"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

“TÌM HIỂU CẢM HỨNG XUẤT THẾ TRONG THƠ ĐƯỜNG”

 

SV Trần Văn Cẩm

Lớp ĐH 3C2

 

Giảng viên hướng dẫn

           Th.s PHÙNG HOÀI NGỌC

 

 

 

LỜI CẢM ƠN

 

Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học An Giang, Khoa sư phạm, thầy cô bộ môn Ngữ văn, thư viện trường đã tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành luận văn.

 

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sâu sắc, kính trọng đến thầy Phùng Hoài Ngọc. Thầy đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài này.

 

Xin cảm ơn các bạn đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.

 

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn tất cả.

An Giang tháng 04/2006

Trần Văn Cẩm

 

 

MỤC LỤC

Phần mở đầu                                                                                       Trang

 1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………………………………………………. 1

 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề……………………………………………………………………………… 1

 3. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………………………………………….. 4

 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……………………………………………………………………. 5

      4.1  Đối tượng……………………………………………………………………………………………. 5

      4.2  Phạm vi nghiên cứu……………………………………………………………………………….. 6

 5. Nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………………………………………………………. 6

 6. Đóng góp mới của đề tài……………………………………………………………………………….. 6

 7. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………………………………….. 7

 8. Cấu trúc luận văn…………………………………………………………………………………………. 8

 

Phần nội dung

 Chương I: Khái quát về thơ Đường………………………………………………………………… 9

 1. Thời đại nhà Đường……………………………………………………………………………………… 9

 2. Nguyên nhân sự hưng thịnh thơ Đường…………………………………………………………….. 11

       2.1 Lòng trọng văn của vua chúa…………………………………………………………………… 11

       2.2 Việc đưa thơ vào khoa cử……………………………………………………………………… 12

       2.3 Sự phồn thịnh về mọi mặt……………………………………………………………………….. 12

 3. Quá trình diễn biến của thơ Đường………………………………………………………………….. 14

 4. Hệ tư tưởng trong thơ Đường…………………………………………………………………………. 21

Chương II: Cảm hứng xuất thế trong thơ Đường……………………………………………… 28

 1. Xuất thế và thú điền viên sơn thủy……………………………………………………………………. 28

       1.1 Công thành thân thoái……………………………………………………………………………. 28

       1.2 Bất mãn thời cuộc và không màng danh lợi………………………………………………… 34

       1.3 Đợi thời………………………………………………………………………………………………. 46

 2. Xuất thế và hoài niệm cố nhân………………………………………………………………………… 48

 3. Xuất thế và quan niệm cuộc đời là mộng ảo………………………………………………………. 56

       3.1 Quan niệm cuộc đời như ảo mộng……………………………………………………………. 56

       3.2 Khát vọng trường tồn…………………………………………………………………………….. 68

       3.3 Khát vọng giải thoát………………………………………………………………………………. 75

 4. Phương thức nghệ thuật trong những bài thơ chứa  đựng “cảm hứng xuất thế” 

      của Đường thi…………………………………………………………………………………………….. 80

       4.1 Không gian nghệ thuật……………………………………………………………………………. 80

       4.2 Thời gian nghệ thuật………………………………………………………………………………. 54

       4.3 Ước lệ, tượng trưng………………………………………………………………………………. 89

       4.4 Ngôn ngữ thể hiện………………………………………………………………………………… 90

 

Phần kết luận

 1. Ảnh hưởng của những bài thơ chứa đựng “cảm hứng xuất thế” đối với văn học ViệtNam      ……92

 2.Kết luận……………………………………………………………………………………………… ……..96

Thư mục tham khảo

Phụ lục

 

 

 

 

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

            Văn học đời Đường như một vườn hoa trăm sắc nở rộ. Nhiều nhà văn nhà thơ xuất hiện, nhiều loại hình văn học phát triển, trong đó thơ ca chiếm địa vị quan trọng nhất.

Là đỉnh cao của thơ ca Trung Quốc và cũng là một trong những đỉnh cao của thơ ca nhân loại, thơ Đường rất đa dạng về đề tài, nội dung phong phú, đa dạng và hình thức hoàn mỹ. Từ lâu thơ Đường đã trở thành mẫu mực và độc. Đi vào thơ Đường là đi vào thế giới hoà điệu, vào thế giới nội cảm của các thi nhân ở cái “ý tại ngôn ngoại”.

Ngôn ngữ của thơ Đường trong sáng, tinh luyện, tiết kiệm. Bởi vậy thơ Đường rất cô đọng, súc tích, ngắn gọn. Khi đọc thơ Đường người ta phải tìm “cái ẩn, cái sâu, cái xa”. Tức là độc giả phải suy luận, phải khám phá, phải suy ngẫm. Từ trước tới nay, người đọc thơ Đường không phải ít nhưng người hiểu thơ Đường cũng không phải là nhiều. Vì thế, việc nghiên cứu thơ Đường luôn là một việc làm thiết thực và cần thiết. Bởi thơ Đường không bao giờ cũ.

Ngày nay, thơ Đường vẫn được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông, để giảng dạy tốt, giúp học sinh hiểu đúng thì đó là một vấn đề không đơn giản. Bởi học sinh ngày nay không biết chữ Hán. Do vậy, đối với người giáo viên văn thì việc tìm hiểu thơ Đường là một việc làm cần thiết. Dạy văn là dạy người bởi “thơ trước hết là cuộc đời sau mới là nghệ thuật” (V.Biêlinxki), dạy các em biết sống tốt hơn, đẹp hơn, góp phần giúp các em hiểu được giá trị của cuộc sống, thấy được ý nghĩa của cuộc đời này đẹp biết bao. Từ đó, các em có một cái nhìn đúng đắn về những giá trị văn hoá, đặc biệt là văn học.

Trong việc nghiên cứu môn ngữ văn, người viết nhận thấy rằng việc “Tìm hiểu cảm hứng xuất thế trong thơ Đường” là việc làm có tính thiết thực, tính sư phạm, tính khoa học, tính kế thừa, nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy sau này. Cho nên, người viết đã lựa chọn đề tài “Tìm hiểu cảm hứng xuất thế trong thơ Đường” làm chủ đề cho bài viết của mình.

 

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hơn 1000 năm qua đã có rất nhiều người nghiên cứu về thơ Đường, ở nhiều góc độ khác nhau khi nghiên cứu. Họ nghiên cứu về thể loại và ngôn ngữ, về nội dung tư tưởng, ý nghĩa xã hội của thơ Đường và cả về hình thức thơ Đường dưới cái nhìn của thi pháp học, tức là nghiên cứu hệ thống hình thức thể hiện, hệ thống nội dung. Do đó, thơ Đường cũng đã có bề dày nghiên cứu, phê bình của nhiều tác giả, nhiều thế hệ. Bản thân những người dịch thơ Đường cũng đồng thời là các nhà nghiên cứu hoặc nhà thơ. Bản dịch của Tản Đà, Ngô Tất Tố, Trần Trọng Kim, Nam Trân, Tương Như,….tất cả đều khá hay, nói được cái thần thái của thơ, mạch thơ (trừ một vài trường hợp dịch chưa sát ý). Đó chính là sự thành công trong nghiên cứu thơ Đường, từ đó dẫn đến việc đưa thơ Đường vào giảng dạy ở các trường Đại học và phổ thông.

 Về góc độ nội dung.

Quyển “Thơ Đường” của giáo sư Lê Đức Niệm viết  khái quát văn học đời Đường và tập trung đi sâu vào 3 tác giả tiêu biểu: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị. Tác giả cũng đề cập đến “cảm hứng xuất thế”. Trong phần Lý Bạch, GS Lê Đức Niệm làm rõ hơn cuộc đời và thân thế của nhà thơ họ Lý qua các cuộc hội ngộ kết giao với bằng hữu, đồng thời giáo sư cũng chỉ ra tư tưởng của Lý Bạch: đó là tư tưởng pha trộn giữa Nho giáo và Đạo giáo trong việc trưng cầu lí tưởng chính trị, còn phong cách sống của ông lại chịu ảnh hưởng của Đạo giáo [16;84]. Nhìn chung giáo sư Lê Đức Niệm đã đi sâu và khái quát về con người và thơ của: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị.

Quyển “Thơ Đường trong nhà trường” do Trần Ngọc Hưởng biên soạn, tác giả tuyển chọn một số bài thơ Đường và một số bài phân tích, bình giảng về các bài thơ đó, nhằm giúp học sinh hiểu và nắm bắt chính xác những bài thơ Đường có trong chương trình phổ thông.

Quyển “Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc” của viện sĩ LX. Lixevích do Trần Đình Sử dịch, viện sĩ đã đề cập đến tư tưởng chung của thơ Đường (đạo giáo, nho giáo, phật giáo).

Về góc độ thi pháp học.

Quyển “Thi pháp thơ Đường” của Nguyễn Khắc Phi và Trần Đình Sử và quyển “Thi pháp thơ Đường” của Nguyễn Thị Bích Hải. Các tác giả đã đề cập đến không gian và thời gian, con người trong thơ Đường. Các tác giả cho rằng: không gian trong thơ Đương là không gian của vũ trụ, không gian vừa to lớn, vừa vĩ mô, của những đất trời, nhật nguyệt, vạn dặm, nam bắc, đông tây….đến những đường nét tinh vi, bé nhỏ của những đường gân bé xíu, trên cánh con chuồn chuồn, hay cái thoáng rơi nhẹ nhàng của một chiếc lá ngô đồng rụng khi trời đất vào thu…Bởi thi trung hữu họa, cảnh vật thường có mặt trong thơ….Về thời gian thì xuất hiện năm phạm trù: thời gian siêu mệnh cá thể, thời gian vũ trụ, tự nhiên,  thời gian siêu nhiên, thời gian sinh hoạt, thời gian lịch sử. Về con người, đó là con người vũ trụ, quan niệm cho rằng: con người liên quan mật thiết với trời đất, vũ trụ, con người là một tiểu vũ trụ” trong lòng “đại vũ trụ”, con người đó xuất hiện trong tư thế vũ trụ, đứng giữa đất trời, đầu đội trời chân đạp đất – nối đất với trời. Tiếng thơ cất lên như tiếng giữa trời. Ta ít khi thấy nhà thơ xuất hiện với tư cách là một cái tôi – cá nhân, bởi con người đó là con người siêu cá thể, đó là những con người luôn khát vọng hoà hợp với thiên nhiên, ở giữa đất trời cảm ứng với đất trời. Tiếng nói của nó hoà âm với nhịp điệu của vũ trụ, nó là một mắt xích, một nhịp cầu nối thiên với địa, nối với cổ nhân với lai giả, nối quá khứ với tương lai.

Bạch nhật y sơn tận,

Hoàng Hà nhập hải lưu,

Dục cùng thiên lý mục

Cánh thượng nhất tầng lâu.

(Ánh sáng mặt trời dựa vào sườn núi,

Sông Hoàng Hà chảy ra biển khơi.

Muốn tầm mắt nhìn thấu ngàn dặm,

Hãy lên cao thêm một tầng lầu)

   (Vương Chi Hoán – Đăng Quán Tước Lâu)

Bước lên lầu Quán Tước con người có thể bằng cái nhìn của mình thu vào tầm mắt muôn trùng non nước, biển rộng trời cao, cứ thế nếu tiếp tục lên nó sẽ mở rộng tầm mắt vô tận.

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu tiếp cận thơ bằng con đường khám phá, tìm hiểu thi pháp “chi tiết nghệ thuật”. Tuy nhiên, thơ Đường rất đa dạng và phong phú với số lượng lớn nên ở mỗi bài thơ Đường thường có những chi tiết đặc sắc riêng.

Về quyển “Thi pháp thơ Đường” của Nguyễn Khắc Phi và Trần Đình Sử, tác giả chỉ đề cập đến những vấn đề cơ bản về không gian và thời gian nghệ thuật, chưa có sự khái quát thành một hệ thống để chỉ ra “cảm hứng xuất thế”. Thông qua hướng tiếp cận từ góc độ thi pháp, tác giả cũng đề cập đến “cảm hứng xuất thế” có ở trong từng bài lẻ tẻ mà chưa có một sự tập hợp, tập trung lớn ở đây.

Về quyển “Thi pháp thơ Đường” của Nguyễn Thị Bích Hải nói khá rõ về ba lĩnh vực thi pháp: con người, không gian và thời gian. Tác giả quan niệm về con người: con người của vũ trụ và con người của xã hội tương ứng với nó là không gian vũ trụ và không gian đời thường, thời gian vũ trụ và thời gian đời thường. Nhưng tác giả cũng chưa nói rõ về “cảm hứng xuất thế” của các nhà thơ Đường mà chỉ nói lên cảm hứng, cái tư tưởng có trong từng bài thơ Đường, đặt trong cái nhìn tổng quát về quan niệm triết học, về tư tưởng nhân sinh nên chỉ đưa ra hai khía cạnh chủ yếu là vũ trụxã hội.

Nghiên cứu thơ Đường trong lịch trình phát triển của nó thì có quyển “Lịch sử văn học Trung Quốc tập hai”, nghiên cứu về tác giả như cuốn “Lý Bạch tứ tuyệt” của Phạm Hải Anh; cuốn “Thơ Đỗ Phủ” của Trần Xuân Đề….

Nghiên cứu về thể loại như cuốn “Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường” của Nguyễn Sĩ Đại,….Những công trình ấy đều bàn về những vấn đề lớn của thơ Đường. Ngoài ra, còn một số lượng rất lớn các bài viết, tạp chí, các luận văn về thơ Đường.

Về đề tài “cảm hứng xuất thế” chúng tôi chưa thấy có bài viết nào đề cập cụ thể, hệ thống. Còn khái niệm “cảm hứng xuất thế” chúng tôi thấy trong các công trình nghiên cứu như quyển “Thơ Đường” của GS Lê Đức Niệm và quyển “Văn học Trung Quốc” của thầy Phùng Hoài Ngọc. Các tác giả chưa đi sâu nghiên cứu trọn vẹn, hệ thống những nội dung cũng như hình thức nổi bật của mảng thi ca về đề tài “cảm hứng xuất thế”. Dĩ nhiên, các công trình nghiên cứu của các tác giả trên cũng giúp cho chúng tôi vận dụng ít nhiều vào đề tài của mình, cung cấp những kiến thức về thơ Đường để vận dụng vào bài viết của mình. Chúng tôi chỉ chú trọng vào tác phẩm của các tác giả tiêu biểu của từng giai đoạn, đặc biệt là giai đoạn trung vãn Đường. Chúng tôi chân thành cảm ơn những nhà nghiên cứu đi trước, hi vọng rằng ngày nay với hệ thống thông tin liên lạc toàn cầu thì sẽ có nhiều công trình nghiên cứu về thơ Đường hơn, rộng hơn, sâu hơn và phù hợp với lợi ích của thời đại. Góp phần giúp các thế hệ sau hiểu biết sâu sắc về thơ Đường nói riêng và văn hoá Trung Quốc nói chung, biết được sự ảnh hưởng, sự giao lưu văn hoá giữa Trung Quốc và ViệtNam(đặc biệt trong lĩnh vực thơ ca).

 

3. Mục đích nghiên cứu

Không thể phủ nhận được sức ảnh hưởng lớn lao của thơ Đường đối với thơ cổ điển ViệtNam. Thơ Đường đã kết hợp với thơ lục bát, nâng các truyện thơ của ta lên tới một nghệ thuật điêu luyện. Và kể từ năm 1930 trở lại đây, âm hưởng thơ Đường rất quen thuộc lại tan vào câu thơ ViệtNammột cách tự do hơn, thích hợp hơn với nội dung Thơ Mới. Việc “tìm hiểu cảm hứng xuất thế” trong thơ Đường cũng cho thấy được sức ảnh hưởng đó.

Trong thời gian qua, việc giảng dạy thơ Đường cũng như các tác phẩm văn học Việt Namtrung đại đã gặp không ít khó khăn. Trong điều kiện đời sống văn hoá được nâng cao như hôm nay, nhu cầu thưởng thức, nghiên cứu và học tập thơ Đường ngày càng cao. Bởi: Nói về thơ Hán văn thì có thơ Đường là hơn cả, tình tứ tao nhã, ý nghĩa sâu xa, có thể nuôi được cái khí hạo thiên nhiên của con người, tức là di dưỡng được cái tinh thần cao thượng và chân chính. Những bài thơ Đường tựa như những đồ chơi làm bằng ngọc ngà, chạm trổ rất tinh xảo, trau dồi bóng bẩy, càng ngắm càng thấy đẹp, chơi bao lâu cũng không thấy chán… thật là lợi cho tính tình biết bao (… ) thơ mà hay là cốt ở tình và văn. Tình sinh ra văn, văn sinh ra tình (Trần Trọng Kim). Cho nên mục đích của chúng tôi là: Phân tích tìm hiểu những giá trị biểu đạt, tìm hiểu những cái hay, cái đẹp về quan niệm (về con người, không gian thời gian), về cách xử thế, về thái độ đối với xã hội, về cái nhìn mới trong tư tưởng của các thi nhân đời Đường; thấy được sức ảnh hưởng của thơ Đường đối với phương Đông, đặc biệt là Việt Nam; trang bị kiến thức đầy đủ, phong phú nhằm phục vụ công tác giảng dạy sau này.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

   4.1 Đối tượng nghiên cứu

Là Đường thi, chúng tôi còn khảo sát thêm một số tuyển tập thơ Đường khác để đối chiếu và bổ sung, nghiên cứu một số tạp chí và một số tác phẩm khác có liên quan đến đề tài. Từ đó, giúp chúng tôi làm sáng tỏ các vấn đề cần trình bày.

Tìm hiểu đề tài “cảm hứng xuất thế” trong thơ Đường trên cơ sở khảo sát, lựa chọn và phân loại, đối tượng nghiên cứu là phân tích tìm hiểu những giá trị biểu đạt, tìm hiểu những cái hay, cái đẹp về quan niệm (về con người, không gian thời gian), về cách xử thế, về thái độ đối với xã hội, về cái nhìn mới trong tư tưởng của các thi nhân đời Đường.

Qua cách tìm hiểu thi pháp để tiếp cận đối tượng, sẽ thấy được cảm hứng chung như: tìm về với thiên nhiên, lánh đời, sống hoà nhập với thiên nhiên, bất cần đời, muốn uống rượu say để chơi với trăng, bất đắc chí tìm về với sông núi….Đó là cảm hứng xuất thế. Tìm hiểu cảm hứng của bài thơ trên cơ sở kết hợp chặt chẽ hai mặt cấu trúc nghệ thuật và nội dung cảm hứng.

  4.2 Phạm vi nghiên cứu

Từ 7 tuyển tập thơ Đường, người viết đã chọn lựa được 100 bài thơ có chứa đựng “cảm hứng xuất thế”. Chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu 25 bài thơ về “cảm hứng xuất thế” tiêu biểu được chọn từ các tác giả khác nhau, ở mỗi thời kì khác nhau của thơ Đường.

 

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ đối tượng, mục đích của đề tài mà tiến hành xác định nhiệm vụ nghiên cứu đó là:

       -Nghiên cứu lí thuyết bằng cách đọc các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài.

       -Chọn lựa những bài tiêu biểu, tập hợp lại nghiên cứu trong một hệ thống hướng đến đề tài.

       -Đánh giá kết quả đạt được, rút ra kết luận (các luận điểm chính) của những bài thơ “cảm hứng xuất thế”. Từ đó thấy được ảnh hưởng của thơ Đường nói chung và những bài thơ “cảm hứng xuất thế” nói riêng đến nền văn học ViệtNam.

 

6. Đóng góp mới của đề tài

Đường thi đã có một sức ảnh hưởng lớn đối với thơ cổ điển ViệtNam. Do đó, nghiên cứu những bài thơ Đường có “cảm hứng xuất thế” là chúng tôi muốn mở ra cái nhìn toàn diện, hệ thống, sâu sắc và khoa học về nội dung và hình thức nghệ thuật của thơ Đường nói chung, và những bài thơ thuộc về mảng đề tài nói riêng. Người viết đã lựa chọn được trong Đường thi những bài thơ có chứa đựng “cảm hứng xuất thế”.

Đóng góp thực tiễn của đề tài chính là ở chỗ nó giúp chúng ta lí giải, phân tích các bài thơ một cách khách quan, chính xác, tránh sự áp đặt chủ quan. Nó giúp ta hiểu, phân tích và bình giảng các bài thơ được giới thiệu trong chương trình phổ thông một cách chính xác, khoa học và có sức thuyết phục cao.

Đối với cá nhân người viết, đề tài giúp cho người viết ít nhiều hiểu thêm về thơ Đường, về tư duy nghệ thuật của người Trung Hoa cách đây hơn mười thế kỉ – một thời đại nổi trội đặc biệt về thơ ca, có thể nói là không tiền khoáng hậu mà trong thời đại tất bật như hôm nay, nó vẫn còn những giá trị tinh khôi, mới mẻ.

7. Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài chúng tôi đã sử dụng những phương pháp sau: phương pháp thống kê, phân loại; phương pháp phân tích so sánh; Phương pháp tổng hợp khái quát; phương pháp tiếp cận trên tinh thần thi pháp học; và một số phương pháp hỗ trợ khác. Nhưng chủ yếu là các phương pháp sau

Phương pháp thống kê phân loại

 Với phương pháp này người viết tiến hành thống kê 7 tuyển tập thơ Đường được lựa chọn để khảo sát. Đó là: Thơ Đường tập 1 và tập 2 do nhóm Nam Trân biên soạn, Thơ Đường do Nguyễn Quảng Tuân biên soạn (Tản Đà dịch), Đường thi của Trần Trọng Kim, Đường thi nhất bách thủ của Phùng Hoài Ngọc biên soạn – tài liệu dùng cho sinh viên đại học An Giang, lưu hành nội bộ, năm 2005, Thơ Đường từ Tống của Nguyễn Phúc Điền, Đường thi tam bách thủ của Ngô Văn Phú, Thiên gia thi của Ngô Văn Phú, kết quả là đã lựa chọn và thống kê được hơn 100 bài, (có nhiều bài thơ in lặp lại trong các sách ).

Tiếp theo, người viết thực hiện thao tác phân loại dựa trên tiêu chí nội dung biểu hiện để lựa chọn những bài phù hợp với đề tài, sự phân loại này là tiêu chí của bài viết.

Phương pháp phân tích so sánh

 Khảo sát các sách được lựa chọn để tham khảo về vấn đề tiếp cận với thơ Đường, phân tích các tài liệu lý thuyết này, so sánh chúng với nhau để tìm ra một hướng tiếp cận cụ thể.

Phương pháp này còn được tiến hành trên 100 bài đã được thống kê. Phân tích và đối chiếu các bài thơ đó, lựa chọn lại khoảng hơn 25 bài tiêu biểu để đưa vào tiến hành phân tích tìm hiểu.

Phương pháp tổng hợp khái quát

 Đây là bước cuối cùng, tổng hợp các tài liệu đã được phân tích, tìm hiểu tổng hợp những nội dung cơ bản của 100 bài và chọn ra 25 bài tiêu biểu nhất, cụ thể nhất làm cơ sở để định hướng cho toàn bài viết của mình.

 

 

 

 

 

 

 8. Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm có ba phần, ngoài Phần mở đầu và Phần kết, Phần nội dụng gồm có:

Phần nội dung

Chương I: Khái quát về thơ Đường

 1. Thời đại nhà Đường

 2. Nguyên nhân sự hưng thịnh thơ Đường

       2.1 Lòng trọng văn của vua chúa

       2.2 Việc đưa thơ vào khoa cử

       2.3 Sự phồn thịnh về mọi mặt

 3. Quá trình diễn biến của thơ Đường

 4. Hệ tư tưởng trong thơ Đường

 Chương II: Cảm hứng xuất thế trong thơ Đường

 1. Xuất thế và thú điền viên sơn thủy

       1.1 Công thành thân thoái

       1.2 Bất mãn thời cuộc và không màng danh lợi

       1.3 Đợi thời

 2. Xuất thế và hoài niệm cố nhân

 3. Xuất thế và quan niệm cuộc đời là mộng ảo

       3.1 Quan niệm cuộc đời như ảo mộng

       3.2 Khát vọng trường tồn

       3.3 Khát vọng giải thoát

 4. Phương thức nghệ thuật trong những bài thơ chứa đựng “Cảm hứng xuất thế” của Đường thi

       4.1 Không gian nghệ thuật

       4.2 Thời gian nghệ thuật

       4.3 Ước lệ, tượng trưng

       4.4 Ngôn ngữ thể hiện

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN NỘI DUNG

 

CHƯƠNG MỘT         KHÁI QUÁT VỀ THƠ ĐƯỜNG

1. Thời đại nhà đường      

            Trong lịch sử xã hội phong kiến Trung Quốc, đời Đường có một vị trí khá đặc biệt. Ở đời Đường, Trung Quốc là một quốc gia phát triển, phồn vinh trên tất cả các phương diện: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, nghệ thuật.

Năm 617, Sau khi Tùy Dưỡng Đế rời khỏi kinh đô, một viên quan của nhà Tùy tên là Lý Uyên cùng với con mình là Lý Thế Dân khởi binh ở Thái Nguyên rồi tấn công Trường An. Năm 618, Lý Uyên xưng làm vua, đặt quốc hiệu là Đường. Đó là Đường Cao Tổ.

Năm 626, Lý Uyên thoái vị, Lý Thế Dân lên nối ngôi. Từ phong trào đấu tranh của nhân dân và sự diệt vong của các triều đại trước đã làm cho Đường Thái Tông nhận thức được rằng: “Thuyền ví như vua, nước ví như dân, nước có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền”. Xuất phát từ nhận thức đó, Đường Thái Tông thi hành nhiều chính sách có lợi cho dân như ban hành chế độ ruộng đất và thuế khóa, chế độ quân điền, giảm bớt lao dịch, hạn chế lãng phí, giảm nhẹ hình phạt, chọn quan lại thanh liêm…Do đó, chỉ sau mấy năm, kinh tế được khôi phục và phát triển, chính trị ổn định, văn hóa và khoa học cũng rất phát triển, các thành phố lớn xuất hiện.

Năm 649, Đường Thái Tông chết, Cao Tông nối ngôi nhưng là một người nhu nhược, ốm yếu, nên dần dần mọi việc đều do hoàng hậu Võ Tắc Thiên quyết định.

Năm 683, Cao Tông chết, Trung Tông rồi Duệ Tông lần lượt được Võ Tắc Thiên đưa lên làm vua bù nhìn. Năm 690 Võ Tắc Thiên xưng làm hoàng đế đổi tên nước thànhChu.

Năm 705, Võ Tắc Thiên ốm nặng, trong cung đình nổ ra chính biến. Võ Tắc Thiên buộc phải thoái vị. Nhà Đường lại được khôi phục, nhưng tình hình trong triều đình vẫn rối ren, chỉ trong 7 năm xảy ra nhiều lần chính biến, ba vua được lập lên rồi bị phế truất.

Năm 712, Huyền Tông lên ngôi. Thời gian đầu, Huyền Tông tỏ ra có năng lực, đã thi hành một số chính sách nhằm ổn định tình hình trong cả nước. Nhưng đến cuối đời, Huyền Tông say đắm trong rượu chè và sắc đẹp, nhất là say đắm Dương Qúy Phi, mọi việc triều  đình đều giao cho Dương Quốc Trung (anh của Dương Quý Phi) và những người thân tín khác, những người này tha hồ làm mưa làm gió ở kinh đô.

Năm 755 ở miền Bắc, An Lộc Sơn và Sử Tư Minh  nổi dậy chống lại nhà Đường, sử sách gọi là loạn An Sử.

Năm 756, không chống cự nổi, Huyền Tông cùng triều đình chạy sang Tứ Xuyên, giữa đường theo yêu cầu của tướng sĩ, Huyền Tông buộc lòng phải cho giết Dương Quý Phi và Dương Quốc Trung.

Năm 762, nhà Đường thu lại được Lạc Dương. Đến đây, hàng ngũ quân phiến loạn đã tan rã, nhiều tướng lĩnh đầu hàng triều đình, đến năm 763 thì hoàn toàn thất bại. Vụ loạn An Sử kéo dài 8 năm. Nó đã để lại rất nhiều hậu quả nghiêm trọng, đánh dấu nhà Đường từ thịnh trị bước vào thời kì suy yếu.

Cuối đời Đường, những cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp bùng nổ ở nhiều nơi, trong đó lớn nhất và tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa do Vương Tiên Chi và Hoàng Sào lãnh đạo nổ ra ở Sơn Đông. Năm 881, Hoàng Sào tự xưng là hoàng đế, đặt tên nước là Đại Tề.

Trước tình hình ấy, giai cấp phong kiến liên hợp với nhau để bao vây Trường An. Quân nông dân cầm cự được hơn hai năm, đến năm 884 thì bị quân nhà Đường đánh bại. Hoàng Sào phải tự tử. Phong trào khởi nghĩa này đã làm cho đế quốc Đường lung lay nghiêng ngả, chia năm xẻ bảy, trong cung đình càng hỗn loạn, nhà Đường chỉ tồn tại trên danh nghĩa mà thôi.

Năm 907, Chu Ôn – kẻ phản bội phong trào nông dân và được triều đình trọng dụng, đã phế bỏ vua Đường. Nhà Đường bị diệt vong.

Thời đại nhà Đường trải qua bốn giai đoạn: Sơ Đường (618-713), Thịnh Đường (713-766), Trung Đường (766-835), Vãn Đường (835-906).

Sơ Đường: Đây là giai đoạn triều đình phong kiến mở các cuộc bình phục cát cứ thống nhất đất nước, tiến hành các cuộc chinh phạt nhằm mở rộng bờ cõi. Lịch sử Trung Quốc gọi thời kì này là “nền thịnh trị thời Trinh Quán” (niên hiệu của Đường Thái Tông). Giai đoạn này khép lại với sự kiện Trương Giản Chi đem quân uy hiếp Võ hậu, đưa Đường Trung Tông trở lại ngôi vua, sau đó Vi hậu tiếp tục lập lại sự kiện Võ hậu, giết Trương Giản Chi và Trung Tông. Duệ Tông lên ngôi được ba năm rồi lại truyền cho Huyền Tông.

Thịnh Đường: Trong thời kì đầu, Huyền Tông là một ông vua có năng lực. Đây là thời thịnh trị nhất, vua quan lo cho dân, đoàn kết nhất, có tài đức nhất, dân chúng sung sướng nhất [13;307]. Trung Quốc bước vào một thời kì phồn thịnh, gọi là nền thịnh trị thời Khai Nguyên. Nhưng về sau chính quyền trung ương ngày càng bế tắc. Trong bối cảnh đó, năm 755, loạn An Sử nổ ra để lại hậu quả nghiêm trọng dẫn đến nền thịnh trị của nhà Đường  không còn nữa.

Trung Đường: Đây là thời kì vua Đường chỉ làm bù nhìn, mọi quyền hành đều do hoạn quan lũng đoạn. Bọn hoạn quan có thể tự ý phế lập các vua, khống chế từ các quan Tể tướng trở xuống. Sự khốn khổ và cùng cực của nhân dân là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến các cuộc khởi nghĩa liên tiếp cuối đời Đường, đưa đến sự tất yếu phải sụp đổ của nhà Đường ở giai đoạn này.

Vãn Đường: Giai đoạn này  nổi lên sự tranh chấp bè phái giữa hai phe Lý Đức Dụ và Ngưu Tăng Nhụ. Cuộc tranh chấp này kéo dài 40 năm thì kết thúc. Năm 875 nổ ra cuộc khởi nghĩa nông dân lớn nhất do Vương Tiên Chi và Hoàng Sào lãnh đạo. Năm 901, nhà Đường mất về tay Chu Ôn (Chu Toàn Trung). Năm 907, Chu Ôn đổi tên nước là Lương, lịch sử gọi là hậu Lương.

Gần 300 năm tồn tại của nhà Đường người Trung Quốc đã sáng tạo nên một nền thơ ca vĩ đại. Người Trung Quốc cũng như thế giới đều công nhận thơ Đường là đỉnh cao của thơ ca Trung Quốc và là một trong những đỉnh cao của thơ ca nhân loại.

 

2. Nguyên nhân sự hưng thịnh của thơ Đường

Về thi ca, Đường là thời đại nổi trội đặc biệt, nhưng cái gì đã tạo nên sự hưng thịnh của Đường thi, đó là một vấn đề khó biện giải thỏa đáng. Vì thế mà các luận giả đành phải liệt kê ra một số sự kiện, coi đó là những nhân tố góp phần tạo lập nên sự hưng thịnh của thơ Đường.

   2.1. Lòng trọng văn của vua chúa

Hầu hết các nhà vua Đường đều yêu chuộng thơ văn. Đường Thái Tông khi còn là Tần – Vương, đã lấy văn – học quán, làm nơi hội họp các văn nhân. Khi lên ngôi lại thiết kế Hoằng – văn quán. Đường Thái Tông là một người rất yêu thơ. Khi Vũ hậu lâm triều, cũng từng xuống chiếu sưu tầm các sách thất lạc, để phát triển văn học. Đời Đường Trung Tông, vào ngày rằm tháng giêng mỗi năm, nhà vua tổ chức ngày hội văn rất long trọng, quần thần đều phải dâng thơ chúc tụng. Đường Huyền Tông là một nhà thơ có tài, rất sủng ái Lý Bạch. Nhờ có mấy bài thơ phúng giáng mà Bạch Cư Dị được Hiến Tông phong làm chức học sĩ. Nguyên Chẩn được Mục Tông bổ làm tứ bộ lang trung cũng chỉ vì mấy bài ca. Văn Tông rất thích thơ ngũ ngôn, có đặt ra 12 quan thi học – sĩ. Tóm lại, thi ca đời Đường vì được vua chúa yêu chuộng, đã trở nên bậc thang đưa lên chỗ vinh hoa, phú quí cho những người tài giỏi thơ văn. Từ kinh thành cho đến đồng nội, núi rừng, người ta đua nhau đọc thơ làm thơ. Đem lại sự phát triển cao cho thơ ca đời Đường.

   2.2. Việc đưa thơ vào khoa cử

Đặc biệt là chế độ khoa cử “dĩ thi thủ sĩ” (dùng thơ để chọn người tài) của nhà Đường cũng là nguyên nhân đáng kể làm cho thơ Đường phát triển. Chính do qui định dùng thơ phú để chọn nhân tài đã khiến cho đông đảo trí thức thời này ra sức trao dồi ngôn ngữ và kĩ xảo văn chương.

Đầu đời Đường, khoa thi tiến sĩ vẫn giữ thể thức của đời Tuỳ, chỉ hỏi về sách. Đến năm thứ hai, đời Đường Cao Tông, sửa đổi thể thức ra bài thi trong khoa thi tiến sĩ: thí sinh phải làm hai bài tạp văn (thi, phú) để tỏ ra thông hiểu âm luật, rồi sau mới thi “sách”. Thơ đã được vua chúa yêu thích, từ đây lại được dùng trong khoa cử. Người có tài thơ rất dễ tiến thân, lại có danh dự hơn những người chiếm ngôi cao bằng đường lối khác. Từ đời Đường Huyền Tông trở đi, khoa thi tiến sĩ được tôn trọng đặc biệt. Các quan công khanh nào không xuất thân tiến sĩ, đều không được xem là tôn quí. Thi nhân thời này nói chung được tôn trọng. Như thế, có thể nói rằng một phần lớn quan lại đời Đường đều là những người làm thơ, nếu không muốn nói là thi nhân.

   2.3 Sự phồn thịnh về mọi mặt

Đến đời Đường. sau gần 400 năm chia cắt và bị lệ thuộc, đất nước Trung Hoa đã độc lập thống nhất và nhất là cuộc sống thái bình thịnh trị lúc này đã thổi một luồng sinh khí mới tạo niềm hưng phấn và kích thích hứng thú sáng tạo nghệ thuật của các thi nhân nói chung.

Về hôi họa, Đời Đường có ba họa phái lớn với ba họa gia nổi tiếng là Vương Duy, Ngô Đạo Tử và Lý Tư Huấn. Vương Duy chuyên vẽ tranh sơn thuỷ, mở đầu cho phái họaNamtông. Dưới ngòi bút của Vương Duy, thi và họa hào đồng với nhau, phô bày vẻ đẹp: “Thi trung hữu họa, họa trung hữu thi” (trong thơ có vẽ, trong vẽ có thơ). Ngô Đạo Tử và Lý Tư Huấn có khuynh hướng hội họa trái ngược nhau. Ngô Đạo Tử chỉ chú ý những điểm nào gợi hứng nhất, người đời gọi ông là Hoạ Thánh. Còn Lý Tư Huấn chủ trương mô phỏng thiên nhiên, vẽ tỉ mỉ, cặn kẽ. Lý Tư Huấn là tổ của hoạ phái Bắc tông. Từ đó trở về sau, các hoạ sĩ Trung Quốc không nhiều thì ít, đều là môn đệ của hai nhà này.

Về âm nhạc cũng đặc biệt phát triển. Có những nhà âm nhạc nổi tiếng như Lý Quy Niên. Thơ ca của các nhà thơ nổi tiếng được phổ nhạc để phổ biến rộng rãi (nhạc phủ). Bạch Cư Dị nghe đàn tỳ bà mà hiểu được nỗi lòng người giai nhân bị ruồng bỏ, rồi viết nên bài “Tý bà hành” nổi tiếng, chứng tỏ sự am hiểu âm nhạc và tác dụng của nó đối với thơ ca.

Hội họa, âm nhạc, vũ đạo phát triển đã tạo điều kiện cho thơ ca phát triển. Chúng đã trở thành một phần máu thịt của thơ Đường, bởi lẽ thơ Đường là sự kết hợp hài hoà giữa thi, nhạc, họa.

Bên cạnh sự phát triển của hội họa, nghề làm đồ sứ đời Đường cũng rất tiến bộ. Với đặc điểm là dùng ba màu: nền trắng, hình vẽ màu vàng hay lục đã đem lại cách trình bày rất mỹ thuật.

Nghề in cũng rất phát triển. Đời Hán người ta đã khắc kinh truyện trên những tấm bia. Người đời Đường nhân đó mới có ý nghĩ khắc chữ lên mặt đá, rồi bôi mực mà in. Đời Đường Đại Tông (770), người ta dùng gỗ thay đá để in Tứ thư, Ngũ kinh. Phương pháp ấn loát này rất thông dụng trong các đời Đường, Tống.

Mặc khác, sự thịnh vượng của chính trị, kinh tế, xã hội nói chung cũng tác động đến sự phát triển văn học. Đời Đường Thái Tông biết dùng các hiền thần và các võ tướng, làm cho thời Đường trở thành một thời đại hưng thịnh cả về văn trị lẫn võ công. Thi hành chế độ phủ binh tạo nên một quân lực hùng mạnh, khiến cương thổ mở mang, tiếng tăm lan tràn sang các nước khác. Chế độ quân điền và phép tô dung ban hành, làm cho nông nghiệp mở mang, công thương nghiệp cũng phát triển. Trường An và Lạc Dương là hai trung tâm trọng yếu về công nghệ và thương mại. Nhìn chung thì như thế, nhưng thực ra chỉ có thời khai nguyên, đời Đường Huyền Tông là hoàn toàn thái bình, thịnh trị. Về sau, từ loạn An Lộc Sơn trở đi, tình hình xã hội lại tiếp tục suy đồi. Tác phẩm của các nhà thơ như Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị phản ánh rất rõ thực trạng này.

Một vấn đề xã hội lớn lao trong thời đại nhà Đường là chiến tranh. Chiến tranh với tất cả hậu quả của nó đã khiến cho muôn dân phải chịu sự điêu linh thống khổ trong binh lửa, đã trở thành một đề tài chủ yếu của thơ Đường. Từ đó đã xuất hiện nhiều tác phẩm thơ ca phản ánh sinh động sự khổ cực của dân chúng, chứa chan tinh thần nhân đạo và hiện thực sâu sắc. Đồng thời cũng có nhiều bài thơ ca ngợi thú nhàn tản, nói về sinh hoạt nơi đồng quê hay các thú vui tao nhã cầm kỳ thi tửu của các bậc mặt khách tao nhân, thể hiện sự lánh đời, tìm về thú vui điền viên để quên đời sống một cuộc đời ẩn dật.

Ngoài ra, chính sách văn hoá đời Đường cũng rộng mở tự do so với các thời trước. Đặc điểm của thời Đường là sự tịnh thịnh của ba giáo thuyết Nho, Đạo và Phật. Nho giáo không còn giữ vị trí độc tôn. Sau cuộc tây du của nhà sư trẻ Huyền Trang (thời Trinh Quán) và Nghĩa Tĩnh (thời Cao Tông) đã vượt bao khó khăn gian khổ sang tận Ấn Độ đem kinh phật về truyền bá ở Trung Quốc. Phật giáo lúc này lại hưng thịnh. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đối với khuynh hướng sáng sác của thi nhân và đem lại sự phát triển của thơ ca nói riêng và văn học nói chung.

Trên đây là tất cả các nguyên nhân cơ bản làm cho thơ ca đời Đường đặc biệt phát triển, đa dạng và phong phú về nội dung, điêu luyện về hình thức, tạo nên một thời hoàng kim của thơ ca cho đến tận ngày nay.

 

 3. Quá trình diễn biến của thơ Đường

Thơ Đường có thể chia ra làm 4 thời kì tương ứng với sự phân kì lịch sử: Sơ Đường, Thịnh Đường, Trung Đường, Vãn Đường.

Sơ Đường : (618 – 713)

Thơ ca thời kì này phần nhiều là những ca ngợi cảnh đất nước thanh bình, ca ngợi triều đại, có văn từ hoa mỹ, diễm lệ. Trên thi đàn thơ Đường đã xuất hiện nhiều nhà thơ và đề tài cũng được mở rộng.

Đặc biệt nổi tiếng trong thời  kì sơ Đường là bốn nhà thơ trẻ, được gọi là sơ Đường tứ kiệt: Vương Bột, Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân, Lạc Tân Vương. Tứ kiệt đã sống vào thời kì xảy ra nhiều cuộc chinh chiến ở biên cương. Họ đã đưa vào thơ ca những nội dung mới mẻ, đồng thời cũng biểu hiện nỗi bất mãn cá nhân. Thơ họ còn chịu ảnh hưởng của Tề Lương nhưng bản thân họ đã ý thức cần phải vươn lên thoát khỏi ảnh hưởng ấy. Và họ đã góp công trong sáng tạo nghệ thuật, nhất là thơ bảy chữ, thể ca hành, cấu tứ mới mẻ, lời thơ uẩn khúc, quanh co, thanh điệu uyển chuyển.

Sau nhóm “tứ kiệt”, trên thi đàn có hai nhà thơ uy quyền là Thẩm Thuyên Kỳ và Tống Chi Vấn. Tuy chịu ảnh hưởng thi phong Lục Triều tương đối nặng, nhưng họ đã mở rộng phạm vi đề tài phản ánh những vấn đề thời đại như vấn đề chiến tranh. Thẩm – Tống đã có công xây dựng luật thơ Đường. Họ đã làm thơ Đường có phong cách độc đáo. Thẩm – Tống đã thành công trong việc phát triển thi luật, tiến thêm một bước trong việc hoàn chỉnh niêm luật.

Cũng nổi tiếng đương thời, là nhóm “văn chương tứ hữu” (bốn bạn văn chương): Tô Vị Đạo, Lý Kiều, Thôi Dung và Đỗ Thẩm Ngôn. Rồi đến “Ngô trung tứ sĩ” (bốn người học trò đất Ngô) là : Hạ Tri Chương, Bao Dung, Trương Húc và Trương Nhược Hư. Mặc dù, còn mang tính chất đồi phế của văn học Lục Triều  nhưng nói chung thơ ca của “Ngô trung tứ sĩ”, đã rất xa lạ với thơ cung đình và đã báo hiệu cho cao trào thơ ca sắp lên. Bài “Xuân giang hoa nguyệt dạ”  của Trương Nhược Hư và bài “Bạch đầu ông vịnh” của Lưu Hi Di là hai bài thơ trường thiên đặc sắc của thời sơ Đường.

Với sự nỗ lực của Vương Tích và nhóm tứ kiệt, thơ ca sơ Đường đã bắt đâu thoát khỏi ảnh hưởng Tề Lương. Thơ Đường đang đợi chờ một cuộc cách tân lớn.

Chính Trần Tử Ngang đã giương cao ngọn cờ cách tân đó. Bằng thực tiễn sáng tác và lí luận, Trần Tử Ngang đã có công trong việc quét sạch ảnh hưởng xấu của thơ Tề Lương. Dưới khẩu hiệu phục cổ, Trần Tử Ngang mạnh dạn đề cao “phong cốt Kiến An” khôi phục truyền thống hiện thực và lãng mạn tích cực cho thơ ca đời Đường. Ông đã đề xuất nhiều kiến giải chính trị tiến bộ trên mức độ nhất định có lợi cho dân. Ông đã hướng sáng tác thơ ca vào con đường mới làm cho thơ ca đời Đường đã có chuyển biến mạnh mẽ. Con đường mà Trần Tử Ngang vạch ra ban đầu được Trương Cửu Linh noi theo, rồi sau đó, có cả các nhà thơ trong nhóm “Ngô trung tứ sĩ”.

Thịnh Đường (713-766):

Bấy giờ, nhà Đường đã trở thành một quốc gia hùng mạnh, một loạt nhà thơ trẻ có thiên tài đã được đời sống xã hội đương thời truyền cho một cảm hứng vô tận, có thể gọi là chắp cánh cho thơ. Thịnh Đường là một thời đại mà thơ ca phát triển tạo thành trào lưu thơ ca lãng mạn tích cực, Lý Bạch là tập đại thành của trào lưu thơ ca ấy. Quả vậy, trong 5 vạn bài thơ của “Toàn Đường thi” thì số lượng thơ thịnh Đường chiếm tới 3/4, trên 1.500 thi nhân với gần 4 vạn bài thơ, riêng Đỗ Phủ có tới ngàn bài.

Lúc này, thơ ca mang sắc thái thời đại. Đó là sắc thái trẻ trung, với đặc điểm nổi bật là tính dân tộc đã được phát huy đến độ cao. Thơ ca thời kì này kết tinh truyền thống tốt đẹp của mấy ngàn năm lịch sử, những đặc trưng mỹ học của thơ ca cổ điển đã được bộc lộ rõ nét. Lúc này trên thi đàn đội ngũ nhà thơ đông đảo chưa từng thấy. Họ xuất thân từ nhiều thành phần và nhiều tầng lớp khác nhau nhưng họ đã cất lên tiếng thơ hòa vào bản giao hưởng chung của thời đại. Bên cạnh sắc thái trẻ trung của thời đại, thơ ca thịnh Đường cũng có lúc đăm chiêu tư lự, có lúc thét lên tiếng căm phẫn, có lúc bó gối đầu hàng, có lúc hi vọng hay có lúc não nùng cất tiếng khóc cho thời đại và quay về cuộc sống ẩn dật.

Từ sự phồn thịnh, thịnh Đường đã có nguy cơ sụp đổ hoàn toàn do tình hình xã hội có nhiều biến động dữ dội. Điều này đã có tác động sâu sắc đến thơ ca, tạo thành các trường phái sáng tác khác nhau: phái biên tái, phái điền viên, phái lãng mạn và phái hiện thực.

Phái biên tái: Đề tài chủ yếu là cuộc sống ở chốn biên ải, có nguồn gốc xã hội là Hoành súy khúc từ đời Lương. Đến thời này, loại thơ biên tái có nhiều sự cải tiến cả về lượng và phẩm. Có những người chỉ cảm động vì tình ching phu, cô phụ, tưởng tượng ra cảnh quan ải biên thùy, rồi làm thơ. Đó là trường hợp của Vương Hàn với bài “Lương châu từ”, “xuất tái” của Vương Chi Hoán, Vương Xương linh; “Tái thượng khúc, tái hạ khúc” của Lý Bạch….Nhưng cũng có những nhà thơ từng trải nơi sông núi biên cương như Cao Thích, Sầm Than….Cao Thích nhờ có vốn sống phong phú nên tiếng thơ của ông là sự phản ánh nỗi đau của nhân dân, đồng thời cũng đả kích và phơi bày những hiện tượng bất hợp lý của xã hội đương thời, ông cũng có những bài cảm hoài, vịnh sử, thông qua đề tài lịch sử để nói lên mối cảm hoài của cá nhân. Thơ biên tái của ông đã bộc lộ được một vài nét tâm trạng chán ghét chiến tranh xâm lược, tuy vẫn còn lộn xộn với giọng như ngợi ca vẻ đẹp biên cương. Sầm Than tuy sống nhiều ở nơi biên cương, thấy được những nét sâu kín của hiện thực, song chưa có cái nhìn đúng đắn về chiến tranh, nên có lúc đã như ngợi ca. Tuy nhiên, thơ ông cũng có những bài nêu lên phong tục tập quán của nhân dân địa phương, có bài mô tả nỗi nhớ mong của kẻ bắt phải ra trận.

Vương Xương Linh, Lý Kỳ, Vương Chi Hoán, Vương Hàn thì lại mô tả tâm tình phiền muộn của những thiếu phụ nhớ chồng. Thơ Vương Xương Linh có hai loại chủ đề: sầu ly biệt và sầu nhớ quê của chinh phu nơi biên tái. Thơ biên tái của ông còn miêu tả nỗi bất hạnh và niềm nhớ mong của các tướng sĩ xa quê. Lý Kỳ thường mô tả những hiệp khách, những kẻ không còng lưng bó gối.

Lý Bạch cũng đã cho thấy sự ngán ngẫm của kẻ chinh phu sau cuộc chiến kết thúc trong bài “Quân hành”.

Có thể nói, hầu hết các nhà thơ đều viết về chiến tranh, về cảnh biên cương nơi chinh chiến nhưng mỗi người mỗi vẻ, đem lại một sự phong phú cho thơ Đường.

Phái điền viên: Đề tài chủ yếu là cuộc sống ẩn dật nơi thôn dã, quay về với thiên nhiên. Bắt nguồn từ thơ Đào Uyên Minh đời Tấn. Trong thời này, phái điền viên có những tác giả hữu danh như ẩn sĩ phong lưu Mạnh Hạo Nhiên, vị thi phật Vương Duy và Trừ Quang Hy, chuyên tả bằng lời thơ điềm tĩnh, nhàn nhã những cảnh điền viên, nơi họ tìm đến để tu dưỡng cái chí của mình. Thơ Mạnh Hạo Nhiên còn lại trên 260 bài, phần lớn là thơ năm chữ, trong đó thơ luật và bài thơ luật rất nhiều. Những bài thơ điền viên của ông đượm phong vị tươi mát, ấm cúng của chốn thôn dã đáng yêu, đồng thời có những bài rất súc tích ngắn gọn. Mạnh Hạo Nhiên ít dùng thể nhạc phủ và thể cổ phong, thơ luật và bài luật của ông tương đối nhiều, loại thơ này đối chọi chặt chẽ, ông đã có công trong việc phát triển thơ niêm luật [16;36]. Lý Bạch cũng nhận xét thích đáng về Mạnh Hạo Nhiên: “Ngô ái phu tử, phong lưu thiên hạ văn” (ta yêu Mạnh phu tử, phong lưu tiếng lẫy lừng).

Thơ điền viên của Vương Duy, ta thấy cảnh vật nông thôn hiện lên rất bình dị. Tư tưởng ông nhuốm màu Thiền, tình và cảnh trong thơ ông có sự u hoài lặng lẽ. Vừa nghe tiếng nước suối tuôn róc rách hòa lẫn với tiếng nhạc tiếng thiền dịu dàng thanh tịnh. Bức tranh thiên nhiên trong thơ ông hết sức tinh tế, có cái lặng lẽ thâm trầm với con người đang đăm chiêu tư lự như bài “Điểu minh giản”. Cảnh sắc thiên nhiên thật muôn màu, muôn vẻ, có sự kết hợp giữa màu sắc thanh âm tạo nên vẻ đẹp dịu dàng. Vương Duy là một nhà thơ, một nhà hội họa, một nhà âm nhạc, một nhà thư pháp, đã cống hiến nhiều về mặt nghệ thuật. Và Tô Thức đời Tống  nói:

Đọc thơ Ma Cật trong thơ có họa

Xem họa Ma Cật trong họa có thơ

Nhưng do ảnh hưởng tư tưởng phật giáo tiêu cực, do cuộc sống xa rời nhân dân, do cuộc đời đã có sai lầm đầu hàng An Lộc Sơn và làm quan cho chúng, nên thơ ông không có tính chiến đấu mạnh mẽ [16;39].

Phái lãng mạn: Hướng về cuộc sống thiên nhiên, thể hiện sự bất đắc chí, thích ngao du sơn thủy. Tất cả đều được thể hiện qua những ước mơ táo bạo, bay bỗng vượt lên hiện thực đen tối của thời đại, phong cách lại hào phóng, bay bỗng và Lý Bạch là đại biểu kiệt xuất của trường phái lãng mạn này. Lý Bạch ưa thích tự do và nuôi chí lớn, tự ví mình như con chim đại bàng. Tự do và chí lớn thấm nhuần hơn một nghìn bài thơ của ông, rất giàu tình người và tình yêu thiên nhiên. Ông không chịu khép tứ thơ mình vào một bất kỳ khuôn khổ nào, những bài viết theo đúng niêm luật chỉ chiếm một số lượng rất nhỏ. Người đời tặng danh hiệu cho ông là: thi tiên. Bởi ý cảnh trong thơ ông cực kỳ bao la, rộng rãi. Tác phong gồm đủ mọi tính cách: hùng tráng, phiêu dật, trầm uất, cuồng phóng, diễm lệ, thanh u,….Lời thơ tự nhiên, không gò bó bởi cách luật.

Lý Bạch vừa có hoài bão của một hiệp khách băn khoăn cứu khốn phò nguy, lại vừa có khát vọng của một Đạo gia muốn siêu trần thoát tục. Tính chất nửa tiên nửa tục ấy chính là đặc điểm thơ ông. Bì Nhật Hưu thời vãn Đường nói rằng: Từ khi nhà Đường dựng nghiệp đến giờ, ngữ ngôn ra ngoài trời đất, tư tưởng vượt xa quỷ thần, đọc xong thì thần ruổi tám cực, nghĩ rồi thì lòng ôm bốn bể, lỗi lạc dị thường, không phải là lời của thế gian, thì có lý Bạch.

Phái hiện thực: Đề tài chủ yếu là cuộc sống đẫm máu và nước mắt, đầy rẫy những bất công ngang trái. Đại biểu là thi thánh Đỗ Phủ. Đỗ Phủ xuất hiện là nguồn bổ sung quan trọng làm cho thơ đời Đường đạt đến đỉnh cao và là người mở đầu cho trào lưu thơ ca hiện thực. Thơ Đỗ Phủ riêng tả những nỗi đau thương. Từ nỗi đau của bản thân đến những biến cố của quốc gia và đặc biệt là nỗi thống khổ của nhân dân, của những hạng cùng đinh không tên tuổi.

Thơ Lý bạch có tình cảm lãng mạn của một tài tử an mệnh, lạc thiên. Thơ Đỗ Phủ lại nặng tính hiện thực, phô bày thực tế sinh hoạt của nhân dân, diễn tả tâm tư của con người, vẽ đầy đủ thảm trạng trong xã hội, khiến ta phải bùi ngùi, ngao ngán. Thơ Đỗ Phủ càng đọc càng thấm thiết, khi tuổi tác càng cao, kinh lịch càng nhiều. Trái lại thơ Lý Bạch chỉ như một hớp rượu cay, say người nhưng chóng tỉnh, và khi tỉnh rồi, thì chỉ còn hương vị thoáng qua [25;18]. Có thể nói, Đỗ Phủ là một thi nhân của sự kết tinh từ các thi nhân đời trước, là người kế thừa đời trước và mở đường cho đời sau.

Trung Đường: (766-827)

Lúc này, về bề ngoài tình hình trong nước có vẻ yên ổn, nhưng bên trong đã suy yếu rất nhiều, ruộng đất hoang tàn, nhân dân chết chóc rất nhiều. Điều này được thể hiện trong thơ ca rất rõ. Đặc biệt trong khoảng thời gian này xuất hiện hàng nghìn nhà thơ, trong số đó, đáng kể nhất là Nguyên Kết, Cổ Huống, Nhung Dục, Vi Ứng Vật, Lưu Trương khanh. Vi Ứng Vật và Lưu Trường Khanh thiên hẳn về loại thơ điền viên ẩn dật.

Dưới triều đại lịch, có mười thi nhân được gọi là “Đại lịch thập tài tử”. Nổi tiếng hơn cả là Lư Luân, Tư Không Thự và Lý Đoan với những bài thơ tống biệt làm theo thể ngũ ngôn luật thi. Phong trào thơ lúc này phát triển theo xu hướng hiện thực, trên thi đàn xuất hiện nhiều phong các khác nhau, ảnh hưởng của Lý – Đỗ cũng rất to lớn. Có thể nói, thơ ca thời Trung Đường vừa tiếp thu tính chất khỏe mạnh trong Lý Bạch, đồng thời cũng tiếp thu một cách toàn diện tính chất hiện thực trong thơ Đỗ Phủ.

Từ cuối Trung Đường, thi đàn xuất hiện một ngôi sao sáng chói: Bạch Cư Dị. Bạch Cư Dị sáng tác hơn 2800 bài thơ mà tự ông chia ra làm bốn loại: phóng dụ, nhàn thích, cảm thương, và tạp luật. Về đề tài, thơ ông bao quát một phạm vi rộng lớn, về ngôn ngữ, thơ ông đã đạt đến mức cực kì trong sáng. Ông vừa là một nhà thơ, vừa là một nhà lý luận thơ ca và đã cùng với nhà thơ Nguyên Chẩn, tổng kết những kinh nghiệm sáng tác có từ kinh thi và vạch ra cương lĩnh cho phong trào Tân nhạc phủ.

Song song với nhóm Tân nhạc phủ của Bạch Cư Dị, là nhóm Hàn – Mạnh do Hàn Dũ, Mạnh giao đứng đầu. Họ cũng nói lên tình cảnh khổ cực của nhân dân, nhưng khác với Bạch Cư Dị – chủ trương thơ ca phải bình dị để cho mọi người đều hiểu, nhóm Hàn – Mạnh đề xướng một lối thơ cao kì bí hiểm, vứt bỏ những chữ đã mòn, thay thế bằng những chữ mới, tạo những tứ thơ đột ngột thể hiện một sự cách tân, tạo phong cách độc đáo. Ngoài những điểm giống nhau, giữa Hàn Dũ và Mạnh Giao có những khía cạnh khác nhau. Hàn Dũ thì khí phách hùng hồn, hơi thơ mạnh mẽ, Mạnh Giao thì đi thật sâu ý nghĩ của bản thân, hơi thơ có phần tẻ lạnh.

Hai nhà thơ Lưu Vũ Tích và Liễu Tông Nguyên thường dùng lối thơ ngụ ngôn để đả kích bọn quan lại. Lưu Vũ Tích sở trường về lối thơ hoài cổ và dân ca, là nhà duy vật thô sơ, đã nhìn thấy sự đổi thay của xã hội và tự nhiên. Liễu Tông Nguyên hay tả cuộc đời lao động lam lũ của nhân dân. Thơ sơn thủy của ông khác hẳn thơ của Vương – Mạnh, chứa đựng mâu thuẫn và thống khổ của nội tâm, tỏ thái độ tích cực về cuộc sống.

Lý Hạ là một nhà thơ trữ tình vào bậc nhất. Sáng tác theo khuynh hướng lãng mạn. Tác phẩm của ông là sự kí thác tâm sự cá nhân nhưng cũng có nhiều nét của cuộc sống hiện thực, dùng bút pháp tượng trưng để gửi gắm lý tưởng và nỗi u sầu. Tuy vậy cũng có những câu chất phác mộc mạc. Loại thơ lãng mạn của ông cũng có phần tiêu cực, khác với trào lưu tích cực thời Thịnh Đường. Ông có một phong cách độc đáo, tân kỳ. Hơi thơ bi hùng dễ làm cho người đọc thấm thía. Lý Hạ là nhà thơ cuối cùng thời kì Trung Đường.

Vãn Đường: (827 – 904)

Lúc này, tình hình xã hội trở nên suy đồi, thuế khóa nặng nề, thưởng phạt bất công, quan lại đua nhau ăn chơi đàng điếm và thẳng tay bóc lột nhân dân. Nỗi thống khổ của nhân dân càng ngày càng lớn. Hiện tượng xã hội vô cùng phức tạp đó đã ảnh hưởng đến các nhà thơ. Văn học trở lại con đường duy mỹ.

Tiếp tục con đường Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, những nhà thơ như: Bì Nhật Hưu, Nhiếp Di Trung, Vu Phần, Tào Nghiệp, La Ẩn, Đỗ Tuân Hạc,…Tất cả đều lên án cái triều đại đang lăn xuống vực thẳm, đã làm cho phong trào thơ rộn rã lên một ít, những nhà thơ này thành tựu không cao lắm nhưng đa số đều xuất thân từ tầng lớp nghèo, tiếp cận với cuộc sống nhân dân, đứng trên lập trường tiến bộ mà tố cáo thống trị.

Ba nhà thơ nổi trội nhất của thời này là Lý Thương Ẩn, Đỗ Mục và Ôn Đình Quân. Lý Thương Ẩn là tác giả những bài thơ tượng trưng và những mối tình u ẩn. Ông rất tài tình trong khi sử dụng thể thơ thất ngôn luật thi, khiến ta liên tưởng đến Đỗ Phủ thời thịnh Đường. Đỗ Mục thì sở trường về lối thơ thất ngôn tuyệt cú. Thơ ông thuộc về nhiều loại: tả cảnh, ngôn tình, tự sự. Cấu tứ chặt chẽ, hình tượng trong sáng, lời thơ bình dị, âm điệu du dương, bấy nhiêu đức tính đã đưa nhiều bài thơ tứ tuyệt của ông lên đến đỉnh cao nghệ thuật. Ôn Đình Quân cũng nổi tiếng ngang với Lý Thương Ẩn. Ông là vị “khai sơn đại sư” của lối từ trường đoản cú, chính nhờ ông mà “từ” mới tách khỏi thi để trở thành một thể riêng biệt. Có ảnh hưởng  rất lớn đối với phong trào thơ ca đời Tống. Sau Ôn Đình Quân còn có Vi Trang mà nghệ thuật khá cao về xây dựng hình tượng và trau dồi ngôn ngữ.

 Kế thừa và phát triển đường lối văn học của Bạch Cư Dị và Nguyên Chẩn, Bì Nhật Hưu chủ trương văn học phải có giá trị nhận thức, qua văn học phải thấy được nỗi thống khổ của nhân dân và cả bộ mặt của xã hội. Dòng thơ hiện thực thời kì Vãn Đường không xuất sắc về mặt kỹ thuật nhưng nội dung tư tưởng tiến bộ đã gây ảnh hưởng đến đời sau.

Nhà thơ thần tiên Tào Đường với những bài Thiên Thai, đem lại thi ca thời này một sắc thái mới. Thời này có hai nữ thi nhân là Ngư Huyền Cơ và Tiết Đào. Ngư Huyền Cơ trước là danh kĩ, sau làm đạo sĩ. Tiết Đào rất quen thuộc với chúng ta, với hình ảnh “lá gió, cành chim”.

Tóm lại, thơ Đường có nhiều hình nhiều vẻ, nhiều phong cách, nhiều nhà thơ. Qua bốn thời kì sẽ thấy được quá trình diễn biến từ thịnh đến suy của chế độ phong kiến nhà Đường. Từ cách nhìn cuộc sống trong sáng trở thành tối tăm, u nhàn, từ sự sôi nổi trở thành thăng trầm, ngôn ngữ từ chỗ bình dị, trong sáng trôi chảy chuyển thành trau chuốt, cầu kì, kết cấu từ chỗ tự nhiên thư thái chuyển thành tinh tế, tỉ mỉ. tư tưởng của các nhà thơ theo mỗi thời kì có sự chuyển biến, học tập kế thừa, phát huy và sáng tạo cái mới mang phong cách độc đáo.

Trên đây, chúng tôi đã giới thiệu qua quá trình diễn biến và các phong trào thơ ca thời Đường.

 

 4. Hệ tư tưởng trong thơ Đường

Tùy theo sự phân chia, văn học của một thời kì hay văn học của một triều đại đều có hệ tư tưởng ảnh hưởng chủ yếu đến thơ ca.

 Đối với thơ ca Trung Quốc, đặc biệt là thời Đường, trên cơ sở thừa kế truyền thống văn hóa ưu tú của dân tộc, đồng thời giao lưu với các nền văn hóa khác, thơ Đường đã có bước nhảy vọt. Văn học thời Đường thịnh nhất là thơ. Với số lượng lớn, nó phản ánh tương đối toàn diện tình hình đất nước và đạt đến đỉnh cao về nghệ thuật. Và lúc này, cả Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo cùng tồn tại.

Nho giáo:

Trong quá trình phát triển lịch sử Trung Hoa, tư tưởng Nho gia xuất hiện tương đối sớm. Những cơ sở giúp cho Nho gia hình thành đã có từ lâu, đến thời Xuân Thu, với Khổng Tử, học thuyết này mới được sắp xếp lại một cách hệ thống. Về sau, Mạnh Tử, Đổng Trọng Thư và các nhà Nho đời Tống đã phát triển học thuyết này làm cho Nho học càng thêm hoàn chỉnh.

Khổng Tử và Mạnh Tử là những người có học vấn rất uyên bác. Khổng Tử, Mạnh Tử – những người sáng lập Nho giáo, là những nhà văn hóa – tư tưởng lớn của một thời, một nước, cho nên khi nêu lên triết thuyết và quan niệm đạo đức của mình, các ông đã thấy và phát biểu lên ước mơ, lí tưởng cao quí nhất của loài người, tinh hoa giá trị của con người về lẽ sống, về đạo lí, nhưng sống trong một thời đại xa xưa, một xã hội có giai cấp, tư tưởng của các ông cũng trói buộc con người vào trong khuôn mẫu giới hạn của thời đại và xã hội, nên nó đã trở thành nền tảng, khuôn thước của trật tự và bộ máy chình quyền phong kiến, từ xa xưa đã có ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội Trung Hoa và cũng có ảnh hưởng đến các quốc gia khác, các xã hội ít nhiều chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa.

Văn chương Nho giáo có một chủ đề đặc biệt quan trọng, luôn luôn tương tục lưu hành, đó là “Nhân Nghĩa”. Nhân nghĩa là nội dung cốt tử của Nho nên cũng là nội dung cốt tử của văn chương nhà Nho. Nhân nghĩa của Nho giáo được định hình nội hàm và mang ra giáo hóa, thi hành từ Khổng – Mạnh. Đối với thời đại nhà Đường, thơ ca cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều tư tưởng Nho giáo. Các thi nhân phần lớn đã lập nên công danh bằng con đường thơ ca. Với nguyện vọng “kinh bang tế thế” phò vua, giúp đời, làm cho đời sống nhân dân bớt đi khổ ải. Từ đó, đã tạo nên các nhà thơ sáng tác bằng bút pháp hiện thực, mà ta gọi là phái hiện thực với hai đại biểu cự phách là Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị.

Đỗ Phủ để lại hơn 1400 bài thơ, với số tác phẩm đó cho phép chúng ta nghiên cứu nhà thơ một cách toàn diện. Tư tưởng chính trị của nhà thơ thống nhất với tư tưởng sáng tác, tư tưởng ấy xuất phát từ Nho giáo, nó biến đổi do cuộc sống từng trải. Thời còn trẻ, Đỗ Phủ đã bước vào đời với sự hăm hở của ý thức làm “rạng nghiệp tổ tông”, ông muốn giữ truyền thống “thờ đạo Nho giữ chức quan”. Mặc khác, với nền chính trị tương đối sáng của thời đại làm cho ông cảm thấy phấn khởi trên bước đường công danh. Lý tưởng của ông được tạo nên từ truyền thống gia đình và chính trị khai minh của thời đại.

Giúp vua vượt Nghiêu Thuấn

Làm cho phong tục thuận hòa.

                                                     (Phụng tặng Vi Tả thừa trượng nhị thập nhị vận)

Sáng tác dưới ánh sáng tư tưởng Nho giáo, thơ ông là tấm gương phản chiếu thời đại và xã hội đời Đường, đạt đến đỉnh cao của thơ ca hiện thực trong văn học cổ điển Trung Quốc. Đỗ Phủ đã vạch trần sự xa hoa dâm dật của phong kiến thống trị. Trước hiện thực lớn của thời đại, người đương thời có thể có hai thái độ: một loại ca tụng tô vẽ cho phong kiến; những người theo Nho giáo tích cực thì vạch trần thống trị. Tuy cả hai cùng đứng trên quan điểm Nho giáo, nhưng về khách quan những lời tố cáo vạch trần phong kiến lại có tác dụng làm cho ta nhận thức bản chất xã hội đương thời. Trong “Tự kinh phó Phụng Tiên huyện Vĩnh Hoài ngũ bách tự”, Đỗ Phủ đã vạch trần cuộc sống xa hoa phong kiến “Chumôn tửu nhục xú” (cửa son rượu thịt để ôi) và nhà thơ đã đối chiếu với cảnh “lộ hữu đống tử cốt” (ngoài đường chết rét xương phơi trắng đường).

Đó là mặt bản chất. Đỗ Phủ mang lý tưởng chính trị “giúp vua vượt Nghiêu Thuấn” là muốn đem tài năng của mình góp phần vào sự phồn vinh của xã hội. Đỗ phủ đã chống lại bọn tham quan, hủ bại.

Bạch Cư Dị đã phát huy tinh thần hiện thực của Đỗ Phủ. Ông cũng vẽ lên bức tranh hiện thực của thời đại. Thế nhưng cuộc sống của ông đã quyết định tư tưởng của ông. Lúc làm quan ở địa phương, ông đã có dịp gần gũi nhân dân, lúc ở triều đình thấy được bộ mặt thật của bọn thống trị. Đồng thời, hồi còn trẻ ông cũng nếm đủ mùi cay đắng của cuộc đời, lại lớn lên trong gia đình nho học. Do đó, Bạch Cư Dị có thái độ tích cực vào đời theo kiểu Nho gia. Từ những năm trước 40 tuổi, ông mang lý tưởng “kiêm tế thiên hạ” (che chở cho thiên hạ), mong muốn đem văn học phục vụ chính trị phong kiến. Nhưng càng tiếp xúc với xã hội, với tư tưởng nhân đạo của Nho giáo nên ông chủ trương phải tự mình ra tham chính để thực hiện “Tế dân” che chở cho dân. Lúc này, cuộc đời làm quan của nhà thơ không vì danh lợi tầm thường mà vì muốn thay đổi cuộc sống khốn khó của nhân dân. Ông sáng tác thơ coi như là thực hiện lý tưởng chính trị của mình, có dịp bày tỏ nỗi khổ của dân nghèo cho vua hay. Cho nên, ông đã sáng tác nhiều thơ ca phản ánh hiện thực, phơi bày những xấu xa của xã hội, có tinh thần phê phán bọn thống trị. Khi mẹ chết, theo truyền thống Nho giáo, thời gian chịu tang phải ở lại nông thôn ba năm. Đó là thời gian đau khổ và bàng hoàng trong tư tưởng. Nhà thơ phải trải qua bước đường đấu tranh, thất bại, rồi lại đấu tranh tiếp tục thất bại. Cuối cùng, ông cảm thấy tư tưởng tiêu cực xâm nhập lòng mình. Do đấu tranh không nổi, ông bắt đầu thấy cần phải thoát khỏi đau khổ về tinh thần, do đó tư tưởng Nho giáo tích cực buổi đầu, nhà thơ chuyển sang tin đạo Phật, ông muốn làm một cư sĩ ẩn dật nơi điền viên theo kiểu Đạo giáo.

Nếu không được ngồi yên để làm quên những việc đời

càn dở, thì có thể làm kẻ uống rượu hát ca điên cuồng.

(Cưỡng tửu)

Đạo giáo:

Cùng thời xuất hiện với Nho gia, cùng có ảnh hưởng lớn như Nho gia đối với trạng thái tâm lý phương thức tư duy và nói chung tâm thức văn hóa Trung Quốc là Đạo gia. Thời Xuân Thu, trong hoàn cảnh đất nước loạn li, trật tự xã hội rối ren, ở Trung Quốc đã xuất hiện một số ẩn sĩ. Họ là những người có học thức, nhưng hoặc bị thất thế, hoặc không muốn lao vào cuộc đua chen trong xã hội nên họ đã lánh đời, sống cuộc đời bình thường trong chốn dân dã. Trên đường đi chu du các nước, Khổng Tử thỉnh thoảng đã gặp những người như thế. Họ chính là những người đặt cơ sở cho phái Đạo gia. Người đầu tiên đề xướng học thuyết Đạo gia là Lão Tử, sống vào thời Xuân Thu và người kế tiếp học thuyết này là Trang Tử, sống vào thời Chiến Quốc. Đạo là hạt nhân cơ bản của tư tưởng Lão Tử. Tình người có chỗ rất thâm sâu mà Nho giáo không thể động tới được. Nho giáo đúng nghĩa rất đoan trang, rất gần với nhân tình, rất chính đính. Con người mà có một ý muốn thầm kín chất chứa trong lòng như muốn xõa tóc đi lang thang, hát nghêu ngao, cái đó hẳn không thể được Nho giáo chấp nhận. Thế thì bọn người ưa xõa tóc đi chân không hẳn phải chạy về với Đạo giáo. Học thuyết của Đạo giáo là một “đại phủ định”. Nho giáo lấy lễ nghĩa để dạy người, lấy sự thuận với lẽ thường làm tôn chỉ, biện hộ cho giáo dục và lễ nghi của con người, Đạo giáo thì hô hào trở lại với tự nhiên và không tin vào lễ nghi và giáo dục.

Đạo giáo đại biểu cho một thế giới hồn nhiên có những thần tiên biến hóa lạ lùng, thể hiện ở tính cách lãng mạn: Điểm thứ nhất, luôn luôn chủ trương trở lại với tự nhiên, vì thế nảy ra tính lánh đời và phản kháng những gì làm mất tự nhiên và những trách nhiệm do văn hóa Nho giáo qui định. Điểm thứ hai, Đạo giáo chủ trương giữ nếp phong vị đồng ruộng trong lý tưởng nhân sinh, văn học, nghệ thuật, và chú trọng vào điểm thuần phác của nguyên thủy. Điểm thứ ba, nó đại biểu cho các thế giới tưởng tượng, biến hóa, đi đôi với một thần thoại thơ ngây về thuyết sáng chế. Có thể nói, Đạo giáo bao giờ cũng giữ tư tưởng lánh cõi đời, ở ẩn. Do điểm này chúng ta có thể hiểu rõ được đặc tính mê người của văn hóa Trung Quốc là phong vị điền dã trong nếp sống và phong, hoa, tuyết, nguyệt trong văn chương và nghệ thuật, cùng với khát vọng trường sinh bất tử.

Theo quan điểm của Đạo giáo, không có cái thiện tuyệt đối và cái ác tuyệt đối, không có chân lý tuyệt đối và dối lừa tuyệt đối – mọi khái niệm và giá trị đều tương đối. Mọi thứ trên thế giới đều tuân theo quy luật tự nhiên do Trời lựa chọn, nó đa dạng khôn cùng đồng thời lại trật tự. Đạo giáo hướng con người tới sự nhận thức trực tiếp bất kì một thể thống nhất nào, dù đó là sự vật, hiện tượng, thiên nhiên hay thế giới như một thể thống nhất. Nó dạy con người vươn tới tâm hồn thanh thản và thấu hiểu mọi đạo lí như một khối toàn vẹn.

Có thể nói, quan niệm cuộc đời như bóng câu qua cửa sổ, nhân sinh như mộng, sống chết như sự chuyển dịch bốn mùa cũng như chủ trương rong chơi tươi vui, đã có ảnh hưởng tích cực là không để cho công danh phú quí ràng buộc đến ngu muội mất hết tính độc lập, tự chủ nhưng cũng không có mặt tiêu cực, thường dẫn đến thái độ khinh mạn và trốn đời.

Lý tưởng Đạo giáo khuyến khích các nhà thơ, các họa sĩ Trung Quốc mô tả thiên nhiên, thôi thúc nhiều triết gia Trung Quốc khao khát tìm hiểu thế giới, lánh xa cộng đồng, sống tách biệt giữa lòng thiên nhiên. Thế giới thần tiên mà Đạo giáo cổ xúy đương nhiên là không giống thế giới hiện thực nhưng cũng không hoàn toàn tách biệt. Sau khi tu luyện thành tiên rồi vẫn có thể thường xuyên qua lại thế giới trần ai, thậm chí còn muốn trở về nhân gian báo thù, bênh vực chính nghĩa, ranh giới giữa nhân gian và thượng giới bị xóa nhóa. Điều đó đã nói rõ cho tư tưởng xuất thế của Đạo giáo vẫn có bao hàm tư tưởng nhập thế. Đạo giáo nhờ đó mà chiếm được địa vị chắc chắn trong dân chúng. Nhất về đời Đường, Đạo giáo được coi là Quốc giáo. Bọn thống trị đã mượn thần quyền để đề cao địa vị của vua quan, lợi dụng Đạo giáo và tôn thờ Đạo giáo để làm tê liệt ý chí phản kháng của nhân dân. Vua đời Đường tự xưng là con cháu họ Lý của Lão Tử (truyền thuyết Lão Tử tên là Lý Nhĩ). Đường Cao Tổ quy định trật tự sắp xếp ba đạo là Đạo, Nho và Thích. Còn Đường Cao Tông truy tặng Lão Tử danh hiệu “Thái thượng huyền nguyên hoàng đế”. Đường Huyền Tông lập Sùng huyền quán, trong khoa cử tăng thêm bộ môn Trang, Lão, Liệt, tứ tử khoa, đi đầu trong việc chú giải Đạo đức kinh, quy định học trò trong nhà đều phải có sách đạo đức kinh. Dưới sự hỗ trợ của giai cấp thống trị đời Đường, Đạo giáo phát triển nhanh chóng. Thời Huyền Tông cả nước có đến hơn 1687 chùa Đạo quan.

Đời Đường, Lý Bạch tự xưng là “trích tiên nhân” đã viết rất nhiều thơ về thế giới thần tiên, siêu thoát không vướng trần. Nghiên cứu tác phẩm Lý Bạch để tìm ra tư tưởng của ông thì cũng có nhiều tranh cãi. Bởi tư tưởng của Lý Bạch rất phức tạp. Có người cho rằng ông chịu ảnh hưởng của Nho giáo, cũng có người cho là ông ảnh hưởng Đạo giáo. Do đó, nhìn vào thời đại phồn thịnh của nhà Đường thì lúc này tư tưởng được tự do. Đạo giáo được khuyến khích, Nho giáo cũng không bị cấm đoán. Nho hay Đạo, Phật đều thuộc ý thức hệ của giai cấp thống trị. Đạo giáo khuyến khích người ta trở về với trạng thái nguyên thủy, tự nhiên. Nho giáo lại là tư tưởng nhập thế. Còn Phật giáo an ủi tinh thần con người bằng mối hy vọng sống ở cõi niết bàn. Nếu nói rằng Lý Bạch hoàn toàn chịu ảnh hưởng Nho giáo thì không hiểu nổi lối sống của ông. Bởi ông rất thích lối sống tự do, đi cầu tiên phóng đạo, vượt ra ngoài khuôn khổ nhưng ông cũng hết sức quan tâm đến chính trị thời đại. Như vậy, tư tưởng Lý Bạch là tư tưởng pha trộn giữa Nho giáo và Đạo giáo. Lý tưởng chính trị của ông là chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, nhưng ông không là một kẻ hủ Nho hoặc cuồng Nho, vì có lúc ông cũng châm biếm cả Khổng Châu, Nghiêu Thuấn.

Sở cuồng chính là ta

Hát rong cười ông Khổng

Hoặc:

Sự nghiệp Thuấn Nghiêu chi đáng sợ,

Lòng ta phơi phới vẫn coi thường.

Đạo giáo đã giúp ông đi chu du khắp nơi, tìm về với lối sống ẩn dật. Bởi ông cảm thấy bất mãn thời cuộc. Ông đã cùng những người ẩn dật lên núi Trúc Khê tập hợp thành nhóm “sáu vị ẩn dật ở núi Trúc Khê”. Tuy nhiên lối ẩn của ông không phải trốn đời thoát tục, mà nó mang tính chất chính trị, tính chất đợi thời. Đó là giai đoạn chuẩn bị để ra làm quan. Nhưng ông cũng thích lối sống khảng khái, bi tráng, hào phúng của các hiệp sĩ. Ông viết.

Nho sĩ đâu bằng người hiệp sĩ

Bạc đầu đọc sách có hay gì.

Phật giáo:

Phật giáo nảy sinh ở Ấn Độ vào thế kỉ thứ sáu đến thế kỉ thứ năm trước công nguyên. Người sáng lập là Sicđactha Gôtama con trai vua xứ Kapilavastu. Năm 29 tuổi anh ta xuất gia tìm thầy học đạo, 35 tuổi sáng lập Phật giáo.

Phật giáo truyền vào Trung Quốc lúc nào, giới học thuật mỗi người một ý, nhưng nhìn chung Phật giáo truyền vào Trung Quốc cuối Tây Hán đầu Đông Hán. Ảnh hưởng của Phật giáo thâm nhập khắp nơi. Phật giáo răn giữ ước thúc ngôn hành của con người, ngăn điều ác, tu dưỡng điều thiện dẹp lo âu làm trong sạch tâm linh. Thuyết Tam Pháp ấn là ba pháp tắc cơ bản của Phật giáo. Thứ nhất là “chư hành vô thường”, tức là mọi vật đều biến hóa vô thường, đời người vô thường bởi vậy tất cả là khổ. Thứ hai là “chư pháp vô ngã”, tức là mọi hiện tượng đều do nhân duyên hòa hợp mà thành, phút chốc lại diệt, không tồn tại chủ tể. Thứ ba là “Niết bàn tịch tịnh”, tức là thoát được vòng luân hồi của sinh tử, đến thế giới cực lạc. Nên khi lý trí bị thất bại, người ta thường phải nhờ vào Phật giáo.

Thời Tùy Đường, nhờ giai cấp thống trị tận lực giúp đỡ, Phật giáo Trung Quốc tiến vào giai đoạn cực thịnh. Đời Tùy tổng cộng có 3985 ngôi chùa, tăng ni 23 vạn sáu nghìn người. Đời Đường có 5 vạn ngôi chùa, tăng ni hơn 30 vạn người. Chùa Phật còn có đất đai rộng lớn được miễn thuế khóa, kinh tế nhà chùa rất phát đạt. Việc dịch kinh phật ở đời Đường rất có thành tựu. Bắt đầu từ năm thứ 3 đường Trinh Quán (629), đổi mới cách dịch truyền thống của tư nhân, nhà nước thuyết lập dịch trường, mời các vị sư có danh tiếng đảm nhận công việc dịch thuật. Có triều đại nhà Đường dịch được hơn 400 bộ kinh phật, 2000 quyển, xuất hiện các nhà kinh Phật nổi tiếng như Huyền Trang, Nghĩa Tỉnh,….

Phật giáo có ảnh vô cùng rộng lớn đến văn học cổ điển Trung Quốc. Hàng nghìn bộ kinh Phật được dịch, vốn đã là một bộ phận quan trọng trong kho tàng văn học cổ điển, trong đó không hiếm những tác phẩm trang nhã, đẹp đẽ đưa đến cho văn học Trung Quốc những ý cảnh mới, những cách tạo từ tạo câu mới. Không ít những nhà văn nổi tiếng như Vương Duy, Bạch Cư Dị đã chịu ảnh hưởng của chúng.

Đạo Phật ngay từ đầu, nó đã giữ vị trí bổ trợ cho Nho giáo và Đạo giáo, nhằm hướng con nguời đi đến cuộc sống cao cả về đạo đức và trí tuệ. Đạo Phật với nhận thức cuộc đời là bể khổ, tìm đến một thế giới cực lạc, không phải nhà thơ nào cũng theo Phật giáo, nhưng cảm hứng nhân sinh như mộng, bụi trần vấn vương, sống gửi thác về, thì hầu như các nhà thơ nhất là đời Đường đều có.

Thơ Đường là thơ của thời kì “tam giáo đồng nguyên” thấm nhuần cả ba cảm hứng Nho, Phật và Đạo giáo. Thạc sĩ Phùng Hoài Ngọc giảng viên trường Đại học An Giang trong cuốn văn học Trung Quốc dùng cho hệ đại học sư phạm ngữ văn, năm 2003, đã phân loại thơ Đường dựa vào tiêu chí cảm hứng chủ đạo đó là.

Cảm hứng Nho giáo: Thơ u hoài về thế sự, nặng niềm ưu tư.

Cảm hứng Đạo giáo và Phật giáo: Thơ nói về tình yêu thiên nhiên, thích xa lánh việc đời, hướng về Lão Trang và Phật giáo với tình cảm lãng mạn.

Có những bài thơ lẫn lộn cả hai cảm hứng. Trong một đời thơ, thi nhân phải nhiều lần đổi thay cảm hứng. Thông thường, thời trai trẻ “lập ngôn” bằng cảm hứng Nho giáo. Về già thì cảm hứng Đạo giáo giành thế chủ đạo.

Tóm lai: Ba cảm hứng này chi phối cách cấu tứ và cách biểu hiện của thơ Đường nói riêng và thơ ca cổ điển Trung Quốc nói chung. Chủ nghĩa lãng mạn của Lý Bạch rõ ràng là chịu ảnh hưởng của tư tưởng Đạo giáo. Cơ sở tư tưởng của phái điền viên sơn thủy mà Vương Duy là đại biểu có sự ảnh hưởng của Phật và Đạo giáo. Thơ ca hiện thực từ Đỗ Phủ đến Bạch Cư Dị thì lấy mặt tích cực của tư tưởng Nho giáo làm nền tảng. Và người đời thường gọi: thi tiên Lý Bạch, thi thánh Đỗ Phủ, thi Phật Vương Duy là như thế.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG HAI      CẢM HỨNG XUẤT THẾ TRONG THƠ ĐƯỜNG

 

Thế nào là cảm hứng xuất thế ? Qua những tài liệu mà chúng tôi đã đọc, nghiên cứu, chưa có công trình nào chuyên nghiên cứu về “cảm hứng xuất thế”. Ông Ngọc đã đề cập khái niệm “cảm hứng xuất thế” trong giáo trình văn học Trung Quốc mà chúng tôi đã nói ở phần hệ tư tưởng trong thơ Đường.

Cảm hứng xuất thế: đó là nguồn cảm hứng của thi nhân tìm về với thiên nhiên, tìm về với sơn thủy điền viên nhằm lánh đời hay lui về ở ẩn hoặc đi tu, không tham gia hoạt động xã hội nữa. Tìm nguồn vui từ người bạn đang ẩn dật bằng cách đến thăm hay nhắc đến cuộc sống của cố nhân hoặc hoài vọng về người xưa – có tấm lòng của kẻ sĩ ẩn cư với sự ngưỡng mộ, khâm phục của bản thân thi nhân đương thời. Đối với thi nhân đời Đường thì “cảm hừng xuất thế” chỉ mang ý nghĩa tạm thời – nghĩa là họ không hoàn toàn xuất thế (không tách hẳn với xã hội). Đó là sự băn khoăn về lẽ xuất xử, chi phối cảm hứng sáng tác của thi nhân bởi tư tưởng chủ đạo là Đạo giáo và Phật giáo.

“Cảm hứng xuất thế” là bắt nguồn từ bản thân thi nhân do bị ảnh hưởng của tư tưởng của Lão Trang hay tư tưởng của Phật giáo. Thời cuộc đã tạo nên cái nhìn “xuất thế” của thi nhân về cuộc đời. Thi nhân vẫn yêu đời, muốn nhập thế nhưng cuộc sống chính trị xã hội đương thời đã làm cho thi nhân không còn muốn nhập thế nữa, xuất thế từ sự đau đời, thương đời mà có được.

 

 1.Xuất thế và thú điền viên sơn thủy

 1.1 Công thành thân thoái

Sau khi nhà Tùy bị sụp đổ, một số nhà thơ tiếp tục phục vụ cho triều đại mới – nhà Đường. Thơ ca của họ thiên về ca tụng công đức nhà vua, với phong cách cũ và mang nặng chủ nghĩa hình thức. Đó là dòng thơ của phong thái cung đình. Khác với các nhà thơ thuộc phái cung đình, Vương Tích là một cựu thần của nhà Tùy nhưng chống lại tư tưởng ràng buộc của lễ giáo phong kiến. Về sáng tác, ông cự tuyệt lối thơ ủy mị rỗng tuếch. Ông chú trọng nội dung tạo sự chuyển biến đáng kể cho thơ Đường trong lúc bắt đầu chớm nở. Và ông đã tỏ ra là một kẻ tức thời muốn quay về sống một cuộc đời nhàn tản thể hiện trong “Dã Vọng”.

Đông cao bạc mộ vọng,

Tỉ ỷ dục hà y.

Thụ thụ giai thu sắc,

Sơn sơn duy lạc huy.

Mục đồng khu độc phản,

Liệp mã đới cầm quy.

Tương cố vô tương thức,

Trường ca hoài thái vi.

(Dạo bờ bên đông ngắm cảnh buổi chiều hôm,

Nhìn vơ vẩn nào có chuyên chú vào đâu.

Cây cối toàn đượm vẻ thu,

Núi non đều bảng lảng bóng tà.

Mục đồng lùa nghé lại nhà,

Ngựa săn về đem theo chim săn được.

Nhìn nhau không quen biết,

Hát ngao chạnh nhớ người hái rau vi xưa)

Di, Tề tức là Bá Di và Thúc Tề – hai ẩn sĩ sống trên núi Thú Dương, hái rau vi ăn, không chịu ăn thóc nhàChu. Ở đây, tác giả đã bày tỏ ý muốn là muốn quay về sống một cuộc đời ẩn dật để được ngắm cảnh đồng, hòa vào cuộc sống nơi thôn dã.

Mạnh Hạo Nhiên là nhà thơ nổi tiếng, đạt nhiều thành tựu. Những bài thơ điền viên của ông đượm phong vị tươi mát, ấm cúng của chốn thôn dã đáng yêu. Thơ ông có những bài súc tích ngắn gọn như bài “Xuân hiểu” – nhuốm màu Thiền của Phật giáo “Hoa rụng nhiều hay ít”. Hay “Anh lại chốn mây xanh, tôi về nơi núi biếc”. Bài thơ làm lúc tác giả tiễn người bạn vào kinh làm quan to, còn nhà thơ thì lui về ẩn cư. “Mây xanh” đối xứng với “núi biếc”, hình ảnh tượng trưng cho sự ngao du, sự trốn tránh cuộc đời, không tham gia vào hoạt động xã hội nữa. Thực tế, Mạnh Hạo Nhiên suốt đời không chịu ra làm quan đã tỏ ra cao khiết với một cuộc sống ẩn dật.

Cùng với Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy cũng là một đại biểu cự phách của phái sơn thủy điền viên. Đây là một nhà thơ có xu hướng Thiền. Thơ ông ngoài không gian vũ trụ còn có một không gian biểu trưng bằng hình ảnh khép cửa.

“Nhàn môn tịch dĩ tế, Lạc nhật chiếu thu thảo” (cửa nhàn vắng đã đóng, nắng chiều chiếu cỏ thu).“Bất uổng cố nhân gia, Bình sinh đa yểm phi” (Không uổng cố nhân đến, bình sinh thường đóng cửa). Đó là đóng cửa trước cao quan hậu lộc, chức trọng quyền cao để hòa vào thiên nhiên. Tạo nên sự vắng vẻ, tĩnh lặng, ông nói nhiều đến sơn không, nhân nhàn dạ tĩnh. Hình ảnh “nhân nhàn quế hoa lạc” nói lên khát vọng về cội, bởi như Lão Tử nói: “Phù vật vân vân, các phục quy kỳ căn, quy căn viết tĩnh” (cho hay sự vật rất đa dạng, vật nào cũng về cội rễ của nó, quy về cội gọi là tĩnh). Ngay cả trong đề tài tiễn biệt, Vương Duy cũng thể hiện sự đóng cửa trước cuộc đời nhưng chứa đầy sự lo âu về lẽ xuất xử.

Trèo non tiễn bạn vừa xong;

Non chìm bóng ác cửa lồng then mây.

Cỏ xanh xuân mới mọc đầy;

Vương Tôn kia hỡi về hay chẳng về ?

(Tống biệt)

Nhà thơ tìm về với lùm tre thanh vắng để dạo đàn, huýt gió ở tận nơi sâu thẳm của rừng sâu, hay chính là nơi sâu thẳm của tâm hồn, ông muốn xa lánh cõi trần để trở về với thiên nhiên bao la, hòa vào bản giao du không tận của vũ trụ.

Một mình trong lùm tre,

Dạo đàn lại huýt gió.

Rừng thẳm chẳng ai hay,

Rọi nhau có trăng tỏ.

                                     (Trúc lý quán)

Cuộc đời luôn trôi chảy, nó sẽ đẩy lùi tất cả vào trong quá khứ hay nói đúng hơn là con người sẽ bất động trước sự vận động của vũ trụ. Khi tuổi càng cao và sự nghiệp đã đạt đến vinh quang, các thi nhân đời Đường rất muốn quay về nơi rừng sâu núi thẳm để nhìn lại cuộc đời, bằng sự chiêm nghiệm và từng trải của mình, rồi chua chát về cuộc đời: nó chỉ là đường đi khó bởi qua cái nhìn của chí không thành và lý tưởng không đạt. Bằng sức tưởng tượng vô cùng phong phú, Lý Bạch đã xây dựng lên hình tượng bản thân, một con người luôn ôm ấp lý tưởng và luôn băn khoăn về cuộc đời. Có khi, ông đã đến với thế giới nhà trời, truyền cho tất cả thần sấm thần sét, thần gió thần mưa phải theo hầu. Ông không làm một minh quân ở hạ giới thì lên thế giới thần tiên vậy. Trong “Hành lộ nan” hiện lên một con người  không bằng lòng với hiện tại, không màng vật chất của bả vinh quang. Ta thấy trước mắt bày ra nào là chén vàng rượu ngon, mâm ngọc, đầy cao lương mỹ vị và có nhiều người đang ngồi hưởng những thứ đó, chỉ riêng ông luôn luôn nghĩ đến lý tưởng, nghĩ đến sự đời rối ren, đồng thời ông cũng muốn làm một kẻ ẩn sĩ. Tất cả thể hiện trong một tâm trạng đầy mâu thuẫn.

Do đó, tác giả đã cho thấy sự đối lập giữa hai hiện tượng tâm lý trái ngược. Trong bữa tiệc, hiện lên một con người đang suy nghĩ, sự suy nghĩ khác hẳn mọi người tầm thường. Con người đó mang tình cảm bay bổng, với ý chí phi thường.

Chén vàng rượu ngon rót hàng ngàn,

Mâm ngọc vị ngon đáng vạn tiền

Buông chén đũa lòng nào vui hưởng

Vung gươm ngó khắp lòng mênh mang

Muốn vượt Hoàng Hà nước đông khôn chảy

Sẽ lên thái hàng trời tuyết phủ che,

Khi nhàn ngồi câu cá bên khe

Bỗng mộng thấy cưỡi rồng lên trời đỏ.

(Hành lộ nan)

Khí phách anh hùng cao nhân của Lý Bạch thể hiện thật rõ nét. Lý tưởng sống của ông thật rõ ràng biết bao. Nhà thơ đã khinh rẻ thói thường của bao kẻ truy đuổi vinh hoa phí quí tầm thường. Ba năm được chiều chuộng trong cung vua, Đường Minh Hoàng xem ông như một “bồi bút” khiến ông chán nản bỏ đi trên đời này mấy ai được như Lý. Hành lộ nan là một chùm thơ gồm 3 bài, mỗi bài nó cũng có một ý nghĩa tương đối độc lập. Ở bài thứ hai, Lý Bạch cũng thể hiện một thái độ quay lưng lại với triều đình.

Lấy ai quét dọn Hoàng kim đài ?

Đường đi khó,

Về đi thôi !

Tác giả đã than thở không còn ai “quét dọn Hoàng kim đài” là sự phê phán gián tiếp. Đường Huyền Tông, người đã không biết tôn trọng tài năng nên rẻ rúng nhà thơ, đánh giá không đúng tài năng của nhà thơ. Nhà thơ đành phải “về đi thôi”, từ dùng lại của nhà thơ Đào Tiềm, bản chất là tích cực so với điều kiện lịch sử  đương thời vì nó biểu thị sự quyết tuyệt với triều đình đen tối.

Ở bài “Hành lộ nan” thứ ba nhà thơ viết.

Ta ngẫm từ xưa người thành đạt

Công thành chẳng thoái thảy tan xương.

Tử Tư vùi xác Ngô giang đó,

Khuất Nguyên tự tử xuống dòng Tương !

Hay:

Anh thấy chăng: Trương Hàn người khoáng đạt

Gió thu gợi nhớ trở về quê

Hãy vui chén rượu lúc còn sống,

Lưu danh hậu thế có cần gì!

Qua bài thơ này, Lý Bạch đã trình bày quan niệm xử thế “công thành thân thoái” của mình. Lý Bạch cho Hàn Tín, Tử Tư, Khuất Nguyên, Lục Cơ, Lý Tư là những người đã không biết rút lui khi công đã thành hoặc danh đã đạt, bởi vậy điều thiệt đến thân. Ông hâm mộ kiểu ứng xử của Trương Hàn. Mặt khác ông cũng không tán thành lối sống ẩn dật để giữ lấy sự “thanh cao cô độc” của Hứa Do, Bá Di, Thúc Tề. Tất cả những điều trên đã phản ánh mâu thuẫn trong quan niệm xuất xử của Lý Bạch. Ông cũng đã tạo nên con người với tư thế vũ trụ trong bài “Độc tọa Kính Đình sơn” (một mình ngồi với núi Kính Đình) rất độc đáo.

Chúng điểu cao phi tận,

Cô vân độc khứ nhàn.

Tương khan lưỡng bất yếm,

Duy hữu Kính Đình san.

(Chim bầy bay vút lên,

Mây lẻ đi một mình.

Nhìn nhau không biết chán,

Chỉ có núi Kính Đình)

Trong thơ cổ Trung Hoa, đôi khi “chim bầy” là tượng trưng đám tiểu nhân, “mây trắng” là tượng trưng cho người ẩn sĩ. Đám tiểu nhân “cao phi” lên lầu son gác tía, người ẩn sĩ nhàn tản không vướng bụi trần. Lý Bạch không chấp nhận sự bon chen vụ lợi, cũng không đành lòng nhàn tản quên đời. Suốt đời “thi tiên” dùng dằng giữa hai lực vừa hút vừa đẩy của xuất – xử. Xuất không thành, xử không an. Lý tưởng ông là “công thành nhân thoái”. Nhưng công chưa bao giờ thành, nên thân cũng chưa bao giờ thoái. Hợp lực của xuất-xử hội tụ lại, tạo nên một tư thế “con người – ngọn núi”. Giữa không gian tầm thường tẻ nhạt sừng sững một núi Kính Đình vững vàng kiên định. Giữa cõi đời tầm thường ô trọc vòi vọi một Lý Bạch với tâm hồn và chí thánh cao. Bởi lẽ đó mà người và núi mới trở thành tri âm tri kỷ để có thể “nhìn nhau không biết chán”.

Lý Bạch đã có nhiều bài thơ băn khoăn về lẽ xuất thế. Thông qua việc miêu tả cảnh thiên nhiên với vẻ đẹp vốn có của nó. Ông đã thể hiện thái độ đối với cuộc sống hiện tại. Đó là thái độ của kẻ sĩ bất bình trước thời cuộc muốn quay về cuộc sống ẩn dật trên cơ sở của tấm lòng đau đời. Bởi vậy, chúng ta không hề ngạc nhiên vì sao cách đây hơn một nghìn năm mà Lý Bạch lại có những câu thơ xuất thần, thể hiện một con người ngang tàng phóng túng.

Chênh vênh trên quán lầu cao

Giơ tay với được trăng sao trên trời.

Một con người đã từng có những câu thơ “hào phóng mà u uất”

Trừu đao đoạn thủy, thủy cánh lưu

Cử bôi tiêu sầu, sầu cánh sầu.

            Đó chính là nỗi sầu nhân thế. Nỗi sầu hôm nay cũng là nỗi sầu mãi mãi. Ông yêu thích cuộc đời nhàn nhã, gắn bó với núi sông, với mây xanh, với gió, với hoa đào….Nhìn cánh hoa đào theo nước suối trôi đi xa thẳm, cứ tưởng như cuộc đời ngao du sơn thủy của nhà thơ, cánh hoa đào trôi theo nước suối như tấm lòng của thi nhân muốn hòa vào cõi vô tận của không gian. Và ở đó là thế giới của tạo vật, của trời đất nó khác hẳn chốn nhân gian.

Hỏi ta: ở núi làm chi ?

Thong dong chẳng nói, cười khì cho vui.

Hoa đào theo bẵng nước trôi,

Có riêng trời đất, cõi người đâu đây.

(Sơn trung vấn đáp)

Và con người thong dong ấy đã hẹn gặp tri kỉ ở giữa “trời thẳm xanh”.

Bạn tìm hái cỏ tiên đi,

Cây xương bồ đẹp hoa thì thắm tươi.

Cuối năm nếu muốn sang chơi,

Cưỡi con rồng trắng giữa trời thẳm xanh

                           (Tống Dương Sơn Nhân Quy Tung Sơn)

Bạch Cư Dị là người đề xướng phong trào thơ hiện thực đời Đường. Thơ phúng dụ của ông là thơ “trị bệnh cứu người, bổ khuyết thời thế” và có tính hiện thực rất cao. Ông còn có một mảng thơ gọi là thơ nhàn thích, cảm thương tỏ ra ý chí tiêu trầm, thích vui thú với ruộng vườn, thích hưởng lạc, “vui chơi cho trọn tuổi đời”. Những khi được nhàn rỗi, nhà thơ lại tìm về với thiên nhiên vũ trụ. Ông đã không muốn trở về cuộc sống hiện thực chính trị xã hội nữa, muốn thoát khỏi lưới trần trở về cuộc sống ẩn dật nhưng trong tâm ông vẫn lo nghĩ về cuộc đời.

Tâm hữu thiên tải ưu,

Thân vô nhất nhật nhàn.

Hà thời giải trần võng,

Thử địa lai yểm quan.

(Lòng ta có mối lo nghĩ ngàn năm,

Thân không có một ngày nhàn nhã,

Bao giờ giải thoát được lưới trần,

Sẽ lại về chỗ núi này khép cửa nghỉ ngơi)

(Thu San)

Rõ ràng là từ nỗi đau buồn thời đại cùng với tuổi già của bản thân nên Bạch Cư Dị muốn làm một cư sĩ ẩn dật nơi điền viên. Đó cũng là sự ảnh hưởng của tư tưởng Lão Trang. Trong bài “Vọng giang lâu thượng tác” ông viết.

Ngã niên quá bất ngoặc,

Hưu thoái thành phi tảo.

Tòng thử phất trần y.

Qui sơn vị vi lão.

(Tuổi ta đã quá bốn mươi.

Lui về nghĩ thật là chưa sớm.

Từ nay giũ áo bụi trần gian,

Về ở ẩn trên núi chưa già)

Phải chăng cái lẽ “công thành thân thoái” là con đường thích hợp nhất mà người xưa đã đi. Nó dường như cái lẽ xuất xử thường tình của người xưa. Với Lý Bạch, bi kịch là ở chỗ công của ông chưa bao giờ thành nên thân ông cũng chưa bao giờ thoái thật sự. Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị là hai nhà thơ hiện thực xuất sắc nhưng về cuối đời lại thích tìm về cuộc sống thanh tịnh, cô đơn không để ý đến những vấn đề xã hội. Sang ViệtNam, Nguyễn Trãi là một nhà văn, một nhà thơ, một nhà chính trị, một nhà quân sự….Hội tụ cả một con người toàn tài như thế. Nhưng lẽ xuất xử của Nguyễn Trãi không hẳn là “công thành thân thoái”, mặc dù ông đã có thời gian sống ở Côn Sơn nhưng khi được mời ra làm quan thì ông cũng quay lại triều chính, để cuối cùng nhận án tru di tam tộc. Bởi Nguyễn Trãi là con người đau đời, nặng lòng với đời nên ông không thể sống dài lâu trong sự nhàn thích của ẩn sĩ và càng không thể “công thành thân thoái” thật sự. Điều này cũng có một ý nghĩa thiết thực với cuộc sống hiện tại của chúng ta ngày nay.

 

 1.2 Bất mãn thời cuộc và không màng danh lợi

Các thi nhân đời Đường không ít thì nhiều, đã có cái nhìn “bất mãn” đối với thời đại. Thực tại cuộc sống xã hội chính trị Trung Vãn Đường suy thoái đã làm cho họ buồn chán và muốn quay về núi thẳm, rừng sâu để hưởng một chút thanh nhàn hay một chút thư thái cho tấm thân. Họ đã quay lưng với xã hội, không bằng lòng với hiện tại. Đối với họ công danh, sự nghiệp chỉ là hư vô. Lúc này, thiên nhiên đã trở nên gần gũi và là bạn thân của họ. Đó cũng là sự ảnh hưởng ít nhiều của Đạo giáo và Phật giáo trong tư tưởng của họ.

Vương Tích tuy xuất thân từ gia đình thượng lưu nhưng lại sống trong một xã hội chiến loạn. Vì thế ông rất bất mãn với nhà Đường. Ông bất mãn vì bọn thống trị không biết quí trọng hiền tài. Bản thân cũng không thực hiện được nguyện vọng “kiếm tước phong hầu” của cá nhân, vì thế đối với xã hội Thịnh Đường ông vẫn coi khinh và muốn quay về cuộc sống của kể hiền triết ẩn cư.

Đi cho thỏa chí tung hoành,

Áo cầu ta khoác coi khinh thịnh Đường

Hay:   

Hát vãn nhớ Di Tề

Lư Chiếu Lân đã từng trải cuộc sống tù hãm, đau khổ nên ông cũng có một thái độ bất bình với thời cuộc. Những bài thơ nói đến cảnh ngộ cá nhân tuy bộc lộ tư tưởng tiêu cực nhưng cũng nói lên tâm trạng một số sĩ phu bất đắc chí.

Chỉ có non nam hoa quế nở

Áo người, đi lại thoảng bay hương.

Mạnh Hạo Nhiên cùng với Vương Duy là hai thi nhân nổi tiếng về thơ sơn thủy điền viên. Mạnh Hạo Nhiên, thiếu thời ở ẩn ở núi Lộc Môn, phía đông nam thành Tương Dương. Thơ sơn thủy điền viên của ông chủ yếu miêu tả các danh thắng Tương Dương, ở cố hương của ông. Cảnh sông núi, mây nước, cây cối, thuyền bè, trăng sao ở Tương Dương được ông miêu tả một cách bình dị mà thân thiết, nồng đượm hơi thở cuộc sống. Cuộc sống mộc mạc đơn sơ của nông gia, tình cảm nồng hậu với cố nhân, sự hài hòa của không khí thôn quê trong thơ ông đem lại ấn tượng khó phai cho người đọc. Với phong cách phóng khoáng, nhẹ nhàng, ẩn chứa, chí khí siêu thường, đã đem lại một tài năng cho ông. Qua những bài thơ của ông, ta cũng thấy được một niềm đam mê thích sống nơi thôn dã, để gần gũi và hòa vào thiên nhiên. Với cái nhìn bất mãn thời cuộc đã đem lại cảm hứng cho ông là muốn quay về cuộc sống ẩn cư.

Bắc khuyết hưu thướng thư,

Namsơn quy tệ lư.

(Cửa bắc đừng dâng thư nữa

Hãy về túp lều nát ở núi Chung Nam)

Hay có lúc ông cũng muốn trở thành một đạo sĩ xõa tóc.

Bóng ô đã gác non đoài,

Gương nga thấp thoáng bên ngoài ao đông.

Tóc xõa, hóng mát xong

Thư nhàn mở cửa nằm trong nếp nhà.

              (Hạ nhậtNamĐình, hoài Tân Đại)

Bởi cuộc đời ít kẻ tri âm, ông muốn trở về cỏ thơm.

Nơi kia vắng lặng, về thôi.

Vườn xưa khép cánh yên vui cảnh nhàn.

(Lưu biệt Vương Duy)

Vương Duy như chúng ta đã biết: “thi trung hữu họa, họa trung hữu thi”, ông cũng đã nói lên tiếng bất đắc chí của bạn hữu hay đó cũng là tiếng lòng của ông ? Bởi thơ là sự bộc lộ tâm sự của chính thi nhân.

Há mã ẩm quân tửu

Vấn quân hà sở chi ?

Quân ngôn bất đắc ý,

Quy ngọa Nam Sơn thùy.

Đán khứ mạc phục vấn,

Bạch vân vô tận kỳ!

(Xuống ngựa mời anh uống rượu

Hỏi anh đi đâu đấy ?

Anh rằng không được vừa ý,

Về nằm dài ven núi Nam Sơn.

(Mời anh) cứ đi. Tôi không hỏi nữa.

Mây trắng bay không bao giờ cùng!)

(Tống biệt)

Thơ sơn thủy điền viên của ông chủ yếu là miêu tả cuộc sống an nhàn và cảnh đẹp núi sông nơi ông ẩn cư ở GiangNam, Võng Xuyên. Ông có sự cảm nhận tinh tế, nhạy bén về thiên nhiên, nắm bắt được màu sắc, thanh âm và động thái của thiên nhiên, rồi phác họa, miêu tả lại bằng thơ một cách tự nhiên trôi chảy với ý cảnh độc đáo, muốn quay mặt với thực tại bằng cách qui y đạo Phật.

Chẳng hay Hương Tích chùa đâu,

Đi đôi ba dặm, lên đầu non cao.

Cây um đồng tắt vắng teo,

Núi sâu, chuông vẳng nơi nào tiếng đưa?

Suối kêu gành đá ria bờ,

Lạnh lùng bóng nắng chui lùa thông xanh.

Trời hôm tấc dạ thanh minh,

Quy y đạo Phật sửa mình là hơn.

   (Quá Hương Tích tự)

Do ảnh hưởng nặng của tư tưởng Đạo giáo, thơ ông nói nhiều đến thiên nhiên, cảnh vật nên Lý Bạch đã trở thành cây đại thụ của phái lãng mạn. Khi không được trọng dụng tài năng đúng chỗ, Lý Bạch cũng trở thành con người bất đắc chí, không màng đến danh lợi, phú quí nữa. Xem những thứ ấy là vật phù phiếm (buông chén đũa lòng nào vui hưởng – Hành lộ nan). Có lần vua gọi ông tới làm thơ, ông bèn uống rượu say mềm, bước đi chếnh choáng. Chán cảnh cung đình nên ông thường tìm đến bạn bè uống rượu. Những người bạn rượu của ông lúc này được người đời gọi là “tám vị tiên trong làng rượu”. Đỗ Phủ đã làm bài thơ tả Lý Bạch say mềm trong quán rượu có đoạn viết.

Lý Bạch một hũ thơ trăm bài

Quán rượu Trường An cứ nằm dài.

Vua gọi lên thuyền không thèm đáp,

Tự xưng khách rượu chốn tiên đài.

 (Án trung bát tiên ca)

Và Lý Bạch đã thể hiện sự xem thường danh lợi của mình trong bài “Giang thượng ngâm”. 

Công danh phú quý nhược trường tại,

Hán thủy diệc ưng tây bắc lưu.

(Nếu như công danh, phú quý mà tồn tại lâu dài,

    Thì dòng sông Hán Thủy hẳn phải chảy lên phía tây – bắc)

Hán Thủy là con sông phát nguyên tại tỉnh Thiểm Tây, chảy vào sông Trường Giang ở tỉnh Hồ Bắc, làm sao có thể chảy lên phía tây bắc được! Do vậy tiền tài, công danh sẽ không là gì cả đối với nhà thơ Lý Bạch. Chính điều này đã tạo nên phong cách thơ của Lý Bạch, nó thể hiện một sự ngang tàng, phóng túng, không chịu một sự bó buộc nào. Và ông cũng không hề khụy gối, khom lưng trước bọn quyền quí, trong bài “Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt”, ông viết.

Giã từ anh đi đây, biết bao giờ về ?

Tạm thả hươu trắng nơi ghềnh đá xanh

Lúc cần đi liền cưỡi ngựa rong chơi núi non danh tiếng.

Há chịu cúi đầu khom lưng thờ phường quyền quí,

Khiến ta không sao mở mặt mở lòng ?

Từ lẽ đó mà Lý Bạch lại tìm vào “chén rượu” để giải tỏa sự bất mãn thời thế của mình, tạo nên một nỗi sầu muôn thuở, chỉ có rượu sẽ làm cho quên tất cả.

Ta không muốn tỉnh chỉ muốn say rền,

Từ xưa thánh hiền đều vắng ngắt

Duy kẻ uống rượu được lưu danh.

  (Tương tiến tửu)

Bắt nguồn từ sự trải nghiệm cuộc đời, Lý Bạch đã trở nên chán ngán đối với thực tại. Ông đã đi ngao du sơn thủy khắp nơi và thường đi đến những nơi mà kẻ sĩ thường đến đó ở ẩn, để được hòa mình vào thiên nhiên vũ trụ.

Rượu ngon chuốc chén đầy vơi ta cùng

Tiếng hát lẫn gió thông lác đác,

Khúc ca tàn, xơ xác vẻ sao.

Mình say, bác cũng lao đao,

Cho xong một cuộc biết bao chuyện đời.

         (Hạ Chung Nam sơn, qua Hộc Tư Sơn nhân túc, trí tửu)

Lý Bạch là minh chủ của thi đàn lãng mạn Trung Quốc, đặc biệt là trong thời đại nhà Đường. Ông ưa ca xướng, rượu chè, không để ý đến công danh, thích làm bạn với trăng, để cả tâm hồn vào sông núi. Trăng cũng là đề tài, là nhân vật trung tâm qua nhiều bài thơ ông viết về trăng, trong bài “Bả tửu vấn nguyệt” thì.

Kim nhật bất kiến cổ thì nguyệt,

Kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân.

Cổ nhân, kim nhân nhược như thủy,

Cộng khan minh nguyệt giai như thử.

Duy nguyện đương ca đối tửu thì,

Nguyệt quang trường chiếu kim tôn lý.

(Người nay không thấy trăng thời xưa,

Trăng thời nay, từng chiếu người xưa.

Người xưa, người nay như nước chảy,

Cùng ngắm trăng sáng đều như vậy.

Chỉ mong khi ca hát trước mâm rượu,

Ánh trăng mãi mãi chiếu soi chén vàng)

Bản thân trăng là một khách thể, nó biến đổi theo quy luật chung của vũ trụ. Nhưng ở đây, trăng đã mang tính thời gian nối hiện tại với quá khứ. Qua đó, ông đã nêu lên triết lý công nhận sự tồn tại khách quan của trăng, nhưng trăng lại là cầu nối người nay với người xưa. Do vậy, trăng đã trở thành một nhân vật, nhiều lúc nó đã sống như một con người, có lúc vui, có lúc buồn, biết đi biết nhảy múa hát ca, có lúc là người bạn đường trong buổi chiều về nhà.

Chiều chiều bước xuống lưng đèo,

Ánh trăng trên núi cũng theo người về.

Cũng có lúc trăng bỗng trở thành người bạn khuây khỏa nỗi buồn, múa nhảy để vui lên trong chốc lát.

Giữa hoa một bầu rượu

Lẽ rót không người thân

Cất chén mời trăng ngân,

Ba người: trăng, ta, bóng.

Trăng đã không biết uống,

Bóng lại quẩn bên chân

Tạm cùng trăng với bóng,

Vui cho trọn ngày xuân

Ta hát trăng bâng khuâng

Ta múa trăng loạng choạng

Lúc tỉnh cùng nhau vui,

Say rồi buồn phân tán.

Gắn bó bạn vô tình

Hẹn nhau nơi Vân Hán.

(Nguyệt hạ độc chước)

Coi trăng như một người cùng vui chơi, nhảy múa, nhưng lại diễn tả nội tâm hết sức sâu sắc. Bài thơ không trực tiếp tả nỗi phiền muộn mà chỉ nói đến trăng, mình và bóng. Cả ba đều vui như bạn thân, nhưng ba nhân vật ấy chỉ là một mình trơ trọi. Toàn bài thơ là một điệu múa. Bóng với người nhảy theo một nhịp, vầng trăng cũng bâng khuâng. Tất cả bề ngoài là sự náo động rộn ràng, nhưng lại diễn ta một tâm hồn hết sức cô quạnh. Đồng thời, bài thơ còn là triết lý người với vạn vật hợp nhất, vũ trụ cùng sống, cùng chung chia xẻ vui buồn với con người khi con người không vừa ý với thực tại cuộc sống. Hành Đường Thoái sĩ người biên soạn cuốn 300 bài thơ Đường đã đánh giá bài thơ: Uống rượu một mình dưới trăng, bài thơ vui do đã khéo dựng nên hình ảnh ba người để bạn cùng trăng, bóng. Qua lớp lớp dàn dựng của bức tranh, sự cô độc càng được vẽ đậm nét. Đây không chỉ là mối tình mơ hồ trong cuộc đời tạm bợ hôm nay, mà còn hẹn nhau một mối tình gắn bó trong cuộc đời vĩnh cửu sau này trên cõi tiên.

Lý Bạch đã nói lên tiếng ca ngợi những bậc tiền bối có hứng thú với điền viên, thích một cuộc sống thanh nhàn nơi rừng xanh, biển cả. Bởi Lý Bạch cảm nhận, giữa ông và bật tiền nhân đã có một điểm chung là bất hòa với thời cuộc.

Ta yêu thầy Mạnh Hạo Nhiên,

Tiếng phong lưu đã lan truyền thế gian.

Trẻ thì mũ áo coi thường;

Bạc đầu, nằm giữa mây thông hững hờ.

Thường cùng với nguyệt say rượu;

Cỏ hoa ham thú, việc vua chẳng màng.

Núi cao, đâu thể sánh bằng!

Chỉ đành ngưỡng mộ mùi hương tuyệt vời.

(Tặng Mạnh Hạo Nhiên)

Trong bài “Tuyên Châu Tạ Thiếu Lâu tiễn biệt hiệu thư Thúc Vân”, cho thấy Lý Bạch muốn xa lánh thực tại cuộc sống xã hội mà chưa đủ quyết tâm, ông hẹn “ngày mai” sẽ xa lánh. Đó chính là sự day dứt không chọn lựa được giữa nhập thế hay xuất thế.

Khí ngã khứ giả vạn lí tống thu nhạn,

Loạn ngã tâm giả kim nhật chi nhật đa phiền ưu

Trường phong vạn lí tống thu nhạn,

Đối thử khả dĩ hàm cao lâu.

……………………………….

Trừu đao đoạn thuỷ, thuỷ cách lưu,

Cử bôi tiêu sầu, sầu cánh sầu.

Nhân sinh tại thế bất xứng ý,

Minh triêu tán phát lộng biên châu.

(Bỏ ta mà đi, ngày hôm qua đã không sao giữ được,

Làm rối loạn lòng ta, ngày hôm nay lắm chuyện ưu phiền.

Gió thổi dài muôn dặm, tiễn chim nhạn mùa thu,

Trước cảnh này, có thể chén say trên lầu cao ngất.

……………………………………………..

Rút kiếm chém nước, nước vẫn chảy,

Nghiêng chén tiêu sầu, sầu càng sầu.

Người sống ở đời không được như ý,

Sớm mai xoã tóc thả thuyền nhẹ chơi)

Bài thơ đã thể hiện sự ảnh hưởng của tư tưởng Đạo giáo đối với nhà thơ. Đó là thái độ “xõa tóc thả thuyền” nhẹ chơi trên sông của thi nhân Đạo gia.

Trong xã hội cũ, cho dù vào thời kỳ thịnh vượng nhất của thời Đường, bất công ngang trái vẫn là hiện tượng phổ biến. Bất công ấy cũng đổ lên đầu nhà thơ. Ông ôm ấp chí lớn, muốn làm “con cá vàng vắt ngang biển” nhưng ông không khỏi thất vọng. Ông viết: “Tôi vốn không bỏ đời mà đời bỏ tôi”. Có tài mà không được dùng, có chí không nơi thi thố, tâm hồn đa cảm mà bất lực trước xã hội. Điều đó tạo nên những vần thơ u uất, bất đắc chí của ông. Hàng loạt bài thơ “Hành lộ nan”; “Tương tiến tửu”; “Nguyệt hạ độc chước” 2 bài đã bộc bạch tâm sự ấy. Có lúc ông muợn rượu để giải sầu nhưng cái buồn vẫn đeo đẳng, biến thành phẫn uất. Trăng và rượu, tiên và kiếm kết hợp trong tâm tư đầy mâu thuẫn của nhà thơ. Thực trạng ấy có lúc khiến ông buông thả, hành lạc, nhưng chung quy tinh thần tiến thủ, vì cái đẹp, vì cuộc sống vẫn quán xuyến tư tưởng của nhà thơ. Ở ViệtNam, tứ thơ mạnh mẽ, say mê của Lý Bạch ảnh hưởng nhiều đến chinh phụ ngâm, thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ. Nhưng không ít người chịu ảnh hưởng mặt buông thả, hành lạc trong thơ ông, tiêu biểu là Vũ Hoàng Chương.

Ngoài Lý Bạch ra còn có rất nhiều nhà thơ khác, cũng thể hiện sự bất mãn của mình trước thời thế. Với Vi Ứng Vật thì bộc lộ ý bất mãn với tô thuế và muốn lui về ẩn dật như bài “Đáp thôi đô phủ”: Bị lỗi cũng cam lòng; năm cuối về vườn quách. Với Giả Đảo – thời trẻ từng làm hoà thượng, nên thơ chuyên đẽo gọt hình thức công phu, ông lựa chọn từng chữ, từng câu và ông cũng buồn bã quay về núi cũ khi cuộc sống không người tri âm.

Tri âm không thưởng thức

Núi cũ trở về nằm

Làm người quả thật là khó, không biết sống như thế nào cho hợp thời thế. Đây cũng là nỗi băn khoăn của người xưa về lẽ xuất xử. Và khi họ đã không bằng lòng với cuộc sống thực tại thì trong cảm hứng của họ luôn nghĩ về thiên nhiên, với thú điền viên sơn thủy hữu tình.

Ngẫu lai tùng thụ hạ

Cao trẩm thạch đầu miên

Sơn trung vô lịch nhật

Hàn tận bất tri niên.

(Ngẫu nhiên đến dưới gốc cây tùng

Gối đầu lên tảng đá mà ngủ

Trong núi không có lịch ngày tháng

Lạnh đã hết, không biết đến tháng năm!)

             (Đáp nhân – Thái thượng ẩn giả)

Lúc này, nhà thơ chỉ biết thời gian khi cảm thấy cái lạnh, cái nóng của mùa vụ, không cần biết đến ngày giờ. Ấy là cuộc sống xuất thế tránh khỏi mọi tục luỵ, vui với núi non ung dung tự tại. Xã hội nhiễu nhương khiến thi nhân chán ngán mà tìm vào nơi núi non làm bạn với cây tùng, không hề nghĩ đến danh lợi.  Bài thơ nói lên tông tích của một đạo sĩ đã tách mình ra khỏi đời, tự do tự tại, đi đâu không ai biết, về đâu không ai hay, có ai thấy người đến người nghỉ, dưới gốc cây cũng chỉ là một chuyện tình cờ bất chợt. Cả bài thể hiện phong thái thư nhàn, không vấn vương gì chuyện đời. Lúc nào, ở đâu cũng sẵn sáng nghỉ ngơi, yêu giấu các hình ảnh cây thông, tảng đá rất tầm thường, mà điển hình vẻ nên môi trường hoạt động của nhà thơ là cảnh núi rừng thú vị trong thiên nhiên bao la hùng vĩ. Hai câu thơ cuối nói lên quan niệm sống và hoạt động chính trị của nhà thơ. Ở đây nhà thơ đã tách mình ra khỏi đời, sống ngoài vòng cương tỏa, không kể gì ngày tháng, nên không quan tâm đến lịch, không có lịch. Nhà thơ không quan tâm gì đến xã hội, đến sự thay đổi của triều đại, của danh lợi.

Thi thánh Đỗ Phủ là con người luôn đau đời sẵn sàng nhập cuộc. Nhưng đôi lúc, ông nao lòng về cuộc đời, có sự nghiền ngẫm, chán ngán về cuộc đời.

Nhất phiến hoa phi giảm khước xuân

(Một cánh hoa rơi giảm vẻ xuân)

(Khúc giang I)

Một cánh hoa, một thực thể bé nhỏ đến vậy, cũng “ngậm” cả mùa xuân và nhà thơ cảm nhận xuân tàn trong một cánh hoa rơi. Đến khi gió thổi muôn cánh hoa bay thi nhân cảm nhận mùa “thu” của cái “tâm”(nỗi buồn) đang đến.

Phong phiêu vạn điểm chính sầu nhân

Thời gian lặng lẽ đi nhanh qua mùa hoa rụng, qua hai câu thơ, cứ suy ngẫm thật kỹ về lẽ biến dịch của sự vật thì mới thấy cần phải vui sống, mắc chi mà để danh tiếng hão ràng buộc tấm thân này.

Tế suy vật lý tu hành lạc,

Hà dụng phù danh bạn thử thân.

Gượng vui đấy, bởi vì buồn lắm đấy! Buồn vì thân này bị bó buộc trong vòng danh lợi. Thì “thánh” cũng phải biết buồn chứ sao!

Kim nhật hoa tiềm ẩn,

Camtâm túy sổ bôi.

Đãn sầu hoa hữu ngữ,

Bất vị lão nhân khai,

(Hôm nay uống rượu trước hoa,

Say sưa mấy chén gọi là làm vui.

Chỉ e hoa nói nên lời,

Em đây không nở cho người già nua)

 (Lưu Vũ Tích – ẩm tửu khán mẫu đơn)

Vẫn biết cái đẹp của hoa không dành cho “lão nhân” nhưng không vì thế mà “lão nhân” không trân trọng cái đẹp. Chính cách ứng xử đầy tinh thần nhân văn ấy của thi hào – triết gia Lưu Vũ Tích đã làm nên cái đẹp của thái độ sống, cái đẹp của chiều sâu ý thức tôn trọng quy luật biến dịch của vũ trụ. Ở đây, con người muốn tìm sự cảm thông giữa con người với thiên nhiên, tạo vật. Ngoài thú vui ngao du, ngắm hoa, xem trăng, uống rượu….Còn có cái tao nhã của kẻ sĩ, đó là một Khương Tử Nha đang thảnh thơi ngồi bên dòng sông phất cần câu trong bài: Tống Khổng Sào Phủ tạ bệnh quy du Giang Đông Kiêm trình Lý Bạch.

Sào phủ trạo đầu bất khẳng trí,

Đông tương nhập hải tùy yên vụ.

Thi quyển trường lưu thiên địa gian

Điếu can dục phất san hồ thụ

Thâm Sơn, đại trạch long xà viễn.

(Bác Sào Phủ lắc đầu không chịu ở lại,

Rắp sang đông, ra biển, theo làng khói mù.

Tập thơ, còn để lại mãi trong trời đất,

Muốn phất chiết cần câu giữa những cây san hô.

Loài rồng rắn thường ở những nơi núi sâu đầm lớn xa thẳm)

Qua khổ thơ, ta thấy thoáng một phần của cảm hứng xuất thế, muốn làm một kẻ câu cá bên sông – cái thú mà biết bao người xưa đã làm như thế. Có thể hiểu “loài rồng rắn thường ở nơi sâu đầm lớn xa thẳm” là ý muốn nói những người hoặc không màng danh lợi, hoặc bất đắc chí thường xa lánh việc đời.

Đặc biệt, trong thời kỳ Trung Đường, các thi nhân trở nên bất đắc chí đông hơn, số lượng họ từ quan về quê ở ẩn cũng nhiều hơn. Đây là thời kỳ xã hội vô cùng loạn lạc. Điều này đã tác động rất lớn vào tư tưởng của các thi nhân. Đới Thúc Luân – một con người tài giỏi nhưng về sau cũng từ quan, về làm đạo sĩ.

Say sưa kiếp sống long đong,

Sớm mai sợ lắng hồi chuông giục người.

                             (Giang Hương cố nhân ngẫu tập khách xá)

Vi ứng Vật – một người chuộng nghĩa hiệp, quyết chí học tập, đậu tiến sĩ. Nhưng về sau, ông cũng thích cuộc sống ẩn sĩ, tỏ thái độ xem thường vinh hoa phú quý, thể hiện tâm tình nhàn hạ của người muốn sống ngoài cụôc đời.

Sang hèn tuy khác bậc

Ra đường phải tranh nhau

Riêng ta không ràng buộc

Sống chẳng phải lo âu

Mưa phùn đêm rơi nhẹ

Cỏ mọc nào biết đâu

Núi xanh trời rạng sáng

Chim ríu rít nhà sau

Thiền sư đôi khi gặp

Tiều phu dạo cùng nhau

Thua kém mình yên phận

Phú quý chẳng bền lâu

(U cư)

Đôi khi ông cũng băn khoăn trách mình:

Hà nhân bất qui khứ

Hoài thượng đối thu san.

(Tại sao mình không trở về quê cũ

      Mà cứ ở trên sông Hoài, đứng trước núi thu ?)

   (Hoài thượng hỉ hội Lương – xuyên cố nhân)

Thường Kiến – thi đậu tiến sĩ, cùng với Vương Xương Linh, nhưng ông cũng là một kẻ bất đắc chí về công danh, đến ở ẩn nơi núi Ngạc, và một lần ông đã đến thăm Vương Xương Linh đang ở ẩn qua bài “Túc Vương Xương Ling ẩn cư”, bài thơ cũng cho thấy cảm hứng của ông muốn trở về cuộc sống “điền viên sơn thủy”, mà ông gọi đó là từ tạ cuộc đời.

Nếp đình tranh tranh lúc

Dược viện tư đài văn.

Dư tiệc tạ thời quá khứ,

Tây Sơn loan hạc quần

(Nếp đình tranh lúc nào cũng có bóng hoa,

Sân trồng thuốc màu rêu ẩm mượt.

Ta nay cũng từ giã việc đời,

Về làm bạn với chim loan, chim hạc ở non Tây)

Nhà thơ nói rằng mình cũng sẽ về ở ẩn. Lấy loan hạc làm hình tượng của niềm vui, nói về ở ẩn là nói theo ý thơ Giang Yêm đời Nam Triều: “Thử son cụ loan hạc, vãng lai tận tiên linh” (núi này có loan hạc, khắp nơi là cảnh tiên). Nhà thơ tỏ ý sẽ sống cảnh đời ẩn dật vui vầy cùng loan hạc. Về ẩn dật để trốn cuộc đời tạo loạn đã thành tâm nguyện nhà thơ mà cũng là lời khuyên đối với bạn.

Lưu Trường Khanh đậu tiến sĩ nhưng vì tính cương trực của ông đã làm cho ông phải khổ và ông cũng muốn trở về cuộc sống ở nơi rừng xanh, núi bạc.

Chùa Trúc Lâm xanh xanh,

Tiếng chuông chiều văng vẳng,

Đội nón, mang nắng tà,

Về núi xanh xa thẳm.

             (Tống Linh Triệt)

Châu Loan – một người bất đắc chí, về ở núi cối – kê, ông cũng muốn quay về cuộc sống ẩn dật qua bài “Tầm ẩn giả Vi Cửu Ư Đông Khê thảo đường”.

Tìm được nguồn tiên, thăm dật nhân,

Dần sầu, dần hết bụi trần gian.

Xuyên đường trúc, đủ len chân ngựa,

Vào khóm hoa, mới thấy người nhàn.

Liễu Tông Nguyên đỗ tiến sĩ, có những tư tưởng tiến bộ nhuốm tư tưởng hư vô, yếm thế, thiên về miêu tả cảnh sắc thiên nhiên, ông muốn trở thành một người câu cá trên sông.

Ngàn ngọn núi, chim bay đi hết

Muôn con đường, mất vết chân người

Ông già nón lá, áo tơi,

Đậu thuyền sông tuyết, riêng ngồi buông câu

(Giang tuyết)

 Qua sự phân tích trên, chúng ta thấy rằng các thi nhân thời Trung Đường đã có một cái nhìn không hài lòng với hiện tại, họ chỉ muốn tìm đến những nơi thanh vắng để tu dưỡng tâm hồn. Bởi cuộc sống hiện tại đã làm phiền nhiễu tâm hồn họ. Trước một thời đại như thế, họ hoàn toàn bất lực, đồng thời, họ cũng ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với thời đại nhưng chính họ không thể làm gì để thay đổi được. Điều đó dẫn đến một sự bất đắc chí, họ không cần đến cuộc sống xã hội chính trị nữa, họ muốn lánh xa nó đi, muốn trốn vào cái vô tận của vũ trụ. Tất cả đã tạo cho họ một lối sống chan hòa, ung dung, hợp với quy luật của tự nhiên tạo hóa, để tạo ra một lối sống thanh bần trong chốn núi rừng, hay ở nơi biển cả mênh mông với chiếc thuyền của ông già áo tơi ngồi buông câu.

Đến thời kỳ Vãn Đường, các thi nhân cũng nhìn thời cuộc với thái độ khinh bạc. Bởi xã hội lúc này có nhiều biến đổi, làm cho các thi nhân phải trốn tránh vào những bài thơ tình yêu (Lý Thương Ẩn); rượu chè, bài bạc (Ôn Đình Quân); Trần Đào thi hỏng tiến sĩ, sau ẩn cư ở Hoàng Châu; Nhiếp Di Trung – lớn lên nơi thôn dã, ông rất bất mãn trước thời thế.

 

    1.3 Đợi thời

Trong cuộc sống bình thường hàng ngày thì mỗi một người là một chủ thể. Tùy theo sự tác động từ phía bên ngoài mà cá nhân có những phản ứng tích cực hay tiêu cực trở lại với xã hội, sẵn sàng đối diện với thực tại, có người thì quay lưng lại với xã hội, không màng đến sự biến hóa vô thường của vũ trụ; có người thì tùy lúc, tùy nơi tùy thời mà có phản ứng lại với thực tại. Đó là lối sống cố giữ lấy mình trong sáng giữa lúc đen tối. Thi nhân đời Đường cũng thế, cũng có thi nhân ẩn lánh đời, khi cuộc đời cần đến thì họ sẵn sàng ra giúp. Nguyễn Trãi cũng đã từng về sống ẩn ở Côn Sơn nhưng khi được lệnh ra làm quan thì ông cũng ra giúp vua. Đó cũng là lẽ xuất xử của người xưa.

Lý Bạch cũng chán nản xin vua ra khỏi cung đình, ông đã đi ngao du khắp nơi. Tuy vậy, Lý Bạch vẫn tự tin và lạc quan. Trong bài thơ “Li biệt Trường An”  là sự thất vọng khi rời Trường An nhưng cũng không bi quan.

Còn có thể trông cậy vào tài lực của mình,

Không xấu hổ là một kẻ anh hùng trên trần thế.

Lý Bạch luôn luôn tỏ ra lạc quan tin tưởng vào tài năng của mình. Trong “Tương tiến tửu” ta thấy hình ảnh của nhà thơ chuốc chén rượu vui chơi thỏa thích và tin vào sức mình. Ông nói.

Khi đắc chí chơi cho sướng

Chớ để không chén lặng nhìn trăng.

Có tài ắt hẳn được dùng

Nghìn vàng tiêu hết lại còn trong tay.

Trong bài “Hành lộ nan”, Lý Bạch luôn nghĩ đến lý tưởng, sẵn sàng chờ đợi một thời cơ mới để có thể đem tài năng ra mà phục vụ, giúp ích cho đời.

Muốn vượt Hoàng Hà nước đông khôn chảy

Sẽ lên Thái hàng trời tuyết phủ che,

Khi nhàn ngồi câu cá bên khe,

Bỗng mộng thấy cưỡi rồng lên trời đỏ.

Chính sự mâu thuẫn trong lý tưởng nên ta thấy tư tưởng Lý Bạch đôi khi rất phức tạp, nó lẫn lộn cả Nho và Đạo. Nó thể hiện ở lối sống ẩn dật của ông. Song lối ẩn dật của ông không phải trốn đời, thoát tục mà là ẩn mang tính chính trị, ẩn để mà chờ đợi, nói đúng hơn giai đoạn chuẩn bị để ra làm quan. Ông hâm mộ sâu sắc lối sống khảng khái, bi tráng, hào phóng của các hiệp sĩ. Đây cũng là sự ảnh hưởng của Mặc gia (Nho sĩ đâu bằng người hiệp sĩ ?). Ông ví mình với các hiệp sĩ. Đó là những con người ngang tàng, khinh tài trọng nghĩa “giữa đường dẫu thấy bất bằng nào tha”.

Tóm lại: Trở về với sơn thủy điền viên cũng là một con đường của thi nhân. Họ đã nhìn cuộc đời với cái đẹp, cái toại nguyện hay ngược lại với sự bất mãn thời cuộc. Trở về với thiên nhiên như trở lại với chính mình, để tìm vào cái vô hạn của vũ trụ, trong đó có sự hòa quyện của cái hữu hạn – con người. Ở đấy, con người sẽ được thanh nhàn, tâm hồn sẽ trở nên trong sáng hơn. Con người bao giờ cũng muốn bản thân mình được nhẹ nhàng, thảnh thơi. Nhưng thực tế cuộc sống thì không thể làm được. Bởi cuộc đời là bể khổ, là chốn luân hồi. Từ đó đã tạo nên cảm hứng vượt lên thực tại để được sự thanh nhàn mà ta gọi đó là “cảm hứng xuất thế”, trở về với sơn thủy điền viên – là người bạn muôn đời của thi nhân. Trong thơ Đường thì cảm hứng xuất thế cũng được thể hiện rất đa dạng và khác nhau ở mỗi thi nhân. Nhưng chung quy họ đều muốn xa lánh thực tại, quay lưng với thực tại để tìm vào sự đồng điệu với vũ trụ, tạo vật. Tâm lý ưa chuộng nếp sinh hoạt điền viên đã bàng bạc khắp trong văn hóa Trung Quốc. Ngày nay giới quan liêu học giả mỗi khi nói đến “về vườn sinh sống” là họ nghĩ ngay rằng đó là một nếp sống phong nhã, đẹp đẽ và rất am hiểu lẽ đời vậy. Tâm lý ưa điền viên lưu hành rất mạnh đến không tưởng nổi; một tên rất gian ác trên đường chính trị cũng thường tìm cách giả bộ mình có một phần nào bản chất lãng mạn phong nhã của Lý Bạch. Theo nhận định hẹp hòi của tôi, bọn người đồi bại đó ban đầu đã có một ý nghĩ chân thực như vậy, vì dù sao họ vẫn là người Trung Quốc; mà đã là người Trung Quốc thì họ nhận ngay cái quý giá của đời người. Mỗi người đêm khuya đứng ngắm sao trời đầu óc họ lại nhớ đến bài thơ được học thuộc lòng từ hồi đẻ chỏm [5;398]                                                                                       

Trung nhật hôn hôn túy mộng gian

Hốt văn xuân tận cưỡng đăng sơn

Nhân qua trúc viện phùng tăng thoại

Hựu đắc phù sinh bán nhật hàn

(Mơ mộng say sưa cứ kéo tràn

Tiếc xuân lên núi gượng bàng hoàng

Gặp sư viện trúc vui đàm đạo

Cái kiếp phù sinh được chút nhàn)

 

2. Xuất thế và hoài niệm cố nhân

Tiền bất kiến cổ nhân,

Hậu bất kiến lai giả.

Niệm thiên địa chi du du,

Độc thương nhiên nhi thế hạ.

(Trước không thấy người xưa,

Sau không thấy kẻ sắp đến.

Nghĩ trời đất mênh mông không cùng,

Một mình bùi ngùi nhỏ nước mắt)

(Trần Tử Ngang – Đăng u châu đài ca)

Qua bài thơ này, Trần Tử Ngang cho thấy con người ở vị trí trung tâm. Con người là tâm đối xứng giữa quá khứ và tương lai. Tâm trạng và tâm thế của Trần Tử Ngang trên đài U Châu chính là cái “niệm” về sự vô cùng của vũ trụ và sự cô độc của bản ngã để rồi khát vọng của hội ngộ với “cổ nhân”, “lai gỉa”, có mặt khắp nơi trong “thiên địa du du” nhưng đành bất lực mà rơi lệ [7;137]. Hiện tại làm cho thi nhân phải chán ngán, mặc dù mình đang tồn tại trong hiện tại. Đó là “cảm hứng xuất thế” của thi nhân, họ không muốn “nhập thế” vào hiện tại. Tùy theo mỗi thi nhân mà có những cách “xuất thế” khác nhau. Có người lại chọn con đường đi chu du khắp nơi; có người lại về với nơi thôn dã vui với niềm vui tạo vật chan hòa; có người lại mơ tưởng, chìm vào ảo mộng xa xôi; có người lại quay về với thời gian quá khứ, nhớ về cố nhân….Nhưng tất cả đều có điểm chung, đó là “xuất thế” – mặc dù có đi vào rừng sâu, núi cao để ẩn cư hay không, hay vẫn ở giữa thực tại mà cảm hứng lại tìm vào hư không, huyễn hoặc, vui nhàn với niềm vui không phải là thực tại thì đó cũng là “xuất thế” rồi.

Qua khảo sát thơ Đường, ta thấy thơ Đường ưu tiên cho thời quá khứ. Thời quá khứ trong thơ Đường được thể hiện dưới dạng thời gian hoài cổ và thời gian ký ức (hồi tưởng kỷ niệm). Trong thơ Đường thì ta bắt gặp vô số tâm trạng hoài cổ.

Trường ca hoài thái vi

(Hát ngao chạnh nhớ người hái rau vi xưa)

Người “hái rau vi” tức là Bá Di, Thúc Tề – 2 ẩn sĩ thời Ân Thương. Ông nhớ đến người xưa và lấy họ để làm gương cho mình, muốn sống cuộc sống như Bá Di và Thúc Tề bởi hiện tại này đã làm cho ông không tìm được niềm vui. Ông đã theo tư tưởng vô vi của Lão Trang, hay uống rượu, thích trở về với thiên nhiên. Đây là một bức tranh nổi của đồng quê khi gần tối, có đủ cảnh xa gần, có đủ ánh sáng, màu sắc, có động, có tĩnh, phối hợp hài hòa khá đẹp. Nhưng nhà thơ vẫn không tìm thấy niềm vui yên tĩnh. Nhà thơ về nghỉ ẩn ở quê nhà vẫn thấy cô đơn hiu quạnh, nên chạnh nghĩ đến những khách ẩn ngày xưa là Bá Di, Thúc Tề, cũng cô đơn hiu quạnh ngay trên đất nước của mình. Bài thơ bắt đầu từ tả tình chuyển sang tả cảnh, rồi lại trở về tả tình, làm cho tình cảm thêm sâu lắng.

Tinh thần xả thân của Kinh Kha – một con người anh hùng của thời đại, vẫn còn làm giá lạnh nước sông Dịch. Lời ca vĩnh biệt của người tráng sĩ năm xưa làm cảm khái cả đất trời, nay vẫn như nguyên vẹn trong cảm khái của Lạc Tân Vương trong bài “Dịch thủy tống biệt”.

Thử địa biệt Yên Đan,

Tráng sĩ phát xung quan.

Tích hồi nhân dĩ một,

Kim nhật thủy do hàn.

(Nơi này khi từ biệt thái tử Đan nước Yên,

Tóc tráng sĩ dựng ngược làm nhô mũ.

Người xưa đã khuất rồi,

Nước sông ngày nay còn giá lạnh)

Trong ý niệm, thậm chí trong tiềm thức của thi nhân, cái gì của ngày xưa cũng đẹp. Thánh vương chỉ có ở thời cổ (Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang…), thánh nhân cũng chỉ có ở thời cổ (Sào Phủ, Hứa Do, Bá Di, Thúc tề…), hiền thần cũng chỉ có thời xưa (Y, Doãn, Lã Thượng, Chu Công, Gia Cát Lượng, Tạ An…), anh hùng cũng chỉ có anh hùng ngày xưa mới đáng ca ngợi (Hạnh Vũ, Trương Lương, Lý Quảng…) và mỹ nhân cũng phải là mỹ nhân thời cổ mới gây nên ở họ sự ngưỡng mộ (Tây Thi, Chiêu Quân, Phi Yến…), tài tử cũng là tài tử thời xưa và họ thường muốn sánh kịp những “tài tử ngày xưa” ấy (Khuất Nguyên, Tống Ngọc, Ban Cố, Đương Hùng…) [7,140]. Thi nhân Đường đã có sự cảm nhận và nhìn về “người xưa” một cách đích đáng, chân thực. Cho nên họ đã chọn lấy quá khứ – “người xưa” làm điểm tựa để vọng về tương lai là cái lý của hoài cổ. Qua đó, thi nhân đã gửi gắm một điều gì đó vào hậu thế, vào tương lai xa xăm.

Tích nhân dĩ thừa Hoàng hạc khứ

(Thôi Hiệu – Hoàng hạc lâu)

Bài thơ “Hoàng hạc lâu” là sự suy tư sâu lắng của những con người đương thời thường có khi bước lên một cao điểm như lầu Hoàng Hạc: thời gian là một đi không trở lại, người xưa đã qua không thể thấy, đời người là hữu hạn, vũ trụ là vô cùng, giữa xưa và nay, giữa hư và thực, giữa cái hữu hạn và cái vô cùng.

Đối với các thi nhân “cổ” là cái có giá trị nhất, bởi họ nhìn thực tại với “cảm hứng xuất thế”, nếu không “cổ” thì ít ra cũng là “cố, cựu” (cũ), thì mới đủ tin cậy, mới có giá trị để nói đến.

Bạn là “bạn cũ” mới quý, vì thế ta gặp rất nhiều “cố nhân” trong thơ Đường, các thi nhân hoài niệm về cố nhân bằng tình cảm thân thiết của tri kỉ.

Dạng chu tầm thủy tiện,

Nhân phỏng cố nhân cư.

Lạc nhật tình xuyên lý,

Thùy ngôn độc tiển ngư.

Thạch đàm khuya động triệt,

Sa ngạn lịch vu dư.

Trúc dữ kiến thùy điếu,

Mao trai văn độc thư.

(Thuyền dập dềnh tiện đường thủy,

Đi thăm tìm chỗ ở của cố nhân.

Giữa lúc mặt trời lặn trong lòng sông hửng tạnh,

Ai bảo mình chỉ vì thích cá ?

Đầm đá nhìn trong suốt,

Bờ cát uốn khúc xa.

Bãi tre có người buông câu,

Lều tranh nghe tiếng đọc sách)

(Mạnh Hạo Nhiên – Tây Sơn Tầm Tân Ngạc)

Bạn cũ thì bây giờ vẫn là bạn nhưng phải nói là “cố nhân” thì nó mới da diết, mới thể hiện niềm gắn bó của mình (nhất là khi tạm đi xa).

Phù vân du tử ý,

Lạc nhật cố nhân tình

(Đám mây trôi nổi là ý nghĩ của người đi xa

Ánh nắng chiều là tình của cố nhân)

                                    (Lý Bạch – Tống hữu nhân)

Thi nhân đã nhận thấy mình là nhỏ bé, cô độc giữa thực tại nên họ “hoài niệm về cố nhân” chính là vì khát khao vươn tới tương lai, khát khao thoát khỏi cái thực trạng mà họ đang có. Họ nhớ về bạn cũ, hay tìm nơi bạn cũ ẩn dật – đó tìm về quá khứ với một hy vọng mới về tương lai. Bởi quá khứ và tương lai cùng có một điểm chung: đều không phải hôm nay, đều khác với hôm nay – cái hôm nay đáng phải ngậm ngùi mà “thương nhiên thế hạ”! Đó cũng là sự xa lánh thực tại của thi nhân khi hoài niệm về cố nhân. Khi làm thơ thì điều trước hết là thi nhân muốn thể hiện tâm hồn mình do nhu cầu giải bày tự thân của họ. Điều quan trọng là: Hoài niệm về cố nhân chính là phương tiện biểu đạt tấm lòng không thể hòa nhập cùng thực tại. Đúng hơn là họ muốn “xuất thế” chứ không là “nhập thế” nữa. Bởi thi nhân đang không bằng lòng với thực tại. Thôi Hiệu không bằng lòng với thực tại vì thực tại chỉ còn trơ lại cái lầu Hoàng Hạc.

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Thử địa không dư hoàng hạc lâu.

Phật giáo cho rằng cuộc đời quá nhiều tang thương dâu bể, nhà thơ đau lòng trước những biến thiên, họ muốn giữ lấy quá khứ để khuây nguôi những nỗi đau lòng trước “những điều trông thấy”. Giữa thời cực thịnh và thơ được coi trọng  thì địa vị của nhà thơ cứ là bấp bênh mà thi nhân thường bất mãn. Họ còn được Phật giáo mách bảo rằng: cuộc đời này chỉ là một bể khổ hay chẳng qua chỉ là một sát ma như điện chặp trên dòng lưu chuyển của thời gian vô lương. Họ chỉ thích ngồi lại với kỉ niệm của ký ức hồi tưởng. Một thao tác thường thấy của thơ Đường là biến thành ký ức.

Chẳng hạn, hai người đang chia tay nhau, nhưng thời hiện tại chỉ nói đến trong nửa đầu, sang đến nửa sau của bài thơ thì nửa đầu đã biến thành quá khứ.

Vị thành triêu vũ ấp khinh trần

Quan xá thanh thanh liễu sắc tân

Khuyến quân cá tận nhất bôi tửu

Tây xuất Dương quan vô cố nhân

(Vương Duy – Tống Nguyên Nhị sứ An Tây)

Bạn hãy cùng tôi uống cạn chén rượu này, bởi vì một khi đã ra khỏi Dương quan thì không còn ai là cố nhân nữa! Vậy là con người đi tới tương lai mà cứ ngoái đầu nhìn lại quá khứ. Phút tiễn đưa bỗng thành quá khứ. Hiện tại nhiều khi được cảm nhận như một quá khứ gần. Đêm mưa thu hôm nay là ký ức được gợi lại trong câu chuyện bạn cùng ta nhắc đến lúc ngồi bên cửa sổ phía tây.

Quân vấn quy kỳ vị hữu kỳ

Ba son dạ vũ trưởng thu trì

Hà đương cộng tiễn tây song chúc

Khước thoại Ba Son dạ vũ thì.

(Bạn hỏi ngày về, chưa hẹn được

Đêm mưa núi Ba ao thu đầy nước

Bao giờ ở bên cửa sổ phía tây cùng chong đèn

Lại cùng trò chuyện về lúc mưa đêm ở núi Ba)

(Lý Thương Ẩn – Dạ Vũ ký Bắc)

Cách cảm nhận và thể hiện này đã nhanh chóng biến các hình ảnh của hiện tại thành ký ức, gợi nên không gian và thời gian xa xăm để con người hoài niệm.

Với sự ảnh hưởng của Đạo giáo sâu nặng, Lý Bạch cũng có lần đi thăm đạo sĩ Đái Thiên Sơn nhưng không gặp và ông đã sáng tác bài thơ “Phỏng Đái Thiên Sơn đạo sĩ bất ngộ” để nói lên tình cảm của mình đối với cố nhân.

Dã trúc phân thanh ái

Phi thuyền quải bích phong.

Vô nhân tri sở khứ,

Sầu ỷ lưỡng tam tùng.

(Trúc rừng nổi bật lên nền trời xanh

Suối chảy như bay treo trên núi biếc.

Không ai biết đạo sĩ đi đâu,

Buồn tựa bên vài ba gốc thông)

            Lý Bạch đã không xác định công danh là lẽ sống, vấn đề ông theo đuổi chính là làm cho con người được hạnh phúc, được cất cánh bay lên. Tuy nhiên thực tại lại phủ phàng, ông chỉ được vua dùng như một “bồi bút” ngự dụng; ông chỉ muốn say không muốn tỉnh khi tiễn bạn Thúc Vân.

Muôn dặm gió thu đưa cánh nhạn,

Cảnh ấy lầu cao đáng dốc bầu.

Văn Thái Bồng Lai chất Kiến An,

Ngang hàng Tiểu Tạ thanh tao nguyệt !

Tứ hùng hứng lạ vút bay lên,

Muốn đến trời xanh xem vần nguyệt.

Con đường hoạn lộ của Thúc Vân đã gieo vào lòng Lý Bạch cái ý thức về bi kịch đời mình. Ông ngưỡng mộ chân thực về tài năng và cốt cách văn chương của bạn. Văn chương có yếu tố Bồng Lai lãng mạn “xuất thế”, lại vừa có khí cốt “nhập thế” của “Kiến An thất tử”, lại cũng có nét trong sáng thanh thoát của Tạ Diểu. Lý Bạch cảm thấy cô đơn, buồn chán giữa thực tại muốn nâng mình lên, đến với vầng trăng lồng lộng giữa trời. Ông cảm nhận giữa cõi đời này không ai là tri âm, chỉ lẽ loi một mình như thơ. Và trong bài “Dạ Ngưu Chữ hoài cổ” không ai là bạn cố tri để nghe ra tiếng thơ của ông.

Ngưu Chữ tây giang

Thanh thiên vô phiến vân

Đăng chu vọng thu nguyệt,

Không ức Tạ tướng quân,

Dư diệc nâng cao vịnh

Tư nhân bất khả văn

Minh triêu quải phàm khứ

Phong diệp lạc phân

(Bến Ngưu đêm ở Tây Giang,

Trời xanh xanh biếc, mây quang làu bàu.

Ghé thuyền lên ngắm trăng thâu,

Tạ tướng quân hỡi ở đâu chốn này ?

Thơ ta dù có ngâm hay,

Ngâm lên chăng nữa người rày không nghe.

Sáng mai treo cánh buồm đi,

Lá phong rụng xuống sông kia bời bời)

Thi nhân khao khát, dõi tìm một tâm hồn đồng điệu. Trên bến Ngưu Chữ thi nhân nhớ về mối tình tri kỉ đã được khắc ghi ở đây, một tiếng thơ, một lời ngâm vịnh của Viên Hoằng đã được Tạ Thương nghe, Tạ Thương hiểu hết nỗi niềm của người xa lạ đó. Họ trở thành tri kỉ tri âm vì đã có sự giao hào đồng điệu cùng nhau. Nhớ về quá khứ, thi nhân cảm thấy xót xa cho mình, không ai trong cõi đời hiện tại nghe ra những cung bật réo rắt trong lòng mình. Ông cảm thấy ngao ngán về thực tại, dù thi nhân đã chọn cho mình cách sống vượt ra ngoài vòng bủa vây của thế tục, ông vẫn thích hoài vọng về người xưa, “hoài niệm về cố nhân”. Nên khi đối diện với trăng, với bóng dáng của mình để nguôi ngoai nỗi niềm lẽ loi với thực tại, của một tâm hồn ngạo đời, bất cần đời như thi nhân.

Trong bài “Tặng Mạnh Hạo Nhiên”, Lý Bạch đã thể hiện lòng hoài niệm về cố nhân, ca ngợi về cố nhân, trân trọng và yêu quí việc xuất xử của Mạnh Hạo Nhiên. Thi nhân thấy mình kém hơn cố nhân đành phải “Đồ thử ấp thanh phân” (tôi đành đứng xa mà ngưỡng mộ làn hương thanh khiết của thầy ở nơi đây).

Đối với Vi Ứng Vật thì lại bắt chước người xưa, ở bài thơ “Hiệu Đào Bành Trạch” thì ông lại bắt chước “say khước” của Đào Tiềm thời Tấn.

Xuyết anh phiếm trọc giao,

Nhật nhập hội điền gia.

Tận túy mao thiềm hạ,

Nhất sinh khởi tại đa.

(Ngắt nhị hoa ngâm vào rượu đục,

Lúc mặt trời lặn, họp mặt các bạn nhà nông,

Dưới hiên nhà tranh, uống thật say khước,

Ở đời, có cần chi nhiều ?)

Giả Đảo – một thi nhân Trung Đường cũng buồn chán trước thực tại và ông đã đi tìm người ở ẩn nhưng không gặp.

Tùng hạ vấn đồng tử

Ngôn sư thái dược khứ,

Chỉ tại thử sơn trung,

Vân thâm bất tri xứ.

(Dưới bóng thông hỏi tiểu đồng,

Em nói: “Thầy tôi đi hái thuốc vắng,

Chỉ quanh quẩn trong núi này,

Nhưng mây mịt mù chẳng biết nơi nao”)

Tình cảm tri âm thì bao giờ cũng cao đẹp, ngời sáng. Lý Bạch và Đỗ Phủ là đôi bạn  tri âm. Những vần thơ của Đỗ Phủ về Lý Bạch bằng tất cả tình cảm sâu đậm của một tri kỉ. Ông luôn ngưỡng mộ và đề cao tài năng cảu bạn (Xuân nhật hoài Lý Bạch), hiểu được cá tính “nghênh ngang táo tợn” (Tặng Lý Bạch), luôn ưu tư dõi theo từng bước thăng thầm của bạn. Khi ông hay tin Lý Bạch bị bắt và bị đày đi Dạ Lang, ông đã thương xót và sáng tác nên ba bài thơ “Thiên mạt hoài Lý Bạch”, “Bất kiến”,  “Mộng Lý Bạch” là sự thể hiện tập trung cao độ lòng hoài niệm của thi nhân đối với bạn hữu.

Mẫn tiệp thi thiên thủ,

Phiêu linh tửu nhất bôi.

Khuông sơn độc thư xứ,

Đầu bạch hảo qui lai.

(Bạn làm thơ rất mau lẹ, có đến ngàn bài,

Bây giờ đang phải nổi trôi, lưu lạc với chén rượu.

Núi Khuông – Lư là nơi bạn từng đọc sách khi xưa

Đầu bạc rồi bạn hãy trở về nơi đó.)

(Đỗ Phủ – Bất kiến)

            Mở đầu bài thơ là một khoảng không gian xa xôi ảo giác không có hạn định, “thiên mạt”. Không gian được nhìn từ chiều sâu của tâm tưởng thi nhân về người bạn mình. “Quân tử ý như hà?” (không biết sao rồi ý nghĩ của ai), thi nhân không biết bạn có còn bầu nhiệt quyết như xưa, vẫn hăng hái xông pha, có còn thích ngao du hay đã tỏ ra ngao ngán về thế sự. Câu hỏi ấy tạo nên một sự lơ lửng trong lòng thi nhân, chỉ còn biết trông theo cánh nhạn đưa tin. Bài thơ thể hiện tâm trạng chới vớ hụt hẫng của một người luôn gởi lòng hoài vọng đến bạn cố tri. Và thi nhân hoàn toàn bất lực chỉ biết làm thơ gieo tặng sông Mịch –La.

Tóm lại: văn học là khoa học về con người (Gorki). Đó là con người “xuất thế” hay “nhập thế”, ý thức rõ thực tại và ý thức rõ bản thân mình. Trong thơ Đường các thi nhân mỗi người mỗi vẻ. Điều khiến các thi nhân quan tâm nhiều nhất là lẽ xuất xử của kẻ sĩ. Xuất thế hay nhập thế, hòa nhập vào dòng chảy của cộng đồng hay đứng bên lề chế độ; trở về với sông núi hay về bên lũy tre an nhàn cuộc sống “cần câu” hoặc “cánh buồm”; hay gác bỏ ngoài tai những sự đời, những vinh hoa phú quí với công danh rạng rỡ; hay hướng lòng mình về bạn cố tri, ca ngợi về lẽ xuất xử của cố nhân; hay lại tìm niềm vui an ủi từ nơi người bạn cố nhân….Đó là cái “cảm hứng xuất thế” của các thi nhân đời Đường, dù các thi nhân đang hiện hữu giữa thực tại. Thi nhân đang ngắm nhìn cuộc đời mà cứ tưởng như là giấc mộng phù du, hay là một giấc mơ triền miên với tấm lòng xem cuộc đời là mộng ảo. Bởi tất cả như là vô hình của cái hữu hình hóa. Nó đang ẩn chìm, uẩn khúc ngay trong lòng của thi nhân đời Đường.

 

 3. Xuất thế và quan niệm cuộc đời là mộng ảo

3.1 Quan niệm cuộc đời như ảo mộng

Chúng ta có bao giờ nghĩ cuộc đời như ảo mộng không, hay có lúc nào đó chúng ta đã băn khoăn về “sự đời”, hay có lúc chúng ta hân hoan sau sự chiêm nghiệm và cũng có lúc chúng ta chán nản sau sự chiêm nghiệm về sự đời. Và như thế, chúng ta càng trưởng thành hơn sau khi tự nhìn nhận về bản thân. Nhiều khi chúng ta nghĩ rằng: “thời gian như bóng câu qua cửa sổ” và đời người có là bao. Phật giáo cho là đời người chỉ xoay quanh: sinh, lão, bệnh, tử cho nên nó phải tìm đến một điểm tựa của tinh thần – đó là cõi “niết bàn”. Còn Đạo giáo thì nó giúp người ta thêm sự dày dặn trong cách nhìn cuộc đời.

Độ tuổi trẻ thì chúng ta mãi riết theo công danh với tấm lòng hăng say háo hức, tuổi càng cao thì người ta càng cảm thấy đơn độc và nhìn cuộc đời bằng bề dày của kinh nghiệm, hơn thế ở tuổi cao người ta thích quay về với quá khứ của thời niên thiếu, sống nhiều với kỉ niệm, lại xem đời người sao mà ngắn ngủi quá – nó chỉ bằng “cái chớp mắt” hay như “một giấc chiêm bao”. Đó chính là “cảm hứng xuất thế” có trong mỗi đời người. Nó có được khi người ta vấp ngã, hay khi người ta chán nản, hoặc khi buồn tẻ cô độc một mình. Điều đó chính là cảm xúc dâng trào bất chợt, với thi nhân cái cảm xúc dâng trào bất chợt ấy lại trở thành cảm hứng, đẻ rồi từ đó thi nhân lại cho ra đời những tác phẩm tuyệt tác. Thi nhân đời Đường là như thế đấy. Chính từ sự hiểu đời, đau đời mà thi nhân đời Đường không thể nào thay đổi được thực tại. Dẫn đến, họ trở nên bi quan mà về với núi rừng để tìm nguồn cảm hứng lạc quan, hòa vào vũ trụ. Đó chính là nguồn vui mà họ có thể tìm thấy giữa thực tại đen tối này và đó cũng là ánh sáng “mầu nhiệm” để đốt lên ngọn lửa tình đời ấm áp trong thi nhân đời Đường.

Thời gian càng trôi qua, cuộc đời càng biến hóa. Ngay cả sự nuối tiếc và câm thù cũng biến thành một bài ca hay sẽ trở thành một cái gì đó hư vô chìm vào dĩ vãng. Thôi Hiệu đã ý thức rõ về không và thời gian, về sự tồn tại của đời người qua quá khứ và hiện tại, giữa hưng và suy trong bài “Hoàng hạc lâu”.

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,

Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Bạch vâv thiên tải không du du

(Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi rồi

Lầu Hạc vàng còn trơ lại đây.

Hạc vàng một khi đã bay đi, không trở lại nữa

Mây trắng nghìn thu lởn vởn hoài)

Bốn câu thơ như nói lên tấm lòng hoài cổ của thi nhân, làm cho người đọc nhận thấy một sự trôi trượt của đời mình và điều ấy phản ánh một chủ đề đang biến đổi: Một phương tiện chuyên chở cho phép đạt tới thế giới bên kia theo truyền thuyết của Đạo giáo. Một cái tên trông thấy rỗng mà thế giới con người dính líu với nó. Một hình ảnh tượng trưng cho sự bất tử đã biến mất [19, 171].

Hình ảnh hạc vàng đã gợi lên hình ảnh mây trắng (sự tương phản giữa chuyển động của chim và tính chất vô tư của mây, màu sắc cũng tương phản). Mây trắng gợi lên rất nhiều ý nghĩa: mơ mộng, chia ly, tính chất hư ảo của mọi vật trên trần thế. Hoàng hạc vắng bóng, chỉ còn lưu lại một vũ trụ cô đơn, ở đó, từ thuở ấy, mọi ước mong đều tỏ ra hão huyền. Cuộc đời như một giấc mộng trong kiếp sống nhân sinh tuần hoàn, biến đổi, tất cả theo vòng xoáy cuộc đời mà con người ý thức được tất cả. Đến lầu Hoàng hạc ông bâng khuâng suy nghĩ về chuyện người xưa, chuyện đời người – chuyện tiên là hư ảo. Người xưa đã đi, là đi mãi, là không bao giờ trở lại. Chỉ có những đám mây trắng lửng lơ bồng bềnh kia là tồn tại mãi mãi. Đó là sự cảm nhận thân phận con người ngắn ngủi phù du trong thời gian vô tận, bé nhỏ mịt mù trong không gian vô cùng.

Đôi khi, đời người được các thi nhân cảm nhận như một cánh hoa rơi rụng nhẹ nhàng trong trạng thái vừa thực vừa ảo của thi nhân. Nhà thơ dẫn dắt từ cõi mộng về với cõi thực. Nhưng không để ta đi ngay vào cõi thực, bước ra khỏi phòng mà thưởng thức cảnh xuân. Nhà thơ nghe tiếng gió mưa rơi, ngậm ngùi nghĩ đến cánh hoa mà nghĩ đến ngày xuân đang đi.

Xuân miên bất giác hiểu

Xứ xứ văn đề điểu.

Dạ lai phong vũ thanh,

Hoa lạc tri đa thiểu ?

(Giấc ngủ đêm xuân không biết trời đã sáng,

Nơi nơi đều nghe chim hót vang.

Đêm qua rầm rập tiếng gió mưa,

Chẳng hay có bao nhiêu hoa đã rụng)

(Xuân hiểu – Mạnh Hạo Nhiên)

Trạng thái nửa thực nửa mộng (câu một là mộng, câu hai là thực, câu ba là thực, câu bốn là mộng) đã làm cho bài thơ có thêm chiều sâu suy tưởng. Với cảnh sơn thủy điền viên thanh nhã lại lồng vào đó sự suy ngẫm về lẽ đời. Cái trạng thái “mộng” làm cho ta liên tưởng đến cái cảm giác mênh mông, mơ hồ của thi nhân. Nhà thơ đã bỏ hi vọng “trung với minh quân”, tìm lạc thú ở chốn nước non như Mạnh Hạo Nhiên cũng có thể viết lên những vần thơ như thế. “Xuân hiểu” là một sự hàm xúc thanh nhã và thú vị tiêu biểu cho phong cách thơ Mạnh Hạo Nhiên. Kẻ mẫn cảm về số phận con người hơn ai hết trên đời chắc hẳn là nhà thơ. Một đêm xuân giấc ngủ ngon lành tới sáng. Thức dậy, trong cảnh buổi sáng chim kêu vang khắp nơi háo hức với cuộc sống rộn rã, nhà thơ không a dua với nó mà nghĩ ngay đến những bông hoa rụng trong đêm qua mưa gió. Tự trách mình thờ ơ với những số phận hoa tươi đẹp tan tác trong đời [15;110], Ta thấy cảm xúc nhà thơ Đường xa xưa sao mà giống cảm xúc của nhà thơ Xuân Diệu ngày nay của chúng ta: “Xuân đang đến nghĩa là xuân đang qua, xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”. Và “Nửa đêm còn bâng khuâng hồn mộng” (Trung tiêu lao mộng tưởng). Để rồi Mạnh Hạo Nhiên cảm thấy thiếu bạn tri kỉ, ông về đóng cửa nhốt mình.

Quạnh hiu nào ai đợi,

Sớm sớm luống công đi về,

Muốn đi nơi cỏ lạ,

Bạn nào đã chịu nghe,

Dọc đường ai che chở

Bạn thiết đời vắng hoe.

Lặng lẽ qua mấy tháng

Cửa sài vui đất quên.

(Lưu biệt Vương Duy)

Cuộc đời là tất cả, nhưng cũng không là của riêng một ai cả. Đời người hữu hạn, thiên nhiên vũ trụ bao la vô tận, vô cùng. Vì thế con người bao giờ cũng muốn hòa cùng nó.

Đỉnh núi Cát Hương

Có một vị cao tăng ở

Mặt trời lặng xuống núi

Trăng sáng lên đỉnh núi.

Ở đây, con người sống nhàn nhã lúc mặt trời lặn thì người ẩn sĩ xuống núi và lại lên khi mặt trăng mọc. Nhà thơ đã đồng nhất người ẩn sĩ với những bộ phận vũ trụ. Và cuộc dạo chơi hàng ngày của ẩn sĩ, bằng cách đó, được trình bày như chính sự vận động của vũ trụ.

Núi vắng chẳng thấy ai

Chỉ nghe tiếng người vang lên

Ánh mặt trời lặn xuyên rừng sâu

Còn rọi trở lại rêu xanh

Bài tuyệt cú này do Vương Duy, nhà họa sĩ – thi sĩ, một tín đồ của phái Thiền sáng tác. Tác giả miêu tả một cuộc dạo chơi trong núi đồng thời là một thể nghiệm về tinh thần, thể nghiệm về cái “hư” và về sự cảm thông với tạo hóa. Đối với Lý Bạch, ngoài thế giới hiện thực còn thế giới nhà trời. Trên đó cũng có người sinh sống, họ cũng giàu tình cảm, có cả thú vui của rượu chè. Khi trèo lên núi Thiên Mụ, có thể nhìn thấy những vị tiên đang dạo gót trong mây, tay cầm những đóa phù dung đẹp.

Xa thấy những vị tiên trong mây.

Taycầm phù dung hướng vương kinh.

(Thiên Mụ sơn)

Hoặc có lúc nhà thơ đã ôm ấp cả trời đất, thiên nhiên, vũ trụ vào một khối.

Sông Hoàng Hà từ trên trời đổ ra biển đông,

Từ vạn dặm dồn về giữa cõi lòng ta.

Nhà thơ muốn nuốt cả vũ trụ vào lòng, sự tưởng tượng ấy thật lạ kỳ. Có lúc nhà thơ lên chót vót một đỉnh chùa, không mô tả tháp chùa cao, nhưng ta thấy hình tượng con người đứng giang tay sờ mó sao đêm, không dám nói to sợ làm tỉnh giấc những người trên trời, đủ biết cái chùa nhân tạo ấy cao biết mấy.

Đêm qua lên đỉnh chùa,

Giang tay mó sao hôm.

Sẽ sàng khi cất tiếng

Sợ tĩnh giấc người trời.

Nhà thơ đã dựng lên một giấc mơ, đi trong thế giới thần tiên. Có điều thế giới ấy không phải là nơi ông thoát ly, mà nó là thế giới tưởng tượng, một thế giới tự do, không có người bóc lột, không bị chèn ép, hầu như ở thế giới ấy con người được trân trọng hơn nhiều.

Bài “Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt” (Mơ chơi núi Thiên Mụ ngân nga để lại lúc chia tay). Núi Thiên Mụ qua sự tưởng tượng của nhà thơ đã trở nên hùng vĩ lạ thường.

Thiên Mụ liền trời chắn trời xanh,

Thế lay ngũ nhạc đổ xích thành.

Thiên thai một vạn tám nghìn trượng,

Đứng trước Thiên Mụ cũng nghiêng mình

Nhà thơ so sánh Thiên Mụ với ThiênThai.Thiên Thai được tiếng là cao, cao một vạn tám nghìn trượng, nhưng phải cúi rạp trước Thiên Mụ. Vậy Thiên Mụ cao biết dường nào. Vượt lên Thiên Mụ, nhà thơ đã đi vào cõi trời, ngao du trong thế giới thần tiên. Khi ra khỏi Thiên Mụ để đi vào cõi thế giới thần tiên ấy, nhà thơ đã nhìn thấy vũ trụ thật kì lạ.

Mây xanh xanh hề, mưa chớm,

Nước mờ mờ hề, khói lam.

Xét đánh chớp lòa, gò nhòa cồn tan.

Động trời cửa đá

Rầm rầm mở toang.

Thế là nhà thơ đã đi vào cõi trời. Khi lên trời đã được đón tiếp long trọng. Tất cả mọi vật từ thần sấm, chớp, đến ánh trời, ánh trăng, con loan con hổ đều theo hầu nhà thơ.

Xanh mờ thăm thẳm chẳng thấy đáy,

Ánh trời, ánh trăng ngấn bạc vàng.

Mặc áo ráng hề, cưỡi ngựa gió,

Thần trong mây hề, bời bời bay xuống đó.

Hổ đánh đàn hề, loan đẩy xe,

Người tiên đông hề, đông gớm ghê.

Đó là một thế giới trong mơ, một cuộc sống trong mơ, nhưng rồi trong chốc lát nhà thơ cảm thấy buồn vì xa cái thế giới lý tưởng ấy. Càng nhớ thế giới thần tiên, càng ghét thế giới hiện thực sâu xa. Cho nên khi tĩnh giấc, tức là về với thế giới hiện tại, nhà thơ hoảng hốt.

Bỗng hồn kinh làm phách động,

Hoảng vùng dậy mà than rằng.

Tan khóc mây lúc nãy,

Trơ chân gối mình đây.

Lúc này, ông muốn thoát khỏi cái xã hội xấu xa đen tối đó. Rồi khinh miệt bọn thống trị: “Dễ đâu cúi đầu còng lưng phụng sự quyền quý, khiến ta chẳng được mặt mày tươi”. Lý Bạch đi vào thế giới nhà trời không phải bằng cưỡi rồng, phụng bay lên, mà từ đất đi thẳng lên trời bằng những đỉnh cao của núi non, chùa chiền, đã nối hai thế giới là một. Lý Bạch mô tả thiên nhiên hết sức hùng vĩ. Núi non sông biển, ngòi bút của ông bỗng trở nên kì vĩ lạ thường.

Cuộc đời ảo mộng là cuộc đời đầy biến đổi, biến đổi khôn lường, nay có mai không, nổi trôi, ngắn ngủi, bồng bềnh, nhân sinh như một kiếp phù du, lẫn lộn giữa hư và thực. Lý Bạch không là một nhà sư, không hẳn là một Đạo sĩ. Ông chịu ảnh hưởng của Đạo giáo, xem cuộc đời ngắn ngủi, mỏng manh và trần gian là cuộc sống nổi trôi phù phiếm, Đạo giáo của Lý Bạch coi cuộc đời chỉ như giấc mộng lớn, có cũng như không, ẩn đấy rồi hiện đấy, có đấy mà không đấy. Ông đã tự xem mình là một người lãng du ngược xuôi trên quán trọ chốn nhân gian mà suy tư, suy ngẫm về thế sự, về cuộc đời tạm bợ ở chốn trần gian này.

Sinh ra vi quí khách

Tử giả vi qui nhân

Thiên địa nhất nghịch lữ

Đồng bi vạn cổ trần

(Sống là người đi qua đường

Chết là kẻ trở về nhà

Trời đất là một quán trọ

Cùng xót thương cát bụi muôn đời)

                                    (Nghĩ cổ)

Nhà thơ xem cuộc đời như cát bụi và khi chết đi con người cũng trở về cát bụi. Con người không thể vĩnh hằng mãi. Điều đó đã làm cho thi tiên Lý Bạch hoảng hốt, ông muốn tương quan hòa vào vũ trụ – tự nhiên. Có thể nói, vũ trụ thì vô hạn, bất biến, tồn tại mãi mãi theo qui luật vận hành của tạo hóa và đời người là hữu hạn, mông lung, tuổi xuân không thắm lại hai lần….Tào Tháo đã từng nói: “cuộc đời có là bao, ví như hạt sương mai”. Rõ ràng, thế giới hữu hạn của đời người luôn muốn hòa cùng thế giới siêu nhiên vô tận, vô thường.. Đời người qua đi như một giấc mơ. Lý Bạch cũng đã nói lên điều đó.

Tạc lai chu nhan tử

Kim nhật bạch phát thôi

(Hôm qua còn kẻ má hồng

Hôm nay tóc bạc đã dục đến)

                                                                   (Đối tửu)

Hôm qua và hôm nay sao mà nhanh thế, ngắn ngủi thế, mong manh thế. Thời gian trôi nhanh quá, nó không chờ đợi theo lòng người. Lý Bạch đã cảm nhận thời gian như dòng nước chảy không gì cản được, nó cứ vô tình và bào mòn, hủy diệt tất cả. Quan niệm về cuộc đời là mộng ảo cũng chứa đựng một ý nghĩa sâu sắc của Lý Bạch. Đó là lòng khát khao sống và yêu đời mãnh liệt của Lý Bạch. Nhưng cuộc đời đâu như ước mơ, với Lý Bạch cuộc đời như một dòng chảy xiết lẫn lộn giữa hư ảo, huyễn hoặc, mộng ảo với thực tại bấy giờ. Xuất thế và quan niệm cuộc đời như mộng ảo còn thể hiện qua thái độ của Lý Bạch đối với vinh hoa phú quý. Bởi vì, ông cho rằng sự giàu sang cũng biến ảo vô thường, chảy trôi như nước, bạc tiền như gió thoảng. Chính quan niệm này mà Lý Bạch không thể khom lưng cuối đầu trước bọn quyền quý bởi điều đó làm cho lòng ông: “khiến ta không được mở lòng mở mặt” (sử ngã bất đắc khai tâm nhan), cuộc đời như một giấc mộng lớn, cứ chảy trôi vô định.

Xử thế nhược đại mộng,

Hồ vi lao kỳ sinh ?

Sở dĩ chung nhật túy,

Đồi nhiên ngọa tiền doanh.

(Sống ở đời như một giấc mộng lớn,

Tội chi vất vả đời mình

Cho nên suốt ngày (ta) say sưa,

Nằm lăn quay bên cột nhà phía trước)

(Xuân nhật túy khởi nhôn chí)

Thi nhân xưa đã ý thức sâu sắc được về đời người giữa thực tại, biết rõ cảm giác cô đơn, trống trải trước thiên địa vô cùng. Lý Bạch hẳn là người hiểu sâu nhất giá trị thời gian của hiện tại.

Hôm nay không phải ngày hôm qua

Ngày mai rồi cũng qua

          Đỗ Phủ trong bài “Ngày mồng chín tại trang Thôi thị ở Lam Điền” đã viết.

Già rồi buồn thu tự gắng khuây

Hôm nay hứng thú tới thả sức vui…

Ngày này năm sau biết ai còn

Say cầm thu du xem tỉ mỉ

Yêu quý hiện tại các nhà thơ Đường phần nhiều để lộ thái độ hư vô và sợ hãi trước thời gian quá khứ và tương lai. Họ muốn tìm vào mộng ảo và để rồi họ phải bàng hoàng khi tỉnh mộng. Với thi nhân thời gian hiện tại trôi qua trong bồn chồn hốt hoảng. Hoặc hình thức “kim niên” (năm nay), “minh niên” (năm sau): “Năm nay mồng bảy nhớ suông nhau. Mồng bảy năm sau biết ở đâu” (Cao Thích: Ngày nhân nhật, gửi ông Thập di họ Đỗ). Thời hiện tại hiện ra như trong mộng.

Đời người khó gặp nhau

Như sao hôm và sao mai.

(Đỗ Phủ- Tặng Vệ Bát xử sĩ)

Đời người là sự vô thường, biến đổi nhiều hơn so với vũ trụ bất biến, vĩnh hằng. Từ các ý thức nhân thế mơ hồ, mộng ảo, một lần qua đi không trở lại đã làm nên mối sầu vạn cổ bàng bạc trong thơ Đường. Lý Bạch trong bài “Nguyệt hạ độc chước” (Uống rượu một mình dưới trăng) đã đề cặp đến nhiều chủ đề: ảo mộng và hiện thực, nói về chính mình và người khác, sự quyến luyến và hờ hững…Không bị ảo mộng đánh lừa, nhà thơ đã tạo ra những người bạn rượu của mình: bóng của nhà thơ và mặt trăng soi hình bóng đó. Qua những thực thể vừa phân biệt vừa lệ thuộc lẫn nhau đó, nhà thơ ý thức về sự tồn tại của mình – người cô độc giữa trần thế. Nhà thơ đã ảo tưởng ra một người bạn trăng để đem lại niềm vui tạm thời. Và nhà thơ mơ tới sự hòa hợp thực, hòa hợp cùng nhau nhưng vẫn tự do. Đây chính là sự giao cảm trực tiếp với tạo hóa. Nhà thơ muốn bay ra trong khoảng trời xanh “sẽ cưỡi rồng trắng bay qua trời xanh” và cùng với nó hợp thành một chỉnh thể: “giấc mơ tột đỉnh của Đạo giáo” [19,121]

Bình sinh Lý Bạch đã khát khao tìm tri kỉ, người làm ông khâm phục nhất về tài năng và đức độ chính là Khuất Nguyên. Đó chính là người tri kỉ trong sự hoài cổ của thi nhân Lý Bạch. Còn hiện tại người tri kỉ của ông chính là Đỗ Phủ. Đỗ Phủ đã khuyên bạn hãy gác kiếm viễn du, quay về với cuộc sống điền dã. Và cũng đau xót trong trạng thái giữa mộng và thực về thực tại của bạn.

Cố nhân nhập ngã mộng

Minh ngã trường tương ức.

Quân kim tại la võng,

Hà dĩ hữu vũ dực.

Khủng phi bình sinh hồn,

Lộ viễn bất khả trắc!

Hồn lai phong lâm thanh

Hồn phản quan tái hắc.

Lạc nguyệt mãn ốc lương,

Do nghi chiếu nhan sắc.

(Bạn đến với ta trong giấc mơ,

Đã biết ta nhớ nhung không dứt.

Hiện bạn đang mắc võng bẫy lưới,

Lông cánh đâu mà bay về được ?

E rằng không phải hồn bạn còn sống,

Vì đường xa xôi không thể hướng được!

Hồn về rừng phong xanh ngắt

Hồn đi quan ải đen ngòm

Trăng xế tỏa ánh đầy nóc nhà,

Còn ngờ như soi vào vẻ mặt của bạn)

(Mộng Lý Bạch)

Quá trình từ mộng đến thực của bài thơ cho thấy sự chập chờn giữa mộng mị và thực. Bởi thi nhân không tìm đâu ra lời giải đáp về số phận hiện tại của tri kỉ trên đường đày ải. Trong thế giới mộng mị, nhà thơ cảm thấy như bạn không còn sống nữa. Ông đã trở nên lo lắng gần như tuyệt vọng nhưng ông cũng mơ hồ trông thấy hồn bạn quay về. Như vậy, nhà thơ đã là con người mộng mị. Mộng vì lo lắng bất lực không làm sao đến được với bạn hay biết chút ít tin gì về bạn. Bài thơ như tạo ra một bức tranh mông lung, huyền ảo dưới ánh sáng của vầng trăng.

Bạch Cư Dị là người nối tiếp con đường hiện thực của Đỗ Phủ, nhưng cũng có lúc nhà thơ lại chán ngán, nhìn cuộc đời chỉ là một kiếp phù du, thoáng đó rồi mất đó nên khi gắn bó với thiên nhiên nhà thơ cảm thấy thú vị, bởi đời người được bao lâu.

Ý trung như hữu đắc,

Tận nhật bất dục hoàn.

Nhân sinh vô kỷ hà,

Như ký thiên địa gian

(Trong lòng lấy làm thích thú

Suốt cả ngày không muốn trở về.

Đời người ta sống được bao lâu,

Như tạm gửi khoảng trời đất.)

(Thu san)

Thực tại cuộc sống đã làm cho các thi nhân buồn bã, chán ngán. Khiến họ phải quên đi bằng cách mơ tưởng hay chìm vào mộng mị để tìm kiếm sự hòa hợp, sự thanh tao, bình yên hoặc mơ tới một cõi tiên xa xôi. Nó không giống như cõi nhân gian hiện tại nhưng nó vẫn tồn tại trong hiện tại.

Hà dựng biệt tầm phương ngoại khứ

Nhân gian diệc tự hữu Đan khâu

(Đâu cần tìm đến phương ngoài nào khác

Vì trong cõi nhân gian này cũng sẵn có Đồi Tiên rồi)

(Hàn Hoằng – Đề tiên du quán)

Nhiều khi muốn lui về ở ẩn nhưng thực tại đã làm cho các thi nhân phải băn khoăn về lẽ xuất xử. Cuộc sống đã tạo ra một nỗi bất bình cho tấm lòng của thi nhân nên niềm vui ẩn dật luôn hiện về trong giấc mơ.

Thập niên tông tích tẩu hồng trần

Hồi thủ thanh sơn nhập mộng tần

(Mười năm tông tích chạy trốn nơi bụi trần

Chuyện quay về núi xanh luôn vào trong mộng)

(Trần Phốc – Quy ẩn)

Nhưng cuối cùng thi nhân đã biến giấc mộng thành hành động thực tiễn, nhưng quyết định quay về nơi núi xanh để giấu mình, vui của niềm vui hương xuân khi nghe chim hót trong những câu thơ tiếp theo của bài thơ này.

Tử thụ túng vinh tranh cập thụy

Chumôn tuy phú bất tri bần

Sầu văn kiếm kích phù nguy chủ

Muộn thính sênh ca quát túy nhân

Huề chủ cựu thư qui cựu ẩn

Dã hoa đề điểu nhất ban xuân.

(Đai tía trả lại vinh hoa, tranh lấy giấc ngủ

Cửa son tuy giàu nhưng không biết được cảnh nghèo

Lòng buồn nghe tin trong loạn lạc có người phò chúa khi bị nguy

Càng chán nghe sênh phách xui người sống say sưa

Cầm sách cũ trên tay, về nơi ở ẩn cũ

Hoa đồng chim hót đem đến cho ta hương xuân)

     Mơ đến cõi tiên hay Thiên Thai là chuyện muôn đời.

Ẩn ẩn phi kiều cách dã yên

Thạch cơ tây bạn, vấn ngư thuyền

Đào hao tận nhật tùy lưu thủy

Động tại thanh khê hà xứ biên ?

(Ẩn hiện cầu treo sau làn khói đồng

Ở phía tây hòn đá, hỏi thăm thuyền chài

Hoa đào suốt ngày trôi theo dòng nước

Động suối trong về phía bên nào ?)

(Trương Húc – Đào hoa khê)

Ý tưởng chủ yếu của bài thơ là “suối hoa đào” gợi nhớ điển cố suối Đào Nguyên và hai chàng Lưu Thần, Nguyễn Triệu đi hái thuốc gặp suối “hoa đào”, rồi tìm thấy động Thiên Thai nơi ở của thần tiên. Cảm hứng Đạo giáo thấp thoáng trong thơ. Nhớ tới bài thơ “Hoàng hạc lâu” của Thôi Hiệu, “Vô đề”của Lý Thương Ẩn đều mơ tưởng đi tìm cõi Bồng lai – một chốn thần tiên khác.

Thiên Thai là tên của một quả núi rất cao thuộc huyện Thiên Thai tỉnh Chiết Giang Trung Quốc, tương truyền có tiên ở đó. Đời Hán, Lưu Thần và Lưu Nguyễn vào núi Thiên Thai hái thuốc gặp tiên nữ. Hai chàng ở lại nửa năm mới trở về. Khi đến nhà đã trải qua bảy đời.

Rẽ lối Thiên Thai mới lạ lùng,

Mây êm cỏ mát bụi trần không

Ráng mù kiếp trước càng mê mẩn,

Rừng suối thân sau những chốc mòng.

Gáy nguyệt xao xao gà dưới núi,

Mách xuân văng vẳng chó trong thung.

Chốn này chưa biết ai là chủ,

Hãy tới Đào nguyên ướm hỏi cùng.

(Tào Đường – Lưu Nguyễn du Thiên Thai)

Tào Đường sáng tác 5 bài thơ nói về truyền thuyết Lưu Nguyễn, trong có bài thể hiện sự đưa tiễn của các nàng tiên đối với Lưu Nguyên khi ra khỏi động.

Ân cần đưa khỏi lối Thiên Thai,

Tiên cảnh khôn mong trở lại rồi.

Tản Đà là một dịch giả thơ Đường nổi tiếng có lẽ cũng chịu sự ảnh hưởng của hai câu thơ này nên trong bài “Tống biệt” có câu.

Lá đào rơi rắc chốn Thiên Thai

Tiên cảnh khôn mong trở lại rồi….

Nơi tiên cảnh bao giờ cũng đẹp hơn chốn trần gian, nên khi đã rời khỏi thì không bao giờ trở lại được, trong giấc mộng đẹp về chốn Thiên Thai thì không thể gặp lại tiên nữ một lần nữa.

Trần mộng na tri hạc mộng trường

Động lý hữu thiên xuân tịch tịch,

Nhân gia n vô lộ nguyệt mang mang

Ngọc sa dao thảo liên khê bích

(Người trong giấc mộng trần biết đâu giấc mộng tiên dài.

Trong động riêng một bầu trời, cảnh xuân êm lặng,

Cõi người không đường đi tới, bóng nguyệt mơ màng.

