"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

THI CA TỪ TRUNG HOA

Phần 2

唐 诗 一 百 首

Đường thi nhất bách thủ

(Một trăm bài thơ Đường)

Tiền ngôn

       Xin bắt đầu bằng câu thơ của thi hào Nguyễn Du (trong bài Hán Dương vãn diểu, tập Bắc hành tạp lục). Nguyễn  Du cảm tác khi đứng ngắm dòng sông Hán Dương trong bài thơ Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu:

                                                 诗 成 草 树 偕 千 古

“Thi thành, thảo thụ giai thiên cổ”

[ Bài thơ làm xong, cỏ cây (và bài thơ) đều đã trở thành thiên cổ ]

Nguyễn Du đã nêu lên một quan niệm thơ độc đáo về văn chương. Hiểu cách thứ nhất là: Bài thơ (đồng nhất với nhà thơ) vừa được viết xong thoắt trở thành quá khứ (thiên cổ) hoặc cái chết (thiên cổ). Hiểu cách thứ hai: bài thơ sẽ có sức sống nghìn năm sau (thiên cổ vị lai) như cỏ cây. “Cỏ cây” là hình ảnh đại diện cho thiên nhiên hoang sơ nhưng sức sống muôn đời. Bài thơ và nhà thơ hoà với cỏ cây trở thành một thứ “thiên nhiên”. Mơ hồ nhất là ý nghĩa chữ “thiên cổ”, vừa chỉ quá khứ lại có thể chỉ vị lai… Câu thơ hàm súc bí ẩn lạ !

       Đọc một bài thơ hay, ta thấy cuộc sống trở nên thư thả, nhân sinh quan có thể đổi khác. Trộm nghĩ, thơ  không thích hợp với công nghiệp hoá hiện đại hoá, thơ sẽ mãi mãi thủ công hoá và cổ điển hoá. Một cây bút, một mảnh giấy thêm vào cho một tâm hồn là đủ cho thơ. Đọc thơ rồi trò chuyện với nhau cũng thấy nhiều tâm đắc thú vị ở  đời !

        Đường thi và người Việt Nam

   Hai bên thân quen với nhau từ lâu lắm rồi, và không bao giờ tách ra được nữa. Đường Thi đã được Việt hoá nhuần nhuyễn. Nhiều bài thơ Việt Nam của các nhà sư thời Lý, vua Trần, Nguyễn Trãi, vua Lê, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh… Đường Thi sẽ còn sống mãi cùng người Việt Nam.

Tiêu chí lựa chọn tuyển tập “Đường thi nhất bách thủ”

100 bài  lựa chọn sao cho thể hiện sự đa dạng phong phú của Đường Thi.  Đặc biệt, trong tập thơ này có tới 11 bài được tuyển chọn vào sách giáo khoa Văn trung học, chưa kể ở đại học, cao đẳng. 100 bài chỉ là con số nhỏ trong khoảng non 1000 bài lưu hành ở Việt Nam, trong khoảng 54 000 bài Đường Thi  đã được sưu tập ở Trung Quốc… Nhưng đây là 100 bài ưu tú, nổi bật và khá quen thuộc với người Việt Nam. 100 bài được sắp xếp theo trật tự abc âm Hán Việt cho dễ lật đọc.

 Cách biên soạn từng bài thơ 

         Đầu tiên là văn bản nguyên tác, kế đó là phiên âm Bắc KInh, phiên âm Hán Việt, dịch nghĩa và  dịch thơ (chỉ chọn một số bản dịch hay). Sau một số bài có chú thích cần thiết để hiểu bài thơ. Một số bài ghi thêm gợi ý cho sinh viên khi học tập văn học Trung Quốc. Nhiều bài chúng tôi nghĩ là nội dung chất phác, giản dị minh bạch, nếu lại chen thêm lời bình e rằng dư thừa, ảnh hưởng tới cảm nhận tự nhiên của bạn đọc nên không ghi thêm. Một số bài ghi cả lời bình tuỳ hứng của soạn giả. Lời bình này mang tính cá nhân nhưng có thể gợi hướng phân tích cho học sinh, sinh viên. Cũng là ý kiến nêu ra trao đổi cùng bạn tri âm tri kỷ. Tác phẩm nghệ thuật có thể hàm chứa những lớp ý nghĩa khác nhau. Mỗi người đọc có quyền cảm nhận riêng… Nhưng nếu là bài thi của học sinh sinh viên thì sao ? Trước hết giáo viên có một đáp án mở. Đáp án đó có phần “cứng” là nội dung khách quan của văn bản và ý nghĩa gợi ra từ cuộc đời của nhà thơ và hoàn cảnh đương thời. Học sinh sinh viên có thể cảm nhận theo chủ quan nhưng phải trên cơ sở  ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm. Cảm nhận đó phải mang tính văn chương, hợp lý, hợp thời thì mới được chấp nhận (phần “mềm”). Đó là quyền tự do dân chủ sáng tạo của học sinh sinh viên khi làm văn, khác với sự cảm  nhận tuỳ tiện lung tung, thiếu tính thẩm mĩ.

Bạn đọc có thể xem nguyên tác Hán ngữ, ngắm mỗi bài thơ như một bức tranh chữ. Mặt khác, phần phiên âm  tiếng Trung khiến bạn đọc tự lẩm nhẩm đọc theo mà thực hành tiếng cũng rất lí thú. Nếu so đọ âm Hán với âm Hán Việt, ta sẽ thấy “trài trại, na ná” và hiểu vì sao các cụ ngày xưa không đọc nguyên âm gốc Hán. Thiển nghĩ, chỉ là vì phát âm Hán Việt đơn giản hơn, dễ dàng hơn thôi !

Hoàng đế Thuận Trị (顺值) từng dạy hoàng tử Khang Hy (闶希) rằng:

立 身 以  至 诚 为 本. 读 书 以 明 理 为 先

Lì shēn yǐ zhì chéng wéi běn. Dú shū yǐ míng lǐ wéi xiān

Lập thân dĩ chí thành vi bản. Độc thư dĩ minh lý vi tiên .

                  (Lập thân lấy sự chân thành làm căn bản. Đọc sách trước hết phải hiểu nghĩa lý )

Đọc thơ cổ điển Hán ngữ cần nhất là hiểu đúng nghĩa lý của nguyên tác, việc dịch thành thơ Việt chưa cần gấp. Tài liệu này muốn hỗ trợ bạn đọc sinh viên điều đó thôi.

Đi vào Đường thi, chúng ta lạc vào một thế giới khác, cổ xưa mà hiện đại. Giữa thời buổi nhiễu loạn các loại hình giải trí, tìm đến thơ cổ điển là tự bảo vệ, tránh rơi vào tình trạng tha hóa thẩm mỹ. Sự thanh tĩnh, ấm áp tâm hồn do thơ cổ điển mang lại  thực là một điều thú vị .

Biên giả ngỏ lời chân thành cảm tạ quí vị tác giả, dịch giả tiền bối đã làm ra những sách tham khảo (xem phần TÀI LIỆU THAM KHẢO ở cuối tập). Với khả năng Hán ngữ nông cạn, biên giả đã nhận thấy có một số bản dịch nghĩa sơ sài, đôi khi chưa chuẩn xác trong các sách soạn ở Việt Nam. Vậy nên biên giả đã dịch lại những bài ấy cho thật sát nghĩa. Lại còn có những lỗi in sai chữ Hán, lầm chữ Hán Việt cũng cần bổ khuyết hiệu đính.

Đặc biệt, biên giả còn phiên âm Bắc Kinh để tiếp cận tiếng nói của thơ. Nếu bạn hữu có hứng thú thì cũng dễ  luyện thêm tiếng Hán, nghe rõ tiếng nói của thi nhân.

Tập sách này chắc hẳn còn những sai sót về chính tả, phiên âm Hán ngữ hoặc những câu dịch chưa sát nghĩa. Mong được chỉ giáo.

 

P   Cẩn bút

Biên giả

ĐƯỜNG THI NHẤT BÁCH THỦ

唐  诗  一  百  首   

1.   Ân chế tứ thực vu Lệ Chính điện thư viện yến phú đắc lâm tự   [Trương Thuyết]

恩 制 赐食于丽正 殿书院宴赋得林字

2.   Bái tân nguyệt    拜新月    [Lí Đoan]

3.   Bần nữ         贫女              [Tần Thao Ngọc]

4.   Cẩm sắt     锦瑟                 [Lí Thương Ẩn]

5 .  Chương Đài liễu   章台柳 [Hàn Hoành và Liễu thị]

6.   Cung oán          宫怨         [Tư Mã Lễ]

7.  Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ  九月九日忆山东兄弟 [Vương Duy]

8.   Dao sắt oán   瑶 瑟 怨      [Ôn Đình Quân]

9.   Diễm nữ  từ     艳女词       [Lương Hoàng]

10.  Dịch thuỷ tống biệt 易水送别 [Lạc Tân vương]

11.  Du tử ngâm      游子吟      [Mạnh Giao]

12.  Đào hoa khê  桃花溪         [Trương Húc]

13.  Đáp  nhân    答 人            [Thái thượng ẩn giả]

 14. Đăng cao        登 高            [Đỗ Phủ]

15.  Đăng U châu đài ca 登 幽 州 台 歌  [Trần Tử Ngang]

16.  Đằng Vương các tự 藤王阁 序          [Vương Bột]

17.  Đề đô thành nam trang 题 都 城 南 庄 [Thôi Hộ]

18.  Đề cúc hoa    题 菊花              [Hoàng Sào]

19.  Điểu minh giản 鸟鸣涧             [Vương Duy]

20.  Đông Dương tửu gia tặng biệt 东阳酒家赠别 [Vi Trang]

21.  Độ Tang Càn   渡桑乾             [Giả Đảo]

22.  Độc Lí Bạch tập 读李白集      [Trịnh Cốc]

23.  Độc toạ Kính Đình sơn 独坐敬亭山 [Lí Bạch]

24. Giang tuyết   江雪                 [Liễu Tông Nguyên]

25. Hàn thực      寒 食                 [Hàn Hùng]

26. Hành  lộ nan 行  路  难         [Lí Bạch]

27. Hoài thượng biệt cố nhân 淮上别故人 [Trịnh Cốc]

28. Hoàng Hạc lâu 黄 鹤 楼        [Thôi Hiệu /Thôi Hạo]

29. Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng 黄鹤 楼 送孟浩然之广陵 [Lí Bạch]

30. Hoàng Hạc lâu văn địch  黄 鹤 楼 闻 笛  [Lí Bạch]

31. Hồi  hương ngẫu thư 回 乡偶 书              [Hạ Tri Chương]

32. Khiển hoài    遣 怀                                     [Đỗ Mục]

33. Khúc Giang ức Nguyên Cửu 曲 江 忆亿 元久    [Bạch Cư Dị]

34. Khuê oán  闺 怨    [Vương Xương Linh]

35. Khử phụ   去妇      [Mạnh Giao]

36. Kim lũ y  金缕衣    [Đỗ Thu Nương]

37. Kinh Lỗ, tế Khổng Tử nhi thán chi 经鲁祭孔子而叹之  [Ðường Huyền Tông]

38. Kí  Đỗ Vị  寄 杜位   [Đỗ Phủ]

39. Kí phu  寄夫     [nữ sĩ Trần Ngọc Lan]

40. Lâm Giang tống Hạ Chiêm 临 江送 夏瞻  [Bạch Cư Dị]

41. Lục ngôn tuyệt cú 六言绝句  [Vương Duy]

42. Lương Châu từ  凉州词  [Vương Hàn]

43. Lưu biệt Vương Duy 留别王维  [Mạnh Hạo Nhiên]

44. Lưu Nguyễn du Thiên Thai刘阮遊天台  [Tào Đường]

45. Lưu Nguyễn động trung ngộ tiên tử  刘阮洞中遇仙子 [Tào Đường]

46. Lưu Nguyễn tái đáo Thiên Thai bất phục kiến chư  tiên tử 刘阮再到天台不复见诸仙子

[Tào Đường]

47. Mạch thượng tặng mĩ nhân 陌 上 赠 美 人                       [Lí Bạch]

48. Mao ốc vị thu phong sở  phá  ca茅屋为秋风所破歌       [Đỗ Phủ]

49. Minh tranh     鸣筝                                                     [Lí Đoan]

50. Mộ xuân qui cố sơn thảo đường 暮春归故山草堂  [Tiền Khởi]

51. Mộng Lí Bạch   梦 李 白                                            [Đỗ Phủ]

52. Nguyệt dạ           月夜                     [Lưu Phương Bình]

53. Nguyệt hạ độc chước 月下独酌    [Lí Bạch]

54. Phong Kiều dạ bạc  枫 桥 夜 泊    [Trương Kế]

55. Phù Dung lâu tống Tân Tiệm 浮蓉楼送辛渐  [Vương Xương Linh]

56. Quá Hương Tích tự 过香积寺  [Vương Duy]

57. Quân  hành     军 行                   [Lí Bạch]

58. Quy ẩn         归隐                     [Trần Phốc]

59. Quy gia          归家                   [Đỗ Mục]

60. Song yến ly   双 燕离               [Lí Bạch]

61. Sơ xuân tiểu vũ .初春小雨       [Hàn Dũ]

62. Sương nguyệt 霜月                  [Lí Thương Ẩn]

63. Tam niên biệt      三 年 别        [Bạch Cư Dị]

64. Tảo khởi       早起                      [Lí Thương Ẩn]

65. Tảo phát Bạch Đế thành 早发白帝城  [Lí Bạch]

66. Tân giá nương.   新嫁娘                      [Vương Kiến]

67. Tặc bình hậu tống nhân Bắc qui 贼平后送人北归 [Tư Không Thự]

68. Tặng Lí Bạch     赠李白                      [Đỗ Phủ]

69. Tặng Uông Luân       赠 汪 伦            [Lí Bạch]

70. Tầm ẩn giả bất ngộ 寻隐者不遇        [Giả Đảo]

71. Tần Hoài dạ bạc       秦淮夜泊          [Đỗ Mục]

72. Thạch Hào lại   石 壕 吏                    [Đỗ Phủ]

73. Thanh minh    清明                            [Đỗ Mục]

74. Thái liên khúc     采 莲曲                   [Lí Bạch]

75. Thiên mạt hoài Lí Bạch 天末怀李白  [Đỗ Phủ]

76. Thu hứng    秋兴                               [Đỗ Phủ]

77. Thu phố ca        秋浦歌                     [Lí Bạch]

78. Thu tứ       秋思                                   [Lí Bạch]

79. Tì bà hành   琵琶行 [Bạch Cư Dị]

80. Tiên tử tống Lưu Nguyễn xuất động  仙子送刘阮出洞         [Tào Đường]

81. Tiên tử động trung hữu hoài Lưu Nguyễn 仙子洞中有怀刘阮 [Tào Đường]

82.  Tiễn biệt hiệu thư Thúc Vân 宣州谢朓 楼饯别校书叔云…       [Lí Bạch]

83.  Tiết phụ ngâm  节 妇 吟 [Trương Tịch]

84.  Tĩnh dạ tư  静 夜 思       [Lí Bạch]

85.  Tống biệt  送别                [Vương Duy]

86.  Trúc lý quán  竹里馆       [Vương Duy]

87. Tuyệt cú     绝 句               [Đỗ Phủ]

88. Tử vi hoa      紫 薇花        [Bạch Cư Dị]

89. Tương giang    湘江         [Ý Nương giai thoại]

90. Tương tư    相 思            [Vương Duy]

91.  Văn Lạc Thiên thụ giáng Giang Châu tư mã闻乐天授降江州司马 [Nguyên Chẩn]

92. Vọng Lư Sơn bộc bố   望 庐山 瀑布    [Lí Bạch]

93. Vô đề              无 题                                 [Lý Thương Ẩn]

94.  Xích Bích hoài cổ  赤壁怀古                  [Đỗ Mục]

95. Xuân hiểu      春晓                               [Mạnh Hạo Nhiên]

96.  Xuân oán        春怨                                  [Kim Xương Tự]

97.  Xuân tịch lữ hoài  春夕旅怀   [Thôi Đồ]

98.  Xuân tình     春 晴                    [Vương Giá]

99.  Xuân tứ      春 思                      [Lí Bạch]

100. Xuân vọng          春望           [Đỗ Phủ]

Phụ lục 1.   Dữ  Nguyên Chẩn thư 与 元稹书    [Bạch Cư Dị]

Phụ lục 2.   Danh sách thi nhân thời Ðường xếp theo bốn giai đoạn.

 k Biên giả 

 


Bài 1.  Ân chế tứ thực vu Lệ Chính điện thư viện yến, phú đắc lâm tự

恩制赐食于丽正殿书院宴赋林字

Ēn zhì cì shí yú Lì Zhèng diàn shū yuàn yàn fù dé lín zì

[Được ơn vua ban yến tiệc  ở Lệ Chính điện thư viện, viết được bài thơ vần “lâm”]

          (Trương Thuyết 张 说 Zhāng Shūo)

东 壁 图 书 府

西 园 翰 墨 林

诵 诗 闻 国 政

讲 易 见 天 心

位 窃 和 羹重

恩 叨 醉 醴 深

载 歌 春 兴 曲

情 竭 为 知 音  

Dōng Bì tú shū fǔ

Xī yuán hán mò lín

Sòng Shī wén guó zhèng

Jiǎng Yì jiàn tiān xīn

Wèi qiè hé gēng zhòng

Ēn tāo zuì lǐ shēn

Zài gē chūn xìng qǔ

Qíng  jié wèi zhī yīn

 

Phủ Đông Bích chứa sách

Vườn phía Tây nhiều nho sĩ

Đọc Kinh Thi biết việc nước

Giảng Kinh Dịch hiểu lòng trời

Chức vụ cao nhiệm vụ cũng nặng

Chịu ơn vua ban cho chén rượu quí vừa uống say sưa

vừa hát khúc nhạc xuân

Tận tình vì người tri âm

  

Đông Bích đồ thư phủ

Tây viên hàn mặc lâm

Tụng Thi, văn quốc chính

Giảng Dịch, kiến thiên tâm

Vị thiết hoà canh trọng

Ân thao tuý lễ thâm

Tải ca xuân hứng khúc

Tình kiệt vị tri âm

      Dịch thơ

Đông Bích nơi vựa sách

Vườn tây học giả đầy

Đọc Thi nghe việc nước

Giảng Dịch thấy lòng trời

Chức trọng xin ra sức

Ơn dầy được rượu say

Thơ ngâm hoà điệu hát

Tạ ơn vua cao dày

(Ngô Văn Phú)

Chú thích

     ĐôngBích là tên hai ngôi sao trong nhị thập bát tú (chòm sao văn chương). Vì thế nhà Đường lấy hai chữ Đông Bích đặt tên cho thư viện hoàng gia  ở Lệ Chính điện.

Thi: Kinh Thi,  Dịch: Kinh Dịch .

“Thiên gia thi” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn 1998) đã nhầm lẫn: chữ cuối câu 6 in lầm là “đồng”, in đúng  phải là  “thâm”(toàn bài vần âm). Sách này dịch nghĩa câu 7 là:“Ngâm vang thơ, hoà theo lời nhạc chúc tụng”, e rằng chưa đúng nguyên tác. Phải dịch luôn câu 6 và 7 thành một câu liền mạch “vừa uống rượu vừa ca hát” chứ không phải “vừa ngâm thơ vừa hát”.

Bài thơ ca tụng cuộc sống thái bình thịnh trị thời nhà Đường.


Bài 2.    Bái tân nguyệt   拜新月 Bài xīn yuè 

Lí Đoan    李端  Lǐ Duān

      

开帘见新月

便即下阶拜

细语人不闻

北风吹裙带

  

 

 

 

 

Kāi lián jiàn xīn yuè

Biàn jì xià jiē bài

Xì yǔ rén bù wén

Běi fēng chuī qún dài

Lạy trăng mới

Mở rèm thấy vầng trăng mới

Liền bước xuống thềm vái trăng

Thì thầm nói không ai nghe thấy

Gió bấc thổi dải quần bay lên

Khai liêm kiến tân nguyệt

Tiện tức há giai bái

Tế ngữ nhân bất văn

Bắc phong xuy quần đới

    Dịch thơ

Mở rèm thấy tấm trăng non

Thềm trên bước xuống vái luôn trăng này

Khẽ lời khấn, chẳng ai hay

Thoảng cơn gió bấc thổi bay  dải quần

(Tản Đà)

Lời bàn

Yêu trăng sáng đến độ sùng bái như thế đấy ! Thi sĩ Lí Đoan nói “trăng mới” là  trăng đầu tháng (thượng huyền nguyệt).

Người đọc Việt Nam  từng tâm đắc câu thơ của Cao Bá Quát đề tranh:

十载轮交求古剑

一生低首拜梅花

“Thập tải luân giao cầu cổ kiếm

Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”

(Mười năm đi đó đây giao thiệp để tìm thanh kiếm cổ

cả đời chỉ biết cúi đầu trước hoa mai) .

      Câu 1: “thanh kiếm cổ” nói chí anh hùng

Câu 2: “hoa mai” nói cái thị hiếu đẹp thanh cao, tao nhã

Một người lạy trăng, người kia lạy hoa, kẻ sĩ phương Đông muôn đời chẳng mấy khác nhau . . .

P


Bài 3.     Bần nữ       贫女  Pín nǚ

Tần Thao Ngọc  秦 韬 Qín Tāo Yù

蓬门未识绮罗香拟托良媒益自伤谁爱风流高格调

共怜时世俭梳妆

敢将十指夸针巧

不把双眉斗画长

苦恨年年压金线

为他人作嫁衣裳

Péng mén wèi shí qǐ luó xiāngNǐ tuō liáng méi yì zì shāngShuí ài fēng líu gāo géiào

Gòng lián shí shì jiǎn shū zhuāng

Gǎn jiāng shí zhǐ kuā zhēn qiǎo

Bù bǎ shuāng méi dòu huà cháng

Kǔ hèn nián nián yà jīn xiàn

Wèi tā rén zuò jià yī cháng

O

Con gái nhà nghèoNhà tranh chưa biết mùi lụa làMuốn nhờ mai mối giúp lại ngại bẽ bàng

Ai thích phong lưu kiểu cách điệu đàng

Cùng thương người mộc mạc y trang

Dám lấy mười ngón kim chỉ khéo tay

Không cậy đôi mi nét kẻ dài . . .

Khổ nỗi hàng năm thêu kim tuyến

Cho người ta có trang phục tân hôn

Bần nữBồng môn vị thức ỷ la hươngNghĩ thác lương môi ích tự thương

Thuỳ ái phong lưu cao cách điệu

Cộng liên thời thế kiệm sơ trang

Cảm tương thập chỉ khoa châm xảo

Bất bả song mi đấu hoạ trường

Khổ hận niên niên áp kim tuyến

Vị  tha nhân tác giá y thường

 

Dịch thơ

Lụa là chưa bén mùi sang,

Muốn cậy băng nhân ngại bẽ bàng.

Ai thích thanh cao giàu cách điệu,

Cùng thương mộc mạc kém thời trang.

Dám khoe mười ngón đường kim khéo,

Không cậy đôi mi nét kẻ trường.

Ngán nỗi hàng năm thêu áo cưới

Để người làm dáng với tân lang.

(KD)

  Lời bàn

Việt Nam có bài thơ dài “Bần nữ thán” của tác giả khuyết danh (Vô danh thị), có thể xuất hứng từ bài “Bần nữ”. “Bần nữ thán” là một  khúc ngâm dài 216 câu song thất lục bát, chia ra 14 chương (khổ thơ) với các tiêu đề: Thân phận đài trang, Tạo hóa bất công, Lụa đào trước gió, Nguyệt lão trớ trêu, Hằng Nga thiên vị, Thế gian vô tình, Duyên phận hẩm hiu, Kiếp bần hàn, Nỗi niềm sầu tủi, An ủi phận mình, Bần nữ luôn hi vọng, Có lẽ ta đâu mãi thế này, Chờ đợi ngày mai tươi sáng .


Bài 4.      Cẩm sắt     Jǐn     

Lí Thương Ẩn  李 商 隐 Lǐ Shāng Yǐn

锦瑟无端五十弦一弦一柱思华年

庄生晓梦迷蝴蝶

望帝春心托 杜鹃

沧海月明珠有泪

蓝田日暖玉生烟

此情可待成追忆

只是当时已惘然

 

Jǐn sè wú duān wǔ shí xiánYì xián yī zhù  sī huā nián

Zhuāng shēng xiǎo mèng mí hú dié

Wàng dì chūn xīn tuō dǔ juān

Cāng hǎi yuè míng zhū yǒu lèi

Lán Tián rì nuǎn yù shēng yān

Cǐ qíng kě dài chéng zhuī yì

Zhǐ shì dāng shí yǐ wǎng rán

Đàn cầm sắt 50 dây, biết đâu là manh mối !Mỗi dây một trụ đàn nghĩ về tuổi hoa niên

Trang sinh  giấc mộng buổi sớm mơ hoá bướm

Vọng đế lòng xuân gửi vào chim đỗ quyên,

(Tiếng đàn như) bể xanh trăng sáng, ngọc trai ứa lệ

Ấm áp trời Lam Điền, ngọc sinh khói vẩn .

Tình này còn dằng dai ghi nhớ mãi

Hay chỉ là nỗi lòng gắt gay trong thoáng chốc !

 

Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyềnNhất huyền nhất trụ tư hoa niên

Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp

Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên

Thương hải nguyệt minh, châu hữu lệ

Lam Điền nhật noãn, ngọc sinh yên

Thử tình khả đãi thành truy ức

Chỉ thị đương thời dĩ võng nhiên

 

Chú thích

Cẩm sắt:  Theo truyền thuyết, cây đàn đầu tiên 50 dây do thần linh chế tác, giao cho thần Tố Nữ lưu giữ và dạy con người biết đàn. Từ đó sinh ra thể tài “tranh tố nữ” chuyên vẽ các nữ diễn viên, nhạc công thành các bộ tranh tứ bình đa dạng. Thành ngữ nói “duyên cầm sắt”. Ý nói mối duyên đẹp, lãng mạn như cây đàn cầm sắt .

Trang sinh : Trang Chu nhà triết học cổ đại với “giấc mơ hoá bướm” .

Vọng đế : vua nước Thục thời cổ đại, theo truyền thuyết nhường ngôi cho viên tướng Miết Linh, sau mất luôn cả vợ, khi chết hoá thành con chim quốc (đỗ quyên, đỗ vũ, tử qui) thường kêu “quốc quốc” tiếc rẻ ngai vàng.

Lam Điền: một vùng núi ở tỉnh Thiểm Tây nơi có nhiều ngọc quí .

Bài này dùng bản Đường thi tam bách thủ (Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2000) và hiệu đính phần dịch nghĩa cho chuẩn xác hơn. Đường thi tam bách thủ  in sai 2 chữ sau:

Câu 1 :   Huyền: dây đàn (xián: 弦) in sai thành (xuán: 玄) nghĩa là màu đen, huyền bí .

Câu 3 :   Hồ : 蝴 (hồ điệp: con bướm)  in sai thành: 湖 (cái hồ, ao)

Lời bàn:  Lí  Thương Ẩn  làm thơ phong cách lãng mạn, đài các quí tộc .

Phần sau ta sẽ đọc bài “Vô đề” của ông  rất quen thuộc với người Việt Nam .


Bài 5 .   Chương Đài liễu  章 台 柳  Zhāng tái liǔ

         Hàn Hoành (韩 横 Hán Héng) và Liễu thị (柳 氏 Liǔ shì)

Giai thoại

Hàn Hoành (hoặc Hàn Hồng) hồi trẻ chưa thành danh, yêu nàng kĩ nữ tên Liễu thị rồi cưới nàng làm thiếp. Sau Hàn đi làm quan nơi xa, gặp thời chiến loạn nên không mang theo Liễu thị, để nàng ở lại phố Chương Đài, kinh đô Trường An. Ba năm sau, Hàn cho người mang một gói vàng và lá thư về cho Liễu. Lá thư ghi một bài thơ. Đọc thư, Liễu cảm động rơi lệ, cảm tác bài thơ hồi đáp mà gửi cho Hàn.  Về sau Liễu thị bị viên tướng kiêu binh là Sa Tra Lợi bắt làm thiếp, rất ưu ái nàng. Ngày  trở về Hàn Hoành chỉ biết buồn bã khôn nguôi chẳng biết làm sao gặp lại nàng được. May sao có một người bạn là Hứa Tuấn cảm thông với Hàn, dũng cảm lập mưu cướp lại Liễu thị đưa về cho Hàn. Vợ chồng thi nhân lại được sum họp đầm ấm.

         Hàn Hoành gửi Liễu thị

章台柳. 章台柳昔日青 青今在否

纵 使长条似旧垂

也应 攀折他人手

 

 Zhāng tái liǔ, zhāng tái liǔ

Xī rì qīng  qīng jīn zài fǒu

Zòng  shǐ cháng  tiáo zì jiù chuí

Yě yīng  pān zhé tā rén shǒu

Liễu Chương ĐàiLiễu Chương Đài, liễu Chương Đài !

Ngày trước xanh xanh nay còn không ?

Cho dù cành dài còn rũ xuống như hồi ấy

Có lẽ đã bẻ vào tay người khác rồi .

 

 Chương Đài Liễu Chương Đài liễu, Chương Đài liễu.!

Tích nhật thanh thanh kim tại phủ  ?

Túng sử trường điều tự cựu thuỳ

Dã ưng phan chiết tha nhân thủ.

 

Dị bản :  Câu chót là Cũng nên bẻ vào tay người khác”, Hàn Hoành  tỏ ý

thông cảm  với Liễu thị cho dù nàng có đi theo người khác.

Dịch thơ

Liễu ơi, hỡi Liễu Chương Đài

Ngày xưa xanh biếc, hỏi nay có còn ?

Ví tơ buông vẫn xanh rờn,

Hay vào tay khác có còn nguyên xưa ?

                                                                                    (Nguyễn Tử Quang)

          Liễu thị hồi đáp : 柳 氏 回 答 (Liǔ shì huí  dá)

杨 柳 枝 , 芳 非 节可 恨 年 年 赠 离 别

一 叶 随 风 忽 报 秋

从使 君 来岂 堪 折

 

 

Yáng  liǔ  zhī, fāng  fēi  jié

Kě  hèn  nián  nián  zèng  lí  bié

Yī  yè  suí  fēng  hū  bào qiū

Cóng  shǐ  jūn lái qǐ  kān zhé

Liễu thị  trả lời

 

Cành dương liễu đang độ tốt tươi

Đáng giận năm năm phải tặng cho sự biệt li

Một chiếc lá theo gió chợt báo thu sang

Cho dù anh có đến thì làm sao có thể bẻ được nữa !

Dương liễu chi, phương phi tiếtKhả hận niên niên tặng li biệt

Nhất diệp tuỳ phong hốt báo thu,

Tùng sử quân lai khởi kham chiết !

Dịch thơ                               

Xanh non cành liễu đương tươi

Năm năm luống để tặng người biệt ly

Thu sang quyện lá vàng đi

Chàng về biết có còn gì bẻ vin !

                                                        (Nguyễn Tử Quang dịch)

    Lời bàn

Trong Truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du viết :

Nhớ lời nguyện ước ba sinh.

Xa xôi ai có thấu tình chăng ai  ?

Khi về hỏi liễu Chương Đài

Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay  ?

Bà Huyện Thanh Quan cũng viết :

CẢNH CHIỀU HÔM

Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn

Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn

Gác mái ngư ông về viễn phố

Gõ sừng mục tử lại cô thôn

Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi

Dặm liễu sương sa khách bước dồn

Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ

Lấy ai mà kể chuyện hàn ôn  !

Hai thi sĩ Việt Nam đều  tâm đắc hình ảnh Liễu Chương đài và vận dụng rất tự nhiên điển cố này. Nguyễn Du chọn cây liễu Chương Đài để viết về tình trai gái (Thuý Kiều tưởng tượng rằng khi chàng Kim quay lại tìm mình, chàng sẽ bồi hồi lo lắng). Còn Bà Huyện Thanh Quan có lẽ viết về người tri âm tri kỉ chứ không phải tình yêu trai gái (chắc bà không coi chồng như cây “liễu yếu đào tơ”)… Mỗi nghệ sĩ yêu cây liễu theo cách riêng.

Nhìn thấy dáng liễu ai mà chẳng khỏi yêu. Ở Việt Nam cây liễu rất hiếm hoi, chỉ có ít ở miền Bắc, cây dương liễu là một biểu tượng của Thăng Long. Bờ hồ Hoàn Kiếm có một ít cây liễu xoã tóc soi mình xuống làn nước xanh.


Bài 6.      Cung oán   宫怨

Tư Mã Lễ    司马礼 Sī Mă Lǐ

          柳影参差掩画楼晓莺啼送满宫愁

年年花落无人见

空逐春泉出御沟

Gōng yuànLiǔ yǐng cēn cī yǎn huà lóuXiǎo yīng tí sòng mǎn gōng chóu

Nián nián huā luò wú rén jiàn

Kōng zhú chūn quán chū yù gōu

 

 

Nỗi oán hờn trong cung

Bóng liễu loi thoi che lầu hoạ

Sáng sớm tiếng oanh hót xua nỗi buồn ngập cung điện

Hàng năm hoa rụng chẳng ai để ý

Trơ trọi trôi cùng suối xuân ra theo rãnh cung điện

  

Cung oán

Liễu ảnh sâm si yểm hoạ lâu

Hiểu oanh đề tống mãn cung sầu

Niên niên hoa lạc vô nhân kiến

Không trục xuân tuyền xuất ngự câu

Nỗi oán hờn trong cung

 

Tháp cao bóng liễu che lầu.

Oanh kêu giục giã tiếng sầu đầy cung,

Hoa rơi nào thấy ai trông,

Luống theo ngọn suối ra vùng ngự câu.

                                                                                              (Nguyễn Huy Như dịch thơ)

Chú thích

Dòng ngự: dòng nước suối (giả) trong vườn nhà vua

Tuy không nói rõ “ai ” (vô nhân)  nhưng chắc đó là nhà vua.

Lời bàn 

Đọc Cung oán của Tư Mã Lễ, không khỏi nhớ đến Cung oán ngâm khúc viết bằng chữ Nôm của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều. Nhà thơ Việt Nam đã viết một bản ngâm khúc song thất lục bát, dài tới 356 câu, thoả mãn hơn bài tứ tuyệt của thi sĩ họ Tư Mã nhà Đường. Mặt khác Ôn Như Hầu còn  mượn thân phận người cung nữ để than thở số phận mình, bộc lộ khát vọng của nhà thơ, triết lý của nho sĩ trước cuộc đời nhốn nháo đảo điên thời Lê-Trịnh….

 

 


Bài 7.   Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ

                  

                 

Vương Duy 王 维 Wáng Wéi

独 在 异 乡 为 异 客

每 逢 佳 节 倍 思 亲

遥 知 兄 弟 登 高 处

遍 插 茱 萸 少 一 人 

Jiǔ yuè jiǔ rì yì Shān Dōng xiōng dì

Dú zài  yì  xiāng  wéi yì  kè
Měi féng jiā  jié  bèi  sī qīn
Yáo zhī xiōng  dì  dēng  gāo chù

Biàn chā  zhū  yú shǎo yī rén

 

 

Ngày Tết 9 tháng 9 nhớ anh em Sơn Đông

Một mình ở xứ lạ làm người khách lạ

Mỗi lần gặp tiết đẹp lại nhớ người thân thích bội phần.

Tuy ở xa cũng đoán biết nơi anh em đang lên cao

Ai ai cũng cài cành thù du, chỉ thiếu một người

  

Cửu nguyệt cửu nhật ức

 Sơn Đông huynh đệ

Độc tại dị hương vi dị khách,

Mỗi phùng giai tiết bội tư nhân.

Dao tri huynh đệ đăng cao xứ,

Biến sáp thù du, thiểu nhất nhân

 

Chú thích

Ngày 9 tháng 9 âm lịch gọi là Tết trùng cửu hoặc Tết trùng dương, bạn bè thân thích thường rủ nhau đi chơi (giống như đi cắm trại, picnic).

Dịch thơ

Chiếc gối quan hà nghiêng đất khách

Trùng dương tiết đến nhớ thương ai.

Cành thù tưởng lúc lên cao bẻ

Đủ mặt anh em thiếu một người

(Tùng Văn)

Lời bàn 

Câu mở đầu: “Một mình làm khách lạ nơi đất lạ”.

Bị “lạ” tới hai lần thì càng buồn hơn ! Lại  còn “một mình” nữa !

Mở đầu mấy lời ngắn ngủi thế mà nghe ra tầng tầng lớp lớp …

 


Bài 8.    Dao sắt oán

Ôn Đình Quân  温 庭 均  Wēn Tíng Jūn

冰 簟 银 床 梦 不 成

碧 天 如 水 夜 云 轻

雁 声 远 过 潇 湘 去

十 二 楼 中 月 自 明

 Yáo sè yuàn

Bīng diàn yín chuáng mèng bù chéng

Bì tiān rú shuǐ yè yún qīng

Yàn shēng yuǎn guò Xiāo Xiāng qù

Shí èr lóu zhōng yuè zì míng

Nỗi oán của đàn ngọc

Chiếu băng, giường bạc, mộng không thành

Trời xanh như nước, mây đêm mỏng nhẹ

Tiếng nhạn kêu, xa bay qua Tiêu Tương

Trong khoảng mười hai lầu một vầng trăng tự sáng

Dao sắt oán

Băng điệm ngân sàng mộng bất thành

Bích thiên như thuỷ, dạ vân khinh

Nhạn thanh viễn quá Tiêu Tương khứ

Thập nhị lâu trung, nguyệt tự minh

 Dịch thơ

Chiếu băng, giường bạc, mộng không thành

Mỏng nhẹ mây đêm, trời nước xanh

Qua khỏi Tiêu Tương, tiếng nhạn đuối

Mười hai lầu vắng, một vầng trăng.

                                                                                                             (Ngô Văn Phú)

Chú thích 

 

Dao sắt : Một loại đàn dây cổ, thường hoà tấu với đàn cầm . “Dao” là một loại ngọc đẹp được gắn vào phím đàn. Từ đó thành ngữ “duyên cầm sắt” nói sự hoà điệu đẹp đẽ của đôi trai gái yêu nhau. Xem lại chú thích bài 4 (Cẩm sắt) của Lý Thương Ẩn.

Sông Tiêu Tương: sông Tương phát nguyên từ Hải Dương sơn chảy ngang Hồ Nam rồi đổ vào hồ Động Đình. Ngọn sông Tiêu có một nhánh đổ vào sông Tương tại thị trấn Linh Lăng tỉnh Hồ Nam. Quen nói gộp lại là sông Tiêu Tương.

Sông Tiêu Tương trong truyền thuyết đã trở thành ẩn dụ nói nỗi niềm trai gái tương tư.

Ôn Đình Quân sống thời Vãn Đường,  phần nhiều thơ ông viết về tình yêu với lời thơ tình ái kín đáo, tao nhã.

Lời bàn

Người Trung Quốc cũng như phương Đông yêu âm nhạc đến mức còn làm thơ về âm nhạc. Phàm cái gì trở thành nguồn cảm hứng của thơ, nó đã trữ tình lắm. Âm nhạc có khi còn được đồng nhất với “tình yêu”.


Bài 9.     Diễm nữ từ  艳女词 Yǎn nǚ cí      

                  Lương Hoàng   梁簧  Liáng Huáng

露井桃花发

双双燕並飞

美人姿态里

春色上罗衣

自爱频开镜

时羞欲掩扉

不知行路客

遥惹五香归Lù jǐng táo huā fā

Shuāng shuāng yàn bǐng fēi

Měi rén zī tài lǐ

Chūn sè shàng luō yī

Zì ài pín kāi jìng

Shí xiū yù yàn fēi

Bù zhī xíng lù kè

Yāo rě wǔ xiāng gui

 Bài ca người đẹp

Hoa đào lộ tỉnh mọc ra

Song đôi chim yến cùng nhau bay

Mĩ nhân trong một dáng vẻ  riêng

Vẻ xuân xinh trên tấm áo lụa

Hài lòng nhiều lần mở kính ngắm

Lúc lại e thẹn muốn kéo cửa che

Chẳng biết có khách đang đi bên ngoài

Từ xa đã thưởng thức mùi thơm ngũ hương

 Diễm nữ từ

Lộ tỉnh đào hoa phát

Song song yến tịnh phi

Mĩ nhân tư thái lý

Xuân sắc thượng la  y

Tự ái tần khai kính

Thời tu dục yểm phi

Bất tri hành lộ khách

Dao nhạ ngũ hương qui

Chú thích và lời bàn: Có loại hoa đào tên là “lộ tỉnh”. “Ngũ hương” tức là “thanh mộc hương”(hương thực vật nguyên chất) một loại hương mĩ phẩm phụ nữ dùng trang điểm. Bài thơ tả một mĩ nhân với tâm lí  rất tinh tế, thú vị . Mĩ nhân nửa muốn phô ra sắc đẹp nửa lại e ngại muốn che giấu. Nhưng mùi hương thơm đã phát lộ thì không che giấu được, khách đi đường đã phát hiện thấy rồi.

“Diễm” và “lệ” là vẻ đẹp đặc biệt của người con gái, khác với chữ “mỹ” 美 đẹp chung chung. Chữ “diễm” gồm những nét phức tạp, có bộ “sắc” bên phải, bộ “đậu”bên trái dưới, trên là 2 bộ “điền” cân đối và hai bộ “thập” đối xứng qua nét sổ. Chữ “lệ” cũng rất hoa mĩ. Rất nhiều chữ khác chỉ vẻ đẹp của con người…Mĩ học Trung Hoa thực phong phú được biểu lộ ngay trên nét chữ. Nhìn nét chữ đã thấy vẻ đẹp của con người.


Bài 10 .    Dịch thuỷ tống biệt  易水送别

             Lạc Tân Vương    骆宾王  Luò Bīn Wáng

此地别燕丹

壮士发冲冠

昔时人已没

今日水犹寒

   Yì shuǐ sòng bié

Cǐ dì bié Yān Dān

Zhuàng shì fǎ chōng guàn

Xí shí rén yǐ mò

Jīn rì shuǐ yóu hán

Chia tay ở sông Dịch

Nơi này từ biệt Yên Đan

Tráng sĩ tóc dựng cả mũ

Người thời xưa đã mất rồi

Hôm nay nước sông còn lạnh buốt

Dịch thuỷ tống biệt

Thử địa biệt Yên Đan

Tráng sĩ phát xung quan

Tích thời nhân dĩ một

Kim nhật thuỷ do hàn

Lời bàn

Cảm hứng vịnh sử, nghĩ về thời cuộc, thi nhân nhớ đến một anh hùng thất thế (hiệp sĩ  Kinh Kha cuối thời Chiến quốc liều mình đi ám sát Tần Thuỷ Hoàng không thành). Khi lên đường, đến bờ sông Dịch (biên giới nước Triệu), Kinh Kha đã ứng tác hai câu thơ với các bạn đi tiễn:

Phong tiêu tiêu hề, Dịch thuỷ hàn

Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn

Dịch

Gió hiu hắt chừ, Dịch thuỷ lạnh ghê

Tráng sĩ ra đi chừ, không bao giờ về

Ý thơ Lạc Tân Vương nhắc chuyện xưa. không chỉ tiếc thương cho bao anh hùng đã hi sinh vô ích trong quá khứ… Nhà thơ mong muốn một bậc anh hùng xuất hiện ngay giữa thời nhà Đường …

Câu kết “nước sông còn lạnh buốt” là trọng tâm dồn nén xúc cảm. “Lạnh buốt” thực là nỗi đau hôm nay, không phải chỉ là nỗi đau của tráng sĩ ngày xưa . . .

(Trong bài thơ Đất nước, nhà thơ Nguyễn Đình Thi mượn điển cố trên mà viết hai câu thơ tả chiến sĩ Hà Nội rời thủ đô lên chiến khu Việt Bắc: Người ra đi đầu không ngoảnh lại/ Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy).


Bài  11.      Du tử ngâm      游子吟    

 

Mạnh Giao 孟郊  Mèng Jiāo

慈母手中线

游子身上衣

临行密密缝

意恐迟迟归

谁言寸草心

报得三春晖

 Yóu zǐ yín

 

Cí mǔ shǒu zhōng xiàn

Yóu zǐ shēn shàng yī

Lín xíng mì mì féng

Yì kǒng chí chí guī

Shuí yán cùn cǎo xīn

Bào dé sān chūn huī

Khúc ngâm của đứa con đi xa

Mẹ hiền sợi chỉ trong tay

Áo mặc trên thân đứa con xa

Sắp đi, mũi chỉ càng kĩ lưỡng

Lo lắng con lâu vẫn chưa về

Ai bảo tấm lòng cỏ đau buồn

Đáp được ơn bóng nắng ba xuân

Từ mẫu thủ trung tuyến

Du tử thân thượng y

Lâm hành mật mật phùng

Ý khủng trì trì qui

Thuỳ ngôn thốn thảo tâm

Báo đắc tam xuân huy

         Dịch thơ

Mẹ từ sợi chỉ trong tay,

Trên mình du tử áo may vội vàng.

Sắp đi mũi chỉ kĩ càng,

Sợ con đi đó nhỡ nhàng chờ lâu.

Chút lòng tấc cỏ dễ đâu,

Bóng ba xuân đáp ơn sâu cho vừa.

(Ngô Văn Phú)

         Lời bàn

Người Trung Quốc đặc biệt coi trọng chữ Hiếu (đôi khi đến mức cực đoan). Thành ngữ tục ngữ khá nhiều về  đức tính  này. Tập truyện kể “Nhị thập tứ hiếu” trở thành sách học của trẻ em Trung Hoa từ bao đời. Cấu tạo chữ “hiếu” 孝, gồm hai phần: phần trên là bộ phận chính của chữ lão (già), phần dưới là chữ tử (con). Con phải ở dưới, nâng cha mẹ già ở trên. Từ xưa đã vậy, ngày nay nói nữa vẫn không thừa !


Bài  12.   Đào hoa khê        桃花溪  

Trương Húc (张旭) Zhāng Xù

隐隐飞桥隔野烟石矶西畔问渔船

桃花尽日随流水

洞在清溪何处边?

 

Táo huā xī

Yǐn yǐn fēi qiáo gé yě yān

Shí jī xī pàn wèn yú chuán

Táo huā jìn rì suí liú shuǐ

Dòng zài qīng xī hé chù biān ?

Suối hoa đào

Ẩn hiện cầu treo sau làn khói đồng

Ở phía tây hòn đá, hỏi thăm thuyền chài

Hoa đào suốt ngày trôi theo dòng nước

Động suối trong về  phía bên nào ?

Đào hoa khê

Ẩn ẩn phi kiều cách dã yên

Thạch cơ tây bạn, vấn ngư thuyền

Đào hoa tận nhật tuỳ lưu thuỷ

Động tại thanh khê hà xứ biên  ?

Dịch thơ

Cầu bay cách khói mờ mờ,

Hỏi thăm thuyền cá đậu bờ đá kia.

Suốt ngày nước chảy hoa đi,

Chẳng hay trong suối, động kề mé nao ?

                                                      (Trần Trọng Kim)

       Lời bàn

Hình tượng chủ yếu của  bài thơ là “suối hoa đào” gợi nhớ điển cố suối Đào nguyên. Hai chàng Lưu Thần, Nguyễn Triệu đi hái thuốc gặp suối trôi hoa đào, ngược dòng đến đào lâm, thấy động Thiên Thai, nơi ở của thần tiên. Cảm hứng Đạo giáo thấp thoáng trong thơ…

Nhớ tới bài thơ Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu, Vô đề của Lí Thương Ẩn đều mơ tưởng đi tìm cõi Bồng Lai, một chốn thần tiên khác.


Bài  13.       Đáp nhân  答 人

               Thái thượng ẩn giả   太尚 隐者  Tài shàng yǐn zhě

  答 人

    偶来松树下

    高枕石头眠

山中无历日

寒尽不知年

Dá rén

Ǒu  lái sōng shù xià

Gāo zhěn shí tóu mián

Shān zhōng wú lì rì

Hán jìn bù zhī nián

 

Trả lời người

Ngẫu nhiên đến gốc cây tùng

Gối đầu lên tảng đá mà ngủ

Trong núi không có lịch ngày

Mùa lạnh hết không cần biết năm !

              Đáp nhân

Ngẫu lai tùng thụ hạ

Cao trẩm thạch đầu miên

Sơn trung vô lịch nhật

Hàn tận bất tri niên

  Lời bàn

Xã hội nhiễu nhương, thi nhân chán ngán, tìm vào nơi núi rừng, tránh xa khỏi mọi tục luỵ. Thi nhân làm bạn với cây tùng phong cách cứng cỏi, phóng khoáng, ung dung của người quân tử, bậc cao nhân… Nhà thơ chỉ biết thời gian khi cảm thấy cái lạnh cái nóng của mùa vụ, không cần biết đến ngày tháng năm (lịch) mà người sống trong xã hội thường phải nhẩm tính đo đếm…

Thi nhân không quan tâm tới “thời” mà chỉ cần biết “tiết” cũng đủ sống rồi

 

 

 

 


Bài 14.      Đăng cao 登 高

Đỗ Phủ    杜 甫   Dù Fǔ

风 急 天 高 猿 啸 哀

渚 清 沙 白 鸟 飞 回

无 边 落 木 萧  萧下

不 尽 长 江 滚 滚来

万里 悲 秋 常 作 客

百 年 多 病 独 登台

艰 难 苦 恨 繁 霜鬓

潦 倒 新 停 浊 酒 杯

 Dēng gāo

Fēng jí tiān gāo yuān xiào āi

Zhǔ qīng shā bái niǎo fēi huí

Wú biān luò mù xiāo xiāo xià

Bù jìn Cháng jiāng gǔn gǔn lái

Wàn lǐ bēi qiū cháng zuò kè

Bǎi  nián duō bìng dú dēng tái

Jiān nán kǔ hèn fán shuāng bìn

       Lǎo  dǎo xīn tíng zhuó jiǔ bēi

Gió thổi mạnh, trời cao, tiếng vượn hót buồn thương,

Trên bến trong, cát trắng, chim bay  trở về tổ

Biết bao cây rụng lá  càng xơ xác tiêu điều

Sông Trường Giang dài vô tận chảy cuồn cuộn

Vạn dặm mùa thu buồn, thường làm khách,

Cõi đời trăm năm, nhiều bệnh một mình bước lên đài.

Khổ hận gian nan (làm cho) búi tóc nhuộm đầy sương

Lận đận gần đây phải ngừng chén rượu đục

Phong cấp thiên cao viên khiếu ai

Chử thanh sa bạch điểu phi hồi

Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ

Bất tận Trường Giang cổn cổn lai

Vạn lí bi thu thường tác khách

Bách niên đa bệnh độc đăng đài

Gian nan khổ hận phồn sương mấn

Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi

Dịch thơ

            Trèo lên cao

Gió mạnh trời cao vượn réo sầu

Bến trong cát trắng, chim về đâu  ?

Mênh mông cây rụng hiu hiu trải

Cuồn cuộn Trường Giang chảy chảy mau.

Muôn dặm sầu thu, thường tác khách

Trăm năm đa bệnh, dạo đài cao.

Gian nan khổ hận đầu mau bạc

Lận đận đành thôi chén rượu đào.

(Ngô Văn Phú)

     Chú thích

Chén rượu đục:  ý nói rượu  rẻ tiền.

Bản Đường thi tam bách thủ (sđd)  sai  sót một số chữ :

Câu 5:  dịch nghĩa sai là “Muôn dặm sầu thu thường là khách xa nhà “.

Câu 7:  “khổ hận” (bản Đường thi tam bách thủ  Nxb Hội nhà văn 2000 dịch sai là “khổ hạnh”)

Câu 8: tửu bôi (chén rượu) in sai là “tiểu bối”.

Tân đình: dịch là “mới phải ngừng” không rõ ý, dịch đúng là “gần đây phải ngừng”.

      Lời bàn

      “Thi dĩ ngôn chí” là tuyên ngôn thơ của thi nhân cổ điển. Ngay cả khi ý chí suy thoái họ vẫn làm thơ …“ngôn chí”!


Bài 15.          Đăng U Châu đài ca

州 台 歌

Trần Tử Ngang 陈子昂 Chén Zǐ Áng

 

前 不 见 古 人

后 不 见 来 者

念 天 地 之 悠 悠

独 怆 然 而 涕 下

 Dēng Yōu  zhōu  tái gē

Qián bù jiàn  gǔ rén

Hòu bù jiàn lái zhě

Niàn tiān dì zhī yōu yōu

Dú chuāng rán ér tì xià

Bài ca  lên đài U Châu

Ngó trước không thấy người xưa

Nhìn về sau, chưa thấy người mới tới

Nghĩ trời đất mênh mông chơi vơi

Một mình thương cảm, bỗng nhiên nước mắt rơi xuống

  

Tiền bất kiến cổ nhân

Hậu bất kiến lai giả

Niệm thiên địa chi du du

Độc thương nhiên nhi thế hạ

Dịch thơ

         Bài ca lên đài U Châu

Người xưa, nhìn trước thấy đâu

Quay đầu nhìn kẻ phía sau, tịt mù

Mênh mông trời đất thâm u

Lòng đau thảng thốt lệ sa bùi ngùi.

                                                                                                                    (Ngô Văn  Phú)

           Chú thích :  Đài U Châu về sau được xây dựng thành Bắc Kinh.

         Lời bàn

Bài thơ viết theo thể cổ phong (5.5.6.6), tuy nhiên đã gần tiến tới dạng tứ tuyệt.

Biên giả nghĩ rằng bài thơ mang cảm hứng lớn, cảm hứng đất nước. Cái người mà nhà thơ trông đợi ấy phải là một nhân vật lý tưởng của thời đại, bậc anh hùng cái thế, minh quân của đất nước Trung Hoa. Theo mẫu mực truyền thống (cổ nhân), hoặc là một hình mẫu con người mới (lai giả). Không gian – thời gian của bài thơ cho thấy Trần thi nhân nghĩ về vận mệnh đất nước hơn là thân phận cá nhân. Nỗi cô đơn của ông là tâm sự của một người ưu thời mẫn thế, không phải một kẻ cô đơn thiếu bạn hữu.

Có phải Chế Lan Viên từng viết “Ôi thương thay những thế kỉ vắng anh hùng / Những thế kỉ thiếu người cầm thanh gươm nghìn cân ra trận” (“Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi”). Chế Lan Viên viết cùng cảm hứng lớn lao như Trần Tử Ngang, khác là nhà thơ Việt Nam giãi bày tâm sự rõ ràng trực tiếp, không ẩn kín trong hình tượng …


Bài 16.    Đằng Vương các tự  藤王阁 序

[Bài “Tựa” đề ở gác Đằng Vương]

                                       Vương Bột   王 勃     Wáng  Bó

落霞与孤骛齐飞

秋水共长天一色

      ( 。。。)

 藤王高阁临江渚

佩玉鸣銮罢歌舞

画栋朝飞南浦云

朱帘暮卷西山雨

闲云潭影日悠悠

物换星移几度秋 ?

阁中帝子今何在 ?

槛外长江空自流

Téng wáng gé xù

Luò  xiá yǔ gū wù qí fēi

Qiū shuǐ gòng cháng tiān yí sè

( . . .)

Téng Wáng gāo gé lín jiāng zhǔ

Pèi yù míng luán bà gē wǔ

Huà dòng zhāo fēi Nán pǔ yún

Zhū lián mù juǎn Xī Shān yǔ

Xián yún tán yǐng rì yōu yōu

Wù huàn xīng yí jǐ dù qiū ?

Gé zhōng dì zǐ jīn hé zài ?

Kǎn wài cháng jiāng kōng zì líu

Ráng chiều với cánh cò lẻ cùng bay

Nước thu cùng trời dài một sắc

(…)

Toà lầu Đằng Vương cao ngất bên bãi sông

Đeo ngọc rung chuông ngừng hát múa

Buổi sớm mây từ  của bể Nam bay quanh nóc nhà chạm vẽ

Buổi chiều, rèm son cuốn, (thấy) cảnh mưa ở núi phía Tây

Mây lơ lửng, đầm lồng bóng, chuỗi ngày dài dặc trôi

Vật đổi sao dời, thu qua bao độ ?

Con vua trong gác nay thấy đâu ?

Ngoài hiên, sông dài cứ chảy hoài .

Lạc hà dữ cô vụ tề phi

Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc

(…)

Đằng vương cao các lâm giang chử

Bội ngọc minh loan bãi ca vũ

Hoạ đống triêu phi Nam phố vân

Châu liêm mộ quyển Tây sơn vũ

Nhàn vân đàm ảnh nhật du du

Vật hoán tinh di kỉ độ thu ?

Các trung đế tử kim hà tại ?

Hạm ngoại trường giang không tự lưu

    Chú thích

“Tự” cũng là “tựa”

 Đằng Vương là tước hiệu của Lí Nguyên Anh, con vua Đường Cao Tổ. Lí dựng một toà

lầu ở Nam Xương bên sông Tầm Dương, đặt tên là Đằng Vương các (các = gác = lầu)

     Dịch thơ

Gác Đằng cao ngất bãi sông thu

Ngọc múa vàng reo nay thấy đâu ?

Nam phố mây mai quanh nóc vẽ

Tây sơn mưa tối, cuốn rèm châu

Đầm nước mây vờn ngày tháng trôi

Mấy phen vật đổi với sao dời

Đằng Vương thuở trước giờ đâu tá  ?

Sông lớn ngoài hiên luống chảy hoài !

                                                             (Tương Như


Giai thoại Vương Bột

Vương Bột tự là Tử An, 16, 17 tuổi đã nổi tiếng thần đồng, hạ bút thành thơ. Vương Bột cũng giữ một số chức quan. Làm thơ nổi tiếng được xếp vào “Tứ kiệt Sơ Đường” (cùng với Dương Quýnh, Lạc Tân Vương, Lư Chiếu Tân). Cha  Vương Bột bị điều đi xa làm thứ sử Giao Châu (Việt Nam), anh đi thăm cha, bị đắm thuyền chết ngoài biển, yểu thọ  với 29 tuổi.

Bài thơ trên  trích ra từ bài phú thể biền ngẫu (bài “Tự”) gọi là “Đằng Vương các tự” nhân dịp một bữa tiệc lớn được tổ chức ở Đằng Vương các. Vương Bột đọc theo yêu cầu của chủ nhân lúc ấy là đô đốc Diêm Bá Tự. Bài phú được mọi người tán thưởng, thán phục tài hoa của chàng thi sĩ trẻ. Nhưng về sau có người chê rằng “hai câu thơ đầu còn có chỗ dở”. . . Truyền thuyết kể rằng sau khi chết, hồn Vương Bột vẫn còn uất ức vì chưa hiểu tại sao người ta chê thơ mình nên đêm khuya thanh vắng thường hiện hình trên bãi biển, níu áo những văn nhân sĩ tử qua đường, miệng đọc hai câu thơ trên và hỏi “ta dốt ở chỗ nào, xin chỉ giúp”. Nhưng ai cũng chỉ khen hay. Hồn Vương không hài lòng, mắng sĩ tử kia còn dốt hơn, đi thi khoa này ắt không đậu. Quả nhiên mấy người bị mắng đều thi rớt. Hồn Vương Bột  sau đấy vẫn cứ dật dờ trên bãi biển.

Ngày nọ lại có một văn nhân đi ngang qua đấy, hồn ma Vương Bột lại hiện hình níu áo hỏi. Chàng văn nhân cười bảo: “Nhà người từng nổi tiếng trong “tứ kiệt Sơ Đường” mà bao năm không nhận ra cái dốt của mình ư ?”. Nói xong dứt áo quay đi. Hồn Vương tha thiết nài nỉ khách giải thích. Khách văn nhân chẳng đành phụ lòng cố thi nhân họ Vương bèn nói “Hai câu thơ thừa chữ “dữ” (với) và “cộng” (cùng). Nếu bỏ hai chữ ấy thì câu thơ  tuyệt gọn và thanh thoát:

Lạc hà cô vụ tề phi

Thu thuỷ tràng thiên nhất sắc

Hồn Vương Bột ngẩn người hiểu ra, bèn bái tạ vị khách qua đường… Từ đó không còn ai nhìn thấy bóng ma nhà thơ ương Bột xuất hiện nữa, hẳn là linh hồn ông đã siêu thoát.

Lời bàn

Một câu chuyện làm văn chương bi thiết mà thú vị đến thế !

Vì sao bao người khen bài thơ hay mà không nhận ra hai từ dư thừa ? Người chê Vương Bột sao lại chẳng chịu nói  ra ? Có thể nghĩ rằng cái tài năng lập ý, chọn cảnh vật đã hay đến nỗi nó lấn át hai giới từ dư thừa (dữ, cộng) khiến nhiều người không để ý nữa. Cho hay, văn chương chẳng biết đâu là bến bờ hoàn hảo. Thi sĩ Vương Bột chết thành ma vẫn trăn trở không thể siêu thoát được. Hồn ma ông vẫn muốn làm cho câu thơ được toàn bích. Câu chuyện sáng tạo văn chương công phu như thế thực là kỳ thú lắm ! Trong văn bản này, chúng tôi vẫn chép hai từ “dư thừa” nguyên tác của Vương Bột.

k


Bài 17.   Đề đô thành nam trang  题 都 城 南 庄

Thôi Hộ  崔 护 Cuí Hù

( 题 昔 所 见 处 )

去 年 今 日 此 门 中

人 面 桃 花 相 映 红

人 面 不 知 何 处 去

桃 花 依 旧 笑 东 风Tí dū chéng nán zhuang

(Tí xì suǒ jiàn chù)

 

Qù nián jīn rì cǐ mén zhōng

Rén miàn táo huā xiāng yìng hóng

Rén miàn bù zhī  hé chù qù

Táo huā yī jiù xiào dōng fēng

 

Ghi ở trang trại phía nam đô thành 

   (Đề chỗ nhìn thấy đáng nhớ)

 

Năm trước ngày này ở cửa này

Mặt người, hoa đào ánh hồng lẫn nhau . . .

Mặt người chẳng biết đã đi đâu

Vẫn hoa đào năm ngoái đang cười giỡn với gió đông

  

Đề đô thành nam trang

(Đề tích sở kiến xứ)

Khứ niên kim nhật thử môn trung

Nhân diện, đào hoa tương ánh hồng

Nhân diện bất tri hà xứ khứ

Đào hoa y cựu tiếu đông phong

               Dịch thơ 

Cửa đây năm ngoái cũng ngày này

Má phấn, hoa đào ửng đỏ hây

Má phấn giờ đâu, đâu vắng tá

Hoa đào còn bỡn gió xuân đây

(Tản Đà)

  

Hôm nay năm ngoái, cửa sài

Hoa đào ánh với mặt người đỏ tươi

Mặt người chẳng biết đâu rồi

Hoa đào còn đó vẫn cười gió đông

(Trần Trọng Kim)

Chú thích:  Gió thổi từ phía đông tức là gió mùa Xuân.

Giai thoại về bài thơ khá phong phú, hấp dẫn. Đài Loan đã phóng tác ra một bộ phim “Nhân diện đào hoa” nhiều tập chỉ dựa vào bài tứ tuyệt và giai thoại ngắn về mối tình kì ngộ, sâu nặng của thi nhân họ Thôi.

Lời bàn, gợi ý sinh viên phân tích

  • SV cần chú ý vào chữ “tương ánh hồng”: mặt người và hoa đào toả hồng lẫn nhau, nhà thơ không phân biệt rõ được. Vì sao không nhìn rõ ?  Đấy là cách tả khéo vẻ đẹp của thiếu nữ đồng thời miêu tả  tâm trạng thi nhân say đắm ngẩn ngơ đến nỗi hoa mắt không phân biệt được hoa và người.
  • Một năm sau tìm đến, chàng chỉ chú ý “mặt người” nên vẫn coi hoa đào là “hoa năm ngoái” mặc dù đích thực là hoa năm nay. Bởi thế, hoa đào cứ hồn  nhiên cười giỡn với  gió  đông, mặc kệ anh si tình. Đây là trường hợp độc đáo: người buồn mà cảnh cứ vui …

v      Nguyễn Du  đã mựơn ý thơ để tả Kim Trọng trở lại vườn thuý không gặp Kiều :

Trước sau nào thấy bóng người

                                         Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông  (câu 2748 Truyện Kiều)

v      Nguyễn Khuyến viết:

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái

                        Một tiếng trên không ngỗng nước nào


Bài 18.       Đề cúc hoa

题 菊 花

                                               Hoàng Sào  黄巢 Huáng Cháo

       题 菊花

飒飒西风满院栽

蕊寒香冷蝶难来

他年我若为青帝

报与桃花一处开

           Tí  jú huā

Sà sà xī fēng mǎn yuàn zāi

Ruǐ hán xiāng lěng dié nán lái

Tā nián wǒ ruò wéi Qīng dì

Bào yú táo huā yí chù kāi

C

    Viết về hoa cúc

 

Gió tây thổi ào ạt, đầy nhà trồng hoa

Nhị khô hương lạnh bướm khó bay đến

Năm khác nếu ta làm chúa xuân

Sẽ truyền cho hoa đào nở ở cùng một chỗ đây.

 Đề cúc hoa

 

Táp táp tây phong mãn viện tài

Nhị hàn hương lãnh điệp nan lai

Tha niên ngã nhược vi Thanh đế

Báo dữ đào hoa nhất xứ khai

         Dịch thơ 

Vi vút  đầy vườn thổi gió tây,

Nhuỵ rầu hương lạnh bướm khôn bay.

Nếu xuân năm tới ta làm chúa,

Truyền với hoa đào nở khắp đây.

(Khương Hữu Dụng)

        Lời bàn

         Một bài thơ ngôn chí của người anh hùng thất thế Hoàng Sào. Bài tứ tuyệt chứa đựng chí hướng lớn lao của Hoàng Sào kí thác vào hình ảnh vườn hoa dưới thời tiết lạnh buốt khắc nghiệt, mất mùa hoa. Thời Đường văn nghệ khá tự do nên bài thơ “phản nghịch” trên được truyền tụng…

Vì sao nhà thơ đang thương xót hoa cúc gặp thời tiết xấu sớm chịu tàn phai lại chuyển sang nói về “hoa đào” ở câu kết ?! Hoa cúc bình thường, dân dã có phẩm chất cao thượng, nở đẹp nhất mùa thu. Hoa đào đại diện vẻ đẹp tươi của mùa xuân.

Bài tứ tuyệt này là lời hứa hẹn của thi nhân anh hùng Hoàng Sào muốn thay trời đổi đất, quyết tâm đem lại cảnh sắc hạnh phúc hơn nữa cho mọi người. Hoa cúc, hoa đào còn là hình ảnh tượng trưng cho con người, còn nhà thơ anh hùng tự nhận vai trò chúa Xuân (Thanh đế: chúa màu xanh, chúa xuân) sẽ ban phát sự sống cho tất cả loài hoa.


Bài 19.     Điểu minh giản

鸟鸣涧   Niǎo míng jiàn

                      Vương Duy 王 维  Wáng  Wéi

人闲桂花落

夜静春山空

月出惊山鸟

时鸣在涧中 

Rēn xián guì huā luò

Yè jìng chūn shān kōng

Yuè chú jīng shān niǎo

Shí míng zài jiàn zhōng

V

 

Khe chim kêu

Người thảnh thơi hoa quế rụng

Đêm yên lặng non xuân vắng không

Ánh trăng ló lên làm chim núi giật mình

Thỉnh thoảng hót trong khe núi

  

Điểu minh giản

Nhân nhàn quế hoa lạc

Dạ tĩnh xuân sơn không

Nguyệt xuất kinh sơn điểu

Thời minh tại giản trung

          Dịch thơ 

Người nhàn hoa quế nhẹ rơi,

Đêm xuân  lặng ngắt trái đồi vắng tanh.

Trăng lên, chim núi giật mình,

Tiếng kêu thủng thẳng đưa quanh khe đồi.

(Ngô Tất Tố)

Lời bàn

Thi nhân Vương Duy đã đi sâu vào khe núi, tự hoà nhập làm một với cảnh vật. Nhà thơ như đã hoá thân vào con chim núi mà giật mình khi thấy trăng lên. (Bạn đã giật mình vì trăng mọc bao giờ chưa ? Nếu chưa là vì ta chẳng có ý đón chờ trăng … !).

Khi đọc bản dịch thơ, “tiếng kêu” của con chim núi ở cuối bài thơ dễ khiến sinh viên  làm bài bị lạc hướng. Bởi hiểu theo tiếng thuần Việt “kêu” là sợ hãi… Nên bám theo nguyên tác, cảm thụ theo phiên âm Hán hoặc Hán Việt là tốt nhất. “Minh” nghĩa  là “cất tiếng”,  biểu lộ sự thích thú ngạc nhiên, không phải là sợ hãi. Dịch là “hót” cũng được nhưng bị trái âm. Bài thơ này là một trong nhiều trường hợp chứng tỏ rằng:  đọc hiểu theo bản dịch thơ rất dễ bị lầm lẫn, dù rằng bản dịch thơ đã cố gắng tối đa.


Bài 20.   Đông Dương tửu gia tặng biệt

                          东阳酒家赠别

Dōng Yáng jǐu jiā zèng bié

[Chia tay ở quán rượu Đông Dương]

Vi Trang   韦庄 Wéi Zhuāng

天涯方叹异乡身

又向天涯别故人

明日五更孤店月

醉醒何处各沾巾

Tiān yā fāng tàn yì xiāng shēn

Yòu xiàng tiān yā bié gù rén

Míng rì wǔ gēng gū diàn yùe

Zuì xǐng hé chù gè zhān jīn 

Nơi góc trời than thở người xa lạ

Lại hướng về bến trời từ biệt người cũ

Sớm mai trăng cô đơn đếm hết năm canh

Say tỉnh nơi nào cũng (lệ) ướt khăn 

Thiên nhai phương thán dị hương thân

Hựu hướng thiên nhai biệt cố nhân

Minh nhật ngũ canh cô điếm nguyệt

Tuý tỉnh hà xứ các triêm cân

Dịch thơ 

Bên trời lận đận đã thương thân,

Lại ở bên trời biệt cố nhân,

Trăng lặn canh tàn nơi quán khách,

Tỉnh say mỗi ngả lệ đầm khăn.

(Khương Hữu Dụng)

Lời bàn

Hình ảnh “thiên nhai” (bến trời, góc trời)  khác với “thiên mạt, thiên tận, thiên đầu, thiên tế” (cùng nghĩa chân trời) thường dùng trong văn chương cổ. “Thiên mạt, thiên tận, thiên đầu, thiên tế” nói về nơi rất xa, xa hút nhưng vẫn có phương hướng. “Thiên nhai” nói lên cái nơi vu vơ, khó định hướng trên những nẻo đường giang hồ lưu lạc… Đôi khi trong đời ta cũng không biết hướng quê nhà ở phía nào. Cảm  giác  này thực ra là sự rối bời tâm trí, mất phương hướng từ bên trong … Thôi Hiệu đã có lúc như thế, ngơ ngác rồi thất vọng bên lầu Hoàng Hạc. Còn Vi Trang dõi tìm hướng “người cũ” đang vu vơ  bất  định  chốn nào chứ  không hẳn là phía  quê nhà.

Bài thơ bộc lộ cảm xúc bi thương của tình bằng hữu. Xa cách một người bạn nào đấy mà bi ai như xa cách người yêu vậy .


Bài 21.     Độ Tang Càn    渡桑乾

[Vượt qua sông Tang Càn]

Giả Đảo 贾 岛 Jiă Dăo

  

客舍并州已十霜

归心日夜忆咸阳

无端更渡桑乾水

却望并州是故乡

    Dù Sāng Qián 

Kè shè Bīng Zhōu yǐ shí shuāng

Guī xīn rì yè yì Xián Yáng

Wú duān gēng dù Sāng Qián shuǐ

Què wàng Bīng Zhōu shì gù xiāng

Ở nhà khách Tinh Châu trải mười năm,

Hôm sớm chỉ nhớ cố hương Hàm Dương

Không biết vì  sao qua bến Tang Càn nọ,

Ngoảnh lại Tinh Châu (thấy) đã là quê hương 

Khách xá Tinh Châu dĩ thập sương

Qui tâm nhật dạ ức Hàm Dương

Vô đoan cánh độ Tang Càn thuỷ

Khước vọng Tinh Châu thị cố hương

  Chú thích

Tinh Châu nay là thành phố Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây. Hàm Dương tức là Trường An nơi nhà Đường đóng đô, nay thuộc tỉnh Thiểm Tây. Sông Tang Càn nay gọi là sông Vĩnh Định chảy giữa hai địa điểm trên.

Lời bàn

 Bài thơ Độ Tang Càn an ủi những kẻ tha hương…Nhà thơ Giả Đảo viết một bài thơ đầy xúc cảm, nhưng chỉ thoáng qua,  khó bền vững trong lòng người. Còn câu thơ “Quê hương mỗi người chỉ một” của Đỗ Trung Quân thì dễ dãi, giản đơn…Nhà thơ Chế Lan Viên viết “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất đã hoá tâm hồn” phóng khoáng thoải mái hơn nhiều. Những hoàn cảnh khác nhau, thời điểm khác nhau thì quan niệm nhân sinh khác nhau! Sự phong phú của văn chương là vậy.

Giả Đảo và giai thoại về 2 chữ “thôi xao”

 

Trền đường về Trường An dự thi, Giả Đảo cưỡi con lừa ngâm bài thơ “Đề Lí Ngưng u cư” tay chân khua lên :

Nhàn cư thiểu lân tình

Thảo kính nhập hoang viên

Điểu túc trì biên thụ

Tăng thôi nguyệt hạ mônỞ nhàn ít láng giềng

Đường cỏ vào vườn hoang

Chim ngủ cây bên ao

Sư đẩy cửa dưới trăng

Chưa thoả mãn với câu cuối, ông bèn thử đổi “thôi”望 (đẩy) thành “xao” 敲(gõ): “tăng xao nguyệt hạ môn”. Vừa đi vừa đưa tay “thôi”, “xao” liên tục khiến ai cũng thấy lạ lùng. Gặp xe ngựa quan Hàn Dũ đi qua ông không kịp tránh. Lính trói ông đưa đến trước mặt quan. Hàn Dũ hỏi, Giả giãi bày mình đang mải làm thơ. Hàn Dũ hỏi câu thơ thế nào, Giả trình bày và xin chỉ giáo. Hàn Dũ nhà văn lớn thời ấy đã bảo ông chọn “xao” (tối chùa đóng cửa, ông có dám đẩy cửa (thôi) được không ? Vậy phải gõ chứ !). Từ đó người  Trung Quốc dùng từ “thôi xao” để nói việc khổ luyện văn chương, cân nhắc từng chữ..
Bài
22.    Độc Lí Bạch tập    读李白集  Dú Lǐ Bái jí    

[Đọc tập thơ Lí Bạch]

 

Trịnh Cốc  郑谷 Zhèng Gǔ

 

何事文星与酒星

一时锺在李先生

高吟大醉三千首

留著人间伴月明 

 

Hé shì Wén xīng yú  Jiǔ xīng

Yì shí zhōng zài Lǐ xiān shēng

Gāo yín dà zuì sān qiān shǒu

Liú zhù rén jiān bàn yuè míng

Tại sao ngôi sao Văn và ngôi sao Tửu

Lại cùng một lúc dồn cả vào ông Lý ?

Ngâm vang lúc say khướt ba nghìn bài thơ

Để lại cõi đời làm bạn với ánh trăng 

Hà sự Văn tinh dữ Tửu tinh

Nhất thời chung tại Lý tiên sinh ?

Cao ngâm đại tuý tam thiên thủ

Lưu trước nhân gian bạn nguyệt minh

Dịch thơ

Cớ chi sao Rượu sao Văn,

Đúc nên một Lý tiên sinh ở đời.

Ba nghìn say đọc nên bài,

Nghìn thu bạn với trăng trời sáng sao

                                                                                                                       (Tản Đà)

   Lời bàn

Hình như hễ ai kết bạn với Lí Bạch thi tiên cũng đều làm thơ về ông. Nhà thơ họ Lý trở thành nguồn thơ cho nhiều người khác. Cuộc đời Lý Bạch vốn đã chứa đầy chất thơ. Những vẻ đẹp lạ của văn chương, nhân sinh quan độc đáo và  những tấn bi kịch của Lý  đã động lòng bằng hữu ?

  Bài   23.  Độc toạ Kính Đình sơn      独 坐 敬 亭 山

                                           Dú zuò Jìng Tíng shān

             Lí Bạch  李白  LǐBái

众鸟高飞尽

孤云独去闲

相看两不厌

只有敬亭山

Zhòng niǎo gāo fēi jìn

Gū yún dú qù xián

Xiāng kàn liǎng bú yàn

Zhǐ yǒu Jìng Tíng shān

Một mình ngồi trên núi Kính Đình

Đàn chim bay đi hết

Mây lẻ thong thả trôi

Nhìn nhau không biết chán

Chỉ có núi Kính Đình

       Độc toạ Kính Đình sơn

Chúng điểu cao phi tận

Cô vân độc khứ nhàn

Tương khán lưỡng bất yếm

Chỉ hữu Kính Đình san

Lời bàn

Có ba nhân vật trữ tình: chim, mây và núi. Nhân vật chính là núi Kính Đình.  Nhà thơ Lí Bạch đã hoá thân vào mây. Một tư thế sống trên đời thực ung dung tự tại. Đây là một nét “thi tiên” với phong thái sống ung dung như thần tiên vậy .


Bài  24.    Giang tuyết     江雪  Jiāng xuě   

Liễu Tông Nguyên       柳宗元   Liǔ Zōng Yuán

千山鸟飞绝

万径人踪灭

孤舟蓑笠翁

独钓寒江雪

Qiān shān niǎo fēi jué

Wàn jìng rén zōng miè

Gū zhōu suō lì wēng

Dú diào hán jiāng xuě

 

Nghìn núi chim  bay mất hút

Muôn lối dấu người không thấy

Thuyền lẻ loi, ông chài áo tơi nón lá

một mình câu cá trên sông tuyết lạnh giá 

Thiên sơn điểu phi tuyệt

Vạn kính nhân tung diệt

Cô chu toa lạp ông

Độc điếu hàn giang tuyết

            Dịch thơ

Tuyết trên sông

 

Nghìn non chim hết vẫy vùng,

Vắng tanh muôn nẻo tuyệt không dấu người.

Áo tơi nón lá ông chài,

Con thuyền giữa tuyết ngồi hoài buông câu.

                                   (KD )

Chú thích

Toa lạp / thôi lạp : nón áo tơi lá

Lời bàn

Nhà thơ Liễu Tông Nguyên hoá thân vào ông chài mùa rét, thản nhiên câu cá trên sông dưới tuyết, nơi ấy thật xa bóng người, xa tục luỵ .


Bài 25.    Hàn thực       Hán shí    /  Tết hàn thực

Hàn Hùng   韩  雄 Hán Xióng

春 城 无 处 不飞 花

寒食 东 风 御 柳 斜

日暮 汉 宫 传 蜡 烛

轻 烟 散 入 五 侯 家

Chūn chéng wú chù bù fēi huā

Hán shì dōng fēng yù liǔ xié

Rì mù Hàn gōng chuán là zhú

Qīng yān sàn rù wǔ hóu jiā

Thành mùa xuân chẳng chỗ nào không có hoa bay

Tiết hàn thực gió đông thổi trên vườn liễu của vua

Chiều tối cung điện nhà Hán truyền thắp nến

Khói nhẹ toả lan vào các nhà công hầu 

Xuân thành vô xứ bất phi hoa

Hàn thực đông phong ngự liễu gia

Nhật mộ Hán cung truyền lạp chúc

Khinh yên tán nhập ngũ hầu gia

       Lời bàn

“Hàn thực” là ngày “tết ăn nguội” từ Trung Quốc. Tết này bắt nguồn từ sự tích Giới Tử Thôi thời Xuân thu Chiến quốc. Ông từng cắt thịt đùi nấu cháo dâng vua Tấn Trùng Nhĩ ăn khi chạy loạn. Khi chiếm được ngai vàng, nhà vua quên thưởng công, ông buồn giận, cõng mẹ vào rừng sâu. Khi một người bạn ông nhắc nhở nhà vua tìm ông thì ông chạy vào rừng không chịu ra. Vua sai lính đốt rừng để ép ông ra, hai mẹ con thà chịu chết trong khói lửa… Vua hối hận khôn xiết, bèn cho lấy ngày 3.3 âm lịch làm ngày giỗ ông Giới và cấm dân chúng đốt lửa nấu ăn trong ngày, chỉ ăn thức ăn nguội, nên gọi là Hàn thực. Nhân dân ăn tết đồng thời biểu lộ thái độ nghiêm khắc phê phán cảnh giới bậc quân vương..

Câu thứ hai tả gió đông ngày hàn thực thổi khắp vườn liễu nhà vua … tưởng đâu như oan hồn Giới Tử Thôi ẩn hiện trở về. Chẳng phải ngẫu nhiên cung điện vua Hán sai thắp nhiều nến như vậy … Thi nhân thời Đường thâm nho rất mực !

Người Việt vốn thích điều nhân nghĩa nên cũng tiếp nhận ngày tết hàn thực của dân tộc Trung Hoa, cùng ăn Tết đó. (Nhớ hồi còn bé, tụi trẻ con chúng tôi háo hức nuốt nước miếng ngồi xem bố mẹ làm bánh trôi nước nhân đường, ăn ngon tắc cổ …).


Bài 26.   Hành  lộ nan        Xíng lù  nán  

                              Lí Bạch 李白 Lǐ Bái

金樽清酒斗十千

玉盘珍羞值万钱

停杯投著不能食

拔剑四顾心茫然

欲渡黄河冰塞川

将登太行雪暗天

闲来垂钓碧溪上

忽复乘舟梦日边

行路难,行路难

多岐路,今安在

长风破浪会有时

直挂云帆济沧海 

Jīn zūn qīng jiǔ dǒu shí qiān

Yù pán zhēn xiū zhí wàn qián

Tíng bēi tóu zhù  bù néng shí

Bá jiàn sì gù xīn máng rán

Yù dù huáng hé bīng sāi chuān

Jiāng dēng Tài Xíng xuě àn tiān

Xián lái chuí diào bì qī shàng

Hū fù chéng zhōu mèng rì biān

Xíng lù nán, xíng lù nán

Duō qí lù, jīn ān zài

Cháng fēng pò làng huì yǒu shí

Zhí guà yún fān jì cāng hǎi

 

Đường đi khó

Cốc vàng rượu trong một đấu mười ngàn

Mâm ngọc nhắm quý giá một vạn.

Dừng chén ném đũa nuốt không được,

Rút kiếm nhìn quanh lòng mênh mang.

Muốn vượt Hoàng Hà sông băng

Toan lên Thái Hàng núi tuyết phủ mờ

Lúc rỗi buông câu bờ khe biếc

Bỗng mơ cưỡi thuyền lướt bên mặt trời

Đường đi khó ! Đường đi khó !

Nay ở đâu đường gập ghềnh bao ngả ?

Gió dài phá sóng hẳn có ngày

Treo thẳng buồm mây vượt biển cả !

 

Hành  lộ nan

Kim tôn thanh tửu đẩu thập thiên

Ngọc bàn trân tu trị vạn tiền

Đình bôi đầu trợ bất năng thực

Bạt kiếm tứ cố tâm mang nhiên

Dục độ Hoàng Hà băng tắc xuyên

Tương đăng Thái Hàng tuyết ám thiên

Nhàn lai thuỳ điếu bích khê thượng

Hốt phục thừa chu mộng nhật biên

Hành lộ nan ! Hành lộ nan !

Đa kì lộ, kim an tại

Trường phong phá lãng hội hữu thì

Trực quải vân phàm tế thương hải

 

Chú thích

Một trong ba bài cùng tên viết năm Thiên Bảo thứ 3 (744) khi Lí Bạch rời Trường An

Lời bàn

Khí phách anh hùng, cao nhân của Lí Bạch thể hiện thật rõ nét. Lí tưởng sống của thi nhân thật hùng tráng biết bao.

Nhà thơ khinh rẻ thói thường của những kẻ suốt đời truy cầu vinh hoa phú quí tầm thường. Ba năm được chiều chuộng trong cung vua Đường Minh Hoàng như một “bồi bút” khiến ông chán nản, tìm cớ bỏ ra đi. Trên đời mấy ai làm được như Lý  !


Bài 27.  Hoài thượng biệt cố nhân  淮上别故人

Huái shàng bié gù rén

 

Trịnh Cốc   郑谷  Zhèng Gǔ

扬子江头杨柳春

杨花愁杀渡江人

数声风笛离亭晚

君向潇湘我向秦

Yángzǐ jiāng tóu yáng liǔ chūn

Yáng huā chóu shā dù jiāng rén

Shǔ shēng fēng dí “lí tíng” wǎn

Jūn xiàng Xiāo Xiāng, wǒ xiàng Qín

 Trên sông Hoài chia tay bạn

Đầu sông Dương Tử, cây dương liễu vào xuân

Hoa dương làm buồn chết người qua sông

Chiều hôm ở ly đình thoáng nghe tiếng sáo kể lể

Anh đi sông Tiêu Tương, tôi rẽ hướng sang Tần

Dương Tử giang đầu dương liễu xuân

Dương hoa sầu sát độ giang nhân

Sổ thanh phong địch ly đình vãn

Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần

  Dịch thơ

Sông Dương dương liễu đua tươi,

Hoa dương buồn chết dạ người sang sông.

Đình hôm tiếng sáo não nùng,

Anh đi bến Sở, tôi trông đường Tần.

                                                                                 (KD )

 Lời bàn

Ở Trung Quốc xưa, “ly đình là những quán nghỉ chân được xây dành cho người ta đưa tiễn nhau. Có hai loại ly đình: đoản đình (để tiễn gần) và trường đình (tiễn xa hơn). Khi tới ly đình, người ta  bày tiệc rượu đãi người đi, chuyện trò dặn dò, bộc lộ tình cảm…

Miền Bắc Việt Nam có những cái “điếm” và “cầu” xây ven đường, nơi cách xa xóm làng, dành cho người làm ruộng, người đi chợ xa tạm nghỉ ngơi, và cũng cho lữ khách qua đường trú mưa nắng chốc lát hoặc nghỉ qua đêm. (“Cầu” là căn nhà gạch xây ở ven đường lộ, chỉ có ba bức vách tường, để trống mặt trước. Bên trong xây cái bục gạch cao khoảng nửa thước, rộng bằng một, hai cái giường để khách ngồi chơi hoặc ngả lưng qua đêm… “Cầu” không  bắc qua sông mà “bắc” qua mưa nắng, “bắc” qua mệt mỏi và bóng đêm. “Điếm” gần giống “cầu” nhưng gần xóm làng hơn, có thêm chức năng là nơi người tuần canh thức canh gác mùa lũ lụt bão táp, giữ gìn an ninh thôn xóm…)

“Cầu, điếm” ở Việt Nam cũng làm thêm chức năng “ly đình” nữa.

Lại một bài thơ tình bằng hữu… Đôi bạn chia tay nhau, buồn  bã nhưng vẫn quả quyết dứt áo ra đi.


Bài  28.      Hoàng Hạc lâu    Huáng Hè lóu

                                                 

Thôi Hiệu 崔 效 Cūi Xiào  (hoặc Thôi Hạo 崔 颢 Cūi  Hào )

昔 人 已 乘 黄 鹤 去

此 地 空 余 黄 鹤 楼

黄 鹤 一 去 不 复 返

白 云 千 载 空 悠 悠

晴 川 历 历 汉 阳 树

芳 草 萋萋 鹦 鹉 洲

日 暮 乡 关 何 处 是

烟 波 江 上 使 人 愁Xī  rén  yǐ  chéng  huáng  hè  qù

Cǐ dì  kōng yú huáng  hè  lóu

Huáng  hè  yī  qù  bù  fù  fǎn

Bái  yún  qiān zǎi  kōng  yōu  yōu

Qíng  chuān  lì  lì  Hàn  yáng  shù

Fāng  cǎo qī qī  Yīng  wǔ  zhōu

Rì  mù  xiāng  guān  hé  chù  shì

Yān  bō  jiāng  shàng  shǐ  rén  chóu 

 

 

Người xưa đã cưỡi hạc vàng đi rồi

Nơi đây (chỉ có) khoảng không trơ ra lầu Hoàng Hạc

Hoàng hạc một đi không trở lại

Mây trắng nghìn năm bay vu vơ

Trời quang nắng in rõ bóng cây trên sông Hán

Cỏ thơm sum sê trên bãi cồn Anh Vũ

Trời tối rồi quê hương ta ở phía nào  ?

Khói sóng trên sông làm người buồn rầuTích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Bạch vân thiên tải không du du

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu

Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu

Hai bản dịch thơ

Ai cưỡi hạc vàng đi mất hút

Trơ lầu Hoàng Hạc chốn này thôi.

Hạc vàng một đã đi, đi biệt

Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi

Sông tạnh Hán Dương, cây sáng ửng,

Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh ngời.

Hoàng hôn về đó, quê đâu tá,

Khói sóng trên sông não dạ người.

(Khương Hữu Dụng)

 

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu

Mà đây Hoàng hạc riêng lầu còn trơ

Hạc vàng đi mất từ xưa

Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay

Hán Dương sông tạnh cây bày

Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai !

                                     (Tản Đà)

 

Chú thích

Lầu Hoàng Hạc thuộc huyện Vũ Xương, thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc.

Lời bàn

 Bài thơ tuyệt tác. Những không gian thực và  ảo xen kẽ  thể hiện cảm hứng Nho

và Đạo rối bời trong tâm trí thi nhân…

Đôi câu đối trên lầu Hoàng hạc

Trong bức ảnh chụp mặt tiền lầu Hoàng hạc (do một du khách tặng soạn giả), thấy

rõ  một đôi câu đối:

Vế trên, viết trên tầng 5:

目 极 天 梵/ fàn tiān jí mù  /Phạm  thiên cực  mục (Chạm trời hết tầm mắt)

Vế dưới, viết trên tầng 1:

坤 乾 卷 废/ fèi juǎn qián kūn /Phế quyển càn  khôn (Chiếu tre cuốn càn khôn)

Câu đối nói lên cái chất phóng khoáng của thần tiên và thi nhân.

(Không ghi tác giả, có lẽ khi trùng tu ngôi lầu, người ta cảm tác mà viết câu đối này).


Bài 29.  Hoàng hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng

黄 鹤 楼 送 孟 浩 然 之 广陵

Huáng hè lóu sòng Mèng Hàorán zhī Guănglíng

[Tại Hoàng hạc lâu tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng]

                 Lí Bạch 李白 Lǐ Bái

故人西辞黄鹤楼

烟花三月下扬州

孤帆远影碧空尽

惟见长江天际流 

Gù rén xī cí Huáng Hè lóu

Yān huā sān yuè xià Yáng Zhōu

Gū fán yuǎn yǐng bì kōng jìn

Wéi  jiàn Cháng Jiāng tiān jì liú

 

Bạn cũ dời khỏi Hoàng hạc lâu  từ phía tây

Tháng ba hoa khói xuống Dương Châu

Bóng buồm cô đơn xa dần cuối trời biếc

Chỉ thấy Trường Giang cứ chảy tới chân trời

Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu

Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu

Cô phàm viễn ảnh bích không tận

Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu

      Dịch thơ

 

Bạn từ lầu Hạc lên đường,

Giữa mùa hoa khói, châu Dương xuôi dòng.

Bóng buồm đã khuất bầu không

Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời

(Ngô Tất Tố)

Cố nhân xa lầu Hoàng hạc rồi

Tháng ba hoa khói Dương Châu xuôi

Buồm đơn xa khuất bầu không biếc

Chỉ thấy Trường Giang hút cuối trời

(Lê Thiên Minh Khoa)

 

     Chú thích

Quận Quảng Lăng (còn gọi Dương Châu, Giang Châu) nay là  huyện Giang Đô, tỉnh Giang Tô.

     Lời bàn

Vì sao nhà thơ cần nói chính xác “bạn cũ  dời chân đi từ phía tây lầu ” ?

Sinh viên nên chú ý phân tích trọng tâm là hai câu 3 và 4. Cảnh người đưa tiễn ở trong tư thế dáng điệu như thế nào mà biểu cảm kín đáo, đặc trưng của nhân vật thơ trữ tình cổ điển) … Hai cảnh “viễn ảnh bích không tận” và “Trường Giang thiên tế lưu” tạo ra thế tương phản với “cô phàm”, con người nhỏ bé, yếu ớt, chìm lẫn …Cảnh thiên nhiên mênh mang rợn ngợp đối lập với con người. Thi nhân khao khát giữ lại trong thơ hình ảnh cố nhân chìm dần giữa bầu  trời  hun hút  và  dòng sông chảy xiết lạnh lùng.

Đến đây ta bỗng hiểu vì sao tác giả ghi rõ “khách dời chân từ phía tây lầu”, cái hình ảnh bình thường ấy rất đáng lưu lại trong kí ức.

Bài thơ còn có ngụ ý phê phán xã hội đương thời. Không thể oán trách trời đất vô tình, nhà thơ mượn cảnh còn để nói thời cuộc. (Sinh viên thường hay bỏ qua ý nghĩa ẩn dụ “thời cuộc, xã hội”)

Một kiệt tác của tình bạn thơ Lí Bạch-Mạnh Hạo Nhiên .

 


Bài  30.   Hoàng Hạc lâu văn địch

Huáng Hè lóu wén dí

[Nghe thổi sáo ở lầu Hoàng Hạc]

Lí Bạch   李白  Lǐ Bái

一为迁客去长沙

西望长安不见家

黄鹤楼中吹玉笛

江城五月落梅花

 

Yī wéi qiān kè qù Cháng Shā

Xī wàng Zháng Ān bù jiàn jiā

Huáng hè lóu zhōng chuī yù dí

Jiāng chéng wǔ yuè“Luò méi huā”

Một lần làm khách đi đày đến Trường Sa

Nhìn về phía tây thành Tràng An chẳng thấy nhà

Trong lầu Hoàng Hạc nghe tiếng sáo ngọc

Thành Giang tháng Năm (nghe) “Rụng hoa mai”

 

 

Nhất vi thiên khách khứ Trường Sa

Tây vọng Tràng An bất kiến gia

Hoàng Hạc lâu trung xuy ngọc địch

Giang thành ngũ nguyệt “Lạc mai hoa”

  Dịch thơ

Trường Sa đất biếm làm thân khách

Ngoảnh lại Trường An chẳng thấy nhà

Hoàng Hạc lầu cao nghe sáo ngọc

Thành Giang nghe khúc “Lạc mai hoa”

(Ngô Văn Phú)

   Chú thích

Trường An là thủ đô thời nhà Đường, nay thuộc tỉnh Thiểm Tây, một thành phố văn hoá, một cố đô nổi tiếng của Trung Quốc. Người Việt Nam trước đây cũng thích gọi Hà Nội – Thăng Long là “Trường An / Tràng An” .

Sáo ngọc là cây sáo làm bằng loại đá quí (ngọc) .

   Lời bàn

Nhà văn Tào Tuyết Cần (tác giả Hồng lâu mộng) đã cho rằng Lí Bạch chịu ảnh hưởng của Thôi Hiệu khi viết bài thơ này. Giai thoại kể rằng khi đến chơi lầu Hoàng Hạc, Lí Bạch  lấy bút định làm thơ, ngẩng lên định viết thì nhìn thấy bài Hoàng Hạc lâu . Đọc xong thơ Thôi Hiệu, Lí thở dài buông bút không viết nữa… Sau đấy Lí viết bài thơ tả lại cảm xúc trên, thế mà cũng thành một bài thơ.

Lí Bạch rất biết  thẩm định thơ của bạn hữu, và không ngại nói ra sự khâm phục của mình. Lí tài hoa mà lại khiêm tốn biết chừng nào ! Thiên hạ yêu quí mến phục Lí Bạch còn vì điểm ấy nữa. Ai bảo “văn nhân tương khinh” ! Nhìn chung, bài thơ này dễ hiểu. sinh viên chỉ cần tập trung phân tích vào cái tâm thế nhớ thủ đô và tên khúc nhạc sáo “Lạc mai hoa” (Hoa mai rụng là hình ảnh tượng trưng số phận quân tử tàn lụi, thất bại .. . .


Bài  31.  Hồi  hương ngẫu thư   Húi xiāng ǒu shū     

Hạ Tri Chương  贺知章 Hè Zhī zhāng

 

少小离家老大回

乡音无改鬓毛衰

儿童相见不相识

笑问客从何处来?

Shào xiǎo lí jiā lǎo dà húi

Xiāng yīn wú gǎi bìn máo shuāi

Ér tóng xiāng jiàn bù xiāng shí

Xiào wèn: kè cóng hé chù lái ?

 

Trở về quê, ngẫu hứng viết

Tuổi nhỏ  xa nhà, già cả trở về

Tiếng quê không đổi, tóc yếu rụng thưa

Trẻ con gặp, không biết nhau

Cười hỏi: ông khách từ đâu đến ? 

Hồi  hương ngẫu thư

Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi

Hương âm vô cải, mấn mao suy

Nhi đồng tương kiến bất tương thức

Tiếu vấn: khách tòng hà xứ lai ?

        Dịch thơ

Bé đi, già mới về nhà,

Tiếng quê vẫn thế, tóc đà rụng thưa.

Trẻ con trông thấy hững hờ,

Cười đùa hỏi khách đến từ phương nao.

                                                      (Khuyết danh)

        Gợi ý sinh viên phân tích

Ngay câu thơ mở đầu đã hàm súc: thi nhân là người mải miết làm quan triều đình, không có thời gian về làng, đi một mạch “từ nhỏ đến già”. Câu đề dùng tiểu đối đã giản dị nói lên phẩm cách cao cả của thi nhân.

“Giọng quê không đổi” cần được hiểu cả theo nghĩa rộng, nghĩa bóng. Đó là tấm lòng không đổi, danh dự người quê hương không đổi, trách nhiệm với làng quê không đổi…

Vì sao bài thơ không nhắc đến những người lớn trong làng ? Có lẽ đó là “chỗ trống”, “khoảng trắng” trong thơ, đặc biệt Đường Thi. Nhà thơ chỉ “mượn” trẻ con để trách người lớn thờ ơ lãnh đạm với ông mà thôi. Nhiều người làng quê chỉ  biết ơn những người trực tiếp đem lợi ích cho làng quê, ai biết đâu tới cái ông quan chức ở triều đình đến già mới về (!).

Lưu ý chữ “ngẫu hứng”. Tuỳ hứng, nhân tiện viết chơi, chả có gì quan trọng đâu ! Nhưng thực ra vấn đề chẳng nhỏ mọn chút nào ! Đó là cách nói tinh tế của nhà thơ. Bài thơ  nói nỗi niềm của một thi nhân, nhưng nhiều người khác cũng đồng cảm chạnh lòng. Thời nào cũng có những trường hợp tương tự. Bài thơ chắc sẽ có sức sống với muôn đời.


Bài  32.    Khiển hoài    遣 怀  Qiǎn huái

[Nói ra nỗi niềm thầm kín]

Đỗ Mục  杜 牧 Dù Mù

落 魄 江 湖 载 酒 行

楚 腰 纤 细 掌 中 轻

十 年 一 觉 扬 州 梦

赢 得 青 楼 薄 幸 名

Luò pò jiāng hú zài jiǔ xíng

Chǔ yāo xiān xì zhǎng zhōng qīng

Shí nián yì jué Yáng Zhōu mèng

Yīng dé qīng lóu bó xìng míng

Lãng đãng giang hồ rượu uống dọc đường

Eo lưng dẹt đét, trong tay nhẹ không

Tỉnh giấc mộng mười năm ở chốn Dương Châu

Nổi danh bạc hạnh chốn lầu xanh

Lạc phách giang hồ tải tửu hành

Sở yêu tiêm tế, chưởng trung khinh

Thập niên nhất giác Dương Châu mộng

Dinh đắc thanh lâu bạc hạnh danh

Chú thích

Câu 2 : “Sở yêu”: cái eo lưng nhỏ thon của con gái nước Sở. Vua Linh Vương thích con gái eo thon nên trong nước có nhiều cô nhịn đói để cho bụng thon mong được  tiến cung .

“Tay nhẹ không”  ý nói “không có tiền”

Nhà thơ tự giễu mình vì đói quá nên gày gò trở thành“Sở yêu”.

Đỗ Mục viết bài này khi  nhớ lại mấy năm lêu lổng ở xứ Dương Châu.

Câu 4: “Bạc hạnh”: hạnh kiểm mỏng manh.

   Lời bàn

Hiếm có những bài thơ tự trào chân thành mộc mạc độc đáo như Đỗ Mục. Thơ ông có ảnh hưởng đến các thi nhân đất Việt trong đó có Hồ Chí Minh. Giọng thơ Đỗ Mục thoải mái, nhẹ nhàng, bùi ngùi khiến độc giả dễ cảm thông lắm … Đọc bài này ta lại nhớ bài “Thanh minh” của ông.

 Bài 33  Khúc giang ức Nguyên Cửu

                     曲 江 亿 元久

Qù Jiāng yì Yuán Jiǔ

[ Ở sông  Khúc  nhớ Nguyên Cửu ]

 

                     Bạch Cư Dị  白 居 易 Bái Ju Yì

 

春来无伴闲游少

行乐三分减二分

何况今朝杏园里

闲人逢尽不逢君

 

Chūn lái wú bàn xián yóu shào
Xíng lè sān fēn jiǎn èr  fēn

Hé kuàng jīn zhāo Xìng yuán lǐ

Xián rén féng jìn bù féng jūn

   Dịch thơ

Không bạn, xuân về ít dạo chơi,

Ba phần vui đã giảm đi hai.

Phương chi vườn hạnh sớm nay nữa,

gặp đủ người chơi thiếu một người.

                                                 (Hoàng Tạo)

     Lời bàn

“Hạnh viên”:  nhà vua trồng vườn cây hạnh làm nơi đón mừng các trạng nguyên,

sau này ý nói vườn văn chương

              Lại một bài thơ tình bằng hữu, dung dị, thấm tình bạn.

 

 

 

 

  


Bài 34.     Khuê oán  闺 怨  Guī  yuàn     

Vương Xương Linh   王昌龄  Wáng Chàng líng

闺中少妇不知愁

春日凝妆上翠楼

忽见陌头杨柳色

悔教夫婿觅封侯

  

 

Guī zhōng shào fù bù zhī chóu

Chūn rì níng zhuāng shàng cuì lóu

Hū jiàn mò tóu yáng liǔ sè

Hùi jiào fū xù mì fēng hòu

Phiên âm Hán Việt

Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu

Xuân nhật ngưng trang thướng thuý lâu

Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc

Hối giao phu tế mịch phong hầu

Dịch nghĩa                       Nỗi oán phòng khuê

Thiếu phụ phòng khuê chẳng biết buồn

Ngày xuân,  trang điểm rồi trèo lên lầu đẹp

Chợt nhìn thấy sắc xuân cây dương liễu  ở bên đường

Bỗng hối hận đã xui chồng tòng quân kiếm ấn phong hầu

Dịch thơ

Thiếu phụ buồng khuê chẳng biết sầu

Ngày xuân trang điểm bước lên lầu

Bên đường chợt thấy màu dương liễu

Tiếc để  chồng ham kiếm tước hầu

(Ngô Văn Phú)

         Lời bàn

Nàng là một khuê phụ, một phu nhân quí tộc trẻ trung. Những ngày chồng mới ra trận, nàng còn tràn đầy hi vọng… Một mùa xuân mới lại đến, nàng trang điểm lên lầu, chợt thấy màu sắc cây dương liễu đã đổi khác…Tâm trạng nàng từ vô tư thành buồn và hối hận.  Cây dương liễu có gì  liên quan đến chàng mà  chinh phụ nhớ  thương ? Màu cây dương liễu nhắc nhở thời gian – ngày tiễn chàng ra đi. Mỗi năm lá cây dương liễu đổi màu theo chu kì bốn mùa… Mới đó đã một năm rồi, chưa nghe tin chiến thắng, chưa thấy chàng mã đáo thành công. Biết đâu chàng ngã ngựa rồi chăng ? (Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi – Vương Hàn)

Một chữ “hối” là linh hồn của bài thơ. Hối là trách mình. Trách về điều gì ? Nàng cũng đã  ham công danh phú quí nên đã “dạy, xui” chàng  ra đi mà ! Bài thơ sâu xa bóng gió oán trách chế độ phong kiến… (Bản dịch thơ của Ngô Văn Phú  viết chàng “ham”, có lẽ oan cho chàng).

Biết bao lớp người phụ nữ Việt Nam suốt trường kì lịch sử cũng trải qua cuộc sống bi thương như “khuê phụ” Trung Hoa. Nỗi khổ tâm mòn mỏi của họ dù có “chặt hết trúc Nam sơn” làm bút cũng không thể nào ghi xiết.


Bài  35 .     Khử phụ          去妇  Qù fù

(Người vợ bị ruồng bỏ)

 

Mạnh Giao 孟郊  Mèng Jiāo

君心匣中镜

一破不复全

妾心藕中丝

虽断犹牵连

  

Jūn xīn xiá zhōng jìng

Yí pò bù fú quán

Qié xīn ǒu zhōng  sī

Suī  duàn yóu qiān lián 

Lòng chàng như gương trong hộp

Đã rạn vỡ khôn hàn gắn

Lòng thiếp như tơ trong ngó sen

Dẫu đứt còn vương vấn

  

Quân tâm hạp trung kính

Nhất phá bất phục toàn

Thiếp tâm ngẫu trung ty

Tuy đoạn do khiên liên

      Dịch thơ

           Lòng chàng gương trong hộp

Rạn vỡ, khôn hàn gắn

Lòng thiếp tơ ngó sen

  Dẫu đứt còn vương vấn

                                                  (KD)

   Lời bàn

 

Tiếp thu hình tượng của bài thơ trên, thi hào Nguyễn Du viết :

“Tiếc thay chút nghĩa cũ càng

                                                   Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”

                                                                                  (Truyện Kiều)

 

 

 

 


Bài 36.  Kim lũ y   金缕衣   Jīn  

 

Đỗ Thu Nương    杜秋娘   Dù Qiū niáng

劝 君莫惜金缕衣

劝君惜取少年时

花开堪折直须折

莫待无花空折枝

Quàn jūn mò xì jīn lǔ yī

Quàn jūn xì qǔ shào nián shí

Huā kāi kān zhé zhí  zhé

Mò dài wú huā kōng zhé zhī 

  Áo kim tuyến

Khuyên chàng chớ tiếc áo kim tuyến

Khuyên chàng tiếc lấy thời tuổi trẻ

Cành hoa có thể bẻ, thì bẻ đi

Đừng chờ hoa hết, hái cành không . 

 Kim lũ y

Khuyến quân mạc tích kim lũ y

Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì

Hoa khai kham chiết trực tu chiết

Mạc đãi vô hoa không chiết chi

      Dịch thơ

Khuyên anh chớ tiếc áo hoa,

Mong anh tiếc lấy thủa ta đương thì.

Cành hoa nên bẻ, bẻ đi,

Đừng chờ hoa hết bẻ gì cành không

                                                                                 (Trần Trọng Kim)

      Chú thích

“Áo kim lũ” là áo quí báu dành cho tướng lĩnh, ngụ ý  người lính công thành danh toại .

Bài thơ phê phán chàng ham công danh sự nghiệp, lãng quên hạnh phúc lứa đôi .

 

 

 

 

 


Bài 37.    Kinh Lỗ, tế Khổng Tử nhi thán chi

                   经鲁祭孔子而叹之

Jīng Lǔ, jì Kǒng zǐ ér tàn zhī

                          [Đi qua nước Lỗ, tế Khổng Tử mà than thở về ông]

Đường Huyền Tông  唐玄宗  Táng Xuán Zōng

夫子何为者

栖栖一代中

地犹鄹氏邑

宅即鲁王宫

叹凤嗟身否

伤麟怨道穷

今看两楹奠

当与梦时同

  

Fū zǐ hé wèi zhě

Qī qī yídài zhōng

Dì yuó Zōu shì yì

Zhài jí Lǔ wáng gōng

Tàn fèng jiē shēn pǐ

Shāng līn yuàn dào qióng

Jīn kàn liǎng yíng diàn

Dāng yǔ mèng shí tóng

Phu tử đã thành nhà gì  ?

Dừng chân trong một thời

Đất thuộc ấp Châu Thị

Nhà ở thuộc cung vua Lỗ

Tiếc phượng, than thân khổ

Thương xóm giềng, oán đạo tận

Nay thấy hai ngôi điện

Thật và mộng như nhau .

Phu tử hà vi giả  ?

Thê thê nhất đại trung

Địa do Châu thị ấp

Trạch tức Lỗ vương cung

Thán phượng ta thân bĩ

Thương lân oán đạo cùng

Kim khan lưỡng doanh điện

Đương dữ mộng thời đồng

Dịch thơ

Khổng phu tử đã làm gì,

Một đời vội vã đi về những đâu ?

Quê hương ở ấp họ Châu,

Nhà xưa cung điện Lỗ hầu bao vi.

Than thân tiếc phượng lâm nguy,

Thương lân oán đạo suy vi khốn cùng.

Nay xem miếu mạo tôn sung,

Rõ như trong mộng thật không khác gì !

                                                                                       (Trần Trọng Kim)

             Chú thích

“Tiếc phượng”  ý nói tiếc công danh phú quí .

Bài thơ cũng nói lên tình trạng suy tàn của Đạo Nho .


Bài  38.  Kí  Đỗ Vị    寄 杜 位  Jì Dù Wèi

                       Đỗ Phủ  杜 甫 Dù Fǔ

         

 

寒日经 檐短

穷 猿 失 木 悲

峡 中 为 客 久

江 上 忆 君 时

天 地 身 何 在

风 尘 病 敢辞

封书 两 行泪

沾 洒 裛 新诗

  

Hán rì jīng yán duǎn

Qióng yuán shī mù bēi

Xié zhōng wéi kè jiǔ

Jiāng shàng yì jūn shí

Tiān dì shēn hé zài

Fēng chén bìng gǎn cí

Fēng shū liǎng háng lèi

Zhān sǎ yì xīn shī

 

           Gửi ông Đỗ Vị

Ngày rét, mặt trời chóng qua thềm,

Mất cây, cùng đường, vượn buồn rầu,

Nấn ná lâu ngày, ở gửi nơi kẽm sông,

Khi ở trên sông lại nhớ đến bác.

Khắp trời đất biết gửi thân nơi nào ?

Bước phong trần đau ốm không dứt

Gửi lá thư, hai hàng lệ rỏ,

Đầm đìa thấm vào dòng thơ mới

  

 Kí Đỗ Vị

      

Hàn nhật kinh thiềm đoản,

Cùng viên thất mộc bi.

Hiệp trung vi khách cửu,

Giang thượng ức quân thì.

Thiên địa thân hà tại,

Phong trần bệnh cảm từ

Phong thư lưỡng hàng lệ,

Triêm sái ấp tân thi.

 

                   Dịch thơ

Bóng giời rét qua thềm thoăn thoắt,

Vượn cùng đường mất ổ những bi ai.

Nơi kẽm sông nấn ná bấy lâu rồi,

Trên sông đó, nghĩ người thêm tưởng nhớ.

Khắp giời đất biết đâu là chốn ở,

Bước phong trần biết đau ốm nữa nài sao !

Phong thư hàng lệ tuôn rào,

Đầm đìa lã chã thấm vào hàng thơ.

(Á Nam Trần Tuấn Khải)

                     Lời bàn

Tình bằng hữu không nguôi trong các thi nhân thời Đường .


Bài   39.      Ký  phu  

nữ sĩ Trần Ngọc Lan   陈 玉 兰   Chén Yù Lán

夫戍边关妾在吴

西风吹妾妾忧夫

一行书信千行泪

寒到君边衣到无 

Fū shù biān guān  qiè zài Wú

Xī fēng chuī qiè qiè yōu fū

Yì háng shū xìn qiān háng lèi

Hán dào jūn biān yī dào wú ?

 

Gửi chồng

Chàng đi lính biên giới, thiếp ở xứ Ngô

Gió Tây thổi thiếp, thiếp nhớ chồng

Một hàng thư gửi, ngàn hàng lệ

Rét đến bên chàng, áo đến không  ?

Phu thú biên quan, thiếp tại Ngô

Tây phong xuy thiếp, thiếp ưu phu

Nhất hàng thư tín, thiên hàng lệ

Hàn đáo quân biên, y đáo vô  ?

Dịch thơ

Chồng trấn tây cương thiếp ở đông,

Gió tây lạnh thiếp thiếp thương chồng.

Một dòng thư gửi trăm dòng lệ,

Rét đến bên chàng áo đến không

(Tương Như)

 

Lời bàn

Vì sao chinh phụ lo lắng áo gửi có đến tay chồng ? Nạn tham nhũng ăn cắp trong quân đội đã khiến người chinh phụ lo âu hay lo những bất trắc trên đường vận chuyển ?

Vận dụng bài thơ trên, trong thời  kháng chiến chống Pháp, nhà thơ Hồ Chí Minh viết

bài “Tư chiến sĩ” (Nhớ chiến sĩ)

:

“Áo rét gửi mau cho chiến sĩ

Trời loe nắng ấm báo xuân sang”

 

  


Bài  40.  Lâm giang tống Hạ Chiêm   

    Bạch Cư Dị  白 居 易 Bái Jū  Yì

 

 

悲君老 别 泪 沾 巾

七十 无 家万 里身

愁见舟 行 风又起

白头 浪里白 头 人Lín  jiāng  sòng  Xià  Zhān

Bēi jūn lǎo bié lèi zhān jīn
Qī shí wú jiā wàn lǐ shēn
Chóu jiàn zhōu xíng fēng yòu qǐ
Bái tóu làng lǐ bái tóu rén

 

Ra bên sông tiễn Hạ Chiêm

Thương anh tuổi già vẫn phải li biệt, (tôi) rơi lệ

thấm ướt cả khăn.

Bảy mươi tuổi không nhà, tấm thân ở xa xôi muôn dặm

Buồn thấy thuyền đi, trời lại nổi gió,

Giữa đám sóng bạc đầu có con người đầu bạc!

  

Lâm giang tống Hạ Chiêm

Bi quân lão biệt, lệ triêm cân,

Thất thập vô gia vạn lí thân.

Sầu kiến chu hành phong hựu khởi

Bạch đầu lãng lý, bạch đầu nhân  !

       Lời bàn

Tuổi già người ta cần bạn hữu biết chừng nào, nhất là khi người bạn còn long đong

lận đận. Nỗi thương thân và thương bạn hòa quyện với nhau .


Bài 41.   Lục ngôn tuyệt cú    Liù  yán  jué  jù  

Vương Duy   王 维  Wáng wéi

桃 红复 含 宿 雨

柳 绿更 带 朝 烟

花 落家 童 未 扫

莺 啼山 客 犹 眠

  

Táo hóng fù hán sù yǔ

Liǔ lǜ gèng dài zhāo yān

Huā luò jiā tóng wèi sǎo

Yīng tí shān kè yóu mián 

Đào hồng còn đẫm nước mưa

Liễu xanh lại dầm sương sớm

Hoa rụng, gia đồng chưa quét

Oanh kêu, khách núi còn ngủ (say) 

Đào hồng phục hàm túc vũ

Liễu lục cánh đái triêu yên

Hoa lạc gia đồng vị tảo

Oanh đề sơn khách do miên

 

       Lời bàn

Một bức tranh núi buổi sớm, nhà thơ và một “sơn khách”an nhàn, hưởng lạc.

Thật khó đặt một tựa đề thỏa mãn cho bài thơ này nên thi nhân tạm đặt là “lục ngôn tuyệt cú”.

“Đào hồng liễu lục” là cảnh tượng tiêu biểu của mùa xuân lá hoa tươi tốt. Mưa và sương mùa xuân bám vào lá cây hoa càng thêm đẹp trong con mắt thưởng thức mê say của thi nhân.

Bài thơ có ba nhân vật: thi nhân (ẩn sĩ), khách và gia đồng. Nhìn khách ngủ ngon, chủ nhà làm thơ.


Bài  42.         凉州词   Liáng zhōu cí / Lương Châu từ

                       Vương Hàn  王翰  Wáng Hán

葡萄美酒夜光杯

欲饮琵琶马上催

醉卧沙场君莫笑

古来征战几人回

  

Pú táo měi jiǔ yè guāng bēi

Yù yǐn, pípá mǎ shàng cuī

Zuì wò shā chǎng jūn mò xiào

Gǔ lái zhēng zhàn jǐ rén huí 

Bài hát Lương Châu

Rượu ngon bồ đào, chén lưu li

Muốn uống tì bà trên ngựa giục giã

Say nằm sa trường anh đừng cười

Xưa nay chinh chiến mấy ai về 

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi

Dục ẩm tì bà mã thượng thôi

Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu

Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi  !

 

 

      Dịch thơ

Chén ngọc rượu nho ta muốn uống

Tỳ bà trên ngựa giục giã người

Say nằm chiến địa đừng cười nhé

Chinh chiến xưa nay mấy kẻ về ?

                                                                      (Phùng Hoài Ngọc)

Chú thích

Lương Châu là một vùng đất thuộc tỉnh Cam Túc. Nơi thường diễn ra xung đột chống quân

xâm lược phương Bắc.

Bài thơ được sáng tác từ tên gọi của một điệu hát cổ (từ)

Lời bàn

“mã thượng” có hai nghĩa: một là “trên ngựa”, hai là “lập tức”.

Hai chữ này đều có thể thích hợp với bài thơ.

“Tỳ bà mã thượng”có thể nói về chùm lục lạc nhạc ngựa của đoàn kỵ mã đang chồn chân. Có thể “tỳ bà mã thượng” là nhóm nhạc công ngồi trên lưng ngựa giúp vui cho buổi tiệc khao quân xuất trận (ý kiến học giả Trương Thái Du).

Tỳ bà giục uống rượu hay là giục lên đường?

Dẫu sao, người lính vẫn uống say nghiêng ngả.

Than ôi người Việt Nam đã qua bao thế kỉ  buồn bã ngâm câu thơ “cổ lai chinh chiến kỷ

nhân  hồi” ! Nhà thơ Hữu Loan  mượn ý này viết vào bài thơ Màu tím hoa sim :

“ Lấy chồng thời chiến chinh

mấy người đi trở lại ”.


Bài 43.   留别王维 Líu bié Wáng Wéi / Lưu biệt Vương Duy

                  Mạnh Hạo Nhiên       Mèng Hào Rán

 

寂寂竟何待

朝朝空自归

欲寻芳草去

惜与故人违

当路谁相假

知音世所稀

只应守寂寞

还掩故园扉

  

Jì jì jìng hé dài

Zhao zhao kōng zì guī

Yù xún fāng cǎo qù

Xī yǔ gù rén wéi

Dāng lù shuí xiāng jiǎ

Zhī yīn shì suǒ xī

Zhǐ yīng shǒu jí mò

Huán yǎn gù yuán fēi

 

 

Chia tay với Vương Duy

Tối tối  đợi chờ đến

Sớm sớm không tự về

Muốn đi tìm nơi cỏ thơm,

Tiếc rằng  trái  ý bạn cũ

Người  trên đường ai che chở đây.

Trên đời  bạn tri âm thật hiếm,

Đành im lặng cho qua ngày,

Về vườn cũ cài chặt đám cỏ song

 

    Lưu biệt Vương Duy

Tịch tịch cánh hà đãi

Triêu triêu không tự quy.

Dục tầm phương thảo khứ,

Tích dữ cố nhân vi.

Đương lộ thuỳ tương giả,

Tri âm thế sở hi.

Chỉ ưng thủ tịch mịch,

Hoàn yểm cố viên phi.

 

Dịch thơ                                          

Chia biệt Vương Duy

 

Quạnh hiu nào ai đợi,

Sớm sớm uổng đi về,

Muốn đến nơi cỏ lạ,

Bạn nào đã chịu nghe,

Dọc đường ai che chở,

Bạn thiết đời vắng hoe

Lặng lẽ qua ngày tháng

Cửa sài vui đất quên .

(Ngô Văn Phú)

                  Lời bàn

Thiếu bạn tri kỉ thì về đóng cửa tự nhốt mình, hành vi độc đáo của thi nhân.


Bài  44.             刘阮游天   Lưu Nguyễn du Thiên Thai

Tào Đường    曹唐 Cáo Táng

刘阮游天

树入天台石路新

云和草静迥无尘

烟霞不省生前事

水木空疑梦后身

往往鸡鸣岩下月

时时犬吠洞中春

不知此地归何处

须就桃源问主人

  

Liú Ruǎn yóu Tiān tāi

 

Shù rù Tiān Tái shí lù xīn

Yún hé cǎo jìng jiǒng wú chén

Yān xiá bù shěng shēng qián shì

Shuǐ mù kōng yí mèng hòu shēn

Wǎng wǎng jī míng yán xià yuè

Shí shí quán feì dòng zhōng chūn

Bù zhī cǐ dì guī hé chù

Xū jiù Táo Yuán wèn zhǔ rén

 

Theo cây đi vào Thiên Thai  đường đá mới

Mây êm cỏ lặng không chút bụi trần

(nhìn) Khói và ráng, không tỉnh để nhớ việc cũ

(thấy) Dòng sông và cây, ngỡ nằm mộng thức dậy

Thi thoảng tiếng gà gáy bên sườn núi dưới trăng

Liên miên tiếng chó sủa trong động vào giữa mùa xuân

Chẳng hay vùng đất này ở xứ nào ?

Hãy tới Đào Nguyên hỏi chủ nhân .

Thụ nhập Thiên Thai thạch lộ tân

Vân hoà thảo tĩnh, quýnh vô trần

Yên hà, bất tỉnh sinh tiền sự

Thuỷ mộc, không nghi mộng hậu thân

Vãng vãng kê minh nham hạ huyệt

Thời thời khuyển phệ động trung xuân

Bất tri thử địa qui hà xứ

Tu tựu Đào Nguyên vấn chủ nhân

        Dịch thơ                                         

Lưu Nguyễn đi chơi cõi Thiên Thai

 

Rẽ lối Thiên Thai mới lạ lùng,

Mây êm cỏ mát bụi trần không.

Ráng mù kiếp trước càng mê mẩn,

Rừng suối thân sau những chốc mòng.

Gáy nguyệt xôn xao gà dưới núi,

Mách xuân văng vẳng chó trong thung.

Chốn này chưa biết ai là chủ,

Hãy tới Đào nguyên ướm hỏi cùng.

(Phạm Thiều Du)

Chú thích:

Hai chàng Lưu Thần và Nguyễn Triệu đi hái thuốc theo dòng suối trôi những cánh hoa đào (đào nguyên) đi ngược lên, tới rừng đào thấy có động Thiên Thai, gặp các tiên nữ ở đó (truyền thuyết thời Hán).
B
ài 45.            刘阮洞中遇仙子

                    Lưu Nguyễn động trung ngộ tiên tử

Tào Đường 曹唐 Cáo Táng

刘阮洞中遇仙子

天和树色霭苍苍

霞重岚深路渺茫

云实满山无鸟雀

水声沿涧有笙簧

碧沙洞里乾坤别

红树枝前日月长

愿得花间有人出

免令仙犬吠刘郎

 Liú Ruǎn dòng zhōng yù xiān zǐ

Tiān hé shù sè ài cāng cāng

Xiá zhòng lán shēn lù liào máng

Yún shí mǎn shān wú niǎo què

Shuǐ shēng yán jiàn yǒu shēng huáng

Bì shā dòng lǐ qián kūn bié

Hóng shù zhī qián rì yuè cháng

Yuán dé huā jiān yǒu rén chū

Miǎn lìng xiān quǎn fèi Liú Láng

 

 

Da trời lẫn với màu cây xanh ngăn ngắt

Ráng nặng nề, hơi núi âm u, đường đi mênh mang

Mây phủ khắp núi, không một bóng chim sẻ

Tiếng suối chảy dọc theo khe như tiếng sáo

Trong động cát biếc, riêng một cảnh trời đất

Trước cành cây lá đỏ, ngày rộng tháng dài

Ước mong trong hoa có người ra đón

Để khỏi chó nhà tiên sủa chàng Lưu

Tiên hoà thụ sắc ái thương thương

Hà trọng lam thâm lộ diểu mang

Vân thực mãn sơn vô điểu tước

Thuỷ thanh duyên giản hữu sinh hoàng

Bích sa động lí càn khôn biệt

Hồng thụ chi tiền nhật nguyệt trường

Nguyện đắc hoa gian hữu nhân xuất

Miễn lệnh tiên khuyển phệ Lưu lang

Dịch thơ

Lưu Nguyễn trong động gặp tiên tử

 

Xanh ngắt màu cây lẫn sắc trời,

Mịt mù khói toả nơi xa khơi.

Bóng mây đầy núi chim khôn đậu,

Tiếng nước quanh khe sáo giục hồi.

Trong động cát xanh trời đất lạ,

Bên cây lá thắm tháng ngày dài.

Dưới hoa ước có ai ra đón,

Để chó nhà tiên khỏi sủa người.

                                                (Ngô Tất Tố)

Lời bàn

Cảm hứng du tiên của Tào Đường thật hoàn hảo với một chùm thơ bát cú công phu. Ngộ nghĩnh thay khi thi nhân nghĩ rằng ở động tiên có nuôi cả chó giữ nhà (!). Động tiên cũng

quen thuộc như cõi trần gian vậy.


Bài  46刘阮再到天台不复见诸仙子

Liú Ruǎn zài dào Tiān Tái bù  fù jiàn zhū xiān zǐ

Lưu Nguyễn tái đáo Thiên Thai bất phục kiến chư tiên tử

         Tào Đường    曹唐 Cáo Táng

再到天台访玉真

青苔白石已成尘

笙歌寂寞闲深洞

云鹤萧条绝旧邻

草树总非前度色

烟霞不似往年春

桃花流水依然在

不见当时劝酒人Zài dào Tiān Tái fǎng Yù Zhēn

Qīng tái bái shí yǐ chéng chén

Shēng gē jí mò xián shēn dòng

Yún hé xiāo tiáo jué jiù lín

Cǎo shù zǒng fēi qián dù sè

Yān xiá bú sì wǎng nián chūn

Táo huā liú shuǐ yī rán zài

Bú jiàn dāng shí quàn jiǔ rén

 

 

Lại đến Thiên Thai thăm hỏi Ngọc Chân

Đá trắng rêu xanh đã phủ bụi

Không còn đàn ca  động sâu quạnh quẽ im lặng

Xóm cũ tiêu điều vắng bóng mây hạc

Cỏ cây đều khác hẳn màu sắc ngày trước

Khói ráng chẳng như cảnh xuân năm trước.

Dòng suối hoa đào vẫn còn nguyên đó

Không thấy người chuốc rượu cho mình hồi ấy đâu . 

Tái đáo Thiên Thai phỏng Ngọc Chân

Thanh đài bạch thạch dĩ thành trần

Sinh ca tịch mịch nhàn thâm động

Vân hạc tiêu điều tuyệt cựu lân

Thảo thụ tổng phi tiền độ sắc

Yên hà bất tự vãng niên xuân

Đào hoa lưu thuỷ y nhiên tại

Bất kiến đương thời khuyến tửu nhân

     Dịch thơ

Lại đến Thiên Thai hỏi Ngọc Châu

Rêu xanh đá trắng nhuộm màu trần

Đàn im ca vắng trơ hang rỗng

Hạc lặng mây lờ dứt nghĩa thân.

Cây cỏ rày xem ngơ ngẩn sắc

Khói sương giờ cũng hững hờ xuân.

Hoa đào nước chảy y như cũ

Chén rượu khuyên mời vắng chủ nhân

(K.D)

      Chú thích:  Ngọc Chân, tên một nàng tiên trong động Thiên Thai .

Chùm thơ “Lưu Nguyễn” và “Thiên thai” của Tào Đường đạt tới đỉnh cao của cảm hứng thoát tục tìm cõi thần tiên…nhưng cảm xúc gắn bó với cõi đời hiện thực dường như vẫn còn khá đậm.

 


  Bài 47.                           陌 上 赠 美 人

Mạch thượng tặng mĩ nhân

[Trên đường, tặng (thơ) cho mĩ nhân]

                                   Lí Bạch 李白 Lǐ Bái

陌上赠美人

骏马骄行踏落花

垂鞭直拂五云车

美人一笑搴珠箔

遥指红楼是妾家

      Mò shàng zèng měi rén

 

Jùn mǎ jiāo xíng tà luò huā

Chuí biān zhí fú wǔ yún chē

Měi rén yí xiào qiān zhū bò

Yáo zhǐ hóng lóu shì qiè jiā

Con tuấn mã đi nghênh ngang giẫm lên hoa rụng

Buông roi phất thẳng vào cỗ xe mây năm màu

Người đẹp liền cười, kéo rèm châu nhìn ra

Trỏ lầu hồng phía xa: đó là nhà em. 

Tuấn mã kiêu hành đạp lạc hoa

Thuỳ tiên trực phất ngũ vân xa

Mĩ nhân nhất tiếu khiên châu bạc

Dao chỉ hồng lâu thị thiếp gia

            Dịch thơ

Vó ngựa đạp trên những cánh hoa

Đầu roi lướt chạm cỗ xe ngà

Vén rèm người đẹp cười tươi trỏ

Nhà thiếp lầu hồng cách phía xa.

                                                   (Trần Trọng Kim)

          Lời bàn

Nhà thơ gặp mỹ nhân đi xe ngựa trên đường, bèn làm thơ tặng nàng. Nàng trỏ

nhà  mình ở chỗ hồng lâu khuê các. Người đẹp thân thế ra sao, ở đâu cũng đáng

được tặng  thơ  !


Bài 48.                茅屋为秋风所破歌

Mao ốc vị thu phong sở phá ca

                    杜甫  Dù Fǔ / Đỗ Phủ 

 

  茅屋为秋风所破歌

八月秋高风怒号

卷我屋上三重茅

茅飞度江洒 江郊

高者挂罥长林梢

下者飘转沉塘坳

南村群童欺我老无力

忍能对面为盗贼

公然抱茅入竹去

唇焦口 燥呼不得

归来依仗自叹息

俄顷风定云墨色

秋天漠漠向昏黑

布衾多年冷似铁

骄儿恶卧踏里裂

床头屋漏无乾处

雨脚如麻未断绝

自经丧乱少睡眠

长夜沾湿何由彻

安得广厦千万间

大庇天下寒士俱欢颜

风雨不动安如山   呜呼!何时眼前突兀见此屋     吾庐独破受冻死亦足。

 Máo wú wéi qiū fēng suǒ pò gē

Bā yuè qiū gāo fēng nù hào

Juǎn wǒ wù shàng sān chóng máo

Máo fēi dù jiāng sǎ jiāng jiao

Gān zhě guà juān cháng lín shāo

Xià zhě piāo zhuǎn chén táng ào

Nán cūn qún tóng qī wǒ lǎo wú lì

Rěn néng duì miàn wéi dào zéi

Gōng rán bào máo rù zhú qù

Chún jiāo kǒu zào hū  bù dé

Guī lái yī zhàng zì tán xí

É qǐng fēng dìng yún mò sè

Qiū tiān mò mò xiàng hūn hēi

Bù qīn duō nián lěng sì tiě

Jiào ér è wò tà lǐ liè

Chuáng tóu wù lòu wú gān chù

Yǔ jiǎo rú má wèi duán jué

Zì jīng sàng luàn shǎo shuì miǎn

Cháng yè zhàn shì hé yóu chè

Ān dé guǎng shà qiàn wàn jiān

Dà bì tiān xià hán shì jù huān yán

Fēng yǔ bú dòng ān rú shān

Wū hū ! hé shí yǎn qián tù wù jiàn cǐ wù

Wú lú dú pò shòu dòng sǐ yì zú .

 

Bài hát ngôi nhà bị gió thu phá nát

 

Tháng tám, đang giữa mùa thu, gió gào dữ dội

Cuốn phăng cả mấy lớp tranh trên mái nhà ta.

Tranh bay qua sông, rải rác khắp vùng ven sông

Cái bay cao thì mắc trên ngọn cây rừng.

Cái bay thấp thì quay lộn rồi rơi xuống vùng  ao

chuôm chìm nghỉm.

Lũ trẻ xóm Nam khinh ta già yếu,

Trước mắt ta dám làm đám kẻ cướp

Cứ công nhiên ôm tranh chạy khuất vào bụi tre.

Rát cổ bỏng họng gào chẳng ăn thua gì,

Ta đành quay về, chống gậy đứng thở dài !

Chốc lát gió yên mây đen như mực,

Cảnh trời thu mịt mờ, mỗi lúc một tối.

Chiếc chăn vải đã cũ, lạnh như đồng

Thằng con xấu nết, nằm trái thói, lục đục đạp rách toang.

Nhà đã dột, giường không chỗ nào khô,

Mưa cứ rả rích không ngớt hạt.

Từ khi loạn lạc, mình đã ít ngủ

Nay lại bị giầm nước thâu đêm, chịu sao nổi đến sáng

Ước giúp hàng nghìn vạn gian nhà rộng rãi,

Để che ủ cho tất cả hàn sĩ trong thiên hạ, khiến mặt ai cũng được tươi vui,

Vững như núi chẳng sợ mưa gió lay chuyển!

Than ôi ! Bao giờ được trông thấy ngôi nhà ấy hiện ra cao ngất,

Thì dù một cái nhà tan nát, một mình ta chết cũng cam lòng !

(NT dịch)

 Mao ốc vị thu phong sở phá ca

 

Bát nguyệt thu cao phong nộ hào

Quyển ngã ốc thượng tam trùng mao

Mao phi độ giang sái giang giao

Cao giả quải quyên trường lâm sao

Hạ giả phiêu chuyển trầm đường ao

Nam thôn quần đồng khi ngã lão vô lực

Nhẫn năng đối diện vi đạo tặc

Công nhiên bão mao nhập trúc khứ

Thần tiêu khẩu táo hô bất đắc

Quy lai ỷ trượng tự thán tức  !

Nga khoảnh phong định, vân mặc sắc

Thu thiên mạc mạc hướng hôn hắc

Bố khâm đa niên lãnh tự thiết

Kiêu nhi ác ngoạ đạp lí liệt

Sáng đầu ốc lậu vô can xứ

Vũ cước như ma vị đoạn tuyệt

Tự kinh táng loạn thiểu thuỵ miên

Trường dạ triêm thấp hà do triệt !

An đắc quảng hạ thiên vạn gian

Đại tý thiên hạ hàn sĩ câu hoan nhan

Phong vũ bất động an như sơn

Ô hô ! Hà thì nhãn tiền đột ngột hiện thử ốc

Ngô lư độc phá thụ đống tử diệc túc  !

Lời bàn

Thi nhân tuổi già bao nỗi khổ nhọc, tủi thân… Đám trẻ nhỏ cũng vô tình như mưa gió vậy… Bỗng nhiên ông quên mình mà thương xót cho tất cả hàn sĩ trong thiên hạ. Đó thực là Đỗ Phủ .

 


Bài 49.                 鸣筝   Míng zhēng

                                                 Minh tranh  (Đàn tranh)

 

Lí Đoan  李端 Lǐ  Duān

鸣筝金粟柱

素手玉房前

欲得周郎顾

时时误拂弦

Míng zhēng jin sù zhù

Sù shǒu yù fáng qián

Yù dé Zhōu láng gù

Shí shí wú fú xián 

Đàn tranh phím bằng vàng

Bàn tay trắng đẹp trước phòng ngọc

Muốn Chu lang quay nhìn

Thỉnh thoảng gẩy sai dây đàn

 

Minh tranh kim túc trụ

Tố thủ ngọc phòng tiền

Dục đắc Chu lang cố

Thời thời ngộ phất huyền

Dịch thơ

Đàn minh tranh phím trụ vàng,

Bàn tay trắng đẹp của nàng trên dây

Muốn chàng quay mặt nhìn đây

Bồn chồn thi thoảng gẩy sai cung đàn.

                                                   (Phùng Hoài Ngọc)

Chú thích

Có sách ghi tựa đề là “Thính tranh”  听筝  (Nghe đàn tranh)

Lời bàn

Giai thoại: Chu Du là một đại tướng nhưng rất say mê âm nhạc. Có lần, Chu Du mời một kĩ nữ đàn tranh nổi tiếng đến biểu diễn. Kĩ nữ rất vui mừng, hồi hộp được mời, được phục vụ bậc anh hùng nổi tiếng nhất xứ Đông Ngô. Khi cô đàn, Chu lặng nghe, nhắm nghiền mắt. Nhưng cô lại muốn Chu vừa nghe đàn vừa nhìn ngắm sắc đẹp của cô. Cô nghĩ ra mẹo: gẩy sai một nốt nhạc, thế là Chu Du bừng mắt, cau mặt nhìn kĩ nữ như oán trách. Cô rất thích thú, lại gảy tiếp thật hay…Thi thoảng cô lại  dùng mẹo ấy …

Ai giỏi nhạc hơn ai, kĩ nữ hay đại đô đốc Chu Du ? Cuộc tao ngộ thú vị giữa một  nghệ sĩ biểu diễn và một nhà phê bình âm nhạc. Mỗi người đều có năng lực âm nhạc khác nhau. Họ đều hiểu rõ tài năng của người kia .


Bài  50.                      暮 春 归 故 山 草 堂

Mù chūn guī gù shān cǎo táng

             Mộ xuân qui cố sơn thảo đường

                [Cuối xuân trở về nhà cỏ nơi núi cũ]

       Tiền Khởi    钱 起 Qián Qǐ

谷 口 春 残 黄 鸟 稀

辛 夷 花 尽,杏 花 飞

始 怜 幽 竹 山 窗 下

不 改 清 阴 待 我 归

Gǔ kǒu chūn cán huáng niǎo xī

Xīn yī huā jìn xìng huā fēi

Shǐ lián yōu zhú shān chuāng xià

Bù gǎi qīng yīn dài wǒ guī

Cửa động xuân tàn, chim hoàng oanh hiếm hoi

Hoa tân di rụng hết, hoa hạnh bay bay

Chỉ thương cây trúc lặng lẽ dưới song cửa núi

Không thay đổi sắc màu, đợi ta về

 

Cốc khẩu xuân tàn hoàng điểu hi

Tân di hoa tận, hạnh hoa phi

Thỉ liên u trúc sơn song hạ

Bất cải thanh âm đãi ngã qui

     Lời bàn

 Hoa lá  chim muông có thể vô tình với người xa xứ. Cây trúc, bạn của thi nhân thì vẫn chung thủy đợi chờ. Xuất phát từ một ẩn dụ: cây trúc, cây mai gióng ngay đốt thẳng, trước sau như một, chung thủy không dời đổi. Đất nước Trung Hoa đã dành riêng một họa gia Trịnh Bản Kiều suốt đời vẽ cây trúc (Phim Dương Châu  tứ kiệt 扬 州 四 杰).

 


Bài  51.          Mèng Lǐ Bái / Mộng Lí Bạch

杜 甫 Dù Fǔ/ Đỗ Phủ

死 别 已 吞 声

生 别 长 恻 恻

江 南 瘴 疠地

逐 客 无 消 息

故 人 入 我 梦

明 我 长 相 忆

君 今 在 罗 网

何 以 有 羽 翼

恐 非 平 生 魂

路 远 不 可 测 !

魂 来 枫 林 青

魂 返 关 山 黑

落 月 满 屋 梁

犹 疑 照 颜 色

水 深 波 浪 阔

无 使 蛟 龙 得 

Sǐ biè yǐ tun sheng

Shēng bié cháng cè cè

Jiāng nán zhàng lì dì

Zhú kè wú xiāo xí

Gù rén rù wǒ mèng

Míng wǒ cháng xiāng  yì

Jūn jīn zài luó wǎng

Hé yǐ yǒu yǔ yì ?

Kǒng fēi píng shēng hún

Lù yuǎn bù kě cè

Hún lāi feng līn qing

Hún fǎn guān shān hēi

Luò yuè mǎn wù liáng

Yóu yí zhào yán sè

Shuǐ shēn bō lǎng kuò

Wú shǐ jiāo lóng dé

 

         Mơ thấy Lí Bạch

Chết phải lìa nhau, khóc đến nghẹn lời,

Sống phải lìa nhau, lòng càng đau xót.

Giang Nam là nơi ma thiêng nước độc,

Người đi đày chẳng có tin tức gì.

Bạn đến với ta trong giấc mơ,

Đã biết ta nhớ nhung không dứt.

Bạn bây giờ đang mắc trong bẫy lưới,

Lông cánh đâu mà bay về được ?

E rằng không phải hồn bạn còn sống,

Vì đường xa xôi không thể lường được !

Hồn về rừng phong xanh ngắt,

Hồn đi quan ải đen ngòm.

Trăng xế toả ánh đầy nóc nhà,

Còn ngờ như soi vào vẻ mặt của bạn,

Nước sâu, sóng cả,

(Mong) bạn thoát khỏi miệng loài giao long 

Mộng Lí Bạch

Tử biệt dĩ thôn thanh,

Sinh biệt thường trắc trắc.

Giang Nam chướng lệ đia,

Trục khách vô tiêu tức.

Cố nhân nhập ngã mộng,

Minh ngã trường tương ức.

Quân kim tại la võng,

Hà dĩ hữu vũ dực.

Khủng phi bình sinh hồn,

Lộ viễn bất khả trắc !

Hồn lai phong lâm thanh,

Hồn phản quan tái hắc.

Lạc nguyệt mãn ốc lương,

Do nghi chiếu nhan sắc.

Thuỷ thâm ba lãng khoát,

Vô sử giao long đắc  !

 

Dịch thơ

Chết đành lặng ngắt tâm hơi

Sống mà xa cách sao nguôi tấc lòng;

Giang Nam chướng độc muôn trùng,

Mong người bị đuổi tin hồng vẳng tanh.

Chiêm bao lẩn khuất bên mình,

Tỏ rằng ta vẫn nặng tình nhớ nhung.

Bạn nay còn mắc lưới hồng,

Cánh đâu tháo cũi sổ lồng cao bay ?

Phải chăng hồn sống về đây ?

Nẻo đường xa lắc dễ hay mà lường.

Hồn đi xanh ngắt rừng bàng,

Hồn về cửa ải dặm đường tối đen.

Trên xà xế bóng trăng xiên

Mơ hồ còn tưởng như in vẻ người.

Nước sâu sóng rợn đầy giời,

Giữ sao cho khỏi mắc mồi giao long.

(Á Nam)

 

             Lời bàn

Văn chương viết về ái tình nam nữ ưa tả “người trong mộng”. Với thi nhân đời  Đường, bằng hữu nam nhân cũng hiện về trong giấc mộng …Lý Bạch hiện về trong giấc mộng Đỗ Phủ khiến ông lo lắng nôn nao.

Đỗ Phủ đã hiểu thấu Lí Bạch là người rất dễ mắc tai ương bởi tính khí phóng khoáng khác người… “Giấc mộng” có thể là hiện thực song đôi khi là một  ước lệ trong thơ cổ điển.

Bài  52.                                 月夜  Yuè yè / Nguyệt dạ

 Lưu Phương Bình    刘方平   Liú Fāng Píng

更 深 月 色 半 人 家

北 斗 阑 干 南 斗 斜

今 夜 偏 知 春 气 暖

虫 声 新 透 绿 窗 纱 

Gēng shēn yuè sè bàn rén jiā

Běi dǒu lán gān Nán dǒu xié

Jīn yè piān zhī chūn qì nuǎn

Chóng shēng xīn tòu lù chuāng shā

Đêm khuya trăng chiếu nửa nhà

Sao Bắc đẩu phía trước lan can, sao Nam đẩu đã xế

Đêm nay mới biết rằng hơi xuân ấm áp

Tiếng côn trùng mới thấm vào tận cửa sổ lụa xanh 

Canh thâm nguyệt sắc bán nhân gia

Bắc đẩu lan can Nam đẩu tà

Kim dạ thiên tri xuân khí noãn

Trùng thanh tân thấu lục song sa

       Dịch thơ

      Đêm trăng

Đêm khuya bóng nguyệt chiếu ngang nhà

Bắc đẩu trên hiên, Nam đẩu tà

Mới biết đêm nay xuân khí ấm

Tiếng trùng mới đậu chỗ song sa

(Trần Trọng Kim)

      Chú thích

Câu 3: “Thiên” ở đây nghĩa là “mới, chỉ”. (Bản Đường Thi tam bách thủ (sđd) chọn nghĩa là “thêm” có lẽ không thích hợp).

 

       Lời bàn

Thi nhân thức khuya cùng trăng lạnh, cảm nhận được hơi xuân ấm áp bắt đầu từ đêm ấy

Người còn cảm thông được với những loài côn trùng nao nức đón khí xuân.

Bài 53.  月下独酌 Yuè xià dú zhuó / Nguyệt hạ độc chước

[Uống rượu một mình dưới trăng]

                           Lí Bạch 李白 Lǐ Bái

花间一壶酒

独酌无相亲

举杯邀明月

对影成三人

月既不解饮

影徒随我身

暂伴月将影

行乐须及春

我歌月徘徊

我舞影零乱

醒时同交欢

醉后各分散

永结无情游

相期邈云汉

 Huā jiān yì hú jiǔ

Dú zhuó wú xiāng qīn

Jǔ bēi yāo míng yuè

Duì yǐng chéng sān rén

Yuè jì bù jiě yǐn

Yǐng tú suí wǒ shēn

Zàn bàn yuè jiāng yǐng

Xíng lè xū jí chūn

Wǒ gē yuè pái huái

Wǒ wǔ yǐng líng luàn

Xǐng shí tóng jiāo huān

Zuì hòu gè fēn sàn

Yǒng jiē wū qíng yóu

Xiāng qī miǎo Yún Hán

 

 

Giữa hoa một hồ rượu

Một mình rót uống không người thân

Nâng chén mời trăng sáng

Cùng bóng mình thành ba người

Trăng không biết uống rượu

Bóng thì theo thân mình

Tạm kết bạn với trăng và bóng

Vui cho kịp với ngày xuân

Ta hát trăng cũng bồi hồi

Ta múa trăng cũng quay cuồng

Khi tỉnh cùng vui với nhau

Say rồi đều tan tác

Tình giao kết buộc nhau lại mãi chi

Hẹn hò nhau trên tít Vân Hán

Hoa gian nhất hồ tửu

Độc chước vô tương thân

Cử bôi yêu minh nguyệt

Đối ảnh thành tam nhân

Nguyệt kí bất giải ẩm

Ảnh đồ tuỳ ngã thân

Tạm bạn nguyệt tương ảnh

Hành lạc tu cập xuân

Ngã ca nguyệt bồi hồi

Ngã vũ ảnh linh loạn

Tỉnh thì đồng giao hoan

Tuý hậu các phân tán

Vĩnh kết vô tình du

Tương kỳ mạc phân tán

Chú thích: Vân Hán: tên gọi khác của sông Ngân Hà

 

            Lời bàn: Nỗi cô đơn thiếu bạn của Lí Bạch được tả thật lạ lùng, say và buồn  . . .

Trăng làm bạn với thi nhân. Trên đời thiếu bạn khổ làm sao!


Bài  54.        枫 桥 夜 泊   Fēng Qiáo yè bó / Phong Kiều dạ bạc

                                                                [Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều]

                       Trương Kế 张 继 Zhang Jì
月 落 乌 啼 霜 满天

江 枫 渔火 对 愁 眠

姑 苏 城 外 寒 山寺

夜半 钟 声 到 客 船     

Yuè luò wū tí shuāng mǎn tiān

Jiāng fēng yú huǒ duì chóu mián

Gū Sū chéng wài Hán Shān sì

Yè bàn zhōng shēng dào kè chuán

Trăng lặn, quạ kêu, sương đầy trời

Nhìn đèn chài, cây phong bên sông mà ngủ trong nỗi  buồn.

Chùa Hàn Sơn ở ngoài thành Cô Tô,

Tiếng chuông đi đến thuyền khách lúc nửa đêm . 

Nguyệt lạc ô đề 200

Giang phong ngư hoả đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Dịch thơ

Trăng tà chiếc quạ kêu sương

Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ

Thuyền ai đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn

                                        (Nguyễn Hàm Ninh)

Quạ kêu trăng lặn sương rơi

Lửa chài cây bãi đối người nằm co

Con thuyền đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn

(Trần Trọng Kim)

Quạ kêu, trăng xế ngang đầu

Lửa chài cây bến gối sầu ngủ mơ

Thuyền ai ngoài bến Cô Tô

Nửa đêm lạnh tiếng chuông chùa Hàn San

(Ngô Văn Phú)

        Chú thích

Thành Cô Tô do Ngô vương Phù Sai xây riêng cho Tây Thi ở, thuộc thành Tô Châu nay thuộc tỉnh Giang Tô.

Bản dịch thơ Phong Kiều dạ bạc đã từng hiểu lầm là của Tản Đà. Mới đây ông Nguyễn Quảng Tuân đã xác minh dịch giả là cụ Nguyễn Hàm Ninh làm quan dưới triều Tự Đức (sách Thơ Đường Tản Đà dịch - Nhà xuất bản Văn học, 2003, trang 205, biên soạn: Nguyễn Quảng Tuân) .

Lời bàn

Bài thơ Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế nội dung ý nghĩa đã rõ ràng. Tuy vậy xưa nay vẫn có nhiều cách phân tích, thưởng thức, bình luận khác nhau.

Hai câu thực vẽ ra một bối cảnh đất trời trong đêm ảm đạm. Nó còn gợi ra ý nghĩa tượng trưng cả thời đại. Xét theo luật thi, câu 2 vốn là câu thực đã sớm nói ra “nỗi lòng”(sầu) thì khó lòng đi tới câu kết, do vậy nhà thơ bối rối. May nhờ tiếng chuông chùa Hàn San, nhà thơ tìm ra cách kết khác (thoát khỏi luật thi): dùng ngay một câu thực để kết .

Giai thoại : Hàn San là tên vị hoà thượng xây dựng và trụ trì chùa này trong thời nhà Đường. Giai thoại kể rằng trong đêm ấy, Trương Kế  viết hai câu thơ mở đầu Phong Kiều dạ bạc thì bế tắc, cùng lúc hoà thượng trên chùa Hàn San làm  được hai câu đầu bài tứ tuyệt thì bí lối. Hoà thượng trằn trọc. Chú tiểu lại vấn an, hoà thượng nói rằng mới làm được hai câu thơ như sau :

初 三 初 四 月 朦 胧

半 似 银 钩 半 似 弓 

Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung

Bán tự ngân câu, bán tự cung

Chú tiểu xin làm tiếp :

 一 片 玉 湖 分两 断

半 沉 水 底 半 浮 空

Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn

Bán trầm thuỷ để bán phù không

Bốn câu hợp lại vừa khéo thành bài thất tuyệt :

Chū sān chū sì yuè méng lóng

Bàn sì yín gōu bàn sì gōng

Yí piàn yù hú fēn liǎng duàn

Bàn chén shuǐ dǐ bàn fú kōng

Mồng ba mồng bốn ánh trăng mông lung

Vừa giống cái móc câu bạc, vừa giống cái  cung .

Một mảnh hồ trong xanh chia (trăng) ra hai phần

Nửa chìm đáy nước, nửa nổi trên không.

                                               (Phùng Hoài Ngọc) 

Đêm nay đầu tháng trăng mờ

Nửa như móc bạc nửa ngờ vành cung

Hồ xanh ai xẻ đôi vừng

Nửa chìm đáy nước nửa lòng trên mây

 

(Theo bản thuyết minh phim Trung Hoa du ký, tập 4. HCMTV sản xuất 2004)

          Lời bàn

“Nhất phiến ngọc hồ  là mượn ý câu thơ trong bài “Phù Dung lâu tống Tân Tiệm” của Vương Xương Linh (xem bài số 55), câu kết là “Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ”. Khác nhau là : “hồ ngọc” trong bài của Vương Xương Linh là cái bình ngọc, ở đây là cái hồ nước trong xanh như ngọc .

Hoà thượng vui mừng bảo chú tiểu đi thỉnh chuông, còn ông  thắp hương để tạ ơn Phật tổ đã phù hộ cho hai thầy trò làm được bài thơ hay. Trương Kế đang ở bến Phong Kiều gần đó chợt nghe tiếng chuông vọng đến thuyền, bắt được ý thơ cho hai câu chót. Nhà thơ đã tìm ra lối giải thoát là: Phật giáo.

Bài thơ của hai thầy trò hoà thượng  hàm chứa tâm trạng mơ hồ, “mông lung” như vầng trăng trên mặt nước hồ xanh. Tâm tư tình cảm của hoà thượng cũng phân vân như thế… Một vị hoà thượng quả không giản đơn khô khan như người đời thường nghĩ. Có lẽ cả hai thầy trò đều “thân tại Hàn San, tâm tại thế” chăng ! Mới viết được hai câu đầu chẳng phải hoà thượng bí thơ (như một số nhà phê bình đã viết), chỉ là ông ngượng ngùng chưa dám nói hết, chú tiểu còn hăng hái lòng trần nên bạo dạn nói ra hai câu sau  vậy.

Soạn giả xin tạm đặt tên bài tứ tuyệt của thầy trò Hàn Sơn là “Nỗi lòng hoà thượng Hàn  Sơn”. Bài thơ của hai thầy trò ý tứ kín đáo, rất đặc sắc. Hiềm nỗi  nó chỉ là giai thoại, xuất xứ không chắc chắn và không rõ danh tính hai thầy trò. Có thể bài thơ chỉ là sáng tác truyền miệng…


Bài 55.            浮蓉楼

Fú Róng  lóu sòng Xin Jiàn/ Phù Dung lâu tống Tân Tiệm

                           Vương Xương Linh  王 昌 龄  Wáng Chāng líng

寒 雨 连  江 夜 入 吴

平 明 送 客 楚  山 孤

洛 阳  亲 友 如 相问

一 片 冰  心 在 玉 壶 

Hán  yǔ  lián   jiāng  yè  rù  Wú

Píng  míng  sòng  kè  Chǔ  shān  gū           Luò  Yáng   qīn yǒu  rú  xiāng  wèn

Yí  piàn  bīng xīn  zài  yù  hú

 

 

Trên lầu Phù Dung tiễn Tân Tiệm

Đang đêm vào đất Ngô giữa lúc mưa lạnh tràn sông,

Mờ sáng đi tiễn khách bên ngọn núi quạnh hiu đất Sở.

Bạn thân Lạc Dương nếu có ai hỏi thăm,

(nói giùm) Ta vẫn giữ một tấm lòng thanh khiết

như mảnh băng chứa trong bình ngọc. 

Phù Dung lâu tốngTân Tiệm

Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô,

Bình minh tống khách Sở sơn cô.

Lạc Dương thân hữu như tương vấn

“Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ”

 

         Dịch thơ

Mưa lạnh tràn sông, đêm tới Ngô,

Sáng ra tiễn khách núi buồn trơ.

Lạc Dương nếu có người thân hỏi

Một mảnh lòng băng tại ngọc hồ.

(Tương Như)

          Lời bàn

“Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ” là lời nhắn của nhà thơ gửi bạn Tân Tiệm ở xa

“Ngọc hồ”: cái bình ngọc, bền đẹp. Mảnh băng tuyết sạch sẽ thanh khiết đựng trong đó sẽ được giữ sạch, tránh khỏi tạp bụi của đời. Băng tuyết còn biểu hiện sự lạnh giá của tâm hồn người vắng bạn. Lòng chung thuỷ được ví trong câu thơ này thật  là sang trọng.

Vương Xương Linh được mệnh danh là “thiên tử thi”- thơ vua, ấy là vì cái chất thơ tài hoa sang trọng đẹp đẽ lạ thường, mang tính trần thế (Theo quan niệm cổ điển, Vương vẫn được xếp chỗ sau những thơ vượt ra ngoài trần tục như “thi tiên Lí Bạch”, “thi thánh Đỗ Phủ”, “thi Phật Vương Duy” và “quỉ thi, quỉ tài Lí Hạ”,) .

Bài bát cú “Mạn hứng” của thi hào Nguyễn Trãi có hai câu luận như sau:

一片丹心真汞火

十年清职玉壶冰

Nhất phiến đan tâm chân hống hỏa

Thập niên thanh chức ngọc hồ băng

(Một tấm lòng son nung nấu ngọn lửa luyện đơn bằng thủy ngân

Mười năm làm quan thanh đạm như băng giá đựng trong bình ngọc)

(Bài 2.61.Ức Trai thi tập)


Bài 56.      过香积寺  Guò Xiāng Jī sì/ Quá Hương Tích tự

Vương Duy  王 维  Wáng Wéi

不知香积寺

数里入云峰

古木无人径

深山何处钟

泉声咽危石

日色冷青松

薄暮空潭曲

安禅制毒龙

Bù zhī Xiāng Jī sì

Shǔ lǐ rù yūn fēng

Gǔ mù wú rén jìng

Shēn shān hé chù zhōng

Quán shēng yàn wēi shí

Rì sè lěng qīng sōng

Bó mù kōng tán qù

ān chán zhì dú lóng

Đi qua chùa Hương Tích

Chẳng biết chùa Hương Tích (ở đâu)

Mấy dặm đi tới chóp mây

Cây cô đơn, chẳng có lối người đi

Núi sâu thẳm, tiếng chuông đâu vọng tới  ?

Tiếng suối chảy bên gành đá

Cây tùng ánh mặt trời lạnh

Chiều hôm trơ lại khúc đầm

Vững tâm theo Phật thì trị được con rồng dữ

 Bất tri Hương Tích tự

Số  lý nhập vân phong

Cổ mộc vô nhân kính

Thâm sơn hà xứ chung  ?

Tuyền thanh yết nguy thạch

Nhật sắc lãnh thanh tùng

Bạc mộ không đàm khúc

An  thiền chế độc long

          Dịch thơ

Chẳng hay Hương Tích chùa đâu,

Đi đôi ba dặm lên đầu non cao.

Cây già, chẳng lối người qua

Núi sâu, chuông tự nơi nào tiếng đưa  ?

Suối kêu gành đá ria bờ

Lạnh lùng bóng nắng chui lùa thông xanh.

Trời hôm tấc dạ thanh minh

Quy y đạo Phật sửa mình là hơn.

                                                                                                      (Tản Đà)

           Lời bàn

Việt Nam cũng có chùa Hương Tích (còn gọi là Chùa Hương) thuộc tỉnh Hà Tây.


Bài   57.         军 行

Quân  hành (hoặc Xuất tái 出塞)

(Lí Bạch hoặc Vương  Xương Linh)

       

骝马新跨白玉鞍

战罢沙场月色寒

城头铁鼓声犹震

匣里金刀血未干 

        Jūn xíng

 

Liú mǎ xīn kuà  bái yù ān

Zhàn bà shā chǎng yuè sè hán

Chéng tóu tiě gǔ shēng yóu zhèn

Xiá lǐ  jīn dāo xiě  wèi gān

Bài hát người lính

 

Ngựa xích thố vừa mới thay yên đeo bạch ngọc

Chiến trận ngừng, ánh trăng lạnh lẽo trên sa trường

Đầu thành, tiếng trống còn nghe dư âm

Trong hộp, lưỡi kiếm quí còn dính máu 

Quân  hành

Lưu  mã tân khóa bạch ngọc an

Chiến bãi, sa trường nguyệt sắc hàn

Thành đầu thiết cổ thanh do chấn

Hạp lí kim đao huyết vị can

      Ghi chú: “Lưu mã” là giống tuấn mã, lông hồng, đuôi đen bờm đen,, trong số hơn 30 loại ngựa

khác nhau ở Trung Quốc .

Lời bàn  Bài thơ miêu tả hình ảnh kẻ chinh phu ra trận cùng con tuấn mã trẻ trung, lộng lẫy.

Câu 1 Tả con ngựa quí phái. Không một chữ tả người. Nhưng ta có thể tưởng tượng ra chủ nhân của con ngựa này, hẳn phải là một trang hiệp sĩ quí tộc, chẳng phải một lính thường. Thái độ háo hức lập công của anh ta khi chuẩn bị con ngựa lên đường ra trận như đi trảy hội .

Câu 2 Đột ngột báo rằng chiến trận ngừng, ánh trăng trên sa trường lạnh lẽo. Vẫn chưa tả người. Có lẽ chết cả rồi, chết nhiều đến nỗi tử khí  thây ma bốc lên lạnh cả ánh trăng. Lòng người cũng trở nên lạnh lẽo.

Câu 3 Tả tâm trạng một con người. Chắc đó là chủ nhân của con ngựa quí đã may mắn sống sót. Anh ta vẫn bàng hoàng, trong đầu còn dư âm tiếng trống trận khủng khiếp…

Câu 4. Thanh kiếm cũng quí, chuôi khảm vàng bạc (kim đao) dính máu dơ bẩn đã nhét vội vào vỏ kiếm. Sao anh không lau chùi sạch máu rồi hãy đặt vào hộp đàng hoàng, như trước khi ra trận con ngựa được trang điểm đẹp đẽ nhường kia ?! Tâm trí anh đã thay đổi rồi. Cái đẹp còn ý nghĩa gì nữa trên xương máu ngổn ngang ?! Cuối bài thơ không nhắc tới con ngựa quí nữa, nó đã chết rồi ! Có thể người ta sẽ lột da nó để bọc thây đồng đội mà vùi chôn.

Chủ nhân bàng hoàng, tiếc rẻ con ngựa, hoang mang khiếp hãi về cuộc chiến tàn khốc vừa rồi . Không một dòng tả cuộc xung đột đẫm máu ! Nhà thơ  không chịu dành một câu thơ nào tả sự đâm chém điên cuồng của con người trong thời phong kiến. Quan điểm nhân sinh của ông thật độc đáo qua một bài tứ tuyệt miêu tả chiến tranh. Tư tưởng nhân đạo của ông cao vời vợi, nghệ thuật thi ca của thi nhân kì thú khác người …

Cưỡi ngựa tứ lưu, yên bạch ngọc,
Sa trường ngưng chiến lạnh trăng cao.
Trống trận còn vang đầu thành vắng,
Đao vàng trong hộp máu chưa khô.

(Phụng  Hà dịch thơ)

Toàn Đường thi  quyển 184, bài 16 ghi là “Quân hành” của Lý Bạch, quyển 143, bài 15 lại ghi là “Xuất tái 2” (Ra cửa ải) của Vương Xương Linh. Đến nay chưa khẳng định tác giả.

Bài 58.        归隐   Guī yǐn / Quy ẩn     

                Trần Phốc 陈 搏 Chén Pù

十年踪迹走红尘

回首青山入梦频

紫绶纵荣争及睡

朱门虽富不知贫

愁闻剑戟扶危主

闷闻笙歌聒醉人

携取旧书归旧隐

野花啼鸟一般春

Shí nián zōng jī zǒu hóng chén

Huí shǒu qīng shān rù mèng pín

Zǐ shòu zòng róng zhēng jí shuì

Zhū mén suī fù bù zhī pín

Chóu wén jiàn jǐ fú wēi zhǔ

Mèn wén shēng gē guà zuì rén

Xié qǔ jiù shū guī jiù yǐn

Yě huā tí niǎo yī bān chūn

Lui về ở ẩn

Mười năm tông tích chạy trốn nơi bụi trần

Chuyện quay về núi xanh luôn vào trong mộng

Đai tía trả lại vinh hoa, tranh lấy giấc ngủ

Cửa son tuy giàu nhưng không biết được cảnh nghèo

Lòng buồn nghe tin trong loạn lạc có người phò chúa khi

bị nguy

Càng chán nghe sênh phách xui người sống say sưa

Cầm sách cũ lên tay, về nơi ở ẩn cũ

Hoa đồng chim hót đem đến cho ta hương xuân

Quy ẩn

Thập niên tông tích tẩu hồng trần

Hồi thủ thanh sơn nhập mộng tần

Tử thụ túng vinh tranh cập thuỵ

Chu môn tuy phú bất tri bần

Sầu văn kiếm kích phù nguy chủ

Muộn thính sênh ca quát tuý nhân

Huề thủ cựu thư qui cựu ẩn

Dã hoa đề điểu nhất ban xuân

Dịch thơ

Dấu vết mười năm trốn cõi trần

Quay đầu mộng hướng núi non xanh

Trả về đai tía, tranh vùi ngủ

Quyền quí thì sang, chẳng biết bần

Phò chúa cơn nguy buồn loạn lạc

Phách xênh chán ngắt, rượu say tràn

Cầm tay sách cũ, về nơi cũ

Chim hót hoa đồng ta đón xuân

                                                               (Ngô Văn Phú)

Chú thích: Núi xanh (thanh sơn) ngụ ý nơi ở ẩn

Lời bàn

                  Ý thơ  minh bạch rõ ràng. Bàn về lẽ xuất xử của kẻ sĩ.

Nhà thơ Nguyễn Trung Ngạn Việt Nam cũng có bài Qui hứng.

Cảm hứng qui ẩn, qui gia khá quen thuộc với thi nhân cổ điển phương Đông.


Bài  59.             归家 Guī yiā / Qui gia

                          Đỗ Mục   杜牧 Dù Mù

稚子牵衣问

归家何太迟

共谁争岁月

赢得鬓如丝

Zhì zǐ qiān yī wèn

Guī jiā hé tài chí

Gòng shuí zhēng suì yuè

Yīng dé bìn rú sī

Trẻ con nắm áo hỏi

Sao mãi không về nhà

Cùng ai tranh năm tháng

Về nhà, mái tóc trắng như tơ

Trĩ tử khiên y vấn

Qui gia hà thái trì

Cộng thuỳ tranh tuế nguyệt

Dinh đắc mấn như ti

           Lời bàn

   Nỗi băn khoăn xuất sử của kẻ sĩ trong những giai đoạn xã hội phức tạp như thời Trung Đường và Vãn Đường. Biết bao lần cảm hứng này xuất hiện trong sáng tác của thi nhân phương Đông thời phong kiến.

Độc đáo nhất ở bài thơ này là câu hỏi của chú bé con “sao mãi không về nhà, cùng ai tranh năm tháng ? ”. Đứa bé nào mà “già dặn từng trải” đến thế ? Có lẽ là “cái đứa bé” ấy tồn tại ngay trong tâm hồn thi nhân, nó mãi mãi hài nhi, không chịu “lớn lên” suốt cuộc đời thăng trầm của thi nhân…


Bài  60.  双 燕 shuāng yàn lí/ Song yến ly 

                                               (Cuộc chia ly của đôi én)

Lí Bạch 李 白 Lǐ Bái

双 燕 复 双 燕

双 飞 令 人 羡

玉 楼 珠 阁 不独栖

金 窗 绣 户 常相见

柏 梁 失 火 去

因 入 吴 王 宫

吴 宫 又 焚 荡

雏 尽 巢 亦 空

憔悴一身在

孀雌忆故雄

双飞难复得

伤我寸心中Shuāng yàn fù shuāng yàn

Shuāng fēi lìng rén xiàn

Yù lóu zhū gè bù dú qī

Jīn chuāng xiù hù cháng xiāng jiàn

Bó Liáng shī huǒ qù

Yīn rù Wú Wáng gōng

Wú gōng yòu fén dàng

Chú jìn cháo yì kōng

Qiáo cuì yì shēn zài

Shuāng cí yì gù xióng

Chuāng fēi nán fù dé

Shāng wǒ cùn xīn zhōngĐôi én bay đi, bay lại

Bay đôi khiến người ta trầm trồ

Lầu ngọc gác son không chịu đậu một mình

Cửa sổ dát vàng, khung cửa màn thêu, gặp nhau luôn.

Lâu đài Bách Lương bị lửa đốt cháy

Bèn bay vào cung vua Ngô

Cung vua Ngô lại bị thiêu huỷ

Chim non chết hết, tổ cũng tan !

Còn lại chiếc thân tiều tuỵ

Chim mái goá bụa nhớ chim trống xưa

Muốn cùng bay đôi không được nữa

Đau thương thay tấc lòng taSong yến phục song yến

Song phi linh nhân tiễn

Ngọc lâu, châu các, bất độc tê

Kim song, tú hộ, thường tương kiến

Bách Lương thất hoả khứ

Nhân nhập Ngô vương cung

Ngô cung hựu phần đãng

Sồ tận, sào diệc không

Tiều tuỵ nhất thân tại

Sương thư ức cố hùng

Song phi nan phục đắc

Thương ngã thốn tâm trung

    Dịch thơ

Nhởn nhơ cặp én bay đôi,

Bay đôi quấn quýt cho người mến yêu.

Lầu vàng gác ngọc song thêu,

Khi mai chắp cánh, khi chiều sóng vai.

Lửa đâu cháy Bách Lương đài,

Cung Ngô tưởng được là nơi ở bền.

Lửa Ngô phút lại bùng lên,

Con tan tổ vỡ biến thiên chẳng ngờ.

Chiếc thân én goá bơ vơ,

Nhớ chồng biết đến bao giờ cho khuây.

Mong chi chắp cánh cùng bay,

Lòng ta ảo não thương mày én ơi.

                                                      (Trúc Khê)

 

  Chú thích và Lời bàn : “Song yến ly” là một khúc nhạc cổ. “Bách Lương đài” : cung vua Hán Vũ đế . “Cô Tô đài” là cung vua Ngô . Cặp chim én là hình tượng đôi vợ chồng thảo dân, loạn nơi này  thì chạy đi nơi khác trú thân. Họ sống nhờ trong những mái, góc lâu đài. Chiến tranh triền miên. Người ta xót thương cho Tây Thi và  Ngô Vương Phù Sai, nhưng Lí Bạch  nghĩ thương người dân đen khốn khổ, tan nhà nát cửa bởi chiến tranh giữa các lãnh chúa tham tàn …


Bài 61.     初春小雨    Chū chūn xiăo yǔ / Sơ xuân tiểu vũ       

Hàn Dũ   韩愈 Hán Yù

天街小雨润如酥

草色遥看近却无

最是一年春好处

绝胜烟柳满皇都

Tiān jiē xiǎo yǔ rùn rú su

Cǎo sè yáo kàn jìn què wú

Zuì shì yì nián chūn hǎo chù

Jué shèng yān liǔ mǎn huáng dōu 

Góc trời mưa nhỏ như sợi sữa rớt  bay

Sắc cỏ từ xa nhìn thấy còn gần lại thì không

Đây là nơi xuân đẹp nhất trong năm

Rờn rờn khói liễu khắp cả hoàng thành 

Thiên nhai tiểu vũ nhuận như tô

Thảo sắc dao khan cận khước vô

Tối thị nhất niên xuân hảo xứ

Tuyệt thắng yên liễu mãn hoàng đô

 Dịch thơ

Mưa nhỏ đầu xuân

 

Mưa nhỏ góc trời tơ sữa bay

Xa gần sắc cỏ gợn hây hây

Buổi nay xuân đẹp không đâu sánh

Khói liễu hoàng thành đủ ngất ngây

                                                                    (Ngô Văn Phú)


Bài 62.        霜月    Shuāng yuè  / Sương nguyệt

                            Lí Thương Ẩn  李商隐  Lǐ Shāng Yǐn

初闻征雁已无蝉

百尺楼高水接天

青女素娥俱耐冷

月中霜里斗婵娟

Chū wén zhēng yàn yǐ wú chán

Bǎi chǐ lóu gāo shuǐ jiē tiān

Qīng Nǚ Sù é jù nài lěng

Yuè zhōng shuāng lǐ dǒu chán juān

 

 

Trăng sương

Vừa nghe nhạn từ xa trở về tiếng ve đã im bặt

Lầu cao trăm thước, nước liền trời

Thần tuyết sương và Tố Nga chẳng nề hà lạnh

Trong sương, dưới ánh trăng (hai cô) nâng chén

 thuyền quyên.

Sương nguyệt

Sơ văn chinh nhạn dĩ vô thiền

Bách xích lâu cao thuỷ tiếp thiên

Thanh nữ, Tố Nga câu nại lãnh

Nguyệt trung sương lý, đấu thuyền quyên

 

         Lời bàn

 

Thi nhân nhìn “trăng” và “sương”  thấy giống như hai mỹ nhân “Tố Nga” và “Thanh nữ”.

Hai vẻ đẹp, hai cảnh thú vị của mùa đông lạnh giá .

                    

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Bài  63.    三 年 别   Sān nián bié / Tam niên biệt 

                 Bạch Cư Dị  白居易 Bái Ju Yì

 

悠 悠一 别 已三 年

相 望 相 思 明月天

肠 断 青 天 望 明月

别来三 十 六 回 圆

  

 

Yōu yōu yì bié  yǐ sān nián

Xiāng  wàng  xiāng  sī  míng yuè tiān

Cháng duàn qīng tiān wàng míng yuè

Bié lái sān shí liù huí yuán

 

Ba năm xa cách

Mỗi lần từ biệt ba năm đằng đẵng,

Mong nhớ nhau những đêm sáng trăng

Đau lòng  trời xanh ngắm ánh trăng

Xa nhau đã ba mươi sáu lần tròn

 

 

Tam niên biệt

Du du nhất biệt dĩ tam niên,

Tương vọng tương tư, minh nguyệt thiên.

Trường đoạn thanh thiên vọng minh nguyệt

Biệt lai tam thập lục hồi viên.

 

 

Dịch thơ

Xa nhau một chuyến ba năm,

Ngóng nhau chung bóng trăng rằm nhớ nhau.

Trời xanh, trăng sáng, lòng đau,

Ba mươi sáu độ trước sau trăng tròn.

                                                                                                                 (Tản Đà)


Bài 64.                早起  Zăo qǐ /  Tảo khởi

[Thức dậy sớm]

                   Lí Thương Ẩn   李商隐  Lǐ Shāng Yǐn

 

风露澹清晨

帘开独起人

莺花啼又笑

毕竟是谁春

Fēng lù dàn qīng chén

Lián kāi dù qǐ rén

Yīng huā tí yòu xiào

Bì jìng shì shuí chūn 

Gió sương nhẹ buổi sớm

Vén màn một người dậy

Chim oanh hót lại cười

Phải đâu xuân của ai ?

  

Phong lộ đạm thanh thần

Liêm khai độc khởi nhân

Oanh hoa đề hựu tiếu

Tất cánh thị thuỳ xuân

 

 

Lời bàn

Chỉ có người thức dậy sớm mới được thưởng thức oanh hót hoa cười .

Ta nhớ đến bài thơ Tảo giải của nhà thơ Hồ Chí Minh (Ngục trung nhật ký) càng thêm thán phục tứ thơ của Người thơ Việt Nam :

Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng

U ám tàn dư tảo nhất không

Noãn khí bao la toàn vũ trụ

Hành nhân thi hứng hốt gia nồng

 

Phương đông màu trắng chuyển sang hồng

Bóng tối đêm tàn quét sạch không

Hơi ấm bao la trùm vũ trụ

Người đi thi hứng bỗng thêm nồng.

(Viện văn học dịch)

 

 

 

 

 

 


Bài  65.                    早发白帝城

Zǎo fā Bái Dì chéng

Tảo phát Bạch đế thành

                       Lí Bạch 李 白 Lǐ Bái

   

朝 辞 白 帝 彩 云 间

千 里 江 陵 一 日 还

两 岸 猿 声 啼 不 住

轻 舟 已 过 万 重 山

  

Zhāo  cí  Bái  Dì  cǎi  yún jiān

Qiān  lǐ  Jiāng  líng  yī  rì  huán

Liǎng  àn  yuán  shēng  tí  bù  zhù

Qīng  zhōu  yǐ  guò  wàn  chóng  shān

 

Sớm ra đi từ thành Bạch Đế

Sáng sớm từ biệt thành Bạch đế (dưới) làn mây rực rỡ

Giang Lăng nghìn dặm, một ngày đến nơi

Đôi bờ tiếng vượn kêu không ngừng

Thuyền nhẹ đã vượt qua vạn dặm núi 

Triêu từ Bạch đế thái vân gian

Thiên lí Giang Lăng nhất nhật hoàn

Lưỡng ngạn viên thanh đề bất trụ

Khinh chu dĩ quá vạn trùng sơn

Dịch thơ

Rời thành Bạch Đế sáng nay,

Giang Lăng ngàn dặm một ngày đến nơi.

Bờ sông vượn hót không thôi

Núi non muôn đợt nhẹ trôi con thuyền

                                                                                                 (KD)

       Chú thích

Bạch đế là thành trì do Công Tôn Thuật xây khi xưng đế ở đất Thục vào thời Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán. Đến thời Tam quốc, Lưu Bị chết tại thành này. Thành ở trên núi cao, quãng sông từ  Bạch đế đi Giang Lăng (tỉnh Hồ Bắc) ngang qua  hai dãy núi cao thường nghe tiếng vượn kêu luôn.

        Lời bàn

Tâm trạng tươi vui phấn khởi thỉnh thoảng trong thơ Lí Bạch. Câu 3 tả khéo tốc độ con thuyền chạy nhanh (thuyền chạy nhanh hơn tiếng vượn kêu), đồng thời cũng tả tâm trạng nhà thơ nhẹ nhàng phơi phới bay như con thuyền vậy. Nhà thơ và con thuyền đã hoà hợp làm một.

Có lẽ không phải ngẫu nhiên nhà thơ Đỗ Phủ cũng viết bài thơ “Thu hứng” bên thành Bạch đế (Bạch đế thành cao cấp mộ châm). Lí Bạch và Đỗ Phủ đều có cảm hứng liên tưởng nào đấy về biểu tượng thành Bạch đế  một thời qua …


   Bài    66.      新嫁 娘   Xīn  jià niáng/ Tân giá nương

Vương Kiến  王 建 Wáng Jiàn

 

三 日 入 厨 下

洗 手 作 羹 汤

未 谙 姑 食 性

先 遣 小 姑 尝

  

Sān rì rù chú xià

Xǐ shǒu zuò gēng tāng

       Wèi ān gū shí xìng

Xiān qiǎn xiǎo gū cháng

 

Cô dâu mới

 

Ba ngày xuống bếp làm cơm

Rửa tay, nấu bát canh

Chưa rõ khẩu vị mẹ,

Bảo cô em chồng nếm trước

  

Tân giá nương

 

Tam nhật nhập trù hạ

Tẩy thủ tác canh thang

Vị am cô thực tính

Tiên khiển tiểu cô thường

                  Lời bàn

         Lối phê phán chỉ trích thoải mái chế độ phong kiến từ sau Cách mạng tháng Tám bây giờ cơ hồ đã giảm bớt đi. Mẹ chồng khó tính một chút thường bị trách cứ là “mẹ chồng phong kiến” (!). Thật ra, quan hệ mẹ chồng nàng dâu ngày nay vẫn phức tạp, tế nhị như xưa. Đó là chuyện tâm lý học chứ không phải là vấn đề chế độ xã hội. Không nên đổ hết tội cho mẹ chồng “phong kiến” ! Thời  nào cũng vậy, mẹ chồng và nàng dâu cần hợp tác và đều có thiện chí thì gia đình sẽ hòa thuận… Xét cho cùng, mẹ chồng và nàng dâu cũng như hai nữ lữ khách giang hồ ngẫu nhiên gặp gỡ, sống chung vài  chục  năm  rồi mỗi  người  rẽ mỗi ngả  mà  thôi !


Bài  67.                          贼 平 后 送 人 北 归

Zéi píng hòu sòng rén Bēi guī

Tặc bình hậu tống nhân Bắc qui

(Đánh giặc xong tiễn người về Bắc)

               Tư Không Thự  司 空 曙  Si Kōng Shǔ

 

世 乱 同 南 去

时 清 独 北 还

他 乡 生 白 髮

旧 国 见 青 山

晓月 过 残 垒

繁星 宿 故  关

寒 禽 与 衰 草

处 处 伴 愁 颜

 

Shì luàn tóng nán qù

Shì qīng dú Běi huán

Tā xiāng shēng bái fǎ

Jiù guó jiàn qīng shān

Xiǎo yuè guò cán lěi

Fán xīng sù gù guān

Hán qín yǔ shuāi cǎo

Chù chù bàn chóu yán

.

Đời loạn cùng đi về phía Nam

Lúc thanh bình một mình đi về đất Bắc

Xa quê tóc bạc mọc dầy

Đất nước cũ  nhìn thấy núi xanh

Ánh trăng sớm soi trên luỹ cũ nát

Sao dày đặc ngủ lại trên quan ải xưa

Chim xứ lạnh với đám cỏ rụi

Nơi nơi cùng lứa bạn mặt buồn

Thế loạn đồng nam khứ

Thời thanh độc bắc hoàn

Tha hương sinh bạch phát

Cựu quốc kiến thanh san

Hiểu nguyệt quá tàn luỹ

Phồn tinh túc cố quan

Hàn cầm dữ suy thảo

Xứ xứ bạn sầu nhan

 

          Lời bàn

Từ Chiến thắng 1975 kéo qua cả chục năm sau, thơ ca Việt Nam vẫn chưa nguôi cảm hứng hùng tráng, lạc quan…Thiếu những bài thơ cay đắng mộc mạc giản dị như bài thơ hiện thực này.

(Biên giả bèn chép bài thơ để tặng những cựu chiến binh quê các tỉnh phía Bắc hầu mong  bù vào chỗ thiếu thốn ấy).


Bài 68.    赠李白  Zèng Lǐ Bái / Tặng Lí Bạch

Đỗ Phủ  杜 甫 Dù Fǔ

秋来相顾尚飘蓬

未就丹砂愧葛洪

痛饮狂歌空度日

飞扬跋扈为谁雄

  

Qiū lái xiāng gù shàng piāo péng

Wèi jiù dan shā kuì Gè Hóng

Tòng yǐn kuáng gē kōng dù rì

Fēi yáng bá hù wèi shuí xióng

 

 

Thu về cùng ngắm lại đám cỏ bồng phơ phất

Chưa xong thuốc đan sa, thẹn (với) Cát Hồng

Uống mạnh hát ngông rảnh rỗi sống qua ngày

Ngông nghênh càn dỡ vì ai (mà) tranh hùng? 

Thu lai tương cố thượng phiêu bồng

Vị tựu đan sa, quí Cát Hồng

Thống ẩm cuồng ca không độ nhật

Phi dương bạt hộ vị thuỳ hùng  ?

 

 

Dịch thơ

Thu về ngắm đám cỏ bồng,

Đan sa chưa luyện thẹn cùng Cát Ông.

Qua ngày uống rượu hát ngông,

Nghênh ngang dữ tợn, tranh hùng với ai.

                                         (Trần Trọng Kim)

Chú thích

Cát Hồng: cũng gọi là Cát Ông, một đạo sĩ luyện đan thời nhà Hán. Luyện đan là nấu thuốc trường sinh bất lão, trường sinh bất tử. Chưa thấy đạo sĩ nào thành công.

 

Lời bàn

 Nhà thơ Đỗ Phủ thương bạn, hiểu bạn nên khuyên Lí Bạch chọn lối sống của đạo sĩ…

 

 

 

 


Bài 69.      赠 汪 伦   Zèng Wáng Lún / Tặng Uông Luân

Lí Bạch 李 白

 

 

李 白 乘 舟 将 欲 行

忽 闻岸 上 踏  歌 声

桃  花 潭 水 深 千尺

不 及 汪 伦 送 我 情

 

Lǐ Bái  chéng  zhōu jiāng  yù xíng

Hù wén àn shàng tà gē  shēng

Táo Huā tán shuǐ shēn  qiān chǐ

Bù jí Wāng Lún sòng wǒ qíng

 

 

Tặng Uông Luân

Lí Bạch cưỡi thuyền sắp muốn đi,

Bỗng nghe trên bờ tiếng giậm chân và hát.

Nước đầm Đào Hoa sâu hàng ngàn thước

Chẳng bằng tình Uông Luân tiễn biệt ta.

  

Tặng Uông Luân

Lí Bạch thừa chu tương dục hành,

Hốt văn ngạn thượng đạp ca thanh.

Đào Hoa đàm thuỷ thâm thiên xích,

Bất cập Uông Luân tống ngã tình.

 

           Dịch thơ

 

Sắp đi, Lí Bạch rời thuyền,

Trên bờ chân giậm, nghe liền tiếng ca.

Nước đầm nghìn thước Đào Hoa,

Uông Luân tình bác tiễn ta sâu nhiều.

                                                   (Tản Đà


Bài 70.     寻隐者不遇     Tầm ẩn giả bất ngộ

Xún yǐn zhě bú yù

(Tìm người ở ẩn không gặp)

               Giả Đảo  贾 岛  Jiǎ Dǎo

松下问童子

言师采药去

只在此山中

云深不知处

Sōng xià wèn tóng zǐ

Yán shī cǎi yào qù

Zhǐ zài cǐ shān zhōng

Yún shēn bù zhī chù

 

Dưới gốc tùng hỏi em bé

Nói: sư cả đi hái thuốc

Chỉ ở trong núi này

Mây dày đặc chẳng biết chỗ nào

Tùng hạ vấn đồng tử

Ngôn: sư thái dược khứ

Chỉ tại thử sơn trung

Vân thâm bất tri xứ

 

 

   Lời bàn

Giả Đảo từng viết bài Độ Tang Càn (bài số 21), đến đây kể một chuyện nhỏ rất thú vị. Em bé chỉ vào núi rừng bạt ngàn mà nói sư cụ ở “trong ấy”. Em bé chỉ đường thật ngây thơ … Phương hướng đất trời chẳng còn ý nghĩa quan trọng đối với những “ẩn giả”.

Thi nhân Giả Đảo gọi người đi ở ẩn là “ẩn giả” một cách trân trọng.

 

 

 

 

 

 


Bài 71.   秦淮夜泊  Qín Huái yè bò / Tần Hoài dạ bạc

Đỗ Mục     杜牧  Dù Mù

烟笼寒水月笼沙

夜泊秦淮近酒家

商女不知亡国恨

隔江犹唱后庭花

 

Yān lóng hán shuǐ yuè lóng shā

Yè bó Qín Huái jìn jiu jia

Shāng nǚ bù zhī wáng guó hèn

Gé jiāng yóu chàng Hòu tíng huā

 

Đêm đỗ thuyền sông Tần Hoài

Khói lồng nước lạnh, trăng lồng cát

Đêm đỗ thuyền ở bến Tần Hoài gần quán  rượu

Con hát chẳng biết mối hận mất nước

Cách sông còn hát khúc Hậu đình hoa

  

Yên lung hàn thuỷ nguyệt lung sa

Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia

Thương nữ bất tri vong quốc hận

Cách giang do xướng Hậu đình hoa

Chú thích

   Tần Hoài: Dòng sông Hoài chảy qua đất Kim Lăng. Tần Thuỷ hoàng đi tuần thú, thấy mây núi bốc lên, đoán rằng năm trăm năm sau có khí vượng thiên tử, ông ta bèn cho đẽo núi Chung Sơn ngăn bờ sông Hoài (ý muốn triệt mầm mống bá vương ở xứ này) nên đoạn sông này gọi  là sông Tần Hoài. Bến sông Tần Hoài có nhiều thú ăn chơi phong lưu trên bờ và dưới du thuyền, quyến rũ khách  vãng lai

 Hậu đình hoa: tên khúc hát của Trần hậu chủ, ca ngợi cảnh đẹp người đẹp và thi nhân trong cảnh sống thanh bình. Trần hậu chủ (583-587) thời Nam Bắc triều (420-587) là ông vua nổi tiếng phong lưu, hậu cung có hàng ngàn mỹ nhân, nhiều lầu gác cung điện hồ nước, vườn hoa nơi thường xuyên yến tiệc và ca múa ngâm thơ xướng hoạ. Những bài thơ khúc hát được in thành ba tập, trong đó một tập mang tựa đề “Hậu đình hoa” (Hoa ở phía sau cung). Mải mê ăn chơi, vua Trần chẳng lo việc nước. Quân khởi nghĩa của Dương Kiên (Tuỳ văn đế) chiếm kinh đô, vua Trần và hai nàng mỹ nhân sủng ái nhất nhảy xuống giếng sâu ẩn trốn nhưng hai nàng bị moi lên giết chết. Vua Trần hậu chủ thương tiếc buồn rầu mà ngã bệnh chết theo.

