"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Chín, 2013

HÃY TRỞ VỀ VỚI NHỮNG GÌ CÒN “MINH TRIẾT”

Đôi lời giới thiệu

ĐÔI LỜI

Bài tâm sự của tác giả Minh Anh thú vị ở chỗ ông nghĩ bằng cái đầu mình, nhìn bằng con mắt mình, lời lẽ chân thành mà nồng nhiệt, như tự nói với mình, như tâm sự với bạn hữu.

Riêng tôi cảm thấy ông viết cho những người trí thức (họ thường nghĩ mình là thế). Họ có học vị cao thấp nói chung khác nhau và đã quen được “bao cấp” về tư tưởng, hoặc nghe mãi lý luận cũ thành quen , thành quán tình rồi. Có người thực thà bảo bận trăm công nghìn việc, sức đâu mà đọc nhiều mở rộng ra ngoài chuyên môn (!) Tôi thông cảm với những người ấy. Nhưng thực khó thông cảm với những người gọi là có bằng cấp “cao”, tuổi từ trẻ đến già, thời buổi này đắp mền che kín đầu không chịu đọc, khi nghe các quan điểm khác thì chê bai một câu xổ toẹt hết…Nếu có chút quyền hạn thì tìm cách làm khó dễ người nói thẳng nói thực – bởi vì họ “đã quen mất nết đi rồi”.

Mời bạn đọc ý kiến của tác gỉa Minh Anh. Ông không đưa ra nhiều lý luận “cao cấp”, ông gắng đi tìm “minh  triết” giản dị. Một khái niệm mới gần đây được gọi là “Minh triết”  tức là sự tiếp thu tất cả triết học tinh hoa của nhân loại và đối sánh với thực tiễn với tinh thần công bằng, không thiên vị…

GNLT

 Minh Anh 

Người viết bài này may mắn có mấy năm được học đại học, ngành kinh tế, tại Liên xô (cũ) từ những năm 60 thế kỷ trước, sau khi về nước, chưa từng (được) bén mảng tới ngưỡng cửa các “học viện”, như vậy, về mặt lý luận (chính trị) cứ tự coi chỉ ở mức võ vẽ “ABC”, bàn về “ minh triết”, một vấn đề lớn về triết học và tư tưởng, ngoài tầm với của người viết, qủa là “uống thuốc liều”!.

Nay lại được thu hút vào “đợt sinh hoạt chính trị trọng đại của cả nước”, được làm nghĩa vụ công dân, được kêu gọi tham gia bàn về sửa đổi Hiến pháp 1992,“ không có vùng cấm”…. Tưởng thật nên hào hứng nghiên cứu, thảo luận… và thấy rằng Kiến nghị do 72 trí thức soạn thảo (Kiến nghị 72) hợp với lòng mình nên đã hưởng ứng ký tham gia, rồi theo dõi mọi bình luận, mọi kiến nghị của các giới khác, chủ yếu qua thông tin “lề trái”, bởi lẽ, đâu có được đăng tải ở “lề phải”, có kiến nghị đã nêu ra từ cách đây cả hơn 20 năm, như của nhà toán học Phan Đình Diệu, mà tâm đắc hợp với lòng mình, hợp với “Độc lập – Tự do”, hợp với “Thống nhất – Hòa hợp”, hợp với “Tổ quốc trên hết”…

Rồi ngược lại, là những  ý kiến “chụp mũ”, “bất nhất” đâu đó nói ra từ vài người  tự coi mình là các nhà chính trị “có tầm cỡ”, nhưng chắc chưa ngày nào được học làm chính khách, rằng những ai dám bàn tới “những vùng cấm” là bọn “suy thoái”, rồi phụ họa theo sau  là những ý kiến trù dập, “đòn hội đồng”, theo chỉ đạọ thống nhất từ đâu đó, với hàng ngàn “dư luận viên” đủ các loại bằng cấp, được trả công,  “nói lấy được”, đăng tải trên hệ thống thông tin “lề phải”, đôi khi, để tâng công, “bảo hoàng còn hơn vua”, rồi còn  len lỏi vào cả các mạng, kiểu “con ngưạ thành Troa” trong chuyện cổ Hy lạp, để quậy phá từ trong ra, “lập lờ đánh lận con đen”, “nửa đen, nửa trắng”, bí quá thì…hacker, đánh xập cho khỏi truy sập nữa…, chỉ vì Kiến nghị 72 và nhiều ý kiến góp ý khác đã dám bàn tới “những điều cấm kỵ”, đã “phạm húy” …Hóa ra đâu phải “ không có vùng cấm” như phát động  thủa ban đầu mà nhiều người ngây thơ, như người viết đây, đã hiểu!

Người viết đành tự an ủi, âu cũng là dịp mình được học hỏi, biết thêm được nhiều điều thế nào là “hiến pháp”, thế nào là” quyền phúc quyế”t của người dân, thế nào là” tam quyền và tam quyền phân lập”, thế nào là “vi hiến”…; được ngẫm tới vài điều minh triết hợp với lòng mình, với hy vọng may còn dịp được thực sự làm nghĩa vụ công dân, được thực thi cái quyền hiến định của mình trong cuộc đời này!

Người viết thiển nghĩ, một cách ABC, như thế này (với những tiêu đề chỉ mang tính ước lệ để dễ bề chia sẻ):

Minh triểt

Trước tiên hãy bàn chung về “minh triết”. Nhiều học giả đã dẫn dụ nhiều rồi, nhiều định nghĩa đã được dẫn giải, xin khỏi nêu lại ở đây. Người viết nôm na hiểu đó là những lời nói, những tư tưởng, những học thuyết… của các bậc hiền triết, các học giả, lãnh tụ của các phong trào…đã được nêu ra, đã được chiêm nghiệm trong thực tế và được thấy là luôn luôn (hay còn) đúng với hiện tại…Những minh triết đó cho dù biểu cảm, về mặt hình thức, có thể khác nhau, nhưng nội dung cốt lõi, nhiều khi lại giống nhau, bởi  lẽ như người đời thường nói “các tư tưởng vĩ đại thường gặp nhau tại một điểm”.

Chủ nghĩa hay Học thuyết?

Nếu đưa “Mác-Lê” lên tầm một chủ nghĩa, chẳng khác nào một thứ tôn giáo mà ai theo nó cũng phải tôn thờ, như đạo Phật tin rằng sẽ có Niết bàn, ai tu đắc đạo sẽ được lên, còn không sẽ phải qua 9 tầng địa ngục, như bên Công giáo tin rằng có Thiên đường, các con chiên ngoan đạo sẽ được về với Chúa, vì vậy mà các đệ tử, con chiên phải sống cho tốt để hòng được lên cõi niết bàn hay thiên đường…

Còn theo “Mác-Lê”, “thiên đàn”g sẽ đươc xây ngay ở dưới hạ giới này, thế giới sẽ “đại đồng”, sản xuất của xã hội sẽ dư thừa tới mức mọi người “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, muốn được như vậy phải lấy công- nông, lực lượng sản xuất ra của cải vật chất, làm gốc (sau này có thêm trí thức được “liên minh” đứng kế bên), phải đấu tranh giai cấp, phải chuyên chính vô sản (chính quyền nở trên nòng súng), phải thường xuyên phê bình và tự phê bình…và, như vậy thì, thực hay cho tiếng Việt, để “Quyết phen này sống chết mà thôi”, để “Bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay mình”[1], …, thì phải một bên cầm… “mác”, bên khác cầm… “lê”, phải đấu tranh, đấu tranh…  thay cho trong đạo Phật phải xám hối, theo Công giáo thì  phải thường xuyên rửa tội , hay các hình phạt răn đe nghiêm khắc của đạo Hồi…con người mới có thể tốt lên được, mới đắc đạo được!

Tiếp thu “mù quáng” hay “có chọn lọc”?

Nhiều người cực đoan muốn phủ nhận “sạch trơn” cả Mác lẫn Lê vì họ cho  rằng đấy là một thứ chủ nghĩa không tưởng, nó đã thắng ở cái “mắt xích yếu nhất” trong hệ thống tư bản chủ nghĩa như ở  nước Nga sa hoàng (1917), mới thoát thai từ chế độ nông nô, hồi đầu thế kỷ 20, như ở một số nước ở Đông Âu và Châu Á, trong đó có Việt nam ta, khi chớp được thời cơ trong Thế chiến thứ hai 1945…để hình thành ra cả một “phe”, cả một “hệ thống”…  Để rồi 70 năm sau, cái hệ thống XHCN  được xây dựng và phát triển chính trên cái nền tảng của chủ nghĩa Mác-Lê đó, đã xụp đổ, như các con bài Đô-mi-nô, vào những năm cuối 1990, chớ trêu thay, lần này lại ở ngay tại cái “mắt xích mạnh nhất”của cả hệ thống vào thời gian đó, tại chính  Liên bang Xô viết và các nước Đông Âu khác…

Ai đã từng đọc các tài liệu tổng kết về sự kiện này đều thấy rõ nguyên nhân chủ yếu, cứ theo  ông Mác (1818-1883), là do ở đó có những mâu thuẫn tiềm ẩn ngay trong nội tại, ngay trong chế độ đó, trong thể chế  đó…, đã không được giải quyết, dẫn đến khủng hoảng “di căn” ra cả hệ thống (Structural Crisis), cho dù có hay không khủng hoảng kinh tế như hiện nay, mà “thế lực thù địch”, nếu có, chỉ là một tác nhân tạo ra “cú hích” từ bên ngoài hòng  đẩy nhanh quá trình dẫn tới …sụp đổ[2]… đến mức làm cho các “thế lực thù địch” phải ngạc nhiên và  những người có “thiện cảm”, những “tín đồ ngoan đạo”… phải đau xót ngỡ ngàng sao mà sụp đổ lại nhanh như vậy, gon nhẹ và “hòa bình” như vậy…!

Những Minh triết trong Mác-Lê

Nếu coi Mác-Lê chỉ ở tầm như mọi học thuyết với những định lý, định đề…trong chính trị, cũng như trong kinh tế và các ngành khoa học khác, thì ta thấy  trong đó có những cái đúng ở thời kỳ này ( ở thế kỷ 18,19, khi động cơ hơi nước mới ra đời, chủ nghĩa tư bản mới ở thời kỳ mông muội…) nhưng lại không hợp với thời ký khác (ở thế kỷ 20,21, khi con người đã bay vào vũ trụ, khi đã có internet, thế giới đã vào hội nhập …), điều đó cũng dễ hiểu, Duy vật lịch sử và Duy vật biện chứng mà! Dù sao, như mọi học thuyết khác, xin chớ định kiến, xin hãy tĩnh tâm “gạn đục, khơi trong”, ta vẫn còn tìm ra được trong Mác-Lê có những thứ vẫn còn là “minh triết”, và, xin chớ có phũ phàng mà phủ nhận sạch trơn và ai đó cũng rất nên tự ngẫm xem mình đã làm đúng như cả hai thày Mác và Lê đã dạy chưa (?).

Duy vật lịch sử, Duy vật biện chứng

Không minh triết sao được khi học thuyết Mác-Lê dựa vào vũ khí sắc bén của mình là “Duy vật Lịch sử” và “Duy vật biện chứng” để đánh giá khách quan (và khoa học) các sự kiện, các tiến trình, các diễn biến cho tới cả… sự phát triển của xã hội loài người, và cũng nhờ nó mà đề ra các chủ trương, chính sách, các biện pháp tới các …sách lược, chiến lược…hợp với tình thế, chớp lấy thời cơ để làm chủ tình thế, để làm cách mạng, để cải tạo xã hội….

Không hiểu hai chí sĩ họ Phan[3] của ta có nghiên cứu cái lý luận phức tạp này hay không mà ở thời ấy đã “Việt hóa”  với sự diễn giải đơn giản chỉ vẻn trong vài câu “ Thời thế thế, thế thì phải thế…” để cho người đời dù có “thiểu năng trí tuệ” cũng phải nhớ rằng: Khi “Thời” đã thay thì “Thế” cũng phải đổi, mới hiểu thâm ý xâu sắc của một chính khách thời thế chiến thứ II đã nói   “ Không có kẻ thù vĩnh viễn, không có đồng minh vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viến”[4], chớ có “phàm  cứ bè, ắt là bạn”, chớ như con ngựa nhà đòn (đám ma hồi xưa, người viết) bị bịt hướng nhìn sang hai bên, chỉ biết có đi theo sự giật dây (cương) của người xà ích, khư khư cố hữu như một viên thư lại mẫn cán (chắc gì đã được học đến đầu, đến đũa) cứ cố bám lấy những điều không còn hợp với cả “thế” và “thời”  mà người đời thường gọi là “giáo điều”, “bảo thủ”… “ lú lẫn”… để rồi sẽ phải chịu một hệ lụy chung chằng khác nào như “Đười ươi giữ ống”, bởi vì lý luận và thực tế luôn có một khoảng cách, bởi “cây đời mãi mãi  xanh tươi ” !

Đến như Đalai Lama (thứ 14 hiện nay), rất lịch sử và biện chứng, cũng phải nói:Khi trong tay anh nắm chặt một vật  gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ ấy, nếu anh chịu buông xuống, thì anh mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác. Nếu một người luôn khư khư với quan niệm của mình, không chịu buông  xuống thì trí tuệ chỉ có thể đạt đến ở một mức độ nào đó mà thôi.”

Mâu thuẫn và Thời cơ

Trong học thuyết của Mác, khi bàn về mâu thuẫn, nếu người viết nhớ không nhầm, thì giải quyết mâu thuẫn nội tại là quyết định cơ bản cho sự vật phát triển. Và, khi những mâu thuẫn nội tại đó không được giải quyết kịp thời và thỏa đáng, đương nhiên, sớm hay muộn, cũng dẫn đến xụp đổ, đó là điều tất yếu. Khi trao đổi về những cập mâu thuẫn hiện nay, người ta thường khóet xâu vào mâu thuẫn giữa bên trong và bên ngoài để đổ tội cho việc xụp đổ là do sự phá hoại từ ngoài cấu kết với các “phần tử chống đối” (bất biết vì lý do gì!) từ bên trong, tất cả bỏ chung vào cùng một rọ “các thế lực thù địch”, cứ nói “thẳng tưng” thế cho gọn!

Một cơ thể khỏe mạnh thì dễ gì các vi khuẩn, vi trùng có thể thâm nhập để gây được bệnh. Chỉ ai yếu bóng vía mới sợ ma!

Trong cuốn “ Sự phản bội của Goóc-ba-chốp” do Viện nghiên cứu của Bộ Công an biên soạn và bán công khai trên các quầy sách, có phân tích các trường hợp xụp đổ của Ba lan, Tiệp Khắc, Liên xô, CHDC Đức, trong đó ít nhiều có đề cập, dù chưa hệ thống, tới những mâu thuẫn dẫn đến xụp đổ  nhanh chóng của các nước này, đề cập đến việc các mâu thuẫn nội tại ở đó không được giải quyết thỏa đáng để rồi chỉ cần một cú hích nhẹ từ bên ngoài, nếu có, là dẫn đến xụp đổ.

Ở những nơi đó cũng có tình trạng  mất dân chủ kéo dài, cũng đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội duy ý trí với những quy hoạch và kế hoạch phát triển không hiệu quả, tốn tiền của dân, cũng những vụ tham ô của các nhân vật có tầm cỡ…Nguy hại hơn, như trường hợp CHDC Đức, do vị trí tiền đồn, phải đối đầu trực diện với thế giới tư bản lúc đó, lực lượng an ninh được trang bị tới tận răng, được chăm sóc về vật chất và tinh thần hơn hẳn bất cứ nơi nào trong các nước XHCN thời đó, ấy thế mà lực lượng này đã bị vô hiệu hóa ngay từ đầu bởi lẽ (như người viết hiểu) có những vụ việc nội bộ mà họ biết và đã báo cáo lên trên, nhưng trên, vì những lợi ích riêng nào đó, đã làm ngơ và thậm chí còn tìm cách quật lại…do vậy thì, hoặc là,  “tốt nhất”, thì  “mũ ni che tai”, ngồi im không báo cáo nữa…, còn không, thì “buông trôi”, đành “thuyền theo lái” vậy, tội gì mà chẳng “Same. Same”  (cũng “rứa”, người viết) !

Mác quá đúng, quá minh triết, khi nói về các cập mâu thuẫn và đưa đến kết luận: giải quyết mâu thuẫn nội tại giúp cho sự vật phát triển.

Ai đã học ở Liên xô cũ, nhất là đối với các ngành khoa học xã hội, dù học trực tiếp bằng tiếng Nga hay qua phiên dịch[5] chắc còn nhớ lý luận của Lê nin về thời cơ cách mạng để xem lại thời cơ xụp đổ sau này của các nước này. Không hiểu sao cụ Nguyễn Trãi (1380-1442) ở nước ta từ thế kỷ 15 với câu “Ngừơi chèo thuyền cũng là dân, người lật thuyền cũng là dân”, rồi sau đó thời Lê Quý Đôn (1726-1784), người ta đã khái quát các triệu chứng suy tàn, bại vong dẫn đến nguy cơ bất ổn, thậm chí mất nước, đó là:[6]

  • Khi vua chúa ăn chơi sa đọa;
  • Khi quan lại nhũng nhiễu tham lam;
  • Khi con cái cãi lại cha mẹ, ông bà;
  • Khi trò cãi lại thày;
  • Khi muôn dân lầm than oán hận;
  • Khi quân sĩ chểnh mảng việc quân;
  • Khi kẻ sĩ ngoảnh mặt, xoay lưng (với thế sự).

Những điều nói trên của các cụ nhà ta có cái gì đó giống với ông Lê nin (1870-1924) ở nước Nga đầu thế kỷ 20, được tổng quát dạy trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên xô thời những năm đầu 1960, về 3 yếu tố cấu thành thời cơ cách mạng , đó là:

  • Một là khi lực lượng thống trị trở thành phản động nhất;
  • Hai là sự bất mãn của quần chúng lên tới đỉnh cao nhất; và,
  • Ba là lực lượng trung gian nghiêng hẳn về phía quần chúng.

Xin được hiểu từ “phản động” ở đây với nghĩa rộng hơn của bản thân nó. Nó bao gồm cả việc làm sai tôn chỉ, mục đích, cam kết ban đầu, sai pháp luật của Nhà nước, giả dối, cửa quyền, nhũng nhiễu, tham nhũng, đục khoét tiền của nhà nước, ăn cắp tiền của dân, kìm hãm sự phát triển…chứ không phải đợi tới khi làm tay sai cho nước ngoài, có âm mưu lật đổ… mới bị quy là phản động.

Ở Việt Nam ta, nhất là  ở các tỉnh phía Bắc, cả một bộ phận lớn của cái lực lương trung gian kể trên chủ yếu là con em từ các gia đình công-nông mà ra, đã được tuyển chọn cho đi đào tạo, trên thực tế đã và đâu đó, ngược lại,  còn bị hành xử như “đối tượng” (không đáng tin tưởng), họ còn gắn bó mật thiết với nơi họ đã sinh ra, họ rất nhậy cảm với những gì mà gia đình, người thân và xóm làng mình đang gánh chịu hàng ngày.

Còn nếu theo các cụ của ta về vai trò trí thức, nói chung, chỉ những người có trình độ học vấn nhất định mới có khả năng và điều kiện nghiên cứu, tiếp thu những gì mới mẻ của thế giới (ngay cả nghiên cứu và truyền bá học thuyết Mác-Lê vào Việt nam), có thể dẫn dắt được cả xã hội…, mà thế giới gọi là giới “tinh hoa” (Elite), chứ không phải “Cục..C” như Mao Trạch Đông đánh giá trí thức trong cách mạng vô sản…vì với họ (người TQ nói) “Càng nghèo càng tốt, càng dốt càng hay”!  Chính vì vậy mà người xưa còn nêu “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, rồi, “Quốc gia hưng vong, Thất phu hữu trách”, Đất nước hưng thịnh hay suy vong, đó là trách nhiệm của người có học (chứ không phải kẻ thất học, người viết).

Còn ai đó cứ tự cho mình là lực lượng độc tôn dẫn dắt đất nước này, cả dân tộc này, chỉ có mình mới “chính danh”, mình “độc quyền” lãnh đạo, “độc quyền” yêu nước, mình “có quyền” đứng trên cả đất nước, trên cả dân tộc, trên cả luật pháp, có mình mới có ngày nay …thì liệu có dám “Quốc gia hưng vong, “chính danh” này hữu trách” không (?), liệu có dám “độc quyền” chịu trách nhiệm không (?) hay lại tìm cách đổ vấy cho “thế lực” nọ, “thế lực” kia, liệu có “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, hãy tự trách mình trước, như các cụ ta đã dạy không?…

Tại cái thời điểm hội đủ 3 yếu tố trên, chỉ cần có ai nắm lấy cơ hội, chỉ cần thêm chút ngẫu nhân từ ngoài, nếu có, cách mạng hay phản cách mạng, tùy theo lý giải của mỗi bên, sẽ bùng nổ và con thuyền sẽ bị lật nhào. Phải chăng nhờ vậy, với nghị quyết “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của ta” đã đẩy các mâu thuẫn (nội tại) đến cực độ để đưa Cách mạng Tháng tám 1945 ở nước ta tới thành công…

Xét cho cùng yếu tố thắng lợi đều phụ thuộc vào sự phân tích cho ra được các mâu thuẫn, giải quyết các mâu thuẫn một cách thỏa đáng và hợp với thời đại, đặc biệt và trước tiên là các mâu thuẫn nội tại (mâu thuẫn trong nước, trong nhân dân…) và không bỏ lỡ thời cơ, nắm bắt được “ Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa”…là thắng lợi. Để mất cơ hội quả là điều đáng tiếc, nhiều khi cả tới trăm năm sau nghĩ lại vẫn còn hối tiếc[7]; chưa nói tới, đối với  “chính danh”, để mất cơ hội, để thời cơ tuột khỏi tay… là có tội với lịch sử, với đất nước, với dân tộc, “có tội với tiền nhân”[8]….Nhìn lại lịch sử cận đại của nước Việt nam ta từ năm 1945 đến nay thôi, chưa đầy một trăm năm, hãy dũng cảm và nhìn thẳng vào sự thật, ta không khỏi tiếc những thời cơ đã bị tuột khỏi tầm tay, làm cho ta bị tụt hậu so với nhiều nước khác trong khu vực… Xin đừng để cho đất nước này, cho dân tộc này tiếp tục hẫng hụt mà lỡ thêm nhịp!

Minh triết Mác-Lê trong kinh tế

Trong kinh tế cũng vậy, Mác-Lê (Nhất là Mác với Tư bản luận) quả cũng có nhiều điều rất minh triết. Đơn cử, chỉ xoay quanh mấy chữ “c+ v + m”, “T – H – T’ ” rồi “ T’>T ”… và các mối quan hệ, tỷ lệ giữa chúng với  nhau, trong những phép tính đơn giản nhất, chưa cần tới các số mũ lũy thừa, các đạo hàm toán học phức tạp…mà người viết thấy cũng chưa khám phá hết, chưa lý giải hết nổi, không dám đề cặp nhiều tới vĩ mô, chỉ riêng đối với các thực thể kinh doanh theo các loại hình doanh nghiệp/công ty hiện nay, tạm có thể quy tụ vào bốn dạng chính: DN Cửa quyền (độc quyền), DN Đầu cơ, DN cơ bản dựa vào Lao động cơ bắp (labor intensive), và DN cơ bản dựa vào Tri thức[9] (nhất là thời đại Kinh tế Tri thức, Knowledge Based Economy, như đương đại).

Ngay ở nước Mỹ, trong cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, người ta cũng phải đọc lại những minh triết (còn giữ nguyên giá trị) mà Mác đã nói trong Bộ Tư bản luận.

Minh triết quá đi chứ khi Mác nói về hàng hóa: “Hàng hóa chỉ trở thành hàng hóa khi nó hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng”, rồi, “Hàng hóa chỉ trở thành hàng hóa khi nó thực hiện được giá trị trên thương trường”.Điều này càng đúng trong một nền kinh tế thị trường mà ta đang hướng tới và mong nhiều nước thừa nhận và, nhất là, trong một thế giới đã vào hội nhập như hiện nay.

Có một thời người ta kêu gọi và phấn đấu sao cho vượt Mỹ, vượt Anh, vượt vài nước tư bản tiêu biểu về chỉ tiêu sản xuất một số sản phẩm (người viết xin nhấn mạnh từ “sản phẩm”). Cuối cùng thì sản lượng về sản phẩm nọ, sản phẩm kia, có thể bằng và vượt cả các nước tư bản được chọn làm mục tiêu, nhưng chất lượng thì quá thấp, giá thành lại quá cao, không sao tiêu thụ được…nghĩa là chỉ chạy theo số lượng, bằng bất kỳ giá nào, kể cả hy sinh về môi trường như đâu đó đang diễn ra…, chạy theo thành tích, chỉ sản xuất ra sản phẩm không trở thành hàng hóa được (không bán được, không thực hiện được giá trị trên thương trường)[10].

Lê nin không minh triết sao khi ông nói “ Không có kiểm kê và kiểm soát, không có quản lý” . Giáo trình dạy kinh tế (TBCN) của nhiều nước vẫn còn nhắc tới điều này…và, thủ tướng đương thời của ta cũng có lần nhắc tới!

Người viết, do khuôn khổ của bài này, xin không dừng ở đây nhiều để bàn xâu về những sự việc cụ thể mà Việt nam ta đang đối mặt. Ngay báo chí “lề phải” đã nói nhiều, trên nhiều diễn đàn, kể cả trong Quốc hội, người ta đã từng lớn tiếng phê phán… và vì vậy xin nhường lại quyền cho “lề phải”, lề chính thống, hãy bớt đưa tin về tệ nạn xã hội “đâm, chém, hiếp, giết, …” sa đà theo hướng “lá cải hóa” thông tin, đến mức cơ quan quản lý cũng phải giật mình lên tiếng, xin hãy  tiếp tục phê phán cái bệnh chạy theo thành tích, bằng mọi giá chạy theo số lượng, bất chấp chất lượng, bất chấp hiệu quả, …, cứ đà này “lượng đổi, chất đổi” sẽ theo chiều hướng xấu, xin hãy đi đến cùng để giải đáp các câu hỏi: Tại sao? Tại sao? Ai là người hưởng lợi?…

Ai cũng rõ vài thực tế (riêng về kinh tế thôi) phũ phàng mà “lề phải” đã từng nói tới: nhiều tỉnh đòi xây sân bay, cách nhau 100 cây số, đang xây đường cao tốc (bên cạnh một con đường một thời đã được coi là “cao tốc”), rút ngắn thời gian đi lại xuống dưới 1 giờ đồng hồ, lại cho xây một sân bay quốc tế trên  vùng đất trũng đầm lầy, cách nhau 40km lại cho xây 2 sân bay nội địa để rồi… không đủ khách; xin hỏi, nếu số lượng nhân viên của ngành hàng không còn nhiều hơn số ghế trên máy bay đang khai thác thì sao còn cạnh tranh được (?); tỉnh nào có biển cũng tìm cách xây cảng nước xâu; cách vài chục phút chạy xe với tốc độ trung bình 50-60km/h trên các đường trục chính, lại thấy một khu công nghiệp… bỏ hoang hay lèo tèo với vài ba nhà máy, vài khu chung cư đắt tiền với những căn hộ với giá cả ngàn USD/M2 còn… trống rỗng, không ai ở (trong khi thu nhập trung bình của người dân mà nhiều nơi vẫn “cơm chưa đủ no, áo chưa đủ ấm”, theo báo cáo của Nhà nước, cũng mới nhỉnh hơn 1.000USD/năm, xếp vào hàng cuối của các quốc gia có mức thu nhập trung bình) …; kiểm tra, kiểm soát ở tập đoàn nọ tới 7,8 lần đều cho kết quả tốt (để báo cáo) nhưng cuối cùng đã để lại gánh nợ (mới theo số liệu công khai) ngót ngét tới gần 100 ngàn tỷ VNĐ; một đất nước với GDP mới ở mức gần 200 tỷ USD/năm mà rất “thành tích” khi cho ra đời cả trăm ngân hàng với gánh nợ xấu khổng lồ so với vốn sở hữu mà có người lo dù có bán hết tài sản cũng không sao trả hết!, cả trăm công ty chứng khoán mà “làm giá” chắc là một… phương thức chính(?), giờ đây, để “dẹp loạn”, cũng lại rất “thành tích” phải thu hẹp lại, phải M&A (sáp nhập và mua lại) bằng mọi kiểu, tự giác (?) cũng như thôn tính thô bạo! Trong khi cần thắt chặt đầu tư công thì vẫn lách tìm cách “thông qua” những dự án viển vông, thế giới rút ra thì ta lại chui vào, thế giới bỏ đi thì ta lại nhận (điện nguyên tử chẳng hạn)! những “con voi” vẫn lần lượt chui qua các “lỗ kim”!…

Minh triết Hồ Chí Minh

Trước khi đề cập tới chuyện này, người viết xin bộc bạch suy nghĩ cùa mình:

Xin những ai, dù có sùng bái  Hồ Chí Minh tới mức nào, cũng không nên đặt Cụ ngang hàng với những bậc Thánh hiền, vì đã tôn lên hàng Thánh thì tròn trịa, không thể có một mỹ từ nào như “vĩ đại”, “anh minh” đi theo sau được; vì đã là Thánh, theo tâm linh, thì phải thiêng, phải “cứu nhân, độ thế”, phải diệt trừ được tà ma…mà lẽ nào lại để cho thế sự nhiễu nhương như hiện nay ?!…Càng cố tôn Cụ lên bậc Thánh thì những người “ngoại đạo” (khác với những ai sùng bái Cụ) lại “bới lông, tìm vết” để nói xấu Cụ, làm cho Cụ đang nằm trong Lăng nguy nga mà vẫn không yên, dân dã mà nói là “mồ chưa yên, tuy mả có đẹp”…

Xin hãy coi Hồ Chí Minh như mọi con người bình thường, cũng “hỷ, nộ, ai, lạc, ái, ố, nhục” như bất kỳ ai, có chăng là Cụ có thể tốt hơn những cái tốt của những người khác và xấu ít hơn những cái xấu của những người khác…Cụ có cái đúng và cũng không tránh được những cái sai, Cụ có công và Cụ cũng từng có tội (chính cụ đã thừa nhận- GNLT chú), …cuối cùng cộng tất cả, phán xét một một cách công bằng, một cách lịch sử và biện chứng, đối với đất nước và dân tộc, so sánh với những nhân vật cùng thời trong nước, và, dám so với cả nước ngoài, liệu Cụ có đạt được một chỉ số cao nhất định để gắn với mỹ từ nào xứng đáng theo không(?).

Chỉ có từ “con người”, cao hơn đạt tới “CON NGƯỜI” được viết bằng chữ hoa như Mác xim Gor ki [11] nói, chứ không phải là “thánh”, mới có thể gắn theo mỹ từ như “vĩ đạị”, “anh minh”…. Xin những ai, thực tình hay giả dối, chỉ muốn núp dưới bóng Cụ, đưa cụ ra làm bình phong, dù mỗi năm vài lần có vào viếng Cụ, đôi khi chỉ vì chiếu lệ,  xin đừng đặt Cụ lên ngang hàng các bậc Thánh hiền; và, cũng xin những ai không ưa Cụ, thậm chí ghét và, vì một lý do gì đó, còn căm thù cái thể chế này mà lây sang Cụ… hãy bình tâm mà xem lại cách đánh giá của mình, một cách công bằng, riêng về con người Cụ, như mọi nhân vật lịch sử khác.

Một điều người viết băn khoăn xin được chỉ giáo là: nhiều người nói là, cách mạng Việt nam năm 1945 (và cho tới nay) khác cách mạng (vô sản) Tháng Mười Nga(1917), không giống cách mạng (dân chủ- nhân dân) của một loạt nước Đông Âu (được Hồng quân Liên xô giải phóng) ra đời sau Thế chiến thứ hai (1945), không giống cách mạng (nông dân) Trung Quốc mãi tới năm 1949 mới thắng lợi, cũng chẳng như Triều tiên, Cu ba sau này…, cách mạng Việt Nam mở đường cho phong trào giải phóng thuộc địa…Nghĩa là, như người viết hiểu, cách mạng Việt Nam có cái gì đó riêng biệt, đặc thù, đã như vậy thì cách mạng Việt nam phải có cơ sở lý luận riêng của mình, bởi lẽ, cũng theo Lê nin: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”. Chả nhẽ người Việt nam, một dân tộc có 4 ngàn năm lịch sử với nhiều trang đáng tự hào, lại không có chủ thuyết, lý luận gì riêng của mình mà phải vay mượn từ ngoài, nên có một thời “…Chủ nghía Mác-Lê, Tư tưởng Mao Trạch Đông, Tác phong (chỉ có tác phong thôi! Người viết) Hồ Chí Minh”, rồi sau này thấy Mao “công 7, tội 3” hoặc “công 3, tội 7”, hoặc 50/50, Fifty, Fifty (đấy là theo người nước họ nói thế đối với dân nước họ thôi) nên giờ đây mới “…Chủ nghĩa Mác-Lê, Tư tưởng (+ đạo đức, người viết) Hồ Chí Minh”!

Người viết, một thảo dân, chỉ nghĩ mộc mạc là cần tìm ra cái lý luận cách mạng riêng của Việt Nam, một cách thô thiển như “ Người Việt nam ưu tiên dùng hàng Việt nam”, mọi thứ du nhập, vay mượn từ ngoài chỉ là để tham khảo và vận dụng những gì phù hợp với đất nước này, lịch sử và con người Việt nam này chứ đừng bắt mọi người phải tôn thờ 100%…như ta từng thấy trong Thánh thất Cao đàì Tây Ninh, ngoài thờ Đức thánh Trần, và bao nhiêu chí sĩ, nhiều nhà yêu nước, nhiều học giả Việt Nam (người viết chưa rõ đã có Hồ Chí Minh chưa?), còn có cả Phật Thích Ca, Jesu, đến cả Tôn Dật Tiên, Vic-tor Huy-gô… và hình như có cả Mã – khắc – tư (Mác), Liệt – ninh (Lê-nin), mỗi người một vẻ, mỗi người có một triết lý hay, có những minh triết mà người đời cần học và vận dụng!

Không phải để lại cho đời vài ba đầu sách về một chủ kiến nào đó mới là nhà lý luận, mới là nhà minh triết [12]. Trong lịch sử của thế giới, của nhiều nước, thiếu gì những người không có tác phẩm lý luận nào mà chỉ có tư tưởng của họ được thể hiên dưới dạng viết hay nói (tuyên bố) đã đưa ra một chủ thuyết , một minh triết rồi.

Cái công lớn của Hồ Chí Minh là đã đưa các minh triết, các tư tưởng lớn hợp thời đại của Tuyên ngôn/hiến pháp của Pháp và Mỹ và của các tư tưởng lớn khác như Tôn Dật Tiên, Mong-tes-qui-ơ… vào  trong Tuyên ngôn Độc lập 1945 và Hiến pháp 1946, trong đó “mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng…”, “xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân” , “dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc”, “xây dựng một nhà nước pháp quyền, tam quyền phân lập”, “xây dựng một quân đội trung với nước, hiếu với dân”…rồi “ cán bộ là đầy tớ của nhân dân”, rồi  “cần, kiệm, liêm, chính”, rồi “chí công vô tư”…

Nói đến minh triết riêng của Hồ Chí Minh chắc phải kể đến tinh thần đoàn kết và hòa hợp dân tộc trong khẩu hiệu “Đoàn kết, Đoàn kết, Đại đoàn kết, Thành công, Thành công, Đại thành công” và cách dùng người của Cụ, nhờ cái “thanh nam châm” đó nên cả một thế hệ những người con ưu tú của đất nước đã hy sinh của cải, vật chất và xương máu đi theo, người ta được giác ngộ về lợi ích dân tộc, trước khi biết đến giai cấp, đến Đảng…Rồi sau này khi vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp lên thế “thượng phong”, lấn át ngay cả điều minh triết kể trên, một cỗ “máy ly tâm” với gia tốc ngày càng tăng ra đời, khiến nhiều người, nhất những ai  xuất thân từ giới trí thức, từ tầng lớp khá giả đã bị văng ra xa, và, nhiều người từng chịu những hệ lụy, khổ đau!

Nói tới minh triết Hồ Chi Minh không thể không nói tới “ Độc lập – Tư do – Hạnh phúc” , “có độc lập mà không có tự do thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”, nói gì tới  hạnh phúc! Người viết hoài niệm, nếu Hồ Chí Minh còn sống sau 1975, liệu trong minh triết của mình có được bổ sung thêm một vế  “Thống nhất – Hòa hợp”[13]; theo minh triết “Đại đoàn kết” và khi dám đặt lợi ích “Tổ quốc trên hết”, chắc phải “Hòa hợp” ngay sau “Thống nhất” như một số người ngay sau ngày thống nhất đất nước, hay sau đó vài năm đã ngộ ra, và không thiếu người vì tinh thần này đã bị “nâng quan điểm” và bị quy chụp về mất “lập trường” và phải trả giá đắt, họ và những người thân của họ đang chờ một lời “xin lỗi” chân thành, một sự “minh oan” xứng đáng từ phía những ai dũng cảm dám chính danh thừa nhận sai lầm cho dù đã quá muộn màng, nhiều người trong số họ đã ngậm ngùi về thế giới bên kia!

x

Viết về minh triết,  người viết đã thừa nhận là một vấn đề khó, quá lớn so với trình độ một thảo dân. Song, “chân lý đôi khi lại là những điều đơn giản nhất” và, cũng từ vị trí một thảo dân, người viết muốn trải lòng để lý giải về những vấn đề đang hiển hiện trong cuộc sống đời thường mà ai cũng thấy trừ những người cố tình “nhắm mắt” mà thôi, và, mong ước các minh triết này được thực hiện sao cho “lời nói đi đôi với việc làm”, một cách trung thực, không gian dối./.

Hà Nội, hè 2013

Những ngày mưa tầm tã

 M.A.

 

Uống nước : Chuyện nhỏ nhưng đừng xem thường việc này !

  Một ly nước uống sẽ lấy mất đi cảm giác đói suốt đêm cho hầu hết những ai phải ăn kiêng (theo Đại học Washington).

Thiếu nước là nguyên nhân số 1 gây ra sự mệt mỏi trong ngày 
Nhiều nghiên cứu cho biết từ 8-10 ly nước trong ngày có thể làm giảm những cơn đau lưng và đau khớp cho gần 80% những ai bị các bệnh này. 

Chỉ cần giảm 2% nước trong cơ thể con người sẽ gây sự mất liên kết về trí nhớ trong thời gian ngắn, những vấn đề về toán học và khó khăn khi phải tập trung trước màn hình vi tính hay trước một trang giấy in. IMG_0809.jpg

(more…)

Kinh hoàng phát ngôn bá đạo của những tờ báo có tên “Nhân Dân”

21/09/2013

Đôi lời than phiền

Công chúng âm nhạc Việt Nam bị  (cố) nhạc sĩ Trần Hoàn cho ăn “quả lừa” suốt mấy chục năm qua  với ca khúc “Lời Bác dặn trước lúc đi xa”…Nghĩ cho cùng, nhạc sĩ Hoàn cũng không thể chứng kiến phút lâm chung của  Hồ chủ tịch, ông cũng bị ăn quả lừa “biên tập lại lời Bác” của những người thân tín túc trực quanh Bác… Lãng tử tôi tin lời kể của y tá trưởng người Bắc Kinh (vì cô ấy không có động cơ nói dối), và hãy nhớ rằng Hồ Chí Minh từng sống nhiều năm ở TQ, từng biết ít  nhiều bài ca TQ vẫn lưu trong ký ức… Chúng ta đều tin rằng, một người hấp hối, lý trí suy giảm, không thể cứng nhắc khăng khăng giữ vững lập trường này lập trường kia…Âm nhạc vô tư lắm, thích thì hát, bật ra khi có hứng, nếu nhạc sống thì còn hay hơn. Lúc ấy lại sẵn có cô y tá người TQ kề bên, ông yêu cầu cô hát một bài tiếng Trung, tưởng cũng là điều bình thường. Chỉ buồn là những người “biên tập” đã quyết tâm sửa lại thành ra bác thích “bài hát quê nhà” vì họ sợ ảnh hưởng hình ảnh lãnh tụ.. (?!).

Mời bạn đọc bài phân tích của Người Buôn Gió và tự mình đánh giá.

GNLT

Người Buôn Gió

clip_image002

Dường như cuộc chiến trên mặt trận tư tưởng của các tờ báo này đã vào chỗ bế tắc, khủng hoảng bởi thực tiễn không minh họa được cho lời lẽ của họ.

Tờ báo QĐND đưa ra bài viết có nhan đề Ba lần Bác cười trước lúc đi xa (http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/242/242/242/101538/Default.aspx). Bài viết miêu tả chi tiết và sống động Chủ tịch HCM kính yêu trước lúc từ trần theo lời kể của y tá Trung Quốc Vương Tinh Minh có đoạn:

Chiều hôm đó sức khỏe của Bác đã có chuyển biến tốt lên một chút, Bác nói muốn nghe một câu hát Trung Quốc. Các đồng chí đề nghị tôi hát. Tôi nói thật là hát cũng không tốt lắm, nhưng để vui lòng Bác, vì tình hữu nghị Trung-Việt, tôi đã hát một bài hát mà nhiều người thuộc và hát được, bài hát có nội dung chính là ra khơi xa phải vững tay chèo. Bác nghe xong rất vui, Bác nở nụ cười hiền từ. Bác nắm nhẹ tay tôi, tặng tôi một bông hoa biểu thị cảm ơn. Đó là lần thứ ba tôi thấy Bác cười. Và đó cũng là nụ cười cuối cùng của Người.

Nếu đây là sự thật, thì sự thật này khiến nhiều người dân Việt phải ngỡ ngàng, hoang mang. Có lẽ nào nhạc sĩ Trần Hoàn là một tên nói phét, hoặc là một kẻ lợi dụng mong muốn nghe hát của Bác để xuyên tạc sai lệch, nhằm kích động chiến tranh. Bài hát của nhạc sĩ Trần Hoàn có tên Lời bác dặn trước lúc đi xa (http://tainhaccho.vn/loi-bai-hat/tran-hoan/bnl/loi-bac-dan-truoc-luc-di-xa.htm).

Bài hát như một câu chuyện kể rất cảm động, rằng trước lúc đi HCM muốn nghe câu hò Huế, bởi vì nước non chia cắt, Huế ở miền Nam. Rồi bác nhớ làng Sen quê mình, rồi bác nghe quan họ ”người ở người ở đừng về ”… rồi bác nghe câu hát dặm.

Bài hát của Trần Hoàn đã khắc sâu trong tâm trí của bao người Việt về một hình ảnh lãnh tụ HCM thân thương tha thiết với dân tộc, đất nước. Đến lúc cuối đời còn muốn nghe những làn điệu đầy bản sắc quê hương như hò, ví dặm, quan họ.

Thế nhưng báo QĐND dựa vào lời kể của một y tá Trung Quốc đã đưa lên thành một bài viết đi ngược 180 độ với những gì mà Trần Hoàn đã khắc sâu trong tâm trí nhân dân Việt Nam về hình ảnh của Người.

Bài viết của báo QĐND đã nói rằng, bác chỉ muốn nghe câu hát Trung Quốc thôi. Không hề có một dòng nào của bài báo nói về những giây phút cuối đời HCM nhắc nhở gì đến nhân dân Việt Nam, đất nước Việt Nam cả. Chỉ có những hành động tình cảm với phía Trung Quốc như khi nghe giới thiệu y tá TQ, Chủ tịch HCM nhìn y tá TQ với đôi mắt hiền từ, rồi nhắm lại tuôn lệ (như là đang bồi hồi cảm xúc nghĩ lại điều gì rất tha thiết?).

Những lời kể của y tá Trung Quốc Vương Tinh Minh liệu có tin cậy được không.? Tại sao bây giờ mới kể khi các nhân chứng có mặt lúc đó đều đã chết như Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Lê Duẩn và người còn sống duy nhất lại đang ở trạng thái sinh học không còn nói gì được nữa là đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Một chi tiết nữa rất khó hiểu là theo lời kể của Vương Tinh Minh thì sức khỏe HCM đã hôn mê, tình lại chỉ lắc đầu yếu ớt ra hiệu. Nhưng sau khi nghe hát đã nắm tay Vương Tinh Minh và tặng hoa rồi trút hơi thở. Tại sao người duyệt bài báo này không nghĩ rằng trong tình trạng nằm hấp hối chỉ còn giây phút nữa lìa đời, chỉ ra hiệu bắng mắt và lắc đầu thì HCM lấy đâu ra sức để tặng Vương Tinh Minh hoa. Cho dù hoa có để bàn ngay đầu giường thì HCM cũng phải nhỏm dậy rút hoa từ trong lọ ra thì mới có hoa tặng được Vương Tinh Minh. Nếu HCM mà ngồi dậy, ngoái đầu, với tay rút hoa tặng thì hành động đó không hề phù hợp với người chỉ còn vài giây phút nữa lia đời, mới vài giây trước còn ra hiệu bằng ánh mắt hay cái lắc đầu.

Có lẽ từ khi VN hợp tác toàn diện với TQ, báo QĐND Việt Nam đã có những thay đổi khó lường, để học được bài học đấu tranh chống ”diễn biến hòa bình” của Trung Quốc. Những nhà làm tuyên truyền của báo QĐND đã tiếp thu hổ lốn tất cả những gì Trung Quốc nói, TQ viết. Báo QĐND hăng hái đi đầu như lính xung kích trên mặt trận tư tưởng để phê phán những tư tưởng chủ quan, ấu trĩ, lệch lạc của bọn phần tử phản động núp trong nhân dân. Báo QĐND lên án những thế lực phản động đang âm mưu hạ bệ thần tượng HCM trong lòng nhân dân ta.

Thế nhưng báo QĐND vì quá u mê hay cuồng tín vào ông thầy dạy môn ”đấu tranh chống diễn biến hòa bình” mà đã đưa ra một bài viết cực kỳ tai hại, tác động xấu đến niềm tin nhân dân bấy lâu . Bài viết theo lời kể của y tá Trung Quốc là non kém về nghiệp vụ, không có cơ sở thẩm tra thế nhưng vẫn được tùy tiện đưa lên. Nhất là bài viết lại liên quan đến hình ảnh lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam.

Phải chăng chính báo QĐND đang làm những việc mà họ thường lên án người khác?

Báo Nhân dân

Tờ báo Nhân dân hôm nay 20/9/2013 có bài viết nhan đề Tôn giáo chân chính đồng hành cùng dân tộc (http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/binh-luan-phe-phan/item/21251502.html). Bài báo của tác giả Trần Chung Ngọc lên án những hãng truyền thông quốc tế đưa tin sai lệch về các vụ việc tôn giáo ở Việt Nam.

clip_image004

Không biết Trần Chung Ngọc uy tín cỡ nào mà khẳng định rằng những hãng truyền thông lớn quốc tế đưa tin sai, chỉ có ông ta là nói thật?

Nhưng dẫu thế nào thì một điều nhận thấy được rõ, là các hãng truyền thông đưa tin về tôn giáo Việt Nam không bao giờ có bài xúc phạm, mạt sát tôn giáo hay nhân vật tôn giáo nào. Không hề có sự so sánh giữa hai tôn giáo khác nhau để dè bỉu, gây chia rẽ, kích động thì hằn nhau.

Trong bài báo của Trần Chung Ngọc thì trái lại những giọng điệu hằn học, bạo lực được lộ rõ không hề che đậy. Trình độ kém hay bản chất của tư tưởng Trần Chung Ngọc là vậy?

Bài báo có đoạn:

“Trong cuộc kháng chiến ở Việt Nam gần đây cũng vậy, nhiều tu sĩ bỏ áo cà sa đi theo kháng chiến, vì theo truyền thống yêu nước, xét đúng ưu tiên của thời thế, giặc đến nhà đàn bà phải đánh, nền độc lập của nước nhà trên hết, không như bọn Việt gian vô Tổ quốc, phi dân tộc, chủ trương “thà mất nước chứ chẳng thà mất Chúa”.

Đoạn viết này chắc hẳn những người theo đạo Công Giáo, những linh mục, giám mục và hồng y Thiên Chúa Giáo hiểu ý đồ tác giả nói về “bọn… vô tổ quốc, phi dân tộc” là không chỉ nói riêng về con người, mà cao hơn tác giả Trần Chung Ngọc còn muốn đả phá về học thuyết, ý thức hệ, tư tưởng của đạo Thiên Chúa. Một sự xúc phạm thật nặng nề đến tôn giáo. Sở dĩ gọi là nặng nề vì không phải nó động đến hành động nhất thời của một tổ chức tôn giáo. Mà nó động hẳn đến chủ thuyết, tư tưởng thần học của tôn giáo ấy.

Phát ngôn táo bạo hay phát ngôn bá đạo

Một tờ báo lấy tên Nhân dân, lại cho đăng bài của một kẻ xưng là Việt Kiều Mỹ, xúc phạm niềm tin của gần chục triệu nhân dân (tín đồ Thiên Chúa Giáo ở Việt Nam xấp xỉ 10 triệu người). Cuộc kháng chiến chống Pháp đã xa xôi như vậy rồi, mà sự thù nghịch đến nay vẫn còn hiện rõ. Vẫn được báo Nhân dân lên án… vậy thì mấy triệu người miền Nam di tản hồi 1975 khi đọc được bài viết của Trần Chung Ngọc trên báo Nhân dân hôm nay liệu có tin được vào đoàn kết, tha thứ, hòa giải, yêu thương mà nhà nước Việt Nam đang kêu gọi không?

Trần Chung Ngọc lộ rõ ý đồ gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ tôn giáo khi so sánh hình ảnh người Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo. Sau khi vạch tội Thiên Chúa Giáo là Việt gian, phi dân tộc, tổ quốc, chịu mất nước chẳng thà mất Chúa… đến lượt kể công lao của tu sĩ Phật Giáo. Thậm chí quá đà ca ngợi tinh thần chiến đấu của các tu sĩ Phật Giáo, bài báo có đoạn: “Thậm chí còn vui lòng dấn thân vào cuộc, kể cả xông pha trận mạc chém giết quân thù, giữ gìn cuộc sống thanh bình cho dân tộc’”.

Học thuyết của Phật Giáo có cho chém giết quân thù để bảo vệ mình không? Dường như chưa ai dám khẳng định rằng học thuyết nhà Phật cho phép chủ động xông pha trận mạc chém giết quân thù. Nhưng cứ tạm gác điều đó lại, cứ cho rằng học thuyết nhà Phật cho phép hay ngầm cho phép chém giết quân thù như ý của Việt kiều Trần Trung Ngọc đi chăng nữa thì chả lẽ một tờ báo lớn toàn tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư, phó giáo sư lý luận không biết được cách sửa từ ”chém giết” bằng từ nào khác trong kho tiếng Việt phong phú của Việt Nam? Ví dụ như sửa thành ”xông pha trận mạc chiến đấu với quân thù”, nghe có phải hay hơn từ ”chém giết” rất bá đạo đối với người tu hành.

Một bài viết lủng củng, ý tứ đối nghịch nhau, loạn ngôn, giọng điệu hằn học chia rẽ tôn giáo, kích động hận thù của Trần Trung Ngọc lại được báo Nhân dân đưa lên. Chả lẽ không còn ai viết được hơn nữa sao?

Hay báo Nhân dân cũng như báo Quân đội Nhân dân cũng đang tự làm những điều mà họ hay phê phán các thế lực thù địch là chia rẽ dân tộc, kích động hằn thù, gây mất đoàn kết khối đại dân tộc.

Đến lúc phải dùng loại y tá Trung Quốc để nói về lãnh tụ nước mình, dùng Việt kiều (gian) để nói về nội tình tôn giáo trong nước, có lẽ các tờ báo có tên Nhân dân đã chẳng còn nhân dân nào trong đó nữa rồi.

N. B. G.

Trao đổi với Hoàng Thị Nhật Lệ và Đông La về Tuyên bố 258

Đôi lời

Tục ngữ Việt Nam có câu” Nói phải củ cải cũng nghe được”. (Vế ngầm kia là : có những con người cố tình không hiểu lẽ phải, thế có bằng củ cải không?”.

Sức thuyết phục của tác giả Trịnh Hữu Long là  nắm vững lịch sử dân tộc và thế giới- một lịch sử như nó tồn tại, không bị xuyên tạc hay che phủ cố tình.

GNLT

 
Trịnh Hữu Long
 
Tôi đọc các bài viết, bài trả lời phỏng vấn của blogger Hoàng Thị Nhật Lệ và bài viết “Đoan Trang – tuổi nhỏ nhưng sai lầm không nhỏ” trên blog của tác giả Đông La với nhiều cảm xúc và suy nghĩ đan cài. Bài của Đông La sau đó được đăng trên báo Văn Nghệ ngày 19/9/2013 nhưng tôi chưa được đọc bản này. Thực tiễn sinh hoạt chính trị ở Việt Nam đang ngày càng đa sắc, và tôi chắc sẽ là sự hối tiếc lớn cho bất cứ nhà sử học nào có ý định nghiêm túc về việc lưu giữ lại những tháng ngày sôi động này cho hậu thế.
 

Tìm không ra chúng nó vì chúng nó người đằng mình

Đôi lời than phiền

Ông Nguyễn Sinh Hùng, chủ tịch QH, cũng như hầu hết lãnh tụ nước ta đều có những phát ngôn bất hủ. Tại cuộc họp với  Ủy ban Tư pháp QH, ông Hùng phát biểu  “Phát hiện và tố cáo tham nhũng vẫn chưa trở thành ý thức, trách nhiệm của người dân” (!?). Quan chức tham nhũng, trong câu nói dưới đây đương nhiên được tách ra hỏi người dân.Quan chức tham nhũng thuộc quyền quản lý trực tiếp của chủ tịch quốc hội và Lãnh đao Đảng. Nhân dân là nạn nhân đau khổ triền miên của tệ nạn tham nhũng, phải nói là tội  ác tham nhũng. Ông chủ tịch QH không chê trách “đồng chí” của ông tham nhũng mà lại đi trách nhân dân-nạn nhân rằng họ không có “ý thức trách nhiệm tố cáo”… Ông nói ngang nói ngược đến thế mà coi được sao ? Rút cuộc thì ai là người tố cáo tham nhũng từ trước tới giờ ? – Phải chăng là các quan chức tham nhũng ra tự thú ?! “Nhân dân” vừa chịu hậu quả tham nhũng  nặng nề chưa hết còn bị Chủ tịch quốc hội mắng mỏ, chê trách…Xin mời đọc bài phân tích thấu đáo tới bến của tác gỉa Nguyễn T Bình.

GNLT

Nguyễn T Bình 
 
                       Tôi không nghĩ đọc báo chính thống, báo lề phải là vô bổ, dễ bị hỏng cái đầu. Mấy chục năm qua, sáng nào dù nhâm nhi cà phê ở đâu tôi cũng đọc liên tiếp chí ít 5 tờ báo tạm cho là “có uy tín” trong làng báo lề phải. Đọc để biết (liền) chứ không phải đọc để tin (ngay), kể cả đối với báo lề dân trên mạng. Nói chung nếu không biết thì làm sao xác định, so sánh, đánh giá thật giả, đúng sai, xấu tốt, phải trái để tin hay không tin ?

                          (more…)

Đường HCM vì sao không ai đi ?

Đôi lời

“Đường HCM” tức là đại quốc lộ HCM xây dựng trên cơ sở nền tảng đường Trường Sơn khói lửa đầy hố bom ngày xưa, nay dự kiến chạy suốt bắc – nam, qua  phà Vàm Cống sông Hậu đi xuống tận mũi Cà Mau. Mấy năm trước nghe hệ thống đài báo nhà nước quảng bá rầm rộ, bây giờ lặng lẽ chả ai nhắc đến, bởi vì chẳng ma nào đi… Hỡi ôi những cái đầu lãnh đạo ngu dốt và tham lam đem 20 000 tỷ đồng ném bỏ lên rừng đại ngàn hoang vu sau khi xà xẻo được một phần…Đề nghị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội truy vấn tác giả của con đường đại hoang phí này !

GNLT

Một bài báo tại nước ngoài cho biết con đường HCM thần thoại chứ không phải huyền thoại sau khi hoàn tất với kinh phí 20.000 tỷ đồng thì hiện nay chả có ma nào đi mà chỉ đi theo con đường quốc lộ 1A (1)

 Sao kỳ vậy nhỉ?

  (more…)

Suy ngẫm về chủ nghĩa xã hội và con đường cải cách thế chế ở Việt Nam

19/09/2013 (BVN)

Trần Văn Tùng

Việc gắn chủ nghĩa xã hội (CNXH) và thị trường lại với nhau đã trải qua một thời kỳ dài. Kinh nghiệm của Trung Quốc, Việt Nam và việc nghiên cứu lịch sử thực tế của hai nước này có thể giúp cho việc nghiên cứu quan hệ giữa hai khái niệm CNXH và thị trường. Nội dung của bài viết này là làm rõ một số khái niệm và sau đó đưa ra các khuyến nghị cải cách thể chế tại Việt Nam.

1. Bàn luận thêm về CNXH

Khái niệm về thị trường có sự đồng thuận cao đã được các nhà kinh tế học như Ricardo, Mill Walras trình bày trước đây. Thị trường được hiểu là cơ chế phục vụ cho sự điều phối các hoạt động của con người, sự tổ chức tích hợp của xã hội. Thị trường không phải là cơ chế điều tiết duy nhất, mà còn có các cơ chế điều tiết khác mà mọi người từng hiểu là cơ chế quan liêu mệnh lệnh của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), đặc biệt được vận dụng tại Việt Nam trước đây. Điều tiết quan liêu và thị trường khác nhau về các khía cạnh như tập trung hay phân tán, bản chất các quá trình thông tin, cơ chế khuyến khích. Điều tiết thị trường và điều tiết quan liêu chỉ là hai trong số nhiều loại điều tiết do lịch sử tạo ra, tuy nhiên chúng có vai trò đặc biệt quan trọng. Cải cách kinh tế tại Trung Quốc và Việt Nam, bên cạnh những thay đổi khác đã mang lại sự chuyển đổi xa rời ưu thế của điều tiết quan liêu sang ưu thế điều tiết thị trường. Muốn hiểu bản chất của kinh tế thị trường định hướng XHCN thì cần phải bàn luận thêm về khái niệm CNXH, bởi vì nó là một khái niệm cho tới nay theo tôi vẫn không rõ ràng.

(more…)

Mây thẻ