"Nói phải củ cải cũng nghe"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Ba, 2015

Tiếp tục đình công lớn ở Tp HCM

BVN 31/03/2015

Tiếp tục đình công lớn ở Tp HCM

clip_image002

Hàng ngàn công nhân tiếp tục tuần hành trong khuôn viên của Công ty PouYuen (Khu công nghiệp Tân Tạo, phường Tân Tạo, quận Bình Tân) sang tới ngày thứ năm để phản đối luật bảo hiểm xã hội.

Trước đó báo chí trong nước đưa tin “gần 90.000” công nhân công ty TNHH PouYuen Việt Nam, một công ty 100% vốn nước ngoài của Đài Loan, đã đình công trong hai ngày 26 và 27/3 để phản đối các quy định tại điều 60, Luật Bảo hiểm Xã hội (BHXH) 2014 về việc không cho người tham gia BHXH được hưởng BHXH một lần ngay sau nghỉ việc như trước đây.

Theo luật này công nhân sẽ phải đợi đến tuổi nghỉ hưu, tức nam giới là khi 60 tuổi và phụ nữ là 55 tuổi, mới được nhận trợ cấp.

Được biết sáng 30/3, các công nhân vẫn tới công ty nhưng không làm việc và sau đó đại diện ngành lao động quận Bình Tân cũng đã tới gặp gỡ, giải thích nhưng không được công nhân chấp nhận.

(more…)

Công dân thủ đô là như thế

Công dân thủ đô là như thế

Bùi Tín

Vấn đề «cây tặc» ở thủ đô Hà Nội đang làm xôn xao dự luận trong nước và cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Những quan chức của chính quyền Hà Nội đang lo đối phó với công luận.

Mở đầu năm mới, nhân dân thủ đô đã ở thế chủ động tấn công, chỉ rõ những yếu kém của chính quyền, dồn nhà cầm quyền vào thế chống đỡ bị động, bảo vệ cuộc sống của 6.700 cây trồng lâu năm quý giá, bảo vệ môi trường sống, lá phổi tự nhiên của mình.

Trong vụ «cây tặc» này, chính quyền tự nhận là “của dân, do dân, vì dân” đã lộ rõ bản chất coi thường nhân dân, phi nhân tính của mình. Đó là khi phó Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội tuyên bố «việc chặt cây ở thủ đô không cần hỏi ý kiến của dân”, khi Phó Giám đốc sở Xây dựng giải thích rằng «chỉ đốn hạ những cây bị sâu bệnh hay nguy hiểm cho việc giao thông công cộng», khi Chủ tịch thành phố Nguyễn Thế Thảo phớt lờ không trả lời 21 câu hỏi của các nhà báo thủ đô. Ngay sau đó họ hối hả chặt phăng 2.000 cây cổ thụ, phần lớn không hề bị sâu mọt, mưu toan làm chuyện đã rồi trong thời gian ngắn nhất.

(more…)

Ý KIẾN CHÂN THÀNH CỦA MỘT LƯƠNG DÂN

basam: Ý KIẾN CHÂN THÀNH CỦA MỘT LƯƠNG DÂN

Posted by adminbasam on 29/03/2015

Trần Kỳ Trung

27-03-2015

Trần Kỳ TrungNhững vị lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam luôn nói, phải lắng nghe ý kiến của người dân, tôn trọng dân, ra nghị quyết, tổ chức thực hiện trước hết phải vì dân. Nếu đúng như thế, dân mừng lắm và dân cho ý kiến.  Dưới đây là ý kiến của  của một người dân về đảng.

____

BỐN LÝ DO SUY GIẢM NIỀM TIN

Bùi Công Dụng

Trước sự suy giảm niềm tin vào đảng, giải pháp đầu tiên trong 4 nhóm giải pháp  xây dựng đảng của Nghị quyết Trung ương 4 là phải kiểm điểm phê bình và tự phê  bình trong từng đảng viên (tính từ cấp cao nhất). Điều đó cho thấy nguyên nhân  (lý do) sâu xa suy giảm niềm tin là từ nhận thức chính trị- xã hội của một số  cán bộ đảng viên ở cấp lãnh đạo trung ương còn ở mức độ thấp, điều này được đảng  nhấn mạnh và đặt lên hàng đầu cần phải đấu tranh làm rõ với nhau. Bài viết dưới  đây xuất phát từ tinh thần ấy.

Niềm tin vào đảng của đảng viên suy giảm nhiều so trước đây, có  4 lý do:

1. Đảng chưa coi trọng  luật pháp, chưa coi trọng kỷ cương phép nước

Không đặt luật pháp là tối thượng nên đã để dẫn đến tham nhũng,  lãng phí, suy thoái đạo đức lối sống của cán bộ- đảng viên ngày càng nhiều, càng  phức tạp và diễn ra trên diện rộng. Không coi luật pháp là tối thượng nên đường  hướng giải quyết cũng không quyết liệt. Vị lãnh đạo đảng nào cũng nói nhiều,  cũng tỏ vẻ xót xa nhưng khi bập vào thực tế thì lại cả nể, vuốt ve. Ông Trương  Tấn Sang nói: chống tham nhũng là phải  kiên trì, không lùi bước, không thể không làm, nhưng không thể chỉ một lần, một  sớm một chiều mà giải quyết ngay được… Ông Nguyễn Sinh Hùng cũng nói: “Hôm nay thấy sai một chút chỗ này xử lý,  “cách chức đi, kỷ luật đi”, ngày mai thấy sai chỗ kia, “cách chức đi, kỷ luật  đi”, lấy ai mà làm việc các đồng chí ?” …Cách nói như vậy người dân cho là  rất yếu, rất mông lung mơ hồ, không rõ ràng, không xứng với tầm lãnh đạo của  những người được gọi là miệng người sang có gang có thép.

Dân không chấp nhận kiểu nói này, một kiểu nói không đặt luật  pháp lên trên mà hoàn toàn từ sự tùy tiện, cảm tính. Đáng lẽ các lãnh đạo đảng  phải nói là: kẻ tham nhũng phải bị trừng trị đúng người đúng tội theo luật pháp!  Theo tinh thần đó thì chống tham nhũng là phải làm liền từ lâu lắm rồi, ít nhất là từ sau  vụ Bác Hồ xử Trần Dụ Châu năm 1950 kia, chứ không phải cho đến tận bây giờ hơn  60 năm rồi mà vẫn còn nói là kiên  trì. Đã nói nó là quốc nạn, là đe dọa sự tồn vong của chế độ mà còn vuốt ve  như vậy thì làm sao dân tin vào đảng.

(more…)

Chặt hạ cây xanh- lỗi thẩm mỹ và lỗi chính trị của lãnh đạo Hà Nội

 Phùng Hoài Ngọc 

Bài đã đăng trên VNTB sáng 30/3  với tựa đề “Thảm sát  cây xanh- lỗi thẩm mỹ và lỗi chính trị của lãnh đạo HN”

Me-VNAH-Thu1

ảnh: bà mẹ Thứ ở Quảng Nam với bữa cơm hàng ngày cúng đàn con liệt sĩ. Mẹ là một bà “nhân dân” trong câu thơ: Nhân dân là mác là chông /Là sông là núi nhưng cũng không là gì

Báo chí mấy ngày nay bắt đầu xiết vào việc lãnh đạo HN vi phạm Luật thủ đô do chính họ soạn thảo và trình quốc hội thông qua…Báo chí cũng nêu ra nghi vấn có cơ sở về sự hoành hành của “lợi ích nhóm” và sự tham nhũng…Điều này là chính đáng và cần thiết. Tuy nhiên chúng tôi muốn bàn tới hai lĩnh vực khác. Thẩm mỹchính trị, hai căn nguyên sâu xa dẫn tới việc làm ô nhục của lãnh đạo Hà Nội vừa qua. 

Lãnh đạo Hà Nội chả biết gì về thẩm mỹ 

Ý kiến của Nguyễn Thế Thảo chủ tịch HN gốc kiến trúc sư, của phó CT Nguyễn Quốc Hùng và phó Ban tuyên giáo Phan Đăng Long đều khẳng định chặt hạ cây xanh và trồng mới một loại cây là “chủ trương đúng đắn của thành phố”. Điều này tố cáo trách nhiệm của bí thư Phạm Quang Nghị, bởi ông Nghị không thể không biết “chủ trương của thành phố” chứ ? 

Trong ý kiến giải trình của lãnh đạo đều có ý này “thay thế cây trồng để tạo cảnh quan đồng bộ cho thành phố”. Cảnh quan “đồng bộ” nghĩa là trồng rặt một thứ cây, và theo công bố đó là cây vàng tâm (có điều nó lại là cây mỡ, tuy nhiên đây là tội gian lận, tráo trở, ở đây chưa bàn tới).  Chưa từng nghe ai nói, chưa ai nhìn thấy cây cối ở thủ đô hay thành phố nào phải trồng một thứ cây cho “đồng bộ”. Nghiã là, các cây phải giống nhau, cũng như những ngôi nhà phải giống nhau. Con người cách mạng vô sản theo mục tiêu đào tạo ra đều là “con người xã hội chủ nghĩa” ăn mặc và sinh hoạt, suy nghĩ và hành động cũng “đồng bộ” như một trại lính. Trước đây từng có nhận xét về “chủ nghiã xã hội trại lính”, có lẽ bây giờ thêm một biểu hiện ở cây xanh “đồng bộ” Hà Nội. Từ thời cổ đại, cái đẹp đã được coi là sự đa dạng, phong phú chẳng cần theo một khuôn đúc nào cả, thế giới, cảnh quan, nghệ thuật và con người cũng đều như vậy. Lẽ nào mỹ học Mác- Lê- Mao lại truyền bá áp đặt một cái đẹp “đồng bộ” như quan niệm của kiến trúc sư Nguyễn Thế Thảo và những người đồng phạm ? 

Lỗi chính trị nghiêm trọng bộc lộ bản chất lãnh đạo của Đảng

 Dưới đây nhà thơ Trần Đăng Khoa, phó bí thư đảng ủy Đài VOV phàn nàn về chủ tịch Nguyễn Thế Thảo và bản chất chính trị của sự việc.

 “Và như thế, có thể nói, người cứu lá phổi xanh của Thủ Đô, người cứu bầu khí quyển của Thủ Đô là ba ông Luật Sư. Nếu các ông không có kiến nghị gửi đến Thủ tướng, không làm quyết liệt (luật sư Trần Vũ Hải cùng các luật sư Nguyễn Hà Luân, Lê Văn Luân đã có Thư khẩn cấp đề nghị dừng ngay việc chặt hạ 6.700 cây xanh. Thư gửi tới Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng…- PHN chú) mà cứ để lây nhây cho dân nói, dân phản đối, dân kêu gào, khóc lóc, chửi rủa thì cũng vẫn chỉ như nước đổ lá khoai, kể cả những đại biểu ưu tú nhất của Dân, như giáo sư nổi tiếng thế giới Ngô Bảo Châu, nhà báo tài năng và có tâm đức Trần Đăng Tuấn, kiến trúc sư giàu kinh nghiệm và tâm huyết Hoàng Đạo Kính, hay tôi nữa có lên tiếng thì cũng bằng không. Bởi chúng tôi chỉ là nhân dân.

Nhân dân là mác là chông./ Là sông là núi nhưng cũng không là gì

Vâng, nhân dân là thế đấy. Khi có giặc thì chúng tôi là mác là chông, là sông là biển ngăn giặc, đánh giặc, rồi hy sinh thành hàng vạn, hàng triệu những nấm mồ vô danh ở Điện Biên, ở Thạch Hãn, ở Hoàng Sa, Trường Sa, ở Biển Đông, ở khắp mọi nơi trên đất nước này. Còn khi yên hàn, chúng tôi chẳng là gì cả. Vì thế, có nói gì thì cũng bằng không. Bởi các ông có nghe đâu. Chính ông Phó Trưởng ban Tuyên giáo của các ông nói thẳng tưng trên công luận rằng không cần phải hỏi dân. Và nếu có ý kiến của dân thì cũng chỉ là một ý kiến, (chắc ám chỉ nhà báo Trần Đăng Tuấn người đầu tiên viết thư ngỏ can ngăn chủ tịch Nguyễn Thế Thảo, ông Thảo trả lời, còn ông Long phó Tuyên giáo thì bảo anh Tuấn “chỉ là một người dân”). Ông Phó ban Tuyên giáo, người phát ngôn của các ông còn nói, nếu chính quyền mà cái gì cũng phải hỏi dân, thì còn sinh ra chính quyền làm gì? Ôi chao ôi! Đã đến nỗi như thế thì sao các ông cứ nói “chính quyền của dân, do dân, vì dân”, rồi lại nữa, làm gì cũng phải để “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra”. Nhưng Dân nói còn không nghe thì Dân còn biết và bàn cái nỗi gì.(blog lão khoa)

xem bài :CHẢ LẼ ÔNG CHỦ TỊCH THÀNH PHỐ HÀ NỘI KHÔNG CÓ LỖi GÌ TRONG VỤ CHẶT CÂY.

http://laokhoa.blogtiengviet.net/2015/03/23/ch_l_ong_ch_t_ch_ha_n_i_khong_co_n_i_gi

 Tuy nhiên, lão Khoa khôn lắm, quả như lời nhận xét từ rất lâu của GS.NGND Nguyễn Đăng Mạnh rằng “Khoa là một anh nông dân láu cá”. Khoa phê phán chủ tịch Thảo nhưng vẫn ca ngợi bí thư Nghị và tướng Nguyễn Đức Chung như là thắt một sợi dây an toàn bảo hiểm cho cá nhân mình. “Tôi không nói giới lãnh đạo Hà Nội xấu, trong số họ, có không ít người rất tận tụy, để lại ấn tượng tốt lành trong nhân dân, như lần vi hành bằng xe buyt của Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị để hiểu đời sống thực của nhân dân, đặc biệt là Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung, Giám đốc Công an Hà Nội đã rất nhanh nhạy, có nhiều việc làm tốt đẹp, như một mình tay không vào hang ổ tướng cướp giải cứu con tin, việc lên tiếng minh bạch rõ ràng về nhóm người xấu núp danh Dư luận viên ngăn cản nhân dân tưởng niệm những chiến sĩ anh hùng đã hy sinh trên đảo Gạc Ma, để tránh sự hiểu lầm của nhân dân đối với Đảng, Chính phủ và Nhà nước. Rồi còn nhiều, còn nhiều người nữa…”.

 Nhà thơ Trần Đăng Khoa chỉ dẫn ra hai thí dụ bé tý về ưu điểm của hai lãnh đạo, chả thuyết phục được ai cả. Tuy nhiên cần khen ngợi câu lục bát cực hay của nhà báo VOV đã thoát xác ra khỏi cậu bé thần đồng thơ hồn nhiên nhí nhảnh ngày xưa:

 Nhân dân là mác là chông.

Là sông là núi nhưng cũng không là gì

PHN

 

 

Lần thứ hai liên tiếp, Cây – Người Hà Nội quật khởi!

Ngày 29/3

Lần thứ hai liên tiếp, Cây – Người Hà Nội quật khởi!

“Hà Nội vùng đứng lên,

Hà Nội vùng đứng lên

Sông Hồng réo Hà Nội vùng đứng lên!”

(Sáng tác Nguyễn Đình Thi)

Tâm Don – Phạm Chí Dũng

Cây là người, người cũng là cây

 (VNTB) – Cây là người, người cũng là cây!

Cái chết tức tưởi của hàng ngàn cây xanh cũng là nước mắt uất nghẹn của hàng ngàn con người. Chỉ nửa tháng trước, nhiều người còn ngáng trở tâm trạng bàng quan và đã chọn đứng bên lề, mặc lòng cho dòng nhựa cây trào máu.

Nhưng chỉ trong vòng một tuần lễ, Cây – Người Hà Nội đã xuống đường. Thay cho ánh mắt lạnh lẽo vô hồn, thay cho không khí chán chường vô cảm, giờ đây người Hà Nội đang hành động!

Sáng ngày 29-3, tại khu vực trung tâm thành phố Hà Nội đã diễn ra cuộc biểu tình qui mô lớn của người dân Hà Nội nhằm phản đối chiến dịch triệt hạ 6.700 cây xanh. Ước tính có đến 1.000- 1.500 người dân thuộc mọi lứa tuổi, mọi thành phần và nhiều nhà khoa học, nghệ sĩ đã tham gia biểu tình.

Trước khi tham gia cuộc biểu tình có qui mô lớn này, khoảng 100 bạn trẻ đã tụ họp nhau lại dưới chân tượng đài Lý Thái Tổ để tưởng niệm các nạn nhân trong vu tai nạn lao động sập dàn giáo tại dự án Formosa ở Hà Tĩnh.

(more…)

Phát biểu của bác Được có vài chỗ chưa “được”

Phát biểu của bác Được có vài chỗ chưa “được”

Posted by adminbasam on 29/03/2015

Đồng Phụng Việt

28-03-2015

Khoảng 90.000 công nhân Công ty Pouyuen Việt Nam đã và đang đình công phản đối Luật Bảo hiểm xã hội mới.

Trước, những công nhân đã làm việc được một năm, nếu mất việc hoặc nghỉ việc, không thể tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội thì có quyền nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần.

Nay, Luật Bảo hiểm xã hội mới được Quốc hội thông qua năm ngoái, những công nhân chưa đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm mà mất việc hoặc nghỉ việc sẽ không được hưởng bất kỳ khoản trợ cấp nào. Trợ cấp bảo hiểm xã hội chỉ được phát khi họ đến tuổi nghỉ hưu.

Công nhân không đồng tình nên đình công.

VTC News dẫn lời một công nhân tên là N.T.L cho biết tại sao cô đình công:Tôi làm việc được 9 năm, năm nay tôi được 35 tuổi, tôi muốn nhận bảo hiểm xã hội một lần sau khi thôi việc, chứ tôi không thể chờ đợi đến khi già 55 tuổi, khi đó có biết tôi còn sống nữa hay không.

(more…)

Có dấu hiệu của tội phạm trong vụ triệt hạ cây xanh ở Thủ đô Hà Nội

27/03/2015

Có dấu hiệu của tội phạm trong vụ triệt hạ cây xanh ở Thủ đô Hà Nội

 Cựu chiến binh – Luật sư Cao Xuân Bái

Hà Nội mùa Thu!

Mùa Thu Hà Nội!

Nếu kế hoạch triệt hạ hơn bảy nghìn cây xanh Thủ đô được thực hiện trót lọt thì bắt đầu từ tháng Chín này Hà Nội sẽ không có mùa Thu.

Cuối đường mây trắng bay

(nguyên tác: Cuối trời mây trắng bay)

Lá vàng thưa thớt quá

Phải chăng lá về rừng?

Mùa Thu đi cùng lá?

Chẳng phải “lá về rừng” đâu mà chính các quan chức Hà Nội đã ra lệnh triệt hạ lá ngay tại nơi chôn nhau, cắt rốn của nó.

Hầu hết các cây xanh có tên trong danh sách “tử”, đã gắn bó như máu thịt với người Hà Nội trong cả hai cuộc kháng chiến của dân tộc. Những cành cây vươn ra như những cánh tay vẫy chào đoàn quân chiến thắng trở về. Khó ai có thể quên những ngày Hà Nội oằn mình chống trả những trận mưa bom của máy bay B52 Mỹ. Nhà cửa, công trình kiến trúc nhiều nơi bị san phẳng. Cảnh chết chóc, đau thương bao phủ Khâm Thiên. Những lúc đó chính cây xanh Hà Nội đã lặng lẽ, âm thầm chịu đựng, cố sống, chắt chiu từng nhành lá, ngọn cây để che chở các trận địa pháo, các giàn tên lửa. Cây Hà Nội cũng xung trận, biết chia sẻ, biết yêu thương. Trong niềm tự hào của nhân dân Thủ đô chiến thắng cuộc không kích mười hai ngày đêm của không quân Mỹ, không thể không kể đến “đóng góp” của cây xanh Hà Nội. Uống nước sao chẳng nhớ nguồn?

(more…)

Nói thật cho nhau nghe! (Kỳ 12)

25/03/2015

Nói thật cho nhau nghe! (Kỳ 12)

 Mạnh Trí

16- Câu chuyện thứ 16 : Việt Nam là đất nước của “Lạm phát”!

Mồng 10 Tết Ất Mùi 2015 vừa qua, nhóm biên tập chúng tôi lại về HĐ thăm và dự cuộc giao lưu đầu xuân của nhóm “trí thức làng” ven đô. Rất vui và thêm phần hấp dẫn là ngay sau Tết mà chúng tôi đã có món “mộc tồn” nổi tiếng sản phẩm ẩm thực địa phương để thưởng thức. Chủ đề bàn thảo hôm nay được các bạn ấy đề xuất là “Mở rộng từ điển Tiếng Việt cho từ Lạm Phát”. Rất rôm rả và cũng rất thú vị! Sau đây là phần biên tập của chúng tôi về nội dung tranh thảo của nhóm.

– Theo Từ điển Tiếng Việt (của nhóm cố GS Hoàng Phê) thì từ Lạm Phát được định nghĩa là: “Phát hành tiền giấy vượt quá mức nhu cầu lưu thông hàng hóa, làm cho đồng tiền mất giá”.

Chúng ta đã từng được học môn Kinh tế chính trị học, và đã được nghiên cứu hiện tượng lạm phát của thế giới (tất nhiên chủ yếu là qua sách báo) thì đều hiểu đây là một hiện tượng trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng của nền kinh tế, với đối tượng lạm phát là Tiền. Từ đây, chúng ta cũng đã nhận ra các dấu hiệu cơ bản như: – Bao trùm là một hiện tượng bùng phát bất thường về số lượng (với đồng tiền) – Vượt quá khả năng và điều kiện bảo đảm cho việc tăng phát đó (bảo đảm bằng hàng hóa) – Vượt quá nhu cầu, không xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn (lưu thông hàng hóa) – Vượt quá tầm kiểm soát, quá ngưỡng cho phép (của cơ chế quản lý nền kinh tế) – Hậu quả là giảm sút giá trị của đối tượng tăng phát (mất giá đồng tiền).

Thế mà trong sự phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) hiện nay, chủ yếu là sau đổi mới, chúng ta thấy trong nhiều lĩnh vực khác cũng có những hiện tượng tương tự, tức là cũng có những biểu hiện, những dấu hiệu bản chất như trên (nếu không để ý đến sự khác nhau về đối tượng). Và người Việt ta, không ai bảo ai, lập tức mở rộng khái niệm “Lạm phát” cho toàn bộ đời sồng XH. Sự mở rộng này đã lấy các dấu hiệu trên làm tiêu chí nhận dạng đối với hiện tượng “Lạm phát” khác lĩnh vực Tiền.

– Đúng, rất đúng đấy. Này nhé, “lạm phát” đại học, “lạm phát” tướng lĩnh, “lạm phát” học vị, học hàm (ThS, TS, PGS, GS), “lạm phát” các danh hiệu nhà nước (anh hùng, ND, ƯT, …), “lạm phát” khen thưởng, “lạm phát” tệ nạn xã hội , “lạm phát” bắt bớ, tù đày, “lạm phát” phục hồi lễ hội, “lạm phát” văn hóa “tâm linh”, “lạm phát” các cuộc thi, các giải thưởng, “lạm phát” các chương trình Truyền hình trực tiếp hoành tráng, “lạm phát” các hoạt động văn hóa ngoại lai, “lạm phát” bia rượu, “lạm phát” gian dối, lừa đảo, “lạm phát” các lời răn dạy của lãnh đạo, “lạm phát” nghị quyết, chỉ thị, luật lệ, “lạm phát” nghèo đói, “lạm phát” bất công, “lạm phát” tham nhũng, “lạm phát” quan chức hư hỏng, “lạm phát” gái Việt lấy chồng ngoại, “lạm phát” lao động xuất khẩu, v.v… & v.v…

e–>
<!–mor

– Không biết có nước nào loạn xị “lạm phát” như nước mình không nhỉ? Đấy là điều bình thường, ở đâu chả vậy, hay là nỗi lo buồn, là thách thức, là điều đáng xấu hổ chỉ riêng cho Việt Nam chúng ta?

– Chúng ta thử phân tích, lý giải một vài cái sự “lạm phát” để xem hình hài chúng nó ra sao, chúng nó sinh ra từ đâu, với mục đích gì, chúng nó có hại như thế nào, và làm sao để chấm dứt?…

1. Chẳng hạn, “lạm phát” đại học (ĐH, – ở đây là bậc ĐH, tức là bao gồm tất cả các trường ĐH và Cao đẳng – CĐ) là lĩnh vực liên quan đến con cháu chúng ta, mà xem ra số đông các gia đình đều đang quan tâm. Hiện nay cả nước có 412 các trường ĐH & CĐ, trong đó khối ngoài công lập là 62, khối trường quân đội và công an là 35, khối trường ĐH công lập cấp tỉnh là 24 (Chưa kể đến khối CĐ Nghề mới phát triển). Ngoài các chỉ tiêu đào tạo chính quy tập trung rất lớn, lại còn các chỉ tiêu đào tạo tại chức cũng không hề ít, với đa dạng và rối rắm các loại hình, các dạng học, các kiểu học: từ xa, liên kết, liên thông, văn bằng 2,…

– Về mặt số lượng, 412 trường với hơn 90 triệu dân thì không phải là nhiều, nếu so với Mỹ, Trung Quốc, Singapo,… Nhưng phải gọi đúng là “lạm phát” ĐH, vì đó là một sự bùng nổ bất thường về số lượng trường, nếu ta đối chiếu với nhu cầu, với điều kiện, với khả năng kiểm soát, quản lý, và nhìn lại sự “mất giá” nặng nề đã xảy ra cho ĐH Việt Nam.

– Con số 412 trường, với hàng mấy trăm chuyên ngành đào tạo, không phản ánh đúng nhu cầu thật về nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam. Đúng vậy, đã nhiều năm nay rồi, rất nhiều trường ĐH, CĐ có tuyển được đủ chỉ tiêu đâu, thậm chí không tuyển được đầu vào, rất nhiều chuyên ngành coi như đóng cửa vì không có người học, trong đó đặc biệt khó khăn là các trường ngoài công lập, sau đó là khối các trường của tỉnh.

– Đã nhiều năm nay rồi, có rất nhiều sinh viên (SV) ra trường mà không xin được việc làm, chẳng hạn năm 2014 vừa rồi con số đó đã đến 26,5%. Rất nhiều SV ra trường không kiếm được việc làm đành phải đầu quân vào đội ngũ “cửu vạn”, mà thực chất là thất nghiệp! Và cũng là số liệu năm 2014: cả nước có đến 72 ngàn cử nhân và cả Thạc sỹ đang thất nghiệp!

– Như vậy đúng là việc mở ra nhiều trường ĐH, CĐ với vô cùng nhiều chuyên ngành không phải xuất phát từ nhu cầu đích thực về nguồn nhân lực. Chúng ta còn nhớ vào thời điểm giữa thập niên 2000, việc mở thêm các trường tăng nhanh đến chóng mặt, chẳng hạn 2 năm 2006-2007 tăng thêm đến 97 trường (có 70 ĐH)! Trong khi nhu cầu các loại nhân lực khác vẫn rất thiếu (ví dụ công nhân kỹ thuậi), nhưng nhà nước (cả TW và tỉnh) cứ nỗ lực hết sức để mở ĐH, và con em nhân dân thì cứ đổ xô thi vào ĐH!

– Trong khi đó thì các điều kiện cơ bản, rất cơ bản, để mở trường và bảo đảm trường hoạt động có chất lượng và hiệu quả, thìvô cùng bất cập. Trước hết phải nói đến đội ngũ giảng viên (GV), vừa thiếu lại vừa yếu thật sự. Trong một báo cáo của Bộ GD&ĐT đã nêu rõ về số lượng GV mới đáp ứng được 60% nhu cầu, tỷ lệ SV/GV còn cao so với chuẩn thế giới (VN 28, TG 15 – 20, Mỹ dưới 10). Nhưng có lẽ gay gắt nhất là chất lượng quá yếu về trình độ chuyên môn, khoa học, chưa vượt qua được cái ngưỡng nợ “cơm chấm cơm” – chỉ có cử nhân dạy ĐH! Nhiều trường ĐH (cả mới mở và trường cũ) vẫn không có GV trình độ Tiến sĩ (TS) mà chỉ lèo tèo vài ba Thạc sĩ (ThS) mới, thậm chí toàn cử nhân! Tỷ lệ bình quân TS/GV của ĐH Việt Nam còn quá thấp (10,4%) so với thế giới (ví dụ ở phương Tây là 70%). Chả hiểu mấy năm gần đây, tình hình có chuyển biến gì đáng kể không, nhất là sau kế hoạch đào tạo 20.000 TS và tăng tốc đào tạo ThS? Phải kể thêm, số các PGS, GS đang công tác ở bậc ĐH còn ít so với số lượng được phong hàm (chỉ có 4155/ 11.097 = 37,4%), lại còn bị “pha loãng” do khá nhiều vị chỉ làm quản lý và các công việc khác không phải là giảng dạy và nghiên cứu khoa học,…! Số liệu năm 2014 còn cho biết thêm là ở các trường ĐH, CĐ, tỷ lệ GS,PGS/GV chỉ chiếm 5,6% ( 4155/ 74 630), như “muối bỏ biển” mà thôi!

Thậm chí, có trường (ngoài công lập) sau khi được phép mở và thông báo tuyển sinh thì mới tá hỏa ra là chưa có một GV cơ hữu nào, mà toàn đi thuê, đi mượn!

Đội ngũ GV chỉ có như vậy thì “dạy còn chưa nổi, chưa xong”, chứ nói chi đến nghiên cứu khoa học – một chức năng đặc trưng và không thể thiếu của bậc ĐH!

– Điều kiện tiếp theo và cũng rất quan trọng để phát triển ĐH là cơ sở vật chất. Hiện nay có đến hàng trăm trường được đánh giá là thiếu và yếu về cơ sở vật chất, thiết bị dạy và học, từ phòng ốc, lớp học đến thư viện, phòng thí nghiệm, phòng thực hành,… và ngay cả đất để xây trường.

Chẳng hạn, nhiều trường không có thư viện, dù là thư viện truyền thống, 119 trường không có thư viện điện tử, chỉ có 39% số thư viện hiện có đáp ứng đúng tiêu chuẩn, và tính bình quân thì phải đến 20 SV mới có 1 chỗ ngồi ở thư viện. Hay là về phòng thí nghiệm, phòng thực hành thì mới đáp ứng được 40% nhu cầu, trong đó dưới 25% là có thiết bị tốt, và chỉ 15% tạm phục vụ được yêu cầu nghiên cứu khoa học của thầy và trò.

– Còn về quỹ đất của các trường hiện đang thiếu rất nhiều so với yêu cầu xây dựng nhà. Tại thời điểm này vẫn còn nhiều trường (ngoài công lập) chưa có đất để xây trường, phải đi thuê để có chỗ đặt lớp, văn phòng, chứ chưa nói đến phòng thí nghiệm, thư viện, sân tập,… Các trường khác vẫn còn thiếu diện tích để xây dựng tiếp, bổ sung. Ví dụ, nếu tính bình quân số m2 đất/SV, thì ở ĐH Luật Hà Nội mới có 0,7 m2, ĐH Xây dựng HN mới có 0,84 m2, ĐH Kinh tế Tp HCM mới có 0,54 m2,… Và để đạt được bình quân chung 55 m2/SV (tiêu chuẩn qui định) thì cả nước còn thiếu đến 12.000 ha cho quỹ đất của các trường ĐH, CĐ. … … …

– Với những điều kiện bất cập như vậy thì chất lượng (đào tạo và nghiên cứu khoa học) của các trường ĐH Việt Nam đã đạt được đến mức nào? Trước hết phải đối chiếu với đòi hỏi của thị trường nhân lực trong nước. Không thể nói khác được, không thể tự sướng, không thể tự đánh bóng tô hồng sai sự thật, vì thực tiễn luôn phơi bày công khai, ai mà chẳng thấy. Nhìn vào chất lượng SV tốt nghiệp đi tìm việc làm, nếu có đôi chút châm chước thì ta nói: chỉ ở mức Trung Bình, còn nếu nghiêm túc hơn thì phải nói: Thấp, Dưới Trung Bình! Bởi cứ như các thông tin từ các nhà tuyển dụng thì có đến 50% SV tốt nghiệp phải đào tạo lại. Các em còn có rất nhiều lỗ hổng, nhược điểm rất cơ bản, như: nặng về nắm lý thuyết, yếu về kỹ năng thực hành, thiếu tính sáng tạo, yếu về khả năng giao tiếp, yếu khả năng làm việc độc lập hoặc theo nhóm, yếu về ngoại ngữ, và còn yếu cả tin học! Con số SV tốt nghiệp không tìm được việc làm tương đối cao cũng phải nhìn từ lý do này nữa. Đó là chưa kể đến chất lượng nghiên cứu khoa học cùng các sản phẩm sản sinh ra từ đây trên thị trường khoa học và công nghệ trong và ngoài nước, thì quả là thấp kém, không đáng nói ra!

– Còn nếu so với thế giới thì hơi khó nói đẹp được. Không nước nào công khai tuyên bố, nhưng hình như rất ít nước công nhận trình độ đào tạo ĐH của ta là đúng chuẩn, và càng không đánh giá cao trình độ ĐH của ta. Cứ theo như công bố xếp hạng ĐH từ một tổ chức Văn hóa – Khoa học nước ngoài thì: Việt Nam chỉ có duy nhất ĐHQG Hà Nội đã từng được lọt vào tốp 1.000 trường ĐH tốt nhất thế giới. Và gần đây, một công bố khác trong xếp hạng ĐH của khu vực Đông Nam Á thì Việt Nam cũng mới chỉ có 7 ĐH được lọt vào tốp 100 trường ĐH tốt nhất khu vực (ĐHQG Hà Nội, ĐHBK Hà Nội, ĐHBK TP HCM, ĐH Cần Thơ, ĐH Nông Lâm TP HCM, ĐH Kinh tế TP HCM, và ĐH Lạc Hồng)! Và nhìn tổng thể thì vẫn là một bức tranh buồn!

– Tôi xin nêu một ý kiến hơi trái chiều với những đánh giá trên. Đã có chuyên gia GD ĐH nói rằng: ĐH của chúng ta đâu chỉ là để đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao, mà còn có mục tiêu Dân trí nữa chứ, các trường ĐH phải phân ra nhiều tầng, nhiều loại. Do đó số lượng ĐH (& CĐ) như vậy đâu phải là nhiều. Hàng năm mới chỉ có khoảng 40% học sinh tốt nghiệp PTTH được vào học ĐH, vẫn còn hàng mấy trăm ngàn các em lông bông, chờ năm sau lại thi. Thế giới đã có nhiều nước chuyển sang ĐH đại chúng, chứ không bó hẹp ở mức ĐH tinh hoa như ban đầu nữa. Các loại hình ĐH cộng đồng ở nhiều nước, mà tôi đã được dịp tham quan, chính nhằm đáp ứng mục tiêu Dân trí của nền GD ĐH đại chúng đấy. Vậy là ta chưa đủ cơ sở để nói Việt Nam đang “lạm phát” ĐH!

– Ý kiến trên rất đáng để chúng ta nghiên cứu, nhưng có lẽ đó là vấn đề khác rồi: Xác định lại mục tiêu của GDĐH Việt Nam. Vấn đề này sẽ được bàn thảo vào một dịp khác, về chủ đề Triết lý GD Việt Nam, Cách mạng (đổi mới, cải cách) GD Việt Nam. Còn bây giờ chúng ta cứ tranh luận tiếp theo hướng cũ, vẫn coi mục tiêu của GD ĐH Việt Nam là nguồn nhân lực chất lượng cao, đúng như Nhà nước đã xác định trên “giấy trắng mực đen” rồi.

– Mà cho dù là có thêm mục tiêu Dân trí đi nữa, thì vẫn không có thứ ĐH nào lại úi xùi, lèm nhèm, nhếch nhác, “không ra trường, không ra lớp, không ra thầy, không ra trò” như nhiều trường ĐH ở ta hiện nay. Cho nên vẫn cứ là “lạm phát” ĐH!

– Vậy thì Việt Nam “lạm phát” ĐH để làm gì? Ai chủ trương? Ngay cả người dân thường cũng đã nhận ra điều này, và đã kêu cứu nhiều lần rồi, mà sao người ta không chịu thay đổi?

– Nói vui thì “Bắc thang lên hỏi ông Trời”! Nhưng hãy cứ tạm gác lại băn khoăn này đã, lát nữa chúng ta sẽ quay lại vấn đề này.

2. Một cái sự “Lạm phát” tiếp nữa, cũng rất nóng trên dư luận, đó là “Lạm phát” tướng lĩnh. Đây cũng là vấn đề nhạy cảm, đụng chạm đến nhiều quan chức chóp bu, đụng chạm đến cả thể chế chính trị hiện hành nữa. Chả thế mà đã có sự đe nẹt, thậm chí là ngăn chặn, trừng phạt đối với những tờ báo “lề phải” dám nói sự thật (báo Người cao tuổilà một bị can điển hình).

– Chúng ta đang thực thi quyền tự do ngôn luận theo Hiến pháp một cách đàng hoàng đấy chứ. Bằng tư duy khoa học, chúng ta đang tìm cách lý giải các vấn đề của thực tiễn, mà các căn cứ, các chứng cứ đều đã hiện diện đầy đủ và rất phong phú trên internet cả. Chúng ta đâu có xuyên tạc, bịa đặt mà không dám lên tiếng? Chúng ta không nói thì dân cũng đã biết hết các thông tin, chỉ có sự đánh giá là còn khác nhau nên cần trao đổi.

– Tôi xin cung cấp vài số liệu mà tôi có được nhờ xem mạng internet và cũng moi thêm được ở thằng cháu đang ở cấp hàm “chuẩn tướng” (Đại tá chờ lên Thiếu tướng) để các bạn có căn cứ mà bàn thảo. Số tướng đang tại ngũ hiện nay của quân đội VN là 435: 1 Đại tướng, 7 Thượng tướng, 62 Trung tướng và 365 Thiếu tướng (Số tướng đã mất và nghỉ hưu là 985: 11 Đại tướng, 34 Thượng tướng, 249 Trung tướng và 691 Thiếu tướng). Nên nhớ là năm 1975 chúng ta mới có hơn 30 tướng của quân đội. Còn số tướng của Công an thì tôi biết không được chi tiết: đang tại chức có 100 tướng: 1 Đại tướng, 5 Thượng tướng, 15 Trung tướng, và 79 Thiếu tướng, và đang có xu hướng tăng nhanh, đòi tăng nhiều hơn.

– Ta cứ hãy phân tích kỹ vấn đề đối với tướng quân đội, vì hai bên Công an và Quân đội đều bị chi phối bởi những luật và lệ gần như nhau cả thôi mà. Trước hết, tôi thấy sự tăng số tướng QĐ Việt Nam là không bình thường : nhanh quá và nhiều quá, so với số quân, so với số dân, so với nhiệm vụ quốc phòng, và so tương quan với các nước khác.

Qua 2 cuộc kháng chiến 30 năm, đến năm 1975 mà ta mới chỉ có 30 tướng các cấp hàm. Thế mà sau 40 năm hòa bình(1975-2015), số tướng tại ngũ đã là 435 (gấp hơn 14 lần). Với số tướng này chỉ đảm nhiệm chỉ huy quân số thường trực khoảng 455 ngàn người, bình quân 1046 quân/1 tướng, chưa kể dưới trướng mỗi vị tướng này còn cơ man nào là tá, là úy ?! Ta thử so với Trung Quốc: Với 1,3 tỷ dân, quân đội Trung Quốc có 2,3 triệu quân thường trực, mà họ chỉ có 191 tướng. Chỉ cần so như vậy thôi cũng đủ thấy Việt Nam “lạm phát” quá đáng các tướng lĩnh! Một sự lãng phí, một sự phô trương, không có ý nghĩa thực tiễn đối với sự trưởng thành của quân đội, đối với nhiệm vụ quốc phòng hiện nay!

– Nhiệm vụ quốc phòng hiện nay đâu có cần đến số tướng lĩnh nhiều như vậy, phong nhiều tướng chả để làm gì? Ngoài tướng cầm quân, lại còn các loại tướng khác nữa chứ: tướng văn phòng, tướng y nghiệp, tướng làm báo, tướng làm văn nghệ, tướng làm kinh tế,.., và cũng không phải chỉ vài ba vị đâu! Không biết quân đội các nước khác có vậy không nhỉ?

– Lương và các chế độ ưu đãi của tướng lĩnh cao ngất đến đâu, lấy từ nguồn nào, liệu tiền đóng thuế của dân có chịu nổi không, hay lại phải đi vay để nuôi tướng và nuôi quân?

– Quân đội có làm kinh tế mà, nghe nói làm ăn được lắm, chắc là cũng gánh đỡ cho ngân sách quốc gia được khá nhiều đấy. Nhưng chuyện này ai mà biết rõ được, vì là vùng cấm mà, nên ta đừng bàn. Hãy trở lại mạch ý đang bàn dở của chúng ta!

– Như vậy là không phải do yêu cầu chỉ huy quân trong các nhiệm vụ quốc phòng mà phải cần tăng nhanh và nhiều tướng đến thế đâu.

– Chính vì tăng nhanh và nhiều nên chất lượng tướng Việt Nam hiện nay là thấp, rất thấp, tức là “mất giá” so với trước, và cách xa đòi hỏi của hiện tại. Có người dân đã nhận xét tướng ngày nay không đạt đúng tiêu chuẩn đức và tài, không có công trạng xứng với cấp hàm! Dân chỉ cần nhìn vào lời họ nói, bài vở họ viết, và nhất là việc họ làm là có thể thấy được cái Tâm và cái Tầm của họ thôi. Hình như mạng xã hội đã từng sờ đến gáy của nhiều vị tướng, kể cả các đại tướng Thanh, Quang. Thực tế là ngày nay dân không kính trọng và tin yêu tướng như ngày trước, mà rất coi thường vì nhiều quá và tầm thường quá!

– Nhiều chuyện liên quan đến tướng lĩnh Việt Nam (nhiều lắm đấy), cả tướng Quân đội, cả tướng Công an, ta sẽ bàn sau, nhưng đến đây thì đã có thể kết luận : Việt Nam “lạm phát” tướng lĩnh!

– Khoan đã nào, chúng ta phải đặt ra câu hỏi để lát nữa mới bàn được chứ : Ai chủ trương “lạm phát” tướng? Và ẩn sau chủ trương đó là cái gì, nếu không phải là một thủ đoạn chính trị? Không có chủ trương thì làm sao tạo ra được “thị trường Sao và Vạch”, tạo ra cơ hội kiếm chác cho loại “Cò cao cấp”, như báo Người cao tuổi đã dám săm soi, và liền bị bịt mồm, bị hạ đổ!

3. Thôi được, chúng ta ghi nhận đề xuất này, rất trúng đấy. Nhưng bây giờ ta hãy chuyển sang cái “trò ảo thuật” thứ ba: “lạm phát” học vị, học hàm, mà có lẽ chỉ cần nhìn đến bộ phận đỉnh cao (TS, PGS, GS) là cũng đủ thấy rõ. Đương nhiên chuyện “lạm phát” này có liên quan đến chuyện “lạm phát” ĐH đã bàn ở trên.

– Sau đợt phong học hàm GS, PGS năm 2014, tôi có đọc được ý kiến của GS Trần Văn Nhung, Tổng thư ký Hội đồng chức danh GS nhà nước, nói đại ý rằng: Làm gì có chuyện “lạm phát” GS, PGS, như ai đó đã góp ý? Thấy ý kiến hơi lạ, tôi liền vào mạng để tìm hiểu thêm, đồng thời cũng tranh thủ gặp một số nhân vật “trong cuộc” để kiểm chứng.

– Đúng tắp phải không nào, té ra chính ông Nhung “Lạy ông tôi ở bụi này” và phải mang tội “Chỉ đường cho hươu chạy”, “Vạch áo cho người xem lưng”! Vì ông ấy nói ra nên mới có thêm nhiều người tò mò, muốn biết sự thật. Không phải chỉ mình anh sục tìm thông tin đâu nhé, hầu như tất cả “dân có chữ” như chúng ta, đều có phản ứng tương tự. Vừa buồn, vừa tức, vừa xấu hổ cho cái xã hội đương đại này ở Việt Nam!

– Như trên mạng internet đã đăng tải thì tính đến cuối năm 2014 cả nước đã có 11.097 nhà giáo được phong hàm GS, PGS, trong đó có 1.628 GS và 9.469 PGS. Trong tổng số này chỉ có 4.155 vị giảng dạy ở ĐH, CĐ, tức là chỉ có 37,4%, số còn lại đông hơn thì làm quan chức, làm quản lý ở các ngành, các cấp không liên quan đến giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Con số 4.155 GS, PGS giảng dạy so với tổng số GV bậc ĐH quả là quá ít (4 155/ 74 630 = 5,56%), do đó tác động thúc đẩy chất lượng ĐH (giảng dạy và nghiên cứu khoa học) là rất hạn chế !

– Nếu so với số dân thì ở Việt Nam cứ gần 1 vạn dân (0,8 vạn) mới có 1 GS, PGS. Nếu so với số SV (gần 2 triệu) thì ở VN phải khoảng 480 SV mói có 1 GS, PGS giảng dạy (là tính bình quân, chứ SV làm gì được học PGS, GS!). So với thế giới thì ta đang thua xa, ví dụ ở Đức thì hai con số trên là 3 GS/1 vạn dân, và 59 SV/1 GS (ở Đức và nhiều nước không có PGS).

– Như vậy là ở Việt Nam đang rất thiếu GS (và PGS), đang rất cần có thêm nhiều nhà giáo có trình độ đó, để chủ yếu là cung cấp cho các trường ĐH, CĐ, chứ không phải để làm quan! Do đó con số TS, PGS, GS như hiện nay đã có là nhiều (hình như số này của Việt Nam nhiều nhất Đông Nam Á thì phải ?), và phải gọi là “lạm phát” vì không xuất phát từ nhu cầu đích thực của nền GD ĐH.

– Dư luận nói Việt Nam “lạm phát” TS, PGS, GS chủ yếu là vì nó không phục vụ cho nhu cầu phát triển và nâng cao chất lượng bậc ĐH (như ý kiến trên), và chất lượng thấp, không đúng chuẩn. Này nhé, với học vi TS, dù ta đang rất thiếu so với nhu cầu ở bậc ĐH (mới chiếm 10,4% số GV), nhưng lại cho đào tạo ồ ạt, nhất là số đông lại đào tạo trong nước bằng hình thức tập trung trá hình, tức cũng là tại chức. Hơn nữa lại phải dựa trên cái nền ĐH yếu kém như trên đã nói rồi đấy, cái nền ĐH này đã đẻ ra vô tội vạ các ông bà cử nhân và tiếp lên là các vị ThS rất không đáng tin cậy về trình độ! Do đó chất lượng TS trong nước thực chất là thấp, lem nhem, thua PTS ngày trước là cái chắc. Trong số TS mới thì có lẽ đáng điểm mặt về trình độ là với diện học ở nước ngoài về mà thôi (nhưng họ lại ít trở về) !

– Với các học hàm PGS, GS được phong mấy đợt gần đây đều có vấn đề về chất lượng, về trình độ chuẩn, rất không đáng tin cậy, và càng không dám lên mặt tự hào về sự giỏi giang của người Việt! Có người đã dám nhận xét là bát nháo, phong lấy được, chạy theo số lượng. Họ còn dám khẳng định là ở đây cũng đã “ngửi thấy mùi thị trường”, giống như thị trường “sao và vạch” bên tướng lĩnh! Trước hết phải thấy ngay là đa phần các học hàm mới phong đều dựa trên cái nền TS trong nước, học tại chức, thì có “bột” đâu mà “gột nên hồ” được kia chứ ? Và nếu đọc lại các tiêu chí về chuyên môn, và xem xét lại cách thức tuyển, chọn, xét ở các cấp Hội đồng trong thực tiễn triển khai, thì không thể tin là chuẩn xác được ! Chỉ xin hỏi các vị: lấy đâu ra số giờ dạy, số luận văn ThS, số luận án TS, số bài báo khoa học đăng tải ở tạp chí chuyên ngành có uy tín của nước ngoài,… mà các vị đích thực làm được, không ngụy tạo, không nhờ vả, không chạy chọt, nếu các vị đang làm quan chức quản lý các ngành, khi công việc sự vụ hàng ngày của các vị đã luôn đầy ắp rồi, đến mức “nghẹt thở”, không còn thì giờ chăm sóc gia đình, như chính vợ con các vị thường phàn nàn với hàng xóm, bạn bè? Còn các vị đang giảng dạy trên lớp của ĐH thì có hơi khác, cơ hội để làm thật (dạy thật, hướng dẫn thật, nghiên cứu thật, viết báo thật) luôn có ngay bên cạnh, nhưng vấn đề ở đây lại là chất lượng có thật không, đánh giá có nghiêm túc và chặt chẽ không, có châm chước không, và nhìn tổng thể lại thì có đáng tầm GS (PGS) hay không? Dù ở Việt Nam hay ở nước ngoài thì đã là hàm GS (PGS) thì phải là dạng trí tuệ thông thái. Ngu ngơ, ngô nghê, chỉ biết chung chung và nông choẹt thì sao gọi là thông thái? Và đã là hàm GS (PGS) thì ngoài độ uyên thâm, sâu sắc về chuyên ngành hẹp của mình, nhất định phải có một cái nền (“phông”) chung tối thiểu về tri thức khoa học phổ thông, về phương pháp tiếp cận khoa học, về tri thức xã hội. Không thể có loại GS (PGS) chỉ “giỏi” về chuyên môn hẹp mà lại dốt về những tri thức chung, bởi suy cho cùng thì chính những tri thức chung mới tạo ra cái nền tảng ban đầu vững chắc cho tri thức chuyên ngành.

– Lô gích của vấn đề đã rất rõ ràng: chất lượng cử nhân quá non yếu thì làm sao đào tạo được ThS ra hồn, không có ThS chuẩn thì làm sao có được TS giỏi, không có TS giỏi thì không thể có các GS (PGS) thực chất. Chỉ có dùng phép “biến hóa thần thông” của ma quỷ thì mới có thể biến các TS dỏm, giả, “ốm yếu”, thành các nhà “thông thái” mang danh GS (PGS) được mà thôi !

– Nếu các GS (PGS) của ta là giỏi thật thì sao sự tác động từ trí tuệ uyên bác của họ đối với nền khoa học nói riêng và đối với sự phát triển KT-XH của đất nước nói chung lại yếu đến thế, mờ nhạt đến thế! Đóng góp của họ đối với khoa học thế giới thì càng rõ là không đáng kể! Chúng ta cứ vào mạng mà xem các thống kê về các bài báo khoa học có giá tri, các công trình khoa học được xếp hạng, thì mới thấy xấu hổ cho Việt Nam, vì đóng góp quá khiêm nhường! Người ta đã tính ra cứ 11 TS Việt Nam mới có 1 bài báo khoa học, trong khi ở các nước khác thì chỉ 1 TS đã có từ chục bài trở lên!

– Tôi đã đọc lướt danh sách các vị GS và PGS được phong mấy đợt gần đây. Đa số các vị tôi không quen biết, nhưng có đến vài ba chục vị thì tôi biết, thậm chí biết rất rõ quá trình học tập từ khi họ còn học ở bậc phổ thông. Tôi đã từng nói chuyện đời thường với nhiều vị, và cũng từng đàm đạo về học thuật nữa, cả lúc họ mới có học vị TS và cả khi họ đã có hàm GS, PGS. Tôi thật sự ngỡ ngàng, vì thấy có quá nhiều sự tầm thường về trí tuệ ở những người được mang danh là hiền tài, là nguyên khí quốc gia, được coi là thông thái nhất thiên hạ. Sự hiểu biết của họ, ngay trong chính chuyên ngành của mình, vừa nông, vừa thiếu cập nhật, vừa không chuẩn xác. Chả hiểu trong các công trình khoa học của họ thì độ uyên bác đến đâu? Tôi càng thấy lạ vì trong đó có không ít trường hợp như là có dấu hiệu đặc biệt của một sự vượt trội đột biến về mức độ thông tuệ (như kiểu “thần đồng”). Tôi biết rất rõ khi các vị ấy học phổ thông, học ĐH, rồi học nghiên cứu sinh đều chỉ ở mức rất tầm thường, “cho đỗ thì được đỗ, đánh trượt cũng không oan”! Với trí tuệ ấy, mà sao quay đi ngoảnh lại chỉ hơn chục năm mà các vị ấy đã có hàm PGS, rồi GS ?! Trên đời này, chỉ có rất ít những trí tuệ trác việt mới làm nên được sự đột biến như vậy, người bình thường thì không thể! Soi đuốc mà tìm trên khắp thế giới chắc cũng chỉ thấy được vài người! Vậy thì nước ta phải thông báo ngay cho Liên hiệp quốc biết để vinh danh và phát huy chứ!

– Lại còn chuyện này nữa các bạn ạ, tôi đọc trên mạng mới biết trên thế giới không có cái gọi là “khoa học an ninh” tách bạch riêng thành một chuyên ngành hẳn hoi (như Toán học, Sinh học, Tin học,…). Ở các nước chỉ có chuyện vận dụng các khoa học chuyên ngành vào hoạt động an ninh (như an ninh mạng, an ninh hàng không, an ninh lương thực,..), giống như các lĩnh vực khác thôi. Thế mà ở Việt Nam ta có đến mấy chục vị PGS, GS đi theo chuyên ngành “Khoa học an ninh”. Phải chăng là một sự bày đặt cho nó có vẻ oai, hoành tráng? Và cũng liên quan đến các GS, PGS đi theo “khoa học an ninh”, tôi thấy bên cạnh hầu hết các vị đều là nhà giáo dạy ở các trường của ngành Công an, thì trong đó lại có vài vị là Giám đốc Công an tỉnh, tức không phải nhà giáo, và quá bận với hàng núi công việc sự vụ hàng ngày rồi thì đâu còn cơ hội, còn thời gian để làm khoa học?! Đúng là chuyện hài hước của giới khoa học Việt Nam.

– Phải nói ngay đến cái vòng luẩn quẩn của Giáo dục và Khoa học Việt Nam: Cử nhân dốt – ThS tồi – TS dởm – GS, PGS non yếu – TS tồi – ThS dởm – Cử nhân dốt! Chả hiểu các nhà quản lý vĩ mô ngồi ở bàn giấy trên cao có nhìn rõ cái “Đèn cù” này không nhỉ, hay chỉ nghĩ đến các bài ca “tự sướng” để rung đùi vênh vang với thiên hạ, để khoe khoang những cái không thực chất, không thực có, nhằm tự “đánh bóng” thể chế và ru ngủ cộng đồng dân cư!

– Ông Nhung cố chứng minh là Việt Nam không “lạm phát” GS, PGS với cái lý là số lượng đâu có nhiều so với thé giới và so với nhu cầu. Nhưng vấn đề ở đây lại là chất lượng thấp và “sai địa chỉ”, nên vẫn đúng là đích danh “lạm phát” rồi, không cãi được đâu!

4. Ngay cả đến chuyện rất quan trọng mà lâu nay mọi người vẫn coi là chuyện nghiêm túc nhất, thậm chí là thiêng liêng, đó là việc phong tặng các danh hiệu Nhà nước, trong đó đỉnh cao nhất là Anh hùng, mà người ta cũng đã dám toan tính “lạm phát”, và họ đã làm được! Sao Anh hùng nhiều thế mà khí thế của đất nước lại chả anh hùng chút nào, lại đang trở nên hèn yếu, khiếp nhược hơn mọi thời kỳ lịch sử đã qua? Sao lại có Anh hùng gian dối, man trá? Sao Thầy thuốc ưu tú (TT ƯT), Thầy thuốc nhân dân (TTND) nhiều thế mà ngành Y tế lại bí bét, tha hóa đến mức tệ hại? Sao Nhà giáo ưu tú (NGƯT), Nhà giáo nhân dân (NGND) nhiều thế mà ngành Giáo dục mãi vẫn lạc hậu, chất lượng giáo dục càng ngày càng giảm sút, khó mà vượt lên? Sao có quá nhiều đơn vị và cá nhân được đón nhận các loại Huân chương cao nhất, nhì mà chả thấy đất nước khởi sắc lên thêm chút nào?…

– Và nhìn vào diện mạo thật của các Anh hùng, các TTƯT, TTND, NGƯT, NGND,… mới phong vài ba chục năm gần đây, thì làm sao mà tin được ở bản lĩnh của các vị trước các thách thức của tình thế đất nước? Đáng nhẽ ở đó phải là những nhân cách lớn để cộng đồng ngưỡng vọng, để lớp trẻ tìm thấy lý tưởng, tìm thấy niềm tin và hy vọng. Thì ở đây mọi người lại chỉ có những cảm xúc bình thường, tầm thường, không để lại bất cứ một dấu ấn nào! Chính vì “lạm phát” nên các Danh hiệu cao quý ấy đang trở thành Danh hão, không thực chất và không có tác dụng tích cực, như mong muốn của người dân! Tất nhiên trong đó vẫn có những tấm gương đáng trân trọng, đáng học, nhưng thiểu số thì làm được gì?

– Ai mà chả biết Danh hiệu là do con người đặt ra, tiêu chuẩn để công nhận Danh hiệu cũng do con người đặt ra và do con người vận dụng. Mà con người ở đây chắc không phải là Dân rồi. Thế thì người ta muốn vận dụng thế nào mà chả được. Tôi phải nói thẳng thắn điều này, vì đó là sự thật của mọi sự bình chọn hiện nay ở nước ta. Sau đợt phong tặng NGND, NGƯT của ngành GD&ĐT năm 2014, tôi có đọc được một bài viết trên mạng xã hội dưới tiêu đề “Thế nào là tài năng sư phạm?” Trong bài báo ấy, có một ý liên quan đến vấn đề chúng ta đang bàn về “lạm phát” Danh hiệu cao quý, đại ý: Có nhiều trường hợp không xứng đáng, và có tình trạng lệch đối tượng (cán bộ quản lý quá nhiều) là do không coi “Tài năng sư phạm” là tiêu chí cốt lõi nhất, hoặc là cố tình hiểu sai nội hàm của tiêu chí cốt lõi này! Như vậy có nghĩa là sự vận dụng tùy tiện, người ta có thể bẻ vênh cả tiêu chuẩn, cốt sao đạt được cái dụng ý đã định sẵn rồi!

– Quá nhiều chuyện “lạm phát”, chúng ta không sao phân tích hết được đâu, xin tạm dừng ở đây, được không các bạn?

5. Nhưng xin cho tôi được nói thêm vài ý đã nào. Rất dễ nhận diện ra các hiện tượng “lạm phát” bằng những dấu hiệu đã nêu ở trên. Nhưng cần nhấn mạnh lại dấu hiệu cốt lõi nhất là:không vì nhu cầu đích thực của thực tiễn nên phải hy sinhđòi hỏi về chất lượng của đối tượng tăng phát. Và cũng cần chỉ ra một cách thẳng thắn mục đích thật sự của việc “lạm phát” đó, về bản chất là một thủ đoạn chính trị. Tôi chỉ xin phép liên hệ rất nhanh việc “lạm phát” phục hồi các lễ hội, và “lạm phát” các cuộc thi, các giao lưu nghệ thuật hoành tráng.

Hồi xưa, ngay sau Cách mạng tháng 8 và trong Cải cách ruộng đất thì người ta cho xóa sạch, phá sạch, với cái lý luận cực đoan vô thần. Còn bây giờ thì người ta lại cho phục hồi vô tội vạ, vô điều kiện (dễ đến 200% – 300%!), đến mức cả nước có đến 8.000 lễ hội đủ các kiểu, bất biết giá trị văn hóa là cái gì và có hay không, với cái lý là tôn trọng văn hóa tâm linh, là phục hồi văn hóa truyền thống! Thực chất đó là những việc làm rất thiếu trí tuệ, rất thiển cận và thực dụng, chỉ cốt làm cho dân “ngoan” hơn và ngu hơn, rất nguy hại!

Và cũng chưa thời nào lại có lắm cuộc thi, lại thường xuyên có quá nhiều buổi giao lưu nghệ thuật hoành tráng, như ba chục năm đổi mới vừa qua. Rất tốn kém, rất lãng phí tiền bạc, sức lực, thời giờ,… của rất nhiều người, mà tác dụng giáo dục thì lệch lạc, toàn chạy theo xu hướng thẩm mỹ và nghệ thuật lai căng, kệch cỡm ! Thực chất đó là thủ đoạn ru ngủ nhân dân, đặc biệt là với lớp trẻ, hòng mong cho số đông người quên đi cái thực trạng u ám, đau buồn, để họ không còn thì giờ mà nghĩ đến những tổn thất, những sai lầm, suy thoái,… đang hiện hữu!

– Thế là được rồi nhé, xin tạm sơ kết phần bàn thảo đã hơi dài, gần cả buổi sáng nay. Lạm phát trong kinh tế đã từng làm cho nhiều quốc gia chao đảo, rối ren, chí ít thì cũng làm người dân phải khổ sở, điêu đứng, nhất là với người dân lao động nghèo. Việt Nam chúng ta không phải là ngoại lệ. Nhưng ở đó chủ yếu chỉ là nỗi khổ về vật chất, và khi kinh tế được phục hồi thì sự ổn định sẽ trở lại. Còn “lạm phát” mở rộng ra đa lĩnh vực như Việt Nam ta thời nay thì tai họa đó còn khủng khiếp gấp nhiều lần, không chỉ là vật chất, mà là một sự mất mát vô hạn, và không thể phục hồi. Những thứ bị mất đó lại vô giá, vì đó là những giá trị tinh thần, văn hóa cốt lõi nhất, bản sắc nhất của dân tộc. Những “vết sẹo tinh thần” đó không thể trở về lành lặn! Đau đớn lắm, nhức nhối lắm, bởi vì từ đó mà chúng ta sẽ mất đi vài ba thế hệ, đất nước sẽ tiếp tục tụt hậu lại nhiều thập kỷ, và kéo dài “tuổi thọ” của một đất nước anh hùng mà nghèo đói và lạc hậu! Lạm phát hay “Lạm phát” là các hiện tượng xã hội, do con người chủ trương, con người thực hiện, do đó bao giờ cũng có mục đích, hoặc công khai hoặc ngấm ngầm. Và tất cả các mục đích ấy đều xấu xa, gây tổn hại cho cộng đồng, cho đất nước! Việt Nam đón năm Con Dê trong nỗi niềm như vậy đó, chứ đâu có phải là năm phát vượng của Tài – Lộc – Phúc – Thọ như người ta chúc nhau!

– Tất nhiên là còn nhiều ý chúng ta chưa bàn đến hoặc chưa bàn rõ đấy chủ tọa ạ, chẳng hạn tác hại, cách nào để hạn chế và chấm dứt,…?

– Vâng, đúng là vậy. Xin khất lại lần trao đổi tiếp vào tháng 5 nhé.

Chúng ta tạm chia tay ở đây, và hẹn gặp lại tại Sầm Sơn!

Tháng 3 năm 2014

M T biên tập

Tác giả gửi BVN

Phát ngôn hay ho thứ 7 của ông Phan Đăng Long

25/03/2015

Phát ngôn hay ho thứ 7 của ông Phan Đăng Long

clip_image002Vừa mới hôm trước đây, ông Phan Đăng Long đứng trước micro hùng hồn: Cần gì hỏi ý kiến dân, chặt ngay! Hôm nay ông lại đã leo lẻo cái mồm như vậy mới khiếp chứ. Là Phó Ban tuyên giáo Thành ủy Hà Nội mà ông không hề biết tấm lòng người Hà Nội yêu quý cây xanh, thì ông còn đảm trách cái chức vụ gọi là Tuyên giáo mà làm gì? Ông lại là người đầu têu chặt phá cây xanh, là kẻ thù đối với môi trường, mà ở trong Ban tuyên giáo của Đảng thì chẳng hóa ra Đảng này là đảng phá hoại môi trường sao? Ông có biết không, hôm qua đây thôi, một số trí thức gặp gỡ nhau trong đó có vài người vào hàng Vụ trưởng ở khu Hoàng Cầu, kể cho biết câu chuyệncách đây một vài năm, ở hồ Hoàng Cầu vốn có một bán đảo, buối sáng cụ già và trẻ con thường ra đấy tập thể dục và vui chơi rất thích thú, và từ lâu đã trở thành một truyền thống sinh hoạt tốt lành của dân ở đây. Một hôm khu vực bán đảo này bỗng được quây kín lại, ngoài có một tấm phông lớn vẽ vời rất đẹp với những lời lẽ càng thêm phần hứng khởi: Khu vực này tạm thời quây lại để kiến thiết thành khu vui chơi giải trí đàng hoàng để cho dân chúng ở khu Hoàng Cầu và cả các khu khác có một địa điểm sinh hoạt lý tưởng hơn to đẹp hơn. Ai cũng tin là thực, trong lòng náo nức, mong đợi, tạm ngừng ra đấy thể dục để chờ ngày khánh thành. Thế rồi, đến lúc các bức quây được dỡ bỏ, mọi người hăm hở đến xem, nhiều người chạy ngay vào khu vui chơi giải trí mà Nhà nước đã xây xong, dành cho mình. Thì có ngờ đâu một đội bảo vệ từ bên trong đi ra ngăn lại. Người ta hỏi vì sao. Họ chỉ vào tấm biển trước ngôi nhà mới xây, đề: Nhà hàng hải sản Lã Vọng. Hóa ra người ta quây lại để bán và bán một cách âm thầm, cho đến khi xong thì mọi người mới ngã ngửa ra chưng hửng, không còn ăn nói vào đâu được nữa. Trong cuộc gặp hôm qua, có người nói: Cần phải phán đoán xem sau vụ chặt cây này thì cái “nhà nước Việt cộng Hà Nội” sẽ xoay sang dự án nào để kiếm ăn, bởi vì tình thế “túng làm liều” đã quá rõ đi rồi. Có người nói: Chắc họ sẽ đưa ra dự án… lấp Hồ Tây !!! Nhiều người đồng tình: Dám lắm!

(more…)

Nỗi đau Hà Nội!

BVN 19/03/2015

Mấy hôm nay Lãng tử bay từ Cần Thơ về quê Hà Nội  viếng mộ song thân, chừng kiến biết bao chuyện vui buồn ở quê nhà…

Nỗi đau Hà Nội!

RA LỆNH CHẶT MÙA THU

Thơ Trần Mạnh Hảo

Không còn cây sẽ không còn Hà Nội
Sẽ không còn lãng mạn nhạc và thơ
Có chính quyền nào tàn sát cây đến vậy ?
Hủy diệt cây để thực hiện mưu đồ…

Sương mù tháng Ba để tang cây Hà Nội
Sao nỡ nào treo cổ cả trời xanh
Vì trời cũng mang màu xanh cây có tội
Hà Nội đau đứt ruột mỗi thân cành

Đừng chặt mùa thu gió heo may sẽ chết
Mất vàng mười Hà Nội hết vàng rơi
Chẳng còn cây che trời giông sấm sét
Hà Nội sôi thành chảo lửa nung trời

Xin cứ việc chặt mùa thu cách mạng
Chặt bóng râm hết chỗ trẻ con chơi
Cứ việc bê tông hóa cả chính quyền, cả Đảng
Chặt cây xanh như chặt trụi hồn người…

Các cuộc chiến tranh còn thương cây Hà Nội
Và bão bùng không tàn sát cây xanh
Hãy cứu lấy những đường cây vô tội
Hà Nội nghìn năm đang bị phá tan tành…

Sài Gòn ngày 19-3-2015

T.M.H.

 Mạc Văn Trang

Những ngày đầu năm Ất Mùi (2015) Hà Nội có nhiều chuyện lùm xùm phản văn hóa, khiến người Hà Nội phản ứng dữ dội, có người gọi là “ném đá”! Nhưng đó là những chuyện liên quan đến một vài cá nhân kệch cỡm (Nông Đức Mạnh, Vũ Khiêu- GNLT chú), một vài hủ tục của địa phương riêng lẻ (lễ hội đánh nhau…). Riêng hai chuyện mới xảy ra, vẫn đang diễn biến, phải nói là NỖI ĐAU HÀ NỘI.

Chuyện thứ nhất, ngày 14 tháng 3 năm 2015, những người dân yêu nước đến Đài tưởng niệm các Liệt sỹ và Tượng đài Lý Thái Tổ để dâng hương hoa, tưởng nhớ anh linh 64 liệt sĩ đã hy sinh trên đảo Gạc Ma ngày 14/3/1988, thì bị một đám thanh niên quậy phá, gây sự, mắng mỏ, ghi hình, đe dọa… Đám thanh niên nam nữ ấy mặc áo đỏ, có in ngôi sao vàng ở phía trước và biểu trưng với quốc huy Việt Nam và dòng chữ “DLV”, “Đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc”ở sau lưng. Chúng giăng cờ đỏ búa liềm ra cản đường người dân vào đặt hoa ở tượng đài. Trong khi những người dân đứng mặc niệm các liệt sĩ, lòng quặn đau, nước mắt rưng rưng, nhớ đến 64 chiến sĩ bám trụ trên đảo Gạc Ma, tuân lệnh trên, không được nổ súng, để bọn lính Trung cộng bao vây, xả đạn, đâm lê giết chết từng người và vứt xác xuống biển, thì đám DLV kia nhảy múa, ca hát “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” và cười cợt nhố nhăng! Bọn chúng là đám thanh niên béo tốt, phởn phơ, được học hành, là con cháu Lạc Hồng mà sao vô tình, bạc nghĩa, nhẫn tâm đến thế trước anh linh các bậc cha chú đã hy sinh vì Tổ quốc? Sao chúng có thể nhạo báng truyền thống yêu nước, tôn thờ các anh hùng liệt sĩ của dân tộc!? Những người cha mẹ nào ở Thủ đô đã sản sinh ra đám con cháu lạc loài như vậy, có đau lòng không?

image image

(Ảnh trên internet)

Đau hơn nữa, khi Giám đốc Công an Hà Nội, nói đám thanh niên quậy phá đó là “tự phát” “không thuộc sự quản lý của Công an Hà Nội”(?); Phó Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội nói: “Dư luận viên của Hà Nội không hề xuống đường”(?). Như vậy là có một thế lực nào đó, có tổ chức, chỉ đạo đội lốt Đảng Cộng sản Việt Nam (mang cờ đỏ búa liềm) ngang nhiên giữa Hà Nội, nhảy múa, ca hát ăn mừng ngày Trung cộng chiếm đảo Gạc Ma, ngày chúng tàn sát 64 chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam bảo vệ đảo và nhạo báng những người dân Việt yêu nước tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ bỏ mình vì đất nước. Đau đớn quá!

Nỗi đau thứ hai, giữa tiết xuân phân mát dịu, Hà Nội “đồng loạt ra quân”, “ào ào như sôi” triệt phá 6700 cây trưởng thành, tươi tốt để trồng cây mới, theo chủ trương của lãnh đạo. Lời kêu gọi “Mùa xuân là Tết trồng cây/ Làm cho đất nước càng ngày càng xuân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại diễn ra thế này ư?

Chiều qua, con gái tôi đi làm về hớt hải nói, họ đã chặt cây cũ, trồng cây mới đến đường Nguyễn Chí Thanh, sắp đến đường Kim Mã trước cửa nhà mình rồi, bố ơi! Tôi bảo vô lý, sao có thể thế được? Hàng cây xà cừ ấy trồng đến nay 50 – 60 năm, cao sừng sừng, xanh tốt quanh năm, hai người ôm chưa hết gốc, sao lại dám phá?

– Cái gì người ta chả dám hả bố. Họ bảo cây trồng không hợp với thành phố, phải thay toàn loại cây mới…

Tôi nửa tin nửa ngờ, sáng nay chạy xe máy một vòng xem sao. Đúng là phố Quang Trung, đường Nguyễn Chí Thanh, đầu đường Kim Mã giáp Nguyễn Thái Học lô nhô trơ trụi, khẳng khiu toàn cây mới trồng. Những cây cổ thụ bị chặt phá, chỉ sau một đêm là hiện trường vụ “thảm sát” đã được dọn sạch!

image

(Những hàng cây xanh trên tuyến phố Kim Mã sẽ bị chặt hạ, thay thế – Ảnh: M.Hà)

Tâm trạng nặng nề, buồn đau, tôi không dám chạy xe nữa, quay về trước cửa nhà ngắm hàng cây sừng sững xanh tươi mởn mởn trước cửa nhà, bên hồ Thủ Lệ kia, gắn bó bao kỷ niệm với ba thế hệ gia đình mình, lẽ nào lại phải đồng loạt xóa đi vĩnh viễn!? Tôi đang bần thần, ngơ ngác thì ông bạn hàng xóm – đại tá, cựu chiến binh – hỏi:

– Đi đâu về mà còn đứng đây?

– Đi để mục sở thị, nó đốn cây cũ trồng cây mới thế nào! Kinh quá!…

– Mẹ chúng nó, B 52 Mỹ ném bom, bảo cho Hà Nội về thời đồ đá, mà khéo chỉ sát thương được vài trăm cây, thế mà chúng nó quyết định tàn sát 6700 cây một lúc! Hồi chiến tranh, lính pháo binh ngụy trang trận địa cũng phải xem cây nào tươi tốt, rậm rạp, mới chặt tỉa ít cành, chứ đố thằng nào dám đốn bỏ cả cây! Vậy mà bây giờ chúng nó dám làm như vậy!

– Tôi thực sự không hiểu đằng sau việc làm điên rồ này là cái gì?

– Chúng nó chặt hết gỗ trên rừng, nay chặt đến cây thành phố, chứ sao! Mà nghe nói do doanh nghiệp đầu tư dự án gì đó. Thử hỏi có thằng doanh nhân nào đầu tư dự án mà không vì lợi nhuận? Cây thuộc sở hữu toàn dân mà doanh nghiệp với chính quyền móc nối nhau, muốn làm gì thì làm, không thèm hỏi dân một câu!…

Trong lòng ngổn ngang những câu hỏi. Tôi lên mạng tìm thông tin để tự lý giải. Trời ơi! Tràn ngập tin tức, hình ảnh về việc Hà Nội triệt phá cây xanh…

Theo Phó Ban Tuyên giáo Thành ủy Phan Đăng Long, việc chặt cây để thay thế cây khác ở Hà Nội do cơ quan quản lý quyết định, không cần thiết phải hỏi ý kiến người dân”…“Bây giờ đang xây dựng thành phố văn minh hiện đại, muốn tạo ra đô thị văn minh hiện đại, trồng cây cũng theo quy hoạch”… (vietnamnet, cập nhật: 21:00 | 17/03/2015).

Thì ra là vậy. Hà Nội rất thích “quy hoạch”, “chuẩn hóa”. Nào là các công chức sẽ quy họach “toàn Tiến sĩ”, nào những người “thấp bé nhẹ cân, ngực lép” không được lái xe máy! Rồi “biển xe chẵn đi ngày chẵn, biển xe lẻ đi ngày lẻ”… Không bắt nạt được người thì bắt nạt cây. Những cây không đúng chủng loại “quy họach”, hoặc cong, vẹo… thì phải thay bằng cây “chuẩn” (!). Thế mà giữa Hà Nội có con đường mang tên Trường Chinh, quy hoạch thẳng băng, rồi thi công thành cong vẹo, được lãnh đạo TP giải thích là “đường cong mềm mại”!. Đúng là “miệng nhà quan có gang có thép”! Cây cũng như người, mỗi cá thể có cuộc sống, dáng hình, khuôn mặt, tính tình khác nhau… Nhưng theo “quy hoạch”, “chuẩn hóa” tất cả những cây mới trồng hình như cùng loại y như nhau? Có người bảo, cây này, khéo giống cây của Trung Quốc! Khi không có lòng tin, người ta có mọi nghi ngờ. Mà thật thì sao, vì có ai nói cho dân biết, cây mới trồng là loại cây gì, xuất xứ từ đâu, tại sao cây này lại hợp với Hà Nội? Cây này đã được thử nghiệm trồng ở Hà Nội bao giờ chưa? Tại sao lại chọn trồng lọai cây này, mà không phải là những loại cây tốt nhất từng sống ở Hà nội cả ngàn năm, trăm năm?…

Nhiều người đặt câu hỏi, để Hà Nội văn minh, hiện đại, tại sao lại bắt đầu từ những cái cây? Sao không quy hoạch, dẹp bỏ những căn nhà xây dựng sai quy hoạch, “siêu mỏng”, “siêu méo”, lô nhô, nham nhở khắp nơi? Sao không dẹp những biển quảng cáo lòe loẹt, lớn, bé treo vô tội vạ kia đi? Sao để hệ thống cột điện, dây dợ khủng khiếp thế kia? Sao không quy hoạch đường sá, vỉa hè, nơi đỗ xe, chỗ vui chơi, ăn nhậu, nhà vệ sinh, xử lý môi trường… cho văn minh, hiện đại? Sao không quy hoạch, bệnh viện, trường học đủ chỗ cho bệnh nhân và trẻ em? Và đến bao giờ hết “Phở chửi”, “Bún mắng”; bao giờ người Hà Nội thành những thị dân văn minh, hiện đại? Đến bao giờ Thủ đô thay những người lãnh đạo “cong, vẹo, thiểu năng” bằng những người được dân bầu trực tiếp, theo “chuẩn hóa”?…

Nguyễn Tuân ơi! Khi ông viết “Cây Hà Nội” ông đã yêu say đắm từng gốc cây, mỗi gốc cây chứa biết bao kỷ niệm; mỗi cây đều có tiểu sử, tính nết, cuộc sống như người… Ông có ngờ đâu hôm nay: “Vừa qua, Tòa soạn Báo Giáo dục Việt Nam có nhận được phản ánh từ một cựu quan chức về việc 8 cây muỗm có tuổi thọ gần 1.000 năm tuổi ở đền Voi Phục (Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội) bị bức tử, chết vì đói, khát và bị nhiễm độc thuốc mối” (Phong Nguyên, 16/03/15 07:45). Rồi 6.700 cây khác bị thủ tiêu trong một đợt “ra quân”! Những câu ca đi cùng năm tháng: …“Phố Quang Trung, đường Nguyễn Du, những đêm hoa sữa thơm lừng”…; “Em ơi Hà Nội phố, ta còn em mùi hoàng lan, ta còn em mùi hoa sữa…” và “Hà Nội mùa thu, cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ”… chỉ còn trong hoài niệm thôi chăng? Đau quá!

“Họa vô đơn chí”, xuân này người dân Hà Nội cùng lúc chịu “hai nỗi đau mất mát”. Những dòng nước mắt tưởng niệm các liệt sĩ và những dòng nhựa cây bị chém cùng hòa chảy trên gương mặt Hà Nội, làm quặn đau bao trái tim những người dân lương thiện.

Hà Nội, ngày 19/3/2015

M. V. T.

Tác giả gửi BVN.

Mây thẻ