   Thương nữ  là con hát, “gái mua vui” (không phải nữ thương nhân)

Trong bản Đường thi tam bách thủ (Ngô Văn Phú) bài thơ mang tên  là “Bạc Tần Hoài” (Đỗ bến Tần Hoài) .

Nhà thơ Nguyễn Gia Thiều trong Cung oán ngâm khúc cũng nhắc đến tập Hậu đình hoa:

Vườn Tây uyển khúc trùng thanh dạ

Gác Lâm Xuân điệu Hậu đình hoa

Thừa ân một giấc canh tà

Tờ mờ nét ngọc, lập loè vẻ son


Bài 72.          石 壕 吏  Shí Háo lì / Thạch Hào lại

Đỗ Phủ   杜 甫

暮 投 石 壕 村

有 吏 夜 捉 人

老 翁 逾 墙 走

老 妇 出 门 看

吏 呼 一 何 怒

妇 啼 一 何 苦

听 妇 前 致 词 :

“三 男 邺 城戍

一 男 附 书 至

二 男 新 战 死

存 者 且 偷 生

死 者 长 已 矣

室 中 更 无 人

惟 有 乳 下 孙

有 孙 母 未 去

出 入 无 完  裙

老 妪 力 虽 衰

请 从 吏 夜 归

急 应 河 阳 役

犹 得 备 晨 炊”

夜 久 语 声 绝

如 闻 泣 幽 咽

天 明 登 前 途

独与 老 翁 别Mù toú Shí Háo cūn

Yǒu lì yè zhuò rén

Lǎo wēng yú qiáng zǒu

Lǎo fù chū mén kàn

Lì hū yì hé nù !

Fù tí yì hé kǔ !

Tīng fù qián zhì cí :

“Sān nán Yè Chéng shù

Yì nán fù shū zhì

Èr nán xīn zhàn sǐ

Cún zhě qiě tōu shēng

Sǐ zhě cháng yǐ yǐ!

Shì zhōng gèng wú rén

Wéi yǒu rǔ xià sūn

Yǒu sūn mǔ wèi qù

Chū rù wú wán qún

Lǎo yù lì suī shuāi

Qǐng cóng lì yè guī

Jí yìng Hé Yáng yì

Yóu dé bèi chén chuī”

Yè jiǔ yǔ shēng jué

Rú wén qì yōu yān

Tiān míng dēng qián tú

Dú yǔ lǎo wēng bié.

Thạch Hào lại

Mộ đầu Thạch Hào thôn

Hữu lại dạ tróc nhân

Lão ông du tường tẩu

Lão phụ xuất môn khan

Lại hô nhất hà nộ

Phụ đề nhất hà khổ !

Thính phụ tiền trí từ :

“Tam nam Nghiệp thành thú

Nhất nam phụ thư chí

Nhị nam tân chiến tử

Tồn giả thả thâu sinh

Tử giả trường dĩ hĩ !

Thất trung cánh vô nhân

Duy hữu nhũ hạ tôn.

Hữu tôn mẫu vị khứ,

Xuất nhập vô hoàn quần.

Lão ẩu lực tuy suy,

Thỉnh tòng lại dạ quy,

Cấp ứng Hà Dương dịch,

Do đắc bị thần xuy”.

Dạ cửu ngữ thanh tuyệt,

Như văn khấp u yết.

Thiên minh đăng tiền đồ,

Độc dữ lão ông biệt.

Viên lại ở Thạch Hào

Chiều tối chạy nhào vào thôn Thạch Hào

Có viên lại bắt người ban đêm

Ông lão vượt tường chạy

Bà già ra cửa nhìn

Viên lại hò hét sao dữ dằn thế !

Bà lão kêu van nghe sao khổ quá !

Lắng nghe bà lão tiến lên thưa :

“Ba con trai đi lính thú ở Nghiệp Thành

Một con trai vừa gửi thư cho biết

Hai con trai vừa chết trận

Đứa còn sống qua ngày !

Đứa chết thế là hết !

Trong nhà quả không còn người,

Chỉ còn đứa cháu đang bú mẹ

Vì có cháu nên mẹ cháu chưa đi,

Ra vào không có manh quần lành

Bà lão này tuy sức đã yếu

Cũng xin theo ông về ngay đêm nay

Ứng phó gấp việc phục dịch ở Hà Dương

Cũng còn nấu được bữa cơm sáng tối” .

Đêm khuya tiếng nói im bặt

Vẫn  như nghe thấy tiếng khóc nghẹn ngào

Sáng mai (khách) lên đường

Chỉ chào từ biệt với  ông lão.

 

Chú thích

Lại : chức quan nhỏ làm việc ở phủ huyện hoặc làng xã, không có phẩm cấp

Đầu : chạy hoảng loạn tìm chỗ trú thân . Nhà thơ chạy trốn bắt lính, bắt phu

Thú : lính thú

Bắt người: bắt người đi dân công, phục vụ chiến tranh .

Bị thần xuy : chuẩn bị việc sớm tối, nghĩa là chuẩn bị  2 bữa ăn cho lính, dân công

Khách : nhà thơ, ẩn nấp ở nhà ông bà lão.

Câu cuối : “chỉ có ông lão”,  không kể  nàng dâu ẵm con nấp ở trong buồng .

 

Lưu ý phân tích

Nghệ  thuật trần thuậtmiêu tả điêu luyện của  nhà thơ .

- trần thuật cô đúc tối đa

- xây dựng những cảnh, tình tương phản

- phác thảo nhân vật rất điêu luyện.

Nhà thơ tỏ thái độ mỉa mai phản kháng chế độ cai trị dưới giọng kể chuyện khách quan lạnh lùng, kìm nén xúc cảm.


Bài 73.       清明    Qīng míng / Thanh minh  

                Đỗ Mục  杜牧 Dù Mù

清明时节雨纷纷

路上行人欲断魂

借问酒家何处有

牧童遥指杏花村

 

Qīng míng shí jié yǔ fēn fēn

Lù shàng xíng rén yù duàn hún

Jiè wèn jiǔ jiā hé chù yǒu

Mù tóng yáo zhǐ Xìng Huā cūn

 

V

 

Tiết thanh minh

Tiết thanh minh trời mưa lất phất

Khách đi trên đường tưởng như đứt ruột

Hỏi thăm quán rượu ở chỗ nào

Trẻ chăn trâu trỏ thôn Hạnh Hoa phía xa xa

  

Thanh minh

Thanh minh thời tiết vũ phân phân

Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn

Tá vấn tửu gia hà xứ hữu

Mục đồng  dao chỉ Hạnh Hoa thôn

 

Chú thích

“Hạnh Hoa thôn” là nơi chế ra loại rượu Mao Đài ngon nổi tiếng thuộc thị trấn Mao Đài

tỉnh Quí Châu. Về sau ”Hạnh Hoa thôn” đã thành ẩn dụ chỉ quán rượu, như trong bài

thơ này.

  Lời bàn

Hồ Chí Minh am hiểu và yêu Đường Thi tới nỗi có thể “tập” thơ Đỗ Mục thoải mái như bài thơ trùng tên dưới đây ! Người làm thơ ung dung vời vợi. Trong bài thơ này, anh hùng và thi sĩ chỉ là một.

                                  Thanh minh 清明   (Ngục trung nhật ký  狱中日记 Yù zhōng rì jì)

清明时节雨纷纷

笼里囚人欲断魂

借问自由何处有

卫兵遥指办公门

  

Thanh minh thời tiết vũ phân phân

Lung lý tù nhân dục đoạn hồn

Tá vấn tự do hà xứ hữu

Vệ binh dao chỉ biện công môn

 

Tiết thanh minh mưa lất phất

Trong ngục, tù nhân nghĩ đau mất hồn

Liền hỏi : tự do ở nơi đâu ?

Lính gác chỉ ra  văn phòng trại giam.


Bài 74.          采莲曲   Cǎi  lián qǔ / Thái liên khúc

                  Lí Bạch 李白 Lǐ Bái

          若耶溪旁采 莲女

笑隔荷花共人语

日照新妆水底明

风飘香袂 空中举

岸上谁家游冶郎

三三五 五映垂杨

紫骝嘶入落花去

见此踟蹰空断肠Ruò yē qī páng cǎi lián nǚ

Xiào gé hé huā gòng rén yǔ

Rì zhào xīn zhuāng shuǐ dǐmíng

Fēng piāo xiāng mèi kōng zhōng jǔ

Àn shàng shuí jiā yóu yě láng

Sān sān wǔ wǔ yìng chuí yáng

Zǐ líu sī rù luò huā qù

Jiàn cǐ chí chú kōng duàn cháng

 

Khúc hát hái sen

Bên suối Nhược Gia có cô gái hái sen

Tiếng cười khuất sau  hoa sen hoà tiếng người  nói

Nắng chiếu quần áo mới in bóng xuống nước sáng lên

Hương theo gió bay lên trong không gian

Trên bờ những chàng trai nhà nào đi chơi

Năm ba chàng dưới ánh nắng cây dương

Ngựa tía hí, bước vào hoa rụng

Nhìn đó mà chần chừ, trống trải, buồn tiếc

  

      Thái liên khúc

Nhược Gia khê bàng thái liên nữ

Tiếu cách hà hoa cộng nhân ngữ

Nhật chiếu tân trang thuỷ để minh

Phong phiêu hương duệ không trung cử

Ngạn thượng thuỳ gia du dã lang

Tam tam ngũ ngũ ánh thuỳ dương

Tử lưu tê (tư)nhập lạc hoa khứ

Kiến thử trì trù không đoạn trường

 

Dịch thơ

Có cô con gái nhà ai

Hái sen chơi ở bên ngòi Nhược Gia.

Mặt hoa cười cách đoá hoa

Cùng ai nói nói mặn mà thêm xinh.

Áo quần mặc mới trắng tinh

Nắng soi đáy nước rung rinh bóng lồng.

Thơm tho vạt áo gió tung

Bay lên phấp phới trong không ngọt ngào.

Năm ba chàng trẻ nhà nào

Ngựa hồng rặng liễu bờ cao bóng người.

Ngựa kêu lần bước hoa rơi

Đoái trông ai đó ngậm ngùi tiếc thương

                                                                                               (Tản Đà)

Ghi chú

Trong Thơ Đường Tản Đà dịch do ông Nguyễn Quảng Tuân biên soạn (NXB Văn học in năm 2003 trang 60) đã chép sai câu 3, chữ “trang” (装) nghĩa là “quần áo” thành “chang” (伥) nghĩa là “hồn ma”.

Lời bàn

Hiếm có nhà thơ đời Đường lưu ý đến những vẻ đẹp thôn dã, tươi tắn, giản dị như Lí Bạch . Có thể nói Lí Bạch là nhà thơ của mọi người, cho mọi người, từ vua chúa anh hùng, thi nhân đến thảo dân, thuyền thợ .

 


Bài 75.                      怀

                           Tiān mò huái Lǐ Bái  / Thiên mạt hoài Lí Bạch

Đỗ Phủ  杜 甫 Dù Fǔ

凉 风 起 天 末

君 子 意 如 何

鸿 雁 几 时 到

江 湖 秋 水 多

文 章 憎 命 达

魑 魅  喜 人 过

应 共 冤 魂 语

投 诗 赠 汨 罗Liáng  fēng qǐ tiān mò

Jūn  zǐ  yì  rú  hé

Hóng yàn jǐ shí dào

Jiāng hú  qiu shuǐ  duo

Wén zhāng zēng  mìng dá

Chī mèi  xǐ  rén  guò

Yìng gòng yuān  hún yǔ

Tóu  shī zèng Mì Luó

Cuối trời nhớ Lí Bạch

Cuối trời gió lạnh bốc lên rồi,

Ý người quân tử lúc này ra sao ?

Chim hồng, chim nhạn bao giờ đến ?

Sông hồ nước thu tràn đầy.

Văn chương ghét người gặp vận,

Ma quỷ thích (trêu) người đi qua .

Để nói chuyện với hồn người thác oan,

(Lí Bạch) đã ném thơ tặng sông Mịch La

  

Thiên mạt hoài Lí Bạch

Lương phong khởi thiên mạt,

Quân tử ý như hà ?

Hồng nhạn kỷ thời đáo,

Giang hồ thu thuỷ đa.

Văn chương tăng mệnh đạt,

Si mị hỉ nhân quá.

Ứng cộng oan hồn ngữ,

Đầu thi tặng Mịch La.

Dịch thơ

Bên trời nổi gió lạnh,

Quân tử nghĩ sao đây ?

Hồng nhạn bao giờ đến ?

Sông biển nước thu đầy.

Văn chương ghen gặp vận,

Ma quỷ thích trêu người.

Cùng oan hồn nói chuyện,

Sông Mịch chuyển thơ này.

                                                                              (Hoàng Tạo)

         Chú thích : Đọc ba câu thơ cuối bài, nghĩ đến phong tục lễ hội đua thuyền vùng sông Mịch La ngày 5.5 âm lịch. Ngày đó là Tết Đoan ngọ lại vừa tưởng niệm nhà thơ Khuất Nguyên thời Chiến quốc trầm mình trên sông này khi ông nghe tin kinh đô nước Sở rơi vào tay quân Tần. Người đua thuyền vừa chèo vừa ném cơm xuống sông cho cá ăn, mong chúng khỏi rỉa xác nhà thơ. Trong bài thơ, Đỗ Phủ nghĩ có lẽ Lí Bạch cũng ném thơ xuống sông Mịch La bởi Lý Bạch từng làm thơ ca ngợi thương tiếc Khuất Nguyên .

Bản Thơ Đường 2 tập (Nxb Văn học 1987 – nhóm soạn giả) phiên âm sai: bản gốc “si mị” (ma quỉ chốn núi rừng) bị in sai thành “ly vị”, “đầu thi” in sai thành “đầu thư”, “ứng cộng” thành “ưng cộng” .


Bài 76 .         秋兴    Qiū xìng / Thu hứng 

Đỗ Phủ  杜 甫 Dù  Fǔ

          玉 露 凋 伤 枫 树 林

巫 山 巫 峡 气 萧 森

江 间 波 浪 兼 天涌

塞 上 风 云 接 地 阴

丛 菊 两 开 他 日 泪

孤 舟 一 系 故 园 心

寒 衣 处 处 催 刀 尺

白 帝 城 高 急 暮 砧Yù lù diāo shāng fēng shù lín

Wū shān wū xiá qì xiāo sēn

Jiāng jiān bō làng jiān tiān yǒng

Sài shàng fēng yún jiē dì yīn

Cóng jú liǎng kāi tā rì lèi

Gū zhōu yī xì gù yuán xīn

Hán yī chù chù cuī dāo chǐ

Bái Dì chéng gāo jí mù zhēn

Cảm hứng mùa thu

Sương móc làm tổn thương tàn lụi rừng cây phong

Núi Vu Sơn, kẽm Vu Giáp khí trời âm u lạnh ngắt

Sóng trên sông mạnh mẽ trùm cả trời

Trên cửa ải, gió mây tiếp liền xuống mặt đất âm u

Hai lần đám cúc nở làm rơi nước mắt ngày khác nữa

Con thuyền lẻ loi buộc mãi với trái tim vườn cũ

Áo lạnh giục giã dao thước (thợ may) nơi nơi

Thành Bạch đế trên cao về chiều, gấp gáp tiếng chày  giặt vải .

 Thu hứng

Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm

Vu Sơn, Vu Giáp khí tiêu sâm

Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng

Tái thượng phong vân tiếp địa âm

Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ

Cô chu nhất hệ cố viên tâm

Hàn y xứ xứ thôi đao xích

Bạch đế thành cao cấp mộ châm

Dịch thơ

Lác đác rừng phong hạt móc sa

Ngàn non hiu hắt khí thu hoà.

Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm

Mặt đất mây đùn cửa ải xa.

Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ

Con thuyền buộc chặt mối tình nhà.

Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước

Thành Bạch chày vang bóng ác tà

                                                                          (Nguyễn Công Trứ)

Lời bàn

Trong “Đường Thi tam bách thủ” (sđd ) chép câu 3 là “kiêm thiên địa” có lẽ không chính xác.  Nếu câu 3 là “thiên địa” thì trùng lặp “địa” ở câu 4,  mặt khác danh từ “địa” không thể đối với  tính từ “âm”. Phải là “kiêm thiên dũng” (như bản của Trần Trọng Kim) mới tả được cái chất hung hăng của sóng. Câu 3 đối với câu 4, tức là “kiêm thiên dũng” đối lập với “tiếp địa âm” – đó mới thực là Đỗ Phủ vậy ! Soạn giả dịch câu 5 là: Hai lần tùng cúc nở từng rơi nước mắt. Người đọc dễ hiểu lầm là hoa tùng hoa cúc. “Tùng” là “đám, bụi” (không phải cây tùng), dịch đúng là “ Hai lần đám cúc nở.. . ”

Sách “Đường Thi tam bách thủ” dịch “phong thụ lâm” là “rừng bàng”. Không nên ép cây phong Trung Quốc thành cây bàng Việt Nam được vì hai cây rất khác nhau, chỉ  giống màu lá đỏ lúc mùa thu.

Một kiệt tác thơ của mùa thu phương Bắc.


Bài 77.           秋浦歌   Qiū Pǔ gē / Thu Phố ca

Lí Bạch 李 白 Lǐ Bái

炉火照天地

红星乱紫烟

赧郎明月夜

歌曲动寒川

Lú huǒ zhào tiān dì

Hóng xīng luàn zǐ yān

Nuǎn láng míng yuè yè

Gē qǔ dòng hán chuān

 

       Bài ca Thu Phố

Lửa lò chiếu sáng cả trời đất

Những đốm lửa hồng nhảy lung tung

trong làn khói tím

Má anh ửng đỏ sáng lên dưới trăng

Bài hát khua động cả dòng sông lạnh lẽo

  

            Thu Phố ca

Lô hoả chiếu thiên địa

Hồng tinh loạn tử yên

Noãn lang minh nguyệt dạ

Ca khúc động hàn xuyên

 

Lời bàn

Lí Bạch có hai bài cùng tên “Thu Phố ca”

Nhà thơ say sưa ngắm nhìn người thợ rèn sống ở Thu Phố, yêu mến người thợ rèn vất vả và nhìn ra  vẻ đẹp của họ. Hiếm có nhà thơ cổ điển tìm thấy cảm hứng nơi người lao động bình dân như Lí Bạch, ta hiểu vì sao người dân Trung Hoa từ trí thức đến bình dân yêu mến Lí Bạch đến vậy.


Bài 78.       秋思 Thu tứ  

Lí Bạch 李 白 Lǐ  Bái

秋思

秋风清

秋月明

落叶聚还散

寒鸦栖复惊

相思相见知何日

此时此夜难为情Qiū sì

Qiū fēng qīng

Qiū yuè míng

Luò yè jù huán sàn

Hán yā qī fú jīng

Xiāng sī xiāng jiàn zhī hé rì

Cǐ shí cǐ yè nán wēi qíng

Gió thu trong mát

Trăng thu sáng tươi

Lá rụng tụ rồi tán

Quạ thấy lạnh, kinh sợ đậu lại

Nhớ nhau, biết ngày nào gặp lại

Lúc này đêm nay khổ vì tình 

Thu phong thanh

Thu nguyệt minh

Lạc diệp tụ hoàn tán

Hàn nha thê phục kinh

Tương tư tương kiến tri hà nhật

Thử thời thử dạ nan vi tình

        Dịch thơ              

                                            Tứ thơ mùa thu

Gió thu thanh

Trăng thu minh

Lá rụng tụ lại tán

Quạ đậu lạnh giật mình

Nhớ nhau biết đến ngày nào gặp

Giờ này đêm ấy xiết bao tình

(Trần Trọng Kim)

Lời bàn

Bài thơ theo lối cổ phong, gọi là “tam ngũ thất ngôn”. Lí Bạch viết thơ tự nhiên như lời nói bình thường. Đó là một nét phóng khoáng của “thi tiên”. Câu 3 – Con quạ định bay nhưng lạnh quá khiến nó sợ mà đậu lại cành cây, không dám bay nữa. Cảm giác về cái lạnh giá phương Bắc của Lí Bạch rất tinh tế, cách miêu tả thật điêu luyện: mượn con quạ thay mình.

 


Bài  79.            琵琶行    Pí pá xíng / Tì bà hành

白居易 Bái  jū yì / Bạch Cư Dị

 

Xún Yáng jiāng tóu yè sòng kè

Fēng yè dì huā qiū sè sè

Zhǔ rén xià mǎ kè zài chuán

Jǔ jiǔ yù yǐn wú guǎn xián

Zuì bù chéng huān, cǎn xiāng bié

Bié shí máng máng jiāng jìn yuè

Hù wén shuǐ shàng pípá shēng

Zhǔ rén wàng guī kè bú fà

Xún shēng àn wèn tán zhě shuí ?

Pí pá shēng tíng yù yǔ chí

Yí chuán xiāng jìn yāo xiāng jiàn

Tiān jiǔ huí dēng chóng kāi yàn.

Qiān hū  wàn huàn shǐ chū  lāi

Yōu bào pí pá bàn zhē miàn

Zhuǎn zhù bō xián sān liǎng sheng

Wèi chéng qǔ diào xiān yǒu qíng

Xián xián yǎn yì, shēng shēng sī

Sì sù píng shēng bù dé zhì

Dī méi xìn shǒu xù xù tán.

Shuō jìn xīn zhōng wū xiàn shì

Qīng lóng màn niǎn mò fù tiāo

Chū wéi Ní Cháng hòu Liù Yao

Dà xián cáo cáo rú jí yǔ

Xiǎo xián qièqiè rū sī yǔ

Cáo cáo qiè qiè cuò zá tán

Dà zhū xiǎo zhū luò yù pán

Jiān guān yīng yǔ huā dí huá

Yōu yān quán liú shuǐ xià tān

Shuǐ quán lěng sè xián níng jué

Níng jué bù tōng shēng jiàn xiē

Bié yǒu yōu chóu àn hèn shēng

Cǐ shí wū shēng shèng yǒu shēng

Yín píng zhā pò shuǐ jiāng bèng

Tiě qí tù chū dāo qiāng míng

Qǔ zhōng shōu bō dāng xīn huò

Sì xián yì shēng rú liè bò

Dōng chuán xī fǎng qiǎo wú yán

Wéi jiàn jiāng xīn qiū yuè bái

Chén yín fàng bō chā xián zhōng

Zhěng dùn yī cháng qǐ liǎn róng

Zì yán : běn shì jīng chéng nǚ

Jiā zài Xiá Má líng xià zhù

Shí sān xué dé  pí pá chéng

Míng shǔ jiào fáng dì yī bù

Qǔ bà céng jiāo Shàn Cái fú

Zhuāng chéng měi bèi Qiū Niáng dù

Wǔ Líng nián shào zhēng chán tóu

Yì qǔ hóng xiāo bù zhī shù

Tián tóu yín bí jì jié suì

Xuè sè luó qún fān jiǔ wū

Jín nián huān xiào fù míng nián .

Qiū yuè chūn fēng děng xián dù

Dì zǒu cóng jūn, a yí sǐ

Mù qù zhāo lái yǎn sè gù

Mén qián lěng luò chē mǎ xī

Lǎo dà jià zuò shāng rén  fù

Shāng rén zhòng lì qīng bié lí

Qián yuè Fú Liáng mǎi chá qù !

Qù lái  jiāng kǒu shǒu kōng chuán

Rǎo chuán yuè míng, jiāng shuǐ hán

Yè shēn hù mèng shào nián shì

Mèng tí zhuāng lèi hóng lán gān

Wǒ wēn pí pá yǐ tàn xī

Yòu wén cǐ yǔ chōng jì jì

Tóng shì tiān yá lún luò rén

Xiāng féng hé bì céng xiāng shí

Wǒ cóng qù nián cí dì jīng

Zhè jū  wò bìng  Xún Yāng chéng

Xún Yáng dì xì wú yīn yuè

   Zhōng suì  bù wén  sī zhú shēng

Zhù jìn Pén Jiāng dì dī shī

Huáng lū kǔ zhú rǎo zhái shēng

Qí jiān dàn mù wén hé wù

Dǔ juān dí xuè yuān āi míng .

Chūn jiāng huā zhāo qiū míng yè

Wǎng wǎng qǔ jiǔ huán dú qīng

Qǐ wú shān gē yǔ cūn  dí

Ōu yǎ cháo zhà nán wéi tīng

Jīn yè wén jūn pí pá  yǔ

Rú tīng xiān yuè ěr zàn míng

Mò cí gèng zuò tán yī qǔ

Wèi jūn fān zuò pí pá  xíng

Gǎn wǒ cǐ yán liáng jiǔ lì

Què zuò cù xián xián zhuǎn jí

Qī qī bù sì xiàng qián shēng

Mǎn zuò chóng wén jiē yǎn qì

Zuò zhōng qì xià shuí zuì duō ?

Jiāng Zhōu Sī Mǎ qīng shān shī!

                           

浔阳 江 头 夜 送 客

枫 叶 荻 花 秋 瑟瑟

主 人下 马 客 在 船

举 酒 欲饮无管弦

醉不成欢惨 将别

别 时茫茫 江浸月

忽闻水上 琵琶声

主人忘 归客不发

寻声暗问弹者谁 ?

琵琶声停欲语迟

移船相近邀相见

添酒回灯重开宴

千呼万唤始出来

犹抱琵琶半遮面

转轴拨弦三两声

未成曲调先有情

弦弦掩抑声声思

似诉平生不得志

低眉信手续续弹

说尽心中无限事

轻拢慢撚抹复挑

初为霓裳后六么

大弦嘈嘈如急雨

小弦切切如私语

嘈嘈切切错杂弹

大珠小珠落玉盘

间关莺语花底滑

幽咽泉流水下滩

水泉冷涩弦凝绝

凝绝不通声漸歇

别有幽愁暗恨生

此时无声胜有声

银瓶乍破水浆迸

铁骑突出刀鎗鸣

曲终收拨当心画

四弦一声如裂帛

东船西舫悄无言

惟见江心秋月白

沉吟放拨插弦中

整顿衣裳起敛容

自言本是京城女

家在虾蟆陵下住

十三学得琵琶成

名属教坊第一部

曲罢曾教善才服

妆成每被秋娘妒

五陵年少争缠头

一曲红绡不知数

钿头银篦击节碎

血色罗裙翻酒汙

今年欢笑复明年

秋月春风等闲度

弟走从军阿姨死

暮去朝来颜色故

门前冷落车马稀

老大嫁作商人妇

商人重利轻别离

前月浮梁买茶去

去来江口守空船

绕船月明江水寒

夜深忽梦少年事

梦啼妆泪红阑干

我闻琵琶已叹息

又闻此语重唧唧

同是天涯沦落人

相逢何必曾相识

我从去年辞帝京

谪居卧病浔阳城

浔阳地僻无音乐

终岁不闻丝竹声

住近湓江地低湿

黄芦苦竹绕宅生

其间旦暮闻何物

杜鹃啼血猿哀鸣

春江花朝秋月夜

往往取酒还独倾

岂无山歌与村笛

呕哑嘲哳难为听

今夜闻君琵琶语

如听仙乐耳暂明

莫辞更坐弹一曲

为君翻作琵琶行

感我此言良久立

却坐促弦弦 转急

凄凄不似向前声

满坐重闻皆掩泣

坐中泣下谁最多

江洲司马青衫湿 !

k

Chú thích

1. Gian quan : tiếng chim kêu ríu rít.

2. Triền đầu : khăn lụa đỏ, ban thưởng cho ca thủ, ca công

3. Điền đầu ngân tì : đồ trang sức cài tóc phụ nữ, điền là thứ hoa làm bằng ngọc châu và lông chim thuý, (bề) là cái lược để gỡ tóc. Khi say chơi đàn, đầu lắc quá mạnh khiến  cho những hoa và lược ấy rơi vỡ .

4. Phù Lương là một huyện có trà ngon, thuộc tỉnh Chiết Giang

5. Lan can : vành mắt

6. Bến Tầm Dương thuộc quận Cửu Giang, tỉnh Giang Tây ngày nay.

7. Bài Tựa của tác giả ghi viết năm Nguyên Hoà thứ 11 (816) triều vua Đường Hiến Tôn.

Phiên âm Hán Việt

 

Tầm Dương giang đầu dạ tống khách,

Phong diệp dịch hoa thu sắt sắt.

Chủ nhân há mã khách tại thuyền,

Cử tửu dục ẩm vô quản huyền.

Tuý bất thành hoan thảm tương biệt

Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt,

Hốt văn thuỷ thượng tì bà thanh,

Chủ nhân vong quy, khách bất phát.

Tầm thanh ám vấn đàn giả thuỳ ?

Tỳ bà thanh đình dục ngữ trì.

Di thuyền tương cận yêu tương kiến,

Thiêm tửu hồi đăng trùng khai yến.

Thiên hô vạn hoán thuỷ xuất lai,

Do bão tỳ bà bán già diện.

Chuyển trục bát huyền tam lưỡng thanh,

Vị thành khúc điệu tiên hữu tình.

Huyền huyền yểm ức thanh thanh tứ,

Tự tố bình sinh bất đắc chí.

Đê mi thân thủ tục tục đàn,

Thuyết tận tâm trung vô hạn sự.

Khinh lung mạn nhiên mạt phục khiêu,

Sơ vi “Nghê thường”, hậu “Lục yêu”.

Đại huyền tao tao như cấp vũ,

Tiểu huyền thiết thiết như tư ngữ.

Tao tao thiết thiết thác tạp đàn,

Đại châu tiểu châu lạc ngọc bàn.

Gian hoan oanh ngữ hoa để hoạt,

U yết truyền lưu thuỷ há than.

Thuỷ tuyền lãnh sáp huyền ngưng tuyệt,

Ngưng tuyệt bất thông thanh tiệm yết.

Biệt hữu u sầu ám hận sinh.

Thử thời vô thanh thắng hữu thanh.

Ngân bình sạ phá thuỷ tương binh,

Thiết kị đột xuất đao thương minh.

Khúc chung thu bát đương tâm hoạch,

Tứ huyền nhất thanh như liệt bạch

Đông thuyền tây phảng tiễu vô ngôn

Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch

Trầm ngâm phóng bát sáp huyền trung,

Chỉnh đốn y thường khởi liễm dung.

Tự ngôn: “Bản thị kinh thành nữ,

Gia tại Hà Mô lăng hạ trú.

Thập tam học đắc tỳ bà thành,

Danh thuộc giáo phường đệ nhất bộ.

Khúc bãi thường giao Thiện Tài phục,

Trang thành mỗi bị Thu Nương đố.

Ngũ Lăng niên thiếu tranh triền đầu,

Nhất khúc hồng tiêu, bất tri số.

Điền đầu ngân tì kích tiết toái,

Huyết sắc la quần phiên tửu ô.

Kim niên hoan tiếu phục minh niên,

Thu nguyệt xuân phong đặng nhàn độ.

Đệ tẩu tòng quân, a di tử,

Mộ khứ, triêu lai nhan sắc cố,

Môn tiền lãnh lạc, xa mã hy,

Lão đại giá tác thương nhân phụ,

Thương nhân trọng lợi khinh biệt ly,

Tiền nguyệt Phù Lương mãi trà khứ

Khứ lai giang khẩu thủ không thuyền,

Nhiễu thuyền nguyệt minh, giang thuỷ hàn

Dạ thâm hốt mộng thiếu niên sự,

Mộng đề trang lệ hồng lan can”.

- Ngã văn tì bà dĩ thán tức,

Hựu văn thử ngữ trùng tức tức,

Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân,

Tương phùng hà tất thuờng tương thức.

Ngã tòng khứ niên từ đế kinh,

Trích cư ngoạ bệnh Tầm Dương thành

Tầm Dương địa tịch vô âm nhạc,

Chung tuế bất văn ty trúc thanh.

Trú cận Bồn Giang địa đê thấp,

Hoàng lô khổ trúc nhiễu trạch sinh.

Kỳ gian đán mộ văn hà vật,

Đỗ quyên đề huyết viên ai minh.

Xuân giang hoa triêu thu nguyệt dạ

Vãng vãng thủ tửu hoàn độc khuynh.

- Khởi vô sơn ca dữ thôn địch ?

- Ẩu á trào triết nan vi thính.

Kim dạ văn quân tì bà ngữ,

Như thính tiên nhạc, nhĩ tạm minh.

Mạc từ, cánh toạ đàn nhất khúc,

Vị quân phiên tác tì bà hành”.

Cảm ngã thử ngôn lương cửu lập,

Khước toạ xúc huyền huyền chuyển cấp.

Thê thê bất tự hướng tiền thanh,

Mãn toạ trùng văn giai yểm khấp.

Tọa trung khấp hạ thuỳ tối đa ?

Giang Châu Tư Mã thanh sam thấp !Dịch nghĩa

 

Bến sông Tầm Dương ban đêm tiễn khách

Lá phong, hoa lau hơi thu xao xác

Chủ nhân xuống ngựa, khách ở trong thuyền

Nâng chén định uống, thiếu âm nhạc

Say mà không thành cuộc vui, lại buồn từ biệt

Lúc chia tay, ánh trăng dầm trong lòng sông mênh mang

Chợt nghe tiếng tỳ bà vẳng trên mặt nước

Chủ nhân quên về, khách không rời bến

Lần đến nơi có tiếng đàn khẽ hỏi “ai đàn đó ?”

Tiếng đàn ngưng, muốn đáp nhưng lại ngại ngần

Dời thuyền đến gần, xin cho được gặp mặt

Rót thêm rượu, chong lại đèn, tiệc mở tiếp

Hết lời mời mọc mới chịu bước ra

Còn ôm cây tỳ bà che khuất nửa mặt.

Vặn trục lên dây, dạo qua vài tiếng

Tuy chưa thành khúc điệu mà nghe đã có tình

Mỗi tiếng toát ra bao nhiêu tình tứ

Mỗi dây ngân lên là những lời ấm ức trong đời mình

Cúi đôi mày, thuận tay đều đều gảy

Ráng nói cho hết nỗi niềm vô hạn

Nắn nhẹ, bắt khoan, vê rồi lại dạo

Trước chơi bản Nghê thường sau bản Lục yêu

Dây to ào ào như mưa gấp

Dây nhỏ nỉ non như lời riêng.

Rào rạt, tỉ tê, gảy xen thành nhịp

Như hạt châu lớn hạt nhỏ rơi xuống bàn ngọc

Oanh ca trơn giọng, líu lo trong hoa

Nức nở nhịp suối chảy xuống bến

Suối bỗng rét đọng, dây đàn ngừng bặt

Dây ngừng bặt, tiếng dần dần im hẳn

Lại có vẻ u sầu hận sinh ra

Lúc này, im lặng nghe laị hiểu hơn lúc có tiếng đàn …

Bỗng như bình bạc vỡ tan, nước tuôn tung tóe

Đoàn thiết kỵ xung đột, gươm đao vang lên

Khúc vừa xong, phẩy một tiếng mạnh giữa mặt đàn

Cả bốn dây như một tiếng xé lụa vang lên

Thuyền bè đông tây lặng im phăng phắc

Chỉ có vầng trăng thu sáng trắng lên giưã dòng sông

Lặng lẽ gài que gảy vào dây đàn

Vuốt lại áo, khép nép đứng dậy

Kể chuyện: “Em vốn người kinh thành

Nhà ở dưới cồn Hà Mô

Mười ba tuổi đã học thạo đàn tỳ bà

Tên xếp hạng nhất trong phường hát

Mỗi khúc đàn ngừng, Thiện Tài thường thán phục

Trang điểm xong, Thu Nương từng phát ghen

Bọn thanh niên ở Ngũ Lăng tranh nhau tặng thưởng

Một khúc đàn, lụa hồng tặng đếm không xuể

Vành lược bạc, cành hoa vàng gãy tan cùng nhịp gõ

Bức quần hồng hoen ố vết rượu rơi

Cuộc truy hoan năm này qua năm khác…

Trăng thu gió xuân lững lờ trôi qua

Bỗng đứa em trai  đi lính, dì lại chết

Chiều qua, sớm lại, nhan sắc sa sút (cũ kỹ)

Trước cửa vắng lạnh, xe ngựa ít dần

Về già làm vợ một thương nhân

Thương nhân trọng lợi, coi thường ly biệt

Tháng trước bỏ đi Phù Lương buôn chè

Ði về cửa sông coi giữ chiếc thuyền không

Ánh trăng lởn vởn quanh thuyền, nước sông lạnh.

Ðêm khuya bỗng nằm mộng về thời tuổi trẻ

Giấc mộng đẫm lệ điểm trang hồng đôi mí ”

- Ta nghe tiếng đàn đã ngậm ngùi

Lại nghe câu chuyện càng thêm nức nở.

Cùng là kẻ luân lạc nơi góc trời

Gặp gỡ đây cần gì phải quen biết cũ

Ta hồi năm ngoái từ giã đế kinh

Bị giáng đi đày, nằm bệnh thành Tầm Dương

Tầm Dương đất hẻo lánh chẳng có âm nhạc

Suốt năm không nghe tiếng đàn sáo

Nhà gần sông Bồn đất ẩm thấp

Lau tàn trúc gầy mọc xung quanh nhà

Ở đó thì nghe gì lúc sớm tối !

Quyên kêu ra máu, vượn hót buồn bã

Sông xuân, hoa sớm, trăng thu đêm khuya

thường thường chỉ một mình dốc chén

- Sao lại không có dân ca vùng núi với sáo quê ?

- Khốn nỗi líu lo khó mà nghe được

Ðêm nay mới được nghe tiếng tỳ bà của nàng

Như nghe tiếng nhạc tiên, tai bỗng khoan khoái

Đừng chối từ, cứ ngồi chơi thêm khúc nữa

Vì nàng (ta sẽ) viết bài tỳ bà hành ”.

Cảm lời ta, nàng đứng lặng lúc lâu

Lùi ngồi xuống soạn dây đàn, đàn nhanh dần

Rầu rầu chẳng giống như tiếng đàn lúc trước

Cả bàn tiệc cùng nghe, đều che giấu khóc

Trong ấy ai là người khóc nhiều nhất ?

Giang châu Tư Mã vạt áo xanh ướt đẫm

(Theo bản dịch của nhà thơ Ngô Văn Phú, chúng tôi hiệu đính một số câu cho sát nghĩa hơn)

 

 Lời bàn

“Tì bà hành” là bài thơ tuyệt kĩ miêu tả tiếng đàn và số phận con người….

Thi hào Nguyễn Du đã học “Tì bà hành” để tả những cảnh Thuý Kiều chơi đàn trong Truyện  Kiều bất hủ của mình. Nhà thơ Xuân Diệu cũng mượn ý tứ của Bạch Cư Dị để viết nên bài Lời kĩ nữ (có khác là : khách muốn ra đi, kĩ nữ năn nỉ níu chàng ở lại ).

Dưới đây là bản dịch thơ của Phan Huy Thực (hoặc của con trai ông là  Phan Huy Ích) quê xứ Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Tây, thời nhà Nguyễn. Bài dịch này được nhiều người coi là bản dịch Đường Thi hay nhất:

 

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách,

Quạnh hơi thu, lau lách đìu hiu.

Người xuống ngựa khách dừng chèo

Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ti.

Say những luống ngại khi chia rẽ,

Nước mênh mông đượm vẻ gương trong

Đàn ai nghe vẳng bên sông,

Chủ khuây khỏa lại khách dùng dằng xuôi.

Tìm tiếng sẽ hỏi ai đàn tá ?

Dừng dây tơ nấn ná làm thinh.

Dời thuyền ghé lại thăm tình,

Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui.

Mời mọc mãi, thấy người bỡ ngỡ,

Tay ôm đàn che nửa mặt hoa.

Vặn đàn mấy tiếng dạo qua,

Dẫu chưa nên khúc, tình đà thoảng hay.

Nghe não nuột mấy dây buồn bực,

Dường than niềm tấm tức bấy lâu;

Mày chau tay gảy khúc sầu,

Dãi bày hết nỗi trước sau muôn vàn.

Ngón buông bắt khoan khoan dìu dặt,

Trước Nghê thường sau thoắt Lục yêu:

Dây to nhường đổ mưa rào,

Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện rịêng.

Tiếng cao thấp lựa chen lần gảy,

Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu

Trong hoa oanh ríu rít nhau,

Nước tuôn róc rách, chảy mau xuống ghềnh.

Nước suối lạnh, dây mành ngừng dứt,

Ngừng dứt nên phút bặt tiếng tơ

Ôm sầu, mang hận ngẩn ngơ,

Tiếng tơ lặng ngắt, bây giờ càng hay.

Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước,

Ngựa sắt giong, xô xát tiếng đao

Cung đàn trọn khúc thanh tao,

Tiếng buông xé lụa, lựa vào bốn dây.

Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt,

Một vầng trăng trong vắt lòng sông;

Ngậm ngùi đàn bát xếp xong,

Áo xiêm khép nép hầu mong giãi lời.

Rằng: “Xưa vốn là người kẻ chợ

Cồn Hà Mô trú ở lân la

Học đàn từ thuở mười ba,

Giáo phường đệ nhất chỉ đà chép tên

 Gã Thiện Tài sợ phen dừng khúc,

Ả Thu Nương ghen lúc điểm tô,

Ngũ Lăng chàng trẻ ganh đua

Biết bao the thắm chuốc mua tiếng đàn.

Vành lược bạc gẫy tan dịp gõ,

Bức quần hồng hoen ố rượu rơi:

Năm năm lần lữa vui cười

Mải trăng hoa chẳng đoái hoài xuân thu.

Buồn em trảy, lại lo dì thác

Sầu hôm mai đổi khác hình dong;

Cửa ngoài xe ngựa vắng không,

Thân già mới kết duyên cùng khách thương.

Khách trọng lợi khinh đường li cách,

Mải buôn chè sớm tếch nguồn khơi;

Thuyền không, đậu bến mặc ai

Quanh thuyền trăng dãi nước trôi lạnh lùng.

Đêm khuya, sực nhớ vòng tuổi trẻ

Chợt mơ màng dòng lệ đỏ hoen ”

- Nghe đàn ta đã chạnh buồn,

Lại rầu nghe nỗi nỉ non mấy lời:

“Cùng một lứa bên trời lận đận,

Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau

Từ xa kinh khuyết bấy lâu,

Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai.

Chốn cùng tịch lấy ai vui thích,

Tai chẳng nghe đàn địch cả năm:

Sông Bồn gần chốn cát lầm,

Lau vàng, trúc võ, âm thầm, quanh hiên.

Tiếng chi đó nghe liền sớm tối

Cuốc kêu sầu, vượn hót véo von;

Hoa xuân nở nguyệt thu tròn,

Lần lần tay chuốc chén son ngập ngừng

- Há chẳng có ca rừng, địch nội ?

- Giọng líu lo buồn nỗi khó nghe;

Tỳ bà nghe dạo canh khuya,

Dường như tiên nhạc gần kề bên tai.

Hãy ngồi lại gẩy chơi khúc nữa,

Sẽ vì nàng soạn sửa bài ca”

Đứng lâu dường cảm lời ta

Lại ngồi lựa phím đàn đà kíp dây.

Nghe não nuột khác tay  đàn trước,

Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi;

Lệ ai chan chứa hơn người  ?

Giang Châu Tư Mã  đượm mùi áo xanh.

 


Bài  80.               

Xiān zǐ sòng Liū Ruǎn chū  dòng

Tiên tử tống Lưu Nguyễn  xuất động

                     Tào Đường Cáo Táng

  

殷勤相送出天台

仙境哪能却再来

云液既归须强饮

玉书无事莫频开

花当洞口应长在

水到人间定不回

惆怅溪头从此别

碧山明月照苍苔 

Yīn qín xiāng sòng chū Tiān Tái

Xiān jǐng nǎ néng què zài lái

Yún yè jì guī xū qiǎng yǐn

Yù shū wú shì mò pín kāi

Huā dāng dòng kǒu yīng cháng zài

Shuǐ dào rén jiān dìng bù huí

Chóu chàng qī tóu cóng cǐ biè

Bì shān míng yuè zhaò cáng tái

 

 

Ân cần tiễn nhau ra khỏi núi Thiên Thai

Cõi tiên đâu có thể đến lần nữa được !

Rượu Vân dịch người về cố uống đi

Lá Ngọc thư nếu không cần thì đừng mở

Hoa cửa động đang còn tươi mãi

Nước về trần quyết không trở lại

Ngơ ngẩn đầu suối, từ đây li biệt

Ánh trăng trên núi biếc soi lớp rêu xanh

 Ân cần tống biệt xuất Thiên Thai

Tiên cảnh na năng khước tái lai

Vân dịch kí qui tu cưỡng ẩm

Ngọc thư vô sự mạc tần khai

Hoa đang động khẩu ưng trường tại

Thuỷ đáo nhân gian định bất hồi

Trù trướng khê đầu tòng thử biệt

Bích sơn minh nguyệt chiếu thương đài

     Dịch thơ

Các nàng tiên tiễn Lưu Nguyễn ra khỏi động

Ân cần đưa khỏi lối Thiên Thai,

Tiên cảnh khôn mong trở lại rồi.

Chén rượu ngày về nên gượng uống,

Phong thư vô sự chớ thường coi.

Hoa nương cửa động hoa thơm mãi,

Nước xuống khơi trần, nước chảy xuôi.

Theo tiễn bâng khuâng bên suối lạnh,

Rêu ngàn non quạnh bóng trăng soi.

(Ngân Giang)

      Chú thích

           Vân dịch là rượu quí (rượu chế bằng nước mưa), ngọc thư là cuốn sách dạy tu  luyện của

Đạo gia .

Hơn một ngàn năm sau, nhà thơ Tản Đà viết bài “Tống biệt”:

“Lá đào rơi rắc chốn Thiên Thai

Tiên cảnh khôn mong trở lại rồi

Cửa động đầu non đường lối cũ

          Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi”…


Bài 81.                  仙子洞中有怀刘阮

Xiān zǐ dòng zhōng yǒu huái Liú Ruǎn

Tiên tử động trung hữu hoài Lưu Nguyễn

                  Tào Đường 曹唐

不将清瑟理霓裳

尘梦那知鹤梦长

洞里有天春寂寂

人间无路月茫茫

玉沙瑶草连溪碧

流水桃花满涧香

晓露风灯尽零落

此生无处访刘郎 

Bù jiāng qīng sè lǐ Ní Cháng

Chén mèng nà zhī hè mèng cháng

Dòng lǐ yǒu tiān chūn jì jì

Rén jiàn wú lù yuè máng máng

Yù shā yáo cǎo lián qī bì

Liú shuǐ táo huā mǎn jiǎn xiāng

Xiǎo lù fēng dēng jìn líng luò

Cǐ shēng wú chù fǎng Liú láng

C

Không đem tiếng đàn sắt nhẹ nhàng lựa khúc Nghê thường nữa

Người trong giấc mộng trần biết đâu giấc mộng hạc (mộng tiên) dài

Trong động riêng một bầu trời, cảnh xuân yên lặng

Cõi người không đường đi tới, bóng nguyệt mơ màng

Cõi tiên trên bãi ngọc, xanh biếc ven khe suối

Hoa đào theo nước trôi, hương thơm đầy suối

Hạt móc sớm mai ngọn đèn trước gió đã tiêu tan hết

Kiếp này còn biết tìm hỏi chàng Lưu ở chốn nào ?!

Bất tương thanh sắt lý Nghê thường

Trần mộng na tri hạc mộng trường

Động lí hữu thiên xuân tịch tịch

Nhân gian vô lộ nguyệt mang mang

Ngọc sa dao thảo liên khê bích

Lưu thuỷ đào hoa mãn giản hương

Hiểu lộ phong đăng tận linh lạc

Thử sinh vô xứ phỏng Lưu lang

     Dịch thơ

 

Tiên tử trong động nhớ hoài Lưu Nguyễn

 

Ngón đàn biếng lựa khúc Nghê thường,

Ai biết hồn ai những vấn vương.

Trời khoá non tiên xuân quạnh quẽ,

Đường đi cõi tục nguyệt mơ màng.

Cỏ dao dát ngọc liên khe biếc,

Nước chảy hoa đào ngát suối hương.

Đèn gió sương mai ngao ngán nhẽ,

Kiếp này không chốn hỏi Lưu lang

(K.D)


Bài 82.   

Tuyên châu, Tạ Thiếu lâu tiễn biệt hiệu thư ThúcVân

[Tiễn biệt hiệu thư Thúc Vân trên lầu Tạ Thiếu xứ  Tuyên Châu]

                       Lí Bạch 李 白 Lǐ Bái

 

 

弃 我 去 者 昨 日 之 日 不 可 留

乱 我 心 者 今 日 之 日 多 烦 忧

长 风 万 里 送 秋 雁

对 此 可 以 酣 高 楼

蓬 莱 文 章 建 安 骨

中 间 小 谢 又 清 发

俱 怀逸 兴 壮 思 飞

欲 上 青 天览 日 月

抽 刀 断 水 水 更 流

举 杯销 愁 愁 更 愁

人 生 在 世 不 称 意

明 朝 散 髮 弄 扁  舟

 Xuān  Zhōu  Xiè  Tiào  lóu  jiàn  bié xiào  shū  Shù  Yún

Qì wǒ qù zhě zuó rì zhī rì bù kě liú

Luàn wǒ xīn zhě jīn rì zhī rì duō án yōu

Cháng  fēng  wàn  lǐ  sòng  qiū  yàn

Duì  cǐ  kě  yǐ  hān  gāo  lóu

Péng  Lái  wén  zhāng  jiàn  ān  gǔ

Zhōng  jiān  Xiǎo  Xiè  yòu  qīng fā

Jù  huái  yì  xìng zhuàng  sī  fēi

Yù shàng qīng tiān lǎn rì yuè

Chōu  dāo  duàn  shuǐ  shuǐ  gèng liú

Jǔ  bēi  xiāo  chóu  chóu  gèng  chóu

Rén  shēng  zài  shì  bú  chèng  yì

Míng  zhāo  sàn  fǎ nòng  piān zhōu

Phiên âm Hán -Việt

  

Khí ngã khứ giả tạc nhật chi nhật bất khả lưu,

Loạn ngã tâm giả kim nhật chi nhật đa phiền ưu.

Trường phong vạn lí tống thu nhạn,

Đối thử khả dĩ hàm cao lâu.

Bồng Lai văn chương Kiến An cốt,

Trung gian Tiểu Tạ hựu thanh phát.

Câu hoài dật hứng tráng tứ phi,

Dục thướng thanh thiên lãm nhật nguyệt.

Trừu đao đoạn thuỷ, thuỷ cánh lưu,

Cử bôi tiêu sầu, sầu cánh sầu.

Nhân sinh tại thế bất xứng ý,

Minh triêu tán phát lộng biên châu.


Dịch nghĩa

Trên lầu Tạ Thiếu ở Tuyên Châu tiễn quan hiệu thư Thúc Vân

Kẻ bỏ ta mà đi là ngày hôm qua không sao giữ lại được,

Kẻ làm rối loạn lòng ta là ngày hôm nay  lắm chuyện ưu phiền.

Gió thổi dài muôn dặm đưa tiễn chim nhạn mùa thu,

Trước cảnh này có thể uống say trên lầu cao ngất.

Văn chương cung Bồng Lai, phong cách đời Kiến An.

Trong đó Tiểu Tạ lại càng thanh cao rất mực,

Lòng mang theo hứng thơ phóng dật,

tứ thơ hùng mạnh tung bay.

Muốn lên trời xanh ngắm mặt trời mặt trăng,

Rút kiếm chém nước, nước càng chảy,

Nghiêng chén tiêu sầu, sầu càng sầu.

Người sống ở đời không được như ý,

Sớm mai xoã tóc thả thuyền nhẹ chơi.

Dịch thơ

Bỏ ta mà đi là ngày  hôm qua cầm được đâu  !

Rối lòng ta chừ, ngày hôm nay lắm ưu sầu  !

Muôn dặm gió thu đưa cánh nhạn,

Cảnh ấy lầu cao đáng dốc bầu.

Văn thái Bồng Lai chất Kiến An,

Ngang hàng Tiểu Tạ thanh tao tuyệt  !

Tứ hùng hứng lạ vút bay lên,

Muốn đến trời xanh xem vầng nguyệt.

Cầm kiếm chặt nước, nước cứ trôi,

Cất chén tiêu sầu, sầu không vơi.

Người sinh ở đời chẳng vừa ý,

Mai đây xoã tóc cưỡi thuyền chơi.

(Khương Hữu Dụng)

Chú thích:  Tạ Thiếu, nhà văn nổi tiếng thời Nam Bắc triều, từng làm thái thú Tuyên Châu

Tiểu Tạ: nhà thơ Tạ Huệ Liên, em họ nhà thơ Tạ Linh Vận đời Tấn

Bồng Lai : tên khác của cung Đại Minh, nhà Đường

Kiến An cốt: cốt cách văn chương của 7 nhà thơ thời Kiến An, Đông Hán.

Lí Bạch nhận xét thơ Thúc Vân bằng cách so sánh với các phong cách văn chương nổi tiếng khác.

Lời bàn

      Câu thơ của Lí Bạch tự do phóng khoáng, dường như khuôn khổ bài thơ không đủ sức chứa đựng cảm xúc và ý thơ (một nét thi tiên).

Lí Bạch nhận xét rất sắc sảo, trân trọng về phong cách thơ của bạn, chứng tỏ khả năng phê bình văn chương độc đáo, tài hoa lạ thường.

Nhạc sĩ làm phim Bao Công sáng tác một bài hát kết thúc cho mỗi tập phim đã dựa theo khổ thơ 1 và 3 “Chuyện hôm qua như nước chảy về đông / Mãi xa ta không sao giữ được / Hôm nay lại có bao chuyện ưu phiền  làm rối cả lòng ta / Rút kiếm chém nước nước càng chảy mạnh / Nâng chén tiêu sầu lại càng sầu thêm …”


Bài 83.     节 妇 吟    Jié  fù  yín  / Tiết phụ ngâm

              Trương Tịch 张 籍 Zhāng Jí

君 知 妾 有 夫,

赠 妾 双 明 珠;

感 君 缠 绵意,

系 在 红 罗 襦.

妾 家 高 楼 连 苑 起,

良 人 执 戟 明 光 里.

知 君 用 心 如 日 月,

事 夫 誓 拟 同 生 死.

俱 怀 逸 兴 壮 思 飞

欲 上 青 天 揽 明 月

还 君 明 珠 双 泪 垂,

恨 不 相 逢 未 嫁 时.

  

Jūn zhī qiè yǒu fū

Zèng qiè shuāng míng zhū

Gǎn jūn chán mián yì

Xì zài hóng luó rú

Qiè jiā gāo lóu lián yuàn qǐ

Liáng rén zhì jǐ míng guāng lǐ

Zhī jūn yòng xīn rú rì yuè

Shì fū shì nǐ tóng shēng sǐ

Jù huái yì xīng zhuàng sī fēi

Yù shàng qīng tiān lǎn míng yuè

Huán jūn míng zhū shuāng lèi chuí

Hèn bù xiāng féng wèi jià shí

 

 

 

Chàng biết thiếp đã có chồng

Tặng thiếp đôi ngọc minh châu

Cảm lòng chàng, quyến luyến mãi

Buộc (minh châu) trong áo lót lụa hồng

Nhà thiếp liền kề đó

Người tốt cầm kích trong đền Minh Quang.

Biết chàng giữ tâm sáng như mặt trời mặt trăng

Đạo thờ chồng thiếp đã thề cùng sinh tử

Luôn lo lầm lỗi khiến lòng chồng chẳng yên

Muốn lên tận trời xanh ôm vầng trăng sáng

Trả lại chàng ngọc minh châu, hai hàng lệ rỏ

Hận vì không gặp gỡ hồi thiếp chưa lấy chồng

  

Quân tri thiếp hữu phu

Tặng thiếp song minh châu

Cảm quân triền miên ý

Hệ tại hồng la nhu

Thiếp gia cao lâu liên uyến khởi

Lương nhân chấp kích Minh Quang lý

Tri quân dụng tâm như nhật nguyệt

Sự phu thệ nghĩ đồng sinh tử

Câu hoài dật hứng tráng tư phi

Dục thướng thanh thiên lãm minh nguyệtu hoài dịng thiếp ming yuei

Hoàn quân minh châu song lệ thuỳ

Hận bất tương phùng vị giá thì

Chú thích 

Minh châu: hạt ngọc trai trong sáng đẹp

Lời bàn

“Giấu đôi ngọc trai trong áo lót” vẫn là giấu tình riêng dù khi đã có chồng

Khéo léo nhất là câu thơ 2 và cuối: Rốt cục, tiết phụ trả ngọc mà “rỏ hai hàng lệ”

      (bằng số hai viên ngọc) .


Bài 84.      静 夜 思     Jìng yè sī  / Tĩnh dạ tứ    

 

Lí Bạch 李白 Lǐ Bái

    

床 前 明 月 光

疑 是 地 上 霜

举 头 望 明 月

低 头 思 故 乡

Chuáng qián míng yuè guāng

Yí shì dì shàng shuāng

Jǔ  tóu wàng  míng  yuè

Dī tóu sī gù xiāng

 

         Cảm nghĩ đêm yên tĩnh

 

Đầu giường ánh trăng rọi,

Ngỡ mặt đất phủ sương.

Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,

Cúi đầu nhớ cố hương.

(Tương Như dịch)

Tĩnh dạ tư
Sàng tiền minh nguyệt quang

Nghi thị địa thượng sương

Cử đầu vọng minh nguyệt

Đê đầu tư cố hương

 

 

Lời bàn

Xác định không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật của bài thơ, từ đó có hướng phân tích  (Đêm đó ngủ ở đâu ? Nơi cụ thể hay mơ hồ, một lần hay tái diễn ?)

Câu 1

Cảnh đêm không rõ ở một nơi nào trên đường giang hồ, không có địa chỉ cụ thể như

những bài khác. … Những đêm như thế thường xuyên trong đời tác giả.

Ánh trăng chủ động tìm chiếu nhà thơ như tình cảm  bạn cũ thân thiết .

Câu 2

Nhà thơ thức dậy, tâm trạng hoang mang lầm tưởng ánh trăng là “sương trên mặt đất “

Câu 3 và 4

Ngẩng đầu ngắm trăng (trăng thực tại, giang hồ) và cúi đầu nhớ cố hương (trăng thời xưa). Câu đối tương phản đã  diễn tả sự  lặp đi lặp lại không chỉ một lần, thể hiện  tâm trạng băn khoăn lực chọn của nhà thơ, đi nữa hay quay về cố hương ? Tiếp tục mưu cầu sự nghiệp hay an phận quay về ?! Câu hỏi lớn đã hơn một lần day dứt cuộc đời Lí Bạch trên mọi nẻo giang hồ.


Bài 85.        送别   Sòng bié / Tống biệt

                  Vương Duy 王 维  Wáng Wéi

下马饮君酒

问君何 所之

君言不得意

归 卧南山陲

但 去莫复闻

白 云无尽时

Xià mǎ yǐn jūn jiǔ

Wèn jūn hé suǒ zhī ?

Jūn yán bù dé yì

Guī wò Nan shān chuí

Dàn qù mò fù wén

Bái yún wú jìn shí

Tiễn biệt

Xuống ngựa mời bác uống ruợu

Hỏi bác đi đâu đấy ?

Bác rằng chán đời quá

Về nằm ven Nam Sơn

Bác đi, không nghe tin gì nữa

Mây trắng không tận cùng

Tống biệt

Há mã ẩm quân tửu

Vấn quân hà sở chi  ?

Quân ngôn bất đắc ý

Qui ngoạ Nam Sơn thuỳ

Đãn khứ mạc phục văn

Bạch vân vô tận kỳ


Bài 86.        

                                         Zhú Lǐ guǎn / Trúc Lý quán 

[Quán trong rặng trúc]

               Vương Duy 王 维  Wáng Wēi

独坐幽篁里

弹琴复长啸

深林人不知

明月来相照

Dú zuò yōu huáng lǐ

Tán qín fù cháng xiāo

Shēn lín rén bù zhī

Míng yuè lái xiāng zhào

Một mình ngồi trong rặng cây (trúc) rợp bóng

Tiếng đàn cầm rồi tiếng sáo thổi lại

Rừng sâu người chẳng hề biết

Trăng sáng đến bên ta chiếu sáng

Độc toạ u hoàng lí

Đàn cầm phục tràng tiêu

Thâm lâm nhân bất tri

Minh nguyệt lai tương chiếu

               Dịch thơ

Ngồi một mình dưới trúc

Đàn sáo ai chơi hoài

Rừng sâu người chẳng biết

Trăng sáng với ta thôi

(Ngô Văn Phú)

Chú thích

Trúc Lý quán: là một cảnh đẹp ở gần Võng Xuyên trang, nơi Vương Duy về ở ẩn.

                 Lời bàn

Thơ Vương Duy phần nhiều giản dị như tranh thủy mặc của  ông

(水 墨 画 / shuǐ mò huà = tranh thủy mặc, quốc họa Trung Hoa) .


Bài  87.             Jué  jù / Tuyệt cú    

 

          Đỗ Phủ  杜甫 Dù Fǔ

 

两 个 黄 鹂 鸣 翠柳

一 行 白 鹭 上 青天

窗含 西 岭 千 秋 雪

门 泊 东吴 万 里 船

    Liǎng gè huáng lí míng cuì liǔ

Yì háng bái  lù shàng  qīng  tiān

Chuāng hán  Xī  Lǐng qiān qiū xuě

Mén  bò Dōng Wú  wàn lǐ  chuán

 

Câu thơ trác tuyệt

 

Hai con chim oanh kêu trong đám liễu biếc

Một hàng cò trắng hướng lên trời xanh

Song cửa chứa núi Tây Lĩnh tuyết đọng ngàn năm

Ngoài cửa, đậu những thuyền xứ Đông Ngô xa vạn dặm

  

Tuyệt cú

 

Lưỡng cá hoàng li minh thuý liễu

Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên

Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết

Môn bạc Đông Ngô vạn lí thuyền

       Dịch thơ

Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc,

Một đàn cò trắng vút trời xanh.

Ngàn năm tuyết núi song in sắc

Muôn dặm thuyền Ngô cửa rập rình.

(Tản  Đà)

 

Lời bàn

Lúc này nhà thơ đang ở nơi xa, trong một căn lều cỏ. Đường về quê phải qua xứ Đông Ngô. Tiếp tục ra đi hay trở lại quê nhà ?! Câu kết gợi ra sự lựa chọn của nhà thơ (về nhà).

Bài thơ như bộ tranh tứ bình, kết cấu liên hoàn diễn tả một tâm trạng bâng khuâng của nhà thơ.

 


Bài 88.            Zǐ wēi huā / Tử vi hoa 

Bạch Cư Dị  白居易  Bái Jū Yì

丝纶阁下文章静

钟鼓楼中刻漏长

独坐黄昏谁是伴

紫薇花对紫薇郎

  

Sī lún gé xià wén zhāng jìng

Zhōng gǔ lóu zhōng kè lòu cháng

Dú zuò huáng hūn shuí shì bàn

Zǐ wēi huā duì zǐ wēi láng

Dưới gác Mịch Luân đã yên lặng chuyện văn chương

Chuông trống lầu canh báo đêm đã vang xa

Một mình ngồi từ sáng đến chiều, ai là bạn ?

Hoa tử vi đối mặt với người yêu hoa tử vi

Mịch Luân các hạ văn chương tĩnh

Chung cổ lâu trung khắc lậu trường

Độc toạ hoàng hôn thuỳ thị bạn

Tử vi hoa đối tử vi lang

Chú thích: Hoa tử vi còn gọi hoa tường vi

         Dịch thơ

                                                                           Hoa tường vi

 

Gác Mịch Luân bặt văn từ

Lầu chuông lầu trống báo giờ dồn vang

Thâu ngày vắng bạn lứa trang

Hoa tường vi lại ngắm chàng tường vi

                                                                       (Ngô Văn Phú)

 

 

 

 

 

 

 

 


Bài 89.    湘江  Xiāng jiāng / Tương giang    

(Ý Nương giai thoại  意 娘 佳 话 Yì  Niáng  jiā  huà)

君在湘江头

妾在湘江尾

相思不相见

同饮湘江水

Jūn zài Xiāng jiāng tóu

Qiè zài Xiāng jiāng wěi

Xiāng sī bù xiāng jiàn

Tóng yǐn Xiāng jiāng shuǐ 

Chàng ở đầu sông Tương

Thiếp ở cuối sông Tương

Nhớ nhau chẳng thấy mặt

Cùng uống nước sông Tương

Quân tại Tương giang đầu

Thiếp tại Tương giang vĩ

Tương tư bất tương kiến

Đồng ẩm Tương giang thuỷ

      Chú thích

 

   Cuối triều Đường, nhà Hậu Chu (907-955), ở tỉnh Hồ Nam có nàng Ý Nương con gái nhà phú hộ Lương Công. Ý Nương xinh đẹp lại hay chữ. Một khách trọ ở nhà nàng là Lý Sinh để ý nàng. Hai người yêu nhau. Lương Công biết chuyện, giận dữ đuổi chàng Lý đi. Ý Nương đau buồn sinh bệnh tương tư. Nàng làm bài khúc “Trường tương tư“ để gửi cho tình lang. Bài khúc gồm 12 câu trong đó 4 câu có hình thức như bài tứ tuyệt nên được người đời về sau tách ra thành bài thơ riêng (tôi xin tạm đặt tên tứ tuyệt đó là Tương giang). Lý Sinh nhận được bài khúc thì cảm thương vô cùng, bèn chạy nhờ mai mối đến năn nỉ Lương ông. Khi đọc bài khúc của con gái, ông xúc động mà bằng lòng cho hai người kết mối lương duyên.  (Theo Tình sử)

      Lời bàn

Bài thơ này rất quen thuộc với người Việt Nam .

Thi hào Nguyễn Du  trong Truyện Kiều  viết :

Sông Tương một giải nông sờ

Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia

Nhà thơ Phạm Tiến Duật viết bài thơ Trường sơn đông Trường sơn tây thời chống Mỹ:

Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn

Hai đứa ở hai đầu xa thẳm

Ở chiến trường miền Nam, nhà thơ Hoài Vũ viết bài Vàm Cỏ đông

Ở tận sông Hồng em có biết

Quê hương anh cũng có dòng sông

Anh mãi gọi với lòng tha thiết

Vàm Cỏ đông ơi Vàm Cỏ đông

Nhạc sĩ Thuận Yến viết bài ca Gởi em ở cuối sông Hồng cũng mượn ý “đầu sông cuối sông”.


Bài 90.                               

(Xiāng  sī )     Tương tư

Vương Duy 王 维  Wáng Wéi

 

红 豆 生 南 国,

春 来 发 几 枝

愿 君 多 采 撷

此 物 最 相 思

  

Hóng dòu shēng Nán guó

Chūn lái fà jǐ zhī

Yuàn  jūn duō cǎi jiè

Cǐ  wù  zuì  xiāng  sī

  

Đậu đỏ sinh (ở) Nam quốc

Xuân về nảy mấy cành

Nhớ bạn, hái nhiều  nhé

Vật này đẫm tương tư

Hồng đậu sinh Nam quốc

Xuân lai phát kỉ chi

Nguyện quân đa thái hiệt

Thử vật tối tương tư .

 

 

 

Chú  thích

Bài thơ còn gọi là Bài ca đậu đỏ (红 豆 曲 Hóng dòu qǔ/ Hồng đậu khúc). Đậu đỏ còn gọi là “tương tư tử” (kẻ tương tư), trở nên ẩn dụ trong văn học cổ Trung Quốc. Tao nhân mặc khách coi tình bạn và tình yêu đều sâu nặng như nhau. Trong trường hợp này bài thơ do bạn trai gởi cho nhau. (“Miền Nam” là vùng đất phía nam sông Trường Giang) .

 

       Lời bàn

Xuất phát từ một phong tục lãng mạn ở miền Nam (hái đậu đỏ), thi nhân Vương Duy viết bài ngũ tuyệt xinh đẹp thắm tình quê gửi bạn ở  xa.


Bài  91.               闻乐天授降江州司马

Wén Lè Tiān shòu jiàng Jiāng  Zhōu  Sī  Mǎ

Văn Lạc Thiên thụ giáng Giang Châu tư mã

[Nghe tin Lạc Thiên bị giáng chức Tư Mã ở Giang Châu]

        Nguyên Chẩn  元稹 Yuán Zhén

 

残 灯 无 焰 影 幛 幢

此 夕 闻 君 谪 九 江

垂 死 病 中 惊 坐 起

暗 风 吹 雨 入 寒 窗

 

Cán dēng wú yàn yǐng chuáng chuáng

Cǐ  xì  wén  jūn  zhé  Jiǔ  Jiāng

Chuí  sǐ  bìng zhōng  jīng  zuò  qǐ

Àn  fēng  chuī  yǔ  rù  hán  chuāng

Đèn tàn lửa không ngọn, (chỉ có) ánh lập loè

Đêm nay nghe tin bác phải đày về Giang Châu

Giữa khi bệnh sắp chết  hoảng sợ ngồi dậy

Gió lén thổi mưa  nhập lạnh cửa song

Tàn đăng vô diệm, ảnh chàng chàng

Thử tịch văn quân trích Cửu Giang

Thuỳ tử bệnh trung kinh toạ khởi

Ám phong xuy vũ nhập hàn song

       Dịch thơ

Đèn tàn ngọn lửa lập loè,

Mảng tin bác phải đày về Cửu Giang.

Bệnh nguy, gượng dậy bàng hoàng,

Gió mưa qua cửa, trên giường lạnh ghê

                                                           (Trần  Trọng  Kim)

Chú thích 

Năm Nguyên Hoà thứ 5 (810) xung đột với hoạn quan, Bạch Cư Dị bị giáng chức Tham quân Giang Châu (Giang Lăng) tư mã. Nguyên Chẩn nghe tin buồn nên viết bài thơ.

Lời bàn

Tình cảm bằng hữu của thi nhân Nguyên Chẩn với bạn thơ Bạch Cư Dị thật đằm thắm. Nghe tin bạn bị lưu đày đi Giang Châu, Nguyên Chẩn bệnh nặng mà hoảng sợ vùng ngồi dậy. “Đèn tàn ngọn lửa yếu, ánh lập lòe…” – Câu thơ này tạo hứng cho thi nhân tả cái cảnh sống của mình, của bạn và ám chỉ thời cuộc.

 

 


Bài 92.                          瀑布

Vọng Lư sơn bộc bố

           Lí Bạch 李白 Lǐ Bái

 

日照香炉生紫烟

遥看瀑布挂前川

飞流直下三千尺

疑是银河落九天

 Wàng Lú shān pù bù

Rì zhào Xiāng Lú shēng zǐ yān

Yáo kàn pù bù guà qián chuān

Fēi liú zhí xià sān qiān chǐ

Yí shì Yín Hé luò jiǔ tiān

 

 

Ngắm thác nước núi Lư

Mặt trời chiếu núi Hương Lư sinh làn khói tía

Xa nhìn dòng thác treo trên dòng sông phía trước

Thác chảy như bay đổ thẳng xuống ba nghìn thước

Ngỡ là sông Ngân Hà rơi tự chín tầng mây

  

Vọng Lư sơn bộc bố

Nhật chiếu Hương Lư sinh tử yên

Dao khan bộc bố quải tiền xuyên

Phi lưu trực há tam thiên xích

Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên

Lời bàn

Niềm vui, tâm trạng cởi mở phóng khoáng, thi nhân cảm thấy mình lớn lao ngang tầm vũ trụ. Dòng thác núi Hương Lư dài và đẹp sánh với sông Hoàng Hà, chảy thẳng từ trời xuống khiến thi nhân ngỡ nó và dòng sông phía trước chính là sông Ngân Hà trên trời rớt xuống mặt đất …

Thơ tả cảnh với tầm nhìn khoáng đạt của thần tiên, tầm nhìn của con người vũ trụ…


Bài 93.                   Wú tí / Vô đề   

           Lý Thương Ẩn  李 商 隐  Lǐ Shāng Yǐn

相 见 时 难 别 亦难

东 风 无 力 百 花残

春 蚕 到 死 丝 方尽

蜡 炬 成 灰泪 始 乾

晓 镜 但 愁 云 鬓 改

夜 吟 应 觉 月 光 寒

蓬 莱 此 去 无 多 路

青 鸟  殷 勤 为 探看  

Xiāng  jiàn shí  nán bié yì nán

Dōng  fēng  wú  lì  bǎi  huā cán

Chūn  cán  dào  sǐ  sī  fāng jìn

Là  jù  chéng  huī  lèi  shǐ gān

Xiǎo jìng dàn chóu yún bìn gǎi

Yè  yín yīng  jué  yuè  guāng hán

Péng  Lái  cǐ  qù  wú duō lù

Qīng  niǎo  yīn  qín  wèi tàn  kān

 

 

Lúc gặp nhau khó, chia tay (cũng) khó

Gió mùa xuân yếu, trăm hoa tàn

Tằm xuân đến chết, tơ mới nhả hết

Cây nến thành tro, lệ mới cạn khô

Buổi sớm soi gương chỉ sầu thấy tóc đang đổi màu mây

Đêm ngâm thơ, cảm thấy ánh trăng lạnh

Bồng Lai  tới đó không nhiều đường

Ân cần nhờ chim xanh tìm đường giúp

  

Tương kiến thời nan biệt diệc nan

Đông phong vô lực bách hoa tàn

Xuân tàm đáo tử ti phương tận

Lạp cự thành khôi lệ thỉ can

Hiểu kính đán sầu vân mấn cải

Dạ ngâm ưng giác nguyệt quang hàn

Bồng Lai thử khứ vô đa lộ

Thanh điểu ân cần vị thám khan

  Dịch thơ

      Không đề

Khó gặp nhau mà cũng khó xa,

Gió xuân đành để rụng trăm hoa.

Con tằm đến thác tơ còn vướng,

Chiếc nến chưa tàn lệ vẫn sa.

Sáng ngắm gương buồn thay mái tuyết,

Đêm ngâm thơ thấy lạnh trăng ngà.

Bồng Lai tới đó không xa mấy,

Cậy với chim xanh dọ lối mà.

(Khương Hữu Dụng và Tương Như)

  Chú thích:  Câu 7 có bản in là Bồng Sơn (蓬山) cũng trỏ Bồng Lai

  Lời bàn

Bản dịch thơ khá siêu thoát, đạt được tín nhã hiếm hoi. Tứ thơ của tình yêu, tình bạn, tình đời hay tình thơ mênh mông ? Hàm chứa tất cả những tình cảm ấy. Thi nhân Trung Hoa đôi khi mượn tình cảm trai gái để nói về tình bạn (Tương tư – Vương Duy) nói về tình đất nước (Li Tao-Khuất Nguyên)… Đó là những nét độc đáo của thơ cổ điển Trung Hoa .

Tứ thơ này rất quen với người Việt Nam, nhất là giới văn nghệ sĩ. Nghệ sĩ thường tin rằng bài thơ dành cho nghiệp “con tằm nhả tơ” của họ, kẻ yêu nhau cũng cho rằng bài thơ dành cho họ . . .


Bài 94.          赤壁怀古   Chì Bì huái gǔ/ Xích Bích hoài cổ

                                  Đỗ Mục  杜牧 Dù Mù

折戟沉沙铁未销

自将磨洗认前朝

东风不与周郎便

       铜雀春深锁二乔

Zhé jǐ chén shā tiě wèi xiāo

Zì jiàng mó xǐ rèn qián cháo

Dōng fēng bù yǔ Zhōu láng biàn

Tóng Què chūn shēn suǒ èr Qiáo

Nhớ chuyện xưa Xích Bích

Mũi kích gãy nằm trong cát sắt chưa tan

Tự mình chùi sạch nhận ra dấu triều đại trước

Gió đông nếu chẳng giúp Chu lang thuận tiện

Thì mùa xuân đài Đồng Tước khoá kĩ hai Kiều

Xích Bích hoài cổ

Chiết kích trầm sa thiết vị tiêu

Tự tương ma tẩy nhận tiền triều

Đông phong bất dữ Chu lang tiện

Đồng Tước xuân thâm toả nhị Kiều

Dịch thơ

Cát vùi lưỡi kích còn trơ

Rũa mài nhận thấy dấu xưa rõ ràng

Gió đông ví phụ Chu lang

Một nền Đồng Tước khoá xuân hai Kiều

                                                                                                          (Tương Như)

Lời bàn

      Thời Tam Quốc để lại bao suy tư triết lý và cảm hứng nghệ thuật cho đời sau. Bài thơ của Đỗ Mục viết theo cảm hứng vịnh sử. Ngòi bút  của ông bàn về thời Tam Quốc mà lấy số phận hai cô Kiều xứ Đông Ngô để làm điểm tựa. Triết lý duy vật lịch sử thô sơ của Đỗ Mục (gió đông nếu phụ Chu Lang -tức Chu Du.) khiến ta so sánh với triết lí lịch sử duy tâm của nhà văn Nga Liev Tolstoi (tiểu thuyết Chiến tranh và hoà bình  thế kỉ 19). Ông viết rằng chiến tranh là do Thượng đế gây ra, bên nào thắng hay bại trận cũng đều do ý Chúa .

Nhà thơ Xuân Diệu viết truyện ngắn trữ tình hóm hỉnh tựa đề là “Tỏa nhị Kiều”, mượn  ý thơ của Đỗ Mục, châm biếm hai cô gái khuê các Hà Nội tự “tỏa” (khóa) mình .


Bài  95.    春 晓  Chūn xiǎo / Xuân hiểu

 

Mạnh Hạo Nhiên 孟 浩 然 Mèng  Hào  Rán

 

春 眠 不 觉 晓

处 处 闻 啼 鸟

夜 来 风 雨 声

花 落 知 多 少  

Chūn mián bù jué  xiǎo

Chù chù wén tí niǎo

Yè lái fēng yǔ  shēng

Huā luò zhī  duō  shǎo

.

 

Buổi sớm mùa xuân

Giấc ngủ đêm xuân không biết trời sáng

Nơi nơi nghe tiếng chim hót

Đêm qua nghe tiếng mưa gió

Hoa rụng  biết nhiều hay ít

  

Xuân hiểu

Xuân miên bất giác hiểu

Xứ xứ văn đề điểu

Dạ lai phong vũ thanh

Hoa lạc tri đa thiểu

                    Dịch thơ

Đêm xuân một giấc mơ màng,

Tỉnh ra chim đã kêu vang quanh nhà

Gió mưa một trận đêm qua

Làm cho hoa rụng biết là dường bao.

                                         (Nguyễn Thế Nức)

            Lời bàn

Mẫn cảm về số phận con người hơn ai hết  có  lẽ  là nhà thơ. Một đêm xuân thi nhân ngủ ngon lành tới sáng. Thức dậy, buổi sớm chim kêu vang khắp nơi háo hức với cuộc sống rộn rã, nhà thơ không a dua với nó mà nghĩ ngay đến những bông hoa rụng trong mưa gió đêm qua… Thi nhân tự trách mình thờ ơ với những số phận hoa tươi đẹp tan tác trong đời . . .

 

 

 

 


Bài  96.              春怨  Chūn yuàn / Xuân oán

Kim Xương Tự   金昌绪  Jīn Chāng Xù

打起黄莺儿

莫教枝上啼

啼时惊妾梦

不得到辽西 

Dǎ qǐ huáng yīng ér

Mò ji āo zhī shàng tí

Tí shí jīng qiè mèng

Bù dé dào Liáo Xī

Đuổi bay con hoàng oanh

Không cho hót trên cành

Hót  làm kinh giấc mộng của thiếp

Chẳng đến được Liêu Tây

Đả khởi hoàng oanh nhi

Mạc giao chi thượng đề

Đề thời kinh thiếp mộng

Bất đắc đáo Liêu Tây

         Dịch thơ

Đánh đuổi cái oanh vàng đi,

Đừng cho nó hót tỉ ti trên cành.

Nó kêu thiếp ngủ giật mình,

Chẳng yên giấc mộng tới thành Liêu Tây.

                                                                                          (Tản Đà)

           Chú thích

Liêu Tây là một cái đồn biên ải .

Sách Đường Thi của Trần Trọng Kim ghi tên tác giả bài này là Cáp Gia Vận (盖嘉运)

 

           Lời bàn

Con chim oanh (hoàng oanh, hoàng li, thương canh) đậu trên cành phá giấc ngủ của chinh phụ mà còn bị đuổi đánh thì chiến tranh và giai cấp thống trị gây chiến còn bị phản đối thế nào nữa đây !

 

 

 


Bài  97.   春夕旅怀  Chūn xī lǔ huái  / Xuân tịch lữ hoài

            Thôi Đồ  崔涂 Cuī Tú

水流花谢两无情

送尽东风过楚城

蝴蝶梦中家万里

杜鹃枝上月三更

故园书动经年绝

华髮春催两鬓生

自是不归归便得

        五湖烟景有谁争!

Shuǐ liú huā xiè liǎng wú qíng

Sòng jìn dōng fēng guò Chǔ chéng

Hú dié mèng zhōng jiā wàn lǐ

Dǔ juān zhī shàng yuè sān gēng

Gù yuán shū dòng jīng nián jué

Huā fǎ chūn cuī liǎng bìn shēng

Zì shì bù guī guī biàn dé

Wǔ hú yān jǐng yǒu shéi zhèng

 

 

Nỗi buồn nhớ của lữ khách cuối xuân

Nước chảy hoa tàn, cả hai vô tình

Tiễn gió đông qua hết thành nước Sở

Trong mộng hoá bướm ở quê nhà xa vạn dặm

Đỗ quyên (đậu suốt) trên cành trăng canh ba

Thư vườn nhà  vắng,  trải  năm hết

Tóc hoa mỗi độ xuân qua đã thành tóc hai màu

Tự nhủ về hay không về cũng được

Cảnh khói sương Ngũ Hồ nào có ai tranh đâu !

Thuỷ lưu hoa tạ lưỡng vô tình

Tống tận đông phong quá Sở thành

Hồ điệp mộng trung gia vạn lý

Đỗ quyên chi thượng nguyệt tam canh

Cố viên thư động kinh niên tuyệt

Hoa phát xuân thôi lưỡng mấn sinh

Tự thị bất qui qui tiện đắc

Ngũ Hồ yên cảnh hữu thuỳ tranh !

 

Lời bàn

Những câu 4. 5. 6  trong bản Thiên gia thi (Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1998) dịch chưa  rõ ý, cũng vì lời thơ Thôi Đồ rất cầu kì, khó dịch.

Câu 4: “Đỗ quyên trên cành trăng canh ba” nên hiểu là Chim đậu rất khuya đến tận canh ba  hoặc Đến canh ba (nửa đêm) chim vẫn trèo lên cành.  Dịch nghĩa cần sát nghĩa, không thể dịch nghĩa “chim cuốc khắc khoải” như bản dịch trong Thiên gia thi. Đến khi dịch thơ thì mới có thể dịch phóng khoáng là “khắc khoải” .

Câu 5: Chữ “động” có nghĩa  lay động, gợi nhắc, thực tế chỉ là “không có thư”. Nếu có thư nhà thì không còn lay động tâm trạng nhà thơ nữa .

Câu 6: Mùa xuân giục giã cả hoa vườn nở và mái tóc cũng nở hoa, ý nói tóc bạc như hoa. Thường tả mái tóc bạc là ngả màu mây (trắng), hoặc tuyết, Thôi Đồ thi vị “tóc nở  hoa”. Người Việt cũng nói mái tóc hoa râm, loài hoa râm hình dạng màu  sắc giống như tóc bạc vậy.


Bài 98.          Chūn qíng/ Xuân tình

[Ngày xuân hửng nắng]

            Vương Giá     王驾 Wáng Jià

雨前初见花间蕊

雨后全无叶底花

蜂蝶纷纷过墙去

却疑春色在邻家

  

Yǔ qián chū jiàn huā jiān ruǐ

Yǔ hòu quán wú yè dǐ huā

Fēng dié fēn fēn guò qiáng qù

Què yí chūn sè zài lín jiā 

Sắp mưa, vừa thấy nhị trong hoa

Mưa tạnh, chẳng còn bông hoa nào dưới lá

Ong bướm tới tấp bay qua tường nhà bên kia

Tưởng như sắc xuân ở bên  nhà láng giềng

Vũ tiền sơ kiến hoa gian nhị

Vũ hậu toàn vô diệp để hoa

Phong điệp phân phân quá tường khứ

Khước nghi xuân sắc tại lân gia

 

        Dịch thơ

 

 

Chửa mưa, thấy nhị mới ra

Mưa rồi, dưới lá còn hoa đâu nào !

Qua tường, ong bướm rủ nhau

Tưởng rằng xuân sắc ở đâu láng giềng.

(Vũ Tích Cống)

 

  Lời bàn

Cơn mưa làm rụng hết hoa. Cơn mưa khá lớn, có lẽ cuối xuân rồi.

Lũ ong bướm lo lắng nháo nhác đi tìm hoa.

Thi nhân hòa nhập vào đời sống vạn vật và cảm thông thiết tha với chúng.


Bài 99.         春 思   Chūn sì / Xuân tứ

[Tứ thơ mùa xuân]

            Lí Bạch 李白 Lǐ Bái

燕 草 如 碧 丝

秦 桑 低 绿 枝

当 君 怀 归 日

是 妾 断 肠 时

春 风 不 相 识

何 事 入 罗 帏 

Yān cǎo rū bì  sī

Qín sāng dī lǜ zhī

Dāng jūn  huái guī rì

Shì qiè duàn cháng shí

Chūn fēng bù xiāng shí

Hé shì rù luó wéi ?

.

Cỏ đất Yên như tơ biếc

Dâu đất Tần trĩu cành xanh

Lúc chàng mong ngày về

Là thiếp buồn đứt ruột

Gió xuân chẳng quen nhau

Cớ sao chui vào màn the  ?

Yên thảo như bích ti

Tần tang đê lục chi

Đương quân hoài qui nhật

Thị thiếp đoạn trường thi

Xuân phong bất tương thức

Hà sự nhập la vi  ?

        Lời bàn

   Nước Yên nay thuộc tỉnh Hà Bắc, nước Tần nay thuộc tỉnh Thiểm Tây. Yên và Tần chỉ sự xa cách, cũng như nói Ngô và Sở vậy.

   Vợ  chồng người  lính ở xa cách nhau.

Bài tứ tuyệt phá cách. Lời thơ kín đáo nói về tâm sinh lý của người chinh phụ ở nhà mong chồng qua câu “Gió xuân không quen nhau / sao chui vào màn the ”. Chinh phụ không thể trách mắng gió xuân trời đất, “gió xuân” là hình ảnh tượng trưng của chàng trai nào đó tìm đến với nàng trong một tiết mùa xuân rạo rực yêu đương bao phủ cả  đất trời.

Bài thơ nói chuyện thời Xuân thu – Chiến quốc. Nhưng cảm hứng thơ ám chỉ những cuộc chiến tranh phi nghĩa  liên miên xảy ra ở nhà Đường.


Bài   100.       春 望   Chūn wàng / Xuân vọng

Đỗ Phủ  杜 甫 Dù Fǔ

 

国 破 山 河 在

城 春 草 木 深

感 时 花 溅 泪

恨 别 鸟 惊 心

烽 火 连 三 月

家 书 抵 万 金

白 头 搔 更 短

浑 欲 不 胜 簪

Guó pò shān hé zài

Chéng chūn cǎo mù shēn

Gǎn shí huā jiàn lèi

Hèn bié niǎo jìng xīn

Fēng huǒ lián sān yuè

Jiā  shū dǐ wàn jīn

Bái tóu sāo gèng duǎn

Hún  yù  bù  shèng zān

 

 

Ngóng xuân

Nước mất, núi sông còn

Thành ngày xuân cây cỏ dày

Cảm thời thế hoa rơi lệ

Hận biệt li chim hoảng sợ

Khói lửa liền ba tháng

Thư nhà giá nghìn lượng vàng

Tóc bạc sờ từng đoạn ngắn

Muốn cài lược mà tuột ra

Quốc phá sơn hà tại

Thành xuân thảo mộc thâm

Cảm thời hoa tiễn lệ

Hận biệt điểu kinh tâm

Phong hoả liên tam nguyệt

Gia thư để vạn kim

Bạch đầu tao cánh đoản

Hồn dục bất thắng trâm

 

Ì

Lời bàn

Đỗ Phủ được tôn là thi thánh bởi thơ ông đau đáu sự đời. Chiến tranh làm “hoa rơi lệ”, “chim hoảng sợ” còn thi nhân thì “tóc bạc rụng”. Ba hình ảnh đơn sơ mà có sức tố cáo chiến tranh rất mãnh liệt.

 

 


Phụ lục 1                  Bạch Cư Dị

元稹 Thư gửi Nguyên Chẩn

Yǔ Yuán Zhén shū /  Dữ  Nguyên Chẩn thư

     … “Từ khi làm quan ở triều đình, tuổi ngày càng cao, xem xét công việc ngày càng nhiều, mỗi lần nói chuyện với ai tôi đều hỏi nhiều về tình hình thời sự, mỗi lần đọc sách tôi đều truy tìm cái lẽ trị đời, từ đó mới biết rằng, sáng tác văn chương cần phải vì thời thế, làm thơ cần phải vì sự việc (văn chương hợp vi thời nhi trước, thi ca hợp vi sự nhi tác). Bấy giờ nhà vua mới lên ngôi, tướng phủ còn có những con người chính trực, nhiều lần hạ chiếu thư thăm hỏi những nỗi khổ cực của dân chúng. Ngày ấy, tôi được đề bạt làm Hàn lâm học sĩ nhưng thân phận vẫn là gián quan, hàng tháng lãnh nhận giấy để viết sớ tấu can gián. Ngoài khải tấu ra, còn những gì có thể chữa bệnh cứu người, bổ cứu những thiếu sót của nền chính trị đương thời mà khó nói rõ ra thì tôi liền đưa ra ngâm vịnh, mong dần dà được bề trên nghe thấy. Trước là để mở rộng tai mắt bề trên, giúp bề trên trị vì đất nước; sau là để báo đền ơn vua, làm tròn chức trách gián quan; cuối cùng là để thực hiện chí nguyện bình sinh. Nào ngờ, chí chưa toại nguyện thì đã phải hối hận, lời can ngăn chưa được bề trên nghe thấu thì lời gièm pha đã nổi lên.

Xin được nói tường tận cùng anh. Đại phàm những kẻ nghe bài “Hạ vũ thi” của tôi thì miệng chúng đã nhao lên cho thế là không đúng. Nghe “Thơ khóc Khổng Kham” thì mặt chúng ngây ra, dáng vẻ không vui. Nghe “Tần Trung ngâm” thì bọn cường hào quyền quý nhìn nhau mặt biến sắc. Nghe bài thơ “Lạc du viên” tôi gửi anh thì bọn cầm quyền bính nắm tay giận dữ, nghe bài thơ “Túc Tử Các thôn” thì bọn nắm quân quyền nghiến răng tức tối. Đại thể là thế, không thể kể hết. Người không quen biết thì gọi đó là mua danh, là công kích triều đình, là hủy báng bề trên; nếu có quen, họ cũng cho là cần lấy chuyện của Ngưu Tăng Nhụ làm răn. Cả đến thân thích cốt nhục và vợ con cũng cho tôi là sai. Người không cho tôi sai, nêu lên cũng chỉ được vài ba người. Có Đặng Phường xem thơ tôi thì vui mừng. Chẳng hiểu vì sao mà Phường chết. Có Đường Cù xem thơ tôi thì khóc. Chẳng được bao lâu thì Cù cũng chết. Ngoài ra chỉ còn anh, mà anh cũng bị 10 năm khốn đốn đến dường ấy. Than ôi ! Phải chăng phong độ “Lục nghĩa”, “Tứ thuỷ” đã bị ông trời phá hoại đến nỗi không thể chống trọi được nữa? Hay tại mình không biết ý trời cũng không muốn bề trên nghe thấu nỗi khổ của dân tình ở dưới ? Nếu không, tại sao những người có chí về thơ lại gặp những điều quá bất lợi như vậy?”

… “Mấy tháng gần đây, tôi đã kiểm lại những bài thơ cũ và mới trong túi sách, phân loại ra và chia thành từng quyển và hạng mục. Từ khi làm Tả thập di đến giờ, phàm những bài nhân lúc gặp gỡ, cảm xúc làm ra, trong đó có hàm ý tán dương phúng thích hay khởi hứng ví von, những bài đặt đề mục căn cứ vào những việc xảy ra từ niên hiệu Vũ Đức đến Nguyên Hoà, đều đề là Tân nhạc phủ, tổng cộng có 150 bài gọi là thơ phúng dụ. Có 100 bài làm khi lui gót công đường ngồi một mình, khi lâm bệnh nghỉ việc rỗi rãi, lấy đạo tri túc để giữ lấy trạng thái hài hoà, lấy việc ngâm vịnh để di dưỡng tính tình thì gọi là thơ nhàn thích. Có 100 bài nhân sự vật có liên quan bên ngoài tác động đến tình lý bên trong rồi tuỳ theo cảm thụ và cảm ngộ mà hóa thành những lời vịnh thán thì gọi là thơ cảm thương. Lại có hơn 400 bài trường cú, tuyệt cú ngũ ngôn, thất ngôn, từ 100 vần đến 2 vần, gọi là thơ tạp luật, tất cả có 15 quyển, khoảng 800 bài, lúc gặp nhau sẽ chuyển hết cho anh.

Anh Vi Chi ! Người xưa nói: “Lúc cùng chỉ cầu cái tốt cái hay cho riêng mình, khi đạt thì giúp đỡ cho cả thiên hạ” (cùng tắc độc thiện kì thân, đạt tắc kiêm tế thiên hạ). Tôi tuy không phải là người hiền cũng thường noi theo câu nói ấy. Cái mà kẻ đại trượng phu phải giữ là đạo, phải chờ là thời. Thời cơ đến thì làm rồng cưỡi mây, làm đại bàng lướt gió, đột nhiên hăng hái xông ra dốc hết sức tài. Thời cơ không đến thì làm con báo giấu thân trong đám sương mù, làm con chim hồng bay trên bầu trời sâu thẳm, âm thầm lặng lẽ rút mình thoái ẩn. Tiến hay thoái, xuất hay xử, đi về đâu mà ta chẳng được đắc ý ? Cho nên, chí của tôi là ở chỗ kiêm tế, hành của tôi là ở nơi độc thiện. Giữ chí nguyện và hành động đó đến cùng là đạo, dùng lời để nói rõ ra là thơ. Gọi là  thơ phúng dụ, vì thể hiện chí kiêm tế; gọi là thơ nhàn thích vì thể hiện nghĩa độc thiện: Cho nên xem thơ tôi thì biết đạo của tôi ở trong đó. Còn thơ tạp luật, hoặc là do sự lôi cuốn của một lúc, của một việc nào đó mà phát ra tiếng cười, một lời ngâm rồi qua quýt viết ra, đó không phải là thứ mà bình sinh tôi ưa chuộng. Song những lúc xum họp, chia tay với bà con bè bạn cần phải lấy nó để giải hận mua vui. Nay lúc sắp xếp tôi chưa thể bỏ đi được. Sau này, có ai vì tôi mà biên tập những bài thơ này thì lược đi cũng được.

Anh Vi Chi ! Quý điều tai nghe, khinh điều mắt thấy, tôn vinh đời xưa, miệt thị đời nay, đó là lẽ thường tình của con người. Không cần dẫn chứng những điều xa xưa. Như những bài ca hành của Vi Tô Châu mấy năm gần đây, ngoài cái đẹp đẽ tài hoa ra, còn rất gần với lối phúng dụ. Thơ ngũ ngôn của ông lại cao nhã, đạm bạc, đã tự trở thành thể thức của một “nhà”. Những người cầm bút ngày nay có ai theo kịp được ông ta ? Thế nhưng, lúc Vi Tô Châu còn sống, người ta cũng chưa quý trọng ông ta lắm đâu, phải đợi đến khi ông mất rồi thì người ta mới quý ! Nay thơ tôi, loại người ta thích, chẳng qua chỉ là thơ tạp luật và những bài thuộc hạng Trường hận ca trở xuống mà thôi ! Cái mà đời trọng là cái mà tôi xem khinh. Còn thơ phúng dụ, ý mạnh mẽ mà lời chất phác; thơ nhàn thích, tứ thanh đạm mà từ xa xôi. Đem cái chất phác hợp với cái xa xôi nên đời chẳng thích.

Nay người yêu thích thơ tôi, sống cùng thời với tôi, chỉ còn một mình anh nữa thôi ! Thế nhưng trăm nghìn năm sau biết đâu lại chẳng xuất hiện những người biết yêu thơ tôi như anh nhỉ ? Cho nên, từ tám, chín năm lại đây giao du với anh, khi hanh thông đôi chút  thì lấy thơ để khuyên răn nhau, khi hơi cùng khốn thì lấy thơ để động viên nhau, khi mỗi người đơn độc một phương thì lấy thơ để an ủi nhau, khi được ở một nơi thì lấy thơ dể cùng chung vui. Anh hiểu được điều cốt yếu ở tôi đều là nhờ thơ đó. Như mùa xuân năm nay, lúc đi chơi ở phía nam thành cùng anh đùa vui trên lưng ngựa, nhân đó mỗi người ngâm một bài thơ tiểu luật đẹp đẽ, mới mẻ, không xen lẫn bất cứ bài thơ nào khác; từ dốc Hoàng Tử đến làng Chiêu Quốc, lần lượt thay nhau xướng hoạ, tiếng ngâm nga không dứt suốt hai mươi dặm đường, Phàn, Lí ở cạnh cũng không tài nào nói chen vào được. Người hiểu ta thì cho là tiên thơ, không hiểu thì cho là ma thơ. Vì sao vậy ? Làm nhọc tâm linh, tiêu hao khí lực, liên tiếp sáng tối, chẳng tự biết là khổ, chả phải ma thì là gì ? Ngẫu nhiên cùng người nào đó đứng trước cảnh đẹp, hoặc tiệc tàn bên hoa, hoặc rượu say dưới nguyệt, một vịnh một ngâm, chẳng biết tuổi già sắp đến, dù có cưỡi loan giong hạc, ngao du thoả thích ở chốn Bồng Lai cũng chẳng bằng, thế chả phải tiên còn gì ? Anh Vi Chi ! Anh Vi Chi ! cũng chính vì thế mà tôi và anh thường quên cả hình hài, thoát khỏi tông tích, khinh miệt phú quý, coi thường cả nhân thế đó !

Nhân lúc này, hứng thú của anh đang còn, hãy cùng tôi sưu tầm hết thơ ca của bạn bè quen biết, lấy những thể mà họ sở trường nhất, như Cổ nhạc phủ của Trương Tịch, Tân ca hành của Lí Thân, Luật thi của hai bí thư Lư Củng và Dương Cự Nguyên, tuyệt cú của Đậu Củng, Nguyên Tông Giản. Sưu tầm cho rộng, chọn lọc cho tinh rồi biên soạn thành một tập, gọi là Nguyên Bạch vãng hoàn thi tập. Các bậc quân tử được so sánh, bình luận trong đó, không ai không nhảy cẫng lên vì vui sướng, cho đó là việc làm tốt đẹp. Than ôi ! Lời chưa hết thì anh đã bị giáng chức, mấy tháng sau tôi cũng ra đi luôn, lòng thật buồn chán. Biết đến bao giờ mới hoàn thành được việc ấy ? Đó lại là chuyện đáng than phiền nữa !

Tôi thường vẫn nói với anh: phàm người làm thơ văn, luôn tự nghĩ mình là đúng, không muốn bị cắt bỏ nên có lúc cũng rơi vào khuyết tật rườm rà; song, chỗ hay dở ở khoảng giữa hai cực ấy, tự mình lại càng khó phân biệt. Ắt phải chờ đến lúc bạn bè cùng nhau đánh giá một cách công bình, không rộng lượng một cách vô nguyên tắc, bàn bạc xem nên cắt bỏ chỗ nào, sau đó mới định được mức độ đơn giản hoặc phồn tạp một cách thoả đáng. Huống hồ tôi và anh, những người càng hay mắc bệnh rườm rà khi làm văn chương ? Mình còn chẳng bằng lòng thế, nữa là người khác? Nay, mỗi chúng ta hãy soạn lại những bài văn xuôi và văn vần, tạm xếp thành từng quyển, đợi ngày gặp nhau đưa cho nhau phần của mỗi người để hoàn thành chí nguyện của chúng mình trước đây. Song chẳng biết năm nào gặp được nhau, gặp nhau ở nơi nào, nếu chẳng may bỗng nhiên qua đời thì làm sao ?”

(Trích bản dịch của GS. Nguyễn Khắc Phi Tạp chí văn học số 5. 1998).

Lời bàn

Tư Mã Giang Châu đã thể hiện một tình bạn văn nhân chân chính.

Ngày nay người làm văn cần tu dưỡng nghề nghiệp có thể đọc bức thư của ông.

a

 


Phụ lục 2

                Danh sách nhà thơ đời Đường trong 4 giai đoạn

(xếp theo thứ tự họ  trong mỗi giai đoạn)

初 唐 SƠ ĐƯỜNG (618-713)

Dương Quýnh, Đỗ Thẩm Ngôn, Hạ Tri Chương, Lạc Tân Vương, Thẩm Thuyên Kỳ, Tiết Tắc, Tống Chi Vấn, Trần Tử Ngang, Trương Cửu Linh, Vương Bột, Vương Tích …

盛 唐 THỊNH ĐƯỜNG (713-766)

Cao Thích, Đỗ Phủ, Đường Huyền Tông, Lệnh Hồ Sở, Lí Bạch, Lí Hạ, Lí Kỳ, Lí Thân, Lí Thiệp, Lý Ích, Lô Đồng, Lư Luân, Lưu Thận Hư, Lưu Vũ Tích, Lưu Hi Di,  Lương Hoành,  Mạnh Hạo Nhiên, Kim Xương Tự, Sầm Tham, nhà sư Hàn Sơn, Thôi Hiệu, Thường Kiến, Tổ Vịnh, Trương Húc, Trương Duyệt, Trương Nhược Hư, Trương Thuyết, Trương Quân, Trương Vị, Từ An Trinh, Vương Chi Hoán, Vương Hàn, Vương Duy,  Vương Loan,  Vương Xương Linh. . .

中 唐 TRUNG ĐƯỜNG (766-835)

Bạch Cư Dị, Bùi Độ, Châu Loan, Chu Khánh Dư, Đỗ Thu Nương, Đới Thúc Luân, Hàn Dũ,  Hàn Hồng (Hàn Hoành), Giả Đảo, Liễu Tông Nguyên, Lưu Trường Khanh, Mạnh Giao, Nguyên Chẩn, Thường Kiến, Tiết Oánh, Trương Tịch, Trương Kế, Tiền Khởi, Tư Không Thự, Trương Tịch, Vi Ứng Vật …

晚 唐 VÃN ĐƯỜNG (835-905)

Bì Nhật Hưu, Cáp Gia Vận, Chu Phác, Chu Khánh Dư, Chương Kiệt, Đỗ Mục, Đỗ Quang Bình, Đỗ Tuân Hạc, Đường Ngạn Khiêm, Hạng Tư, Hoàng Sào, Hứa Hồn, Lý Thương Ẩn, Lí Tân, Mã Đái, Ngô Dung, Nhiếp Di Trung, Ôn Đình Quân, Tào Đường, Tào Nghiệp, Tần Thao Ngọc, Thôi Đồ, Thôi Hộ, Thôi Lỗ, Trần Đào, Trần Ngọc Lan (vợ Vương Giá),Triệu Hổ, Trương Bật, Trương Hựu, Trịnh Cốc, Tư Không Đồ, Vi Trang, Vu Lương Sử, Vương Giá . . .

 

Chú thích

Trong mấy tài liệu khác, một số nhà thơ  được sắp xếp khác với bản này.

a P b

Bạt văn  跋文

(Lời cuối tập)

 

Trong khoảng thời đại nhà Đường (620 – 905) người Việt bắt đầu tiếp nhận Hán ngữ, đến nay hơn 13,14 thế kỉ đã trôi qua với bao thăng trầm lịch sử, muôn vàn nước chảy qua cầu.

Tới nay có mấy lối giải thích nguyên nhân việc học chữ Tàu thời đó. Lối thứ nhất quen thuộc lâu nay là: các quan thái thú (người Tàu) nhằm mục đích cai trị nước Nam đã ép buộc quan chức người Việt dưới quyền phải học chữ Hán. Lối thứ hai theo quan điểm văn hóa học cho rằng từ cuối thời vua Hùng đến khoảng nghìn năm Bắc thuộc, nền văn hóa dân tộc Việt đã lạc hậu so với khu vực, do vậy người Việt đương nhiên có nhu cầu tiếp thu nền văn hóa lân cận cao hơn và tự nguyện học chữ Hán. Mặt khác học chữ Hán để đọc được kinh Phật. Lại có một giả thuyết cho biết lúc này người Việt  đã có văn tự Việt nhưng đã bị quan cai trị cố tình xóa bỏ để thay bằng chữ Hán…

Lịch sử đã là lịch sử, “gạo đã nấu thành cơm”, Hán ngữ đã hóa thân vào Việt ngữ, lặn sâu và hòa tan vào trong nền văn hóa Việt dưới cả hai dạng vật thể và phi vật thể và trong cả tính cách người Việt rồi… Vấn đề cần bàn ngày nay là chiến lược dạy học và sử dụng Hán ngữ ra sao cho thích hợp, bất chấp sự ấm lạnh trong quan hệ chính trị hai nước.

Việc học Hán ngữ không chỉ là học một hệ thống kí hiệu giao tiếp như các ngôn ngữ ghi âm mà còn tiếp nhận cả một hệ thống văn hoá cổ trung đại Trung Hoa.

Trong xã hội Việt Nam hiện đại, chúng ta vẫn có nhu cầu nắm lấy Hán ngữ với những mức độ khác nhau tùy theo ngành nghề và sở thích cá nhân. Các chuyên gia kinh tế nhận định rằng tương lai Trung Quốc sẽ là cường quốc hàng đầu, quan hệ Việt -Trung sẽ tiến triển mật thiết hơn nữa.v.v… Giáo viên Ngữ văn vốn dĩ ít chú ý về kinh tế nhưng thủy chung vẫn nhận rõ ích lợi của Hán ngữ trong nghề nghiệp và trong sinh hoạt tinh thần, văn hóa  nên luôn luôn chú ý nghiên cứu Hán ngữ bằng mọi cách…

Kể từ ngày khởi công biên soạn tài liệu, tác giả đã được sự giúp đỡ phương tiện và cố vấn kĩ thuật của anh Lâm Nguyên Tài giảng viên tiếng Trung. TS Hoàng Quốc, cô Huỳnh Thị Tố Nga cử nhân tiếng Trung (Đại học An Giang), Ths. Vũ Xuân Bạch Dương giảng viên Hán Nôm (Đại học KHXH-NV, Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh) đọc hiệu đính. PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hải (Đại học Sư phạm Huế) nhận xét phản biện tài liệu đã góp cho những ý kiến quí báu. Cô Zhang Bao Yu (giảng viên Đại học Sư phạm Cao Hùng, Đài Loan) và cử nhân Nguyễn Thanh Phong GV Đại học An Giang góp phần rà soát hiệu đính văn bản. Nhân đây dịch giả trân trọng bày tỏ lời cảm tạ quí vị đồng nghiệp trên đã góp công cho tài liệu này.

Cẩn bút

Phùng Hoài Ngọc


TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

La Quán Trung, “Tam quốc diễn nghĩa”, Phan Kế Bính dịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 1999.

Lí Phúc Điền, “Thơ Đường Từ Tống”. Biên soạn, Nxb Văn nghệ TPHồ Chí Minh, 1997.

Nam Trân và nhóm biên giả, “Thơ Đường” 2 tập. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1987.

Ngô Văn Phú, “Đường thi tam bách thủ”, biên soạn, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2000.

Ngô Văn Phú, “Thiên gia thi”, biên dịch Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1998.

Nguyễn Quảng Tuân, “Thơ Đường- Tản Đà dịch”, Nxb Văn học, Hà Nội, 2003.

Nguyễn Tử Quang, “Điển hay tích lạ”, biên dịch, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2001.

Quang Huy Kim Trang, “Trung hoa dân ca” (VCD) Nam Ninh thư quán.

Quang Huy Kim Trang, “Hồng thái dương” (VCD)  Nam Ninh thư quán.

Quang Huy Kim Trang, “Ca khúc tổng hợp” (VCD) Nam Ninh thư quán.

Tào Tuyết Cần “Hồng lâu mộng”, Vũ Bội Hoàng, Nguyễn Thọ, Nguyễn Doãn Địch dịch,

Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1963.

Tào Tuyết Cần Hồng lâu mộng”, Hồ Nhữ Chương chú thích, tự lục (viết Tựa), Hồ Thích

khảo chứng, Tam Hoà xuất bản xã ấn hành, Đài Loan, bản Hán ngữ, 2002

Tập thể tác giả “Toàn thư đại bách khoa văn học cổ điển Trung Quốc”. Bản sách điện tử  Hán ngữ (MP3) do “Bắc Kinh trác quần số mã khoa kỹ hữu hạn công ty” sản xuất, Bắc Kinh 2001.

Phần 1: Chư tử kinh điển, Phật giáo, Đạo giáo kinh điển, Tạp gia, Y gia, Binh gia,

Nghệ thuật  gia, trên 200 bộ.

Phần 2: Toàn Đường thi      hơn  50 000 bài (một đĩa CD).

Toàn Tống từ          hơn  20 000 bài.

Toàn Nguyên khúc gần 1 vạn bài.

Phần 3: Tứ đại danh trứ (Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Tây du, Hồng lâu mộng).

Tam ngôn nhị phách.

Ngũ đại kỳ thư.

Tiểu thuyết phúng thích (châm biếm).

Tiểu thuyết tiên quái thần quỷ.

Tiểu thuyết hiệp nghĩa.

Tiểu thuyết công án.

Tiểu thuyết thế tình…tất cả gần 200 bộ.

Phần 4:  Bút ký hiện đại Trung Hoa, Văn luận, gần 400 bài .

Phần 5:  Thi từ cận hiện đại, tiểu thuyết, tản văn, tạp văn, thư tín, bút ký, gần 100 bộ.

Phần 6:  Đĩa thính thư (nghe giọng đọc).

                     

 Trần Trọng Kim, “Đường thi tam bách thủ, NxbVăn hoá thông tin, Hà Nội, 1995.

 Trần Trọng San, “Thơ Đường 4 ngữ”, Tủ sách Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh,1990.

 Phùng Mộng Long, “Tình sử Trung Hoa”, Nguyễn  Thụy Ứng dịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 2002.

 Vương Lập Bình, “Hồng lâu mộng ca khúc” (VCD), Bắc Kinh, 1998.

 Mạng internet: www.sina.com

www.china.com

 www.shu.chinesenewsnet.com

(Và một số tài liệu lẻ tẻ rời rạc khác)

Hoàn thành tại

Đại học An Giang

 2007

Email: ngoc1951@gmail.com

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 66 other followers

%d bloggers like this: