn Khinh kỵ binh. Đối với anh, chiến tranh bất quá cũng chỉ là một trò đùa, nên chẳng mấy khi anh luyến tiếc môn mã cầu, và món cá trích nướng cả. 

Một trong những chiến binh của binh đoàn Khinh kỵ là một chàng trai trẻ, trang phục chỉnh tề, phong thái nhã nhặn pha chút lạnh lùng- tên là O’Roon- như anh vẫn xưng như vậy. Đối với anh lính trẻ này Remsen đặc biệt ưa thích. Hai người vẫn thường cưỡi ngựa song đôi, vừa hành quân qua đồi, vừa tranh luận sôi nổi, về quân Tây Ban Nha, về phe Dân chủ.

Sau chiến tranh, Remsen trở lại với môn mã cầu và món cá trích. Rồi một ngày kia, có chàng trai trẻ, trang phục chỉnh tề, phong thái nhã nhặn pha chút lạnh lùng, đến tìm anh, làm náo động cả câu lạc bộ, rồi anh và O’Roon tay bắt mặt mừng, kể lể chuyện buồn vui sau những tháng năm dài biền biệt đồng đội bặt tin nhau. Trông O’Roon kém sắc, u uẩn, và an phận.Nhưng dường như cái vẻ an phận ấy cũng chỉ là bề ngoài.

Này Remsem, hãy tìm giúp tôi một việc làm nhé – anh nói- Tôi vừa tiêu đến đồng shilling cuối cùng cho thcắt tóc đấy!

Chuyện nhỏ! Remsen nói-  Ở thành phố này, tôi quen thiếu gì chủ nhà băng, chủ cửa hàng, cửa tiệm, và nhiều việc khác nữa.  Mà cậu có thích việc làm cụ thể nào không ?

Có chứ!  O’Roon nói, mắt sáng lên thích thú- Sáng nay tôi dạo quanh Công viên Trung tâm. Tôi muốn thành cảnh sát kỵ binh. Đó là việc tôi thích, cũng việc  duy nhất tôi làm được. Với công việc này, tôi vừa được cưỡi ngựa, vừa được hít thở không khí trong lành, rất hợp với tôi. Cậu nghĩ xem có giúp được tôi không?  

Remsen bảo rằng chắc chắn giúp được. Và quả nhiên chmột thời gian rất ngắn sau đó, anh đã hoàn thành lời hứa. Rồi từ đó, trong lực lượng cảnh sát kỵ binh thành phố, người ta thấy một chàng trai trẻ, trang phục chỉnh tề, phong thái nhã nhặn, pha chút lạnh lùng, cưỡi một con hồng mã oai phong, tuần tra dọc theo mấy con đường trong công viên.

Thời nay tình yêu sét đánh vẫn là nguy cơ lớn đối với quý ông lớn tuổi thích chưng diện, và quý bà lớn tuổi ham đọc truyện lãng mạn. Và bây giờ điều đó xảy ra với chàng trẻ tuổi Remsen, khi anh bước ra từ câu lạc bộ của mình cách đó vài con ngõ, thẩn thơ đi vào đại lộ thứ Năm.  

Trên con phố đông nghịt xe cộ, một chiếc ô tô đang phải nhích từng chút một.Trong xe là một anh tài xế, một ông cụ râu tóc trắng như tuyết, đội mũ len kẻ sọc Tô Cách Lan *[2], loại này cực bền, gặp rượu cũng không hề hấn gì, trừ khi người ta cố làm hỏng nó. Nhưng hai người này chẳng chút bận tậm, người lo tập trung lái xe, người bận trả tiền xe, thế thôi. Ngồi bên ông cụ là một tiểu thư xinh tươi như ngàn hoa lựu nở, đằm thắm như vầng trăng thượng huyền- từ lúc hoàng hôn cho đến khi trăng lên trên mấy ngọn trúc đào.

Vừa nhìn thấy cô, Remsen đã biết đó là định mệnh của mình. Anh có thể lao mình vào chiếc xe, để gây chú ý cho những người trên xe,  nhưng cách đó quá tệ hại. Thế nên, chiếc xe từ từ đi qua Remsen, và, nói theo ngôn ngữ thi ca là, mang theo luôn cả trái tim anh! Ở một thành phố lớn, dân cư cả triệu người như thế này, hẳn là không thiếu những mỹ nhân xinh tươi như ngàn hoa lựu nở. Nhưng lòng Remsen thầm mong rồi sẽ được gặp lại nàng tiểu thư vừa gặp, bởi anh tin người chân tình luôn được đấng cao xanh phù trợ.

Và quả thật anh Remsen chín chắn đã gặp may sau đó! Số là thành phố có tổ chức lễ họp mặt đoàn cựu binh Khinh kỵ, hôm ấy dù không đông đủ, chỉ khoảng hai chục người, nhưng cũng có những phát biểu về quân Tây Ban Nha rất sôi nổi, và ăn uống nhậu nhẹt ra trò! Rồi sáng tinh mơ hôm sau, bọn họ rời đi cả, chỉ còn lại một số ít nằm lại “chiến trường”, trong đó có cả chàng cảnh sát O’Roon! Anh không quen uống rượu mạnh. Hai chân anh bủn rủn yếu ớt, trái với lời thề cảnh sát.

– Tôi xỉn quá Remsen- O’Roon nói- Ôi trời  sao lại có kiểu khách sạn xoay mòng mòng vậy chứ? Chẳng biết ra làm sao luôn! Mình còn tỉnh mà, nhưng không sao nhấc nổi hai cái chân! Mà mình còn phải tuần tra ba tiếng đồng hồ! Hết cách rồi Remsen, mình nói với cậu đấy, hết cách rồi….

– Hãy nhìn tôi đây này- Remsen mỉm cười, đưa tay chỉ chỉ vào mặt mình– cậu có nhìn ra là ai không đấy?

– Là gã mặt dày – O’Roon trợn trạo nói– Là gã mặt dày Remsen chứ ai!

–  Không phải tôi ! Remsen nói – Mà là cậu- cảnh sát kỵ binh O’Roon! Hãy nhìn mặt cậu đi, à mà không có gương soi thì cậu làm sao nhìn được chứ. Nhưng hãy nhìn mặt tôi mà liên tưởng đến mặt cậu đi. Tụi mình giống nhau nhiều đến mức nào ư? À giống nhau như hai gã hầu bàn trong nhà hàng kiểu Pháp vậy!  Hôm nay mà mình mặc bộ cảnh phục của cậu, đeo huy hiệu của cậu, phi con hồng mã của cậu, đảm bảo mấy cô bảo mẫu mê tít ngay, và mình cũng ngăn không để khách dẫm lên cỏ trong công viên. Mình có huy hiệu của cậu, có vị trí của cậu, ngoài ra mình còn có được trò vui tuyệt vời- như hồi tụi mình chiến thắng quân Tây Ban Nha nữa!

Rồi ngay lập tức, kẻ gidanh cảnh sát kỵ binh O’Roon cưỡi con hồng mã phi nhanh vào công viên.Trong bộ đồng phục hai người đàn ông khác nhau sẽ trông giống nhau; hai người hơi giống nhau về tính cách và vóc dáng sẽ xuất hiện như hai anh em sinh đôi. Vì vậy, Remsen cho ngựa phi chầm chậm xuống những lối mòn dành cho ngựa, tận hưởng những lạc thú mà những nhà triệu phú hiếm khi có được.  

Sáng sớm, một cxe ngựa bốn bánh, mui trần, do một cặp ngựa đỏ tía rực như lửa kéo, lướt đi trên đường xe trong công viên. Việc này cũng lạ, ít ai đến công viên vào buổi sáng, ngoại trừ những người bình thường đi rèn luyện sức khoẻ, người nghèo, hay là người phải suy nghĩ việc gì đó.  Ngồi trong xe là một ông cụ râu tóc trắng như tuyết, đội chiếc mũ len kẻ sọc Tô Cách Lan, loại này cực bền, trừ khi người ta cố  làm hỏng nó. Bên ông, là quý cô của lòng chàng Remsen- nhan sắc như ngàn hoa lựu nở, như vầng trăng thượng huyền.

Remsen thấy họ đang đến gần. Ngay khoảnh khắc họ lướt qua, nàng đã thoáng nhìn anh, chvậy thôi, nhưng với trái tim nhạy cảm của một kẻ si tình chân chính, anh có ththề rằng nàng đã xao xuyến ửng hồng đôi má. Anh tiếp tục cho ngựa đi nước kiệu đâu khoảng hai mươi mét, rồi bỗng nhiên cho ngựa quay đầu lại ngay khi nghe tiếng gõ móng dồn dập của hai con ngựa đỏ tía của cỗ xe kia. Cặp mã đó đang lao vun vút.

Remsen lập tức thúc con hồng mã phóng theo sau cỗ xe ngựa đó nhanh như một phát súng. Kẻ giả danh cảnh sát O’Roon có nhiệm vụ đột xuất rồi đây! Ba mươi giây sau khi cuộc rượt đuổi bắt đầu, con hồng mã của Remsen đã chạy ngang hàng với cỗ xe ngựa, nó nghiêng nghiêng mắt nhìn anh, như muốn nói với anh rằng :

Này cái ông ngốc kia, ông sẽ ra tay chứ? Ông không phải là O’Roon, nhưng theo tôi, nếu nghiêng về bên phải, ông có thể với tới dây cương của lũ ngựa chậm chạm ngu xuẩn đấy— ah ! ông làm được rồi!  Ngay O’Roon cũng không thể làm gọn hơn thế đâu!”.

Cơ bắp dẻo dai bền bỉ của Remsen rốt cuộc đã khống chế được cặp ngựa đỏ tía bất kham, buộc chúng phải dừng lại.  Người đánh xe thả lỏng dây cương, phóng ra khỏi chngồi, đứng chắn ngay trước hai con ngựa. Còn con hồng mã, có vẻ đã chịu chủ nhân mới, gõ móng cồm cộp oai phong, ra điều mắng mỏ hai con ngựa khùng kia.

Remsen, còn nán lại, lờ mờ cố nhận ra, dù mơ hồ, dù không thể, và dù không cần thiết, về ông cụ đội mũ Tô Cách Lan, đang luôn miệng nói điều gì đó. Từ sâu thẳm, anh cũng nhận ra đôi mắt tim tím phớt xanh, hay đại khái như thế của tiểu thư, nhận ra nụ cười, cùng ánh mắt còn vương nỗi khiếp sợ của nàng, một ánh mắt mà với tâm hồn nhạy cảm của một kẻ si tình chân thực như anh, cũng không sao lý giải được.

Họ hỏi danh tánh, chân thành cám ơn về hành động anh hùng của anh.  Ông cụ đội mũ Tô Cách Lan nói nhiều lắm, nhưng những gì hùng biện nhất, lôi cuốn nhất  lại nằm sâu trong đôi mắt giai nhân!

Một chút hài lòng pha lẫn căng thẳng dậy lên trong Remsen, bởi anh có thể cho họ biết danh tánh, với niềm tự hào chính đáng, bởi danh tánh đó được giới thượng lưu trân trọng, và dù tài sản của anh không lớn đi nữa, cũng rất đáng tự hào, và cuối cùng anh có thể thanh thản rời đi.

Anh mở miệng toan nói tên anh, nhưng rồi dừng lại.

Anh là ai ư?  Là cảnh sát kỵ binh O’Roon. Huy hiệu và chức vụ của người chiến hữu của anh đang nằm trong tay anh. Nếu như Ellsworth Remsen, nhà triệu phú, gốc New York, đúng là người vừa cứu tiểu thư đẹp như hoa lựu nở, và ông cụ đội mũ Tô Cách Lan thoát chết, thì lúc đó cảnh sát O’Roon đang ở đâu? Bỏ nhiệm vụ, bại lộ, giáng chức, sa thải !  Tình yêu đã đến rồi đấy, nhưng trước đó có một thứ tình phải được ưu tiên: đó là tình đồng đội của những người trai năm xưa trên chiến trường chống giặc.

Remsen khchạm tay vào chiếc mũ cảnh sát của mình, nhìn vào giữa hai mắt con hồng mã, và nói tiếng địa phương:

– Xin đừng quan tâm!  Anh thản nhiên nói. Cảnh sát chúng tôi được trả lương để làm những việc này mà! Đó là nhiệm vụ của chúng tôi !

Rồi anh lên ngựa phóng đi – phóng đi với tinh thần của một người mang sứ mệnh cao cả, nhưng trong thâm tâm anh biết có thể không bao giờ anh lại có được một cơ hội như thế nữa cả.

Cuối ngày, Remsen dẫn con hồng mã về chuồng, rồi qua phòng O’Roon. Viên cảnh sát lúc đó đã trở lại là một chàng trai trẻ, trang phục chỉnh tề, phong thái nhã nhặn, pha chút lạnh lùng, đang ngồi hút xì gà bên cửa sổ.

Quỷ tha ma bắt cậu, bọn cảnh sát mấy cậu, chết tiệt mấy cái huy hiệu, chết tiệt mấy con ngựa, mấy gã nghèo kiết xác, mấy tay phét lác, mới uống có hai ly đã gục. Remsen nói một hơi đầy cảm xúc.

O’Roon rõ ràng rất thoải mái, cười giả lả.  

Thôi mà Remsen tốt bụng- anh nhẹ nhàng nói- Tôi đã biết hết mọi chuyện. Họ đã tới tìm tôi hai tiếng trước. Cũng là chuyện nội bộ thôi, tôi giải bày cho họ rõ rồi. Quên nói cậu biết- Bá tước Ardsley là cha tôi. Buồn cười là cậu đã gặp họ trong Công viên. Nếu con hồng mã bị đau, cậu sẽ biết tay tôi. Tôi phải mua nó bằng mọi giá đấy. À mà nói cho cậu biết, em gái tôi – tiểu thư Angela, cậu gặp rồi đấy- đặc biệt mời cậu đến quán khách sạn cùng tôi tối nay đó! Chưa làm mất huy hiệu của tôi chứ Remsen? Tôi phải nộp chúng cho Sở chỉ huy khi tôi từ chức đấy !

END

Lời bàn người dịch

 

Tình bạn hữu đồng đội cũ của hai chàng công tử thành New York đã cùng nhau trải qua chiến tranh. Danh dự người cảnh sát và tình yêu sét đánh của chàng triệu phú Remsen thử làm cảnh sát một bữa, vừa vì tính đồng đội cũ, vừa tìm cách theo đuổi giai nhân. Kết thúc có hậu và vui vẻ. Tính cách người New York được vẻ lên chân thực, dí dỏm. Nhà văn không lên gân cường điệu khi miêu tả ca ngợi hai cựu chiến bình và danh dự người cảnh sát.

[1] * Nội chiến Mỹ 1861-1865

[2] * Scotland, thuộc Anh quốc

Hoàng Hưng

NHÀ TOÁN HỌC HOÀNG XUÂN PHÚ VIẾT TIẾP VỀ ĐỒNG TÂM! RẤT THUYẾT PHỤC!

Viết thêm về tội ác Đồng Tâm

Hoàng Xuân Phú

(GSTS viện trưởng Viên toán học)

***

Kết thúc phần 2 của bài “Tội ác Đồng Tâm”, tôi đã viết:

“Mục đích cao nhất của bài viết này không phải là xác định đích danh thủ phạm giết người, mà là minh oan cho cụ Lê Đình Kình, cùng những người dân Đồng Tâm đang bị giam giữ và sẽ bị đem ra xét xử. Để họ không bị kết án oan sai. Và cũng giúp cơ quan điều tra, xét xử không kết tội oan sai. Hơn nữa, giúp những người quá tin vào cái gọi là thông tin chính thống bình tâm nghĩ lại, tránh lên án và xúc phạm những nạn nhân vô tội.”

Để đạt được mục đích đó, tôi đã phải kiềm chế tối đa, hơn hẳn mức kiềm chế thường vận dụng khi viết các bài phản biện khác. Với thiện chí ấy, hy vọng những người có trách nhiệm bình tĩnh đọc hết bài “Tội ác Đồng Tâm”, để hiểu rằng: Cả kịch bản, đạo diễn và dàn diễn viên của vở kịch mang tên Đồng Tâm đều quá tồi tệ. Và tìm được trả lời hợp lý cho câu hỏi: Phải làm gì khi âm mưu tệ hại đã bị bại lộ?

Cuối bài “Tội ác Đồng Tâm”, tôi đã đưa ra mấy lời khuyên chân thành:

“Với tội ác Đồng Tâm, nhà cầm quyền đã tự tay giáng đòn trí mạng vào tử huyệt của chế độ. Muốn giải huyệt, thì phải thừa nhận tội ác, chấm dứt ngay chiến dịch vu khống, xuyên tạc sự thật, chấm dứt giam giữ và bức cung những người vô tội. Nếu tiếp tục bức cung, rồi dựa vào đó để kết án, thì chỉ đổ thêm dầu vào lửa, khiến cho tình hình ngày càng thêm trầm trọng và bế tắc.”

“Để làm dịu nỗi đau do tội ác Đồng Tâm gây ra, đã hô hào học tập và làm theo, thì cũng nên học theo cách ứng xử của Hồ Chí Minh và Trường Chinh sau sai lầm của Cải cách ruộng đất. Chí ít cũng xin lỗi gia đình cụ Lê Đình Kình và nhân dân Đồng Tâm.”

Tiếc rằng, thế lực cầm quyền vẫn chẳng có biểu hiện nào tỏ ra hối tiếc. Ngược lại, còn để cho đám lâu la mang sắc phục công an trâng tráo tới nhà cụ Lê Đình Kình hết lần này đến lần khác. Ngày 12/2, chúng đòi cưa thanh sắt có vết đạn trên cửa xếp. Ngày 13/2, chúng trao giấy triệu tập cụ bà Dư Thị Thành (vợ cụ Lê Đình Kình). Ngày 20/2, chúng đòi khám nhà. Thử hỏi, còn gì để khám nữa? Bởi lẽ, từ sáng sớm 9/1/2020, công an đã chiếm đóng và tha hồ lục soát ngôi nhà nhỏ của gia đình cụ Kình suốt hơn ba ngày đêm, trước khi để cho vợ và con cháu cụ trở về nhà. Rõ ràng là muốn phi tang, đồng thời tiếp tục hành hạ, khủng bố tinh thần mấy người phụ nữ và trẻ con tội nghiệp còn lại trong gia đình cụ Kình. Vì vậy, tôi buộc phải viết thêm bài này, nhằm vạch rõ hơn chân tướng của vụ thiêu cháy ba sĩ quan công an.

Tại sao các cấp lãnh đạo của chế độ này lại để mặc cho đám kiêu binh tiếp tục hành xử như vậy? Chả lẽ, đến bây giờ vẫn chẳng có ai trong bộ máy cầm quyền nhận ra lỗi lầm của vụ đàn áp Đồng Tâm hay sao? Hay phải chăng, có đủ quyền lực thì thiếu minh mẫn, còn đủ minh mẫn thì lại thiếu quyền lực? Hay nếu đủ cả quyền lực và minh mẫn, thì lại thiếu đạo đức?

Hy vọng, trong giới cầm quyền vẫn còn có nhiều người vừa có quyền lực, vừa minh mẫn, vừa có đạo đức. Nhưng những năm tháng đằng đẵng hít thở bầu không khí độc tài ngột ngạt đã thiến dần dũng khí, để lại những tâm hồn bị nhiễm nặng bản năng ngậm miệng triền miên, hay luôn quá thận trọng, như mắc phải một chứng bệnh kinh niên. Thành thử, với một số người, có thể những chứng cứ và lập luận đã được trình bày vẫn chưa đủ thuyết phục. Vậy thì mời đọc thêm bài này.

  1. Nối mạch tư duy

Đang đêm, khi hầu hết mọi người sống trên đất Việt còn đang chìm sâu trong giấc ngủ, thì mấy nghìn cảnh sát tấn công vào xã Đồng Tâm. Tâm điểm của trận tấn công là nhà cụ Lê Đình Kình. Đối tượng chính của cuộc tấn công chính là cụ Lê Đình Kình.

Sau khi vãi đạn vào ngôi nhà nhỏ, chúng đã tra tấn cụ Kình hết sức dã man, bắn vỡ tung đầu gối chân trái của cụ. Vâng, đúng cái chân mà đám thi hành công vụ đã từng đá vỡ xương đùi, khi lừa cụ ra đồng để bắt cóc vào năm 2017. Kết thúc cuộc đời cụ Kình bằng phát súng bắn thẳng vào tim, rồi chúng mang thi thể cụ đi mổ phanh thây, kéo một đường suốt từ cổ xuống đáy bụng.

Để biện hộ cho cuộc tấn công và giết người hoàn toàn phi pháp, họ bịa ra chuyện “trong quá trình xây dựng, sáng ngày 9/1/2020, một số đối tượng có hành vi chống đối, sử dụng lựu đạn, bom xăng, dao phóng… tấn công lực lượng chức năng, chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng”. Hơn nữa, họ còn vu khống trắng trợn, rằng “trên tay của Lê Đình Kình vẫn còn một quả lựu đạn, sau khi ném một quả không nổ”.

Buồn thay, những lời dối trá trên cả trơ trẽn ấy lại đánh lừa được khối người nhẹ dạ cả tin, hoặc quá lười suy nghĩ, hoặc chăm suy nghĩ nhưng lại không đủ khả năng tư duy.

Tuy nhiên, dư luận tỉnh táo đã nhanh chóng vạch trần những luận điệu giả dối, khiến Bộ Công an phải liên tục sửa kịch bản. Song thực chất đã sai, thì sửa mấy vẫn cứ sai.

Lẽ ra, kể cả những người tin đảng, yêu chế độ cũng khó kiềm chế phê phán việc công an giết hại cụ già tàn tật đã 84 tuổi. Nhưng cái chết của Thượng tá Nguyễn Huy Thịnh, Thiếu úy Dương Đức Hoàng Quân và Trung úy Phạm Công Huy đã đảo chiều dư luận. Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang tuyên bố: “Từ nhà Lê Đình Chức sang nhà Lê Đình Hợi, giữa 2 nhà có một hố thông gió, hố kỹ thuật khá sâu, gần 4 mét, anh em ngã xuống hố… Lập tức, các đối tượng sử dụng bom xăng, đổ xăng ra can tưới xuống và đốt.” Ba cái chết bi thảm khiến bao người căm thù cụ Lê Đình Kình và những người dân Đồng Tâm sát cánh bên cụ. Cơn phẫn nộ mạnh đến mức xóa tan những băn khoăn về cuộc tấn công phi pháp và việc giết hại cụ Kình.

Tuy nhiên, tuyên bố ấy của Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang cũng chỉ là một mắt xích then chốt trong chuỗi xích thuần chất dối trá của Bộ Công an trong vụ Đồng Tâm. Để bác bỏ, tôi đã khẳng định trong bài “Tội ác Đồng Tâm”

Mệnh đề 4: Cáo buộc mấy người dân Đồng Tâm đã đổ xăng để thiêu cháy ba sĩ quan công an là sai sự thật.

Mệnh đề trên là hệ quả trực tiếp của

Mệnh đề 3: Thứ vật liệu đã thiêu cháy ba sĩ quan công an trong hố kỹ thuật không phải là chất lỏng.

Bài “Tội ác Đồng Tâm” không chỉ bác bỏ tuyên bố của Thứ trưởng Bộ Công an về khía cạnh “các đối tượng sử dụng bom xăng, đổ xăng ra can tưới xuống và đốt”, mà còn bác bỏ cả khía cạnh “anh em ngã xuống hố”, thông qua

Mệnh đề 2: Không thể có chuyện cả ba sĩ quan công an cùng bị ngã xuống hố kỹ thuật.

Một điều mà Bộ Công an chưa cáo buộc, nhưng vẫn phải phòng xa mà khẳng định trước, đó là

Mệnh đề 1: Người dân Đồng Tâm không hề đẩy ba sĩ quan công an xuống hố kỹ thuật.

Từ Mệnh đề 1 và Mệnh đề 4 ta rút ra: Người dân Đồng Tâm không hề có lỗi trực tiếp hay gián tiếp đối với cái chết của ba sĩ quan công an. Họ không hề làm gì khiến ba sĩ quan công an bị rơi xuống hố kỹ thuật. Và họ cũng không hề đổ xăng xuống hố kỹ thuật rồi châm lửa đốt ba sĩ quan công an, như Bộ Công an đã cáo buộc.

Từ Mệnh đề 1, Mệnh đề 2 và Mệnh đề 4 ta rút ra: Có kẻ đã hạ gục ba sĩ quan công an và ném họ xuống hố kỹ thuật để thiêu cháy, và kẻ đó không phải là người dân Đồng Tâm.

Câu hỏi hết sức tự nhiên là: Không phải là người dân Đồng Tâm, lại có thể đến gần ba sĩ quan công an được trang bị đầy đủ súng ống để hạ gục họ, thì hung thủ có thể đến từ đâu, nếu không phải từ đám tấn công vào Đồng Tâm? Vừa đọc xong câu hỏi, hẳn đã tự có câu trả lời.

Câu hỏi tiếp theo là: Tại sao hung thủ lại giết ba sĩ quan công an? Do tư thù, hay thi hành công vụ, một thứ công vụ khốn nạn như bao công vụ khác ở xứ này?

Rõ ràng, không thể do tư thù. Thịnh và Quân đều công tác tại Trung đoàn Cảnh sát cơ động Thủ đô. Nhưng Thịnh là Thượng tá Phó Trung đoàn trưởng, còn Quân chỉ là Thiếu úy Tiểu đội trưởng, hai vị trí công tác xa nhau đến mức khó có va chạm với cùng một kẻ thù chung. Hơn nữa, Thịnh và Quân thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động của Bộ Công an, còn Huy là cán bộ Đội chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Khu vực 3, trực thuộc Công an Thành phố Hà Nội. Nghĩa là xa lắc xa lơ, đến mức có thể chưa hề biết mặt nhau, trước khi cùng nhau đi đến chỗ chết. Vì vậy, Trung úy Phạm Công Huy càng không thể có chung một mối tư thù với cả Thượng tá Nguyễn Huy Thịnh và Thiếu úy Dương Đức Hoàng Quân.

Vậy chẳng lẽ, chỉ vì muốn đổ tội cho gia đình cụ Kình và người dân Đồng Tâm, nhằm biện hộ cho Tội ác Đồng Tâm và đảo chiều dư luận phê phán, mà lại đang tâm lên kế hoạch thiêu cháy một lúc ba sĩ quan công an hay sao? Nghi ngờ này nghiêm trọng và kinh khủng đến mức khó tin, hay chẳng muốn tin. Do đó nảy sinh câu hỏi: Cái lô-gic được trình bày ở trên sai chỗ nào? Phải chăng sai ở Mệnh đề 3?

Phần 2 của bài viết này sẽ khẳng định một lần nữa, Mệnh đề 3 là hoàn toàn đúng. Hơn nữa, phần 3 sẽ trả lời câu hỏi: Vật liệu cháy đã được sử dụng trong hố kỹ thuật là thứ vật liệu gì?

  1. Vết tích vụ cháy dưới đáy hố kỹ thuật

Để chứng minh Mệnh đề 3, tôi đã dựa vào Ảnh 2.1 và Ảnh 2.2 để chỉ ra các hiện tượng sau:

– Chiều cao của vùng vách hố bị ám khói đen rất khác nhau, trong đó chiều cao của vùng bị ám khói đen trên vách hố phía bên trái bức ảnh lớn hẳn so với ba phía còn lại.

– Trên vách hố phía bên trái bức ảnh có mấy vết rạn tường mới tinh, trong khi trên vách hố các phía khác không có vết rạn nào, chứng tỏ nhiệt lượng sinh ra ở phía trái cao hơn hẳn.

– Ở một số vị trí, chiều cao của vùng vách hố bị ám khói đen tương đối nhỏ, và vùng vách hố bị ám khói đen dừng lại khá đột ngột, chứ không nhạt dần đều khi lên cao.

Các hiện tượng đó không thể xảy ra, nếu thứ nhiên liệu đã thiêu cháy ba sĩ quan công an ở dạng lỏng. Bởi nếu đổ vào hố kỹ thuật một lượng lớn nhiên liệu lỏng, thì chất lỏng phải phủ đều toàn bộ đáy hố kỹ thuật. Vì vậy, mức độ cháy phải đồng đều trên toàn bộ đáy hố, khiến nhiệt phân bố đều bốn phía, và chiều cao của vùng bị ám khói đen trên vách hố phải tương đối bằng nhau. Hơn nữa, với lượng nhiên liệu lỏng lớn, lại cháy trong một hố kỹ thuật vừa sâu (415 cm) vừa hẹp (77 cm x 138 cm), và với mấy tử thi bị thiêu cháy đến mức ấy, thì chiều cao của vùng vách hố bị ám khói đen phải khá lớn, và màu đen phải nhạt dần đều khi lên cao.
Ảnh 2.1: Dấu vết vụ cháy trong hố kỹ thuật
Ảnh 2.2: Vết rạn trên vách trái của hố kỹ thuật

Ảnh 2.1 và Ảnh 2.2 được chụp từ miệng hố kỹ thuật. Đề phòng đụng chạm với công an, tôi đã không mang theo máy ảnh nhà nghề, mà dùng iPhone để chụp. Dó đó, chất lượng ảnh chỉ được như vậy. Có ý kiến cho rằng chưa đủ thuyết phục, nên trong bài viết này tôi công bố thêm mấy bức ảnh. Cũng chụp bằng điện thoại, nhưng chụp từ đáy hố kỹ thuật. Vâng, tôi đã loay hoay ở đáy hố kỹ thuật khoảng 65 phút, để quan sát, chụp ảnh và quay phim. Khi rời khỏi Đồng Tâm, bỗng thấy đau đầu và rất mệt. Chẳng hiểu do quá tập trung khi làm việc ở dưới hố, hay đã hít phải khí độc nào đó còn đọng lại trong hố thiêu người? Anh bạn chở tôi ái ngại, mấy lần giục ngả ghế ra mà nghỉ. Và tôi đã thiếp đi một lúc trên đường về. Lúc tỉnh dậy thấy khỏe ra. Chứng tỏ, không phải vì khí độc.

Khi đã đứng trên đáy hố kỹ thuật để quan sát, thì kết luận của Mệnh đề 3 trở nên hết sức rõ ràng, chẳng còn gì để lăn tăn. Hơn nữa, còn thu được mấy nhận thức mới về vụ thiêu người.

Ảnh 2.3 thể hiện một hình ảnh đặc trưng, chụp phần dưới cùng của góc tiếp giáp giữa vách trước và vách phải, từ đáy hố lên đến độ cao trên 120 cm (xem quy ước về tên gọi vách trước, vách sau, vách phải và vách trái trong Ảnh 2.1). Giả sử, nếu thứ vật liệu đã thiêu cháy ba sĩ quan công an trong hố kỹ thuật là chất lỏng (ví dụ như xăng), thì do chất lỏng phủ đều đáy hố, toàn bộ phần vách hố trong Ảnh 2.3 đều phải bị ám khói đen, giống như khu vực nằm ở phía bên phải và chiếm khoảng 1/3 bức ảnh. Trái lại, phần sát góc của vách trước chỉ có mấy vệt đen, còn vách phải thì chỉ bị ám khói đen khá ít. Vì vậy, có thể khẳng định chắc chắn:

(2.1) Thứ vật liệu đã được dùng để thiêu cháy trong hố kỹ thuật không phải là chất lỏng.
Ảnh 2.3: Phần dưới cùng của góc tiếp giáp giữa vách trước và vách phải

Đặc biệt, quầng đen trên vách phải khác biệt hẳn so với vùng lân cận. Nó nằm cách đáy hố trên 30 cm. Chứng tỏ, vật liệu cháy không được chứa một cách đơn giản trong hộp cát tông, hoặc bao bì bằng vải, hay ni lông, hay chất liệu thích hợp nào đó. Bởi nếu như vậy, thì do khối vật liệu cháy nằm ngay trên đáy hố, khu vực bị ám khói phải bắt đầu ngay từ đáy hố, chứ không thể tách khỏi đáy hố hơn 30 cm. Từ đó suy ra:

(2.2) Vật liệu cháy được đựng trong các ống hở đầu (giống như pháo hoa), tạo ra phóng hỏa có định hướng.

Và quầng đen trên vách phải là kết quả phóng hỏa do một vài ống đựng vật liệu cháy nằm cách xa vách gây ra.

Ảnh 2.4 cũng thể hiện một hình ảnh đặc trưng khác, chụp một phần của góc tiếp giáp giữa vách trước và vách trái, đoạn cách đáy hố từ khoảng 60 cm lên đến khoảng 125 cm. Trong khi vách trái bị tổn thương đáng kể và bị ám khói đen khắp nơi, thì vách trước không bị tổn thương, có hai vùng hầu như không bị ám khói đen, và phần chính bị ám khói cũng tách khỏi đáy với một khoảng cách khá lớn. Điều đó cũng chứng tỏ kết luận (2.1) và (2.2) là đúng.

Tại góc tiếp giáp, ở độ cao cách đáy khoảng 110 cm (nơi phân cách hai vùng hầu như không bị ám khói đen), có một vật giống như búi giẻ bị cháy, gắn chặt vào góc vách. Nhưng khi dùng đũa gắp thử, thì như chạm phải một khối nhựa rắn. Muốn dùng kìm bẻ ra một miếng nhỏ cũng khó.

Có một hiện tượng đáng lưu ý trong Ảnh 2.3 và Ảnh 2.4, đó là mức độ tương phản đen-trắng giữa vùng bị ám khói và vùng không bị ám khói rất lớn. Hiện tượng đó không chỉ phủ định khả năng sử dụng nhiên liệu lỏng, mà còn cho thấy:

(2.3) Vật liệu cháy đã được sử dụng sinh ra nhiệt lượng rất lớn, nhưng tương đối ít khói.

Do đó, chỉ những vùng vách bị va chạm trực tiếp với vật liệu cháy bỏng thì mới trở nên đen kịt, còn những vùng vách khác thì ít bị hoặc hầu như không bị ám khói.
Ảnh 2.4: Phần gần đáy của góc tiếp giáp giữa vách trước và vách trái

Vì không muốn bạn đọc quá mệt mỏi với những tình tiết nặng tính kỹ thuật, tôi sẽ không cung cấp thêm nhiều bức ảnh tư liệu về vết tích vụ cháy trong hố kỹ thuật, mà kết thúc phần 2 bằng Ảnh 2.5. Nó được ghép từ bốn bức hình, để tạo ra bức tranh toàn cảnh của vách trái. Trong bốn bức vách của hố kỹ thuật, vách trái bị ám khói đen nhiều nhất, suốt từ đáy hố lên đến độ cao khoảng 250 cm. Hiện tượng bị sần sùi, rạn lở và bị vật lạ dính vào chỉ tồn tại trên vách trái này. Chứng tỏ:

(2.4) Khối lượng vật liệu cháy đã được sử dụng là khá lớn, và hầu hết các ống chứa vật liệu cháy đều hướng vào vách trái.

Ảnh 2.5: Vách trái của hố kỹ thuật

Tóm lại, nhờ phân tích các bức ảnh được chụp từ đáy hố hộp kỹ thuật, ta đã khẳng định một lần nữa Mệnh đề 3 thông qua kết luận:

(2.1) Thứ vật liệu đã được dùng để thiêu cháy trong hố kỹ thuật không phải là chất lỏng.

Ngoài ra, còn thu được ba nhận thức mới, đó là:

(2.2) Vật liệu cháy được đựng trong các ống hở đầu (giống như pháo hoa), tạo ra phóng hỏa có định hướng.

(2.3) Vật liệu cháy đã được sử dụng sinh ra nhiệt lượng rất lớn, nhưng tương đối ít khói.

(2.4) Khối lượng vật liệu cháy đã được sử dụng là khá lớn, và hầu hết các ống chứa vật liệu cháy đều hướng vào vách trái.

  1. Chứng cứ do VTV cung cấp

Mặc dù phần 2 đã giúp thu hẹp đáng kể phạm vi phỏng đoán vật liệu cháy được sử dụng, song ta vẫn muốn biết cụ thể: Thứ vật liệu ấy là gì? Để có được câu trả lời, bình thường phải đợi kết quả xét nghiệm. Song trong trường hợp này, chính đoạn video mà VTV đã phát, có lẽ do công an cung cấp, để tố cáo người dân Đồng Tâm, lại cung cấp miễn phí những bằng chứng để bảo vệ người dân Đồng Tâm.

Ta hãy cùng nhau khảo sát 32 giây đầu (từ thời điểm 0:00 đến thời điểm 0:32) của đoạn video chiếu trên VTV24 về việc “bắt giữ các đối tượng gây rối ở xã Đồng Tâm”, được lưu trữ tại địa chỉ https://www.youtube.com/watch?v=FrfuIDJLI-g. Đoạn 32 giây này tương ứng với khoảng thời gian từ 36:27 đến 36:59 trong đoạn video của chương trình Thời sự 19h, phát trên VTV1 vào đêm 9/1/2020, và được lưu trữ tại địa chỉ https://vtv.vn/video/thoi-su-19h-vtv1-09-01-2020-415508.htm.

Về mặt âm thanh, đầu tiên ta nghe thấy một giọng đàn ông gào lên: “Yêu cầu các đối tượng đầu hàng, đừng để hành vi đi vượt giới hạn.” Tiếp đó, một nữ phát thanh viên dõng dạc: “Mặc dù đã dùng loa kêu gọi, không được hành động vượt quá giới hạn, nhưng các đối tượng chống đối vẫn rất manh động. Chúng đã ném bom xăng, sử dụng lựu đạn, dao phóng tấn công lực lượng chức năng.”

Ơ hay, nếu quả thật “mặc dù đã dùng loa kêu gọi, không được hành động vượt quá giới hạn, nhưng các đối tượng chống đối vẫn rất manh động”, thì phải kêu gọi tiếp, chứ tại sao lại gào lên đúng một lần, rồi đột nhiên dừng hẳn, như thể lịch sự nhường lời cho nữ phát thanh viên? Hơn nữa, giọng đàn ông át cả tiếng súng nổ đì đoàng phía xa xa, chẳng ăn nhập với cảnh đụng độ đang diễn ra, khiến người nghe cảm thấy tiếng gào đã được bổ sung thêm trong phòng thu, chứ không phải được hét vào loa khi đang diễn ra chiến sự. Âu cũng là một cách diễn, nhằm nhấn mạnh sự manh động của đối tượng chống đối, và tô vẽ thêm sự kiềm chế nhẫn nại của lực lượng tấn công.

Về mặt hình ảnh, trong số 32 giây video mà VTV dùng để mô tả trận tấn công vào Đồng Tâm 9/1/2020, thì 9 giây được dành cho cổng làng, tất cả 23 giây còn lại đều được dành để đặc tả tâm điểm của trận tấn công. Đó là khu vực có bốn ngôi nhà của cụ Lê Đình Kình, ông Lê Đình Công, ông Lê Đình Chức và ông Lê Đình Hợi (xem Ảnh 3.1).

Phía trước bốn ngôi nhà có một con đường dọc, vừa to vừa thẳng, hướng đúng vào khu vực này. Cho nên, nếu muốn thì có thể đứng trên con đường ấy mà quay video từ xa, vừa an toàn, lại vừa quay được rõ ràng và trọn vẹn toàn bộ khung cảnh của khu tâm điểm. Thế nhưng, họ đã chọn vị trí đứng quay video trên con đường ngang. Từ góc nhìn ấy, ngôi nhà hai tầng của ông Công che hết ngôi nhà cụ Kình (nơi diễn ra cuộc tấn công và giết người phi pháp), và che cả khu vực miệng hố kỹ thuật (nơi thiêu cháy ba sĩ quan công an). Rõ là tinh vi, phải không?

Ảnh 3.1: Khung cảnh tâm điểm của trận tấn công vào Đồng Tâm 9/1/2020

Đặc biệt, suốt 32 giây ghi hình chiến sự, ống kính chỉ hướng chếch lên cao, chẳng lúc nào hướng vào đường thôn, hay mặt đất. Thử hỏi, có bao giờ quay phim chiến sự diễn ra trên mặt đất, mà lại tránh ghi hình mặt đất hay không? Phải chăng họ có quay cả đường thôn, nhưng rồi đành phải cắt bỏ, vì khi xem lại thì chỉ thấy toàn cảnh sát lúc nhúc trên đường thôn, mà chẳng hề xuất hiện bóng ma nào của đối tượng chống đối?

Mặc dù đã được chuẩn bị công phu và quay phim trong thế hoàn toàn chủ động, theo đúng kế hoạch đã được đề ra từ trước, nhưng đoạn video được VTV trình chiếu không hề trưng ra bất cứ hình ảnh nào về việc các đối tượng chống đối “ném bom xăng, sử dụng lựu đạn, dao phóng tấn công lực lượng chức năng”. Vâng, chẳng hề thấy hình ảnh nào của đối tượng chống đối, mà chỉ thấy đầu của mấy cảnh sát, tha thẩn đứng ngay trước ống kính, thản nhiên như mấy kẻ tò mò ngoài cuộc. Thậm chí, hình ảnh một chai bom xăng đang bốc cháy cũng không có nốt.

Giả sử, nếu người dân Đồng Tâm đã ném bom xăng khi bị tấn công, thì tất nhiên chai chứa xăng đã cháy (còn lành hay đã vỡ) vẫn nằm ngổn ngang trên đường Đồng Tâm lúc trời sáng hẳn. Khi đó, đối tượng chống đối đã bị bắt hết và công an đã chiếm hết thôn Hoành. Vậy tại sao không quay phim, chụp ảnh vết tích bom xăng đã được sử dụng?

Từ đó ta thấy:

(3.1) Trên thực tế, khi diễn ra cuộc tấn công vào Đồng Tâm 9/1/2020, chẳng hề có chuyện đối tượng chống đối “ném bom xăng, sử dụng lựu đạn, dao phóng tấn công lực lượng chức năng”.

Vì vậy, Bộ Công an – thông qua VTV – đành tạo ra cái cáo buộc hoàn toàn vô căn cứ. Đó là cách sáng tác nhất quán từ đầu đến cuối của Bộ Công an đối với cuộc tấn công vào Đồng Tâm.

Nhận xét này có thể khiến một số người xem video phản đối, sau khi đã nghe nhiều tiếng nổ, đã thấy nhiều tia chớp và đám lửa. Đúng là có nhiều tiếng nổ, nhiều tia chớp và đám lửa, nhưng vấn đề là từ đâu mà ra?

Để có được câu trả lời, tôi đã phải xem đi xem lại đoạn video, kiên trì lặp đi lặp lại cực nhiều lần vòng thao tác: bắt đầu – dừng lại – tách ảnh màn hình – lưu trữ. Đặc biệt, phải nhấp chuột cực nhanh, thì mới thu được những khoảnh khắc quan trọng chỉ diễn ra trong chớp nhoáng. Nhờ thế, đã chớp được hơn 150 khoảnh khắc mang tính đặc trưng. Để rồi, khi từ từ cho chúng hiển thị liên tiếp, thì như có được một đoạn phim cực chậm, trong đó quá trình diễn ra của từng đợt cháy nổ và đường bay của từng đốm cháy hiện ra rõ mồn một. Qua đó có thể khẳng định:

(3.2) Nhiều đợt cháy nổ hiện ra trong đoạn video xuất phát từ hố kỹ thuật nằm giữa nhà ông Chức và nhà ông Hợi.

Trong 23 giây video quay tâm điểm chiến sự, có ít nhất 9 lần vật liệu cháy bay ra từ phía hố kỹ thuật và phát nổ trên đường thôn. Hẳn có người thắc mắc: Làm gì có chuyện vật liệu cháy từ đáy hỗ kỹ thuật (sâu khoảng 4 mét) bay lên gần với phương thẳng đứng, rồi đột nhiên đổi chiều và bay cắm xuống đường thôn? Bình thường thì điều đó khó xẩy ra, nhưng trong trường hợp này thì hoàn toàn có thể.

Hãy xem lại Ảnh 3.1 (phần phóng to ở góc trên bên trái), để thấy mái bằng bê tông của nhà ông Hợi chìa ra khỏi tường một đoạn khá lớn. Và hãy xem lại đoạn video, để thấy rằng, nhiều khối vật liệu cháy nổ dường như xuất phát từ phần mái bằng chìa ra ấy. Đơn giản là, khi vật liệu cháy bay lên từ đáy hố kỹ thuật thì vấp phải mái bằng của nhà ông Hợi, nên đổi chiều chuyển động và bay xuống đường thôn. Điều đó lý giải, tại sao trong đoạn video có nhiều lượt cháy nổ xuất hiện trên đoạn đường trước nhà cụ Kình và nhà ông Chức.

Vâng, đúng là có nhiều tiếng nổ, nhiều tia chớp và đám lửa xuất hiện trong đoạn video do VTV công bố. Nhưng không phải do người dân Đồng Tâm, mà do vật liệu cháy nổ từ dưới hố kỹ thuật bay lên gây ra.

Để bạn đọc có thể hình dung rõ hơn, tôi đã chọn ra 32 khoảnh khắc và ghép lại trong bốn bức ảnh, từ Ảnh 3.2 đến Ảnh 3.5.

Xem Ảnh 3.2, ta thấy trong hình 1 có một vụ cháy xuất hiện phía sau chậu cây cảnh đặt trên ban công nhà ông Công (so sánh với Ảnh 3.1 để thấy hình ảnh của chậu cây cảnh được chụp vào ban ngày). Đó là khi quầng lửa mới vượt ra khỏi miệng hố kỹ thuật. Rồi bùng cháy to hơn trong hình 2. Hình 3 thể hiện rõ ràng hiện tượng đổi chiều chuyển động của vật liệu cháy, do vấp phải phần mái bằng chìa ra. Hình 4 ghi lại chuyển động tiếp theo của vật liệu cháy. Hình 5 ghi lại khoảnh khắc bùng nổ lớn nhất. Sau đó khu vực cháy nổ co dần trong ba hình còn lại, để lộ ra hình ảnh của nhiều cục vật liệu cháy khác đang bay tiếp. Quá trình ấy diễn ra từ giây 0:18 đến giây 0:19.

Ảnh 3.2: Tám khoảnh khắc diễn ra từ giây 0:18 đến giây 0:19

Xem Ảnh 3.3, ta thấy trong hình 1 giai đoạn vật liệu cháy đã đổi chiều. Các cục vật liệu cháy bay trong hình 2, 3 và 4, rồi bùng nổ trong bốn hình còn lại. Quá trình ấy diễn ra từ giây 0:19 đến giây 0:20.

Ảnh 3.3: Tám khoảnh khắc diễn ra từ giây 0:19 đến giây 0:20

Xem Ảnh 3.4, ta lại thấy trong hình 1 một vụ cháy xuất hiện phía sau chậu cây cảnh đặt trên ban công nhà ông Công. Hình 2 thể hiện giai đoạn vật liệu cháy nổ vừa mới đổi chiều. Sáu khoảnh khắc tiếp theo của vụ nổ được thể hiện trong sáu hình còn lại. Quá trình ấy diễn ra trong giây 0:21.

Ảnh 3.4: Tám khoảnh khắc diễn ra trong giây 0:21

Ảnh 3.5 cho ta một khung cảnh đặc biệt. Đó chính là cận cảnh của bức tường nhà ông Hợi, nơi tiếp giáp với sân thượng nhà ông Chức và nằm sát miệng hố kỹ thuật. Hình 1 chụp khoảnh khắc lửa trùm hết mặt tường đầu hồi của nhà ông Hợi. Sau đó quầng lửa thu hẹp lại và tan dần trong năm hình tiếp theo, để lộ ra đường ống thoát nước từ mái, mà ta có thể nhìn thấy rõ hơn trong Ảnh 3.1. Đợt cháy trước vừa kết thúc trong hình 7, thì một đợt cháy mới lại bùng lên từ hố kỹ thuật trong hình 8. Quá trình ấy diễn ra từ giây 0:29 đến giây 0:30.

Ảnh 3.5: Tám khoảnh khắc diễn ra từ giây 0:29 đến giây 0:30

Hai giây sau, VTV ngừng chiếu cảnh chiến sự Đồng Tâm, để trưng ra lời khai của Nguyễn Văn Tuyển, rằng “cụ Kình chỉ đạo cứ cho 3 thằng chết là phải chạy hết…”. Vì vậy, khán giả VTV không còn cơ hội chứng kiến diễn biến tiếp theo của vụ thiêu xác trong hố kỹ thuật.

Tuy nhiên, xem đến đó cũng đã đủ để tin rằng:

(3.3) Có một vụ thiêu đã diễn ra trong hố kỹ thuật.

Hơn nữa, hiện tượng cháy kèm theo tiếng nổ cho thấy:

(3.4) Vật liệu cháy được sử dụng trong hố kỹ thuật thuộc dạng pháo hoa.

Ta viết “thuộc dạng pháo hoa”, bởi có lẽ không phải là nguyên ống pháo hoa thông thường, mà có thể được chế ra từ đó. Chẳng hạn, có thể lấy ống pháo hoa thông thường, rồi bỏ bớt bộ phận có chức năng đẩy pháo bay xa và gây ra vụ nổ lớn. Thậm chí, có thể cắt bớt ống pháo hoa cho đủ ngắn, vừa dễ vận chuyển, vừa đỡ bị lộ. Chính vì vậy, mặc dù phần lớn vật liệu cháy bắn vào vách trái của hố kỹ thuật, gây ra một số tổn thương trên vách đó, nhưng không xuất hiện những vùng lõm do nổ lớn tạo ra. Và những khối vật liệu cháy vượt ra khỏi hố kỹ thuật cũng không bay xa, như khoảng cách bay thường thấy của pháo hoa.

Mặc dù hầu hết vật liệu được ném xuống đã cháy hết ngay trong hố kỹ thuật, nhưng số vật liệu bay ra khỏi hố kỹ thuật (ngoài ý muốn) cũng khá lớn. Kết hợp với vết tích lưu lại trên vách trái của hố trong Ảnh 2.5, có thể suy ra:

(3.5) Khối lượng vật liệu cháy đã được ném xuống hố kỹ thuật lớn đến mức không thể là trang bị thông thường, mà việc thu xếp để có được chúng phải là một đặc vụ riêng biệt.

Ai có thể có và làm thế nào để có được một khối lượng vật liệu cháy dạng pháo hoa như vậy? Cần khẳng định ngay:

(3.6) Số vật liệu cháy đã được ném xuống hố kỹ thuật KHÔNG thuộc về người dân Đồng Tâm.

(Trong một thể chế tử tế, thì khẳng định này là thừa. Song, sau khi đã chứng kiến cơ quan công an chữa kịch bản Đồng Tâm bằng ấy lần, thì không ai có thể đảm bảo, họ sẽ không bịa thêm một kịch bản mới, nhằm cáo buộc người dân Đồng Tâm đã sử dụng pháo hoa để thiêu ba sĩ quan công an.)

Tại sao có thể khẳng định kết luận (3.6)? Bởi vì một mặt, nếu số vật liệu cháy đã được ném xuống hố kỹ thuật thuộc về người dân Đồng Tâm, thì “Cơ quan điều tra Việt Nam thuộc hàng giỏi nhất thế giới” đã phát hiện ra, và vì thế đã không cáo buộc là người dân Đồng Tâm đổ xăng để thiêu chết ba sĩ quan công an. Mặt khác, với quy định ngặt nghèo về quản lý và sử dụng pháo trong Nghị định số 36/2009/NĐ-CP, và trong hoàn cảnh Nhà máy Z121 của Bộ Quốc phòng là nơi duy nhất của Việt Nam được quyền sản xuất pháo hoa, thì dù ba hoa đến mấy, người dân Đồng Tâm cũng không thể kiếm được bằng ấy pháo hoa.

Ngược lại, nếu muốn thì Bộ Công an có thể có pháo hoa bằng những cách khác nhau. Ví dụ, cách chính quy là nhân danh xử lý đối tượng chống đối trong quá trình xây dựng tường rào bảo vệ Sân bay Miếu Môn và dành đất cho Viettel (cả hai đều của Bộ Quốc phòng), Bộ Công an có thể đề nghị Bộ Quốc phòng cung cấp pháo hoa do Nhà máy Z121 sản xuất. Cách linh hoạt là nhập pháo hoa từ nước ngoài. (Sau khi đã bắt cóc Trịnh Xuân Thanh ngay giữa thủ đô Berlin của Cộng hòa Liên bang Đức, rồi đưa về Hà Nội một cách ngoạn mục, để Thanh nộp “Đơn xin đầu thú”, thì việc mua pháo hoa từ nước ngoài chỉ là chuyện vặt.) Cách đơn giản và ít để lại dấu vết, là bớt từ số pháo hoa được cung cấp cho các điểm bắn pháo hoa trên toàn quốc. Vì thời điểm tấn công vào Đồng Tâm gần Tết, nên có lẽ khi ấy một lượng pháo hoa khổng lồ đã được Nhà máy Z121 xuất kho và chuyển đi khắp nơi, để bắn vào lúc giao thừa. Do đó, chỉ cần kín đáo bớt xén mỗi nơi một ít, thì gom lại đã có đủ vật liệu cháy để tiến hành công vụ Đồng Tâm. (Thời điểm tấn công Đồng Tâm sát Tết âm lịch còn đem lại lợi thế như vậy.) Hoặc có thể bớt từ số pháo hoa đã được bắn tại một số điểm vào dịp Tết dương lịch 2020.

Kết thúc phần phân tích chứng cứ do VTV cung cấp, cần khẳng định thêm:

(3.7) Để có thể ném xác của ba sĩ quan công an xuống hố kỹ thuật và phóng hỏa thiêu cháy một cách an toàn và kín đáo, hung thủ chỉ có thể đứng trong nhà ông Hợi và nấp sau cái cửa sổ hướng ra hố kỹ thuật.

Thật vậy, nếu không đứng ở trong nhà ông Hợi, thì hung thủ chỉ còn cách đứng trên sân thượng của nhà ông Chức để hành sự. Khi đó, những đám lửa bùng cháy trùm cả khu vực (như đã thấy trong bốn ảnh, từ Ảnh 3.2 đến Ảnh 3.5) sẽ thiêu cháy cả hung thủ. Hơn nữa, nếu hình ảnh hung thủ không lọt vào ống kính chỉ cách đó có mấy chục mét, thì nhiều người trong đội quân tấn công cũng nhìn thấy quá trình hung thủ sát hại ba sĩ quan công an.

Tóm lại, đoạn video mà VTV đã phát để tố cáo người dân Đồng Tâm lại cung cấp miễn phí những bằng chứng để bảo vệ người dân Đồng Tâm. Qua đó, có thể rút ra bảy kết luận sau :

(3.1) Trên thực tế, khi diễn ra cuộc tấn công vào Đồng Tâm ngày 9/1/2020, chẳng hề có chuyện đối tượng chống đối “ném bom xăng, sử dụng lựu đạn, dao phóng tấn công lực lượng chức năng”.

(3.2) Nhiều đợt cháy nổ hiện ra trong đoạn video xuất phát từ hố kỹ thuật nằm giữa nhà ông Chức và nhà ông Hợi.

(3.3) Có một vụ thiêu đã diễn ra trong hố kỹ thuật.

(3.4) Vật liệu cháy được sử dụng trong hố kỹ thuật thuộc dạng pháo hoa.

(3.5) Khối lượng vật liệu cháy đã được ném xuống hố kỹ thuật lớn đến mức không thể là trang bị thông thường, mà việc thu xếp để có được chúng phải là một đặc vụ riêng biệt.

(3.6) Số vật liệu cháy đã được ném xuống hố kỹ thuật KHÔNG thuộc về người dân Đồng Tâm.

(3.7) Để có thể ném xác của ba sĩ quan công an xuống hố kỹ thuật và phóng hỏa thiêu cháy một cách an toàn và kín đáo, hung thủ chỉ có thể đứng trong nhà ông Hợi và nấp sau cái cửa sổ hướng ra hố kỹ thuật.

Lưu ý rằng, kết luận (3.4) hoàn toàn phù hợp với bốn kết luận từ (2.1) đến (2.4), đã được trình bày trong phần 2.

  1. Mấy điều cần trao đổi

4.1.

Khi Mỹ đưa quân vào miền Nam, nhân danh bảo vệ thế giới tự do trước họa cộng sản, thì những người cộng sản Việt Nam coi đó là đội quân xâm lược, mà mình có quyền đánh đuổi để bảo vệ quê hương. Trong cuộc chiến ấy, những người cộng sản sử dụng bạo lực vũ trang, và vận động quần chúng nhân dân cùng sử dụng bạo lực, để giết quân địch, giết càng nhiều thì càng được vinh danh. Những người cộng sản không băn khoăn khi giết cả những người bất đắc dĩ phải có mặt trong quân đội đối phương. Thậm chí, Biệt động Sài Gòn đã đánh bom vào cả khách sạn và rạp hát, nơi đương nhiên có cả những người dân làm công ăn lương và những khán giả thường dân.

Đối với người dân Đồng Tâm, cái đội quân đang đêm vô cớ tấn công vào ngôi làng của họ cũng giống như bọn cướp có vũ trang. Trong chế độ có quá nhiều công vụ vô cùng tệ hại, thì cái gọi là thi hành công vụ không đủ để ngụy trang, biện hộ cho hành vi phi pháp của đám người mặc quân phục công an. Cho nên, nếu phải chống lại những kẻ thi hành thứ công vụ kẻ cướp giết người, thì người dân Đồng Tâm có thể quan niệm đó là quyền tự vệ chính đáng. Vì vậy, không quá khó hiểu nếu họ đã từng thề hy sinh chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ thôn làng. Giả sử, nếu người dân Đồng Tâm đã dùng quyền tự vệ, khiến ai đó trong lực lượng tấn công vào Đồng Tâm 9/1/2020 bị chết, thì cũng tương tự như trường hợp những người ăn lương cầm súng trong quân đội Việt Nam Cộng hòa đã bị chết bởi đạn cộng sản trong cuộc chiến trước 1975 mà thôi. Hiển nhiên, chết khi mang quân phục công an không oan ức bằng những thường dân đã bị chết bởi Biệt động Sài Gòn đánh bom vào khách sạn và rạp hát.

Tuy nhiên, trên thực tế, người dân Đồng Tâm chưa sử dụng quyền tự vệ. Họ không hề chống lại lực lượng tấn công vào Đồng Tâm ngày 9/1/2020. Đơn giản vì họ không hề chuẩn bị để đối đầu với một cuộc tấn công mà hỏa lực mạnh và dã man như vậy. Không hề có trong tay một khẩu súng bắn đạn nào, thì làm sao họ dám chống lại và có thể chống lại mấy ngàn quân được trang bị vũ khí tối tân và xả súng không hề tiếc đạn?

Bộ Công an tuyên bố rằng “một số đối tượng có hành vi chống đối, sử dụng lựu đạn, bom xăng, dao phóng… tấn công lực lượng chức năng, chống người thi hành công vụ”. Nhưng đó chỉ là cáo buộc đơn phương, mà độ tin cậy cũng chẳng khá hơn những luận điệu bịa đặt, vu cáo khác, do Bộ Công an liên tục tung ra trong vụ Đồng Tâm.

Mặc dù đã lên kế hoạch từ trước và đã chuẩn bị kỹ lưỡng, huy động cả đội quay phim chiến sự, nhưng phía công an đã không trưng ra được bất cứ hình ảnh nào về việc “một số đối tượng có hành vi chống đối…”. Thành thử, sau khi kết thúc cuộc tấn công, đã chiếm lĩnh hiện trường và lục lọi khắp thôn xóm, họ cũng chỉ có thể trưng ra tang vật thu được là “8 quả lựu đạn, 38 chai bom xăng, 20 lít xăng, 12 tuýt sắt đầu gắn dao nhọn, 3 hộp pháo sáng, 1 khẩu súng bắn điện, 1 thanh kiếm, 1 búa”. Cái gọi là bom xăng chỉ là mấy chai bia Hà Nội được bịt kỹ bằng ni lông. Không có nút dẻ để mồi xăng, thì làm sao có thể khẳng định đó là bom xăng, chứ không phải là chai xăng, hay chai dầu dự trữ thường thấy ở nông thôn? Trưng ra cả cái búa và con dao bầu làm bếp, mà nhà nông nào cũng có, thì sao có thể coi chúng là tang vật?

Điểm thêm mấy nét như vậy để thấy rõ hơn, Bộ công an chẳng có bằng chứng trung thực nào chứng thực cho các cáo buộc của họ, để buộc tội cụ Lê Đình Kình và người dân Đồng Tâm, nhằm biện hộ cho cuộc tấn công vào Đồng Tâm và giết người hoàn toàn phi pháp.

4.2.
Thay vì phê phán hành động tấn công phi pháp vào Đồng Tâm và giết hại cụ Lê Đình Kình, nhiều người lại đứng về phía chính quyền, lên án cụ Kình và người dân Đồng Tâm. Dư luận đảo chiều như vậy do cái chết bi thảm của ba sĩ quan công an, mà Bộ Công an tuyên bố là họ bị ngã xuống hố kỹ thuật, rồi bị người dân Đồng Tâm đổ xăng thiêu cháy.

Thế nhưng, sau khi đã bổ sung thêm chứng cứ và lập luận ở phần 2 và phần 3, thì càng khó bác bỏ kết luận đã được rút ra trong bài “Tội ác Đồng Tâm”, đó là: Người dân Đồng Tâm không hề đổ xăng xuống hố kỹ thuật để thiêu cháy ba sĩ quan công an. Hơn nữa, nếu thừa nhận Tiên đề 1 (tức là cả ba sĩ quan công an đều bị chết cháy trong hố kỹ thuật nằm giữa nhà ông Lê Đình Chức và nhà ông Lê Đình Hợi) và Tiên đề 2 (tức là xác người chết cháy và hai đám tro trong hai bức ảnh đã đăng là phần còn lại của ba sĩ quan công an sau khi bị thiêu cháy trong hố kỹ thuật), thì có thể suy ra: Ba sĩ quan công an không tự ngã xuống hố kỹ thuật. Họ đã bị ném xuống hố và bị thiêu cháy, nhưng không phải bởi người dân Đồng Tâm.

Qua bảy kết luận từ (3.1) đến (3.7) trong phần 3, thì chân tướng của vụ thiêu cháy ba sĩ quan công an đã trở nên quá rõ.

Có ý kiến cho rằng, không thể có chuyện công an cố tình giết đồng đội, và đưa ra giả thuyết: Có thể do vô tình mà quân ta bắn phải quân mình ở nơi khác, sau đó mới đành phải khiêng đến đấy, rồi ném xác xuống hố kỹ thuật mà thiêu, nhằm phi tang, tiện thể đổ tội cho gia đình cụ Kình. Vậy thử hỏi, khi ống kính quay video đang hướng liên tục vào phía ấy và có rất nhiều cảnh sát cũng đứng gần khu vực ấy, thì có ai lại dại dột khiêng ba cái xác công an vào đấy để thủ tiêu tang chứng hay không?

Chắc nhiều người vẫn tin, hung thủ không thuộc thành phần tham gia tấn công vào Đồng Tâm, hoặc/và việc ba sĩ quan công an bị giết không thể là kết quả của kế hoạch đã được vạch ra từ trước. Để bảo vệ quan điểm này, phải trả lời được bốn câu hỏi sau, thì mới có thể thuyết phục nhiều người khác cùng tin:

(4.1) Nếu không thuộc thành phần tham gia tấn công Đồng Tâm, thì hung thủ có thể tiếp cận ba sĩ quan công an với đầy đủ súng ống, để hạ gục và thiêu cháy họ ngay giữa tâm điểm của cuộc tấn công, khu vực có máy quay video liên tục ghi lại diễn biến chiến sự và có rất nhiều cảnh sát chứng kiến hay không?

(4.2) Nếu không khảo sát kỹ càng từ trước, thì có thể chọn được vị trí đặc biệt phù hợp đến thế, để thiêu cháy ba thi thể bằng vật liệu cháy siêu mạnh hay không?

(4.3) Nếu không chuẩn bị từ trước, thì có bằng ấy vật liệu cháy dạng pháo hoa để thiêu hay không?

(4.4) Nếu không căn cứ vào “quy hoạch cán bộ”, thì có thể đột nhiên “đề bạt” ba sĩ quan công an xa lạ vào một tổ công tác với đội hình quái lạ (như đã phân tích trong phần 2.4 của bài “Tội ác Đồng Tâm”) hay không?

4.3.
Với việc tấn công vào Đồng Tâm và giết hại cụ Lê Đình Kình hoàn toàn phi pháp, phía công an đã tự phủ định tư cách của một cơ quan bảo vệ pháp luật. Vì vậy, họ không còn tư cách để đứng ra điều tra vụ án Đồng Tâm, mà phải là đối tượng bị điều tra. Trước hết là điều tra về tội giết người có tổ chức, theo Điểm o, Khoản 1, Điều 123 của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13.

Đích thân Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang và Chánh Văn phòng kiêm người phát ngôn Bộ Công an Tô Ân Xô đã đứng ra công bố những thông tin hoàn toàn sai trái về vụ Đồng Tâm 9/1/2020. Điều đó chứng tỏ, lãnh đạo Bộ Công an phải chịu trách nhiệm trực tiếp về hành động tấn công và giết người phi pháp ở Đồng Tâm. Vì vậy, việc điều tra vụ án Đồng Tâm phải cho một cơ quan độc lập (không thuộc Bộ Công an) tiến hành.

Trong thời gian chờ đợi, không thể chấp nhận việc công an tiếp tục đứng ra giam giữ và điều tra những người dân Đồng Tâm đã bị bắt. Đặc biệt, phải chấm dứt ngay việc phái công an đến quấy nhiễu, hạch sách và khủng bố tinh thần những người phụ nữ và trẻ con còn lại trong gia đình cụ Lê Đình Kình.

Điều quan trọng là phải sớm thừa nhận tội ác đã phạm. Sớm bao nhiêu thì hậu quả đỡ trầm trọng bấy nhiêu. Như đã viết trong bài “Một số điều cần trao đổi nhân vụ Trịnh Xuân Thanh”: “Nếu thừa nhận đủ sớm, thì còn có cơ hội đổ lỗi cho ‘phường đánh máy’ và dễ khắc phục hậu quả hơn. Ngược lại, im lặng hay cố cãi càng lâu, thì chứng tỏ cấp ra lệnh càng cao.” Tương tự, trong vụ Đồng Tâm cũng vậy: Lặng thinh càng lâu thì chứng tỏ vị trí của thủ phạm đích thực trong bộ máy cầm quyền càng cao. Đừng đợi đến lúc cơn hồng thủy dâng tràn, ngập lút cả thiên đình.

Nếu đến giờ vẫn không nhận ra vấn đề, thì có lẽ chỉ còn cách trách đấng sinh thành, chứ chẳng thể đổ tại hậu quả khắc nghiệt của thời gian.

4.4.

Tôi viết bài “Tội ác Đồng Tâm” và bài này để tìm kiếm và chỉ ra sự thật. Mọi người đều có quyền biết và có trách nhiệm biết sự thật. Biết không chỉ để tôn trọng sự thật, mà còn để tránh vì hiểu sai sự thật, rồi lên án và thóa mạ nạn nhân vô tội.

Khi sự thật của tội ác mang tên Đồng Tâm đã lộ rõ, thì không chỉ những người ghét chế độ có quyền lên án, mà cả những người yêu chế độ cũng có trách nhiệm phải lên án. Lên án để chứng tỏ chế độ này, bộ máy cầm quyền này vẫn còn có những người tử tế, biết tôn trọng công lý. Và cũng để chứng tỏ, trong chính quyền này có rất nhiều người không liên đới tới tội ác Đồng Tâm. Ngược lại, sự câm lặng tương đương với việc tiếp tay cho cái gọi là thế lực thù địch, bằng cách góp phần chứng minh sự tệ hại vô phương cứu chữa của chế độ.

4.5.

Đã lỡ để xảy ra rồi, thì bây giờ nên tận dụng thảm kịch Đồng Tâm như một cơ hội sám hối. Hãy nghiêm túc xem xét lại vai trò và cách hành xử của bộ máy cầm quyền. Đặc biệt, đây là dịp thích hợp để đặt ra và trả lời câu hỏi: Trong chế độ độc đảng độc quyền, thì sinh ra Quốc hội để làm gì?

Để trang trí dân chủ cho chế độ phi dân chủ ư? Nếu vậy, hãy thu hẹp sân khấu, giảm bớt diễn viên, để thực hiện chủ trương tinh giản biên chế, đỡ tốn tiền của nhân dân.

Để làm luật ư? Xin lỗi, khi đa số đại biểu Quốc hội vừa mù mờ về luật, vừa gọi dạ bảo vâng, mà lại tham gia viết luật và biểu quyết thông qua luật, thì chỉ sinh ra loại luật như Hiến… nháp mà vi hiến, khiến người người phải não lòng. Nói cho cùng, cũng chẳng thể đòi hỏi nhiều hơn ở năng lực của những vị đại biểu được bầu ra bởi cái cơ chế tệ ngay từ luật (bầu cử). Thành thử, bao luật vừa mới được ban hành thì đã phải đem ra sửa đổi, rồi sửa hết lần này đến lần khác mà vẫn không ổn. Trong khi đó, lại ù lì suốt nhiều nhiệm kỳ, cố tình phớt lờ, không chịu ban hành những luật thiết yếu để thực thi Hiến pháp, chẳng hạn như Luật Biểu tình.

Vậy nên, các vị mang danh đại biểu của nhân dân nên tập trung thời gian và sức lực cho cái việc đáng làm nhất và phù hợp nhất với năng lực bản thân, đó là làm cầu nối giữa nhân dân với chính quyền (đương nhiên với cả đảng cầm quyền).

Tiếc rằng, từ khi công an tấn công vào Đồng Tâm và giết hại công dân Lê Đình Kình đến nay, Quốc hội vẫn im lặng. Những vị thường ít nói im lặng đã đành, đằng này các vị vốn hay nói cũng im lặng nốt. Không chỉ từng đại biểu Quốc hội im lặng, mà dàn lãnh đạo Quốc hội cũng im.

Các vị có trao đổi, góp ý kín đáo với thế lực phải chịu trách nhiệm về tội ác Đồng Tâm ư? Như vậy đã khá hơn, nhưng vẫn chưa đủ. Không thể chỉ dấm dúi, như bàn bạc việc riêng tư của giới cầm quyền, mà còn phải nói công khai, cho dân nghe dân biết. Bởi trách nhiệm của đại biểu Quốc hội không chỉ là tham gia “giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” (Điều 69, Hiến pháp 2013), mà bản thân mỗi đại biểu còn phải “liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri”, và phải “báo cáo với cử tri về hoạt động của đại biểu và của Quốc hội” (Khoản 2, Điều 79, Hiến pháp 2013).

Vì lẽ đó, những người mang danh đại biểu của nhân dân hãy công khai bày tỏ chính kiến về vụ Đồng Tâm, nhằm “chịu sự giám sát của cử tri” và “báo cáo với cử tri về hoạt động của đại biểu”, theo đúng quy định của Hiến pháp.

Lưu ý thêm rằng, để làm đúng vai trò “là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng … của Nhân dân cả nước” (Khoản 1, Điều 79, Hiến pháp 2013), mọi Đại biểu Quốc hội đều có trách nhiệm quan tâm tới vụ Đồng Tâm, và thể hiện chính kiến của mình về vụ Đồng Tâm trước cử tri cả nước.

Đừng tiếp tục lặng thinh, mà vô tình chứng tỏ, mình chỉ là kịch sĩ vi hiến và vô dụng đối với nhân dân.

Hà Nội, ngày 1 tháng 3 năm 2020

 

Chuyên gia kể chuyện qua hình ảnh · 58 phút

Tội ác Đồng Tâm

GS toán học Hoàng Xuân Phú

***

Sáng sớm ngày 9/1/2020, Bộ Công an công bố “Thông báo về vụ việc gây rối trật tự công cộng và chống người thi hành công vụ tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội”. Trong đó viết:

Từ ngày 31/12/2019, một số đơn vị của Bộ Quốc phòng phối hợp với lực lượng chức năng tiến hành xây dựng tường rào bảo vệ Sân bay Miếu Môn, thành phố Hà Nội theo kế hoạch. Trong quá trình xây dựng, sáng ngày 9/1/2020, một số đối tượng có hành vi chống đối, sử dụng lựu đạn, bom xăng, dao phóng… tấn công lực lượng chức năng, chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng, dẫn đến hậu quả 03 cán bộ chiến sĩ Công an hi sinh, 01 đối tượng chống đối chết, 01 đối tượng bị thương.

Cáo buộc đó hoàn toàn sai sự thật. Bởi cuộc tấn công vào thôn Hoành (thuộc xã Đồng Tâm) diễn ra cách xa Sân bay Miếu Môn mấy cây số, lại bắt đầu vào lúc trời còn tối, khi người người còn đang ngủ, và công việc xây dựng hàng ngày tại Sân bay Miếu Môn còn lâu mới được bắt đầu. Vì thế, không thể có chuyện một số đối tượng tấn công lực lượng chức năng trong quá trình xây dựng tường rào bảo vệ Sân bay Miếu Môn vào sáng ngày 9/1/2020.

Sau màn dối trá dạo đầu ấy, họ tiếp tục tung ra nhiều thông tin sai trái khác, được đài báo đồng thanh truyền tải đến nơi nơi. Tiếc thay, nhiều người đã tin đó là sự thật.

Khi bị dư luận am hiểu vạch trần thì họ sửa kịch bản. Sửa hết lần này sang lần khác. Mà lần nào cũng tránh xa sự thật. Bởi sự thật tồi tệ đến mức không thể thừa nhận, dù chỉ một phần.

Mục đích của bài viết này là tìm kiếm sự thật, nhằm trả lại công bằng cho người đã khuất, đồng thời cảnh tỉnh những người nhẹ dạ cả tin, vì quá tin lời dối trá mà căm thù và xúc phạm những nạn nhân vô tội. Hơn nữa, cũng giúp những người có lương tâm trong bộ máy điều tra và xét xử tránh lầm đường lạc lối.

  1. Cái chết của cụ Lê Đình Kình

“Tối 10/1, Thiếu tướng Tô Ân Xô, Chánh Văn phòng, Người phát ngôn Bộ Công an cho biết, Bộ Công an xác nhận người tử vong trong các đối tượng chống đối người thi hành công vụ tại Đồng Tâm là ông Lê Đình Kình. Theo báo cáo của Công an thành phố Hà Nội, khi khám nghiệm tử thi, trên tay của ông Lê Đình Kình cầm giữ quả lựu đạn.”

Đó là thông tin đã được đăng tải nhiều nơi, chẳng hạn như Vietnamnet, Người lao động, Đất Việt, Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày nay, VTC News…

Thử hỏi, một cụ già đã 84 tuổi, lại từng bị công an đánh gãy xương đùi vào năm 2017, thì lấy đâu ra sức lực để chống đối người thi hành công vụ? Cụ bị què chân, nằm trên giường ngủ, thì cầm lựu đạn để làm chi? Đám vận chuyển tử thi từ nhà cụ Kình đến nơi khám nghiệm tử thi có bị trục trặc thần kinh không, mà để mặc người chết cầm giữ quả lựu đạn trên tay suốt thời gian vận chuyển đường xa? Và nếu đúng như vậy, thì tại sao không trưng ra bức ảnh chụp cụ Kình đã chết mà trên tay vẫn cầm quả lựu đạn? Chẳng có khó khăn gì, khi dúi quả lựu đạn vào tay người đã chết để chụp ảnh. Có lẽ công đoạn ấy đã có trong kịch bản, song diễn viên quên diễn, sau khi mọi việc đã qua đi thì mới chợt nhớ ra. Thành thử, đành ngụy tạo ra bức ảnh với 7 quả lựu đạn, trong đó một quả được kèm theo chú thích: “Trên tay Lê Đình Kình” (xem Ảnh 1).

Ảnh 1: Quả lựu đạn với chú thích “Trên tay Lê Đình Kình”
Đi xa hơn nữa, sáng ngày 14/1/2020, Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang lại tung thêm tình tiết: “Trên tay của Lê Đình Kình vẫn còn một quả lựu đạn, sau khi ném một quả không nổ.” Thử hỏi, đang nằm trên giường trong phòng ngủ kín mít, chật hẹp (kích thước 2,4 m x 3,6 m), thì cụ Kình ném lựu đạn để tự sát hay sao? Nếu định tự sát, thì cụ chỉ cần rút chốt lựu đạn, chứ việc gì phải gắng ném cho phí sức già?

1.1. Hành vi man rợ

Đang đêm, đám thi hành công vụ đã xộc vào nhà cụ Lê Đình Kình và vãi đạn không thương tiếc. Ảnh 2, Ảnh 3, Ảnh 4 và Ảnh 5 là mấy ví dụ về vết tích của cái công vụ ấy.

Ảnh 2: Vết tích thi hành công vụ trên cửa nhà cụ Lê Đình Kình

Ảnh 3: Vết tích thi hành công vụ trong phòng khách của nhà cụ Lê Đình Kình

Ảnh 4: Vết tích thi hành công vụ trong phòng ngủ của cụ Lê Đình Kình

Ảnh 5: Vết tích thi hành công vụ trên ô cửa thoáng ở phòng ngủ của cụ Lê Đình Kình

Ảnh 6 và Ảnh 7 cho thấy, cụ Kình đã bị tra tấn hết sức dã man. Rùng rợn thay, đầu gối của cụ bị bắn vỡ tung, khiến cẳng chân lủng lẳng, chỉ dính với đùi nhờ phần da thịt còn sót lại. Tôi thành tâm khuyên mọi người Việt, đặc biệt là giới cầm quyền, nghiêm túc xem đoạn video quay cảnh người thân lau thi thể của cụ Lê Đình Kình, để hiểu thêm chút ít về giai đoạn lịch sử Dân tộc mà chúng ta đang sống.

Thử hỏi, cụ Kình có khả năng “cầm giữ quả lựu đạn” trên tay trong suốt quá trình bị tra tấn cho đến khi bị giết hay không? Liệu những kẻ tra tấn cụ có để cụ cầm quả lựu đạn khi chúng tra tấn hay không? Rõ ràng, đó là một sự bịa đặt vô cùng trắng trợn, không chỉ vu khống cụ Lê Đình Kình, mà còn hết sức coi thường dư luận.

Chỉ riêng phát ngôn “Trên tay của Lê Đình Kình vẫn còn một quả lựu đạn, sau khi ném một quả không nổ” đã đủ để lột tả mức trung thực và trình độ tư duy của Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang. Và cũng đủ để cảnh tỉnh những ai tin vào các thông tin mà Bộ Công an đưa ra về vụ Đồng Tâm.

Khi đứng ra tuyên bố về vụ Đồng Tâm, để bộ máy tuyên truyền khổng lồ của chế độ phát đi toàn quốc và ra cả Thế giới, chắc hẳn Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang đã ý thức rất rõ, ông không chỉ thay mặt lãnh đạo Bộ Công an, mà còn thay mặt cả lãnh đạo Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam. Chẳng lẽ ông Quang cho rằng, thể diện của họ chỉ xứng đáng với những thông tin bịa đặt tầm ấy thôi sao?

Cuối cùng, cụ Kình đã bị giết bằng mấy phát súng, trong đó có một phát bắn thẳng vào tim (xem Ảnh 8). Rồi Thiếu tướng Tô Ân Xô, Chánh Văn phòng, người phát ngôn Bộ Công an, long trọng tuyên bố: Bộ Công an xác nhận người tử vong trong các đối tượng chống đối người thi hành công vụ tại Đồng Tâm là ông Lê Đình Kình.

Chưa hết, thi thể cụ Kình còn bị đem đi và bị mổ dọc từ cổ xuống đáy bụng (xem Ảnh 8).

Thông thường, khi khám nghiệm tử thi, người ta mổ phanh toàn thân nếu cần xác định nguyên nhân cái chết. Trong trường hợp cụ Kình, thì họ đã biết quá rõ tại sao cụ bị chết. Do đó, chẳng cần phải mổ để xác định nguyên nhân.

Nếu mổ để gắp đầu đạn, nhằm phi tang, thì chỉ cần mổ những vùng bị bắn. Còn nếu mổ để xem cụ Kình có nuốt tài liệu, tang chứng hay không, thì chỉ cần mổ vùng bụng. Mà cũng chẳng cần phải mổ, chỉ cần siêu âm, hay nội soi, thì đã biết rõ là cụ chẳng nuốt gì.

Vậy tại sao lại mổ phanh thây như thế?

Ảnh 8: Vết đạn bắn vào tim và vết mổ phanh trên thi thể cụ Kình
1.2. Can tội… vô tội

Khi thông báo về cái chết của đối tượng Lê Đình Kình, phía công an đã khẳng định:

“Lời khai của một số đối tượng bị bắt xác nhận ông Kình là kẻ cầm đầu, chủ mưu các hoạt động chống đối chính quyền, vi phạm pháp luật trong vụ việc tại Đồng Tâm.”

Sáng 14/1/2020, Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang còn nói với các nhà báo:

“… anh em ngã xuống hố… Lập tức, các đối tượng sử dụng bom xăng, đổ xăng ra can tưới xuống và đốt. Qua quá trình đấu tranh khai thác thì Truyền hình Việt Nam đã vào khai thác và các đối tượng đã khai nhận. Và dưới sự chỉ đạo của Lê Đình Kình. “

Nếu quả thật cụ Kình đã phạm phải những tội như vậy, thì tại sao không truy tố, bắt giam, rồi đem ra xét xử công khai, theo đúng trình tự đã được pháp luật quy định? Công an đã bắt được hết thảy đàn ông trai tráng liên quan đến vụ việc, thì tại sao không bắt nốt ông già què đã 84 tuổi?

Đơn giản là họ không định bắt. Vì nếu bắt thì phải giam giữ và phải đem ra xét xử. Trong nhà giam, cụ sẽ kiên cường đến mức không thể ép cung. Khi xét xử tại tòa án, cụ sẽ vạch trần những điều sai trái của phía chính quyền một cách chi tiết, rành mạch, với những tư liệu và bằng chứng khó lòng bác bỏ. Bắt cụ thì quá dễ, nhưng giam cụ và xử cụ, rồi thả cụ thì rất khó. Thành thử, họ đã quyết định giết cụ Kình ngay trên giường ngủ của cụ.

Nếu quả thật cụ Kình đã phạm phải những tội như công an đã cáo buộc, thì tại sao lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không khai trừ cụ ra khỏi đảng? Theo thông lệ, đảng viên thường bị khai trừ trước khi bị bắt, và muộn nhất là khai trừ trước khi bị tòa án xét xử. Vậy thì tại sao lại không khai trừ đảng viên Lê Đình Kình trước khi giết, để bị mang tiếng đảng giết đảng viên?

Câu trả lời đơn giản là: Công dân Lê Đình Kình (84 tuổi đời) cũng như đảng viên Lê Đình Kình (58 tuổi đảng) không có tội. Vì thế không thể bắt giam để kết án. Vì thế không thể khai trừ khỏi đảng.

Đọc đến đây, hẳn có người sẽ nói: Đối tượng bị bắt đã khai ra vai trò chủ mưu, cầm đầu nhóm đối tượng gây rối của Lê Đình Kình rồi, tại sao còn bảo là hắn vô tội? Nếu vậy, hãy quan sát dấu vết tra tấn còn lưu lại trên khuôn mặt của Lê Đình Công (Ảnh 9), Bùi Thị Nối (Ảnh 10), Lê Đình Quang (Ảnh 11) và Lê Đình Doanh (Ảnh 12), để mường tượng ra mức độ ép cung. Và nếu thấy chưa đủ, hãy nghe thêm lời kể của cụ bà Dư Thị Thành (vợ của cụ Lê Đình Kình):

“Người ta bắt phải khai ở nhà cầm lựu đạn. Tôi bảo tôi không hề biết quả lựu đạn thế nào, tôi cũng không biết bom xăng thế nào, thì tôi không khai được. Thế là nó tát. Tát suốt, cứ bên nọ sang bên kia. Xong nó cứ thế đá vào hai ống chân.”

Dang tay tát tới tấp một bà cụ, chỉ vì cụ không chịu khai nhận cái điều cụ không hề làm, thì thử hỏi, còn thủ đoạn nào mà chúng không dám sử dụng để ép cung?

Để chứng minh rằng “cũng chính nhóm đối tượng này đã không ngần ngại sẽ giết người, đồng thời chuẩn bị kỹ lưỡng các loại vũ khí, hung khí, vật liệu nổ, nhằm thực hiện kế hoạch cản trở các lực lượng chức năng xây dựng tường rào sân bay Miếu Môn”, VTV đã mời khán thính giả “theo dõi sau đây lời lẽ của bọn họ để thấy rõ bản chất cực đoan, bạo lực và hành động chống đối pháp luật đến cùng”:

“Chúng tôi xin thề rằng, nếu chúng tôi không giết được từ 300 đến 500 thằng, thì chúng tôi không phải là người dân Đồng Tâm nữa.”

“Có tới 200 lít xăng, phải có tới là hai chục bình ga mới tinh. Và còn có những loại thuốc nổ, bởi vì chúng tôi ở gần xưởng sản xuất thuốc nổ.”

Trên thực tế, khi bị tấn công vào ngày 9/1/2020, người dân Đồng Tâm đã không giết một ai, chứ đừng nói là “từ 300 đến 500 thằng”. Vả lại, số tang vật mà công an thu được chỉ bao gồm “8 quả lựu đạn, 38 chai bom xăng, 20 lít xăng, 12 tuýt sắt đầu gắn dao nhọn, 3 hộp pháo sáng, 1 khẩu súng bắn điện, 1 thanh kiếm, 1 búa” (xem Ảnh 13 và Ảnh 14). Đặc biệt, không hề có một khẩu súng bắn đạn nào. Qua đó ta thấy, mấy vị nọ cũng chỉ ba hoa, chém gió cho sướng miệng. Âu cũng là một cách dọa dẫm của kẻ yếu thế, theo kiểu “mày mà vào đây thì tao giết”, với hy vọng vì nghe dọa mà đối phương chẳng xông vào. Song, nếu đối phương vẫn xông vào, thì chính kẻ dọa giết lại run rẩy chờ chết.

Ảnh 13: Tang vật công an thu được tại Đồng Tâm ngày 9/1/2020

Ảnh 14: Bom xăng Đồng Tâm
Trích thông tin trên để thấy rằng: Hẳn đã dày công tìm kiếm, sưu tầm, nhưng cơ quan công an vẫn không thể trưng ra bất cứ đoạn ghi hình hay ghi âm nào về phát ngôn của chính bản thân cụ Lê Đình Kình, trong đó thể hiện cụ là “kẻ cầm đầu, chủ mưu các hoạt động chống đối chính quyền, vi phạm pháp luật trong vụ việc tại Đồng Tâm”. Chứng tỏ, cụ Kình chưa bao giờ phát ngôn như vậy.

Điều đó hoàn toàn khớp với thông tin của Đại tá công an về hưu Nguyễn Đăng Quang:

“Tôi đã nhiều lần về Đồng Tâm tiếp xúc với cụ Kình. Trao đổi và tâm sự với tôi về cách hóa giải mâu thuẫn trong xã hội, cụ thể là cuộc khủng hoảng Đồng Tâm, cụ xác quyết 3 nguyên tắc sau:

– Một là: Dứt khoát phải loại bỏ sử dụng vũ lực. Cụ nói: ‘Vũ lực chỉ nên sử dụng với kẻ thù khi không còn con đường nào khác. Tuyệt đối không bao giờ dùng vũ lực để chống lại nhân dân. Bạo lực sẽ đẻ ra bạo lực, đó là quy luật và hậu quả tất yếu.’

– Hai là: Con đường pháp lý (kiện ra Tòa án) bao giờ cũng tốt hơn bạo lực. Song chỉ nên dùng đến nó một khi phương thức đối thoại, hòa giải thất bại.

– Ba là: Phải đối thoại, hòa giải. Mọi mâu thuẫn và bất ổn trong xã hội đều có thể được hóa giải thông qua đối thoại, hòa giải. Nhưng đối thoại phải thực tâm, và phải nghiêm túc thực thi những điều đã thỏa thuận. Đây là nguyên tắc tối thượng.”

Bản thân tôi, khi cùng với một số người đến thăm cụ Lê Đình Kình vào dịp Tết năm 2018, tôi có cảm giác vừa kính phục, vừa hơi… tẻ. Kính phục bởi được chứng kiến trí tuệ minh mẫn và khả năng diễn đạt khúc triết của cụ. Tẻ vì như thể phải tiếp xúc với một cán bộ tuyên giáo, phát biểu nào cũng dựa vào chủ trương, đường lối của đảng và nhà nước, lập luận nào cũng căn cứ vào quy định của pháp luật. Một người như vậy, thì làm sao có thể “cầm đầu, chủ mưu các hoạt động chống đối chính quyền, vi phạm pháp luật trong vụ việc tại Đồng Tâm”?

Có lẽ, tội lớn nhất của cụ Kình là… vô tội. Bởi nếu có tội thì cụ đã bị bắt, bị xét xử và bị kết án. Và nếu như vậy thì bây giờ cụ vẫn còn sống. Song vì vô tội, nên cụ buộc phải chết.

Phải chăng, bi kịch lớn nhất của cụ Lê Đình Kình là phải sống trong một thể chế, mà người quá tốt cũng buộc phải chết?

1.3. Thông điệp sát nhân

Vì được nhân dân hết lòng yêu mến, tín nhiệm và trở thành người lãnh đạo tinh thần trong cuộc đấu tranh của nhân dân Đồng Tâm, cụ Lê Đình Kình buộc phải hứng chịu cơn thịnh nộ của chính quyền đối với Đồng Tâm. Và người dân Đồng Tâm đã làm những điều mà thế lực cầm quyền khó lòng dung thứ.

Họ đã dám đấu tranh giữ đất. Đối với thế lực cương quyết giữ lại trong Hiến pháp quy định “Đất đai… thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”, thì đấu tranh giữ đất có thể bị quy kết là chống lại Hiến pháp.

Họ đã dám thành lập và gắn bó với nhau trong Tổ đồng thuận. Đối với thế lực luôn run sợ trước bốn chữ “đa nguyên đa đảng”, thì Tổ đồng thuận đã trở thành mầm mống, hay tiền lệ của “đa nguyên đa đảng”. Vì vậy vừa ghét vừa sợ, đến mức gọi Tổ đồng thuận là “ổ nhóm tội phạm có tổ chức”.

Họ đã dám cứng đầu, không chịu ngoan ngoãn nghe theo chính quyền. Lại còn dám đoàn kết với nhau để vạch trần những hành vi sai trái của chính quyền. Đối với một đảng cầm quyền phạm quá nhiều điều sai trái và tham nhũng đã trở thành đặc tính đặc trưng, thì đoàn kết chống lại sai trái, chống lại tham nhũng có thể bị coi là câu kết với nhau để chống lại đảng, chống lại chính quyền. Đã thế, bao nhóm đồng bào tứ xứ lại kéo đến Đồng Tâm thăm hỏi và tán dương, cứ như thể đổ thêm dầu vào lửa.

Họ đã dám bắt giữ một số cảnh sát được điều đến Đồng Tâm. Nghiêm trọng hơn, các cảnh sát lại tỏ ra hợp tác, buông súng để cho dân bắt. Đó là điều vô cùng tối kị đối với một chính quyền tồn tại nhờ bạo lực vũ trang.

Họ còn dám đòi Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung ký tên và lăn tay vào bản cam kết. Đối với giới cầm quyền vốn coi thường người dân, quen bắt nạt dân, thì đó là hành vi xúc phạm nặng nề, khiến họ cảm thấy rất bị mất mặt.

Thêm vào đó là những lời ba hoa ngớ ngẩn trong phút chốc bốc đồng. Chúng chẳng hề hù dọa được chính quyền, mà chỉ giúp chính quyền có cớ để kết tội bà con Đồng Tâm và biện minh cho cuộc tấn công vào Đồng Tâm. Những phát ngôn như vậy chẳng đem lại lợi lộc gì cho Đồng Tâm, mà ngược lại, chỉ khiến thế lực cầm quyền thêm căm tức, coi đó là hành vi xấc xược, khinh thường và thách thức chính quyền.

Ấm ức dồn nén, gia tăng quyết tâm trả thù. Ban đầu, tranh chấp đất đai dẫn đến xung đột, hận thù. Còn bây giờ, tại Đồng Tâm, tranh chấp đất đai chỉ là cái cớ để ra tay trả thù.

Cách tra tấn và giết hại dã man, rồi mổ phanh thi thể của cụ Lê Đình Kình thể hiện rõ ràng quyết tâm và ý chí trả thù.

Bị bắn vỡ tung đầu gối, bị bắn thẳng vào tim và bị chết phanh thây, đó không chỉ là cách hành hạ và làm nhục cụ Kình cho thỏa mãn khát vọng trả thù. Hành động vô cùng dã man một cách hết sức lộ liễu cho thấy, đó cũng là thứ ngôn ngữ hình ảnh có chủ ý để đưa vào thông điệp gửi đi toàn quốc, tới tất cả những ai có ý định cứng đầu trước cường quyền như cụ Kình.

Một số người thắc mắc: Tại sao lại tấn công Đồng Tâm vào ngày 9/1/2020 – một ngày sát Tết?

Phải chăng, cuộc tấn công ấy phải đi kèm để cân đối lại một sự kiện diễn ra chưa đầy một ngày trước? Đó là vào chiều 8/1/2020, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã ra thông cáo: Nguyên Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Lê Thanh Hải và nguyên Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Lê Hoàng Quân vi phạm đến mức phải xem xét kỷ luật trong vụ Thủ Thiêm. Thông cáo ấy khiến nhiều người phấn chấn, bởi nghĩ rằng quả thật công cuộc đốt lò nhằm chống tham nhũng, nên bây giờ đốt cả củi gộc. Hơn nữa, nó còn khiến những người mất đất thêm tin tưởng, học tập dân Thủ Thiêm kiên trì đòi đất.

Phải chăng, cuộc tấn công Đồng Tâm và giết hại cụ Kình là lời cảnh cáo muôn dân, đừng có mơ giữa ban ngày, mà dại dột đua nhau đòi đất?

  1. Cái chết của ba sĩ quan công an

Ba sĩ quan công an bị chết là Thượng tá Nguyễn Huy Thịnh, Thiếu úy Dương Đức Hoàng Quân và Trung úy Phạm Công Huy. Họ được lãnh đạo và đài báo quốc doanh ca ngợi đã dũng cảm hi sinh. Song liệu bản thân họ có tự hào và hài lòng với sự hi sinh của mình hay không?

Nghe nói Thiếu úy Dương Đức Hoàng Quân đã từng viết: “Chiến tranh bảo vệ tổ quốc không đáng sợ, nhưng đáng sợ là máu đổ chính vì người dân mình.” Nếu quả thật anh đã từng viết như vậy, thì khó có thể tự hào về việc mình bị chết khi tham gia tấn công người dân Đồng Tâm. Và cũng khó có thể hài lòng, khi ngẫm nghĩ nơi chín suối về cái chết của bản thân.

(2 ẢNH TRÊN: được cho là xác ba chiến sĩ cs ?)

2.1. Quyết định bất thường

Ngày 10/1/2020, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã ký Quyết định số 41/QĐ-CTN, truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhất cho ba cá nhân Nguyễn Huy Thịnh, Dương Đức Hoàng Quân và Phạm Công Huy, vì “đã lập chiến công đặc biệt xuất sắc” (xem Ảnh 15). Về phần mình, với Quyết định này, Chủ tịch nước cũng lập chiến công với ba kỷ lục.

Kỷ lục thứ nhất là về thời gian: Quyết định được Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng ký chỉ một ngày sau khi ba sĩ quan công an lập chiến công (vào ngày 9/1/2020). Như vậy là nhanh gấp 4 lần so với thời gian mà Chủ tịch nước Trần Đại Quang cần để xem xét và ký quyết định (vào ngày 21/2/2018) truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhì cho Thượng úy công an Lưu Minh Thức, đã hi sinh trong khi thực hiện nhiệm vụ truy bắt đối tượng liên quan đến vụ án giết người (vào ngày 17/2/2018). Và nhanh gấp 3 lần so với thời gian mà Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan cần để xem xét và ký quyết định (vào ngày 10/7/2014) truy tặng Huân chương Chiến công cho các sĩ quan và chiến sĩ quân đội đã hi sinh và bị thương trong vụ rơi máy bay Mi-171 (xảy ra vào sáng 7/7/2014).

Về lý mà nói, phải có khoảng thời gian cần thiết để xem xét thận trọng, xác định rõ nguyên nhân cái chết cũng như chất lượng chiến đấu, trước khi quyết định truy tặng Huân chương Chiến công. Bởi không thể trao Huân chương Chiến công cho những người đã chết chỉ vì làm sai quy định, hay làm trái mệnh lệnh chiến đấu. Vậy mà, trong trường hợp này, ba sĩ quan công an mới bị chết ngày 9/1/2020, thì ngay ngày hôm sau, Chủ tịch nước đã ký Quyết định truy tặng Huân chương Chiến công cho họ, trước cả khi Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình ký Quyết định số 70/QĐ-TTg vào ngày 11/1/2020 về việc cấp bằng “Tổ Quốc ghi công” cho ba liệt sĩ.

Kỷ lục thứ hai là về sự hào phóng: Cả sĩ quan cấp tá Nguyễn Huy Thịnh và hai sĩ quan cấp úy Dương Đức Hoàng Quân, Phạm Công Huy đều được Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhất. Nhắc lại rằng: Thượng úy công an Lưu Minh Thức chỉ được truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhì. Với 18 sĩ quan quân đội đã hi sinh trong vụ rơi máy bay Mi-171, chỉ có ba sĩ quan cấp tá được truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhất và hai sĩ quan cấp tá được truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhì, còn tất cả 13 sĩ quan cấp úy đều chỉ được truy tặng Huân chương Chiến công hạng ba. Chứng tỏ, chiến công tấn công người dân Đồng Tâm được đánh giá cao hơn hẳn so với chiến công quốc phòng và chiến công truy bắt đối tượng liên quan đến vụ án giết người.

Kỷ lục thứ ba là về tính tiên phong: Trong Quyết định số 41/QĐ-CTN ký ngày 10/1/2020, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã gọi Thượng tá Nguyễn Huy Thịnh là Đại tá, gọi Thiếu úy Dương Đức Hoàng Quân là Trung úy, và gọi Trung úy Phạm Công Huy là Thượng úy (xem Ảnh 16), mặc dù một ngày sau đó (tức 11/1/2020) Bộ trưởng Bộ Công an mới ký quyết định thăng cấp bậc hàm cho ba người ấy.

Không dừng lại ở đó, mấy ngày sau Dương Đức Hoàng Quân lại được truy phong tiếp lên Thượng úy và Phạm Công Huy được truy phong tiếp lên Đại úy. Tức là, hai sĩ quan cấp úy được truy phong hai cấp, trong khi liệt sĩ thường chỉ được truy phong một cấp mà thôi. Vì sao?

Ảnh 15: Quyết định truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhất

Ảnh 16: Danh sách các cá nhân được truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhất
2.2. Hiệu quả hi sinh

Tại sao cái chết của ba sĩ quan công an lại được đánh giá là “chiến công đặc biệt xuất sắc”?

Hãy tưởng tượng xem, sau khi cụ Lê Đình Kình bị giết dã man như vậy, thì điều gì sẽ xảy ra, nếu phía công an chẳng có ai bị chết? Đương nhiên, dư luận sẽ lên án hành vi man rợ, chà đạp thô bạo Hiến pháp, pháp luật.

Nếu chỉ có một công an bị chết, thì vẫn chưa đủ để xoa dịu dư luận. Nhưng khi ba công an bị chết thì câu chuyện đã khác.

Nếu chỉ có Thiếu úy và Trung úy bị chết, thì có thể còn bị gièm pha, rằng chẳng qua sa sẩy do còn ngờ nghệch. Nhưng khi Thượng tá, Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn Cảnh sát cơ động Thủ đô cũng bị chết, thì khó có thể quy kết cho khả năng và trình độ chiến đấu kém cỏi.

Đặc biệt, nếu ba công an bị chết vì đạn hay mìn, thì có lẽ chỉ gây thương xót. Nhưng khi họ chết vì bị thiêu cháy, như trong Ảnh 17 và Ảnh 18, thì sẽ khiến hàng triệu người căm thù cụ Lê Đình Kình và những người dân Đồng Tâm. Cơn phẫn nộ ấy mạnh đến mức xóa tan những băn khoăn về cuộc tấn công và việc giết hại cụ Kình một cách hoàn toàn phi pháp.

Ảnh 17: Xác một người chết cháy và vết tích cửa sổ bị phá từ phía trong nhà phá ra

Ảnh 18: Bên cạnh hai đám tro có ba que hương và trên mỗi đám tro có một que hương
Nghĩa là, cái chết của ba sĩ quan công an đã giúp nhà cầm quyền biến sai thành đúng, chẳng những tránh được dư luận lên án, mà còn được nhiều người ủng hộ.

Hiệu quả cao như vậy, thì đương nhiên phải đánh giá là “chiến công đặc biệt xuất sắc”.

2.3. Cái chết kỳ dị

Sau khi tung ra mấy kịch bản hoang đường về nơi chết và lý do chết của ba sĩ quan công an, sáng 14/1/2020, Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang đã thông báo cho báo chí về tình huống ba sĩ quan công an hi sinh ở Đồng Tâm như sau:

“Đối tượng chạy vào nhà Lê Đình Chức, và từ nhà Lê Đình Chức khi bị chúng ta truy đuổi thì chạy sang nhà Lê Đình Hợi. Trong quá trình truy bắt đối tượng từ nhà Lê Đình Chức sang nhà Lê Đình Hợi, giữa 2 nhà có một hố thông gió, hố kỹ thuật khá sâu, gần 4 m, anh em ngã xuống hố. Có một số thông tin các đối tượng đào hố chông, thì hoàn toàn ở dưới không có chông. Là hố kỹ thuật. Hố không có nắp, như một số vụ tai nạn hố ga. Lập tức, các đối tượng sử dụng bom xăng, đổ xăng ra can tưới xuống và đốt.”

Tại sao cả ba sĩ quan công an lại cùng ngã xuống hố kỹ thuật như vậy?

Có ý kiến cho rằng vì không tiến hành trinh sát, nên không biết có cái hố kỹ thuật nằm ở vị trí ấy. Nói như vậy là coi thường ý thức và khả năng tổ chức chiến đấu của lãnh đạo Bộ Công an. Thời chiến tranh, bộ đội phải vượt qua nhiều hàng rào dây thép gai dày đặc bom mìn và nhiều vòng canh gác cẩn mật để trinh sát cơ sở địch. Vậy thì bây giờ, khó khăn gì có thể ngăn cản công an trinh sát nhà dân giữa lòng hậu phương? Nếu không thể dân vận để quan sát trực tiếp từ mấy nhà trong xóm, thì cũng có thể dùng các thiết bị kỹ thuật thông dụng để quan sát từ xa.

Tôi chụp Ảnh 19 (panorama) khi đang đứng ở miệng hố kỹ thuật. Do đó, nếu ta nhìn thấy khu vực nào trong ảnh, thì ngược lại, từ khu vực ấy cũng có thể quan sát miệng hố kỹ thuật. Qua đó ta thấy, có thể quan sát miệng hố kỹ thuật từ rất nhiều vị trí. Chỉ cần cho một chiếc flycam bay lên là có thể ghi hình rõ ràng sân thượng nhà ông Chức cùng hố kỹ thuật. Vậy nên, những người lên kế hoạch tấn công Đồng Tâm phải biết về sự tồn tại của cái hố kỹ thuật ấy.

Ảnh 19: Ảnh chụp panorama từ miệng hố kỹ thuật
Lại có ý kiến cho rằng, ba sĩ quan bị rơi xuống hố kỹ thuật vì trời quá tối, mà lại không được trang bị đèn chiếu sáng. Nói như vậy khác nào chê lãnh đạo Bộ Công an vừa vô trách nhiệm, vừa ăn chặn kinh phí trang bị khí tài, khiến chiến sĩ xung trận không được trang bị những dụng cụ tối thiểu. Thực ra, khi xảy ra cuộc tấn công thì khu vực xung quanh hố kỹ thuật không hề tối, thậm chí nhiều khi đèn pha còn chiếu thẳng vào nơi đó. Và khu vực ấy cũng không hề bị khói mịt mù bao phủ. Ảnh 20 là bằng chứng rõ ràng cho điều đó. Hình ảnh này được trích ra từ video clip (tại thời điểm 00:31) của chương trình thời sự VTV, được đăng lại trên nhiều báo, ví dụ như trong bài “Thu giữ lựu đạn, bom xăng, bắt các đối tượng gây rối ở xã Đồng Tâm” đăng trên Vietnamnet, hay trong bài “Diễn biến vụ Đồng Tâm: Bắt các đối tượng gây rối” đăng trên báo Đất Việt. (Để thấy quả thật quang cảnh trong Ảnh 20 tương ứng với khu vực xung quanh hố kỹ thuật, hãy so sánh nó với Ảnh 21, được chụp vào ban ngày.) Cho nên, ba sĩ quan công an phải nhìn thấy hố kỹ thuật.

Vậy mà vẫn ngã xuống hố, rồi lại được đánh giá là “chiến công đặc biệt xuất sắc”… Điều đó chứng tỏ, hiệu quả hi sinh đã được đánh giá cao hơn hẳn chất lượng và hiệu quả chiến đấu.

Ảnh 20: Quang cảnh xung quanh khu vực hố kỹ thuật khi xảy ra cuộc tấn công

Ảnh 21: Quang cảnh xung quanh khu vực hố kỹ thuật vào ban ngày
Lẽ ra, cần phải nghiêm túc rút kinh nghiệm trong toàn lực lượng công an, để tránh tái diễn những sai lầm chết người tương tự. Nhưng ngược lại, theo yêu cầu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Cục Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu hộ cứu nạn của Bộ Công an, và Công an các tỉnh lại phát động phong trào học tập ba liệt sĩ đã hi sinh ở Đồng Tâm.

Học tập cái gì? Phương pháp rơi xuống hố ư? Không, thứ cần học không phải là phương pháp và kinh nghiệm chiến đấu, mà chỉ là thái độ chấp nhận hi sinh.

Điều đó cho thấy, khi đối tượng tác chiến của lực lượng vũ trang mang tên nhân dân chính là nhân dân, thì thứ thế lực cầm quyền muốn có nhất ở các sĩ quan và chiến sĩ không phải là kỹ năng và hiệu quả chiến đấu, mà là bản năng tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh bất chấp đúng sai, và thái độ nghiễm nhiên chấp nhận hi sinh cả khi phi nghĩa. Chỉ có như vậy, thì họ mới chịu chĩa súng vào đầu dân và chĩa cả vào nhau, sẵn sàng bóp cò mỗi khi có lệnh.

Khi về nơi chín suối, hẳn các liệt sĩ đã kịp nhận ra mức độ hài hước của khẩu hiệu “Còn đảng còn mình”. Bởi đảng vẫn còn, mà mình chẳng còn.

2.4. Đội hình quái lạ

Theo Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang, “trong quá trình truy đuổi, một tổ công tác gồm ba người đã hi sinh”. Ba người ấy là:

– Thượng tá Nguyễn Huy Thịnh, Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn Cảnh sát cơ động Thủ đô, Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Bộ Công an;

– Thiếu úy Dương Đức Hoàng Quân, cán bộ Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Cảnh sát cơ động Thủ đô, Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Bộ Công an;

– Trung úy Phạm Công Huy, cán bộ Đội chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Khu vực 3, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Công an Thành phố Hà Nội.

Tại sao lại sinh ra một tổ công tác với đội hình lại quái lạ như vậy?

Trung đội trưởng, Đại đội trưởng và Tiểu đoàn trưởng đi đâu, mà để Phó Trung đoàn trưởng phải trực tiếp chỉ huy một cán bộ cấp tiểu đội? Sĩ quan, chiến sĩ trẻ trung đi đâu, mà để một Thượng tá 48 tuổi phải lạch bạch đuổi theo mấy gã nông dân? Tại sao Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn Cảnh sát cơ động Thủ đô không chốt ở vòng ngoài để chỉ đạo chung, mà lại sa đà truy đuổi mấy đối tượng, để rồi ngã xuống hố kỹ thuật?

Tại sao lại phân công một cán bộ chữa cháy vào tổ ba người để truy đuổi đối tượng? Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang giải thích: “Về việc tại sao tổ công tác có cả cán bộ phòng cháy chữa cháy hi sinh, thì lực lượng này là để xử lý tình huống các đối tượng có bom xăng, bùi nhùi…” Song chỉ những đầu óc ngây ngô mới có thể thỏa mãn với lời giải thích ấy. Bởi lực lượng tấn công vào Đồng Tâm không thương dân đến mức lo chữa cháy nhà dân, và người dân cũng không dại dột đến mức tự phóng hỏa đốt nhà mình. Thành thử, nếu người dân có ném cái gọi là bom xăng (mà thực chất chỉ là mấy chai bia Hà Nội chứa xăng – xem Ảnh 14) và bùi nhùi, thì cũng chỉ ném chúng ra đường, nên cùng lắm chỉ gây ra mấy đám cháy tượng trưng trên mặt đường, một lát sau sẽ tự tắt ngấm, hà tất phải cần đến cán bộ chữa cháy. (Hãy xem các video clip về biểu tình có bạo loạn ở trong và ngoài nước để thấy, chẳng có lính cứu hỏa nào lao vào dập mấy đám cháy trên mặt đường do bom xăng gây ra cả.)

Thông thường thì lính cứu hỏa chỉ đứng ở vòng ngoài, đợi khi có đám cháy to thì mới xông vào chữa cháy. Hơn nữa, lính cứu hỏa không chữa cháy một mình, mà thường sát cánh với nhiều đồng đội cùng tổ chữa cháy, những người đã từng cùng nhau dày công luyện tập hiệp đồng tác chiến. Vậy thì, tại sao lại tách riêng một mình cán bộ chữa cháy Phạm Công Huy, rồi phân vào một tổ với hai người xa lạ, để truy bắt đối tượng?

Không riêng Trung úy Phạm Công Huy, mà Thiếu úy Dương Đức Hoàng Quân cũng bị tách khỏi đội hình gần gũi. Thành thử, nếu có điều bất trắc xảy ra với họ, thì đồng đội thân thiết khó lòng hay biết. Chính vì thế, Huy đã ngã xuống từ khi trời chưa sáng, mà đến lúc họp giao ban hàng ngày Đội trưởng của Huy (Trung tá Nguyễn Như Ý) mới nhận được tin, và vẫn không tin, nên phải liên tục gọi điện thoại nhiều nơi để xác minh. Nghĩa là, khi ngã xuống, gần Huy chẳng có ai là đồng đội thân thuộc (cùng Đội chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Khu vực 3).

Thật khó mà tìm được lý do chính đáng để biện minh cho việc lập ra một tổ công tác ba người với thành phần quái lạ như vậy. Tuy nhiên, nếu coi hi sinh và gây căm thù là đích, thì đội hình ấy lại có được mấy lợi thế như sau.

Một là, một tổ với ba người xa lạ thì chẳng gắn bó, khó phối hợp ăn ý, và không có ràng buộc tình cảm, nên dễ bị hi sinh hơn.

Hai là, tính mạng Thượng tá Phó Trung đoàn trưởng cao giá hơn hẳn tính mạng mấy sĩ quan cấp úy. Vì thế, tác dụng gây căm thù cũng cao hơn hẳn. Ngoài ra, trước khi chết, sĩ quan cấp cao còn có thể thi hành những nhiệm vụ tuyệt mật, khó lòng trao cho sĩ quan trẻ với tâm hồn còn trong sáng.

Ba là, lính cứu hỏa được đào tạo để chữa cháy và cứu người trong những hoàn cảnh đời thường, nhưng khi bản thân bị giết thì khả năng tự vệ rất thấp. Hơn nữa, lính cứu hỏa có thể mang theo, hoặc buộc phải mang theo những thứ có thể gây cháy, để rồi chúng có thể trở thành nhiên liệu thiêu cháy chính bản thân và người khác, tương tự như hoàn cảnh được đề cập trong bài “Đồng Tâm: Lính bị ‘nướng’ 1000 độ?” của Trung Hiếu.

2.5. Tìm kẻ sát nhân

Một vài suy luận trong phần này tựa trên hai tiên đề sau.

Tiên đề 1: Cả ba sĩ quan công an đều bị chết cháy trong hố kỹ thuật nằm giữa nhà Lê Đình Chức và nhà Lê Đình Hợi.

Tiên đề 2: Xác người chết cháy trong Ảnh 17 và hai đám tro trong Ảnh 18 là phần còn lại của ba sĩ quan công an sau khi bị thiêu cháy trong hố kỹ thuật.

Đương nhiên, nếu Tiên đề 1 hoặc Tiên đề 2 sai, thì kết luận tựa vào đó cũng có thể sai. Tuy nhiên, có cơ sở để tin vào hai tiên đề trên.

Một mặt, Tiên đề 1 phù hợp với công bố của Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang vào ngày 14/1/2020: “Từ nhà Lê Đình Chức sang nhà Lê Đình Hợi, giữa 2 nhà có một hố thông gió, hố kỹ thuật khá sâu, gần 4 m, anh em ngã xuống hố… Lập tức, các đối tượng sử dụng bom xăng, đổ xăng ra can tưới xuống và đốt.”

Mặt khác, Tiên đề 1 và Tiên đề 2 phù hợp với hiện trường được phản ánh qua Ảnh 17 và Ảnh 18. Trong Ảnh 17, ta thấy một xác người chết cháy, vừa được kéo lên từ hố kỹ thuật. Trong Ảnh 18, ta thấy có hai đám tro đen nằm gần miệng hố kỹ thuật. Nếu chỉ có vậy thì khó có thể xác định đó là đám tro gì. Nhưng nếu để ý kỹ, có thể nhìn thấy bên cạnh hai đám tro có ba que hương và trên mỗi đám tro có một que hương. Điều đó cho thấy, mỗi đám tro là tàn tích của một người mới chết. Hơn nữa, quan sát miệng hố kỹ thuật trong Ảnh 23 và các bậc thang trong Ảnh 24, ta thấy có tro đen rơi vãi trên đó. Chứng tỏ, hai đám tro đen đã được đem lên từ hố kỹ thuật. Việc ba người công an trong ảnh bày hoa quả và thắp hương cúng cho thấy, đó là những gì còn sót lại của đồng đội họ.

Có hai câu hỏi cần được trả lời:

(1) Vì sao ba sĩ quan công an bị rơi xuống hố kỹ thuật?

(2) Ai là người đã thiêu cháy ba sĩ quan công an và thiêu bằng cách nào?

Để trả lời hai câu hỏi trên, ta sẽ lần lượt khẳng định bốn mệnh đề sau.

Mệnh đề 1: Người dân Đồng Tâm không hề đẩy ba sĩ quan công an xuống hố kỹ thuật.

Thứ trưởng Lương Tam Quang đã tuyên bố, rằng “anh em ngã xuống hố”. Nếu thông tin của ông Quang chính xác, thì từ đó có thể suy ra ngay Mệnh đề 1. Tuy nhiên, thông tin này của ông Quang lại là điều mà ta sẽ phủ định trong Mệnh đề 2. Vì thế, chỉ có thể vận dụng tuyên bố của ông Quang một cách gián tiếp. Giả thiết rằng, tuy phát ngôn sai, nhưng với tư cách Thứ trưởng Bộ Công an – cơ quan lên kế hoạch và chỉ huy cuộc tấn công vào Đồng Tâm, ông Quang biết rõ sự thật đã diễn ra. Do đó, việc ông Quang không cáo buộc các đối tượng đã đẩy ba sĩ quan công an xuống hố kỹ thuật, mặc dù đã cáo buộc họ “sử dụng bom xăng, đổ xăng ra can tưới xuống và đốt”, là bằng chứng cho thấy người dân Đồng Tâm không hề đẩy ba sĩ quan công an xuống hố.

Thực ra, chẳng cần phải dựa trên giả thiết đã nêu, thì lập luận như sau cũng đủ: Khi công an được trang bị súng đạn tối tân và luôn sẵn sàng nhả đạn, còn người dân Đồng Tâm không hề có súng bắn đạn, thì họ không thể đến gần để đẩy cả ba sĩ quan xuống hố. Vết đạn trong nhà cụ Kình (từ Ảnh 2 đến Ảnh 5), trên tường nhà ông Công (Ảnh 22) và trên gác thượng nhà ông Chức (xem Ảnh 25) cho thấy, lực lượng tấn công không hề tiếc đạn. Vì vậy, người dân Đồng Tâm ra khỏi cửa còn không nổi, chứ đừng nói chuyện tiếp cận lực lượng tấn công khi họ hành sự.

Ảnh 22: Vết đạn trên tường nhà ông Lê Đình Công (chỉ có thể bắn qua cửa sổ hoặc từ sân thượng nhà cụ Kình)
Mệnh đề 2: Không thể có chuyện cả ba sĩ quan công an cùng bị ngã xuống hố kỹ thuật.

Sau đây, ta trình bày một cách lập luận dựa trên quan sát cái cửa sổ trên hố kỹ thuật. Lập luận này dài hơn hẳn cách chứng minh sẽ được trình bày sau Mệnh đề 4, nhưng lại là phương án mà nhiều người cũng có thể nhận ra.

Như đã viết trong phần 2.3, khi xảy ra cuộc tấn công thì khu vực xung quanh hố kỹ thuật không hề tối và cũng không hề bị khói mù bao phủ. Do đó, ba sĩ quan công an phải nhìn thấy hố kỹ thuật. Tuy nhiên, ta cứ xét cả hoàn cảnh ba người đó không nhìn thấy hố kỹ thuật.

Trước hết, xét trường hợp hướng chuyển động giống như Trịnh Bá Phương đã tường thuật: “Hôm 9/1 CSCĐ đã phá cửa tầng 1 nhà ông Hợi, rồi trèo lên tầng 2, tiếp đó họ phá cửa sổ nhà ông Hợi để nhảy sang sân thượng nhà ông Chức.” Lưu ý rằng tình tiết “họ phá cửa sổ nhà ông Hợi (từ trong nhà phá ra) để nhảy sang sân thượng nhà ông Chức” phù hợp với vết tích cửa sổ bị phá trong Ảnh 17. Trong trường hợp này, hình ảnh của ba người lấp ló sau khung cửa sổ trong Ảnh 23 cho thấy, cửa sổ không đủ rộng để có thể nhìn thấy hết cả ba cơ thể, nếu họ đứng sát nhau và cùng quay về phía hố kỹ thuật. Trên thực tế, cửa sổ rộng chưa đến 80 cm. Vì vậy, ba công an không thể chui lọt qua cửa sổ cùng một lúc. Chỉ có hai cách để vượt qua cửa sổ:

– Cách thứ nhất, đứng một chân trên nền nhà và chân kia vắt qua cửa sổ. Trường hợp này chỉ xảy ra khi họ tưởng sân thượng nhà ông Chức tiếp giáp trực tiếp với bức tường có cửa sổ của nhà ông Hợi, tức là họ không hề biết có hố kỹ thuật ở sau cửa sổ.

– Cách thứ hai, trèo lên và đứng cả hai chân trên bục cửa sổ, đồng thời hai tay vịn hai bên khung cửa sổ, rồi nhảy xuống.

Với cả hai cách, chỉ một người đã chiếm hết bề rộng của cửa sổ. Nghĩa là, chỉ có thể từng người vượt qua một. Do đó, khi người thứ nhất tìm cách vượt qua và bị rơi xuống hố kỹ thuật, thì đương nhiên hét lên, khiến hai người kia lùi lại, không vượt qua nữa.

Lưu ý rằng, nếu đứng trên bục cửa sổ nhà ông Hợi, ở độ cao khoảng 90 cm so với sân thượng nhà ông Chức, thì có thể dễ dàng nhảy qua chiều rộng khoảng 60 cm của hố kỹ thuật, để sang sân thượng.

Bây giờ ta xét trường hợp hướng chuyển động ngược lại, như Thứ trưởng Lương Tam Quang đã tường thuật, rằng “truy bắt đối tượng từ nhà Lê Đình Chức sang nhà Lê Đình Hợi”. Tức là truy đuổi theo hướng từ sân thượng nhà ông Chức, vượt qua hố kỹ thuật để chui vào cửa sổ của nhà ông Hợi. Trường hợp này khó xảy ra, vì không dễ vượt qua cùng một lúc cả chiều rộng khoảng 60 cm của hố kỹ thuật, lẫn chiều cao khoảng 90 cm của bục cửa sổ (xem Ảnh 23 và Ảnh 24). Hơn nữa, trong đêm bị tấn công thì cửa sổ ấy đóng (nên mới có dấu vết phá cửa trong Ảnh 17). Vì vậy, người dân Đồng Tâm không thể chạy trốn qua lối ấy, và do đó cũng chẳng có lý do gì khiến ba công an phải truy đuổi họ theo lối ấy. Nhưng nếu vì một lý do đặc biệt nào đó, mà cuộc rượt đuổi vẫn xảy ra theo lối ấy, thì vẫn có thể khẳng định, không thể có chuyện cả ba công an đồng thời nhảy qua hố kỹ thuật. Bởi chỉ từng người vượt qua hố, thì mới có hy vọng chui lọt vào ô cửa sổ hẹp chưa đến 80 cm. Và cũng tương tự như trường hợp trên, khi người thứ nhất bị rơi xuống hố kỹ thuật thì hét lên, khiến hai người kia lùi lại…

Tóm lại, trong cả hai trường hợp đã xét, không thể có chuyện cả ba sĩ quan công an cùng bị ngã xuống hố kỹ thuật.

Ảnh 23: Sân thượng nhà ông Chức, hố kỹ thuật và cửa sổ nhà ông Hợi với ba người lấp ló.

Ảnh 24: Hố kỹ thuật với cái thang có tro đen rơi trên các bậc
Thực ra, sân thượng nhà ông Lê Đình Chức tiếp giáp trực tiếp với ban công nhà ông Lê Đình Hợi (xem Ảnh 25). Chỉ cần vắt chân qua thành ban công là có thể dễ dàng bước từ sân thượng nhà ông Chức sang ban công nhà ông Hợi, và ngược lại. Chỗ tiếp giáp ấy chỉ cách hố kỹ thuật mấy mét. Cho nên, chẳng có lý do gì khiến một cuộc chạy trốn và đuổi bắt giữa hai nhà lại phải diễn ra qua lối có hố kỹ thuật. Nói cách khác, truy bắt đối tượng không phải là lý do đích thực khiến ba sĩ quan công an cùng đến nơi có hố kỹ thuật, để rồi kết thúc cuộc đời ở đó.

Ảnh 25: Từ sân thượng nhà ông Chức nhìn về phía ban công nhà Hợi, hố kỹ thuật và tum nhà ông Chức
Mệnh đề 3: Thứ nhiên liệu đã thiêu cháy ba sĩ quan công an trong hố kỹ thuật không phải là chất lỏng, mà là một thứ nhiên liệu cực mạnh ở dạng bột, hay dạng rắn nào đó.

Thật vậy, giả sử thứ nhiên liệu đã thiêu cháy ba sĩ quan công an ở dạng lỏng, thì để thiêu đến mức độ như trong Ảnh 17 và Ảnh 18, phải đổ vào hố kỹ thuật một lượng nhiên liệu rất lớn, lớn đến mức chất lỏng phải phủ kín và phủ đều toàn bộ đáy hố kỹ thuật. Do đó, mức độ cháy phải đồng đều trên toàn bộ đáy hố, khiến nhiệt phân bố đều bốn phía, và chiều cao của vùng bị ám khói đen trên vách hố phải tương đối bằng nhau. Hơn nữa, với lượng nhiên liệu lỏng lớn, lại cháy trong một hố kỹ thuật vừa sâu vừa hẹp, và với mấy tử thi bị thiêu cháy đến như vậy, thì chiều cao của vùng vách hố bị ám khói đen phải khá lớn, và màu đen phải nhạt dần đều khi lên cao. Thế nhưng, quan sát Ảnh 26 và Ảnh 27, ta thấy hoàn toàn ngược lại:

– Trên vách hố phía bên trái bức ảnh có mấy vết rạn tường mới tinh, trong khi trên vách hố các phía khác không có vết rạn nào, chứng tỏ nhiệt lượng sinh ra ở phía trái cao hơn hẳn.

– Chiều cao của vùng vách hố bị ám khói đen rất khác nhau.

– Chiều cao của vùng vách hố bị ám khói đen tương đối nhỏ. Và vùng vách hố bị ám khói đen dừng lại khá đột ngột, chứ không nhạt dần đều khi lên cao. Có lẽ vì vậy, một số người từng trực tiếp quan sát hố kỹ thuật đã nhận xét, không thấy dấu hiệu của vụ cháy.

Điều đó cho thấy, thứ nhiên liệu được dùng không phải là chất lỏng, mà ở dạng bột, hay dạng rắn, nên phân bố không đều trên đáy hố kỹ thuật. Nhiên liệu ấy cực mạnh, sinh ra nhiệt độ rất cao, nên tuy cháy trong một thời gian khá ngắn (tức không cháy lâu như xăng), nhưng vẫn đủ để thiêu hai người thành tro.

Ảnh 26: Dấu vết vụ cháy trong hố kỹ thuật

Ảnh 27: Vết rạn trên vách bên trái của hố kỹ thuật
Mệnh đề 4: Cáo buộc mấy người dân Đồng Tâm đã đổ xăng để thiêu cháy ba sĩ quan công an là sai sự thật.

Vì xăng là chất lỏng, mà Mệnh đề 3 đã khẳng định thứ nhiên liệu đã thiêu cháy ba sĩ quan công an trong hố kỹ thuật không phải là chất lỏng, nên cáo buộc mấy người dân Đồng Tâm đã đổ xăng để thiêu cháy ba sĩ quan công an là sai sự thật.

Sau khi đã chứng minh Mệnh đề 3, thì chứng minh Mệnh đề 4 chỉ ngắn như vậy. Song sau đây, ta sẽ trình bày thêm một cách lập luận khác.

Theo Mệnh đề 1 thì người dân Đồng Tâm không hề đẩy ba sĩ quan công an xuống hố kỹ thuật. Và theo Mệnh đề 2 thì không thể có chuyện cả ba sĩ quan công an cùng ngã xuống hố kỹ thuật. Thế mà, theo Tiên đề 1, cả ba người vẫn bị thiêu cháy trong hố kỹ thuật nằm giữa nhà Lê Đình Chức và nhà Lê Đình Hợi. Điều đó chứng tỏ, có kẻ nào đó đã ném họ xuống hố đó. Và để họ không chống cự, thì phải ra tay hạ gục trước khi ném họ xuống. Vì ba sĩ quan công an có súng, lại từng được đào tạo võ nghệ, nên chắc hung thủ phải hạ gục họ bằng súng, vừa nhanh gọn và vừa chắc ăn.

Theo Tiên đề 2, xác người chết cháy trong Ảnh 17 và hai đám tro trong Ảnh 18 là phần còn lại của ba sĩ quan công an sau khi bị thiêu cháy trong hố kỹ thuật. Tạm gọi nhân vật bị chết trong Ảnh 17 là X, hai nhân vật bị chết trong Ảnh 18 là Y và Z. Rõ ràng, hình hài của X còn hầu như nguyên vẹn, trong khi thi thể của Y và Z thì bị cháy thành tro. Cùng bị thiêu trong một hố vừa sâu vừa hẹp, với kích thước đáy khoảng 60 cm x 120 cm, nên khi dãy dụa trên nền hố (do bị nóng quá), thì thân thể chạm vào nhau, thậm chí chồng một phần lên nhau. Mặt khác, Ảnh 26 và Ảnh 27 cho thấy, nơi thấp nhất của vùng bị ám khói đen trên vách hố cũng không quá thấp. Vậy thì tại sao lại có sự khác biệt quá lớn giữa vết tích còn lại của ba thi thể như vậy?

Rõ ràng Y và Z đã bị ném xuống hố trước. Sau khi Y và Z bị thiêu một thời gian đáng kể, lúc nhiên liệu chỉ còn lại khá ít, thì X mới bị ném xuống hố. Vì thế, Y và Z bị cháy thành tro, còn hình hài của X thì vẫn gần như nguyên vẹn. Nghĩa là, sau khi ném Y và Z xuống hố thì hung thủ vẫn ở lại cạnh hố, để rồi ném tiếp X xuống hố. Hiển nhiên, khi hung thủ (có súng) vẫn còn có mặt ở hiện trường, thì không người dân Đồng Tâm nào có thể mon men đến gần, để đổ nhiên liệu vào hố kỹ thuật mà phóng hỏa.

Lập luận này quan trọng ở chỗ, nó vẫn còn nguyên tác dụng bác bỏ, trong trường hợp phía công an lại sửa kịch bản, cáo buộc người dân Đồng Tâm đã dùng nhiên liệu dạng bột hay dạng rắn (chứ không phải xăng), để thiêu cháy ba sĩ quan công an.

Lối suy luận như trong cách chứng minh thứ hai cho Mệnh đề 4 có ích cho việc tìm ra thủ phạm. Hơn nữa, còn giúp ta có thêm một cách chứng minh cực ngắn sau đây cho Mệnh đề 2.

Giả sử Mệnh đề 2 sai, tức là cả ba sĩ quan công an đã ngã xuống hố kỹ thuật cùng một lúc. Nếu thế thì họ đã bị thiêu cùng một lúc. Do đó, khi Y và Z bị thiêu thành tro thì X cũng phải thành tro, hay ít nhất cũng phải khác rất xa nguyên dạng. Điều này mâu thuẫn với thực trạng được thể hiện qua Ảnh 17 và Ảnh 18. Vì thế Mệnh đề 2 phải đúng.

Thực ra, sau khi đã bắn chết ba sĩ quan công an, thì đương nhiên hung thủ phải tự tay phóng hỏa, thiêu cháy nạn nhân nhằm phi tang. Tức là, nếu chỉ dựa trên tâm lý thông thường, thì Mệnh đề 4 cũng phải đúng.

Tuy nhiên, một số người có thể bác bỏ Mệnh đề 4, vì dựa vào lời khai sau đây của Lê Đình Doanh, mà VTV đã trình chiếu (xem video clip trong bài “Tướng Lương Tam Quang thông tin về ‘mưu đồ’ của cha con Lê Đình Kình” đăng trên Vietnamnet):

“Ông Chức có sai tôi là châm lửa, thì ông Chức có bảo tôi là đẩy mạnh về phía trước là được, thì tôi có đẩy mạnh về phía đằng trước, và sau đó tôi đi xuống thì thấy ông Chức có đổ xăng từ 3 đến 5 lần gì đó, và tôi thấy cán bộ có tiếng hét lên. Tôi biết là có cán bộ ở dưới. Và tôi nghe thấy ông Chức nói: Chết mày đi.”

Thuyết phục chưa? Vậy hãy từ từ ngẫm lại nhé. Đầu tiên, ông Chức sai Doanh châm lửa. Sau khi châm lửa thì Doanh đi xuống, còn ông Chức ở lại và đổ xăng xuống hố kỹ thuật. Tức là, ông Chức đứng trên sân thượng và đổ xăng xuống đám cháy trong hố. Điều gì sẽ xảy ra? Ngay cả trẻ con cũng biết, lửa ở dưới hố sẽ bén ngay vào dòng xăng, chảy xuống từ can xăng mà ông Chức đang cầm, khiến cả can xăng cũng bùng cháy. Hiển nhiên, ông Chức phải buông tay ra, và can xăng rơi xuống, tràn lênh láng trên mặt sân thượng. Thế là ông Chức bị lửa bao vây. Không sao. Theo lời khai của Doanh, ông Chức vẫn tiếp tục đổ thêm xăng từ 2 đến 4 lần gì đó. Vậy là lửa quanh người ông Chức càng bốc cháy dữ dội. Song cuối cùng ông Chức vẫn sống, để rồi bị công an bắt và truy tố vì tội giết người thi hành công vụ. Ngạc nhiên chưa?

Rõ ràng, kịch bản mà Doanh bị ép phải khai nhận hoàn toàn phi lí và ngớ ngẩn. Vậy mà VTV vẫn chiếu đi chiếu lại. Vậy mà nhiều báo vẫn đăng đi đăng lại. Vậy mà nhiều người vẫn tin. Buồn thay.

Vì sao Lê Đình Doanh lại khai nhận cái điều vừa phi lí và ngớ ngẩn, vừa tai hại cho bản thân như vậy? Hãy quan sát dáng lết đi xiêu vẹo của Lê Đình Doanh lúc trình diễn để quay phim, đến mức phải có hai diễn viên công an dìu hai bên (xem Ảnh 28 và video clip trong bài “Tướng Lương Tam Quang thông tin về ‘mưu đồ’ của cha con Lê Đình Kình” đăng trên Vietnamnet, từ thời điểm 05:49 đến thời điểm 05:56). Qua đó có thể nhận ra một phần hậu quả của việc tra tấn ép cung. E rằng, trong hoàn cảnh ấy, nếu bị ép phải thừa nhận đã ám sát Tổng thống John F. Kennedy, thì Doanh cũng cúi đầu nhận tội.

Ảnh 28: Dáng đi xiêu vẹo của Lê Đình Doanh, đến mức phải có hai công an dìu hai bên
Điều đáng lo là, sau khi đã có được lời khai nhận ấy của Lê Đình Doanh, thì cơ hội sống để xuất hiện tại tòa của Lê Đình Chức cũng giảm hẳn. Bởi nếu để ông Chức sống và không chấp nhận lời khai của Doanh tại phiên xét xử, thì vở kịch khó hạ màn trọn vẹn.

Tóm lại, từ Mệnh đề 1 và Mệnh đề 4, ta rút ra: Người dân Đồng Tâm không hề có lỗi trực tiếp hay gián tiếp đối với cái chết của ba sĩ quan công an. Họ không hề làm gì khiến ba sĩ quan công an bị rơi xuống hố kỹ thuật. Và họ cũng không hề đổ xăng xuống hố kỹ thuật rồi châm lửa đốt ba sĩ quan công an, như phía công an đã cáo buộc.

Từ Mệnh đề 2, Mệnh đề 3 và lập luận khi chứng minh Mệnh đề 4, ta rút ra: Có kẻ đã hạ gục ba sĩ quan công an và ném họ xuống hố kỹ thuật. Ban đầu ném xuống hai người, rồi phóng hỏa thiêu cháy họ. Khi nhiên liệu chỉ còn lại khá ít, thì người còn lại mới bị ném xuống. Thứ nhiên liệu đã thiêu cháy ba sĩ quan công an không phải là chất lỏng (chẳng hạn như xăng), mà là một thứ nhiên liệu cực mạnh ở dạng bột, hay dạng rắn nào đó.

Không phải là người dân Đồng Tâm, lại có thể đến gần ba sĩ quan công an được trang bị đầy đủ súng ống để hạ gục họ, thì hung thủ có thể đến từ đâu, nếu không phải từ đám tấn công vào Đồng Tâm?

Để thu được các kết luận trên, tôi đã cố tình trình bày hai cách lập luận khác nhau cho Mệnh đề 1, Mệnh đề 2 và Mệnh đề 4. Không phải vì thích dài dòng, mà đề phòng trường hợp một cách lập luận có sơ hở, hay chưa đủ thuyết phục, thì vẫn còn có cách lập luận kia. Phải thận trọng và chắc chắn như vậy, bởi lương tâm đòi hỏi chúng ta không chỉ bảo vệ danh dự và trả lại công bằng cho người đã khuất, mà còn bảo vệ tính mạng của bà con Đồng Tâm đang quằn quại chốn lao tù.

Việc công an trưng ra lời khai của Nguyễn Văn Tuyển, rằng “cụ Kình chỉ đạo cứ cho 3 thằng chết là phải chạy hết”, chẳng có sức thuyết phục. Ngược lại, chỉ làm tăng thêm nghi ngờ: Con số “3 thằng chết” không phải là kết cục mang tính ngẫu nhiên, mà đã được xác định từ khi lên kế hoạch.

Viết đến đây đã có thể dừng lại, bởi mục đích cao nhất của bài viết này không phải là xác định đích danh thủ phạm giết người, mà là minh oan cho cụ Lê Đình Kình, cùng những người dân Đồng Tâm đang bị giam giữ và sẽ bị đem ra xét xử. Để họ không bị kết án oan sai. Và cũng giúp cơ quan điều tra, xét xử không kết tội oan sai. Hơn nữa, giúp những người quá tin vào cái gọi là thông tin chính thống bình tâm nghĩ lại, tránh lên án và xúc phạm những nạn nhân vô tội.

Xác định đúng ai đã ra lệnh và ai đã trực tiếp hạ gục, thiêu cháy ba sĩ quan công an, đó là công việc của những người có trách nhiệm điều tra và thật sự muốn điều tra. Cho đến khi có được kết quả điều tra thật sự đáng tin, mọi người đều có quyền suy đoán theo cách của mình.

Khi điều tra hay suy đoán, cần xét mọi trường hợp có thể xảy ra. Không nên bỏ qua mấy câu hỏi sau:

– X là ai? X còn sống hay đã chết khi hung thủ phóng hỏa thiêu Y và Z? Nếu lúc đó X đã chết, thì tại sao hung thủ không ném X xuống hố cùng một lúc với Y và Z, mà lại đợi đến khi nhiên liệu đã cháy gần hết mới ném X xuống hố, khiến hiệu quả phi tang bị giảm hẳn? Còn nếu lúc đó X vẫn còn sống, thì X làm gì khi Y và Z bị hạ gục, bị ném xuống hố và bị thiêu cháy?

– Có khám nghiệm tử thi đối với X hay không? Nếu có khám nghiệm tử thi, thì có tìm thấy bằng chứng X bị hạ gục trước khi bị ném xuống hố kỹ thuật hay không? Nếu không khám nghiệm tử thi, thì tại sao lại không? Đã quá biết nguyên nhân cái chết của cụ Kình, mà vẫn đem thi thể cụ ra mổ phanh thây, thì tại sao không khám nghiệm tử thi đối với X? Ai không chịu ra lệnh, hay cản trở việc khám nghiệm tử thi đối với X?

– Ai đã quyết định lập ra tổ công tác ba người (gồm Nguyễn Huy Thịnh, Dương Đức Hoàng Quân và Phạm Công Huy)? Ai đã điều động cán bộ chữa cháy Phạm Công Huy về tổ ấy?

Trong bài “Nghẹn ngào tang lễ 3 chiến sĩ hy sinh tại Đồng Tâm” đăng trên Vietnamnet có câu: “Mẹ của liệt sĩ Nguyễn Huy Thịnh cho biết sau lễ truy điệu, thi hài con trai sẽ được hỏa táng và đưa về an táng tại nghĩa trang quê nhà, xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm.”

Phải chăng, đó là dấu hiệu cho thấy X là Nguyễn Huy Thịnh? Bởi nếu Nguyễn Huy Thịnh là Y hay Z, thì đã bị cháy thành tro, có thể an táng ngay, chẳng cần phải “hỏa táng” nữa.

Mấy điều đọng lại

Đêm 30 Tết, trời Hà Nội đổ mưa như trút nước, gió giật, sấm chớp đùng đùng – một hiện tượng thiên nhiên chưa từng xảy ra vào thời điểm Tết nguyên đán. Nhiều người chia sẻ cảm giác, Trời nổi cơn thịnh nộ vì tội ác diễn ra ở Đồng Tâm.

3.1.

Đang đêm, huy động hàng ngàn cảnh sát tấn công vào Đồng Tâm, hành hạ và giết chết cụ Lê Đình Kình ngay trên giường ngủ, đồng thời bắt đi mấy chục người dân.

Rồi Bộ công an công bố: “Trong quá trình xây dựng (tường rào bảo vệ Sân bay Miếu Môn), sáng ngày 9/1/2020, một số đối tượng có hành vi chống đối, sử dụng lựu đạn, bom xăng, dao phóng… tấn công lực lượng chức năng, chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng, dẫn đến hậu quả 03 cán bộ chiến sĩ Công an hi sinh, 01 đối tượng chống đối chết…”

Trên thực tế, địa điểm tấn công cách nơi xây dựng tường rào Sân bay Miếu Môn mấy cây số, và thời điểm tấn công diễn ra mấy tiếng đồng hồ trước khi công việc xây dựng hàng ngày tại Sân bay Miếu Môn bắt đầu.

Phải bịa ra lý do phi thực tế đến thế để biện minh cho hành động tấn công vào Đồng Tâm và giết chết cụ Kình, điều đó chứng tỏ bản thân những người cầm đầu cũng biết rất rõ, hành động của họ là hoàn toàn phi lí và phi pháp. Hơn nữa, nó cũng thể hiện thói quen hành xử bất chấp pháp luật và coi thường nhân dân, coi muôn dân như bầy ngốc ngếch, chẳng biết tư duy, nên họ nói dối thế nào cũng phải nghe, phải tin.

3.2.

Trước khi bị bắn vào tim, cụ già 84 tuổi đã bị tra tấn, hành hạ hết sức dã man. Hình ảnh đầu gối cụ Kình bị bắn vỡ tung (Ảnh 7) và thi thể của cụ bị mổ phanh từ cổ đến đáy bụng (Ảnh 8) thể hiện rõ khát vọng và quyết tâm trả thù. Trả thù cụ Kình và những người dân Đồng Tâm đã dám sát cánh bên cụ, bảo vệ quyền sử dụng vùng đất mà họ vẫn sử dụng. Đồng thời đe dọa tất cả những ai dám cứng đầu trước cường quyền, đấu tranh giữ đất như bà con Đồng Tâm.

Tội của cụ Kình là… vô tội. Vì thế, họ không thể bắt giam để đem ra xét xử, mà giết cụ ngay trên giường ngủ. Cũng vì thế, người đảng viên 58 tuổi đảng không bị khai trừ khỏi đảng, cho đến khi bị đồng chí đang tâm giết hại.

3.3.

Trong trận tấn công vào Đồng Tâm, ba sĩ quan công an đã bị giết chết.

Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang tuyên bố: “Anh em ngã xuống hố… Lập tức, các đối tượng sử dụng bom xăng, đổ xăng ra can tưới xuống và đốt.”

Cái chết bi thảm của ba sĩ quan công an khiến bao người phẫn nộ, căm thù gia đình cụ Kình và người dân Đồng Tâm. Nhờ thế, lấn át được dư luận lên án hành vi giết hại cụ Kình, và khiến nhiều người đồng tình ủng hộ cuộc tấn công phi pháp vào Đồng Tâm.

Thế nhưng, phần 2.5 đã chỉ ra: Người dân Đồng Tâm không hề đổ xăng xuống hố kỹ thuật để thiêu cháy ba sĩ quan công an. Hơn nữa, nếu thừa nhận Tiên đề 1 (tức là cả ba sĩ quan công an đều bị chết cháy trong hố kỹ thuật nằm giữa nhà Lê Đình Chức và nhà Lê Đình Hợi) và Tiên đề 2 (tức là xác người chết cháy trong Ảnh 17 và hai đám tro trong Ảnh 18 là phần còn lại của ba sĩ quan công an sau khi bị thiêu cháy trong hố kỹ thuật), thì có thể suy ra: Ba sĩ quan công an không tự ngã xuống hố kỹ thuật. Họ đã bị ném xuống hố và bị thiêu cháy, nhưng không phải bởi người dân Đồng Tâm.

3.4.

Việc giết hại cụ Lê Đình Kình và việc giết hại ba sĩ quan công an đều là tội ác. Hai tội ác giết người ấy đều phải bị khởi tố, điều tra và đem ra xét xử nghiêm khắc.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hà Nội đã ra quyết định khởi tố 20 bị can người Đông Tâm về hành vi giết người thi hành công vụ. Việc đó cũng na ná như đội quân xâm lược mà lại cáo buộc người dân bản xứ tội giết người, khi họ sử dụng quyền tự vệ chính đáng của mình. Tuy nhiên, như đã viết ở trên, cả 20 bị can đã bị khởi tố đều không liên can đến cái chết của ba sĩ quan công an.

Còn việc giết hại cụ Lê Đình Kình bất chấp pháp luật thì vẫn chưa bị khởi tố, mặc dù hàng chục người đã ký đơn tố giác tội phạm gửi Viện Kiểm sát Nhân dân và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hà Nội.

Không thể chỉ chăm chăm truy tố tội giết người thi hành công vụ, mà lờ đi tội nhân danh thi hành công vụ để giết người.

3.5.

Với tội ác Đồng Tâm, nhà cầm quyền đã tự tay giáng đòn trí mạng vào tử huyệt của chế độ. Muốn giải huyệt, thì phải thừa nhận tội ác, chấm dứt ngay chiến dịch vu khống, xuyên tạc sự thật, chấm dứt giam giữ và bức cung những người vô tội. Nếu tiếp tục bức cung, rồi dựa vào đó để kết án, thì chỉ đổ thêm dầu vào lửa, khiến cho tình hình ngày càng thêm trầm trọng và bế tắc.

Đừng vin vào mấy lời chém gió của mấy vị ba hoa để kết tội người dân Đồng Tâm. Họ cũng chỉ giống như bao triệu người đã từng “Thề phanh thây uống máu quân thù” (lời Quốc ca một thời của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), song chẳng bao giờ phanh thây uống máu một ai.

3.6.

Cải cách ruộng đất đã gây ra bao tội ác tày trời, khiến Chủ tịch Hồ Chí Minh phải nhỏ lệ xin lỗi nhân dân và Tổng bí thư Trường Chinh phải từ chức. Tội lỗi ấy được châm chước phần nào, nhờ thành quả “người cày có ruộng” mà Cải cách ruộng đất đã mang lại.

Song, với quy định “Đất đai… thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”, thế lực cầm quyền đã thẳng tay xóa bỏ thành quả tích cực ấy, khiến Cải cách ruộng đất chỉ còn sót lại trong lịch sử Dân tộc với tội ác. Hơn thế nữa, quy định ấy còn là nguyên nhân gốc rễ sinh ra bao tội ác khác, trong đó có tội ác Thủ Thiêm và tội ác Đồng Tâm.

Để chấm dứt chuỗi tội ác do nạn chiếm đoạt đất đai gây ra, phải hủy bỏ quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân trong Hiến pháp.

Để làm dịu nỗi đau do tội ác Đồng Tâm gây ra, đã hô hào học tập và làm theo, thì cũng nên học theo cách ứng xử của Hồ Chí Minh và Trường Chinh sau sai lầm của Cải cách ruộng đất. Chí ít cũng xin lỗi gia đình cụ Lê Đình Kình và nhân dân Đồng Tâm.

Ghi chú: Bài viết này có sử dụng một số bức ảnh được sưu tầm từ Internet, hoặc được trích ra từ các video clip có trên Internet. Người viết cảm ơn những người đã chụp các bức ảnh, hoặc quay các video clip liên quan.

Hà Nội, ngày 11 tháng 02 năm 2020

Tanhia Nguyen đã chia sẻ một bài viết.

VŨ HÁN – QUI ĐỊNH TỈ LỆ CHẾT và NHIỄM MỚI được phép CÔNG BỐ MỖI NGÀY là xấp xỉ 2.1% (hay là ngẫu nhiên trùng lặp ?)

Một người Tàu tên Cheng Kaifu theo dõi Vũ Hán và lập bảng thống kê DƯỚI ĐÂY.

Phát hiện là: tỷ lệ số người chết / số người nhiễm bệnh hàng ngày là 2.1 % !

Anh ta lập bảng tiếng Trung (và tiếng Anh) như hình kèm theo và ghi tựa :

研究子一下: 中國神奇的病毒還是個數学高手
(Một nghiên cứu dưới đây: Căn bệnh thần kỳ ở Trung Quốc toàn là một con số cao thủ).

Cheng Kaifu
6 tháng 2 lúc 11:59 •

#研究了一下#中國神奇的病毒還是個數學高手

1月30日:170死/確診7821=2.1%,
1月31日:213死/確診9800=2.1%,
2月1日:259死/確診11880=2.1%,
2月2日:304死/確診14401=2.1%,
2月3日:361死/確診17238=2.1%,
2月4日:429死/確診20471=2.1%,
2月5日:493死/確診24441=2.1%
2月6日:564死/確診28605=2.1%

接下來會越來越低 穩定中國人心 騙一些 SB
(về sau nó sẽ ngày càng thấp hơn, và nói dối một ít ổn định trái tim của người Trung Quốc) .

Tôi đã lấy máy tính bấm thử thì kết quả đúng vậy.

Bạn không tin giở điện thoại bấm đi.

Dịch:
Ngày 30.1: tử 170/chẩn bệnh 7821= 2.1 %
Ngày 31.1: tử 213/chẩn bệnh 9800 = 2.1 %
Ngày 1. 2: tử 257/chẩn bệnh 11880= 2,1 %
… tỉ lệ giống như trên: 2.1 % !
(ngoại lệ: ngày 6.2 tụt xuống 2.0%)

Liệu có sự trùng hợp ngẫu nhiên đến như vậy?

Lời đồn rằng chính phủ TQ che giấu thông tin từ đầu, đúng không ?

Rút cục, người Vũ Hán chết và nhiễm thực bao nhiêu ?
– Trời biết, Đất biết, Đảng biết.

corona virus

CĂN CỨ NÀO ĐỂ ĐIỀU QUÂN, SÁT HẠI CỤ LÊ ĐÌNH KÌNH ?
Vũ Hữu Sự

Bộ luật tố tụng hình sự (TTHS) năm 2015 là một bộ luật rất hoàn chỉnh, với 26 nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt, được quy định tại chương II, từ điều 7 đến điều 33, trong đó quan trọng nhất là nguyên tắc “bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể (điều 10 :Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của bộ luật này. Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe con người )”, và nguyên tắc “suy đoán vô tội (điều 13 : Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do bộ luật này quy định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội) ”.

Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự không được phép làm bất cứ điều gì ngoài những quy định trong bộ luật TTHS.

Theo bộ luật này, thì trừ trường hợp phạm tội quả tang và người đang có lệnh truy nã. Bất cứ ai bị bắt đều phải có quyết định khởi tố bị can và lệnh bắt bị can tạm giam để điều tra, được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn. Không được phép bắt người vào ban đêm. Trước khi bị bắt, bị áp giải về trại tạm giam, người bị bắt phải được nghe công bố quyết định khởi tố bị can, được nghe lệnh bắt bị can tạm giam để điều tra, được nghe giải thích quyền và nghĩa vụ của mình khi chấp hành quyết định và lệnh, được nhận quyết định và lệnh đó. Việc bắt người phải được lập biên bản. Mọi việc phải diễn ra dưới sự chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương.

Cho đến 3 giờ ngày 9/1/2020, cụ Lê Đình Kình cũng như toàn thể dân làng Hoành xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội, không ai bị khởi tố bị can, không ai có lệnh bắt tạm giam để điều tra, được VKS cùng cấp phê chuẩn. Cả làng Hoành không ai có hành vi phạm tội quả tang, không ai chứa chấp tội phạm bị truy nã. Làng Hoành cũng không có lực lượng khủng bố ẩn nấp.

Vậy, căn cứ nào để điều động một lực lượng vũ trang cỡ trung đoàn, được “trang bị tận răng” toàn vũ khí tối tân, đến tấn công một ngôi làng không có bất cứ một hành vi vi phạm pháp luật nào, vào ban đêm ?

Câu trả lời là không. Không có bất cứ căn cứ pháp luật nào cho phép điều lực lượng đó đến tấn công làng Hoành, việc điều quân ban ngày cũng không được phép, nói gì ban đêm ? Việc điều quân đó là trái pháp luật.

Điều quân đến để “đảm bảo an ninh trật tự (ANTT) việc thi công tường rào xung quanh sân bay Miếu Môn” như báo điện tử Hà Nội Mới (cơ quan của thành ủy ĐCS Việt Nam thành phố Hà Nội. Tiếng nói của đảng bộ, chính quyền và nhân dân thủ đô) đưa tin ngày 13/1/2020 ư ? Sân bay Miếu Môn ở cách làng Hoành khoảng 2 km, tại sao không đưa quân đến đó để bảo vệ ANTT, mà lại đưa quân đến tấn công làng Hoành ? Ban đêm, lực lượng quân đội không thi công tường rào, làm gì có ai gây mất ANTT ở đó mà đảm bảo ? Tại sao để đảm bảo ANTT việc thi công tường rào xung quanh sân bay Miếu Môn mà lại không đóng quân tại địa điểm xây dựng tường rào đó, để nếu khi thi công, người dân làng Hoành kéo đến ngăn cản thì bắt quả tang hành vi “chống người thi hành công vụ” một cách đàng hoàng, đúng quy định của bộ luật TTHS ? Cũng tờ báo trên cho biết vào ngày 13/1/2020 rằng “khi lực lượng chức năng bắt đầu xây dựng tường rào bảo vệ sân bay Miếu Môn, các đối tượng (ở làng Hoành) đã lên kế hoạch, chuẩn bị bom xăng, lựu đạn và hung khí tự chế nhằm tấn công lực lượng chức năng, thậm chí chúng còn hung hăng tuyên bố chấp nhận đổ máu, giữ đất đến cùng trên mạng xã hội Facebook. Có đối tượng còn manh động mang dao đến tận nhà, đe dọa chủ tịch UBND xã Đồng Tâm, dọa chém cán bộ ban chỉ huy quân sự xã”. Ơ hay, nếu đúng như vậy thì các đối tượng đó đã có những hành vi có dấu hiệu cấu thành các tội “chế tạo, tàng trữ , vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kĩ thuật quân sự”, “chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí thô sơ”, và “đe dọa giết người”, được quy định tại các điều 230; 233 và 133 BLHS năm 2015.

Lực lượng công an Việt Nam vẫn tự hào là “giỏi nhất thế giới”, tại sao cơ quan điều tra công an thành phố Hà Nội không xác định được ai ở làng Hoành đã có những hành vi đó để khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra lệnh bắt tạm giam họ để điều tra, rồi cứ đàng hoàng giữa thanh thiên bạch nhật, mời chính quyền xã Đồng Tâm đến chứng kiến, đọc quyết định khởi tố bị can, đọc lệnh bắt tạm giam cho họ nghe rồi còng tay họ lại, theo đúng quy định của bộ luật TTHS ?

Không có người dân làng Hoành nào bị khởi tố bị can và có lệnh bắt tạm giam, điều đó có nghĩa là người dân làng Hoành không có những hành vi như báo điện tử Hà Nội Mới đã nói ở trên. Tờ báo này đã dựng đứng, vu khống cho người dân làng Hoành. Và cuộc tấn công vào làng Hoành lúc 3 giờ ngày 9/1/2020 là hoàn toàn trái pháp luật.

Căn cứ nào để sát hại cụ Lê Đình Kình ? Khi trả xác cụ Lê Đình Kình cho thân nhân, UBND xã Đồng Tâm đã bắt thân nhân của cụ phải ký vào biên bản là cụ chết ở đồng Sênh. Nhưng cụ bà Dư Thị Thành (vợ cụ Lê Đình Kình) lại khẳng định cụ Kình bị sát hại tại nhà riêng. Theo cụ Thành, cụ và cụ Kình đang ngủ thì CSCĐ phá cửa, ném lựu đạn khói vào nơi hai cụ đang nằm rồi xông vào. Cụ Thành bị lôi ra ngoài, còn cụ Kình bị bắn vào đầu gối, vào tim và vào đầu ở cự li rất gần. Bắn xong, thấy máu chẩy rất nhiều, những người bắn đã lấy quần áo trong nhà lau máu rồi nhét vào cái bao tải.

Báo điện tử Việtnamnet ngày 10/1/2020 cho biết, theo báo cáo của công an TP Hà Nội, thì khi bị bắn chết, trên tay cụ Lê Đình Kình vẫn cầm một trái lựu đạn.

Thông tin về một cụ già 84 tuổi, sức yếu, chân đi tập tễnh, hậu quả của cú đạp gẫy chân năm 2017 do công an TP Hà Nội gây ra, lúc bị tước đoạt mạng sống một cách trái pháp luật, trong tay vẫn cầm một trái lựu đạn, khiến tôi nhớ đến một sự kiện. Ngày 16/3/1968, đại đội Charle thuộc tiểu đoàn số 1, trung đoàn bộ binh số 20, lữ đoàn bộ binh số 11, sư đoàn bộ binh số 20 quân đội Hoa Kỳ, đã kéo vào thôn Mỹ Lai, làng Sơn Mỹ thuộc huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, nơi không có bất cứ một lực lượng vũ trang nào của mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam, thẳng tay bắn giết những người dân tay không tâc sắt. khiến cho 504 dân thường thiệt mạng. Chuẩn úy Hugh Thompson jr, 24 tuổi, phi công trực thăng, đã kể với báo chí rằng anh tận mắt thấy đại úy Medina bắn thẳng vào đầu một phụ nữ không có bất cứ một thứ gì trong tay. Bị báo chí chất vấn, viên đại úy này cảng cổ cãi “: trong tay người phụ nữ ấy cầm một trái lựu đạn”. Không biết “trái lựu đạn” trong tay người phụ nữ xứ Quảng có giống với “trái lựu đạn” mà cụ Lê Đình Kình “cầm trong tay” lúc bị CSCĐ chĩa súng sát tim bóp cò hay không ?

Việc điều động một lực lượng CSCĐ cỡ trung đoàn, được trang bị tối tân, tấn công làng Hoành, một ngôi làng không có bất cứ một hành vi vi phạm pháp luật nào, vào ban đêm, giết một đảng viên 84 tuổi đời, gần 60 tuổi đảng, một cách hết sức dã man, là hành vi chà đạp lên pháp luật. Kẻ nào ra lệnh điều quân tấn công làng Hoành vào ban đêm ? Kẻ nào ra lệnh hành quyết đảng viên gần 60 tuổi đảng Lê Đình Kình ? Kẻ nào thực thi lệnh hành quyết đó ? Nếu không đưa được 3 tên này ra vành móng ngựa để xử lý chúng theo đúng quy định của bộ luật TTHS và BLHS, để chúng nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, thì rõ ràng đây là một vụ dùng luật rừng trong một đất nước đã có cả một rừng luật, cụ thể là bộ luật TTHS và BLHS có cũng như không. Và vụ này rất có thể sẽ trở thành một tiền lệ : Không cần bất cứ luật nào. Hễ không ưa ai thì cứ việc đưa quân đến, kề súng vào tim vào óc người đó mà bóp cò.

Trên đây là những suy nghĩ của tôi, một cựu phóng viên không rành về luật. Rất có thể là tôi sai, vì còn những căn cứ khác của luật để ngành công an căn cứ vào đó để điều quân và hành quyết cụ Lê Đình Kình mà tôi chưa biết hoặc không biết. Rất mong ngành công an cho tôi một câu trả lời chính thức, thuyết phục, để tôi được “sáng mắt sáng lòng”.

MỘT DÂN TỘC KHÔNG ĐỌC SÁCH LÀ MỘT DÂN TỘC KHÔNG CÓ HY VỌNG

“Trên chuyến bay đến Thượng Hải, vào giờ ngủ, khoang máy bay đã tắt đèn, tôi phát hiện những người còn thức chơi Ipad hầu hết là người châu Á, hơn nữa họ đều đang chơi game hoặc xem phim. Thật ra ngay từ khi ở sân bay quốc tế Frankfurt, tôi thấy phần lớn hành khách người Đức đang yên tĩnh đọc sách hay làm việc, còn đa số khách châu Á đi lại mua sắm hoặc cười nói so sánh giá cả.

Nhiều người châu Á hiện nay dường như không thể kiên nhẫn ngồi yên đọc sách. Có lần tôi và một người bạn Pháp cùng đợi xe ở trạm tàu hỏa, người bạn này hỏi tôi: “Tại sao người châu Á đều gọi điện thoại hoặc lướt internet chứ không ai đọc sách thế nhỉ?”. Tôi nhìn quanh, quả thật là như vậy. Mọi người đang nói chuyện điện thoại, cúi đầu đọc tin nhắn, lướt mạng xã hội hoặc chơi game. Họ bận nói chuyện ồn ào hoặc tự tỏ ra bận rộn, điều duy nhất không có là cảm giác thư thái tĩnh lặng. Họ luôn nôn nóng và dễ cáu bẳn, dễ phàn nàn, khó chịu….

Theo truyền thông, trung bình mỗi người Trung Quốc chỉ đọc 0,7 quyển sách/năm, Việt Nam 0.8 quyển, Ấn Độ 1.2 quyển, Hàn Quốc là 7 quyển. Chỉ có Nhật Bản là có thể sánh với các nước phương Tây với 40 quyển/năm, riêng người Nga là 55 quyển. Năm 2015, 44,6% người Đức đọc ít nhất một cuốn sách mỗi tuần. Con số tương tự ở các nước Bắc Âu.

Ở các thành phố và thị trấn lớn nhỏ tại Trung Quốc, loại hình giải trí phổ biến nhất phải kể đến là quán mạt chược, quán ăn uống và tiệm internet. Bất kể trong tiệm net hay phòng vi tính của nhà trường, phần lớn sinh viên lướt mạng xã hội, chat hoặc chơi game. Số học sinh tra cứu tài liệu trên mạng rất ít ỏi. Còn các vị quản lý, ví dụ doanh nghiệp, cả ngày bận rộn ứng phó với các bản kiểm điểm, tiếp khách, ăn uống…nên tôi hỏi thì họ nói chưa đọc sách kể từ lúc rời ghế nhà trường.

Nguyên nhân không thích đọc sách, thống kê cho thấy có 3 phương diện chính.

– Một là tò mò chuyện người khác nhiều nên luôn cập nhật mạng xã hội và nhu cầu giao tiếp lớn, họ luôn nói nhiều khi gặp nhau, và chat cả ngày không chán.

– Hai là từ nhỏ không được dưỡng thành thói quen tốt trong việc đọc sách. Do gia đình cha mẹ không đọc sách (trừ người không biết chữ và lao động chân tay quá cực khổ). Nên nhớ, tính cách một đứa trẻ hình thành chủ yếu từ gia đình.

– Ba là “giáo dục kiểu thi cử”, khiến cho trẻ nhỏ không có thời gian và tinh lực để đọc các loại sách bên ngoài. Hình thành thói quen học xong có bằng cấp thì ngưng đọc. Đọc nếu có, chỉ để đi thi.

Trên thế giới có hai quốc gia thích đọc sách nhất là Israel và Hungary. Ở Israel, trung bình mỗi năm người dân đọc 64 quyển. Ngay từ khi trẻ nhỏ bắt đầu biết nhận thức, hầu như mỗi bà mẹ đều nghiêm túc dạy bảo con: “Sách là nơi cất giữ trí tuệ, còn quý hơn tiền bạc, châu báu, và trí tuệ là thứ mà không ai có thể cướp đi được. Làm gì thì làm, con phải đọc sách mới đi ngủ”.

Người Do Thái là dân tộc duy nhất trên thế giới không có người mù chữ, ngay cả người ăn xin cũng luôn có quyển sách bên cạnh. Trong mắt họ, đọc sách báo là một phẩm chất tốt để đánh giá con người.

Trong ngày Sabbath (ngày lễ nghỉ ngơi), tất cả người Do Thái đều dừng các hoạt động. Các cửa hàng, quán ăn, những khu vui chơi đều phải đóng cửa, các phương tiện giao thông cũng ngừng hoạt động, ngay cả các công ty hàng không đều ngừng bay, người dân chỉ có thể ở nhà nghỉ ngơi hoặc cầu nguyện. Nhưng có một ngoại lệ, tất cả nhà sách trên toàn quốc vẫn được mở cửa. Trong ngày này, mọi người đến đây đều yên lặng đọc sách.

Hungary có gần 20.000 thư viện, bình quân 500 người lại có một thư viện, đi thư viện cũng bằng đi cà phê hay siêu thị. Hungary cũng là quốc gia có số người đọc sách nhiều nhất thế giới, hàng năm có đến hơn 5 triệu người thường xuyên đọc sách, vượt quá 1/4 dân số nước này.

➡️ Tri thức là sức mạnh, tri thức chính là tài sản. Một đất nước hay một cá nhân coi trọng việc đọc sách và tích lũy tri thức từ sách đương nhiên sẽ được hậu đãi. Bất luận họ làm ngành nghề gì, người đọc sách nhiều đều có một cách tư duy rất khác và dù không có thành tựu rực rỡ thì họ vẫn một đẳng cấp rất riêng. Có nhiều dân tộc rất giàu nhưng không văn minh. Tương tự nhiều cá nhân rất nhiều tiền nhưng không thể sang được. Chỉ vì họ thiếu chiều sâu của tri thức.

Dân số Isael thưa thớt, nhưng nhân tài vô số. Lịch sử xây dựng đất nước tuy ngắn, nhưng đã có 8 người đoạt giải Nobel. Thiên nhiên Isael khắc nghiệt, phần lớn đất đai là sa mạc, nhưng họ lại có thể biến đất nước mình thành một ốc đảo xanh tươi, lương thực sản xuất không chỉ đủ cung cấp trong nước, mà còn xuất khẩu một lượng lớn. Xã hội Israel trật tự quy củ và người Israel được tôn trọng trên khắp thế giới.

Các giải thưởng Nobel mà Hungary nhận được thuộc về nhiều lĩnh vực như: vật lý, hóa học, y học, kinh tế, văn học, hòa bình, v.v….Nếu so với dân số, Hungary là “quốc gia của giải thưởng Nobel”. Phát minh của họ rất nhiều, có thể nói là không sao đếm xuể, từ những vật phẩm nhỏ bé, cho đến những sản phẩm công nghệ cao. Một quốc gia nhỏ bé vì yêu sách mà có được trí tuệ và sức mạnh, hơn hết là sự văn minh vượt bậc. Hungagry là quốc gia Đông Âu vô cùng sạch sẽ, xinh đẹp và đời sống tinh thần mười mấy triệu dân Hung không khác gì các nước Bắc Âu.

➡️ Một vị học giả lớn từng nói: “Lịch sử phát triển tư tưởng của một người chính là lịch sử đọc sách của người đó. Một xã hội sẽ phát triển hay tụt hậu, là dựa vào quốc gia có ai đang đọc sách, đọc những sách gì. Sách không chỉ ảnh hưởng đến một cá nhân, nó còn ảnh hưởng đến toàn xã hội. Hãy nhớ: Một dân tộc không đọc sách là một dân tộc không có hy vọng. Và một người trẻ cũng vậy”.
(st)

Copy từ FB Dung Tran

Mây thẻ