Cõi tiên trên bãi ngọc, xanh biếc ven khe)

   (Tiên tử động trung hữu hoài Lưu Nguyễn)

Ở đây, tiên nữ đã nhớ về Lưu, Nguyễn hay ở đây chính là sự khát khao giao hòa cùng vũ trụ muôn thuở. Thi nhân cũng muốn đến Thiên Thai để gặp tiên nữ nhưng chỉ còn biết cách gặp trong giấc mộng mà thôi. Từ đó đã đem lại cảm hứng cho nhà thơ sáng tác nên những bài thơ như thế.

Có lẽ, việc rơi vào ảo mộng là chuyện suốt đời của muôn thế hệ. Ôn Đình Quân – một thi nhân của thời vãn Đường cũng có cảm giác mộng mị, nghe tiếng chuông vang lên mà chạnh lòng nhớ về cố hương: “Mờ sớm chuông khua rộn; Người đi thương cố hương”, trong những câu thơ tiếp theo, thi nhân lại vẽ lên bức tranh thiên nhiên mà lá rụng rơi hay hoa gai rực rỡ trên tường.

Lá hộc rụng rơi lối

Hoa gai rực rỡ tường

Đỗ Lăng hoài giấc mộng

Le nhạn đầy đê đường

(Thương Sơn tảo hành)

Tóm lại: giấc mơ sẽ không bao giờ thành hiện thực nhưng nó cũng làm cho tâm hồn ta xao động. Từ sự buồn chán thực tế người ta mới quay đầu vào mộng ảo. Đó được xem là cách phản đối với thực tại. Bởi từ sự bất lực của bản thân hay sự bó tay của con người trước quy luật của tạo hóa. Đời người có đó rồi lại mất đó, nó cứ nhanh như là một giấc mộng, nhanh chóng tan biến và chìm vào cõi hư vô của thế giới vô tận này. Chính điều này đã tác động vào các thi nhân, đem lại cảm hứng cho ngòi bút tài hoa của họ. Đó cũng là những giây phút xuất thần của thi nhân – với một tâm hồn rộng mở đã tạo nên những bài thơ mang “cảm hứng xuất thế của các thi nhân đời Đường. Họ đã ý thức sâu về thời cuộc, thấy mình đang chơi vơi, lạc lõng giữa thực tại, cần tìm một chỗ dựa tinh thần. Đó là ảo mộng cho một đời người. Họ hân hoan khi trong mộng ảo lại được gặp những thần tiên những chốn Thiên Thai và con người luôn tồn tại vĩnh hằng hay họ có những suy tư, nghiền ngẫm “cuộc đời như giấc mộng” để tạo ra cảm giác mơ hồ, mông lung như người say sưa trong giấc mơ ngàn năm. Nhưng khi mộng ảo đã đi qua, trở về cuộc sống họ cảm thấy buồn bã cho số kiếp con người sao mà ngắn ngủi thế, tạo nên một khát vọng sâu xa, nồng nàn, muốn vĩnh hằng cùng tạo hóa, cùng vũ trụ bất tử, hay muốn giữ mãi tuổi thanh xuân và muốn sống ngang bằng trời đất. Đó là khát vọng trường tồn trong “cảm hứng xuất thế” của thi nhân xưa.

 

  3.2 Khát vọng trường tồn

Con người bao giờ cũng có một khát vọng lớn lao, đó là muốn sống mãi cùng trời đất, muốn giữ mãi tuổi thanh xuân. Nhưng tạo hóa không cho phép con người trường tồn mãi. Nên khát vọng ấy vẫn mãi là khát vọng của muôn thế hệ. Phật giáo với nhận thức cuộc đời là bể khổ muốn tìm đến một thế giới cực lạc. Đạo giáo với cảm hứng nhân sinh như mộng, bụi trần vấn vương, sống gửi thác về. Từ đó, con người nhận thức được giới hạn của mình, nhận thức được cuộc đời là ngắn ngủi, nhưng nó muốn trường tồn, muốn mở rộng cuộc đời, mở rộng tâm hồn về mọi hướng nên nó gửi mình vào vũ trụ, hóa cùng sự vĩnh hằng của vũ trụ. Con người vũ trụ trong thơ Đường thể hiện khát vọng trở thành vĩnh cửu, trường tồn cùng với trời đất, hòa hợp với thiên nhiên. Nó muốn vươn lên ngang tầm thiên nhiên, khẳng định tầm vóc của mình. Nó “Đăng quán tước lâu” để tâm tình, bằng giọt lệ, vào thiên cổ, vào đất trời mênh mông, nó “ngồi một mình với núi Kính Đình” để khẳng định tư thế con người – ngọn núi của mình. Sự vươn lên đó không để chinh phục thiên nhiên mà để hòa hợp, tương thông với thiên nhiên [7;51]

Chịu ảnh hưởng của Đạo giáo, con người trong thơ Đường luôn hướng về sự siêu thoát, tìm về vũ trụ vô tận. Nó thích đứng giữa càn khôn để nói với đất trời. Nó muốn sánh ngang cùng thiên địa để đi vào cõi bất tử. Thi nhân đời Đường luôn khát khao hòa nhập vào vũ trụ vô biên, khát khao trường tồn cùng thiên địa. Tầm nhìn của họ bao giờ cũng xa xăm, tâm trí họ thường rong ruổi tìm về với vẻ “đẹp thiên nhiên”, “vạn cổ” hay những kỉ niệm lung linh đẹp đẽ.

Thời gian luôn trôi chảy liên tục, tuần hoàn không nghĩ và con người liên tục bị cuốn theo vòng tuần hoàn đó. Phật giáo quan niệm thời gian là một vận động vô thủy vô chung của những vòng “luân hồi” liên tục, con người ngụp lặn, trôi lăn trong những chu lưu ấy với vô lượng “kiếp”. Thời gian của đời người chẳng qua là một khoảnh khắc trong luân hồi vô thủy vô chung. Nên ta thấy đời người chỉ là sự tạm bợ với nỗi lo sợ thường xuyên ám ảnh là cái chết (sinh, lão, bệnh, tử). Con người như thấy mình sống trong một cái khung, dù có đến trăm năm đi nữa vẫn hạn hẹp, ít ỏi. Huống chi thực tế lại cho con người biết rằng “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, Đỗ Phủ – Khúc Giang). Nếu như các đạo sĩ suốt đời tìm “linh chi, tiên dược, luyện đan”…..Mong thực hiện khát vọng “thọ ngang trời đất” các hòa thượng “tinh tấn tu trì” mong giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi…thì thi nhân gửi gắm khát vọng trường tồn vào thơ ca. Thời gian vũ trụ chính là một phương thức thể hiện khát vọng đó

Thi thành thảo thụ giai thiên cổ

   (Bài thơ làm xong thì cỏ cây và bài thơ đều trở thành ngàn năm)

(Lý Bạch)

Họ nhận thấy nghệ thuật có thể chiến thắng thời gian và được lưu giữ mãi mãi.

Khuất Bình từ phú huyền nhật nguyệt

    (Tứ phú Khuất Nguyên vẫn sáng với mặt trời mặt trăng)

(Lý Bạch – Giang thượng ngâm)

Đó là khát vọng của thi nhân muốn trường tồn mãi mặc dù thời gian cứ trôi. Lớp bụi của thời gian sẽ che lấp tất cả, chỉ trừ những viên ngọc sáng ngời mà thôi. Lý Bạch dù không còn là người phàm xác thịt nữa, ông đã hóa thành người thiên cổ nhưng với chúng ta thơ ca của người vẫn còn những giá trị tinh khôi, vẫn sống mãi với thời gian. Điều đó nói lên rằng: Lý Bạch sẽ không bao giờ chết, ông đã trở thành một “thiên tiên” bất tử.

Lý Bạch đã nghĩ về sinh, lão, bệnh, tử của kiếp nhân sinh.

Triêu như thanh ti mộ thành tuyết

Nhân sinh đắc ý tu tận hoan,

Mạc sử kim tôn không đối nguyệt

(Sớm còn như tơ xanh, chiều đã như tuyết

Đời người khi đắc ý nên tận hưởng niềm vui,

Đừng để chén vàng cạn trơ dưới nguyệt)

(Tương tiến tửu)

Bởi chính đời người trôi nhanh như thế nên nó đã trở thành nỗi sợ hãi của kiếp người. Để thoát khỏi lo lắng về sự phai tàn của mái đầu xanh thành tuyết trắng thì con người tìm vào sự vĩnh hằng của thiên nhiên, bằng cách chan hòa hoặc hóa thân vào vũ trụ để sống mãi trong cõi siêu nhiên rộng lớn.

Đăng cao vọng tứ hải

Thiên địa hà man man

(Lên núi cao trông ra bốn bể

Trời đất mênh mông biết bao)

(Cổ Phong)

Trong thơ Lý Bạch núi là không gian tượng trưng cho nội dung tinh thần vuợt hiện thực, khát vọng về  sự tồn tại trong cõi siêu nhiên.

Xuất ngôn kiếnNamsơn

Dẫn lĩnh ý vô hạn

Tú sắc nan vi danh

(Ra cửa thấy ngay núi chung Nam

Ngọn núi gợi suy nghĩ không cùng

Vẻ đẹp không gọi được tên)

(NamSơn)

Đối vời Lý Bạch danh lợi như nước chảy, bèo trôi, ông không cần vinh hoa phú quý, mà chỉ cần giữ mãi tuổi xuân cho con người. Đó chính là “cảm hứng xuất thế”, muốn trường cửu với khát khao cháy bỗng, muốn chiến thắng cả thời gian vũ trụ, thậm chí ông mời cả thời gian uống rượu. Mời mỗi con rồng một chén để giữ mãi tuổi xuân.

Chẳng mong được phú quý

Mong giữ  tuổi xuân cho con người

Có lúc thời gian cũng chếnh choáng theo ông.

Hoa núi cười với tôi

Khi rượu mời lên môi

(Đãi tửu bất chí)

“Rượu” và “thời gian” có một mối liên hệ lạ lùng ở hồn thơ Lý Bạch và không chỉ họ Lý, một liên hệ hàm chứa bi kịch nhân sinh. Con người luôn sợ cái chết và mộng muốn cởi bỏ các ràng buộc của trần tục để giải thoát vào một thế giới vĩnh viễn và tự do. Theo Phật giáo con người chết đi có thể thành tiên, thành thần thánh, hóa thành vật khác, hoặc lại được đầu thai, theo luật “nhân quả”. Nhưng khi con người vượt qua thời thơ ấu, đã có cái nhìn khách quan về cuộc sống thì con người hiểu chết là thật sự kết thúc sinh mệnh, và con người trở nên rối rít tìm thuốc “trường sinh”, tìm “bất tử quốc”. Không thể làm được điều đó, con người lại tìm đến một thế giới thần tiên khác – đó là nơi tiên cảnh, ở đó thời gian trôi chậm, kéo dài, bất biến, khác hẳn với thời gian vùn vụt như “bóng câu qua cửa sổ”, như tên bay như thoi đưa của trần gian.

Cho dù nhân gian một năm chẵn

Trên trời một thoáng có gì đâu

(Thôi Đồ – thất tịch)

Đó là giây phút tạm thời cho khát vọng muốn trường tồn của con người.

Lý Hạ có một bài thơ “Khổ ngày ngắn” thể hiện khát vọng về thời gian, về sự vĩnh hằng của kiếp người.

Ánh ngày bay, ánh ngày bay

Mời người một chén rượu.

Ta không biết trời xanh cao, đất vàng dày

Chỉ biết trời nóng trăng lạnh thiêu tan tuổi thọ này…

Thần ở đâu, Thái nhất có không?

Mé đông trời có cây nhược mộc

Dưới có con rồng ngậm đuốc sáng.

Ta muốn chặt chân rồng, nhai thịt rồng

Để nó sớm mai không được về, đêm không được nấp

Tự nhiên người già không chết, người trẻ không khóc….

Đời người trong cõi trần gian giống như một kiếp phù vân, thấy đó rồi lại tan biến đó, sinh mệnh được tính bằng sớm, chiều, hôm nay, ngày mai, năm ngoái, năm nay, mùa xuân, mùa thu, ngắn ngủi trong cảm nhận của thi nhân xưa.

Hoàng trần thanh thủy tam sơn hạ,

Canh biến thiên niên như tẩu mã.

(Dưới ba ngọn núi tiên, cõi trần đầy bụi vàng và nước trong,

Biến đổi trong khoảng ngàn năm, nhanh như ngựa phi nước đại)

(Lý Hạ – Mộng thiên)

Hay:

Niên niên tuế tuế hoa tương tự

Tuế tuế niên niên nhân bất đồng

(Năm này năm khác hoa tương tự

Tháng tháng năm năm người khác xưa)

(Lưu Hi Di – Vịnh bạch đầu ông)

Đỗ Phủ có lúc cũng tiếc tuổi xuân qua mau, và ông đã từng nói: “Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển” (Hãy nói cho mọi người biết rằng : theo thời gian phong cảnh đều thay đổi, Khúc giang), để bây giờ nhìn lại mái tóc bạc mà ngậm ngùi cho đời người.

Thiếu tráng năng kỷ thì,

Mấn phát các dĩ thương

(Trẻ trung nào được mấy độ

(Bây giờ) đầu tóc đã đốm bạc cả !)

  (Tặng Vệ Bát xử sĩ)

Trong thơ Đường, với phái điền viên, nổi bật hơn cả là Vương Duy, ông cho rằng chỉ có cách học phép “vô sinh” thì mới có làm cho mái tóc bạc trở lại thành xanh, mới có thể trừ lão bệnh, tức là mới có thể trường tồn mãi mãi.

Bạch phát chung nan biến

Hoàng kim bất khả thành

Dục tu trừ lão bệnh

Duy hữu học vô sinh.

Do ý thức đời người là mỏng manh, không thể tồn tại dài lâu nên khi tả cảnh vật đẹp tráng lệ hào hùng mà cũng đầy biến ảo, vô thường, gần quan niệm của Phật giáo. Chuyện nắng mưa ở trên đời con người làm sao biết được. Nên thi nhân muốn tìm nơi nghỉ trọ để hưởng phút thanh nhàn của cuộc sống, tưởng chừng như mình đang hòa vào vô tận của vũ trụ để sống mãi mãi, thoát khỏi sự luân hồi của tạo hóa để vươn lên sự trường tồn của thiên địa.

Ngọn núi cao biến ảo

Mưa nắng thật bất ngờ

Muốn tìm nơi nghỉ trọ

Cách sông hỏi tiều phu.

(Vương Duy)

Chuyện hợp tụ của mây, chuyện bất ngờ của mưa nắng là chuyện tự nhiên nhưng còn “ngọn núi cao biển ảo” cũng chính là tư thế của thi nhân đang tồn tại đấy ngang tầm với thiên địa nhưng tư thế ấy cũng hết sức mờ nhạt, mông lung, biến ảo trong khoảng không của vũ trụ. Sao cơn mưa thì vũ trụ lại trong sạch nguyên sơ, cơn mưa đã tẩy sạch những bụi bặm của trần gian, nó cũng có thể là sự ẩn mình của đạo sĩ. Đạo sĩ muốn thoát ra khỏi lưới trần bụi bặm để có thể sống lâu dài cùng trời đất muôn thuở.

Không sơn tân vũ hậu

Thiên  khí vãn lai thu

Minh nguyệt tùng gian chiếu

Thanh tuyền thạch thượng lưu.

(Sau cơn mưa, núi quang đãng

Tiết trời mát mẻ đến muộn mà tràn ý thu

Ánh trăng lọt qua tán lá rừng

Nước suối trong xanh chảy từ khe đá)

(Vương Duy)

Rõ ràng, thi nhân đang ẩn mình đâu đấy nên mới có thể nhìn thấy tất cả từ sự quang đãng của khung cảnh đến tiết trời mát mẻ, ánh trăng tán rọi qua chiếc lá rừng và màu trong xanh của nước suối chảy từ khe đá, ta thấy thi phật Vương Duy đang ở cận kề rất gần nên mới miêu tả chân thật và đẹp đến thế.

Khát khao chỉ là khát khao. Bởi con người không thể kéo dài tuổi thọ của mình thêm được, không thể giữ mãi màu tóc xanh của tuổi trẻ. Nên Đỗ Phủ đã có lúc buồn bã về thân phận con người không được trường sinh, mà nói rằng.

Hoa lạp trùng trùng thụ,

Vân minh xứ xứ san.

Thiên nhai cố nhân thiểu,

Cánh ích mấn mao ban.

(Cây từng lớp màu hoa xen sặc sỡ,

Khắp ngàn non tua tủa đám mây đưa.

Bên giời người cũ lơ thơ,

Buồn thêm tóc mái phất phơ điểm màu)

    (Bồi giang phiếm chu tống Vi Ban quy kinh)

Bạch Cư Dị cũng đã từng có những bài thơ thoát tục, ông ý thức sâu xa về kiếp làm người. Ông cũng muốn bỏ mặc cho đời để say sưa tối ngày trong tiếng cười vang và ông cũng khát khao tìm thuốc tiên để sống mãi bởi cõi trần thì cái chết sẽ không tha một ai hay không một ai sẽ sống ngàn năm thiên cổ.

Trung thiên hoặc hữu trường sinh dược,

Hạ giới ưng vô bất tử nhân

Trừ khước túy lai khai khẩu tiếu,

Thế gian hà sự cánh quan thâm.

(Trên trời họa có thuốc tiên để được sống mãi,

Cõi trần làm gì có ai thoát khỏi bị chết.

Thế thì khi say ta mở miệng cười.

Có việc gì trên thế gian này liên quan đến mình đâu ?)

“Cảm hứng xuất thế” thể hiện trong bài thơ đã rõ ràng, thi nhân như phủ nhận tất cả việc đời vì nó không liên quan đến mình. Hay đó chính là sự trút bỏ “gánh nặng” của cuộc sống để cho tâm hồn được nhẹ nhàng. Thi nhân như một đạo sĩ đi tìm thuốc tiên để đem lại cái sống bất tử cho nhân sinh. Nhưng cuối cùng thi nhân đã nhận ra chân lý của cuộc sống – đó là quy luật sinh tử của tạo hóa, là sự tuần hoàn của đời người. Và con người không thể thực hiện được khát vọng sống mãi mãi và đó cũng là câu hỏi về nhân sinh mà chưa lời đáp. Nhiều lúc con người tự mâu thuẫn với chính mình.

Nhân sinh hà sự tâm vô định?

Túc tích như kim ý bất đồng.

Túc tích sầu thân bất đắc lão

Như kim hận tác bạch đầu ông !

(Người ta ở đời, tại sao tâm trí không nhất định?

Ngày trước với bây giờ ý nghĩ khác nhau.

Ngày trước thì buồn mình không được lên cụ,

Bây giờ lại bực mình phải làm ông lão bạc đầu !)

(Đại Lân tẩu ngôn hoài)

Bài thơ là cả một quá trình tâm lí mâu thuẫn và phản ánh đúng thực tế tâm lí con người. Bởi tâm lí thì không thể nào ổn định mãi. Ở mỗi thời điểm trong một đời người sẽ có những suy nghĩ khác nhau. Trẻ thì con người muốn thành đạt, háo thắng và chiếm lĩnh tất cả nhưng khi già thì con người hay nuối tiếc, suy tư. Thi nhân đã nói lên một điều rất đổi bình thường, đó là khi trẻ thì con người lại muốn thành ông cụ để được người khác trân trọng, kính nể hay để truyền lại kinh nghiệm hoặc để nhìn sự trôi đi của cuộc đời bằng bề dày kinh nghiệm. Nhưng khi đã trở thành ông lão thì lại lo sợ “bực mình” sẽ trở thành cát bụi quay về thiên cổ của điểm xuất phát ban đầu. Hay đúng hơn là sợ “cái chết” sẽ không chừa một ai. Và làm ông lão bạc đầu sẽ không thực hiện được ước mơ hoài bão của lí tưởng nữa. Bởi tuổi già sức yếu sẽ không cho phép ông lão bạc đầu trường sinh mãi. Đó là lẽ tất nhiên. Đây là nỗi khắc khoải bất tử của thi nhân Bạch Cư Dị.

Tóm lại, trong thơ Đường có rất nhiều nội dung khác nhau, bắt nguồn từ ba cảm hứng Nho, Phật, Đạo. “Cảm hứng xuất thế” thể hiện nội dung khát vọng trường tồn cũng khá nhiều. Trong một giây phút bất thần nào đó khi nghĩ về cuộc đời, về số phận con người, về vũ trụ bao la, các thi nhân không khỏi bàng hoàng và nhận ra rằng đời người nhanh như gió thoảng, tồn tại chẳng có là bao. Nên thi nhân đời Đường đã thể hiện chân thành cảm xúc của mình về khát vọng trường sinh. Họ muốn tìm đến thế giới thần tiên của nhà trời để sống mãi, để chiếm lĩnh thú vui tạo vật. Hay muốn đi tìm “thuốc tiên”, “linh dược”, “tiên đan”,…để giúp cõi trần này được sống ngang bằng thiên địa. Con người không phải đi vào quỹ đạo chung của tạo hóa là sinh, lão, bệnh, tử nữa. Đây cũng là khát vọng chân chính của các thi nhân Đường. Họ đã nói lên tiếng nói khát vọng chung cho nhân loại mà đến hôm nay vẫn có ý nghĩa và giá trị của nó.

Mãi mãi đời người là hữu hạn, vũ trụ là vô cùng, cuộc sống luôn có sự đối lập giữa hư và thực, giữa cái còn lại và cái ra đi,….Đây là nỗi lo của muôn đời nên con người có quyền khát vọng trường sinh và khát vọng đó đã được nhân loại chấp nhận như một quy luật tâm lí muôn đời. Từ đó con người muốn vượt lên, vượt qua số phận, vượt lên tất cả, muốn khống chế và chiếm lĩnh vũ trụ. Đó chính là khát vọng giải phóng – cũng là một trong những khát vọng chân chính của nhân sinh.

 

    3.3  Khát vọng giải thoát

Có thể nói chết là một vấn đề lớn của nhân sinh. Do đó, con người đã có khát vọng phổ biến và lớn lao là khát vọng trường sinh, chinh phục cái chết. Nhưng sống giữa thời cuộc đảo điên, vàng thau lẫn lộn của đời Đường thì khát vọng trường sinh làm sao thỏa mãn được nên các thi nhân Đường nghĩ đến phương thức “giải thoát lí tưởng” đang trong hụt hẫng, chơi vơi giữa thực tại. Họ tự giải phóng mình trong giả tưởng, là phương tiện nhất thời bởi thế giới thần tiên không có thực nhưng họ lại nghĩ đến chốn Bồng Lai siêu thoát, nghĩ đến những cuộc ngao du tiên cảnh, nghĩ đến cuộc sống an nhàn của thánh nhân xưa, nghĩ đến cuộc sống ẩn dật của những bậc phu tử xưa .…Đó chính là “chiếc phao tinh thần” giúp thi nhân có thể “bơi lội” mà không bị chìm đắm trong bi kịch tinh thần của chính mình. “Cảm hứng xuất thế” của khát vọng giải phóng chính là ở đây và là điểm tựa để thi nhân vượt lên, thoát ra vòng “luân hồi” của tạo hóa, vượt lên trên xã hội để tìm lại chính mình và tìm ý nghĩa của cuộc sống và sống có ý nghĩa hơn theo “cảm hứng xuất thế” của mình.

Dẫu biết cuộc đời như một giấc mơ dài nhưng thi nhân Đường vẫn không ngừng ước mơ, hoài bão là sẽ được “giải phóng” ra khỏi cuộc sống đương đại bấy giờ. Thi nhân muốn quay về với cổ nhân trong sự nuối tiếc quá khứ hay muốn “bay” ra khỏi thời đại để đến với tương lai, thi nhân cũng vẫn phải đối mặt với: “tiền bất kiến cổ nhân; hậu bất kiến lai giả”. Nên thi nhân mới giải thoát mình bằng cách mơ tới tiên cảnh hay bằng cách “hòa tan mình” vào khoảng không của vũ trụ để sống mãi.

Thơ Đường hay nói đến quá khứ còn vì đó là cái vô cùng. Khi nói đến cái không thời gian (vũ trụ) vô cùng con người có cảm giác được “thư giãn” được giải thoát khỏi cái không thời điểm hạn hẹn mà nó đang bị “bó” vào. Như vậy phải chăng cũng có nghĩa là trong cảm niệm của thi nhân, thơ là một phương tiện giải thoát (hay nói cách khác đối với họ thơ như là một thứ tôn giáo?) [7,157]. Trong thơ thường thì từ cõi thực trở nên cõi mộng, rồi từ cõi mộng lại trở về hiện thực, từ thế giới thần tiên bỗng hoảng hốt trơ trọi giữa trần thế. Để rồi thi nhân muốn thành một cánh chim âu để thoát khỏi hiện thực, bay thẳng lên khoảng không bao la của vũ trụ, muốn hướng đến tự do bay trong trời đất, giải phóng bằng cánh chim âu.

Phiêu phiêu hà sở tự,

Thiên địa nhất hạ âu .

(Ta nay nhẹ nhàng phơi phới giống như gì ?

Giống như một con chim âu trong khoảng trời đất)

(Đỗ Phủ – Lữ dạ thư hoài)

Có lúc các thi nhân muốn đi đến cõi “Niết bàn” khi mà họ nhận ra cuộc đời chỉ là “sắc sắc không không”. Ngay cả Sầm Than một nhà thơ tiêu biểu của phái biên tái mà cũng bàng hoàng và muốn “giải phóng” mình theo đạo Phật .

Tảo tri thanh tĩnh lý,

Thường nguyện phụng kim tiên

(Ví bằng sớm biết đạo lí thanh tĩnh,

Nguyện xin hằng theo đạo Phật)

(Đăng Tổng Trì các)

Là nhà thơ -  họa sĩ Vương Duy đưa ra một bức tranh bằng cách đối chọi những bộ phận khác nhau của một khung cảnh. Thể hiện sự mâu thuẫn giữa “xuất thế” hay “nhập thế”, giữa “giải phóng” hay “hiện hữu”.

Giang lưu thiên địa ngoại,

Sơn sắc hữu vô trung .

(Sự chuyển động của dòng sông bên kia đất trời

Sắc núi giữa cái có cái không)

(Sơn cư thu mính)

Nhà thơ đưa vào đây một sự thể nghiệm về tinh thần (của phái Thiền). Giữa hai câu thơ, ngoài sự tương phản còn có một kiểu “vượt qua”. Nếu trong câu một, khi theo “sự chuyển động của dòng sông”, người ta còn tiếp nối sự chuyển động của vũ trụ, người ta vẫn nằm trong sự chế ngự của không gian thì trong câu hai, ở đó tất cả đều hòa tan trong màu sắc của núi, người ta đã bước một cách tinh tế từ cái có vào cái không. Dĩ nhiên tất cả điều này không phải được nói ra một cách lộ liễu mà được biểu thị qua vị trí của các từ trong mối tương quan lẫn nhau giữa chúng [19,158]. Đó là sự vượt qua hiện thực, nhà thơ tự “giải phóng” mình để hòa vào trong màu sắc của núi, thể hiện ước vọng của con người muốn vượt qua thế giới bị phân chia để đạt được một sự thống nhất trong một chỉnh thể con người thi phật như Vương Duy.

Nhà Đường tồn tại gần 300 năm, chia làm bốn thời kì, trong đó trung Đường và vãn Đường là hai thời kì mà xã hội trở nên xuống dốc trầm trọng dẫn đến diệt vong của nhà Đường. Từ thực tế này cũng đã tác động sâu sắc đến các thi nhân đương thời. Họ buồn chán vì bất lực không thể thay đổi thời cuộc nên họ đành quay lưng lại với xã hội hay tự tìm cách nâng mình lên khỏi thực tại hoặc tự giải thoát mình trong ý tưởng của cảm xúc thơ ca mang “cảm hứng xuất thế”. Bạch cư Dị tự tạo niềm vui bằng cảm hứng Phật giáo để giải thoát nỗi buồn hiện tại, một cuộc chiến thắng vượt mình đến với tiên cảnh ở ngôi chùa trên núi.

Nhân gian tứ tuuyệt phương phi tận

Sơn tự đào hoa thủy tịnh khai

Trường hận xuân quy vô mịch xứ

Bất tri chuyển nhập thủ trung lai

(Trong cõi nhân gian, tháng tư hương thơm đã tan hết

Nhưng hoa đào ở trên núi mới bắt đầu nở rộ

Ta cứ giận mùa xuân đi không để lại tung tích

Mà không biết rằng (mùa xuân) chỉ chuyển về đây thôi)

(Đại Lâm tự đào hoa)

Ông đã cảm nhận ở nhân gian niềm vui “hương thơm” đã tan biến cả, nhưng ông đã nhận ra rằng “mùa xuân” chỉ có được ở ngôi chùa Đại Lâm. Ở đó, con người sẽ được thư nhàn, hoa đào sẽ nở rộ cũng như tâm hồn của thi nhân sẽ được “giải thoát” khỏi vòng vây bủa của thực tại “làm rối loạn lòng ta”. Ông muốn tìm cuộc sống khoáng đạt và ông muốn trở lại với thiên nhiên, với cửa Phật để “giải thoát”, để quên đi cuộc đời trong hỗn loạn, đen tối đau thương.

Do tâm hồn bất mãn với thời cuộc, với hiện thực nên các thi nhân đời Đường đã nghĩ đến cách “giải thoát” mình bằng cách “tìm cõi đi về” ngay trong trần thế – cuộc sống ận dật. Họ đã mơ ước đến cảnh cao khiết để khẳng định nhân cách, tài năng của mình. Và do thực tại xã hội đen tối đã làm tài năng, tâm hồn của các thi nhân không thể “bay bổng” được. Các thi nhân luôn khát khao đòi hỏi được giải phóng, được sống là mình, sống hết mình nên họ thường mơ ước đến một thế giới rộng lớn hơn mong được giải thoát, tự do, đó là thế giới thần tiên. Thế giới thần tiên ấy được xây dựng ngay trong cuộc sống hiện thời bằng trí tưởng tượng, bằng sự mong muốn giải thoát, thi nhân tìm đến nghệ thuật để giải thoát bằng thi ca. Đó là “cảm hứng xuất thế” tất yếu của thi nhân đương thời. Bởi họ không thể hướng ngòi bút của mình vào hiện thực xã hội để phơi bày nó, tố cáo nó với một lòng cam chịu xót xa. Lý tưởng va chạm với hiện thực đã tạo nên sự u uất trong lòng nên họ ước được “giải thoát” lên tiên, được sống với lí tưởng mới mẻ. Do đó, họ nghĩ đến cách “giải thoát”. Chính là mặt trái của tấm lòng yêu đời, là sự thể hiện sâu kín tấm lòng yêu tha thiết cuộc sống trần gian.

Giang hồ mãn địa nhất ngư ông.

(Sông hồ đầy đất, chỉ có một ông già câu cá)

                                                                                    (Đỗ Phủ – Thu hứng)

Một hình ảnh ông lão ngồi buông cần câu trông thư nhàn, thoải mái nhưng cũng hết sức đơn độc, có lẽ giữa khoảng trời đất rộng bao la, mênh mông. Phải chăng ông già câu cá ấy muốn giải thoát mình ra khỏi mọi người xung quanh, khỏi hiện thực bao vây lấy ông lão ấy. Nhà thơ đã không “đắc đạo” về Bồng Lai mà đắc đạo về đời từ hình ảnh hóa thân qua hình ảnh ông già câu cá. Nhà thơ đã thành một vị tiên ở ngay trần thế. Ông đã lấy trần gian làm chốn Bồng Lai, nhân thế làm tiên cảnh và con người “giải thoát” mình bằng lí tưởng, bằng “cảm hứng xuất thế” của “giải phóng” vượt lên tất cả để đạt được sự huyền diệu trong thiên địa mênh mông.

Qua sự thể nghiệm về nhân sinh, các thi nhân đời Đường thấy đời quá ư là ngắn ngủi, biến đổi vô thường chỉ trong khoảnh khắc của sớm, chiều. Nên họ đã sống cuống quýt với thực tại nhưng như thế vẫn chưa đủ họ muốn thoát ra khỏi vòng tuần hoàn của nhân sinh. Đó là sự “giải thoát” của cá nhân hướng đến toàn diện, toàn mỹ trong cảm thức thiên mệnh của thi nhân.

Tóm lại: Khát vọng “giải thoát” chính là một cuộc tìm kiếm, sự kí thác tâm hồn ở một thế giới khác, đó là thế giới của cảm hứng, cảm xúc, của khát vọng của lí tưởng….Lấy đó làm điểm tựa tinh thần để thể hiện khát vọng siêu thoát mãnh liệt của thi nhân. Khát vọng “giải thoát” được thể hiện bằng sự ngao du sơn thủy hay niềm khát khao bất tử hoặc ước vọng muốn tìm đến thế giới thần tiên và muốn làm bạn với trăng, hoa, tuyết, rượu,….để hưởng thú vui thanh nhã như bậc hiền triết xưa. Cũng có lúc thi nhân tìm đến một phương thức giải thoát đặc biệt là tự nâng mình ngang bằng vũ trụ mà vẫn biết rằng hiện hữu thực tại vẫn đang sống như một thực thể. Đó chính là “giải phóng” lý tưởng khỏi trần gian nhưng vẫn sống ở giữa trần gian. Bởi thi nhân đã tự cởi bỏ sợi dây vô hình đang quấn lấy, cố thắt chặt thi nhân vào vòng luân chuyển chung của thời đại, nhưng bằng ý chí, tưởng tượng, sự nhiệt thành của thi nhân, cố “giải thoát” qua sự “vẫy vùng” của cảm xúc, của những tâm hồn cao đẹp đã đem đến “cảm hứng xuất thế” cho thi nhân. Để hôm nay, còn có những vần thơ tươi sáng dâng cho đời mãi mãi.

Trong trần thế con người đã vương lấy mối duyên nhân sinh nên phải chịu ảnh hưởng của mối duyên trần thế đó. Do tự thỏa mãn với bản thân mình khi danh đã cao, vọng đã trọng nên phần nhiều thi nhân đã trở về với niềm vui thú điền viên  sơn thủy, trong cảm giác an nhàn, thanh nhã của bậc hiền sĩ ẩn dật. Đó là “cảm hứng xuất thế” khi công thành thân thoái. Hoặc do thực tại thi nhân vẫn mang “án phong trần” bởi danh chưa lập, nghiệp chưa thành và cùng với tâm trạng bất mãn với thời cuộc nên đem lại tâm lí chán ghét bả vinh hoa, phú quý, không màng đến danh lợi, cũng tạo nên “cảm hứng xuất thế” khi bất mãn thời cuộc và không màn danh lợi, cuộc đời hiện tại làm thi nhân Đường cảm thấy buồn hơn là vui, bất hạnh nhiều hơn là hạnh phúc nên thi nhân đã quay về với núi, mây, sông, nước,….để tìm niềm vui trong thực tại của thú điền viên sơn thủy. Đó chính là “cảm hứng xuất thế” khi thi nhân phải đợi thời cơ. Hoặc có lúc thi nhân Đường bộc lộ “cảm hứng xuất thế” khi đưa tiễn bạn trong đề tài “Tống biệt” hay nhớ về cuộc sống ẩn dật của người xưa bằng tấm lòng ca ngợi, thích thú muốn quay về ở ẩn. Bởi họ có cảm giác cuộc đời sao mà mênh mông trống vắng quá và cuộc sống hiện tại là điểm “trở về” của tương lai và quá khứ. Như vậy, thi nhân đã hướng đến việc là đi sâu vào bên trong là mục đích, là tâm điểm của nội tâm còn nghĩ về ngoại cảnh – đó là hướng ngoại, chỉ là phương tiện để thể hiện “cảm hứng xuất thế” của thi nhân mà thôi. Hoặc có lúc, thi nhân Đường nhìn cuộc đời như một giấc mơ, con người như chìm đắm trong một giấc mộng dài của nhân sinh. “Nhãn khan xuân sắc như lưu thủy, kim nhật tàn hoa tạc nhật khai” (Trước mắt, mùa xuân trôi qua như nước; bông hoa hôm nay tàn chính là bông hoa đã nở hôm qua, Thôi Huệ Đồng – Yến Đông thành trang). Sao mà buồn thế! Đó là một thực tế và cũng là quy luật của thời gian trôi chảy. Nhưng cũng đúng quy luật là cái thực tế: chiếc nụ hôm nay ngày mai sẽ nở thành hoa. Sao người ta ít khi nói đến điều ấy? Vì là thơ cổ. Mà là bài thơ này lại được viết vào buổi hoa tàn thời vãn Đường. Thời gian (Xuân sắc) đi như nước chảy, và hôm nay là tàn tạ của hôm qua. Hôm nay luôn được cảm nhận trong nỗi buồn – ấy là người ta đau lòng vì hiện tại, lo cho tương lai vì người ta cảm nhận được cái quy luật “lưu thủy” của thời gian [7;158] . Nhưng thi nhân không thể làm gì khác để thay đổi được hiện tại nên đành phải “quay lưng” lại với cuộc sống. Đó là “cảm hứng xuất thế” khi cuộc đời được cảm nhận như mộng ảo.

 

 4. Phương thức nghệ thuật trong những bài thơ chứa đựng “cảm hứng xuất thế” của Đường thi

 4.1 Không gian nghệ thuật

Không gian cùng với thời gian làm nên hình thức tồn tại của thế giới, của vật chất; không gian, thời gian cũng là hình thức tồn tại của con người. Con người cũng như vật chất không thể tồn tại ngoài không gian và thời gian [7;74], nên không gian nghệ thuật cũng là một phương diện của thi pháp. Nó là phương tiện để tác giả xây dựng thế giới nghệ thuật. Nó cũng là một “cánh cửa” để qua đó người đọc hiểu hình tượng và tư tưởng, thái độ của tác giả gửi vào trong tác phẩm. Vậy khi tiếp cận một tác phẩm chúng ta không thể không tìm hiểu về không gian nghệ thuật.

Trong thơ Đường có ba cảm hứng chủ đạo là Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo nên không gian trong thơ Đường cũng có ba loại.

Không gian nghệ thuật Nho giáo là những cảnh đời thế tục, có bóng dáng con người và ước vọng sống mang tính nhân văn – xã hội. Thơ Đỗ Phủ luôn quan tâm trăn trở về cảnh sống khốn khổ của dân chúng, thơ ông đúng là “sự chảy máu của tâm hồn”.

Không gian nghệ thuật Đạo giáo là những cảnh vật biệt xa khỏi cuộc sống xã hội, phiêu diêu hướng về thiên nhiên hoang sơ, hy vọng đến cõi Bồng Lai, Thiên Thai, nhà thơ trải lòng với thiên nhiên, tìm niềm vui thoát tục.

Không gian nghệ thuật Phật giáo hướng về cảnh khói nhang, tiếng chuông chùa Đạo Phật, cảnh chùa miếu u trầm lặng lẽ. [14;69].

Như vậy, khi tìm hiểu “cảm hứng xuất thế” trong thơ Đường, chúng tôi chỉ tiếp cận hai loại không gian nghệ thuật theo Đạo giáo và Phật giáo. Nhìn chung không gian nghệ thuật của những bài thơ “cảm hứng xuất thế” là một không gian bao la mênh mông, con người cô độc, lẻ loi, mơ tới một khung cảnh thần tiên của chốn Bồng Lai hay ở cõi Niết Bàn. Đó là không gian vũ trụ bao la mà con người đang muốn hòa vào, hay muốn sống ngang bằng thiên địa. Họ đã xem vũ trụ là căn bản tồn tại của thế giới khách quan, không gian vũ trụ có một ý nghĩa bao quát tuyệt đối,….Dù đi đâu, ở đâu họ cũng thấy mình trong vũ trụ, suy nghĩ về ý nghĩa đời mình trong vũ trụ. Nên khi bất đắc chí họ tìm về với thiên nhiên, vũ trụ như tìm về cội nguồn. Khi ngắm cảnh trời mây, giang sơn họ cũng như mơ màng về nguồn cội. Như vậy, mọi cảm thức về nhân sinh đều gắn với không gian. Trong bài “Tống hữu nhân” – tiễn bạn của Lí Bạch, có non xanh chắn ngang thành núi phía bắc, có nước bạc lượn ở thành phía đông, khi giã từ liền hiện ra ngọn cỏ bồng cô đơn bay vạn dặm, và trong lòng du tử đầy mây nổi, lòng người tiễn đầy bóng chiều tà vũ trụ làm thành biểu trưng của tâm hồn.

Không gian trời cao vời vợi, thi nhân muốn chiếm lĩnh, tự đồng nhất với không gian vũ trụ, để thi nhân phóng tầm mắt vạn dặm. Lý Bạch đã tìm đến trăng, trăng quên mình là trăng, người quên mình là người, trăng và thi nhân trở thành đôi bạn “Tương kì điểu vân Hán” (Hẹn hò nhau trên cao ngút Sông Ngân). Không gian vũ trụ được tính bằng khoảng cách lớn: đất trời, nhật nguyệt, nghìn mẫu, vạn dặm, nam bắc, đông tây,….Đó cũng chính là không gian nghệ thuật nhuốm màu Đạo giáo, Phật giáo, con người đang bồng bềnh trôi nổi theo quy luật tạo hóa. Từ không gian lớn nhất đến không gian nhỏ bé của bản thân, của đời người đều được thi nhân chiêm nghiệm với dáng vẻ ung dung, tự tại. Nhữ Thành trong bài “Thử tìm hiểu tứ thơ của thơ Đường” đã viết: Bầu trời và thiên nhiên là cái nền của thơ Đường .Vì thơ Đường cốt nêu lên cái thống nhất, mà tính thống nhất chủ yếu là tính thống nhất của con người với thiên nhiên cho nên tính tất yếu nó hướng về thiên nhiên. Như vậy, thi nhân Đường đã lấy thiên nhiên làm không gian bầu bạn, để thi nhân trải niềm vui, cảm hứng vào khung trời bao la vô tận. Thi nhân cảm thấy mình ở giữa lòng vũ trụ nên thi nhân khát khao giơ tay vớ lấy trời cao đến với cảnh Bồng Lai hay phóng tầm mắt nhìn xa vạn dặm cuối chân trời xanh, rồi chợt nhìn lại cảm thấy mình bơ vơ  ở một điểm trung tâm trong không gian thiên địa vô cùng vô tận.

Một mình trong lùm tre,

Dạo đàn lại huýt gió.

Rừng thẳm chẳng ai hay,

Rọi nhau có trăng tỏ

(Vương Duy – Trúc lý quán)

Hay Lý Bạch trong bài “Hạ chung Nam Sơn quá Hộc Tư Sơn nhân túc trí tửu” đã nói.

Mộ tòng bích sơn hạ

Sơn nguyệt tùy nhân qui.

(Chiều hôm bước xuống chân đèo,

Ánh trăng trên núi cũng theo người về)

Rõ ràng, ta thấy con người ở vị trí nào thiên nhiên cũng bao quanh và khi con người di chuyển thì cả vũ trụ cũng chuyển dời theo để con người ở vị trí trung tâm. Đó là không gian vũ trụ bao bọc con người và con người luôn tương thông, tương cảm với trời đất, với thiên nhiên, vạn vật làm cho không gian được mở ra từ mọi phía. Nó nói đến mọi chiều không gian là để bày tỏ khát vọng chiếm lĩnh, đồng thời cũng để nói lên rằng cá nhân nhỏ bé của thi nhân đã giao hòa vào vũ trụ. Do ở vị trí trung tâm nên, con người cảm thấy bé nhỏ, cô đơn giữa vũ trụ vô hạn vô cùng, tạo nên một không gian mang tính đối xứng. Do đó, không gian luôn mang tính chất mở, có khuynh hướng giãn nở để đưa tâm hồn con người lan tỏa vào không gian, vượt không gian. Trong “cảm hứng xuất thế” ẩn sĩ bao giờ cũng về với rừng núi hay đồng nội trên cao và không gian nơi hoang vắng chùa chiền, ở nơi ghềnh đá buông cần câu, bên khóm trúc, bên lũy tre xanh,….Ẩn sĩ trở nên nhàn nhã, thanh cao, tâm hồn rộng mở khiến không gian thơ mở ra không gian tâm trạng. Đó cũng là sự hòa điệu của con người vũ trụ, của không gian nội tâm với không gian ngoại giới. Ẩn sĩ ấy, không gian ấy tạo cho ta cảm giác: Bước vào thế giới thơ Đường ta bước vào thế giới hòa điệu. Đây cũng là không gian hòa điệu.

Không gian nghệ thuật trong những bài thơ Đường có “cảm hứng xuất thế” mang sự tĩnh lặng, vắng vẻ, đơn sơ. Đó là không gian tĩnh tương ứng với thời gian hoài cổ. Có khi không gian tĩnh lặng cũng được thể hiện ở giữa trời  thẳm xanh.

Cuối năm nếu muốn sang chơi

Cưỡi con rồng trắng giữa trời thẳm xanh.

     (Lý Bạch – Tống Dương sơn nhân quy Tung Sơn)

Hay bằng hình tượng của một đạo sĩ nhẹ nhàng thả thuyền dạo chơi theo kiểu Đạo giáo.

Nhân sinh tại thế bất xứng ý

Minh triêu tán phát lộng biên chu

(Người sinh ở đời không xứng ý

Mai đây xõa tóc thả thuyền chơi).

Từ “cảm hứng xuất thế” đã tạo nên một không gian siêu nhiên rộng lớn và khoáng đạt, nhằm thể hiện khát khao của thi nhân muốn vượt vũ trụ để đến với thế giới thần tiên.

Lên cao trông ra bốn bể

Trời đất mênh mông biết bao.

(Lý Bạch – cổ phong)

Hình ảnh của ẩn sĩ lẫn khuất trong núi hay hình ảnh của thi nhân lên tận đỉnh núi cao để nhìn ra bốn bể, đã tạo nên một không gian tượng trưng thể hiện một khát vọng vượt hiện thực. Do không thể hòa nhập với thực tại, thi nhân Đường đã lui về ẩn dật, “xuất thế” trong trạng thái nhàn nhã, thanh bần, thư thái như không, tạo nên một không gian ẩn dật cao khiết, thoáng đãng để con người có thể cảm thụ nhân sinh. Đó là không gian xuất thế.

Quân tiễu bích ma thiên

Tiêu dao bất kế niên

Bác vân tầm cổ đạo

Tỷ thụ thích lưu tuyền.

(Những ngọn núi đâm thủng bầu trời cao vợi

Tiêu dao không kể tháng ngày

Vén mây tìm con đường cũ

Tựa vào cây nghe tiếng suối róc rách).

(Lý Bạch)

Không gian nghệ thuật trong thơ “cảm hứng xuất thế” cũng có khi là không gian trong thế tương phản, nhằm thể hiện sự băn khoăn về lẽ xuất xử (nhập thế hay là xuất thế) với những hình ảnh thiên nhiên mênh mông, trường cửu như dòng sông, con đường, ngọn núi, ánh trăng, cánh buồm….hay nỗi băn khoăn trong nỗi hoài niệm, đưa tiễn cố nhân. Lưu Trường Khanh trong bài ‘Tiễn biệt Vương Thập Nhất nam du” đã thể hiện.

Phi điểu một hà xứ

Thanh sơn không hướng nhân.

Trường Giang nhất phàm viễn,

Lạc nhật ngũ hồ xuân.

(Tuyệt vời chim nẻo nào bay ?

Xanh xanh chỉ ngọn núi này nhìn ta.

Sông dài một lá buồm xa,

Năm hồ in bóng dương tà chiều xuân)

Như vậy, thi nhân Đường đã lấy không gian của vũ trụ thực tại để biến thành không gian nghệ thuật, qua đó thể hiện quan niệm, lý tưởng và lẽ sống của thi nhân. “Cảm hứng xuất thế” đã chi phối cho việc tạo ra không gian nghệ thuật của những bài thơ nói về “xuất thế”. Từ không gian rừng sâu, núi thẳm đến không gian “Bồng Lai” nơi tiên giới đều chứa đựng hành động “quay lưng” với thực tại của thi nhân khi nghĩ về ở ẩn cư hay đã thực sự sống một đời ẩn dật. Không phải thi nhân không yêu đời, yêu cuộc sống trái lại chính vì yêu đời, yêu cuộc sống mà thi nhân đôi lúc đã có “cảm húng xuất thế” được bộc lộ qua những bài thơ của mình. Vì cuộc sống đương đại đời Đường không như ước mơ, lý tưởng của thi nhân nên họ mới đau lòng, xót xa nhưng bất lực không thể biến đổi gì hơn. Họ đành phải “xuất thế” là như vậy. Bởi không yêu đời yêu cuộc sống thì đâu cần phải đau lòng, xót xa làm chi. Để nói lên sự buồn chán muốn trở về cuộc sống nhàn nhã, thanh cao của người ẩn dật, thi nhân đã tạo dựng những không gian nghệ thuật phù hợp với “cảm hứng xuất thế” của mình. Không gian nghệ thuật trong thơ Đường tương tự như nghệ thuật tạo vườn của người Trung Quốc, thích tạo cảnh sơn thủy kề nhau, cây rừng trùng điệp, đỉnh non hiện qua khung cửa, bóng hoa chiếu lên tường, đường núi quanh co, ngoài vườn có vườn, ngoài cảnh có cảnh. Nó tựa như hội họa và thư pháp Trung Hoa chú trọng phối hợp gần xa, thưa dày, hữu vô, tĩnh động. Những câu thơ nổi tiếng đều là sự phối hợp của các biểu tượng không gian làm hiện ra cái thần thái, sức sống của cảnh vật [19;27]. Qua sự thể hiện không gian nghệ thuật thi nhân muốn thể hiện: con người trong sự hô ứng với vũ trụ thể hiện trong hệ không gian vũ trụ cao – viễn cho một hình khá viên mãn về thế giới của sự hòa điệu – thế giới Đường thi.

Không gian và thời gian có mối quan hệ biện chứng với nhau. Quan niệm khoa học hiện tại coi thời gian là chiều thứ tư của không gian cũng trong ý nghĩa ấy. Thời gian là một đại lượng để xác định quá trình tồn tại, vận động phát triển của mọi vật, mọi sự trong thế giới. Hình tượng nghệ thuật cũng chỉ có thể được xác định trong không – thời gian.

 

     4.2 Thời gian nghệ thuật

Nếu hiểu thơ ca là sự cảm nhận về thế giới và con người thì thời gian, không gian nghệ thuật chính là hình thức để con nguời cảm thụ thế giới và con người. Bởi vì người ta không thể cảm thụ bất cứ cái gì ngoài không gian và thời gian. Thời gian trong thơ ca tuy cũng có độ dài, nhịp độ, có quá khứ, hiện tại, tương lai, nhưng là một phạm trù nghệ thuật, nó mang đầy tính ước lệ, chủ quan và thể hiện một cách về thế giới, con người. Tìm hiểu thời gian không gian nghệ thuật trong những bài thơ có “cảm hứng xuất thế” của Đường thi chính là tìm hiểu cách cảm nhận cuộc sống một cách nghệ thuật và thẩm mĩ của thi nhân Đường. Giáo sư Trần Đình Sử đã khái niệm thời gian nghệ thuật như sau: Thời gian nghệ thuật là hình tượng thời gian được sáng tạo nên trong tác phẩm.

Thời gian trong tác phẩm nghệ thuật là nó luôn luôn mang tính cảm xúc và tính quan niệm, đầy tính chất chủ quan. Nên thời gian nghệ thuật không hoàn toàn giống với thời gian tự nhiên khách quan. Thời gian nghệ thuật mang tính chất tự do so với thời gian khách quan – nó có thể bị đảo ngược, bị hãm tốc hoặc gia tốc. Trong nghệ thuật, thời gian có thể rong ruổi ngược xuôi một cách tự do [7;123].

Theo Phật giáo, thời gian là sự vận động vô thủy, vô chung, tạo ra những vòng luân hồi liên tục. Đời người được tính bằng một “kiếp” gồm: sinh, lão, bệnh, tử. Lấy quy luật “nhân quả” làm trung tâm, có kiếp trước kiếp sau luôn tuần hoàn như thế. Thời gian đời người chỉ là khoảnh khắc trong thời gian chung của vũ trụ.

 Theo Đạo giáo, thời gian là trường cửu, vô thủy vô chung và gắn chặt với không gian. Con người cứ thuận theo dòng sinh hóa mà sống theo lời “dạy bảo” của thiên nhiên. Thời gian đời người luôn được ý thức và luôn khát khao hòa vào thời gian trường cửu của vũ trụ, đồng thời cũng muốn kéo dài thời gian đời người ngang bằng cùng thiên địa.

 Những bài thơ “cảm hứng xuất thế” cũng thể hiện quan niệm về thời gian nghệ thuật chịu sự ảnh hưởng của Đạo giáo và Phật giáo. Nếu cảm nhận không gian nghệ thuật, con người luôn ở vị trí trung tâm thì thời gian con người thấy mình luôn ở giao điểm của quá khứ và tương lai. Họ nghĩ đến quá khứ và hướng về tương lai xa không mấy tin tưởng. Trần Tử Ngang trong bài “Đăng u châu đài ca” đã cho thấy thời gian đời người là điểm tiếp nối giữa quá khứ và tương lai. Hiện tại thì không có mẫu người lí tưởng mới của thời đại. Đó là sự trống vắng trong cái nhìn thời gian hiện tại của thi nhân.

Tiền bất kiến cổ nhân

Hậu bất kiến lai giả.

Nên hiện tại họ cũng muốn lưu danh thiên cổ, để lại cái gì cho hậu thế.

Thiên thu vạn tuế danh

Tịch mịch thân hậu sự

(Danh tiếng để lại hàng vạn năm sau,

Chỉ là việc âm thầm sau khi qua đời)

(Đỗ Phủ – Mộng Lý Bạch)

Có lúc, thi nhân Đường cảm nhận thời gian như một “tia chớp” nhanh và đáng sợ, nên họ muốn kéo giữ thời gian, làm nổi bật sự tương phản giữa thời gian trần thế biến thiên của kiếp người với thời gian thiên nhiên của cây cỏ, của hóa công, của sông núi. Đó là thời gian tương phản.

Trường lưu nhất phiến nguyệt

(Vầng trăng sáng vẫn còn mãi  mãi)

                   Lý Bạch – Tống Dương Sơn nhân quy Tung Sơn)

Thời gian con người tỏ ra vô thường biến đổi nhiều hơn khi so với thời gian vũ trụ – tự nhiên bất biến vô hạn, vô kì. Thời gian đời người được thi nhân cảm nhận quá ư là ngắn ngủi, thời gian sinh mệnh cá thể được tính bằng sớm, chiều, nay, mai, có, không,….Nên thi nhân đã khát khao đi vào cõi vĩnh hằng, ước mong đến chốn Bồng Lai, hay cõi Thiên Thai. Từ đó tạo nên thời gian siêu nhiên thể hiện trong những bài thơ của Tào Đường viết về hai chàng Lưu Nguyễn du chơi ở chốn ThiênThai.Tại trong số rất nhiều bài thơ “Du tiên” của ông có những câu: “Trong hoa tiếng hát vừa ngưng lại, là lúc trần gian qua vạn nặm” hoặc “khoảng một trăm năm một mùa xuân, không cho nhật nguyệt tự xoay vần”. Đây là thời gian tiên cảnh khác hẳn trần gian, mọi vật tồn tại như trong sự vĩnh viễn – thời gian siêu nhiên.

Thời gian một đi không trở lại làm con người nối tiếc, muốn siêu thoát “mũi tên thời gian” chỉ có một chiều – một đi không trở lại, hướng thẳng đến tương lai vô tận “Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản”. Đó là thời gian nuối tiếc mà con người đành “bó tay” trước quy luật nghiệt ngã của thời gian.

Trăm năm nào có gì đâu

Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì.

(Nguyễn Gia Thiều – Cung oán ngâm khúc)

Thời gian được quan niệm như dòng chảy liên tục, tuần hoàn và con người cũng bị cuốn vào dòng chảy ấy nên nhiều lúc con người muốn vượt lên, thoát ra khỏi quy luật tuần hoàn ấy. Đó chính là lí do khiến thi nhân hướng đến thời gian tương lai, khẳng định giá trị vĩnh hằng của văn chương.

Thi thành thảo thụ giai thiên cổ.

                                                            (Lý Bạch)

Do thi nhân đã trải nghiệm thời gian trong cuộc sống nên thi nhân muốn nói với con người, nhắc nhở con người rằng: phải làm sao cho ngày mai không là tàn tạ của hôm nay. Niềm hy vọng ấy trong cõi nhân sinh thì người ta gửi gắm vào con cháu, vào thế hệ tương lai, trong nghệ thuật thì thi nhân gửi gắm hy vọng trường tồn vào những đứa con tinh thần của mình (tác phẩm). Mong muốn “ thi thành thảo thụ giai thiên cổ” là muốn gửi cái đẹp cho tương lai.

Thời gian luôn có xu hướng lan tỏa ngược về quá khứ, xuôi đến tương lai. Đó là “cảm hứng xuất thế” – lôi cuốn thoát cả thời gian. Đây chính là thời gian hoài cổ và thời gian ký ức, hoài niệm về cố nhân.

Hát ngao chạnh nhớ người hái rau vi

(Vương Tích)

           Hay:

Người xưa đã khuất rồi

Nước sông Dịch nay còn giá lạnh.

Nhưng thời gian hoài cổ không phải luôn luôn được đánh dấu bằng những tên tuổi, những cột mốc cổ xưa mà nhiều khi nó chỉ mang tính phiếm chỉ – Miễn “cổ” là đủ để yên tâm. Cổ đồng nghĩa với giá trị ! Lý Bạch đã lấy Khuất Nguyên làm thước đo. Rồi mới nói đến mình.

Hứng  hàm lạc bút dao Ngũ Nhạc

Thi thành tiếu ngạo lăng Thương Châu

  (Say thi hứng, xuống bút lay động năm tòa núi Nhạc

          Thơ làm xong, cười ngạo nghễ,  coi thường cả Thuơng Châu)

Cứ mỗi lần gặp thời gian hoài cổ, người ta lại cảm thấy tác giả không bằng lòng với hiện tại.

Tích nhân dĩ thừa Hoàng  hạc khứ

Thử địa không dư  Hoàng Hạc Lâu .

(Thôi Hiệu – Hoàng hạc lâu)

Thi nhân đã nhìn nhận thời gian vũ trụ là vô cùng vô hạn, khát vọng muôn thuở. Đặt con người trong vòng lưu chuyển của thời gian để luôn nhắc nhở con người  biết ơn quá khứ, trách nhiệm với hiện tại – nhưng về hiện tại không như ý mà sức thi nhân không thể thay đổi nên đành quay về ẩn dật để tôn thời quá khứ đã qua, lo lắng và dành lại những gì tốt đẹp cho tương lai. Đó chính là ý nghĩa nhân văn đích thực nghệ thuật trong những bài thơ mang “cảm hứng xuất thế” của thơ Đường.

Thời gian vũ  trụ bao giờ cũngrộng mở, muốn được vươn tới thiên nhiên bền vững, trường cửu, mở rộng tâm tưởng, nhớ về kỉ niệm, nhàn nhã, khoan thai…Qua ý niệm, thời gian vũ  trụ ấy, thi nhân đã cho thấy con người “xuất thế” luôn buồn, thích trầm tư, thích ngao du sơn thủy, vui với thiên nhiên vạn vật, thích sống một cuộc sống nhàn nhã, có thể trò chuyện làm bạn với trăng, có thể vượt Ngân Hà để đến bồng lai. Vì thời gian ở cõi tiên bao giờ cũng dài hơn ở trần thế. Đó là ý niệm muốn chan hòa thời gian đời người vào cõi bất tử của thiên địa. Thời gian vũ trụ – tự nhiên như mặt trăng, mặt trời, nước chảy, mây trôi, bốn mùa….Đây là thời gian vời vợi vô tận, vô kỳ, bất biến nó sẽ khỏa lắp mọi cá thể, sự  nghiệp.

Thi nhân cảm nhận đời người ngắn ngủi, tuổi xuân mau qua, được cảm nhận qua tóc bạc, sương mai, hoa rụng.…Đó là thời gian sinh mệnh cá thể, thời gian hữu hạn của đời người “Sớm như tơ xanh chiều thành tuyết”, Lý Bạch – Tương tiến tửu). Thi nhân đã thể hiện khát vọng về thời gian. Lý Bạch cũng đã  từng mời thời gian  uống  rượu để  “Mong giữ mãi tuổi xuân cho con người”.

Tóm lại: Thời gian nghệ thuật không tồn tại cứng nhắc một chiều, khách quan đối với con người mà hiện hữu ngay trong nội tâm. Thời gian thể hiện một cách đắc lực, “cảm hứng xuất thế”của thi nhân. Thời gian cứ trôi đi ngày tiếp ngày, tháng tiếp tháng và đời người cũng được tính theo cái vòng vô định ấy, tạo nên cảm hứng cho thi nhân. Thời gian nghệ thuật trong những bài thơ “cảm hứng xuất thế” góp phần cho thấy cách cảm nhận cũng như cách thể hiện của thi nhân về đời người, trong đó bộc lộ quan niệm sâu sắc của thi nhân về đời người.

Không gian, thời gian trong những bài thơ “cảm hứng xuất thế” là không gian thời gian trong tâm thức thi nhân đời Đường. Quan niệm về không gian thời gian ấy đã tạo thành những biểu trưng và hình thức biểu hiện đặc trưng giàu sức sống, có ảnh hưởng lâu dài không chỉ đối với thi ca Trung Quốc, mà còn ảnh hưởng sâu đậm trong sáng tác thơ ca chữ Hán và chữ Nôm tiếng Việt. Nghệ thật thơ Đường nói chung và nghệ thuật của những bài thơ “cảm hứng xuất thế” nói riêng không chỉ biểu hiện ở không gian, thời gian nhưng hai phạm trù này có ảnh hưởng chi phối nhiều bình diện khác. Và nó gắn bó quan hệ mật thiết với nhau.

 

    4.3 Ước lệ, tượng trưng

Tính ước lệ, tượng trưng trong những bài thơ “cảm hứng xuất thế”, thể hiện ở đề tài đa dạng, phong phú. Nó nói nhiều đến thiên nhiên, khung cảnh trời mây bao la tráng lệ, cảnh núi non hùng vĩ. Con người ở vị trí ngang bằng, đối mặt với núi non.

Nhìn nhau không thấy chán,

Chỉ có núi Kính Đình.

(Lý Bạch – Độc tọa Kính Đình sơn)

Nó nói nhiều đến mây, trăng, hoa ,tuyết, tùng, cúc, trúc, mai,….Là những thứ “cao quí” thể hiện tư thế con người trong thiên địa qua những hình ảnh mà tác giả đã chọn lọc, đặc biệt là hình ảnh của hoa.

Chỉ có non nam hoa quế nở

(Lư Chiếu Lân)

Hay:

Hoa đào theo bẵng nước trôi,

Có riêng trời đất, cõi người đâu đây.

(Lý Bạch sơn trung vấn đáp)

Xuyên đường trúc đủ len chân ngựa,

Vào khóm hoa mới thấy người nhàn.

(Châu Loan)

Đêm qua rầm rập tiếng gió mưa

Chẳng hay có bao nhiêu hoa đã rụng.

(Mạnh hạo Nhiên)

Không ai biết đạo sĩ đi đâu,

Buồn tựa bên vài ba gốc thông.

(Lý Bạch)

Những con số cũng mang tính ước lượng, phiếm chỉ, tượng trưng, chứ không là những con số mang giá trị tự nhiên.

Trăn năm ba vạn sáu ngàn ngày

Ngày ngày phải uống ba trăm chén

Hai câu thơ thể hiện nỗi say sưa quên hết nỗi sợ hãi thời gian của Lý Bạch. Không gian cũng mang tính ước lệ, thể hiện tâm hồn của thi nhân muốn hòa nhập vào sự vĩnh hằng của thiên địa.

Ẩn hiện cầu treo sau làn khói

                                                            (Lý Bạch)

Ở phía tây hòn đá, hỏi thăm thuyền chài

Hoa đào suốt ngày trôi theo dòng nước

Động suối trong về phía bên nào

(Trương Húc)

Tính ước lệ làm cho câu thơ vừa hư vừa thực, trừu tượng, nhưng nhờ đó mà lại có ý nghĩa phổ quát. Còn quá trình cụ thể hóa nó lại diễn ra trong tâm trí người đọc. Thi nhân nắm được quy luật liên tưởng của quá trình tiếp nhận nên chỉ đưa vài nét bút ước lệ. Ước lệ là một phương tiện có hiệu lực nhất. Trong bài “Vô đề” của Lý Thương Ẩn thì ta bắt gặp những tính ước lệ tạo nên một thế giới tâm trạng. Thơ Đường là “ý taị ngôn ngoại” nên khi tả cảnh để ngụ tình thì không thể không dùng bút pháp ước lệ, tượng trưng. Mỗi câu thơ như vẽ lên một cảnh nhưng qua tất cả các cảnh lại ẩn trong đó tâm trạng của thi nhân.

Ảnh hưởng bút pháp ước lệ, tượng trưng đó, trong thơ văn trung đại ViệtNamđã để lại những tác phẩm tuyệt tác. Qua Truyện Kiều, chúng ta thấy rõ bút pháp ước lệ, tượng trưng khi miêu tả vẻ đẹp của Kiều, Vân, Từ Hải, hoặc trong thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Gia Thiều,….Như vậy, bút pháp ước lê, tượng trưng như là một bút pháp quen thuộc của thơ cổ. Thơ Đường dùng hình ảnh, ngôn từ ước lệ nhưng không sáo mòn. Đó là vì thi nhân dùng chúng rất hợp cảnh, hợp tình, và nhất là những hình ảnh, ngôn từ ước lệ được đặt trong những mối quan hệ, khiến chúng hô ứng với nhau, tạo một hình tượng cảm xúc riêng, độc đáo.

 

   4.4 Ngôn ngữ thể hiện

Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy

Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học

Tổ chức một tác phẩm văn học chính là sự tổ chức của nghệ thuật ngôn từ. Vì vậy, khi tìm hiểu những bài thơ  “cảm hứng xuất thế” không thể không tìm hiểu nghệ thuật ngôn từ. Đó chính là ngôn ngữ miêu tả của thi nhân.

Đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ trữ tình lãng mạn là sự giản dị và hàm súc, thể hiện sự thống nhất, tương quan giữa con người với thế giới, giữa nội tâm với ngoại cảnh. Điều này, ta bắt gặp nhiều trong thơ Lý Bạch.

Ngôn ngữ miêu tả trong thơ Đường rất sắc nét, có sự cách điệu cao so với ngôn ngữ sinh hoạt. Đó là một trong những ưu thế rõ ràng làm cho những bài thơ “cảm hứng xuất thế” được sống động, độc đáo riêng.

Sơn tòng nhân diện khởi,

Vân bàng mã đầu sinh.

(Núi nhô lên khỏi mặt người,

Mây hiện ra quanh đầu ngựa)

Trước mắt ta là một bức tranh chấm phá một người cưỡi ngựa đương leo một đường mòn trên núi cao. Mấy tiếng gọn và sắc bén, mới đọc tưởng như chẳng có ý nghĩa gì, vậy mà chỉ cần tưởng một chút là thấy thi nhân y như họa sĩ, bỏ thuật phối cảnh đi, đưa ra phía trước một vài vật rõ rệt (mặt người, đầu ngựa) để cho chân trời ở phía sau có giá trị.

Vương Duy đã xây dựng hình ảnh trăm dòng thác ở trên ngọn cây qua sự quan sát, tưởng tượng của thi nhân.

Sơn trung nhất dạ vũ,

Thụ sao bách trùng truyền.

(Trong núi một đêm mưa,

(Trên) ngọn cây, trăm dòng thác)

Đêm mưa, nước từ khe núi xa xa tuôn xuống thành cả trăm dòng thác, cho ta cảm giác như từ ngọn cây đổ xuống ngay trên đầu mình.

Qua ngôn ngữ miêu tả, thể hiện lên tâm trạng của thi nhân như: tư, lự, tưởng, ức, hoài, niệm, sầu, hận,….Qua những động từ để nhấn mạnh tấm lòng của thi nhân về lẽ “xuất xử” băn khoăn chọn hướng cho cuộc đời mình, là ở ẩn hay ra phụng sự đất nước. Đó chính là tâm trạng thực của thi nhân. Hay qua miêu tả cảnh thiên nhiên tươi đẹp như ở chốn tiên, nơi tiên cảnh Bồng Lai cũng thể hiện tấm lòng của thi nhân đối với đời như thế nào.

Tóm lại: Ngôn ngữ thể hiện của những bài thơ “cảm hứng xuất thế” vừa chân thực, sắc nét nhưng cũng vừa hư ảo, tạo âm hưởng mênh mang để đi sâu vào lòng người. Ngôn ngữ miêu thể hiện rất sống, rất gần so với thực tế cuộc sống, nó vượt qua không – thời gian để tồn tại mãi mãi. Và mỗi người sẽ có một “ngôn ngữ thể hiện” riêng, đặc trưng, không ai giống ai. Ngôn ngữ trong thơ Lý – Đỗ có sức hấp dẫn khác nhau, hiệu quả cũng khác nhau. Đọc thơ Lý Bạch ta có cảm giác phừng phừng, có cái hùng vĩ cao ngang bay bổng. Đọc thơ Đỗ Phủ ta lại thấy buồn thương nặng nề có khi như đau buốt. Lời thơ Lý Bạch như ngọn gió mát mùa hè sau cơn mưa rào làm cỏ cây đâm chồi nảy lộc. Lời thơ Đỗ Phủ như ngọn gió lạnh mùa thu, với lá cây rơi rụng, núi sông tịch mịch.

 

PHẦN KẾT LUẬN

 1.  Ảnh hưởng của những bài thơ chứa đựng “cảm hứng xuất thế” đối với văn học Việt Nam.

Thơ Đường là thành tựu rực rỡ nhất của thơ ca cổ điển Trung Quốc và thế giới. Thơ Đường có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ đối với thơ ca Trung Quốc, mà ở các nước phương đông, đặc biệt là Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam có ảnh hưởng sâu rộng chưa từng thấy. Riêng ở Việt Nam từ xưa đến nay, không có nền thơ ca ngoại quốc nào được nhân dân ta yêu mến, truyền tụng nhiều như thơ Đường. Trong bài tựa “Anh ngôn thi tập”, Ngô Thì Sĩ viết: Trong mấy tập thơ mới, tôi đọc một số bài thơ còn lại của Bạch Cư Dị, riêng hai bài“Trường hận ca” và “Tỳ bà hành” thì không có lúc nào rời tay… Thiếu Lăng như viên ngọc từ xưa để lại, (song) Bạch Cư Dị mới là bậc thầy của tôi. Biết bao văn nhân học giả nước ta đã ngâm nga thơ Đường, nghiên cứu thơ Đường, dịch thơ Đường, mượn nó để gứi gắm niềm vui của chính mình. Điều đó có thể giải thích được bởi giá trị tuyệt mĩ của thơ Đường và bởi sự tương đồng trong tâm thức văn hóa giữa hai dân tộc phương Đông. Người Việt Nam thông minh, năng động và giàu bản lĩnh nên văn hóa Việt Nam hòa nhập nhưng không hòa tan. Cái phần tinh túy nhất của thơ Đường đã được cha ông tiếp thu, Việt hóa để làm giàu thêm truyền thống văn hóa của chúng ta.

Quả vậy, thơ Đường đã đi vào tâm thức văn hóa Việt Nam. Các nhà nho xưa như Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Phạm Ngũ Lão, Đặng Dung, Nguyễn Công Trứ…. Đã có lòng yêu thích thơ Đường và làm thơ Đương. Trong thời hiện đại biểu hiện là nhân cách văn hóa lớn – Hồ Chí Minh. Con người từng được thế giới phong tặng danh hiệu “Anh hùng giải phóng dân tộc – danh nhân văn hóa” ấy, đã viết những văn chính luận và truyện kí bằng tiếng Pháp nhưng lại làm thơ bằng chữ Hán theo thể Đường thi, in trong tập “Nhật kí trong tù”, được nhà thơ Quách Mạc Nhược đánh giá là “đặt lẫn vào các tập thơ Đường Tống cũng không phân biệt được”. Ngoài ra  Người còn để lại gần 30 bài thơ bằng chữ Hán cũng theo thể Đường luật và hàng chục bài thơ viết bằng chữ Việt  nhưng theo kiểu Đường thi. Cũng có thể tìm thấy trong “Nhật kí trong tù” những điển cố Trung Quốc thường được vận dụng như những ước lệ thẩm mĩ trong thơ Đường, như Bá Di, Thúc Tề,….Hơn thế nữa, có thể tìm thấy một bài gần như mô phỏng bài “Thanh minh” của Đỗ Mục. Đương nhiên, đây là một sự gặp gỡ sâu sắc giữa Bác và thi nhân xưa. Điều cần nhấn mạnh là trong toàn bộ sáng tác của Bác chúng ta không hề thấy dấu vết của sự mô phỏng, bắt chước. Người luôn cách tân, kế thừa để cách tân. Trong bài Mộ (chiều tối) hầu như không thấy tác giả. Những cánh chim mệt mỏi về rừng, một chòm mây chậm chạp giữa trời, người con gái xóm núi xay ngô và lò than đỏ rực lên lúc trời tối. Mấy đường nét đậm nhạt, và nếu không có cái điểm đỏ rực lò than thì như phảng phất một “Giang tuyết” cô quạnh của Liễu Tông Nguyên. Nhưng phong cảnh trong thơ Hồ Chí Minh dĩ nhiên không bao giờ lạnh lẽo quạnh hiu như trong thơ người xưa. Ở đây, thiên nhiên như đang vận động theo vòng quay chiếc cối để đưa đến một buổi tối đoàn tụ. Chỉ thế thôi, nhưng chứa đựng biết bao nhân hậu, sự nâng niu trân trọng cuộc sống. Trong thơ Bác cũng có cả thi, nhạc, họa như thơ của người xưa. Trong bài “Hoàng hôn” đã gợi lên một bức tranh sinh động với gió chém váo đá núi, với rét cứa vào cánh cây, với sự dấn bước của người bộ hành, với mục đồng vắt véo trên lưng trâu trong bản hòa tấu réo rắt của tiếng gió vi vút, tiếng chuông chùa ngân nga và tiếng sáo véo von. Cái thoáng nhẹ và sâu lắng đó tạo nên một âm vang, lan tỏa trong cảm xúc người đọc. Thiên nhiên trong “Tân xuất ngục đăng sơn” (Mới ra tù tập leo núi) trở nên hùng vĩ. Núi đỡ mây, mây ôm núi như một dãy trường thành không vượt qua được, cũng giống như sự hòa quyện giữa mây, núi và ẩn sĩ trong thơ Đường. Đó cũng là sự thống nhất giữa con người và thiên nhiên, giữa chủ thể và khách thể.

Ảnh hưởng của những bài thơ “cảm hứng xuất thế” của Đường thi ở Việt Nam cũng khá sâu rộng. Trước tiên là ảnh hưởng ở “cảm hứng xuất thế”, băn khoăn lẽ “xuất xử”. Có lẽ phần nào khác với Trung Hoa là ở Việt Nam trong thời kì phong kiến, nhiều nhà Nho có học nhưng không đi thi, không đậu đạt, họ về nhà mở trường dạy học, lui về nhà ở ẩn, hoặc làm quan một thời gian ngắn rồi về quê ở ẩn. Đây cũng là ảnh hưởng của “cảm hứng xuất thế”- là lối sống thoát tục, nhàn nhã, thanh cao trong tâm lí người Việt.

Mãn Giác thiền sư cũng để lại cho đời một bài thơ bất diệt, mà có lẽ không một người Việt Nam nào không biết đến.

Xuân qua, trăm hoa rụng

Xuân tới, trăm hoa tươi

Trước mắt, việc đi mãi

Trên đầu già đến rồi

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước nở cành mai

(Cáo tật thị chúng)

Bài thơ có ý tưởng hàm xúc, nói rõ về lẽ tuần hoàn của trời đất và thể hiện một quan niệm thật mới mẽ hiện đại về cuộc sống. Đó cũng là một sự chiêm nghiệm cuộc đời đầy màu sắc triết lý của một nhà sư.

Đề tài của những bài thơ “cảm hứng xuất thế” trong thơ Đường, ta cũng bắt gặp rất nhiều trong thơ trung đại Việt Nam, được trở đi trở lại qua nhiều thế hệ: mai, lan, cúc, trúc, vân, phong, ngư tiều, nguyệt….Nhưng mỗi người có mỗi phong cách riêng. Một Nguyễn Trãi, một Nguyễn Bỉnh Khiêm, một Nguyễn Du, một Nguyễn Đình Chiểu….đã làm rất nhiều thơ có đề tài trên, đặc biệt là Nguyễn Trãi lúc về ở ẩn ở Côn Sơn .

Hái cúc, hương, lan, hương bén áo,

Tìm mai, đạp nguyệt, tuyết xâm khăn.

Hay:

Côn Sơn có suối rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai

Côn Sơn có đá rêu phong

Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm

Trong lèn thông mọc như nêm

Tha hồ muôn lóng ta xem chốn nằm

Trong rừng có bóng trúc râm

Giữa màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn…

Ngay cả trong thơ mới, các nhà thơ như Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư,….cũng lấy cảm hứng từ các bậc tiền bối và nguồn “cảm hứng xuất thế” của thơ Đường. Xuân Diệu bàng hoàng, thản thốt, ngậm ngùi trước bước đi của thời gian, cũng ý thức đời người ngắn ngủi, trôi trong vòng luân hồi của tạo hoá theo thời gian.

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghìa là xuân sẽ già,

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất;

Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật.

Không cho dài thời trẻ của nhân gian,

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!

Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời.

                                                                        (Vội Vàng)

Dường như thi nhân xưa và nay họ đã có sự đồng điệu trong tâm hồn. Họ đã ý thức được kiếp sống phù vân của con người. Hay Huy Cận cũng lấy cảm hứng từ hai câu thơ cuối trong bài “Hoàng hạc lâu” để viết nên.

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Lưu Trọng Lư cũng ý thức sâu sắc bước đi của thời gian.

Ai vào đấy nữa

Chỉ là em

Thời gian!

Trong những bài “cảm hứng xuất thế” thi nhân Đường thường ham thích cuộc sống xuất thế – một lối sống thoát tục. Họ muốn tìm đến nơi tiên giới, cảnh Bồng Lai, muốn tồn tại ngang bằng nhật nguyệt. Còn ở Việt Nam ta, đến đầu những năm 30 của thế kỉ XIX, trên thi đàn Việt Nam, cả một thế hệ như có phần mặc cảm “đầu thai lầm thế kỉ”, cũng có cảm hứng giống thi nhân xưa, những mong trốn thoát vào dĩ vãng, vào tiên giới, vào đạo, vào vị nghệ thuật…và trên khắp các nẻo đường đó, thỉnh thoảng họ như muốn dừng chân lại để tìm vào cõi  hư vô. Họ sử dụng nhiều điển tích trong thơ Đường xem đó là: một nhu cầu thỏa mãn tâm hồn nghệ sĩ phóng khoáng của thi nhân vốn có khuynh hướng thoát li thực tại để trở về một thế giới kì ảo xa xưa.

Nguyễn Khuyến đã tìm về cuộc sống ẩn dật nơi điền dã, núi sông, tìm niềm vui với thiên nhiên tạo vật, hòa vào vũ trụ, cùng với tấm lòng rộng mở đối với cố nhân “Bác đến chơi đây ta với ta” mặc dù.

Ao sâu nước cả khôn chài cá

Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà

Cải chửa ra hoa cà mới nụ

Bầu vừa rụng rốn mướp đương hoa.

(Bạn đến chơi nhà)

Tóm lại, những bài thơ “cảm hứng xuất thế” đã thâm nhập và ảnh hưởng khá sâu rộng tới văn học nghệ thuật Việt Nam. Rất nhiều nhà thơ của chúng ta đã chịu ảnh hưởng “cảm hứng xuất thế” của Đường thi. Từ các nhà thơ cổ điển đến các nhà thơ hiện đại đều thấp thoáng “hình bóng” của Đường thi trong sáng tác của mình. Tế Hanh đã từng nói: Trước Cách Mạng Tháng Tám, trong phong trào thơ Mới, ngoài thơ trong nước, thơ phương Tây, chúng tôi còn ham mê đọc thơ Đường…hay cùng nhau đọc những bài thơ như Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu mà Tản Đà đã dịch ra lục bát…. Trong tâm thức của người Việt Nam, văn hóa Trung Hoa, đặc biệt là thơ Đường có ảnh hưởng sâu rộng đến thơ cổ điển Việt Nam. Những triết lí, những quan niệm về nhân sinh như đời người ngắn ngủi, khát vọng trường sinh, muốn sống cùng thiên địa, muốn vượt vũ trụ để đến với thế giới thần tiên… cũng được tiếp thu sáng tạo phù hợp tâm thức người Việt.

      Những bài thơ “cảm hứng xuất thế” sẽ còn ảnh hưởng và sống mãi trong lòng độc giả ở mọi thế hệ. Đó là sức sống bất tử của nó nói riêng và thơ Đường nói chung. Có thể nói thơ Đường với đề tài “cảm hứng xuất thế” đã thực sự ăn sâu vào nếp nghĩ, vào đời sống tinh thần của người Á Đông, trong đó có Việt Nam.

 

 2. Kết luận

Thơ Đường nhằm khám phá sự thống nhất và chủ yếu là sự giao cảm giữa con người và thiên nhiên, đem đến cho người đọc những bạn bè mới, những tri âm mới. Một con sông như chảy suốt các tâm hồn. Một vầng trăng như canh cánh bên kẻ ở và người đi. Một cánh chim như rút ngắn không gian và thời gian. Đọc xong một bài thơ Đường hay, nguời ta bỗng cảm thấy dòng sông như có thể thủ thỉ trò chuyện, vầng trăng như cửa sổ để giãi bày tâm sự, và cánh chim như một phương pháp rút ngắn lại khoảng cách thiên địa. Cách cấu tứ nhằm phá đi mọi ranh giới ngăn cách, tạo ra một sức mạnh và âm vang sâu lắng của thơ Đường. Âm vang thơ Đường đã tỏa ra khắp nhân loại. Bởi thơ Đường là những trang rất chói lọi trong lịch sử văn học Trung Quốc, đồng thời, thơ Đường đã đặt cơ sở nghệ thuật, phong cách và luật thơ cho nền thi ca Trung Quốc các thời kì sau này. Thơ Đường cũng có ảnh hưởng rất lớn đến thơ ca Việt Nam.

Trong điều kiện đời sống văn hóa được nâng cao như hôm nay, nhu cầu thưởng thức nghiên cứu và học tập thơ Đường của bạn đọc ngày càng tăng. Bởi cuộc sống ngày càng hiện đại, con người phải tất bật, bận rộn với những lo toan, cho nên những lúc thư nhàn họ muốn tìm một tri âm – đó có thể là một quyển truyện, quyển thơ, vì sách là “người bạn không dối lừa ai”. Vì vậy, với đề tài tìm hiểu “cảm hứng xuất thế” trong thơ Đường, người viết cũng muốn tìm sự đồng điệu trong tình cảm tri âm, hiểu về người xưa và để sống tốt hơn cho ngày nay: muốn tìm những thơ hoàn toàn xứng đáng với tiếng mĩ thuật chỉ có thơ thời Đường(…), thơ của đời này, về chữ và câu đã có trật tự, cách điệu và rất tinh vi, chứ không lộn xộn. Thơ Đường phần nhiều hay về khí cốt (Ngô Tất Tố)

Với đề tài tìm hiểu “cảm hứng xuất thế” trong thơ Đường người viết nhận thấy :

Thơ Đường đã đi sâu vào sự khám phá, sự giao cảm, muốn thống nhất sự giao cảm giữa con người với thiên nhiên và khát vọng vươn lên ngang bằng với vũ trụ.

Con người trong thơ Đường hòa lẫn vào thiên nhiên và ngoại cảnh qua nhân vật trữ tình – thi nhân ẩn mình đằng sau câu chữ.

Thơ Đường thường có sự kết hợp, hòa quyện của ba yếu tố (thi, nhạc, họa.)

Thơ Đường thường gọn nhẹ, cô đúc, súc tích, ngắn gọn, ngôn ngữ gợi nhiều hơn tả, ý tại ngôn ngoại.

Giá trị của những bài thơ “cảm hứng xuất thế”:

Tích cực: đem lại một mảng thơ ca làm phong phú cho thơ Đường, thấy được tư tưởng, những suy tư, trăn trở trong tư duy của người xưa, kĩ thật làm thơ kết hợp với nhạc và họa. Đem lại một cái nhìn khách quan trong tư duy của độc giả và độc giả cũng rất dễ chấp nhận. “Xuất thế” trên cơ sở của “nhập thế” bởi không yêu đời, đau đời thì không bao giờ có cái nhìn “xuất thế”. Đó là những giây phút “thư giãn” của người xưa, một sự cố tìm niềm vui trong lúc tinh thần bế tắc đã tạo được sự đồng điệu trong trong tâm hồn của người đọc hôm nay.

Tiêu cực: đó là thái độ thiếu hăng hái với cuộc đời, chưa mạnh dạn xông pha với cuộc sống, chưa thể hiện một sự năng động tích cực với cuộc sống. Tuy nhiên trong xã hội rối ren như đời Đường thì việc “xuất thế” của thi nhân cũng có phần hợp lí, phù hợp với thực tại, họ muốn xa lánh xã hội để giữ phần trong sáng của tâm hồn, còn hơn là xô bồ chạy theo cuộc sống tức thời mà “làm hại” cho đời.

“Cảm hứng xuất thế” của những bài thơ Đường chung qui là lối sống thoát tục của thi nhân Đường. Đó chính là những giây phút thanh nhàn, tâm hồn trở nên cao sáng và đẹp đẽ hơn, với những khát vọng trường sinh bất tử, muốn giữ mãi tuổi xuân, muốn kéo giữ thời gian, muốn ôm cả vũ trụ, muốn đối mặt cùng thiên địa, muốn uống cả vầng trăng….Là những khát vọng muôn thuở của con người. Thi nhân Đường họ không hoàn toàn là “Xuất thế”, tức là họ không tách hẳn mình ra khỏi xã hội, phần lớn các thi nhân Đường là “nhập thế”. Có thể nói một điều mà tưởng chừng như là phi lý nhưng lại rất có lý: “thi nhân Đường “xuất thế” để mà “nhập thế”, bởi ranh giới giữa xuất và nhập thế khó mà tách bạch rạch ròi được”. Đối với cuộc sống hiện tại ngày nay, “cảm hứng xuất thế” chính là những giây phút thư giãn, tìm niềm vui ở những nơi danh lam thắng cảnh.

Qua việc tìm hiểu “cảm hứng xuất thế” trong thơ Đường, người viết cũng muốn tìm hiểu thơ Đường từ góc độ cảm hứng. Điều này giúp cho người viết hiểu hơn về thơ Đường để có thể phục vụ tốt cho công tác giảng dạy sau này. Ở Việt Nam tình trạng học sinh trung học hiểu biết về thơ văn cổ Việt Nam nói chung và thơ Đường nói riêng nhìn chung còn kém, còn nhiều bất cập. Bởi thơ Đường là “ý tại ngôn ngoại”, cho nên bài luận văn này có thể góp phần tự bồi dưỡng, tăng khả năng cảm thụ, nhận biết sâu sắc về thơ Đường. Tuy nhiên đề tài “Tìm hiểu cảm hứng xuất thế” chỉ là một phần nhỏ trong thơ Đường. Bởi thơ Đường luôn là cánh cửa rộng mở cho những ai yêu thích nó. Tôi nghĩ rằng nếu triết gia cho ta biết phương pháp sống thì thi nhân cho ta được say sưa sống. Hơn nữa, trong lúc thiên hạ đua đòi vật chất quá, khoa học hiện đại quá, số người quan tâm đến cổ ngữ nếu không muốn nói là rất hiếm, thì thử hỏi mai kia mốt nọ, chúng ta sẽ về đâu khi chúng ta cần nghiên cứu văn chương cổ điển Việt Nam (Dịch giả Phạm Liễu). Có thể nói, thơ Đường có sức truyền cảm tuyệt vời là do nội dung phong phú thấm đậm tình người và hình thức cô đọng, khéo dùng phép đối xứng tạo nên sự hài hòa về âm thanh về hình ảnh, về nỗi niềm, từ mối quan hệ con người với con người, con người với thiên nhiên vũ trụ. Thơ Đường là những tiếng lòng của thi nhân có sức truyền cảm mạnh, làm lay động và đi thẳng vào lòng người, tồn tại mãi mãi với con người, với đất trời, với thời gian không gian, cho đến nay vẫn tỏa sáng với cuộc đời.

 

 


THƯ MỤC THAM KHẢO

  1. Nguyễn Thái Anh (Chủ Biên) – Lịch sử Trung Quốc, NXB Giáo Dục,1991.
  2. GS Ngô Vinh Chính, GS Vương Miện Quý – Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc, (người dịch GS Lương Duy Thứ (chủ biên)), NXB Văn Hóa Thông Tin, 1994
  3. Nguyễn Sĩ Đại – Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường, NXB Văn Học,1996
  4. Nguyễn Phúc Điền – Thơ Đường – Từ Tống, NXB Văn Nghệ TPHCM,1998
  5. Lâm Ngữ Đường -Trung Hoa đất nước con người, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2001.
  6. Hoàng Giang (dịch và chỉnh lý cùng nhiều tác giả) – Lịch sử văn hóa thế giới (X.Carpusina và Carpusin), NXB Thế Giới, Hà Nội, 2004
  7. Nguyễn Thị Bích Hải – Thi Pháp Thơ Đường, NXB Thuận Hóa, Huế 1995.
  8. Mai Xuân Hải (dịch) – Lí luận văn học cổ điển Trung Quốc (Khâu Chấn Thanh), NXB Văn Học,1992.
  9. Hoàng Ngọc Hiến (dịch), Các phạm trù văn hóa trung cổ (A.JA GUREVICH), NXB Văn Hóa Giáo Dục, 1996.
  10. Trần Ngọc Hưởng – Thơ Đường trong nhà trường, NXB tổng hợp Đồng Nai.
  11. Nguyễn Đức Khuông – Dạy- Học văn học nước ngoài trong trường phổ thông, NXB Đại học sư phạm, 2004.
  12. Trần Trọng Kim – Đường thi, NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 1998               
  13. Nguyễn Hiến Lê – Lịch sử Trung Quốc-Tập 1, NXB Văn Hóa, 1997.
  14. Phùng Hoài Ngọc – Văn học Trung Quốc, Lưu hành nội bộ, Đại Học An Giang, 2003.
  15. Phùng Hoài Ngọc – Đường thi bách nhất thử, Lưu hành nội bộ, Đại Học An Giang, 1/2006.
  16. Gs Lê Đức Niệm – Thơ Đường, NXB khoa học xã hội, NXB Mũi Cà Mau năm 1993.
  17. Vũ Dương Ninh – Lịch sử văn minh thế giới, NXB Giáo Dục,  2000.
  18. Lương Ninh (Chủ Biên) – Lịch sử văn hóa thế giới cổ-trung đại, NXB Giáo Dục, 1999.
  19. Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử – Về Thi Pháp Thơ Đường, NXB Đà Nẵng, 1997.
  20. Nguyễn Khắc Phi – Thơ văn hóa cổ Trung Hoa, Mảnh đất quen mà lạ, NXB Giáo Dục, 1999.
  21. Nguyễn Gia Phu – Nguyễn Văn Ánh, Đỗ Đình Hãng, Trần Văn La, Lịch sử thế giới trung đại, NXB Giáo Dục, 2005.
  22. Ngô Văn Phú – Thiên gia thi, NXB Hà Nội: văn học,1998
  23. Ngô Văn Phú (dịch và giới thiệu) – Đường thi tam bách Thủ 300 bài thơ Đường (Hành Đường Thoái Sĩ), NXB Hội nhà văn, 2000.
  24. Vũ Tiến Quỳnh – Phê bình bình luận văn học, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Thôi Hiệu, La Quán Trung, NXB Tổng hợp Khánh Hòa, 1991.
  25. Trần Trọng San – Thơ Đường, NXB Thanh Hóa, 1997.
  26. Trần Trọng San (dịch) – Phê bình thơ Đường (Kim Thánh Thán), Tủ sách Đại học Tổng hợp TPHCM, 1990
  27. Trần Đình Sử – Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc (Lix.Lixêvích) , NXB Giáo Dục, 2000.
  28. Trần Đình Sử – Đọc văn học văn, NXB Giáo Dục, 2003.
  29. GS Lương Duy Thứ – Thi Pháp Thơ Đường, NXB Đại học sư phạm, 2004.
  30. Lương Duy Thứ (Chủ Biên) – Đại cương văn hóa Phương Đông, NXB Đại học quốc gia TPHCM, 2000.
  31. Lương Duy Thứ (chủ biên) – Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc, NXB văn hóa Thông Tin,1994
  32. Trần Ngọc Thuận, Đào Duy Đạt, Đào Phương Chi (những người dịch) -Lịch sử văn hóa Trung Quốc, NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội,1999.
  33. Trần Ngọc Thuận, ( nhiều tác giả) – Lịch sử văn hóa Trung Quốc, 2 tập, NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội,1999
  34. PGS.TS Phan Trọng Thưởng – Nghiên cứu văn học, Viện văn học – Viện khoa học xã hội Việt Nam, 6/2004.
  35. Nam Trân – Thơ Đường tập I ,II , NXB Hà Nội 1987.
  36. Nguyễn Đình Vỹ (chủ biên) – Lịch sử thế giới cổ trung đại, NXB Đại Học Sư Phạm, 2004.

 

Ngoài ra, còn có tham khảo thêm một số tạp chí văn học; ngôn ngữ và nghiên cứu văn học, tạp chí nghiên cứu lí luận và ịch sử văn học, viện văn hộc và viện khoa học xã hội Việt Nam, 6/2004; và các luận văn khác.


PHỤ LỤC

Danh mục 100 bài thơ Đường có nội dung “cảm hứng xuất thế”

  1. Ẩm tửu khán mẫu đơn – Lưu Vũ Tích
  2. Án trung bát tiên ca – Đỗ Phủ
  3. Bả tửu, vấn nguyệt – Lý Bạch
  4. Bái tân nguyệt – Lý Đoan
  5. Bồi giang phiếm chu tống Vi Ban quy kinh – Đỗ Phủ
  6. Cổ phong – Lý Bạch
  7. Cảm ngộ – Trương Cửu Linh
  8. Cảm ngộ -Trần Tử Ngang
  9. Cưỡng tửu – Bạch Cư Dị
  10. Dạ vũ ký Bắc – Lý Thương Ẩn
  11. Dã vọng – Vương Tích
  12. Dữ chư tử đăng Nghiễn Sơn – Mạnh Hạo Nhiên
  13. Dịch thủy tống biệt – Lạc Tân Vương
  14. Đại Lân tự đào hoa – Bạch Cư Dị
  15. Đãi tửu bất chí – Lý Bạch
  16. Đăng Quán Tước lâu – Vương Chi Hoán
  17. Đăng Tổng Trì các – Sầm Than
  18. Đăng U Châu đài ca – Trần Tử Ngang
  19. Đào hoa khê – Trương Húc
  20. Đáp nhân – Thái Thượng ẩn giả
  21. Đề Tiên Du quán – Hàn Hoằng
  22. Đề viên thị biệt nghiệp – Hạ Chi Chương
  23. Điểu minh giản – Vương Duy     Độc Lý Bạch thi tập – Trịnh Cốc
  24. Độc tọa Kính Đình sơn – Lý Bạch        
  25. Giang hành – Tiền Khởi
  26. Giang hành, vô đề – Tiền khởi
  27. Giang hương cố nhân ngẫu tập khách xá – Đới Thúc Luân
  28. Giang lâu thư hoài – Triệu Hỗ
  29. Giang thượng ngâm – Lý Bạch
  30. Giang tuyết – Liễu Tông Nguyên
  31. Hạ Chung Nam Sơn, quá Hộc Tư Sơn nhân túc, trí tửu – Lý Bạch
  32. Hạ nhậtNamĐình, hoài Tân Đại – Mạnh Hạo Nhiên
  33. Hành lộ nan (ba bài)  – Lý Bạch
  34. Hiệu Đào Bành Trạch – Vi Ứng Vật
  35. Hồ trung đối tửu tác -Trương Vị
  36. Hoài thượng hỉ hội Lương xuyên cố nhân – Vi Ứng Vật
  37. Hoàng hạc lâu – Thôi Hiệu
  38. Hữu nhân dạ phỏng – Bạch Cư Dị
  39. Khê cư – Liễu Tông Nguyên
  40. Khúc giang (nhị thủ) – Đỗ Phủ
  41. Khúc giang tuý hậu tặng chư thân cố – Bạch Cư Dị
  42. Lữ dạ thư hoài – Đỗ Phủ
  43. Lục ngôn tuyệt cú – Vương Duy
  44. Lưu biệt Vương Duy – Mạnh Hạo Nhiên
  45. Lưu Nguyễn động trung ngộ tiên tử – Tào Đường
  46. Lưu Nguyễn du thiên thai – Tào Đường
  47. Lưu Nguyễn tái đáo thiên thai bất phục kiến chư tiên tử – Tào Đường
  48. Mạnh Thành Ao – Vương Duy
  49. Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt – Lý Bạch
  50. Mộng thiên – Lý Hạ
  51. NamSơn – Lý Bạch
  52. Ngõ ô y – Lưu Tích Vũ
  53. Ngư ông  – Liễu Tông Nguyên
  54. Nguyệt hạ độc chước – Lý Bạch
  55. Phỏng đái thiên sơn đạo sĩ bất ngộ – Lý Bạch
  56. Phong vũ vãn bạc – Bạch Cư Dị
  57. Quá cố nhân trang – Mạnh Hạo Nhiên
  58. Quá Hương Tích tự – Vương Duy
  59. Quy Ẩn – Trần Phốc
  60. Quy chung Nam Sơn – Mạnh Hạo Nhiên
  61. Sơn hạ túc – Bạch Cư Dị
  62. Sơn trung vấn đáp – Lý Bạch
  63. Tầm ẩn giả, bất ngộ – Giả Đảo
  64. Tặng Lý Bạch – Đỗ Phủ
  65. Tặng Mạnh Hạo Nhiên – Lý Bạch
  66. Tặng Vệ Bát xử sĩ – Đỗ Phủ
  67. Tảo khởi – Lý Thương Ẩn
  68. Tảo phát Bạch đế thành – Lý Bạch
  69. Tây Sơn tầm Tân Ngạc – Mạnh HẠo Nhiên
  70. Thiên Mụ Sơn – Lý Bạch
  71. Thất tịch – Thôi Đồ
  72. Thu hứng- Đỗ Phủ
  73. Thu mộ giao cư thư hoài – Bạch Cư Dị
  74. Thu phố ca – Lý Bạch
  75. Thu san – Bạch Cư Dị
  76. Tiên tử động trung hữu hoài Lưu Nguyễn – Tào Đường
  77. Tiên tử tống Lưu Nguyễn xuất động – Tào Đường
  78. Tiễn biệt Vương Thập Nhất nam du – Lưu Trường Khanh
  79. Tống biệt – Vương Duy
  80. Tống Dương sơn nhân quy Tung sơn – Lý Bạch
  81. Tống khách quy Ngô – Lý Bạch
  82. Tống Khổng sào phủ tạ bệnh quy du Giang Đông – Đỗ Phủ
  83. Tống Linh Triệt – Lưu Trường Khanh
  84. Tống Lương Lục -Trương Duyệt
  85. Tống Nguyên Nhị sứ An Tây – Vương Duy
  86. Tống phương ngoại thượng nhân – Lưu Trường Khanh
  87. Trúc Lý quán – Vương Duy
  88. Túc Vương Xương Linh ẩn cư – Thường Kiến
  89. Tuế mộ quy Nam Sơn – Mạnh Hạo Nhiên
  90. Tùng thanh – Bạch Cư Dị
  91. Tương tiến tửu – Lý Bạch
  92. Tuyên châu Tạ Diểu lâu tiễn biệt Hiệu thư Thúc Vân – Lý Bạch
  93. U cư – Vi Ứng Vật
  94. Vấn hoài phủ – Bạch Cư Dị
  95. Vô đề – Lý Thương Ẩn
  96. Vọng giang lâu thượng tác – Bạch Cư Dị
  97. Vọng trường dụng – Vương Xương Linh
  98. Xuân giang hoa nguyệt dạ – Trương Nhược Hư
  99. Xuân hiểu – Mạnh Hạo Nhiên
  1. Xuân nhật tuý khởi ngôn chí – Lý Bạch

 

 

Nguyên tác và phiên âm Latinh tiếng Bắc Kinh 17 bài.

  (Nguồn: Đường Thi nhất bách thủ, Th.S Phùng Hoài Ngọc biên soạn,

    Đại học An Giang 2005)

 

1.   答 人   Dá rén / Đáp nhân

               Thái thượng ẩn giả   太尚 隐者  Tài shàng yǐn zhě

  答 人

    偶来松树下

   高枕石头眠

山中无历日

寒尽不知年

 

Dá rén

ǒu lái sōng shù xià 

gāo zhěn shí tóu mián

shān zhōng wú lì rì

hán jìn bù zhī nián

2.      鸟鸣涧   Niǎo míng jiàn / Điểu minh giản

                      Vương Duy 王 维  Wáng  Wéi  

 

人闲桂花落

夜静春山空

月出惊山鸟

时鸣在涧中

 

 

Rēn xián guì huā luò

Yè jìng chūn shān kōng

Yuè chú jīng shān niǎo

Shí míng zài jiàn zhōng

   3.   独 坐 敬 亭 山

                       Dú zuò Jìng Tíng shān / Độc toạ Kính Đình sơn]

             Lí Bạch  李白  LǐBái

众鸟高飞尽

孤云独去闲

相看两不厌

     只有敬亭山

Zhòng niǎo gāo fēi jìn

Gū yún dú qù xián

Xiāng kàn liǎng bú yàn

Zhǐ yǒu Jìng Tíng shān

   4.江雪  Jiāng xuě /Giang tuyết   

                  Liễu Tông Nguyên       柳宗元   Liǔ Zōng Yuán

 

千山鸟飞绝

万径人踪灭

孤舟蓑笠翁

独钓寒江雪

Qiān shān niǎo fēi jué

Wàn jìng rén zōng miè

Gū zhōu suō lì wēng

Dú diào hán jiāng xuě

 

 5.    行  路  难  Xíng lù  nán/ Hành  lộ nan 

                              Lí Bạch 李白 Lǐ Bái

 

金樽清酒斗十千

玉盘珍馐值万钱

停杯投筋不能食

拔剑四顾心茫然

欲渡黄河冰塞川

将登太行雪暗天

闲来垂钓在溪上

忽复乘舟梦日边

 

行路难,行路难

多崎路,今安在

长风破浪会有时

直挂云帆济沧海

 

jīn zūn qīng jiǔ dǒu shí qiān

yù pán zhēn xiū zhí wàn qián

tíng bēi tóu jīn bù néng shí

bá jiàn sì gù xīn máng rán 

yù dù huáng hé bīng sāi chuān

jiāng dēng Tài Xíng xuě àn tiān

xián lái chuí diào zài qī shàng

hū fù chéng zhōu mèng rì biān

xíng lù nán,xíng lù nán

duō qí lù ,jīn ān zài

cháng fēng pò làng huì yǒu shí

zhí guà yún fān jì cāng hǎi

 

6.    黄 鹤 楼

                           Hoàng hạc lâu              

                    Thôi Hiệu 崔 灏 Cūi  Xiào,  (hoặc Thôi Hạo 崔 效 Cūi Hào)

 

昔 人 已 乘 黄 鹤 去

此 地 空 悠 黄 鹤 楼

黄 鹤 一 去 不 复 返

白 云 千 载 空 悠 悠

晴 川 历 历 汉 阳 树

芳 草妻妻 鹦 鹉 州

日 暮 乡 关 何 处 是

烟 波 江 上 使 人 愁

Huáng hè lóu

 

Xī  rén  yǐ  chéng  huáng  hè  qù

cǐ dì  kōng  yōu  huáng  hè  lóu

 huáng  hè  yī  qù  bù  fù  fǎn

 bái  yún  qiān  zài /zǎi  kōng  yōu  yōu

qíng  chuān  lì  lì  Hàn  yáng  shù 

fāng  cǎo qī qī  Yīng  wǔ  zhōu

 rì  mù  xiāng  guān  hé  chù  shì

 yān  bō  jiāng  shàng  shǐ  rén  chóu  

 

 

   7.      刘阮游天   Lưu Nguyễn du Thiên Thai

                                 Tào Đường    曹唐 Cáo Táng

 

 

刘阮游天

树入天台石路新

云和草静迥无尘

烟霞不省生前事

水木空疑梦后身

往往鸡鸣岩下月

时时鸡鸣洞中春

不知此地归何处

         须就桃源问主人

Liú Ruǎn yóu Tiāntāi

 

Shù rù Tiān Tái shí lù xīn

Yún hé cǎo jìng jiǒng wú chén

Yān xiá bù shěng shēng qián shì

Shuǐmù kōng yí mèng hòu shēn

Wǎng wǎng jī míng yán xià yuè

Shí shí jī míng dòng zhōng chūn

Bù zhī cǐ dì guī hé chù

Xū jiù Táo Yuán wèn zhǔ rén

 

 

8.          Mèng Lǐ Bái / Mộng Lí Bạch  

                 杜 甫 Dù Fǔ/ Đỗ Phủ 

 

 

死 别 已 吞 声

生 别 长 恻 恻

江 南 瘴 疠地

逐 客 无 消 息

古 人 入 我 梦

明 我 长 相 忆

君 今 在 罗 网

何 以 有 羽 翼

恐 非 平 生 魂

    路 远 不 可 测 !

魂 来 枫 林 青

魂 返 关 山 黑

落 月 满 屋 粱

犹 疑 照 颜 色

水 深 波 浪 阔

无 使 蛟 龙 得

 

 

Sǐ biè yǐ  tun  sheng

Shēng bié cháng  cè  cè 

Jiāng  nán   zhàng  lì dì

Zh ú  kè  w ú  xiāo xí

Gǔ rén rù wǒ mèng

Míng wǒ  cháng  xiāng  yì

jūn  jīn  zài  luó wǎng

Hé yǐ  yǒu  yǔ  yì ?

Kǒng fēi  píng  shēng  hún 

L ù  yuǎn bù kě  cè

Hún  lāi feng līn qing

Hún  fǎn  guān  shān  hēi

Luò yuè  mǎn wù liáng

yóu  yí  zhào  yán  sè

 Shuǐ  shēn  bō  lǎng  kuò

wú  shǐ  jiāo  lóng  dé

 

9.     月下独酌   Yuè xià dú zhuó / Nguyệt hạ độc chước 

             [Uống rượu một mình dưới trăng]

                 Lí Bạch 李白 Lǐ Bái

 

花间一壶酒

独酌无相亲

举杯邀明月

对影成三人

月既不解饮

影徒随我身

暂伴月将影

行乐须及春

我歌月徘徊

我舞影凌乱

醒时同交欢

醉后各分散

永结无情游

         相期邈云汉

Huā jiān yì hú jiǔ

dú zhuó wú xiāng qīn

Jǔ bēiyāomíng yuè

Duì yǐng chéng sān rén

Yuè jì bù jiě yǐn

Yǐng tú suí wǒ shēn

Zàn bàn yuè jiāng yǐng

Xíng lè xū jí chūn

Wǒ gē yuè pái huái

Wǒ wǔ yǐng líng luàn

Xǐng shí tóng jiāo huān

Zuì hòu gè fēn sàn

Yǒng jiē  wū qíng yōu

Xiāng qī miǎo Yún Hán

 

 

   10.      过香迹寺  Guò Xiāng Jī sì/ Quá Hương Tích tự   

                    Vương Duy  王 维  Wáng Wéi

 

不知香

数里入云峰

古木无人迳

深山何处锺

泉声咽危石

日色冷青松

薄暮空潭曲

           安禅制毒龙

 

 

Bù zhī Xiāng Jī sì

Shǔ lǐ rù yūn fēng

Gǔ mù wú rén jìng

Shēn shān hé chù zhōng

Quán shēng yàn wēi shí

Rì sè lěng qīng sōng

Bó mù kōng tán qù

Ān chán zhì dú lóng

 

 

11. 归隐   Guī yǐn / Quy ẩn     

                Trần Phốc 陈 搏 Chén Pù

 

十年踪迹走红尘

回首青山入梦频

紫绶纵荣争及睡

朱门虽富不知贫

愁闻剑戟扶危主

闷闻笙歌聒醉人

携取旧书归旧隐

        野花啼鸟一般春

Shí nián zōng jì zǒu hóng chén

Huí shǒu qīng shān rù mèng pín

Zǐ shòu zòng róng zhèng jí shuì

Zhū mén suī fù bù zhī pín

Chóu wén jiàn jǐ fú wēi zhǔ

Mèn wén shēng gē guà zuì rén

Xié qǔ jiù shū guī jiù yǐn

Yě huā tí niǎo yī bān chūn

    12.     寻隐者不遇  Tầm ẩn giả bất ngộ

               [Tìm người ở ẩn không gặp]

               Giả Đảo  贾 岛  Jiǎ Dǎo

 

寻隐者不遇

松下问童子

言师采药去

只在此山中

云深不知处

Xún yǐn zhě bú yù

Sōng xià wèn tóng zǐ

Yán shī cái yào qù

Zhǐ zài cǐ shān zhōng

Yún shēn bù zhī chù

  

 

  1. 13.            仙子洞中有怀刘阮

       Tiên tử động trung hữu hoài Lưu Nguyễn

Xiān zǐ dòng zhōng yǒu huái Liú Ruǎn

                  Tào Đường

 

不将清瑟理霓裳

尘梦那知鹤梦长

洞里有天春寂寂

人间无路月茫茫

玉沙瑶草沿溪碧

刘水桃花满涧香

晓露风灯易零落

     此生无处问刘郎

 

Bù jiāng qīng sè lǐ Ní Cháng

Chén mèng nà zhī hè mèng cháng

Dòng lǐ yǒu tiān chūn jì jì

rén jiàn wú lù yuè máng máng

Yù shā yáo cǎo yán qī bì

Liú shuǐ táo huā mǎn jiǎn xiāng

Xiǎo lù fēng dēng yì líng luò

cǐ shēng wú chù wèn Liú láng

14.

           Tuyên châu, Tạ Thiếu Lâu tiễn biệt hiệu thư ThúcVân

             [Tiễn biệt hiệu thư Thúc Vân trên lầu Tạ Thiếu xứ  Tuyên Châu]

                       Lí Bạch 李 白 Lǐ Bái

 

 

弃 我 去 者 昨 日 之 日 不 可 留

乱 我 心 者 今 日 之 日 多 烦  忧

长 风 万 里 送 秋 雁

对 此 可 以 酣 高 楼

蓬 来 文 章 建 安 骨

中 间 小 谢 又 清 发

俱 怀逸 兴 壮 思 飞

 欲 上 青 天 揽 明 月

 

抽 刀 断 水 水 更 流

举 杯 消 愁 愁 更 愁

人 生 在 世 不 称 意

明 朝 散 发 弄 扁  舟

 

Xuān  Zhōu  Xiè  Tiào  lóu  jiàn  bié xiào  shū  Shù  Yún

 

 

 

Qì  wǒ  qù  zhě  zuó  rì  zhī  rì  bù  kě  liú   luàn  wǒ  xīn  zhě  jīn  rì  zhī  rì  duō  fán   yōu

 

Cháng  fēng  wàn  lǐ  sòng  qiū  yàn

duì  cǐ  kě  yǐ  hān  gāo  lóu

Péng  Lái  wén  zhāng  jiàn  ān  gǔ

zhōng jiān  Xiǎo  Xiè  yòu  qīng fā

jù huái yì  xìng zhuàng  sī  fēi

Yù shàng qīng tiān lǎn míng yuè

 

Chōu  dāo  duàn  shuǐ  shuǐ  gèng liú

 jǔ  bēi  xiāo  chóu  chóu  gèng  chóu

rén  shēng  zài  shì  bú  chèng  yì

míng  zhāo  sàn  fà nòng  piān zhōu

15.      送别   Sòng bié / Tống biệt    

                  Vương Duy 王 维  Wáng Wéi

 

 

下马饮军酒

问军何 所之       

军 言不得意

归 卧南山陲

但 去莫复问

白 云无尽及

 

Xià mǎ yǐn jūn jiǔ

Wèn jūn hé suǒ zhī ?

Jūn yán bù dé yì

Guī wò Nan shān chuí

Dàn qù mò fù wèn

Bái yún wú jìn jí

 

16.       竹里馆 

                     Zhú lǐ guǎn / Trúc lý quán 

               [Quán trong rặng trúc]

               Vương Duy 王 维  Wáng Wēi
独坐幽篁里

弹琴复长啸

深林人不知

明月来相照

 

Dú zuò yōu huáng lǐ

Tán qín fù cháng xiāo

Shēn lín rén bù zhī

Míng yuè lái xiāng zhào

17.    春 晓  Chūn xiǎo / Xuân hiểu  

             Mạnh Hạo Nhiên 孟 浩 然 Mèng  Hào  Rán

 

春 眠 不 觉 晓

处 处 闻 啼 鸟

夜 来 风 雨 声

花 落 知 多 少 

 

Chūn mián bù jué  xiǎo

Chù chù wén tí niǎo

Yè lái fēng yǔ  shēng

       Huā luò zhī  duō  shǎo

 

Hết

 

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 65 other followers

%d bloggers like this: