"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

Luận văn tốt nghiệp đại học

“Tìm hiểu hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” trong một số truyện ngắn hiện thực tiêu biểu của Macxim Gorki”

Nguyễn Thuý Loan,  lớp ĐH3C2

GVHD: Ths Phùng Hoài Ngọc

Ngày 19 tháng 4 năm 2006

MỤC LỤC

 

Tìm hiểu hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” trong một số

                     truyện ngắn hiện thực tiêu biểu của Macxim Gorki

Trang                                                                                                                                 

Phần mở đầu

 

1. Lí do chọn đề tài……………………………………………………1

2. Mục đích nghiên cứu……………………………………………….2

3. Lịch sử vấn đề…………………………………………………………2

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu…………………………………..4

5. Đóng góp của đề tài………………………………………………..5

6. Phương pháp nghiên cứu……………………………………….….6

7. Dàn ý của khoá  luận……………   ……….6

Phần nội dung

 

Chương 1: Bức tranh văn học Nga thế kỉ XIX và nhà văn Macxim Gorki

1. Bức tranh văn học Nga thế kỉ  XIX – quá trình

phát triển từ “con người thừa” đến “con người dưới đáy”…………………..8

1.1. Puskin, người khởi xướng nền văn học hiện thực Nga

  với hình tượng nhân vật “con người thừa”…………… ……………9

1.2. Liev Tolstoi – người kế thừa xuất sắc chủ nghĩa hiện thực của Puskin…………………………………………….15

1.3. Anton Sekhov và nhân vật “con người bé nhỏ”………………25

2. Nhà văn Macxim Gorki………………………………………………………29

2.1. Vài nét về cuộc đờisáng tác……………………………………29

  2.1.1. Vài nét về cuộc đời……………………………………………..29

  2.1.2. Sáng tác……………………………………………………33

2.2. Giới thiệu truyện ngắn của Macxim Gorki………………….35

  2.2.1. Truyện ngắn hiện thực………………………………….35

  2.2.2. Truyện ngắn lãng mạn………………………………….42

2.3. Sơ lược về những hình tượng nhân vật chủ yếu

 trong truyện ngắn của Macxim Gorki………………………….45

Chương 2: Hình tượng nhân vật “con người dưới đáy”

1. Sự sa đoạ, tội lỗi trong những cảnh đời cùng khổ tối tăm……………..46

2. Những phẩm chất tốt đẹp của nhân vật “con người dưới đáy” ………….51

     2.1. Lòng khát khao về cuộc sống mới, tốt đẹp…………………………51

     2.2. Cố gắng giữ nhân phẩm của mình……………………………….53

3. Những thể hiện phẩm của ý thức đấu tranh……………………………….57

      3.1. Ý thức tự do………………………………………………………….58

      3.2. Ý thức phản kháng………………………………………………….58

4. Hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” và sự sáng tạo

nghệ thuật độc đáo của nhà văn Macxim Gorki……………………………………66

4.1. So với các nhà văn Tây Âu…………………………………..…66

4.1.1. Charles Dickens (1812-1870)…………………………………66

4.1.2. Honore De Balzac……………………………………………..67

4.2. So với các nhà văn Nga………………………………………….69

Phần kết luận

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 MỞ ĐẦU

 

  1. 1.      Lý do chọn đề tài

 

Văn học Nga mặc dù phát triển chậm (so với văn học châu Á, châu Âu) nhưng sự phát triển đột biến của nó ở thế kỷ XIX đã làm cho mọi người phải kinh ngạc và cảm phục. Văn học Nga thế kỉ XIX không chỉ gây được tiếng vang mạnh mẽ bởi các các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thế giới như Puskin, Lermontov, Gogol, Gonsarov, Dostoievski, Turgeniev, Niecrasov, Tolstoi, Sekhov…mà nó còn       đem đến sự kinh ngạc cho mọi người bởi các nhà phê bình và mỹ học dân chủ lỗi lạc như Gersen, Bielinski, Sernưsevski, Dobroliubov…

Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX nền văn học Nga dừơng như đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó. Và một làn gió mới thổi vào văn đàn Nga mang đến một tiếng nói mới gây xôn xao dư luận. Đó là hàng loạt sáng tác đầu tay của nhà văn trẻ Macxim Gorki. Những truyện ngắn đầu tay của  ông có thể chia làm hai nhóm: nhóm truyện ngắn hiện thực và nhóm truyện ngắn lãng mạn. Ở  đề tài này chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu nhóm truyện ngắn hiện thực, cụ thể đó là những truyện ngắn: Lão Arkhip và bé Lionka, Kẻ phá bĩnh, Hai mươi sáu anh chàng và một cô gái, Người bạn đường của tôi, Tsencasơ, Vợ chồng Orlôp, Emelian Pilai…Để viết nên những truyện này, Gorki đã lấy ngay chất liệu từ cuộc đời mình và những người bạn đồng hành trong cuộc sống cùng khổ của mình. Hơn nữa, ông cũng đã kế thừa một cách sáng tạo những tinh hoa của văn học trước đó. Ngoài ra ông cũng đáp ứng những yêu cầu của thời đại mà sáng tác nên những truyện đó.

Trong những tác phẩm trên, Gorki đã đề cập đến sự sa đoạ và tội lỗi của những con người cùng khổ, “con người dưới đáy”. Nhưng mục đích chính của ông là đi sâu khám phá sự chuyển biến ý thức của những con người này trước cảnh nước Nga “nửa thức nửa ngủ”. Đó là những biểu hiện của ý thức đấu tranh cách mạng của quần chúng đang chuyển mình để chống lại chế độ tư bản – phong kiến Nga hoàng. Gorki viết: “Ước mơ – việc đó chưa có nghĩa là sống. Cần những chiến công, những chiến công! Cần những lời vang lên như tiếng chuông náo động, lay chuyển tất cả, thúc đẩy băng lên phía trước...” [ 3, 514 ]. Ông muốn “đá tung” tất cả trái đất và ngay cả chính mình để cho tất cả mọi vật “xoay như một cơn gió lốc mừng vui trong điệu múa của những con người yêu nhau say đắm, những con người đang yêu cuộc sống này, cuộc sống mở đầu cho một cuộc sống khác đầy tươi đẹp, phấn khởi và ngay thật…”

Từ những điều nêu trên, chúng tôi cảm nhận rằng tìm hiểu hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” trong một số truyện ngắn hiện thực tiêu biểu của Macxim Gorki là một vấn đề rất thú vị.

Chúng tôi muốn đi sâu khám phá để có những hiểu biết đúng đắn về các giá trị độc đáo trong những tác phẩm của Gorki. Để từ đó, chúng tôi có cách đánh giá giá trị của tác phẩm một cách toàn diện, có cơ sở và cũng đánh giá được tài năng của nhà văn Macxim Gorki. Hy vọng rằng đề tài này sẽ giúp cho bạn đọc phần nào tiếp cận những tác phẩm hiện thực tiêu biểu của Macxim Gorki dễ dàng hơn và trọn vẹn hơn.

  1. 2.      Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài “tìm hiểu hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” trong một số truyện ngắn hiện thực tiêu biểu của Macxim Gorki” chúng tôi hướng vào những mục tiêu sau:

- Hiểu được bút pháp nghệ thuật mà Gorki sử dụng trong việc xây dựng hình tượng nhân vật “con người dưới đáy”.

- Khám phá được tài năng văn chương của Gorki trong việc xây dựng hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” để thấy được nét sáng tạo trong văn chương của ông.

- Phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu văn học Nga trong nhà trường.

3. Lịch sử vấn đề

Hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” dù chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống, nhưng do đây là một phương diện liên quan đến mọi yếu tố nội dung cũng như hình thức của các tác phẩm nên có thể từ những nghiên cứu trước đây về các truyện của Macxim Gorki mà chọn lựa những kiến giải liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nghiên cứu đề tài đã chọn. Sau đây chúng tôi hệ thống lại một số ý kiến tiêu biểu:

3.1. Những công trình nghiên cứu ở Nga

Ngay từ khi ra đời, truyện ngắn của Gorki đã làm xôn xao dư luận. Những tác phẩm của ông đựơc nhiều độc giả đón nhận như một hiện tượng kì lạ, một tính hiệu mới trong bầu trời ảm đạm của văn học Nga hồi ấy. Năm 1892, tờ báo Kapkaz xuất bản ở Tiflit đăng truyện Makar Tsudar và sau đó các báo lần lượt đăng những truyện: Emelian Pilai, Lão Arkhip và bé Lionka, Tsencasơ…Đến khi hai tập bút kí và truyện ngắn (gồm hai mươi tác phẩm) của ông ra mắt độc giả thì các nhà phê bình phải thừa nhận ông là một tài năng độc đáo. Nhờ hai tập sách này mà tên tuổi Gorki lừng lẫy khắp nước Nga. Nếu như năm 1897 trên báo chí chỉ có 10 bài phê bình nói về các tác phẩm của ông thì năm 1899 đã có 45 bài, năm 1900 có 160 bài và năm 1901 con số ấy lên đến gần 300. Tên tuổi của Gorki đã nhanh chóng vang xa và được đặt ngang hàng với những tên tuổi chói lọi của nền văn học hiện thực Nga như: Liev Tolstoi, Đoxtoiepxki, Sekhov.

Nhà văn nổi tiếng lúc bấy giờ là Kôsôlenkô, người thầy văn học đầu tiên của Gorki, sau khi đọc những truyện ngắn của Gorki đã nhận xét: “Truyện của anh lạ lùng thế nào ấy! Đây là chủ nghĩa lãng mạn mà chủ nghĩa lãng mạn thì đã chết từ lâu rồi! Anh là nhà văn hiện thực chứ không phải lãng mạn, anh là nhà văn hiện thực!”. Nhưng rồi sau khi đọc truyện Tsencasơ, ông khen ngợi: “Anh biết xây dựng tính cách nhân vật của anh, nó nói năng hành động là do chính nó, tôi đã nói anh là nhà văn hiện thực mà!”. Suy nghĩ thêm một lát, ông nói tiếp: “nhưng đồng thời anh cũng là nhà văn lãng mạn“.

Henry Bacbusse, nhà văn lớn của nước Pháp khẳng định: “Ảnh hưởng của Macxim Gorki đối với các nhân vật trẻ, hoạ sĩ và nghệ sĩ chúng ta thật lớn lao. Macxim Gorki là ngọn đuốc vĩ đại, người mở những con đường văn học mới cho toàn thế giới và những nhà hành động văn học sẽ đi theo” [ 6, 42 ].

Việc nghiên cứu các tác phẩm đầu tay của Gorki ngày càng được nhiều người chú ý. Các bài viết đã đi đến chỗ thống nhất và khẳng định những thành tựu của các tác phẩm này ở các mặt:

+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo: Ông hướng đến các hình tượng nhân vật có nhân cách lớn, bản lĩnh lớn, giàu tính lãng mạn, anh hùng (truyện lãng mạn), và khắc hoạ sinh động thế giới nhân vật của những người phiêu dạt, du thủ du thực, hành khất, trộm cắp (truyện hiện thực).

+ Phương pháp sáng tác mới mẻ – vừa hiện thực vừa lãng mạn: Gorki, người thật sự đóng vai trò khép lại nền văn học hiện thực Nga thế kỉ XIX và mở ra một nền văn học Nga mới với phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa.

+ Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ: Ngôn ngữ giàu tính triết lí dân gian pha lẫn tính tri thức. Ngôn ngữ của các nhân vật không chỉ là phương tiện giao tiếp tự bộc lộ tính cách mà còn bộc lộ bản chất xã hội – giai cấp của họ. Có thể nhận định rằng: Đến Gorki thì quần chúng nhân dân có tiếng nói thật sự của mình.

Do trình độ có hạn, lại không được trực tiếp tiếp xúc với bản gốc nên việc trích dẫn tài liệu chúng tôi không có điều kiện trích dẫn đầy đủ.

3.2. Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam

Ở ViệtNam, tác phẩm của M.Gorki cũng được nhiều người quan tâm, đi sâu tìm hiểu. Nhiều công trình nghiên cứu về truyện (gồm truyện ngắn và tiểu thuyết) của Gorki đã hoàn thành. Do không có điều kiện để đọc toàn bộ tất cả các bài nghiên cứu khẳng định giá trị nghệ thuật trong truyện của M.Gorki, chúng tôi chỉ xin nêu một số công trình cụ thể đó là:

+ Lịch sử văn học Nga – Đỗ Hồng Chung, Nguyễn Hải Hà…,Nxb GD,                                                                                                                    1997

+ Lịch sử văn học Nga thế kỉ XIX –  Nguyễn Hải Hà, Đỗ Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Ảnh, Nxb GD

Lịch sử văn học Xô viết – Melich Nubarov (dịch), Nxb GD, 1978

+ Lịch sử văn học Xô viết – Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Kim Đính, Huy Liên, tập 1,2, Nxb ĐH & THCN, 1982

Văn học Xô viết những năm gần đây – Hoàng Ngọc Hiến (soạn),  Nxb GD, 1989

+ Giáo trình văn học Nga – Phùng Hoài Ngọc (Đại học An Giang, năm 2003 – Lưu hành nội bộ )

Đây là những công trình nghiên cứu về nền văn học Nga thế kỉ XIX và XX. Trước nay, chúng tôi chưa thấy công trình nào chuyên đi sâu nghiên cứu phương diện hình tượng nhân vật “con người dưới đáy”.

Với tinh thần học tập không ngừng, chúng tôi sẽ kế thừa tiếp thu những ý kiến bổ ích từ các bài nghiên cứu của những người đi trước để đi sâu tìm hiểu hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” trong một số truyện ngắn hiện thực tiêu biểu của M.Gorki một cách cụ thể, có hệ thống theo một quan điểm mới.

4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu chính là hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” trong một số truyện ngắn hiện thực tiêu biểu của M.Gorki.

4.2. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi không có điều kiện tìm hiểu hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” trong toàn bộ truyện ngắn hiện thực của M.Gorki, mà chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” trong bảy truyện ngắn của M.Gorki, đó là: Lão Arkhip và bé Lionka, Kẻ phá bĩnh, Hai mươi sáu anh chàng và một cô gái, Người bạn đường của tôi, Tsencasơ, Vợ chồng Orlôp, Emelian Pilai. Đây là những truyện ngắn tiêu biểu, quen thuộc ở ViệtNam và là những truyện thể hiện tập trung nhất phong cách sáng tác của Gorki.

5. Đóng góp của đề tài

Sáng tác của Gorki đã được nhiều độc giả quan tâm, đón nhận, đặc biệt là những truyện ngắn hiện thực của ông. Số lượng tài liệu nghiên cứu về những tác phẩm của Gorki cũng khá nhiều và phổ biến. Song tài liệu nghiên cứu về bảy truyện ngắn hiện thực Lão Arkhip và bé Lionka, Kẻ phá bĩnh, Hai mươi sáu anh chàng và một cô gái, Người bạn đường của tôi, Tsencasơ, Vợ chồng Orlôp, Emelian Pilai, thì rất ít. Do đó, đến với đề tài đã chọn chúng tôi mong muốn đóng góp một tiếng nói riêng và bổ ích trong việc tìm hiểu một số truyện ngắn hiện thực giai đoạn đầu của Gorki.

Qua việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi có dịp hiểu thêm sự độc đáo của văn học Nga, thấy được màu sắc riêng của nền văn học mà thế giới từng phải thán phục này. Đồng thời, chúng tôi còn hiểu được mối liên hệ khắng khít giữa các nền văn học của các nước trên thế giới, trong đó có mối quan hệ giữa hai nền văn học Nga – Việt. Từ đó chúng tôi có điều kiện học hỏi được những tinh hoa văn hoá tiên tiến của nhân loại, có dịp vun đắp cho mình những tri thức mới, tiến bộ để có những sáng tạo đóng góp hữu ích cho nền văn học nước nhà. Góp phần để nền văn học nước nhà phát triển đa dạng và phong phú hơn.

Cái tên Macxim Gorki rất quen thuộc đối với mỗi người ViệtNam. Nhiều nhà văn nước ta cũng đã học tập ít nhiều ở ông, một trong số đó là nhà văn Nguyên Hồng. Mặc dù những tác phẩm của Gorki rất nổi tiếng và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, song bảy truyện ngắn trên của ông vẫn còn xa lạ với ít nhiều độc giả. Trong đó có học sinh phổ thông. Chúng tôi hi vọng rằng đề tài này sẽ giúp cho bạn đọc dễ dàng làm quen, tìm hiểu truyện ngắn hiện thực của M.Gorki. Giúp bạn đọc thấy được nghệ thuật độc đáo mới lạ, trẻ trung và đầy lạc quan của nhà văn trẻ M.Gorki. Từ đó giúp con người biết được những cái hay, cái đẹp, cái tinh tuý của văn học Nga và trân trọng những nét đẹp đó. Thấy được những khám phá nghệ thuật, những quan điểm mỹ học của Gorki thật bổ ích đối với chúng ta trong công cuộc xây dựng một nền văn hoá có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc, trong cuộc đấu tranh với kẻ thù trên mặt trận tư tưởng văn hoá. Đồng thời, nó còn bồi bổ cho con người tinh thần lạc quan cách mạng, lập trường vô sản vững vàng, biết khẳng định mình trong công cuộc xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước hôm nay.

6. Phương pháp nghiên cứu

6.1. Phương pháp hệ thống

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã chọn bảy truyện ngắn hiện thực khác nhau trong tuyển tập truyện ngắn của Gorki. Do đó, để việc nghiên cứu được thuận lợi, chúng tôi đã chọn phương pháp hệ thống. Phương pháp này giúp chúng tôi hiểu bao quát các tác phẩm một cách dễ dàng để thấy được sự gắn kết của chúng, đồng thời cũng thấy được mối liên hệ giữa các nhân vật.

6.2.  Phương pháp liệt kê

Chúng tôi tiến hành liệt kê, ghi lại những dẫn chứng cần thiết trong các bản dịch và nhiều tài liệu khác có liên quan để dẫn chứng phù hợp với từng đề mục của khoá luận.

6.3  Phương pháp phân tích tổng hợp

Chúng tôi tiến hành phân tích các dẫn chứng nhằm làm nổi bật các luận điểm cần triển khai. Sau đó thâu tóm, khái quát chúng lại.

6.4  Phương pháp so sánh

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có so sánh một số vấn đề của đề tài với các vấn đề trong một số tác phẩm của các nhà văn Tây Âu và Nga.

       7. Dàn ý của khoá luận

Đề tài: Tìm hiểu hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” trong một số truyện ngắn hiện thực tiêu biểu của M.Gorki.

PHẦN MỞ ĐẦU

  1. Lý do chọn đề tài
  2. Mục đích nghiên cứu
  3. Lịch sử vấn đề
  4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
  5. Đóng góp của khóa luận
  6. Phương pháp nghiên cứu
  7. Dàn ý của khóa luận

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: Bức tranh văn học Nga thế kỉ XIX và nhà văn M.Gorki

1. Bức tranh văn học Nga thế kỉ XIX – quá trình phát triển từ “con người thừa” đến “con người dưới đáy”

1.1. Puskin, người khởi xướng nền văn học hiện thực Nga với hình tượng nhân vật “con người thừa”

1.2. Liev Tolstoi – người kế thừa xuất sắc chủ nghĩa hiện thực của Puskin

1.3. Anton Sekhov và nhân vật “con người bé nhỏ”

2.  Nhà văn Macxim Gorki

2.1. Vài nét về cuộc đời và sang tác

2.1.1. Cuộc đời

2.1.2. Sáng tác

2.2. Truyện ngắn của Macxim Gorki

2.2.1. Truyện ngắn hiện thực

2.2.2. Truyện ngắn lãng mạn

2.3. Sơ lược về những hình tượng nhân vật chủ yếu trong truyện ngắn của Macxim Gorki

Chương 2: Hình tượng nhân vật “con người dưới đáy”

1.  Sự sa đọa, tội lỗi trong những cảnh đời cùng khổ tối tăm

2.  Những thể hiện phẩm chất tốt đẹp của nhân vật “con người dưới đáy”

2.1. Lòng khát khao về cộc sống mới, tốt đẹp

2.2. Cố gắng giữ nhân phẩm của mình

3.  Những thể hiện của ý thức đấu tranh

3.1. Ý thức tự do

3.2. Ý thức phản kháng

4.  Hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” và sự sang tạo nghệ thuật độc đáo của M.Gorki

4.1. So với các nhà văn Tây Âu

4.1.1. Charles Dickens

4.1.2. Honore De Balzac

4.2. So với các nhà văn Nga

PHẦN KẾT LUẬN

 

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1        BỨC TRANH VĂN HỌC NGA THẾ KỶ XIX

                         VÀ NHÀ VĂN MACXIM GORKI

 

1. BỨC TRANH VĂN HỌC NGA THẾ KỶ XIX – QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TỪ “CON NGƯỜI THỪA” ĐẾN “CON NGƯỜI DƯỚI ĐÁY”:

Văn học hiện thực Nga thế kỷ XIX là một trong những nền văn học phong phú và tiên tiến của nhân loại, là nền văn học đạt được những thành tựu rực rỡ  trong lịch sử phát triển nghệ thuật của thế giới cho tới bây giờ. Văn học hiện thực Nga ra đời trong cuộc đấu tranh lâu dài, gay gắt của nhân dân Nga chống lại chế độ nông nô chuyên chế tàn bạo và phản động của Nga hoàng.

Văn học hiện thực Nga với những thành tựu lớn đặc biệt sau thế kỷ XIX đã khiến các nhà nghiên cứu phuơng Tây phải gọi nó là “một phép lạ”. Macxim Gorki gọi đó là “hiện tượng kì diệu” của văn học Châu Âu. Thế giới ngạc nhiên trước vẻ đẹp và sức mạnh vươn lên cuộc sống mau chóng của nền văn học này với sự đóng góp của nhiều thiên tài chói lọi. Lênin nhận xét “tầm quan trọng thế giới mà hiện nay văn học Nga giành được chính là do văn học Nga mang trong mình những tư tưởng tiên tiến của thời đại: Tư tưởng dân chủ và xã hội chủ nghĩa, tinh thần nhân đạo cao cả và lòng nhiệt thành”.

Nhân dân Nga tự hào về văn đàn lớn lao của mình bao gồm các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thế giới như Puskin, Lermontov, Gogol, Gonsarov, Dostoievski, Turgeniev, Sekhov, Tolstoi,…và các nhà phê bình, mỹ học dân chủ lỗi lạc như Gersen, Bielinski, Sernưsevski, Dobroliubov…

Văn học Nga thế kỷ này chuyển tiếp nhanh chóng từ chủ nghĩa lãng mạn sang chủ nghĩa hiện thực, nó phản ánh rõ nét và kịp thời những biến động xã hội và theo kịp xu hướng tư tuởng chính trị trong nước.

Trong phần nghiên cứu này chúng tôi chỉ điểm qua 04 tác gia tiêu biểu của bức tranh văn học Nga thế kỷ XIX, đó là: Puskin, Liev Tolistoi, Sekhov và Macxim Gorki.

1.1. PUSKIN, NGƯỜI KHỞI XƯỚNG NỀN VĂN HỌC HIỆN THỰC 

         NGA VỚI HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT “CON NGƯỜI THỪA”

Puskin là người “khởi đầu của mọi khởi đầu”, người “đã đặt những nền móng không gì lay chuyển nổi cho tất cả những gì sau này sẽ kế tục mình trong nghệ thuật Nga” (M. Gorki) [7, 1468 ]. Một trong những đóng góp quan trọng nhất  của Puskin trong nền văn học: ông là người mở đầu cho nền văn học hiện thực Nga và cũng là người đầu tiên xây dựng hình tượng nhân vật “con nguời thừa”.

“Con người thừa” là con người không có hại cũng không có ích cho xã hội, vô thưởng vô phạt. Con người này xét về phẩm chất địa vị thì không phải quý tộc sa đọa cũng không thuộc quý tộc ưu tú, tiến bộ mà là nguời đang vươn lên thoát khỏi sự sa đọa và có khả năng trở thành nguời ưu tú, tiến bộ cách mạng.

TIỂU THUYẾTEVGENI ONEGIN”

Tiểu thuyết thơ này là một trong những kiệt tác bậc nhất của văn học Nga  và thế giới, khởi công từ năm 1823, hoàn thành năm 1831. Với tác phẩm này,  Puskin đã mở ra con đường mới cho nền văn học Nga: chủ nghĩa hiện thực Nga với phương pháp sáng tác hiện thực, đi sâu vào thực tại, lấy cuộc sống và thời đại làm đối tượng khám phá, sáng tạo. Đây là kiểu mẫu đầu tiên vượt qua chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa tình cảm và chủ nghĩa lãng mạn ở nuớc Nga. Với tiểu thuyết thơ này, lần đầu tiên trong văn học Nga xuất hiện hình tượng nhân vật “con người thừa”. Puskin là cái mốc kết thúc dòng văn học lãng mạn Nga và là người mở đầu cho dòng văn học hiện thực Nga.

Evgheni Onegin là một thanh niên quý tộc, trẻ tuổi, thông minh, sắc sảo có học thức, một kiểu mẫu của xã hội thượng lưu. Nhưng chàng lại là một nguời đầy mâu thuẫn. Những mâu thuẫn này làm cho hình ảnh chàng trở nên sinh động xa lạ với chủ nghĩa cổ điển trước kia vẫn ngự trị trong các tiểu thuyết Nga. Evgheni Onegin không phải là nhân vật tích cực cũng không phải là nhân vật phản diện. Ngay cả bản thân tác giả cũng khó xác định thái độ đối với anh ta. Một mặt Puskin phê phán những thiếu sót của anh ta, mặt khác tác giả cũng ưa thích những nét tính cách đặc biệt của anh.

Nét cơ bản mâu thuẫn trong tính cách của Onegin là do địa vị xã hội và nền giáo dục mà anh nhận được qui định. Anh là người thuộc giai cấp quý tộc với đầy đủ những phẩm chất, lối sống đạo đức của giai cấp này. Anh lại được hưởng một gia tài to lớn của chú và cha. Vì thế anh không cần làm việc để kiếm sống. Ở Peterburg, anh sống một cuộc đời trống rỗng, vô công rỗi nghề. Anh đã tiêu phí nhiều năm tháng trong cuộc sống sa hoa, phù phiếm nên anh luôn cảm thấy buồn chán không lúc nào nguôi. Khi về nông thôn, anh thử quản lí trại ấp, thay đổi chế độ tạp dịch bằng địa tô nhẹ nhưng việc làm đó không lâu, vì mục đích làm của anh chỉ là cho hết buồn chán mà thôi. Vì vậy anh vẫn cảm thấy không hết chán nản.

Địa vị xã hội đã thế, còn nền giáo dục mà anh tiếp thu là một nền giáo dục què quặt. Mẹ anh mất sớm. Cha anh chẳng chú ý gì đến việc giáo dục anh mà giao anh cho những gia sư ngoại quốc dốt nát dạy dỗ. Do sống trong những điều kiện trên, Onegin trở thành một con người ích kỷ, chỉ biết đến bản thân, không bận tâm đến người khác. Nhiều khi anh còn vô trách nhiệm và gây đau khổ ngay cả đối với những người thân như Lenski, Tachyana và anh càng không quan tâm đến người dân.

Onegin sinh trưởng trong một gia đình quí tộc, “thế giới của thói nô lệ khúm núm và thói hám danh ti tiện”. Cái thế giới ấy làm cho anh buồn chán, hoài nghi, lạnh lùng và ích kỉ. Nhưng anh không phải là kẻ ích kỉ tự mãn mà là kẻ “ích kỉ bình thường”. Thật vậy, trong tâm hồn anh vẫn có những mầm móng tốt đẹp.

Onegin không bằng lòng với chung quanh và không bằng lòng với chính mình, không thỏa mãn “với cuộc sống này anh lạnh nhạt dửng dưng”. Anh không làm quan để theo đuổi danh vọng như các quí tộc khác. Anh cũng không yên tâm thanh thản để hưởng những quyền lợi của giai cấp quí tộc dành cho mình. Anh không tận tâm tận lực phục vụ nhà nước của giai cấp đó. Nhưng anh lại không có can đảm từ bỏ cái xã hội ấy. Anh có thể đi đâu và làm gì anh chưa biết và cũng không muốn biết, khắc phục căn bệnh lười nhác ư? Làm việc nghiêm túc ư? Cống hiến đời mình cho sự nghiệp cao cả ư? Tất cả những cái đó còn quá xa lạ đối với anh.

Nhưng lúc nào anh cũng cảm thấy đau buồn và chán nản. Tâm trạng đó  làm cho anh đứng cao hơn bọn quí tộc địa chủ ở nông thôn và giới quí tộc thượng lưu ở kinh đô Nga. Ở anh luôn có sự vươn lên để thoát khỏi con người sa đọa, nhưng anh lại chưa với tới tầm cao của những người tiền chiến, những người Tháng Chạp. Chính những người anh hùng này đã hiến dâng cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng nhân dân. Onegin chưa giác ngộ được như họ. Anh không làm cách mạng, không dám vượt qua tính ích kỉ của giai cấp mình để thấy được nỗi khổ của nhân dân dưới sự áp bức bốc lột nặng nề của địa chủ quí tộc. Anh không dám đi theo những người Tháng Chạp để đấu tranh chống lại Nga hoàng, xóa bỏ chế độ nông nô chuyên chế. Nỗi buồn chán của anh là “nỗi buồn chán của người Nga”. Đó là nỗi buồn về sự nghiệp cách mạng, giải phóng đất nước. Nhưng anh chưa phải là con người ưu tú tiến bộ của thời đại.

Kiểu người như Onegin ở vào thời kì phong trào cách mạng mới bắt đầu thì còn đôi nét tích cực. Nhưng ở vào thời kì cách mạng đã thành cao trào thì anh hoàn toàn là một con người thừa thải, thậm chí còn có lợi cho giai cấp thống trị hơn là cho nhân dân.

Tính cách của Onegin có sự biến đổi. Từ việc vô tình giết chết Lenski đến việc đi du lịch dài ngày, hiểu rõ cuộc sống nặng nề khổ đau của nhân dân Nga, đã khiến Onegin nghiêm túc hơn, có nghị lực hơn, và có khả năng xúc cảm mạnh hơn. Cuối cùng là việc Tachyana khước từ anh và anh hiểu rõ lòng nàng. Tác phẩm khép lại ở đó. Liệu chàng có đủ nghị lực và niềm tin đi tìm ý nghĩa cuộc sống trong phong trào đấu tranh Tháng chạp hay không? Onegin buộc phải suy nghĩ. Anh không thể bàng quan và ích kỉ mãi như thế. Rất có thể anh sẽ  thay đổi nhận thức và đi theo con đường của những thanh niên tiên tiến. Nhưng đó chỉ là những phán đoán ở tương lai, còn thực tại trong tác phẩm thì anh chưa phải là nhà Tháng chạp. Sức lực của bản chất phong phú của anh vẫn không có chỗ sử dụng. Tóm lại Onegin là “con người thừa”, là điển hình của một lớp thanh niên thời bấy giờ – những kẻ sống nhờ vào sức lao động của nông dân, thông minh, có lòng thương người và không được giáo dục đầy đủ. Onegin là con người không có lí tưởng, là sản phẩm của xã hội Nga những năm 20 và cả nửa đầu thế kỉ XIX.

Tiểu thuyết Evgheni Onegin được Biêlinski xem là “bộ bách khoa toàn thư của cuộc sống Nga”. Vì đây là tác phẩm đầu tiên phản ánh cuộc sống “đúng như nó tồn tại”, chân thực, đa dạng có tính chất “bách khoa”. Cuộc sống ở tỉnh và ở quê với những vũ hội, yến tiệc, cưới hỏi, ma chay…và nhiều mặt phong phú trong đời sống vật chất và tinh thần của nước Nga những năm 1819 – 1825, thời điểm quan trọng sau chiến tranh vệ quốc và trước cuộc khởi nghĩa Tháng Chạp.

Trong tác phẩm, Puskin đã phê phán sự tầm thường ti tiện của quí tộc Nga. Và ông nêu lên tình trạng mâu thuẫn, khủng hoảng của giai cấp này khi những đứa con cưng của nó như Onegin lại buồn chán. Ông phê phán cuộc sống với những lề thói quen thuộc và muốn thay đổi nó khi những kẻ tầm thường lại sống hạnh phúc còn những người như Onegin, Tachyana thì lại đau khổ. Hơn nữa trong tác phẩm, Puskin đã sáng tạo được những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Điều kiện sống, địa vị xã hội, môi trường giáo dục khác nhau sẽ hình thành những tính cách khác nhau như Onegin, Tachyana, Lenski.

Với tiểu thuyết Evgheni Onegin, Puskin đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật “con người thừa” đầu tiên, con người trẻ tuổi, có năng lực mà lại bế tắc, vô dụng giữa cuộc đời. Và hình tượng này lại được ông tiếp tục khắc họa trong cuốn tiểu thuyết lịch sử “Người con gái viên đại úy”.

TIỂU THUYẾTNGƯỜI CON GÁI VIÊN ĐẠI ÚY”

Puskin đã dựa vào sự kiện lịch sử: cuộc khởi nghĩa nông dân cuối thế kỉ XVIII (1773 – 1775) và lãnh tụ Pugatsov đã từng làm rung chuyển nước Nga để xây dựng nên tác phẩm dài 14 chương này. Thông qua tác phẩm, Puskin muốn “hỏi” quá khứ để tìm “lời giải đáp” cho hiện tại và tương lai.

Grinhop là người kể chuyện đồng thời là nhân vật chính của tác phẩm. Đây là một thiếu niên quí tộc “chân chính” được giáo dục trong môi trường quí tộc. Việc hình thành cá tính của anh ta do ảnh hưởng của địa vị xã hội và những nền giáo dục khác nhau. Giống như Onegin, Grinhop cũng được các gia sư người Pháp dốt nát dạy dỗ. Anh là một người nhẹ dạ, vô tư, mơ ước cuộc sống vui tươi của sĩ quan cận vệ nơi kinh thành. Grinhop có đủ điều kiện để thực hiện ước mơ của mình, vì bố anh là một trung tá về hưu, một địa chủ có đủ uy quyền, trọng danh dự và nguyên tắc. Nhưng ông lại quan niệm rằng “con người phải được thử thách nơi chiến trường”, ông khuyên con trai nên hiểu những vấn đề danh dự theo quan điểm của quí tộc. Ông cho rằng phục vụ trong quân đội là nghĩa vụ cao cả của quí tộc chứ không phải là một việc mưu cầu danh vọng. Do đó, ông đã đưa Grinhop đến phục vụ ở biên giới xa xôi chứ không gởi anh đến kinh đô. Bố của Grinhop đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành cá tính của anh. Grinhop đã tiếp thu cả mặt tốt và mặt xấu của cha. Những ngày sống hòa bình ở đồn Belogor, anh thực hiện đúng lời dặn của cha : “không hỏi thêm công việc cũng đừng từ chối nhiệm vụ”.

Ngoài những ảnh hưởng xấu, Grinhop còn chịu những ảnh hưởng khác tốt hơn. Những ảnh hưởng tốt này dần dần được tôi luyện và củng cố trong “trường đời khắc nghiệt”. Và tính cách của anh ngày càng phát triển qua những biến cố dữ dội, kinh hoàng trong đời anh. Bắt đầu từ bài học vỡ lòng đời lính với chàng Durin ở phố Orenbua. Ở đây Grinhop ăn chơi sa đọa, đánh bạc thua gần hết tiền. Rồi đến việc đi ra biên giới, đây là sự sắp đặt của người cha chứ anh không hề tự nguyện gì cả. Việc đi này không phải là lí tưởng của anh. Anh xem nó như là chuyến du lịch, đi cho biết đó biết đây. Và suốt thời gian ở đồn Belogor anh chỉ biết yêu đương và say đắm với tình yêu của Masa thôi. Cũng vì tình yêu mà anh đã quyết đấu với Svarbin.

Tính cách của Grinhop phát triển toàn diện khi quân khởi nghĩa đến chiếm đồn và anh tiếp xúc với Pugatsov. Quan hệ giữa anh và Pugatsov bắt đầu từ cuộc gặp gỡ trong cơn bão tuyết, người Côdăc này đã cứu anh và bằng tấm lòng thương người anh đã tặng chiếc áo da thỏ cho người này. Lúc chạm trán với quân khởi nghĩa, anh tỏ ra dũng cảm, trung thành với lời thề có tính chất quí tộc của mình. Trong mọi hoàn cảnh anh vẫn là người trọng danh dự, dũng cảm, có tình yêu sâu sắc, chân thật, và anh vẫn là đứa con của giai cấp quí tộc với những định kiến của nó.

Tuy nhiên nguyên tắc trọng danh dự thời trẻ của anh thực tế đã bị phá bỏ mặc dù anh vẫn giữ nguyên quan niệm là chống Pugatsov đến cùng. Khi sắp bị treo cổ, anh định toan hô những lời như đại úy Ivancozomic. Nhưng lúc Pugatsov tha chết cho anh và bảo anh hôn tay hắn thì anh từ chối và nói rằng: “tôi đã tuyên thệ với Nga hoàng”. Xét kĩ ra thì đây là thời thề vì danh dự cá nhân chứ không phải là một sự trung thành tuyệt đối, sẵn sàng chết để bảo vệ Nga hoàng. Lời nói này thể hiện anh là một con người có tinh thần chiến đấu kém và lòng trung thành đối với Nga hoàng rất yếu. Việc anh xin đem binh đi chiếm đồn cũng không phải là việc phục thù để lập chiến công mà thực chất đó là để bảo vệ tình yêu của anh với Masa.

Grinhop cũng nhận thấy rằng Pugatsov và những người theo ông ta không phải chỉ có những nét kẻ cướp mà còn có cái gì đó nghiêm túc hơn, khác hơn và có trách nhiệm hơn. Anh nhận thấy được Pugatsov là một con người hào hiệp, một lãnh tụ được đông dân chúng ủng hộ, một con người có cách cư xử công minh “đã nói giết là giết, nói tha là tha”, một con người có tinh thần trọng nghĩa và bênh vực kẻ yếu đuối dù đó là Masa, con gái kẻ thù. Hơn nữa, chính Pugatsov cũng là người đã cứu mạng anh nhiều lần.

Thời gian tiếp xúc với giới sĩ quan quí tộc ở đồn Belogor, Grinhop nhận ra rằng bọn chúng toàn là những tên sa đọa, một đội quân kém sức chiến đấu, thiếu tổ chức, kĩ luật và chỉ huy.

Pugatsov đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự thay đổi tính cách của Grinhop. Anh gần như ngày càng nhận thức được con đường cách mạng. Từ quan điểm lúc đầu là chống Pugatsov đến cùng, không chịu theo Pugatsov nhưng đến lúc Putgatsov bị treo cổ thì tính cách của anh đã thay đổi hoàn toàn. Anh đã tìm đến nơi tử hình Pugatsov và anh kể “Pugatsov nhận ra tôi và gật đầu chào tạm biệt”. Nhưng ta xét kĩ ra, Pugatsov là ân nhân đã cứu mạng của anh, hơn nữa ông đang ở trên giá treo cổ trong khi anh thì đang đứng chen trong đám đông thì làm sao mà Pugatsov lại dễ dàng nhận ra anh và vẫy tay chào. Người vẫy tay chào đó ta có thể đoán ra chính là anh, một kẻ mang ơn phải chủ động tìm đến chào vĩnh biệt vị ân nhân của mình. Lúc này, tính cách của anh đã phát triển hơn, anh đã có cảm tình với Pugatsov, cũng tức là  bước đầu có cảm tình với cách mạng.

Cơn bão tuyết mịt mù là hình ảnh tượng trưng cho đường đời của anh. Anh đã mất phương hướng trong cơn bão tuyết cũng chính là mất phương hướng trong cuộc đời của mình. Và Pugatsov là người đã dẫn anh ra khỏi nơi mù mịt đó. Người ân nhân cứu anh thoát khỏi nơi đó cũng là người cứu anh ra khỏi những lầm lạc, ngộ nhận. Người dẫn đường cho anh trong cơn bão tuyết cũng là “người dẫn đường” cho tinh thần của anh.

Mặc dù tính cách của anh có sự phát triển, ý thức cách mạng đang lấp lóe và anh đã có cảm tình với người Tháng Chạp – Pugatsov – nhưng trong tác phẩm anh vẫn là “con người thừa”, là hình mẫu kiểu Onegin. Anh không trung thành với Nga hoàng cũng không theo quân khởi nghĩa. Trong thời đại bấy giờ anh vẫn là kẻ vô dụng, không có ích cho cách mạng cũng không có hại gì cho nhân dân. Quá trình nhận thức của anh đã có sự thay đổi. Và sau này khi tác phẩm khép lại, có thể bằng con đường nào đó anh sẽ thoát khỏi “con người thừa” và trở thành người tri thức cách mạng. So với Evgheni Onegin thì Grinhop đã có một bước tiến cụ thể hơn.

Tiểu thuyết Người con gái viên đại úy được xem là “bộ bách khoa toàn thư của cuộc sống Nga” thứ hai sau tiểu thuyết Evgheni Onegin. Puskin đã đề cập đến vấn đề nóng bỏng của xã hội Nga ở giai đoạn này – vấn đề nông dân khởi nghĩa. Thành tựu rực rỡ này có được là do Puskin đã tổng kết được những suy nghĩ, tìm tòi trong nhiều năm qua những tác phẩm viết về đề tài lịch sử. Lần đầu tiên trong lịch sử văn học Nga, ngòi bút của nhà văn hiện thực Puskin lại miêu tả sinh động cụ thể cuộc khởi nghĩa nông dân hùng vĩ đến như vậy: đông đảo các dân tộc và các tầng lớp tham gia, thanh thế lớn và địa bàn rộng khắp nước Nga. Ông đã cắt nghĩa sâu nguyên nhân “tức nước vỡ bờ” của quần chúng. Ông miêu tả cuộc khởi nghĩa như là bài học kinh nghiệm cho lần sau.

Với hình tượng nhân vật “con người thừa” xuất hiện đầu tiên trong văn học Nga đầu thế kỉ XIX, Puskin đã có những đóng góp rất lớn cho nền văn học hiện thực của nước Nga nói riêng và thế giới nói chung. Ông đã hoàn thành tuyệt diệu công việc “khởi đầu của mọi khởi đầu”. Ông đã đưa văn học Nga phát triển ở một trình độ cao. Hình tượng nhân vật “con người thừa” của ông được văn học thế giới công nhận là không thua kém nhân vật “vỡ mộng” của Honore De Balzac, Stendhale…trong văn học Pháp. Puskin xứng đáng với vị trí nổi bật trong văn học Nga và thế giới. Ông đã đặt nền móng vững chắc, chuẩn bị cho sự phát triển rực rỡ sau này của các nhà văn như Liev Tolstoi, Sekhov, Macxim Gorki…

1.2.  LIEV TOLSTOI – NGƯỜI KẾ THỪA XUẤT SẮC CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC CỦA PUSKIN       

Puskin là người đã có công đặt nền móng xây dựng nền văn học hiện thực Nga thế kỉ XIX. Và khi “mặt trời thi ca Nga đã lặn” thì ở các giai đoạn sau, nhiều nhà văn nhà thơ đã đưa nền văn học hiện thực Nga vươn đến thời kì toàn thắng mà đỉnh cao là Liev Tolstoi.

Liev Tolstoi (1828 – 1910) là một trong những đại biểu lớn nhất và xuất sắc nhất của văn học Nga và thế giới. Gần 60 năm hoạt động nghệ thuật không mệt mỏi, ông đã để lại một di sản văn học đồ sộ và quí báu, đáng chú ý nhất là bộ ba tiểu thuyết lớn: Chiến tranh và hòa bình, Anna KareninaPhục sinh. Trong ba bộ tiểu thuyết này, Liev Tolstoi đã có sự kế thừa sáng tạo các nhà văn lớp trước đặc biệt là Puskin với hình mẫu nhân vật “con người thừa”. Nhưng nhân vật “con người thừa” của Tolstoi rất sinh động và đa dạng, nó mang dáng dấp rất riêng của nhà văn. Đây là sự kế thừa một cách tài tình và sáng tạo của Tolstoi. Ông lại tiếp tục xây dựng nhân vật để tiếp bước cuộc hành trình lịch sử của nhân vật “con người thừa” mà Puskin đã khời đầu thành công. Và Liev Tolstoi đã đưa nhân vật của mình đến điểm thắng lợi của chặng đường lịch sử thứ nhất – cách mạng Tháng Chạp.

TIỂU THUYẾT  “CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH”

Tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình được L.Toltoi viết từ năm 1863 – 1869. Cuốn tiểu thuyết đã làm tên tuổi của L.Toltoi  rạng rỡ khắp nước Nga và thế giới. Mọi người gọi ông là “con sư tử của văn học Nga”. Cuốn tiểu thuyết là một bức tranh hiện thực vẽ tả nhiều mặt cuộc sống của nước Nga những năm đầu thế kỉ XIX, đặc biệt là sức mạnh của quần chúng nhân dân trong cuộc chiến năm 1812. Tác phẩm còn là một cuốn sử thi biên niên ghi lại cuộc đời của nhiều người quí tộc tiến bộ, buổi thiếu thời của một số người Tháng Chạp tương lai, và ghi lại sự phát sinh và phát triển tư tưởng cách mạng của họ do phong trào yêu nước năm 1812 thúc đẩy.

L.Toltoi  đặc biệt chú ý miêu tả lớp thanh niên quí tộc, những người ưu tú của thời đại trên đường đi tìm chân lí cuộc sống. Hai nhân vật chính trong tác phẩm là Pier và Andrey. Cả hai người đều có nhiều điểm chung. Họ điều khinh ghét xã hội thượng lưu, bất bình với thực tại xấu xa ở chung quanh. Họ cũng không bằng lòng với bản thân mà luôn luôn băn khoăn đi tìm lẽ sống chân chính, đi tìm sứ mạng thật sự của con người. Trong con người họ luôn diễn ra sự đấu tranh giằng co quyết liệt giữa hệ tư tưởng quí tộc và lí tưởng tiên tiến của thời đại. Họ chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của nhiều nhà khai sáng Pháp. Nhưng họ chỉ thật sự hiểu được chân lí của cuộc sống khi tiếp xúc với nhân dân. Họ ngày càng nhận thức được vai trò của những con người bình thường, những người lính, những người nông dân Nga.

Bá tước trẻ Pier Bezukhov đi du học ở nước ngoài về. Anh là người nhạy cảm chân thực. Anh ôm ấp lí tưởng về bình đẳng, tự do xã hội. Cuộc đời anh trãi qua nhiều việc như chia gia tài, cưới Elen và sau một thời gian tiếp xúc với gia đình Kuraghin, “một nòi giống đê tiện và vô lương tâm” đi đến đâu là “gieo rắc trụy lạc và độc ác” đến đó. Sau khi kết thúc cuộc đấu súng với Đôlôkhôp, Pier nhận ra rằng đó là một hành động “thật ngu xuẩn…ngu xuẩn”. Trải qua những sự việc trên, Pier đã thấy được bản chất đê tiện và hèn hạ của bọn quí tộc và anh kiên quyết thoát khỏi cuộc hôn nhân giả dối với Elen. Đây cũng là quyết định đoạn tuyệt với cái xã hội quí tộc đồi trụy, ích kỉ và giả dối.

Pier luôn băn khoăn đi tìm lẽ sống chân chính. Lúc đầu anh còn xa rời nhân dân, mặc dù anh có lo cải thiện đời sống cho họ nhưng việc đó còn hời hợt. Anh chưa hiểu hết nỗi khổ cực của nhân dân. Anh cũng từng đắm mình vào hội Tam điểm vì tưởng đó là nơi truyền bá lí tưởng của mình. Nhưng anh cũng đã nhận thấy được bản chất của bọn khoác áo tôn giáo để che đậy những mánh khóe tầm thường. Và anh quyết tâm đoạn tuyệt với hội Tam điểm. Anh lại rơi vào những suy tưởng nặng nề và chán chường.

Cuộc chiến tranh ái quốc năm 1812 đã thức tỉnh Pier và hé mở lẽ sống chân chính mà anh luôn băn khoăn đi tìm. Anh đã tận mắt thấy được tinh thần chiến đấu anh dũng và gan dạ của người lính Nga ở Bôrôdinô. Anh đã phát hiện ra vẻ đẹp của nhân dân trong cuộc chiến. Anh khâm phục họ, những con người bình thường mà trước đây anh từng rời xa. Anh ao ước được đem hết sức mình xâm nhập vào đời sống của họ và anh muốn thấm nhuần những cái gì đã làm cho họ trở thành những con người như thế. Anh đã từng lầm tưởng Napoleon là vĩ nhân. Nhưng trong cuộc chiến này anh đã hiểu ra mọi chuyện. Anh đã hiểu được cách mạng và thậm chí “vươn cao hơn cách mạng”. Anh đã gan dạ dắt dao đi giết Napoleon. Những ngày bị giam, tiếp xúc với Platon Carataev anh đã thấy được hạnh phúc không ở trong những suy tưởng mông lung xa thực tế mà ở ngay trong sự thỏa mãn những nhu cầu sơ đẳng hằng ngày, trong việc tự do lựa chọn công việc. Thực tiễn năm 1812 đã giúp anh thay đổi cách sống. Anh không còn những tư tưởng tiêu cực, suy nghĩ miên man về một đấng thượng đế có mặt ở khắp nơi giống như Carataev mà anh cảm thấy yêu mến đất nước của những người dân bình thường. Nơi nào Vinlacxki (một trong những người cầm đầu hội Tam điểm) chỉ thấy có sự chết lặng thì Pier lại thấy có một sinh lực phi thường, cái sinh lực đã được duy trì trên mảnh đất đầy tuyết phủ. Khi gặp lại Natasa, anh nói sẵn sàng sống lại cuộc sống đã qua trong những ngày kháng chiến. Anh yêu cuộc sống đó và cảm thấy còn sống là còn hạnh phúc. Cuộc tình muộn màng của anh và Natasa cũng là một tất yếu trong cuộc đổi đời của anh.

Pier tiếp tục tìm tòi con đường chống sự áp bức của Nga hoàng sau khi cuộc chiến năm 1812 kết thúc. Năm 1820 anh là thành viên của hội kín. Qua lời  của Nicolai nói với anh  “nếu anh chống lại Nga hoàng thì tôi là người đầu tiên giết anh”, ta có thể đoán ra rằng Pier đang chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa. Và ngày 14 Tháng Chạp năm 1825 điễn ra cuộc khởi nghĩa lật đổ Alexandre I tại Peterburg chắc chắn  có anh tham gia. Mặc dù cuộc khởi nghĩa đã thất bại vì chưa được sự ủng hộ của nhân dân nhưng Pier đã hoàn toàn thoát khỏi “con người thừa”, anh đã với tới tầm cao của những của người Tháng Chạp.

Andrey Bonconski già dặn hơn Pier. Andrey đã sớm nhận thấy bản chất xấu xa của xã hội thượng lưu. Chàng tâm sự với Pier “những phòng khách, những chuyện kháo vặt, những buổi khiêu vũ, thói hư vinh, cuộc sống rỗng tuếch, đó là cái vòng lẩn quẩn mà tôi không tài nào thoát ra được”. Chàng cũng từng đặt nhiều hi vọng vào việc cải tạo pháp quyền, sùng bái Napoleon. Và khi lao vào cuộc chiến không mục đích ở chiến trường Au-xtec-lit nước Áo thì giấc mộng Tu-lông của chàng tan vỡ vì chàng nhận thấy rằng Napoleon chỉ là một tên tàn bạo, đê hèn và “nhỏ bé”.

Việc gặp lại Pier và Natasa đã giúp Andrey thức tỉnh tình yêu cuộc sống sau một thời gian khủng hoảng tinh thần bởi cái chết của vợ và sự tan vỡ của “giấc mộng Tu-lông”. Lòng chàng như cây sồi cằn cỗi đã đâm chồi nảy lộc, dù hơi muộn.

Andrey là một con người đầy mâu thuẫn. Đó là sự giằng xé giữa hệ tư tưởng quí tộc hẹp hòi ích kỉ và những lí tưởng vị tha đối với nông nô. Cuộc chiến năm 1812 nổ ra đã giúp anh tìm được lẽ sống chân chính thật sự. Lí tưởng của anh bây giờ là xả thân vì tổ quốc, vì nhân dân Nga. Bất chấp mọi gian khổ hi sinh, Andrey chiến đấu dũng cảm và trở thành bạn của Kutuzov – vị tướng chỉ huy cuộc chiến đấu của nước Nga. Cũng như Kutuzov và mọi người lính Nga, Andrey luôn tin tưởng vào sự thắng lợi của quân Nga.

Trước lúc tử thương, Andrey sa vào tư tưởng thần bí, cải lương “hãy thương yêu đồng loại, thương yêu những kẻ thù của mình”. Nếu như đi theo tư tưởng đầy màu sắc tôn giáo và phản động này thì anh vẫn là “con người thừa”. Nhưng dựa vào lời của con trai anh và con đường mà Pier đã đi thì ta có thể thấy được anh sẽ đi theo con đường khác. Andrey sẽ vẫn đi tiếp con đường cách mạng. Với phẩm chất, tư cách địa vị của Andrey cho phép ta có thể suy đoán rằng: nếu anh không chết anh sẽ là người chiến thắng dũng cảm, được thăng chức tướng lãnh và dần dần sẽ thay thế Kutuzov, anh sẽ thực hiện được giấc mộng của mình và sẽ trở thành một chính khách nước Nga. Bạn anh, Pier vẫn tin rằng: Nếu Andrey còn sống, anh ấy sẽ đi đúng con đường danh dự – chiến đấu chống cường  quyền, áp bức ở Nga.

Cuộc chiến năm 1812 đã giúp cho Andrey và Pier vươn lên thoát khỏi “con người thừa”, lấy lại niềm tin, xác định đúng đắn con đường mới của mình và tìm được lẽ sống chân chính trong đời sống nhân dân. Trước đó Grinhop có cố gắng vươn lên thoát khỏi sự sa đọa, cố gắng để bảo vệ tình yêu và có cảm tình với Pugatsov nhưng anh ta chưa xác định được rõ ràng con đường chân chính cách mạng, anh ta chưa thật sự hành động và chưa phải là người Tháng Chạp. Còn Andrey và Pier đã tiến xa hơn. Họ đã thực sự hành động và tìm được chỗ đứng xứng đáng trong lòng dân tộc. Phải chăng chính Onegin và Grinhop đã  trưởng thành về mặt tư tưởng và trở thành Andrey và Pier? Phải chăng đó là sự kế thừa rất tài tình và sáng tạo của L.Toltoi?

Tác phẩm vĩ đại này được cả thế giới đánh giá như một đỉnh cao hàng đầu chưa từng có lúc bấy giờ. Ảnh hưởng của nó tràn khắp thế giới văn học về tư tưởng, về nghệ thuật và về tư duy. Mặc dù trong tác phẩmTolstoi có bộc lộ những tư tưởng mâu thuẫn giữa bạo lực và tình thương, nhưng đó chỉ là phần nhỏ so với những đóng góp của ông.

TIỂU THUYÊT “ANNA KARENINA”

Sau đề tài chiến tranh, L.Tolstoi đi vào những tấn bi kịch của xã hội. Cuốn tiểu thuyết Anna Karenina được ông viết từ năm 1873 – 1877. Tác phẩm đánh đấu sự phát triển tư tưởng và sáng tác của ông. Thông qua những câu chuyện riêng tư trong tác phẩm, Tolstoi muốn đề cập đến những vấn đề lớn lao trong xã hội. Cuốn tiểu thuyết đã miêu tả khá đầy đủ cả thời đại mà trong đó “ tất cả đã bị đảo lộn và chỉ mới đang được sắp xếp” (lời của Levin – một nhân vật trong tác phẩm). Theo Lênin thì “cái đã bị đảo lộn là chế độ nông nô chuyên chế, thối nát và cái đang được sắp xếp chính là chủ nghĩa tư bản đang nảy sinh” [1, 291].

Anna Karenina là nhân vật bi kịch “nổi loạn”. Đó là người đàn bà giàu sức sống, thông minh, tính cách thành thực và ghét mọi sự giả dối. Bi kịch của nàng bắt đầu từ khi nàng lấy Karenin – một người hơn nàng 20 tuổi, kẻ chỉ quan tâm duy nhất việc thăng quan tiến chức và hơn nữa hắn là người mà nàng không yêu. Nàng xem việc lấy chồng của mình là “một sai lầm ghê gớm” [ 3, 407 ]. Hơn 8 năm lấy nhau nhưng Karenin chỉ xem nàng như một thứ công cụ ngoại giao. Vì thế Anna luôn khao khát một tình yêu chân chính. Hai tiếng yêu đương đối với nàng có một ý nghĩa đặt biệt. Ngay từ buổi đầu gặp Vronski nàng đã nói “tình yêu…tôi không ưa chữ đó chính bởi nó chứa chất quá nhiều ý nghĩa đối với tôi”.

Sống bên cạnh người chồng không yêu, Anna đem hết tình yêu vào đứa con trai và khi gặp Vronski thì tình cảm ấy cũng không thua gì. Nàng nói với Đônly “em yêu hai người như nhau mà cả hai em đều yêu hơn chính bản thân mình”. Nhưng cái xã hội đen tối với những pháp luật, tôn giáo và định kiến ích kỉ đã  không cho nàng được chọn cả hai. Nàng phải chịu sự giằng xé giữa tình yêu và tình mẫu tử.

Nàng yêu Vronski, một thanh niên điển hình của xã hội thượng lưu với đầy đủ cách suy nghĩ quen thuộc của xã hội này: lòng háo danh, lối ăn chơi phóng đãng, bộ mặt đạo đức tầm thường. Vronski yêu nàng nhưng khi va chạm vào thế giới thượng lưu thì chàng lại thiếu bản lĩnh. Khác với anh, Anna đã “nổi loạn”, tình yêu của nàng cũng chính là sự thách thức xã hội đó. Nhưng cái xã hội đạo đức giả dối ấy đã đè bẹp sự chống đối của nàng. Anna là nạn nhân của cái xã hội đó vì tội đã dám vùng dậy chống lại nó. Nàng là một phụ nữ đáng thương, một người chỉ khát khao được sống và được yêu, một tình yêu chân chính nhưng cũng bị xã hội khước từ và chà đạp tàn nhẫn.

Mặc dù yêu nàng nhưng Vronski chưa đủ khả năng vượt ra những tập tục của xã hội để đấu tranh bảo vệ tình yêu đến cùng. Nhưng xét cho cùng thì anh cũng không phải là một quí tộc tầm thường có tâm hồn trống rỗng. Bắt gặp hình ảnh của mình qua một công tước từ nước ngoài đến, anh tự nhủ thật là “một khúc thịt ngu ngốc! có thể nào mình lại như hắn được”.

Cũng giống như Anna, Vronski rất ghét sự giả dối. Chàng thấy khó chịu về cảnh mập mờ của mối tình trái pháp luật giữa mình và Anna, chàng muốn sớm chấm dứt tình trạng đó. Nhưng chính mối tình với Anna đã làm cho Vronski ngày càng cao thượng hơn. Chàng dám chống lại lòng háo danh đã ngự trị trong tâm hồn mình từ lâu, dù chưa diệt hẳn nó nhưng Vronski cũng can đảm nói với bạn rằng “không nên chỉ sống vì tham vọng”. Cái chết của Anna không chỉ là lời lên án xã hội thượng lưu tàn nhẫn, gian trá và lừa đảo mà nó còn tác động mãnh liệt đến cảm xúc của Vronski. Chàng đau khổ và tự nhủ “phải, nếu coi như một công cụ thì tôi còn có thể có ích đôi chút. Nhưng xét kĩ về mặt con người thì tôi chỉ là một đống hoang tàn”.

Mặc dù chàng có những nhận thức tiến bộ hơn giới thượng lưu lúc đó nhưng Vronski vẫn là “con người thừa”. Cuối tác phẩm chàng quyết định từ bỏ ứng cử và đi làm công tác xã hội. Việc làm này dường như hé mở cho anh một con đường lí tưởng để giải quyết tư tưởng của mình, làm điều gì đó mới mẻ và có ích cho đời. Nhưng con đường đó còn rất mơ hồ.

Bên cạnh tuyến Anna, Tolstoi còn xây dựng tuyến của Levin. Levin là nhân vật mang tính lí tưởng của nhà văn. Qua nhân vật này tác giả muốn thử nêu lên một cách giải quyết vấn đề gai góc của xã hội – quan hệ giữa địa chủ với nông nô và vấn đề số phận nước Nga. Levin là điển hình của những người quí tộc tiến bộ những năm 70.

Là một quí tộc địa chủ nhưng Levin lại là người sống nội tâm không tham gia vào thế giới thượng lưu. Anh xem hôn nhân là một vấn đề nghiêm chỉnh, chung thân đại sự. Nhưng Levin không đặt hạnh phúc cá nhân lên trên hết mà anh luôn suy nghĩ nhiều về cách cải tạo tình trạng đen tối của nước Nga, để sống một cuộc đời có ý nghĩa.

Anh thử đưa ra một biện pháp để cải tạo tình trạng đen tối của xã hội. Anh phản đối bọn quí tộc tự do chủ nghĩa mưu toan nhập nguyên xi trật tự tư sản Tây Âu vào nước Nga. Anh cũng phản đối ý kiến cho giáo dục là đòn bẩy xã hội của Xvi-at-xki. Theo ý anh “trước hết phải chạy chữa cảnh nghèo nàn đã”. Trong cuộc bầu cử đại biểu quí tộc anh cũng không quan tâm đến việc tranh chấp giữa phái cũ và phái mới. Anh nhận thấy Kô-dơ-nư-sep biết nói những điều rất hay về nhân dân và công ích nhưng ông ta lại ít hiểu nhân dân và có một trái tim gắn bó thật sự với công ích. Hơn nữa, anh thấy mình đang sống trong thời đại mà “tất cả đều đã bị đảo lộn và chỉ mới đang được sắp xếp”. Xã hội hiện tại đã thế nhưng anh không chấp nhận cái trật tự tư sản mới đang hình thành ở nước Nga. Anh muốn tìm cho nước Nga một con đường khác – sự gần gũi và quan tâm thật sự của điền chủ đối với quyền lợi của nông dân.

Vì thế anh đã tìm cách hòa mình vào môi trường sống của những người lao động. Anh làm trang trại, ra đồng cắt cỏ, cuốc đất cùng nông nô. Anh lo dung hòa giữa quyền lợi của mình và quyền lợi của nông nô. Anh muốn làm một cuộc cách mạng không đổ máu bằng giải pháp hòa hợp “thay vào cảnh nghèo nàn, khắp nơi sẽ là giàu có và sung túc. Thay vào lòng thù hận sẽ là sự hòa hợp về mối liên hệ quyền lợi”. Đây là một quan niệm có tính chất ảo tưởng vì anh không thấy được nguyên nhân sâu xa của mọi bất công xã hội là chế độ tư hữu ruộng đất. Quan niệm của anh cũng giống như quan niệm của hai nhân vật Bảo và Hạc trong tác phẩm “Gia đình” của Khái Hưng. Bảo và Hạc đều là những thanh niên trí thức, không ham công danh mà họ tự nguyện về nông thôn để thực hiện lí tưởng cao đẹp của mình: cải cách đời sống của người dân. Họ đóng vai những ông bà chủ đồn điền đầy lòng từ thiện, giúp nông dân nâng cao dân trí, lập khu nghỉ mát, dệt vải may áo cho họ, diễn thuyết cho họ nghe về vệ sinh, về cách nuôi con… Tất cả đều là những biện pháp lý tưởng, xa rời thực tế. Ngay trong bản thân Levin cũng có nhiều mâu thuẫn. Anh không muốn từ bỏ quyền chiếm hữu ruộng đất của mình mà lại muốn xóa bỏ bất công xã hội. Chính anh trai Nicolai Levin của anh cũng phê phán cái chủ trương cải tạo xã hội nửa vời vá víu của anh: “chú chỉ muốn tỏ ra rằng ít nhất chú cũng bốc lột nông dân một cách có suy nghĩ”.

Levin bế tắc. Anh bi quan chuyển những vấn đề xã hội thành vấn đề đạo đức, hạ thấp lí trí nêu cao đức tin. Anh tưởng rằng cái ảo tưởng của việc “sống cho linh hồn mình và không quên chúa” sẽ giải quyết những băn khoăn suy nghĩ của anh nhưng cuối cùng anh cũng thất bại. Nhìn chung Levin cũng là nhân vật đầy bi kịch.

Mặc dù kiên trì thực hiện “chân lí nông dân”, có những ảo tưởng để cải tạo xã hội nhưng Levin vẫn là người có tư tưởng tiến bộ. So với Andrey và Pier thì anh đã vượt xa hơn. Andrey và Pier  trải qua một thời gian dài mới phát hiện ra chân lí nhân dân. Còn đối với Levin, chân lí đó đã được khẳng định ngay từ đầu, có điều là anh chưa thấy  được nguyên nhân chủ yếu của tình trạng bất công trong xã hội. Và khi sắp tìm ra được gốc rễ của vấn đề thì anh đã dừng lại. Cái lớn lao ở Levin là anh không bằng lòng với thực tại đen tối của chế độ nông nô chuyên chế và anh luôn thiết tha tìm cách giải quyết tình trạng đó dù cách giải quyết của anh không thành công. Tóm lại Levin là nhân vật ưu tú tiến bộ điển hình trong văn học Nga thời bấy giờ.

Levin là hình ảnh tự thuật của nhà văn Tolstoi. Viết tác phẩm này, Tolstoi muốn nêu lên tấn bi kịch của nước Nga đang chuyển mình, các nhân vật của ông đều nhốn nháo trong bầu không khí căng thẳng và đầy kịch tính đó. Đồng thời qua tác phẩm, Tolstoi muốn đặt ra vấn đề vận mệnh của nước Nga và số phận của nhân dân. Nhưng ông chưa đủ sức để giải quyết vấn đề đó một cách đúng đắn. Ông đã nêu lên vấn đề và cuộc sống đang chuyển mình ấy sẽ tìm ra câu trả lời.

Câu chuyện của Anna và Levin nhìn bề ngoài ta thấy chúng không có liên hệ gì, nhưng thật ra chúng lại có mối liên hệ bên trong rất khăng khít và nhất quán. Hai câu chuyện là hai con đường mà tác giả đã đưa ra. Một con đường đầy bi kịch của Anna để lên án cái xã hội thượng lưu thối nát. Con đường thứ hai tác giả muốn thử đưa ra cách giải quyết xã hội đó, giải quyết vấn đề số phận nước Nga.

Đến Tolstoi thì chủ nghĩa hiện thực đã đạt đến độ sâu sắc. Ông đã xây dựng nhân vật với những suy nghĩ và hành động phù hợp với sự phát triển của logich cuộc sống. Có người trách ông quá tàn nhẫn với Anna. Ông trả lời “…các nam nữ nhân vật của tôi đôi khi chơi tôi những đòn mà có lẽ tôi không mong ước: Họ làm cái cần phải làm trong cuộc sống thực tế và như phải xảy ra trong cuộc sống thực tế chứ không phải như tôi muốn”[1, 304]. Trường hợp này cũng giống Balzac khi xây dựng nhân vật Eugenie Grandet trong tác phẩm cùng tên. Ban đầu Balzac muốn xây dựng nhân vật này theo hướng lãng mạn nhưng cuối cùng ông phải thốt lên rằng “có thể tưởng tượng nỗi được không? Cô ta chết mất rồi”. Đó mới đúng là bút pháp hiện thực.

Tiểu thuyết Anna Karenina là một thành công mới của Tolstoi. Tác phẩm là một trong những kiệt tác của nền văn học Nga và thế giới. Nhà văn Dostoievski hết lời ca ngợi tác phẩm này và cho đó là “sự hoàn hảo của một tác phẩm nghệ thuật mà trong đấy  không có chút gì giống tác phẩm Châu Âu và trong thời đại chúng ta không gì có thể sánh kịp”[3, 415].

TIỂU THUYẾT “PHỤC SINH”

Đây là tác phẩm vĩ đại cuối đời của nhà văn và nó cũng là bản cáo trạng gay gắt đối với chế độ chuyên chế Nga hoàng, đặc biệt là nhà tù và tòa án. Tác giả đi thẳng vào cơ cấu bộ máy thiết chế của nước Nga đương thời – nơi tập trung cao nhất mọi quyền lực của xã hội – thông qua câu chuyện của Nekhliudov và Maxlova. Tác phẩm còn là bản tổng kết con đường phát triển tư tưởng nghệ thuật của Tolstoi, tổng kết con đường tìm tòi lí tưởng của nhiều nhân vật ưu tú từ Pier, Andrey đến Levin và cuối cùng là Nekhliudov.

Do sống trong xã hội thượng lưu trụy lạc bên cạnh đám sĩ quan Nga hoàng hư hỏng, nên Nekhliudov trở thành con người sa đọa, ích kỷ. Chàng quyến rũ và cưỡng dâm Maxlova sau đó vứt lại 100 rúp và bỏ đi đồn trú phương xa. Dù có hơi hối hận về hành động đó nhưng chàng lại tự an ủi mình “mọi người đều như vậy. Đời là thế!…Bố mình cũng thế”[ 3, 422 ]. Rồi chàng quên hẳn chuyện đó đi không biết là sau vụ đó, Maxlova đã bị hai bà cô của chàng tống khứ ra ngoài cuộc đời gió bụi lúc bụng mang dạ chửa. Suốt bảy năm trời đau khổ nàng nghiện rượu, nghiện thuốc và và bệnh tật. Đến năm 27 tuổi nàng bị đưa ra quan tòa về tội đầu độc một gã phú thương. Ở đây, nàng gặp lại Nekhliudov đang ngồi trên ghế thẩm phán. Nekhliudov nhận ra người tình thở xưa và ý nghĩ đầu tiên của chàng là che giấu tội lỗi. Nhưng sau đó chàng thấy mình là kẻ đã đẩy Maxlova vào con đường tội lỗi. Chàng hối hận và cảm thấy xấu hổ.

Nekhliudov quyết tâm chuộc tội. Chàng tìm đủ mọi cách để cứu Maxlova ra khỏi cảnh tù tội. Nhưng quá trình tiếp xúc với tòa án các cấp, với bọn quan lại ở thủ đô, bọn giám ngục, chàng đã nhận ra được bộ mặt ghê tởm của bọn chúng. Tòa án ở tỉnh thì toàn là một lũ xấu xa. Công việc duy nhất của bọn chúng khi ở tòa án là chỉ lo những bận bịu riêng tư. Viên chánh án thì lo phiên tòa kéo dài sẽ lỡ mất giờ hẹn nhân tình. Viên dự thẩm thứ nhất thì lo bị cắt cơm sáng vì mới cãi nhau với vợ. Viên dự thẩm thứ hai thì nhăn nhó vì đau dạ dày…Cơ quan xét xử cấp trên thì cũng không khác gì cấp dưới. Tất cả đều là một lũ sa đọa đã khoác lên mình chiếc áo quan tòa và cầm cán cân công lí. Bọn chúng không biết gì đến công lí, lợi ích và phúc lợi của nhân dân. Bọn chúng chỉ biết có một điều là tiền. Vì tiền chúng sẵn sàng kết tội Maxlova và đày đi Xiberi khi chưa tìm ra chứng cứ phạm tội của nàng.

Tòa án đã thế còn ở nhà tù thì bọn giám ngục cũng rất tàn ác, mất hết tính người. Tên giám ngục Krixmut chỉ nghĩ đến cách bí mật giam giữ các phạm nhân và đối xử với họ sao cho trong 10 năm sẽ tiêu diệt được một nửa và khiến họ loạn óc hay chết vì bệnh lao nếu họ không tự sát. Trước những hành động ghê tởm và tàn bạo của bọn chúng, Nekhliudov nghĩ dù phải trả giá đến mấy đi nữa chàng cũng sẽ bẻ gãy những điều man trá này. Chàng sẽ làm đúng sự thật, sẽ đem lại chính nghĩa cho Maxlova và sẽ cưới maxlova để chuộc lại lỗi xưa. Chàng quyết phục sinh theo con đường khác con đường tội lỗi của mình.

Hơn nữa khi nhìn thấy cảnh đói khổ, chết dần chết mòn của nhân dân bên cạnh sự sa hoa, sung sướng của bọn quí tộc, Nekhliudov ngày càng nhận thấy gốc rễ của mọi sự bất công trong xã hội là do sự đối kháng giai cấp giàu – nghèo, do bọn địa chủ đã tước đoạt ruộng đất, nguồn sinh sống duy nhất của nhân dân. Ở điểm này, Nekhliudov đã tiến bộ hơn Levin.

Chàng khẳng định không muốn có những bất công, những tình trạng tội lỗi thì cần ra sức tiêu diệt những điều kiện tạo nên sự bất hạnh đó. Và giống như Levin, Nekhliudov cũng đưa ra giải pháp làm cuộc cách mạng hòa bình, không dùng bạo lực để chống lại điều ác và tu thiện bản thân để “sống lại” về mặt đạo đức. Đó là lẽ sống cuối cùng mà Nekhliudov tìm thấy và cũng là quan niệm của nhà văn Tolstoi. Nekhliudov chưa ý thức được rằng phải dùng bạo lực cách mạng mới có thể xóa bỏ những bất công trong xã hội. Cuối cùng chàng tìm hạnh phúc tối cao của mình trong vương quốc của chúa giữa trần thế. Nekhliudov vẫn là “con người thừa”, anh ta chưa có những nhận thức đúng đắn như các nhà cách mạng tiến bộ. Đó cũng là hạn chế đáng tiếc của Tolstoi. Lênin viết: “Tolstoi làm cho người ta phải buồn cười khi ông muốn làm nhà tiên tri tìm ra những phương thuốc mới để cứu vớt nhân loại” [ 1, 314 ].

Còn nhân vật Maxlova thì “phục sinh” theo con đường khác. Trải qua bao nỗi niềm cay đắng cộng với những ảnh hưởng của những bạn tù tốt bụng – những nhà cách mạng bị đày – nàng đã “sống lại” một cách nhanh chóng và vững vàng. Trên mảnh đất lưu đày, nàng đã kết hôn với nhà dân túy Xi-môn-xôn và xây dựng một cuộc sống mới bằng sức lao động của mình. Nàng bỏ hẳn các thói hư tật xấu cũ, sẵn sàng giúp đỡ các tù nhân và nhìn thẳng vào tương lai một cách tự tin, khẳng định vị trí của mình trong xã hội.

Mặc dù có những hạn chế là đưa ra “thuyết việc nhỏ” (số phận con người là do đức chúa trời quyết định, kêu gọi con người hãy yêu thương, hãy làm việc tốt thì xã hội sẽ tiến bộ) chống lại “thuyết việc lớn” (đấu tranh cách mạng) nhưng đó chỉ là những hạn chế nhỏ trong tư tưởng so với những đóng góp của Tolstoi. Tolstoi đã báo hiệu sự suy tàn của chế độ Nga hoàng và ông đã chuẩn bị sẵn sàng tư tưởng cho cách mạng. Các tác phẩm của ông cho ta nhận thấy được một điều là chỉ có cách mạng mới có thể giải phóng được tình trạng đen tối của nước Nga lúc bấy giờ.

Các nhà văn từ Puskin đến Tolstoi, thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước đã hoàn thành chặng thứ nhất của cuộc hành trình lịch sử nhân vật “con người thừa”. Nếu như các nhân vật của Puskin chưa vươn tới tầm cao của những người Tháng Chạp thì đến Tolstoi, các nhân vật của ông (Pier, Andrey) đã với tới đỉnh cao của những người Tháng Chạp. Bước thắng lợi đầu tiên này đã tạo đà quan trọng cho sự thắng lợi ở chặng đường tiếp theo của các nhân vật “con người thừa” mà điểm kết thúc là nhà văn A.Tolstoi. Đến A.Tolstoi thì các nhân vật “con người thừa” đã vươn đến tầm cao của cách mạng vô sản.

Đến L.Tolstoi thì nhân vật thuộc tầng lớp bình dân đã xuất hiện nhiều. Đó là sản phẩm của cuộc cách mạng Tháng Chạp. Maxlova là nhân vật thuộc tầng lớp thấp (người hầu) đầu tiên xuất hiện với vai trò là nhân vật chính trong tác phẩm. Đây là bước tiến của L.Tolstoi. Ông không chỉ là người khắc họa sinh động bức chân dung “con người thừa” mà còn là người có công đóng góp vào nền văn học giai đoạn này mẫu hình “con người bé nhỏ ”- Maxlova. Và đến nhà văn Sekhov thì hình mẫu “con người bé nhỏ ” được miêu tả rõ nét và hoàn chỉnh.

1.3. ANTON SEKHOV VÀ NHÂN VẬT “CON NGƯỜI BÉ NHỎ”

Anton Pavloich Sekhov, đại biểu xuất sắc cuối cùng của chủ nghĩa hiện thực phê phán Nga, nhà cách tân thiên tài về truyện ngắn và kịch nói. Đến ông thì văn học hiện thực Nga cơ bản đã đạt đến sự hoàn mỹ.

Về truyện ngắn, ông không là người “nổ phát súng” đầu tiên để hình thành thể loại này mà ông là người có công định hình cho nó có một dáng dấp cụ thể. Sekhov đã khẳng định được tài năng của mình ngay từ những sáng tác đầu tiên, bằng sự tiếp thu truyền thống một cách sáng tạo và đem lại nhiều đóng góp đáp ứng những yêu cầu mới của thời đại. Tác phẩm của ông lên án nghiêm khắc chế độ xã hội bất công, thói cường bạo và sự sa đoạ của giai cấp chấp chính, sự bất lực của giới trí thức. Ông cũng biểu lộ lòng thông cảm sâu sắc, trân trọng những người nghèo khổ, thể hiện tình yêu thắm thiết và niềm tin vô bờ bến vào nhân dân lao động Nga.

Sekhov đã có công đóng góp một loại nhân vật mới, nhân vật “con người bé nhỏ”. Nhân vật “con người bé nhỏ” bao gồm các nhân vật tiểu tư sản, tư sản, tiểu tư sản trí thức, quí tộc suy tàn, những người đầy tớ. Sở dĩ gọi họ là nhân vật “con người bé nhỏ” vì các nhân vật này không đáp ứng yêu cầu thời đại, không có tầm vóc và bản lĩnh. Những nhân vật này vốn dĩ không hề “bé nhỏ” nhưng do sự đè nặng áp chế của chế độ Nga hoàng nên họ trở nên “bé nhỏ”.

Những nhân vật “con người bé nhỏ” này ta cũng gặp trong các tác phẩm của Puskin, Liev Tolstoi, Dostoievski, nhưng đến với Sekhov thì nhân vật này xuất hiện với một vẻ rất khác. Dostoievski có miêu tả nhân vật tiểu tư sản nhưng những tính cách nhân vật của ông vẫn khác hơn so với nhân vật của Sekhov. Nhân vật của Dostoievski là những tiểu tư sản rơi vào sự bế tắc trong cuộc sống họ trở nên sống sa đoạ rồi đến “vỡ mộng” và tội ác (giống nhân vật “vỡ mộng” của Balzac). Còn nhân vật của Sekhov là những “con người bé nhỏ” với những bi kịch tinh thần rất riêng và là những nhân vật có tính điển hình rất cao.

Khi miêu tả những nhân vật này, Sekhov không chú ý miêu tả đời sống, tình cảm của họ mà ông chỉ chú ý tả những nguyên nhân làm cho họ trở thành “bé nhỏ”. Đối với những nhân vật này, Sekhov vừa phê phán vừa xót thương cho những kiếp người sống mà không dám mơ ước, hi vọng, đấu tranh.

TRUYỆN NGẮN “NGƯỜI TRONG BAO” VÀ “PHÒNG SỐ 6”

Sekhov là nhà văn chuyên viết truyện ngắn, truyện vừa. Sự xuất hiện truyện ngắn của ông đã làm thay đổi quan niệm của mọi người về thể loại này. Sekhov đã nâng truyện ngắn từ một thể loại “hèn mọn” lên ngang tầm với thể loại “cao quí” như thơ, trường ca, tiểu thuyết…Nội dung truyện ngắn của ông rất phong phú, đa dạng, có dung lượng phản ánh lớn và sâu sắc. Trong truyện ngắn của mình, Sekhov đã phát hiện ra những cái bất bình thường mà bấy lâu nay người đời bỏ qua như “Người trong bao”, “phòng số 6″ – nhà tù…Những sự đời, tình đời đều được phơi bày trong tác phẩm của ông. Có thể nói Sekhov là đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực phê phán Nga. Các tác phẩm của ông không chỉ thể hiện một ngòi bút châm biếm sắc sảo mà nó còn lóe lên những tia sáng mới. Những tia sáng này được thể hiện trong nhiều tác phẩm của ông đặc biệt là hai tác phẩm Người trong baoPhòng số 6.

Qua truyện Người trong bao, tác giả đã nhằm phê phán một loại người thuộc thành phần trí thức tiểu tư sản. Đó là người thầy dạy tiếng Hi Lạp Bêlicôp. Anh ta tự mình ngăn cách với cuộc đời. Là một người trí thức tiểu tư sản nhưng anh ta không làm đúng chức trách của mình. Anh tự chui vào trong cái “vỏ” để trốn tránh cuộc đời. Anh không dám đối diện với cuộc sống đầy những biến động để khẳng định mình, để đấu tranh cho lẽ phải mà anh là loại người cầu an, bằng lòng với thực tại, thoả mãn với cái gọi là “hạnh phúc” của bản thân.

Mẫu hình này ta cũng gặp trong truyện ngắn Phòng số 6. Đó là bác sĩ Ra-ghin. Vì không có đủ nghị lực và ý chí để chống lại điều ác nên Ra-ghin đã buông xuôi để mặc cho những kẻ độc ác hoành hành. Ra-ghin trở nên nhẫn nhục và chịu đựng. Ông ta tự thoả mãn với cái gọi là “hạnh phúc” hằng ngày của mình – ngày ngày đều ngồi đọc sách và nhắm rượu với dưa chuột. Nhưng sau khi bị tên y sĩ Khô-bô-tôp dùng thủ đoạn hèn hạ tống ông vào phòng số 6 (phòng giam những bệnh nhân tâm thần) thì ông mới thấy được cái thực tế đầy những bất công mà hơn 20 năm trời ông không biết và cũng không muốn biết. Ra-ghin nhận thấy rằng phải đập tan chế độ nhà tù – phòng số 6 – và những tên cai ngục Ni-ki-ta. Nhưng sức ông đã kiệt và ngày hôm sau ông đã chết.

Qua tác phẩm, Sekhov phê phán loại người bàng quan, vô trách nhiệm, những kẻ che đậy sự hèn nhát và biện hộ cho thái độ “không dùng bạo lực để chống lại điều ác”. Đồng thời ông cũng đã vạch ra tương lai tối tăm thê thảm của những kẻ chỉ biết nhẫn nhục mà không dám đấu tranh cho chính nghĩa.

Truyện ngắn của Sekhov đã hé lên một tia sáng mới đầy hi vọng. Bên cạnh tiếng cười phê phán, tác phẩm của ông còn giúp con người có thể nhận thức lại mình và thế giới xung quanh để thoát khỏi những cái “bao”, để từ bỏ tâm lí nô lệ và sự thoả mãn hợm hĩnh, giúp cho con người thức tỉnh và khi thức tỉnh rồi thì mọi uy quyền đều trở nên vô nghĩa. Năm 1892, một nhân vật trong truyện Phòng số 6 đã nói “buổi bình minh của cuộc sống mới sẽ rạng lên, chân lí sẽ toàn thắng và trên phố, ta sẽ mở hội tưng bừng!” thì đến năm 1898, một nhân vật khác trong truyện ngắn Người trong bao đã nói đến tự do: “Ôi tự do! Tự do! Chỉ mới hình dung đến nó, chỉ mới hi vọng mênh mông được tự do người ta cũng đã thấy tâm hồn mọc cánh” [ 3, 451 ]. Những ước mơ, những khát vọng đó cứ lớn dần lên và con người không thể bàng quan nhẫn nhục và an phận mãi. Con người phải đứng lên đi tìm một con đường mới quyết liệt hơn mới có thể làm thay đổi làm thay đổi được thực trạng đen tối lúc bấy giờ. Điều này ông đã chống lại “thuyết việc nhỏ” của Liev Tolstoi. Tác phẩm của Sekhov, nói như Gorki “thấm nhuần một sự hiểu biết sâu sắc về cuộc sống, một sự vô tư và một niềm thông cảm sáng suốt đối với con người” [ 3, 461 ].

Trong cảnh hoàng hôn ảm đạm của nước Nga cuối thế kỉ XIX “một con người rất Nga” (lời của Tolstoi), thông minh trong sạch như pha lê, một nhà nghệ thuật kì tài là Anton Pavloich Sekhov đã dũng cảm đứng lên trên đám người xám xịt bất lực, nhàn nhã kia và ném vào mặt chính quyền chuyên chế những lời phản kháng căm hờn và vững lòng tin vào tương lai tươi sáng của nước Nga.

Cùng với Tolstoi, Sekhov đã đạt tới đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực phê phán Nga. Tolstoi đã gọi ông là “một nghệ sĩ vô song…một nghệ sĩ của cuộc sống Nga…một Puskin trong văn xuôi và kịch” [ 1, 353 ].

Bức tranh văn học nga thế kỉ XIX với đại biểu cuối cùng là Anton Sekhov về thực chất đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử vẻ vang của mình. Và một khuynh hướng văn học mới mẻ, non trẻ đã hình thành mà ngọn cờ đầu là nhà văn trẻ M. Gorki, ông là người có vai trò như một gạch nối giữa hai thế kỉ XIX và XX. Với những sáng tạo nghệ thuật của mình, M.Gorki ngày càng tỏ ra có khả năng đáp ứng những nhu cầu to lớn và tích cực của cuộc sống đầy biến động dữ dội. Một trong những thành công nổi bật của Gorki là ông đã xây dựng thật sinh động những hình tượng nhân vật “con người dưới đáy”, góp phần hoàn chỉnh bức tranh văn học Nga thế kỉ XIX với sự có mặt đầy đủ các nhân vật từ Nga hoàng, quý tộc, tư sản, tiểu tư sản đến những số phận dưới đáy xã hội và ông cũng mở ra một con đường mới cho văn học Nga thế kỉ XX – nền văn học vô sản cách mạng. M. Gorki là người kết thúc chủ nghĩa hiện thực Nga và là người đặt nền móng đầu tiên khai sinh ra nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Nga.

Nhìn chung lại, bức tranh văn học Nga thế kỉ XIX về cơ bản đã hoàn chỉnh. Các nhà văn Nga, mỗi người góp vào một loại nhân vật để cho bức tranh thêm sinh động. Puskin đã góp vào loại nhân vật “con người thừa” mà văn học trước đó chưa hề có. Liev Tolstoi đã kế thừa và phát triển theo một nét mới hình tượng nhân vật “con người thừa” của Puskin. Đến Sekhov, ông là người điểm nét bút cuối cùng để hoàn thành bức tranh văn học Nga với hình tượng nhân vật “con người bé nhỏ”. Nhìn bề ngoài, ta thấy nền văn học Nga đến Sekhov đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó với sự xuất hiện đầy đủ các nhân vật từ “con người thừa” đến “con người bé nhỏ”. Nhưng xét kĩ ra ta thấy nó còn thiếu một nét gì đó để cho bức chân dung văn học thật hoàn chỉnh. Và nhà văn M.    Gorki đã kịp thời điểm nét bút bổ sung vào bức tranh đó bằng các nhân vật mới trong những truyện ngắn của mình. Tuy ở thế kỉ XIX các nhân vật của Gorki chỉ đóng vai trò là các nhân vật phụ nhưng những nhân vật này sẽ là những ngọn gió đầu tiên góp phần thổi bùng lên cơn bão táp dữ dội và đóng vai trò chính trong nền văn học thế kỉ XX.

2. NHÀ VĂN M.GORKI

 2.1. Vài nét về cuộc đời và sáng tác

2.1.1. Cuộc đời

M.Gorki là “người đại diện lớn nhất của của nền nghệ thuật vô sản”(Lê nin). M.Gorki tên thật là Alexei Macximovich Peskov, sinh ngày 28.3.1868 tại thành phố Nigiơni Novogod (nay là thành phố Gorki).

Bố của Aliôsa là một thợ mộc giỏi, gan dạ, sôi nổi, nhưng không may ông mất sớm khi chú bé Aliôsa mới 3 tuổi. Vài năm sau mẹ của Aliôsa cũng lìa đời. Aliôsa trải qua một thời thơ ấu đầy nước mắt và roi đòn trong căn nhà của ông ngoại Vaxili Kasirin. Căn nhà là một môi trường tiểu thị dân lạc hậu, hủ lậu. Ông ngoại là một người keo kiệt, nóng tính. Nhưng bà ngoại Aculina Ivanôpna lại rất mực nhân ái hiền từ, độ lượng. Qua những truyện cổ tích và truyền thuyết dân gian, bà đã sớm khơi dậy trong tâm hồn thơ dại của Aliôsa niềm yêu quí những gì là chính nghĩa, là anh hùng, cao thượng và nỗi căm ghét những gì là phi nghĩa, thấp hèn. Chính người đàn bà đôn hậu đó đã sớm nuôi dưỡng tâm hồn sáng tạo của nhà văn vĩ đại tương lai bằng nguồn sữa lành mạnh của những sáng tác dân gian.

Chẳng bao lâu, cái xưởng nhỏ bé của ông ngoại bị phá sản. Aliôsa mới hơn 10 tuổi đầu đã bị ông ngoại ném ra ngoài đời, và cậu phải tự lực kiếm sống rất vất vả và gian khổ. Cậu đi ở, bới rác, bẫy chim, vẽ tượng thánh, phụ bếp trên tàu thủy, khuân vác…

Aliôsa rất sớm say mê văn học. Trong thời niên thiếu đầy cay đắng, cậu tìm đến văn học nghệ thuật với tinh thần sôi nổi, nhiệt tình như tìm đến một niềm vui lớn, sức mạnh lớn. GorKi đọc những tác phẩm của Puskin, Lermentov, Gôgôn, Shakespeare, HuyGô, Balzac…Chính những cuốn sách của các thiên tài nghệ thuật đó, như sau này ông đã nói: “rửa sạch tâm hồn mình”, giúp mình “vượt cao hơn cái đầm lầy rữa thối” của cuộc sống tư hữu, trưởng giả đương thời.

Sống trong môi trường lao động vất vả, Aliôsa đã không ngừng học tập. Cậu tìm đến những cuốn sách tốt và đọc say mê. Cậu luôn khao khát trở thành một người hữu ích nhưng điều này không phải dễ. Với khát vọng cháy bỏng là được học tập một cách đầy đủ, có hệ thống, năm 16 tuổi (1884) Aliôsa đếnKazanđể thi vào đại học và hi vọng đó không thể thực hiện được.

Trong cuộc sống, muốn có một mẩu bánh mì và manh áo mặc anh phải lao động nặng nhọc, đêm đến thì vào ngủ trong các nhà trọ tồi tàn giành cho những người du thủ du thực (khi ấy ởKazancó 2 vạn người du thủ du thực trong tổng số 12 vạn dân của thành phố). Chính ở đây, Pêskôp đã trải qua những “trường đại học của cuộc sống, của thực tiễn lao động, của thực tiễn đấu tranh xã hội”.

Ở Kazan, Alêchxây có dịp học cuốn Tư bản của Mac, và anh gặp gỡ những nhà hoạt động cách mạng thuộc phái dân túy. Alêchxây có quan hệ mật thiết với Phêđôxêep – một trong những người đầu tiên xây dựng nhóm Macxit cách mạng ở Nga. Alêchxây có cảm tình với những người thợ, những thanh niên sản xuất có tư tưởng cách mạng nhưng anh còn quá xa lạ với họ. Ngày 12.12.1887, trong một tâm trạng cô đơn buồn chán, anh đã tự sát bằng súng lục nhưng được cứu sống.

Hè năm 1888 Pêskôp đi cùng Rômat, một nhà cách mạng dân túy, về làng Kraxnôviđôvô để tuyên truyền cách mạng trong nông dân. Gặp sự chống trả quyết liệt của bọn nhà giàu, Rômat đã phải rời đi nơi khác, còn Pêskôp thì về miền biển Kaxpi làm nghề đánh cá. Một thời gian sau anh lại băng qua vùng đồng cỏ đến Xaritxưn (nay là Vongagat) làm nghề cân hàng ở các ga xe lửa.

Đầu tháng 4.1891, Pêskôp bắt đầu một cuộc hành trình dài vạn dặm để tìm hiểu nước Nga. Khởi hành từ thành phố quê hương, anh đi xuôi về miềnNam, Vừa đi vừa lao động để kiếm sống (làm phu khuân vác ở bến cảng, làm mướn cho phú nông, làm muối ở Hắc Hải).

Tháng 11.1891, Pêskôp tới Tiflit ( bây giờ là Tbilixi, thủ đô nước cộng hòa Xô viết Gruzia). Lúc đầu anh làm thợ quay búa, sau làm nhân viên kế toán ở xưởng sửa chữa đầu máy xe lửa.

Hè năm 1892, anh làm việc cùng những người bị nạn đói trên công trường xây dựng tuyến đường xe ô tô Xukhumi-Nôvôrôttxixk. Cuộc hành trình qua những nẻo đường của nước Nga nghèo nàn và đau khổ đã để lại cho Pêskôp nhiều ấn tượng phong phú mà sau này anh sẽ dùng làm chất liệu để sáng tác văn học.

Ngày 30.8.1896, Pêskôp kết hôn với Êkatêria Paplôpna Vônjina. Đầu năm 1897 vì bị bệnh lao nặng, ông được quỹ văn học cho vay tiền để về dưỡng bệnh ở Krưm (Hắc Hải).

Mùa xuân năm 1897, ông cùng vợ về sống ở làng Manuilôpka thuộc tỉnh Pôntava. Ở đây, ông tiếp tục sáng tác văn học, làm đạo diễn và diễn viên ở một rạp hát do chính ông tổ chức ra cho nông dân. Tháng 10.1897 ông về sống ở Tvêri (nay là thành phốKalinin). Đầu 1898, ông lại trở về Nijơni novogod. Vì bị nghi ngờ có liên quan đến hoạt động cách mạng nên ông bị bắt và giam ở nhà tù Tiflit từ ngày 11 đến ngày 29.5.1898. Sau đó ông được thả dưới sự “giám sát đặc biệt” của cảnh sát. Ở Nijơni, ông tích cực tham gia hoạt động văn hóa xã hội và có quan hệ với tổ chức Đảng công nhân xã hội – dân chủ (Đảng cộng sản) ở địa phương.

Ông là độc giả thường xuyên của tờ báo Tia lửa của Lênin và đã ủng hộ tờ báo này 500 rúp. Do viết truyền đơn tố cáo chính quyền biểu tình đàn áp cuộc biểu tình ngày 4.3.1901 của sinh viên nên ông bị bắt giam 1 tháng rồi bị quản thúc tại nhà riêng. Tháng 9.1901 chính quyền Nga hoàng quyết định trục xuất ông ra khỏi thành phố quê hương. Quần chúng căm phẫn biểu tình. Trong bài Bắt đầu những cuộc biểu tình (đăng trên báo Tia lửa ngày 7.12.1901) Lênin đã hoan nghênh những cuộc biểu tình phản đối việc trục xuất Gorki và coi đó là việc trưởng thành ý thức của quần chúng.

Khi M.Gorki công bố truyện ngắn Bài ca chim báo bão (tạp chí Đời sống, 4.1901), ông được mệnh danh là “chim báo bão”, “sứ giả của bão táp cáh mạng”. Năm 1902, Nicôlai hủy bỏ kết quả việc viện hàn lâm khoa học bầu Gorki làm viện sĩ danh dự. Để phản đối việc đó, Sekhov và Kôrôlenkô đã quyết định ra khỏi viện hàn lâm. Sự kiện này làm cho danh tiếng Gorki thêm lừng lẫy. Nhiều buổi diễn kịch của Gorki đã làm nổ ra nhũng cuộc biểu tình chống lại chính quyền. Chỉ trong một thời gian ngắn, vở kịch Dưới đáy được trình diễn ở rất nhiều nhà hát Nga và châu Âu. Ông hứa từ tháng 10.1902 hằng năm sẽ ủng hộ tờ báo Tia lửa 5000 rúp.

Năm 1905 Gorki viết truyền đơn phản đối Nga hoàng xả súng bắn vào đoàn biểu tình tay không làm hàng ngàn người chết và bị thương trên quảng trường cung điện và ông bị bắt. Ngồi trong tù ông vẫn tiếp tục sáng tác, sau 1 tháng giam giữ, chính quyền Nga hoàng buộc phải tha ông với số tiền đặt cọc 1 vạn rúp và giấy cam đoan rằng ông không được ra khỏi Peterburg. Hè năm 1905 ông gia nhập Đảng Bônsêvich và ngày 7.12.1905 lần đầu tiên ông được gặp gỡ Lênin, thời gian này ông vẫn tiếp tục viết bài cho báo chí Đảng. Khi ở đây nổ ra cuộc khởi nghĩa vũ trang, ông đã giúp đỡ công nhân chiến đấu. Khởi nghĩa thất bại, ông có nguy cơ bị bắt. Năm 1906 Đảng cử ông đi nước ngoài tuyên truyền và quyên góp tiền cho cách mạng. Ông đi qua Phần Lan, Thụy Điển, Đan Mạch, Đức, Thụy Sĩ, Pháp, Mĩ. Báo chí phản động Mĩ la ó ầm ĩ đòi ông phải rời khỏi Mĩ, nhưng ông vẫn ở lại tới mùa thu năm ấy, và viết nhiều tác phẩm tố cáo chế độ tư bản.

Tháng 5.1907 ông được mời sangLondon(Anh) dự Đại hội lần thứ V của Đảng công nhân xã hội – dân chủ Nga với tư cách là đại biểu dự thính. Ở đây ông gặp lại Lênin và mối quan hệ của hai người thêm thân thiết. Lênin đánh giá cao sáng tác của Gorki, coi đó là “những tác phẩm nghệ thuật vĩ đại” và ông là “nhà nghệ sĩ vĩ đại”. Tháng 12.1913 lợi dụng việc ân xá của nga hoàng nhân dịp kỉ niệm 300 năm trị vì của dòng họ Rômanôp, Gorki về nước.

Đại chiến thế giới thứ nhất bùng nổ, lực lượng cách mạng bị khủng bố ác liệt. Gorki kiên quyết chống lại tư tưởng Sôvanh mà giới cầm quyền Nga ra sức tuyên truyền, đẩy các dân tộc vào lò lửa chiến tranh. Gorki đứng ra sáng lập nhà xuất bản Cánh buồm và tạp chí Biên niên nhằm tập hợp, đoàn kết tri thức tiến bộ dân chủ.

Những tháng trước và sau Cách mạng tháng Mười, Gorki tỏ ra dao động, lo sợ cách mạng không thắng lợi. Nhưng Lênin đã thẳng thắng phê bình sai lầm của ông. Sau khi nhận sai lầm của mình, Gorki đã công khai phê bình trên báo chí và thư từ gởi bạn bè để cùng rút kinh nghiệm chung. Sau Cách mạng tháng Mười, Gorki đảm nhiệm nhiều công tác văn hóa xã hội: Giám đốc nhà xuất bản Văn học thế giới, tổng biên tập tạp chí khoa học và những hoạt động khoa học…Do làm việc quá sức, sức khỏe yếu nên ông bị lao phổi nặng.

Theo chỉ thị của Lênin, năm 1921 Gorki ra nước ngoài chữa bệnh. Ông sang Đức, Tiệp Khắc, và năm 1924 trở về Ý. Tuy sống ở nước ngoài để chữa bệnh nhưng ông vẫn không ngừng sáng tác.

Năm 1928 ông về nước. Năm 1931 nhân dân Liên Xô trân trọng kỉ niệm 40 năm lao động nghệ thuật của Gorki. Nhân dịp này ông được tặng thưởng huân chương Lênin, thành phố quê hương ông đổi tên là Gorki. Nhà hát nghệ thuật Matxkva, một đại lộ trung tâm thủ đô, một công viên lớn của thành phố được mang tên ông. Viện văn học mang tên Gorki được thành lập. Thực hiện nhiệm vụ Đảng giao phó, Gorki dốc hết sức mình vào việc chuẩn bị Đại hội nhà văn Liên xô lần thứ nhất. Và ông được bầu làm chủ tịch đầu tiên của Hội nhà văn Xô viết.

Bước vào những năm 30, Khi thấy xuất hiện nguy cơ bùng nổ chiến tranh Đế quốc, Gorki đã kịp thời lên tiếng tố cáo chủ nghĩa phát xít, kêu gọi lực lượng dân chủ, tiến bộ đấu tranh ngăn chặn. Cùng với nhiều nhà văn tiến bộ nước ngoài, Gorki đã góp phần quan trọng vào việc triệu tập hội nghị quốc tế chống chiến tranh ở Amxtecđam và Pari. Tuy bận nhiều việc những năm cuối đời, nhưng ngòi bút nghệ thuật của ông vẫn rất sung sức. Ông đã đề xuất sáng kiến và trực tiếp chỉ đạo xây dựng bộ sách Cuộc đời của những danh nhân, Tủ sách của nhà thơ, tham gia chủ trì những bộ sách lớn Lịch sử cuộc nội chiến, Lịch sử nhà máy và công xưởng.

Ngày 1.6.1936 Gorki bị cảm lạnh, bệnh tình lại thêm trầm trọng, đến ngày 18.6.1936 Gorki vĩnh viễn ra đi giữa cơn giông bão. Di hài ông được đặt ở chân thành Kremli, phía sau lăng Lênin, trên Quảng trường Đỏ ở Matxkva.

M.Gorki qua đời sau hơn 40 năm lao động sáng tác không mệt mỏi. Ông đã để lại một sự nghiệp văn học vô cùng to lớn cho nhân loại.

2.1.2. Sáng tác

Giai đoạn 1892-1904

M.Gorki là “ngôi sao mới xuất hiện đã tỏa sáng trên bầu trời văn học Nga với tư cách là nhà văn mở đầu dòng văn học vô sản”. Tác phẩm đầu tay của ông là Bài ca cây sồi già, một bài thơ dài viết bằng lối văn xuôi “có nhịp điệu”. Đây là một bài thơ dở, chẳng có giá trị gì lắm.

Truyện ngắn

Ngày 12.9.1892 M.Gorki đã bước lên văn đàn với tư cách là nhà văn của quần chúng lao khổ. Truyện ngắn đầu tiên là Markar Tsudra (1892) được đăng trên báo Kafkaz ở thành phố Tiflit, với bút danh Macxim Gorki (Macxim tiếng Nga nghĩa là cay đắng) và nhà văn giữ bút danh này suốt đời. Truyện ngắn này đã mở đầu cho hàng loạt các truyện ngắn tiếp theo ra đời như Truyền thuyết về Marco (1892), Cô gái và thần chết (1892), Bài ca con chim ưng (1895), Bài ca chim báo bão (1901), Bà lão Izecghin, Vợ chồng Orlôp (1897), Tsenkasơ (1895)…Gorki đã nhanh chóng trở thành một tên tuổi được nhiều độc giả cảm mến, được nhiều giới phê bình, nghiên cứu chú ý. Năm 1898 lần đầu tiên tác phầm của Gorki được tập hợp và in thành sách ở Petesburg với đầu đề Bút kí và truyện ngắn.

Tiểu thuyết

Năm 1899 Gorki cho in tiểu thuyết đầu tiên Fôma Gorđêep trên tạp chí Đời sống. Năm 1901 Gorki cho xuất bản tiểu thuyết Ba người, tác phẩm có tiếng vang lớn trong giới thanh niên cách mạng, đánh dấu một bước phát triển mới tài năng nghệ thuật và tìm tòi cách tân sáng tạo của Gorki.         

Kịch

Năm1901-1904 ba vở kịch xuất sắc của Gorki liên tiếp xuất hiện như Bọn tiểu thị dân (1901), Dưới đáy (1902), Những người đi nghỉ mát (1904).

Sáng tác trong giai đoạn đầu của GorKi phong phú và đa dạng về nội dung tư tưởng cũng như về hình thức nghệ thuật. Nó thể hiện sự tìm tòi căng thẳng, sự phấn đấu thường xuyên liên tục của nhà văn nhằm sáng tạo ra những tác phẩm mới ngày một tốt hơn, phục vụ có hiệu quả hơn cho cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản vì tự do dân chủ và xã hội chủ nghĩa. Sáng tác của ông góp phần chuẩn bị cho “cơn bão táp” cách mạng mà mở đầu là cách mạng Nga lần thứ nhất (1905-1907).

Giai đoạn 1905-1916

Truyện ngắn

Tác phẩm Những mẩu chuyện nước Ý (1912-1916) gồm 27 truyện ngắn, bút kí và truyền thuyết được tập hợp thành. Tập truyện Trên nước Nga (1912-1916) gồm 29 truyện ngắn.

Tiểu thuyết

Tiểu thuyết Người mẹ (1906), tiểu thuyết Thời thơ ấu, tiểu thuyết Kiếm sống (tập 1,2 bộ tự truyện của GorKi).

Kịch

Những đứa con của mặt trời (1905), Bọn dã man (1905), Những kẻ kì quặc (1910), Những kẻ cuối cùng  (1908), Gia đình nhà Zưkốp (1913), Những kẻ thù (1906), Vatxajêlêznôva (bản thứ nhất, 1910).

Văn châm biếm

Hình ảnh xã hội phương Tây đầy mâu thuẫn và bất công đã được Gorki khắc hoạ bằng ngòi bút châm biếm sắc sảo trong 2 tập kí: Những cuộc phỏng vấn của tôiỞ Mĩ.

Những sáng tác của Gorki giai đoạn này không chỉ là tấm gương phản chiếu cách mạng vô sản nga mà còn là bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống Nga thời Kì giữa hai cuộc cách mạng.

Giai đoạn 1917-1936

Tiểu thuyết

Bộ ba tự truyện Thời thơ ấu (1912-1913), Kiếm sống (1915, in 1916), Những trường đại học của tôi (1923) được hoàn thành. Tiểu thuyết Sự nghiệp gia đình Artamônôp (1915-1916) và tiểu thuyết sử thi Cuộc đời Klim Xamghin (1925-1936).

Bút kí

Năm 1928 Gorki về nước đi thăm nhiều nhà máy công trường và viết 2 tập kí về thực tại xã hội Xô Viết: Trên nẻo đường liên bang Xô viếtTruyện kể về những người anh hùng.

Trong giai đoạn này, Gorki viết nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau, nhưng đặc biệt ông giành nhiều thời giờ và công sức để hoàn thiện thể loại tiểu thuyết sử thi cho phù hợp với chất liệu cuộc sống và cảm quan mới của mình.

2.2. Giới thiệu truyện ngắn của M.Gorki

Trong lịch sử văn học Nga – Xô Viết, văn hào M.Gorki có một vị trí đặc biệt. Ông là người khai sinh, là bậc thầy của văn học Nga – Xô Viết. Với toàn bộ tác phẩm của ông, văn học Nga trở thành ngọn cờ đầu của văn học thế giới đương đại trong công cuộc thức tỉnh và đấu tranh giải phóng nhân loại cần lao khỏi ách áp bức thống trị của chủ nghĩa tư bản. Ông cũng là người tạo ra những bước ngoặt mới trong tiến trình văn học thế giới hiện đại. Bút pháp của Gorki rất độc đáo, đặc biệt là trong các truyện ngắn, có tác phẩm lãng mạn, rất lãng mạn; có tác phẩm hiện thực, rất hiện thực; có tác phẩm có cả 2 yếu tố vừa lãng mạn vừa hiện thực.

2.2.1. Truyện ngắn lãng mạn

Viết những tác phẩm lãng mạn, Gorki đã kế thừa truyền thống lãng mạn tiến bộ của các nhà văn nổi tiếng như Puskin, Lermentov…Ngay từ nhỏ Gorki cũng rất say mê các nhân vật lãng mạn, sôi nổi chan chứa khát vọng tự do trong sáng tác của Sile, Bairơn. Nhưng quan trọng hơn hết là ông đã tiếp thu sâu sắc sức sống mãnh liệt, bất khuất, luôn vươn dậy mạnh mẽ của nhân dân, biểu hiện trong những truyền thuyết, cổ tích…

Hơn nữa trong những năm 90 giai cấp vô sản Nga đã bắt đầu bước lên vũ đài chính trị nhưng đây chỉ mới là “buổi bình minh của phong trào”. Lúc này ”những cán bộ đầu tiên của giai cấp chiến đấu tương lai mới bắt đầu hình thành và những khối óc đang bị xâm chiếm với những tư tưởng đấu tranh còn lờ mờ, tản mạn”. Gorki muốn thổi vào những con người héo hon, tàn tạ, tầm thường, dung tục xung quanh mình bằng những lời văn hùng tráng, chấp cánh cho tâm hồn để “khích lệ con người đã bị cuộc sống dơ bẩn làm nhục chí và đẩy vào cảnh sa đoạ” (truyện Người độc giả, 1894). Từ đó cảm hứng chủ đạo nổi bật trong các tác phẩm lãng mạn của ông là ca ngợi tự do, ca ngợi chiến công, ca ngợi những con người tràn đầy ý chí bất khuất, chiến đấu và chiến thắng, ca ngợi cuộc sống anh hùng, thi vị hoá ý chí sáng tạo của con người.

Truyện ngắn Makar Tsudra (1892) là khúc ca bi tráng về ý chí tự do bất khuất của con người. Sự xung đột giữa tình yêu và tự do của đôi trai tài gái sắc Lôikô Zôbar và Radda đã dẫn đến cái chết đầy bi kịch lãng mạn của đôi trai gái xứ Xưgan. Họ yêu nhau tha thiết nhưng họ còn yêu tự do hơn. Họ chết một cách bất khuất và kiêu hãnh với ý thức rằng không thể tiếp nhận hạnh phúc của tình yêu mà phải đổi bằng sự phục tùng nô lệ. Cái chết của họ là sự lựa chọn tự do. Tự do đối với họ cao hơn tình yêu và tình yêu chỉ làm nền cho việc khác đó là tự do. Tự do đã được đánh đổi rất đắt, máu đã phải đổ để tự do được chiến thắng. Đây là cảm hứng rất mới mẻ. Tiếng nói của thời đại lúc này là những bản hùng ca chứ không phải là tình ca. Cái chết của họ là sự chứng minh cho hành động cao đẹp: đặt cộng đồng lên trên hạnh phúc nhỏ bé của mình.

Truyện Nàng tiên nhỏ bé và chàng chăn cừu (1892, về sau tác giả cho in bài thơ rút trong tập này với nhan đề Truyền thuyết về Marco) nói về mối tình của chàng chăn cừu và nàng tiên nhỏ bé trong rừng rậm. Chàng là con người luôn gắn liền với thảo nguyên lộng gió, bao la, chan hoà ánh nắng của “Thảo nguyên thân yêu! bốn bề tít tắp; Cỏ mọc tràn lan ngời ngời trắng bạc; Giá tự do xoè rộng cánh tung bay; Cùng thảo nguyên âu yếm vui chơi…”. Chàng sung sướng khi thấy những tia chớp xé rách bầu trời nặng trĩu, báo hiệu cơn bão táp sắp đến. Chàng reo lên “chẳng có gì mạnh mẽ và đẹp hơn bão táp!” Cái chất lãng mạn “thảo nguyên” đó của chàng hoàn toàn đối lập với cuộc sống “rừng rậm”của nàng tiên nhỏ bé. Cái lãng mạn đã thi vị hoá cuộc sống tư tưởng ngột ngạt tăm tối trong rừng rậm. Và nàng tiên nhỏ bé đã chết sau khi đem lòng yêu chàng chăn cừu trẻ tuổi bởi vì nàng chỉ quen sống trong thế giới yên tĩnh, chật hẹp, đã không chịu nổi không khí đấu tranh và tự do của đồng cỏ bao la.

Truyện Bà lão Izecghin (1894) là tác phẩm lãng mạn xuất sắc nhất trong sáng tác thời kì đầu của Gorki. Truyện nói lên mục đích, ý nghĩa cuộc đời của con người thông qua việc giới thiệu những quan niệm sống và lối sống khác nhau. Truyện gồm 3 phần: Truyền thuyết Lara, hồi ức của Izecghin, về tuổi trẻ của bà cách khoảng 50 năm, và truyền thuyết về ĐanKô. Ba phần này không phải là sự lắp ghép, rời rạc nhau mà hoà quyện vào nhau tạo nên một chân lí nghệ thuật đẹp đẽ, đầy sức thuyết phục. Phần đầu truyện nói về một thanh niên kiêu ngạo, ích kỉ, tàn bạo tên là Lara ( Lara tiếng Nga nghĩa là  bị ruồng bỏ, bị xua đuổi) – con trai chim đại bàng và một cô gái bị con ác điểu bắt lên núi – Lara  có sức mạnh phi thường. Đó là sức mạnh của chủ nghĩa cá nhân, tách rời nhân dân và chống lại xã hội. Lara gây nhiều tội ác và nó bị trừng phạt là phải sống cuộc đời cô đơn, lang thang, không có cuộc sống và cũng không có cái chết. Trong cuộc đời con người không có gì khổ hơn là bị tách khỏi cộng đồng.

Ngược lại với Lara là Đankô (phần thứ ba), một con người vị tha cao đẹp. Trong giờ phút nguy kịch của bộ lạc anh đã dám xả thân vì nghĩa lớn, giương cao trái tim nóng hổi của mình làm “bó đuốc của tình yêu vĩ đại đối với con người”, đưa cả tập thể mở đường xuyên qua rừng rậm dày đặc bóng tối ảm đạm, nồng nặc hơi bùn vữa thối, vượt ra với thảo nguyên thanh bình tự do và ngời ngời ánh sáng. Anh dám băng lên trước nguyện làm người chiến sĩ tiền phong vì anh có niềm tin mãnh liệt rằng cái rừng ngột ngạt kia nhất định phải có chỗ tận cùng, kết thúc.

Cuộc đời bà lão Izecghin có những điểm chung với hai nhân vật của truyền thuyết: bà vừa gần gũi với nhân dân lao động (Đankô) lại vừa sống cho niềm vui hạnh phúc bản thân (Lara). Bà phê phán những kẻ lười biếng, hèn nhát. Bà ca ngợi những người anh hùng biết lập chiến công. Bà đã lấy cả đời mình và đi khắp nơi để tuyên truyền lí tưởng anh hùng của mình.

Ba phần của truyện với ba cuộc đời khác nhau của các nhân vật có thật và truyền thuyết hợp thành một chỉnh thể nghệ thuật, và dạy cho con người những bài học bổ ích về lẽ sống. Đồng thời tác phẩm cùng tập trung thể hiện một chủ đề: biểu dương người anh hùng xuất thân từ nhân dân, chiến đấu vì tự do hạnh phúc của nhân dân.

Truyện ngắn Bài ca con chim ưng (1895) là một bản tuyên ngôn cách mạng sinh động. Hình ảnh chim ưng dũng cảm, coi hạnh phúc chân chính là ở cuộc đấu tranh sinh tử với kẻ thù vì tự do. Qua lời chim ưng “Ta đã sống thật vinh quang! Ta đã biết thế nào là hạnh phúc!…Ta chiến đấu dũng cảm!..Ta đã trông thấy bầu trời!”, người đọc tự võ trang cho mình một nhân sinh quan cách mạng: Hạnh phúc là trong chiến đấu, vinh quang là trong chiến giành tự do và ánh sáng. Những lời của sóng biển cuối bài ca chính là lời của nhân dân ca ngợi, khẳng định vai trò và giá trị bất tử của những người ưu tú nhất, đã hi sinh trong chiến đấu: “niềm cuồng nhiệt của những người dũng cảm, đó là trí anh minh của cuộc đời! ôi chim ưng dũng cảm! Người đã đổ máu trong chiến đấu với kẻ thù, nhưng rồi đây những giọt máu nóng hổi của ngưòi như những tia lửa, sẽ làm bùng lên trong bóng đêm của cuộc đời và bao trái tim quả cảm sẽ rực cháy vì khát vọng cuồng nhiệt vươn tới tự do và ánh sáng”. Hình ảnh chim ưng anh hùng đối lập với hình ảnh rắn nước hèn nhát, cầu an vị kỉ không dám ước mơ, hoài bão lớn nhưng lại tự đắc là thông minh, sáng suốt. “Bài ca chim ưng” là lời kêu gọi hào hùng thúc giục con người hướng vào cuộc chiến đấu, chống lại chính quyền chuyên chế và chủ nghĩa tư bản Nga trong thời kì cách mạng đang tiến lại gần.

Cao trào cách mạng Nga đầu thế kỉ XX đã chấp cánh cho cảm hứng lãng mạn của Gorki bay cao hơn trong truyện Bài ca chim báo bão (1901). Hình ảnh chim báo bão với những so sánh táo bạo “tựa hồ như một ánh chớp đen, như một mũi tên chọc thủng các tầng mây..”, với những  tiếng thét chứa đựng lòng căm thù, khát vọng chiến đấu, hạnh phúc và niềm tin của người chiến sĩ trên nền của một cơn bão biển đang sôi sục, là tượng trưng cho nghị lực và lực lượng cách mạng vĩ đại của giai cấp công nhân Nga. Đối lập với chim báo bão là những loài chim đần độn, nhút nhát, chỉ ưa chuộng cuộc sống phong lưu an nhàn, sợ hãi mọi sự biến động. Hình ảnh chúng ám chỉ lớp tiểu thị dân tầm thường, dung tục đang sợ hãi cách mạng. Chim báo bão bay lượn ngang tàng và tự do. Nó cười nhạo mây đen, nó nức nở vui mừng và reo hò kêu gọi bão táp “dữ dội hơn nữa, bão táp háy nổi lên!”. Bài ca chim bão bão thể hiện bước khải hoàn của phong trào cách mạng Nga và tâm trạng vui mừng của hàng triệu quần chúng đang đứng lên  làm chủ cuộc đời. Tác phẩm dài khoảng một trang giấy, ngay khi nó mới ra đời đã được người ta chép tay hoặc in tới hàng triệu bản, phổ biến rộng rãi khắp nơi, nhằm cổ vũ mãnh liệt khí thế cách mạng của nước Nga. Trong bài báo mang tên “Trước cơn bão táp” Lênin đã trích dẫn lời kêu gọi của chim báo bão “Dữ dội hơn nữa, bão táp hãy nổi lên!”.

Văn học không chỉ miêu tả cuộc sống mà qua cuộc sống đó để khích lệ lòng dũng cảm và ý chí chiến đấu của con người nhằm giành lấy tương lai tốt đẹp cho họ. Truyện Về con chim yến nói dối và con gõ kiến yêu chân lí (1893). Chim yến đã kêu gọi mọi loài chim hãy tin tưởng vào bản thân “đã đến lúc các bạn phải tin tưởng vào mình “và nó khích lệ lòng tự hào, ý chí chiến đấu của mọi loài chim để có một tương lai tràn đầy ánh sáng và tự do “chúng ta không được mệt mỏi, chúng ta phải luôn luôn đấu tranh và chiến thắng tất cả để tỏ ra xứng đáng với giá trị của mình để có quyền nói rằng: tất cả quá khứ, hiện tại và tương lai chính là của chúng ta “và “con đường chúng ta phải đi… tôi tin chắc rằng…ở đấy có một xứ sở xứng đáng làm phần thưởng cho những khó khăn nhọc nhằn mà chúng ta phải chịu đựng ở dọc đường! Ở đấy, ánh sáng vĩnh viễn không bao giờ tắt, ở đấy những điều kì diệu mà chúng ta chưa từng biết…Hãy đến đấy – đến nước của hạnh phúc! Nơi chiến thắng vĩ đại đang chờ đón chúng ta, nơi chúng ta sẽ là người đang làm ra pháp luật của thế giới và là chúa tể của thế giới, nơi chúng ta sẽ là chúa tể của vạn vật…Hãy tới đấy! – tới cái tiến lên kì diệu ấy!”.

Truyện Cô gái và thần chết (1892) ca ngợi niềm tin thắng lợi của con người đối với vận mệnh. Truyện dựng lên một hình tượng cao đẹp của người thanh nữ tràn đầy sức sống, mãi mãi tươi xanh với thời gian. Trong cuộc giao tranh với thần chết cô đã chiến thắng. Ý chí khẳng định quyền được sống, được hưởng hạnh phúc của mình vang lên trong những lời ca rực lửa: “hồn ta tràn đầy sức mạnh thiêng liêng; Ánh sáng thiêng liêng rọi hồn ta cháy lửa; Trước số mệnh bạo quyền; chẳng cúi đầu khiếp sợ”. Tình yêu mãnh liệt với ý chí bảo toàn sự sống của cô đã đẩy lui được thần chết và đã trở nên bất tử “Khắp nơi nơi – ngày tang lễ cũng như ngày thành hôn; Không phút giây mệt mỏi lặng ngừng; Niềm vui tình yêu và hạnh phúc trong cuộc sống”. Sức sống bất khuất là sức sống chiến thắng! Bao niềm tin yêu vào sinh lực tươi xanh của cuộc sống, ở khả năng đấu tranh của con người chan chứa trong bản trường ca.

Giữa lúc trong thực tế đã bắt đầu nổi lên khuynh hướng phát triển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa do Lênin và Đảng Bônsêvich chủ trương, Gorki bằng nghệ thuật đã phát biểu về sự cần thiết phải đoàn kết tất cả những người lao động trong một tổ chức chính trị chặt chẽ để tiến hành một cách có hiệu quả cuộc đấu tranh vì tự do trong truyện Đồng chí (1906). Đồng thời, qua tác phẩm Gorki còn ca ngợi sự đoàn kết nhất trí của giai cấp vô sản Nga trong cuộc cách mạng 1905, nhất là trong cuộc tổng bãi công của công nhân toàn nước Nga tháng 10.1905.

Trong tác phẩm Người độc giả (1895) Gorki đòi hỏi văn học phải “nói đến những quay cuồng trong đầu óc con người, đến sự cần thiết hồi sinh của trí tuệ”, phải lên tiếng “kêu gọi làm cho cuộc đời thắng lợi”, phải cho con người những bài học dũng cảm những dòng chữ sôi nổi chấp cánh cho tâm hồn” để khích lệ con người đã bị cuộc sống dơ bẩn làm nhục chí và đẩy vào cảnh sa đọa”

Trong truyện Những mẩu chuyện nước Ý (1906-1913), Gorki đã dùng chất liệu Ý để miêu tả những thời điểm – khi mà con người do nhiều nguyên nhân đã biểu hiện một cách kì diệu tựa như trong truyện cổ tích – những tình cảm và tư  tưởng sẽ là đặc điểm điển hình của tập thể loài người trong xã hội tương lai. Đó là tinh thần đoàn kết giữa giai cấp vô sản và nhân dân lao động, là sức mạnh, lòng nhân đạo là niềm tin vào thắng lợi, là đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người lao động, cuộc sống đầy chất thơ và vẻ đẹp của một dân tộc có nền văn hóa lâu đời…Gorki muốn nêu lên sự đối lập những khía cạnh của thực tế Ý với cuộc sống bình lặng ở Nga, nhằm cổ vũ tinh thần của nhân dân Nga trong cuộc đấu tranh cánh mạng. Cũng chính vì thế mà lời đề của tác phẩm ông đã lấy câu nói của Anđerxen “Không có truyện cổ tích nào hay hơn là những chuyện do chính cuộc sống tạo ra”.

Không những viết về những người anh hùng, kiêu hãnh, phi thường…Gorki còn viết về những người lao động bình thường thể hiện rõ nét những yếu tố lành mạnh, giàu sức sáng tạo đang tiềm tàng trong nhân dân Nga. Trong truyện Một con người ra đời (1912) tác giả đã miêu tả sự ra đời của một con người như một sự kiện thiêng liêng. Nó đem lại niềm vui lớn cho người mẹ và cho cả thiên nhiên hùng vĩ tuyệt đẹp. Người mẹ thì “đôi mắt không đáy của chị tươi rói lên một cách kì lạ, cháy bừng lên một ngọn lửa xanh biếc”, trước mắt người mẹ là một con đường dài, chị tin rằng trên con đường đó “em bé kháu khỉnh con tôi kia sẽ lớn dần lên áp vào vú mẹ nó mà lớn mãi trong tự do”. Còn tác giả thì khi “người công dân mới của nước Nga “ ấy ra đời thì khuyên “ hãy làm ầm ĩ lên chú bé tỉnh Oren! Hãy lớn tiếng mà chứng tỏ sự có mặt của mình, bằng không thì mọi người sẽ lấn tới vận cổ chú mình” và sóng biển cũng “phả bọt lên…vui vẻ” đón chào con người mới. Mọi đau đớn của người mẹ lúc sinh nở, mọi lo lắng cho số phận tương lai của đứa con đều bị chìm sâu trước niềm vui sướng của sự sáng tạo thiêng liêng, của niềm tin vào sức mạnh con người “rồi đột nhiên, chị khẽ kêu lên một tiếng, im bặt rồi laị mở mắt ra, đôi mắt đẹp vô cùng, đôi mắt thần thánh của người sản phụ. Xanh biếc, đôi mắt ấy nhìn lên bầu trời xanh biếc, trong đôi mắt bừng lên và hòa tan một nụ cười hoan hỉ biết ơn, nhấc cánh tay nặng trĩu, người mẹ làm dấu thánh cho mình và cho con”. Mặc dù trong hiện thực đen tối của nước Nga những năm đói kém nhưng con người đã ra đời, bất chấp tất cả và nhất định sẽ phản kháng lại mọi sự thù địch, khẳng định địa vị của mình trên trái đất.

Qua hình ảnh người thợ mộc Ôxip trong truyện Băng chuyển (1912) Gorki không những cho độc giả thấy được những khả năng to lớn đang ẩn náo trong tính cách đân tộc Nga mà ông còn muốn đặt vấn đề về sự cần thiết phải giải phóng con người ra khỏi những xiềng xích nặng nề của lao động nô lệ “

Miêu tả tính cách dân tộc Nga trong hoàn cảnh “nghèo nàn cay cực” của xã hội Nga trước cách mạng, Gorki đặt ra vấn đề chủ nghĩa nhân đạo, về lí tưởng và hiện thực, về ước mơ và thực tế, về thái độ cần thiết phải có của con người trước nỗi đau khổ của đồng loại qua truyện ngắn Lenka ( Xtraxli – Morđaxti, 1917).

Cuộc đời cơ cực và tăm tối không thể dập tắt được những tia sáng ước mơ trong tâm hồn con người. Giữa cảnh đời sầu thảm vẫn không thiếu những con người đi tìm đi tìm hạnh phúc. Nhưng khi ánh bình minh của chân lí còn chưa rọi tới thì bao nhiêu ảo mộng, ước mơ đã tan biến. Cô gái Tachyana trong truyện Người đàn bà (1912) chỉ muốn xây dựng một hạnh phúc nho nho nhỏ trong cuộc sống đơn giản, bình yên. Thế mà ước mơ nhỏ bé này chị cũng không thể thực hiện được. Tachyana cô đơn và đau khổ giữa những con người. Nhưng chị thương xót cho mình thì ít mà thương xót cho sức người, cho tuổi trẻ bị hoài phí, cho cái kiếp người thống khổ thì nhiều. Vì lòng thương người chị đã phung phí chất nhựa sống của mình, đã phạm tội và đã bị đày đi Xibiri.

Truyện Mối tình đầu kể về cuộc tình của tác giả với “người phụ nữ đầu tiên đầu tiên“, O.IukaminXkaia, ở Nigiơni Novogod từ năm 1889 – 1892. Trong những năm bế tắc ấy đối với Gorki hình ảnh người phụ nữ này mang nhiều tính chất lí tưởng và thần tượng đối với ông. Ông cho rằng “ chính người đàn bà này không những giúp tôi cảm biết được hết cái bản ngã thật của mình, mà nàng còn có thể làm một điều gì thần diệu và sau đó tôi sẽ lập tức thoát ra khỏi giam cầm của những ấn tượng đen tối của cuộc sống, sẽ vĩnh viễn vứt bỏ một cái gì đó ra khỏi tâm hồn  và tâm hồn tôi sẽ bừng lên một ngọn lửa của một sức mạnh lớn lao, của một niềm vui vĩ đại”. Nhưng sau khi chung sống với người phụ nữ đầu tiên này, ông đi đến kết luận là không thể tiếp tục chung sống với người phụ nữ ấy được nữa. Bởi vì nàng cũng đang lẩn quẩn trong sự tìm tòi “cái thú vị” trong những con người bình thường, đang đợi chờ một cái gì tốt đẹp trong cuộc sống. Đôi khi nàng mới “nhen nhóm được trong đôi mắt đờ đẫn của  một con người tẻ nhạt một cách vô hi vọng cái tia sáng nhạy bén của một ý nghĩ sắc sảo, những điều này thường thấy hơn là nàng nhen nhóm lên cái dục vọng lì lợm muốn chiếm hữu nàng”. Và đương nhiên con người đó không thể làm được một điều gì thần diệu và cũng không thể đưa tác giả thoát khỏi cảnh đời bế tắc.

Chủ đề về sự hình thành tính cách con người là một trong những chủ đề quan trọng trong sáng tác của M.Gorki. Truyện Sách (1915), truyện Tôi đã học tập như thế nào (1918) không chỉ nói đến việc hình thành tính cách của tác giả  thời thơ ấu, thời niên thiếu, thời thanh niên mà còn góp phần giải quyết vấn đề tính cách dân tộc Nga nói chung. Đối với Gorki, sách vở là người bạn tri kỉ, là người thân yêu trong cảnh cô đơn, trong cuộc sống địa ngục chán chường, đơn điệu mà thỉnh thoảng người ta lại khuấy động lên bằng những trò man rợ. Sách là cái chìa khóa mở cửa cho ông vào một thế giới mới ”nơi mà mọi cái đều hợp lí hơn”, nhưng sách cũng không làm cho ông trốn tránh cuộc đời thực, xa lánh mọi người mà ngược lại, nó còn cho ông lòng tin vào, kích thích thái độ của ông đối với cuộc sống, khát vọng muốn cải tạo hiện thực, và làm cho con người tốt đẹp hơn. Vì “mỗi cuốn sách là một bậc thang nhỏ mà khi bước lên tôi tách khỏi con thú để vươn tới gần con người”. Và ông kêu gọi “hãy yêu sách, nó là nguồn hiểu biết, chỉ có hiểu biết mới là con đường sống, chỉ có nó mới có thể làm cho chúng ta trở thành những người kiên nghị, chính trực, khôn ngoan có khả năng thành thật yêu mến con người, tôn trọng lao động của con người và thành tâm khâm phục những thành quả tuyệt vời do công trình lao động vĩ đại liên tục của  con người tạo nên” (Tôi dã học tập như thế nào).

Truyện ngắn Sách (1915), và truyện Tôi đã học tập như thế nào (1918) còn thể hiện một chủ đề mới mẻ – giai cấp vô sản phải học tập, nâng mình lên ngang tầm trí tuệ nhân loại thì mới có thể đảm trách sứ mệnh lịch sử của dân tộc và nhân loại.

Có thể nói những tác phẩm lãng mạn của Gorki là những bản tuyên ngôn khẳng định lòng tin yêu vào cuộc sống và con người, về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể. Gorki đã kế thừa truyền thống lãng mạn tiến bộ của văn học quá khứ và đã xây dựng nên những tác phẩm thể hiện những cảm hứng rất mới mẻ, phản ánh những khát vọng của nhân dân khi phong trào cách mạng vô sản đang dâng dậy. Cảm hứng lãng mạn trong truyện ngắn của Gorki tràn đầy tính lạc quan cách mạng tươi trẻ, mạnh mẽ.

2.2.2. Truyện ngắn hiện thực

Ngay ở thời kì đầu, Gorki không những là cây bút lãng mạn có sức rung cảm mạnh mẽ mà ông còn là cây bút hiện thực lỗi lạc. Trong những năm tháng tự lực lao động kiếm sống trước mắt Aliôsa bày ra một cảnh “hỗn độn hoang dã, sự sôi sục của những mâu thuẫn nhiều vô số và không sao hòa hoãn được, nhỏ có lớn có, cả cái khối mâu thuẫn đó tạo thành một tấn bi hài kịch quái gở trong đó lòng tham của con người đóng vai trò chính”. Chính những mâu thuẫn đó đã để lại trong tâm trí nhà văn những ấn tượng day dứt như “một cục trong họng ” không viết, không khắc họa chúng bằng ngôn từ thì không chịu nổi. Đó chính là động cơ giúp Gorki viết hàng loạt truyện ngắn hiện thực sinh động, độc đáo.

Khi viết về đề tài đời sống, tư tưởng tình cảm của nhân dân Nga, bản lĩnh của Gorki được thể hiện rõ ràng và được khẳng định ngay từ đầu. Chủ đề chính trong các tác phẩm này là cuộc sống của những người cùng khổ, đặc biệt là những người du thủ du thực. Ở họ có những phẩm chất tốt đẹp nhưng không ít hạn chế mà nhà văn đã phê phán không thương tiếc. Ông chú ý tới thế giới nội tâm phong phú đa dạng của những người cùng khổ, nhất là những mầm móng của ý thức xã hội mới nảy sinh, sự phản kháng tự phát, âm thầm ngày càng mạnh, niềm mơ ước về một cuộc sống tốt đẹp hơn đang âm ỉ cháy trong lòng những con người ở “dưới đáy” xã hội này.

Truyện ngắn Emelian Pilai (1893) cho ta thấy trật tự xã hội bất công đã đẩy Emelian tới chổ cùng đường, anh không thể tìm được việc làm. Anh cảm thấy rằng chỉ có một lối thoát duy nhất là đi giết người cướp của để giành lấy một chỗ đứng cho mình trong cuộc đời. Nhưng khi gặp cảnh đau khổ của một cô gái đáng thương, anh đã khắc phục được những ý nghĩ tội lỗi nhất thời đó và thể hiện bản chất tốt đẹp, cao thượng vốn có của người lao động. Truyện đã tố cáo bọn thống trị dã man, tàn nhẫn đã tước đoạt mọi quyền hành của người lao động, kể cả quyền tối thiểu đồng thời cũng là phương tiện duy nhất để sinh sống của họ – quyền được lao động.

Truyện Làm muối (1893) Gorki lại đưa ra một vấn đề khác. Đó là sự áp bức bóc lột, lao động khổ sai, đã làm cho con người phẫn nộ. Nhưng vì không biết trút sự bực tức của mình vào đâu nên giữa những con người này đã nảy sinh tính tàn nhẫn và độc ác với nhau. Truyện ngắn Lão Arkhip và bé Lionka (1893) nói lên sự xung đột trong ý thức của những người nghèo khổ. Trong tâm hồn của cậu bé Lionka đã bừng dậy những phẩm chất tốt đẹp, nhưng nó còn quá yếu đuối và non nớt. Nó chưa đủ sức chống lại những thành kiến lạc hậu của xã hội cũ mà lão Arkhip đã tiếp thu và cố gắng thực hiện trong đời sống của mình. Sự xung đột đó đã dẫn đến cái chết đầy bi thảm của hai ông cháu ăn mày bần cùng và bất lực.

Kônôvalôp (truyện cùng tên viết năm 1896) là một thanh niên nướng bánh mì, lực lưỡng, đẹp trai, làm việc “khéo léo như một nghệ sĩ ”, có tấm lòng thương người, có một thế giới tâm hồn phong phú và nhạy cảm trước cái đẹp. Anh đã nghĩ nhiều đến nỗi đau khổ của mình và của người đời, về mục đích và ý nghĩa của cuộc đời. Kônôvalôp không thấy được nguyên nhân nỗi đau khổ của mình và của nhiều người khác. Anh đã lí giải nó một cách sai lầm. Anh cho rằng sở dĩ mình sống cuộc đời tẻ nhạt và buồn chán là bởi vì mình là người thừa trên trái đất, mình không tìm thấy điểm tựa cho mình trong cuộc đời. Và anh đã đi vào con đường nghiện ngập, du đãng rồi cuối cùng  tự tử.

Còn cô gái Manva xinh đẹp, đầy kiêu hãnh, khoẻ mạnh trong truyện cùng tên (1897) đã rời bỏ làng quê ngột ngạt đi ra vùng bờ biển để tìm một cuộc sống tự do. Nhưng sau một hồi vùng vẫy, cuối cùng cô chỉ thấy bế tắc và tuyệt vọng. Truyện Hai mươi sáu anh chàng và một cô gái  (1899) nói đến cảnh lao động khổ sai của 26 anh thợ làm bánh mì đã tự dựng lên một thần tượng về con người đẹp, trong sạch giữa cảnh đời bẩn thỉu, tối tăm. Nhưng rồi cái ảo ảnh ấy cũng đã bị thực tế phũ phàng làm cho tan vỡ.

Nhân vật người kể chuyện trong tác phẩm Người bạn đường của tôi (1894) trong thời gian này đã dứng cao hơn những người xung quanh. Nhưng tư tưởng của anh và ý thức của đông đảo quần chúng còn rất xa nhau. Và trong truyện ngắn Câu chuyện một ngày thu (1895) nhân vật này đã trải qua những tình huống éo le do sự bất lực của bản thân trước hoàn cảnh. Anh ta chỉ còn biết than thân trách phận.

Truyện Tsencase (1894) là tác phẩm lớn của Gorki viết về những người du thủ du thực. Nhân vật chính là Tsencase, một kẻ cắp khét tiếng ở bến tàu. Xuất thân là nông dân, Tsencase đã từng là một chàng lính cận vệ đẹp trai, nhưng 11 năm trời đi du đãng đã làm y quên hết những gì thuộc về quá khứ. Bây giờ y là một kẻ cắp, y cần tiền để được tiêu xài thoải mái và sống một cuộc đời tự do. Y khinh những kẻ tư hữu tham lam, những kẻ nô lệ của đồng tiền. Đối lập với Tsencase là Gvarila, gã nông dân trẻ tuổi đi lang thang tìm cách kiếm tiền sinh sống và về quê xây dựng một cơ ngơi. Vì tiền Gavrila sẵn sàng phạm tội ác. Gã định giết chết Tsencase, kẻ đã giúp gã kiếm ăn, để đoạt lấy số tiền 500 rup. Cuộc xung đột giữa Tsencase và Gavrila ở cuối truyện càng làm nổi bật lên lòng hào hiệp, phẩm chất cao đẹp của TsenKasơ, một con người đã bị vứt ra ngoài rìa cuộc đời bên cạnh sự đê tiện, hèn hạ, lòng tham lam của kẻ đại diện cho tư tưởng tư sản – Gavrila.

Tác phẩm hiện thực tiêu biểu nhất trong sáng tác thời kì đầu của Gorki là  truyện Vợ chồng Orlôp (1897). Tác phẩm nói về cuộc sống tối tăm, nghèo nàn đơn điệu và không mục đích của hai vợ chồng người thợ đóng giày. Do buồn chán, Orlôp thường xuyên uống rượu và đánh vợ. Anh từng nghĩ đến số mệnh nhưng có lần anh đã cưỡng lại nó. Đó là lúc anh quyết định cùng vợ xin vào làm ở bệnh viện và anh mơ ước lập chiến công thầm lặng nhưng vẻ vang. Anh ước mơ “giải phóng nước Nga khỏi nạn dịch tả”. Nhưng cuộc sống tầm thường hằng ngày đã chặt đứt bao ước mơ của anh. Anh bế tắc và không có lối thoát. Cuối cùng anh trở lại với rượu chè và đánh vợ và anh đã rời bỏ bệnh viện để đi du đãng. Cuối tác phẩm là cuộc gặp gỡ giữa Orlôp và tác giả trong một quán rượu rẻ tiền và anh đã kể cho tác giả nghe câu chuyện đáng buồn trên. Sự phản kháng của Orlôp trong phút chốc đã xẹp ngay. Anh không bằng lòng với thực tại tối tăm nhưng anh lại không làm được cái gì lớn lao ( chữa bệnh dịch – cải tạo xã hội). Đó chính là tấn bi kịch của anh và của tất cả người du thủ du thực.

Nhân vật tích cực trong các tác phẩm hiện thực thời kì này là tác giả – người kể chuyện. Nhưng đây chỉ là một người nghèo khổ chưa phải là một công nhân có trình độ giác ngộ cao. Mầm mống ý thức giai cấp có thể thấy ở anh thợ xếp chữ Gvôzđiep ( truyện Kẻ phá bĩnh, 1897). Nhưng sự phản kháng của Gvôzđiep cũng chỉ là một hành động đơn độc, tự phát, không có tổ chức. Gvôzđiep chưa phải là người anh hùng lí tưởng của Gorki.

Trong các truyện ngắn hiện thực của Gorki những năm 90, mặc dù ông  chưa xây dựng được hình ảnh hoàn chỉnh về người công nhân cách mạng nhưng ông đã miêu tả được sự phản kháng ngày càng mạnh mẽ của quần chúng. Hơn nữa, Gorki cũng là nhà văn đầu tiên đưa vào trong sáng tác của mình một khí thế chiến đấu mới, tinh thần dũng cảm lập chiến công, anh hùng mới và hơi thở của phong trào quần chúng đang bắt đầu sôi sục khi cơn bão táp cách mạng sắp nổ ra.

Sự phân chia các tác phẩm của Gorki thành những truyện ngắn hiện thực và truyện ngắn lãng mạn như trên chỉ mang tính tương đối. Nó không có một ranh giới cụ thể rõ ràng nào cả mà chúng tôi chủ yếu dựa vào cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm. Chất lãng mạn và hiện thực ở đây luôn có sự xâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau. Trong tác phẩm lãng mạn có yếu tố hiện thực và trong tác phẩm hiện thực có yếu tố lãng mạn, chỉ có điều là nó đậm hay nhạt mà thôi.

2.3. Sơ lược về những hình tượng nhân vật chủ yếu trong truyện ngắn của Macxim Gorki

Bằng những truyện ngắn đầu tay của mình, Gorki đã hé mở một tia nắng mới vào dòng văn học Nga thế kỉ XIX với một cảm hứng mới lạ cùng với sự xuất hiện của nhiều nhân vật mới. Các nhân vật này được Gorki miêu tả rất sinh động và phong phú. Từ người anh hùng Lôikô cùng cô gái Radda chỉ biết  tự do là tất cả, từ chàng Đankô với trái tim cháy rực soi đường cho cộng đồng vượt qua bóng tối và đầm lầy để đến với thảo nguyên bao la tràn đầy ánh sáng mặt trời, từ chú chim báo bão ngang tàng bay lượn trên bầu trời lúc mưa bão dữ dội đến những kiếp sống mòn mỏi, thấp hèn trong xã hội như Chú bé ăn mày Lionka, anh thợ đóng giày Orlôp, gã lưu manh (hảo hán) Tsencasơ, hai mươi sáu anh thợ làm bánh mì là những người thợ tự do nhưng phải sống, lao động như những tên tội phạm khổ sai…tất cả những nhân vật này đều mang một dáng vẻ riêng, một đặc trưng riêng. Nhưng xét kĩ ra thì các nhân vật của Gorki tựu chung lại có thể xếp thành hai loại: nhân vật “con người mới” (truyện ngắn lãng mạn) – mầm mống của người anh hùng mới – và nhân vật “con người dưới đáy” (truyện ngắn hiện thực). Trong phần nghiên cứu này chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu vào loại nhân vật thứ hai – hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” trong những truyện ngắn hiện thực tiêu biểu của M. Gorki.

Chương 2:   HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT “CON NGƯỜI DƯỚI ĐÁY”

 

 1. SỰ SA ĐOẠ, TỘI LỖI TRONG NHỮNG CẢNH ĐỜI CÙNG KHỔ TỐI TĂM

Những năm 90, chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ ở Nga. Nông thôn ngày càng thu hẹp, thay vào đó là các thành phố ngày càng được mở rộng. Dù bấy giờ ở nước Nga đô thị rất phát triển nhưng đời sống của nhân dân Nga rất cùng cực và khốn khổ.

Ở nước Nga nửa cuối thế kỉ XIX, hằng năm có nạn đói nhỏ, ba năm một lần có nạn đói trung bình, năm năm một lần có nạn đói lớn và mười năm một lần có nạn đói khủng khiếp. Nạn đói năm 1891 – 1892 lan tràn khắp 30 tỉnh, làm cho hàng triệu người chết. Những người còn sống thì phải lênh đênh trôi nổi khắp nơi để tìm việc làm mà sống. Trong những năm 90, số người đi lang thang để tìm cách sinh sống lên đến năm triệu người. Gorki rất quan tâm chú ý đến cuộc sống của những người du thủ du thực này. Đối với họ, ông rất đồng cảm và thương yêu. Bởi vì bản thân ông cũng là người chung hội chung thuyền với họ nên ông thật sự hiểu được cuộc sống khốn cùng của họ, những “con người dưới đáy” xã hội.

Sống trong cái xã hội mà theo Lênin, bọn quan lại đã “giăng một mạng nhện chằng chịt và con người giãy giụa như ruồi trong cái mạng nhện ấy” [3, 424]  thì đời sống của người dân ngày càng nghẹt thở. Hơn nữa lúc bấy giờ nạn đói – hậu quả của phong trào vô sản hoá nông thôn – là một nỗi ám ảnh rất đáng sợ đối với nhân dân. Không có việc làm, họ phải lăn lộn với sóng gió cuộc đời để xin việc, nhưng khổ nỗi “trên trái đất này lại không đủ công việc cho người ta làm và con người phải tốn bao nhiêu công sức mới tìm được việc” [ 8, 71 ]. Chính vì thế mà EmiLian Pilai và người bạn đường của anh ta không tìm ra được một việc làm ngay trên thành phố cảng lớn của nước Nga – Ôđexxa.

Emelian Pilai (truyện Emelian Pilai) và người bạn đường của anh ta phải trôi dạt muôn phương trong lúc không có gì trong bụng suốt mấy ngày liền. Cuối cùng họ quyết định đi làm muối, “đấy là việc khổ sai…chẳng ai làm được lâu. Bao nhiêu người phải bỏ đấy mà chuồn…không chịu nổi” [ 8, 71 ], và tiền lương thì với giá lột da xẻo thịt 60 cô – pêch mỗi ngày.

Trước tình cảnh khốn khổ, Emelian Pilai nhìn lại cuộc đời đã qua của mình và thấy rằng không có gì là tốt đẹp cả. Anh nhận ra rằng mình đã hơn 47 tuổi đầu mà còn tệ hơn một con chó “không có cái ổ mà nằm, không có miếng xương mà gặm” [ 8, 62 ]. Con người khốn cùng ấy đã bị dồn vào chân tường và anh đã phản ứng lại một cách tiêu cực.

Từng làm chạy hàng cho một ông chủ gỗ, thế nhưng Emelian Pilai đã dần dần trở nên sa đoạ. Anh sinh ra uống rượu và đã ngốn mất của ông chủ hết 60 rúp. Thế rồi anh bị đưa vào tù. Sau khi ra tù, không xin được việc làm hơn nữa nạn đói lại mấp mé dưới chân, Emelian Pilai nghĩ rằng chỉ còn một lối thoát duy nhất là đi giết người cướp của, anh sẵn lòng “mua hạnh phúc của mình bằng tính mạng của kẻ khác” [ 8, 58 ]. Theo lời lão Paven Pêtrôp – một tên có cách làm ăn mập mờ, mở quán rượu và chuyên tàng trữ đồ lấy trộm, bao đủ các thứ du côn và che giấu những việc của chúng – thì anh quyết định phục kích giết chết Ôbaimôp – một lão lái buôn – để cướp tiền. Thế nhưng sự việc không thành.

Qua cuộc đời khốn khổ và tội lỗi của Emelian Pilai, Gorki đã phơi bày ra ánh sáng bản chất đê tiện xấu xa của bọn thống trị dã man, những kẻ tàn nhẫn đã bóc lột con người đến tận xương tuỷ, cướp hết mọi quyền sống của con người dù đó là quyền được lao động.

Không chỉ Emelian Pilai, Tsencasơ ( tác phẩm Tsencasơ) từng là một nông dân hiền lành, lớn lên đi lính và là một chàng lính cận vệ khoẻ mạnh, đẹp trai, khéo léo. Nhưng sống giữa cái xã hội ngột ngạt lúc bấy giờ, anh đã trở nên sa đoạ. Suốt mười một năm trời đi du đãng, Tsencasơ trở thành “một tay nghiện rượu khét tiếng và là một tên ăn cắp khéo léo, can đảm” [ 8, 168 ]. Cuộc sống của anh trên bến tàu như “một con sói già bị săn đuổi“, nhưng với bản tính “ngang tàng và táo tợn” nên anh cứ ngang nhiên lấy cắp ở đó để sống. Bởi vì y cần tiền và “y sẽ chơi bời thoã thích khi trong túi y có những tờ giấy bạc” [ 8, 172 ].

Tsencasơ chính là sản phẩm của cái xã hội đầy rẫy những ung nhọt và bất công. Cái xã hội đã làm cho con người bị tha hoá và nó sẵn sàng hất cổ họ ra bên lề cuộc sống một cách tàn nhẫn. Sống trong cái xã hội này, Tsencasơ chỉ là một con người mà nếu bị giết chết thì không ai vì hắn  mà làm ầm ĩ lên, bởi vì “hắn là con người thừa trên trái đất! Ai hơi đâu mà bênh vực hắn” [ 8, 208 ]. Tsencasơ ý thức được điều chua chát ấy và anh vẫn cứ ngang nhiên sống trong cái xã hội đó. Cuộc sống của anh ở đó như đám mây đen chập chờn trong mắt bọn lính đoan mà lúc nào chúng cũng muốn dùng những bạo lực của tù dày để xoá tan nó đi.

Mùa thu năm 1892, nước Nga bị khủng hoảng kinh tế. Hàng triệu người dân Nga trên những nẻo đường của nước Nga mênh mông phải chịu đói khổ và trôi dạt bốn phương. Hai ông cháu của Lionka (truyện Lão Arkhip và bé Lionka) trên đường xin ăn kiếm sống đã nói rằng, ở nước Nga đói lắm “cả gián cũng chết đói” huống chi là người. Để chống lại cái đói, lão Arkhip đành đi ăn cắp và cuối cùng hai ông cháu phải nhận cái chết đầy bi thảm.

Trong truyện Người bạn đường của tôi, ta lại bắt gặp hình ảnh những người dân đói lũ lượt kéo nhau đi thành từng đoàn để tìm việc. Cả bốn trăm con người ở Fêôđôxia đều mơ ước có được việc làm như tác giả và người bạn đường của anh ta. “Nhưng rồi họ cũng đành sắm vai trò những kẻ đứng xem người ta xây đập…khắp nơi – cả trong thành phố lẫn các vùng xung quanh – từng toán   dân đói  mặt mày xám ngắt, chán nản, đi lang thang vơ vẩn và những kẻ du đãng vùng Azôp và Tavri sục sạo như bầy chó sói” [ 8, 228 ].

Không có việc làm, “người bạn đường” của tác giả đã quyết định đi ăn xin. Nhưng không phải đi ăn xin là có được miếng ăn, là được sống, vì “bọn ăn xin các người nhiều quá“, họ kéo nhau thành từng  “bọn” với vẻ hốc hác, thảm hại, chỉ hi vọng kiếm được một chút gì đáp ứng cho cái dạ dày rỗng tuếch, dù đó là một mẩu bánh mì.

Không chỉ chịu cảnh đói khổ, lang thang mà đi đến đâu những người này đều bị cảnh sát xua đuổi đến đó. Khi tác giả và người bạn đường của anh ta đến Kecsơ thì “tất cả những kẻ vô dụng – bọn chân đất – đã bị đuổi ra khỏi Kecsơ” [ 8, 230 ]. Họ buộc phải nấp ngủ dưới chân cầu ván ghép bắc từ bến kè lên để tránh sa vào tay cảnh sát.

Người thất nghiệp đã thế còn người có việc làm thì cũng chẳng hơn gì. Hai mươi sáu anh thợ làm bánh mì (truyện Hai mươi sáu anh chàng và một cô gái) vốn là những người lao động tự do nhưng họ chẳng khác gì những tên tù khổ sai dưới sự bóc lột tàn nhẫn của các ông chủ tư sản.

Hai mươi sáu anh thợ làm việc như hai mươi sáu người tù, “hai mươi sáu cái máy sống bị nhốt trong hầm nhà ẩm ướt“. Họ kể, ở đó họ “nhào bột từ sáng đến tối làm bánh sữa và bánh mì khô…ông chủ rào sắt ở bên ngoài cửa sổ để chúng tôi không thể đem những mẩu bánh mì của ông ta cho những người ăn xin và những người bạn của chúng tôi đang đói vì không có công ăn việc làm…buổi trưa ông ta cho chúng tôi ăn lòng thối thay cho thịt” [ 8, 484 ]. Họ sống trong cảnh ngột ngạt tối tăm, ẩm thấp và họ chỉ biết cử động tay, ngón tay như cái máy. Họ chán nản, họ buồn và họ “mượn lời người khác hát lên nỗi đau xót âm thầm của mình, hát lên nỗi buồn của những con người sống thiếu ánh mặt trời, nỗi buồn của những kẻ nô lệ… Hai mươi sáu con người trong căn hầm của toà nhà đá lớn, sống cực khổ đến nỗi có cảm giác như cả ba tầng của toà nhà này đều xây hẳn trên vai” [ 8, 487 ].

Xã hội thật bất công với họ. Ông chủ của họ là “một tên biển lận, một kẻ lừa bịp, quân bất lương và thích hành hạ người khác” [ 8, 487 ] và họ phải chịu đựng trong sự tàn ác đó. Hơn nữa, đi đến đâu họ cũng bị cảnh sát xua đuổi đến đó. Vào những ngày lễ những người thợ khác thì quần áo bảnh bao đi đến vườn hoa thành phố dạo chơi, còn hai mươi sáu anh thợ thì “quần áo rách rưới, bẩn thỉu, chân quấn giẻ hay đi dép bện bằng vỏ cây, cảnh sát không cho họ đến vườn hoa thành phố “. Tuy sống trong cảnh tối tăm bẩn thỉu, nhưng họ vẫn cố thắp lên cho mình những tia hi vọng. Và họ gởi niềm hi vọng của mình vào Tania nhưng cuối cùng họ đã vỡ mộng. Họ vây quanh chửi mắng Tania thậm tệ. Nhưng rồi cuộc sống tối tăm, cực khổ vẫn vây quanh họ. Họ chỉ biết “lẳng lặng trở vào cái hầm đá ẩm thấp“, và “vẫn như trước kia mặt trời không bao giờ nhìn vào cửa sổ (họ) và Tania không bao giờ đến nữa” [ 8, 504 ].

Dường như số phận của những “con người dưới đáy” này chỉ được an bài trong cuộc sống tối tăm ngột ngạt, thiếu ánh sáng mặt trời, nếu như họ không phải lang thang phiêu dạt hoặc ăn xin. Cuộc sống của hai vợ chồng anh thợ giày Orlôp ( truyện Vợ chồng Orlôp) trong căn hầm nhà “tối tăm, ẩm thấp, toả ra mùi mốc, mùi nước sôi và mùi da thối” [ 8, 404 ] đã khiến cho Grigori Orlôp luôn cảm thấy nhàm chán, bứt rứt, suốt ngày anh chỉ biết uống rượu và đánh vợ :

Trong tâm hồn anh, tất cả đều lộn xộn và nặng trĩu, và anh đành buông mình theo những cảm giác nặng nề trong lòng mà không hiểu rõ ra sao nữa, chỉ biết rằng nửa chai vôtka là liều thuốc duy nhất có thể làm anh nhẹ lòng”  [ 8, 407 ].

Nhưng vòng quay của nhịp sống vẫn cứ quay và anh cũng bị cuốn hút vào vòng xoáy đó, anh lại cũng làm việc, cũng sống trong căn “phòng ẩm ướt tẻ nhạt. Cuộc sống nhộn nhịp ở đâu đó bên trên, còn ở đây nó chỉ để lọt tới những âm thanh vang vẳng, mơ hồ, từng cụm không màu sắc quợn lẫn với bụi rơi xuống cái hố của vợ chồng Orlôp” [ 8, 411 ]. Họ làm việc, họ chán nản và họ hát lên những lời buồn tẻ cho cuộc sống đen tối của mình:

Ôi, cuộc đơ-ơi…cuộc đời chó chết của ta ơi…

Ngươi chỉ là một chuỗi buồn! Ôi chuỗi buồn đáng nguyền đáng rủa

Chuỗi buồn đáng nguyền đáng rủa của ta, ôi!…

[ 8, 413 ]

Là vợ chồng với nhau nhưng họ nói chuyện với nhau không bằng những lời âu yếm thiết tha mà bằng những lời thô lỗ, tục tằn và độc địa. “Họ yêu nhau, nhưng sống buồn tẻ, họ không có những cảm xúc và hứng thú có thể thoả mãn nhu cầu tự nhiên của con người là xúc động, suy nghĩ, và nói chung là sống. Giá vợ chồng Orlôp có một mục đích sống dù chỉ là mục đích góp nhặt từng xu, thì chắc chắn họ sống sẽ thoải mái hơn. Nhưng họ không có cả mục đích như thế ” [ 8, 414 ].

Cuộc đời đối với họ như cái hố tối tăm, chật chội và ngột ngạt, đã chôn sống họ. Điều đó đã khiến Orlôp cảm thấy tức tối mà thốt lên rằng: “Hỡi ơi, cuộc sống! Ngươi là chốn tù đày tuyệt diệu“[ 8, 420 ]. Vợ anh có ý định thay đổi chỗ ở để cho cuộc sống có gì đó mới mẻ hơn nhưng dù anh có thay đổi chỗ ở thì vẫn thế thôi, vẫn là sống trong cái “hố” tối tăm, ngột ngạt, không có gì tốt đẹp hơn lên vì “cuộc đời là cái hố“.

Họ cứ sống như thế hết ngày này sang ngày khác. Mà thật ra họ là những con người không đến nỗi tồi tệ lắm, họ sống và chờ đợi một cái gì xảy đến phá tan tành cuộc sống lố lăng đến khốn khổ của họ” [ 8, 422 ].

Gorki có sự tiếp thu truyền thống là miêu tả những bi kịch của con người nhưng ông có nét khác so với các nhà văn dân chủ Nga những năm 60. Đó là ông đi sâu miêu tả những bi kịch của những người cùng khổ nhưng ông không coi việc miêu tả tỉ mỉ bi kịch đó là mục đích chính của mình, mà ông đi sâu vào thế giới nội tâm, tìm hiểu những phẩm chất tốt đẹp, khám phá những khả năng tiềm tàng, những khát vọng hướng tới một cuộc cách mạng lớn lao trong những con người khốn cùng này. Đây cũng là một trong những đặc điểm quan trọng mà chúng tôi muốn trình bày.

2. NHỮNG THỂ HIỆN PHẨM CHẤT TỐT ĐẸP CỦA NHÂN VẬT “CON NGƯỜI DƯỚI ĐÁY”

2.1.  Lòng khát khao về cuộc sống mới, tốt đẹp

Cứ tưởng rằng sống giữa chốn bùn nhơ đen tối thì những “con người dười đáy” sẽ bị vùi lấp đi bao mơ ước khát vọng của mình. Nhưng trong sâu thẳm tâm hồn họ vẫn ấp ủ bao ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp, công bằng và nhân đạo.

Tsencase (tác phẩm Tsencase) ngoài cái vẻ của một tên cướp khét tiếng, ghê tợn, trong tâm hồn anh vẫn có những giờ phút thơ mộng để giao cảm với thiên nhiên. Anh yêu mến ngắm nhìn biển tươi đẹp, và ngắm nhìn không biết chán. Đối diện với biển, anh quên đi bao ý nghĩ tội lỗi:

Y, một kẻ cắp, y yêu biển. Cái bản tính nóng nảy sôi nổi, thèm khát cảm giác của y không bao giớ biết chán khi ngắm nghía khoảng rộng đen tối, bao la, tự do và dũng mãnh này…Ngồi ở cuối thuyền y bẻ tay lái rẽ nước và bình tĩnh nhìn về phía trước, lòng tràn ngập niềm mong muốn được đi lâu và xa trên làn nước phẳng lặng, mịn mượt như nhung này” [ 8, 183 ].

Nếu như Gavrila cảm thấy ngợp thở trước cái yên lặng và vẻ đẹp tối tăm của biển thì đối vối Tsencase, biển như là thứ nước thánh thiêng liêng của chúa trời, nó có thể rửa sạch mọi tội lỗi của y:

Ở ngoài khơi, trong lòng y bao giờ cũng dậy lên một tình cảm rộng lớn ấm áp, tình cảm ấy choán hết tâm hồn y, tẩy rửa hết những cái nhơ nhớp mà đời sống hằng ngày đã in sâu vào tâm hồn. Y quí trọng tình cảm ấy và thích thấy mình trở nên tốt đẹp hơn ở nơi đây, giữa khoảng trời nước bao la, nơi mà mọi ý nghĩ về cuộc sống  bao giờ cũng bớt gay gắt và bản thân cuộc sống bao giờ cũng mất giá trị. Đêm đêm, tiếng thở nhẹ nhàng trong giấc ngủ của biển bay bổng trên mặt nước bao la. Cái âm thanh mênh mông ấy truyền sự bình tĩnh vào tâm hồn con người, dịu dàng thuần hoá những dục vọng độc ác điên cuồng, khơi lên trong lòng người bao mơ ước mãnh liệt” [ 8, 184].

Suốt 11 năm trời sống cuộc đời một tên du đãng nhưng trong tâm trí của Tsencase  những kí ức tốt đẹp xa xăm không bao giờ mất đi và cái dĩ vãng tốt đẹp của cuộc đời xa xưa luôn hiện về trước mắt y: “Y đã kịp thấy y lúc trẻ thơ, làng quê y, mẹ y – người thiếu phụ má đỏ, mũm mỉm, có đôi mắt sáng hiền hậu – và bố y – người đàn ông cao lớn đồ sộ, có bộ râu cằm hung và khuôn mặt nghiêm khắc. Y thấy mình là chú rể và thấy vợ y, cô Anfixa mắt đen có bím tóc dài, người đẫy đà, dịu hiền, vui tính, và y lại thấy mình là chàng lính cận vệ đẹp trai…Y thấy cả cái cảnh làng xóm đón tiếp y khi y hết hạn tòng ngũ trở về. Y thấy bố y hãnh diện như thế nào trước cả làng về thằng “Grigori của mình“. Những kí ức ấy “đã làm sống lại những hòn đá của dĩ vãng và nhỏ những giọt mật vào chén thuốc độc mà hồi xưa người ta đã uống…Tsencase cảm thấy mình được tắm trong luồng không khí thân thuộc âu yếm, làm cho lòng y dịu lại. Luồng không khí thân yêu ấy đưa đến tai y cả những lời âu yếm của mẹ, cả những lời lẽ trang nghiêm của ông bố nông dân giàu nhiệt huyết, vô số âm thanh đã bị quên lãng và nhiều mùi thơm nồng đượm của đất mẹ vừa mới tan băng, mới cày và vừa được bao phủ một lớp lúa thu óng ả như tấm lụa màu ngọc bích” [ 8, 199 ]. Càng thả hồn trong những kí ức hạnh phúc bao nhiêu, thì khi nhìn lại hiện tại, Tsencase càng ý thức được những nỗi bất hạnh, cô độc của mình bấy nhiêu: “Y cảm thấy y là kẻ cô độc, bị vứt ra và vĩnh viễn bị gạt ra khỏi cái cuộc sống đã sản sinh ra dòng máu hiện đang chảy trong mạch y” [ 8, 199 ]. Điều đó càng làm cho ta quí mến hơn con người có dáng vẻ dữ tợn này.

Dù sống, lao động trong không khí ngột ngạt, ẩm thấp, chật chội nhưng hai mươi sáu anh thợ ( truyện Hai mươi sáu anh chàng và một cô gái) vẫn tràn đầy mơ ước về một ánh sáng tốt đẹp, xa xăm. Họ nhắm nghiền mắt và cất cao ước mơ của mình bằng tiếng hát “và có lẽ anh hình dung những làn sóng âm thanh đậm đà bao la ấy là con đường dẫn về một nơi xa xăm rực rỡ ánh mặt trời – đó là con đường rộng lớn và anh thấy mình đang đi trên con đường đó”       [ 8, 487 ]. Ngoài những bài hát, họ còn có một cái gì tốt đẹp nữa để tắm mát những tâm hồn khốn khổ và khô cằn của mình, và có lẽ đối với họ “nó thay cho mặt trời“. Đó là mỗi buổi sáng họ được nhìn thấy Tania – một khuôn mặt nhỏ, xinh xắn hồng hào có cặp mắt xanh và vui vẻ – đến lấy bánh sữa. Trước mặt cô, họ tự cho mình là “những kẻ bẩn thỉu, tối tăm xấu xí“. Đối với họ, Tania như ngôi sao băng thoáng hiện rồi biến mất nhưng đó là nguồn sống hằng ngày không thể thiếu đối với họ. Họ tự dựng cho mình một hình tượng tốt đẹp về Tania. Họ cho rằng những người đàn bà mà họ biết đều là những kẻ chỉ đáng nghe những lời trơ trẽn thô lỗ nhưng đối với Tania thì họ không bao giờ dám nói những lời như thế. Họ “nói với cô bằng những lời đặc biệt – những lời …chỉ dành riêng cho cô. Trong lúc chuyện trò với cô, giọng nói (họ) dịu dàng hơn, những lời bông đùa cũng nhẹ nhàng hơn” [ 8, 488 ]. Với họ – “những con bò đực đần độn” – thì cô như một thiên thần sống giữa chốn bùn lầy mà họ phải tôn sùng. Việc giao bánh cho cô được họ xem như là một thứ nghi lễ thiêng liêng, “việc đó trở thành một lễ cúng hằng ngày hiến dâng thần tượng” [ 8, 490 ].  Họ cảm thấy sung sướng và hãnh diện khi được giúp đỡ cô mọi việc và không dám đòi hỏi ở cô một điều gì. Họ xem cô là nguồn hi vọng, nguồn ánh sáng duy nhất sẽ chiếu sáng vào cuộc sống tối tăm, ngột ngạt của họ. Họ nói: “Chúng tôi phải yêu Tania, bởi vì chúng tôi chẳng còn ai để mà yêu” [ 8, 490 ].

Nhìn thấy bao cô thợ khác chết mê chết mệt vì anh lính đẹp trai khoẻ mạnh, mới vào làm thì trong lòng hai mươi sáu anh chàng này lại không một chút mải may nghi ngờ gì về Tania. Họ luôn tin tưởng vào sự vững vàng của cô. Họ nói: “Tania ấy à? Cô ấy sẽ đứng vững! Không dễ gì lung lạc nổi cô ta đâu”          [ 8, 499 ]. Niềm tin đó đã tạo cho họ sự can đảm để họ quyết định thách đố với tên lính. Cuộc thách đố diễn ra và họ luôn tin rằng Tania sẽ chiến thắng. Càng ngày họ càng căng thẳng, sốt ruột, nóng lòng, chờ đợi kết quả cuộc thử thách tấm lòng trong sạch của vị thần nhỏ bé của mình. Đối với họ, Tania là điểm tựa duy nhất để họ bám vào và vươn lên cuộc sống bình thường. Họ chưa gục ngã vì còn hình ảnh của cô. Nhưng cuối cùng họ đã thất vọng, chiếc cầu hi vọng duy nhất của họ đã bị chặt đứt, thần tượng thiêng liêng mà họ tôn thờ đã sụp đổ, Tania đã bị tên lính chinh phục. Hai mươi sáu anh chàng xoay quanh chửi mắng cô bằng những lời độc địa, không kiêng nể. Họ cho rằng cô đã bóc lột hết của họ tất cả, trong khi “họ đã phung phí tất cả những gì tốt dẹp nhất vì cô, mặc dù cái tốt đẹp ấy chỉ là những mẩu vụn của những kẻ hành khất” [ 8, 503-504 ]. Cuối cùng họ nhận ra rằng đó không phải lỗi ở Tania.

Cũng như hai mươi sáu anh chàng, cuộc sống trong tầng hầm ẩm ướt, bẩn thỉu và tối tăm, không bao gìơ dập tắt được bao ước mơ cao đẹp của anh thợ đóng giày Grigori Orlôp (truyện Vợ chồng Orlôp). Anh luôn khao khát “thèm muốn cuộc sống nhẹ nhõm, vô tư” khác với cuộc sống nặng nề, chật chội và tù đọng mà anh đang sống. Với ý thức vươn lên, Orlôp không chấp nhận cái vòng lẩn quẩn của mình là “sống, khâu, và chết“. Và sự xuất hiện của anh sinh viên y tế như làn gió mát thổi vào tâm hồn đang chán nản của anh. Đó là một năng lực tự giác đột nhập vào cuộc sống tối tăm của anh, và hé mở trong anh bao hi vọng trong cuộc sống. Khi trở thành người hộ lí y tế, Orlôp muốn biểu hiện những mặt tốt đẹp nhất của mình, muốn trở thành người anh hùng: “Trong lòng anh bỗng dâng lên một khao khát muốn làm một điều gì để mọi người phải chú ý đến anh, phải kinh ngạc về anh. Đó là lòng hiếu danh độc đáo của một sinh vật bỗng nhận ra mình là một con người và vì chưa tin hẳn vào sự thật đó, một sự thật mới mẻ đối với mình, hắn muốn làm một điều gì để khẳng định điều đó cho mình và cho người khác: Đó là lòng hiếu danh đã đần dần biến thành khát vọng muốn lập nên một công trạng không vụ lợi” [ 8, 454 ]. Ước mơ đó lúc nào cũng cháy bỏng trong lòng Orlôp, “lòng anh đang thèm khát khoảng không rộng rãi…để anh có thể phát huy hết sức mạnh của mình…anh cảm thấy anh mang trong mình một sức mạnh lớn lao vô cùng tận!” và anh đã nghĩ đến ước mơ lập chiến công thầm lặng nhưng vẻ vang, đó là việc “giải phóng nước Nga khỏi bệnh dịch tả“. Chiến công đó sẽ giúp anh thoát khỏi cái “hố” không thấy ánh sáng, không thấy mặt trời, không biết mọi người. Nhưng khi đã ngoi lên được thì anh lại thấy lo sợ, cảm thấy cuộc sống trước kia chẳng có gì tươi đẹp, còn cuộc sống bây giờ cũng không vừa ý chút nào dù anh không uống rượu và không đánh vợ. Cuộc sống khắc khổ ăn không đủ no trước kia của vợ chồng anh bây giờ được thay bằng cuộc sống trọc phú mà cái giá của nó là “nỗi lòng day dứt“, và nỗi lòng đó không thể dung hoà được với cuộc sống hằng ngày. Anh muốn vươn lên thoát khỏi cuộc sống tầm thường nhưng cuộc sống ở bệnh viện vẫn là một sự tầm thường. Nếu như trước kia anh từng ngưỡng mộ bác sĩ Vasenkô và những sinh viên y tế ở đây vì họ làm những việc cao cả là cứu người, thì sau cái chết của cậu bé Xenka, anh đã nghi ngờ tất cả, nghi ngờ mọi cố gắng của con người, nỗi chán chường lại tràn ngập hồn anh và anh quay về với cuộc sống rượu chè cùng thói quen đánh vợ trước kia. Cuối cùng anh đã rời khỏi bệnh viện và trở thành một kẻ du thủ du thực. Nhưng ước mơ về hành động anh hùng vẫn cháy bổng không nguôi trong lòng anh. Orlôp nói: “Như thế là tôi đã được đưa lên cao rồi lại bị quặp xuống…tôi vẫn chưa làm nên công trạng gì. Nhưng giờ đây tôi vẫn muốn được hơn người về một mặt nào đó…Nghiền nát trái đất ra thành tro bụi hay tụ tập bè đảng! Hoặc đại khái làm một việc gì để vượt lên trên tất cả mọi người và nhổ nước bọt xuống đầu họ…và nói với họ: “Lũ dòi bọ kia! Các ngươi sống để làm gì? Các ngươi sống thế nào? Các ngươi chỉ là đồ đạo đức giả, có thế thôi!” [ 8, 482 - 483 ]. Nhưng: “Cuộc sống sao mà buồn tẻ và chật chội“, Orlôp thấy mình đã bế tắc, không có lối thoát, không có cách nào để thực hiện được ước mơ. Anh nói: “Tôi sinh ra với nỗi lòng day dứt…và số tôi là cái số lang thang. Tôi đã đi khắp bốn phương chẳng thấy đâu là nguồn an ủi” [ 8, 483 ]

2.2. Cố gắng giữ nhân phẩm của mình

Những nhân vật của Gorki dù có rơi vào sự sa đoạ tội lỗi nhưng trong tâm hồn họ vẫn còn sót lại những nhân tính quí báu.

Emelian Pilai (truyện Emelian Pilai) trong lúc cùng đường đã nghĩ đến việc giết người cướp của. anh nghĩ rằng chờ lão lái buôn xe ngựa đi ngang qua là “chỉ một vố ! Thế là có tiền” [ 8, 66 ]. Nhưng ở đời không ai có thể đoán trước được tương lai, anh nghĩ thế này mà chuyện xảy ra thế khác. Không phải lão Obaimôp đi qua  mà là một cô gái trẻ đang đau khổ tuyệt vọng đi qua. Và Emilian đã “dừng bước” khi nhìn thấy ” hai vai cô ta rung lên từng đợt và những giọt nước mắt to cứ lần lượt nhỏ xuống“. Những giọt nước mắt ấy đã làm anh xúc động, đã vực dậy cái lương tâm đang đứng trên bờ vực tội lỗi của anh. Đi bên cạnh cô gái, anh thấy mình lúng túng và anh đã nói những gì anh không biết nữa. Anh cảm thấy cái tốt đẹp nhất suốt 47 năm trời trong đời mình là được cô gái ấy, một cô tiểu thư được nuông chiều sung sướng, hôn lên trán mình – kẻ đói nghèo, dân đi chân đất phiêu dạt.

Từ những ý nghĩ ban đầu để có tiền, bây giờ Emelian Pilai trở nên cao thượng hơn, biết tự trọng và “chẳng còn bụng dạ đâu mà nghĩ đến tiền bạc nữa”    [ 8, 69 ]. Anh đã can đảm từ chối số tiền mà cô gái đưa cho anh: “Thôi cô ạ, cám ơn cô, Tôi không cần tiền đâu” [ 8, 69 ]. Thế là từ ý nghĩ giết người ban đầu, Emelian đã chuyển sang cứu sống một linh hồn đau khổ, đáng thương đang tuyệt vọng và muốn trầm mình tự tử. Hành động đó cũng chính là sự vươn lên cao thượng của Emelian Pilai.

Còn Tsencase ( truyện Tsencase) thì có dáng vẻ bề ngoài dữ tợn của một tên cướp: “Y có cái vẻ hao hao giống con diều hâu thảo nguyên, thân hình gầy gò dữ tướng và dáng đi rình mò nhịp nhàng” [ 8, 168]. Nhưng thực ra bản chất của tên ăn cướp, kẻ du đãng, con người bị vứt ra khỏi tất cả những gì thân thiết ruột thịt này lại là người có tâm hồn đẹp đẽ và cao thượng. Anh khinh bỉ Gavrila – kẻ hèn nhát, tham lam ti tiện và độc ác đến mức đánh mất cả lòng tự trọng của mình. Khi phát hiện ra việc “làm ăn” cùng Tsencase là đi ăn cắp, Gavrila cho rằng đó là việc đáng nguyền rủa. Gã sợ sệt, lo lắng, “gã khóc thút thít, sụt sịt, ngọ ngoậy trên ghế nhưng vẫn chèo mạnh với vẻ tuyệt vọng” [ 8,186 ]. Đến lúc Tsencase lấy trộm hàng xong, trên đường về anh hỏi gã ” có muốn được tờ 200 rup không?” thì gã trả lời: “Tôi chẳng cần gì cả. Tôi chỉ mong được lên bờ” [ 8, 194]. Nhưng suốt đoạn đường về, trong đầu tên tham sống sợ chết này lúc nào cũng mưu tính nhiều thủ đoạn để lấy được số tiền mà Tsencase lấy cắp được. Gã nghĩ: “Ta sẽ phang cho hắn một nhát chèo…tiền thì ta chiếm lấy, còn hắn thì cho xuống biển” [ 8, 208 ]. Thật bỉ ổi hơn nữa là chỉ vì số tiền đó mà Gavrila sẵn sàng quỳ xuống, gục đầu vào gối và nghẹn ngào van xin Tsencase: “Anh ơi!…Anh cho tôi số tiền ấy! Vì chúa xin anh hãy cho tôi!” [ 8, 206 ]. Hành động của Gavrila đã đẩy gã từ giai cấp tư sản xuống “con người dưới đáy”. Gã trở thành tên nô lệ khúm núm của đồng tiền, tên tham lam, thấp kém và mất tự chủ. Còn Tsencase, một tên cướp, không vì tiền mà đánh mất nhân cách của mình. Trước hành động van vỉ hèn hạ của Gavrila, Tsenkasơ “thò tay vào túi, lấy ra những tờ giấy bạc, ném vào mặt gã…ném tiền xong, y cảm thấy mình là anh hùng” [ 8, 207]. Cho dù Gavrila đã có hành động bất lương đối với anh nhưng Tsencase vẫn sẵn sàng tha thứ cho hắn. Điều đó càng làm cho Tsencase vươn lên, cao thượng hơn.

Tuy là một tên lưu manh nhưng Tsencase vẫn là con người biết tự trọng. Anh cảm thấy mình bị tổn thương khi người khác xúc phạm đến thân phận nghèo khổ và danh dự của mình. Nhiều lần Gavrila cho anh là con người mờ ám thì “Tsencase cảm thấy như bị bỏng trong ngực và y hạ giọng, thốt lên với vẻ căm tức lạnh lùng…Y nhảy xuống đất, tay trái kéo ria mép, tay phải nắm lại thành từng nắm đấm rắn chắc, gân guốc, mắt long lên sòng sọc” [ 8, 177 ]. Tsencase rất đau đớn khi bị kẻ khác dẫm vào lòng tự ái của mình, và những lúc ấy ” y cảm thấy đau rát trong ngực. Cảm giác ấy làm y tức giận và bao giờ cũng xuất hiện khi lòng tự ái của y … bị kẻ khác làm tổn thương, đặc biệt khi kẻ đó là kẻ mà y coi là không đáng đếm xỉa đến” [ 8, 197-198 ]. Càng tức điên lên khi người ta chỉ xem mình là con người thừa trên trái đất: “Tsencase đứng thẳng, thân hình khô đét, dữ tợn, nhe răng ra coi đến độc ác, cười khanh khách, tiếng cười đầy vẻ châm chọc và ria mép y nhảy lên một cách nóng nảy trên khuôn mặt góc cạnh, dài hoắt. Cả đời chưa bao giờ y bị xúc phạm đau đớn đến thế và chưa bao giờ y hung tợn như thế” [ 8, 208 ].

Chi tiết “ria mép” của Tsencase (được nhắc lại 8 lần) biểu hiện cho khí phách ngang tàng đầy kiêu hãnh của y. Khi y đắc chí thì ” ria mép y rung rinh khoái trá và mắt rực lên như đốm lửa” [ 8, 202 ]. Khi y làm xong việc thì “mặt y đỏ, ria mép xoắn vểnh lên một cách ngang tàng” [ 8, 202 ]. Bộ ria mép đối với y là niềm kiêu hãnh. Vì thế dù bị thương nặng, đi lảo đảo nhưng y vẫn ” tay trái đỡ lấy đầu còn tay phải khẽ vuốt nhánh ria mép nâu”  [ 8, 212 ].

Trong truyện Người bạn đường của tôi, ta thấy dù sống trong cảnh nghèo khổ, nhưng tình người của những kẻ sống “dưới đáy” xã hội không bao giờ cạn. Họ sẵn sàng cứu giúp tên công tước Sakrô, khi hắn lang thang trôi dạt và đói rách. Chính hắn cũng nhận thấy rằng:”Bọn chân đất là những người rất tốt”         [ 8, 252 ].

Trong tâm hồn những “con người dưới đáy”, nghèo khổ và tội lỗi, là những phẩm chất rất đáng trân trọng. Họ trở nên độc ác, tội lỗi khi xã hội dồn họ vào chân tường. Và cuộc sống tối tăm, ngột ngạt trong xã hội đã mang lại cho họ những ý nghĩ độc ác. Họ cảm thấy bứt rứt, chật chội và tầm thường trong xã hội này. Họ đau đớn, quằn quại muốn tìm lối thoát cho mình nhưng họ bất lực và bế tắc. Tuy nhiên mọi sự vùng vẫy của họ đã chứng tỏ một điều là : Trong ý thức của quần chúng bị áp bức đang lớn dần lên sự phản kháng kiên quyết nhằm chống lại trật tự xã hội bất công, thối nát của bọn phong kiến  – tư bản Nga hoàng, đang bóp nghẹt quyền sống của con người. Đó là sự vươn dậy, sự “tái sinh” của những “con người dưới đáy” để khơi nguồn cho những tư tưởng phản kháng, đấu tranh sau này.

3.  NHỮNG THỂ HIỆN CỦA Ý THỨC ĐẤU TRANH

Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, trung tâm phong trào cách mạng thế giới dồn về nước Nga. Chế độ Nga hoàng ngày càng tàn bạo cộng với ách áp bức bốc lột nặng nề của những ông chủ tư sản và những tàn tích lạc hậu của chế độ nông nô đã làm cho đời sống người dân ngày càng nghẹt thở, cùng quẫn, tối tăm. Văn học Nga giai đoạn này luôn sát cánh để phản ánh những biến động trong xã hội. Năm 1909, Gorki cho rằng: “Nền văn học Nga mãi mãi cho đến ngày nay vẫn luôn luôn giữ được mối quan hệ mật thiết với các phong trào cách mạng”      [ 3, 248 ]. Bản thân ông với tư cách là một nhà văn, một chiến sĩ cộng sản, đã giữ được mối liên hệ đó.

Vốn ra đời trong một gia đình lao động và thuở nhỏ đã sống trong môi trường tiểu thị dân đầy rẫy những xấu xa, hủ lậu, Gorki đã sớm có tư tưởng phản kháng, chống đối lại hiện thực xã hội bất công. Trong tác phẩm đầu tiên của đời cầm bút – ” Bài ca cây sồi già”- Gorki đã tuyên bố: “tôi đến với cuộc đời để mà không thoả thuận” [ 3, 513 ]. Hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” mà ông đã xây dựng trong những truyện ngắn của mình là một bằng chứng cụ thể cho lời tuyên bố đó.

Các nhân vật của ông không chịu buông xuôi chấp nhận số phận đau khổ của mình mà họ luôn suy nghĩ về nguồn gốc của sự nghèo khổ đã trùm lên cuộc đời họ. Họ luôn cảm thấy chán nản, bực bội khi sống trong cái xã hội đầy rẫy những bất công. Họ muốn làm một việc gì đó để thay đổi cuộc đời họ. Trong đầu họ đã dần dần hình thành những ý nghĩ về tự do, và đây cũng là bước chuẩn bị cho những ý thức phản kháng đầu tiên.

3.1. Ý thức tự do

Đối với các nhân vật của mình, Gorki đã thổi vào hồn họ những ý nghĩ ban đầu về tự do. Một tên cướp ngang tàng như Tsencase (truyện cùng tên) cũng biết triết lí hết sức đơn giản về tự do. Anh nói với Gavrila về những suy nghĩ của mình: “Người anh em ạ, cái chính trong đời sống nông dân là tự do! Anh là chủ bản thân anh: Anh có nhà của anh, túp nhà tồi tàn, nhưng là nhà của anh. Anh có đất của anh, dù là miếng đất con con đi nữa, nhưng là đất của anh! Anh là ông vua trên mảnh đất của anh!…Anh có bộ mặt của anh…Anh có thể đòi hỏi mọi người phải tôn trọng anh...” [ 8, 197 ].

Còn “Kẻ phá bĩnh” – Gvôzđiep (truyện Kẻ phá bĩnh) cũng có những ý nghĩ riêng về tự do. Anh thích đi trên con đường thoai thoải bên bờ sông vì ở đây anh “cảm thấy mình cũng giống như mọi người, cũng được tự do hít thở làn không khí thoảng mùi lá cây, cũng được đi lại một cách thoải mái và ung dung, được làm một bộ phận trong một cái gì to lớn và cảm thấy mình bình đẳng với mọi người” [ 8, 389 ].

Đó là những ý nghĩ hết sức đơn giản về tự do nhưng những ý nghĩ này sẽ tạo thành những ngọn gió đầu tiên khêu lên những tia lửa phản kháng.

3.2. Ý thức phản kháng

Khi miêu tả những nhân vật “con người dưới đáy”, Gorki không nhằm nói về sự sa đoạ, lưu manh của họ. Mà mục đích của ông là cho ta thấy được sức mạnh to lớn trong tầng lớp “dưới đáy” xã hội, “họ là tầng lớp đáng kính nhưng chẳng được ai kính trọng” [ 3, 216 ]. Ngay từ những năm đầu tiên bước vào con đường hoạt động văn hoá, Gorki đã khẳng định được mục đích và nhiệm vụ của nghệ thuật, và sau đó không lâu, nhất là khi tiếp cận với chủ nghĩa Mác, với đảng kiểu mới của Lênin thì ông đã đề ra được những luận điểm nổi tiếng: Thời đại anh hùng bắt đầu cần đến cái anh hùng; Nghệ thuật phải phản ánh “cơn phẫn nộ của nhân dân trong cuộc đấu tranh giải phóng”. Tất cả những luận điểm nổi tiếng đó điều được chứng minh trong các sáng tác của ông.

Emelian Pilai ( truyện Emelian Pilai) luôn suy nghĩ về nguồn gốc sự đau khổ của mình. Tuy không biết được nguyên nhân do đâu mà hàng triệu dân Nga lớp chết đói, lớp đi lang thang trôi dạt, nhưng anh không chấp nhận cách giải thích đơn giản là do mất mùa. Anh nói với người bạn đường của mình: ” Cậu ơi, từ thuở cha sinh mẹ đẻ tớ đã đói rồi, mà có luật nào bắt như thế không? Ấy đâ-â-ây! Hắn nói phỏng? tại sao? Mất mùa à? Hắn mất mùa trong cái đầu này trước này, sau mới mất mùa ngoài đồng! Tại sao ở các nước khác không mất mùa? Tại vì người ta sinh ra có cái đầu không phải để mà gãi tai gãi gáy; Ở nước người ta biết nghĩ – thế đấy!” [ 8, 57 ]. Đó chính là mầm móng của sự phản kháng có ý thức đang hình thành trong quần chúng. Sự phản kháng ấy còn bộc lộ ở nhiều khía cạnh khác nhau.

Tsencase (truyện Tsencase) trở thành một tên cướp ngang tàng và thản nhiên ăn cắp để sống ở trên bến cảng cũng là một hành động phản kháng. Anh bình thản, giễu cợt trước mặt tên lính đoan khi hắn hăm he cho anh vào còng vì tội “xoáy hai kiện vải“. Lúc tên lính chửi mắng thậm tệ thì anh lại tỏ ra như không có chuyện gì, thậm chí còn bỡn cợt, ra vẻ vui hẳn lên và thản nhiên “khẽ huýt sáo qua kẻ răng và thọc hai tay vào túi quần, vừa đi vừa ném sang hai bên những tiếng cười và những câu bông đùa, châm chọc” [ 8, 171 ]. Hành động ngang tàng và liều lĩnh của Tsencase cũng chính là một biểu hiện của sự chống đối.

Tsencase sớm nhận ra rằng số phận của những kiếp sống thấp hèn như anh đã bị tước mất quyền làm người khi sống trong cái xã hội đen tối này. Anh chua chát nói: “sẽ không ai trừng phạt người nào giết chết những người như tớ đâu. Khi nhận ra, họ còn cám ơn là đằng khác” [ 8, 211 ]. Đây chính là một biểu hiện của ý thức nhân quyền trong quần chúng.

Còn bé Lionka ( truyện Lão Arkhip và bé Lionka) thì bắt đầu sự phản kháng của mình bằng cách chống lại những thói xấu, tội lỗi của ông nó,  người thân thiết duy nhất và cùng giai cấp với nó.

Sự phản kháng của bé Lionka diễn ra rất quyết liệt. Trong lòng nó luôn tràn ngập những mơ ước về cuộc sống bình thường, lương thiện. Nó không bao giờ chấp nhận bất cứ một sự lừa lọc, giả dối hay nhục mạ con người nào cả. Ý thức cao đẹp của nó không phải mới nảy sinh mà đã nảy sinh trong suốt quãng đường đi ăn xin của hai ông cháu: “Bao giờ cũng vậy, hễ nghe tiếng ông nó xin là nó có một cảm giác buồn buồn khó chịu thế nào ấy” [ 8, 114 ]. Khi biết đựơc sự thật ông nó chính là kẻ cắp thì  ý thức phản kháng của nó càng dữ dội hơn. Trong lòng nó bổng có cái gì bùng lên, nó chửi mắng, xỉ vả hành động xấu xa của ông nó: “Ông đi ăn cắp! – Lionka thét lên và bỗng đứng phắt dậy, người run bần bật – lão già ăn cắp!…ôi giào! – rồi nắm bàn tay nhỏ bé khô khan lại, nó lay lay quả đấm trước mũi ông lão đã im bặt và lại buông mình rơi phịch xuống đất, rồi nói tiếp qua kẽ răng: – đi ăn cắp qua trẻ con…Chao ôi thật là giỏi giang! Già đời rồi mà cũng thế…xuống địa ngục rồi ông sẽ phải đền tội này!” [ 8, 127 ]. Cơn phẫn nộ của nó rất mãnh liệt và dữ dội nhưng rồi nó cũng dịu đi như trời cao cũng sẽ yên tĩnh sau cơn giông bão. “Trời tối mịt. xa xa có tia chớp loé lên, im lặng nhưng vẫn dữ dội, rồi một giây sau lại có tiếng sóng yếu ớt rền rĩ. Rồi cảnh vật lại chìm trong im lặng, một cõi im lặng tưởng chừng như vô tận” [ 8, 129 ]. Và những hạt mưa lớn bắt đầu rơi xuống, Lionka van ông nó chạy vào làng nhưng ông nó kiên quyết không vào: “Tao không vào! Mày cứ vào một mình đi…Tao không muốn mày ngồi đây…đi đi! Đi đi!” [ 8, 129 ]. Nó van ông nó để được ông tha thứ cho hành động của mình nhưng ông nó không tha thứ: “Tao không tha thứ! Tao nâng niu mày suốt bảy năm trời! Cái gì cũng vì mày…Sống cũng chỉ vì mày. Tao có cần gì đâu? Tao chết đến nơi rồi. Tao chết đây, thế mà mày bảo tao là thằng ăn cắp. Vì sao tao phải ăn cắp? Vì mày, bấy nhiêu cũng chỉ vì mày cả…Tao cố góp nhặt để nuôi mày, để mày có tiền mà sống, cho nên tao phải ăn cắp.Chúa biết hết. Chúa biết tao ăn cắp. Chúa sẽ phạt tao. Chúa chẳng tha tội cho con chó già này đâu, cái tội ăn cắp. Và chúa đã trừng phạt tao rồi. Chúa đã dùng bàn tay một thằng bé để giết chết con!…Như thế là đúng, lạy chúa! Đáng đời rồi. Chúa công bằng lắm! Chúa hãy vớt lấy hồn con…ôi!” [ 8, 129 ].

Cuộc xung đột của hai ông cháu diễn ra thật căng thẳng. Dù trong tâm hồn non nớt của bé Lionka đã loé lên những tia sáng của sự phản kháng nhưng nó còn quá yếu ớt, nó chưa đủ sức để chống lại những tội lỗi, sa đoạ của ông nó. Xung đột ấy đã dẫn đến cái chết đầy bi thảm của hai ông cháu: “Sáng hôm sau những đứa trẻ trong thôn Cô-dăc…thấy lão ăn mày hôm qua ngồi dưới gốc cây đà dương hình như bị ai đâm chết vì bên cạnh thấy vứt một con dao găm. Nhưng…té ra không phải như thế. Lão già hãy còn sống…Lão đã bị cấm khẩu, chỉ giương đôi mắt dàn dụa van xin mọi người một điều gì không rõ và cứ nhớn nhác tìm ai trong đám đông. Nhưng rồi chẳng tìm thấy gì và không được ai trả lời một câu nào. Đến chiều lão tắt thở. Người ta chôn lão…dưới gốc cây đà dương, vì cho rằng đem chôn ở nghĩa địa thì không hợp lệ: trước hết vì lão là người xứ khác, thứ hai vì lão là hạng kẻ cắp, thứ ba vì lão chết đi mà chưa được sám hối”            [ 8, 131]. Và “vài ba hôm sau người ta lại tìm thấy cả Lionka nữa. Trên một cái hố, ngoài thảo nguyên, cách làng không xa, thấy có đàn quạ lượn vòng, và khi đến xem, người ta thấy thằng bé nằm sắp dưới hố, hai tay dang rộng, mặt úp vào lớp bùn sên sết đọng lại dưới đáy hố sau trận mưa” [ 8, 132 ].

Sự phản kháng của Lionka đã cho ta thấy cậu bé đã vươn lên thoát khỏi “đáy bùn” của xã hội dù đó chỉ là một tia sáng yếu ớt.

Thấm sâu trong tâm hồn những “con người dưới đáy” này là một khả năng tiềm tàng, một ý thức đấu tranh. Sống trong cảnh tối tăm ngột ngạt, Grigori Orlôp (truyện Vợ chồng Orlôp) cảm thấy mình ngày càng bị nhấn chìm trong cái “hố” buồn tẻ và chán ngán này. Nhưng anh không buông xuôi số phận, ý thức về một lẽ sống có ý nghĩa vẫn le lói trong anh. Anh buồn đau vì cảm thấy mình “chưa từng được sống mà lại sắp chết đến nơi rồi” [ 8, 438 ]. Trận dịch như là một thử thách đối với anh, hoặc là anh sẽ bị nó dìm nghỉm xuống hoặc là anh sẽ vươn lên đấu tranh. Và Orlôp đã chọn con đường có ý nghĩa, anh nói: “Tôi không muốn sống cái lối ấy nữa – sống để ngồi chờ dịch tả đến quật tôi xuống – tôi không thích thế. Không thể để thế được!…hãy xông lên! Số phận muốn dìm anh xuống, vậy anh hãy chống lại nó, xem ai thắng ai? Đúng là một cuộc chiến tranh! Không còn cách nào khác…” Orlôp đã quyết định xin vào làm nhân viên phục vụ ở trạm y tế để cùng với những người ở đây chống lại nạn dịch tả đang hoành hành khắp nơi. Anh biết đó là việc lao vào mồm thú dữ nhưng anh sẽ đạp vào họng nó để bảo vệ sự sống cho con người. Trong cuộc đấu tranh đó anh thấy cuộc đời mình trở nên có ý nghĩa, con người mình trở nên mạnh mẽ hơn. Dù biết rằng mình sẽ ngã gục trong cuộc chiến tranh giữa “dịch tả và người” nhưng Grigori Orlôp cảm thấy tự hào về sự hi sinh ấy:

Giả dụ như cái bệnh dịch tả ấy hoá thành người, thành một dũng sĩ…thành ngay Ilia Muroometx đi chăng nữa, anh cũng sẽ choảng nhau với nó! Hãy cùng ta sống mái một phen! Người là một sức mạnh , và ta, Orlôp cũng là một sức mạnh, nào đọ sức xem ai thắng ai? Anh sẽ bóp chết nó và chính anh cũng sẽ gục xuống…Một cây thập tự cắm trên mồ anh ở ngoài đồng và một cái mộ chí: “Grigori Anđêep Orlôp …Người đã giải phóng nước Nga ra khỏi nạn dịch tả”      [ 8, 456 ].

Trận dịch còn là một biểu tượng cho tình trạng xã hội hư hỏng và sa đoạ. Trước tình trạng ấy, những con người có ý thức như Orlôp không bao giờ chịu buông xuôi để mặc cho nó suy đồi. Mà họ sẽ vươn cao hơn, sẽ đứng lên đấu tranh, đạp đỗ cái xã hội đó để khẳng định mình, để tìm cho mình một sự sống có ý nghĩa và để giải thoát những đau khổ của con người. Dù biết rằng chấp nhận con đường đấu tranh là phải chịu hi sinh mất mát, nhưng Orlôp vẫn tràn đầy lạc quan và tự hào về điều đó.

Bao ý tưởng cao đẹp vẫn ngút cháy trong lòng anh, anh sẵn sàng làm việc với tất cả sự nỗ lực hết mình của bản thân để thực hiện được chiến công của mình. Thế nhưng cuộc sống tầm thường cứ lẩn quẩn như mớ bòng bong chất nặng trong lòng khiến anh không thể nào vượt ra thoát khỏi nó được. Sau một thời gian anh nhận thấy cuộc sống ở bệnh viện cũng là một sự tầm thường. Nó không thể trút bỏ bao dây rợ đang rối bời trong tâm hồn anh. Nó cũng không phải là một mảnh đất tốt để anh có thể gieo vào đó những hoài bảo cao đẹp và gặt hái những chiến công để trở thành anh hùng. Anh cảm nhận được sự chật chội của cuộc sống và anh đã mỉa mai người bác sĩ trong lúc giận dữ: “Ông chữa bệnh cho người ốm…còn người khoẻ thì chết vì cuộc sống chật chội” [ 8, 479 ].

Sự tù đọng của xã hội tư hữu đã đè nặng lên vai Orlôp và tâm hồn anh như cái lò xo càng bị nén thì nó càng đàn hồi mãnh liệt. Tuy nhiên sức đàn hồi của Orlôp chưa đủ sức mạnh để phá tan cái mớ bòng bong kia. Nó chỉ là một sự phản kháng tự phát, sự đấu tranh của một con người trơ trọi giữa cánh đồng xám xịt.

Để miêu tả được sự phản kháng của quần chúng lao động, giai cấp vô sản, Gorki đã phải trải qua một thời gian mới có thể thể hiện được. Đề tài mà ông đề cao hơn hết là đề tài công nhân vì nó có tính khái quát. Năm 1891 Gorki đã bắt đầu tiếp xúc với môi trường công nhân ở Tiflit nhưng đến năm 1897, lần đầu tiên trong sáng tác của Gorki mới xuất hiện hình ảnh người công nhân bắt đầu bước lên con đường đấu tranh ít nhiều có ý thức. Đó là sự phản kháng của anh thợ xếp chữ Gvôzđiep (truyện Kẻ phá bĩnh). Hắn là kẻ tinh nghịch từ thuở bé và được mệnh danh là “kẻ phá bĩnh” – anh ta từng ngồi tù vì tội bẻ khoá và thả hết bồ câu của các ông chủ tư hữu, “trong một đêm hắn bẻ hết ổ khoá của bảy chuồng bồ câu và bao nhiêu chim hắn thả hết, bao chim mồi người ta hắn đuổi bay sạch”     [ 8, 384 ]. Hắn làm như vậy là để cho vui thôi chứ không nhằm thủ đoạn hại người nào cả. Hắn lại có trò “nuôi quỷ” trong nhà bằng cách để lố kim vào chai thuỷ ngân và đặt vào lò sưởi, khi đốt thuỷ ngân chảy ra chảy khắp chai, kim va vào thành chai kêu ken két như tiếng người nghiến răng.

Gvôzđiep cũng là một người thợ thông minh tinh thông nhiều việc. Anh đã bắt đầu nhận thức được sự bất công trong xã hội, anh đã có ý muốn tố cáo chính sách bóc lột của bọn tư sản và vai trò đầy tớ của những kẻ trí thức làm tay sai cho chúng. Anh đã tố cáo chính sách giả dối của báo chí tư sản bằng cách thêm vào bài báo những dòng chữ “ngớ ngẩn”: “Nền lập pháp chủ nghĩa của ta xưa nay đối với báo chí vẫn là một đề tài để tranh luận sôi nổi…Nghĩa là để nói đủ thứ chuyện ngớ ngẩn và ngu độn” [ 8, 376 ]. Hành động ngang tàng và trâng tráo hết sức hồn nhiên của anh khi nhận tội “chính tôi” đã làm điều đó, đã khiến cho tên chủ bút tức tối, giận dữ và “đôi môi mím chặt của ông ta hứa hẹn nhiều chuyện chẳng lành” [ 8, 377 ], còn những người thợ khác thì lặng thinh “không ai ngờ là thủ phạm sẽ thú nhận một cách nhanh chóng và điềm tĩnh đến thế” [8,378]. Bao lời quát tháo và tra khảo dồn dập của ông chủ bút cũng chẳng ăn thua gì đối với Gvôzđiep “và trong đôi mắt người thợ xếp chữ ánh lên một tia lửa xấc xược“. Anh ta dõng dạc nói: “đúng thế đấy…tôi đã cố ý thêm mấy chữ ấy vào, một cách có dụng tâm” [ 8, 378 ]. Lời nói thản nhiên đó đã làm cho tên chủ bút “nổi khùng” lên, mắt long lên sòng sọc, đầy căm giận.

Đây là hành động phản kháng có ý thức của người công nhân đầu tiên trong xưởng in. Anh ta đã vạch trần những lí lẽ giả dối mà ông chủ bút thuyết lí hằng ngày, như khuyên răn mọi người phải có lòng nhân ái nhưng thực chất đó chỉ là những tờ báo “vớ vẩn” khiến cho người nghe phải phát tởm. Gvôzđiep đã vạch trần bản chất trâng tráo ấy bằng những lời lẽ đanh thép: “Toàn những câu nói bậy không biết xấu hổ là gì, Mitrypavlits ạ!…Bởi vì ông viết báo răn người ta đừng bóc lột, thế mà ở xưởng in của các ông thì sao? Tuần trước Kirya Kôp làm việc suốt ba ngày rưỡi, kiếm được băm tám hào chỉ rồi lăn ra ốm. Vợ anh ta đến toà báo lĩnh số tiền ấy, thì ông quản lí bảo là còn tiền đâu mà lĩnh, đã trừ vào số tiền phạt rồi mà vẫn chưa đủ, chị còn phải nộp thêm đồng hai nữa. Thế không phải là bóc lột là ăn cướp à? Sao ông không viết về những chế độ ấy? Còn cái thói của ông quản lí động một tí là sủa nhắng lên rồi làm tình làm tội bọn trẻ con, sao ông không cho lên báo? Ông cũng không viết được là bởi vì chính ông cũng theo chính sách ấy. Ông viết bài nói là trên đời này người ta sống khổ lắm. Tôi nói cho ông biết: sở dĩ ông phải nói những chuyện ấy chẳng qua là vì ông không biết làm cái nghề ngỗng gì khác. Có thế thôi…Cho nên những chuyện dã man diễn ra trước mũi ông thì ông chẳng thấy gì hết, còn những chuyện dã man ở đâu bên Thổ-Nhĩ-Kì thì ông kể rất tường tận. Thế mà những bài báo của ông không phải những trò vớ vẩn hay sao? Từ lâu vì xấu hổ thay cho ông tôi đã muốn chêm vào những bài báo của ông những lời chân thật. Mà còn phải nhiều nữa chứ, như vừa rồi đã ăn thua gì!” [ 8, 381-382 ].

Lời nói công khai đầy kiêu hãnh và đắc thắng của anh thợ xếp chữ – kẻ mà ông chủ bút không bao giờ nghĩ là có quyền làm việc đó – như những mũi tên châm thủng vào tim ông chủ bút, khiến ông ta “khi thì tái mặt đi, khi thì đỏ mặt lên, môi nở một nụ cười khinh bỉ, lúng túng và bệnh tật” [ 8, 382 ]. Tác phẩm có giá trị cao vì nó đã đả kích trực tiếp vào bộ máy tuyên truyền báo chí – kẻ phát ngôn của giai cấp thống trị.

Không chỉ tố cáo bản chất giả dối của giới báo chí đương thời, Gvôzđiep còn vạch trần vai trò tay sai của những kẻ trí thức, như ông chủ bút chẳng hạn. Anh ta nói với ông chủ bút: “việc làm báo mà! Nó ngốn mất của ông nửa đời người, bao nhiêu sức khoẻ của ông đều ngốn vào đấy hết. Tôi hiểu lắm chứ! Đối với ông chủ nhiệm thì có nghĩa lí gì? Ông ta chỉ xuất tiền ra làm báo, còn ông thì dốc cả bầu máu ra! Đấy như đôi mắt của ông cũng đã nướng vào đấy rồi còn gì” [ 8, 394 ].

Hơn nữa Gvôzđiep còn ý thức được sự bất công giữa con người với con người trong cuộc sống. Anh ta thấy rằng mình và ông chủ bút cũng là những người bằng vai phải lứa, là “chim cùng một tổ“, hơn nữa anh còn là người có tình cảm, có trí khôn nhưng tại sao anh luôn sống trong cảnh tối tăm, còn những người như ông chủ bút thì lại ra dáng một quí tộc. Gvôzđiep cảm thấy rằng trước mắt ông chủ bút thì anh chỉ là một con số không. Anh ta ý thức được sự khinh rẻ của ông chủ bút đối với mình: “đúng là đối với ông tôi chỉ là một chỗ trống…có tôi hay là không có tôi đối với ông cũng thế thôi – mặc kệ. Tâm hồn của tôi thì ông có cần gì? Tôi sống một thân một mình trên thế gian này và làm cho tất cả những người biết tôi đều chán ngấy lên. Bởi vì tính tôi nó cay độc, và tôi rất thích bày trò này trò khác, nhưng tôi cũng có tình cảm và cũng có trí khôn. Tôi cảm thấy nhục trong tình cảnh của tôi. Tôi thua kém ông ở chỗ nào? Chẳng qua chỉ vì công việc của tôi” [ 8, 397 ]. Câu hỏi của anh đã được ông chủ bút đáp lại: “Ở đây cần phải có một quan điểm khác“. Nhưng Gvôzđiep không chấp nhận lời giải đáp đơn giản và đầy chủ quan như thế: “Quan điểm mà làm gì? Con người phải quan tâm đến con người không phải bằng một quan điểm mà bằng tấm lòng. Quan điểm là cái gì? Tôi đang nói đến sự bất công của cuộc sống. Chả nhẽ trên một quan điểm nào đó có thể vứt tôi vào sọt rác? Thế mà tôi thật đã bị loại ra ngoài cuộc sống, tôi không có lối nào để đi vào cuộc sống…tại sao lại thế? Tại vì tôi không có học thức ư? Thế thì giả dụ như các ông – những người có học thứ c- không suy luận trên quan điểm này quan điểm nọ mà suy luận theo một cách nào khác thì các ông phải đừng bỏ quên tôi đi, kéo tôi lên với các ông từ cái nơi thấp hèn mà tôi đang mục rữa trong cảnh ngu dốt và trong tâm trạng đang hằn học của tôi chứ! Hay là – trên quan điểm thì các ông không phải làm như vậy?” [ 8, 398 ].

Những lời lẽ ấy nhìn hình thức thì không có gì mới mẻ cả vì tình trạng bất công trong mối quan hệ giữa người với người trong xã hội thì người khác đã nói nhiều và nói từ lâu rồi. Nhưng ở đây nó có cái mới, trước đây những lời lẽ ấy đều do những tên điạ chủ, giai cấp quí tộc nói ra, còn bây giờ nó do Gvôzđiep, người công nhân trong xưởng in, con người thuộc tầng lớp “dưới đáy” xã hội, thốt ra.

Đây chính là mầm mống của sự đấu tranh giai cấp. Những lời lẽ gân guốc của Gvôzđiep đã khiến ông chủ nhiệm phải thốt lên rằng: “Đảng viên xã hội phỏng?“. Thực ra qua sự phản kháng của Gvôzđiep ta cũng biết rằng anh chưa phải là một đảng viên cộng sản. Sự phản kháng của anh chỉ là sự phản kháng tự phát. Nó được nảy sinh từ trong cái hiện thực đen tối nặng nề. Chính Gvôzđiep cũng thừa nhận điều đó: “Chẳng qua vì uất ức mà tôi làm như thế. Con người ta đôi khi thấy uất đến nỗi lấy rượu mà tưới cũng không nguôi… ấy, vào những lúc như thế người ta hay bày trò chơi khăm một kẻ nào bất kì: đấm một quả vào mõm những người qua đường hay là một vố gì như thế…tôi không hối hận – cái gì đã làm rồi thì không vớt lại được nữa, nhưng có lẽ…thậm chí tôi hiểu rất rõ nữa là khác, tôi hiểu rằng vừa rồi tôi có làm hơi quá, tôi đã thiếu mức độ” [ 8, 393 ].

Nhưng xét cho cùng sự phản kháng của Gvôzđiep có ý nghĩa xã hội hơn là ý nghĩa cá nhân. Không phải là một đảng viên cộng sản nhưng anh chính là đại biểu điển hình cho lớp công nhân bắt đầu bước lên con đường đấu tranh công khai với bọn tư sản bóc lột và đó chính là ngọn lửa khởi đầu cho những tư tưởng cộng sản sau này tiến lên.

Ngòi bút của Gorki thật sự là vũ khí sắc bén chống áp bức bất công. Ông đã phát ngôn cho hàng triệu người dân đói nghèo, thất học. Ông đã nuôi dưỡng lửa thiêng và động viên các thế hệ tranh đấu để phá tan tình trạng phục tùng, chịu đựng một cách im lặng theo kiểu nô lệ. Mặc dù chưa xác định được con đường đấu tranh cụ thể, nhưng ngòi bút của Gorki đã hun đúc cho bao trái tim quả cảm để họ có một điểm tựa đầy lạc quan mà đứng lên đấu tranh trong cuộc chiến năm 1905. Tuy cuộc đấu tranh đó đã thất bại nhưng nó chính là một trận diễn tập đầy ý nghĩa để chuẩn bị cho cuộc cách mạng tháng Mười thắng lợi sau này.

4. HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT “CON NGƯỜI DƯỚI ĐÁY” VÀ SỰ SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT ĐỘC ĐÁO CỦA MACXIM GORKI

Hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” là một bước đột phá của văn học Nga cuối thế kỉ XIX đầu XX, là bước chuẩn bị cho sự phát triển của nền văn học mới. Nó thể hiện sự sáng tạo nghệ thuật của nhà văn trẻ Macxim Gorki. Điều này càng thể hiện rõ hơn khi ta so sánh với một số nhà văn khác.

4.1. So với các nhà văn Tây Âu

4.1.1. Charles Dickens (1812-1870)

Trong những sáng tác đầu tay của mình, Dickens đã xây dựng hàng loạt các nhân vật thuộc tầng lớp “dưới đáy” xã hội. Đó là cậu bé ở trại tế bần Olliver Twist (tác phẩm Những cuộc phiêu lưu của Olliver Twist, năm 1837-1839), là cô bé Nen trong tác phẩm Cửa hàng bán đồ cổ, nhưng cách xây dựng nhân vật của Dickens hoàn toàn khác với cách xây dựng nhân vật của Gorki. Đó là Dickens đã sử dụng một lối kết thúc có hậu cho các nhân vật của mình còn Gorki thì không.

Olliver Twist là một đứa trẻ mồ côi, sống trong trại tế bần – một thứ nửa trại giam nửa bóc lột sức lao động của trẻ em, một hình thức mị dân tiêu biểu của xã hội tư bản Anh, Pháp…thế lỉ XIX. Olliver Twist bắt trúng thăm là phải xin thêm cháo trong buổi phát chẩn. Cậu bé nói “tôi xin thêm cháo“. Và câu nói đó đã khiến cho vị giám đốc – đang thú vị biểu diễn trò đầu bếp và phát cháo một buổi tượng trưng – phải kinh hoàng đến lạc cả giọng. Và “một trong những tín đồ trung thành của chúa” trong buổi phát chẩn đã tiên tri rằng “đứa trẻ đó rồi sẽ lên giá treo cổ thôi” vì tội xin thêm cháo. Sau đó cậu bé đã bị hất ra ngoài “mạn Luân Đôn của hạ lưu” và bị lưu manh hoá. Cậu ta giãy giụa muốn thoát khỏi các ổ lưu manh nhưng không được. Bọn cảnh sát tróc nã Olliver như rượt đuổi một con thú cùng đường, nhưng lại chẳng che chở cho em thoát khỏi bọn tướng cướp, bọn anh chị bắt em phải đi ăn cắp để cung cấp cho hang ổ của chúng. Cuối cùng cô gái lưu manh Nanxy đã đổi mạng để giúp em trốn thoát.

Còn cô bé Nen dù bị chết yểu nhưng chết trong sự thương yêu của dân làng, trong sự hối hận của người ông. Dường như chưa bằng lòng với kết thúc đó, Dickens đã bù lại bằng cách cho một nhân vật khác của truyện, một cô gái từng làm nghề đi ở có biệt hiệu là “nữ hầu tước”, do tính tình nhẹ nhõm và tốt bụng, cô đã thoát khỏi cảnh nghèo, được học hành và lấy một chàng trai vui vẻ, dễ tính vừa hưởng được món kế thừa nho nhỏ đủ mang lại hạnh phúc cho hai người.

Cách kết thúc có hậu của Dickens trong các tác phẩm của ông là nhằm đáp ứng nhu cầu thị hiếu độc giả đương thời và nó có màu sắc truyền thống trong lối kể dân gian. Hơn nữa nó phù hợp vào cái nhìn độ lượng của Dickens. Ngoài ra ông còn bị ràng buộc bởi muôn vàn sợi dây li ti vì nước Anh và nữ hoàngVictoriađã ngăn trở khiến ông không thể viết loại tiểu thuyết hoàn toàn bi thảm. Kiểu kết thúc có hậu này còn thể hiện một sự hoà hoãn, một khát vọng hoà giải trước những cuộc vật lộn giữa cái thiện và cái ác ngoài đời.

Chính vì thế mà “chúng ta luôn thấy rằng nhân vật của Dickens thiếu một cái gì đó” ( lời của Ran Fôcx ) [ 9, 567 ]. Đó là thiếu tính hiện thực khách quan, nó mang hơi thở lãng mạn có pha màu sắc của tôn giáo. Còn các nhân vật của Gorki thì không, Gorki đã xây dựng nhân vật của mình phù hợp với sự phát triển của logich thực tế cuộc sống.

Tóm lại, Dickens xây dựng các nhân vật trên không nhằm mục đích chính trị trực tiếp hay kích thích tinh thần dùng bạo lực để đấu tranh cách mạng, mà thông qua nhân vật của mình, ông muốn cho con người dịu bớt đau khổ, tăng thêm niềm tin yêu ở cuộc đời (có pha chút lãng mạn). Đó chính là một biểu hiện giới hạn tư tưởng của Dickens.

4.1.2.  Honore De Balzac

Cùng viết về những con người sa đoạ trong cuộc sống nhưng cách miêu tả, xây dựng nhân vật của Balzac và Gorki cũng khác nhau.

Balzac đã viết nên bộ “nghìn lẻ một đêm của Tây Âu”, ông đã đem cả thế giới lên trang sách của mình. Nhưng chủ yếu là thế giới của những người thuộc tầng lớp trên, giai cấp tư sản và quí tộc, như: De Rastignac, Lucien Sardon, David Séchard… Balzac chưa đi sâu, khắc hoạ những hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” như Gorki. Mặc dù Gorki đã cảm thấy “choáng ngợp” trước sự sáng tác có thể sánh ngang với đức chúa trời của Balzac, nhưng Gorki cũng đã tìm cho mình một hướng đi riêng. Đó là ông đã đi sâu và khắc họa thật đặc sắc hình ảnh những “con người dưới đáy” xã hội, điều mà Balzac chưa bao giờ nói đến trong sáng tác của mình.

Hơn nữa, Gorki và Balzac đều viết về con người sa đoạ nhưng mỗi người có một thành công riêng. Những nhân vật của Balzac hơi mang tính bi quan mặc dù giọng điệu của ông thật lạnh lùng khách quan, chỉ kể về cuộc đời và con người: “tôi chỉ là một người thư kí trung thành của thời đại còn các nhân vật của tôi mới là tác giả”. Ta thấy các nhân vật của Balzac khi rơi vào cuộc sống sa đoạ thì họ không hề có ý thức vươn lên hướng thiện để thoát khỏi cuộc sống đó mà họ luôn thách thức, nhưng đó cũng là sự đầu hàng và chấp nhận nó.

De Rastignac (tác phẩm Lão Goriot) vốn là một thanh niên có tâm hồn trong sáng, có lương tâm, từng quan niệm về một tình yêu chân thật, thanh cao. Nhưng gốc tích quí tộc của anh ta đã lôi cuốn anh từ quán trọ Voke tới những phòng khách thượng lưu của giới quí tộc. Và cái chết của lão Goriot đã giúp cho anh nhận ra bản chất của xã hội thượng lưu. Anh lên án hai cô con gái của Goriot “dẫm lên xác cha mà đi vũ hội” nhưng anh lại bị cuốn hút vào thế giới đó như con thiêu thân lao vào ánh đèn. Khi đứng trên nghĩa địa Pere Lasezer nhìn xuống Pari, anh nói: “Nào, bây giờ còn tao với mày!”. Đây vừa là lời thách thức vừa là sự chấp nhận cái xã hội “ung nhọt” đó. Và tối hôm ấy anh đã đến ăn tối nhà Nicingen và yêu phu nhân Nicingen, đó là một bằng chứng xác thực chứng minh cho sự thoả thuận của anh. Tình yêu đó là một sự giả dối, anh chỉ dựa vào đó để làm chiếc cầu nhằm xác lập địa vị trong cơ nghiệp ngân hàng nhà Nicingen.

Cũng giống như Rastignac, Lucien Sardon (tác phẩm Vỡ Mộng) cũng là một con người dễ đầu hàng. Anh là một thanh niên đẹp trai, từng ước mơ lập nghiệp bằng văn chương và gia nhập vào xã hội thượng lưu quí tộc. Tình yêu của anh với bà de Bargeton đã khiến anh rời bỏ tỉnh lẻ mà gia nhập vào giới thượng lưu ở kinh đô Pari – “cái ung nhọt đang nung mủ và bốc khói nằm trên bờ sông Seine”. Và ảo mộng tình yêu của chàng tan vỡ khi nó chạm vào thực tế. Lucien đã lên lời thách thức: “Dù thế nào, tôi cũng sẽ thắng! Tôi sẽ qua đại lộ này bằng xe bốn bánh có người hầu! Tôi sẽ chiếm được những bà hầu tước Despa!”. Lời thách thức ấy cũng là một sự chấp nhận qui tắc trò chơi của xã hội thượng lưu: “Phải có tiền bằng bất cứ giá nào…Đồng tiền là quyền lực duy nhất bắt xã hội phải quì gối”.

David Séchard (tác phẩm Vỡ Mộng), một nhân vật có tính cách độc đáo, mãnh liệt, kiên nghị và bản lĩnh nhưng cuối cùng cũng chịu sa cơ trong vòng xoáy của xã hội tư bản. Việc anh bán phát minh của mình cho bọn tư sản cũng là sự đầu hàng. Nhưng khác với Lucien Sardon, anh không bán linh hồn cho quỷ dữ, không lao vào nhập cuộc với “tấn trò đời” điên đảo, mà anh lui về miền quê làm một ông chủ trang trại. Trước “cơn lốc” dữ dội của xã hội thượng lưu, David Séchard đã từ bỏ ước mơ làm giàu chân chính bằng những phát minh của mình. Quyết định trở về quê của anh cũng chính là giải pháp duy nhất để anh cố giữ được sự lương thiện của mình sau khi đã đầu hàng trò đời nghiệt ngã của xã hội tư bản. David Séchard là một con người đầy bi kịch.

Còn các nhân vật của Gorki, dù sống trong cảnh tối tăm, sa đoạ nhưng trong lòng họ luôn cảm thấy ngột ngạt, bứt rứt. Họ không thể thờ ơ với những biến cố trong cuộc sống và không dễ dàng “thoả thuận” với nó. Họ muốn vươn lên, muốn làm một cái gì đó để thay đổi cuộc sống, để khẳng định mình. Một tên lưu manh như Tsencasơ (truyện cùng tên) vẫn là một con người hào hiệp, biết tự trọng và khinh bỉ những kẻ tham lam, những kẻ nô lệ của đồng tiền. Một anh chàng Orlôp (truyện Vợ chồng Orlôp) cùng quẫn, tăm tối vẫn không chịu chết dần chết mòn trong đời sống vô vị. Trong khi cuộc sống cộng đồng đang cần bao nhiêu việc làm có ích của mọi người và thế là anh hành động – anh đi cứu chữa những người mắc bệnh dịch dù biết rằng sẽ bị lây bệnh mà chết…Và khi kết thúc các tác phẩm, những ước muốn, những khát vọng của họ đã được nhà văn Gorki hứa hẹn một điều gì đó lạc quan hơn, tươi sáng hơn trong tương lai. Điều đó đã tạo nên những nét độc đáo riêng giữa Gorki và Balzac.

Gorki có xây dựng các nhân vật giống nhân vật của các nhà văn Tây Âu: con người sa đoạ, những đứa trẻ mồ côi nghèo khổ nhưng đây chỉ là một sự giống nhau ở việc phân loại nhân vật trên bình diện hình thức. Còn xét về bút pháp, giá trị của việc xây dựng nhân vật thì ta thấy Gorki đã thể hiện được quan niệm nghệ thuật riêng của mình, đó là quan niệm mới về “con người dưới đáy” mà các nhà văn Tây Âu chưa hề nhắc đến. Đó chính là điểm khác biệt cơ bản giữa Gorki và các nhà văn Tây Âu.

4. 2. So với các nhà văn Nga

Gorki xuất hiện khi nền văn học Nga (thế kỉ XIX) về cơ bản đã đáp ứng đầy đủ những yêu cầu cuộc sống. Nhưng sự xuất hiện của Gorki không phải là một sự lặp lại mà là một ánh sáng mới. Đó là ánh sáng của một ngôi sao mới xuất hiện đã sáng trên bầu trời văn học Nga với tư cách là nhà văn mở đầu dòng văn học vô sản.

Thi hào Puskin là người có công xây dựng hình tượng nhân vật “con người thừa” xuất thân từ tầng lớp quí tộc như: Onegin (tiểu thuyết Evgheni Onegin), Grinhop (tiểu thuyết Người con gái viên đại uý). Ông đã phản ánh tâm trạng buồn chán của người trí thức thượng lưu Nga trong xã hội tư bản, dưới chế độ Nga hoàng ngột ngạt. Nhưng ông chỉ dừng lại ở tâm trạng buồn đau, chán nản của họ. Dù kết thúc tác phẩm, ông cũng hứa hẹn một con đường cách mạng cho các nhân vật của mình nhưng con đường ấy còn rất mơ hồ. Onegin là người có tâm trạng chán nản, ở cuối tác phẩm tâm trạng của anh đã có thay đổi. Đó là anh đã bắt đầu nhận thức được mối liên hệ giữa lí tưởng và tình yêu. Và anh sẽ không bao giờ tái phạm những sai lầm của mình, Nhưng đó chỉ là những dự đoán mà ta có thể suy ra khi kết thúc tác phẩm. Còn Grinhop có tiến bộ hơn Onegin. Tính cách của anh ta cũng có những biến đổi trong quá trình anh tiếp xúc với Pugatsov, một lãnh tụ phản loạn, một anh hùng thất bại, sa cơ. Từ ý định ban đầu là chống Pugatsov đến cùng, dần dần Grinhop đã có thiện cảm với Pugatsov và anh đã đến chào tạm biệt khi ông ta bị treo cổ. Cuối tác phẩm, ta cũng dự đoán được rằng anh sẽ đi đến con đường cách mạng dân chủ tư sản Nga.

Liev Tolstoi có sự kế thừa tiến bộ hình mẫu nhân vật “con người thừa” của Puskin như Andrey, Pier (tiểu thuyết Chiến tranh và hoà bình), Levin (tiểu thuyết Anna Karenina)…Liev Tolstoi đã đưa các nhân vật của mình hướng đến cuộc cách mạng dân chủ tư sản Nga. Và ông đã cho họ thử nghiệm các giải pháp để cải tạo xã hội. Nhưng đó là những giải pháp mang tính lí tưởng chủ quan của riêng ông, những giải pháp ấy không đáp ứng được yêu cầu của lịch sử. L.Toltsoi cũng là người đầu tiên xây dựng hình tượng người nông dân Nga Karataev và lấp ló “con người bé nhỏ” – Maxlova ( tiểu thuyết Phục sinh). Trong các tác phẩm của mình, L.Tolstoi đã miêu tả được mối liên hệ giữa chiều cao tư tưởng thẩm mỹ (sự vươn tới trí tuệ lịch sử và lí tưởng nhân văn thẩm mỹ thời đại), chiều rộng sử thi của “biển cả nhân dân” (sự thức tỉnh, chuyển động và vươn mình của quần chúng đông đảo) và chiều sâu tâm lí của tính cách nhân vật. Nhưng mối liên hệ đó còn ở mức cảm tính, mơ hồ chưa phải là những quan điểm chính trị – xã hội – triết học. Còn Gorki đã thể hiện được mối liên hệ đó một cách trực tiếp.

Nhà văn Sekhov thì đi sâu sáng tạo hàng loạt các hình tượng nhân vật “con người bé nhỏ” đạt đến độ điển hình cao nhất của văn học Nga. Đồng thời, ông cũng góp phần hoàn chỉnh bức tranh văn học hiện thực phê phán Nga thế kỉ XIX. Nhưng ông vẫn chưa xây dựng được các nhân vật thuộc tầng lớp “dưới đáy” xã hội.

Những sáng tác của các nhà văn từ Puskin, Liev Tolstoi đến Sekhov và M.Gorki là một sự chuyển tiếp, là một cuộc “chạy tiếp sức” mà Gorki là vận động viên chặng cuối thế kỉ. Ông đã đóng góp vào nền văn học Nga nhiều thành tựu xuất sắc. Dễ thấy nhất là ông đã xây dựng hàng loạt các nhân vật “con người dưới đáy” với những nét tính cách đa dạng, nổi bật hơn bao giờ hết. Khó có thể tìm thấy trong những truyện ngắn của Sekhov một cậu bé Lionka (truyện Lão Arkhip và bé Lionka, một Tsencasơ (truyện cùng tên) hay một Orlôp (truyện Vợ chồng Orlôp)…với một khuôn mặt tinh thần mới mẻ, có sức lay động tâm trí độc giả đến như vậy. Khác với các nhân vật của Sekhov, các nhân vật của Gorki không cảm thấy mình bé nhỏ, chán nản, vô vọng trước cuộc sống chật hẹp, tối tăm tù túng. Trái lại, họ cảm thấy mình có nơi để đến, có một cái gì đó không cúi rạp mình, có một chiều cao để không thấy mình thấp bé, hèn hạ. Sau này, nhà văn Alexei Tolstoi sẽ cùng Gorki đi tới đích – cách mạng Tháng Mười.

Đi sau Gorki là nhà văn Xeraphimovich. Trong các tác phẩm của mình Xeraphimovich đã dựng lên những nhân vật như: kẻ tàn tật, những người thợ mỏ bé nhỏ trên băng giá và trong lòng đất…Ông đã đi sâu miêu tả cuộc sống cùng cực của nhân dân lao động. Nhưng ông muốn thông qua những số phận bi thảm của họ mà bộc lộ cảm hứng phê phán và tố cáo xã hội đương thời. Trong những hồi kí về Gorki, Xeraphimovich thuật lại rằng sau khi đọc bản thảo truyện Người thợ mỏ bé nhỏ, Gorki nhận xét: “Anh không nên quên rằng người thợ mỏ bé nhỏ đó cũng là những người công nhân! Mà những người công nhân đã làm ra tất cả những gì quanh chúng ta. Trong văn học của ta họ chỉ được miêu tả như những kẻ nghèo nàn khốn khổ…Nhà văn chỉ tỏ ra thương xót họ…Đó đâu phải là toàn bộ sự thật“. Đúng vậy, những nhân vật mà Xeraphimovich miêu tả vẫn chưa thoát khỏi “con người bé nhỏ” của văn học Nga thế kỉ XIX. Các nhân vật này chưa biết con đường để đấu tranh thoát khỏi số phận của mình. Nhà văn chưa thấy được giai cấp công nhân không chỉ bị áp bức bóc lột mà họ còn là những lực lượng hùng mạnh đang trỗi dậy quyết liệt dẫn đầu cả phong trào cách mạng đang sôi sục.

So với các nhà văn Nga thì Gorki đã có cái nhìn riêng, một quan điểm nghệ thuật riêng về con người. Ông đã phát hiện trong quần chúng lao động những hạt ngọc quí báu. Đó là khí thế sôi sục đang âm ỉ chuyển mình để chuẩn bị cho cuộc cách mạng nhằm đoạn tuyệt với chế độ Nga hoàng mục nát. Gorki rất trân trọng những hạt ngọc quí báu ấy và ông đã thể hiện lên trang sách của mình những hình tượng nhân vật “con người dưới đáy”. Việc đó đã làm cho tên tuổi của Gorki được nhiều người chú ý.

Một trong những thành công của Gorki là ông đã lấy ngay chính bản thân mình mà miêu tả thành nhân vật “tôi”, đặc sắc trong truyện. Sau cách mạng Tháng Mười, Gorki vẫn tiếp tục xây dựng hình tượng nhân vật này (trong bộ ba tự truyện Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi) nhằm bổ sung, hoàn chỉnh bộ chân dung “con người dưới đáy” của thế kỉ XIX. Nhân vật “tôi” chính là chiếc chìa khoá để ta hiểu thấu nguồn gốc thiên tài của Gorki, nắm chắc mối quan hệ vô cùng sâu sắc của ông với nhân dân, đất nước và cuộc sống. Con đường mà nhân vật này trải qua tiêu biểu cho con đường của nhiều người sống trong nước Nga cũ, mòn mỏi trong cảnh bần cùng hoá bi thảm, trong việc lao động cực nhọc. Tính cách của nhân vật “tôi” cũng là điển hình cho các khả năng phong phú của tuổi trẻ vươn lên thường gặp nguy cơ áp chế, bóp nghẹt nhưng vẫn tràn trề niềm tin, vượt mọi trở ngại trên con đường đi tìm lẽ sống. Các đặc tính của Aliôsa là: lòng biết ơn nồng nhiệt đối với bà con và những người trong nhân dân đã có lòng tốt đối với mình hoặc nhiều hoặc ít, tình thương yêu bạn nghèo cùng lứa tuổi và đau khổ hơn mình vì tàn tật, nỗi khát vọng chống lại bọn áp bức tàn bạo, tinh thần bất khuất, khắc phục khó khăn, lòng yêu lao động. Nổi bật nhất là tinh thần hiếu học, chí cầu tiến, óc quan sát tinh vi, nhìn thẳng vào sự việc để phân biệt cái tốt cái xấu. Aliôsa sống không hề thụ động mà tính cách của cậu dần dần được hình thành vững vàng trong cuộc đấu tranh chống lại những nguồn gốc xấu xa trong đời sống, trong sự khao khát hướng tới những gì tốt đẹp, công bằng và nhân đạo. Vận mệnh cá nhân của Gorki tượng trưng cho giai cấp vô sản Nga – giai cấp này nhìn bề ngoài thì thiếu văn hoá, thô lỗ và thô bạo. Nhưng  được tôi luyện trong những thử thách của chiến tranh để chống lại đế chế Nga hoàng tàn bạo thì họ trở thành một lực lượng tích cực trong lịch sử. Cách xây dựng nhân vật kiểu này trong thực tế văn học Nga trước đó đã có nhiều nhà văn như: Xantưkôp Sêđrin, Liev Tolstoi…cũng đã sử dụng nhưng Gorki đã phát triển một cách sáng tạo những cái hay của truyền thống và nâng cao giá trị tư tưởng của tác phẩm lên một mức.

Đối với Gorki dù phải chịu đựng những điều khủng khiếp ghê gớm đến thế nào đi chăng nữa nhưng ông không bao giờ mất lòng tin vào cuộc sống. Chính vì thế mà ông đã nhìn thấy trong cuộc sống những mầm non tốt đẹp của tương lai và vạch ra con đường của quá trình phát triển lịch sử sau này. Đó chính là một trong những nét khác nhau cơ bản của Gorki với các tác giả đương thời và trước đó. Đồng thời Gorki đã đề ra một trong những vấn đề quan trọng nhất của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa – vấn đề hình thành tính cách của con người tiêu biểu cho những mối quan hệ xã hội mới – mà sau này nhiều nhà văn khác đã kế thừa.

Có thể nói rằng những truyện ngắn hiện thực của Gorki là những tác phẩm hiện thực xã hội chủ nghĩa đầu tiên đặc sắc, làm tiền đề cho phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Bởi vì Gorki đã kiên quyết vạch trần bản chất bóc lột tàn nhẫn của chủ nghĩa tư bản và tố cáo chế độ Nga hoàng mục nát theo lập trường quan điểm của Đảng, đồng thời ông cũng khẳng định tương lai vĩ đại của dân tộc Nga. Xét về nghệ thuật miêu tả tâm hồn con người, đặc điểm tâm lí, nghệ thuật thể hiện nội tâm thì tác phẩm của Gorki có thể sánh ngang hàng với những tác phẩm ưu tú của nền văn học thế giới. Tuy nhiên trung tâm chú ý của Gorki là quá trình phát triển tư tưởng cách mạng, quá trình con người nhận thức xã hội. Đó cũng chính là cái sáng tạo mà Gorki đã góp thêm vào truyền thống văn học vẻ vang của quá khứ. Điều đó cũng khẳng định những đóng góp giá trị trong các sáng tác của ông đối với sự phát triển của nền văn học Xô viết và thế giới.

Thành công của Gorki khi xây dựng hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” đã để lại trong mắt mọi người (kể cả các nhà văn có tên tuổi ở Nga và Tây Âu) bao nhiêu sự cảm phục và nó đã tạo cho ông một chỗ đứng riêng, vững chắc trên văn đàn văn học Nga và thế giới. Đồng thời đó cũng là những đóng góp thật giá trị và quí báu cho sự hình thành và phát triển rực rỡ của dòng văn học vô sản thế kỉ XX.  ±

PHẦN KẾT LUẬN

 

Qua quá trình tìm tòi, nghiên cứu chúng tôi thấy rằng những truyện ngắn hiện thực của Gorki (Lão Arkhip và bé Lionka, Kẻ phá bĩnh, Hai mươi sáu anh chàng và một cô gái, Người bạn đường của tôi, Tsencasơ, Vợ chồng Orlôp, Emelian Pilai) thật mới lạ và độc đáo. Những truyện này không chỉ lôi cuốn người đọc ở nội dung tư tưởng thẩm mỹ mới mẻ mà nó còn hấp dẫn ở sự đổi mới quan trọng về nghệ thuật viết truyện của Gorki.

Những truyện ngắn trên là bảy trong nhiều truyện ngắn hay và đặc sắc nhất của Gorki. Nó đánh dấu một mốc son trong nghệ thuật viết truyện ngắn và đóng góp nền tảng cho một phương pháp sáng tác mới – phương pháp sáng tác    hiện thực xã hội chủ nghĩa.

Gorki là “bậc tài hoa nghệ thuật vô cùng lỗi lạc” (Lênin), là người khai sinh chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học thế kỉ XX. Một trong những thành công tập trung nhất của ông là việc xây dựng hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” với một quan điểm nghệ thuật mới lạ. Khi xây dựng hình tượng nhân vật này, Gorki không nhằm mục đích chính là miêu tả sự nghèo khổ, cùng cực của họ, mà mục đích chủ yếu của ông là phát hiện ở họ những phẩm chất tốt đẹp, những ý thức tiềm tàng hướng đến một cuộc cách mạng vô sản. Đúng như ông đã nói; “nghệ thuật phải phản ánh cơn phẫn nộ của nhân dân trong cuộc đấu tranh giải phóng” và hướng họ đến một điểm tựa đầy lạc quan. Đây chính là điều mà ông rất quan tâm khám phá, mô tả.

Qua các tác phẩm của mình, Gorki đã miêu tả được mối liên hệ biện chứng trực tiếp giữa chiều cao tư tưởng thẩm mỹ, chiều rộng sử thi của “biển cả nhân dân” và chiều sâu tâm lí của tính cách nhân vật. Trong đó chiều cao tư tưởng thẩm mỹ giữ vai trò chủ đạo. Hơn nữa nghệ thuật xây dựng nhân vật của Gorki đạt đến độ chính xác, sâu sắc và chân thực hơn. Con người và cuộc sống trong tác phẩm của ông hiện lên ở một tầm vóc cao lớn dưới những màu sắc mới mẻ, tươi sáng hơn.

Trong bảy truyện ngắn trên, ta thấy các sự việc, sự kiện của đời sống hằng ngày không chỉ được soi sáng, thể hiện từ góc độ đạo đức sinh hoạt mà còn chủ yếu từ góc độ chính trị – xã hội – triết học. Đọc những truyện của Gorki ta thấy được hiện thực cuộc sống nước Nga đang âm ỉ chuyển mình, và những cơn phẫn nộ của các nhân vật là bước chuẩn bị cho một cuộc cách mạng lớn lao để lật đổ chế độ tư bản – phong kiến Nga hoàng, kẻ đã đày ải hàng triệu người dân vào cảnh bần cùng.

Đi vào tìm hiểu hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” trong một số truyện ngắn hiện thực của Gorki chúng tôi mong muốn khám phá trọn vẹn vẻ đẹp mới lạ, độc đáo của các tác phẩm. Tuy nhiên do không có điều kiện nên chúng tôi không thể đi sâu tìm hiểu đề tài này ở bình diện rộng hơn. Hi vọng rằng đến một lúc nào đó có điều kiện, chúng tôi sẽ tiếp tục để nghiên cứu đề tài này hoàn chỉnh hơn.

³

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

 

1.  Boris Xukhov (dịch) – Số phận lịch sử của chủ nghĩa hiện thực, Nxb Tác phẩm mới)

2.  Đỗ Hồng Chung, Nguyễn Kim Đính, Nguyễn Hải Hà…- Lịch sử văn học Nga, Nxb GD, 1997

3.  Hoàng Ngọc Hiến – Văn học Xô viết những năm gần đây, Nxb Văn học, 1989

4.  Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Kim Đính, Huy Liên – Lịch sử văn học Xô viết, tập 1,2, Nxb ĐH & THCN, 1982

5.  Hồ Sĩ Vịnh – Gorki với văn nghệ dân gian, Nxb Văn hóa HN, 1986

6.  Lê Sơn – Còn lại với thời gian (nghiên cứu tiểu luận phê bình), Nxb KHXH Hà Nội, 2001

7.  Melich Nabarov (dịch) – Lịch sử văn học Xô viết, Nxb GD, 1978

8.  M.B.Khrape Henkô – Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, Nxb Tác phẩm mới (Hội nhà văn Việt Nam), 1978 

9.  Nhiều tác giả – Lịch sử văn học Nga thế kỉ XIX, Nxb GD

10. Nguyễn Hải Hà,  Đỗ Xuân Hà – Văn học Xô Viết, tập 1, Nxb GD, 1897

11. Nhiều tác giả – Tự điển văn học bộ mới, Nxb Văn học Thế giới, 2003

12. Nhiều tác giả – Văn học phương Tây, Nxb GD

13. Nguyễn Thụy Ứng (dịch) – Những mẩu chuyện nước Ý,  Nxb Hội Nhà văn

14. Phùng Hoài Ngọc – Giáo trình văn học Nga (Đại học An Giang, năm 2003 – Lưu hành nội bộ )

15. Tuyển tập truyện ngắn M.Gorki, Nxb Văn học Giải phóng, 1976

16. Văn học nước ngoài, Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An         xuất bản, 1994)

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 65 other followers

%d bloggers like this: