"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Sáu, 2011

Nho và Pháp trên con đường bành trướng của Trung Quốc

12/06/2011

Nho Pháp tịnh dụng và con đường bành trướng thiên triều

GS. Trần Đình Hượu

Ngày nay đã thành sự thật hiển nhiên, không có gì để nghi ngờ, không có gì phải bàn cãi cái việc những nhà cầm quyền Bắc Kinh là một bọn phản động, thực hiện chính sách đối nội phản nhân dân, đối ngoại xâm lược, chống chủ nghĩa xã hội. Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không phải đi theo một con đường đặc thù nào đó lên chủ nghĩa xã hội mà là đi theo vết xe cũ của các triều đại phong kiến. Ở đó mấy chục năm nay, với danh nghĩa Đảng và Chính phủ nhân dân, họ tước đoạt mọi quyền dân chủ, cưỡng bức lao dịch, vơ vét nhân tài vật lực, dốc vào việc quân sự hóa, chuẩn bị chiến tranh. Có lực lượng quân sự mạnh không phải để giải phóng Đài Loan hay đề phòng đất nước bị xâm lược mà để có thế mạnh, áp đặt địa vị siêu cường cho thế giới, nếu cần có thể bằng cách gây chiến tranh xâm lược. Ở đó các phe phái không ngớt cấu xé nhau, giành vị trí lãnh đạo, giành nhau làm chủ việc thực hiện mục tiêu đó. Những từ “Cách mạng vô sản”, “Chủ nghĩa Mác-Lênin”, “Đảng Cộng sản” chỉ là những cái nhãn hào nhoáng che đậy thực chất phản động.

(more…)

Advertisements

Kỷ niệm với Hội nhà văn… bước ngoặt nghề nghiệp

Năm 1972-1973

Hà Tây, huyện Ứng Hòa, xã Hồng Quang trước cửa Chùa Hương, có một ngôi trường phổ thông cấp 2 nằm bên bờ con sông Đáy hiền hòa. Gần đó là cái bến đò dọc suối Yến tiến sâu vào chùa Hương…Một ngôi trường nhỏ với khu tập thể nhỏ, nơi ấy chàng GV toán lý Phùng Hoài Ngọc ngồi dạy học… Nhiều tối các nhà văn nhà thơ nổi tiếng ưa tản bộ lững thững vào sân trường, ghé vô phòng anh hiệu trưởng và Ngọc uống trà tán gẫu. Khách trà thường xuyên là các ông Chế Lan Viên, Tô Hoài, Nguyễn Công Hoan, Võ Huy Tâm… Các ông ghé chơi như là phụ huynh học sinh đến thăm thầy giáo cho thêm phần gắn bó. Mặt khác xưa nay “thanh khí lẽ hằng”, các ông đến thăm chúng tôi ít ra cũng coi là những bạn tri âm tri kỷ hiếm có ở chốn đồng quê ven núi heo hút này…Dời khỏi đô thành Hà Nội chạy máy bay Mỹ, sơ tán về đây, các văn nhân thi sĩ tìm thấy ở ngôi trường chúng tôi một chút không khí thi văn đỡ ghiền… Trò chuyện với chúng tôi vốn là những “fan” hâm mộ của các ông từ lâu. Trà Thái nguyên đắt và hiếm, tôi cũng chẳng e ngại đạp xe đi chợ xa mua…

Nhớ hình ảnh Chế Lan Viên nụ cười mộc mạc, dễ mến. Quần kaki xắn gấu lên một hai nếp, ông đi bộ vô sân trường, ngang qua ông Chiến ngồi sửa xe đạp ở cổng trường, nói “chào bác Chiến” rồi đi vô khu nhà ở giáo viên…Ông thường ghé phòng hiệu trưởng Nguyễn Ngọc Hưng quê Hà Nam, ông Hưng cho con gái đi gọi Ngọc qua pha trà hút thuốc. Chế Lan Viên có lần báo tin “anh Phùng Quán mới trở về Hội…”. Chiều mình dạo chơi ra bờ sông Đáy thấy Phùng Quán tiên sinh ngồi trầm tư câu cá (như ông Lã Vọng nhà Chu câu cá chờ thời)…

Lúc ấy cô bé Phan Thị Vàng Anh mới lọt lòng mẹ, chưa đi học nên mình không biết tới (con bà Vũ Thị Thường, Vàng Anh theo họ cha Phan Ngọc Hoan tức Chế Lan Viên)… Ai ngờ ba mươi năm sau trở thành nhà văn trẻ nổi tiếng đương đại với tập truyện ngắn “Khi người ta  trẻ”…

Lại nhớ có một buổi tối, thấy học trò chạy nháo nhác vô sân trường tìm hiệu trưởng Hưng và bí thư Đoàn (Ngọc) báo tin con trai ông Tô Hoài bị thiếu niên làng vây đánh đang chạy trốn… Cuối cùng nhà trường cũng hòa giải được. Nguyên nhân thật buồn cười, con ông Tô Hoài công tử Hà Nội ăn mặc đỏm dáng đi qua vũng nước bị mấy thằng thiếu niên làng ném hòn đất xuống vũng nước cho văng nước lên quần… Thằng con ông TH chửi lại vài câu, chúng kéo nhau vây đánh. Con trai nhà văn bỏ chạy. Bây giờ nghĩ lại thực buồn cười về cái mâu thuẫn nông thôn – thành thị hồi xưa. Lại nhớ chuyện “Vợ chồng A Phủ”, chàng A Phủ yêu cô Mỵ cũng bị trai làng đứng đầu là A Sử ghen tức vây đánh. Ô hay, văn chương do nhà văn viết ra lại “vận” vào cuộc đời của nhà văn. Hi hi…

Vẫn nhớ hình ảnh Nguyễn Công Hoan ăn mặc như một viên chức thời Pháp, đội mũ phớt nỉ xanh lịch sự lắm, ưa thả bộ trong xóm, lặng lẽ… Nữ sĩ cao niên Anh Thơ có chồng là bác sĩ Bùi Viên Dinh, hai vợ chồng không sinh con, bèn nuôi con nuôi là Bùi Cẩm Thơ. Con bé Cẩm Thơ nhỏ nhắn xinh đẹp, lanh lẹ hoạt bát, học lớp 7 do mình chủ nhiệm và dạy Toán. Con bé rất hãnh diện vì đang nổi tiếng “thần đồng thơ” cùng lứa với Trần Đăng Khoa, Nguyễn Hồng Kiên do Nhà xuất bản Kim Đồng lăng-xê. Cô bé đưa ra khoe tập thơ do Trần Đăng Khoa ký tặng… Lúc ấy mình dạy Toán nên chưa biết thưởng thức phê bình… Thực ra Trần Đăng Khoa làm thơ hay hơn hẳn bạn bè cùng lứa. Cô bé Cẩm Thơ nổi tiếng với một câu thơ “Muốn xin chiếc mũ tai bèo / Làm cô giải phóng được trèo Trường Sơn“. Hồi ấy nghe câu này thấy hay hay, nghĩ kỹ  thấy nó nhạt nhẽo mặc dù khoa trương, có vẻ kỹ thuật gieo vần, sánh sao được Trần Đăng Khoa… Mình nghĩ rằng, có lẽ nữ sĩ Anh Thơ “gà bài” cho con gái nuôi. Lại nghĩ, ngay từ nhỏ mà một “thần đồng” đã tự mãn thì không đi được xa, dù đã xuất bản một tập thơ từ tuổi thiếu niên. Quả nhiên về sau Cẩm Thơ sa sút về thơ, tìm được nghề làm báo “Khăn quàng đỏ”. Bây giờ chắc hẳn cô bé lập nghiệp ở Sài Gòn, không nghe tin tức gì nữa…

Sang đầu năm 1973, Hiệp định Paris ký kết và có hiệu lực, quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam. Văn phòng Hội nhà văn và Tạp chí Tác phẩm mới lại rút về Hà Nội… Ngọc cũng xin chuyển được về dạy trường trung học cơ sở Đức Thượng huyện Hoài Đức quê nhà…

Năm 1975 bị điều đi miền Nam tiếp quản nền giáo dục của chế độ Việt Nam cộng hòa,  Ngọc làm hiệu trưởng một trường trung học ở  tỉnh Hậu Giang và trải qua nhiều chức vụ quản lý khác…Cuộc giao tiếp với các nhà văn nổi tiếng vào năm 1972 ấy để lại ấn tượng sâu đậm, tí men văn chương say ngan ngát… Kỷ niệm giao tiếp với các nhà văn năm ấy xui khiến mình dự thi vào Khoa Ngữ văn hệ tại chức khóa 1 của ĐHSP Hà Nội đặt cơ sở liên kết với Đại học Cần Thơ, năm 1978.  Ngọc mang theo vô Nam tập thơ đầu tay sáng tác về Chùa Hương năm 1972 dưới ảnh hưởng của các nhà thơ  năm ấy…Tiếc thay, trải qua mấy chục năm lăn lộn ở mền Nam, chùm quả đầu mùa ấy đã thất lạc tự bao giờ không biết!

Kỳ tới:

Nhớ lại tập thơ đầu tay viết về Chùa Hươnnay đã thất lạc


Thú ăn chơi bốn mùa và thơ cổ

Đăng ngày: 11:10 14-02-2011

Thư mục : Tiểu luận

   (Đã đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ ngày 02.03.2011)

Tháng Giêng là tháng ăn chơi”, gần đây nhiều người phê phán câu tục ngữ này là lạc hậu. Ý họ nói nguyên cả tháng Giêng ăn chơi thì lãng phí quá.

Tuy nhiên các bậc tiền nhân lại cho rằng thú chơi thì suốt cả bốn mùa 12 tháng, đâu chỉ tháng Giêng !

Vấn đề chỉ là tùy cách chơi mà thôi. Tùy vào cách hiểu tiếng “chơi” của mỗi người.

Ngày nay người ta có những kiểu chơi ngông, sao cho “thời thượng”, nhất thiết phải là ăn chơi tốn tiền, ăn chơi “khủng”, tìm cảm giác mạnh. v.v…Đi du lịch thì phải đi xa, tới tận Thái Lan, Singapore để khẳng định “đẳng cấp”… Họ không cần biết đến những nơi ấy để thưởng thức cái gì. Mang về cái hộ chiếu và vài vật gì đó có dấu hiệu nước ngoài để khoe mẽ với bạn hữu là khoái rồi (!)

Nhân đây tôi bàn tán vài nét về lối ăn chơi ngày xưa qua mấy bài thi ca cổ, chỉ mong tìm bạn tri âm tri kỷ.

Đọc thơ cổ, ta thấy cách ăn chơi của cổ nhân thường gắn liền với thiên nhiên, khí hậu thời tiết và sản vật từng mùa.

Thi hào Nguyễn Du cũng nói về cái thú  “ăn đúng mùa”:

Thì trân thức thức sẵn bày

Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường.

(Truyện Kiều)

“Thì trân” là “thức ăn đúng mùa”. Thưởng thức món ngon theo mùa là tối ưu nhất, rẻ và ngon nhất. Triết lý Lão Trang thuận theo tự nhiên như vậy hóa ra cũng đơn giản, chẳng cao siêu gì. Ai cũng thực hiện được.

Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng tâm đắc ba việc (ăn, uống, tắm):

Thu ăn măng trúc đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp

Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.

(Cảnh nhàn)

 

 

 

     

 

 

 

 

 

 

 Câu 2 – Xuân tắm hồ sen

Nhà thơ  thong thả “nhắp” từng ngụm rượu nhỏ, thưởng thức từng giọt rượu (chứ không dzô 50 hay 100% như cách uống của lớp người hiện đại sành điệu), lại càng không thể bỏ thêm vài cục nước đá khiến rượu ngon loãng lợt đi.

Ta lại thưởng thức bài Tứ thời thi (Bài thơ bốn mùa) của cổ nhân:

Xuân du phương thảo địa 

Hạ thưởng lục hà trì 

Thu ẩm hoàng hoa tửu 

Đông ngâm bạch tuyết thi.

(theo tuyển tập thơ “Thần đồng”, Trung Quốc)

(Tạm dịch: Mùa xuân lãng du vùng cỏ non. Hè đến tắm ở hồ trồng sen. Mùa thu uống rượu hoa cúc. Đông về ngâm thơ bạch tuyết).

Cổ nhân viết “du” tức là “bước chân lên thảm cỏ”.  Tiếc rằng ngày nay đồng cỏ, bãi cỏ  đang bị thu hẹp dần. Nói vậy nhưng ta chịu khó ra xa thành phố dăm bảy cây số vẫn còn bãi cỏ, vườn cây, bãi sông… tuy không nhiều. Thực ra, bạn có thấy thích thú khi bước chân trần trên thảm cỏ hay không mà thôi.

Cổ nhân viết chữ “thưởng” tức là “ngâm mình trong nước và lắng nghe cái mát mẻ thơm ngát nước hồ sen”. Không có hồ sen thì ao súng, ao bèo cũng được.

Hai chữ ấy (du, thưởng) là linh hồn của bài ngũ tuyệt. Người làm thơ hiện đại có thể học được hai chữ ấy, hà tất viết thơ cứ phải “nói nhiều” với lời lẽ đao to búa lớn !.

Nào đâu phải chi xài nhiều tiền bạc cho những món đắt tiền mới gọi ăn chơi !Vậy mục đích của ăn chơi là gì đây ?

 Xin đọc một bài thơ thiền của thiền sư Tuệ Khai phái Vô Môn:

 Bình thường tâm thị đạo

Xuân hữu bách hoa, thu hữu nguyệt 

Hạ hữu lương phong, đông hữu tuyết 
Nhược vô nhàn sự quái tâm đầu 
Tiện thị nhân gian hảo thời tiết.

  Dịch

Xuân có trăm hoa, thu có trăng
Hạ về gió mát, tuyết đông giăng
Ví lòng thanh thản không lo nghĩ
Ấy buổi êm đềm chốn thế gian.

       (Thiền sư Nhất Hạnh dịch)

  Bài thơ kể chuyện ngắm hoa, thưởng trăng sáng, hứng gió mát và sẵn lòng đón cái giá lạnh của đất trời. Vậy cũng đủ bao niềm vui thú.

Tựa đề bài thơ khá độc đáo với hai chữ “bình thường”.Và nói rõ cái mục đích của ăn chơi mọi thời là đạt được “tâm thanh thản”.

Hóa ra các cụ ngày xưa sành sỏi hơn lũ hiện đại chúng ta rất nhiều

PHN

Hôm nay ngày Gia đình Việt Nam

Hôm nay ngày Gia đình Việt Nam 2011

khai trương trang Blog mới với trợ lý

Lê Phùng Trung Kiên từ Hà Nội.

Trăng nghẹn

Tác gỉa Hoài Tường Phong ở Cần Thơ viết bài thơ này, được BGK chấm giải nhất.

Nhưng Ban tuyên giáo thành ủy CT

can thiệp hủy bỏ

Mẹ sinh tôi vào một đêm rằm mưa gió ngày xưa,

Lúc chào đời đã lỡ hẹn cùng vầng trăng viên mãn.

Vùng tản cư hồi nầy ruộng hoang nhà trống,

Rước được bà mụ vườn, ngoại cực trần thân.

Tôi lớn trong quê mùa như cây tạp vườn hoang,

Bảy tuổi biết leo lưng trâu, không từng ngồi xe đạp.

Không biết lời bải buôi để mua lòng người khác,

Nên thua thiệt cả đời vì không thể dối lừa ai.

Ngơ ngác buổi ra thành, trước cuộc sống đua chen,

Mười năm sau chưa gội rửa cho mình thành dân chợ.

Lớp phèn hết bám chân, nhưng chất chân quê còn đó,

Tôi tranh thủ những tháng hè, thích về lại thăm quê.

Bè bạn theo đuôi trâu một thời, mơ ước nhìn tôi,

Tưởng tôi thoát kiếp ngài, nhởn nhơ hóa bướm.

Tôi nhìn vẻ hồn nhiên của đám bạn xưa thèm quá,

Cộng một chút phù hoa đâu thêm lớn tâm hồn.

Mỗi lần về quê bè bạn cũ lại vắng hơn,

Gái mười bảy đã lấy chồng, trai hai mươi đòi vợ.

Cô bạn xưa nách con ngang nhà mua chịu rượu,

Đôi mắt ướt một thời bẻn lẻn ngó bàn chân.

Xóm bên sông nhiều cô gái rời quê,

Về thăm nhà xênh xang lụa là hàng hiệu.

Vài căn nhà xây, đổi đời nhờ những đồng tiền báo hiếu,

Khởi sắc một vùng quê sao nghe có chút bùi ngùi.

Đồng bằng quê hương tôi nhiều cái nhất ngậm ngùi:

Sản lượng lúa nhiều, vùng cá ba sa lớn nhất,

Đầu tư văn hóa thấp và khó nghèo cũng nhất,

Và cũng dẫn đầu, những cô gái lấy chồng xa.

Chập tối buồn ra nhìn bến nước cô đơn,

Vầng trăng vừa lên đã bị mây mưa vần vũ.

Tôi chợt nhớ lần lỗi hẹn đầu đời, trăng cũ,

Vầng trăng nghẹn hoài, chưa tỏa sáng một vùng quê.

雷雨剧本 Lôi vũ- kịch bản Hán ngữ

       雷雨-剧本


  

  景 Cảnh
     

  序幕  Tự mạc (trang 2)
  在教堂附属医院的一间特别客厅内--冬天的一个下午。

  
  第一幕  Đệ nhất mạc (Màn 1)

    十年前,一个夏天,郁热的早晨。--周公馆的客厅内(即序幕的客厅,

    景与前大致相同。)
  
  第二幕  Đệ nhị mạc (Màn 2)
  景同前--当天的下午。

  
  第三幕    Đệ tam mạc (Màn 3)
  在鲁家,一个小套间--当天夜晚十时许。

  
  第四幕 Đệ tứ mạc (Màn 4)
  周家的客厅(与第一幕同)--当天半夜两点钟。
  
  尾声  Vĩ thanh (trang 113/117)
  又回到十年后,一个冬天的下午--景同序幕。
  (由第一幕至第四幕为时仅一天。)
  
(more…)

Mây thẻ