"Nói phải củ cải cũng nghe"- Tục ngữ Việt Nam.

SV. HÀ TỐ UYÊN

LỚP ĐH4C2

       LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGÀNH NGỮ VĂN

NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT HÀ TIỆN QUA VỞ KỊCH “LÃO HÀ TIỆN” CỦA MOLIERE VÀ TIỂU THUYẾT “EUGENIE GRANDET” CỦA H.BALZAC

      

             Giảng viên hướng dẫn

       Ths. Phùng Hoài Ngọc

 

LONG XUYÊN  5/ 2007


LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn Trường Đại Học An Giang đã tạo mọi điều kiện để em hoàn thành luận văn này.

Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong bộ môn Ngữ văn, đặc biệt thầy Phùng Hoài Ngọc đã tận tình hướng dẫn để em hoàn thành tốt luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lớp ĐH4C2 đã quan tâm giúp đỡ, sưu tầm tài liệu giúp tôi hoàn thành luận văn.

                                                                                                Long Xuyên  5/2007

                                                                                                     Hà Tố Uyên         

                                                           


 

MỤC LỤC

 

 

PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………..                       1

PHẦN NỘI DUNG……………………………………………….                        4

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HAI TÁC GIẢ                                                           4      

1. Tác giả – Tác phẩm                                                                                                 4

         1.1. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Moliere                            4     

         1.2.  Vài vét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của H.Balzac 9                       

2. So sánh nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn học                                    13

              cổ điển Pháp thế kỉ XVII và trong văn học hiện thực

              phương Tây thế kỉ XIX                                                                                 

          2.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn học cổ điển

                 Pháp thế kỉ XVII.                                                                                         13    

          2.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn học hiện thực

                 phương Tây thế kỉ XIX.                                                                               18     Chương 2: “HÀ TIỆN” NHÂN VẬT QUEN THUỘC TRONG

                    VĂN HỌC TÂY ÂU

1. Nhân vật Euclion trong vở “Cái nồi” của Plaute                                           21                                    21                                                                                                                            

         2. Nhân vật Sailock  trong  “Người lái buôn thành Venise”                             23      

            (Shakespeare)

3. H’Arpagon trong vở kịch “Lão hà tiện”  (Moliere)                                      25                               25

4. Lão Grandet trong tiểu thuyết “Eugenie Grandet” (Balzac)                        25                 

         5. Nhận xét                                                                                                           26                                                                                                  

Chương 3: MOLIERE XÂY DỰNG TÍNH CÁCH HÀ TIỆN.

                    BALZAC XÂY DỰNG NHÂN VẬT HÀ TIỆN                                   30    

1. Điểm giống nhau giữa hai nhân vật H’Arpagon (Moliere) và                      30

    lão Grandet (H.Balzac).

2. Điểm khác nhau giữa hai nhân vật                                                                     39

          2.1. H’Arpagon – tính cách hà tiện                                                                   39

          2.2. Lão Grandet –  nhân vật hà tiện                                                                  45                                                     3. Cách nhìn của nhà văn đối với nhân vật hà tiện                                               50                3.1. Moliere   50

         3.2. H.Balzac                                                                                                       51    

KẾT LUẬN …………………………………………………………                    54    

TÀI LIÊU THAM KHẢO                          


PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

Moliere và Balzac là hai trong số những tác gia có đóng góp đáng kể cho nền văn học thế giới. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của họ đã để lại trong lòng người đọc rất nhiều ấn tượng sâu sắc.

Molier  được coi là người đã sáng lập ra hài kịch cổ điển Pháp thế kỉ XVII và đưa nó tới đỉnh cao xán lạn. St Beuve đã nhận xét : “Nếu có một đại hội các thiên tài văn học cổ kim trên thế giới thì người đại diện cho văn học Pháp phải là Moliere”. Và không phải ngẫu nhiên mà “trong 209 tác giả được Balzac nhắc tới trong tác phẩm của mình, Moliere đứng đầu với 240 lần” (Theo J.Belatre). Mặc dù sinh ra trong một gia đình tư sản hầu cận nhà vua, có một cuộc sống khá vất vả và khó khăn nhưng bằng tài năng và lòng yêu thích nghệ thuật đặc biệt là kịch, ông đã sáng tạo nên những tác phẩm để đời. Trong những tác phẩm của ông  chất hài kịch rất đậm nét. Thông qua tiếng cười để phê phán, đả kích thói xấu xa của giai cấp quí tộc, tăng lữ, phong kiến Pháp, thể hiện quan điểm của ông trước hiện thực xã hội. Những thăng trầm và trải nghiệm trong cuộc sống đã là chất liệu và cảm hứng để Molier kiến tạo ra những tác phẩm hài kịch đặc sắc.

           Balzac, một nhà văn “thư kí của thời đại”, một nhà văn hiện thực xuất sắc của Pháp thế kỉ XIX. Trong sự đa dạng và phong phú các tác phẩm của Balzac, ta vẫn nhận ra được sự kế thừa và phát triển từ những bậc tiền bối trước, đăc biệt có cả Molier. Hai tác phẩm, một là vở hài kịch “Lão hà tiện” của Moliere và một là tiểu thuyết hiện thực “Eugenie Grandet” của Balzac có những điểm tương đồng nhau trong cách xây dựng nhân vật hà tiện, tuy nhiên cũng có những nét  khá độc đáo mang phong cách riêng đã  góp phần tạo nên sự thành công không nhỏ của hai tác phẩm này. Tên của hai nhân vật H’Arpagon và lão Grandet đã trở thành những danh từ được sử dụng khá quen thuộc và phổ biến trong dân gian đặc biệt là ở Việt Nam, dùng để chỉ những người giàu có nhưng keo kiệt và có phần tàn nhẫn.

Với đôi chút kiến thức đã học được cùng với sự yêu thích hai tác phẩm “Lão hà tiện” và “Eugenie Grandet”, tôi xin mạnh dạn viết nên những cảm nhận về cách xây dựng nhân vật hà tiện. Rất mong được sự đóng góp chỉ bảo của bộ môn Ngữ văn và bạn đồng môn để luận văn này càng phong phú và hoàn thiện hơn.

2. Lịch sử vấn đề

Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về  cả hai tác phẩm “Lão hà tiện” của Moliere và “Eugenie Grandet” của Balzac, điển hình như Đặng Anh Đào  với “Ônôre đờ Banzac và một thế giới bước đi” (NXB Trẻ – 2002), Đỗ Đức Dục với chủ nghĩa phê phán trong văn học Phương Tây (NXBKHXH – 1981), Đặng Thị Hạnh, Lê Hồng Sâm với văn học lãng mạn và hiện thực phê phán TK XIX, gần đây là cuốn “Honore De Balzac- Lão Goriot” (NXB ĐHQGHN 2001) giới thiệu và nghiên cứu do Lê Huy Bắc biên soạn, Văn học Phương Tây giản yếu-Nguyễn Minh Chính (NXB ĐHQGTPHCM), Văn học Phương Tây nhiều tác giả biên soạn (NXB GD 2002), Giới thiệu về Moliere và Lão hà tiện – Đỗ Đức Hiểu  (NXB ĐH – TH chuyên nghiệp Hà Nội 1978), Giới thiệu Moliere–Nguyễn Minh Chính (VHPT- NXBGD 2002). Nhìn chung các công trình này đã nghiên cứu khá sâu  về nội dung và nghệ thuật của hai tác phẩm trên cũng như giới thiệu khá đầy đủ về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Moliere và  Balzac. Tuy nhiên việc đi vào phân tích, tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật hà tiện thì hầu như chưa có một công trình cụ thể, chuyên biệt.

 Luận văn này xin mạnh dạn nghiên cứu một vấn đề cũng khá mới mẻ và hấp dẫn nhưng cũng không phải là đơn giản nên chắc hẳn sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện. Để hoàn thành luận văn người viết dựa vào một số tài liệu của các tác giả kể trên và những tài liệu liên quan đến hai tác giả Moliere và Balzac (được liệt kê ở danh mục Tài liệu tham khảo).

3. Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn trong một tác phẩm không phải là việc đơn giản. Nó đòi hỏi người tìm hiểu phải đọc kĩ, phân tích văn bản, chọn lọc dữ liệu và đặc biệt  phải có cách nhìn nhận tinh tế từng chi tiết miêu tả  nhân vật (hành động, lời nói, tính cách) và đặc biệt là mối quan hệ giữa nhân vật tìm hiểu nghiên cứu với  các nhân vật khác, qua đó thấy được tư tưởng của nhà văn gửi gắm trong nhân vật.

Luận văn này cố gắng tìm ra cách xây dựng nhân vật, đặc biệt là hai nhân vật hà tiện  H’Arpagon  trong vở hài kịch “Lão hà tiện” của Moliere và lão Grandet trong tiểu thuyết hiện thực “Eugenie Grandet” của Balzac, một phần nào đó là tìm ra sự giống và khác nhau trong cách xây dựng hai nhân vật này của hai nhà văn. Từ đó tìm hiểu cách nhìn của mỗi nhà văn trong việc xây dựng nhân vật hà tiện, thái độ với xã hội đương thời, giá trị của tác phẩm đối với nền văn học Pháp ở  trong hai thế kỉ XVII và thế kỉ XIX  nói riêng và nền văn học thế giới nói chung.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong một tác phẩm văn học có ít hoặc nhiều nhân vật, mỗi nhân vật đều có vai trò khác nhau, thực hiện những nhiệm vụ khác nhau. Bên cạnh hàng loạt nhân vật phụ còn có nhân vật chính, nhân vật thể hiện quan điểm tư tưởng của nhà văn. Nhưng đôi khi, không hẳn nhân vật chính mới thể hiện điều đó mà nhân vật phụ có vai trò khá quan trọng, góp phần thể hiện nội dung tư tưởng của nhà văn ví như lão Grandet chẳng hạn.

Trong luận văn này, đối tượng chính là vở hài kịch Lão hà tiện của Moliere và tiểu thuyết hiện thực Eugenie Grandet của Balzac. Do vậy để tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật hà tiện người viết đi sâu vào tìm hiểu hai nhân vật H’Arpagon và lão Grandet.

 


5. Đóng góp của luận văn

Việc nghiên cứu, tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật hà tiện qua hai tác phẩm trên giúp ta nhận ra được một phần nào đó sự vận động và phát triển của văn học. Đặt nó vào trong sự tương quan với những nhân vật hà tiện của nhiều tác phẩm văn học ở một số nước giúp ta nhận ra được hành trình  của những nhân vật hà tiện ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Qua nghiên cứu xây dựng nhân vật hà tiện giúp người đọc nhận thấy được bộ mặt của xã hội Pháp thế kỉ XVII và thế kỉ XIX, thấy được sự ảnh hưởng  giữa các nhà văn trong quá trình sáng  tác. Và có lẽ giúp ta hiểu được rõ hơn tại sao lại có những biệt danh đựơc đặt cho nhiều người H’Arpagon hay lão Grandet.

Ta cũng thấy được sự khác biệt trong việc xây dựng nhân vật  hài kịch và một nhân vật tiểu thuyết hiện thực ở hai thế kỉ cách xa nhau.

Việc nghiên cứu tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật hà tiện có thể đã có nhiều người nghiên cứu nhưng hy vọng luận văn này giúp người đọc tự mình tìm được cái nhìn mới mẻ hơn, thấy được một cách đầy đủ hơn trong sự so sánh đối chiếu hai tác phẩm trong hai thế kỉ khác nhau thuộc hai giai đoạn văn học khác nhau. Đây chỉ là nỗ lực nhỏ bé trong quá trình tìm hiểu giá trị nội dung và nghê thuật của hai tác phẩm lão hà tiện của Moliere và Eugenie Grandet của Balzac.

6. Phương pháp nghiên cứu

Chủ yếu là phương pháp khảo sát và phân tích tư liệu, tổng hợp và phân loại tư liệu.

Mục  đích là chỉ ra được nghệ thuật xây dựng nhân vật hà tiện của Moliere và Balzac, thấy được điểm giống và khác nhau trong cách xây dựng nhân vật.

Từ đó thấy được cách nhìn của mỗi nhà văn đối với thời đại mà họ đang sống, đặc biệt là đối với những giai cấp tầng lớp trên (quí tộc, phong kiến, tư sản thành thị, tư bản ).

7. Bố cục luận văn

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HAI TÁC GIẢ

1.Tác giả – Tác phẩm

  1.1. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Moliere

  1.2. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác cùa Balzac

2. So sánh nghệ thuật xây dựng nhân vật trong hài kịch cổ điển Pháp và trong văn học Phương Tây thế kỉ XIX

  2.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn học cổ điển Pháp thế kỉ XVII

  2.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn học hiện thực phương Tây  thế kỉ XIX


Chương 2: “HÀ TIỆN”- NHÂN VẬT QUEN THUỘC TRONG VĂN HỌC

                      TÂY ÂU

           1. Nhân vật Euclion trong vở “Cái nồi” của Plaute (Nhà viết kịch La Mã cổ đại)

           2. Nhân vật Sailoc trong “Người lái buôn thành Venise” của Shakespeare

            3. H’Arpagon trong vở kịch “Lão hà tiện” (Moliere)

            4. Lão Grandet trong tiểu thuyết “Eugenie Grandet” (Balzac)

            5. Nhận xét

Chương 3: MOLIERE XÂY DỰNG TÍNH CÁCH HÀ TIỆN. BALZAC XÂY

                     DỰNG NHÂN VẬT HÀ TIỆN

            1. Điểm giống nhau giữa hai nhân vật H’Arpagon (Moliere) và lão Grandet

                (Balzac)

            2. Điểm khác nhau giữa hai nhân vật

              2.1. H’Arpagon  tính cách hà tiện

              2.2. Lão Grandet nhân vật hà tiện

            3. Cách nhìn của mỗi nhà văn đối với nhân vật hà tiện

              3.1. Molier

              3.2 .H.Balzac

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO


PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HAI TÁC GIẢ

1. Tác gia – Tác phẩm

1.1. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Moliere

1.1.1. Cuộc đời

Moliere là một tên tuổi lớn của chủ nghĩa cổ điển Pháp, của lịch sử văn học Pháp và của lịch sử sân khấu thế giới. Hoạt động chủ yếu vào cuối thế kỉ XVII cùng thời với Boileau, La Fontaine, Racine, Moliere đem đến cho văn đàn Pháp những cống hiến rất lớn với tư cách là nguời sáng lập ra hài kịch cổ điển và đưa nó tới đỉnh cao xán lạn, với tư cách là nhà văn chiến sĩ đã đấu tranh đến cùng cho những lý tưởng xã hội tiến bộ, với tư cách là người nghệ sĩ ưu tú đã kết tinh được những truyền thống tốt đẹp của nhân dân và dân tộc Pháp.

Chủ nghĩa cổ điển Pháp với Moliere đã chuyển mạnh hơn và rộng rãi hơn về phía cuộc sống hiện thực muôn hình muôn vẻ và luôn luôn sôi động, trong đó quần chúng lao động  đang tiến lên đảm nhiệm một vai trò mới. Mấy trăm năm đã trôi qua nhưng tiếng cười của Moliere không lúc nào vắng mặt trên sân khấu tiến bộ của Pháp và thế giới. Một số sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Moliere đã đi vào cuộc sống, gắn chặt với nó và đẩy mạnh nó lên. Với văn học hiện đại Việt Nam, lịch sử kịch nói Việt Nam, hài kịch Moliere cũng có những đóng góp đáng kể.

A.Jean Baptiste Pocelin sinh tại Paris trong một gia đình tư sản hầu  cận nhà vua. Khoảng năm 1636–1639, ông được dạy dỗ chu đáo ở trường trung học Clecmon nổi tiếng. Trong thời gian này, ông tỏ ra đặc biệt yêu thích văn chương, trung thành với triết học và chịu ảnh hưởng của Gassandy. Cha ông định cho học luật và thừa kế chức vụ hầu cận nhà vua trong cung đình nhưng Moliere lại chọn sân khấu gán bó với một thứ nghề nghiệp thấp hèn vào thời đó. Năm 1643, ông làm quen với nữ diễn viên Madelen Beja và cùng với anh em nhà Beja xây dựng nên đoàn kịch chứ danh. Mặc dù thiếu những điều kiện cơ bản để diễn xuất như kịch bản và diễn viên tốt  nhưng với sự cố gắng hết sức họ vẫn không thu được kết quả đáng kể gì. Đoàn kịch tan rã vào năm 1645. Cuối năm đó, Pocelin đã đổi tên là Moliere và quyết định cùng anh em Beja về các tỉnh nhỏ.

Suốt 15 năm trời (1643–1658) khó khăn, thiếu thốn Moliere và các bạn của ông đi lang thang khắp nước Pháp. Dọc đường sáp nhập với đoàn  kịch khác. Đoàn kịch của ông đã đi qua và biểu diễn ở nhiều nơi trên đất Pháp… 15 năm lưu lạc giang hồ chính là thời gian chuẩn bị cho Moliere một sự nghiệp sáng tác lớn. Nó giúp cho ông hiểu biết và tích lũy thêm nhiều kiến thức thực tế trong cuộc sống. Giúp mở rộng mối quan hệ với những gánh hát , học tập và cạnh tranh với họ. Cũng chính là thử thách để ông nhìn nhận khả năng thực sự, thể hiện tài năng nghệ thuật của bản thân. Moliere–người diễn viên, người đạo diễn, người sáng tác kịch bản, người lãnh đạo đoàn kịch- đã trưởng thành lên sau một quãng thời gian dài gian khổ, khó khăn.

Từ năm 1650, Moliere đã trở thành người đứng đầu đoàn kịch và đã có điều kiện xây dựng dần một số tiết mục sân khấu đặc sắc. Ông bắt đầu viết những kịch hề và hài kịch trong đó có vận dụng những kinh nghiệm của kịch mặt nạ Italia về kĩ thuật, về hành động về tính cách. Những vở kịch đầu tay của Moliere: Chàng ngốc (1655), Ghen (1656) đã báo hiệu một tài năng xuất sắc.

Thành công của đoàn kịch vang đến tận thủ đô Paris. Năm 1658, đoàn được vua vời về thủ đô. Chính nơi này Moliere đã cho ra mắt vở kịch hề  Thầy thuốc si tình. Với sự hấp dẫn của nó thì đoàn kịch Moliere đã chinh phục được triều đình và họ được ở lại Paris, được dành cho rạp hát của triều đình là Peautit Buorbon để biểu diễn. Sau một năm hoạt động vừa diễn vở cũ đồng thời tuyển thêm diễn viên mới. Năm 1659  Moliere đã mạnh dạn đưa lên sân khấu vở kịch Những ả kiểu cách rởm. Với  ý nghĩa phê phán rõ nét của nó thì ông đã vấp phải sự căm ghét của bọn quý tộc phong kiến, cho dù đối tượng mà ông nói tới chỉ là những  bọn quý tộc giả mà thôi. Từ đây cuộc đời Moliere chuyển sang một trang mới, một giai đoạn mới – giai đoạn đấu tranh xây dựng một nền sân khấu dân tộc hiện thực tiến bộ. Những tác phẩm của ông bắt đầu hướng vào bọn quý tộc nhà thờ, chế độ chuyên chế. Có lẽ vậy mà ông đã phải đấu tranh không ngừng để chống lại sự phản ứng quyết liệt điên cuồng của chúng. Đồng thời cũng phải với những tác gia, những diễn viên kình địch không ngớt lên án ông là không tôn trọng qui tắc cổ điển, báng bổ tôn giáo, vi phạm những qui tắc hợp thức và làm hại sân khấu thẩm mĩ. Chính những gian nan thử thách này đã tô luyện tài năng và khả năng sáng tạo của Moliere, ông đã trở thành nhà sáng tác vĩ đại, nhà nghệ sĩ lão luyện, nhà tổ chức và giáo dục có tài.

Năm 1662, cho diễn vở Trường học làm vợ lên án quan điểm phong kiến vô nhân đạo, trái tự nhiên nhưng vô hiệu quả trong việc giáo dục phụ nữ. Vấp phải sự phản ứng quyết liệt từ bọn phản động và cả những thành viên của rạp Oten de Buocgeaunhe. Duy nhất Boileau là vẫn nhiệt tình bênh vực Moliere. Không dừng lại ở đó Moliere tiếp tục công kích bằng viết thêm hai vở kịch ngắn : Phê bình trường học làm vợ    Kịch ứng tác ở Verseil (1663) vẽ nên bức tranh châm biếm về các nhà phê bình và giễu cợt một số điển hình xã hội.

Trong giai đoạn 1664–1666, ông viết ba vở hài kịch lớn với những tư tưởng triết học và xã hội phong phú : Tartuffe (1664), Don Juan (1665) và Anh ghét đời (1666). Đây là những đòn trí mạng công kích vào nhà thờ, giai cấp quí tộc và xã hội Pháp cuối thế kỉ XVII. Những thế lực phản động núp dưới bóng của triều đình và được cái ô này che chở đã lập tức la ó và hùa nhau tìm mọi cách đe dọa, hành hung Moliere. Đây là giai  đoạn đấu tranh căng thẳng của Moliere.

Sau đó, đời hoạt động của Moliere bớt sôi động hơn với những vở hài kịch như: Lão hà tiện (1668), Trưởng giả học làm sang (1670), Những bà thông thái (1672), Người bệnh tưởng (1673)…

Ngày 17.2.1673, trong đêm diễn thứ tư vở Người bệnh tưởng, đóng vai nhân vật chính Molire đã kiệt sức trên sân khấu, được đưa ngay về nhà và chỉ hơn một giờ sau thì ông đã ra đi. Vốn thù ghét Moliere nên nhà thờ đã ngăn cản việc mai táng ông theo nghi thức tôn giáo. Vợ ông phải phục xuống chân vua, hết lời cầu khẩn mới được phép chôn ông vào lúc đêm khuya ở nghĩa trang của nhà thờ.

Đời hoạt động nghệ thuật của Moliere là cuộc đời, một mặt thì kiên trì rèn luyện trong thực tế vĩ đại của nhân dân, một mặt thì đấu tranh không khoan nhượng với lực lượng xã hội đen tối, cống hiến trọn ven cho nghệ thuật chân chính. Chỉ riêng cuộc đời ấy cũng khiến Moliere trở nên bất hủ.

1.1.2. Sự nghiệp sáng tác

Sự nghiệp sáng tác của Moliere có thể chia ra làm bốn giai đoạn:

Giai đoạn 1645–1658 bao gồm những sáng tác thời kì nhà văn cùng đoàn kịch của ông đi diễn lang thang khắp các tỉnh. Đây là giai đoạn chuẩn bị cho tài năng với các vở kịch như Thằng ngốc (1655), Ghen (1656)…và nhiều vở kịch nay đã thất lạc.

Giai đoạn 1659–1663  là giai đoạn nhà văn bắt đầu nổi tiếng. Vở  Những bà kiểu cách rởm (1659) làm náo động kịch trường, chế giễu những ả con cái gia đình thị dân nhưng lại thích ăn nói, sinh hoạt, yêu đương theo kiểu quí tộc. Sau  vở Trường học làm chồng (1661) nêu lên cuộc đấu tranh giữa hai quan điểm về hôn nhân và gia đình, giáo dục con cái, là vở Trường học làm vợ (1662) phê phán thói ngu dân, áp chế sặc mùi phong kiến trong việc giáo dục phụ nữ. Bị công kích mạnh mẽ, Moliere đáp lại bằng hai vở kịch Phê bình trường học làm vợ  (1663) và kịch ứng tác ở Vecxay (1663).

Giai đoạn 1664 – 1666 là giai đoạn xuất hiện nhiều vở kicỵ kiệt tác chĩa mũi nhọn về phía các thế lực đang thống trị. Tartuffe (Tartuffe,1664) vừa ra mắt đã bị cấm đoán, bị lên án là chế giễu những người sùng đạo, báng bổ tôn giáo. Don Juan, 1665 lấy tên nhân vật chính, một nhân vật vừa có tư tưởng tự do vô thần, vừa là hiện thân của  bọn quí tộc hết thời tham tàn, phóng đãng và hết sức trơ  trẽn. Đến Anh ghét đời (1666) nhà văn phê phán toàn bộ xã hội thượng lưu bằng cách lựa chọn nhân vật trung tâm Aleeste là một anh ghét đời, dưới mắt anh tất cả đều giả dối, ích kỉ và phản trắc.

Giai đoạn 1667–1673, nhà văn chuyển hướng, chĩa mũi nhọn vào giai cấp tư sản qua các vở Lão hà tiện (1668) với nhân vật H’Arpagon cho vay nặng lãi và keo kiệt, vở Trưởng giả học làm sang (1670) với nhân vật Juocdan  muốn học đòi quí tộc và vở Người bệnh tưởng (1673) với nhân vật lão Argan mắc chứng bệnh tưởng tượng làm cho khán giả cười nôn ruột.

Vở kịch “Lão hà tiện”

Moliere đã để lại cho đời sau nhiều nhân vật bất hủ, những nhân vật quen thuộc trong ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ hàng ngày của dân chúng “H’Arpagon” là trong những nhân vật ấy. Một Hacpgon có nghĩa là một người hà tiện, keo bẩn và tàn ác đến mức mất cả tính người. H’Arpagon là nhân vật chính của vở hài kịch  Lão hà tiện  (1668).

            H’Arpagon là một người làm giàu bằng nghề cho vay nặng lãi, lão góa vợ có một con trai và một con gái, lão rất giàu có nên có cả gia nhân đày tớ và xe ngựa. Song lão không muốn chi tiêu cho ai, cho bất cứ việc gì. Con trai lão, ngược lại là một tay phá gia chi tử. Đối với kẻ ăn người ở lão quỵt tiền công, lão luôn luôn nghi hoặc cho họ ăn cắp, lão khám xét rất khả ố. Đối với ngựa kéo xe thì lão cắt giảm phần ăn. Các con đã đến tuổi dựng vợ gả chồng thì lão định lấy cho con trai một bá góa vợ lắm của, ép duyên con gái với một ông già chỉ vì một lí do duy nhất ông ta không đòi của hồi môn. Lão hết sức gia trưởng, nếu con trai không nghe lời lão dọa sẽ truất quyền thừa kế và từ bỏ nếu con gái không chịu lấy người mà lão đã quyết định, lão sẽ cho vào nhà tu kín.

            Để làm giàu, H’Arpagon cho vay lãi nặng chưa từng thấy, lão gán những đồ đạc vứt đi, gãy hỏng vào số tiền cho vay. Con trai vốn là tay ăn chơi, một hôm liều đi vay lãi để chi tiêu, lãi bao nhiêu cũng chịu. Người cho vay thì đưa ra những điều kiện hết sức khắc nghiệt. Gặp nhau, với vỡ lẽ là hai cha con, người cho vay và kẻ đi vay. Thế là diễn ra một trận sỉ vả nhau vô cùng bi đát. Đồng tiền đã làm mờ mắt H’Arpagon.

            Con trai yêu một cô gái tên là  Marianee, nhà nghèo, nết na. Tình cờ thế nào H’Arpagon cũng tha thiết yêu cô này. H’Arpagon dùng mánh khóe rất bỉ ổi để con trai phải thú nhận  và nhường Marianee cho mình. Thế là lại xảy ra một trạn đụng độ giữa hai cha con, đầy bi kịch.

            Kết cục, nhờ cậu đầy tớ ranh mãnh La Fleser ăn trộm và giấu cái tráp vàng của lão H’Arpagon chôn ở ngoài vườn giữ làm “con tin”, H’Arpagon đành chịu cho con trai lấy Marianee và con gái lấy Valère. Còn lão, lão lấy lại cái tráp vàng yêu quí của lão.

1.2. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của H.Balzac

1.2.1. Cuộc đời

Honoré de Balzac là nhà văn hiện thực lớn nhất của Pháp và Tây Âu thế kỉ XIX, là “bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực” (Engels), người “đã mang cả xã hội trong đầu”, bậc “tiến sĩ khoa học xuất sắc” vì những hiểu biết sâu xa của ông với “những quan hệ thực tại” (Marx).

Ông sinh ngày 20.5.1799 tại Tours. Cha là nông dân, mẹ là người buôn dạ. Học trường dòng nhưng Balzac rất mê đọc sách, đọc những tác phẩm của những nhà văn Ánh sáng như Diderot, Rousseau…vào trường luật, ông vẫn theo các giáo trình văn–sử-triết ở đại học Sorbonne. Ra trường, ông không đi làm luật sư mà theo đuổi con đường văn chương. Chính vì vậy, cha ông đã bắt buộc ông trong hai năm phải chứng tỏ tài năng văn chương của mình. Và ông lao vào sáng tác trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn và thiếu thốn trên một gác xép lụp sụp nhưng đó lại là dịp để ông tiếp xúc với cuộc sống của những người nghèo khổ. Ông đã từng nói: “Tôi cảm thấy như mình đang mặc chiếc áo rách rưới của họ, mang những đôi giày thủng đế của họ”, “chỉ có những tâm hồn bị người đời không hiểu  và những người nghèo là biết quan sát vì tất thảy đều làm họ mếch lòng và vì sự quan sát là do một nỗi đau khổ. Trí nhớ chỉ ghi kĩ những gì là đau thương”.

Vở kịch đầu tay bị thất bại nhưng ông không thất vọng. Ông chuyển sang viết tiểu thuyết đen, tiểu thuyết phiêu lưu để kiếm sống. Rồi thấy không thể sống bằng ngòi bút ông chuyển sang kinh doanh xuất bản, mở nhà in, đúc chữ… Cuối cùng thua lỗ, ông phải bán cả nhà in.

Có thể nói, trong mười năm đầu bước vào đời ông gặp phải đầy những thất bại chua cay nhưng đó lại là mười năm tích lũy vốn sống, rèn luyện tay nghề “tôi có được một khả năng quan sát mạnh mẽ là vì tôi đã bị quăng vào đủ loại nghề nghiệp”, “tôi sống một cuộc đời lao động say mê. Lao động là tất cả đối với tôi”. Balzac có một khả năng làm việc phi thường. Hàng ngày ông thường làm việc từ 12 giờ khuya đến 8 giờ tối ngày hôm sau chỉ nghỉ 4-5 tiếng đồng hồ mỗi ngày. Hàng chục tác phẩm ra đời trong một năm là thành quả của sự lao động miệt mài và không mệt mỏi của ông.

Ông bắt đầu nổi tiếng năm 30 tuổi với tác phẩm: Những người Chouans (1829) miêu tả cuộc nổi loạn của giai cấp quí tộc và sự thắng lợi của lực lượng dân chủ. Rồi hàng loạt tác phẩm xuất sắc khác lần lượt ra đời: Gobseck (1830) khắc họa hình ảnh người cho vay nặng lãi, Miếng da lừa (1831) nói về những con người có mơ ước về một cuộc sống giàu sang nhưng bị tan vỡ, tiểu thuyết hiện thực Eugenie Grandet (1832) phơi bày tấn bi kịch về sự băng hoại của đồng tiền đối với con người…

Balzac mắc bệnh tim lại uống rất nhiều cafè do vậy nghỉ ngơi là  rất cần thiết nhưng ngược lại thời gian nghỉ ngơi đối với ông lại quá ít ỏi. Năm 1847 cảm thấy sức khỏe đã suy giảm và ông đã cố gắng hoàn thành ước vọng cuối cùng   kết hôn với bà Hanska.

Đầu năm 1850, dù bệnh nặng nhưng ông vẫn đến Ukraine để cử hành hôn lễ. Sau khi trở về Paris chân tay ông đã bị sưng phù, đùi bị hoại tử và ông từ trần vào ngày 18.8.1850 khi mới 51 tuổi, ra đi trong sự cô đơn giống như nhiều như nhân vật của ông.

Ông được chôn ở nghĩa địa Piteur Lasezer giữa những ngày Paris mưa gió. Ông ra đi nhưng tên tuổi và sự nghiệp của ông đã trở thành một kho tư liệu vô vùng quí giá cho nhiều ngành khoa học xã hội và người đời vẫn luôn nhắc tới ông “Bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực”.

1.2.2. Sự nghiệp sáng tác

            Balzac không phải là một thần đồng văn học ngay từ lúc nhỏ mà với ông “thiên tài là một dự cố gắng liên tục”. Có lẽ vì vậy đến năm 30 tuổi trải qua hơn 10 năm sáng tác vẫn chưa  thành công.

            Năm 1820, ông cho ra mắt vở kịch Cromwell  nhưng nó không để lại ấn tượng gì như một số nhận xét vừa khô khan lại vô vị “tác giả làm việc gì cũng được trừ đeo đuổi văn chương”.

            Giai đoạn 1818–1828 viết gần mười tiểu thuyết nhưng chưa thành công, chưa đánh dấu được tên tuổi của mình. Đây là giai đoạn Balzac đang dò đường.

            Tác phẩm Những người Chouans được hoàn thành năm 1829 là tác phẩm mở đầu cho cả bộ Tấn trò đời vĩ đại.

            Giai đoạn 1829–1835 giai đoạn đầu trong việc sáng tác tấn trò đời. lúc đầu ông dự định viết 143 tác phẩm nhưng cuối cùng chỉ mới hoàn thành được 97 tác phẩm. Tấn trò đời “cung cấp một bộ lịch sử hiện thực tuyệt vời của xã hội Pháp, đặc biệt là xã hội thượng lưu Paris” (Engels). Balzac tự nhận mình là người thư kí trung thành của thời đại là vậy.

            Sau đây là những tác phẩm cơ bản trong “Tấn trò đời”:

Phần I : Khảo luận phong tục

1. Những cảnh đời tư

    Gobseck, Nhà con mèo chơi bóng (1830), Người đàn bà ở tuổi ba mươi (1831), Đại tá Sabert (1832), Lão Griot I, II (1934,1935),  Lễ cầu hôn của kẻ vô thần (1836)…

2. Những mảnh đời tỉnh lẻ

    Cha xứ ở Tours (1832), Eugenie Grandet (1833), Bông huệ nơi thung lũng (1835), Căn phòng chứa đồ cổ I (1836), Ảo mộng tiêu tan (1837), Cô gái già (1838)…

3. Những cảnh đời Paris

    Xazazin (1831), Nữ công tước De Langie (1834), Cô gái mắt vàng (1835), Faxino Can (1836), Những viên chức (1837), Nhà ngân hàng Nucingen (1838), Vinh và nhục của người kĩ nữ I (1839), Mặt trái của lịch sử hiện đại (1842), Một tay buôn bán (1845), Ông anh họ Pon (1847)…

4. Những cảnh đời chính trị

    Một giai đoạn của thời kì khủng bố (1830), Maccar (1841), Đại biểu ở Acxi (1847)…

5. Những cảnh đời nhà binh

    Những người Chouans (1829), Mối đam mê nơi sa mạc…

6. Những cảnh đời nông thôn

    Người thầy thuốc ở nông thôn (1833), Người cha xứ nông thôn I (1838), Người cha xứ ở nông thôn II (1839)…

Phần II : Khảo luận triết học

     Thuốc trường sinh (1830), Kiệt tác chưa ai biết tới (1831), Miếng da lừa (1831), Quán đỏ (1831), Gia đình Manara (1832), Louis Lambe (1833), Đi tìm cái tuyệt đối (1834), Menmot quy thiện (1835), Đứa con bị nguyền rủa (1836), Maximilia Đoni (1839)…

Phần III : Khảo luận phân tích

        Sinh lí học hôn nhân (1829), Những nỗi phiền hà của cuộc sống vợ chồng (1845).

            Tấn trò đời là bức tranh về xã hội Pháp thế kỉ XIX. Bức tranh trung tâm Tấn trò đời đã diễn tả “đúng như là sự thật, như là cuộc sống” qua động lực chủ yếu chi phối xã hội tư sản là đồng tiền. Quá trình  tích lũy đẫm máu của giai cấp tư sản, con đường tư sản hóa của giai cấp quí tộc Pháp, sự tha hóa của con người trước sức mạnh đồng tiền, số phận bi thảm của những “con người bé nhỏ” trong xã hội tư sản Pháp.

            Với bộ Tấn trò đời, Balzac đã đặt nền tảng cho văn học hiện thực, đề ra những nguyên tắc mĩ học của chủ nghĩa hiện thực, xây dựng nhân vật theo nguyên tắc điển hình trong hoàn cảnh điển hình… khiến cho cuộc sống hiện ra phong phú và sinh động “thực hơn cuộc sống thực” dưới con mắt của nhiều người. Tấn trò đời đó là một pho biên niên gần như từng năm một của lịch sử xã hội Pháp thời đó, một bộ bách khoa toàn thư, một hệ thống “huyền thoại”.

            Tiểu thuyết Eugenie Grandet :

            Tiểu thuyết xoay quanh  bộ ba nhân vật  Eugenie–Lão Grandet–Charles, là một tiểu thuyết hiện thực nhưng còn vương vấn chút lãng mạn  của Balzac. Ở đây ta bắt gặp hình ảnh lão Grandet lúc đầu chỉ là một người thợ đóng thùng ở một thị trấn nhỏ của nước Pháp – thị trấn Saumur, nhờ gặp được vận vay  mà phất lên sau cách mạng 1789. Với số vốn có được cũng kha khá, lão dần dần biết cách làm cho đồng tiền của lão sinh sôi nảy nở. Lão mua “giá rẻ như cho” những cánh đồng nho tài sản đấu giá được. Lão buôn vàng, đầu cơ tích trữ rượu vang và kết quả là đã trở thành một tay tư sản giàu sụ nhưng lại là một người hết sức keo kiệt. Vợ, Eugenie con gái duy nhất của lão, mụ Nanon người quản gia tâm đắc và ngay bản thân lão là nơi để thực hành chính sách tiết kiệm đến keo kiệt của lão. Lão nắm giữ tay hòm chìa khóa  trong nhà, hàng ngày đích thân phát từng mẩu bánh mì, từng viên đường cho vợ và con.

            Cruchot và Des Grassins là hai gia đình có thế lực ở Saumur thường tới lui bợ đỡ lão, hòng giành nhau cô con gái  để kế thừa gia tài kếch xù mà lão Grandet đã dày công vun đắp. Nhưng lão thì không bao giờ nghĩ đến  hạnh phúc của con gái.

            Em trai Grandet  ở Paris bị phá sản, trước khi tự tử đã gửi con trai là Charles về Saumur nhờ lão cưu mang nhưng lão đã vội tống khứ Charles đi Ấn Độ để rảnh nợ và giữ nợ cho y để sau này y tự trả. Trong thời gian ngắn ở lại nhà bác, tình cảm giữa Charles và Eugenie đã nảy nở thành tình yêu. Biết là Charles phải sang Ấn Độ nơi mảnh đất xa xôi, Eugenie đã giấu cha đem số vàng mình dành dụm được trao cho Charles làm vốn kinh doanh. Khi Grandet biết chuyện thì đã nhảy lồng lên và giam ngay con gái vào buồng kín chỉ cho uống nước lã và bánh mì lạt. Bà Grandet vì đau buồn mà mất. Sợ vợ chết con đòi gia tài lão liền giảng hòa với con. Sau khi lão mất thì chỉ còn Eugenie sống bơ vơ với hy vọng là sẽ đón nhận được tình yêu của Charles khi anh ta từ Ấn Độ trở về.

            Sau bảy năm sống ở Ấn Độ, Charles đã kiếm được một số tiền lớn  nhưng đã thay đổi bản tính. Trên đường về Paris hắn đã đính hôn với một cô gái  quí tộc nhưng xấu xí nhằm kiếm chân trong xã hội thượng lưu đang là mốt thời đó và quên hẳn mối tình đầu với Eugenie. Tuy bị phụ bạc nhưng Eugenie vẫn đem tiền lên Paris trả nợ cho hắn, rồi sau đó kết hôn với một người mà cô không hề yêu. Năm 33 tuổi thì Eugenie đã phải sống cuộc đời góa bụa..

            Tiểu thuyết Eugenie Grandet là một trong những tiểu thuyết thành công của Balzac, tác phẩm đã tạo nên một điển hình keo kiệt, bủn xỉn – lão Grandet. Tác giả đã phơi bày thói tham lam, keo bẩn lại hám tiền, xem tiền như là mạng sống của giai cấp tư sản. Grandet tạo nên một hình tượng rất thật và hết sức sinh động về giai cấp tư sản với sự sùng bái tiền bạc như một thứ tôn giáo. Tác phẩm phơi bày sức mạnh nghiệt ngã của đồng tiền, chính nó đã hủy hoại tâm hồn con người, giết chết những tình cảm thiêng liêng nhất và có thể biến chất con người. Quá trình Grandet làm giàu cũng là quá trình phất lên của giai cấp tư sản sau đại cách mạng Pháp 1789, đó cũng là quá trình tích lũy tiền tư bản trong điều kiện lịch sử mới.

2. So sánh nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn học cổ điển Pháp thế kỉ XVII và trong văn học phương Tây thế kỉ XIX

2.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn học cổ điển Pháp thế kỉ XVII

            Văn học cổ điển Pháp ra đời vào đầu thế kỉ XVII và phát triển rực rỡ vào nửa sau thế kỉ, là một đóng góp quan  trọng vào kho tàng lịch sử văn học thế giới.

            Một mặt văn học cổ điển tiếp tục truyền thống văn học thời Phục Hưng, ca ngợi tự nhiên, lí trí và nghệ thuật cổ đại Hy Lạp, La Mã, phê phán quyết liệt thế giới quan phong kiến, trước hết là triết học kinh viện – một triết học kìm hãm con người trong ngu dốt và nô lệ. mặt khác, do sự phát triển của giai cấp tư sản đóng vai trò tích cực lúc bấy giờ, nhờ sự phát triển của khoa học và triết học duy vật, Văn học cổ điển có những nét độc đáo mà từ mấy thế kỉ nay nhiều nhà lý luận đã tìm cách xác định nhưng chưa đi đến thống nhất.

            Văn học cổ điển phản ánh tương đối trung thực xã hội, đầy mâu thuẫn và tàn ác của nước Pháp dưới triều đại Louis 13. Nó biểu hiện những tình cảm và khát vọng tự do, dân chủ của nhân dân. Nó là tiếng nói khỏe mạnh, trong sáng của một dân tộc mới thống nhất và đang lớn mạnh. Những đặc trưng dân tộc tự do dân chủ này mang lai cho văn học cổ điển sức sống vui tươi, niềm tin vững vàng và những nét hiện thực sâu sắc.

            Quan niệm về cái đẹp của chủ nghĩa cổ điển bắt nguồn từ hoàn cảnh đặc biệt của nước Pháp mới dược thống nhất và đầy hứa hẹn tự do dân chủ, ánh sáng. Từ đó nó cũng nảy sinh một lí trí trong sáng, khỏe mạnh: cách bố trí cân đối hợp lí, cân đối, sáng sủa, khúc triết, văn phong trong sáng, mạch lạc âm điệu nhịp nhàng. Lí trí con người được ca ngợi như là thước đo giá trị của mọi tư tưởng tình cảm và tư tưởng. Văn học cổ điển ca ngợi tự nhiên và phản đối tất cả những gì giả tạo, cực đoan, đầy dục vọng mờ ám. Đặc biệt trong hài kịch của Moliere và La Fontaine còn chịu ảnh hưởng của triết học duy vật Gassendy, người tiêu biểu cho luồng tư tưởng tự do hồi thế kỉ XVII. Họ sống gần gũi với nhân dân, có lương tri khỏe mạnh và trong sáng. Chủ nghĩa cổ điển đã gắn bó chặt chẽ với truyền thống dân tộc, đưa văn học dân tộc Pháp lên một bước đường mới, nó góp phần tích cực vào việc xây dựng quốc gia thống nhất, chống lại cường quyền và áp bức. Vừa chống lại cung đình vừa chịu ảnh hưởng của cung đình đó là những mâu thuẫn cơ bản của văn học cổ điển Pháp thế kỉ XVII. Chịu ảnh hưởng tiêu cực của  triết học duy lí Descartes, các nhà văn cổ điển trong khi xây dựng tính cách nhân vật không nhận thức được rõ ệt hoàn cảnh lịch sử quy định một phần tính cách hân vật, họ tưởng rằng lí trí con người có khả năng khôi phục tự nhiên xã hội đưa loài người đến tự do, hạnh phúc.

            Hài kịch là một trong những thể loại thành công nhất và phát triển nhất của văn học cổ điển Pháp. Để phục vụ cho việc nghiên cứu tìm hiểu đề tài, luận văn này xin đi sâu vào tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật  trong hài kịch cổ điển Pháp.

            Hài kịch là kịch dùng hình thức gây cười để chế giễu hoặc đả kích những thói xấu, những biểu hiện tiêu cực trong xã hội. Ở Châu Âu, trước chủ nghĩa cổ điển hài kịch chỉ những tác phẩm ngược với bi kịch và nhất thiết phải có một kết cục vui vẻ (có hậu), các nhân vật hài kịch thường thuộc về tầng lớp thấp kém. Trong nhiều hệ thi pháp hài kịch được xác định như một thể loại bậc thấp (đối lập với thể loại bậc cao là bi kịch). Ở Văn học thế kỉ Ánh sáng, tương quan đó bị phá vỡ bởi việc thừa nhận kịch bậc giữa, tức là kịch thị dân. Ở thế kỉ XIX và nhất là thế kỉ XX, hài kịch là thể loại rất tự do và đa dạng.

            Ở các nhân vật hài kịch, phẩm chất bên trong không tương xứng với vị trí thân phận của nó và do vậy nó đáng là nạn nhân của tiếng cười. Tiếng cười hạ uy tín của nhân vật ấy và bằng cách này tiếng cười thể hiện sứ mệnh lí tưởng của mình. Phạm vi của hài kịch rất rộng, từ châm biếm chính trị đến hài hước vui nhộn nhẹ nhàng. Tuy nhiên ở loại hài kịch có nội dung xã hội sâu sắc thì sự đồng cảm sẽ lấn át tiếng cười và hài kịch sẽ biến thành chính kịch. Các tính cách trong hài kịch thường được miêu tả một cách đậm nét, cận cảnh, trạng thái tĩnh của tính cách và những nét gây cười của nó sẽ được nhấn mạnh. Có rất nhiều thể loại hài kịch như hài kịch tính cách, hài kịch phong tục, … Những hài kịch Cổ điển thường kết hợp với chất hài của tính cách  (ví dụ như hài kịch của Moliere).

            Aristophan được người ta gọi là cha đẻ của hài kịch bởi lẽ ông là người đầu tiên sáng tạo ra hài kịch châm biếm xã hội chính trị. Ở Văn học Hy Lạp và La Mã cổ đại, trung tâm của hài kịch thường là những thăng trầm trong cuộc sống riêng tư. Ở thời trung đại Châu Âu yếu tố tiếng cười mang màu sắc hội  cải trang dân gian và thâm nhập vào các thể loại tôn giáo. Ở Châu Âu có sự phân biệt những kiểu hài kịch khá bền vững; hài kịch bác học thế kỉ XVI và hài kịch mặt nạ ở Italia đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của sân khấu Châu Âu. Hài kịch tình yêu của Shakespeare nổi bật ở sự phong phú về tâm trạng đã thể hiện  tư tưởng chủ đạo thời Phục Hưng về quyền lực tự nhiên đối với tình cảm con người, đan dệt chất hài với chất  xúc động làm cho cái hài tiếp cận cái bi. Trong tác phẩm của mình Shakespeare đã kết hợp đồng thời cái kì quái đáng cười với niềm vui sướng với vẻ đẹp của nhiều tính cách. Còn Moliere đã tổng hợp các trò hài hước dân gian với  “hài hước bác học” thời Phục Hưng. Hài kịch thế kỉ Ánh sáng kết hợp sự chế giễu cay độc với sự vui nhộn và nhạy cảm của các nhân vật chính diện.

            Những khả năng nghệ thuật mới của hài kịch như nâng cao việc thể hiện tâm lí, xây dựng tính cách phức tạp hơn, được bộc lộ ở cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX trong loại hài kịch tư tưởng của Bernard Shaw  và hài kịch tâm trạng của Shekhov. Ở thế  kỉ XX, nét nổi bật ở hài kịch là sự đa dạng của những biến thức thể loại : hài kịch tố cáo xã hội của Brest, Ecexi…thủ pháp thể hiện cũng rất đa dạng.

            Kế tục và phát huy mạnh mẽ kịch hề dân gian Pháp. Trước Moliere cho đến 30 năm đầu thế kỉ XVII, trên sân khấu Pháp chưa có hài kịch, kịch hề dân gian vẫn là phổ biến. Nhưng kịch hề không phát triển được một phần do sự thô sơ, ấu trĩ về tư tưởng và nghệ thuật, một phần do  không được dư luận xã hội tôn trọng, khuyến khích. Sau đó gần giữa thế kỉ, nhiều nhà soạn kịch kể cả Corneil và Racine đều có viết hài kịch nhưng những hài kịch này vừa ít ỏi vừa chưa được chú ý xây dựng nên chưa làm ảnh hưởng gì đến vị trí của kịch hề. Chỉ từ Moliere trở đi, hài kịch Pháp mới chính thức ra đời và trở thành vũ khí đấu tranh. Vì nó đã kết hợp được ý nghĩa xã hội rộng lớn với cái cười thâm thúy, những truyền thống của kịch hề dân gian với những sáng tạo gắn liền với thời đại.

            Moliere đã sáng tạo ra hài kịch  cổ điển Pháp. Với Moliere hài kịch đã đạt được tới một trình độ rất cao đủ tư cách đứng ngang hàng với bất cứ một thể loại sáng tạo nào khác. Chịu những ảnh hưởng của những tư tưởng triết học lớn, tham gia tích cực vào việc dựng lên bộ mặt văn hóa, văn nghệ có tính dân tộc Pháp dưới sự lãnh đạo tập trung của Nhà nước dân chủ chuyên chế Pháp, sáng tạo theo đường lối phương châm chung của những nhà cổ điển chủ nghĩa  mà ông thường tiếp xúc, đáp ứng được nhu cầu thẩm mĩ của thời đại. Moliere đã cống hiến cho chủ nghĩa cổ điển bằng những sản phẩm riêng của mình–những hài kịch cổ điển ưu tú được đông đảo công chúng Pháp thế kỉ XVII và ngày nay hâm mộ. Moliere từng xác định “nhiệm vụ của hài kịch là miêu tả, nói chung những thói xấu của con người và chủ yếu là của con người thế kỉ chúng ta” (Kịch ứng diễn ở Verseille), “thể hiện trong lòng chủ nghĩa cổ điển một cuộc cải cách về hài kịch trên cơ sở chủ nghĩa hiện thực” (Mokouski). Nếu các cổ điển chủ nghĩa chạy theo “cái như thực” mà bỏ rơi “cái thực” thì “Moliere là nhà hiện thực có ý thức” (P.Daix).

            Như vậy đến Moliere thì hài kịch cổ điển Pháp mới thực sự phát triển với những tác phẩm nổi tiếng: Tartuffe, Lão hà tiện, Trưởng giả học làm sang, Người bệnh tưởng

            Moliere  là người có đóng góp quan trọng trong phát triển văn học Pháp thế kỉ XVII.

            Một bộ phận quan trong trong gia tài hài kịch của Moliere là những hài kịch tính cách. Những hài kịch này phản ánh xu hướng đi vào lòng người, mô tả tâm lí, nghiên cứu tự nhiên của chủ nghĩa cổ điển  nói chung. Để làm rõ các tính cách khiến chúng điển hình trong khuôn khổ của sân khấu cổ điển, Moliere đã chọn con đường riêng. Ông tập trung cao độ vào tính cách nhân vật, thậm chí vào nét cơ bản trong tính cách nhân vật. Ông tước bỏ những chi tiết phụ, rắc rối, đối lập không lợi cho sự chú ý theo dõi và xây dựng tính cách. Trong hài kịch tính cách của Moliere chỉ còn thấy hiện lên một tính cách cụ thể, dễ nhận, dễ phân biệt. mỗi nhân vật là hiện thân của một tính cách nhất định, hoặc đạo đức giả hoặc hà tiện hoặc thông thái rởm…Những tính cách khác, nếu có đều phải lùi xuống hàng dưới nhằm phục vụ cho tính cách chủ yếu. Đặc điểm của những tính cách này là tính hài kịch bộc lộ ở óc chủ quan ngộ nhận và cố chấp. Nhân vật hài kịch có những sai lầm những tật xấu hiển nhiên, không nguy hiểm chết người nhưng không sao tránh khỏi thất bại nhưng nhân vật ấy lại tin rằng mình nghĩ và làm đúng, mình nắm lẽ phải, mình sẽ thắng và khăng khăng không chịu thừa nhận thực tế khách quan. Đầu óc đầy ảo tưởng, nhân vật trở nên hài hước lố bịch, đáng bị chê cười.

            Để khắc rõ tính cách và cũng để tăng cường tính hài kịch, Moliere thường hay dùng một biện pháp khá quen thuộc: cường điệu tính cách, đẩy tính cách lên sát ranh giới của sự phi lí, khó tin, không giống như thật. Nhưng nghệ thuật cường điệu của Moliere hoàn toàn không phải là sự phóng đại tùy hứng, chủ quan mà vẫn gắn bó chặt chẽ với hiện thực, có cơ sở hiện thực chắc chắn nên có sức mạnh  và được thừa nhận.

            Tính cách nhân vật mà ông xây dựng là mô tả những con người cụ thể của thời đại mình. Nhân danh lí trí và tự nhiên, tiếng cười Moliere chĩa mũi nhọn vào cái phi lí và cái trái tự nhiên trong đời sống hiện thực, trong hài kịch của ông ta thấy có hai loại nhân vật : nhân vật mang nội dung lí trí và nhân vật đánh mất lí trí. Loại thứ nhất thì sáng suốt, loại thứ hai thì lầm lạc. Hégel đưa ra nhận xét “Nhân vật hài kịch của Moliere thành đối tượng để cho người ngoài cười…Gã Tartuffe của Moliere khi bị vạch mặt là tên gian ác thật sự, chẳng có gì là vui hết” (Mỹ học- Hégel). Những nhân vật hài kịch này là những nhân vật mà người ta cười về họ (khác với nhân vật hài kịch của Shakespeare là ta cười với họ).

            Tiếng cười của Moliere hướng vào rất nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội đang dần tư sản hóa lúc đó, sau khi ném hàng loạt tác phẩm đánh vào phong kiến và nhà thờ, Moliere đã hướng tiếng cười của mình sang đối tượng mới : giai cấp tư sản, ông ghét nhất ở giai cấp tư sản hai điều : học đòi quí tộc và keo kiệt, hám tiền. “Trong tất cả hài kịch ngày xưa bao giờ người ta cũng thấy một đầy tớ làm hề để cù khán giả, trong tất cả vở kịch ngày nay của chúng ta, bao giờ cũng phải có một hầu tước lố bịch để mua vui thiên hạ” (Kịch ứng tác ở Verseille). Thay đổi về chất trong hài kịch, Moliere đã hướng ngòi bút tới ba đối tượng chính là: quí tộc, tăng lữ, tư sản.

            Bên cạnh bi kịch, thơ ngụ ngôn…, hài  kịch là một trong những thể loại phát triển nhất của nền văn học Pháp thế kỉ XVII. Moliere đã khẳng định vai trò của mình trong nền văn học Pháp nói riêng và văn học thế giới nói chung.

2.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn học hiện thực Phương Tây thế kỉ

       XIX

            Trong văn học Phương Tây và trong văn học thế giới nói chung, chủ nghĩa hiện thực với tư cách là một phương pháp sáng tác vừa là một trào lưu văn học có vai trò và vị trí trất quan trọng. Một mặt, trên dòng văn học hiện thực phát triển qua các thời đại, văn học hiện thực phê phán đã xuất hiện như đỉnh cao nhất của thời đại Tư bản chủ nghĩa, trước khi chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ra đời kể từ những năm ba mươi của thế kỉ XIX. Và khi nó sinh ra ở Phương Tây vào lúc giai cấp tư sản bước lên vị trí thống trị, rồi trải qua ba giai đoạn phát triển từ hình thái hiện đại, chủ nghĩa hiện thực phê phán ngày càng trở nên phổ biến khi chủ nghĩa tư bản trở thành hệ thống toàn thế giới và cho tới nay nó đã cung cấp cho kho tàng văn học loài người hàng loạt những tác gia và tác phẩm xuất sắc, hết sức đa dạng. Đặc biệt thể loại tiểu thuyết.

            Văn học hiện thực phê phán xuất hiện sau năm 1820 dưới thời Trung Hưng  phát triển mạnh mẽ đến những năm 60 và có thể chia làm hai thời kì trước và sau năm 1848. Sau cuộc cách mạng tháng 7 năm 1830, chính quyền thuộc về giai cấp đại tư sản mà Marx gọi là “quí tộc tài chính”. Đồng tiền thống trị trong mọi lĩnh vực xã hội với quyền lực và sức mạnh tha hóa của nó. Cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra và giai cấp công nhân dần trưởng thành đã dẫn đến cuộc cách mạng tháng 6 năm 1846. Giai đoạn trước năm 1848 là giai đoạn phát triển rực rỡ của văn học hiện thực với những nhà văn ưu tú : Stendhal, Balzac, Meerimer.

            Theo qui luật phát triển chung của nghệ thuật, một nền nghệ thuật mới, tiến bộ bao hàm cả yếu tố kế thừa (với di sản tốt đẹp) cả yếu tố phủ định với những hiện tượng lỗi thời trong cuộc sống nghệ thuật. Là bước đường phát triển chính của văn học, chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XIX kế thừa những truyền thống ưu tú của quá khứ. Chủ nghĩa cổ điển thiên về cái chung, cái phổ biến khi xây dựng nhân vật. Chủ nghĩa lãng mạn đề cao cái cá thể  được nâng tới mức phi thường, ngoại lệ điển hình hiện thực chủ nghĩa, tính khái quát cao với tính cá thể sâu sắc. Tính cách nhân vật tiêu biểu cho những lực lượng xã hội nhất định, tính cách hình thành, hoạt động và phát triển trong những hoàn cảnh xã hội  nhất định. Khác và hơn hẳn chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực đặt nhân vật trong hoàn cảnh của mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp, hoàn cảnh này quyết định sự vận động, diễn biến của tính cách, một sự vận động không cơ giới mà theo logic nội tại của bản thân tính cách.

             Các nghệ sĩ hiện thực lớn, sự phân tích sâu sắc, rộng rãi về mặt xã hội kết hợp với sự phân tích tinh vi về mặt tâm lí. Nhân vật được thể hiện với tất cả tính đa dạng, phong phú của đời sống nội tâm vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, chịu sự chi phối của hoàn cảnh  vừa có tính độc lập bên trong. Cảm xúc, suy nghĩ, cách xử sự của nhân vật phù hợp với các đặc điểm trong tính cách xã hội của họ với qui luật nội tại của họ, những điều này  được cấu thành bởi các quan hệ xã hội của xứ sở và thời đại họ.

            Một đặc điểm nổi bật hơn cả so với nền văn học trước chủ nghĩa hiện thực phê phán đã xây dựng được điển hình “Ngoài sự chính xác của các chi tiết ra còn phải nói đến sự thể hiện chính xác những tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình”. Nhà văn lãng mạn trong khi miêu tả hình tượng, không chú ý đầy đủ đến những hoàn cảnh lịch sử cụ thể trong khi dùng những biện pháp nghệ thuật để nhấn mạnh sự đối lập của các mâu thuẫn, họ không chú trọng nghiên cứu quan hệ hiện thực và quan hệ biện chứng phức tạp của thế giới khách quan. Nhân vật lãng mạn thường được nhà văn đưa vào những hoàn cảnh hoang đường, hư ảo.

            Về phương diện miêu tả những tính cách điển hình, các nhà hiện thực cố gắng  bảo vệ tỷ lệ của hoàn cảnh sống thực, miêu tả nhân vật trong sự liên hệ phức tạp và trong mối quan hệ cụ thể lịch sử, trong sự phát triển của nó. Tính cách của các nhân vật đều hình thành và phát triển trong những hoàn cảnh điển hình.

            Các nhà văn đã dần dần từ bỏ  tính chất ước lệ lãng mạn mà thừa nhận tính chất bất khả chiến thắng của những qui luật khách quan quyết định số phận và tính cách của các nhân vật.

            Trong khi miêu tả một cách chân thực cuộc sống, các nhà hiện thực thế kỉ XIX đã lên tiếng phê phán, tố cáo xã hội tư sản. Balzac lên án đồng tiền trong xã hội đó , lên án giai cấp tư sản đã biến tất cả những quan hệ tình cảm, gia đình…thành ra “những quan hệ tiền nong đơn thuần”. Đíckenx đập mạnh vào tính chất giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản Anh và tố cáo tội ác của bọn giàu có.

            Các nhà văn hiện thực phê phán bằng những hình tượng nghệ thuật, ở mức  độ này  hay mức độ khác đều có nói đến thực chất của xã hội tư sản.

            Các nhà văn hiện thực đi sâu vào phân tích tâm lí nhân vật  dựa vào nghiên cứu thực tại khách quan, lựa chọn chi tiết chân thực, đồng thời tôn trọng những điều kiện lịch sử cụ thể và quan tâm đến sự phát triển lịch sử mới đạt được những nhân vật hết sức sinh động, có chiều sâu, những  nhân vật hiện thực rất điển hình mà cũng có cá tính sắc nét, tính cách được hình thành và biến chuyển của hoàn cảnh thực tại khách quan. Đó là những Julien Sorel, Mathindez de la Maule De Renant trong Đỏ và đen của Standhal, hay những Grandet, Gobsecs, Nucingen, Goriot, De Rastignac, Vaut’rin… trong bộ Tấn trò đời của H.Balzac.

            Hơn bất kì thể loại văn học nào, tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa với khả năng, tham vọng và cũng là nhiệm vụ của nó là mô tả toàn bộ cuộc đời, phản ánh tổng số đời sống xã hội, không thể không đạt tới khách quan hóa, điển hình hóa, tới nhân vật điển hình. Mà thực sự trong văn học hiện thực, chủ nghĩa hiện thực chỉ xuất hiện khi nghệ thuật văn học đạt tới một trình độ điển hình hóa nhất định, đi từ những điển hình tâm lí tiến dần lên những điển hình xã hội ngày càng hoàn chỉnh. Bước đầu ở thời Phục Hưng với những nhân vật kịch hay tiểu thuyết nổi tiếng của Shakespeare, Cesvantes, Rabelais…mới đạt điển hình tâm lí tức là những nhân vật tiêu biểu cho một hạng người có chung một đặc điểm nhất định về tâm lí, về tính cách, không kể đến nguồn gốc xã hội của họ. Chẳng hạn như tâm lí của một tên phản bội, của một con người cả tin, một kẻ mơ mộng, một gã tham lam keo kiệt hay tâm lí của một tên bạo chúa, của một đứa con bội bạc, một thanh niên si tình, một con người dũng cảm hào hiệp…Rồi qua thời kì cổ điển, thời kì Ánh sáng với ý thức về đấu tranh xã hội, về giai cấp và đấu tranh giai cấp dần dần nảy nở, sự điển hình hóa ngày càng được nâng cao, vượt qua trình độ điển hình tâm lí đơn thuần để tiến lên ở thế kỉ XIX những điển hình xã hộ tương đối hoàn chỉnh, tức là những nhân vật tiêu biểu cho lực lượng xã hội, những tầng lớp giai cấp xã hội nhất định quan hệ với nhau trong cuộc đấu tranh giai cấp, ngày càng rõ nét và có ý thức.

            Cố nhiên không phải ở thời đại Phục Hưng Shakespaere, Cesvantes  không đạt tới điển hình xã hội ở một mức độ nhất định và ở một nhân vật nào đó, nhưng điều đó có thể là tự phát, chưa phải do ý thức về giai cấp xã hội mà có.


Chương 2 : “HÀ TIỆN”- NHÂN VẬT QUEN THUỘC TRONG VĂN HỌC

                      TÂY ÂU

1. Nhân vật Euclion trong vở “Cái nồi” của Plaute (nhà viết kịch La Mã cổ đại)

            Cái nồi là vở hài kịch bằng thơ của nhà thơ Plaute, được trình diễn vào khoảng năm 195 trước công nguyên.

            Nội dung vở nói về một nhân vật hết sức là keo kiệt, có thể nói tính keo kiệt của hắn ta là sự kế thừa của truyền thống gia đình qua mấy đời.

            Mở đầu bằng một cảnh tự ngôn giáo đầu: Vị thần La (thần thổ địa, thần giữ của) ở nhà Euclion kể cho khán giả nghe, ông nội của Euclion có chôn một kho vàng trong nhà và giao cho thần gìn giữ bảo quản, trông coi. Tính lão keo kiệt quá mức cho nên đến khi chết cũng chẳng muốn cho con trai kho vàng đó. Con trai của lão, bố của Euclion  lại còn keo kiệt hơn ông nội nữa, nên đối xử với thần La rất tồi tệ, chẳng thèm để ý tới và dâng lễ vật cũng không ra gì nữa. Thần La tức giận nên đã trả thù không nói cho hắn biết kho vàng ở đâu. Đến Euclion cũng vậy, thần La chẳng được đối xử tốt hơn. Tuy nhiên con gái của hắn là  Phedrie đối xử với thần La rất thành kính. Vì thế để trả ơn người con gái nghèo đó, thần  La đã cho Euclion kho vàng để Phedrie nhờ đó sẽ dễ dàng lấy chồng vì có của hồi môn lớn. Nhưng Phedrie lại gặp chuyện không may. Trong đêm hội Sorex, một thanh niên quí tộc tên là Lyconide đã say sưa quá trớn đến nỗi cưỡng hiếp Phedrie, khiến cô này có mang. Trong khi Phedrie lại hoàn toàn không biết kẻ đã xúc phạm mình là ai, tông tích thế nào và Euclion cũng không hề biết tới những chuyện lôi thôi mà con gái mình mắc phải. Lúc này thần La hứa sẽ giúp đỡ Phedrie bằng cách sẽ sai khiến Mégadore – cậu của Lyconide một thương nhân góa vợ, chán ghét thói xa hoa, đua đòi đến xin cưới Phedrie, để từ đó Lyconide có thể biết chuyện, thay đổi được tình hình và cứu Phedrie dễ dàng.

            Sau cảnh tự ngôn giáo đầu là 5 hồi kịch liên tiếp thể hiện tính cách hà tiện của Euclion và câu chuyện nhân duyên từ Megdore–Phedrie đến Lyconide–Phedrie. Từ khi có cái nồi vàng trong tay, lão Euclion ngày đêm lo ngại, sợ sệt lũ đầy tớ của mình, lão lúc nào cũng có thể nghi ngờ hết đứa nọ đến đứa kia sợ chúng dòm ngó và biết chỗ lão chôn vàng. Khi Megadore đến gặp Euclion để  “ăn hỏi” thì lão ta lại nghĩ là đến để tìm cách ăn cắp cái nồi vàng, được biết Megadore xin cưới con gái, không đòi của hồi môn thì lão mừng rỡ ra mặt và ưng thuận liền. Thậm chí bữa tiệc cưới cũng do Megadore gánh chịu hết mọi khoản kinh phí từ việc mua sắm đến cử cả đầu bếp sang nấu nướng. Lão quyết trong bữa tiệc chỉ uống nước lã đề phòng Megadore dùng kế chuốc cho hắn say để cướp đoạt nồi vàng.

             Euclion không chỉ keo kiệt mà còn rất đa nghi nữa. Trong khi mọi người lo chuẩn bị cho bữa tiệc cưới thì Euclion đem nồi vàng từ nhà ra giấu ở đền thờ thần thiện tâm và khấn thần che chở, giữ gìn cho nồi vàng. Không ngờ Strobile, đầy tớ của Mégadore–Lyconide được Megadore sai bám sát  ông bố vợ để tìm hiểu tính khí  liệu bề đối xử, nghe được lời cầu khấn bí mật ấy. Ra khỏi đền, Euclion bắt gặp Strobile, lão tra hỏi vặn vẹo đủ đường rồi cẩn thận hơn nữa lão lại đem nồi vàng đi giấu chỗ khác. Strobile theo dõi sát và lấy được nồi vàng. Euclion mất nồi vàng, mất trí, kêu gào, la hét…Lyconide sau vụ xúc phạm Phedrie hối hận nói thật với mẹ-chị của megadore và xin cưới Phedrie. Sau khi thu xếp xong với ông cậu, Lýconide đến gặp Euclion thú tội và xin cưới. Câu chuyện giữa  hai người được tác giả viết rất  khéo, tạo ra  một kiểu “ông nói gà bà nói vịt”.

            Suốt câu chuyện Euclion cứ tưởng là Lyconide thú tội đã ăn cắp vàng. Cho đến cuối lão với vỡ lẽ ra cái chuyện lôi  thôi rắc rối ấy là chuyện xin cưới. Hồi V của vở kịch, bí mật một số đoạn cuối chỉ biết Strobile kể lại với cậu chủ Lyconide việc hắn vớ được một nồi vàng với ý định dùng số vàng dâng cậu chủ để  chuộc lại quyền tự do, thoát khỏi kiếp sống nô lệ.  Kết thúc vở kịch Euclion cho con gái nồi vàng và đôi Lyconide–Phedrie lấy nhau. Còn Euclion nhận ra mình đã tự làm khổ mình quá nhiều, quyết từ nay từ bỏ lối sống keo kiệt để sống một cuộc đời nhẹ nhõm thư thái hơn.

            Theo một cách phân chia ước lệ, Cái nồi  là hài kịch tính cách. Vở kịch phản ánh tình trạng suy đồi, phong hóa trong đời sống ở La Mã, tâm lý sùng  bái của cải tích lũy, keo kiệt đã làm cho con người méo mó, nghèo nàn đi và trở thành nô lệ một cách kỳ cục cho của cải.

            Nghệ thuật cười tập trung vào việc cường điệu tính cách của nhân vật chính, tạo ra sự đối lập, mâu thuẫn hài kịch in đậm trong vở hài kịch.

            Euclion không những keo kiệt mà còn có rất nhiều thói xấu, có lẽ chính bệnh keo kiệt đã đẻ ra bao nhiêu thói xấu của lão. Lão nghi ngờ tất cả mọi người mặc dù những người bên cạnh ông không hề xấu như ông nghĩ. Vì nồi vàng mà lão không hề để ý đến con gái mình phải trải qua những rắc rối trong chuyện tình cảm, phải khổ đau như thế nào. Nhưng người đọc cũng vui mừng khi tới cuối tác phẩm Euclion đã nhận ra keo kiệt có ảnh hưởng như thế nào tới cuộc sống của  mình và người thân.

            Đây thực sự là một vở kịch hết sức có ý nghĩa, nó giúp người đọc hiểu hơn về con người và những tính cách của con người trong cuộc sống, tự rút ra cho mình những bài học đạo đức để hoàn thiện tính cách mỗi người.

2. Nhân vật Sailock trong “Người thương nhân thành Venise” của 

    Shakespeare

            Chiếm một vị trí đặc biệt trong hài kịch của Shekespeare. Tác giả  kết thúc vở kịch bằng tiếng cười chào mừng thắng lợi. Mặc dầu vậy, hình ảnh của Sailock với tâm địa độc ác, tàn nhẫn của hắn vẫn ám ảnh  tâm hồn người xem, đè nặng lên họ không phải  chỉ như một ác mộng thoáng qua mà như một mối đe dọa khủng khiếp.

            Câu chuyện kể lại như sau: Antonio là một thương gia giàu có và nổi tiếng hào hiệp ở Venise. Để giúp bạn là Baxanio đến xứ Benmont và cầu hôn nàng Porcia, Antonio vì không sẵn tiền mặt đành phải đến vay Sailock, một gã Do Thái chuyên cho vay nặng lãi nổi tiếng là keo kiệt và tàn nhẫn.

            Sailock xưa nay vẫn căm ghét Antonio đã làm hắn thua thiệt rất nhiều (chàng sẵn sàng cho vay không lấy lãi hoặc giúp đỡ tiền nong một cách hào phóng), hơn nữa chàng từng làm nhục hắn, nhổ nước bọt vào hắn, xúc phạm đến cả dòng giống hắn. Hắn thuận cho Antonio vay với điều kiện, nếu đến kì hạn mà chàng không trả đủ tiền thì chàng phải cho hắn xẻo ½ livrơ thịt trên người chàng, xẻo ở chỗ nào mà hắn thích.

            Chuyện xảy ra theo y như dự kiến của hắn, Antonio không có tiền trả nợ. Hắn bèn kiện ra tòa. Ở phiên tòa, mọi người đều khuyên hắn nên có lòng thương người nhưng hắn khăng khăng đòi phải thi hành cam kết, nghĩa là phải để hắn xẻo thịt Antonio. Phiên tòa bế tắc trong im lặng ngột ngạt. Giữa lúc đó Baxanio về. Chàng nghe tin Antonio lâm nạn nên vội vàng  từ giã Porcia, giờ đây đã là vợ mới cưới của chàng – để về Venizo cứu bạn. Chàng ném trả tiền cho Sailock– hắn từ chối. Chàng bèn cho hắn gấp đôi và có thể trả hắn gấp mười lần để không còn dính dấp gì với hắn. Nhưng Sailock vẫn khăng khăng từ chối tiền. Phiên tòa lại bế tắc.

            Bỗng xuất hiện một luật sư khôi ngô tuấn tú, theo sau một viên thư kí cũng tuấn tú, khôi ngô. Sau khi khuyên bảo Sailock nên có lòng khoan dung và bị hắn bác bỏ, luật sư đề nghị tòa cho Sailock thi hành bản cam kết của đôi bên, nghĩa là hắn được quyền xẻo ½ livrơ thịt của Antonio nhưng tuyệt đối không được làm đổ dù chỉ là một giọt máu của chàng. Sailock ngớ ra trước điều kiện đó, hắn không tính hết mọi nhẽ nên đành chịu từ bỏ ý muốn trả thù, chỉ xin được trả đủ món nợ mà Antonio đã vay hắn. Luật sư viện dẫn pháp luật của Venise và đề nghị tòa chiểu theo luật trừng phạt đích đáng kẻ đã bằng lời nói và bằng hành động đe dọa đến tính mạng và tài sản của một công dân, hơn nữa lại là một công dân cao quí, là Antonio. Tòa tuyên án tống giam Sailock, tịch thu toàn bộ tài sản của hắn.

            Baxanio mời luật sư và các bạn đến Benmont để mừng thắng lợi và dự tiệc cưới dở dang (vì có phiên tòa này) của chàng. Giữa tiệc vui mọi người mới vỡ lẽ rằng luật sư khôi ngô và tài giỏi nọ chẳng phải ai khác mà chính là nàng Porcia xinh đẹp cải trang.

            Khi viết vở hài kịch này Shakespeare muốn hướng sự chú ý vào nhân vật “chàng thương gia thành Venise”, nhân vật mà ông nhằm đề cao và ca ngợi. Đó là Antonio, con người trọng nghĩa khinh tài. Chính vì lẽ đó mà chàng trở nên nổi tiếng và được nhiều người kính trọng. Chàng sẵn sàng đem tài sản và cả tính mạng của mình ra giúp bạn. Chàng quí trọng tình yêu, tình bạn, tình người nói chung hơn là đồng tiền.

            Tuy nhiên quá trình sáng tạo đã dẫn dắt nhà văn còn phải tập trung vào làm nổi bật hai nhân vật nữa : Porcia và Sailock. Đây là hai nhân vật đối lập nhau kịch liệt. Họ đại diện cho hai quan niệm sống trái ngược nhau hoàn toàn. Nếu như Porcia là một người đại diện cho chủ nghĩa nhân văn thì Sailock đại diện cho thế giới phản nhân văn.

            Một con người keo kiệt đến hết cả tình người, tình thương đối với hắn là một khái niệm hoàn toàn mơ hồ và xa lạ. Hắn không một có một chút tình người, có lẽ vậy thế giới loài người không thuộc về hắn mà ngược lại với lịch sử tiến hóa hắn thuộc thế giới loài quỉ dữ. Shakespeare đã hơn một lần gọi đích danh hắn là quỉ ác.

            Một số nhà phê bình cho rằng với việc xây dựng nhân vật Sailock như vậy, Shakespeare đã bộc lộ tư tưởng bài Do Thái của ông. Đây chưa hẳn là một nhận định đúng, không ở đâu trong vở hài kịch này quyền làm người của người Do Thái lại được khẳng định rõ ràng đến thế, hùng hồn đến thế : “ta là một người Do Thái. Vậy người Do Thái không có mắt à ? Người Do Thái không có mặt mũi, tay chân như một giáo dân Cơ đốc à ? Về mùa hè nó không cảm thấy nóng à ? Nó cũng cảm thấy rét trong mùa đông à ? Khi các người đâm chúng ta, chúng ta không chảy máu sao ?…”

            Như vậy trong vở hài kịch này nhân vật Sailock được xây dựng  với những tính cách không những bỉ ổi, keo kiệt, không một chút tình thương, lại còn là một người đen tối, một con quỉ ác. Cho vay nặng lãi, nhưng lấy lãi cũng hết sức đặc biệt.

            Vở kịch kết thúc, người xem được một trận cười hả hê, thoải mái và vô cùng nhẹ nhõm, Sailock đã bị chừng trị, còn những người tốt như Antonio và Porcia…thì chiến thắng và được sống trong hạnh phúc của tình yêu, tình bạn, tình người cao thượng đẹp đẽ. Đó có lẽ là ý nghĩa nhân văn sâu sắc mà tác giả muốn gửi gắm trong tác phẩm của mình.

3. H’Arpagon trong vở kịch “Lão hà tiện” của Moliere

            H’Arpagon, nhân vật chính trong vở hài kịch  Lão hà tiện  nổi tiếng của Moliere, được xây dựng với nét tính cách nổi bật là thói hà tiện. Lão không chỉ keo kiệt, hà tiện mà còn mắc bệnh hám vàng. Mọi thứ tình cảm thân thiết đều đã bị đánh rơi để đổi lấy lòng ham muốn hám vàng

            H’Arpagon là một người làm giàu bằng nghề cho vay nặng lãi, lão góa vợ có một con trai và một con gái, lão rất giàu có nên có cả gia nhân đày tớ và xe ngựa. Song lão không muốn chi tiêu cho ai, cho bất cứ việc gì. Con trai lão, ngược lại là một tay “phá gia chi tử”. Đối với kẻ ăn người ở, lão quỵt tiền công, luôn luôn nghi hoặc cho họ ăn cắp,  khám xét rất khả ố. Đối với ngựa kéo xe, thì lão cắt bớt khẩu phần ăn. Các con đến tuổi dựng vợ gả chồng, lão định lấy cho con trai một bá góa vợ lắm của, ép duyên con gái với một ông già chỉ vì một lí do duy nhất ông ta “không đòi của hồi môn”. Lão hết sức gia trưởng,  nếu con trai không nghe lời thì lão sẽ từ bỏ và truất quyền thừa kế. Nếu con gái không chịu lấy người mà lão đã lựa chọn thì lão dọa sẽ cho vào nhà tu kín.

            Để làm giàu, H’Arpagon cho vay lãi nặng chưa từng thấy, gán những đồ đạc vứt đi, gãy hỏng vào số tiền cho vay. Con trai vốn là tay ăn chơi, một hôm liều đi vay lãi để chi tiêu, lãi bao nhiêu cũng chịu. Người cho vay thì đưa ra những điều kiện hết sức khắc nghiệt. Gặp nhau, với vỡ lẽ là hai cha con, người cho vay và kẻ đi vay.

            Cả cuộc đời H’Arpagon chỉ biết đến tiền vàng, không thèm quan tâm đến thứ khác. Lão sẵn sàng đổi tình cha con, tình yêu với Mariane để lấy tráp vàng.

            Kết thúc vở kịch chúng ta cười và phê phán H’Arpagon nhiều hơn là thông cảm và thương xót. H’Arpagon keo kiệt, hà tiện một cách lộ liễu, trơ trẽn. Thói keo kiệt của H’Arpagon không có tính chất tiêu biểu cao, có thể bắt gặp ỡ rất nhiều người, nhiều nơi. Đó là một trong những thói hư tật xấu của con người mà mỗi người chúng ta cần nên tránh. H’Arpagon mang tính chất nguyên phiến và bất động.

4. Lão Grandet trong tiểu thuyết “Eugenie Grandet” của Balzac

            Grandet một nhân vật phụ, đặt cạnh những nhân vật chính “nhân vật vỡ mộng” trong tiểu thuyết hiện thực của H.Balzac. Được xây dựng thành công không kém những nhân vật chính.

            Grandet giàu có nhưng hà tiện và khôn ngoan. Ở Grandet, mọi biểu hiện của tính hà tiện đều được che giấu bởi lối sống giản dị từ trong cách ăn mặc tới  sinh hoạt, giao lưu với bạn làm ăn… Quá trình làm giàu của Grandet gắn liền với lịch sử nước Pháp thế kỉ XIX. Cách mạng 1789 đã mang lại cơ hội làm giàu cho Grandet cũng như rất nhiều tư sản khác. Nhờ vậy, lão đã có trong tay nhiều đồn điền, trang trại, nhà tu và rất nhiều cơ hội làm ăn béo bở. Lão là một người biết làm ăn tính toán. Vợ và con gái cũng phải sống trong thói tằn tiện của lão, mặc dù họ không đến nỗi phải thiếu thốn. Gia sản của Grandet ngày càng tăng với những bao vàng chất đống. Người em đang vỡ nợ ở Paris, cháu trai (Charles) phải về Saumur lãnh nạn. Lão không cứu giúp em và đẩy thằng cháu sang Ấn Độ. Lão tìm cách kéo dài thời gian trả nợ cho em trai, sau này Charles về sẽ tự trả. Dù sao ở lão vẫn còn chút danh dự dòng họ Grandet.

            Bà Grandet vì đau buồn mà mất. Sợ vợ chết con đòi gia tài lão liền giảng hòa với con. Sau khi lão mất thì chỉ còn Eugenie sống bơ vơ với hy vọng là sẽ đón nhận được tình yêu của Charles khi anh ta từ Ấn Độ trở về.

            Grandet là nhân vật được xây dựng theo phương pháp điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Lão tiêu biểu cho giai cấp tư sản Pháp thế kỉ XIX.

            Kết thúc tiểu thuyết chúng ta thấy cảm thông và thương cho số phận Grandet, một người vì hà tiện, ham vàng mà đã mất dần những bản chất tốt đẹp của con người.

5. Nhận xét

Ai trong mỗi chúng ta cũng cần phải dành dụm để tồn tại trong cuộc sống. Tiết kiệm trong lĩnh vực nào cũng hết sức cần thiết, ai cũng phải tiết kiệm. Nhưng không phải ai cũng hiểu và thực hiện tiết kiệm một cách đúng đắn. Có người không thể tiết kiệm được, họ luôn có một quan niệm “ trời sinh voi trời sinh cỏ” nghĩa là không việc gì phải tiết kiệm, của cải hết  ắt nó sẽ có. Còn một số người lại tiết kiệm một cách thái quá, quá mức và lúc này tiết kiệm không còn theo đúng nghĩa của nó nữa. Những người như vậy  gọi là hà tiện, keo kiệt, bủn xỉn…Họ đặc biệt coi trọng  của cải, đôi khi còn hơn cả tình cảm gia đình và tính mạng của họ. Dân gian thường có câu “tiết kiệm từng đồng”, “chín xu đổi lấy một hào” hoàn toàn đúng với những người này. Họ không dám tiêu pha, chỉ muốn dành dụm nên trở thành riết róng, bủn xỉn. Có rất nhiều từ đồng nghĩa với từ hà tiện chẳng hạn như keo kiệt, bủn xỉn, Trùm Sò, lão Grandet hay H’Arpagon…tùy thuộc từng mức độ và quan niệm mỗi người. Hà tiện đối với một số người là phương châm sống, là mục đích sống.

Nhìn lại hành trình của các nhân vật hà tiện từ văn học thế giới tới văn học dân gian Việt Nam, biểu hiện của tính cách hà tiện vô cùng đa dạng và phong phú. Ngay từ thời La Mã cổ đại đã có Euclion, một con người không những keo kiệt mà còn thiếu tình người. Được kế thừa đức tính “keo kiệt” từ đời ông nội tới đời cha, có thể gọi một câu là đức tính “cha truyền con nối”, keo kiệt tới mức quí trọng tiền bạc hơn tình cảm. Đối với Euclion, một việc duy nhất có ý nghĩa  và cần phải làm đó chính là chăm sóc và bảo vệ cho toàn vẹn nồi vàng thân yêu, giấu làm sao cho  kĩ. Có lúc do lòng nghi ngờ quá cao, bản  thân lão giữ cũng không yên tâm nữa, mà phải cậy nhờ tới thần linh, thế  nhưng quá  keo kiệt nên đối xử ngay với thần La cũng chẳng ra gì. Lão keo kiệt sinh ra nghi ngờ, mọi hành động của người khác đều làm hắn chú ý. Mégadore tới cầu hôn con gái lão thế nhưng dưới con mắt “đa nghi” của lão thì Mégadore sang chỉ để dò la tin tức về chỗ cất vàng mà thôi. Trong bữa tiệc cưới lão dự định sẽ không uống rượu vì sợ con rể đầu độc để chiếm nồi vàng. Ngày hạnh phúc của con, lão cũng không hề quan tâm mà chỉ bận tâm làm sao giấu nồi vàng cho kĩ. Được tác giả xây dựng dưới góc độ một nhân vật hài kịch, Euclion đã mang đến cho người xem những tiếng cười thoải mái đằng sau đó là sự chế giễu những thói xấu xa, keo kiệt, lạnh nhạt của lão. Người đọc vui mừng khi kết thúc câu chuyện, Euclion đã nhận ra tác hại của tính cách mình đối với những người thân và ngay cả đối với chính bản thân. Tác giả dường như muốn hướng  con người  làm theo những điều tốt đẹp, điều thiện, sống thì phải có ích cho mọi người, sống vì mọi người. Lòng tham của con người thì vô hạn “lòng tham vô đáy”, nó thuộc về bản năng nhưng điều quan trọng là chúng ta phải biết kìm chế nó như thế nào mà thôi. Cuộc sống thì luôn vận động và phát triển, con người cũng phải thay đổi theo. Không chỉ dừng lại ở nhân vật Euclion, với chức năng phản ánh cuộc sống, các tác gia văn học cũng không ngừng sáng tạo trong việc xây dựng nhân vật, đặc biệt sự thay đổi trong nhân vật hà tiện.

Euclion chỉ dừng lại là một người keo kiệt, thiếu tình thương nhưng chưa đến nỗi tàn nhẫn. Đến văn học Phục Hưng ta bắt gặp một hình ảnh khác sinh động hơn, gắn liền với bản chất của  tầng lớp trên. Không ai khác ngoài Sailock trong “ Người lái buôn thành Venise” (Shakespeare). Trong tác phẩm này không phải Sailock là nhân vật chính, Shakespeare đã xây dựng hai tuyến nhân vật đối lập nhau. Nếu như Porcia, Baxanio, Antonio là những nhân vật được ca ngợi bởi đức tính tốt đẹp, quí báu như tài giỏi, hào hiệp, giàu tình thương, sống hết mình vì tình yêu, tình bạn và tình người. Thì Sailock lại đặt trong sự tương phản đối lập với ba nhân vật trên. Có lẽ kế thừa tính keo kiệt từ Euclion nhưng Sailock còn phát triển cao hơn. Keo kiệt vẫn chưa đủ khi nhận xét về Sailock. Hắn còn biết tính toán, biết làm cho đồng tiền của mình sinh sôi nảy nở chứ không hoàn toàn bất động như nồi vàng của Euclion. Tiền trong tay hắn sẽ sinh sôi nảy nở gấp nhiều lần. Cho vay nặng lãi với giá thắt cổ và đối với những người mà hắn hằn thù ví như Antonio chẳng hạn  hắn lại có những độc chiêu hoàn toàn mới, một điều kiện rất khó thực hiện. Vì cứu bạn Antonio đành phải vay tiền hắn với giá thắt cổ và với một điều kiện nếu không trả đúng kì hạn phải để cho hắn xẻo ½  livrơ thịt, điều đó có nghĩa là Antonio chắc chắn phải trao mạng sống của mình cho hắn. Đúng là quá nham hiểm, không những muốn lấy tài sản của những người vay nợ mà hắn còn muốn lấy cả tính mạng của họ nữa. Antonio chấp nhận cái chết để cứu bạn, một hành động thật cao cả. Còn Sailock thì sao? Hắn hả hê vui mừng đợi tới ngày được xẻo thịt Antonio.

Trải qua một hành trình dài từ La Mã cổ đại tới văn học Phục Hưng Anh thế kỉ XVI, nhân vật hà tiện không còn mang những nét tính cách đơn thuần nữa mà đã phát triển hơn, đa dạng hơn, phức tạp hơn. Nếu Euclion chỉ dừng lại ở sự keo kiệt, đa nghi, thiếu tình thương thì Sailock cộng thêm gian ác,nham hiểm, biết làm ăn tính toán. Chứng tỏ rằng nhân vật hà tiện đang tiến dần tới hiện thực của xã hội đang tư sản hóa nhiều hơn, giai đoạn tích lũy tiền tư bản ở Châu Âu. Không đơn điệu như Euclion, Sailock sống hơn, có linh hồn hơn. Nếu yêu quí Antonio, Porcia, Baxanio bao nhiêu ta càng ghét Sailock bấy nhiêu.

Cuối cùng những con người độc ác, mưu mô như Sailock cũng bị trừng trị. Lẽ phải đã chiến thắng. Công lý đã thuộc về những người biết trân trọng và yêu quí cái đẹp, cái thiện. Có thể đó cũng là quan điểm của Shakespeare khi xây dựng tác phẩm này.

Moliere lấy nguồn cảm hứng từ trong cuộc sống hằng ngày ở thời đại ông, và lấy chất liệu từ văn học dân gian Pháp cũng như dựa vào vở Cái nồi của Plaute để xây dựng H’Arpagon. Một người nổi bật với thói hà tiện, keo kiệt và bệnh hám vàng. Ở H’Arpagon mọi thứ tình cảm giữa con người với con người dừng như đều đã bị bỏ rơi. Lão chỉ biết duy nhất một thứ đó là vàng mà thôi. Con cái và hầu kẻ hạ trong nhà phải sống trong thói keo kiệt đến thô lỗ của lão. Họ đều phải lên tiếng, con cái thì muốn rời khỏi nhà, gia nhân mượn lời hàng xóm để  tố cáo ông chủ. Lão rơi vào bi kịch của tình cảm cha con, tình yêu với Mariane  đều là hậu quả của thói hà tiện. Lão ôm tráp vàng với niềm vui hân hoan. Người đọc thì cười nhưng  phải rơi nước mắt  đau xót cho một người vì hám vàng và keo kiệt mà đã mất đi  mọi thứ tình cảm thân thiết. Ở H’Arpagon chỉ có hà tiện, keo kiệt và hám vàng ngoài ra không còn gì khác. Một nhân vật bất động và khô cứng.

Grandet sinh động hơn tất cả (Euclion, Sailock, H’Arpagon), hà tiện, keo kiệt nhưng khôn ngoan biết làm ăn tính toán. Grandet là sản phẩm của văn học hiện thực thế kỉ XIX  của Tây Âu. Quá trình làm giàu của lão giống như bao tư sản khác. Họ biết lợi dụng hoàn cảnh đất nước để làm giàu, đó cũng là quá trình tích lũy tư bản của giai cấp tư sản trong giai đoạn đỉnh cao. Mọi biểu hiện của tính cách hà tiện của lão đều rất kín đáo. Nếu trông bề ngoài từ trong cách ăn mặc tới nhà cửa không ai có thể đoán biết điều gì về giá trị tài sản  của nhà Grandet. Grandet không đến cạn tình cạn nghĩa như H’Arpagon. Ông biết tìm cách hoãn nợ cho em trai, không để vợ và con phải túng thiếu, quan hệ rất thân mật với linh mục vì danh dự gia đình. Qua Grandet, Balzac muốn phê phán xã hội tư sản Pháp thế kỉ XIX. Họ đã đánh mất dần những tình cảm tốt đẹp của con người chỉ vì hà tiệ và hám vàng.

Hành trình của nhân vật hà tiện không chỉ dừng lại ở một vài tác phẩm đã dẫn, một vài tính cách đã nêu. Có lẽ nó vẫn sẽ là đề tài hấp dẫn đối với nhiều tác giả văn học. Do trình độ và sự tìm tòi còn hạn chế, tôi chưa thể phân tích được nhiều hơn những nhân vật hà tiện trong văn học thế giới cũng như văn học Việt Nam, để làm phong phú hơn cho hành trình những nhân vật  hà tiện. Nhưng hy vọng rằng những nhân vật trên sẽ giúp cho việc hiểu đối tượng chính được đề cập tới trong luận văn này một cách đầy đủ và thấu đáo hơn.


Chương 3 : MOLIERE XÂY DỰNG TÍNH CÁCH HÀ TIỆN. BALZAC XÂY

                      DỰNG NHÂN VẬT HÀ TIỆN

1.Điểm giống nhau giữa hai nhân vật H’Arpagon (Moliere) và lão Grandet

   (Balzac).

Văn học Phương Tây để lại nhiều tác phẩm về người hà tiện. Tồn tại với thời gian là những hình tượng bất hủ như Sailock của Shakespeare, H’Arpagon của Moliere, Grandet của Balzac…mỗi nhân vật đều đã để lại trong lòng người đọc những suy nghĩ và những cảm xúc khác nhau. Ngoài những nét tính cách mang hơi thở  thời đại họ sinh ra, họ còn có một điểm chung là đều là những con người hết sức keo kiệt. Thông qua những hình tượng ấy họ cũng muốn góp phần phản ánh những thói hư tật xấu tồn tại trong xã hội, muốn hướng con người tới những điều tốt đẹp hơn, sống có ích hơn.

H’Arpagon là một nhân vật được xây dựng khá thành công, là một trong những nhân vật được người đọc biết tới nhiều nhất khi nói về Moliere. Khi xây dựng Lão hà tiện với hình tượng người hà tiện, Moliere đã dựa vào rất nhiều chất liệu khác nhau, từ trong văn học dân gian Pháp, đến hiện thực cuộc sống và đặc biệt là dựa vào nguyên mẫu của nhân vật Euclion trong vở Cái nồi  (Plaute). Cũng giống như Euclion, H’Arpagon là một người rất hà tiện tuy giàu có.

H’Arpagon là người chủ gia đình, với hai đứa con (một trai, một gái), trong nhà có rất nhiều gia nhân và đầy tớ, cũng giống như bao gia đình giàu có khác ông cũng có xe ngựa và nuôi nhiều ngựa. Hơn thế ông có một tài sản kha khá “một vạn đồng ê quy vàng để trong nhà là một món tiền khá”, còn rất nhiều tiền cho vay lấy lãi nặng “đến bóp hầu bóp cổ”, về khoản này thì H’Arpagon chẳng khác gì so với Sailock của Shakespaere.

Thế nhưng giàu có là một chuyện còn rộng rãi trong mọi mối quan hệ xã hội lại là chuyện khác. H’Arpagon dưới con mắt của người thân hay bất kì ai từng tiếp xúc với lão đó là một người hết sức keo kiệt, keo kiệt đến mức tàn nhẫn. Trước hết ta hãy xem cách đối xử của lão với hai người con như thế nào? H’Arpagon là một người cha, vợ lão đã mất, lão có nhiệm vụ nuôi hai đứa con. Song tính keo bẩn của lão chính là nguyên nhân chia rẽ cha con. Lẽ ra, lão phải là chỗ dựa tinh thần, là niềm an ủi và là người thân duy nhất của chúng thế nhưng ngược lại Cleante và Elise phải tính đến nước rủ nhau trốn khỏi cái nhà âm u như nhà tu đó. Cha dạy cho con trai khi đánh bạc mà số đỏ thì nên cho vay lãi. Mưu toan cưới cho con một bà góa giàu tiền của và ép con gái lấy một ông già “không đòi của hồi môn”. Trong khi đó lão dành cho bản thân mình một cô gái trẻ măng. Chuyện hạnh phúc của cả cuộc đời con trai cũng bị chi phối bởi ý nghĩ của lão “không của hồi môn”. Lão còn dọa chúng nếu không nghe lời sẽ từ bỏ con trai và nhốt con gái vào nhà tu kín. Rõ ràng đã keo kiệt mà lão còn mang nặng tư tưởng gia trưởng. Tính keo kiệt đi kèm với lòng hám vàng đã khiến cho lão trở thành nạn nhân của những bi kịch cha con cả về tiền bạc lẫn tình cảm. Lão thì luôn chắt chiu từng đồng, dè xẻn ngay trong ăn uống hằng ngày  còn con trai lão lại là một kẻ “phá gia chi tử”. Lão rơi vào bi kịch của tình cảm, khi con trai thì bắt lấy một bà già góa giàu có còn lão yêu một cô gái trẻ lại chính là người yêu của con trai mình. Chưa đủ, màn hài kịch còn đặc sắc hơn khi để cho lão đối mặt với con trai trong vai trò người cho vay nặng lãi và để tự Cleante nhận xét về cha mình. Còn gì đau đớn hơn khi người con trai lại nhận xét đánh giá cha mình như sau : “nó chưa hài lòng về số lãi khủng khiếp ăn của người ta, lại còn bắt người ta lấy 3000 livrơ những đồ vật ba vạ cho không ai lấy, mà nó nhặt nhạnh được. Tất cả những thứ ấy, tao bán không nổi hai trăm ê quy”. Khi biết cha mình là một kẻ chuyên cho vay nặng lãi, Cleante đã không ngần ngại “chính cha tìm cách làm giàu làm có bằng cách bóp hầu bóp cổ giết người thế à ?”, “cha không hổ thẹn đi bôi nhọ địa vị của cha bằng những việc xoay xở vứt bỏ cả lòng tự trọng và dư luận cho lòng tham không đáy, chất đống từng đổng ê quy và tăng tiền lãi, mưu mô những tính toán quay quắt nhất chưa từng thấy một tên bóp hầu bóp cổ nổi danh nào nghĩ ra được”. Điều này đã giúp người đọc nhận rõ chân dung của một người keo kiệt đến tàn nhẫn – H’Arpagon.

Đối với con cái lão còn như thế, vậy kẻ hầu người hạ – họ phải chịu như thế nào, họ đánh giá gì về ông chủ của mình ? H’Arpagon thực hiện quy tắc tiết kiệm đến thái quá không chừa bất cứ một đối tượng nào. Thật tội nghiệp cho những ai phải làm việc cho lão. Bác Jack chắc cũng phải rất đau lòng khi nghe thấy những lời nói không tốt về ông chủ của mình và còn ngại ngùng hơn khi phải nói ra những lời ấy, bác vẫn cứ nghĩ rằng đó chỉ là những lời bịa đặt mà thôi. Thế nhưng, sự thật hoàn toàn như vậy, mượn lời nói của người ta để tỏ lòng mình cho ông chủ biết. Tất cả những tính toán của H’Arpagon đều được người ta phản ánh một cách đầy đủ “ông cho in những niên lịch riêng, trong đó ông cho tăng gấp đôi những tuần chay đầu mùa và số ngày ăn chay trước những lễ lớn để lợi dụng những ngày nhịn đói và bắt các gia nhân của ông phải chịu”. Chẳng còn gì có thể biện minh cho hành động hoàn toàn không một chút tính người của lão. Flese đã từng nhận xét “ngài H’Arpagon là người có ít tính người nhất trong mọi con người, người trần tục hắc búa và keo cú trong những người trần tục”.

Ngựa là con vật rất được yêu quý, đặc biệt là đối với những gia đình giàu có, đôi khi nó còn là niềm kiêu hãnh. H’Arpagon thì không, ông dành cho chúng một chế độ đãi ngộ đến mức “chúng ở tình trạng không đi nổi” và một thực đơn mà những chú ngựa kia phải thường xuyên nếm “ông bắt chúng nhịn đói khắc nghiệt quá làm cho chúng chỉ còn là những ý niệm hay những bóng ma, hay những hình thù gọi là ngựa mà thôi”. Có lẽ ai cũng cảm thấy  đau xót và đáng thương, tội nghiệp  biết bao khi  chúng trở thành những cái xác không hồn như vậy.

H’Arpagon luôn quan niệm một điều “người ta phải sống để mà ăn chứ không phải ăn để mà sống” và “cho” là một tiếng mà lão ta căm ghét đến mức không khi nào nói. Có lẽ vì vậy mà  ngay cả thức ăn cho ngựa của lão mà lão còn ăn cắp khiến anh đánh xe cứ ngỡ là kẻ cắp đã đánh cho mấy đòn “bắt gặp chính ông đến ăn cắp thóc ngựa của ông”.

Có một hành động càng tô thêm bản tính keo kiệt của H’Arpagon  và làm cho lão càng trở nên nhỏ nhặt và lố bịch hơn “ông phát  đơn kiện một con mèo hàng xóm về tội ăn vụng một mẩu đùi cừu ăn còn thừa”. Thế mới biết càng giàu thì những con người này càng trở nên keo kiệt và bủn xỉn.

Đối với người Phương Tây,  đặc biệt là người Pháp họ rất coi trong phép lịch sự. Khách tới nhà là một niềm vinh dự, việc đón tiếp rất chu đáo. Thế nhưng ở cả H’Arpagon và Grandet đều có một điểm chung là không muốn tiếp đãi khách. Trong bữa tiệc đãi cô người yêu Marianee, lão đã cho người ta thấy “tiếng lành đồn xa” như thế nào. Từ việc chuẩn bị đồ ăn, tới việc cắt cử người tiếp khách ra sao đều rất chuyên nghiệp. Lão đã có một cơ hội mười mươi để thực hành  phương châm “người ta sống để mà ăn chứ không ăn để mà sống”. Ông muốn rằng những món làm ra phải là những món tồn tại được lâu và là “độc nhất vô nhị”, không nhà nào có giống như nhà lão “phải có những món mà người ta ăn không đụng đến, làm cho người ta  thấy no trước”. Quả thật không ai rành rẽ khoản này như H’Arpagon. Những người được cắt cử tiếp khách thực ra là để bảo quản, trông nom của cải cho lão mà thôi . Chẳng hạn như bà Clote “tôi trao cho bà nhiệm vụ lau chùi mọi nơi và nhất là đừng cọ các đồ gỗ mạnh quá, sợ mòn mất. Ngoài việc ấy tôi ủy cho bà, lúc bữa ăn tối, quản giám chai lọ, nếu để thất lạc cái nào và đánh vỡ cái gì tôi sẽ bắt  đền bà rồi trừ vào tiền lương”. Không biết tiền công của bà được bao nhiêu nếu bị trừ bà sẽ sống ra sao ? Hai anh Braindavoa và La Mecluyse với công việc là tiếp rượu khách cũng được chỉ dạy rất cẩn thận “chỉ khi nào mọi người khát, chứ không phải theo thói của những thằng đầy tớ dớ dẩn, như muốn khích người ta , nhắc nhở người ta phải uống khi người ta không nghĩ đến chuyện ấy. Hãy chờ người ta hò đôi ba lần đã và nhớ là phải mang thêm nhiều nước lã”.

Moliere đã xây dựng nên một điển hình bất hủ về thói hà tiện, làm cho H’Arpagon trở thành cái tên quen thuộc trong đời sống xã hội. Đây cũng chính là đóng góp quan trọng của Moliere cho lịch sử phát triển văn học nghệ thuật. H’Arpagon đã đặt cơ sở cho những Grandet sau này.

Tình cảm là một điều hết sức thiêng liêng nhưng đối với H’Arpagon dường như nó cũng là một bài toán được đưa lên đo đong đếm. Chuyện hạnh phúc của con cái là chuyện cả đời và lẽ ra lão phải chăm lo cho chúng. Thế nhưng, lão cũng quyết định luôn với đầu óc gia trưởng và đầy toan tính. Lão chỉ luôn nghĩ làm sao để được lợi nhất. Con trai thì định gả cho một bà già góa  với một lí do duy nhất là bà ta giàu có. Còn con gái thì sao ? Lão ép lấy một ông già  gần 50 tuổi “không đòi của hồi môn”. Lẽ ra hai đứa con là nguồn động viên, là người thân còn lại đối với lão thế nhưng vì quá coi trọng tiền bạc đã làm mối quan hệ cha con ngày càng xa nhau hơn, làm sao chúng có thể gần gũi  với lão được.

H’Arpagon đã thoát khỏi nhân vật Euclion (Cái nồi) và sinh động hơn. Tính keo kiệt của H’Arpagon ngày càng bộc lộ rõ, đặc biệt ở hồi IV khi lão mất tráp bạc, kêu la trời đất. Trong cảnh này H’Arpagon thật sự như một con rối với những hành động có thể nói là tiêu biểu và gây chú ý nhiều nhất. Lão ta bị rơi vào những tình trạng khác nhau lúc thì tỉnh táo lúc lại quẫn trí, cứ như vậy lặp đi lặp lại trong màn độc thoại một mình. Lão kêu la thảm thiết, rồi tự nắm lấy tay mình mà cho là đã bắt được kẻ trộm, một tên kẻ trộm vô hình. Ta hãy hình dung xem trong cảnh đầu tiên H’Arpagon xuất hiện như thế nào, hốt hoảng, đầu không mũ, chân không giày, lão kêu la thảm thiết “ối kẻ trộm! ối kẻ trộm”, mất một vố to lão đã rơi vào tình trạng đau đớn giằng xé, mê sảng quẫn trí. Quả thật, đáng tội nghiệp biết bao, một con người đã mất bao công bòn mót tài sản, đã phải dè xẻn từng tí một, lại có những hành động không thể chấp nhận đựơc…để đổi lấy niềm vui khi được ngắm vàng và tích lũy ngày càng nhiều vàng. Trong lớp 2 hồi III có đoạn độc thoại giữa hai cha con H’Arpagon, ngừơi con đã phải đau đớn khi phải thốt lên “cha không hổ thẹn đi bôi nhọ địa vị của cha bằng những việc xoay xở vứt bỏ cả lòng tự trọng và dư luận cho lòng tham không đáy, chất đống từng đồng ê qui và tăng tiền lãi , mưu mô những tính  toán quay quắt nhất chưa từng thấy của một tên bóp hầu bóp cổ nổi danh nào nghĩ ra đựợc ?”, chỉ ngần này thôi cũng đủ để hiểu con người H’Arpagon như thế nào rồi. Để có tiền lão bất chấp tất cả, kể cả danh dự, thế mà giờ đây cái mà lão duy nhất có đựơc đã bị ăn trộm mất. Hỏi sao lão không hốt hoảng, không quẫn trí đến mức điên lên. Giờ đây chỉ còn lại mình lão đơn độc một mình độc thoại với chính mình. Hết độc thoại với mình lão chuyển sang đối thoại với ngừơi bạn mà lão tâm đắc và yêu quí thực sự – bạn tiền. Lão than thở “tiền tội nghiệp của tôi ơi”, “mất mày tao không sống nổi”. Như vậy tiền chính là ngừơi bạn duy nhất của lão, giờ đây bạn đã ra đi, H’Arpagon thực sự đang rất đau đớn, tự rằng xé mình khi lỡ để mất bạn. Đối với H’Arpagon, đồng tiền chính là lẽ sống, là lý tửơng cao nhất. Đó là bạn yêu quí, là máu mủ ruột rà của lão. Đồng tiền vô tri vô giác, không bộc lộ một chút cảm xúc nào dù nhỏ nhất để chia xẻ với  lão, thế nhưng nó lại đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của lão. Vàng đã trở thành sinh mệnh với H’Arpagon, mất vàng lão cũng không còn muốn sống nữa “tôi muốn treo cổ tất cả thiên hạ và nếu tôi không tìm thấy tiền của tôi, tôi sẽ treo cổ cả tôi nữa”. Không một ai có thể làm mềm lòng lão về mặt tiền bạc “ngừời ta có thể chết lăn ra đấy lão cũng không hề chuyển. Nói tóm lại lão yêu tiền hơn cả dư luận, hơn cả danh dự, hơn cả đạo đức. Và nhác thấy ai đến xin tiền, lão đủ lên cơn giật. Đó là đánh trúng huyệt lão, là đâm thủng trái tim lão, là rút ruột lão…” (La Fleser  nói với Frozin).

Đồng tiền đã hủy hoại tư cách, bóp chặt tình cảm, cắt đứt mọi quan hệ xã hội của H’Arpagon. Qua ngòi bút của Moliere, H’Arpagon đã mang bóng dáng của giai cấp tư sản Pháp sau này. Để có tiền, để thu lãi nhiều H’Arpagon đã hy sinh cho thứ vật báu ấy tất cả cám dỗ và thể xác. Đối với  các quan hệ xã hội, lão đã xé bức màn tình cảm phủ lên những quan hệ gia đình làm cho những quan hệ ấy chỉ còn là những quan hệ tiền nong. H’Arpagon đã làm ra đồng tiền nhưng ngược lại chính đồng tiền đã chi phối lão một cách nghiệt ngã, trở thành tên nô lệ đáng kính của đồng tiền. Moliere đã rất thành công khi xây dựng H’Arpagon, thành công khi vạch rõ “thói hám tiền và thói keo kiệt đã bóp nghẹt mọi tình cảm tự nhiên” của lão.

Còn đối với Balzac khi xây dựng lão Grandet–được coi là có sự kế thừa từ H’Arpagon của Moliere thì sao? Lão Grandet mang nhiều bản chất  của giai cấp tư sản Pháp khi đang ở trên đỉnh cao của sự phát triển, bên cạnh đó chúng ta cũng không phủ nhận những bản chất đựơc kế thừa từ những bậc tiền bối đi trước như Euclion, H’Arpagon của Grandet.

Cũng giống như H’Arpagon, Grandet cũng là một ông chủ giàu có, với tài sản ngày càng phong phú và lớn mạnh. Tuy nhiên số tài sản mà Grandet có đựơc là cả một quá trình tích lũy lâu dài cộng với sự may mắn khi gặp thời, khả năng tính toán, làm ăn của một bác thợ đóng thùng ở thị trấn nhỏ bé Saumur.

Điểm xuất phát ban đầu của Grandet chỉ với hai trăm đồng và là một bác thợ cả đóng thùng. Thế nhưng cuộc đời thật nhiều màu hồng đối với Grandet. Cách mạng 1789 đã mang đến cho lão cơ hội thay đổi số phận của một thợ cả đóng thùng. Nếu trước cách mạng  là “khoảng năm 1789 chỉ là một bác phó cả đóng thùng làm ăn khá giả, biết đọc, biết viết, biết tính khi chính phủ cộng hòa bán đấu giá tài sản Nhà chung thì bác thợ thùng lúc bấy giờ bốn mươi tuổi, vừa cưới con gái một ông lãi gỗ giàu”. Thì sau cách mạng 1789 bác ta đã “trở thành chủ nhân đẹp nhất trong hạt, cùng với một ngôi nhà tu cũ và mấy cái ấp nữa, giá rẻ như cho không”, như vậy vẫn chưa phải là đã kể hết tài sản của lão. Lấy con gái một ông lái gỗ giàu có, còn được thừa kế  3 gia tài của ba cụ già “hưởng ba cái gia tài liền”, “ba cái gia tài ấy chẳng ai biết to nhỏ thế nào. Chỉ biết rằng ba cụ già đó là ba người keo kiệt lắm, keo kiệt say xưa, đã từ lâu họ chỉ ưa chất của lại để lén lút ngắm nghía”. Ngoài ra ông còn trồng một mẫu nho, có mười ba trang ấp, một nhà tu cũ, ba nghìn gốc bạch dương, ngôi nhà ông đang ở. Tất cả những thứ đó chỉ là của nổi của lão mà thôi, còn vốn liếng của ông thì chỉ có hai người duy nhất có thể biết được, và hai người này cũng là những cộng sự đắc lực cho ông khi muốn phát triển tài sản đó là Cruchot và  De Grassins. Ngừơi dân trong vùng mà ông sinh sống thì luôn luôn tự hào, lấy làm kiêu hãnh– đây là một niềm kiêu hãnh ái quốc vì vùng mình có một người giàu có như Grandet. Sau cách mạng chẳng bao lâu vào năm 1816 “những người tính toán giỏi nhất Saumur ước lượng ruộng đất  ông Grandet trị giá xấp xỉ 4 triệu. Ngoài ra vì lợi tức đồng niên quân bình của ông từ 1793–1817 là 10 vạn phơrăng mỗi năm”. Như vậy Grandet đã làm chủ một tài sản khá lớn “ông Grandet ấy à ? Gia tài ông Grandet chắc phải đến năm sáu triệu”.

Grandet giàu có nhưng không hề hào phóng, cũng không khác gì H’Arpagon. Grandet là một người rất hám vàng và hết sức keo kiệt.

Nhận xét về H’Arpagon có thể nói đó là một người giàu “nứt đố đổ vách” nhưng lại vô cùng bủn xỉn, keo kiệt trong đời sống hàng ngày. Bản thân lão không dám ăn, không dám tiêu, chỉ lo bòn mót thu vén, chỉ lo bị của cải hao hụt. Con cái, lão bỏ mặc trong sự túng thiếu. Kẻ hầu người hạ trong nhà, lão bày ra những trò đê tiện để cướp công. Những người quen thân khác, lão không dám bỏ ra cho ai một đồng bao giờ. H’Arpagon mang cung cách của một anh nhà giàu mới phất còn rơi rớt lại thói keo bẩn kiểu phong kiến, địa chủ.

Grandet giàu lên nhờ sự tính toán khôn ngoan cùng với vận may do cách mạng 1789 mang lại nhưng tất cả những mối quan hệ trong cuộc sống hàng ngày đều đựơc gắn với tiền bạc, làm ăn buôn bán. Từ vợ con đến cháu họ và cả những người hay lui tới nhà lão đều là những đối tượng mà lão quan tâm, để ý.

Grandet keo kiệt, hà tiện với ngay cả vợ và con gái mình. Trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, lão đều tự tay phân phát từng mẩu đường, từng cái bánh ở mỗi bữa ăn. Ngôi nhà luôn luôn thiếu ánh sáng, thiếu lửa ấm và nó như chìm ngập trong tập quán keo bẩn của Grandet. Eugenie và bà Grandet trở thành bé nhỏ, đáng thương, tội nghiệp khi phải sống dưới ngôi nhà cùng với Grandet. Grandet không phải một người keo kiệt bình thường. Lão chính là hậu duệ của H’Arpagon. Lão biết lợi dụng cách mạng để làm giàu, chiếm hữu ruộng đất, phát mãi và đầu cơ, phất lên bằng nhiều thủ đoạn, làm giàu bằng xương máu của nhân dân “nhìn ông ta đi qua, không ai là không cảm thấy vừa thán phục, vừa kính nể, khiếp sợ. Ở cái tỉnh Saumur này, dễ không ai không bị vuốt thép trơn bóng của ông ta cấu xé”.

            Ngôi nhà của lão như chìm ngập trong tập quán keo bẩn. Là một ngừơi giàu có nhất vùng, nhưng không ai có thể đoán đựơc căn nhà của Grandet lại tồi tàn và buồn tẻ đến thế “cái ghế tựa kiểu cổ có phủ thảm thêu, mấy hình thêu ấy minh họa thơ ngụ ngôn La Fontaine, nhưng nếu không biết  trước thì không tài nào nhận ra chỉ vì màu chỉ đã bạc phếch, hình thêu bị mạng vá chằng chịt, khó lòng nhìn thấy”. Nó hiện lên rõ hơn khi tác giả đặt nó trong sự quan sát của Charles “những bức tường xung quanh thang gác vàng khè và bám đầy muội, các bậc thang mọt rỗng rung rinh dưới bước chân nặng nề của ông bác”, cảm nhận ban đầu về một ngôi nhà đẹp đẽ khi nghe nói về sự giàu có của ông bác họ đã không còn “mộng của chàng tan vỡ càng nhanh hơn. Chàng tưởng mình đang ở trong cái chuồng gà”.

Tất cả mọi hành động của Grandet đều gắn với thói tính toán thực dụng và keo kiệt. Từ cách chọn vợ, lão cũng nhằm mục đích có được một khoản thừa kế lớn, từ đó mới có những cánh đồng nho, những ngôi nhà, nhìn thấy ở bà Grandet là một người biết nội trợ, ngoan đạo, một người tế nhị, biết tiết kiệm cho chồng và gia đình. Đối với lão “đời là công việc làm ăn”, mọi việc lão làm đều có mục đích rõ ràng phải có “lợi nhuận”. Việc thuê mụ Nanon cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Lão không thích tốt bụng với bất cứ một ai từ người nhà đến bà con và cả khách khứa  nữa. Cả nhà chỉ có một cây nến duy nhất trong lúc nhà có khách thế mà lão vẫn lạnh lùng mang đi mà không cần để ý đến ai “ông đã mang cây đèn duy nhất trên bàn đi để đọc thư mà không cần chú ý đến khách và cuộc vui của họ”. Quả là một người keo kiệt đến thô lỗ. Càng giàu thì Grandet càng trở nên keo kiệt, lão “dè xẻn đến cả cử động của mình”.

Đối với Grandet  thì tiền trở thành vị thánh, bất cứ ai làm tổn thương tới tiền, vàng của lão đều không là gì. Eugenie–một người con gái thánh thiện, lúc nào cũng hồn nhiên và khao khát có một tình yêu tự do, hạnh phúc thì dưới mắt của người cha, cô chỉ là một người giúp lão giữ số tiền vàng mà thôi. Tặng vàng và những đồng tiền cho Eugenie trong những ngày sinh nhật hay lễ thánh chẳng qua chỉ là Grandet đang thực hiện một công đoạn “bảo toàn” tiền mà thôi, “đem tiền ở hòm này bỏ sang hòm khác”. Vàng thì ông tặng cho con nhưng quyền sử dụng thì vẫn nằm trong tay ông. Chính vì vậy, mà ông đã lồng lộn lên tưởng như có thể giết cả vợ và con gái khi nghe tin Eugenie đã mang số vàng đó tặng cho Charles. Sự tàn nhẫn và vô tâm của Grandet đã làm cho người khác phải sợ hãi đặc biệt là vợ và con lão.

Cũng giống như H’Arpagon, đồng tiền đã chi phối Grandet, nó đã làm cho tim lão co lại và nhỏ dần đi, trở nên lạnh lẽo và sắt đá hơn, mọi thứ tình thương cao đẹp, nhân bản dần dần tắt nhường chỗ cho lòng hám vàng. Đồng tiền không làm “ấm lại” cõi lòng con người như Grandet lầm tưởng. đồng tiền tư bản chỉ làm cho tâm hồn lão giá lạnh. Đối với Grandet, vợ lão chỉ tồn tại trong tâm trí lão như một cái vốn; con gái lão đối với lão chỉ là một kẻ thù, nó sẽ “lột da” lão, “giết” lão, “ăn thịt” lão bằng “việc thừa hưởng di sản của mẹ”, Charles, cháu ruột lão, “không là gì cả” bởi vì “hắn không một xu dính túi, cha hắn vỡ nợ”. Lão đã giết dần mòn ngườivợ hiền lành, người hùn vốn và là kẻ nô lệ của lão, vì thói keo kiệt hám vàng của mình. Lão đang tay bóp chết tình yêu trong sáng, lành mạnh của Eugenie. Lão quay lưng trước lời cầu khẩn van xin của người em vỡ nợ, đẩy cháu lên đường tha phương cầu thực. Lão còn nhỏ nhặt đến nỗi mua lại mấy cái cúc vàng của thằng cháu mồ côi tay trắng, lợi dụng lòng tin của cháu đối với bác, ăn gian cho được. Đối với lão “đời là một công việc làm ăn” và lão chỉ để trái tim xúc động khi đã có đủ lí lẽ để tin rằng nó có thể xúc động “không tốn kém”. Ngay cả đãi khách cũng trở thành một hành động xa xỉ “từ thuở mẹ về với cha con thì lần này là lần thứ ba ông ấy đãi lớn”.

Trong nếp sinh hoạt hằng ngày, lão cũng không tránh khỏi những quy luật “hà tiện”. Hằng ngày lão thường “ưa đi ngủ sớm, mà hễ ông ta đã ngủ, cũng như khi Ogusto uống rượu thì cả nước Ba Lan say”. Ông rất cẩn thận và chú ý khi sử dụng bất cứ thứ gì, “vương vãi” là một từ chưa thể khái niệm được của lão, hơn ai hết mụ “Nanon hộ pháp” là người hiểu rõ “làm như ông Grandet có thể để vương vãi cái gì”.

Lão keo kiệt đến tàn nhẫn đối với ngay cả người em gặp nạn ở Paris đang cầu cứu, nhẫn tâm đẩy thằng cháu qua Ấn Độ- một miền đất xa xôi để cho rảnh nợ. Mặc dù với khả năng của mình, Grandet hoàn toàn có thể giúp người em khỏi bị phá sản. Mọi thứ dưới con mắt của lão đều một màu vàng ánh của vàng. Sống với lão, vợ con lão phải chịu bao nhiêu khổ cực về vật chất, sự lạnh nhạt về tình cảm. Bà Grandet vì thương con mà suy nghĩ và phát bệnh, đến nỗi da của bà phải vàng đi như héo úa,  thế mà Grandet lạnh lùng nói: “nước da bà kể vàng một tí nhưng tôi thích màu vàng”. Đến khi biết nếu bà Grandet chẳng may qua đời thì lão sẽ mất một số tài sản lớn, lúc ấy Grandet mới trở nên mềm mỏng lạ thường. Lão đã “thành tâm cầu nguyện cho bà sống chỉ vì bà Grandet mà chết thì vấn đề thừa kế di sản của bà ta cũng làm cho Grandet chết đi được”.

Đồng một quan điểm với H’Arpagon, Grandet cũng không muốn cho ai một cái gì ngay cả đứa con gái duy nhất. Lão vui mừng, hạnh phúc khi Eugenie đồng ý  kí vào bản cam kết tự từ bỏ quyền thừa kế tài sản của mẹ.

Tiền, vàng đã trở thành sinh mệnh của Grandet. Chính vì thế, lúc nhìn thấy cây thánh giá mạ vàng, lão đã lấy hết sức bình sinh để cố gắng vươn lên với bằng được “khi cha sứ đến rửa tội cho ông, cặp mắt ông đã chết đờ từ lâu bỗng sáng lên lúc nhìn thấy cây thánh giá, đôi đèn, cái lọ nước thánh bằng bạc. Ông nhìn chằm chặp những thứ ấy và cái chóp mũi ông động đậy lần cuối. Khi ông cố đạo đưa cây thánh giá mạ vàng kề môi ông để ông hôn hình đức chúa Jesu thì ông vùng lên một cách khủng khiếp để chụp lấy cây thánh giá”. Đúng là ánh vàng của kim tiền đã mê hoặc cả cuộc đời lão, lão say mê khi được ngắm vàng, thấy ấm lòng lên cũng nhờ vàng. Vàng đã kéo dài sự sống  dù chỉ thêm vài giây cuối cuộc đời.

Nhà văn Balzac đã lạnh lùng khi đưa ra nhận xét “Grandet thì mọi năng khiếu trí óc bắt đầu xuống nhưng về tính keo kiệt hám của thì vẫn tồn tại như một bản năng”. Lão già yếu nhưng  sở thích không hề thay đổi “bình thường lão có vẻ mê mẩn nhưng cứ đến ngày giờ thu thuế, tính sổ với tá điền, làm giấy biên nhận thì ông tỉnh lại”.

Vàng, bạc là vật duy nhất có giá trị với Grandet “được món gì ông cũng chuyển hóa ra vàng, ra bạc và vàng bạc cứ bí mật vào xếp  trong buồng kín, bên cạnh những bao chất đống  từ trước”. Rõ ràng là keo kiệt và hám vàng chẳng khác H’Arpagon nhưng từ H’Arpagon đến Grandet ta đã thấy có sự chuyển dịch rất lớn, càng ngày những con người keo kiệt đại diện cho xã hội tư sản càng trở nên tàn nhẫn hơn, đáng sợ hơn nhiều. Họ bất chấp danh dự của mình để đánh đổi lấy niềm say mê yêu thích đến mức tôn thờ  một cách mù quáng vàng và bạc.

Grandet được mọi người kính phục, kính phục bởi nhiều lẽ khác nhau. Ông ta không nợ ai. Vì ông đã là  thợ đóng thùng lâu năm, trồng nho lâu năm. Ông ngày càng trở nên tinh ranh hơn.về phương diện tài chính. Ông Grandet vừa giống một con hổ vừa giống một con trăn, ông biết cách nằm, cách thu hình lại, rình miếng mồi rất lâu và nhảy ra vồ đúng lúc, rồi há mõm túi tiền ra nuốt chửng một đống vàng, xong lại nằm im lìm như con trăn đang tiêu hóa, thản nhiên, lạnh lùng, có cách thức”. Grandet xứng đáng là một đại diện tiêu biểu cho giai cấp tư sản Pháp thế kỉ XIX.

2. Điểm khác nhau giữa hai nhân vật

2.1. H’Arpagon – tính cách hà tiện

            Xây dựng H’Arpagon, Moliere đã tập trung miêu tả nét tính cách cơ bản của nhân vật, làm cho H’Arpagon trở thành một điển hình độc đáo, tiêu biểu cho thói hà tiện. Mọi nét tính cách khác đều xoay quanh thói hà tiện, do hà tiện sinh ra và có tác dụng làm nổi bật nét tính cách xấu này. Đó chính là thành công xuất sắc của Moliere theo phương pháp điển hình hóa của chủ nghĩa cổ điển.

 H’Arpagon là một cái tên có tính tượng trưng. Trong tiếng gốc Hilạp nó có nghĩa là tham lam và trong gốc Latinh nó có nghĩa là ăn cắp. Thế kỉ XVI, một vở hài kịch Italia đã chế giễu một anh hà tiện tên là Acpagô (Arpago). Có lẽ Moliere đã tổng hợp tất cả những yếu tố trên trong nhân vật chính của vở kịch Lão hà tiện. Cái tên đã nói ngay lên bản chất, tính cách của nhân vật, một con người hà tiện và keo kiệt.

 Tính cách keo kiệt được khắc họa ngày một rõ hơn ở nhân vật H’Arpagon qua diễn biến 5 hồi của vở kịch. Ở hồi I, tính cách ấy bộc lộ rõ chỗ lão định chọn con trai một bà góa giàu có, chọn cho con gái một ông già “không đòi của hồi môn” và chọn cho mình cô Mariane nghèo nhưng tằn tiện.

            Sang hồi II, tính keo kiệt ở lão cũng thể hiện ở thói cho vay nặng lãi và hám tiền. Đây là nét mới so với vở Cái nồi của Plaute, H’Arpagon đã mang bóng dáng của giai cấp tư sản Pháp thế kỉ XVII. Cảnh cho vay nặng lãi lại xảy ra giữa cha và con H’Arpagon.

            Đến hồi III, nhà văn tô đậm tính hà tiện của H’Arpagon qua việc lão sai gia nhân sửa soạn bữa tiệc thết đãi Mariane, với những món ăn “độc nhất vô nhị”, chưa ăn đã thấy no.

            Tính hà tiện keo kiệt bộc lộ đến cao điểm ở hồi IV  khi lão lồng lộn lên vì mất tráp bạc.

            Đến hồi V, nhà văn lại tìm thấy được khía cạnh làm nổi rõ hơn tính cách của lão : lão đồng ý nhường Mariane lại cho con trai để thu về tráp bạc, mặc dù yêu Marianee nhưng lão còn yêu tráp bạc hơn.

            Lão hà tiện, Tartuffe hay Trưởng giả học làm sang là những tác phẩm hài kịch quan trọng trong gia tài hài kịch của Moliere, là những hài kịch tính cách. Những hài kịch này, đi sâu vào nghiên cứu tâm lí tự nhiên của con người theo chủ nghĩa cổ điển. Để làm rõ tính cách khiến chúng đạt tới mức điển hình trong khuôn khổ của sân khấu cổ điển, Moliere đã chọn cho mình một con đường riêng. Ông tập trung cao độ vào tính cách, thậm chí vào nét cơ bản nhất  trong tính cách. Ông tước bỏ những chi tiết phụ, rắc rối, đối lập, không lợi cho sự chú ý theo dõi và sự xác định tính cách. Trong hài kịch tính cách của Moliere chỉ còn thấy một tính cách cụ thể dễ nhận, dễ phân biệt. Mỗi nhân vật đều là hiện thân của một tính cách nhất định.Những tính cách nếu có đều nhằm phục vụ cho tính cách chủ yếu.

            Là sản phẩm của hài kịch cổ điển và chịu ảnh hưởng nhiều của chủ nghĩa duy lí của Descartes, H’Arpagon cũng được xây dựng với tính cách nổi bật nhất là hà tiện.

            Tính hà tiện được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau từ chỗ chọn vợ gả chồng cho con cái ở hồi I đến thói cho vay nặng lãi và hám vàng ở hồi II, ngày càng thể hiện rõ hơn ở hồi III và IV với việc thết đãi Mariane, mất cắp tráp bạc. Cuối cùng là màn trao đổi độc đáo lấy tiền nhường tình.

            Sáng tạo lớn của Moliere biểu hiện tập trung ở ý nghĩa xã hội sâu rộng của tính cách, ở khuynh hướng trào phúng chua cay và thể loại hài kịch. Trong tác phẩm của Moliere, H’Arpagon không tình cờ trở nên giàu có, lão vốn là kẻ chuyên cho vay nặng lãi. Tiền đối với lão là một thứ của luân chuyển có giá trị sinh sản. Điển hình H’Arpagon có một ý nghĩa xã hội rất rõ: tiêu biểu cho giai cấp tư sản Pháp phát triển kinh tế bằng con đường cho vay nặng lãi, không còn bó hẹp trong ý nghĩa gia đình chật hẹp như xưa. H’Arpagon là con người của một thời đại mà vàng có thế lực to lớn và đang thống trị hết thảy. Phương pháp làm giàu của H’Arpagon thực chất là phương pháp tích lũy sơ khai của tư bản. H’Arpagon là hiện thân của giai cấp tư sản Pháp đang mải miết chạy theo tiền tài, sẵn sàng chà đạp lên tất cả.

            H’Arpagon hiện lên trước mắt người đọc, người xem như một anh hề. Chính tính bủn xỉn, keo kiệt đã tạo cho lão một chỗ đứng trên sàn diễn. H’Arpagon bị chế giễu, lên án vì thói học đòi quí tộc, địa vị của lão bắt buộc lão phải trang bị những vật dụng đi kèm như nhẫn kim cương, đầy tớ, xe ngựa. Thế nhưng không gì bần tiện hơn bằng kẻ giàu có mà tìm cách cắt xén lương của gia nhân, tính toán bẩn thỉu một bữa ăn thết khách, tham lam, tính quẫn trong việc dựng vợ gả chồng cho con, nhẫn tâm gán đồ vật thổ tả cho người đi vay lãi. Đi đâu cũng bị người ta chê cười, chế giễu. Để cho đầy tớ bắt được tận tay khi lẻn vào ăn cắp thóc ngựa. Lão thì ra sức chắt bóp, tằn tiện thì con trai lại là một kẻ “phá gia chi tử”. Cuộc đời quả thật “trớ trêu” với H’Arpagon.

            Tính cách hà tiện được khắc họa dần bằng những nét khác nhau, ở những cấp độ khác nhau, sự khắc họa đó ở hồi sau tăng hơn hồi trước, tô đậm dần thành một tính cách hà tiện cụ thể, điển khiển và kết tinh thành con người H’Arpagon khệ nệ ôm tráp bạc sinh động.

            Để xây dựng thành công tính cách H’Arpagon, Moliere đã sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau.

            Ở những hồi đầu tác giả liên tục để tính cách H’Arpagon phát triển, qua những lời nhận xét của quản gia, tiếp đó là của chính hai đứa con lão.Valer nhận xét: “tính hà tiện quá đáng của ông cụ, tính khắc nghiệt của cụ trong cuộc sống với các con…”, “kẻ thích nịnh hót” (lớp 1 hồi I), hay “chỉ vì tính tằn tiện của người cha mà anh ở tình trạng bất lực”, “người ta có thể nào thấy cái gì tàn nhẫn hơn tính tằn tiện khắc nghiệt đối với chúng ta, tính chi li kì lạ làm chúng ta mệt mỏi”, “đã từ lâu tính keo kiệt không chịu nổi giam hãm chúng ta” (lớp 2, hồi I).

Những nhận xét này được cụ thể hóa bằng hành động của H’Arpagon chửi  mắng om sòm, quát tháo đày tớ, xua đuổi đầy tớ, ngôn ngữ phù hợp với tính cách của lão: quân ăn cắp, thổ tả, đồ chết treo…, kèm theo những hành động bỉ ổi đòi khám bàn tay thứ ba, thứ tư, vừa hăm dọa vừa dỗ dành, vừa mềm dẻo vừa cứng rắn.

            Tính cách hà tiện được triển khai thêm bằng khoản yêu đương của lão. Việc nói cho hai con hiểu về hôn nhân, không lúc nào lại trở nên khó khăn như bây giờ “có một khó khăn nho nhỏ, cha sợ, với đám này, ta sẽ không được lắm của mà ta có thể trông chờ” và “thì cố mà gỡ gạc ở cái khác”. Ngay trong việc “yêu đương” lão cũng đưa lên cân nhắc, tính toán. Càng nực cười hơn khi nét hà tiện tiếp tục được phác họa thêm bằng  việc hỏi cho con trai một bà góa giàu có, con gái một ông già gần 50 tuổi với lí do khá quan trọng với lão “không của hồi môn”. Sự khai triển các nét tính cách hà tiện được phát triển ở các khía cạnh khác nhau trong các hồi khác nhau. Nó làm cho bản chất của H’Arpagon được mổ xẻ, khắc họa rõ ràng và sinh động hơn.

            Mọi biểu hiện khác nhau hòa nhập vào nét đặc trưng chủ yếu, phát triển theo hướng làm sáng tỏ, tô đậm nét chủ yếu. Những biểu hiện trong tính cách của H’Arpagon như hách dịch, xảo quyệt, nham hiểm kèo theo thói ân nghĩa giả dối, thói xu nịnh lố bịch hay tính hào phóng giả tạo, đều không ngoài mục đích làm nổi bật tính cách hà tiện, keo kiệt, bủn xỉn và bần tiện, bẩn thỉu của lão. Những nét tính cách phức tạp còn được Moliere phóng đại, cường điệu. Đây cũng là một biện pháp quen thuộc mà Moliere hay sử dụng. Biện pháp này thể hiện rất rõ khi miêu tả hành động nghi ngờ đầy tớ ăn cắp và hắn đã khám xét họ. H’Arpagon khám hai bàn tay còn cho là chưa đủ mà còn khám cả “những bàn tay khác”, hà tiện tới mức không dám dùng chữ  “cho”, mặc dù chỉ là một cái bắt tay thông thường. Lão hỏi con về cô gái Mariane và khả năng các mặt của cô gái: hình thức, đức hạnh, khả năng quán xuyến công việc gia đình nhưng vẫn phàn nàn vì “không được lắm của” và khi nghe bà mối Phrôdin tán tỉnh xu nịnh, lão say mê đi nhưng vẫn đòi “phải đóng góp chút đỉnh”, “phải chịu tốn đôi tí”, “bởi vì xưa nay, chẳng ai lấy một người con gái mà cô gái không mang gì về” nghĩa là mặc dù có yêu Mariane nhưng bản chất  hà tiện vẫn đòi phải “kiếm cái gì sờ mó được”. Ở H’Arpagon ta thấy được một con người hà tiện sinh động, không chỉ hà tiện mà còn si tình, một con người sợ lau bàn mạnh quá gỗ sẽ bị mòn, biết tính toán rằng tám người ăn đủ thì mười người ăn cũng đủ, nhưng vẫn không từ bỏ ý định lấy Mariane. Lão chỉ nhượng bộ khi cái tráp tiền của lão bị mất cắp, nghĩa là lão yêu Mariane nhưng còn yêu tiền hơn một tí. Tất cả mọi chi tiết được cường điệu phóng đại đã tô đậm tính cách hà tiện của H’Arpagon. Moliere sử dụng biện pháp phóng đại là tập trung làm nổi bật nét chủ yếu của tính cách nhân vật so với các nét khác. Việc cường điệu hay phóng đại là bắt nguồn từ trong lịch sử. Ở Lão hà tiện  với nhân vật H’Arpagon đó là nét hà tiện. Ở nhân vật H’Arpagon, cái si mê Mariane chỉ là một biểu hiện của tính cách hà tiện. Lão đã si mê một cách thật hà tiện, thể hiện rất rõ trong buổi tiệc đãi Mariane. Bên cạnh đó, tính cáu gắt, cục cằn thô lỗ của lão cũng là một trong những nét biểu hiện khác nhau của tính cách hà tiện.

 Việc sử dụng nghệ thuật cường điệu hay phóng đại không chỉ xuất hiện trong từng hồi mà ngay trong từng lớp của vở kịch. Màn thết tiệc ở lớp 1 hồi III là một ví dụ tiêu biểu: lão H’Arpagon cắt việc cho mọi người làm, mỗi người với những nhiệm vụ khác nhau. Bà Clote lau bàn ghế, chuẩn bị chai lọ. Braindasvoa và La Merluse chuẩn bị hầu bàn bằng quần thủng đít và áo bị dầu loang. Con gái Elize phải quán xuyến mọi việc nội trợ. Con trai Cleante phải mặt tươi tỉnh, còn bác Jack phải chuẩn bị một bữa ăn và chuẩn bị xe ngựa đi chợ phiên. Lão phân công công việc rất rõ ràng. Nhưng lão luôn nhắc lại nếu vỡ chai lọ thì phải trừ vào tiền công, rượu phải pha thêm thật nhiều nước lã vào và chỉ khi nào người ta gọi mới rót, làm thực đơn tám người nhưng mười người ăn đủ và phải nấu những món mà người ta không ăn được, nhìn thấy no trước khi ăn với những thủ thuật như độn thật nhiều hạt dẻ vào trong thịt, đậu hột thật béo. Một bức chân dung hoàn mĩ về hình ảnh người keo bẩn được bổ sung bằng những thủ đoạn như cho in lịch riêng trong đó tăng gấp đôi những ngày ăn chay, tìm mọi cách để bớt xén ngày nghỉ của gia nhân, kiện một con mèo hàng xóm ăn vụng một mẩu thịt cừu ăn thừa, ăn cắp thóc ngựa của chính mình…Thật  đáng tội nghiệp biết bao khi lão bị kết luận bằng “những cái tên hà tiện, keo kiệt, đểu giả, vắt cổ chày ra nước”. H’Arpagon với những nét tính cách này đã làm cho vở hài kịch trở nên sinh động và hấp dẫn hơn rất nhiều.

            Tính cách nhân vật H’Arpagon một phần thể hiện rõ là nhờ một biện pháp nghệ thuật khác đó là giới thiệu tính cách qua nhận xét của những nhân vật khác. Tính cách của nhân vật chính được giới thiệu ngay từ đầu nhưng nhân vật chưa xuất hiện có tác dụng chuẩn bị dư luận cho khán giả, đồng thời tăng hứng thú chờ đợi nhân vật chính của người xem. Ở hồi I lớp 1 H’Arpagon được giới thiệu qua lời nói của quản gia Valer là hà tiện quá đáng, là khắc nghiệt, là kẻ ưa nịnh hót. Các nét tính cách hà tiện lại được giới thiệu một lần nữa qua đứa con trai: tằn tiện một cách tàn nhẫn, chi li kì lạ, keo kiệt không chịu nổi.

            Bên cạnh việc dùng nhiều  cách để giới thiệu tính cách nhân vật chính, Moliere còn dùng cả nhân vật chính để tự bộc lộ tính cách của mình. Lúc này nhân vật chính trở thành trung tâm của các hoạt động kịch. Mối quan hệ giữa nhân vật chính với các nhân vật phụ làm nổi bật tính cách nhân vật chính. Bên cạnh đó tính cách nhân vật còn được thể hiện qua sự mâu thuẫn, qua tâm trạng lo lắng, nghi ngờ thường xuyên của lão với những gia nhân, đày tớ, con trai, con gái. Lão lẩm bẩm một mình về món tiền lão có, lão sợ khi nghe tiếng chó sủa, khi có người hỏi thì lão kêu bận, nhưng khi nghe người ấy mang tiền đến thì lão lập tức ra ngay, lúc này dường như có hai con người trong một con người H’Arpagon vậy. Cách xây dựng nhân vật chính như vậy đã tạo ra một tiếng cười sâu sắc, có ý nghĩa xã hội cao.

            H’Arpagon là sản phẩm của một thời đại mà sự tha hóa của đồng tiền đã hủy hoại ở con người lão tình cha con, tình yêu, tình chủ tớ, tình đồng loại.

            H’Arpagon nhân vật chính của một vở hài kịch,  với chức năng chủ yếu để mua vui cho khán giả đằng sau đó là chế giễu thói hà tiện của người đời. Thói hà tiện của H’Arpagon ta có thể gặp ở bất cứ thời đại nào (HiLạp cổ đại, văn học Phục Hưng, văn học hiện thực phương Tây thế kỉ XIX, văn học dân gian Việt Nam…). Vở kịch kết thúc, khán  giả thấy ghét H’Arpagon nhiều hơn là cảm thông, thương xót, chia xẻ. Ở H’Arpagon, một con người keo kiệt và hám vàng, ngoài ra không còn một gì khác. Tình cảm thân thiết đã bị đánh rơi để đổi lấy  ham muốn hám vàng, yêu Mariane nhưng hắn còn yêu tráp vàng của lão hơn.

            H’Arpagon hà tiện, keo kiệt, hám  vàng một cách lộ liễu, trơ trẽn. Con trai, con gái phải lên tiếng. Người ở và gia nhân trong nhà phải mượn tiếng người ngoài để phê phán, lên án. Lão ăn cắp thóc của ngưa để cho anh đánh xe ngựa bắt được và phang cho mấy cái. Mọi biểu hiện của thói keo kiệt ở H’Arpagon đều bị phát hiện và bị tác giả bóc trần. H’Arpagon với thói hà tiện ít có tính tiêu biểu, ý nghĩa xã hội không cao. H’Arpagon mang tính chất nguyên phiến và bất động.

            Là một nhà cổ điển chủ nghĩa, Moliere tuân thủ nguyên tắc sáng tác của mĩ học và triết học duy lí một cách sáng tạo, tự nhiên, không gò bó. Ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh có giá trị nghệ thuật cao, giàu giá trị thẩm mĩ. Ông rất coi trọng vấn đề kết cấu tác phẩm. Ông đã sắp xếp tổ chức kết cấu tác phẩm, biến kết cấu thành một không gian chứa đựng và nuôi dưỡng tiếng cười.

Mỗi một tác phẩm đều có những kết cấu khác nhau, góp phần thể hiện nội dung tác phẩm, điều quan trọng đối với một vở hài kịch là làm nổi bật tính cách hài kịch của nhân vật chính. Kết cấu kịch cổ điển thường có 5 hồi được phân chia thành : lời giới thiệu (giao đãi), hồi phát triển, hồi cao trào, hồi đột biến và hồi cởi nút. Kết cấu của vở kịch Lão hà tiện này tương đối đầy đủ, tính cách nhân vật rõ nét dần qua các hồi, trong mỗi hồi. Chẳng hạn ở hồi I thì chỉ mới giới thiệu tính cách hà tiện của H’Arpagon thông qua quản gia và con trai lão. Hồi II, III tính hà tiện được bộc lộ rõ qua việc cho vay nặng lãi và thết tiệc khách. Hồi IV là hồi cao trào của vở kịch cũng là hồi mà H’Arpagon tự bộc lộ bản chất hà tiện và hám vàng của mình, màn độc thoại H’Arpagon mất của. Hồi V (hồi cởi nút) tính hà tiện được bổ sung bằng cuộc trao đổi tình yêu lấy tráp vàng mặc dù H’Arpagon có yêu Mariane.

             Moliere vận dụng những thủ pháp nghệ thuật quen thuộc của thể loại kịch, đúng hơn là hài kịch cổ điển cộng với khả năng sáng tạo đã xây dựng nên một nhân vật có thói hà tiện tiêu biểu trong sân khấu hài kịch Pháp thế kỉ XVII. Nó là cơ sở cho những Grandet sau này.

2.2. Lão Grandet – nhân vật hà tiện

            Grandet không đơn thuần là một người có tính keo kiệt bình thường, lão là một điển hình sinh động của giai cấp tư sản thế kỉ XIX.

            Eugenie Grandet ra đời năm 1833, thời kì của nền quân chủ tháng 7, thời kì mà giai cấp tư sản thực sự phát triển và lớn mạnh. Qua tác phẩm, Balzac muốn cho chúng ta thấy rằng việc chạy theo lợi nhuận đã làm mờ đi vẻ đẹp tâm hồn con người. Người đọc hình dung ra cách thức làm giàu của giai cấp tư sản Pháp thế kỉ XIX.

            Grandet ngoài tính keo kiệt, hà tiện và hám vàng còn là một người biết trọng danh dự. Nguời em trai vỡ nợ ở Paris đang cầu cứu. Người cháu trai phải trở về Saumur. Vì danh dự dòng họ, Grandet đã tìm mọi cách hoãn nợ cho em trai, để tránh bị tòa tuyên bố phá sản và truy tìm người thừa kế. Bởi lẽ, nếu người em trai chết đi ngoài đứa con trai là người thừa kế chính thức thì Grandet là người thừa kế thứ hai. Nhưng trong hoàn cảnh này, Charles không có khả năng trả nợ. Và như vậy đương nhiên Grandet phải gánh nợ thay em trai. Grandet  tìm cách hoãn nợ là vừa không để ảnh hưởng tới danh dự dòng họ, vừa tránh phải trả nợ cho em trai. Grandet đưa Charles sang Ấn Độ cũng là một kế sách khôn ngoan, một phần để kéo dài thời gian trả nợ và phần nữa cũng để cho rảnh nợ. Như vậy, Grandet đã giải quyết được một chuyện quan trọng mà không ảnh hưởng gì tới danh dự và lợi ích riêng tư của dòng họ và của lão. Grandet không sống đến nỗi cạn hết tình nghĩa. Và bất chấp cả danh dự như H’Arpagon. Mặc dù keo kiệt nhưng Grandet cũng rất trọng danh dự. Lão không đành tâm tuyên bố từ bỏ em trai khi phải ra toà án sử phá sản.Vì vậy đã tìm cách hoãn nợ cho em trai. Grandet cũng để lại trong lòng mụ Nanon một chút tình cảm của lòng biết ơn.

            Grandet sinh động hơn H’Arpagon rất nhiều, ít ra  cũng biết trong danh dự, mọi công việc làm ăn đều được tính toán gắn với thực tế xã hội. Grandet  keo kiệt, hà tiện nhưng khôn ngoan, mọi biểu hiện của tính keo kiệt đều được che giấu bởi lối sống giản dị trong sinh hoạt hằng ngày, trang trí nhà cửa, việc tiếp đãi khách ngoại giao. Grandet keo kiệt nhưng rất ít người có thể nhận ra ngoại trừ vợ con và mụ Nanon.

            Grandet không những trọng danh dự, khôn ngoan trong làm ăn mà còn là một con chim ngoan đạo. Grandet quan hệ ngoại giao với linh mục  để thể hiện tấm lòng kính chúa và cũng để giữ danh tiếng cho gia đình.

            Nhưng chính lòng khát vàng đi kèm với tính keo kiệt làm mất dần những bản chất tốt đẹp của con người lão. Lão phát tiền dè xẻn cho mụ Nanon, cầu thang trong nhà thì chỉ khi nào hỏng thì mới sửa. Lão thấy vàng như hổ đói gặp mồi “mắt ông cũng lấp lánh ánh sắc của đồng tiền vàng” và đối với lão “đồng tiến cũng sống, cũng nhốn nháo như con người: nó đi , nó lại, nó đổ mồ hôi, nó sinh sôi nảy nở”. Không những mê mà còn nghiện vàng nữa. Tới lúc, lão sắp rời xa cõi đời mà lòng hám vàng cũng không hề suy giảm “khi cha xứ đến rửa tội cho ông, cặp mắt ông đã chết đờ từ lâu bỗng sáng lên lúc nhìn thấy cây thánh gía, đôi đèn cái lọ nước thánh bằng bạc. Ông nhìn chằm chằm những thứ ấy và chóp mũi của ông động đậy lần cuối. Khi ông cố đạo đưa cây thánh giá mạ vàng kề môi ông để ông hôn hình đức chúa Jesu thì ông vùng lên một cách khủng khiếp để chụp lấy cây thánh giá. Sự gắng sức cuối cùng này đã làm ông kiệt sức”. Cả cuộc đời được nhìn ngắm và tích lũy vàng dường như chưa thỏa mãn được sở thích độc đáo của Grandet.

Balzac đã sử dụng bút pháp cường điệu để nhấn mạnh tính cách ham tiền của Grandet (ảnh hưởng của kiểu sáng tác hài kịch cổ điển thế kỉ XVII).

  Grandet không còn đơn giản là một nhân vật có tính cách hà tiện nữa. Chọn mụ Nanon cũng rất “tinh tế”, lão cho rằng tuy xấu xí nhưng khỏe mạnh tin như vậy Nanon sẽ trung thành. Mặt khác, Nanon là một người dân nông thôn nên coi trọng và trung thành, tận tụy với lão. Sống trong ngôi nhà được bao bọc bởi tính giản dị của Grandet khiến Eugenie cũng bị ảnh hưởng. Eugenie phải sống trong một cuộc sống tằn tiện, xã giao ít, một con chim ngoan đạo. Grandet đã dạy cho Eugenie cách  giữ gìn những đồng tiền vàng, nhớ tất cả những đồng tiền và niên đại của chúng. Đến năm 21 tuổi, Eugenie đã tích lũy được một túi với đủ các loại tiền nhưng với Eugenie thì đó chỉ là một túi đồ chơi. Mỗi lần cho tiền Eugenie, Grandet thường giảng giải cho cô về giá trị của những đồng tiền đó. Grandet còn tranh thủ đưa ra để ngắm nghía và thưởng thức. Về đối ngoại, Grandet sống thu mình và rất ít giao thiệp, có người mời thì nghĩ có điều xấu và lão luôn tìm cách từ chối. Nếu lão có ý định mời ai thì lợi dụng mới mời. Grandet mời linh mục, bởi lẽ linh mục quan trọng với gia đình lão, thân thiết với linh mục chỉ vì danh tiếng. Lão tiếp xúc với trưởng khế vì có liên quan tới đất đai, thuế má. Chánh án De Bonfons, ông De Grasins  là những mối làm ăn quan trọng của Grandet, họ thay mặt Grandet phát triển những mối làm ăn ở Saumur.

Grandet đã biết vận dụng tối đa những tài lẻ của mình cũng như những kinh nghiệm vốn có trong việc làm ăn, kiếm được thật nhiều lãi, tích lũy được nhiều của cải. Tác giả viết “ông Grandet vừa giống một con hổ, vừa giống một con trăn: ông biết cách nằm, cách thu  hình lại, rình miếng mồi rất lâu và nhảy vồ ra đúng lúc, rồi há mõm túi tiền ra nuốt chửng một đồng vàng, xong lại nằm im lìm như một con trăn đang tiêu hóa, thản nhiên, lạnh lùng, có cách thức”. Lão đã biết sức mạnh của đồng tiền như bao tên tư bản khác “vị thần tiền là vị thần hiện đại duy nhất mà người ta tín ngưỡng”. Có một đầu óc hết sức thực tế trong việc kinh doanh, đầu cơ, đối phó với kẻ thù, cả việc thuê mụ Nanon làm người ở. Càng giàu có thì lão càng trở nên keo kiệt, không ai có thể đoán biết được tài sản thực sự của lão là bao nhiêu. Keo kiệt và mang nặng tính gia trưởng : tất cả những chi phí sinh hoạt trong nhà đều do lão quản lí, vợ con lão hoàn toàn phụ thuộc vào lão khiến họ trở thành những con người hết sức đáng thương và tội nghiệp. Không phải mua bất kì một thứ gì từ bánh mì, bơ thịt đến rau quả, củi đốt, hắn bắt tá điền phải cung cấp cho hắn. Điều mà Balzac muốn nêu bật lên qua hình tượng Grandet là lòng hám vàng đã giết chết ở lão những tình cảm thân thiết nhất. Vợ con, em cháu đối với những người ruột thịt ấy, lão chỉ có một ý nghĩ là xem thái độ của họ đối với của cải của mình như thế nào để tìm cách đối phó.

            Tỏ vẻ xoắn xít, âu yếm Eugenie chỉ vì cô đồng ý nhường quyền thừa hưởng gia tài của mẹ cho lão mà thôi. Đối với Grandet, ở đời chỉ có đồng tiền là có nghĩa. Thấy Charles khóc lóc khi nghe tin bố tự tử, Grandet phàn nàn với vợ con: “thật cái thằng thanh niên này chẳng ra làm sao, nó chú ý đến người chết hơn tiền bạc”. Có lần lão còn trắng trợn tuyên bố với người ở: “chúng ta không ăn thây  ma là gì ? Gia tài thừa tự là gì đó nếu không phải là thịt người chết”.

            Lòng hám vàng không phải là bản chất bẩm sinh của Grandet, mà đó chính là sản phẩm của việc làm giàu của lão, của thời đại lão sống. Lịch sử làm giàu của Grandet gắn chặt với thực tế nước Pháp những năm sau cách mạng 1789, từ đẳng cấp thứ ba ngoi lên hàng ngũ giai cấp tư sản. Trong thời kì cách mạng, lão được coi là một người can đảm, một chiến sĩ cộng hòa nhưng thực ra lão không phải là một chiến sĩ chân chính: một mặt lão có khuynh hướng thỏa hiệp với bọn quí tộc nhưng mặt khác lại bán rượu cho quân đội cộng hòa và nằn nỉ được trả bằng “những  đám cỏ tốt của một tu viện nữ giới”. Như vậy thời kì cách mạng và những năm nội chiến là một dịp để Grandet phất lên làm giàu. Rồi cái xã hội Pháp sau cách mạng lại đưa Grandet đi xa hơn, đã xem lão như một vị “anh hùng”, xem những thủ đoạn làm tiền của lão như “một sự kiêu hãnh ái quốc”, và “của cải của ông làm thành  một bức màn vàng bao bọc bất cứ hành động nào của ông”.

            H’Arpagon là một nhân vật của chủ nghĩa cổ điển mà Moliere muốn khái quát thành tính keo kiệt phổ biến, còn Grandet là nhân vật sinh động của thế kỉ XIX sau khi giai cấp tư sản Pháp giành được địa vị thống trị.

            Trong khung cảnh của thời đại mà Moliere khắc họa H’Arpagon do dục vọng hám vàng và keo kiệt, một nhân vật của hài kịch đã trở nên đối tượng của sự chê cười. Còn Balzac đã xây dựng một điển hình tư sản chiến thắng, vươn lên từ đẳng cấp thứ ba sau cách mạng 1789, một nhân vật của tiểu thuyết, một con người của thị trấn nhỏ Saumur biết lợi dụng thời cơ cách mạng để làm giàu, chiếm hữu ruộng đất, phát mại và đầu cơ… Grandet là “bậc thầy  của sự keo kiệt mà trước đó tưởng tượng của con người chưa sáng tạo ra được”. Biết lợi dụng tất cả các hoàn cảnh để tăng nhanh của cải. Đối với Balzac, ông luôn tôn trọng sự thật với quan niệm “lịch sử nó thực như vậy thì làm thế nào được ?”.

            Grandet là một “con người hùng” của thời đại, khác hẳn tính thụ động của H’Arpagon. Balzac đã nhận định về nhân vật của mình “đó không phải là một người keo kiệt bình thường và dục vọng của nó chắc chắn đã che giấu một niềm lạc thú sâu xa, những quan niệm thầm kín”. Grandet luôn khéo léo che giấu thói hà tiện bằng nếp sống giản dị từ những sinh hoạt đời thường đến cả việc trang trí nhà cửa. Chỉ những người trong nhà mới nhận ra thói hà tiện của lão mà thôi. Còn H’Arpagon hoàn toàn khác hẳn, mọi biểu hiện của thói hà tiện đều  rất lộ liễu trắng trợn, trơ trẽn khiến đày tớ, gia nhân và cả con trai, con gái phải lên tiếng, hàng xóm đồn đại.

            Grandet luôn có những quan niệm sống của riêng mình “đời là một công việc làm ăn”, một con người hăng say làm giàu, ý thức được sức mạnh đó trên cơ sở ý thức chiếm hữu trọn vẹn của cải, tự đắc về những quan niệm của lão: “ta đã tìm thấy cái đó, chính ta. Những cái đó là dành cho những đồng tiền của ta. Tất cả những bọn ấy, chỉ là những miếng mồi mà ta dùng để câu”. Grandet đã tìm thấy lạc thú duy nhất trong việc giữ trọn chiếm hữu vàng, tích lũy vàng, tăng số vàng lên và keo kiệt để giữ trọn tiền và vàng. Và cả đời lão càng hám vàng, càng trở nên keo kiệt, hai nét tính cách này tác động lẫn nhau, bổ sung cho nhau, keo kiệt để có vàng, hám vàng nên keo kiệt.

            Grandet là một nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Thông qua việc xây dựng nhân vật Grandet, Balzac đã giáng một đòn mạnh mẽ vào xã hội tư sản Pháp thế kỉ XIX và chế độ tư bản nói chung. Trời tối thì mọi vật đều xẫm bóng, nhưng dưới ngòi bút chân thực, can đảm của Balzac, cả một xã hội thối nát được phơi bày ra ánh sáng. Bóc trần bản chất sự vật, tác phẩm Eugenie Grandet góp phần “làm rung chuyển niềm lạc quan của giai cấp tư sản về tính chất bất biến của trật tự hiện hành”. Đọc tác phẩm của Balzac, chúng ta càng hiểu thêm cái xấu xa, bỉ ổi của xã hội tư sản. Goocki đã nói về Balzac như sau: “sự rộng lớn trong kế hoạch của ông, sự dũng cảm trong tư tưởng và những tiên đoán tài tình về tương lai mà ngày nay những tiên đoán đã được chứng thực – tất cả những cái ấy đã làm cho Balzac trở thành một trong những nhà văn vĩ đại của thế giới”. Kết thúc tiểu thuyết, người đọc cảm thấy thương Grandet nhiều hơn là ghét.  Lão cũng biết trọng danh dự, tìm cách để giữ danh dự cho gia đình, dòng họ. Lão không để cho Eugenie cảm thấy thiếu thốn. Để lại trong lòng Nanon một thứ tình cảm của lòng biết ơn “ông sắm quần áo, giầy guốc cho chị ta, và sai bảo chị ta không đến nỗi cục cằn quá. Được thu nhận như thế, chị Nanon hộ pháp thầm vui sướng đến phát khóc và sinh ra gắn bó với ông Grandet”.

            Grandet, một nhân vật phụ của tiểu thuyết Eugenie Grandet và chỉ là một trong rất nhiều nhân vật được Balzac xây dựng theo phương pháp điển hình. Bên cạnh sự thành công của những nhân vật “vỡ mộng”, Balzac thể hiện tài năng của một thiên tài qua nhân vật Grandet. Balzac xây dựng thành công không kém gì những nhân vật “vỡ mộng”. Gandet một nhân vật của tiểu thuyết hiện thực, nhân vật hà tiện sinh động, đại biểu tiêu biểu của giai cấp tư sản Pháp thế kỉ XIX. Quá trình làm giàu của Grandet gắn liền với quá trình làm giàu của giai cấp tư sản Pháp. Cách mạng 1789 đã mang lại cơ hội làm giàu cho Grandet cũng như đã mang lại cho giai cấp tư sản. Họ lợi dụng cách mạng làm giàu gắn liền với lịch sử nước Pháp lúc bấy giờ. Những biểu hiện trong tính cách của Grandet mang đặc điểm chung của giai cấp tư sản Pháp thế kỉ XIX. Rõ ràng Grandet đã sinh động và hiện thực hơn nhiều so với H’Arpagon, tiêu biểu hơn và có ý nghĩa xã hội rộng lớn hơn. Grandet là nhân vật của chủ nghĩa hiện thực, được xây dựng theo phương pháp “nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình”.  

            Balzac đã hoàn thành vai trò và nhiệm vụ của một người thư kí như ông đã từng nói “xã hội Pháp là nhà sử học còn tôi chỉ là người thư kí” (Lời nói đầu).

3. Cách nhìn của mỗi nhà văn đối với nhân vật hà tiện

3.1. Moliere

            Moliere đã sáng tạo ra một vở hài kịch tính cách khá thành công, nhân vật H’Arpagon nổi bật với thói hà tiện, hám vàng. Thói hà tiện của H’Arpagon mang tính phổ biến ở con người trong mọi thời đại.

            H’Arpagon là một trong những nhân vật được xây dựng thành công nhất của Moliere. Lão hà tiện là một vở hài kịch lớn, nêu lên một loạt vấn đề xã hội và nghệ thuật hài kịch.Tác giả thông qua nhân vật của mình để phê phán một người làm giàu một cách lạc hậu và tàn nhẫn  trong cách đối xử với những người xung quanh, sự tha hóa suy đồi về mặt đạo đức của những giai cấp tầng lớp trên, sức phá hoại của đồng tiền trong xã hội tư sản buổi đầu. Và như vậy, bằng một nghệ thuật đa đạng, pha lẫn kịch hề, bi kịch, hài kịch, kịch cổ đại, kịch Italya Moliere đã tạo cho mình một phong cách  độc đáo.         

            Bản chất bóc lột dã man, thủ đoạn bóc lột xảo quyệt của bọn tư sản sống bằng nghề cho vay nặng lãi đã  được phản ánh rất chân thật, cụ thể ở H’Arpagon. Đặc điểm lịch sử (thời kì tích lũy của tư bản) làm cho bọn tư sản mới lên khát vàng, hung ác, hiểm độc có thêm nét tính cách thứ hai tham lam, bần tiện, luôn luôn vắt óc suy nghĩ, chắt chiu từng đồng xu nhỏ để làm giàu. H’Arpagon mang cung cách của một anh nhà giàu mới phất, còn rơi rớt lại thói bóc lột, ti tiện và thói keo bẩn kiểu phong kiến, địa chủ. Thói  tham lam, keo kiệt đã dẫn H’Arpagon tới chỗ vô lương tâm, vô liêm sỉ. Lão chẳng bận tâm gì đến hạnh phúc của cô con gái đã đến tuổi lấy chồng, chỉ một mực lo mất của hồi môn. Lão đã tàn nhẫn ép duyên con trai, con gái. Con lão đánh bạc, lão chẳng băn khoăn chút nào về đạo đức của con trai, còn vạch cho con mang tiền đi cho vay nặng lãi. Lão thấy con đi vay lãi, lo mất của lão mạt sát con hết lời. Với H’Arpagon thì tiền bạc quan trọng hơn tình cảm. Lý tưởng sống vì tiền của H’Arpagon vì tiền đã bộc lộ rõ trong hồi V, hồi mất tráp bạc. Cuối cùng, H’Arpagon đã rơi vào tình trạng hoàn toàn cô đơn, không có hạnh phúc.

            Moliere đã phê phán đồng tiền tư bản, nó đã hủy hoại tư cách, bóp chết tình cảm cắt đứt những quan hệ của H’Arpagon. Đồng thời, cũng chính đồng tiền ấy đã làm nảy nở thêm những nét mới trong tính cách H’Arpagon thói ham muốn kệch cỡm, thói lừa lọc ranh ma, sự hạ thấp nhân cách.

            Qua ngòi bút của Moliere, H’Arpagon mang bóng dáng của giai cấp tư sản Pháp thế kỉ XVII. Để có tiền, thu nhiều lãi H’Arpagon đã bất chấp tất cả kể cả danh dự của mình. Đối với các quan hệ xã hội, lão đã “xé bức màn tình cảm phủ lên những quan hệ gia đình làm cho những quan hệ ấy chỉ còn là những quan hệ tiền nong” (Tuyên ngôn của Đảng cộng sản). H’Arpagon đã làm ra tiền, nhưng ngược lại lão lại bị đồng tiền chi phối một cách nghiệt ngã, trở thành nô lệ của nó. Mọi bản chất tốt đẹp đã bị tha hóa, không còn một chút vương vấn nào trong con người của lão.

            Xây dựng H’Arpagon, Moliere đã tập trung miêu tả nét tính cách cơ bản của nhận vật, làm cho H’Arpagon nổi bật, tiêu biểu cho thói xấu của con người ở mọi thời đại. Mọi nét tính cách khác đều xoay quanh thói hà tiện, do hà tiện mà sinh ra, và có tác dụng làm nổi bật tính xấu này.

            Vạch trần những thói xấu trong con người H’Arpagon cũng là vạch trần những thói xấu của giai cấp tư sản ngay ở giai đoạn lịch sử đầu tiên của nó. Thể hiện cái nhìn tinh tế và tiến bộ của Moliere.

            Chế giễu thói hà tiện không phải là một đề tài mới. Chúng ta có thể gặp rất nhiều trong Văn học dân gian hay văn học bác học ở Phương Tây, Châu Á, ngay trong kho tàng Văn học Việt Nam. Riêng với Moliere hài kịch Lão hà tiện cưởi thói hám tiền đáng sợ của giai cấp tư sản – sản phẩm của thời kì tích lũy sơ khai của tư bản. Moliere góp thêm một tiếng nói tố cáo tác hại của đồng tiền trong tay những con người tư sản ích kỉ, tham lam, vô liêm sỉ. Xây dựng nên một điển hình nghệ thuật bất hủ về thói hà tiện, làm cho H’Arpagon trở thành cái tên quen thuộc trong đời sống xã hội góp phần khẳng định vai trò quan trọng của Moliere đối với sự phát triển văn học nghệ thuật cổ điển nói riêng và văn học thế giới nói chung.

3.2. H.Balzac

            Trong  lời tựa Tấn trò đời, Balzac viết: “Nhà nghệ thuật là người mà tâm hồn là tấm gương phản chiếu cả vũ trụ”, “Xã hội Pháp là nhà sử học, còn tôi chỉ là người thư kí”, “Trong khi miêu tả những điều xấu và những điều tốt, trong khi tập hợp những sự kiện chính của dục vọng, trong khi miêu tả những tính cách, trong khi lựa chọn những sự kiện trong xã hội, trong khi xây dựng những điển hình, bằng cách tập hợp của nhiều tính cách tương tự, có lẽ tôi có thể viết được lịch sử đã bị các nhà sử học bỏ quên, đó là lịch sử của các tập quán…không phải chỉ có những con người mà còn những biến cố chính của xã hội cũng được đúc kết bằng những điển hình” (Lời nói đầu). Chắc hẳn qua những lời tâm sự vừa rồi chúng ta đã hiểu được phần nào phương châm sáng tác của H.Balzac cũng như các nhà văn hiện thực Tây Âu thế kỉ XIX. Không phải chỉ một lần nói đến phương châm sáng tác như thế nào. Ngay khi viết thư cho người em gái Balzac cũng lại một lần nữa khẳng định: anh sẽ là Balzac, anh sẽ không giống ai…đó là không bằng lòng miêu tả. Anh vạch ra những nguyên nhân và kết quả…và khi anh kể lịch sử của họ, anh sẽ chỉ ra cho mọi người những qui luật chi phối hưng thịnh của họ hôm nay, sự sụp đổ của họ ngày mai”. Với Tấn trò đời, Balzac đã tố cáo không thương tiếc toàn bộ xã hội tư sản.

            Tiểu thuyết Eugenie Grandet cũng không nằm ngoài qui luật ấy. Xây dựng một điển hình tiểu biểu của giai cấp tư sản–lão Grandet, tác giả cũng nhằm mục đích vẽ nên chân dung một con người tiêu biểu cho những ham muốn và những thói xấu xa của xã hội tư sản. Tác phẩm phơi bày sức mạnh nghiệt ngã của đồng tiền đã hủy hoại tâm hồn con người, đã giết chết những tình cảm thân thiết nhất và biến con người thành một kẻ vô tâm.

            Grandet chính là hiện thân của dục vọng tư sản, hiện thân của “vị thần hiện đại duy nhất mà người ta tín ngưỡng, vị thần tiền, với tất cả quyền uy của nó”. Lão được coi là “đương kim anh hùng”, là “khuôn vàng thước ngọc”, “niềm kiêu hãnh ái quốc” bởi lẽ lão xuất hiện đúng vào thời kì đồng tiền “đã thay thế thanh kiếm, trở thành đòn bẩy của quyền lực xả hội” (Engels). Gắn liền lối sống của Grandet với những đặc điểm của tình hình xã hội lúc bấy giờ của nước Pháp, Balzac đã biến cuộc cách mạng 1789–1794 như một bước nhảy vọt trong quá trình phát triển của giai cấp tư sản và cuộc cách mạng ấy đã đặt nền móng cho sự làm giàu của Grandet. Lịch sử của nhân vật gắn liền với hoàn cảnh bước đường tích lũy của cải của Grandet  phát triển ở lão dục vọng của sự hám vàng, khát khao vàng và tính keo kiệt. Đó là đặc điểm của chủ nghĩa hiện thực Balzac trong những năm 30 của thế kỉ XIX khi mà phương pháp sáng tác đã đạt được những thành tựu quan trọng. Thông qua sáng tác của mình Balzac thể hiện sự tố cáo mạnh mẽ tính xấu xa, bỉ ổi của xã hội tư sản với quá trình tích lũy tư bản của chúng. Điều mà Balzac muốn nêu bật lên qua hình tượng Grandet là lòng hám vàng đã giết chết ỡ lão những tình cảm thân thiết nhất. Vợ, con, cháu, em – đối với những người ruột thịt ấy, lão chỉ có mỗi một ý nghĩa là xem thái độ của họ đối với tài sản của lão như thế nào mà thôi để lão tìm cách đối phó. Thực sự trái tim Grandet không đến lạnh lùng và sắt đá, không phải không có chút gì thương vợ, thương con nhưng chính lòng hám vàng đã đẩy lùi những tình cảm ấy, đã làm cho trái tim hắn khô cằn lại. Chỉ có ánh sáng của đồng tiền và những công việc làm ăn làm cho Grandet xúc động mà thôi.

            Ở Grandet người ta nhận ra ngay cốt cách quen thuộc của kiểu nhân vật Balzac, đó là dục vọng, gắn chặt với “những cảnh đời tỉnh lẻ”, nơi mà chủ nghĩa  tư bản đang thay đổi nếp sống gia trưởng cũ kĩ và lối sống điền viên bắt đầu đô thị hóa. Ở Grandet vừa có những nét tính cách của một gã tư sản mới nổi lên, hung hăng, giẫm lên tất cả, y có thể “làm một con tính trên tờ báo đăng tin người em mới chết”, “lại vừa có cái khôn ngoan, thực tế của một bác phó thùng trước đây chưa xa lắm với cuộc sống vật chất, vất vả làm ăn”. Đặt cạnh những nhân vật hà tiện khác, lão Grandet trở nên sinh động, hiện thực hơn. Có lẽ vì vậy, tuy là con người mù quáng vì vàng, nhưng đôi khi lão tỏ ra rất thông minh, hóm hỉnh. Quá trình làm giàu của lão là cả một giai đoạn phát triển gắn liền với lịch sử xã hội Pháp. Khi đặt trong sự so sánh với H’Arpagon, chúng ta thấy  H’Arpagon chỉ là một con người hà tiện không hơn không kém: nhân vật ở đây nguyên phiến, ít tính chất động. Khi so sánh điều này các nhà nghiên cứu mới chỉ giải thích bằng chủ nghĩa cổ điển, việc lựa chọn thể loại được quy định bởi nhu cầu thể hiện của nhà  văn.

            Kinh nghiệm sống cùng khả năng lao động sáng tạo không ngừng  đã làm nên thành công cho tài năng Balzac. Với Tấn trò đời, dường như Balzac đã hoàn thành vai trò của “người thư kí” thời đại.

 


 KẾT LUẬN

1. Tổng kết những luận điểm cơ bản

            Cả  hai nhà văn Moliere và Balzac đã có những đóng góp quan trọng cho nền văn học Pháp và văn học thế giới.

Moliere là người sáng lập hài kịch cổ điển Pháp, người đã có công xây dựng nền hài kịch Pháp từ chỗ là những hài kịch dung tục tiến lên nền đại hài kịch. Chính Moliere là người kết tinh được những lý tưởng xã hội tiến bộ, những truyền thống tốt đẹp của nhân dân và dân tộc Pháp, một tài năng trưởng thành trong rèn luyện và đấu tranh. Chính niềm đam mê nghệ thuật và khả năng lao động miệt mài đã tạo nên thành công của Moliere. Tài năng của Moliere gắn liền với hàng loạt những vở kịch có giá trị nghệ thuật cao và đặc biệt giá trị về mặt xã hội như: Tartuffe, Lão hà tiện, Trưởng giả học làm sang…những nhân vật hài kịch như H’Arpagon, Tartuffe, Don Juan đã để lại trong lòng người đọc nhiều xúc cảm nhất.

Ở Balzac, ta lại thấy đó là một tấm gương sáng về lao động nghệ thuật cần cù, bền bỉ và dũng cảm. Một nhà văn hiện thực xuất sắc của Pháp thế kỉ XIX, một “người thư kí” trung thành của thời đại. Vốn sống và khả năng lao động không ngừng đã mang lại cho Balzac những thành công rực rỡ nhất. Ông đã từng nói: “tôi sống một cuộc đời lao động say mê. Lao động là tất cả đối với tôi”, khả năng lao động phi thường trong những năm tháng ngắn ngủi của cuộc đời đã tạo nên dấu ấn riêng khi nhắc tới tài năng Balzac, “vấn đề cuộc sống chẳng phải là ở thời gian dài hay ngắn của nó mà là ở tính chất lượng, tính đa dạng, ở số lượng chính xác của nó” đó chính là quan điểm khi sáng tác của thiên tài Balzac.

            Rõ ràng sự nghiệp sáng tác vĩ đại của Moliere và Balzac cũng như cả cuộc đời lao động sáng tạo bền bỉ với niềm đam mê nghệ thuật  đã đóng góp tích cực và lớn lao vào nền văn học Pháp và văn học thế giới.

            Moliere trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời là những giây phút cống hiến cho nghệ thuật sân khấu trong vai trò của một diễn viên. Cuộc đời nghệ thuật gặp rất nhiều trắc trở, những phản ứng quyết liệt của những người của giai cấp trên (quí tộc, phong kiến, tư sản). Moliere ra đi trong sự lạnh lùng của xã hội. Vợ ông đã phải phục xuống chân nhà vua, hết lời cầu khẩn mới được phép chôn cất ông vào lúc đêm khuya ở nghĩa địa của Nhà thờ. Còn H.Balzac, cuộc đời cũng không bằng phẳng chút nào. Hơn 10 năm thử bút vẫn chưa thành công, chuyển qua kinh doanh và làm những công việc không đúng với tài năng của mình. Trong cuộc sống riêng tư cũng rất trắc trở, mơ ước có một đứa con để yêu thương, nâng niu chăm sóc nhưng cũng không đến với ông. Ông mất trong sự cô đơn giống như khá nhiều nhân vật của ông. Balzac cống hiến trọn đời cho sự nghiệp sáng tác văn học. Balzac ra đi trong những ngày Paris mưa gió. Đám tang không đông đảo, không bề thế không tương xứng với tài năng của ông. Với Tấn trò đời, Balzac đã khẳng định được vai trò và vị trí của mình trong văn học hiện thực phương Tây thế kỉ XIX.

Tài năng và sự nghiệp sáng tác của Moliere và H.Balzac mãi mãi được thế giới ghi nhận và nhắc đến.

H’Arpagon (Lão hà tiện) của Moliere và lão Grandet (Eugenie Grandet) của Balzac cũng như biết bao nhân vật hà tiện khác (Sailock – Shakespeare, Euclion – Plaute) đã tạo nên một sự đa dạng và phong phú của những nhân vật hà tiện. Hành trình của những nhân vật hà tiện có thể vẫn còn kéo dài nữa, bởi lẽ bất kì thời đại nào thì những thói hư tật xấu của con người như hà tiện, keo kiệt dẫn đến tham lam, độc ác, tàn nhẫn vẫn cứ tồn tại. Tuy nhiên, nó phát triển mạnh hay yếu còn phụ thuộc vào sự tiến bộ của xã hội và ý thức của con người.

H’Arpagon và Grandet nối tiếp nhau ở một điểm: đều là những người giàu có nhưng lại hết sức keo kiệt và bệnh hám vàng. Họ bất chấp mọi lời đồn đại, không thèm đếm xỉa đến những tình cảm đối với người thân. Họ chỉ  sống cho lý tưởng mà họ tôn thờ và suy lên làm thánh đó là tiền. Ánh sáng của kim tiền đã làm mờ mắt họ và đánh mất ở họ những xúc cảm cần thiết của tình yêu thương con người. Tuy thế khi xây dựng hai nhân vật H’Arpagon và Grandet, thì mỗi nhà văn, đều đứng trên lập trường quan điểm khác nhau. H’Arpagon là sản phẩm của văn học cổ điển và chính vì vậy bên cạnh sự sáng tạo của Moliere thì ít nhiều nó cũng chịu sự ảnh hưởng và chi phối bởi nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật của văn học cổ điển Pháp, chủ nghĩa duy lý của Descartes. Lấy cảm hứng  từ trong văn học dân gian (hài kịch dân gian Pháp), từ chất liệu trong hiện thực cuộc sống  và đặc biệt là từ Euclion (Plaute) cộng với những sáng tạo của riêng mình, Moliere đã tạo ra một H’Arpagon hoàn toàn mới, không giống bất kì một nhân vật hà tiện nào trong văn học trước đó. Tất cả những nét tính cách được xây dựng như giàu có, hám vàng, vô lương tâm, đạo đức giả, tàn nhẫn, cho vay nặng lãi đến cắt cổ…đều tập trung hội tụ và làm nổi bật tính cách duy nhất là hà tiện của H’Arpagon. Bên cạnh đó là việc sử dụng biện pháp cường điệu để khắc họa đậm nét hơn tính cách này. Những ngôn ngữ và hành động của H’Arpagon cũng là một trong những sáng tạo của Moliere. Lão hà tiện là một tác phẩm hài kịch, H’Arpagon là nhân vật tính cách, vai trò chủ yếu là để diễn và thưởng thức một cách trực tiếp. Chính vì vậy, khi tìm hiểu dưới góc độ là một văn bản thì sự cảm nhận về tính cách của nhân vật một cách toàn diện đã bị hạn chế đi rất nhiều. Tuy nhiên H’Arpagon cũng đã hiện lên trước mắt người đọc với sự lố lăng nhất, một con người chỉ biết dè xẻn và chắt bóp tiền bạc để thỏa mãn cảm giác được nhìn thấy vàng và được nắm lấy nó mà thôi.

H’Arpagon và Grandet đều trở thành nạn nhân của của đồng tiền, đồng tiền đã chi phối và điều khiển mọi hoạt động và suy nghĩ họ.

Grandet được coi là có sự kế thừa từ H’Arpagon. Thế nhưng không hoàn toàn là một sự rập khuôn máy móc. Qua Grandet, Balzac cũng đã nói lên được tiếng nói của mình với xã hội tư sản Pháp trong giai đoạn đỉnh cao của chúng. Một xã hội mà đồng tiền tư bản là trung tâm của mọi sự quan tâm. Grandet khác H’Arpagon, ngoài hà tiện, keo kiệt thì Grandet còn là một người biết tính toán một cách hết sức khôn ngoan và tỉnh táo. Grandet giàu có không phải trong một vài ngày. Đối với Grandet “đời là một công việc làm ăn”. Từ một người thợ đóng thùng với số vốn chỉ 200 đồng nhưng dưới bàn tay của Grandet thì rất có ý nghĩa. Nó là điểm khởi đầu cho sự nghiệp vĩ đại về sau của Grandet. Cách mạng 1789 đã mang lại cơ hội cho những người biết chớp thời cơ như Grandet. Một sự khôn ngoan trong việc chọn vợ, việc đoán biết được trong công việc mua bán rượu nho, đóng thùng và ngay cả tới việc làm chủ những đồn điền nho, những trang trại, ngôi nhà ông đang sống. Tất cả đều là biểu hiện của quá trình làm giàu của giai cấp tư sản Pháp thế kỉ XIX.

Balzac không dừng lại ở tính cách hà tiện đơn giản mà bằng tài năng cộng với đặc điểm của thể loại mà ông lựa chọn đó là tiểu thuyết đã cho phép sự sáng tạo của Balzac thêm sinh động hơn. Grandet được xây dựng thành một nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Grandet tiêu biểu của giai cấp tư sản Pháp thế kỉ XIX, thế kỉ mà đồng tiền thống trị mọi lĩnh vực xã hội với quyền lực và sức mạnh tha hóa của nó. Balzac đã phản ánh cuộc đấu tranh sống còn giữa giai cấp quý tộc suy tàn và giai cấp tư sản đang lên ở đô thị và cả nông thôn, tuy “về mặt chính trị, Balzac là đảng viên chính thống, tác phẩm lớn của ông vẫn là một bản trường hận ca than thở sự tan rã không cứu vãn được của xã hội thượng lưu…” (Engels).

H’Arpagon và Grandet mang những dấu ấn riêng thời đại mà họ sinh ra vẫn mãi tồn tại cùng thời gian bởi những ý nghĩa xã hội mà nó tạo ra. Một lần nữa nó góp phần khẳng định vai trò và vị trí của  Moliere và H.Balzac trong nền văn học Pháp nói riêng và văn học thế giới nói chung.

2. Kết quả đạt được

            Qua việc phân tích tư liệu, tổng hợp và phân loại tư liệu đã nhận  ra được những đặc điểm giống nhau và khác nhau của hai nhân vật H’Arpagon và Grandet. Họ đều là những nhân vật tiêu biểu cho thời kì xã hội mà họ sinh ra, có những đặc điểm chung đều là hai con người keo kiệt, hà tiện mặc dù rất giàu có. thế nhưng H’Arpagon và Grandet là sản phẩm sáng tạo của hai nhà văn, ở hai  thế kỉ khác nhau, trong những hoàn cảnh xã hội không giống  nhau, bị chi phối bởi những tư tưởng của thời đại. Chính vì vậy, H’Arpagon được Moliere xây dựng dưới góc độ một nhân vật hài kịch tính cách với đặc điểm nổi bật nhất là hà tiện. Còn Grandet xây dựng theo quan điểm của chủ nghĩa hiện thực  phê phán  “nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình”. Bên cạnh tính hà tiện thì Grandet còn được xây dựng rất cụ thể trong những hoạt động đời thường từ việc buôn bán làm ăn, tới việc xây dựng những mối quan hệ xã hội. Grandet đã được hiện thực hóa một cách sinh động. Grandet – điển hình của giai cấp tư sản Pháp thế kỉ XIX.

            Từ việc so sánh nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật hà tiện H’Arpagon và Grandet , cho ta có cái nhìn cụ thể hơn về nền văn học Pháp trong hai thế kỉ XVII và XIX. Ở đó ít nhiều giúp cho người đọc thấy được đặc điểm khác nhau cơ bản trong hoạt động nghệ thuật sáng tạo của mỗi nhà văn, cũng như nghệ thuật xây dựng của Văn học cổ điển và Văn học hiện thực phê phán Pháp thế kỉ XIX. Đứng trên lập trường khác nhau, mỗi nhà văn cũng đã có những cách nhìn khác nhau về xã hội mà họ đang sống. Moliere thông qua những nhân vật hài kịch của mình để phê phán gay gắt không phải một người hà tiện chung chung, trừu tượng hoặc tính hà tiện của một con người mà ông phê phán một con người tư sản, làm giàu một cách lạc hậu và tàn nhẫn trong cách đối xử với những người xung quanh. Phê phán một số mặt như việc suy đồi về đạo đức, sức phá hoại của đồng tiền trong xã hội tư sản ban đầu.

            Balzac xây dựng Grandet gắn chặt với “những cảnh đời tỉnh lẻ” – nơi chủ nghĩa tư bản đang đổi thay nếp sống gia trưởng cũ kĩ và lối sống điền viên bắt đầu đô thị hóa. Grandet vừa có những nét tính cách của một gã tư sản mới nổi lên hung hăng, dẫm lên tất cả. Lão có thể “làm một con tính trên tờ báo đăng tin người em  trai mới chết”, lại vừa có cái khôn ngoan, thực tế của một bác phó thùng trước đây, chưa xa lắm với cuộc sống chật vật, vất vả làm ăn. Tác giả phê phán sự làm giàu một cách tàn nhẫn của giai cấp tư sản.

3. Hạn chế của luận văn

            Nội dung chính của luận văn đề cập “nghệ thuật xây dựng nhân vật hà tiện của hai tác phẩm” nhưng do tài liệu tham khảo ít cộng với hạn chế về kiến thức và khả năng phân tích văn bản cũng như kinh nghiệm của một sinh viên năm IV nên không tránh khỏi những thiếu sót về tri thức, những yếu kém về năng lực.

Vì vậy, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quí thầy cô và các bạn đồng môn để luận văn ngày càng được hoàn thiện hơn.

4. Hướng phát triển của đề tài

            Thời gian sau, khi đã hoàn thiện hơn về tri thức chuyên môn cũng như kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời được tạo điều kiện nghiên cứu tôi sẽ phát triển đề tài này thành: “So sánh nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn học cổ điển, văn học hiện thực phê phán phương Tây thế kỉ XIX  và văn học hiện thực Mĩ thế kỉ XX”.

HẾT

 

 

                                                                                               

 

 

                                                                                                Long xuyên 5/ 2007

                                                                                                Sinh viên thực hiện

                                                                                                     Hà Tố Uyên


TÀI LIỆU THAM KHẢO

(xếp theo tên tác giả).

1. Lê  Nguyên Cẩn, Hợp tuyển văn học Châu Âu, tập 2 (NXB ĐHQG Hà Nội, 2002)

2. Minh Chính, Văn học phương Tây giản yếu  (NXB ĐHQG TP’ Hồ Chí Minh, 2002)

3. Đỗ Đức Dục, Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học phương Tây (NXB KHXH Hà Nội, 1981)

4. Lê Tiến Dũng, Giáo trình lí luận văn học (phần Tác phẩm văn học)  (NXB ĐHQG TP’ Hồ Chí Minh, 2003)

5. Đỗ Đức Hiểu, Lão hà tiện (L’Aveare) (NXB ĐH – TH chuyên nghiệp Hà Nội, 1978)

6. Phùng Hoài Ngọc, Giáo trình văn học phương Tây 2 (ĐH An  Giang, 2002)

7. Lê Hồng Sâm & Đặng Thị Hạnh, Văn học lãng mạn & hiện thực phương Tây thế kỉ XIX (NXB ĐH – TH  chuyên nghiệp Hà Nội, 1981)

8. Huỳnh Lý, Ơgiêni Grăngđê (Tủ sách văn học Pháp) (NXB Văn nghệ TP’ Hồ Chí Minh, 2000)

9. Phê bình, bình luận văn học Balzac & V.Huygô (NXB tổng hợp Khánh Hòa, 1991)

10. Từ điển văn học (Bộ mới) NXB Thế Giới.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

%d bloggers like this: