"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Tư, 2015

NHỮNG GIÁ TRỊ SỐNG TRONG MỘT TẤM ẢNH và HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC

BVN 30/04/2015
NHỮNG GIÁ TRỊ SỐNG TRONG MỘT TẤM ẢNH và HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC

Trần Quí Cao

Xin mời độc giả cùng xem lại tấm ảnh nổi tiếng năm châu bốn biển: tấm ảnh chiếc xe tăng húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập, tấm ảnh đã trở thành niềm hãnh diện của đảng Cộng Sản Việt Nam, thành biểu trưng cho chiến thắng chung cuộc của đội quân miền Bắc tiến vào hang ổ cuối cùng của chế độ miền Nam. Đối với một số khá đông người miền Nam, tấm ảnh là biểu trưng của sự chấm dứt cuộc chiến, một cuộc chiến mà họ không hề muốn kéo dài bởi vì người nào ngã xuống cũng chung dòng máu đỏ da vàng, cùng là con chung của một mẹ Việt Nam.

imagexe tăng huc cống

Buổi sáng ngày 30/4/1975 đó, một anh thanh niên của chế độ miền Nam, trong khi tìm người thân giữa Sài Gòn náo loạn, bị kẹt lại trên đường Công Lý, gần góc đường Hồng Thập Tự, tình cờ thấy những chiếc xe tăng của miền Bắc tiến về dinh Độc Lập.

Lúc đó, trên thực tế, chế độ miền Nam đã đầu hàng. Tổng thống miền Nam đã ra lệnh quân đội miền Nam không chống cự. Sài Gòn trơ trọi giữa 5 cánh quân tiến công đã áp sát. Cổng dinh Độc Lập đã mở sẵn chờ những người anh em miền Bắc vào để bàn giao chính quyền. Chiếc xe tăng hùng dũng của đội quân chiến thắng đang thẳng tiến. Bỗng nó dừng lại. Anh thanh niên ngạc nhiên, chăm chú quan sát.

Từ trên xe tăng, một chiến sĩ nhảy xuống. Hai cánh cổng được từ từ khép lại. Chiếc xe tăng lùi ra xa, rồi lao tới húc đổ chiếc cổng sắt.

(more…)

“Ngụy quân, ngụy quyền” trong ‘đại lễ kỷ niệm mùa xuân 1975’ sáng nay (30/04/2015)

VNTB- ‘Ngụy quân, ngụy quyền’ trong ‘đại lễ kỷ niệm mùa xuân 1975’ sáng nay (30/04/2015)

Hồng Cường

Hồng Cường (VNTB) – Sáng hôm nay, cuộc mit-tinh, diễu binh, diễu hành kỷ niệm 40 năm “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” diễn ra tại Khu vực Quảng trường Thống Nhất, TP.HCM.

Tham dự buổi lễ này, có đầy đủ các đời Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc Hội, Thủ tướng, Bộ trưởng các ngành… Cùng đại diện các bà mẹ Việt Nam anh hùng, các tướng lĩnh quân đội và công an, đại diện các cựu chiến binh cùng đại diện các ban, ngành…

“Mỹ cút, ngụy nhào; ngụy quyền Sài Gòn; ngụy quân, ngụy quyền; đế quốc Mĩ”, đó là những từ ngữ được sử dụng trong buổi lễ kỷ niệm “đại thắng mùa xuân năm 1975.”

Các lãnh đạo Đảng, nhà nước Việt Nam tham gia ‘đại lễ kỷ niệm mùa xuân 1975’ sáng nay.
Những cụm từ miệt thị đầy hẹp hòi của “bên thắng cuộc” đó gây nhói tâm can không ít người chủ trương ôn hòa, mong mỏi sự hòa hợp của những người Việt chung một giòng máu.

Nó xóa bỏ nỗ lực hòa giải từ ngôn từ trước đây, khi dấy lên phong trào sử dụng Việt Nam Cộng Hòa hoặc chính quyền miền Nam Việt Nam thay cho “ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn”.
(more…)

LỜI AI ĐIẾU CHO NAM VIỆT NAM

28/04/2015

LỜI AI ĐIẾU CHO NAM VIỆT NAM

Giới thiệu

 Nào chúng ta hãy đọc ý kiến của một người Mỹ thương tiếc miền Nam ra sao. Quan điểm của ông ta có đúng có sai, tùy bạn đọc nhận thức.

GNLT

Peter R. Kann

Wall Street Journal- Ngày 2 tháng 5 năm 1975

Người dịch: Nguyễn Đức Tùng

clip_image002

Peter R. Kann – phóng viên, chủ bút, doanh nhân Hoa Kỳ – sinh năm 1942, ở Princeton, New Jersey. Tốt nghiệp Đại học Harvard ngành báo chí. Gia nhập The Wall Street Journal năm 1963. Năm 1967 là phóng viên thường trú đầu tiên của The Wall Street Journal tại Việt Nam. Từ 1969-1975 làm việc tại trụ sở ở Hồng Kông nhưng đảm trách mọi tin tức về chiến tranh Việt Nam và những vùng Đông Nam Á. Năm 1972 đoạt giải Pulitzer với loạt ký sự về chiến tranh Ấn Độ – PakistanBangladesh. Năm 1976 trở thành chủ bút và người sáng lập tờ The Wall Street Journal Asia. Trở về Hoa Kỳ năm 1979. Từ năm 1992 đến năm 2006 là Giám đốc điều hành và chủ tịch hội đồng quản trị của Dow Jones & Company. Giảng dạy ở Institute of Advanced Study in Princeton và The Columbia University Graduate School of Journalism.

clip_image004

Nam Việt Nam, hay đúng hơn Nam Việt Nam như tôi biết trong vài năm qua, đã chết.

Có thể có nhiều người Mỹ thở phào nhẹ nhõm khi hay tin này. Chắc chắn có một số người Mỹ, vì những lý do khác nhau, ước gì nó chết sớm hơn. Nhưng chắc chắn cũng có nhiều người khác khóc thương cho miền Nam.

Tôi ở trong số ấy.

Đối với tôi sự sụp đổ của Nam Việt Nam cũng tựa như cái chết của một người thân quen cũ. Tôi càng chỉ trích miền Nam nhiều chừng nào, tôi lại càng tin rằng đáng ra nó không phải chết.

Khuyết điểm và thất bại của miền Nam đã được người ta nhìn thấy rõ hơn rất nhiều so với những ưu điểm của nó và tôi, cũng như hầu hết các ký giả, đã dành hết tâm trí cho những sai lầm của miền Nam. Rất ít chế độ xã hội, và nhất là những chế độ hãy còn non yếu, đã từng hứng chịu sự chỉ trích tàn tệ ở một mức độ dai dẳng đến như vậy. Tôi và một ngàn ký giả khác đã mổ xẻ chi li từng khía cạnh của nó, đã phân tích hết thảy mọi lỗi lầm của nó, đã hô hoán lên với thiên hạ về mọi tì vết của nó. Điều này không có nghĩa là nếu những ngọn đèn săm soi kia tắt phụt đi, Nam Việt Nam bỗng tiến triển tốt hơn hoặc tồn tại lâu hơn, nhưng có thể tin chắc rằng khi ấy số người đến cúi đầu thương tiếc trong tang lễ của nó sẽ nhiều hơn.

Cuối cùng, tất nhiên, những kẻ chỉ trích độc miệng nhất và những người bi quan u ám nhất đã chứng tỏ là họ đúng. Thực ra Nam Việt Nam đã có khả năng tồn tại lâu hơn, vượt xa cái mức mà những kẻ bi quan kia hằng mong đợi, nhưng rồi nó đã sụp đổ – một cách bất ngờ, một cách hỗn loạn, một cách tuyệt đối. Và, tôi nghĩ, một cách vô cùng bi thảm.

Nam Việt Nam, trong suy nghĩ của tôi, không hề tốt hơn mà cũng chẳng hề xấu hơn so với phần lớn những chế độ xã hội khác trên thế gian này.

Ít nhất trên một số phương diện, nó cũng chẳng hề khác so với xã hội Hoa kỳ của chúng ta. Rõ ràng cấu trúc xã hội của nó, chính phủ của nó và quân đội của nó sau cùng đã tỏ ra quá yếu để có thể kháng cự lại những người Cộng sản Việt Nam. Ít rõ ràng hơn điều ấy, là ý tưởng cho rằng thật ra nó đã có khả năng kháng cự mãnh liệt đến như thế trong nhiều năm trời và không phải bao giờ cũng với sự trợ giúp lớn lao của nước Mỹ. Rất ít có một quốc gia nào hay một xã hội nào, mà tôi có thể nghĩ tới, lại có thể chiến đấu một cách bền gan đến thế.

Cuộc thánh chiến của những người cộng sản

Quả thật Nam Việt Nam đã thiếu hẳn một lý tưởng để đoàn kết và để huy động mọi người nhằm chống lại cuộc Thập tự chinh của những người cộng sản. Chủ nghĩa chống cộng chưa bao giờ đủ sức hấp dẫn hoặc ngay cả có thể hiểu được đối với Chủ nghĩa Tư bản miền Nam (1), thể hiện bằng xe gắn máy Honda và những hàng hóa nhập cảng khác, rõ ràng không phải là một thứ chính nghĩa có thể thuyết phục trí óc và làm xao xuyến con tim. Chủ nghĩa quốc gia là một lý tưởng bị tranh cãi, và cũng chính vì sự hiện diện đông đảo của người Mỹ ở miền Nam mà những người cộng sản bỗng dưng hóa thành người quốc gia thực sự. Vì vậy, miền Nam bỗng trở thành một đất nước không có chính nghĩa. Nhưng chúng ta hãy dừng lại để nghĩ xem: có thứ lý tưởng nào có thể giúp bạn hay tôi cầm súng lên chiến đấu suốt 25 năm?

(more…)

Nhiều người bị bắt khi diễu hành vì cây xanh trong sáng 26/04

Nhiều người bị bắt khi diễu hành vì cây xanh trong sáng 26/04

Trần Văn Tin (VNTB) – Sáng nay (26/04), cuộc diễu hành vì cây xanh vẫn thu hút hàng trăm người dân Hà Nội bấp chấp cảnh báo của chính quyền trước đó 2 ngày thông qua việc UBND quận Hoàn Kiếm ra Thông báo số 44/TB-UBND về đảm bảo trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị trong dịp lễ lớn 30/04.
*
Cuộc diễu hành vì cây xanh hôm nay với nhiều sắc phục công an, trật tự đô thị. Ảnh: Vì một Hà Nội xanh
*
Trong đó có đề cập đến việc, “Trong mấy tuần qua, vào các ngày chủ nhật, trên khu vực hồ Hoàn Kiếm, quận Hoàn Kiếm đã có một số cuộc tụ tập đông người, tuần hành trái phép gây cản trở giao thông, ảnh hưởng tới cuộc sống, sinh hoạt của người dân… Một số phần tử xấu đã lợi dụng có các hoạt động vi phạm pháp luật.”
*
UBND quận Hoàn Kiếm đã “yêu cầu các lực lượng đảm bảo trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị cần làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, không để diễn ra các hoạt động tập trung đông người, tuần hành trái phép tại khu vực hồ Hoàn Kiếm, vườn hoa Lý Thái Tổ và các khu vực công cộng trên địa bàn quận Hoàn Kiếm.”
 *
Một số người tham gia diễu hành vì cây xanh sáng nay đã bị đẩy lên xe bus và đưa về đồn công an quận Long Biên.

Tưởng niệm và kỉ niệm, hay là mặc niệm ?

27/04/2015

Việc chúng ta năm nào cũng nói đến việc thắng Pháp, Mỹ trong các cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc thì có đúng không? Theo tôi là chưa đúng. Pháp, Mỹ đều là các siêu cường cả về khoa học, kỹ thuật, quân sự đến Liên Xô thắng được phát xít Đức cũng phải nể.

Thời điểm đó, mình thắng Mỹ làm sao được, mình là một nước nông nghiệp lạc hậu, chưa có vũ khí gì hết, không làm ra được 1 chiếc ô tô, xe máy. Đó là chúng ta bảo vệ được độc lập và Pháp, Mỹ phải rút quân. Sự thực như thế nào nói như thế, không được nói dối.”

(Trích phát biểu của đại tướng Lê Đức Anh- cựu Chủ tịch nước- trên báo Giáo dục Việt Nam 25/1/2012).

Lãng tử bàn thêm hai chữ GS Tuấn đã nêu và đề xuất chữ khác nữa.

 “Tưởng niệm và kỷ niệm” và “mặc niệm”:

tưởng: nghĩ đến, nhớ lại (quá khứ) hoặc đôi khi nghĩ đến cái chưa tới.

niệm: nghĩ nhớ (để đừng quên)

k: mối dây, ghi chép đánh dấu. 

“Kỷ niệm” mặc dầu nghĩa gốc Hán: nhớ lại cái chuyện cũ, bất kể buồn vui, nhưng thực tế người Việt thường dùng với nghĩa nhắc lại, nhớ lại cái vui cái tốt.

 Ngày 30/4 số người buồn- vui gần như ngang nhau, vậy không nên dùng “kỷ niệm”.

 默 mặc: lặng yên không nói không cười.

 Riêng tôi đề nghị gọi 30/4 là ngày Mặc niệm, phải tránh hò hát nhảy nhót duyệt binh, diễu hành…

 GNLT 

GS Nguyễn Văn Tuấn

Tháng 4 năm nay giữa Úc và Việt Nam có một sự trùng hợp mang tính lịch sử. Úc kỉ niệm 100 năm ngày lính Úc và Tân Tây Lan đổ bộ lên bán đảo Gallipoli (Thổ Nhĩ Kì), gọi là Ngày ANZAC. Còn Việt Nam thì kỉ niệm 40 năm ngày “giải phóng miền Nam”. Đối với Úc, Ngày ANZAC là tưởng niệm sự hi sinh của lính Úc trong trận chiến mà Úc là phía chiến bại, còn đối với Việt Nam thì đó là ngày kỉ niệm chiến thắng. Nhưng quan sát hai nơi kỉ niệm ngày trọng đại đó làm tôi suy nghĩ Việt Nam nên thay đổi cách kỉ niệm trong tương lai: nên dành ngày 30/4 hàng năm để tưởng niệm những người lính và đồng bào của hai miền đã hi sinh trong cuộc chiến.

Hôm qua (Thứ Bảy, 25/4/2015) toàn nước Úc ngưng buôn bán nửa ngày để tưởng niệm 100 năm ngày quân đội Úc và Tân Tây Lan đổ bộ lên bán đảo Gallipoli của Thổ Nhĩ Kì đúng vào ngày đó năm 1915. Năm đó, liên bang Úc mới được 14 tuổi, tức còn rất non trẻ. Do đó, Úc rất muốn đóng góp cho thế giới, trước là chứng tỏ mình là công dân toàn cầu, sau là ngoại giao lấy tiếng. Lúc đó, Anh tuyên chiến với Đức và đồng minh của Đức là Thổ Nhĩ Kì. Mà, Úc và Tân Tây Lan là thành viên trong khối Commonwealth do Anh lãnh đạo, nên Úc và Tân Tây Lan tự động tham gia cuộc chiến. Anh giao cho hai nước non trẻ này nhiệm vụ đánh chiếm bán đảo Gallipoli.

Khi lính Úc và Tân Tây Lan đổ bộ lên Gallipoli thì gặp kháng cự dữ dội của quân Thổ Nhĩ Kì, mà lính Anh thì không có hỗ trợ. Thế là tưởng rằng sẽ chớp nhoáng đánh chiếm Gallipoli, nhưng cuộc hành quân trở thành một bế tắc. Cuộc chiến kéo dài đến 8 tháng, và hai bên đều bị thương vong lớn. Hơn 8000 lính Úc hi sinh trong thời gian đó! Cần nói thêm rằng năm đó quân đội Úc chiến đấu trong đơn độc, không có sự hỗ trợ của “mẫu quốc” Anh. Do đó, Ngày ANZAC thực tế là một ngày tưởng niệm sự thất bại về quân sự của Úc, tưởng niệm sự hi sinh của những người lính Úc.

Ngược lại, ngày 30/4 ở Việt Nam được xem là một ngày chiến thắng, ngày giải phóng miền Nam khỏi ách đô hộ của Mĩ Nguỵ. Nhìn chung thì đúng là ngày chiến thắng. Cũng là ngày thống nhất đất nước (dù trong thực tế, người dân của phân nửa đất nước chưa chắc muốn thống nhất). Tuy nhiên, nếu nhìn kĩ và theo thời gian, hai khái niệm “chiến thắng” và “giải phóng” dần dần được xem lại, và đã có nhiều ý kiến chung quanh câu hỏi “ai giải phóng ai” hay “ai thắng ai”. Thực tế hơn, nhiều người đặt câu hỏi: Về bản chất cuộc chiến đó tên gì? Anh em trong nhà đánh nhau, tức là nội chiến. Anh em trong nhà đánh cho người khác ở ngoài nhân danh chủ nghĩa ngoại lai, như vậy là cuộc chiến uỷ nhiệm. Dù là nội chiến hay chiến tranh uỷ nhiệm, thì người mất nhiều nhất và thiệt thòi nhất vẫn là dân tộc Việt Nam (sẽ nói thêm dưới đây).

Tuy nhiên, điều tôi thấy thú vị khi quan sát là cách mà hai nước tổ chức buổi lễ. Ở Úc, buổi lễ mang tính cách tưởng niệm hơn là kỉ niệm. Họ tưởng niệm những người lính đã ngã xuống trong chiến tranh. Họ làm một cách rất nghiêm chỉnh. Tất cả các bang trên toàn quốc đều chọn buổi sáng sớm (đúng vào lúc lính Úc đổ bộ lên đảo) để làm lễ tưởng niệm. Gần như tất cả các hàng quán, doanh nghiệp đều ngưng hoạt động trong buổi sáng ngày thứ Bảy 25/4, có nơi ngưng nguyên ngày, để dồn tâm trí vào ngày tưởng niệm. Đài truyền hình và truyền thanh thì trực tiếp tường trình buổi lễ rất trân trọng. Trân trọng nhưng không có màu mè, không có những bài diễn văn lên gân làm anh hùng, không có những buổi duyệt binh theo hình thức khoa trương. Trân trọng là thấm đẫm tính nhân văn. (Cái này tôi cảm nhận thật, buổi lễ làm cho một người ngoài cuộc như tôi còn cảm động, chứ không phải tôi nịnh gì cái đất nước này).

(more…)

Chiến tranh không bao giờ là ngày hội !

Chiến tranh không bao giờ là ngày hội

Từng tham chiến, những nhà văn như Chu Lai, Nguyễn Văn Thọ, Bảo Ninh và Lê Minh Khuê nhận thấy rõ sự trần trụi, khốc liệt của chiến tranh cùng những nỗi buồn hậu chiến.

Những ngày này, nhà văn, cựu chiến binh Bảo Ninh đang cùng đồng đội về thăm chiến trường xưa. Ông cho biết, năm nào, vào dịp tháng ba, anh em cựu binh B3 (mặt trận Tây Nguyên) cũng muốn trở lại thăm chiến trường Buôn Ma Thuột, điểm mở màn chiến dịch mùa xuân 1975. Ông và đồng đội cũ thuộc Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 còn muốn đi lại những cung đường chiến đấu, trong đó có hành trình “tháng tư thần tốc”, từ Nha Trang, Cam Ranh, Phan Rang, đèo Ngoạn Mục, Đơn Dương, Gia Nghĩa, Di Linh… vòng về tây bắc Sài Gòn. Năm xưa, ông và đồng đội đã theo cung đường này, tiến đánh ngã tư Bảy Hiền và cắm ngọn Quân kỳ quyết thắng lên đỉnh lầu chỉ huy không lưu của sân bay Tân Sơn Nhất, sáng sớm 30/4/1975. Ước muốn là vậy nhưng mỗi năm họ chỉ đi được vài nơi, do sức khỏe và kinh tế không cho phép.

Một cây bút kỳ cựu khác của dòng văn học chiến tranh – nhà văn Chu Lai – cũng là một cựu binh. Đại tá Chu Lai có 10 năm làm lính đặc công vùng ven Sài Gòn. Ông từng bỏ “thánh đường” sân khấu (diễn viên kịch đoàn Tổng cục Chính trị) và Đại học Quân y để ra trận.

Untitled-3-4198-1429770872.jpg

Nhà văn Chu Lai (trái) và nhà văn Bảo Ninh – hai cây bút lớn của đề tài chiến tranh chống Mỹ và hậu chiến.

Trong số những nhà văn từng tham chiến còn có Nguyễn Văn Thọ. Ông trải qua 12 năm trong quân đội, tham gia chống Mỹ, với 4 chiến dịch lớn và 500 trận đánh. Nguyễn Văn Thọ có mặt ở Sài Gòn ngày 30/4, trong thời khắc đất nước hòa bình, để hiểu rằng từ đây ông cùng những binh sĩ Việt Nam sẽ không còn phải chết vì súng đạn.

Là nữ tác giả hiếm hoi thành công với đề tài chiến tranh, nhà văn Lê Minh Khuê cũng từng đi qua những năm tháng đánh Mỹ. Lê Minh Khuê kể, 1965 – 1968 là thời kỳ Mỹ tập trung đánh vào Thanh Hóa cho đến Quảng Bình, Vĩnh Linh (Quảng Trị). Lúc đó bà mới 15 – 16 tuổi, tham gia thanh niên xung phong, đóng quân ở những vùng ác liệt từ cầu Lau, cầu Vằng, vào đến Hoàng Mai, Khe Nước Lạnh… Sau đó, Lê Minh Khuê trở thành phóng viên chiến trường. Bà có mặt ở gần như tất cả sự kiện quyết định của cuộc chiến chống Mỹ, cho đến ngày chiến tranh chấm dứt.

Thế hệ hiểu đến cùng (sự) được – mất của chiến tranh

Trực tiếp tham chiến, các nhà văn hiểu hơn hết những gì con người trong chiến tranh phải chịu đựng. Nhà văn Chu Lai nói: “Chiến tranh là ngày nào cũng chôn nhau nhưng chưa đến lượt chôn mình. Là 10 người ra đi 9 người không trở về, là cuộc hành binh trên những nấm mồ đẫm máu và nước mắt để ca khúc khải hoàn tức tưởi giữa thành đô. Chiến tranh không bao giờ là ngày hội”.

(more…)

ẾCH NHẢY CHIỀU CÔ LIÊU …

Phiếm đàm cuối tuần:

Ếch một mình ung dung tự tại, nhảy vào cái áo cũ, tiếng nước vang lên…

Bỗng nghĩ đến con người chúng ta, có thể vui với ếch, vui với bản thân mình.

Một bài haiku nhỏ bé mà miêu tả một thế giới mênh mông.

GNLT

ẾCH NHẢY CHIỀU CÔ LIÊU …

Nguyễn Đại Hoàng

Bài thơ con cóc của Việt Nam có tự bao giờ không ai biết, nhưng  rất nổi tiếng. Đó là con cóc nổi tiếng nhất Việt Nam ! Nhưng Nhật Bản cũng có con ếch nổi tiếng nhất Nhật Bản, đó là con ếch trong bài thơ con ếch của thi hào Matsuo Basho :

古池や
蛙飛び込む
水の音

Furu ike ya
kawazu tobikomu
mizu no oto

Hãy nghe thiên hạ  “tán” về bài thơ này: “ …Basho làm cho thế giới thơ ca chấn động vì cái nhảy của một con ếch”.

Và còn tán thêm : Toàn bộ thơ ca Nhật Bản từ năm bài thơ ra đời (1686), dường như chỉ là tiếng vang của nước mà con ếch của Basho đã khuấy động lên.

Vậy thì con ếch này đã có cú nhảy xuống nước như thế nào ? 

Hãy coi các dịch giả người Việt đã mô tả động tác nhảy của con ếch này qua các bản dịch của mình : khua, té, tung mình, vang ..xao, lao xao, chủm, tõm …

       Trong ao xưa
          Con ếch nhảy vào
Tiếng n
ước khua

BÌNH : Con ếch này chắc biết chèo thuyền nên mới “khua” nước được như vậy. 

Con ếch 
Nhảy xuống ao tù
Tiếng nước té.
BÌNH : Con ếch này chắc hẳn đang giỡn tát nước với ai đó nên mới có cái chữ  “té” kỳ lạ ở đây thế  này !

Từ bờ vũng ao xưa

Một chú ếch nhảy bõm

Để lại tiếng nước xao

BÌNH : Con ếch được gọi trang trọng hơn là “chú” , và chú này “nhảy bõm”, còn để lại tiếng nước xao !  Thật ra tiếng Việt thường dùng “nhảy tõm” nhiều hơn !  Tương tự như vậy, có một dịch giả dịch như sau :

Cái ao xưa

Một chú ếch nhảy tòm xuống

Chủm ! 

BÌNH : Xin bái phục ! Rất gần với thơ con cóc của Việt Nam !

Xưa cũ một bờ ao
Con ếch tung mình xuống
Và vang tiếng nước xao

BÌNH : Đây đúng là hình ảnh của một vị hiệp khách vì biết “tung mình” xuống ao. (1)

(more…)

Mây Thẻ