"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

HUỲNH PHƯƠNG ĐAN

LỚP ĐH6C2

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

TÌM HIỂU HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN TRUNG QUỐC ĐƯƠNG ĐẠI

Giảng viên hướng dẫn: 

                                                                     Ths. PHÙNG HOÀI NGỌC

 

LONG XUYÊN, 05/2009

MỞ ĐẦU

                                       *

  1. 1.      Lý do chọn đề tài

Văn học Trung Quốc là một nền văn học rất lâu đời và phong phú. Ngay từ trước Công nguyên, nền văn học Tiên Tần (thời cổ đại) đã có những thành tựu rực rỡ như: Thần thoại, Kinh thi, văn xuôi triết học, Sở từ, Sử kí… Sang đến thời trung đại thì Đường thi, Tống từ và tiểu thuyết Minh Thanh đã trở thành ba thành tựu văn học rực rỡ, chói lọi.

Đến thời kì hiện đại, văn học Trung Quốc đã có nhiều thành tựu nổi bật và ngày càng được khẳng định cả về số lượng lẫn chất lượng, văn học thời kì mới này cũng đã tự tin tiếp nối một cách xứng đáng với văn học truyền thống.

Ngoài thể loại tiểu thuyết thì truyện ngắn là một thế mạnh của các tác giả trong thời kì mới trong việc ghi lại rõ nét hiện thực đời sống. Với những trang viết có giá trị, những nhà văn đương đại Trung Quốc đã phản ánh hiện thực một cách sinh động và chân thực qua các tác phẩm truyện ngắn. Từ những biến động phi thường của cả đất nước Trung Quốc vào những thập niên cuối thế kỉ XX đến những rung động nội tâm phong phú và phức tạp của con người đương thời đều được các tác giả bắt kịp thời để ghi lại trong tác phẩm của mình. Đọc những tác phẩm này, chúng ta không những nắm bắt được những thăng trầm đổi thay của thời đại mà còn thấy được một cách tương đối đầy đủ các khía cạnh đa dạng và phức tạp của cuộc sống và cả tâm tư tình cảm của con người. Chúng ta dường như cảm nhận được hơi thở của thời đại mình đang sống, cảm thấy những sự kiện mà các nhà văn đề cập trên đất nuớc Trung Quốc rất gần gũi với nguời ViệtNam. Chính vì lẽ đó mà những sáng tạo thời kì mới đã đi vào lòng độc giả một cách tự nhiên, đằm sâu trong sự đồng cảm của những trái tim chân thành. Gấp trang sách đang đọc lại chúng ta miên man suy ngẫm vấn đề cùng tác giả và khó có thể quên được những hình tượng nhân vật đã làm nên sức sống và ý nghĩa cho tác phẩm.

Những hình tượng nhân vật trong văn học đương đại rất đa dạng và đặc sắc. Đó là một giáo viên mẫu mực với lí tưởng cao đẹp của sứ mệnh giáo dục thế hệ trẻ,  đó là một người nghệ sĩ hết lòng vì nghệ thuật và trân trọng cái đẹp đúng nghĩa, đó có thể là một người nông dân thật thà chất phác sống chí tình chí nghĩa, hay đó chỉ là một ông lão bơ vơ lạc lõng giữa chốn đô thị xa hoa hiện đại… Chúng ta nhận thấy rằng những hình tượng nhân vật này được khắc hoạ một cách chân thực độc đáo. Họ đã nhân danh cho tình người thiêng liêng và bao la để làm đẹp cuộc đời và làm đẹp lòng người. Họ đã làm sáng thêm ngọn lửa nhân văn cao đẹp và giữ cho nó sáng mãi theo thời gian.

Từ những điều trên, chúng tôi cảm nhận rằng tìm hiểu hình tượng nhân vật trong các tác phẩm đương đại Trung Quốc mà cụ thể là hình tượng nhân vật trí thức, hình tượng nhân vật nông dân và hình tượng nhân vật lao động khác là một vấn đề rất thú vị.

Chúng tôi muốn đi sâu khám phá để có những hiểu biết đúng đắn về ý nghĩa giáo dục tư tưởng của các tác phẩm đương đại, cũng như khẳng định được tài năng và sức sáng tạo mới mẻ của các tác giả trong thời kì mới. Hy vọng rằng đề tài này cũng sẽ giúp cho bạn đọc tiếp cận các tác phẩm một cách dễ dàng và tăng sự say mê hứng thú đối với văn học Trung Quốc đương đại hơn.

  1. 2.      Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài “ Tìm hiểu hình tượng nhân vật trong một số truyện ngắn đương đại Trung Quốc” chúng tôi hướng vào những mục tiêu sau:

-         Nghiên cứu hình tượng nhân vật trí thức, hình tượng nông dân và hình tượng người lao động khác trong một số truyện ngắn đương đại Trung Quốc để làm sáng tỏ nội dung văn học.

-         Trên cơ sở đó, khám phá và hiểu rõ được những sáng tạo trong văn chương của các nhà văn đương đại, đồng thời nhận thấy được những giá trị nhân văn trong tác phẩm của họ.

-         Phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu văn học Trung Quốc đương đại trong nhà trường và công tác giảng dạy sau này.

-         Mặt khác, có thể vận dụng tìm hiểu, so sánh với văn học ViệtNamđương đại.

  1. 3.      Lịch sử vấn đề

Các truyện ngắn chúng tôi đề cập đến trong đề tài hầu hết đều là tác phẩm đương đại nên số lượng những bài nghiên cứu về chúng tương đối ít ỏi. Đồng thời những bài nghiên cứu ấy cũng chỉ tiếp cận từng tác phẩm dưới góc độ xã hội hoặc xoay quanh các yếu tố lịch sử, chính trị… mà chưa đọc thấy có công trình nào chuyên đi sâu nghiên cứu về các hình tượng nhân vật theo hệ thống. Điều này gây không ít khó khăn trong việc tìm hiểu và tiếp cận vấn đề.

3.1. Nghiên cứu ở nước ngoài

         Ở đây chúng tôi chủ yếu đề cập đến những nghiên cứu về Văn học Trung Quốc đương đại của chính các tác giả người Trung Quốc. Đó là “Đương đại Trung Quốc văn học” của Diêu Đại Lương chủ biên (1993) và “Hai mươi năm văn học thời kì mới” của Vương Thiết Tiên, Dương Kiếm Long, Vương Khắc Cường, Mã Di Lỗ, Lưu Đỉnh Sinh (2001). Cả hai đều nghiên cứu về tình hình văn học đương đại Trung Quốc với sự “nở rộ” và “cách tân đổi mới” của các thể loại văn học ở phương diện cả nghệ thuật lẫn nội dung. Họ khẳng định những thành tựu cũng như tiềm lực của văn học thời khì mới. Và cả hai sự nghiên cứu này đều quan tâm nhiều đến tiểu thuyết, tản văn và thơ ca mà chưa chú ý nhiều đến truyện ngắn.

3.2. Nghiên cứu ở Việt Nam

         Nghiên cứu văn học Trung Quốc thời kì đổi mới ở Việt Nam thì người cần nói đến là PGS.TS Hồ Sĩ Hiệp với các chuyên luận và tiểu luận. Chuyên luận và tiểu luận của ông là tập hợp các bài viết đã được đăng trên các báo, tạp chí thời gian qua. Trong “Một số vấn đề văn học Trung Quốc thời kì mới” của PGS.TS Hồ Sĩ Hiệp (2003) gồm những bài viết nghiên cứu bao quát văn học Trung Quốc thời kì mới gồm ba phần: Thời sự văn học, Thể loại văn học và tác giả văn học. Ở phần Thể loại văn học, ông đã tìm hiểu một cách khái quát về tình hình phát triển và những đổi mới trong nội dung lẫn hình thức của các thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ ca và cả lí luận… Ngoài ra còn có phần “Niên biểu văn học thời kì mới” (1976 – 1996).

Tiểu luận gần đây của PGS.TS Hồ Sĩ Hiệp là “Một số vấn đề văn học Trung Quốc đương đại” gồm hai phần: Phần 1 là Thời sự văn học và phần 2 là Nhà văn và cuộc sống, các bài viết ở tiểu luận này đa dạng và cụ thể hơn, chủ yếu là những nét nổi bật cũng như những suy nghĩ khi đọc những tác phẩm văn học Trung Quốc đương đại. Bên cạnh đó còn đề cập đến văn học Hồng Kông, Đài Loan và Ma Cao khi Hồng Kông và Ma Cao đã trở về Trung Quốc và Đài Loan là một phần không thể chia cắt. Phần 2 là giới thiệu chân dung một số nhà văn Trung Quốc quen thuộc với độc giả Việt Nam như Trương Hiền Lượng, Trương Khiết, Vệ Tuệ… 

Trên đây là một số công trình nghiên cứu về văn học Trung Quốc đương đại của các nhà nghiên cứu nước ngoài và ViệtNam. Chúng tôi chưa đọc thấy công trình nào chuyên đi sâu nghiên cứu phương diện hình tượng nhân vật trí thức, hình tượng nhân vật nông dân và hình tượng nhân vật lao động khác trong các truyện ngắn Trung Quốc đương đại để làm sáng tỏ tính cách nhân vật và thấy được những giá trị đáng ghi nhận của các sáng tác cũng như những sáng tạo độc đáo của các nhà văn đương đại.

            Với tinh thần học tập không ngừng, chúng tôi sẽ kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những thành tựu nghiên cứu, những ý kiến bổ ích từ người đi trước để đi sâu tìm hiểu các loại hình tượng nhân vật này trong một số truyện ngắn được tuyển chọn theo chủ đề một cách cụ thể, có hệ thống.

  1. 4.      Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

            Đối tượng nghiên cứu là một số truyện ngắn Trung Quốc đương đại của nhiều tác giả khác nhau, nhưng trong đó đi sâu vào các loại hình tượng là hình tượng nhân vật trí thức, hình tượng nhân vật nông dân và hình tượng nhân vật lao động khác.

            Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chưa có điều kiện tìm đọc nhiều truyện ngắn Trung Quốc đương đại vì số lượng tác phẩm rất đồ sộ. Đề tài khảo sát của chúng tôi chủ yếu dựa trên các văn bản: Tuyển tập truyện ngắn Trung Quốc “Thời đại ảo” của Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, ấn hành năm 2003; “Truyện ngắn Trung Quốc hiện đại” của Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, ấn hành năm 2003; “Truyện ngắn Giả Bình Ao” của Nhà xuất bản Công an nhân dân, ấn hành năm 2003; Tuyển tập “Cao lương đỏ” của Nhà xuất bản Lao động, ấn hành năm 2007.

  1. 5.      Đóng góp của đề tài

Những truyện ngắn súc tích, dễ đọc dễ hiểu đã ngày càng tạo được ưu thế và hấp dẫn thế hệ độc giả ngày nay. Những tài liệu nghiên cứu về các tác phẩm truyện ngắn đương đại cũng khá nhiều nhưng chủ yếu là ở sự khái quát về thời sự văn học, các thể loại văn học và phong cách của một số tác giả của thời kì mới… mà chưa có công trình nào chuyên đi sâu nghiên cứu về nghệ thuật xây dựng các loại hình tượng nhân vật trí thức, nhân vật nông dân và nhân vật lao động khác trong các sáng tác của thời kì mới. Do đó đến với đề tài này, trong một số truyện ngắn được tuyển chọn từ những tuyển tập truyện ngắn Trung Quốc đương đại, chúng tôi muốn bước đầu nghiên cứu để làm sáng tỏ tính cách nhân vật, từ đó thấy được tài năng sáng tạo của các nhà văn trong thời kì đổi mới cũng như hiểu được giá trị nhân văn sâu sắc và ý nghĩa giáo dục tích cực qua tác phẩm của họ.

  1. 6.      Phương pháp nghiên cứu

6.1. Phương pháp hệ thống

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã tuyển chọn hai mươi truyện viết về các loại hình tượng nhân vật trí thức, nhân vật nông dân và nhân vật lao động khác trong 04 tập truyện ngắn Trung Quốc đuơng đại như đã nêu ở phần đối tuợng, phạm vi nghiên cứu. Do đó, để việc nghiên cứu được thuận lợi, chúng tôi đã chọn phương pháp hệ thống. Phương pháp này giúp chúng tôi hiểu bao quát các tác phẩm để thấy được sự gắn kết của chúng, đồng thời thấy được đặc điểm nổi bật và mối liên hệ của các nhân vật.

6.2. Phương pháp liệt kê

                        Chúng tôi tiến hành liệt kê, ghi lại những dẫn chứng cần thiết trong các bản dịch và nhiều tài liệu khác có liên quan để dẫn chứng phù hợp với từng đề mục của khoá luận.

6.3. Phương pháp phân tích tổng hợp

Chúng tôi tiến hành phân tích các dẫn chứng nhằm làm nổi bật các luận điểm cần triển khai. Sau đó thâu tóm, khái quát chúng lại.

  1. 7.      Dàn ý của khóa luận

Đề tài: Tìm hiểu hình tượng nhân vật trong một số truyện ngắn Trung Quốc đương đại.

PHẦN MỞ ĐẦU

  1. Lý do chọn đề tài
  2. Mục đích nghiên cứu
  3. Lịch sử vấn đề
  4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
  5. Đóng góp của đề tài
  6. Phương pháp nghiên cứu
  7. Dàn ý của khóa luận

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: Cơ sở lí luận

  1. Nhân vật trong tác phẩm văn học
  2. Quan niệm nghệ thuật về con người – phạm trù trung tâm của thi pháp học hiện đại

Chương 2: Vài nét về truyện ngắn Trung Quốc đương đại

  1. Tìm hiểu chung về thể loại truyện ngắn

1.1.            Khái niệm

   1.2.     Nguồn gốc

1.2.1.      Chí quái

1.2.2.      Truyền kì

1.2.3.      Tiểu thuyết

  1. Truyện ngắn Trung Quốc giai đoạn hiện nay

2.2.            Giai đoạn quá độ

2.2.            Giai đoạn đột phá

2.2.            Giai đoạn điều chỉnh từng bước

2.2.            Giai đoạn phát triển sáng tạo mới

  1. Những nội dung tiêu biểu được phản ánh trong  truyện ngắn đương đại Trung Quốc

Chương 3: Tìm hiểu hình tượng nhân vật trong một số truyện ngắn Trung Quốc đương đại

  1. Hình tượng nhân vật trí thức

1.1.            Những nhà giáo dục chân chính, hết lòng yêu nghề mến trẻ

1.2.            Văn nghệ sĩ với tấm lòng trân trọng cái đẹp và hi sinh vì nghệ thuật

  1. Hình tượng nhân vật nông dân

2.1.            Người nông dân chân chất thật thà, có tấm lòng cao đẹp

2.2.            Người nông dân vất vả gian nan nhưng biết khát khao hạnh phúc, dám đấu tranh cho tình yêu

  1. Hình tượng nhân vật lao động khác

3.1.            Những thanh niên trẻ trong cuộc sống hiện đại ngày nay

3.2.            Những người cao tuổi và sự chiêm nghiệm của họ về cuộc sống

PHẦN KẾT LUẬN

PHẦN NỘI DUNG

*

CHƯƠNG 1

 CƠ SỞ LÍ LUẬN

  1. 1.      NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC

“Nhân vật văn học” là một thuật ngữ chỉ hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại của con người trong nghệ thuật ngôn từ. Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống với con người.

Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, nó mang tính ước lệ, không thể bị đồng nhất với con người có thật, ngay cả khi tác giả xây dựng nhân vật với những nét rất gần với nguyên mẫu có thật… Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người; nó có thể được xây dựng chỉ dựa trên quan niệm ấy. Ý nghĩa của nhân vật văn học chủ có được trong hệ thống một tác phẩm cụ thể.

Nhân vật văn học là một trong những quan niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách. Những nét chung về nhân vật văn học có thể cho phép nêu lên những hiện tượng văn học như : văn học về “con người thừa” (ở văn học Nga thế kỉ XIX), văn học về “thế hệ vứt đi”(ở Mĩ thế kỉ XX) …

Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra một kết luận: nhân vật trong tác phẩm văn học chính là con người hoặc các loài cây, các sinh thể hoang đường nhưng mang những đặc điểm giống với con người. Nhân vật ấy là đứa con tinh thần của nhà văn, là máu thịt của nhà văn để thể hiện quan niệm thẩm mĩ và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về cuộc đời và con người. Các nhà lí luận cũng nhấn mạnh đến tính nghệ thuật, tính ước lệ của nhân vật văn học. Nhân vật văn học không hoàn toàn giống như con người thật ngoài đời vì chúng có những đặc trưng nghệ thuật và được thể hiện trong tác phẩm bằng các phương tiện văn học thông qua quan niệm và biện pháp nghệ thuật của nhà văn, nhưng không vì thế mà chúng kém phần chân thật. Đã là tác phẩm văn học thì không thể thiếu nhân vật văn học.

Như vậy nhân vật văn học là hình thức cơ bản để qua đó nhà văn miêu tả đời sống một cách hình tượng. Bản chất của văn học là có quan hệ mật thiết với đời sống, nó chỉ tái hiện đời sống qua những chủ thể nhất định, đóng vai trò tấm gương phản chiếu cuộc sống. Nhân vật văn học vì thế là đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất với con người có thật trong cuộc đời. Tác phẩm văn học nào cũng là một hệ thống chỉnh thể của những hệ thống nhỏ hơn. Các nhân vật trong các tác phẩm cũng thực sự tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh, chúng liên quan với nhau, móc nối với nhau không chỉ bằng tiến trình các sự kiên miêu tả, mà suy cho cùng còn bằng logic của nội dung nghệ thuật của nhà văn.

Hệ thống nhân vật đem lại cho hệ thống nghệ thuật của tác phẩm một sự thống nhất, đồng thời quan hệ giữa các nhân vật trong mỗi hệ thống ít hay nhiều đều phản ánh mối quan hệ xã hội hiện thực của con người.

  1. 2.      QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI – PHẠM TRÙ TRUNG TÂM CỦA THI PHÁP HỌC HIỆN ĐẠI

Con người trong tác phẩm văn học là con người được thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học. Một nhà văn không thể miêu tả hiện thực nếu không thông qua hình tượng nghệ thuật và không có quan niệm nghệ thuật của mình về con người. Theo GS. Trần Đình Sử trong giáo trình Dẫn luận thi pháp học (NXB Giáo dục, 1998) thì Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc lí giải, cảm thụ và miêu tả con người trong nghệ thuật. Quan niệm nghệ thuật là cách cắt nghĩa, lí giải về con người trên cơ sở hấp thu các yếu tố thế giới quan nhất định của thời đại, tạo ra một quan niệm của mình về thế giới và con người.

Văn học là nhân học, là nghệ thuật miêu tả, biểu hiện con người. Con người là đối tượng chủ yếu của văn học. Dù miêu tả thần linh, ma quỉ, miêu tả đồ vật, hoặc giản đơn là miêu tả các nhân vật, văn học đều thể hiện con người. Mặt khác, người ta không thể miêu tả về con người, nếu như không hiểu biết, cảm nhận và có các phương tiện, biện pháp nhất định. Mặt thứ hai này tạo thành chiều sâu, tính độc đáo của hình tượng con người trong văn học.

Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình tượng nhân vật trong đó.

Quan niệm nghệ thuật về con người hướng cho người ta cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể, là nguyên tắc cảm thấy, hiểu và miêu tả con người trong văn học và các nguyên tắc đó có cơ sở sâu xa trong thực tế lịch sử, nó là một sản phẩm của lịch sử và cũng đồng thời là sản phẩm của văn hóa, tư tưởng và quan niệm nghệ thuật về con người cũng mang dấu ấn sáng tạo của cá tính nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn nghệ sĩ.

Trong các thể loại văn học khác nhau, do chức năng và hệ thống phương tiện biểu hiện khác nhau, quan niệm nghệ thuật cũng có sự khác nhau.

      Một nền nghệ thuật mới bao giờ cũng ra đời cùng với quan niệm về con người mới. Quan niệm con người tạo thành cơ sở, thành nhân tố vận động của nghệ thuật, thành bản chất nội tại của hình tượng nghệ thuật. Quả là sự vận động của thực tế làm nảy sinh những con người mới và miêu tả những con người ấy sẽ làm cho văn học đổi mới. Đổi mới cách giải thích và cảm nhận con người cũng làm cho văn học thay đổi căn bản. Trong lịch sử văn học, việc sử dụng lại các đề tài, cốt truyện, nhân vật truyền thống là rất phổ biến nhưng cách giải thích và cảm nhận của họ là mới, tạo thành tiếng nói nghệ thuật mới. Cũng vẫn là con người đã biết, nhưng hôm qua được nhìn ở một góc độ, hôm nay nhìn sang góc độ mới cũng tạo thành sáng tác văn học mới.

      Quan niệm nghệ thuật về con người luôn hướng vào con người trong mọi chiều sâu của nó, cho nên đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn của văn học. Nghệ sĩ là người suy nghĩ về con người, cho con người, nêu ra những tư tưởng mới để hiểu về con người, do đó càng khám phá nhiều quan niệm nghệ thuật về con người thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạo của họ, càng đánh giá đúng thành tựu của họ.

      Quan niệm nghệ thuật về con người biểu hiện trong toàn bộ cấu trúc của tác phẩm văn học, nhưng biểu hiện tập trung trước hết ở nhân vật, bởi nhân vật văn học là con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm, bằng phương tiện văn học. Nhân vật biểu hiện cách hiểu của nhà văn về con người theo một quan điểm nhất định và các đặc điểm mà anh ta lựa chọn. Nhân vật văn học chính là mô hình về con người của tác giả. Muốn tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người phải xuất phát từ các biểu hiện của nhân vật, thông qua các yếu tố tạo nên nó.

      Như vậy, quan niệm nghệ thuật về con người là cách cắt nghĩa, lí giải về con người trên cơ sở hấp thu các yếu tố thế giới nhất định của thời đại, tạo ra một quan niệm của nó về thế giới và con người.

 

CHƯƠNG 2

 VÀI NÉT VỀ TRUYỆN NGẮN TRUNG QUỐC ĐƯƠNG ĐẠI

  1. 1.      TÌM HIỂU CHUNG VỀ THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN

1.1.      KHÁI NIỆM

Truyện ngắn là hình thức ngắn của tự sự. Khuôn khổ ngắn nhiều khi làm cho truyện ngắn có vẻ gần gũi với các hình thức truyện kể dân gian như truyện cổ, giai thoại, truyện cười, hoặc gần với những bài kí ngắn. Nhưng thực ra không phải. Nó gần với tiểu thuyết hơn cả bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời. Nội dung của thể loại truyện ngắn có thể rất khác nhau : đời tư, thế sự, hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó lại là ngắn. Truyện ngắn có thể kể cả một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện, mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời. Truyện ngắn trung đại cũng là truyện ngắn nhưng gần với truyện vừa. Truyện ngắn hiện đại khác hẳn. Đó là một kiểu tư duy khá mới, vì vậy nói chung, truyện ngắn đích thực xuất hiện muộn trong trong lịch sử văn học. Ở nhiều nước trên thế giới, truyện ngắn gắn liền với báo chí: khuôn khổ báo chí không cho phép dài. Truyện ngắn nói chung không phải vì “truyện” của nó “ngắn”, mà vì cách nắm bắt cuộc sống của thể loại. Tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người. Chính vì vậy trong truyện ngắn thường rất ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp. Chỗ khác biệt quan trọng giữa tiểu thuyết và truyện ngắn là, nếu nhân vật chính của tiểu thuyết thường là một thế giới, thì nhân vật truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới. Truyện ngắn không nhằm hướng tới việc khắc hoạ những tính cách điển hình có cá tính đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh. Nhân vật truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người. Mặt khác, do đó truyện ngắn lại mở rộng diện nắm bắt các kiểu loại nhân vật đa dạng của cuộc sống, chẳng hạn như chức nghiệp, xuất thân, gia hệ, bạn bè,… những kiểu loại mà trong tiểu thuyết thường hiện ra thấp thoáng trong các nhân vật phụ.

   Cốt truyện của truyện ngắn có thể là nổi bật, hấp dẫn, nhưng chức năng của nó nói chung là để nhận ra một điều gì. Cái chính của truyện ngắn là gây một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tình người. Truyện ngắn là một thể loại dân chủ, gần gũi với đời sống hằng ngày, lại súc tích, dễ đọc, gắn liền với hoạt động báo chí, có tác dụng, ảnh hưởng kịp thời trong đời sống.

Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết. Nhiều nhà văn lớn trên thế giới và nước ta đã đạt tới đỉnh cao của sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật chủ yếu bằng những truyện ngắn xuất sắc của mình.

Mặc dù thuật ngữ truyện ngắn ra đời muộn (khoảng cuối thế kỷ XIX) nhưng bản thân truyện ngắn đã xuất hiện và tồn tại ngay từ buổi bình minh của nhân loại, khi con người biết sáng tác văn chương. Trải qua hàng ngàn năm, với bao biến cố thăng trầm của thể loại, ngày nay truyện ngắn đã chiếm lĩnh được vị trí quan trọng trên văn đàn trong kỉ nguyên Hiện đại, Hậu hiện đại, khi con người bị dồn ép về mặt thời gian hơn bao giờ hết. Con người không có đủ thời gian cho những bộ tiểu thuyết đồ sộ như : Tây du kí, Tam quốc diễn nghĩa, Thuỷ Hử, Hồng Lâu Mộng, Những người khốn khổ, Chiến tranh và hòa bình, Sông Đông êm đềm, Trăm năm cô đơn…Truyện ngắn đã hàm chứa cái thú vị của những điều sâu sắc trong một hình thức nhỏ, gọn, xinh xinh và đầy truyền cảm, truyền dẫn cực nhanh những thông tin, nhanh cũng là một thế mạnh để truyện ngắn chinh phục độc giả đương đại.

Raymond Carver – một trong những bậc thầy truyện ngắn thế giới ghi nhận: “ngày nay tác phẩm hay nhất, tác phẩm hấp dẫn và thỏa mãn nhất về nhiều mặt, thậm chí có lẽ tác phẩm có cơ hội lớn nhất để trường tồn, chính là tác phẩm được viết dưới dạng truyện ngắn”. Truyện ngắn gắn chặt với báo chí. Đây là một lợi thế lớn, bởi hiện tại báo chí kể cả báo điện tử đang bùng nổ với tốc độ chóng mặt. Người đọc quen và thích đọc truyện ngắn trong vài chục phút hoặc trong một vài giờ. Hơn nữa, sau nhiều năm chiếm lĩnh văn đàn, thơ, kịch, tiểu thuyết dường như vắt kiệt về khả năng hồi sinh và đổi mới thể loại. Trong khi đó truyện ngắn còn là mảnh đất tương đối trống, điều này tạo điều kiện hết sức thuận lợi để các cây bút trẻ khẳng định tài năng.

1.2.      NGUỒN GỐC

1.2.1.      CHÍ QUÁI

Một thể loại văn xuôi tự sự trong văn học Trung Quốc, thường ghi chép những chuyện li kì quái đản, xuất hiện và phát triển dưới thời Lục Triều từ đầu thế kỉ III đến cuối thế kỉ VI. Tiểu thuyết chí quái tiếp tục phát triển truyền thống của thần thoại, ngụ ngôn, dã sử, tạp sử các thời đại trước nhưng có căn nguyên sâu xa trong điều kiện lịch sử thời Lục Triều (281 – 598), một giai đoạn cực kì hỗn loạn, đầy rẫy những đau thương chết chóc, lan tràn rộng rãi đủ mọi thứ mê tín, tôn giáo.

Nội dung rất phức tạp, có loại ghi những chuyện kì lạ về các mặt địa lí, động vật thực vật như “Bác vật chí, Thần dị chí”, có loại mang tính chất dã sử như “Hán Vũ Đế nội truyện, Thập dị kí”, có loại chuyên kể những chuyện thần quái như “Liệt dị truyện, Oan hồn chí” … Gạt bỏ bộ áo hoang đường, loại nào cũng có những chuyện có giá trị hiện thực song song đáng chú ý hơn cả là những mẫu chuyện dân gian được cải biên ghi lại trong “Sưu thần kí” của Can Bảo. Tiểu thuyết chí quái đã chuẩn bị cho sự ra đời của tiểu thuyết truyền kì đời Đường và có ảnh hưởng nhiều mặt đối với kịch, tiểu thuyết các thời đại sau.

1.2.2.      TRUYỀN KÌ

Một hình thức văn xuôi tự sự cổ điển Trung Quốc, vốn bắt nguồn từ truyện kể dân gian, sau được các nhà văn nâng lên thành văn chương bác học, sử dụng những môtip kì quái hoang đường, lồng trong một cốt truyện có ý kiến trần thế, nhằm gợi hứng thú cho người đọc. Gọi là tiểu thuyết nhưng tiểu thyết truyền kì có dung lượng ngắn và kết cấu không theo kiểu truyện dài thu ngắn phần nào đã có dấp dáng của thể loại truyện ngắn cận hiện đại. Sự tham gia yếu tố thần kì vào câu chuyện cũng không phải là do những lực lượng tự nhiên được nhân hoá như kiểu thần thoại, hoặc những nhân vật có phép lạ như kiểu trời, bụt, thần tiên … trong truyện cổ tích thần kì mà phần lớn ở ngay hình thức “phi nhân tính” của nhân vật (ma quỉ, hồ li, vật hoá người …). Tuy nhiên, trong truyện bao giờ cũng có những nhân vật là người thật, và chính những nhân vật mang hình thức “phi nhân” thì cũng chỉ là sự cách điệu, phóng đại của tâm lí, tính cách một loại người nào đấy; vì thế truyện truyền kì vẫn mang rất đậm yếu tố nhân bản, có giá trị nhân bản sâu sắc.

1.2.3.      TIỂU THUYẾT

Tiểu thuyết là hình thức tự sự cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận đại và hiện đại. Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng.

Mầm mống tiểu thuyết ở Trung Quốc cũng xuất hiện sớm, vào đời Nguỵ Tấn (thế kỉ III – IV) dưới dạng “chí quái”, “chí nhân”. Đến đời Đường, tiểu thuyết “truyền kì” đời Đường thể hiện những nhu cầu cho đời sống cá nhân, phê phán các thói tục xấu xa hoặc sự bất bình đẳng xã hội, khẳng định các phẩm chất tính cách cá nhân tốt đẹp. Tiểu thuyết “thoại bản” đời Tống (thế kỉ XI – XIII) tiếp tục thể hiện vấn đề số phận và phẩm chất cá nhân trong đời sống. Gần một vạn tiểu thuyết ngắn, vừa và dài thời Minh – Thanh có thể chia ra các loại sau : tiểu thuyết đời Minh có bốn loại là giảng sử (bao gồm cả Thuỷ Hử), thần ma, nhân tình thế thái và tiểu thuyết thị dân; tiểu thuyết đời Thanh có sáu loại là giảng sử, châm biếm, nhân tình, hiệp tà, hiệp nghĩa, khiển trách. Đó là cách chia của Lỗ Tấn trong Trung Quốc tiểu thuyết sử lược. Còn V.I.Xêmanốp chia tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc ra làm hai loại là tiểu thuyết anh hùng và tiểu thuyết đời thường. Tuy nhiên có thể chia tiểu thuyết cổ điển ra làm năm loại dựa trên đề tài và chủ đề tư tưởng như sau : tiểu thuyết giảng sử, tiêu biểu là Tam Quốc diễn nghĩa, đây là loại tiểu thuyết lấy đề tài trong lịch sử rồi “diễn nghĩa” ra; tiểu thuyết hiệp nghĩa, tiêu biểu là Thuỷ Hử, tác phẩm viết về anh hùng hảo hán trọng nghĩa khinh tài; tiểu thuyết thần ma, tiêu biểu là Tây du kí, tiểu thuyết nói về đề tài trong thần thoại hoặc truyện tôn giáo; tiểu thuyết nhân tình thế thái, Hồng Lâu mộng là tiêu biểu, tác phẩm lấy đề tài từ đời thường nói về những số phận con người bình thường và tình cảm bi, ai, hỉ, nộ thường nhật, loại cuối cùng là đoản thiên tiểu thuyết, đó là truyện ngắn. Có hàng ngàn tác phẩm, tiêu biểu hơn cả là Liêu trai chí dị – đây là bộ truyện ngắn văn ngôn kế thừa chí quái truyện thời Nguỵ Tấn và truyền kì đời Đường cùng những sáng tạo mới. 

Theo Lí luận văn học của nhiều tác giả do Phương Lựu chủ biên (NXB Giáo Dục, 2004) thì tiểu thuyết có những đặc điểm nổi bật sau :

Đặc điểm tiêu biểu thứ nhất làm cho tiểu thuyết khác biệt sử thi (anh hùng ca), ngụ ngôn là ở cái nhìn cuộc sống ở góc độ đời tư. Đời tư là tiêu điểm để miêu tả cuộc sống một cách tiểu thuyết.

      Nét tiêu biểu thứ hai làm cho tiểu thyết khác với truyện thơ, trường ca là chất văn xuôi, tức là một sự tái hiện cuộc sống không thi vị hoá, lãng mạn hoá, lí tưởng hoá.

      Thứ ba, cái làm cho nhân vật tiểu thuyết khác với các nhân vật sử thi là ở chỗ nhân vật tiểu thuyết là “con người nếm trải” trong khi các nhân vật kia thường là nhân vật hành động.

      Thứ tư, ở tiểu thuyết cốt truyện không đóng vai trò chủ yếu. Tiểu thuyết chứa bao nhiêu cái “thừa” so với truyện vừa nhưng đó lại là cái chính yếu  trong thành phần của thể loại tiểu thuyết: các suy tư của nhân vật về thế giới, về đời người, sự phân tích cặn kẽ các diễn biến tình cảm, sự trình bày tường tận các tiền sử của nhân vật, mọi chi tiết và quan hệ giữa người với người, về đồ vật và môi trường, và nói chung về toàn bộ tồn tại của con người.

Thứ năm: Tiểu thuyết hướng về miêu tả hiện thực như các hiện tại đương thời của người trần thuật.

Tiểu thuyết hấp thụ mọi lời nói khác nhau của đời sống, san bằng ngăn cách lời trong văn học và ngoài văn học, tạo nên sự đối thoại giữa các giọng khác nhau. Cuộc sống trong tiểu thuyết là một cái gì chưa xong xuôi. Kết cấu của tiểu thuyết thường là kết cấu để ngỏ.

      Cuối cùng, với các đặc điểm đã nêu, tiểu thuyết là thể loại văn học có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các loại văn học khác.

Tóm lại, tiểu thuyết là thể loại tự sự dân chủ, năng động và giàu khả năng phản ánh đời sống nhiều mặt bậc nhất của các thể loại văn học.

      Chúng ta có thể thấy không phải ngẫu nhiên mà thể loại tiểu thuyết chiếm địa vị trung tâm trong hệ thống thể loại văn học cận đại, hiện đại. Nhưng lẽ dĩ nhiên, ta cũng  không thể phủ nhận vai trò cũng như chức năng riêng của các thể loại khác. Và truyện ngắn cũng vậy, nó là thể loại khá quan trọng trong thời đại ngày nay, khi mà ngày càng phát huy được khả năng phản ánh mau lẹ, kịp thời và sâu rộng hiện thực.

  1. 2.      TRUYỆN NGẮN TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Trong sự phục hưng và phát triển của văn học trong thời kì mới, trước hết phải nói đến thể loại truyện ngắn. Thể loại văn học này có thành tựu chói sáng từ trước và sau “Ngũ tứ” (1919) mà đỉnh cao là những kiệt tác bất hủ của đại văn hào Lỗ Tấn. Có thể nói truyện ngắn Lỗ Tấn mà tiêu biểu là AQ chính truyện, Lễ cầu phúc, Khổng Ất Kỷ, Nhật kí người điên, Cố hương là những “phát đại bác” ầm vang mở dầu cho nền văn học hiện đại cách mạng Trung Quốc. Trong văn học thời kì mới truyện ngắn là thể loại văn học “anh hùng”, “thủ công”. Nó là những “quả lựu đạn”, những “quả bộc phá” làm nổ tung ngục tù chính trị và văn nghệ đen tối mười năm “cách mạng văn hoá” của tập đoàn Lâm Bưu và “bè lũ bốn tên”, mở ra một con đường mới cho văn học hiện thực chủ nghĩa Trung Quốc phát triển trong thời kì cải cách, mở cửa.

Nữ văn sĩ Vương An Ức – chủ tịch hội nhà văn Thượng Hải – sau khi đọc những tiểu thuyết hay và truyện ngắn hay nhất của các năm gần đây đã nhận xét:

Cái mà tôi gọi là da thịt của cuộc sống trong các thiên truyện kia ngày một rắn chắc hơn. Chúng tựa hồ như bước ra khỏi quan niệm phức tạp. dị kì của những năm 1990, từ trong định nghĩa hư không mà tiến vào thế giới trải nghiệm vô danh mà sinh khí bừng bừng. Tiểu thuyết Trung Quốc đã sống bao nhiêu năm, đã có bao nhiêu người cầm bút mà vẫn cứ xuất hiện bao nhiêu sáng tạo mới mẻ, bởi vì những kinh qua của cá nhân đã không hề trùng lặp. Nó là một loại vật chất không có cách gì để quy nạp, trừu tượng hoá, cái này là cái này, cái kia là cái kia, là thực thể sống sinh tồn và phát triển theo lí do riêng lẻ. Xã hội đang trong đà vươn tới hiện đại, dầu vậy vẫn có nhiều cách giải thích khác nhau nếu xuất phát từ các góc độ khác nhau và tiểu thuyết của chúng ta đã phản ánh xu thế đó. (Thái Nguyễn Bạch Liên, 2003)

 Phát hiện của bà Vương An Ức tuy không phải là mới mẻ mà vẫn theo nguyên lí phổ biến của tiểu thuyết và truyện ngắn nói riêng và văn học nói chung đều bắt nguồn từ cuộc sống thông qua những trải nghiệm, giải thích của những người cầm bút; nhưng có điều ở Trung Quốc vào những thập niên cuối thế kỉ XX đã xảy ra bao nhiêu biến động phi thường, tiêu biểu như mười năm loạn lạc trong Đại Cách mạng văn hoá, như hơn hai mươi năm cải cách, mở cửa phát triển và nay đang tiến tới xã hội tiểu khang với cuộc sống sung túc, dư dật, khá giả. Những biến động ấy buộc mỗi thành viên của cộng đồng một tỉ ba dân Trung Quốc phải có sự thay đổi căn bản mới tương thích nổi với cuộc sống thời đại. Đấy chính là ngọn nguồn bất tận cho vô vàn các trang viết giá trị của các văn nghệ sĩ.

Theo Tiến sĩ Hồ Sĩ Hiệp trong “Một số vấn đề Trung Quốc thời kì mới” (2003) thì sự phát triển của truyện ngắn Trung Quốc trong văn học thời kì mới chia làm bốn giai đoạn sau đây:

2.1.      GIAI ĐOẠN QUÁ ĐỘ

Giai đoạn này bắt đầu từ khi đập tan tập đoàn “bè lũ bốn tên” đến năm 1977, khi tác phẩm Chủ nhiệm lớp của Lưu Tâm Vũ ra đời.

Văn đàn sau khi đập tan tập đoàn phản cách mạng Giang Thanh đã tồn tại hai loại tác phẩm văn học: Một loại là “phê phán bè lũ bốn tên”, ca ngợi tác phẩm của thời đại các nhà văn cách mạng vô sản tiền bối. Phần lớn loại tác phẩm này là hồi ức, tản văn và thơ ca. Một loại tác phẩm khác có thể gọi là “thay đầu đối mặt” gồm truyện ngắn và tiểu thuyết. Những tác phẩm này chỉ là vứt bỏ cái vỏ bề ngoài văn học của “bè lũ bốn tên” nhưng linh hồn của nó vẫn là chủ đề và xung đột cũ, chưa có gì thực sự đổi mới về hình thức và nội dung.

2.2.      GIAI ĐOẠN ĐỘT PHÁ

Tháng 11-1977 truyện ngắn Chủ nhiệm lớp của Lưu Tâm Vũ xuất hiện, tiếp theo là truyện ngắn Vết thương tạo nên hàng loạt truyện ngắn “phản ứng dây chuyền”. Những truyện ngắn này là loại tác phẩm “kêu đời”. Vết thương miêu tả “mười năm động loạn” của cuộc “cách mạng đại văn hoá”. Đây có thể coi là một cuộc cách mạng của văn học từ phương diện tư tưởng đến phương thức biểu hiện – một cuộc cách mạng của chủ nghĩa hiện thực chống lại chủ nghĩa phản hiện thực. “Văn học Vết thương” trong cuộc tranh luận gay gắt đã phát triển nhanh chóng. Trong hai năm 1977, 1978 truyện ngắn của “Văn học Vết thương” đã chiếm lĩnh vị trí quan trọng trên văn đàn Trung Quốc giai đoạn đầu sau cuộc “Cách mạng văn hoá”.                      

2.3.      GIAI ĐOẠN ĐIỀU CHỈNH TỪNG BUỚC

Đầu năm 1980 giới sáng tác kịch bản toạ đàm hội thảo, thảo luận, phê phán khuynh hướng tư tưởng nghệ thuật không đúng đắn, đồng thời nêu ra vấn đề lí luận của “hiệu quả xã hội”, gây nên sự chú ý của văn đàn. Rất nhiều nhà văn có ý thức lấy tác phẩm làm “hồ sơ xã hội”, làm tấm gương soi đối với tư tưởng sáng tác và phương pháp nghệ thuật nhằm mục đích nhìn lại, tổng kết, điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội và điều kiện đời sống. Do đó, “văn học vết thương” dần dần đi đến vị trí “chi lưu”. Một trào lưu mới của văn học mạnh mẽ đi lên, bắt đầu thay thế vị trí của “văn học vết thương” và trở thành trào lưu chính của truyện ngắn trong thời kì mới. Đó là hàng loạt tác phẩm văn học lấy việc “miêu tả trước mắt” làm đề tài chính. Bắt đầu từ truyện ngắn Kiều Xưởng trưởng nhậm chức sáng tác năm 1979. Tiếp theo là các truyện ngắn ưu tú khác xuất hiện cũng được người đọc đón nhận nồng nhiệt như Trần Hoán Sinh lên thành phố… Nhà văn đem ánh mắt từ “mười năm động loạn” để nhìn cuộc sống hiện đại, biểu hiện một cách sinh động, chân thực cuộc sống mới, con người mới và vấn đề mới của thời kì mới sau cuộc “Cách mạng văn hoá”.

2.4.      GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO MỚI

Một mặt, do nhiệm vụ trọng tâm của đất nước đã chuyển sang giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, đời sống nhân dân đã đi vào quỹ đạo chính. Mặt khác, do sự phát triển thay đổi không ngừng của chính bản thân văn học, vì vậy từ năm 1981 trở đi phần lớn tác phẩm miêu tả những vấn đề lớn lao của xã hội theo kiểu “tính bộc phá” giống như các giai đoạn trước đã dần dần giảm bớt. Về đề tài, truyện ngắn đã hướng đến lĩnh vực rộng lớn của đời sống, hướng đến sự phát triển “phóng đại” của đời sống. Về mặt thủ pháp biểu hiện, truyện ngắn hướng đến những sự phát triển ngày càng tăng của tính đa dạng hoá.

Qua sự phát triển trong sáu năm, sáng tác truyện ngắn đã có được những     thành tựu nổi bật.

Trước hết, truyện ngắn đã phát huy đầy đủ ưu thế thể tài của mình: một mặt phản ánh một cách kịp thời hiện thực đời sống đang phát triển nhanh chóng về mọi mặt, phản ánh một số mảng cuộc sống có ý nghĩa của những năm tháng quá khứ; mặt khác, phản ánh chủ lưu hiện thực đời sống của thời kì mới, đồng thời cũng miêu tả bức tranh đời sống muôn màu muôn vẻ, rộng rãi bao la đang diễn ra.

Những tác phẩm phản ánh mâu thuẫn và những xung đột trong hiện thực đời sống hiện tại chiếm vị trí chủ lưu mà Lưu Tâm Vũ, Trương Khiết… là những nhà văn tiêu biểu của văn học thời kì mới ở thể loại văn học này. Họ đi lên từ việc viết về đề tài “cách mạng văn hoá”. Tiếp theo là những tác phẩm hồi tưởng lịch sử, tổng kết các lời giáo huấn lịch sử bị coi là tác phẩm của “văn học phản tư”…Tiếp theo là những truyện ngắn miêu tả cản trở trong quá trình “bốn hiện đại hoá” và cuộc tranh đấu khắc phục trở ngại của cái gọi là “văn học cải cách”, những truyện ngắn này từ nhiều góc độ khác nhau đã phản ảnh những biến đổi to lớn ở nông thôn hiện tại.

Ngoài một số “chủ lưu” này, về đề tài truyện ngắn đang hình thành mấy xu hướng phổ biến sau đây :

Viết về cuộc sống thời cũ, cuộc sống quê hương và cuộc sống của thời kì thiếu niên, nhi đồng với số lượng không ít. Nhà văn Uông Tăng Kỳ lấy tình cảm con người và phong thổ quê hương Cao Bưu, thuộc tỉnh Giang Tô, quê hương của ông làm đề tài. Truyện ngắn Ngày hôm qua còn lại của Phùng Ký Tài đều là những truyện ngắn tiêu biểu về đề tài này.

Một số nhà văn khác chú ý lựa chọn đề tài góc cạnh, từ bề mặt, bối cảnh, hình ảnh của cuộc sống để biểu hiện bề mặt của đời sống xã hội mà mình đang sống. Hơn nữa, các nhà văn có suy nghĩ, quan sát và phát hiện nhiều vấn đề rất có ý nghĩa đối với cuộc sống. Thành công của Lưu Tâm Vũ không chỉ là ở chỗ tác giả phát hiện sự huỷ hoại của “mười năm động loạn” đối với con người theo kiểu “tiểu lưu manh” như trường hợp của Tống Bảo Kỳ nhưng quan trọng là ở chỗ tác giả đã chỉ ra sự độc hại của cuộc “cách mạng văn hoá” đối với trường hợp “tiêu chuẩn học sinh tốt” qua nhân vật Tạ Huệ Mẫn…

Truyện ngắn của thời kì mới đã sáng tạo nhiều hình tượng nghệ thuật mới mẻ, hấp dẫn, có chiều sâu, gây chú ý nhất cho mọi người là sự xuất hiện hình tượng người lao động có tâm hồn cao đẹp. Nhân vật Thiên Cẩu, Hắc thị trong hai truyện ngắn cùng tên của Giả Bình Ao đã biểu hiện một cách điển hình đức tính tốt đẹp của người nông dân bình thường Trung Quốc.

Truyện ngắn thời kì mới còn sáng tạo hình tượng con người mới xã hội chủ nghĩa phong phú và đa dạng. Đó là một người yêu nước và vươn lên với lí tưởng cao đẹp như Trần Cảo trong truyện Mắt đêm của Vương Mông; hay đó là nhân vật “chị”- đại diện của những con người mang nặng vết thương lòng do ảnh hưởng của “bè lũ bốn tên”, đắm chìm trong những nỗi đau đến cháy lòng nhưng chị đã biến đau thương thành sức mạnh để dùng hết sức lực của tuổi trẻ xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp…

Ngoài ra truyện ngắn thời kì mới đã sáng tạo hình tượng các nhân vật nhỏ bé và con người bình thường trong cuộc sống đời thường: Chương Hào, một thanh niên thời hiện đại trong sự mê muội những cái giả tạo, ảo ảnh hay ông lão Vương Hữu Phúc với sự lạc lõng và bất cập trong một cuộc sống “thời thượng” đến xa lạ chóng mặt…

Truyện ngắn của thời kì mới về mặt thể loại, phương pháp biểu hiện đã đạt được sự rộng rãi bao la và tự do phát triển. Thể tài, cách thức và phương pháp biểu hiện của truyền thống (thông qua tình tiết, bối cảnh, chi tiết sáng tạo nhân vật) vẫn chiếm địa vị chủ yếu, đồng thời xuất hiện nhiều phương pháp biểu hiện phong phú, đa dạng hơn thể loại truyện ngắn thời kì trước đó.

-               Truyện ngắn theo thể tản văn hoá hoặc thể tản văn : Đó là truyện ngắn của Uông Tằng Kỳ, truyện ngắn sáng tạo mới của Vương Mông, một số truyện ngắn của Phùng Ký Tài…

-               Truyện ngắn sáng tác theo tâm thái tiểu thuyết, chẳng hạn như truyện Thiên Cẩu Hắc thị của Giả Bình Ao…

-               Truyện ngắn theo thể hí kịch hài hước.

-               Truyện ngắn theo thể công văn.

Tuy có nhiều ưu điểm và đổi mới nhưng sáng tác truyện ngắn thời kì này còn tồn tại một số biểu hiện sau đây :

Trước hết, đó là tình trạng bắt chước lẫn nhau. Rất nhiều tác giả truyện ngắn không nhận thức được rằng việc sáng tạo ra cái mới trong văn học là đáng quí. Vì vậy, hễ có một truyện ngắn mới hay xuất hiện là lập tức nhiều tác giả khác mô phỏng theo. Tình trạng này dẫn đến việc trùng lắp đề tài, công thức hoá và khái niệm hoá mà sáng tác văn học nên tránh.

   Mang tiếng là truyện ngắn mà nội dung thì không ngắn, đó là vấn đề khá phổ biến. Viết về nhân vật nhất định là viết “truyện”, viết về sự kiện chắc chắn là viết “sử”. Theo đuổi cái gọi là “hoàn chỉnh”, “phong phú” và “sâu sắc” dẫn đến kết quả là “truyện ngắn” mà không ngắn. Một vấn đề khác cũng quan trọng đó là những năm gần đây sức mạnh tư tưởng của truyện ngắn đã giảm sút. Có một số nhà văn tự cảm thấy cần phải né tránh phản ánh những vấn đề gay gắt của cuộc sống, theo đuổi cái gọi là “xa lánh chính trị, càng xa càng tốt” và “câu chuyện không có năm tháng”. Điều này làm cho sức mạnh tư tưởng của truyện ngắn mềm yếu. Nếu không kịp thời khắc phục thì truyện ngắn của thời kì mới không đạt được kết quả cao như mọi người mong đợi…

  1. 3.      NHỮNG NỘI DUNG TIÊU BIỂU ĐƯỢC PHẢN ÁNH TRONG TRUYỆN NGẮN ĐƯƠNG ĐẠI TRUNG QUỐC

Thứ nhất, đó là lên án những “vết thương” do ảnh hưởng của “Bè lũ bốn tên”, đề cập đến hoàn cảnh giáo dục và những quan niệm mới về con người. Tiểu biểu cho nội dung này là truyện Chủ nhiệm lớp của Lưu Tâm Vũ. Truyện nói lên sự ảnh hưởng dai dẳng của độc tố mà “Bè lũ bốn tên” đã gieo vào tâm trí của thế hệ trẻ làm họ suy nghĩ lệch lạc và thậm chí tha hoá, đồng thời truyện cũng đề cao trách nhiệm của nhà giáo dục trong việc cải tạo tâm hồn, thanh lọc trí óc cho lớp thanh niên lệch lạc ấy bằng một trách nhiệm lớn lao và tấm lòng cao cả. Hay đó là truyện Vết thương của Lưu Tân Hoa, truyện đã nêu bật lên sự ảnh hưởng nặng nề và sự phân biệt nghiệt ngã mà con người đã chịu từ nọc độc do “Bè lũ bốn tên” để lại. Họ không thể chối bỏ quá khứ, bị cho là phản bội (dù là nhiệm vụ hay bị hiểu lầm đi chăng nữa) và phải chịu sự khinh rẻ, đề phòng của mọi người. Hay đó là truyện Bảo vệ anh đào của Cừu Sơn Sơn nói về tấm lòng hi sinh cho sự nghiệp giáo dục, tất cả vì học sinh thân yêu, quyết không để sự bất công, dốt nát ảnh hưởng đến thế hệ sau. Hay đó là sự chiêm nghiệm về cuộc sống của nhà văn nặng nghiệp văn chương, muốn hết lòng thực hiện lý tưởng nhưng những quan niệm lỗi thời đã kìm hãm không cho những khát vọng nghệ thuật bay cao bay xa. Nhưng chung nhất vẫn là sự ý thức mạnh mẽ trách nhiệm của bản thân cùng lòng yêu nước thiết tha, muốn dùng hết sức lực và tài năng phục vụ tổ quốc, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.

Thứ hai, đó là những truyện viết về những mối quan hệ của xã hội, cộng đồng, vấn đề cải tạo những mối quan hệ ấy theo chiều hướng tốt đẹp, làm ngời sáng tình người với nhau. Đồng thời cũng nêu lên được những giá trị truyền thống tốt đẹp cần phải được gìn giữ. Những truyện Chim phóng sinh của Hoàng Mỹ Hoa, Lá thư tình của Cố Công, Kính của Giả Bình Ao là những suy ngẫm, trăn trở về giá trị truyền thống ngày càng bị mai một trong xã hội ngày nay. Sự phóng túng của lớn thanh niên, thói đạo đức giả tạo được che đậy đến nực cười hay sự lạc lõng của lớp người đi trước giữa cảnh xa hoa dị thường của lối sống hiện đại hoá điện cuồng đã làm cho người đọc phải gấp trang sách lại để suy gẫm. Đó như những tiếng chuông cảnh tỉnh con người hãy quay về cội nguồn để gìn giữ những giá trị tốt đẹp vốn có. Những truyện như Đinh hương tháng Mười của Vương Tùng, Song cầm tế của Lương Hiểu Thanh, Lá phong của Vương Mông thì cũng những vấn đề trên nhưng các tác giả đề cập đến có phần thẳng thiết và da diết hơn bằng những triết lí sâu sắc lay động lòng người, kết hợp với bút pháp tượng trưng đầy ý nghĩa biểu cảm. Đề tài những người nông dân cũng được đề cập đến một cách chân thật và đầy ý nghĩa giáo dục, sự cảm phục cùng lòng yêu quí đã trở thành điểm nhấn cho những tác phẩm này. Chúng ta như được hiểu thêm về đời sống cơ cực của những người nông dân, hơn thế nữa còn thấy được ở họ vẻ đẹp tâm hồn đáng trân trọng. Những truyện ngắn về người nông dân của Giả Bình Ao là những truyện như thế. Hắc Thị, Thiên Cẩu, Triền núi hẹp đều là những thiên truyện cảm động về những người lao động thật thà, mộc mạc nhưng thanh cao thuần khiết. Trên nền phong cảnh hùng vĩ của núi non hay bạt ngàn của đồng lúa xanh mơn mởn, chân dung của những người lao động vẫn hiện lên sừng sừng và tỏa sáng nơi tâm hồn trong trẻo, cao đẹp, soi rọi cho những ước mơ cháy bỏng, khát vọng tự do, được là chính mình, sống bằng năng lực và tình yêu của bản thân mình.

Thứ ba là những truyện có nội dung phản ánh cuộc sống và sự khát khao tình cảm của con người thời hiện đại. Đây là những câu truyện nhẹ nhàng, trầm lắng và sâu sắc. Những câu chuyện rất đỗi đời thường, xảy ra hằng ngày trong đời sống. Đó là truyện Nhà văn và thiếu nữ của Triệu Quảng Tồn, Chào em, Tiểu Mai của Vương Quân, San San và Sa Sa của Nhiêu Kiến Trung, Đoá hồng cuối cùng của Từ Tuệ Phấn – những câu chuyện tưởng chừng bình thường nhưng đó lại hiện thực của cuộc sống mà hằng ngày chúng ta vô tình hay hữu ý đã bỏ quên mất. Những cảm xúc bình thường nhất cũng tạo nên những vẻ đẹp tự nhiên nhất. Những câu chuyện trên như những bài tình ca êm đềm, thơ mộng tạo sự đồng cảm với người đọc. Thêm vào mảng nội dung này còn có những câu truyện về những thân phận của tình yêu. Họ yêu nhau thật lòng nhưng vì nhiều lý do, mà áp đảo nhất là sự môn đăng hộ đối – sự phân biệt nghiệt ngã giữa giàu và nghèo làm cho tình yêu của họ thật buồn và đầy bi kịch. Tiêu biểu cho những mối tình ngang trái ấy là truyện Hai vé xem phim của Khuyết Danh, Chuông gió của Lưu Quốc Phương. Nếu ở trên là những bản tình ca sâu lắng, lãng mạn của những chuyện hằng ngày trong cuộc sống bộn bề này thì các thiên truyện ở dưới như những khoảng lặng buồn của bản tình ca trắc trở phân li làm cho chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động. Còn truyện Thời đại ảo của Ngô Huyền như một tiếng chuông gióng lên cảnh báo con người trong thời đại khoa học kỹ thuật. Khi mà máy móc dần thay thế con người thì sự ảo ảnh mộng mị của thế giới ảo sẽ làm con người ta xa rời cuộc sống, biến ta thành môn đồ sùng tín đến mê muội không tìm ra lối thoát. Chính vì thế ngày nay tâm thế và phương châm sống của con người đã phần nào bị “ảo hoá”. Trong cuộc sống, con người không thể chỉ chạy theo ảo tưởng mà quên đi hiện thực, phải biết chọn lọc những tác động để không bị sa vào thời đại ảo một cách mù quáng, tỉnh táo và ý thức là luôn luôn cần thiết và con người càng ngày càng phải thận trọng với những phát minh của mình. 

Trên đây là những nội dung tiêu biểu của một số truyện ngắn đương đại Trung Quốc. Tuy chưa có điều kiện tìm đọc thêm và vì tư liệu quá đồ sộ nên chúng tôi chỉ đi vào một số truyện tiêu biểu. Nhưng thiết nghĩ qua những thiên truyện này chúng ta phần nào thấy được xã hội Trung Quốc đương thời về bối cảnh cuộc sống cũng như tâm tư tình cảm của con người Trung Quốc hiện nay.

Ở đây chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu thể loại truyện ngắn Trung Quốc đương đại với sự chọn lọc một số truyện tiêu biểu. Nếu như tiểu thuyết là mảnh đất có khả năng bao trùm cả cuộc đời số phận nhân vật một cách chi tiết tỉ mỉ nhất thì với đặc trưng thể loại – truyện ngắn chỉ là những lát cắt cuộc đời nhân vật, những khoảnh khắc của tâm hồn trước hiện thực nên dung lượng ngắn gọn, hạn chế. Cho nên, cái “hồn” của truyện ngắn hay sự bộc lộ tư tưởng của tác giả trước các hiện thực của cuộc sống được thể hiện chủ yếu qua các nhân vật. Vì thế cách xây dựng hình tượng nhân vật để bộc lộ được cái nhìn của tác giả cũng như đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội đi liền với sự thành công của tác phẩm truyện ngắn. Với một sự phản ánh hiện thực một cách kịp thời mà súc tích thì các hình tượng nhân vật trong các truyện ngắn Trung Quốc đương đại cũng rất đặc sắc, đây cũng là đề tài mà chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu qua các hình tượng nhân vật cụ thể. Đó là hình tượng nhân vật trí thức, hình tượng nhân vật nông dân và hình tượng nhân vật lao động khác.

LƯỢC ĐỒ TÁC PHẨM VÀ CHỦ ĐỀ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 3

TÌM HIỂU HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG

MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN TRUNG QUỐC ĐƯƠNG ĐẠI

 

1. HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRÍ THỨC

1.1.       NHỮNG NHÀ GIÁO DỤC CHÂN CHÍNH, HẾT LÒNG YÊU NGHỀ

MẾN TRẺ

         Là những nguời trí thức gắn với sự nghiệp “trồng người” – nghề cao quí trong các nghề cao quí – vì vậy họ là những con người rất nhạy cảm với những thay đổi của đời sống xã hội, những bất cập của cuộc đời. Họ luôn đứng ra nhìn nhận đúng đắn hiện thực và tích cực tìm hướng cải tạo, khắc phục. Có thể thấy được những nhà giáo dục chân chính, hết lòng yêu nghề mến trẻ đó qua nhân vật thầy Trương Tuấn Thạch trong truyện Chủ nhiệm lớp của Lưu Tâm Vũ. Thầy toả sáng trong tác phẩm với tấm lòng cao đẹp, tất cả vì học sinh thân yêu và thầy cũng gây dựng nên niềm tin giáo dục, cải tạo con người thành công dân tốt để xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp. Độc tố do ảnh hưởng của “bè lũ bốn tên” gây ra đã còn di chứng dai dẳng đến cả những thanh niên vốn là những mầm xanh của tương lai đất nước, đó là Tống Bảo Kì bị tha hoá đến côn đồ buông thả, hay đó là Từ Huệ Mẫn nghiêm chỉnh, công tư phân minh đến mức cứng nhắc lệch lạc … Những “vết thương” nặng nề đó làm thầy Trương Tuấn Thạch vô cùng đau xót và hận bọn “Bè lũ bốn tên” biết bao nhiêu! Câu chuyện thật cảm động và đầy tình người toát ra từ trái tim giàu yêu thương và sự ý thức nghề nghiệp một cách sâu sắc. Hậu quả mà “Đại Cách mạng văn hoá” để lại thật là khủng khiếp, những ngừơi trẻ tuổi tương lai đã bị nhiễm độc khá nặng, nhưng nếu chung tay cải tạo họ bằng cả tấm lòng thì niềm tin chiến thắng của thầy Trương Tuấn Thạch là điều có thể hoàn toàn thành hiện thực. Sức mạnh của con người đến từ trái tim nhân ái và cả lòng yêu tổ quốc thiết tha:

 Anh thấy, anh yêu tổ quốc của chúng ta hơn bao giờ hết, nghĩ đến tương lai, tương lai rực rỡ của nó, nghĩ đến khi kết thúc thế kỉ này và bắt đầu thế kỉ sau, cảnh giới mê người của qui mô “bốn hiện đại hoá”, anh nảy sinh một tình cảm mãnh liệt không cho phép bất cứ ai bóp chẹt tương lai của tổ quốc! Anh nghĩ đến chức trách của ḿnh – người giáo viên nhân dân, chủ nhiệm lớp, cái anh gây trồng không chỉ là một số học sinh, một số bông hoa, đó rõ ràng là tương lai của tổ quốc, đó chính là tương lai làm cho dân tộc Trung Hoa trên mảnh đất 960 vạn kílômét vuông này tiếp tục cường thịnh, phát triển, sừng sững đứng giữa rừng dân tộc thế giới. Anh cảm thấy hơnlúc nào hết anh càng hận thù sâu sắc sự bán nước hại nòi của “Bè lũ bốn tên” họa nước ương dân này. Không chỉ thấy nguy hại hữu hình về kinh tế quốc dân “bè lũ bốn tên” gây nên mà còn thấy sự ô uế vô hình mà chúng gieo rắc lên ức vạn linh hồn nhân dân; không chỉ chú ý đến “Bè lũ bốn tên” gây nạn ra một loạt những xấu xa kiểu Trương Thiết Sinh “đầu mọc sừng, thân đâm gai”, mà còn chú ý đến bao nhiêu “hình trạng không bình thường” như Tống Bảo Kì! Hơn nữa thậm chí trên người những đứa trẻ bản chất thuần hậu như Tạ Huệ Mẫn đều có dấu ấn đen của chính sách ngu dân tàn khốc của “Bè lũ bốn tên” chụp lên! “Bè lũ bốn tên” không chỉ chà đạp lên hiện tại của dân tộc Trung Hoa, mà chúng còn giết hại tương lai của dân tộc Trung Hoa. Càng hận thù với cái xấu xa càng tăng thêm tình yêu với nhân dân; càng yêu nhân dân lại càng thêm hận thù với cái xấu xa. Khi yêu và ghét cùng đan xen, con người càng thêm dũng khí để đấu tranh vì chân lí và sẽ có sức mạnh vô song không sợ hi sinh để dành thắng lợi.      

 Những lời tự nhủ của thầy Trương Tuấn Thạch cũng là thông điệp mà tác giả Lưu Tâm Vũ muốn gửi gắm đến người đọc hôm nay. Tác phẩm đã thể hiện được tiếng nói tố cáo đanh thép về hậu quả do “Bè lũ bốn tên” gây ra và cả lời kêu gọi trách nhiệm hành động ở những nhà giáo dục nói riêng và mọi người dân Trung Hoa nói chung. Lưu Tâm Vũ đã bắn một phát súng lệnh thức tỉnh mọi người đồng thời đó cũng là tiếng lòng da diết “Hãy cứu lấy những đứa trẻ đang bị “Bè lũ bốn tên” hủy hoại cả tương lai”.

Cảm nghĩ cũng như phương châm hành động vì mục đích cao cả là cải tạo – đào tạo những con người mới xây dựng đất nước đẹp giàu của thầy Trương Tuấn Thạch thật đáng quí và cao đẹp biết bao, đó như tấm gương sáng tu dưỡng đạo đức và hết lòng vì sự nghiệp trồng người mà mỗi người trong chúng ta phải ghi nhớ và phải thực hiện ở cả hiện tại và tương lai:

  Hiện nay, chúng ta không chỉ tăng cường công tác dạy trên lớp để học sinh nắm vững được tri thức văn hoá khoa học, đạt được sự phát triển toàn diện về đức, trí, thể; không chỉ cần tiếp tục công việc hướng dẫn chúng học công nông nghiệp, kết hợp lý luận với thực tiễn mà hơn nữa còn hướng dẫn chúng chú ý đến thế giới rộng lớn, khiến chúng nảy sinh hứng thú đối với toàn bộ văn minh loài người, có năng lực phân tích tốt, từ đó hình thành lớp người có sức mạnh kế tiếp Cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Cùng thầy Trương Tuấn Thạch, chúng ta có quyền tin tưởng vào con đường phía trước nhất định thắng lợi, những con người có tâm hồn đẹp sẽ làm nên một tương lai đẹp: “Lúc này, gió xuân mang theo hương hoa tỏa ngát, sao trời nhấp nhánh vui cười như khẳng định và khuyến khích cách nghĩ tốt đẹp của thầy Trương Tuấn Thạch”.

Truyện Bảo vệ Anh đào của Cừu Sơn Sơn thì đặt hoàn cảnh giáo dục ở một phương diện khác. Sự giáo dục phải đấu tranh và phủ định dốt nát, sự vô lí của những con người lạc hậu nghèo nàn. Những người dân làng thất học thiếu hiểu biết đã hành động vô lí, ngang nhiên hái trộm những quả anh đào ở trường tiểu học. Dù biết chuyện nhưng vì phần lớn họ là cha mẹ học sinh nên thầy hiệu trưởng già đành nhắm mắt bỏ qua không muốn ảnh hưởng đến hoạt động của trường và cả danh hiệu lao động tiên tiến ngành giáo dục của ông nữa. Nhưng mọi chuyện đã thay đổi hoàn toàn khi ông hiệu trưởng già về hưu và một cô hiệu trưởng trẻ được điều về thay thế. Bằng sự nhiệt thành của tuổi trẻ, cô muốn cải cách toàn bộ nền nếp trường, trong đó có việc bảo vệ những quả anh đào ngon ngọt để làm quà phấn đấu cho học sinh của mình. Nhưng đó chỉ là mơ hão khi mà hằng năm cứ đến mùa là anh đào lại bị hái trộm. Cô hiệu trưởng trẻ vô cùng bất bình đã cho xây tường cao để bảo vệ, nhưng vẫn vô hiệu, dân làng vẫn trèo vào hái trộm tan tành. Thậm chí vô lí hơn, họ còn đến trường ăn vạ khi một người vì trèo tường hái trộm mà té gãy chân. Hoạt động của trường bị đảo lộn và cô hiệu trưởng trẻ rất đỗi thất vọng chán chường. Cuối cùng cô bị áp lực số đông và không ai giúp cô giành công bằng cả, tuy các lực lượng lãnh đạo như đồn trưởng đồn công an hay vị hiệu trưởng già dày dặn kinh nghiệm đều thấu hiểu lí lẽ nhưng các vị này đều khuyên cô nên nhân nhượng vì cái trường này, vì học sinh của cô. Trong buổi tiệc rượu “tạ lỗi” với dân làng do trường xuất tiền chiêu đãi, cô hiệu trưởng trẻ suy nghĩ mọi chuyện và uống rượu đến say khướt mà mắt thì đầm đìa nước. Trong lúc mất định hướng cô đã tìm một chiếc rìu sắc và đến dưới các gốc anh đào điên cuồng hạ từng cây… Nhưng có một kết cục khác, đó là khi cô hiệu trưởng trẻ đến dưới những gốc anh đào với cây rìu sắc thì những học sinh của cô đến đó nắm tay nhau kết thành hàng rào quanh gốc cây và quyết tâm bảo vệ những cây anh đào đó, chúng hứa với cô sẽ thu hoạch được những quả anh đào vào năm sau với một quyết tâm mạnh mẽ và chân thành nhất. Cô hiệu trưởng đứng sững người và sau đó quăng rìu ôm lấy chúng… Đây mới là kết cục đúng đắn vì sau đó trước cổng trường đã treo một tấm biển to: “ Trường tiểu học Anh đào”. Tại sao chúng ta lại không tin tưởng kết cục này, tác giả Cừu Sơn Sơn qua nhân vật “tôi” thì bảo rằng: “Dù thế nào thì tôi vẫn tin bởi người nói kết cục đó là một giáo viên. Tôi nghĩ cô còn hiểu lũ trẻ hơn cả tôi”. Tình thầy trò thật cảm động! Cô hiệu trưởng trẻ giờ đây chắc đang nở những nụ cười thật tươi đầy kiêu hãnh bên cạnh lũ học trò đang vây quanh với những cặp mắt tròn xoe dễ thương cũng đang nhìn cô cười. Thầy trò cô đang kể lại câu chuyện trên cho tác giả nghe đầy hứng khởi và tự tin.

Nhân vật cô hiệu trưởng trẻ tuy không rõ tên tuổi nhưng cô đại diện cho những nhà giáo dục đầy nhiệt huyết trên cuộc đời này. Cô hành động vì lòng yêu nghề, yêu người sâu sắc. Tình thầy trò thiêng liêng đã giúp cô vượt qua tất cả với những con tim bao la tình yêu thương đã cùng chung một nhịp thương yêu. Tình cảm đó sẽ xua tan mọi nghi ngờ, thậm chí có thể khắc phục được những khó khăn để tỏa sáng trong môi trường sư phạm. Lòng yêu nghề, yêu người cùng đức tin bền vững sẽ giúp người giáo viên tạo dựng được những giá trị tâm hồn cao quí và ươm mầm những thế hệ tương lai trưởng thành lành mạnh. Sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp “trồng người” cao quí vì lẽ đó. Được giáo dục toàn diện con người sẽ phát triển đầy đủ cả thể chất lẫn tinh thần và sẽ trở thành người hữu ích cho xã hội. Cũng như những học sinh ở trường tiểu học Anh đào với lòng đoàn kết quyết tâm, yêu quí thầy cô nhất định sẽ trở thành những công dân có ích, là lực lượng mới xây dựng xã hội hôm nay. Đó là dấu hiệu đáng mừng, hoàn toàn trái ngược với cho mẹ chúng – những người dân quê dốt nát, cố chấp không học hành nên chẳng biết nói gì đến lẽ phải cả. Qua đó ta thấy được sự tin tưởng của tác giả đối với sự nghiệp giáo dục, cả lòng yêu mến kính phục những người làm sự nghiệp “trồng người”cùng trái tim đẹp đẽ thanh cao của họ. Tác giả Cừu Sơn Sơn cũng đã lên tiếng phê phán những kẻ quê mùa dốt đặc cán mai, không biết cầu thị, không được học hành đến nơi đến chốn và đã trở nên ngang tàng vô lí. Cuối cùng, tác giả khẳng định một lần nữa tấm lòng yêu nghề, hi sinh tất cả vì học sinh thân yêu mà không hề màng gian nan thử thách chắc chắn sẽ chiến thắng. Những nhà giáo dục chân chính nói chung và cô hiệu trưởng trẻ nói riêng sẽ đào tạo được những thế hệ mai sau ưu tú để phục vụ đất nước, đồng thời tạo ra những giá trị tinh thần tốt đẹp đẩy lùi sự ngu dốt, u mê… Tác giả tin thế và chúng ta cũng có quyền tin chắc chắn là như thế!

Hình tượng nhân vật trí thức là nhà giáo dục với nhân cách cao đẹp và lòng yêu thương con người qua tìm hiểu trên chúng ta có thể nhận thấy họ được các tác giả xây dựng rất thành công và có sức cảm động sâu sắc đối với độc giả. Hình tượng nhân vật trí thức đều là những con người có thật ngoài cuộc sống nên rất hiện thực, họ đều có tấm lòng yêu thương con người dào dạt, hết lòng yêu quí quê hương đất nước của mình. Hình tượng nhân vật trí thức là nhà giáo dục vì thế mang ý nghĩa nhân văn cao cả và có sức lay động tâm hồn độc giả một cách sâu rộng.

1.2. VĂN NGHỆ SĨ VỚI TẤM LÒNG TRÂN TRỌNG CÁI ĐẸP VÀ HI SINH VÌ NGHỆ THUẬT

Hình tượng nhân vật là văn nghệ sĩ cũng chiếm vị trí không ít trong các thiên truyện ngắn Trung Quốc đương đại. Là những người có tâm hồn đa sầu đa cảm, họ cũng rất dễ bắt nhịp được với những diễn biến đổi thay của cuộc sống và trang trải lòng mình một cách tha thiết nhất. Hình tượng nhân vật nhà giáo dục thì thiên về xu hướng hành động, nhưng hình tượng nhân vật văn nghệ sĩ thì thiên về chiêm nghiệm để rút ra ý nghĩa từ bản chất cuộc sống bằng một tâm hồn thơ mộng nhưng cũng đầy khắc khoải. Tiêu biểu cho hình tượng nhân vật văn nghệ sĩ là truyện Song cầm tế của Lương Hiểu Thanh, hình tượng được xây dựng trong tác phẩm là những người nghệ sĩ violon tài ba xuất chúng hết lòng hi sinh cho nghệ thuật nhưng cuối cùng lại rơi vào bi kịch thảm thương. Người ta thường nói sâu độc nhất là lòng người, sự ganh ghét đố kị và không chân chính của lòng người sẽ đẩy con người vào vực thẳm không lối thoát mà thôi. Hãy sống cho ra sống, sống bằng trái tim dào dạt tình người và hãy dùng nó cứu lấy cái đẹp, cứu lấy nghệ thuật.

Câu chuyện của Lương Hiểu Thanh quả không hổ là bản tuyên ngôn nghệ thuật hiện đại. Truyện kể về hai cây đàn violon hàng đầu với âm chất tốt như nhau được tạo ra từ bàn tay của người con trai một bậc thầy làm đàn. Anh làm chúng từ hai cây gỗ tốt nhất do chính tay cha mình nâng niu chăm chút và đó cũng là di nguyện của ông để lại cho anh trước khi qua đời. Anh con trai gửi hai cây đàn ở cửa hàng để tìm người tri âm và sẽ biếu tặng cho họ nếu họ thật sự biết được giá trị ngang nhau của chúng mà không hề có một sự so sánh nào. Và anh đã toại nguyện trao tặng hai cây violon quí giá cho hai người nhạc sĩ tri âm vì họ không hề cũng không muốn có một sự so sánh nào giữa hai cây đàn tuyệt hảo đó. Họ cùng hợp tấu trong bất kể trường hợp nào và bất kể ở đâu, tiếng tăm của họ bay khắp mọi nơi. Người ta ca tụng họ, tâng bốc họ, “nhưng tâm lí người đời có chút quái lạ, hơn nữa, lại dễ dàng đổi thay. Lòng người thích sự chia lìa, có lúc lại cầu mong sự dịu dàng”, và mọi người bắt đầu so sánh tài năng giữa họ một cách nghiệt ngã để xem ai phong độ hơn, “khi lòng người đã phát hiện ra cái đẹp không toàn vẹn, thật ra cũng dễ chịu như khi ca ngợi cái đẹp ban đầu”, và lòng người xôn xao tranh chấp, báo giới rộn ràng dư luận… Hai người nghệ sĩ đã cũng không thể hợp tấu nữa và họ cũng không thể không chia tách mỗi người một hướng. Nhưng sự so sánh ác nghiệt vẫn bám riết lấy họ mà sự thị phi của dư luận là phương tiện thực hiện hữu hiệu nhất. Sự chia lìa của họ làm hai cây violon cũng phân li, tưởng chừng như chúng vô tri nhưng chúng cũng buồn thương và nhớ nhau khôn xiết. Hai người nghệ sĩ đáng thương cũng dần dần trở nên ích kỉ, ghen ghét lẫn nhau. Cuối cùng thật bi thảm, hai người họ – một người thì hụt hẫng tột độ đến nỗi nhảy lầu tự tử, một người thì bị bệnh tâm thần, miệng cứ lẩm bẩm một câu đến tội nghiệp “Vì sao? Vì sao?”.

Anh con trai người thợ đàn tìm lại được hai cây violon của mình đã mục nát và làm nhà cho lũ chuột nơi nhà kho của một cửa tiệm nọ. Anh chực trào nước mắt trong dòng hoài niệm và đau lòng vì đã không thực hiện được trọn vẹn di nguyện của người cha đáng kính, ông những mong tạo ra hai cây đàn tốt như nhau để giáo dục một bài học quí cho con người: “Trên đời này cái đẹp của các vật khác nhau là giống nhau. Tại sao lại phải so sánh cái đẹp với cái đẹp. Đó là sự hẹp hòi của lòng người mà dẫn tới sự ngu dốt!”. Đám trẻ bên đường ngân nga câu hát như một lần nữa xoáy vào lòng anh và cũng là xoáy vào lòng người đọc: “Trên đời chỉ có mẹ thương con, con không mẹ như…” Sẽ ra sao nếu trên đời thật sự “chỉ có” mẹ thương con, lúc ấy tình người, sự hòa hợp của lòng người sẽ ra sao và hơn nữa là về mặt nghệ thuật: sự trân trọng và tôn vinh cái đẹp mà không hề và không thể có sự so sánh tính toan lại được dự báo mong manh đến thế sao? Bằng bút pháp tượng trưng, Lương Hiểu Thanh đã làm cho tác phẩm giàu hình ảnh và ý nghĩa. Qua hình tượng nhân vật văn nghệ sĩ là hai người nghệ sĩ violon, ta thấy được cả một niềm trăn trở và sự suy nghĩ về cái đẹp trong nghệ thuật, một khi cái đẹp ấy được phản chiếu qua lăng kính của lòng dạ con người thì mức độ trong trẻo của lăng kính ấy phải như thế nào là điều mà con người phải điều chỉnh cũng như phải ý thức được để hào quang tỏa ra từ cái đẹp sẽ mãi trường tồn,  đấy mới là điều quan trọng.

Truyện Mắt đêm của Vương Mông lại xây dựng hình tượng nhân vật là nhà văn đầy nhiệt huyết nhưng cũng đầy trăn trở trước thực trạng xã hội thực dụng, hỗn độn đến xô bồ do hệ quả của nền kinh tế thị trường. Đó là Trần Cảo, một nhà văn hăng hái sáng tác, nhưng do một số sáng tác trước kia lúc anh còn trẻ đã bị người ta xem là quá đáng nên anh phải chịu lưu đày nơi thôn dã hẻo lánh suốt hai mươi năm. Nay anh trở lại phố thị thì đã có quá nhiều đổi khác, muốn tìm gặp người cần gặp để giúp sữa chửa nông cụ cho thôn quê hiện giờ của mình thì anh lại vô cùng thất vọng chán chường trước hành động đòi tiền đúc lót trắng trợn đến vô tâm của kẻ có quyền. Con người nghệ sĩ đầy tình cảm trong anh cảm thấy lạc loài, chơi vơi giữa lòng đô thị, nơi mà những con người “văn minh” miệng thì sáo rỗng “dân chủ” mà lại không hiểu rõ dân chủ là người dân phải thật sự được những cái gì. Goethe đã nói mọi lí thuyết thì xám xịt còn cây đời mãi mãi xanh tươi, cho nên đối với Trần Cảo, anh chỉ có một liên hệ đơn giản mà thấm thía:

…Dân chủ và đùi cừu ướp không mâu thuẫn với nhau đâu. Không có dân chủ thì thịt cừu đưa đến mồm cũng bị người ta cướp mất. Nhưng nếu không giúp người dân ở thị trấn hẻo lánh có thật nhiều thịt cừu ngon thì dân chủ chỉ là những lời trống rỗng xa hoa.

Anh nghĩ rằng những lời lẽ bác học sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu không có hành động thiết thực đáp ứng nhu cầu và cải thiện đời sống cho nhân dân lao động. Chính vì vậy, Trần Cảo tự nhận xét về mình: “một người cứ chú ý quá nhiều đến thịt cừu thì kĩ xảo viết truyện sẽ kém sắc sảo, nhưng hiểu được tính cấp thiết của thịt cừu là một tiến bộ to lớn, là một thu hoạch lớn”.

Mắt đêm là câu chuyện mang tính chất “dòng ý thức” miên man dàn trải, và cũng chính vì vậy đã mang lại một sự băn khoăn dai dứt triền miên cho người đọc khi nhập vào dòng suy tư của nhân vật để cùng trăn trở, cùng suy ngẫm. Nhân vật Trần Cảo là một người sống vì lí tưởng, anh viết văn để cống hiến hết mình, bằng cả lòng tâm huyết mà phải chịu nhiều lận dận. Vùng quê yên ả thanh bình đã làm phẳng lặng tâm hồn và xoa dịu vết thương lòng của Trần Cảo, nhưng khi anh trở về với thành phố rực rỡ ánh đèn thì mọi sự đều xa lạc hẳn, anh không còn (hay không thể) hiểu nổi lòng người, hiểu nổi cuộc đời. Con người ta sống với nhau lại hời hợt và thực dụng đến thế sao? Đồng tiền lại có sức mạnh ghê gớm đến thế sao? Mọi người mãi chạy theo xu hướng hiện đại xa hoa mà bỏ quên những giá trị truyền thống tốt đẹp hay sao?… Tất cả đã làm cho Trần Cảo phải suy nghĩ ưu tư và có gì đó thật sự chán nản. “Hai mươi năm long đong, hai mươi năm cải tạo đã dạy cho Trần Cảo bao điều quí báu, nhưng đồng thời cũng làm mất đi những cái đáng ra không nên mất”, anh đã gần gũi với những người dân lao động giúp anh hiểu họ và yêu mến họ, mong ước làm giàu có đời sống tinh thần và cải thiện đời sống vật chất của họ, kêu gọi mọi người nhất là tầng lớp thanh niên chung tay thực hiện thật tốt mục tiêu ấy bằng cả lòng nhiệt huyết và cả lòng tin tưởng. Nhưng hai mươi năm cải tạo cũng cho anh thấy rõ sự ích kỉ nhỏ nhen của những con người hám lợi, vì tiền mà quên đi tình nghĩa. Dù sao, với tấm lòng yêu đời yêu người, với một trái tim dạt dào yêu thương chân thành Trần Cảo vẫn “yêu ánh đèn, yêu những người thợ đi làm ca đêm, yêu dân chủ, yêu tiền thưởng và đùi cừu ướp…”.Câu chuyện khá buồn qua tâm trạng của nhân vật Trần Cảo. Nhưng đồng thời qua nhân vật tác giả cũng nêu lên lòng tin trong không khí lạc quan cuối tác phẩm. Qua câu chuyện, chúng ta như nhận được một thông điệp tha thiết: hãy sống có ích và phải biết giữ gìn “thiên lương” tốt đẹp, chấp cánh cho những ước mơ khát vọng bay cao bay xa trên bầu trời nghệ thuật bằng một trái tim đồng cảm, dám dấn thân hành động và hơn hết là phải đầy lòng yêu thương, tin tưởng vào con người.

Cũng là truyện xây dựng bởi hình tượng trí thức là nhà văn, nhưng ở truyện Nhà văn và thiếu nữ của Triệu Quảng Tồn thì nhẹ nhàng hơn, mang đậm tính lãng mạn nhưng rất đời thường. Nhà văn là người tìm tòi phát hiện ra cái đẹp trong cuộc sống thì chính họ cũng phải là người giữ gìn, tôn vinh cả cái đẹp trong tâm hồn. Truyện kể về chuyện tình lãng mạn của một nhà văn ở tận trên phương Bắc và một thiếu nữ mãi dưới Giang Nam, tuy cách xa nhau ở hai đầu đất nước, chỉ trao đổi qua thư từ nhưng chất chứa trong đó là cả một tình yêu nồng nhiệt. Hơn một lần họ cùng muốn được gặp tận mặt nhau nhưng đều không dám dù cả hai đều đang đứng trước cửa nhà nhau, nhưng tuyệt nhiên không có một tiếng gõ cửa nào vang lên. Cuối cùng, họ chọn giải pháp “cảm thấy không gặp vẫn hơn”, vẫn giữ trong lòng một tình yêu thắm thiết nên họ không muốn phá tan cái ranh giới giữa tưởng tượng và thực tế theo nghĩa tích cực, yêu nhau chân thành qua con tim chứ không vì vẻ đẹp bề ngoài, cái đẹp trong tâm hồn mới đáng trân trọng chứ nét đẹp bên ngoài rốt cuộc chỉ là phù phiếm mà thôi, đó cũng là điều làm nên một tình yêu bền vững.

“Cái đẹp sẽ cứu rỗi thế giới” (Dostoievky) đó là câu nói nổi tiếng của nhà văn người Nga được mọi người tâm đắc. Hình tượng nhân vật trí thức trong các truyện ngắn đương đại Trung Quốc đã phần nào một lần nữa chứng minh hùng hồn cho câu nói ấy. Họ luôn khát khao tìm tòi cái đẹp phục vụ nghệ thuật và thanh lọc tâm hồn con người, cái đẹp của tình người của sự yêu thương lẫn nhau. Dù là hình tượng nhân vật nhà giáo dục hay hình tượng nhân vật văn nghệ sĩ thì tất cả họ đều có lòng tin vào cái đẹp do chính con người tạo ra để cải tại thế giới và dĩ nhiên phải xuất phát từ cái đẹp bên trong thì con người mới có ý thức bải vệ cái đẹp tự nhiên bên ngoài. Nhạy cảm với hơi thở cuộc sống cùng đức tin vào cái đẹp sẽ cứu rỗi con người thì những người trí thức ấy sẽ nhiệt tình dấn thân hành động và tạo được niềm tin mạnh mẽ ở sức mạnh con người, ở tình yêu thương con người. Thế thì ở đây chúng ta cũng có thể nói rằng: tình yêu thương sẽ cứu rỗi con người trên thế giới này.

2. HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NÔNG DÂN

2.1. NGƯỜI NÔNG DÂN CHÂN CHẤT THẬT THÀ, CÓ TẤM LÒNG

CAO ĐẸP

Nếu như hình tượng nhân vật trí thức trong các truyện ngắn lấy bối cảnh ở chốn thành thị, nơi trung tâm để hoạt động vì tính chất nghề nghiệp hướng về đại chúng, thì hình tượng nông dân lại lấy bối cảnh ở chốn thôn dã hẻo lánh yên bình vì tính chất nghề nghiệp của họ vốn là làm đồng áng mưu sinh. Sau luỹ tre làng và những vạt lúa mơn mởn đung đưa hay giữa những sườn núi cỏ cây bạt ngàn, những người nông dân chân lấm tay bùn, mộc mạc giản dị đang sinh sống một cách thanh thản. Thiên Cẩu của Giả Bình Ao đã xây dựng thành công và chân thật những hình tượng nhân vật như thế. Nhưng trong cái yên ả của làng quê heo hút ấy cũng có biết bao thăng trầm của cuộc đời mà người nông dân nhiều khi phải mạnh mẽ về ý chí và cao đẹp về tinh thần mới vượt qua được và tiếp tục lao động tiến tới tương lai. Thiên Cẩu là hình tượng nông dân tiêu biểu cho ý chí và nét đẹp tinh thần ấy.

Thiên Cẩu là một nông dân khoẻ mạnh chân chất, hiền lành và có ý chí cầu tiến. Tuy phần nào còn thiếu hiểu biết nhưng anh đã sống và lao động bằng cả sự nhiệt huyết, bằng cả trái tim chân thành, chí tình chí nghĩa. Cái tên Thiên Cẩu cũng gắn với quá khứ phần nào lạ lùng của anh. Ba mươi sáu năm về trước, một người đàn ông ở thành này phải đi trốn bắt phu. Đúng vào đêm mười hai tháng chín – đêm nguyệt thực “thiên cẩu nuốt trăng”, những người đàn bà trong thành theo tập tục đem gậy cán mì ra sông khuấy nước, ca hát cho mãi đến khi trăng sáng lại để phá bỏ điềm gở là nếu “thiên cẩu nuốt trăng” thì những người xa quê sẽ gặp điều bất hạnh. Vợ người trốn phu cũng ra theo nhưng vừa đến bờ sông thì đau bụng dữ dội, đẻ đứa trẻ ngay trên bãi cát. Đứa trẻ ấy là Thiên Cẩu bây giờ.

Lớn lên một chút anh mồ côi cả cha lẫn mẹ nên phải tự mình làm lụng nuôi thân. Anh làm đủ mọi việc mà người ta cần một cách rất chăm chỉ và siêng năng lại tốt bụng giúp đỡ mọi người nên ai cũng quí mến. Trong thành lúc bấy giờ có bác thợ đào giếng tên Lý Chính nổi tiếng thạo nghề nhưng cũng là người khó tính và keo kiệt vào bậc nhất. Ông ăn nên làm ra từ nghề gia truyền của mình và không chịu nhận ai làm học trò cả. Cuối cùng Lý Chính mới chọn Thiên Cẩu học việc với mình. Thiên Cẩu một lòng theo thầy làm ăn, anh luôn là người phải gánh phần công việc nặng nhất trong khi Lý Chính thì nhẩn nha hưởng thụ, nhưng anh tuyệt nhiên không có một lời than vãn mà vẫn siêng năng làm việc. Thấy Thiên Cẩu ngày càng thạo việc, Lý Chính lo sợ anh sẽ giành đất làm ăn của mình nên đuổi Thiên Cẩu không cho anh theo học nữa. Thiên Cẩu buồn lắm nhưng vẫn ra đi tìm kế khác sinh nhai.

Trái ngược với Lý Chính, vợ ông là một người vừa đẹp người lại đẹp nết, phúc hậu và đoan trang. Vợ Lý Chính rất mến tình tình của Thiên Cẩu nên đối xử với anh rất tốt, bà là người đã đem lại cho Thiên Cẩu tình thương ấm áp trìu mến mà từ sau khi cha mẹ qua đời anh chưa từng được cảm nhận. Thiên Cẩu coi bà như nữ Bồ Tát trong lòng mình, hết lòng giúp đỡ bà và gia đình không nệ chi gian lao. Con của Lý Chính là Ngũ Hưng rất nghịch ngợm nhưng cũng rất quí chú Thiên Cẩu vui tính của mình.

Thiên Cẩu nghe theo lời khuyên của vợ thầy ra thành phố tìm việc làm ăn. Trải qua bao gian khó, thử thách nơi phố thị anh đã tìm được cách kiếm tiền kha khá: đó là bán búi rửa chén làm từ rễ cỏ hoàng mạch. Giờ đây, cuộc sống của Thiên Cẩu có phần thoải mái hơn nhưng anh vẫn tất bật với công việc. Anh vẫn không quên ơn nghĩa của người thầy Lý Chính, nên rảnh cứ ba, bốn ngày là lại qua nhà thầy thăm hỏi và giúp đỡ khi cần thiết. Lý Chính giờ đây thấy Thiên Cẩu khá giả nên cũng tay bắt mặt mừng.

Nhưng càng ngày, Lý Chính càng tỏ ra là một người độc đoán và keo kiệt. Ông bắt Ngũ Hưng phải nghỉ học làm việc giúp đỡ gia đình, vợ ông lên tiếng khuyên can thì bị ông mắng chửi đủ điều. Vì vậy, vợ Lý Chính tìm đến Thiên Cẩu nhờ anh khuyên giúp thầy nhưng chẳng ăn thua gì. Thiên Cẩu tuy buồn nhưng vẫn lặng lẽ giúp gia đình thầy khi thầy nhờ vả và luôn lo lắng, an ủi mẹ con Ngũ Hưng. Một hôm, khi đang cắt cỏ hoàng mạch trên sườn núi, Thiên Cẩu thấy vợ Lý Chính chạy lên báo tin dữ: Khi Lý Chính đang đào giếng thì giếng sập, Lý Chính bị đá đè lên người hiện giờ đang nguy cấp. Thiên Cẩu chạy như bay về thành. Anh nhảy xuống giếng ra sức cứu thầy, khó khăn lắm mới lôi thầy lên được, toàn thân thầy đầy máu. Qua mấy ngày đêm cấp cứu, tuy cứu sống được nhưng thầy anh đã bị liệt nửa người từ thắt lưng trở xuống và từ đó trở thành người tàn phế phải nằm liệt trên giường. Gia đình Lý Chính từ đó suy sụp và lụn bại. Vợ Lý Chính phải làm việc và lo toan cho chồng và cho cả gia đình đến hao mòn cả thân xác, suy sụp về tinh thần. Thiên Cẩu thì trước sau vẫn một lòng dốc tiền dốc sức hi sinh cả hạnh phúc của mình để lo cho gia đình thầy. Vợ thầy hết lời cảm kích và biết ơn nhưng vẫn khuyên anh đừng chỉ lo cho gia đình bà mà hi sinh hạnh phúc của chính mình. Thiên Cẩu không nghe một mực đòi giúp đỡ chu toàn cho thầy và gia đình. Anh bỏ ra về sau khi đã nói rõ lòng mình. Vợ thầy nước mắt lưng tròng nhìn theo.

Về phần Lý Chính, từ khi bị tai nạn tính tình ông thay đổi hẳn, khi nằm liệt trên giường, ông cảm thấy không có gì quan trọng cả ngoài những người thân yêu đang quan tâm hết lòng cho mình nên đã hiền hậu, độ lượng hơn trước rất nhiều. Lý Chính cùng vợ rất biết ơn Thiên Cẩu và rất xúc động trước tấm chân tình và sự chí tình chí nghĩa của anh. Hai người nói chuyện rất lâu sau khi Thiên Cẩu ra về, họ khóc rất nhiều và cuối cùng trong nước mắt người chồng ấy đã nói với vợ ý định của mình “tìm chồng để nuôi chồng”, người vợ sợ hãi nghe lời chồng nói và đau đớn vô ngần, bà chồm tới ôm chồng và cả hai người lại chìm ngập trong nước mắt.

Hôm sau, Lý Chính đem tâm sự của vợ chồng mình nói rõ với Thiên Cẩu khi vợ đã đi lên núi cắt cỏ. Thiên Cẩu nghe xong không nén khỏi đau và thầm nghĩ mà thương thầy, đưa ra một quyết định như thế không biết lòng thầy đã chảy bao nhiêu máu. Anh kiên quyết lắc đầu. Tuy sâu thẳm trong lòng, Thiên Cẩu đã yêu vợ thầy từ lâu, đó là một vị Bồ Tát thánh thiện nhân từ, nhưng đối với anh đó là một tình yêu trong sáng mang màu sắc tôn thờ, anh yêu ngây ngất nhưng biết chừng mực không bao giờ vượt qua khuôn phép. Anh tưởng sẽ chôn chặt tình cảm đó trong lòng nhưng giờ anh lại đang phải đấu tranh với chính mình. Anh đi lang thang và suy nghĩ dằn dặt, cho dù anh chết cũng không sao nhưng không thể lấy vợ của thầy được. Anh nghĩ và ghê tởm cho chính bản thân mình …

Vợ chồng Lý Chính giờ đã quyết tâm không gây phiền phức lo toan cho Thiên Cẩu nữa nên đã tự làm lụng nuôi thân. Nhưng Thiên Cẩu nhìn mà ứa nước mắt: vợ thầy thì đổ bệnh, Ngũ Hưng thì còn bé phải ra đời bươn chải. Anh đau đớn và sau một đêm suy nghĩ thật nhiều, anh đã đồng ý làm theo lời thầy. Họ làm một buổi tiệc nhỏ chiêu đãi và làm giấy tờ chính thức thành vợ chồng. Gia đình họ giờ đây có bốn người: hai người chồng, một người vợ và một đứa con nhỏ. Cuộc sống bắt đầu một cách ngượng ngùng nhưng bốn người họ yêu thương và hi sinh cho nhau bằng cả tấm lòng. Cả gia đình ngày một khá lên khi tình cờ họ phát hiện ra nghề nuôi và nhân giống bò cạp. Nhờ chăm chỉ và chịu khó nên cuộc sống gia đình họ rất sung túc và nổi tiếng trong làng. Nhưng Thiên Cẩu dù là bây giờ mang “chức danh” mới thì anh đã luôn tự đưa mình vào một khuôn phép, không tùy tiện và khi làm hết công việc trong nhà anh lặng lẽ đi ra ngoài và ngủ trong một cái lều quạnh quẽ. Người đàn bà rất buồn đôi lúc quay quắt mong mỏi khát khao nhưng nói thế nào Thiên Cẩu cũng vẫn lạnh lùng như thế nên bà cũng đành chấp nhận xót đau. Người chồng bại liệt đã chứng kiến tình cảnh lẻ loi của ba người từ đầu đến cuối, bác cũng đau khổ vật vã khi thấy mình là gánh nặng cho gia đình, là chướng ngại cản trở đôi bạn tình không thể đến với nhau. Thế là trong một đêm giá lạnh, bác thợ bại liệt ấy đã lợi dụng sợi dây buộc vào ang bò cạp để treo cổ tự sát. Một cái chết đáng thương của một con người đáng quí. Bác thợ đã dành đường cho Thiên Cẩu, giao nghề cho Thiên Cẩu, giao nhà cho Thiên Cẩu. Bác đã tìm cách mở nút cho tất cả tấn bi kịch tình cảm của cả ba con người. Thiên Cẩu đau lòng than khóc như chết lịm đi, lòng thì vô cùng ăn năn. Những người trong thành vô cùng xúc động. Gia đình anh luôn tưởng nhớ về người quá cố và luôn cố gắng xây dựng gia đình ngày càng hạnh phúc. Họ phát triển nghề nuôi bọ cạp rộng khắp cho mọi người trong thành để những người dân cũng cải thiện đời sống của mình, làm cho cái thành đẹp mà không giàu này trở thành giàu và đẹp.

      Xuyên suốt câu chuyện, ta như thấy sáng lên một vừng sáng chói từ trái tim cao đẹp của những người nông dân cơ cực mà tình nghĩa dạt dào. Trung tâm của vừng sáng đó là Thiên Cẩu – một anh nông dân chí tình chí nghĩa. Anh đã được sinh ra trong một đêm “thiên cẩu nuốt trăng” – đó là một điềm xui rủi, và quả thật cuộc đời anh cũng không may mắn dễ dàng một chút nào. Thiên Cẩu trên trời còn nuốt được mặt trăng có nàng Hằng Nga xinh đẹp, còn Thiên Cẩu nông dân nghèo khổ cực nhọc dưới trần thì chẳng có được một ánh trăng ấm áp của tình cảm yêu thương nào sưởi ấm trái tim. Người vợ của thầy mà anh ví như mặt trăng tròn phúc hậu, như gương mặt Bồ Tát từ bi là người mà anh chỉ được kính yêu tôn thờ một cách cao thượng chứ không hề mang một ý nghĩa quá trớn nào cả. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù anh có chịu đau khổ nhọc nhằn hi sinh bao nhiêu chăng nữa, anh cũng chỉ có một điều mong mỏi duy nhất: cả gia đình thầy mà anh kính trọng được yên vui và hạnh phúc, gương mặt Bồ Tát ấy luôn tỏa sáng ánh hồng hào – chỉ cần có vậy là anh cũng hạnh phúc rồi. Ngoài ra anh còn có một nhân cách cao đẹp cùng với đức hi sinh to lớn, anh luôn đại diện xuất sắc cho biểu tượng CON NGƯỜI, không bao giờ làm điều hổ thẹn với mình, với người. Thiên Cẩu là một đại diện cho mẫu hình nhân vật mới mang đầy tính nhân văn: con người vật lộn với hoàn cảnh trớ trêu, với những biến động của cuộc sống vô thường nhưng luôn luôn khát khao hoàn thiện mình, luôn luôn biết giữ gìn phẩm giá và nhân cách bằng nghị lực và lòng tự trọng.

      Xoay quanh làm tăng thêm vầng sáng cho trung tâm miền sáng trái tim  của những con người cao đẹp là những người vốn quê mùa nhưng cũng đầy phẩm chất thanh cao, đó là hai vợ chồngLý Chính. Lý Chính tuy lúc đầu có phần nào sai lạc theo hướng tiêu cực nhưng càng về sau ông lại càng giàu lòng vị tha và đức hi sinh cao cả; cái chết của ông nhẹ nhàng, chết đối với ông không chỉ là một sự giải thoát mà nó còn là một sự hi sinh cao cả cho hạnh phúc của mọi người, ông chết với lòng tự trọng và sống mãi trong kí ức của những người ở lại. Vợ Lý Chính cũng là một người phụ nữ có tâm hồn thuần hậu, bản chất hiền lương, giàu lòng nhân ái và hết lòng vì gia đình, bà là một nữ người nông dân điển hình với đức hi sinh lớn lao, tất cả vì chồng vì con chẳng quản thân mình.

      Cả ba con người đều tỏa sáng với đức hi sinh cao cả, tâm hồn họ thanh khiết đến cảm động lòng người. Tình yêu thương, tình người giữa họ vô cùng thiết tha, đằm thắm. Ai cũng muốn người kia được hạnh phúc mà không ngại hi sinh. Thật là cao đẹp biết bao! Những người nông dân ở đây không chỉ thuần túy hiện ra là những con người cục mịch quê mùa, mà tác giả Giả Bình Ao còn phát hiện ở họ vẻ đẹp tâm hồn cao thượng. Những tâm hồn đẹp làm nên những tình cảm đẹp và họ xứng đáng được hưởng hạnh phúc. Tác phẩm đã làm cho chúng ta có một cái nhìn xúc động về cuộc sống của những người nông dân nơi thôn dã và gây cho chúng ta một sự cảm phục sâu sắc đối với những nhân cách tuyệt vời bên trong những con người có vẻ ngoài mộc mạc ấy. Càng yêu mến những người nông dân càng tin vào sức mạnh tinh thần của con người, sự yêu thương lẫn hi sinh dành cho nhau trong lúc khốn đốn, lúc gian lao, thử thách sẽ giúp con người vượt qua tất cả bằng trái tim yêu thương chân thành: “Trên đời chỉ có một điều ấy thôi là hãy yêu nhau” (Victor Hugo – Những người khốn khổ).

      Nói đến hình tượng người nông dân thì ta không thể không nhắc đến đại văn hào Lỗ Tấn – cây đại thụ của văn học Trung Quốc, bởi lẽ ông vẫn được coi là nhà văn hiểu sâu sắc nhất đời sống của nhân dân lao động Trung Quốc dưới ách áp bức bóc lột của thế lực phong kiến. Trong tác phẩm của ông hình tượng người nông dân không phải là hiếm thấy, và khi thể hiện nỗi đau của kẻ bị áp bức bóc lột, ông không dừng lại ở bề ngoài, ông giỏi nắm lấy cái mâu thuẫn có tính chất bi kịch trong hồn họ. Theo ông, ngoài những nỗi đau thể xác, nhân dân còn có những nỗi đau đáng sợ hơn, khó lòng chịu đựng hơn. Vì vậy ông đi sâu khám phá những đau khổ tinh thần. Tác phẩm của ông thường nói đến trạng thái bi kịch trong tâm hồn những người cùng khổ. Nó gợi lên sự nham hiểm, độc địa của giai cấp thống trị, khơi dậy lòng căm phẫn sâu xa đối với chế độ phong kiến. Sự mê muội của quần chúng chính là cột trụ chống đỡ cho sự thống trị, và Lỗ Tấn đã là người nhận thức rõ ràng về điều này. Do chỗ bản thân sự nghèo khổ không dẫn đến cách mạng, phải thêm vào đó ý thức của sự nghèo khổ mới dẫn đến cách mạng (C. Mác), cho nên trong tác phẩm của mình, Lỗ Tấn đã tập trung phơi bày những biểu hiện mê muội, an phận của nhân dân với mục đích vạch ra căn bệnh để mọi người tìm phương chạy chữa. Giai cấp phong kiến thống trị đã dùng mọi thủ đoạn đề làm cho nhân dân lao động tin rằng sự thống trị của chúng là tất yếu, là hợp lẽ trời. Nhà triết học Mạnh Tử đã đề ra thuyết lao tâm và lao lực: Kẻ lao tâm sinh ra để trị người, kẻ lao lực sinh ra để người trị. Lí thuyết đó, trên thực tế cũng là cái nọc độc của con tò vò chích vào huyệt thần kinh vận động của con sâu xanh làm nó dở sống dở chết để vừa sai khiến được vừa mất hết sức phản kháng (Chuyện phiếm cuối xuân, Tạp văn tuyển tập). Nhuận Thổ trong Cố hương chính là biến tướng cuả loại sâu xanh như vậy. Qua hai mươi năm bòn rút của “sưu thế, lính tráng, quan lại, cường hào”, tâm hồn anh ta đã bị sa đọa. Nỗi đau đớn của Lỗ Tấn khi gặp lại người “bạn cũ” này không phải chỉ ở chỗ thấy anh ta đói rách mà quan trọng hơn là ở chỗ thấy anh ta đã mất hết lòng tự trọng trong sạch thời niên thiếu. Ông đã giật mình khi thấy bạn mình lạy mình như lạy một quan trên. Nhuận Thổ chỉ muốn sống theo qui cũ, do đó anh ta đã đặc biệt chú ý lựa chọn cái bộ tam sự để thờ cúng. Nhà văn xót xa khi cảm thấy chế độ đẳng cấp phong kiến xây dựng một bức tường ngăn cách người với người, phá hoại những tình cảm trong sáng, chân thành giữa con người với nhau. Lỗ Tấn đã tìm niềm khuây khỏa trong nỗi mong ước con cháu Nhuận Thổ sẽ không thế nữa và ông tự khẳng định niềm hi vọng đó bằng suy nghĩ con đường rồi sẽ do con người tạo ra.

Những tác phẩm của ông viết về số phận người nông dân lao động mang nội dung nhân đạo chiến đấu; nó không phải chỉ là lời cảm thương, mà còn là lời buộc tội lễ giáo và chế độ phong kiến, cũng là sự cổ vũ nhiệt tình chiến đấu cho một cuộc sống công bằng và hợp lý hơn. Tiếp nối truyền thống đó, Giả Bình Ao cũng tiếp nhận những giá trị nhân đạo, đề cao phẩm chất của người nông dân trong tác phẩm của mình nhưng mang vào đó những hơi thở mới của thời đại. Ông đi sâu vào phân tích những chuyển biến tâm trạng của nhân vật, đồng thời đề cao những tình cảm trong sáng, chân thành giữa con người với con người. Từ đó làm cho những trang văn tỏa ra hơi ấm của lòng nhân đạo. Đồng thời làm cho hình tượng nhân vật người nông dân trong những trang viết của ông càng toả sáng mãi với chất người thuần khiết và tinh khôi, và hình ảnh của họ vẫn đọng lại lâu dài trong tâm trí độc giả. Đó cũng là tuyên ngôn sáng tác của Giả Bình Ao, như ông đã từng tâm sự:

      Tiểu thuyết cũ khó có thể truyền tải cách nghĩ hiện đại. Thời nay, độc giả ít còn chú ý đến việc bạn viết cái gì, cái mà họ chú ý nhiều là tiểu thuyết ấy liệu có làm cho họ xao động tâm linh để rồi từ đó họ giác ngộ được gì… (Giả Bình Ao, báo Tuổi trẻ online)

2.2.      NGƯỜI NÔNG DÂN KHỔ CỰC GIAN NAN NHƯNG BIẾT KHÁT KHAO HẠNH PHÚC, DÁM ĐẤU TRANH CHO TÌNH YÊU

“Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau” (Lời trong một ca khúc của Trịnh Công Sơn) – nói lên sự cần có nhau, khát khao tình yêu cháy bỏng của đôi lứa. Tình yêu là đề tài của muôn vàn cung bậc và kết quả cuối cùng của nó là mái ấm gia đình hạnh phúc vợ chồng vĩnh kết đồng tâm. Những người trí thức nếu đa sầu đa cảm và lãng mạn trong tình yêu thì những người nông dân lại có một tình yêu giản dị nhưng mặn mà, họ yêu nhau và hi sinh cho nhau một cách thầm lặng chứ không thiên về biểu lộ. Và lẽ dĩ nhiên là phải tìm được tình yêu đích thực thì mới có hạnh phúc đúng nghĩa trên nền tảng hết lòng vì nhau. Nhưng trên hành trình tìm kiếm ấy không phải dễ dàng và đơn giản. Có người đi cả suốt cuộc đời cũng không tìm thấy được cái kết quả của lí lẽ con tim mà mình mong chờ; và có người đã phải trải qua biết bao cay đắng khổ đau, đã yêu hết lòng, đã hi sinh hết dạ nhưng tình yêu chân chính vẫn như đùa cợt con người, nó không hề lộ diện mà đến khi xác định được thì lại rơi vào bi kịch quá trái ngang. Nhân vật Hắc Thị trong truyện ngắn cùng tên của Giả Bình Ao thuộc trường hợp thứ hai. Hắc Thị là hình tượng người dân khổ cực gian nan nhưng biết khát khao hạnh phúc, luôn mong muốn tìm ra được lối đi riêng cho mình. Không phải chị đòi hỏi quá trọn vẹn, quá cầu toàn trong tình yêu mà chị chỉ khát khao hạnh phúc đích thực, muốn được yêu thương thắm thiết – đó âu cũng là nỗi lòng của một người đàn bà bình thường, một nhu cầu rất “nữ tính”. Hắc Thị còn là một phụ nữ mạnh mẽ, độc lập, ở chị lúc nào cũng toát lên sự khỏe mạnh và sức mạnh tiềm tàng, dám đấu tranh cho tình yêu của mình. Tuy mang sự dốt nát của người nông dân “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” và đôi lúc cam chịu nhưng nhìn chung chị rất dồi dào sức phản kháng, chống trả với những bất công, sự đọa đày lên số phận của những người phụ nữ nơi thôn dã nói chung.

         Câu chuyện kể về chuỗi ngày gian truân trong cuộc đời của Hắc Thị. Hắc Thị là một nông dân cần mẫn, chịu thương chịu khó, chị có một nét đẹp khỏe mạnh và chân chất rất tự nhiên. Chồng chị là một người có thân hình bé choắt và là con của một gia đình giàu có nên khi về làm dâu, tuy chị làm lụng vất vả không quản công, nếm đủ mọi cay đắng nhưng gia đình chồng chỉ coi chị là một người ở không hơn không kém. Người chồng bé choắt thì cũng chỉ xem chị như thú vui để thỏa mãn dục vọng, còn bản thân hắn thì phong lưu bên ngoài. Hắc Thị ức lắm nhưng chị chỉ biết khóc thầm và âm thầm chịu đựng. Mộc Độc là một người hàng xóm rất tốt bụng của Hắc Thị, anh tuy nghèo khổ, xấu xí nhưng rất thật thà chăm chỉ, anh phải làm việc cực lực đủ mọi nghề để nuôi người cha già yếu của mình. Anh rất có thiện cảm với Hắc Thị và luôn quan tâm đến chị nhưng anh còn rất e dè, nhút nhát.

         Bố chồng của Hắc Thị là một kẻ gian thương, làm nghề tín dụng để bòn rút tiền và đầu tư bất hợp pháp để lấy lời to, vì thế gia đình chồng của chị ngày một phất lên và cũng kênh kiệu “học đòi làm sang” một cách lố bịch. Người chồng bé choắt vì thế cũng ăn chơi sa đọa và ra sức hành hạ Hắc Thị. Chính trong thời gian đau khổ này, chị quen và làm bạn với Lai Thuận, một người rất tốt bụng, nhiệt tình. Cũng như Mộc Độc, anh rất tốt với chị, luôn quan tâm chia sẽ cũng như hết lòng giúp đỡ chị. Gia đình chồng nổi cơn thịnh nộ vì Mộc Độc trong một lúc tức tối đã đến gây chuyện, họ buộc Hắc Thị phải li dị và buộc chị ra khỏi nhà. Hắc Thị tuy lòng bị tổn thương nhưng khi bên ngoài được tự do tự tại chị thấy rất ung dung và thanh thản. Với sự chăm chỉ lao động của một người đàn bà lực điền, chị sống rất thoải mái và tự lo cho thân mình một cách ổn định. Nhưng đêm nằm gối chiếc lạnh lùng chị cũng khát khao một hơi ấm đàn ông, khát khao sự yêu thương. Mộc Độc và Lai Thuận đều có tình ý với chị nên cả hai cùng nhờ người mai mối đến cầu hôn chị. Qua những đêm dài suy nghĩ mông lung, chẳng biết phải chọn ai từ chối ai nhưng lại rất tình cờ và cả sự trùng hợp, chị đã nhận lễ cưới từ người mai mối cho Mộc Độc. Một cuộc sống gia đình khác lại đến với chị, chị đã có một bàn tay chồng ủ ấm đêm đêm và yêu thương chia sẻ mọi việc với chị. Chị thấy phấn chấn hẳn lên và cùng chồng ra sức làm việc để chăm lo xây dựng gia đình. Nhưng cuộc sống ngày một khó khăn, Mộc Độc nghe theo lời một người bạn cũ đi làm ăn ở nơi hầm lò tối tăm xa xôi, nơi mà người ta phải “làm bạn với ma quỉ, làm khách của Diêm vương”. Mộc Độc đi rồi, Hắc Thị một mình quán xuyến cả gia đình, nuôi người cha đã già lại đau yếu luôn. Thời gian này, Lai Thuận rất hay đến đỡ đần và giúp đỡ chị làm cha chồng của Hắc Thị rất bực tức, chửi bới Lai Thuận tàn nhẫn vì nghi ngờ Lai Thuận có lòng đen tối. Hắc Thị rất buồn nhưng vẫn nghe theo lời cha nên không tiếp xúc với Lai Thuận nữa. Lai Thuận biết rõ nhưng vẫn luôn giúp đỡ chị hết lòng. Một hôm, Mộc Độc trở về, hình hài đã in đậm dấu vết tàn tạ nơi mỏ than và tâm hồn đã phần nào bị chai sạn vì không tiếp xúc với con người suốt một thời gian dài. Anh đã kiếm được một số vốn kha khá nên hai vợ chồng đã mở một hiệu ăn nhỏ, do chí thú làm ăn lại thêm Hắc Thị đã khéo tay lại khéo ăn nói, nên chẳng bao lâu họ đã làm ăn rất phát đạt. Cha chồng của Hắc Thị nay đã tuổi già sức yếu lại thấy con làm ăn khá giả nên ông cũng yên tâm đi về cõi hạc. Hai vợ chồng khóc than thảm thiết và làm đám tang rất linh đình. Thế là Mộc Độc phải về trông nhà, còn Hắc Thị phải ở cửa hàng lo buôn bán nên hai vợ chồng chẳng mấy khi được ở cùng nhau. Nhiều lần Hắc Thị bảo Mộc Độc ở lại cửa tiệm với mình nhưng anh vẫn tìm cách thoái thác để được về nhà nghỉ ngơi thoải mái vì anh cả ngày làm việc đã rất mệt. Lai Thuận lúc này vẫn là bạn thân thiết của gia đình Mộc Độc, nên những lần Mộc Độc bỏ về nhà, Lai Thuận vẫn kiên trì ở lại để trò chuyện và an ủi Hắc Thị. Anh đã làm lòng Hắc Thị ấm lại, nhưng Hắc Thị vẫn luôn giữ khuôn phép đuổi khéo anh về khi trời đã khuya. Lai Thuận vốn yêu Hắc Thị từ lâu, từ khi không lấy được Hắc Thị anh đã vô cùng tiếc nuối, nay thấy Hắc Thị phòng không chiếc bóng, anh lại trỗi dậy tình yêu trong lòng. Anh đã đem tới cho Hắc Thị những rung cảm yêu thương mãnh liệt và cuồng nhiệt nhất. Bẵng đi một thời gian nữa, Hắc Thị biết được tin gia đình chồng cũ tan tác vì tù tội do vi phạm pháp luật. Người chồng bé choắt phải đi lang thang để xin ăn và tìm đến xin ngay ở cửa hàng Hắc Thị, anh ta cảm thấy vô cùng xấu hổ và ân hận. Hắc Thị tuy trong lòng oán hận nhưng giờ chị lại thấy rất xót thương khi thấy người xưa gặp cảnh không may. Chị bàn cùng Mộc Độc lấy tiền trả nợ giúp cho người chồng cũ để cứu vớt danh dự gia đình của anh ta và còn giúp cho anh ta đi làm ăn ở hầm than. Nhưng do không làm được việc nặng nên người chồng bé choắt ấy rất túng quẫn, trong một lần đang làm việc ở hầm than thì hầm bị sập, anh ta đã chết không toàn thây. Hắc Thị rất đau lòng, đưa anh về để mai táng tử tế. Chị thấy mình như đã kết thúc một giấc mơ buồn ảm đạm.

         Đất nước ngày càng đổi mới, công việc làm ăn của hai vợ chồng Hắc Thị cũng ngày một khá giả, tuy vậy Hắc Thị vẫn thấy bị ghẻ lạnh về tâm hồn bởi vì Mộc Độc vẫn như một khúc gỗ, anh vẫn chai sạn cảm xúc như thế.  Anh yêu vợ nhưng không thể làm cho vợ hạnh phúc thật sự. Vào một đêm Trung Thu rất đẹp trời, Mộc Độc ra tiệm chuẩn bị bánh cùng người làm phá cỗ còn Hắc Thị về nhà dọn dẹp. Tới lúc sắp phá cỗ rước đèn, Mộc Độc sai người làm về gọi Hắc Thị ra họp mặt thì chẳng thấy chị đâu cả. Tưởng rằng chị đi gọi thêm Lai Thuận nhưng đến chỗ Lai Thuận thì cũng chẳng tìm thấy ai. Cùng lúc ấy, ở một thôn nhỏ nằm trên con đường về vùng núi sâu cách đó năm mươi dặm, người ta bắt trói một đôi nam nữ khỏa thân trong một chiếc lều coi dưa rách nát. Họ được phủ một tấm chăn đơn lại để người trưởng thôn đến thẩm vấn, họ khai là người thôn Tây Xuyên cách đây năm mươi dặm, đang trên đường về sum họp gia đình, có cả giấy tờ mang theo. Trưởng thôn thấy có lý nên thả họ ra, nhưng vẫn trừng phạt họ bằng cách dội nước lạnh từ đầu đến chân vì họ đã mang điềm xấu đến trong đêm Trung Thu sẽ làm ảnh hưởng đến việc làm ăn của làng, họ chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi vội vã bỏ chạy ra đường, người nữ bị vấp ngã, người nam đỡ dậy và họ cùng nhau cố sức chạy để cho cái lạnh không vào xương cốt. Không biết con đường này còn bao xa nơi họ cần đến và cũng không biết cuộc sống đang chờ họ là cay đắng hay ngọt bùi, là nỗi buồn hay niềm vui…?

         Mang bản chất của một người nông dân thuần túy, nên bên cạnh việc giỏi giắng đảm đang thì Hắc Thị còn thể hiện ra một phần là dốt nát, cam chịu không biết đến việc bên ngoài xã hội. Nhưng  dù sao, thì cuối cùng ở chị vẫn toát lên vẻ đẹp khỏe mạnh, tự nhiên nơi tấm lòng của mình. Hết lòng làm dâu làm vợ, chị chỉ muốn hết lòng vun đắp cho gia đình chồng, nhưng những con người hám lợi tàn nhẫn ấy chỉ biết chà đạp lên cả thân xác và tinh thần của chị, làm chị đau khổ quay quắt trong sự nhẫn nhục chịu đựng. Chị còn là một người phụ nữ biết tự trọng và khuôn phép. Mới vừa li dị chồng, tuy chị luôn khát khao yêu thương, hạnh phúc nhưng không vì thế mà chị suồng sã với những người đang yêu thương mình. Chị là một người phụ nữ thuần nhất ở chỗ chị luôn là người của gia đình, luôn lo cho gia đình, hi sinh tất cả vì hạnh phúc gia đình, nhưng chị cũng là một người phụ nữ dám yêu dám hận, luôn khát khao tình yêu chân chính. Hắc Thị như một bông sen trắng tinh khôi tỏa hương thơm ngát giữa chốn bùn nhơ mà vẫn không hề tanh hôi mùi bùn, bông sen trắng tinh khiết ấy tỏa hương dào dạt giữa cuộc đời thường và luôn gìn giữ hương thơm ấy như con ngươi của mắt mình. Đáng quí chính là ở đấy. Chị tuy cũng có những yêu ghét giận hờn chứ không phải là thánh nhân nhưng dù như thế nào chị cũng không để những hĩ nộ ấy làm vẩn đục tâm hồn. Là một phụ nữ biết yêu thương và khao khát yêu thương, dám đấu tranh cho tình yêu đích thực của mình, nên ta có thể dễ dàng suy đoán được chị là người phụ nữ cuối tác phẩm với mong muốn ra đi tìm hạnh phúc và tình yêu thật sự của mình. Con người ta không sai khi đi tìm tình yêu, tìm hạnh phúc lứa đôi thuộc về mình và vươn lên để tự giải phóng mình.

         Ở đây ta còn thấy hai hình tượng nhân vật người nông dân nữa, tuy chỉ là nhân vật phụ làm hiện lên hình tượng nhân vật chính là Hắc Thị, nhưng Mộc Độc và Lai Thuận cũng góp phần quan trọng làm nên những chuyển biến, vận động của cuộc đời Hắc Thị.

Mộc Độc có thể coi làm mẫu người nông dân suốt đời lao khổ không biết đến ngày mai, chính vì thế anh có phần nào cứng nhắc và vô cảm trước tình yêu nồng nhiệt của vợ mình, anh chỉ biết thỏa mãn dục tính của mình một cách bản năng mà thôi. Lai Thuận thì đối lập với Mộc Độc, anh là mẫu người nông dân “nổi loạn”, có phần hơn cả Hắc Thị, anh cũng khát khao yêu thương, khát khao có một mái ấm gia đình để dừng chân và xây dựng cuộc sống hạnh phúc, anh phóng túng ngang tàng không theo khuôn phép, anh chỉ hành động theo tình cảm của mình, dám nghĩ dám làm. Và hành động táo bạo nhất là bỏ trốn cùng Hắc Thị đến một nơi xa lạ để làm lại cuộc đời, gây dựng hạnh phúc trên nền tảng tình yêu đúng nghĩa ở cuối tác phẩm. Dù con đường phía trước có gian lao, có thử thách, nhưng con người ta có gì ngần ngại khi được là chính mình, sống thật với cảm xúc của mình, và khi được sống đúng nghĩa với tình yêu của mình. Hắc Thị và Lai Thuận là trường hợp như thế. Đặt vấn đề là cuộc sống của người nông dân và những tâm tư tình cảm của họ, Giả Bình Ao đã góp thêm một tiếng nói về giải phóng tình cảm con người, giải phóng sự dốt nát tối tăm để được khẳng định mình, hướng về một tương lai tươi sáng do chính mình tạo dựng. Cuộc sống có bất công tàn bạo, có đau khổ trầm luân, có đẩy con người đến bước đường cùng thì niềm tin vào sức mạnh cải tạo tích cực của con người là vô cùng cần thiết để chúng ta xứng đáng với hai chữ CON NGƯỜI. Từ sức mạnh của niềm tin ấy, con người nói chung và người nông dân nói riêng sẽ có thể thay đổi được cuộc sống của mình, cải tạo xã hội tốt hơn. Sự dốt nát, lạc hậu tuy có đeo đẳng những người nông dân khiến cuộc sống của họ tăm tối, lao đao khốn đốn và dẫn đến bi kịch, nhưng tại sao ta lại không tin tưởng vào trái tim chân thành của họ, không tin vào tâm hồn tràn ngập yêu thương của những con người thôn dã. Bằng lòng khát khao yêu thương cùng sức sống tiềm tàng nhưng cháy bỏng, họ sẽ làm được tất cả, họ sẽ giải phóng mình trên con đường tự do phía trước để tiến từng bước thật tự tin

         Cuộc đời chìm nổi gian truân của Hắc thị làm chúng ta liên tưởng tới một nhân vật truyền thống với một hoàn cảnh tương tự. Đó cũng là hình tượng người phụ nữ gian truân trong cuộc sống, nhân vật đó chính là chị Tường Lâm trong Lễ cầu phúc của Lỗ Tấn. Nhưng ở đây chị lại mê muội trong nỗi khiếp sợ trước giáo lí và thần quyền phong kiến. Nỗi đau day dứt tâm hồn chị Tường Lâm cho đến khi chết có thể nói là “muốn làm nô lệ mà không được” (Lỗ Tấn). Quả vậy, điều mong ước thấp nhất và cao nhất của chị cũng chỉ có một: sống một cuộc sống tối thiểu, làm một người nô lệ không hơn không kém. Chị bỏ ra rất nhiều để đổi lại rất ít. Được người thuê, chị làm không tiếc sức, hơn thế, còn lấy làm thỏa mãn, bởi vì hi vọng của chị không có gì khác là được chốn yên thân. Cái hi vọng nhỏ nhoi đó, bản thân nó đã mang tính bi kịch, bởi vì nó vốn không có gì đáng là hi vọng. Nhưng cái thòng lọng của lễ giáo phong kiến cũng đã giết chết cái hi vọng ấy. Cuộc đời chị là một chuỗi dài những ngày lăn lóc, đau đớn dưới áp lực tàn khóc của lễ giáo và thần quyền phong kiến. Chính quyền, tộc quyền, nam quyền, và thần quyền đã trở thành bốn sợi dây thòng lọng thắt cổ chị, mặc dù suốt cả cuộc đời chị cũng chưa hề ý thức đến sự phản kháng. Câu hỏi cuối cùng của chị: Người chết rồi còn có linh hồn không? mới chỉ là sự hoài nghi chứ chưa là sự phản kháng… Rõ ràng sự mê muội chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu tạo ra bi kịch cho người phụ nữ này.

         Chúng ta thấy những điểm tương đồng giữa Tường Lâm và Hắc thị, đó là sự cam chịu trước cuộc đời, chỉ có điều Hắc thị đã nhận thức được ngọn nguồn gây ra đau khổ cho cuộc đời chị, từ đó chị đã đấu tranh để giành lại quyền sống và quyền được hạnh phúc cho mình. Chị đã thoát ra được bóng tối của tàn tích phong kiến để vượt lên giải phóng chính mình. Đó là cái hiện đại mà Giả Bình Ao đã làm được trong sáng tác của mình, ông nhìn người phụ nữ hiện đại với góc nhìn hiện đại từ đó làm “bật” ra được sức sống mạnh mẽ của người phụ nữ Trung Quốc mà lâu nay đã bị giam hãm bởi những lễ giáo và thần quyền phong kiến. Đọc tác phẩm của Giả Bình Ao chúng ta cảm nhận được một niềm tin mạnh mẽ vào con người mới nói chung và người phụ nữ nói riêng:

Thực tế, tôi không muốn tác phẩm của mình là sự gào thét, điều tôi mong muốn là sau khi đọc xong, độc giả sẽ có được cảm giác thoải mái, xua tan hết mọi ưu tư, phiền toái trong cuộc sống…

…Sáng tác tiểu thuyết mà theo khuôn mẫu thì thất bại là điều có thể thấy trước. Cốt lõi nhất của nhà văn là sáng tạo và mưu cầu thay đổi. Lặp lại chính mình là bi kịch và về căn bản là sẽ không tồn tại, sẽ làm cho độc giả nhàm chán. Vì vậy mà tôi, cho đến nay vẫn luôn tìm kiếm sự đột phá cho các tác phẩm của mình. (Giả Bình Ao, báo Tuổi trẻ online)

Mọi thứ hôm nay không thể giống hôm qua, mỗi ngày mới là một sự sáng tạo mới. Đó là điều mà nhà văn đã tâm niệm, và Giả Bình Ao đã truyền được ý chí của tâm niệm đó cho nhân vật của mình. Hắc thị đã không chấp nhận làm kiếp nô lệ để bị hành hạ mãi, không để những bất công tàn nhẫn nhấn chìm mà đã phản kháng mạnh mẽ để vượt lên hướng tới tình yêu và sự sống. Và không có gì để chúng ta không lạc quan tin tưởng rằng: hạnh phúc sẽ đang đón chờ những ai dám vượt lên chính mình, kiên trì với ý chí và quyết tâm của chính bản thân mình. Hắc thị đã củng cố thêm trong chúng ta niềm tin ấy.

        


3.  HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT LAO ĐỘNG KHÁC

3.1. NHỮNG THANH NIÊN TRẺ TRONG CUỘC SỐNG HIỆN ĐẠI NGÀY NAY

Hình tượng nhân vật lao động khác được xây dựng rộng rãi với những quan hệ dàn trải đa chiều của cuộc sống thời hiện đại. Những khoảnh khắc chớp nhoáng của cuộc sống thường nhật đã được các tác giả đương đại ghi lại một cách chân thực. Các hiện tượng cuộc sống được tái hiện trong các trang viết đã dựng nên một bức tranh đa chiều đa dạng của cuộc sống thời hiện đại. Có thể thấy đó là các mảng đề tài từ cuộc sống, cách ứng xử trong thời đại mới hay những bi kịch trầm lặng, day dứt về quá khứ, về tình yêu còn ám ảnh ngay cả hôm nay hay nhẹ nhàng, đằm thắm hơn là những cảm xúc lắng đọng trong tâm hồn … tất cả đều được thể hiện đa dạng, sinh động và tạo cảm giác hấp dẫn mạnh mẽ nơi bạn đọc. Chính vì lẽ đó, nên hình tượng nhân vật lao động khác ở những truyện khác nhau cũng không giống nhau, mỗi hình tượng nhân vật người lao động khác đều có sức sống riêng của mình, mỗi hoàn cảnh nhân vật trong truyện là từng mảnh ghép nhiều mặt của hiện thực để khi nhìn tổng quát ta sẽ nắm được cả bức tranh hiện thực thu nhỏ và phần nào hiểu hơn về tâm tư tình cảm của người Trung Quốc trong thời đại mới.

Cuộc sống ồn ào, tất bật thời hiện đại được phản ánh đầu tiên qua những hiện tượng của nó, cụ thể hơn là những hệ quả tiêu cực mà nó mang lại. Những mâu thuẫn của các hiện tượng này được bộc lộ qua cuộc sống của nhân vật người lao động khác. Hình tượng nhân vật người lao động khác này ta đã từng bắt gặp mọi lúc mọi nơi trong cuộc sống hôm nay. Muôn vàn tác động từ nhiều phía sẽ đưa đẩy con người tới sự nhìn nhận cuộc sống nhiều khi “lệch pha” với nhau tạo nên sự đối lập không gì hóa giải được. Con người ta phải có tâm thế vững vàng như thế nào và chọn lọc tích cực như thế nào để sống thật tốt, sống có ích là điều không phải ai cũng có thể giác ngộ được. Đó cũng là điều kiện cần để xứng đáng với từ “sống” một cách đúng nghĩa. Truyện Lá thư tình của Cố Công đã hé mở bức màn hiện thực ở khuôn khổ ứng xử trong gia đình một cách thấm thía. Truyện nói về tâm lí lo lắng bình thường ở các bà mẹ có con gái mới lớn, đó là bà Đỗ Nhã, mẹ của cô con gái Phương Phương, bà đã như một kẻ trộm khi lén giấu biệt bức thư của con gái mình gửi cho người yêu. Nhưng điều bà không ngờ rằng bức thư ấy lại chính là “bản sao” thư của chính mình từ mấy chục năm về trước. Phương Phương đã thản nhiên đưa ra điều kiện, nếu mẹ trả lá thư cho mình thì cô cũng sẽ trả lại mẹ lá thư “xưa cũ” mà cô đã lục lọi được trong chiếc rương của mẹ. “Bây giờ đã khác xưa quá xa vì ái tình được đem ra đầu môi chứ đâu có rụt rè, e thẹn như xưa nữa đâu” – Phương Phương lí giải. Bà mẹ Đỗ Nhã ngẩn ngơ nhìn cô con gái mình và bồi hồi nhận ra một cách chua xót:

Trẻ con bây giờ, nhịp điệu, tiết tấu bây giờ, tất cả đều như tăng nhanh, tư tưởng và tình yêu cũng vậy, mình ngày đêm lo lắng cho con cái, lo lắng đến mức bạc đầu, nhưng chẳng rõ thuở xưa cha mẹ mình có bận lòng như thế này chăng…?

Thời hiện đại tất nhiên sẽ phải tiếp thu những tiến bộ nhưng phải giữ gìn văn hóa truyền thống Á Đông cũng không bao giờ là xưa cũ, đây cũng là điều mang tính cấp thiết… Dấu chấm lửng ở cuối tác phẩm để lại cảm xúc ngân nga và sự suy nghĩ trăn trở cho người đọc…

Truyện Đinh hương tháng Mười của Vương Tùng với những hình tượng nhân vật người lao động khác được tập trung lại trong một cái hợp viện nhốn nháo để từ đó bật ra những mâu thuẫn trong quan hệ ứng xử cũng hỗn loạn ồn ào. Vấn đề nhà văn Vương Tùng đưa ra là quan hệ xã hội cộng đồng. Ngày xưa dưới cái thời giương cao ngọn cờ tập thể, công xã, người ta dễ dàng chung sống cùng nhau dưới một mái nhà, bất phân họ mạc, thế hệ, tất cả mọi cá tính, bản ngã đều phải dẹp qua một bên, dẹp xuống tận đáy lòng, sống để bụng chết mang đi. Nhưng nay thì khác hẳn và thế là mâu thuẫn trong căn nhà tứ hợp viện, bốn phòng đông bắc tây nam gom chung một bức tường vây và cái ngõ ra vào là khóm đinh hương quí giá đã bùng nổ. Mâu thuẫn giữa ông cháu lão Tư Dương với gia đình Già Lam, chủ sở hữu tứ hợp viện và mâu thuẫn giữa ba thế hệ trong ngay cả gia đình Già Lam: một cụ già, một cô con gái li dị chồng là Lam Vân, cùng đứa cháu ngoại ngang bướng Lam Vũ luôn đòi hỏi tự do cá tính và ăn chơi trác táng đã diễn ra trong suốt câu chuyện. Sự xuất hiện của Đồ Cách, một văn nhân trẻ đến ở trọ trong tứ hợp viện này cũng không có tác dụng điều hoà lại hai luồng mâu thuẫn nêu trên, ngược lại càng làm cho chúng gay gắt thêm và kết cục thật bi thảm: khóm đinh hương héo dần, ba người tử nạn là “Đại Bìu” cháu lão Tư Dương, Già Lam và cô Lam Vũ, thế hệ thứ ba. Còn lại duy nhất Đồ Cách ngày ngày đưa người thiếu phụ Lam Vân mất cha, mất chồng, mất con đi làm. Bi kịch thời đại mới là thế nếu môi trường xã hội bị ô nhiễm. Khóm đinh hương được Già Lam đánh giá là “thông hiểu tính người”, như là sự hòa hợp với người cũng được lấy làm tên của tác phẩm, là một nhân chứng cho cái môi trường xã hội đầy xáo trộn và các mối quan hệ đầy phức tạp trong đó. Khóm đinh hương nở hoa thơm ngát tượng trưng cho sự hòa hợp của tình người nhưng cũng nhanh chóng bị vùi dập đến bật cả gốc cây. Đồ Cách đã miệt mài vun xới để mong cứu sống khóm đinh hương vốn dào dạt hương hoa ấy, Già Lam cũng hết lòng chăm bón để những đóa hoa ấy sẽ mãi tỏa hương. Nhưng không có gì là hoàn mỹ và tuyệt đối cả, sự tươi tốt phục hồi của hoa đặt bên cạnh hình ảnh trái ngược chỉ khiến ta đau lòng thêm: đó là sự ra đi mãi mãi của những con người chưa từng hiểu được vẻ đẹp thuần khiết, tác dụng cảnh tỉnh của đinh hương cũng như chưa được thấm nhuần tình cảm tốt đẹp giữa người với người… sự trả giá và sự dự báo là một dấu chấm than và một dấu chấm hỏi tiếp theo thật nhức nhối để người đọc tự thẩm thấu và suy ngẫm. Tấn bi kịch của môi trường xã hội bị ô nhiễm đến một lúc sẽ không tìm lại được sự trong trẻo, thuần hậu quả là đáng lên tiếng cảnh báo, Vương Tùng dã gióng một tiếng chuông mà dư ba của nó còn vang mãi trong lòng chúng ta…

Truyện Thời đại ảo của Ngô Huyền thì đề cập đến hệ lụy của sự bùng nổ thông tin. Thông qua ba nhân vật: vợ chồng Chương Hào, Nặc Ngôn và người tình ảo của Chương Hào trên mạng là “Tuyết lạnh nhất trong mùa đông”, nhà văn muốn cảnh báo với chúng ta hậu quả của lối sống tán gẫu, vô bổ trong thế giới ảo và đặt một vấn đề khá nghiêm túc, gai góc là con người làm cách gì để chống đỡ trước sức tấn công của khoa học kĩ thuật do chính mình tạo ra. Nỗi ám ảnh của Nặc Ngôn khi thấy chồng “ngoại tình ảo” trên mạng sẽ gắn cho cô cái mác có một không hai của loại người thời thượng: “quả phụ vi tính”. Cô tức tối bày ra kế hoạch li khai chồng với cái máy vi tính đáng ghét đó, cô kéo chồng ra khỏi cuộc sống ảo bằng vũ trường, bằng chọc ghen là hạ sách và cuối cùng là phá tan tành cái máy vi tính, những mong Chương Hào có thể cắt đứt tình yêu với “Tuyết lạnh nhất trong mùa đông” lại càng hạ sách hơn… nhưng tác giả Thời đại ảo đã bỏ ngỏ để nhường câu trả lời cho tác giả mà nhất là nhiều người đang tìm thú vui trong cái thời đại ảo phải giải quyết ra sao mới là thượng sách. Trước cuộc phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật ngày nay, máy móc dần thay thế cho con người nhưng thay thế hoàn toàn là điều không thể được, tiếp thu sự tiến bộ để không bị lạc hậu, yếu kém là điều cần thiết nhưng không để sa đà vào những cái ảo mà quên lãng đi cuộc sống, bị chai sạn cảm xúc… tâm thế con người phải được xác định một cách vững vàng, nhất là trong thời đại ngày nay, đó vẫn là một câu hỏi lớn và bức thiết.

Truyện San San và Sa Sa của Nhiêu Kiến Trung thì đưa ta thâm nhập vào cuộc sống tình cảm của con người trong thời đại ngày nay. Sự đối lập giữa hai hoàn cảnh gia đình có cái vỏ bề ngoài hạnh phúc nhưng bên trong là sự thiếu hụt tình cảm, sự không thể chia sẻ mọi vui buồn lo âu của những con người trong một mái ấm. San San lấy chồng nhưng không được sống trong cảnh giàu sang, chồng cô muốn học tiếp lên đại học để tìm đường công danh. Mọi chi phí vật chất cô phải vất vả lắm mối xoay sở đủ, nhưng đổi lại cô chỉ nhận được những cánh thư lãng mạn đến sáo mòn từ chốn thị thành đô hội của chồng chứ không hề có một sự chia sẻ gánh nặng tiền bạc. Còn Sa Sa thì ngược lại, cô đủ đầy tiền bạc mà chồng cô vẫn muốn ra đi để bành trướng sự nghiệp nên những phong bì tiền vẫn luôn được gửi về tới tấp, còn cô thì lại vô cùng thiếu thốn tình cảm. Những tờ giấy bạc lạnh lẽo không hề kèm theo một lời chia sẻ nhắn nhủ nào từ người chồng ở xa. Đến một ngày kia chồng San San tốt nghiệp và kiếm được tiền cho gia đình cô trở nên dư dật, cô rất đỗi ngạc nhiên và vui mừng. Cùng chung tâm trạng là Sa Sa vì cô cũng đã nhận được những cánh thư lãng mạn và đầy yêu thương từ chồng mình. Nhưng San San và Sa Sa vẫn chỉ còn lại một mình nơi phòng không chiếc bóng, họ tìm đến nhau và luôn trò chuyện tâm sự cùng nhau, nếu trước đây ai nấy đều giả dối về hoàn cảnh của gia đình mình một cách gượng gạo, thì nay họ trải lòng cho nhau chẳng hề giấu giếm, tình cảm chân thành đã tạo nên một tình bạn đúng nghĩa. Sự gần gũi yêu thương nhau thật chân thành, sự hết lòng cho người mình yêu cả về vật chất lẫn tinh thần và sự vun đắp cho tình yêu mãi keo sơn là những điều quan trọng cần có để tạo nên một cuộc sống gia đình hạnh phúc thật sự, đó cũng là điều mà tác giả muốn gieo vào lòng người đọc.

Truyện Chim phóng sinh của Hoàng Mỹ Hoa thì lại đề cập đến vấn đề môi trường, đây là một vấn đề nóng bỏng và cần được quán triệt thực hiện, bảo vệ môi trường phải đi đôi với cải tạo vì sự tồn tại của con người và đó còn là sự thẩm định về mặt chuẩn mực đạo đức nữa. Thông qua hai nhân vật là đứa cháu nhỏ xưng tôi đối thoại với bà nội mình đã làm bật nổi lên sự giả tạo về đạo đức một cách thẳng thừng nhất. Đứa cháu theo bà nội đi mua chim phóng sinh vì lòng “thiện đức” của bà. “Phóng sinh có thật là việc tốt không?”… Câu hỏi của nhân vật tôi như xoáy sâu vào lòng người, như vạch trần những tình cảm đạo đức giả tạo, sự ngụy biện của những người cố chấp hủ lậu. Khi muốn phục vụ cho việc “thiện tâm” của mình lại bảo người ta phải bắt chim thật nhiều để bán mà không thèm quan tâm đến giá cả rồi khi đứa cháu hỏi, luận điệu của bà nội cực kì cố chấp này cũng rất buồn cười: “người bán bắt chim để bán cho mình tội lỗi chồng chất còn mình phóng sinh cho những chú chim tội nghiệp sẽ được lên chốn Tây thiên”?! Câu chuyện ngắn gọn mà ý nhị để chúng ta nhìn nhận lại những việc làm vô tình hay hữu ý nhưng rất vi phạm đến qui luật của môi trường nói riêng và qui luật của đạo đức nói chung.

Cuộc sống thời hiện đại cũng được phản ánh ở sự buồn mênh mang trong cõi lòng những con người giàu tình cảm. Đó là những khoảng lặng nhói lòng trong cuộc sống nhộn nhịp đương thời. Những di tích buồn đau của “vết thương” do “Bè lũ bốn tên” gây ra còn day dẳng đến hôm nay một cách nhức nhối, hay những bi kịch của tình yêu giữa những con người tuy thật lòng với nhau nhưng lại có quá nhiều cách trở: sự phân biệt giàu nghèo một cách nghiệt ngã, hay lề lối khuôn phép quá bất công cứng nhắc đã dần chia cách họ, tất cả những nội dung này cũng đều được khắc họa rõ nét mang đậm tính hiện thực. Nỗi đau buồn thiên về nội tâm của nhân vật “chị” trong truyện ngắn Vết thương của Lưu Tân Hoa hết sức cảm động. Dùng đại từ nhân xưng để gọi nhân vật, tác giả không nhằm vào một đối tượng cụ thể nào mà gợi lên sự thật là trong cuộc sống còn có nhiều người như giống nhân vật “chị”, tức là còn nhiều nữa những mảnh đời như thế mà nhân vật “chị” trong tác phẩm chỉ là người phát ngôn. Với một cá tính mạnh mẽ và quyết đoán, chị đã bỏ nhà ra đi, từ bỏ cả mẹ ruột của mình vì bà đã mang trên người tội danh phản bội. Đi tới đâu chị cũng chịu sự ghẻ lạnh, nghi ngờ và cảnh giác của mọi người, cả trong tình yêu chị cũng phải dè dặt, không cho mình tự do mở lòng trước tình yêu. Bẵng đi chín năm, sau khi hay tin mẹ chị đã được giải oan tội danh mà “Bè lũ bốn tên” cố tình gieo rắc, chị đã trở về thăm mẹ, nhưng đã quá trễ, mẹ chị đã trút hơi thở cuối cùng mà không gặp được mặt con… vô cùng đau đớn nhưng chị đã biến đau thương thành sức mạnh, vươn lên hết mình để luôn tiến về phía trước xây dựng đất nước quê hương, cống hiến cả cuộc đời mình phục vụ cho sự nghiệp của Đảng. Một tấm lòng thật là đáng trân trọng biết bao, từ trong đau thương mất mát, con người ta nếu đầy ý chí và nghị lực thì rất dễ trở thành phi thường.

Truyện Hai vé xem phim của Khuyết Danh cũng là một nỗi đau bi kịch, bi kịch của tình yêu tan vỡ trái ngang. Hai nhân vật chính là A Mỹ và Vu Tùng đã không thể đến được với nhau, suy cho cùng là bởi sự phân biệt nghiệt ngã giữa giàu và nghèo, sự kì thị giai cấp đã quá nặng đã như ăn sâu vào tâm khảm những con người bề trên cố chấp đầy rẫy trong các gia đình hiện nay, điều đó đến nay vẫn chưa được hay chưa hề được xóa bỏ… Chuyện tình đẹp nhưng bạc mệnh của họ như bộ phim “Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài” mà họ thích xem nhưng chỉ ứng với phần li biệt còn kết cục đoàn viên như đôi uyên ương thì vẫn còn bỏ ngỏ. Và chiếc túi kỉ vật xinh xắn mà A Mỹ trao tặng cho Vu Tùng bằng cả con tim vẫn được Vu Tùng giữ mãi bên mình nhưng giờ đây anh đã không bao giờ còn mở ra xem được nữa, vì sau một tai nạn trong chuyến đi làm ăn xa để kiếm tiền cho bằng được, giờ anh ngồi trên chiếc xe lăn và hai tay cứ mải miết mân mê cái túi nhỏ xinh ấy chưa hề mở nắp, trước mắt anh là một màn đen kịt. Đó thật là một chuyện tình éo le đến nao lòng.

Hai nhân vật chính trong truyện Chuông gió của Lưu Quốc Phương là Binh và Tiểu Kì cũng nằm trong trường hợp tương tự, cũng vô cùng trái ngang và đau nhói. Xã hội trọng tiền bạc đã ép uổng tình duyên và phá vỡ tan tành hạnh phúc của con người mà Tiểu Kì nhỏ nhoi và đáng thương là một nạn nhân. Bị mẹ gây sức ép cô đành phải thuận lấy tên Đại Cẩu lỗ mãng vũ phu và phải từ bỏ tình yêu thắm thiết với Binh. Nay đã quá cùng cực, cô bị dày vò về thể xác và sống trong bất hạnh triền miên nên muốn thoát ra đến với tình yêu thật sự của mình. Nhưng giờ đây đã quá muộn mằn. Binh tuy yêu cô nhưng vẫn tránh mặt cô vì không muốn phá hoại gia đình cô. Vì thế tiếng chuông gió kỉ niệm vẫn tinh tang đến nao lòng mà tình yêu vẫn bị ngăn cách trong tường rào của thế lực mạnh mẽ và tàn nhẫn của đồng tiền trong xã hội.

Cuối cùng thì cuộc sống hiện đại cũng được nhìn thấy bằng sự lãng mạn, bay bổng như những nốt nhạc trữ tình đằm thắm mà nó vốn có. Những khúc nhạc tình yêu vang lên du dương mà sâu sắc, để ta thấy yêu đời yêu người hơn, để ta có niềm tin làm đẹp cho đời và chống lại những xấu xa hèn nhát, để trên môi ta luôn rạng rỡ những nụ cười hạnh phúc đến từ sự yêu thương thành thực nhất. Tiêu biểu cho phương diện này là những chuyện như Chào em, Tiểu Mai của Vương Quân, Đóa hồng cuối cùng của Từ Tuệ Phấn, Lá phong của Vương Mông. Chùm chuyện cho ta cái nhìn màu hồng vui tươi tràn trề sức sống, và những nụ cười hạnh phúc như tỏa nắng xuống cuộc đời đầy ấm áp. Tình yêu chân chính đôi khi chỉ là những kí ức đẹp như những giấc mộng bình yên nuôi lớn cảm xúc và sự cao thượng nơi tâm hồn, những hồi ức đẹp được lưu giữ nơi con tim đẹp sẽ giúp ta có một cuộc sống đẹp. Đó chính là tâm trạng, cảm xúc của nhân vật Tiểu Mai trong truyện ngắn Chào em, Tiểu Mai của Vương Quân. Hay tình yêu chân thành sẽ khẳng định vị thế của mình trong sự hòa hợp của đôi tâm hồn, hãy nghe chàng trai nói với cô gái trong truyện Đóa hồng cuối cùng của Từ Tuệ Phấn: “Anh đã mua nơi em ngàn vạn đóa hoa hồng và cuối cùng nhận ra chỉ có em mới là đóa hồng của riêng anh”… Sự hết lòng cho nhau, yêu một người là mong cho người mình yêu hạnh phúc nhất và đôi khi ta chỉ đứng bên lề để dõi theo một cách cao thượng. Cho nên sự cao thượng đó khi đã được nhận ra thì vô cùng đáng quí, con tim sẽ thật sự đập những nhịp đập của tình yêu. Hay đó là tình yêu đầy lãng mạn luôn được hồi tưởng và gìn giữ ở một góc của con tim đa cảm, tuy cách xa nhau không còn gặp lại vẫn đủ sức ủ ấm tâm hồn. Tình yêu của nhân vật “anh” và “chị” trong truyện ngắn Lá phong của Vương Mông diễn ra nhẹ nhàng và trầm lắng như những cánh phong mang hình trái tim tung bay thắm đỏ tượng trưng cho sự nhiệt thành trong tình yêu. Và ngày sau là trái tim tình bạn cao cả thắm thiết dù mỗi người nay đã có mái ấm riêng của mình. Tình cảm tốt đẹp diễn ra giữa thiên nhiên tươi thắm càng đẹp rạng rỡ hơn. Nên nay thấy những chiếc lá phong màu tươi đỏ bị ép plastic để thương phẩm hóa anh đã không khỏi chạnh lòng. Không thể và không nên như thế được. Màu sắc tươi đỏ của những cánh phong phải đại diện cho một bản sắc, cho những tình cảm sâu sắc và cho cả những trái tim đầy nhiệt huyết giữ gìn truyền thống dân tộc tốt đẹp ngay trong thời hiện đại. Câu chuyện của Vương Mông khép lại nhưng những cánh phong bay mang sắc đỏ kiêu hãnh vẫn vương mãi trong lòng chúng ta.

3.2. NHỮNG NGƯỜI CAO TUỔI VÀ SỰ CHIÊM NGHIỆM CỦA HỌ VỀ CUỘC SỐNG

Giữa sự đổi thay đến chóng mặt của cuộc sống hiện đại quay cuồng, những người “hoài cổ” rất dễ bị lạc lõng và chán nản là điều tất yếu nếu như không biết cách hòa hợp và bài trừ những tác hại xấu. Những con người đã đi qua đoạn đường gần cả một đời người thì có biết bao sự đổi thay thăng trầm mà họ cũng đã từng vượt qua, nhưng tất nhiên giữa dòng chảy không ngừng của nhịp sống sôi động thậm chí có những điều bất cập như hôm nay thì sự hụt hẫng xa lạ đối với họ cũng là điều dễ hiểu và cũng là điều rất dễ xảy ra. Những vị lão thành dày dặn kinh nghiệp ấy cũng phải vất vả lắm mới mong hòa hợp với xã hội đương thời. Dù là người ở chốn thị thành hoa lệ hay là người ở chốn miền núi xa xôi, ta cũng sẽ bắt gặp được những cách ngăn nhất định đối với xã hội, đối với cả cuộc sống đời thường của họ. Khó ai có thể hiểu thấu được họ và chia sẻ thông cảm với họ. Vì thế họ vẫn cứ lặng lẽ đi giữa cuộc đời và lặng lẽ gánh chịu bao nỗi trăn trở thấm thía về cuộc đời, về lòng người. Truyện ngắn Kính Triền núi hẹp của Giả Bình Ao có thể xem là một cuộc khám phá tìm tòi vào cõi lòng của những con người sống gần trọn cả đời người ấy. Bằng một sự nhạy cảm tinh tế, ngòi bút sắc sảo thâm thúy cùng một lòng nhân đạo thiết tha, tác giả đã xây dựng nên những nhân vật lớn tuổi đáng kính và hiểu thấu được những nỗi niềm của họ, đem đến cho trang văn một chủ nghĩa nhân đạo ấm nóng và tha thiết.

Hình tượng nhân vật ông lão Vương Hữu Phúc trong truyện Kính qua những cuộc gặp gỡ với nhân vật xưng “tôi” đã làm bật lên sự lạc lõng của ông lão đối với những cái tân thời hiện nay. Qua đó tác giả muốn nói rằng: chúng ta hãy quan tâm nhiều hơn nữa đến cuộc sống cũng như sự cảm nhận của những người có tuổi đồng thời cũng nhìn thấy rõ hiện trạng của cuộc sống đương đại với quá nhiều ứng dụng cực kì lạ lẫm, sa đà mà quên đi những điều cổ xưa tốt đẹp của cha anh. Trong truyện, nhân vật xưng “tôi” qua lời nhờ vả của người bạn tên là Đắc Quí phải mang một món tiền nhờ chuyển giúp cho cha của bạn là ông Vương Hữu Phúc khi có dịp trở về quê nhà. Lần đầu hẹn gặp ông Vương Hữu Phúc nhưng không được, “tôi” có phần bực tức. Đến lần thứ hai khi đã gặp nhau, “tôi” mới biết là lần trước ông lão trên đường đến chỗ hẹn đã gặp tai nạn bị thương ở đầu. Đó là do ông lão khi đi ngang phố đã không chú ý va đầu vào một tấm kính lớn của một nhà hàng sang trọng đang xây dở theo mốt “lắp kính suốt lượt”. Tác giả hỏi rõ và khuyên ông lão nên đi kiện của hàng đó để được một khoản tiền đền bù lớn vì lỗi là ở cửa hàng đã không ghi kí hiệu trên kính cho người đi đường biết mà cảnh giác. Nhưng ông Vương Hữu Phúc kiên quyết từ chối và hơn nữa còn gửi lại tiền nhờ “tôi” đem đến đền bù thiệt hại cho cửa hàng đó, điều này làm “tôi” vô cùng ngạc nhiên nhưng cuối cùng cũng hiểu rõ tấm lòng vị tha của ông Vương nên đã nhận lời. Kết thúc truyện là hình ảnh của một ông chủ cửa hàng khác lớn tiếng chửi ai đó đã vô tình (chả lẽ cố ý va đầu?!) vào tấm kính làm chiếc kính lắp của ông ta vỡ vụn “đứa nào đâm đầu phải đây? Đứa nào? Mắt mù cả rồi sao?”, “tôi” chứng kiến cảnh ấy, cuối cùng ra khỏi khu phố chật hẹp đầy ắp những kính và lên tàu vềNam ngay tối hôm ấy…

Sự đô thị hóa nhanh chóng, lối sống xa hoa thâm nhập đằm sâu đã không thể hòa nhập mà hòa tan đi cái tình người ở đời. Cả khu phố lần lượt đều lắp kính trong suốt cho những ngôi nhà rất thời thượng mà vô tình hay hữu ý quên đi rằng có những người già cả hoa mắt tay yếu chân run, những em bé tinh nghịch hiếu động sẽ là nạn nhân trực tiếp cho những tấm kính tưởng như đẹp đẽ vô hại ấy. Lối sống theo nền nếp cũ đã không còn được giữ vững nên sự lạc lõng thất vọng trước cuộc sống đó cũng quá lớn đặc biệt là những người cao niên từng trải như ông Vương Hữu Phú đã chua xót nói rằng:

Bác của cháu có từ tâm, sợ làm vỡ kính của người ta đền không nổi nên mới chuồn thẳng, cháu nên cười bác mới phải. Có điều, bác từng trải việc đời cả một đời, đến già còn bị tấm kính nó lừa, bị lừa một lần là đủ, bác không để bị lừa lần thứ hai đâu…

Tấm kính trong suốt tưởng như vô hình nhưng nó đã hiện hữu ngay giữa cuộc sống của chúng ta. Tấm kính không chỉ phân biệt thời thượng và cổ hủ về kiến trúc mà hình như nó còn phân biệt chia cắt sự trân trọng những truyền thống tốt đẹp vẫn còn nguyên gía trị, sự yêu thương hòa cảm giữa người với người, thấy nhau qua kính đấy mà không sao đến gần với nhau được. Đặc tính của kính là trong suốt nên dường như sự chia cắt giữa truyền thống và hiện đại là vô hình nhưng thật ra nó đã rạch ròi trong việc phân chia hai yếu tố đó bằng một ranh giới rất khó vượt qua. Cần phải nhìn lại lối sống hiện nay, và những lớp trẻ hôm nay có vững chắc bước đi đến phía trước không chỉ cần tài năng và quyết tâm mà còn một phần quan trọng là sự dẫn dắt, truyền thụ kinh nghiệm của thế hệ cha anh, hãy biết lắng nghe và học hỏi những điều rất quí báu từ thế hệ đi trước.

Truyện Triền núi hẹp thì vẽ ra bối cảnh của miền sơn cước, qua đó hình tượng người lao động hiện ra qua cuộc sống vất vả của họ rất đỗi cảm động. Đó là bác Thuận với kinh nghiệm dày dặn trong nghề sinh nhai của mình đã phải chịu sức ép từ nhiều thế lực để rồi nai lưng ra mà làm việc mặc kệ những hiểm nguy luôn rình rập phía trước, và cuối cùng trăm dâu đổ đầu tằm, bác phải hứng chịu một kết cục buồn và bi thảm.

Truyện kể về những mùa đông lạnh giá tuyết rơi dày đặc ở một triền núi nọ. Thời tiết khắc nghiệt đó làm ai nấy đều ở lại trong nhà, duy chỉ có bác Thuận vẫn miệt mài đi trên tuyết để làm việc, thời tiết này là cơ hội tốt để cho bác săn những con cáo có bộ lông đẹp ngây người. Bác đã tự chế một thứ thuốc nổ đặc biệt sau đó vùi dưới tuyết để bẫy cáo, những bộ da đẹp đến nỗi mà ai cũng muốn có, cả những cán bộ trên huyện cũng tìm đến để mua cho bằng được. Khi các cán bộ huyện tới thì đại đội sản xuất ở triền núi lại bắt bác Thuận biếu không cho họ vài tấm da cáo để được chỉ tiêu tối cao là nhận ở mức cao nhất số tiền cứu tế, hỗ trợ nên càng ngày thu nhập của bác sút kém hẳn đi, nhưng điều đó lại làm đẹp thêm cho những người ở huyện lên… Và đại đội sản xuất ở đây đã phân công “nghề nổ cáo” cho bác Thuận để cung cấp dược liệu cho tập thể chế biến thuốc không sót một mùa đông nào, những bộ lông thú săn bắt được đều thuộc về tập thể. Và năm nay trời rét lạ lùng, hứa hẹn chất lượng lông cáo hảo hạng, một vị chủ nhiệm trên huyện đã mò về bản hòng mua được những tấm lông cáo tuyệt vời đó, ông ta rất quan tâm và tỏ thái độ thân mật với bác Thuận nên bác rất mong tuyết rơi để có thể đi nổ cáo ngay. Thứ thuốc nổ đặc biệt làm nên sự nổi tiếng của bác Thuận là lấy lớp da mỏng của gà đem thái chỉ, trộn đều với diêm sinh (lưu hoàng) và mạt sắt giã vụn, viên lại thành những viên nhỏ như thuốc tể sau đó cẩn thận vùi vào tuyết để cáo dẫm phải rồi thu nhặt về lấy da. Bí quyết bào chế thứ thuốc lợi hại này đã phải đánh đổi bằng mạng sống của đứa cháu nội dễ thương khi không may đá bóng vào lồng thuốc nổ bị thương ở chân đến nỗi hoại thư mà chết. Sau đó con trai bác cũng phát điên mà chết theo, con dâu thì đi lấy chồng khác để lại hai ông bà lão cô đơn thui thủi. Hằng ngày bác Thuận phải miệt mài đi nổ cáo ở sâu trong núi còn vợ bác Thuận phải ở nhà một mình trong cô đơn lẫn sự sợ hãi nơi rừng núi đìu hiu trống vắng. Đi nổ cáo đã vài ngày nhưng vẫn chẳng được con nào, bởi lẽ mấy năm nay cáo đã thưa thớt nhiều rồi, bác Thuận rất sốt ruột vì nếu không tìm được bộ da nào sẽ phật ý chủ nhiệm trên huyện đã kì vọng. Và qua bao công sức tìm kiếm, bác đã phát hiện ra bầy cáo nơi hẻm núi sâu, bác mừng thầm và quyết tâm đặt thuốc nổ cho được lũ cáo ấy mặc cho bão tuyết đang kéo đến. Tờ mờ sáng hôm sau, bác đi thu nhặt thuốc nhưng chẳng có gì cả ngoài mấy viên thuốc đã bị thất lạc, thất vọng bác đi lang thang và vô tình thấy một con cáo già nằm chết sau một phiến đá lớn. Bác Thuận đưa tay ra nhặt nhưng con cáo già động đậy và bất chợt lao thẳng về phía trước, ông lão tức tối đuổi theo vô tình bị trượt chân ngã như trời giáng, lồng thuốc nổ ông xách bên tay trái do bị đập mạnh xuống đất làm những viên thuốc bùng nổ, ông lão hoàn hồn nhìn lại thì thấy cánh tay trái của mình be bét máu thịt và nhầy nhụa… sau đó ông không còn biết gì nữa… Bộ lông con cáo già đã được làm tấm khăn quàng cổ cho con gái ông chủ nhiệm vào cái hôm lễ cưới ai cũng phải tấm tắc khen và thán phục tài năng của người thợ săn. Mấy năm sau, khí hậu triền núi mỗi năm lại ấm dần lên và những con cáo cũng không còn có những bộ lông màu hoàng kim hoặc màu nâu ngã xám đẹp tuyệt nữa, và thậm chí da của chúng cũng chẳng còn giá trị nữa. Bác Thuận giờ tuổi cũng đã cao không làm nương rẫy được nữa, được thôn bản bảo trợ nuôi dưỡng cả hai ông bà. Họ thường mặc những bộ quần áo rộng thùng thình và thường ngồi sưởi nắng ở đầu bản. Bà lão cũng thường bê cơm ra đó, đặt bát trên một chiếc trục lăn lúa. Ông lão tay phải cầm đũa còn tay kia buông thõng – đó là một cánh tay cụt, không có ngón, lồng trong một chiếc túi bông dày cộm. Bác Thuận vừa ăn vừa đăm đăm nhìn về phía những nẻo đường…

Người ta nói “sinh nghề tử nghiệp”, có lẽ gia đình bác Thuận ở đây rất đúng với câu nói đó. Vì chạy theo nghề nghiệp mà bác đã phải trả cái giá rất đắt: cháu nội chết, con trai cũng chết theo, con dâu bỏ đi, gia đình bác giờ tan tác chỉ còn lại hai ông bà cô độc sống nương tựa vào nhau, và rồi cuối cùng, bác Thuận vì vẫn chạy theo cái nghề nghiệp ấy (hay bắt buộc phải chạy theo?) để tồn tại giữa cái thời cuộc sống còn rất khó khăn này mà bác đã trở thành người sống dở chết dở… Những kẻ được gọi là cấp trên chỉ biết ngồi hưởng lợi trong khi những người tầng lớp dưới phải lao động khổ cực thậm chí bị nguy hiểm đến tính mạng, vậy mà còn chưa thỏa mãn được nhu cầu của những kẻ ích kỉ ấy. Tấm da cáo tuyệt đẹp được mọi người khen ngợi trong ngày cưới của cô con gái ông chủ nhiệm đã phải đánh đổi bằng một nửa mạng sống của bác Thuận. Ở triền núi hẹp này đã không còn những con cáo có bộ lông đẹp và quí nữa vì không có tuyết rơi dày đặc trong mùa đông, nhưng lòng tham của con người và sự vô tâm ích kỉ cố hữu thì vẫn còn tồn tại mãi cùng triền núi nghiệt ngã này, ở nơi hẻo lánh và rất đời thường này. Cũng còn đó những con người suốt cả cuộc đời lao khổ vất vả, để đến khi được nghỉ ngơi thanh nhàn cũng là khi đã ngồi trên chiếc xe lăn lặng lẽ sống những ngày tháng cuối đời đợi thần chết mang đi. Giọng văn lạnh và tỉnh nhưng lại da diết và làm động lòng người trước những số phận, những cảnh đời trái ngang. Câu chuyện như một lời phê phán sâu sắc chỉ thẳng vào bọn ích kỉ tham lam chỉ biết chuộc lợi cho bản thân mà mặc kệ sự sống chết của người khác, hơn thế đó lại là những người có tuổi đáng ra phải được phụng dưỡng và kính trọng. Câu chuyện thắm đượm nỗi buồn và sự xót thương cho những con người lao động ở tầng lớp dưới quá nhỏ nhoi dù họ đã đi gần trọn cả một kiếp người, nhưng câu chuyện cũng không quá bi lụy chìm đắm trong nỗi buồn mà tấm lòng nhân đạo của tác giả đã thấu hiểu những con người nhỏ bé đó, làm sáng lên ngọn lửa của vẻ đẹp tâm hồn họ giữa mùa đông lạnh lẽo khắc nghiệt và giữa sự nguội lạnh của tình thương yêu đồng loại nơi con người. Tấm lòng đó đã thắp sáng ngọn lửa nơi trái tim của mỗi người đọc và nó còn được duy trì sáng mãi, sống mãi trong lòng người để những giá trị tốt đẹp luôn vĩnh hằng. Những người thâm niên có cảnh đời gian truân như thế rất đáng được thông cảm và đáng được trân trọng. Sự đưa đẩy của cuộc đời đầy biến động đã được đúc kết thành những dòng chiêm nghiệm về lẽ sống ở đời, về tình đời ở tận trong thâm tâm của những con người ấy, không những thế mà còn làm cho những người đọc chúng ta hôm nay hòa nhập vào đó để tiếp nhận, để cảm thụ và biết cách sống như thế nào cho có ý nghĩa.

Chi tiết cuối của truyện cho thấy một dấu hiệu của sự lạc quan dù còn mong manh, mơ hồ của tác giả: “Bác Thuận vừa ăn vừa đăm đăm nhìn về phía những nẻo đường”, những nẻo đường rộng mở cho những lớp người sau không còn cơ cực và những hướng đi cho một ngày mai tương sang vẫn đang đón chờ những ai dám đương đầu với thử thách để cải tạo cuộc sống một cách chủ động, vượt lên trên hết những khó khăn, như nhà văn Lỗ Tấn đã từng nói: “Trên mặt đất làm gì có đường, người ta đi mãi thì thành đường thôi” (Truyện Cố hương).

KẾT LUẬN

*

Qua sự tiến triển mạnh mẽ và ngày càng được khẳng định cả về số lượng lẫn chất lượng của văn học Trung Quốc đương đại chúng ta nhận thấy được rằng, rõ ràng truyền thống của văn học Trung Quốc từ cổ chí kim đã ngày càng được phát huy mạnh mẽ. Truyền thống đó thể hiện qua cụm từ giản dị của nền văn học Trung Hoa với bề dày lịch sử đáng khâm phục, mà các nhà văn ngày nay đã không làm hổ danh các bậc tiền bối, họ đã xứng đáng để tiếp bước phát huy mạnh mẽ hơn những yếu tố truyền thống đó: hiện thực, nhân đạo và yêu nước.

Các tác giả đương đại đã “chộp” được những khoảnh khắc rất đắt và đã ghi chép lại với sự  sáng tạo của mình một cách chân thực hiện thực cuộc sống từ thành thị đến nông thôn với đủ mọi tầng lớp cùng những mối quan hệ phức tạp. Tính chất hiện thực như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt nền văn học Trung Quốc và đến ngày nay vẫn được phát huy đầy sức sáng tạo cho phù hợp với thời đại. Bên cạnh đó cần phải thấy được tấm lòng nhân đạo sâu sắc của những trái tim nghệ sĩ chân chính. Họ đi sâu vào hiện thực và khám phá những nét đẹp trong tâm hồn của con người, họ đã góp thêm một tiếng nói giá trị cho chủ nghĩa nhân đạo. Họ không chỉ khám phá mà còn thông cảm sâu sắc đặt trọn vẹn niềm tin vào sức mạnh tâm hồn của con người. Tin rằng con người sẽ vượt qua tất cả để dần tiến tới sự tự do về cá tính, niềm hạnh phúc về tinh thần. Và cũng sẽ thật thiếu sót khi không nhắc đến yếu tố cuối cùng trong đặc điểm văn học Trung Quốc – đó là lòng yêu nước thiết tha, nồng thắm. Mỗi công dân trong cộng đồng đều chung tay xây dựng tổ quốc vô vàn yêu mến của họ thành một đại cường quốc, họ dốc lòng xây dựng và cũng dốc lòng bảo vệ. Tất cả hành động đều mang lại một mục đích chung cuối cùng là nhằm đưa đất nước Trung Hoa của họ vững bước tiến lên trên con đường hội nhập quốc tế, khẳng định vị thế nước nhà bằng lòng yêu nước thấm đẫm và cả sự dấn thân hành động nữa.

Chính những yếu tố đó đã làm nên đặc điểm của nền văn học Trung Quốc từ xa xưa, và các bậc tiền bối đã làm bật nổi được những yếu tố đó chứ không chỉ đến bây giờ mới được bộc lộ. Nhưng điều đáng quí là ở chỗ các tác giả đương đại đã xuất sắc trong việc phát huy ba yếu tố quan trọng bậc nhất ấy của nền văn học truyền thống Trung Quốc hơn bốn ngàn năm qua, bắt kịp tư tưởng – phương pháp nghệ thuật Tây Âu – Nga, Mỹ, … họ sáng tạo với những tư tưởng nghệ thuật mới mẻ, phóng khoáng, không câu nệ qui phạm, họ không bận tâm quá nhiều vào những phương pháp cổ điển, truyền thống Trung Hoa.

Những hình tượng nhân vật trong các truyện ngắn đương đại cùng những va chạm trong cuộc sống, những tâm tư thầm kín trong tâm hồn đều được các tác giả ghi lại rõ nét, chân thực và vô cùng sống động. Những hình tượng nhân vật cùng với vẻ đẹp tâm hồn đáng quí ấy có sức sống lâu bền trong lòng chúng ta dù đã gấp lại trang sách, và hương thơm vẻ đẹp tâm hồn của họ vẫn vương vấn quanh đây, giữa cuộc đời và giữa lòng người. Ta có thể thấy họ ở đâu đó trong cuộc sống và ở ngay giữa chúng ta, đang đối thoại với chúng ta, đang đặt ra những dấu chấm hỏi day dứt để chúng ta tìm ra những câu trả lời. Qua đó, mỗi người chúng ta hôm nay cũng phải luôn nhìn lại mình, tự soi chiếu lại bản thân mình để làm sao sống thật tốt thật có ích. Đó cũng chính là một tác dụng quan trọng và vô cùng tích cực của văn học – thanh lọc tâm hồn con người và hướng con người tới những giá trị tốt đẹp nhất.

PHỤ LỤC 1

*

TÓM TẮT MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

 

  1. Nhà văn và thiếu nữ (Triệu Quảng Tồn):

Truyện kể về chuyện tình lãng mạn của một nhà văn ở tận trên phương Bắc và một thiếu nữ mãi dưới Giang Nam, tuy cách xa nhau ở hai đầu đất nước, chỉ trao đổi qua thư từ nhưng chất chứa trong đó là cả một tình yêu nồng nhiệt. Hơn một lần họ cùng muốn được gặp tận mặt nhau nhưng đều không dám dù cả hai đều đang đứng trước cửa nhà nhau, nhưng tuyệt nhiên không có một tiếng gõ cửa nào vang lên. Cuối cùng, họ chọn giải pháp cảm thấy không gặp vẫn hơn, vẫn giữ trong lòng một tình yêu thắm thiết nên họ không muốn phá tan cái ranh giới giữa tưởng tượng và thực tế theo nghĩa tích cực…

  1. Lá thư tình (Cố Công):

Truyện nói về tâm lí lo lắng bình thường ở các bà mẹ có con gái mới lớn, đó là bà Đỗ Nhã, mẹ của cô con gái Phương Phương, bà đã như một kẻ trộm khi lén giấu biệt bức thư của con gái mình gửi cho người yêu. Nhưng điều bà không ngờ rằng bức thư ấy lại chính là “bản sao” thư của chính mình từ mấy chục năm về trước. Phương Phương đã thản nhiên đưa ra điều kiện, nếu mẹ trả lá thư cho mình thì cô cũng sẽ trả lại mẹ lá thư “xưa cũ” mà cô đã lục lọi được trong chiếc rương của mẹ. Bây giờ đã khác xưa quá xa vì ái tình được đem ra đầu môi chứ đâu có rụt rè, e thẹn như xưa nữa đâu – Phương Phương lí giải. Bà mẹ Đỗ Nhã ngẩn ngơ nhìn cô con gái mình và bồi hồi nhận ra một cách chua xót: trẻ con bây giờ, nhịp điệu, tiết tấu bây giờ, tất cả đều như tăng nhanh, tư tưởng và tình yêu cũng vậy, mình ngày đêm lo lắng cho con cái, lo lắng đến mức bạc đầu, nhưng chẳng rõ thuở xưa cha mẹ mình có bận lòng như thế này chăng…?

  1. Chào em, Tiểu Mai (Vương Quân):

Tiểu Mai là một cô gái với nhan sắc mê người, thời Đại học cô đã làm các chàng trai điên đảo. Dù được nhiều người theo đuổi nhưng cô vẫn chưa tìm được người ưng ý. Vào đêm chiếu phim ngoài trời, cô cùng bạn bè đi xem, không khí rất đông vui tấp nập, và trên màn bạc đột nhiên xuất hiện bốn chữ rất to : “Chào em, Tiểu Mai” của một nhân vật thần bí chúc mừng cô vì hôm đó cũng chính là sinh nhật cô. Quá bất ngạc nhiên và bất ngờ, khi định thần lại cô thấy rất vui với cách “tỏ tình” lãng mạn này, cô quyết tâm tìm ra người bí mật đó. Nhưng cô vẫn kiếm tìm và vẫn hoài vô vọng. Không vật chất, không bạc tiền nhưng những con chữ chạy trên màn hình đã cổ vũ và là nguồn động lực rất lớn cho cô mỗi khi buồn bã thất vọng trong cuộc sống. Cô nghĩ chủ nhân của dòng chữ đó chắc hẳn phải là một người dung dị và chân thành lắm, thế là có một người từng đã hoặc vẫn đang ở chốn xa xôi nào đó chúc phúc cho mình…Tiểu Mai vẫn luôn tâm niệm như vậy, trong buổi tiệc họp nhóm bạn bè cũ, mắt cô vẫn đăm đăm suy nghĩ như hồi ức về một giấc mộng đẹp cho đến lúc tỉnh ra bàng hoàng…

  1. Đoá hồng cuối cùng (Từ Tuệ Phấn):

Trong cửa hàng bán hoa mới mở ở cuối dãy phố người ta thuê một cô gái khoảng mười bảy, mười tám trông coi. Vào những dịp lễ hay không dịp lễ, tuỳ theo nhu cầu những đoá hoa vẫn cứ trên tay chuyền tay nên việc buôn bán rất suôn sẻ và cô gái vẫn làm việc rất chăm chỉ nơi cửa hàng “muôn sắc” của mình. Cô gái để ý thấy một chàng trai có thói quen mua hoa vào những chiều thứ bảy, tuần nào cũng thế. Cô đoán già đoán non với những lí do bâng quơ về mục đích mua hoa của chàng trai nọ và tự cười thầm một mình. Sau đó mấy tuần liền mà chàng trai không đến mua hoa, cô rất lo buồn và quyết định hỏi lí do chàng trai đó, cô còn có ý tốt khuyên chàng hãy chăm lo học hành đừng ném tiền mua hoa lãng phí như thế nữa. Chàng trai nghe những lời khuyên chân thành xong đã rút một đoá hoa tặng cô nhưng cô từ chối thẳng và đem chúng cắm lại vào bình để bán, cô lại nói rằng chàng trai hãy lấy số tiền ấy mà lo cho việc học hành, cô không thích những bông hoa ấy càng không thích anh mua tặng cô. Nghe xong chàng trai cúi đầu buồn bã ra về, cô nhìn theo mà rơi nước mắt… Bẵng đi một thời gian, chàng trai giờ đã là một ông chủ lớn đến tìm cô và xin được cầu hôn cô, anh ta nói: Anh đã mua nơi em ngàn vạn đóa hoa hồng và cuối cùng nhận ra chỉ có em mới là đóa hồng của riêng anh…những đoá hoa nơi cửa hàng rung rinh như trái tim cô tràn đầy hạnh phúc…

  1. Hai vé xem phim (Khuyết Danh):

Vu Tùng và A Mỹ quen và yêu nhau khi cả hai cùng đến rạp xem bộ phim “Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài”, họ cùng xem phim với lòng say mê và đồng cảm, họ cũng đến với tình yêu bằng sự chân thành và trong sáng. Nhưng lần nào mời Vu Tùng đến nhà chơi A Mỹ cũng đều nhận được một lời từ chối mà chẳng hiểu vì sao, chỉ có Vu Tùng mới hiểu: anh giữ kín một điều bí mật, có phấn đấu cả một đời, anh vẫn là một người nghèo khổ. Đang phân vân lưỡng lự trong tình cảm thì bạn bè mời mọc nên anh đã quyết định đi Tây Tạng và phải nén lòng chia tay với A Mỹ, cô đã tặng anh chiếc túi thơm nhỏ để khi xa nhau anh có nhớ cô thì lấy ra xem. Qua một thời gian, cú điện thoại với câu: Anh không còn yêu em nữa từ Vu Tùng là kết quả mà A Mỹ nhận được sau bao ngày chờ đợi mỏi mòn. Đến bây giờ, cô vẫn đến rạp chiếu phim đều đặn, với hai vé trên tay cô đứng đợi trong vô vọng, lòng mong nhớ người yêu vô hạn, Vu Tùng đã xa cô thật rồi, cô nhoà đi trong nước mắt… Ở một nơi cách đó không xa, với hai dòng lệ rỏ, tiếng nói khẽ, bây giờ Vu Tùng cũng đang khổ đau mà A Mỹ nào có hay có biết: Anh ngồi trên xe lăn và hai tay cứ mải miết mân mêcái túi nhỏ xinh xinh chưa hề mở nắp, trước mắt anh là một màn đen kịt… Vu Tùng bị tai nạn giao thông trên đường về, anh đã quyết chia tay và khi người bạn thân hỏi sao mày lại cố chấp thế, anh cay đắng chỉ một lí do : Phận tao nghèo…

  1. Chuông gió (Lưu Quốc Phương):

Binh là một người lính trong quân đội, khi được nghỉ phép về quê thì Tiểu Kì – người yêu cũ của anh bồng con tới để nói với anh rằng cô vẫn còn rất yêu anh, cô lấy Đại Cẩu chỉ vì mẹ cô ép uổng và nếu anh vẫn còn yêu cô, chấp nhận cô thì cô sẽ bỏ Đại Cẩu để về ở với anh. Dấu hiệu của sự chấp nhận là chiếc chuông gió kỉ niệm của hai người, khi Binh treo nó lên cô sẽ biết mà bỏ tất cả để đến với anh, cô nói anh hãy suy nghĩ thật kĩ, cô sẽ chờ anh. Binh im lặng không có phản ứng gì cả, anh dửng dưng trở về trại với chiếc chuông gió trong ba lô. Và ngày ngày anh treo nó lên ngân nga những giai điệu thân thương, nhưng Tiểu Kì giờ đang ở xa nên nào có thấy được đâu!? Hai năm sau về quê, anh ngỡ ngàng nhận ra Tiểu Kì không còn đến tìm anh nữa, người ta nói tên Đại Cẩu đã cưới cô vợ mới và ruồng bỏ Tiểu Kì. Binh ngậm ngùi treo chuông gió lên những mong cô trở lại, anh không những treo chuông lên cửa ngõ nhà mình, mà còn ở cả nơi trái tim anh nữa. Nhưng đau xót thay, khi gặp mặt, Tiểu Kì đã mặc cảm cúi đầu lặng lẽ nuốt lệ vào trong, đứa con giờ đã biết nói thích thú với chiếc chuông gió trong tay Binh và bi bô đòi mẹ lấy cho nó…

  1. San San và Sa Sa (Nhiêu Kiến Trung):

Đôi bạn thân San San và Sa Sa sau khi lấy chồng thì mỗi người một cảnh. San San lấy chồng nhưng không được sống trong cảnh giàu sang, chồng cô muốn học tiếp lên đại học để tìm đường công danh. Mọi chi phí vật chất cô phải vất vả lắm mối xoay sở đủ, nhưng đổi lại cô chỉ nhận được những cánh thư lãng mạn đến sáo mòn từ chốn thị thành đô hội của chồng chứ không hề có một sự chia sẻ gánh nặng tiền bạc. Còn Sa Sa thì ngược lại, cô đủ đầy tiền bạc mà chồng cô vẫn muốn ra đi để bành trướng sự nghiệp nên những phong bì tiền vẫn luôn được gửi về tới tấp, còn cô thì lại vô cùng thiếu thốn tình cảm. Những tờ giấy bạc lạnh lẽo không hề kèm theo một lời chia sẻ nhắn nhủ nào từ người chồng ở xa. Đến một ngày kia chồng San San tốt nghiệp và kiếm được tiền cho gia đình cô trở nên dư dật, cô rất đỗi ngạc nhiên và vui mừng. Cùng chung tâm trạng là Sa Sa vì cô cũng đã nhận được những cánh thư lãng mạn và đầy yêu thương từ chồng mình. Nhưng San San và Sa Sa vẫn chỉ còn lại một mình nơi phòng không chiếc bóng, họ tìm đến nhau và luôn trò chuyện tâm sự cùng nhau, nếu trước đây ai nấy đều giả dối về hoàn cảnh của gia đình mình một cách gượng gạo, thì nay họ trải lòng cho nhau, chẳng hề giấu giếm. Và bây giờ họ mới là bạn thân với nhau thật sự.

  1. Thời đại ảo (Ngô Huyền):

Truyện kể về ba nhân vật chính: vợ chồng Chương Hào, Nặc Ngôn và người tình ảo của Chương Hào trên mạng là “Tuyết lạnh nhất trong mùa đông”. Sau khi sắm được dàn máy vi tính, Chương Hào trước đây bị vợ gọi là quê mùa dốt nát thì giờ đây anh lại cực kì “hiện đại” với khả năng lướt mạng và “chát” đến điêu luyện. Ngoài đời anh ta nhút nhát đến đâu thì khi ngồi trước máy vi tính để tán gẫu anh ta lại càng dẻo mồm dẻo miệng bấy nhiêu. Khi thấy chồng “ngoại tình ảo” với cái cô “Tuyết lạnh nhất trong mùa đông” nào đó trên mạng một cách lẳng lơ ong bướm, thì nỗi ám ảnh của Nặc Ngôn là sớm muộn gì người ta sẽ gắn cho cô cái mác có một không hai của loại người thời thượng: “quả phụ vi tính”. Cô tức tối bày ra kế hoạch li khai chồng với cái máy vi tính đáng ghét đó, cô kéo chồng ra khỏi cuộc sống ảo bằng vũ trường, bằng chọc ghen là hạ sách và cuối cùng là phá tan tành cái máy vi tính, những mong Chương Hào có thể cắt đứt tình yêu với “Tuyết lạnh nhất trong mùa đông” lại càng hạ sách hơn …Chương Hào sau khi thấy vợ đập nát chiếc máy vi tính – công cụ giúp anh trở thành người “sành điệu” trong mơ màng ảo mộng thì giật mình như chợt tỉnh một cơn ác mộng.

  1. Chim phóng sinh (Hoàng Mỹ Hoa):

Truyện có hai nhân vật là đứa cháu xưng tôi đối thoại với bà nội mình khi thấy bà đang chuẩn bị mua chim phóng sinh và bà còn nói nhiều điều về sự thiện đức ấy nữa. Nhưng khi muốn phục vụ cho việc “thiện tâm” của mình thì nhân vật người bà ấy lại bảo người ta phải bắt chim thật nhiều để bán mà không thèm quan tâm đến giá cả rồi khi đứa cháu hỏi, luận điệu của bà nội cực kì cố chấp này cũng rất buồn cười: người bán bắt chim để bán cho mình tội lỗi chồng chất còn mình phóng sinh cho những chú chim tội nghiệp sẽ được lên chốn Tây thiên?! Kết thúc tác phẩm là câu hỏi của đứa cháu gây nên sự suy ngẫm cho người đọc: Phóng sinh có thật là việc tốt không? Câu hỏi đơn giản nhưng rất khó trả lời, đó là lời cảnh báo để mỗi người tự nhìn nhận lại việc làm lâu nay của mình đã thật sự tốt và hợp lí chưa…

  1. Lá phong (Vương Mông):

Câu chuyện diễn ra nhẹ nhàng và trầm lắng như những chiếc lá phong bay: anh và chị quen và yêu nhau trong mùa lá phong hình trái tim thắm đỏ. Họ cùng yêu thơ của nhà thơ của nhà thơ A Phong một cách say mê. Khi chị phải ra đi vì bận việc nhà ở mãi Giang Namanh và chị đã kẹp những chiếc lá phong thắm đỏ trong quyển thơ A Phong, và lời hẹn ước trở lại của chị cũng được khắc sâu nơi trái tim anh. Thời gian thấm thoát đã mười mấy năm, anh giờ đã có gia đình, nhưng anh vẫn còn lưu giữ những kỉ vật xưa mà bóng chị vẫn biệt tăm. Lúc này người ta bàn luận về tác giả A Phong với nhiều hướng khen chê khác nhau, và anh cũng tham gia bảo vệ thần tượng của mình dù nhiều lúc tưởng chừng thất vọng về ánh hào quang của thần tượng. Dần dà anh chìm trong dòng suy tưởng và bị chứng hoài nghi khó gần một cách kì lạ. Chiếc lá phong cùng quyển thơ của anh cũng đã mất. Cuối cùng anh nhận ra một đạo lí thâm thuý: Vật chất không mất đi cũng chính là mất đi, mất đi rồi vẫn còn linh hồn, thay đổi hình thức tồn tại cũng chính là mất đi, mất đi không mất đi, không mất đi tức là mất đi, mất đi cuối cùng không mất đi, có gì khác nhau giữa lớn lên và mất đi. Còn có cái mất mát, cái gì gọi là mất mát đây? Không có gì mất đi, nhưng không tìm được, không thuộc về bạn, bị đem đi hoặc bị lãng quên, chí ít với một người nhất định mà nói thì chính là mất mát. Sự việc này ngày càng phát sinh. Cái cũ không mất đi, cái mới không lại, cái mất đi cũng chẳng phải tìm lại, cái đến cũng chẳng phải cố mà nghênh đón… Từ đó anh cảm thấy dễ chịu và vui vẻ hơn hẳn. Và mùa thu sang, chị trở về, anh và gia đình mình đã đón tiếp nồng hậu, họ gặp nhau trong một không khí rất mực thân tình. Chiếc lá phong đã không tìm lại được nhưng tình bạn nồng thắm thì giờ đây lại càng bền lâu gấp bội. Ai nấy đều phấn khởi, ngồi bên nhau nhìn lá phong thoả sức tung bay.

      Mùa thu lại sang, anh ra ngoại thành ngắm những chiếc lá phong nhưng anh đã vô cùng thất vọng vì không gian giờ đây ồn ào mất cả vẻ tĩnh lặng vốn có, những chiếc lá phong giờ đây cũng đã được người ta biến thành món hàng hợp thời bằng cách ép plastic…

  1. Đinh hương tháng Mười (Vương Tùng):

Truyện Đinh hương tháng Mười của Vương Tùng với những hình tượng nhân vật người lao động khác được tập trung lại trong một cái hợp viện nhốn nháo để từ đó bật ra những mâu thuẫn trong quan hệ ứng xử cũng hỗn loạn ồn ào. Vấn đề nhà văn Vương Tùng đưa ra là quan hệ xã hội cộng đồng. Ngày xưa dưới cái thời giương cao ngọn cờ tập thể, công xã, người ta dễ dàng chung sống cùng nhau dưới một mái nhà, bất phân họ mạc, thế hệ, tất cả mọi cá tính, bản ngã đều phải dẹp qua một bên, dẹp xuống tận đáy lòng, sống để bụng chết mang đi. Nhưng nay thì khác hẳn và thế là mâu thuẫn trong căn nhà tứ hợp viện, bốn phòng đông bắc tây nam gom chung một bức tường vây và cái ngõ ra vào là khóm đinh hương quí giá đã bùng nổ. Mâu thuẫn giữa ông cháu lão Tư Dương với gia đình Già Lam, chủ sở hữu tứ hợp viện và mâu thuẫn giữa ba thế hệ trong ngay cả gia đình Già Lam: một cụ già, một cô con gái li dị chồng là Lam Vân, cùng đứa cháu ngoại ngang bướng Lam Vũ luôn đòi hỏi tự do cá tính và ăn chơi trác táng đã diễn ra trong suốt câu chuyện. Sự xuất hiện của Đồ Cách, một văn nhân trẻ đến ở trọ trong tứ hợp viện này cũng không có tác dụng điều hoà lại hai luồng mâu thuẫn nêu trên, ngược lại càng làm cho chúng gay gắt thêm và kết cục thật bi thảm: khóm đinh hương héo dần, ba người tử nạn là “Đại Bìu” cháu lão Tư Dương, Già Lam và cô Lam Vũ, thế hệ thứ ba. Còn lại duy nhất Đồ Cách ngày ngày đưa người thiếu phụ Lam Vân mất cha, mất chồng, mất con đi làm…Đây là sự cảnh báo cho bi kịch của thời đại mới nếu môi trường xã hội bị ô nhiễm…

  1. Song cầm tế (Lương Hiểu Thanh):

Truyện kể về hai cây đàn violon hàng đầu với âm chất tốt như nhau được tạo ra từ bàn tay của người con trai một bậc thầy làm đàn. Anh làm chúng từ hai cây gỗ tốt nhất do chính tay cha mình nâng niu chăm chút và đó cũng là di nguyện của ông để lại cho anh trước khi qua đời. Anh con trai gửi hai cây đàn ở của hàng để tìm người tri âm và sẽ biếu tặng cho họ nếu họ thật sự biết được giá trị ngang nhau của chúng mà không hề có một sự so sánh nào. Và anh đã toại nguyện trao tặng hai cây violon quí giá cho hai người nhạc sĩ tri âm vì họ không hề cũng không muốn có một sự so sánh nào giữa hai cây đàn tuyệt hảo đó. Họ cùng hợp tấu trong bất kể trường hợp nào và bất kể ở đâu, tiếng tăm của họ bay khắp mọi nơi. Người ta ca tụng họ, tâng bốc họ, nhưng tâm lí người đời có chút quái lạ, hơn nữa, lại dễ dàng đổi thay. Lòng người thích sự chia lìa, có lúc lại cầu mong sự dịu dàng, và mọi người bắt đầu so sánh tài năng giữa họ một cách nghiệt ngã để xem ai phong độ hơn, khi lòng người đã phát hiện ra cái đẹp không toàn vẹn, thật ra cũng dễ chịu như khi ca đẹp ban đầu, và lòng người xôn xao tranh chấp, báo giới rộn ràng dư luận… Hai người nghệ sĩ đã cũng không thể hợp tấu nữa và họ cũng không thể không chia tách mỗi người một hướng. Nhưng sự so sánh ác nghiệt vẫn bám riết lấy họ mà sự thị phi của dư luận là phương tiện thực hiện hữu hiệu nhất. Sự chia lìa của họ làm hai cây violon cũng phân li, tưởng chừng như chúng vô tri nhưng chúng cũng buồn thương và nhớ nhau khôn xiết. Hai người nghệ sĩ đáng thương cũng dần dần trở nên ích kỉ, ghen ghét lẫn nhau. Cuối cùng thật bi thảm, hai người họ – một người thì hụt hẫng tột độ đến nỗi nhảy lầu tự tử, một người thì bị bệnh tâm thần, miệng cứ lẩm bẩm một câu đến tội nghiệp “Vì sao? Vì sao?”…

Anh con trai người thợ đàn tìm lại được hai cây violon của mình đã mục nát và làm nhà cho lũ chuột nơi nhà kho của một cửa tiệm nọ. Anh chực trào nước mắt trong dòng hoài niệm và đau lòng vì đã không thực hiện được trọn vẹn di nguyện của người cha đáng kính, ông những mong tạo ra hai cây đàn tốt như nhau để giáo dục một bài học quí cho con người: Trên đời này cái đẹp của các vật khác nhau là giống nhau. Tại sao lại phải so sánh cái đẹp với cái đẹp. Đó là sự hẹp hòi của lòng người mà dẫn tới sự ngu dốt! Đám trẻ bên đường ngân nga câu hát như một lần nữa xoáy vào lòng anh và cũng là xoáy vào lòng người đọc: Trên đời chỉ có mẹ thương con, con không mẹ như…

  1. Chủ nhiệm lớp (Lưu Tâm Vũ):

Vì phạm tội ăn cắp nên Tống Bảo Kỳ luôn bị mọi người xa lánh, nhưng với lòng yêu nghề và tấm lòng cao thượng của một nhà giáo dục chân chính – thầy Trương Tuấn Thạch đã đồng ý nhận Tống Bảo Kỳ vào lớp 9C do mình chủ nhiệm. Quyết định táo bạo đó đã gặp phải biết bao lời phản đối gay gắt và cả sự khó hiểu của mọi người. Với sự kiên nhẫn và lòng nhân ái của một người thầy vị tha và đầy lòng nhiệt huyết, anh đã từng bước cảm hoá được Tống Bảo Kỳ nói riêng và các mầm non tương lai của đất nước nói chung dần thoát khỏi độc tố nặng nề và dai dẳng của “bè lũ bốn tên” để lại…

  1. Vết thương (Lưu Tân Hoa):

Chị ra đi đến một nơi xa xôi hẻo lánh để làm lại cuộc đời, rời bỏ gia đình, tuyệt giao với mẹ khi phát hiện ra mẹ mang tội danh “phản bội” bị mọi người khinh khi. Thời gian thấm thoát đã chín năm trôi qua, nhưng thành kiến đối với chị vẫn không có thay đổi, dù là ở cái nơi cùng tận chị đang sống, dù có cố gắng làm việc tốt đến đâu chị vẫn bị người ta cảnh giác nghi ngờ vì lai lịch không lấy gì làm trong sạch. Chị chơi vơi  lạc lõng và sống tách biệt với mọi người. Đến một ngày người mẹ đau khổ viết thư cho chị báo tin rằng bà đã được xoá sạch tội danh “phản bội” mà “bè lũ bốn tên” cố tình gieo rắc thì chị mừng vui vô hạn và vội vã quay về thăm mẹ nhưng đã quá muộn: mẹ chị đã ra đi vĩnh viễn khi đang nằm trong bệnh viện mà nước mắt nhạt nhoà và không được gặp lại con mình lần cuối… Tô Tiểu Lâm – người bạn trai tốt bụng đã luôn giấu chị để về săn sóc thăm nom người mẹ đáng thương, và anh cũng đã kề bên bà mẹ trong cả giây phút cuối cùng để an ủi phần nào nhưng cũng không thể làm bà yên lòng nhắm mắt với lòng mong nhớ con gái vô hạn. Những giọt nước mắt ân hận và đau thương của chị cứ chảy dài hoà vào nỗi đau không gì bù đắp được… Sau khi an táng mẹ xong, chị cùng Tô Tiểu Lâm cùng ngồi bên mộ mẹ rất lâu. Giờ đây, trong lòng chị chợt trào dâng nguồn sức mạnh vô bờ vượt lên cả nỗi đau thương chồng chất, bằng dũng khí của tuổi trẻ chị nói với mẹ thân yêu của mình và cũng như nói hộ những thanh niên phải mang những “vết thương” vô hình hay hữu hình do “bè lũ bốn tên” gây nên: Mẹ, mẹ thân yêu, mẹ hãy yên tâm, con gái mẹ mãi mãi không quên vết thương trong lòng mẹ và con là do kẻ nào gây ra. Con nhất định ra sức cống hiến hết cuộc đời mình cho sự nghiệp của Đảng. Chị khẳng định mạnh mẽ rằng những thanh niên đầy nghị lực sẽ đi qua cả nỗi đau của những “vết thương” nặng nề để thể hiện ý chí quyết tâm cùng lòng yêu nước tha thiết, tất cả vì quê hương ngày càng giàu đẹp.

  1. Bảo vệ Anh đào (Cừu Sơn Sơn):

Truyện nói lên một khía cạnh của sự giáo dục là phải đấu tranh và phủ định dốt nát, sự vô lí của những con người lạc hậu nghèo nàn. Những người dân ở một làng nọ do thất học thiếu hiểu biết đã hành động vô lí, ngang nhiên hái trộm những quả anh đào ở trường tiểu học. Dù biết chuyện nhưng vì phần lớn họ là cha mẹ học sinh nên thầy hiệu trưởng già đành nhắm mắt bỏ qua không muốn ảnh hưởng đến hoạt động của trường và cả danh hiệu lao động tiên tiến ngành giáo dục của ông nữa. Nhưng mọi chuyện đã thay đổi hoàn toàn khi ông hiệu trưởng già về hưu và một cô hiệu trưởng trẻ được điều về thay thế. Bằng sự nhiệt thành của tuổi trẻ, cô muốn cải cách toàn bộ nền nếp trường, trong đó có việc bảo vệ những quả anh đào ngon ngọt để làm quà phấn đấu cho học sinh của mình. Nhưng đó chỉ là mơ hão khi mà hằng năm cứ đến mùa là anh đào lại bị hái trộm. Cô hiệu trưởng trẻ vô cùng bất bình đã cho xây tường cao để bảo vệ, nhưng vẫn vô hiệu, dân làng vẫn trèo vào hái trộm tan tành. Thậm chí vô lí hơn, họ còn đến trường ăn vạ khi một người vì trèo tường hái trộm mà té gãy chân. Hoạt động của trường bị đảo lộn và cô hiệu trưởng trẻ rất đỗi thất vọng chán chường. Cuối cùng vì bị áp lực số đông – hình như không ai giúp cô giành công bằng, tuy các lực lượng lãnh đạo như đồn trưởng đồn công an hay vị hiệu trưởng già dày dặn kinh nghiệm đều thấu hiểu lí lẽ nhưng các vị này đều khuyên cô nên nhân nhượng vì cái trường này, vì học sinh của cô. Trong buổi tiệc rượu “tạ lỗi” với dân làng do trường xuất tiền chiêu đãi, cô hiệu trưởng trẻ suy nghĩ mọi chuyện và uống rượu đến say khướt mà mắt thì đầm đìa nước. Trong lúc mất định hướng cô đã tìm một chiếc rìu sắc và đến dưới các gốc anh đào điên cuồng hạ từng cây… Nhưng có một kết cục khác, đó là khi cô hiệu trưởng trẻ đến dưới những gốc anh đào với cây rìu sắc thì những học sinh của cô đến đó nắm tay nhau kết thành hàng rào quanh gốc cây và quyết tâm bảo vệ những cây anh đào đó, chúng hứa với cô sẽ thu hoạch được những quả anh đào vào năm sau với một quyết tâm mạnh mẽ và chân thành nhất. Cô hiệu trưởng đứng sững người và sau đó quăng rìu ôm lấy chúng… Đây mới là kết cục đúng đắn vì sau đó trước cổng trường đã treo một tấm biển to: “ Trường tiểu học Anh đào”. Tại sao chúng ta lại không tin tưởng kết cục này, tác giả Cừu Sơn Sơn thì qua nhân vật “tôi” thì bảo rằng: Dù thế nào thì tôi vẫn tin bởi người nói kết cục đó là một giáo viên. Tôi nghĩ cô còn hiểu lũ trẻ hơn cả tôi!

  1. Mắt đêm (Vương Mông):

Mắt đêm là câu chuyện mang tính chất “dòng ý thức” miên man dàn trải, và cũng chính vì vậy đã mang lại một sự băn khoăn dai dứt triền miên cho người đọc khi nhập vào dòng suy tư của nhân vật để cùng trăn trở, cùng suy ngẫm. Nhân vật Trần Cảo là một người sống vì lí tưởng, anh viết văn để cống hiến hết mình, bằng cả lòng tâm huyết mà phải chịu nhiều lận dận. Vùng quê yên ả thanh bình đã làm phẳng lặng tâm hồn và xoa dịu vết thương lòng của Trần Cảo, nhưng khi anh trở về với thành phố rực rỡ ánh đèn thì mọi sự đều xa lạc hẳn, anh không còn (hay không thể) hiểu nổi lòng người, hiểu nổi cuộc đời. Con người ta sống với nhau lại hời hợt và thực dụng đến thế sao? Đồng tiền lại có sức mạnh ghê gớm đến thế sao? Mọi người mãi chạy theo xu hướng hiện đại xa hoa mà bỏ quên những giá trị truyền thống tốt đẹp hay sao?… Tất cả đã làm cho Trần Cảo phải suy nghĩ ưu tư và có gì đó thật sự chán nản. Hai mươi năm long đong, hai mươi năm cải tạo đã dạy cho Trần Cảo bao điều quí báu, nhưng đồng thời cũng làm mất đi những cái đáng ra không nên mất, anh đã gần gũi với những người dân lao động giúp anh hiểu họ và yêu mến họ, mong ước làm giàu có đời sống tinh thần và cải thiện đời sống vật chất của họ, kêu gọi mọi người nhất là tầng lớp thanh niên chung tay thực hiện thật tốt mục tiêu ấy bằng cả lòng nhiệt huyết và cả lòng tin tưởng. Nhưng hai mươi năm cải tạo cũng cho anh thấy rõ sự ích kỉ nhỏ nhen của những con người hám lợi, vì tiền mà quên đi tình nghĩa. Dù sao, với tấm lòng yêu đời yêu người, với một trái tim dạt dào yêu thương chân thành Trần Cảo vẫn yêu ánh đèn, yêu những người thợ đi làm ca đêm, yêu dân chủ, yêu tiền thưởng và đùi cừu ướp…

  1. Kính (Giả Bình Ao):

Trong truyện, nhân vật xưng “tôi” qua lời nhờ vả của người bạn tên là Đắc Quí phải mang một món tiền nhờ chuyển giúp cho cha của bạn là ông Vương Hữu Phúc khi có dịp trở về quê nhà. Lần đầu hẹn gặp ông Vương Hữu Phúc nhưng không được, “tôi” có phần bực tức. Đến lần thứ hai khi đã gặp nhau, “tôi” mới biết là lần trước ông lão trên đường đến chỗ hẹn đã gặp tai nạn bị thương ở đầu. Đó là do ông lão khi đi ngang phố đã không chú ý va đầu vào một tấm kính lớn của một nhà hàng sang trọng đang xây dở theo mốt “lắp kính suốt lượt”. Tác giả hỏi rõ và khuyên ông lão nên đi kiện của hàng đó để được một khoản tiền đền bù lớn vì lỗi là ở cửa hàng đã không ghi kí hiệu trên kính cho người đi đường biết mà cảnh giác. Nhưng ông Vương Hữu Phúc kiên quyết từ chối và hơn nữa còn gửi lại tiền nhờ “tôi” đem đến đền bù thiệt hại cho cửa hàng đó, điều này làm “tôi” vô cùng ngạc nhiên nhưng cuối cùng cũng hiểu rõ tấm lòng vị tha của ông Vương nên đã nhận lời. Kết thúc truyện là hình ảnh của một ông chủ cửa hàng khác lớn tiếng chưỉ ai đó đã vô tình (chả lẽ cố ý va đầu?!) vào tấm kính làm chiếc kính lắp của ông ta vỡ vụn đứa nào đâm đầu phải đây? Đứa nào? Mắt mù cả rồi sao?”, “tôi” chứng kiến cảnh ấy, cuối cùng ra khỏi khu phố chật dẹp đầy ấp những kính và lên tàu vềNam ngay tối hôm ấy…

  1. Triền núi hẹp (Giả Bình Ao):

Truyện kể về những mùa đông lạnh giá tuyết rơi dày đặc ở một triền núi nọ. Thời tiết khắc nghiệt đó làm ai nấy đều ở lại trong nhà, duy chỉ có bác Thuận vẫn miệt mài đi trên tuyết để làm việc, thời tiết này là cơ hội tốt để cho bác săn những con cáo có bộ lông đẹp ngây người. Bác đã tự chế một thứ thuốc nổ đặc biệt sau đó vùi dưới tuyết để bẫy cáo, những bộ da đẹp đến nỗi mà ai cũng muốn có, cả những cán bộ trên huyện cũng tìm đến để mua cho bằng được. Khi các cán bộ huyện tới thì đại đội sản xuất ở triền núi lại bắt bác Thuận biếu không cho họ vài tấm da cao để được chỉ tiêu tối cao là nhận ở mức cao nhất số tiền cứu tế, hỗ trợ nên càng ngày thu nhập của bác sút kém hẳn đi, nhưng điều đó lại làm đẹp thêm cho những người ở huyện lên… Và đại đội sản xuất ở đây đã phân công “nghề nổ cáo” cho bác Thuận để cung cấp dược liệu cho tập thể chế biến thuốc không sót một mùa đông nào, những bộ lông thú săn bắt được đều thuộc về tập thể. Và năm nay trời rét lạ lùng, hứa hẹn chất lượng lông cáo hảo hạng, một vị chủ nhiệm trên huyện đã mò về bản hòng mua được những tấm lông cáo tuyệt vời đó, ông ta rất quan tâm và tỏ thái độ rất thân mật với bác Thuận nên bác rất mong tuyết rơi để có thể đi nổ cáo ngay. Thứ thuốc nổ đặc biệt làm nên sự nổi tiếng của bác Thuận là lấy lớp da mỏng của gà đem thái chỉ, trộn đều với diêm sinh (lưu hoàng) và mạt sắt giã vụn, viên lại thành những viên nhỏ như thuốc tể sau đó cẩn thận vùi vào tuyết để cáo dẫm phải rồi thu nhặt về lấy da. Bí quyết bào chế thứ thuốc lợi hại này đã phải đánh đổi bằng mạng sống của đứa cháu nội dễ thương khi không may đá bóng vào lồng thuốc nổ bị thương ở chân đến nỗi hoại thư mà chết. Sau đó con trai bác cũng phát điên mà chết theo, con dâu thì đi lấy chồng khác để lại hai ông bà lão cô đơn thui thủi. Hằng ngày bác Thuận phải miệt mài đi nổ cáo ở sâu trong núi còn vợ bác Thuận phải ở nhà một mình trong cô đơn lẫn sự sợ hãi nơi rừng núi đìu hiu trống vắng. Đi nổ cáo đã vài ngày nhưng vẫn chẳng được con nào, bởi lẽ mấy năm nay cáo đã thưa thớt nhiều rồi, bác Thuận rất sốt ruột vì nếu không tìm được bộ da nào sẽ phật ý chủ nhiệm trên huyện đã kì vọng. Và qua bao công sức tìm kiếm, bác đã phát hiện ra bầy cáo nơi hẻm núi sâu, bác mừng thầm và quyết tâm đặt thuốc nổ cho được lũ cáo ấy mặc cho bão tuyết khó khăn. Tờ mờ sáng hôm sau, bác đi thu nhặt thuốc nhưng chẳng có gì cả ngoài mấy viên thuốc đã bị thất lạc, thất vọng bác đi lang thang và vô tình thấy một con cáo già nằm chết sau một phiến đá lớn. Bác Thuận đưa tay ra nhặt nhưng con cáo già động đậy và bất chợt lao thẳng về phía trước, ông lão tức tối đuổi theo vô tình bị trượt chân ngã như trời giáng, lồng thuốc nổ ông xách bên tay trái do bị đập mạnh xuống đất làm những viên thuốc bùng nổ, ông lão hoàn hồn nhìn lại thì thấy cánh tay trái của mình be bét máu thịt và nhầy nhụa… sau đó ông không còn biết gì nữa… bộ lông con cáo già đã được làm tấm khăn quàng cổ cho con gái ông chủ nhiệm vào cái hôm lễ cưới ai cũng phải tấm tắc khen và thán phục tài năng của người thợ săn. Mấy năm sau, khí hậu triền núi mỗi năm lại ấm dần lên và những con cáo cũng không còn có những bộ lông màu hoàng kim hoặc màu nâu ngã xám đẹp tuyệt nữa, và thậm chí da của chúng cũng chẳng còn giá trị nữa. Bác Thuận giờ tuổi cũng đã cao không làm nương rẫy được nữa, được thôn bản bảo trợ nuôi dưỡng cả hai ông bà. Họ thường mặc những bộ quần áo rộng thùng thình và thường ngồi sưởi nắng ở đầu bản. Bà lão cũng thường bê cơm ra đó, đặt bát trên một chiếc trục lăn lúa. Ông lão tay phải cầm đũa còn tay kia buông thõng – đó là một cánh tay cụt, không có ngón, lồng trong một chiếc túi bông dày cộm. Bác Thuận vừa ăn vừa đăm đăm nhìn về phía những nẻo đường…

  1. Thiên Cẩu (Giả Bình Ao):

Thiên Cẩu là một nông dân khoẻ mạnh chân chất, hiền lành và có ý chí cầu tiến. Tuy phần nào còn thiếu hiểu biết nhưng anh đã sống và lao động bằng cả sự nhiệt huyết, bằng cả trái tim chân thành, chí tình chí nghĩa. Cái tên Thiên Cẩu cũng gắn với quá khứ phần nào lạ lùng của anh. Ba mươi sáu năm về trước, một người đàn ông ở thành này phải đi trốn bắt phu. Đúng vào đêm 12 tháng 9 – đêm nguyệt thực “thiên cẩu nuốt trăng”, những người đàn bà trong thành theo tập tục đem gậy cán mì ra sông khuấy nước, ca hát cho mãi đến khi trăng sáng lại để phá bỏ điềm gở là nếu “thiên cẩu nuốt trăng” thì những người xa quê sẽ gặp điều bất hạnh. Vợ người trốn phu cũng ra theo nhưng vừa đến bờ sông thì đau bụng dữ dội, đẻ đứa trẻ ngay trên bãi cát. Đứa trẻ ấy là Thiên Cẩu bây giờ.

Lớn lên một chút anh mồ côi cả cha lẫn mẹ nên phải tự mình làm lụng nuôi thân. Anh làm đủ mọi việc mà người ta cần một cách rất chăm chỉ và siêng năng lại tốt bụng giúp đỡ mọi người nên ai cũng quí mến. Trong thành lúc bấy giờ có bác thợ đào giếng tên Lý Chính nổi tiếng thạo nghề nhưng cũng là người khó tính và keo kiệt vào bậc nhất. Ông ăn nên làm ra từ nghề gia truyền của mình và không chịu nhận ai làm học trò cả. Kén cá chọn canh mãi Lý Chính mới chọn Thiên Cẩu học việc với mình. Thiên Cẩu một lòng theo thầy làm ăn, anh luôn là người phải gánh phần công việc nặng nhất trong khi Lý Chính thì nhẩn nha hưởng thụ, nhưng anh tuyệt nhiên không có một lời than vãn mà vẫn siêng năng làm việc. Thấy Thiên Cẩu ngày càng thạo việc, Lý Chính lo sợ anh sẽ giành đất làm ăn của mình nên đuổi Thiên Cẩu không cho anh theo học nữa. Thiên Cẩu buồn lắm nhưng vẫn ra đi tìm kế khác sinh nhai.

Trái ngược với Lý Chính, vợ ông là một người vừa đẹp người lại đẹp nết, phúc hậu và đoan trang. Vợ Lý Chính rất mến tình tình của Thiên Cẩu nên đối xử với anh rất tốt, bà là người đã đem lại cho Thiên Cẩu tình thương ấm áp trìu mến mà từ sau khi cha mẹ qua đời anh chưa từng được cảm nhận. Thiên Cẩu coi bà như nữ Bồ Tát trong lòng của mình, hết lòng giúp đỡ bà và gia đình không nệ chi gian lao. Con của Lý Chính là Ngũ Hưng rất nghịch ngợm nhưng cũng rất quí chú Thiên Cẩu vui tính của mình.

Thiên Cẩu nghe theo lời khuyên của vợ thầy ra thành phố tìm việc làm ăn. Trải qua bao gian khó, thử thách nơi phố thị anh đã tìm được cách kiếm tiền kha khá: đó là bán búi rửa chén làm từ rễ cỏ hoàng mạch. Giờ đây, cuộc sống của Thiên Cẩu có phần thoải mái hơn nhưng anh vẫn tất bật với công việc. Anh vẫn không quên ơn nghĩa của người thầy Lý Chính, nên rảnh cứ ba, bốn ngày là lại qua nhà thầy thăm hỏi và giúp đỡ khi cần thiết. Lý Chính giờ đây thấy Thiên Cẩu khá giả nên cũng tay bắt mặt mừng.

Nhưng càng ngày, Lý Chính càng tỏ ra là một người độc đoán và keo kiệt. Ông bắt Ngũ Hưng phải nghỉ học làm việc giúp đỡ gia đình, vợ ông lên tiếng khuyên can thì bị ông mắng chửi đủ điều. Vì vậy, vợ Lý Chình tìm đến Thiên Cẩu nhờ anh khuyên giúp thầy nhưng chẳng ăn thua gì. Thiên Cẩu tuy buồn nhưng vẫn lặng lẽ giúp gia đình thầy khi thầy nhờ vả và luôn lo lắng, an ủi mẹ con Ngũ Hưng. Một hôm, khi đang cắt cỏ hoàng mạch trên sườn núi, Thiên Cẩu thấy vợ Lý Chính chạy lên báo tin dữ: Khi Lý Chính đang đào giếng thì giếng sập, Lý Chính bị đá đè lên người hiện giờ đang nguy cấp. Thiên Cẩu chạy như bay về thành. Anh nhảy xuống giếng ra sức cứu thầy, khó khăn lắm mới lôi thầy lên được, toàn thân thầy đầy máu. Qua mấy ngày đêm cấp cứu, tuy cứu sống được nhưng thầy anh đã bị liệt nửa người từ thắt lưng trở xuống và từ đó trở thành người tàn phế phải nằm liệt trên giường. Gia đình Lý Chính từ đó suy sụp và lụn bại. Vợ Lý Chính phải làm việc và lo toan cho chồng và cho cả gia đình đến hao mòn cả thân xác, suy sụp về tinh thần. Thiên Cẩu thì trước sau vẫn một lòng dốc tiền dốc sức hi sinh cả hạnh phúc của mình để lo cho gia đình thầy. Vợ thầy hết lời cảm kích và biết ơn nhưng vẫn khuyên anh đừng chỉ lo cho gia đình bà mà hi sinh hạnh phúc của chính mình. Thiên Cẩu không nghe một mực đòi giúp đỡ chu toàn cho thầy và gia đình. Anh bỏ ra về sau khi đã nói rõ lòng mình. Vợ thầy nước mắt lưng tròng nhìn theo.

Về phần Lý Chính, từ khi bị tai nạn tính tình ông thay đổi hẳn, khi nằm liệt trên giường, ông cảm thấy không có gì quan trọng cả ngoài những người thân yêu đang quan tâm hết lòng cho mình nên đã hiền hậu, độ lượng hơn trước rất nhiều. Lý Chính cùng vợ rất biết ơn Thiên Cẩu và rất xúc động trước tấm chân tình và sự chí tình chí nghĩa của anh. Hai người nói chuyện rất lâu sau khi Thiên Cẩu ra về, họ khóc rất nhiều và cuối cùng trong nước mắt người chồng ấy đã nói với vợ ý định của mình “tìm chồng để nuôi chồng”, người vợ sợ hãi nghe lời chồng nói và đau đớn vô ngần, bà chồm tới ôm chồng và cả hai người lại chìm ngập trong nước mắt.

Hôm sau, Lý Chính đem tâm sự của vợ chồng mình nói rõ với Thiên Cẩu khi vợ đã đi lên núi cắt cỏ. Thiên Cẩu nghe xong không nén khỏi đau và thầm nghĩ mà thương thầy, đưa ra một quyết định như thế không biết lòng thầy đã chảy bao nhiêu máu. Anh kiên quyết lắc đầu. Tuy sâu thẳm trong lòng, Thiên Cẩu đã yêu vợ thầy từ lâu, đó là một vị Bồ Tát thánh thiện nhân từ, nhưng đối với anh đó là một tình yêu trong sáng mang màu sắc tôn thờ, anh yêu ngây ngất nhưng biết chừng mực không bao giờ vượt qua khuôn phép. Anh tưởng sẽ chôn chặt tình cảm đó trong lòng nhưng giờ anh lại đang phải đấu tranh với chính mình. Anh đi lang thang và suy nghĩ dằn dặt, cho dù anh chết cũng không sao nhưng không thể lấy vợ của thầy được. Anh nghĩ và ghê tởm cho chính bản thân mình …

Vợ chồng Lý Chính giờ đã quyết tâm không gây phiền phức lo toan cho Thiên Cẩu nữa nên đã tự làm lụng nuôi thân. Nhưng Thiên Cẩu nhìn mà ứa nước mắt: vợ thầy thì đổ bệnh, Ngũ Hưng thì còn bé phải ra đời bươn chải. Anh đau đớn và sau một đêm suy nghĩ thật nhiều, anh đã đồng ý làm theo lời thầy. Họ làm một buổi tiệc nhỏ chiêu đãi và làm giấy tờ chính thức thành vợ chồng. Gia đình họ giờ đây có bốn người: hai người chồng, một người vợ và một đứa con nhỏ. Cuộc sống bắt đầu một cách ngượng ngùng nhưng bốn người họ yêu thương và hi sinh cho nhau bằng cả tấm lòng. Cả gia đình ngày một khá lên khi tình cờ họ phát hiện ra nghề nuôi và nhân giống bò cạp. Nhờ chăm chỉ và chịu khó nên cuộc sống gia đình họ rất sung túc và nổi tiếng trong làng. Nhưng Thiên Cẩu dù là bây giờ mang chức danh mới thì anh đã luôn tự đưa mình vào một khuôn phép, không tùy tiện và khi làm hết công việc trong nhà anh lặng lẽ đi ra ngoài và ngủ trong một cái lều quạnh quẽ – đó như một cách anh tự trừng phạt bản thân mình. Người đàn bà rất buồn đôi lúc quay quắt mong mỏi khát khao nhưng nói thế nào Thiên Cẩu cũng vẫn lạnh lùng như thế nên bà cũng đành chấp nhận xót đau. Người chồng bại liệt đã chứng kiến tình cảnh lẻ loi của ba người từ đầu đến cuối, bác cũng đau khổ vật vã khi thấy mình là gánh nặng cho gia đình, là chướng ngại cản trở đôi bạn tình không thể đến với nhau. Thế là trong một đêm giá lạnh, bác thợ bại liệt ấy đã lợi dụng sợi dây buộc vào ang bò cạp để treo cổ tự sát. Một cái chết đáng thương của một con người đáng quí. Gia đình có bốn người, bác thợ đã dành đường cho Thiên Cẩu, giao nghề cho Thiên Cẩu, giao nhà cho Thiên Cẩu. Bác đã tìm cách mở nút cho tất cả tấn bi kịch tình cảm của cả ba con người. Thiên Cẩu đau lòng than khóc như chết lịm đi, anh khóc như chưa từng được khóc, lòng thì vô cùng ăn năn. Những người trong thành vô cùng xúc động. Gia đình anh luôn tưởng nhớ về người quá cố và luôn cố gắng xây dựng gia đình ngày càng hạnh phúc. Họ phát triển nghề nuôi bọ cạp rộng khắp cho mọi người trong thành để những người dân cũng cải thiện đời sống của mình, làm cho cái thành đẹp mà không giàu này trở thành giàu và đẹp…

  1. Hắc thị (Giả Bình Ao):

Câu chuyện kể về chuỗi ngày gian truân trong cuộc đời của Hắc Thị. Hắc Thị là một nông dân cần mẫn, chịu thương chịu khó, chị có một nét đẹp khỏe mạnh và chân chất rất tự nhiên. Chồng chị là một người có thân hình bé choắt và là con của một gia đình giàu có nên khi về làm dâu, tuy chị làm lụng vất vả không quản công, nếm đủ mọi cay đắng nhưng gia đình chồng chỉ coi chị là một người ở không hơn không kém. Người chồng bé choắt thì cũng chỉ xem chị như thú vui để thỏa mãn dục vọng, còn bản thân hắn thì phong lưu bên ngoài. Hắc Thị ức lắm nhưng chị chỉ biết khóc thầm và âm thầm chịu đựng. Mộc Độc là một người hàng xóm rất tốt bụng của Hắc Thị, anh tuy nghèo khổ, xấu xí nhưng rất thật thà chăm chỉ, anh phải làm việc cực lực đủ mọi nghề để nuôi người cha già yếu của mình. Anh rất có thiện cảm với Hắc Thị và luôn quan tâm đến chị nhưng anh còn rất e dè, nhút nhát.

            Bố chồng của Hắc Thị là một kẻ gian thương, làm nghề tín dụng để bòn rút tiền và đầu tư bất hợp pháp để lấy lời to, vì thế gia đình chồng của chị ngày một phất lên và cũng kênh kiệu “học đòi làm sang” một cách lố bịch. Người chồng bé choắt vì thế cũng ăn chơi sa đọa và ra sức hành hạ Hắc Thị. Chính trong thời gian đau khổ này, chị quen và làm bạn với Lai Thuận, một người rất tốt bụng, nhiệt tình. Cũng như Mộc Độc, anh rất tốt với chị, luôn quan tâm chia sẽ cũng như hết lòng giúp đỡ chị. Gia đình chồng nổi cơn thịnh nộ vì Mộc Độc trong một lúc tức tối đã đến gây chuyện, họ buộc Hắc Thị phải li dị và buộc chị ra khỏi nhà. Hắc Thị tuy lòng bị tổn thương nhưng khi bên ngoài được tự do tự tại chị thấy rất ung dung và thanh thản. Với sự chăm chỉ lao động của một người đàn bà lực điền, chị sống rất thoải mái và tự lo cho thân mình một cách ổn định. Nhưng đêm nằm gối chiếc lạnh lùng chị cũng khát khao một hơi ấm đàn ông, khát khao sự yêu thương. Mộc Độc và Lai Thuận đều có tình ý với chị nên cả hai cùng nhờ người mai mối đến cầu hôn chị. Qua những đêm dài suy nghĩ mông lung, chẳng biết phải chọn ai từ chối ai nhưng lại rất tình cờ và cả sự trùng hợp, chị đã nhận lễ cưới từ người mai mối cho Mộc Độc. Một cuộc sống gia đình khác lại đến với chị, chị đã có một bàn tay chồng ủ ấm đêm đêm và yêu thương chia sẻ mọi việc với chị. Chị thấy phấn chấn hẳn lên và cùng chồng ra sức làm việc để chăm lo xây dựng gia đình. Do cuộc sống ngày một khó khăn, nên Mộc Độc nghe theo lời một người bạn cũ đi làm ăn ở nơi hầm lò tối tăm xa xôi, nơi mà người ta phải “làm bạn với ma quỉ, làm khách của Diêm vương”. Mộc Độc đi rồi, Hắc Thị một mình quán xuyến cả gia đình, nuôi người cha đã già lại đau yếu luôn. Thời gian này, Lai Thuận rất hay đến đỡ đần và giúp đỡ chị làm cha chồng của Hắc Thị rất bực tức, chửi bới Lai Thuận tàn nhẫn vì nghi ngờ Lai Thuận có lòng đen tối. Hắc Thị rất buồn nhưng vẫn nghe theo lời cha nên không tiếp xúc với Lai Thuận nữa. Lai Thuận biết rõ nhưng vẫn luôn giúp đỡ chị hết lòng. Một hôm, Mộc Độc trở về, hình hài đã in đậm dấu vết tàn tạ nơi mỏ than và tâm hồn đã phần nào bị chai sạn vì không tiếp xúc với con người suốt một thời gian dài. Anh đã kiếm được một số vốn kha khá nên hai vợ chồng đã mở một hiệu ăn nhỏ, do chí thú làm ăn lại thêm Hắc Thị đã khéo tay lại khéo ăn nói, nên chẳng bao lâu họ đã làm ăn rất phát đạt. Cha chồng của Hắc Thị nay đã tuổi già sức yếu lại thấy con làm ăn khá giả nên ông cũng yên tâm đi về cõi hạc. Hai vợ chồng khóc than thảm thiết và làm đám tang rất linh đình. Thế là Mộc Độc phải về trông nhà, còn Hắc Thị phải ở cửa hàng lo buôn bán nên hai vợ chồng chẳng mấy khi được ở cùng nhau. Nhiều lần Hắc Thị bảo Mộc Độc ở lại cửa tiệm với mình nhưng anh vẫn tìm cách thoái thác để được về nhà nghỉ ngơi thoải mái vì anh cả ngày làm việc đã rất mệt. Lai Thuận lúc này vẫn là bạn thân thiết của gia đình Mộc Độc, nên những lần Mộc Độc bỏ về nhà, Lai Thuận vẫn kiên trì ở lại để trò chuyện và an ủi Hắc Thị. Anh đã làm lòng Hắc Thị ấm lại, nhưng Hắc Thị vẫn luôn giữ khuôn phép đuổi khéo anh về khi trời đã khuya. Lai Thuận vốn yêu Hắc Thị từ lâu, từ khi không lấy được Hắc Thị anh đã vô cùng tiếc nuối, nay thấy Hắc Thị phòng không chiếc bóng, anh lại trỗi dậy tình yêu trong lòng. Anh đã đem tới cho Hắc Thị những rung cảm yêu thương mãnh liệt và cuồng nhiệt nhất. Bẵng đi một thời gian nữa, Hắc Thị biết được tin gia đình chồng cũ tan tác vì tù tội do vi phạm pháp luật. Người chồng bé choắt phải đi lang thang để xin ăn và tìm đến xin ngay ở cửa hàng Hắc Thị, anh ta cảm thấy vô cùng xấu hổ và ân hận. Hắc Thị tuy trong lòng oán hận nhưng giờ chị lại thấy rất xót thương khi thấy người xưa gặp cảnh không may. Chị bàn cùng Mộc Độc lấy tiền trả nợ giúp cho người chồng cũ để cứu vớt danh dự gia đình của anh ta và còn giúp cho anh ta đi làm ăn ở hầm than. Nhưng do không làm được việc nặng nên người chồng bé choắt ấy rất túng quẫn, trong một lần đang làm việc ở hầm than thì hầm bị sập, anh ta đã chết không toàn thây. Hắc Thị rất đau lòng, đưa anh về để mai táng tử tế. Chị thấy mình như đã kết thúc một giấc mơ buồn ảm đạm.

            Đất nước ngày càng đổi mới, công việc làm ăn của hai vợ chồng Hắc Thị cũng ngày một khá giả, tuy vậy Hắc Thị vẫn thấy bị ghẻ lạnh về tâm hồn bởi vì Mộc Độc vẫn như một khúc gỗ, anh vẫn chai sạn cảm xúc như thế.  Anh yêu vợ nhưng không thể làm cho vợ hạnh phúc thật sự. Vào một đêm Trung Thu rất đẹp trời, Mộc Độc ra tiệm chuẩn bị bánh cùng người làm phá cỗ còn Hắc Thị về nhà dọn dẹp. Tới lúc sắp phá cỗ rước đèn, Mộc Độc sai người làm về gọi Hắc Thị ra họp mặt thì chẳng thấy chị đâu cả. Tưởng rằng chị đi gọi thêm Lai Thuận nhưng đến chỗ Lai Thuận thì cũng chẳng tìm thấy ai. Cùng lúc ấy, ở một thôn nhỏ nằm trên con đường về vùng núi sâu cách đó năm mươi dặm, người ta bắt trói một đôi nam nữ khỏa thân trong một chiếc lều coi dưa rách nát. Họ được phủ một tấm chăn đơn lại để người trưởng thôn đến thẩm vấn, họ khai là người thôn Tây Xuyên cách đây năm mươi dặm, đang trên đường về sum họp gia đình, có cả giấy tờ mang theo. Trưởng thôn thấy có lý nên thả họ ra, nhưng vẫn trừng phạt họ bằng cách dội nước lạnh từ đầu đến chân vì họ đã mang điềm xấu đến trong đêm Trung Thu sẽ làm ảnh hưởng đến việc làm ăn của làng, họ chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi vội vã bỏ chạy ra đường, người nữ bị vấp ngã, người nam đỡ dậy và họ cùng nhau cố sức chạy để cho cái lạnh không vào xương cốt. Không biết con đường này còn bao xa nơi họ cần đến và cũng không biết cuộc sống đang chờ họ là cay đắng hay ngọt bùi, là nỗi buồn hay niềm vui…?

PHỤ LỤC 2

*

GIỚI THIỆU MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN

CỦA NHÀ VĂN GIẢ BÌNH AO

 

TIỂU SỬ

Giả Bình Ao sinh trong một gia đình tại Đan Phượng, Thiểm Tây, Trung Quốc. Ông đã từng học khoa văn của Trường Đại học Tổng hợp Tây Bắc Trung Quốc. Ông chính thức bắt đầu sự nghiệp viết văn vào năm 1973 với tác phẩm đầu tay là truyện ngắn Đôi tất. Sau đó, vào năm 1978, ông đã thành danh khi truyện ngắn Mãn nguyệt nhi (Trăng tròn) được trao giải truyện ngắn ưu tú toàn quốc. Từ đó trở đi, suốt những năm 80 và sang những năm 90, tiểu thuyết của ông thường được đánh giá có chất lượng cao hơn mặt bằng sáng tác nói chung. Ở Trung Quốc, số nhà văn giữ nguyên được tầm cỡ trong một thời gian dài như vậy là rất ít.Giả Bình Ao là một nhà văn tinh thông về văn hóa truyền thống Trung Hoa, bên cạnh đó, ở tác phẩm của ông, người ta còn nhận ra sự hiểu biết và nắm vững hơn người về nghệ thuật và văn minh hiện đại.

Hành trình sáng tác của Giả Bình Ao chi thành hai chặng rõ rệt: từ tác phẩm đầu tay đến hết những năm 80 và từ đầu những năm 90 đến nay. Hầu hết các tác phẩm của ông trước đây viết về đề tài làng quê nông thôn, xoay quanh chủ đề cải cách xã hội nông thôn, các phong tục dân gian. Nhưng khi Giả Bình Ao ở tuổi gần ngũ tuần, các tác phẩm của ông lại chuyển sang đề tài tình yêu trong xã hội và cuộc sống hiện đại, đặc biệt là các tiểu thuyết. Các truyện ngắn ông viết ở giai đoạn này mang đậm triết lý cổ, trong đó có triết lý đạo thiền.

Giả Bình Ao còn có một sở trường là viết tản văn. Trung Quốc gọi tản văn là để phân biệt với vận văn và biên văn. Những bài viết không phải thơ, từ, ca, phú, khúc,… thì đều gọi là tản văn. Nhưng ngày nay, tản văn mọi người ưa đọc, ưa viết có phạm vi hẹp hơn nhiều, thông thường chỉ loại mỹ văn, tiếng Trung Quốc gọi là “nhứ ngữ tản văn” (tản văn thủ thỉ tâm tình). Ngõ ngũ vị là một tản văn được coi là bài mỹ văn xuất sắc tiêu biểu cho thể “tản văn Bình Ao”. Những bài tản văn của ông mang đậm nét văn xuôi truyền thống và đầy tính triết lý phương Đông. Trong thời kỳ văn học mới kể từ năm 1977, tản văn của Giả Bình Ao được xếp ngang hàng với tản văn của những bậc tiền bối như Ba Kim, Tôn Lê, Tông Phác…và với những người cùng lứa như Trương Khiết, Vương Anh Kỳ, Trương Thừa Chí, Sử Thiết Sinh, Dư Thu Vũ.

Nhìn chung, Giả Bình Ao là nhà văn có tình cảm sâu nặng với quê hương, mọi tác phẩm của ông đều có tình cảm bắt rễ sâu ở mảnh đất và đất nước nơi ông sinh sống. Qua cuộc sống của các nhân vật trong tác phẩm, bao giờ người đọc cũng bắt gặp nét đẹp truyền thống Trung Hoa cùng phương thức truyền thống biểu đạt nét đẹp đó.

 

 

 

 

TÁC PHẨM

 

NGƯỜI BỆNH

 

Tôi bị liệt nửa người, chi dưới không cử động gì được, đến trở mình cũng rất khó khăn. Tốt nhất là ngồi dậy, nhưng cũng chỉ là ngồi đấy mà thôi…

Cứ như vậy, ngày lại ngày, đêm đen ngày trắng, ngày trắng chờ đêm đen, đêm đen mong ngày trắng. Tôi thật tình không còn phân biệt được rằng, chiếc giường nó đỡ tôi, hay tôi cõng chiếc giường, để lặng lẽ nhìn lên trần nhà, nhìn ra quanh bốn bức tường, không có thanh âm, cũng không màu sắc, trong không gian ấy chỉ có tôi, tôi và những con vật nhỏ bé: những con kiến láo nháo trên tường, leo lên, bò xuống, xuống xuống, lên lên. Ôi chao! Cái không gian đang thuộc về tôi này, còn kéo dài bao lâu nữa, và tôi còn phải chìm đắm vào trong cái không gian này bao nhiêu ngày tháng nữa.

Tôi bắt đầu mơ mộng những giấc mơ vô cùng tươi đẹp, mơ mộng trong đêm, ban ngày vẫn tiếp tục giấc mơ đó. Người xuất hiện nhiều nhất trong những giấc mộng của tôi, lại là người chị họ tôi…

Tôi vẫn thường nghĩ, trên cõi thế gian này, bạn học có thể không cần, tôi cần chị họ tôi kia, thân thích có thể cũng không cần, tôi cần chị họ tôi kia, cha mẹ cũng có thể khhông cần, tôi cần chị họ tôi kia. Tiếng nói của chị họ tôi, nó mang sắc xanh, nó mềm mại và yếu đuối đến đáng thương. Quần áo của chị họ tôi, bay bướm như một khúc nhạc, khiến cho trái tim tôi đắm đuối, còn như khuôn mặt ư, con mắt ư, tôi lại không nói cho rõ ràng được nó mang màu sắc gì, tôi chỉ biết được những màu xanh đỏ tím vàng lam, tất cả những màu sắc đó đều không dùng mà hình dung nổi…

Tôi nhớ được hết sức rõ ràng rằng, lần đầu tiên chị đến bên tôi, tôi đang mơ mộng, mộng thấy một ngọn núi, dưới đất có tuyết đọng, cây cối ở đó đều trụi lá, trông chẳng khác gì những cây cọc dựng đứng trong đám tuyết, mà cũng không phải là cắm, là dựng, mà là tuyết đã chôn vùi gốc nó, rồi lấy cưa mà cưa cắt đi. Một con bươm bướm bay tới, đỏ thắm, đỏ rực rỡ tươi tắn như một ngọn lửa, khiến cho vùng sơn cước chết lặng này, bỗng như sống động trở lại… Bỗng nhiên tôi nghe thấy tiếng khóc tấm tức, tôi choàng mở mắt, trên đầu giường có một ngọn đèn nhỏ, một người ngồi nghiêng, lưng tối đen, tóc trên đầu cũng đen, khuôn mặt chỉ sáng có một nửa, trắng bệch. Tôi a lên một tiếng, là chị, là người chị họ tôi…

Chị thấy tôi đã tỉnh lại, nước mắt chị nhỏ xuống, nước mắt cũng một màu trắng bệch, trong suốt, chị nói:

- Tiểu D. làm sao mà nên nông nỗi này?

Tôi cười. Tôi nghĩ tới giấc mộng của tôi. Tôi mừng vui, vì chị tôi đã chẳng quên tôi.Tôi lại cười.

Chị cũng cùng cười với tôi.

Tôi nhìn thấy màu sắc của cái cười ấy, có màu hồng, có màu lam, và có cả màu lục nữa, ôi cái cười xinh đẹp biết bao nhiêu, chỉ trong nháy mắt nó đã in đậm vào trái tim tôi…

Kể từ lúc đó, tôi bắt đầu nghiên cứu cái cười này, và cuối cùng tôi đã hiểu được rằng: Tất cả mọi thứ trên cuộc đời này vốn nguyên thủy của nó là không có màu sắc, màu sắc chính là từ trong con mắt của người nhìn, nếu lấy màu xanh mà nhìn cái cây, cái cây sẽ là màu xanh, dùng màu hồng mà nhìn hoa, hoa sẽ có màu hồng, dùng màu xanh mà nhìn nước, nước sẽ là màu xanh. Anh cần màu sắc nào, sẽ có màu sắc đó…

Còn cái cười của chị tôi, nó có đủ cả năm màu.

Chị tôi ở lại đây hai hôm, chị đề nghị với gia đình tôi mở cho tôi một cánh cửa sổ, trên mái nhà, nhìn lên trời.

Chị tôi đi rồi, chị đi vội vàng, không để lại một lời, và cũng không để lại một bóng hình, nhưng để lại cho tôi một cánh cửa sổ nhìn lên trời, một khoảng trời nho nhỏ, hình vuông. Khoảng trời ấy thuộc về tôi. Ngày ngày, đêm đêm, tôi đăm đăm nhìn vào khuôn trời ấy. Ngày ngày, đêm đêm, khuôn trời ấy đổi thay: khi thì vàng, lúc thì đỏ, một lát sau lại đen… Tôi không thích đọc những trang tiểu thuyết nhạt nhẽo, vô liêu ấy nữa,bỗng nhiên tôi lại thích vẽ.

Tôi đòi người nhà đi mua cho tôi đủ các loại màu. Tôi ngồi đó, tôi bôi, tôi trát lên giấy. Tôi thích vẽ gì, tôi vẽ ngay cái đó, tôi đã vẽ tất cả những gì tôi thích vẽ ra…

Tôi đã vẽ một đêm xuân.

Đêm xuân ấy, trăng rất tỏ, tôi đi vào rừng cây ở cuối thôn. Rừng cây ấy đang nhú ra đầy nụ hoa, cành nọ giao cành kia, trăng vằng vặc soi sáng, những nụ hoa vừa mảnh mai vừa dày đặc. ở dưới mặt đất, những chỗ đen là cành cây, những chỗ trắng là ánh trăng, sự đối chọi giữa đen và trắng, hình như có một âm hưởng vô cùng mạnh mẽ. Tôi chờ đợi bạn gái của tôi. Nhưng nàng không tới. Tôi cứ bồi hồi quanh quẩn bên doi đất cao, tôi trượt chân, đạp vỡ một tảng đá rồi ngã lao xuống…

Tôi vẽ nàng, người con gái của tôi.

Nàng không bao giờ đến nữa, và tôi chẳng làm sao hình dung, tưởng tượng ra nổi khuôn mặt của nàng. Tôi khốn khổ lần tìm suốt ba ngày trắng, tôi lại khốn khổ lần tìm suốt ba đêm đen. Suốt trong thời gian ấy, chỉ có con mèo chui qua khe cửa mà vào. Con mèo đã già lắm rồi, nó không còn bắt được chuột nữa, người nhà đã nhiều lần ôm nó vứt ra ngoài đường, nhưng nó vẫn tìm được lối quay về nhà, rồi len lén chui vào trong bốn bức tường với tôi. Nó ngồi ở đầu giường tôi, nó rửa mặt cho tôi xem, nếu không nó nằm khoanh bên cạnh gối, ngủ và gừ gừ thật to. Lúc nó nhìn tôi, đôi mắt lóe lên màu ánh sáng xanh lè… Thế là tôi bật nhớ trở lại, hình dung ra được khuôn mặt người con gái của tôi, và mắt nàng cũng có cái màu sắc ấy…

Tôi liền vẽ ra đúng như thế. Tôi lại vẽ mũi chiếc mũi thật to, và dùng màu đen, cái miệng vểnh lên cong cong, tôi dùng màu đỏ sẫm…

Vẽ xong, tôi thấy thật giống, viết tên nàng lên đấy. Người nhà xem, lại bảo là không giống, tôi nói đó đúng là khuôn mặt của nàng, tôi chỉ cần sửa chữa một chút là xong.

Tôi còn vẽ tất cả các bạn học của tôi, vẽ luôn cả những người họ hàng thân thích cùng người trong nhà. Vẽ rất giống, mặt, tôi dùng toàn màu đen. Mọi người chê tôi là không biết dùng màu sắc, bảo rằng, mặt là phải màu trắng, sao lại đi dùng màu đen? Trắng ư? Trắng chỉ có mỗi một khuôn trời hình vuông bé nhỏ là trắng thôi. Trắng ư? Trắng chỉ có mỗi một khuôn mặt chị họ tôi là trắng thôi.

Sau đó tôi cũng vẽ một bức về chị họ tôi. Tôi cũng vẫn chỉ dùng có hai màu: màu đen và màu trắng…

Mẹ tôi bảo, chị có về qua nhà hồi mùa xuân, rồi sau đó đã đi lấy chồng. Chồng chị là một bí thư công xã.

- Chị ấy đi lấy chồng rồi, không phải là một người vợ, mà là một người yêu, là một người yêu, liệu có thể đến thăm con được không?

Tôi giật mình kinh hãi.

Ở vùng đồng đất tôi đây, một cô con gái, lấy chồng là một nông dân mới gọi là vợ anh nọ anh kia, nhưng nếu đi lấy một anh cán bộ nhà nước, thì lại gọi là người yêu của anh nọ, anh kia, nhưng sao lại là người yêu của một bí thư công xã. Tôi nghĩ, lời mẹ tôi có thể là đúng. Nên tôi đành chỉ còn vẽ cái bầu trời hình vuông nhỏ bé kia thôi. Tôi vẫn quanh quẩn chỉ dùng có hai màu: màu đen và màu trắng, bởi vì đó là vẽ đêm đen. Dùng màu vàng và màu đỏ là vẽ buổi sáng, màu tím và màu lam là vẽ lúc ban trưa. Tôi còn vẽ những ngôi sao, những con chim và những cây lá… Tất cả những gì xuất hiện trên bầu trời của tôi, là tôi vẽ hết. Mặt trăng được tôi vẽ nhiều nhất. Trước đây tôi cứ tưởng trăng màu trắng, bây giờ nhìn lại, mới biết rằng sai, nó có nhiều màu lắm: màu sám, màu vàng, màu xanh, màu đỏ, và còn có cả màu đen nữa.

Tôi cứ nằm như vậy, ngồi như vậy, vẽ như vậy, tôi, bên dưới bầu trời hình vuông nhỏ bé của tôi, bên trên chiếc giường, cùng với bốn bức tường của tôi, tôi mơ mộng theo giấc mơ của tôi, tôi vẽ những bức tranh của tôi.

Trời cũng bắt đầu nóng nực dần lên, tôi nghe bên ngoài nhà có tiếng ve rỉ rả. Tôi biết bây giờ đã là mùa hạ. Con mèo vẫn lẻn vào phòng tôi, nhưng nó lại thích nằm ở góc nhà hơn, đôi tai cụp xuống mắt, với cái vẻ nửa thức nửa ngủ. Đàn kiến ở góc tường cũng đông hẳn lên, hơn nữa lại còn cả những con cuốn chiếu nữa. Người nhà mang cơm vào, kinh hãi, lấy chân di di, tôi ngăn lại, tôi nói, tôi phải vẽ nó, cuối cùng tôi cũng đã vẽ được một bức tranh về nó: quần áo thật đẹp, eo lưng mềm mại, mấy chục đôi chân của nó rất dài, dài và to, khỏe và chắc nịch như những chiếc vó ngựa. Tôi lại nghĩ tới người con gái tôi yêu, điều kiện để chúng tôi yêu nhau nếu như cần đến “ba mươi hai đôi chân”, thì con cuốn chiếu đã trở thành tình địch của tôi mất rồi. Nhưng giờ đây, tôi, hỏng rồi, nàng đáng ra phải là người tình đáng kiêu hãnh nhất.

Trong những ngày như thế, chị họ tôi lại tới. Chị đến quá đột ngột, đúng là chị tôi, đúng là chị đã tới đây. Chị mặc một chiếc áo cánh lụa màu nõn chuối, tôi dám nói chắc rằng con bướm cũng không thể đẹp hơn. Mắt tôi sáng lóe lên, lấy hết sức vùng ra khỏi giường, nhưng chị đã ấn tôi xuống, nói:

- Tiểu D, chị đến thăm cậu đây!

- Chị! Chị vẫn không quên em sao?

Tôi nói, mà tôi thấy trong trái tim tôi rung lên đủ cả bảy nốt nhạc, tràn đầy thi tứ, tôi chẳng biết cảm ơn chị ngần nào cho đủ, mà chỉ nói đi nói lại với chị rằng:

- Em chúc phúc cho chị, chị ơi, em có còn được gọi chị là chị không?

- Thì vẫn gọi là chị chứ sao!

Chị cười, trong nụ cười của chị mang đủ năm màu sắc.

Tôi không sao ngăn nổi dòng nước mắt của mình.

Chị họ tôi ở lại với tôi một ngày.

Tôi nói hết mọi niềm mong chờ, tưởng nhớ của tôi đối với chị, luôn luôn nhớ, chị đã để lại cho tôi khung trời vuông, bé nhỏ…

Chị lập tức đề nghị gia đình tôi đục cho tôi một khuôn cửa sổ mới ở đầu giường, mà lại phải thật to vào, và phải lắp kính lên đấy nữa.

A! Tôi có cảm giác rằng tôi có thể nhảy ngay từ trên giường xuống đất, và sẽ reo thật to lên: Tôi đã nhìn thấy núi hồ cây cỏ bên ngoài cửa sổ kia rồi. Hồ ở đây, nước màu lam, từ đây nhìn ra, nước hồ như dựng đứng lên, còn cái cây thì như mọc từ phía bên kia vươn về phía bên này. Cây phía bên này màu vàng, càng xa càng khác, và là màu xanh lam, màu đen, ở giữa cái màu xanh và màu đen ấy là một ngôi nhà nhỏ, tường trắng đến chói mắt: trên mặt đất là một khối trắng, dưới nước cũng lại là một khối màu trắng.

Chị tôi lại đi rồi, chị đã mở ra cho tôi một khung trời hình vuông to hơn, tôi vô cùng yêu thương khoảng trời ấy, tôi tham lam hưởng thụ khoảng trời ấy, suốt ngày, suốt cả ngày, tôi mải mê vẽ bầu trời vuông vức này.

Tôi đã từng vẽ ánh sáng trên mặt nước. Nó giống như một tấm gương, tất cả đều in vào trong ấy: nào mây, nào mặt trời, rồi núi rồi cây, tất cả đều minh bạch rõ ràng đó là một thế giới đầy bí ẩn…

Khi có gió hiu hiu, tấm gương đó lay động, thì ra nó được dệt ra bằng muôn ngàn sợi dọc với muôn ngàn sợi ngang, bên trên mặt nó có vô vàn những vì sao nhỏ bé nhảy múa, có ngôi sao hình ba cánh, có ngôi sao hình năm cánh, tất cả đều tóe ra vô vàn màu sắc. Những sợi dọc sợi ngang đó, càng dệt càng dày, sự dày dặn, mịn màng đều đổ xô tới trình hiện trước mắt tôi, rất gần, rất gần, nhưng thực ra, nó lại xa đi, rất xa xôi, xa xôi lắm!

Tôi đã từng vẽ cả cá nữa.

Trong những buổi hoàng hôn, dáng chiều nhuộm màu cho mặt nước, thỉnh thoảng có một làn ánh sáng trắng bạc vọt lên lóe sáng, cái ánh sáng lóe lên như thế, chính là cá, nhưng nó là cá nheo, cá trắm, hay cá mè? Tôi không biết nữa. Nhưng tôi nghĩ, nước trong hồ này trong veo, trong đến nỗi hình như không tồn tại, mà chỉ là một khoảng trắng trống rỗng, cá sống trong đó, những con chuồn chuồn ngừng đập cánh trên cao, chết lặng, nó đang trầm tư, hay đang ngắm bóng mình vậy? Nhưng rồi trong cái màu trắng rỗng tuếch ấy bỗng có những làn sóng nho nhỏ, dài dài, giống như những đường vân trên một tấm gỗ dán. Những con cá ấy nó màu hồng, màu trắng, màu đen và cái ánh sáng đầy hư ảo, nhưng nó bơi đi mất rồi, nhưng cái ánh sáng hư ảo kia vẫn tỏa ra màu trắng, màu hồng, màu đen lấp lánh.

Trong thời gian đó, gia đình tôi được tin chồng chị họ tôi phải điều động công tác, không còn làm bí thư ở công xã nữa, được thăng lên làm người chèo lái ở phòng Nông Lâm huyện. Mọi người trong nhà bỗng như có nhiều hi vọng về tôi hơn, không phải chỉ có một lần mẹ tôi đã nói với ai đó ngoài sân:

- Cô ấy thường đến chơi với chúng tôi. Cô ấy là chị họ của Tiểu D. đấy, cô ấy là người yêu của trưởng phòng Nông Lâm huyện, không, trong xã hội cũ đã phải là bà lớn rồi đấy!

Tôi thấy thương cho tôi, và bỗng nhiên tôi thấy hận mọi người trong gia đình: khi chị họ tôi chưa đi lấy chồng, chị đến chơi với tôi, mọi người đã chẳng ai xem trọng chị đến như thế, có khi còn lạnh nhạt nữa, nay thì mấy tiếng chị họ cũng không dám dùng tới nữa. Tôi nghĩ, thảo nào mà mấy hôm trong suất cơm của tôi có phần khá hẳn lên, họ muốn cho tôi sống thêm được vài ba năm nữa, như vậy, bà lớn Trưởng phòng sẽ thường đến nhà tôi nhiều hơn, để cho họ được tự hào. Nhưng lại chẳng đả động gì tới việc mời thầy thuốc chữa chạy cho tôi, cũng lại chính là vì, họ sợ tôi bỗng nhiên khỏe khoắn hẳn lên, chị tôi sẽ không còn lai vãng nữa.

Bạn học của tôi, họ hàng nhà tôi, cũng chẳng ai có một chút ân cần nào với tôi, bởi họ chưa bao giờ hỏi han đến tình hình bệnh tật của tôi cả, mà chỉ có mỗi một kiểu nói:

- Tiểu D. có phúc!

Thế rồi họ hỏi luôn sang tình hình của chị họ tôi:

- Có phải nói tiếng phổ thông không?(1)

- Ăn mặc thế nào? Có phải là có một chiếc túi xách tay be bé xinh xinh không?

- Có phải đeo một cặp kính mát to bự không?

Tôi bỗng nhiên cảm thấy, bọn họ toàn là những ông câu cá, là một lũ chỉ biết chạy theo danh vọng. Chị họ tôi chính là một con cá trong nước, con cá đỏ hồng đỏ thắm, còn họ là một con giun, lấy tay cấu ra một khúc, móc lên lưỡi câu…

Nhưng tôi lại mong ngày mong đêm chị tôi tới, tôi tình nguyện cho người ta cấu ra một khúc, và được chị tán thành tôi sẽ để chị nuốt thẳng tôi vào bụng. A! Chị tôi đã đến thật rồi. Lúc đó đang là mùa thu, chị mặc một chiếc áo lên đan bó chặt lấy thân mình, một loại len cực tốt, ngồi trên đầu giường tôi, hỏi chân tôi còn có cảm giác gì không, nằm thế có cảm thấy quá hiu quạnh không. Tôi chỉ chảy nước mắt, không nói lên lời.

Tôi đem tất cả những bức tranh đã vẽ cho chị xem, hình như chị thích lắm, chị bảo tôi vẽ đẹp, và lại muốn tôi vẽ thêm thật nhiều. Chị còn đi mua cho tôi một khung gương thật to, đặt lên trên bàn bên cửa sổ, quay mặt nó nghiêng nghiêng ra phía ngoài, quả nhiên đó là một tấm gương tốt, ngay lập tức tôi nhìn thấy trời đất, thế giới bên kia hồ. Đó là núi đá cheo leo, trên đó mọc lơ thơ những cây thông, cây phong gì đấy, những cây cối ấy đã già lão cả, có cây còn trơ ra những cành khô khẳng khiu, cứng quèo, có cây chỉ lơ thơ mấy chiếc lá cô đơn, vàng vàng, phơ phất như những ánh sao.

Tôi vội vẽ ngay lấy chúng…

Chị tôi bảo, bức tranh thật đẹp.

Và chị mang đi theo.

Chị đi rồi, chị ra đi như thế nào? Tôi cứ nghĩ mãi về con đường đi của chị…
Có thể, chị leo lên dốc núi đá mà đi, núi ở bên đó rất nhiều. Những ngọn núi gần, nó đông đặc lại như sắt, núi nơi xa, nhạt dần, rồi càng xa càng nhạt, nó mông lung như một giấc mơ. Đường đi ở trong núi, mặt đường lổn nhổn những đá xanh, bước đi làm nó vang lên lạo xạo, chị vui vẻ bước đi, vừa đi vừa nhặt những hòn đá, lơ đãng quẳng đi, rồi nó rơi mất vào bụi cây rậm rạp ở nơi xa, những con chim rừng hốt hoảng bay lên, trên bầu trời, giữa cái sắc màu bạc sam sám đang có vô số những điểm đen chao đảo.

Cũng có thể là chị đi từ con đê bối ngược lên. ở đó có một khoảng rừng thu, mà rừng hình như không phải do cây tạo thành, mà là một đống màu sắc ngổn ngang, hồng có, thắm có, tím có, vàng có, và còn có cả những sắc do màu pha trộn vào với nhau…

Phía trước là rừng cây hoa(2), cây mọc thành hàng thành lối, toàn một màu phấn trắng, mặt trời đã nhô lên, khiến cho mỗi cây hoa đều có một chiếc bóng của mình, mà những chiếc bóng ấy cũng đều mang một màu phấn trắng…

Chị đi đến ven sông thì trời đã tối, những cành đen đủi của hàng liễu, lá lơ thơ buông mành, nó rủ xuống như mây bay nước chảy. Lá cũng rụng hết rồi, chỉ còn lại những chiếc cọng con. Trăng xanh nhàn nhạt, vàng nhờ nhờ, mấy con quạ đen vút bay qua, đầu đen thui, đuôi cũng đen thui, nhưng ở ngực lại trắng đến lóa mắt.

Tôi cứ suy nghĩ thế mãi, mỗi lần suy nghĩ tôi lại vẽ một bức họa, và tôi đã vẽ tất cả tới mười mấy bức…

Tôi mong mỏi chị tôi lại tới, tôi sẽ đem tất cả những bức tranh đó ra, tặng chị. Nhưng rồi, mùa thu đã trôi qua đi, vẫn không thấy chị tôi đến.

Người nhà tôi vẫn thường hỏi tôi:

- Tiểu D. lúc nào thì chị ấy lại trở về?

Tôi không trả lời được.

Một ngày trôi qua, rồi lại một ngày nữa trôi qua.

Có một hôm mẹ tôi nói với tôi:

- Thế là xong, chị ấy chẳng còn bao giờ trở về đây nữa.

Tôi hỏi:

- Tại sao lại thế?

Tôi hỏi, tôi hỏi to như thể chất vấn mẹ tôi.

- Dân làng đồn rằng, vị trưởng phòng ấy đã được đề bạt lên làm huyện trưởng rồi, chị ấy bây giờ là một vị phu nhân rồi!

- Là phu nhân? Là phu nhân ư?

Tôi trầm ngâm, trầm ngâm, cả một ngày trắng, cả một đêm đen tôi không ngủ được, và cũng chẳng mơ mộng nữa. Tôi nghĩ, chị ấy có thể chẳng bao giờ đến đây nữa thật.

Chị không thể đến được nữa rồi, tất cả đều đã hết ánh sáng, tắt ngấm…
Người trong gia đình tôi cũng ít bước vào phòng tôi, cơm nước cũng có phần sút kém đi. Tôi đã thấy mẹ tôi đánh đập con mèo già ngay trước mặt tôi, mắng nó rằng “bắt chuột không hay lại hay ỉa bếp”. Thật tội nghiệp cho con mèo, mỗi khi nó lẻn vào phòng tôi, tôi lại gọi cho nó chui vào trong chăn. Nó rét đến run lên lẩy bẩy, nó nép vào ngực tôi, đưa cặp mắt xanh lè nhìn tôi. Tuyết bắt đầu như người ta xé những túm bông ném xuống đậu trên khung cửa sổ, khung cửa sổ không còn bầu trời ngoài kia nữa, băng đông trên khung cửa sổ, chẳng nhìn thấy gì nữa, cả nước, cả núi, cả những con cuốn chiếu lắm chân cũng chẳng thấy đâu, những con kiến cũng rất vắng vẻ, tôi chỉ có mình tôi, chỉ có con mèo tội nghiệp của tôi. Tôi sợ lắm, lo lắng rằng có một ngày nào con mèo của tôi chết mất, thì còn ai là người bầu bạn với tôi nữa?

Tôi phải tranh thủ thời gian vẽ nó.

Tôi vẽ đôi mắt nó, đôi phần mang sự nồng nhiệt của trái tim xuân, đôi phần mang sự ngượng ngùng e ấp của người thiếu nữ, đôi lòng đen của cặp mắt ấy, khi tôi gắn nó ở chân sống mũi, nó đang mang một nụ cười rất hồn nhiên, khi tôi đưa lòng đen về góc mắt, thì đó là cái nhìn giận dữ ngọt ngào, còn khi lòng đen dừng lại ở chính giữa, thì nó như đang đăm đắm nhìn về một nơi xa xôi nào đấy, và nó phóng ra một vòng hào quang làm mê muội lòng người.

Tôi vẽ mặt nó, giống như mặt một bà lão hiền hậu, trên trán có những vết nhăn thực sâu, miệng móm mém, giống như đang nhai một cái gì đó, kêu tóp tép. Tôi cũng vẽ nó thành một ông lão, già lụ khụ, râu rất dài, ngồi dưới ánh nắng mặt trời, đôi mi mắt cụp xuống, ngủ gà ngủ gật, vang lên những hơi thở đều đều, không nhanh không chậm…

Tất cả những tình cảm của tôi, những màu sắc của tôi, tôi trút hết cho con mèo, gần như đã quên mất chị tôi đi…

Nhưng chính giữa lúc đó, người bưu tá đưa đến một phong thư, người nhận, viết tên tôi, rất rõ ràng. Tôi cảm thấy là lạ, khác thường.

Trên cái thế gian này, nào còn có ai nhớ đến tôi? Tôi nhìn lại phong thư, rõ ràng là đề tên tôi. Tôi bóc thư, đó là thư của chị tôi. A! Chị bảo tôi, công việc của chị rất bận, chị cho tôi biết rằng, chồng chị làm huyện trưởng, công việc tối mắt tối mũi, nên công việc trong nhà đều do một mình tay chị lo liệu, không còn một giờ rảnh rỗi nào…

Nhưng chị nói:

- Thế nào chị cũng sẽ đến thăm cậu!

Tôi tưởng chừng như phát điên phát rồ lên, tôi lớn tiếng gọi con mèo của tôi đến, tôi ôm nó, tôi bế nó, thơm nó, rồi tôi bóp nó, tôi đánh nó, gào lên:

- Chị ơi! Chị ơi!

          Gia đình tôi biết được tin này, đều cuống quýt cả lên. Mẹ tôi sai anh tôi, chị tôi, đi mua cái này, sắm cái nọ. Trong bếp đầy tiếng leng keng, loảng xoảng, rõ ràng là đang làm cơm rượu rồi… Sau đấy mẹ tôi chạy vào phòng tôi, mắng tôi:
– Chị, chị cái gì mà cứ quang quác lỗ miệng lên thế? Người ta là huyện trưởng phu nhân rồi đấy!

Tôi chẳng coi điều mắng mỏ ấy vào đâu, tôi vẫn cứ gào thét, tôi thấy người tôi nóng cồn cào, tôi không thể nằm trên chiếc giường này được nữa, không thể giam mình vào trong bốn bức tường này được nữa. Tôi gào thét khóc lóc, đòi người nhà phải khênh giường của tôi ra ngoài sân. Ngoài sân, tuyết cũng đã ngừng rơi rồi, nhưng tuyết còn đóng lại rất dày. Tất cả đều trắng xóa. Mẹ tôi bảo quét dọn một đám tuyết lấy chỗ đặt giường, tôi dứt khoát không chịu, đòi khênh giường ra đặt ngay trên mặt tuyết. Tôi nằm ở đó, là tôi có thể nhìn thấy trời, trời trắng xóa, đất cũng trắng xóa, trời là đất, đất là trời, tôi không sao phân biệt được nữa. Tôi hơi nghiêng đầu, tôi nhìn thấy một gốc mai ở góc tường. Trên cành mai đọng những lớp tuyết trắng dày, những cánh hoa màu hồng nổi bật trên lớp tuyết trắng ấy, càng làm cho con người cảm thấy bất an.

Đột nhiên tôi vô cùng muốn vẽ. Tôi phải vẽ chị tôi đến đây lần này. Đúng thế, có lẽ chị tôi đã bắt đầu lên đường rồi, lên đường đến với tôi, để kịp khi chị tôi tới đây, tôi sẽ tặng chị mấy bức tranh “Đạp Tuyết đồ”.(3)

Tôi liền vẽ ngay. Tôi vẽ một vùng tuyết trắng, mênh mang tất cả chỉ có một màu trắng. Chừng như tất cả màu trắng tôi có, tôi đã đem bôi lên tranh hết, sau đó tôi bôi thêm lên đó một chút màu hồng. Màu hồng chính là chị tôi vậy, chắc chắn chị tôi phải mặc màu hồng, nhất định chị phải mặc màu hồng…

Nhưng rồi tôi cảm thấy bức tranh ấy không đẹp. Tôi bắt đầu vẽ bức thứ hai. Bức tranh này của tôi, vẫn là mặt đất đầy tuyết trắng, mênh mang… tất cả đều màu xanh. Cơ hồ như tôi đã bôi hết màu xanh mà tôi có lên đó. Tôi nghĩ rằng, trời màu xanh, vậy thì trên mặt tuyết sẽ là màu xanh, như vậy càng có vẻ lạnh lẽo hơn, và khi chị tôi mặc màu hồng xuất hiện, sẽ như một ngọn lửa bừng bừng ấm áp.

Nhưng tôi vẫn chưa thấy vừa lòng. Tôi lại vẽ một bức tranh mới. Tôi vẫn vẽ một vùng đất tuyết, mênh mang, tất cả đều là một màu hồng, tất cả những màu hồng mà tôi có, tôi đều bôi lên đấy hết, tôi bôi dày đến gần một ngón tay.

Tất cả nhà đều xúm lại xem tôi vẽ. Bọn họ cười tôi, nói tôi hoang tưởng đến tức cười. Tôi nói với con mèo già đang nằm phục bên cạnh tôi:

- Cảm xúc của tao là như vậy! Cảm xúc của tao là như vậy! Mày thử nói xem, thử nói xem nào!

Con mèo già rùng rùng đôi tai, liếc mắt cho tôi, nó đang cười.

Nó đã hiểu được tôi, tôi được an ủi, linh hồn tôi cảm thấy yên bình, sau đó, tôi cũng bật cười?

(1)         Người nông dân Trung Quốc có quan niệm rằng, nói tiếng phổ thông mới là người tỉnh thành, thanh lịch, còn nói tiếng địa phương là thô thiển, nhà quê.

(2)         Hoa đây không mang nghĩa “hoa quả”, mà là tên cây, thân gỗ, dễ chẻ, ngày xưa người ta chẻ gỗ hoa, tẩm dầu mỡ, làm đuốc đốt trong các đám cưới, bởi thế mới có tên đuốc hoa (hoa chúc).Có thể ở đây tác giả cho nhân vật liên tưởng đến một đám cưới.

(3)         “Đạp tuyết đồ”: đi trên tuyết.

Lê Bầu dịch

 (Tạp chí Văn học nước ngoài 4/2003)

 

Ở QUÁN BÁN CHIM

 

  Ở thị trấn Thương Khang chúng tôi, xưa nay không có tập quán nuôi chim, thoạt đầu chỉ có một vài cá nhân chơi chim, dần dà người ta bắt đầu mua bán chim, rồi trở nên thịnh hành, một thời, tiếng đồn lan khắp xa gần. Cuối cùng nó được coi là một nghề phụ của thị trấn. Tập thể cũng làm một cái quán bán chim. Tôi cũng thu xếp thời gian tạm thời ra quán làm người bán chim.

Cái quán nhỏ lắm, được dựng lên ở cổng chợ phía Đông thị trấn cửa quán có một cây hòe cổ thụ, dễ cũng được trăm năm, cành lá xum xuệ Sáng sớm mỗi ngày, chúng tôi đem các loại lồng chim to nhỏ, treo mắc lên đầy những cành cây, xa trông như một chợ chim thiên nhiên, đến gần lại nghe như khúc hát của cây, vì thế mà lôi kéo được khối người tới đó, như: Có người đến bán bánh cuốn, có người bán bánh rán, song nhiều hơn cả vẫn là những người rỗi việc ghé lại chơi, người đánh bài, người đánh cờ tướng, và trăm thứ chuyện trên trời dưới đất.

Ngồi miết trong quán cũng buồn, nên tôi ra đó, nói chuyện tiếu lâm chơi.
Nhưng chuyện nhiều hơn cả là nói về lão Vương “nói lắp” ở ngõ phố Đông. Nhưng khi thấy lão tới, là mọi người lại im re, và tản đi mỗi người một nơi: Chẳng ai muốn lão ló mặt tới đây, vậy mà cứ vài ba ngày lão lại đảo tới một lần. Lão là một ông lão già đã hơn sáu chục tuổi, sống ở thị trấn này có tới mấy đời rồi, người lớn, trẻ con chẳng ai là người không biết mặt lão. Nửa năm lại đây lão béo phệ ra một cách khủng khiếp, béo đến biến dạng con người lão đi. Mặt lão lúc nào cũng bóng nhẫy, y như trát một lớp mỡ lợn vậy. Lão cứ ngồi xuống một cái là đầu lão toát mồ hôi hột, chiếc quạt lá cọ cứ phì phạch hoài không dứt. Còn miệng lão cứ liến thoắng, hầu như không sao dừng được.

            Chưa, chưa bao giờ thấy, thấy, trời đất, lại, lại oi, oi nồng, như thế, thế này! Mà, mà lại lại sinh ra cái, cái giống rận nữa, lắm, lắm quá!

Lão ngồi xuống, cởi ngay áo, lần theo những đường chỉ khâu bắt rận. Quả là nhiều rận thật. Lão bắt đến nỗi không kịp giết, tiện tay lão vứt thẳng chúng xuống đất.

Những người xung quanh thấy kinh kinh, bảo lão:

- Ông chẳng chịu tắm giặt gì phải không?

Lão đáp:

- Trước, trước kia, tôi, tôi có tắm, tắm giặt gì đâu, mà sao vẫn không có rận? Bây, bây giờ thuốc bột cũng, cũng chẳng, chẳng trị được chúng nữa, trước, trước kia cứ rắc một ít, ít thuốc, thuốc bột, là chúng chết, chết sạch, bây giờ, giờ có rắc, rắc cũng chẳng, chẳng ăn, ăn thua gì.

Mọi người chẳng buồn nói chuyện với lão nữa, nên đứng dậy bỏ đi. Nhưng lũ nhóc lại quây lấy lão, vừa xem lão bắt rận ném xuống vừa đếm.

- Bảy con, tám con… mười con, mười một con…

Lão thấy ngượng nên mắng lũ trẻ:

- Cút, cút, xéo ra, ra đằng kia!…

Lũ trẻ con không cút ra đằng kia mà chúng lại lấy đó làm vui, và nhại lại lão:

- Chúng, chúng tôi, không cút, cút, xéo, xéo ra, ra đằng kia…

Lão đứng đó tức giận, nhặt lấy một hòn đá, giơ cao lên khỏi đầu, hét to:

- Cho, cho chúng mày chết.

           Nhưng hòn đá đã tuột ra đằng sau lưng lão, tay lão vung ném đi chỉ là tay không. Có đứa sợ bỏ chạy, vấp chân ngã xoài ra đất, lão chạy tới, dựng nó dậy và bảo:

- Tao, tao là tao dọa, dọa thế, thế thôi!

Thằng bé bò dậy, nó chạy được hai thước, đã gào lên:

- Tao, tao là tao dọa, dọa thế thôi!

Tôi cũng bật cười, không thể nào nhịn được nữa. Lão đi lại phía tôi và nói:
– Lũ, lũ trẻ bây, bây giờ, mất, mất dạy! Anh, anh là người tốt, bán chim cũng cũng hay, cái, cái đại đội sản xuất của, của tôi, bầu, bầu bán, cái quái gì, mà lại, lại bầu, bầu một, một thằng trẻ ranh, nó, nó chả hơn, hơn anh mấy tuổi, thế, thế là, là không, không, không được, là là hỏng…

Tôi đáp:

- Sao lại không được? Nếu không được, mọi người còn bầu anh ta làm gì?

Lão nói:

- Ôi! Non, non quá mà! Đến tôi, tôi ngần này tuổi, tuổi đầu, đến nhà, nhà mình, còn không, không quản quản nổi. Vậy anh, anh ta, quản, quản được cả đại đội sao? Bắt, bắt mèo kéo, kéo xe, rồi sẽ bị, bị nó, nó kéo, kéo vào, vào gầm giường ấy…

- Thế thì ông phải vạch đường cho anh ta, ông nên làm tham mưu mới phải chứ!

- Nó, nó đâu chịu, chịu tìm, tìm tôi

- Lão nói có vẻ bực bội

- Để, để rồi xem, xem nó, nó làm, làm ăn như thế, thế nào.

- Ông đừng có khinh thường lớp trẻ.

- Lớp, lớp người trẻ, chỉ, chỉ bán, bán chim là hợp, hợp thôi.

Tôi khó chịu, bật lửa châm thuốc hút.

Đám trẻ lúc nãy, đã lại vây quanh lấy lão, lại om sòm nhại lão, lão đuổi chúng đi, rồi lắc đầu nói:

- Bây, bây giờ, lũ, lũ trẻ không, không biết ăn lời.

Lão chẳng được ai yêu mến! Mọi người đều muốn lánh mặt lão, chẳng thích trò chuyện với lão, vậy mà lão cứ hay đảo qua đây, rồi vội vã ra về. Tôi thấy tội nghiệp cho lão, nên đôi lúc có chuyện trò với lão một vài câu, nhưng lão lại cứ một mực chửi bới những người trẻ tuổi mới được bầu bán, thế là lão lại làm tôi nổi cáu, tôi cho lão một trận. Tôi cứ tưởng từ đó, lão từ mặt tôi, không thèm lai vãng tới đây nữa, vậy mà buổi trưa hôm đó, đã thấy lão chống gậy lù lù tới…

Mắt lão đỏ ngầu, hai cục dử trắng xóa hai bên khóe mắt, lão đi thẳng tới hàng bánh cuốn, ngồi tréo khoeo lên ghế to tiếng gọi bánh ăn. Những con ruồi bay quanh mắt lão, đuổi nó đi cũng không bay, thế là lão lại lầu bầu:

- Ruồi, ruồi, đâu, đâu mà lắm, lắm thế?

Người bán bánh đáp:

- Ông đi thì ruồi khắc đi!

Lão ngượng, không dám đuổi ruồi nữa, chỉ lấy tay phẩy phẩy trước mắt, nói:
           – Nào, nào! Cái nước chấm bánh, bánh cuốn, của, của anh, chẳng, chẳng có mùi, mùi vị gì. Trước, trước kia tôi ăn, ăn bánh của, của lão Vương, Vương rỗ, ở, ở phố Đông chao ôi, nước, nước chấm vừa chua, vừa, vừa cay…

Người bán hàng lườm lão, múc thêm nước chấm cho lão. Tôi nhìn mà chỉ muốn bật cười, đảo sang đó, bảo lão, nước chấm cay chua như thế liệu lão có nuốt trôi được không?

Tôi, tôi bị cảm gió, anh nhìn, nhìn mắt tôi, và, và cả, cả đầu lưỡi nữa…
Tôi bật cười to, rồi lại thấy tội nghiệp cho lão: Con người mập ú như thế, lại nóng bức, ngột ngạt, đến khổ, mà lão lại sốt nữa, làm sao mà chịu đựng nổi.

 - Thế là ông ốm mất rồi đấy! Đã vậy, thì ở nhà bảo con dâu nó làm cho cái gì ngon ngon một chút mà ăn, chứ sao lại mò đến đây.

Lão đáp:

-Thì thì, chính con, con dâu, nó hại, hại tôi mà!

- Con dâu hại ông?

            – Thì tôi đã, đã nói trước rằng, rằng, cái thằng, thằng đội trưởng mới ấy là, là không, không ổn. Nó, nó thực hiện, làm, làm bao nhiêu, hưởng, hưởng bấy nhiêu, rồi lại bình, bình bầu, người tốt, việc tốt, có, có thưởng. Thế là, là con, con dâu tôi, lao, lao vào làm, công nó, nhiều hơn, hơn công tôi. Nó được, được thưởng, mà, mà không không đưa tiền, cho, cho tôi, lại còn giận giận dỗi to, to mồm, cãi, cãi nhau với tôi. Tôi, tôi bực, tôi, tôi tức. Tôi, tôi ăn phá, uống, uống phá… Chúng nó, không, không thèm, thèm nhìn mặt tôi, tôi, tôi cũng mặc, mặc xác chúng nó.

Cái tiếng mặc xác chúng nó của lão, lão làm cho mấy con ruồi đang đậu trên mặt lão bay vụt lên. Ăn xong, lão liền đi đến quán bán chim, ngồi ngay vào chiếc ghế trước cửa quán. Lão tiếp tục hỏi tôi:

- Anh, anh có định lấy, lấy vợ không?

Tôi không đáp lại lời lão. Lão vẫn nói:

- Lấy, lấy vợ, nhất, nhất định phải, phải trị. Cái, cái bọn con gái, ở đại đội tôi, tôi ấy, đừng đừng có động vào… Nó nó, mà làm gì, hưởng, hưởng nấy, đều, đều là lũ, lũ bất tri…

Tôi chán ngán đến nẫu cả ruột, định đuổi lão cuốn xéo, nhưng ngại chẳng dám nói ra, nên đứng dậy, đi ra chơi đùa với lũ chim.

Lão cũng cảm thấy trống trải, ngồi bần thần ra đó một lát rồi vừa lấy tay phẩy phẩy trước mắt, vừa chậm rãi bước đi.

Có một người bảo tôi:

- Bận sau, lão ấy tới, cậu đừng trò chuyện gì với lão ta nữa.

Vậy mà ngay chiều tối hôm đó, khi chúng tôi đang dọn dẹp các lồng chim, chuẩn bị đóng cửa hàng, bỗng có tiếng gọi.

- Này! Này anh, anh ra, ra đây một lát!

          Tôi giật thót người:

- Có chuyện gì vậy?

- Cái tay, tay đội trưởng, lại, lại, này, này nói ra một, một trò mới. Hắn nói… sẽ khoán, khoán, ruộng đất, đến, đến tận hộ. Thế, thế có, có láo lếu không, không cơ chứ? Tôi, tôi nói cho anh biết, anh, anh cần lên, lên huyện, báo cáo đi.

Tôi, tôi, không đi được, anh, anh thay tôi, chạy, chạy đi mới được.

Tôi cười nói:

            - Việc khoán sản, khoán hộ, là chính sách mới về nông thôn, mà Trung ương Đảng đã tuyên bố cho phép, để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, nhất là cái vùng đất núi của ta đây, việc khoán ruộng đất đến từng hộ gia đình là tốt nhất, mấy đại đội sản xuất quanh vùng ta đây người ta đều làm thế cả rồi.

Lão hỏi:

- Thật, thật thế chứ?

Tôi đáp:

- Chẳng thật thì giả à?

Lão kêu lên, lão lại càng nói lắp nhiều hơn:

- Thế, thế, thế, thế tôi, biết, biết làm sao, bây, bây giờ?

- Thì ông vẫn là ông chứ sao.

- Thế, thế, khoán, khoán đến hộ, tôi làm, làm sao, sao được. Tôi làm gì? Con, con trai, con, con dâu, nó, nó, có chịu, chịu nghe tôi không chứ? Thế, thế là hỏng, hỏng ráo cả!

Tôi chẳng còn nể nang gì lão nữa:

- Ông cứ bớt mồm bớt miệng, ít nói nhăng nói cuội đi là được!

- Tôi, tôi không quản, thì, thì còn, còn ra thế, thế nào.

- Để cho ông quản có mà hỏng bét hết!

Ông nhìn tôi chòng chọc, rồi phẩy tay nói:

- Anh, anh cũng là, một thằng, một thằng hư hỏng! Tôi, tôi quý anh, mà, mà anh, anh còn nói, nói với tôi, như, như thế. Thì, thì ra anh, anh cùng, cùng là một giuộc, với, chúng, chúng nó. Hừ, tôi, tôi chẳng thèm, thèm đến đây nữa.

         Lão bỏ đi, tôi bỗng thấy vui vui, mong sao lão đừng có lai vãng đến đây nữa. Quả nhiên đã mười ngày qua đi, rồi nửa tháng trôi xuôi, không thấy lão đến với tôi thật.

Tôi hầu như sắp quên hẳn lão đi, thì lão lại mò đến.

Tôi nói:

- Ông đã chẳng thề rằng không thèm đến đây nữa sao.

Lão đáp:

           – Tôi, tôi đến, đến mua chim!

           Mua chim, điều đó làm tôi vô cùng kinh ngạc, xưa nay lão có bao giờ thích thú cái trò chim chóc gì đâu. Tôi hỏi:

           – Ông mua chim? Ông mua chim gì? Ông cứ bảo khoán ruộng đất đến hộ là hỏng, sao bây giờ ông lại nhàn nhã thế, mà lại đi nuôi chim!

           Ông bắt đầu nổi cáu:

- Tôi mua, con yểng, tôi sẽ chuyện, chuyện trò với, với con yểng vậy. Bây, bây giờ, chẳng ai, ai chịu nghe tôi, tôi nói, chẳng, chẳng ai, nói, nói với tôi nữa. Tôi mua, mua con yểng, anh, anh chọn cho tôi, con yểng khỏe, thật, thật dẻo mỏ vào.

Tôi chọn cho lão một con yểng, thu tiền xong, lão xách lồng chim ra đi.
           Từ đó, tôi chẳng biết lão sống ra sao, chẳng biết lão nói với con yểng những gì, và con yểng đã học được bao nhiêu lời của lão, để giải buồn cho lão. Rồi đột nhiên, tôi lại thấy thương thương lão, thầm mong cho lão không còn bị trống trải cô đơn, và cũng không còn bị ai ghét bỏ nữa. Nếu đúng là như thế, thì tôi thật cảm ơn con yểng dẻo mỏ kia.

           Nhưng mươi hôm sau, lão lại dò tới đây, một tay cầm cái lồng vẫn là con yểng lông biêng biếc xanh đỏ. Tôi vừa định tới hỏi thăm xem lão sống ra sao, lão đặt chiếc lồng lên bàn, nói:

           – Tôi, tôi trả lại con yểng!

           – Nó làm sao?

           – Con yểng của anh, rất tồi. Ngày ngày xưa, tôi vào, vào thành phố, nhà ông cậu tôi, người ta nuôi con yểng dẻo mỏ lắm, gì nó, nó cũng nói, nói được, gì nó cũng nói được, được rõ ràng. Bây giờ, con yểng, yểng này hỏng… Tôi trả, trả lại cho anh, tôi ghét, ghét nó, vì nó, nó nói, nói lắp! 

Lê Bầu dịch

 

LÃNH ĐẠO

 

Lãnh đạo huyện đến Thái Bạch Sơn kiểm tra công tác. Uỷ ban xã chuần bị  sẵn đặc sản địa phương, gói to gói  nhỏ, chất đống ở văn phòng, để bày tỏ chút ít tấm lòng của nhân dân miền núi khi lãnh đạo ra đi. Không ngờ lại bị mất cắp. Khẩn trương tra tìm, cuối cùng đã tóm được kẻ lấy trộm. Khi định giải lên Đồn công an, kẻ cắp xin lập công chuộc tội. Hỏi lập công như thế nào, hắn  nói  có công năng đặc biệt, cách xa ngoài mấy chục mét biết được hoạt động của người trong nhà. Nếu được tha, từ nay về sau, có thể phối hợp với đồn công an tìm bắt tội phạm khác. Lãnh đạo tỏ ra hứng thú, đồng ý sáng mai đến nghiệm chứng.

 Ngày mai, nhận quà xong, lãnh đạo lập tức lên xe  về huyện, bỗng nhớ tới kẻ cắp, gọi đến hỏi:

-         Ngươi bảo ngươi có công năng đặc biệt, vậy ta hỏi ngươi, canh một đêm qua ta làm gì?

 Kẻ cắp trả lời:

-         Xin thưa lãnh đao, canh một đêm qua lãnh đạo không nghỉ, vẫn tranh thủ thời gian bàn bạc công việc với hội trưởng phụ nữ. Lãnh đạo ngồi trên giường, sau đó sơ ý ngã xuống đất.

Lãnh đạo nói:

-         Láo toét! Người lớn như ta, sao lại có chuyện ngã xuống đất?

Kẻ cắp  nói:

-         Thế sao con nghe thấy Hội trưởng phụ nữ giục: “lên đi, lên đi!” Chẳng phải lãnh đạo ngã xuống đất là gì?

Lãnh đạo nghĩ một lát, gật đầu,  hỏi:

-         Thế canh hai ta làm gỉ?

Kẻ cắp trả lời:

-         Canh hai ăn  bồi dưỡng đêm, lãnh đạo ăn cua.

Lãnh đạo bảo:

-         Nói láo, xưa nay ta không bao giờ ăn đêm. Dạ dày và đường ruột của ta tồi lắm, ăn vào không ngủ được.

Kẻ cắp nói:

-         Thế sao con nghe thấy lãnh đạo bảo: “tách chân ra”. Đấy chẳng phải ăn cua thì làm gì?

Lãnh đạo suy nghĩ, ừ một tiếng, hỏi :

-         Vậy canh ba ta làm gì?

Kẻ cắp đáp:

-         Để tìm hiểu thêm tình hình đời sống của dân chúng miền núi, lãnh đạo đã mời hẳn mẹ của Hội trưởng phụ nữ đến hỏi tình hình.

Lãnh đạo nói;

-         Đúng là láo toét! Ban ngày ta đã tìm hiểu tình hình. Buổi tối dứt khoát  không  có chuyện mời mẹ Hội trưởng phụ nữ.

Kẻ cằp nói:

-         Rõ ràng con nghe thấy Hội trưởng phụ nữ gọi một tiếng “ ối mẹ ơi”mà!

Lãnh đạo nín thinh, hỏi tiếp:

-         Thế còn canh tư?

 Kẻ cắp trả lời:

-         Canh tư lãnh đạo bàn công việc đã  mệt, lấy nước lã rửa mặt cho tỉnh táo đầu óc.

Lãnh đạo nói:

-         Lại nói bậy! Hoàn toàn không có chuyện rửa mặt rửa miếc gì hết!

Kẻ cắp nói:

-         Nếu không rửa mặt, tại sao lãnh đạo bảo: “ Em rửa rồi à, rửa cho anh một thể!”

Như chợt hiểu ra, lãnh đạo lẩm bẩm mấy câu, hỏi tiếp:

-         Canh năm, canh năm ta làm gỉ?

Kẻ cắp đáp:

-         Canh năm bàn xong công việc, lãnh đạo khéo biết điều tiết sinh hoạt, đã chơi cờ với Hội trưởng phụ nữ.

Lãnh đạo nói:

-         Nói láo! Nói láo! Đã  mấy giờ rồi còn chơi cờ?

Kẻ cắp đáp:

-         Rõ ràng con nghe thấy lãnh đạo bảo: “Chơi ván nữa, chơi ván nữa” mà lị! Không phải đánh cờ hay sao?

      Lãnh đạo phì cười, bảo:

-         Cũng được, có công năng đặc biệt, ta sẽ bảo Đồn công an miễn tội cho ngươi!

Từ đó trở đi, kẻ cắp được Đồn công an  coi trọng. Nghe đâu đã phối hợp phá được mấy vụ án.

 

Vũ Công Hoan dịch

Nguồn: Giả Bình Ao văn tập, tập 6.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. 1.      Trịnh Ân Ba, Trịnh Thu Lôi, Lê Hải Yến. Văn học Trung Quốc. NXB Thế Giới, Hà Nội, 2002.
  2. 2.      Trần Xuân Đề. Lịch sử văn học Trung Quốc. NXB Giáo Dục, 2002.
  3. 3.      Trần Xuân Đề. Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc., NXB Giáo Dục, 2000.
  4. 4.      Hồ Sĩ Hiệp. Một số vấn đề văn học Trung Quốc đương đại. NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2007.
  5. 5.      Hồ Sĩ Hiệp. Một số vấn đề văn học Trung Quốc thời kì mới. NXB Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2003.
  6. 6.      Chương Bồi Hoàn, Lạc Ngọc Minh. Văn học sử Trung Quốc, tập 3. Người dịch: Phạm Công Đạt, NXB Phụ nữ, 2000.
  7. 7.      Khái yếu lịch sử văn học Trung Quốc, tập 2. Đại Bách Khoa Toàn Thư Trung Quốc, nhiều tác giả biên soạn. Người dịch: Bùi Hữu Hồng. NXB Thế Giới ấn hành năm 2000.
  8. 8.      Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 2. Sở nghiên cứu văn học thuộc Viện khoa học xã hội Trung Quốc. Nhiều người dịch. NXB Giáo dục 1997.
  9. 9.      Thái Nguyễn Bạch Liên. Tuyển tập truyện ngắn Trung Quốc Thời đại ảo. NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2003.

10. Truyện ngắn Trung Quốc hiện đại. Người dịch: Đào Văn Lưu, Nguyễn Thị Hoài Thanh. NXB Văn hoá Thông tin, 2003.

11. Diêu Đại Lương (chủ biên). Đương đại Trung Quốc văn học, NXB Sư phạm Quảng Tây, 1993. Người dịch: Nhiều người dịch.

12. Phùng Hoài Ngọc. Đề cương bài giảng “Thi pháp học hiện đại” (Tài liệu lưu hành nội bộ), Đại học An Giang, 2005.

13. Phùng Hoài Ngọc. Giáo trình Văn học Trung Quốc (Tài liệu lưu hành nội bộ), Đại học An Giang, 2003.

14. Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), Lưu Đức Trung, Trần Lê Bảo. Lịch sử Văn học Trung Quốc, tập 2. NXB Đại học sư phạm 2002.

15. Nguyễn Khắc Phi, Lương Duy Thứ. Văn học Trung Quốc, tập 2. NXB Giáo dục, 1998.

16. Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử, Huyền Giang, Trần Ngọc Vương, Trần Nho Thìn, Đoàn Thị Thu Vân. Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam. NXB Giáo dục, 1997.

17. Lỗ Tấn. Sơ lược lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc. Lương Duy Tâm dịch. NXB Văn hóa, 1996.

18. Vương Thiết Tiên, Dương Kiếm Long, Vương Khắc Cường, Mã Di Lỗ, Lưu Đĩnh Sinh. Hai mươi năm văn học thời kì mới, NXB Giáo dục Thượng Hải, 2001. Người dịch: Nhiều người dịch.

19. Tuyển tập Cao lương đỏ. Người dịch: Lê Huy Tiêu. NXB Lao động, 2007

20. Lương Duy Thứ. Bài giảng Văn học Trung Quốc. NXB Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2002.

21. Truyện ngắn Giả Bình Ao. Nhiều người dịch. NXB Công an nhân dân, 2003.

22. Từ điển văn học (Bộ mới). NXB Thế Giới, 2004.

23. http://www.vi.wikipedia.org

24. http://www.vnthuquan.net

About these ads

Comments on: "TÌM HIỂU HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN TRUNG QUỐC ĐƯƠNG ĐẠI" (1)

  1. ——————————————————————————–
    Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
    TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
    Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
    Tham khảo thông tin pháp lý: http://www.sunlaw.com.vn & http://www.lawdata.vn
    Copyright © SUNLAW FIRM
    ——————————————————————————–

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 65 other followers

%d bloggers like this: