"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

Viết Tiếp Về Nhận Thức Lại.

Phương Nam (Đỗ Nam Hải) – Australia, tháng 8/2001.

Năm 1975, tôi theo gia đình vào miền Nam. Từ đó đến nay, gần 26 năm đã trôi qua nhưng cái cảm giác buồn vui lẫn lộn của những ngày sắp đi thì tôi vẫn thấy như nó mới chỉ diễn ra đây thôi. Trong tôi lúc ấy là cả một sự mâu thuẫn: cứ nghĩ đến việc được đi dọc theo Quốc lộ số 1 – Con đường nay đã nối liền một dải đất nước, khiến lòng háo hức chỉ muốn đi ngay, nhưng nỗi buồn của sự chia ly cận kề lại như muốn ngăn tôi lại.

Có lẽ suốt đời tôi sẽ không sao quên được cái buổi chiều của Hà Nội mùa đông năm ấy. Hà Nội của tuổi thơ tôi, nơi tôi đã sinh ra và lớn lên. Hà Nội của một thời đạn bom, một thời hòa bình với biết bao kỷ niệm mà chỉ lát nữa thôi tôi sẽ phải để lại tất cả. Tiếng nói cười, rồi tiếng khóc của kẻ ở – người đi trên sân ga Hàng Cỏ hôm ấy cứ quyện lại làm tôi nhớ mãi.

Buổi tối – trời rét đậm, mưa dăng dăng. Đứng một mình ở đầu toa nhìn về Hà Nội chỉ còn thấy một vùng sáng mờ rồi từ từ mất hẳn. Chỉ đến khi ấy, tôi mới chịu tin rằng mình đã thực sự phải xa nó.

Tầu vào Nam lúc đó còn gọi là tầu liên vận, vì đường sắt Thống Nhất chưa được nối liền. Tầu chỉ chạy được đến ga Vinh, từ đấy theo kế hoạch sẽ chuyển sang đi bằng ô tô, nhưng khi đến Vinh thì đoàn được báo là đoạn phía trong đang bị bão lụt, không thể đi tiếp. Cũng vì vậy mà buổi tối đầu tiên ở lại chờ đợi, chúng tôi đã được xem bộ phim Em Bé Hà Nội chiếu trên một sân vận động. Trong phim có nam diễn viên Thế Anh quen thuộc và cô bé Lan Hương 11 tuổi mới đóng phim lần đầu. Quả thật là hôm ấy khi xem phim, tôi không mấy quan tâm đến nội dung của nó vì đã biết từ nhiều tháng trước. Mắt tôi chỉ đăm đắm nhìn vào những cảnh vật, con người Hà Nội quá đỗi thân thiết, lòng chỉ mong sao cho cơn bão kia ngày càng … nặng thêm để đoàn “phải” quay ra!

Nhưng rồi 2 ngày sau thì bão cũng tạnh, đường xá cũng không hỏng hóc gì đáng kể và đoàn chúng tôi lại lên đường. Những chiếc xe ca Ba Đình quen thuộc đưa tiếp chúng tôi đi. Những tên sông, tên núi, tên làng Việt Nam mới hôm nào đây chỉ được nghe hoặc đọc trên những trang sách báo thì nay tôi đã được tận mắt ngắm nhìn thỏa thích. Từ Đà Nẵng vào, chở tiếp đoàn là xe đò thuộc hãng Phi Long của miền Nam, với bác tài mặc bộ đồ nghiêm trang như đi dự lễ hội, tạo cho tôi một cảm giác rất lạ lẫm và thích thú.

Chặng chót của cuộc hành trình là Nha Trang – Sài Gòn. Và đây: xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa! Trên xe lúc ấy, những ai vẫn còn ngủ gà ngủ gật đều bừng tỉnh, xe ồn ào hẳn lên. Kế tiếp là sông Đồng Nai, ngã 3 Vũng Tầu, ngã 4 Thủ Đức, Nhà máy xi măng Hà Tiên, cầu Rạch Chiếc,…

Sài Gòn trước mặt đó! – Có ai đó nói lớn. Mọi người trên xe đều nhổm cả dậy, ai cũng tranh nhau nói, tranh nhau bình luận hay chỉ trỏ một cái gì đó mà chẳng cần quan tâm đến chuyện những người bên cạnh có thèm để ý đến mình hay không. Xe đi tiếp vào nội đô với bến đỗ cuối cùng là ngã 7 Sài Gòn, khúc đường Pêtruýt Ký. Cảm giác đầu tiên của tôi về Sài Gòn là nó thật ồn ào và náo nhiệt so với Hà Nội yên tĩnh và trầm lặng hơn.

Hồi còn chiến tranh, Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung đối với tôi là sự tổng hợp của những hiểu biết khá đơn giản: đó là miền Nam đi trước về sau, với Tây Nguyên hùng vĩ, có Sông ĐaKrông mùa xuân về và có anh hùng Núp bắn Pháp chảy máu. Là miền Trung ruột thịt với Huế cầm tay Sài Gòn – Hà Nội, bên dãy Trường Sơn ngời sáng tin yêu. Là Quảng Nam – Đà Nẵng Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ. Là sóc BomBo với những tiếng chày giã gạo nuôi quân. Là những cô gái đồng bằng sông Cửu Long với Áo bà ba, súng quàng vai hôm sớm ra đi, mái tóc xanh quyện hương trái ngọt. Là dòng sông Vàm Cỏ Đông với Nước xanh biêng biếc chẳng đổi thay dòng, đuổi Pháp đi rồi nay đuổi Mỹ xâm lăng, và của một Sài Gòn Quật Khởi rầm rập bước quân đi, v.v… Thế mà miền Nam thân yêu lại đang bị quân thù xâm lược dày xéo :

Có thể nào yên? Miền Nam ơi, máu chảy

Tám năm rồi . Sáng dậy, giữa bình minh

Tim lại đau, nhức nhối nửa thân mình…

Có thể nào nguôi ? Từng viên đạn Mỹ

Bắn miền Nam nát thịt da xương tủy

Của mẹ cha, đồng chí, vợ con

Anh chị em ta ai mất ai còn ? …

Cho ta lại trở về quê cũ

Bờ sông Hương hay bến sông Bồ

Cùng các mẹ, các o, các chú

Giành lại từng mảnh đất thành đô!

Cho ta được làm kho mìn nổ

Đèo Hải Vân, quật đổ quân thù

Cho ta được làm cây chông miệng hố

Đâm chết bầy giặc bố chiến khu!

(Tố Hữu – Có Thể Nào Yên? – 6.1962) .

Biết bao tin tức từ miền Nam gửi ra về những tội ác ở Phú Lợi, Sơn Mỹ (Mỹ Lai), về các chiến dịch Tố Cộng, Diệt Cộng, Luật 10/59,… đã khiến cho đồng bào miền Bắc sôi sục căm hờn. Năm 1967 là thời kỳ có số lượng quân Mỹ ở miền Nam đông nhất (hơn nửa triệu) cũng là thời kỳ ở miền Bắc, các phong trào 3 Sẵn sàng của thanh niên và 3 Đảm đang của phụ nữ được dấy lên mạnh mẽ:

“Mười mấy năm đã qua, giặc thù xéo lên quê nhà, Ôi! Tóc tang đau thương điêu tàn – Miền Nam! Yêu dấu ta ơi! Xin hiến dâng cả trái tim chúng tôi đang sục sôi. Miền Nam ơi! Nghe tiếng của Người gọi, chúng tôi sẽ lên đường về trên quê hương mình…”.

Những năm tháng ấy có nhiều cậu bé sắp trưởng thành chỉ lo canh cánh có một điều: khi mình đủ tuổi được đi bộ đội thì đã hết… giặc Mỹ xâm lăng rồi!

Đó cũng là vùng đất mà các cô chú miền Nam tập kết vẫn thường kể: “Sau này nước nhà thống nhất rồi, tụi bay vô trỏng thì mặc sức mà ăn cá. Thậm chí đứa nào muốn rửa chân thì cũng phải rẽ cá ra mới rửa được” !

Những chuyện có hơi phóng quá lên như vậy, bởi nỗi nhớ thương “ngày Bắc – đêm Nam” của các cô chú nhưng lũ trẻ chúng tôi nghe mãi không biết chán. Vì nó kích thích dữ dội sự giầu trí tưởng… bở của cả bọn. (những là chỉ cần “vểnh cẳng, vuốt râu mà làm chơi ăn thiệt”!).

Thế là tôi đã thực sự được đặt chân lên vùng đất phương Nam thân yêu của Tổ Quốc! Cái cảm giác tuyệt diệu của buổi chiều đầu tiên đứng giữa Sài Gòn làm cho tôi nhớ lại một bài hát thiếu nhi quen thuộc mà nữ ca sĩ Ái Vân vẫn thường hát ngày nào: Miền Nam em dừa nhiều, miền Nam em dứa nhiều, miền Nam em xoài thơm, miền Nam em khoai bùi. Đó là những kỷ niệm của tuổi thơ đã đi qua.

Vào miền Nam một thời gian hoặc sau này ra nước ngoài, tôi được đọc hoặc nghe nhiều người nói rằng: “Miền Bắc đã xâm lăng miền Nam”. Nhưng theo tôi, đây là điểm rất cần nhiều người có tâm huyết và điềm tĩnh phân tích nó kỹ hơn, chứ lũ trẻ chúng tôi và nhân dân miền Bắc hồi ấy không nghĩ như vậy. Vấn đề là thuộc về những người dẫn dắt hoặc sâu xa hơn là xuất phát từ thể chế chính trị của nó, mà điều này thì rất cần thiết phải làm cho rõ. Tôi xin được trình bày kỹ hơn ở những phần dưới của bài viết.

Tôi cũng xin lỗi quý vị độc giả vì từ đầu tới giờ đã hơi dài dòng một chút, lý do là vì sự nhận thức lại trong tôi đã bắt đầu phát sinh từ cuộc hành trình trên. Và sau đây là những câu chuyện:

1     – Nghi vấn đầu tiên:

Một trong những điều tôi rất quan tâm khi mới vào Sài Gòn là muốn tự mình định lượng xem tỷ lệ các “Cô gái Sài Gòn đi tải đạn” là bao nhiêu phần trăm! Nhớ là hồi ấy, mỗi khi có dịp nói chuyện với các chị nhắm thấy có tuổi phù hợp, tôi thường hay hỏi:

–        Thế hồi tết Mậu Thân năm 68, các chị có đi tải đạn cho các anh bộ đội giải phóng không?

–        Làm gì có “zdụ” đó – Các chị trả lời dứt khoát .

Tuy đã hơi nao núng, xong tôi vẫn còn vớt vát:

–        Có thể là với các chị thì không, nhưng còn các chị khác thì sao? Theo em thì 10 chị, nếu không được dăm, bảy chị thì “giá chót”cũng được vài ba chị, chứ không lẽ lại không được chị nào?

Thoáng mất vui vì cậu em “chậm hiểu”, một chị đáp:

–        Nói vậy mà cậu còn chưa tin tụi này sao? Hồi đó lo chạy… giặc còn không xong chứ ở đó mà đi tải đạn cho mấy ổng. Nếu có thì ở đâu chứ nội trong Sài Gòn này làm gì có!

Đã đến nước này thì đúng là chuyện nghiêm chỉnh rồi – Tôi thầm nghĩ và tự đặt thêm cho mình những câu hỏi mới. Thì ra cái hình ảnh mà tôi vẫn hằng ngưỡng mộ: Từ ngày đô thị vùng lên chị em mình đi tải đạn, để các anh đi diệt thù là như thế nào nhỉ? Nó có thực sự là hình ảnh đại diện cho ý chí và nguyện vọng của đa số nhân dân miền Nam hay không? Càng tìm hiểu sâu rộng hơn, tôi lại càng phát hiện ra nhiều điều mâu thuẫn giữa thực tiễn cuộc sống đang diễn ra xung quanh với những gì mà từ nhỏ tới lớn mình vẫn được tuyên truyền, giáo dục. Đúng là phải nhận thức lại thật – Tôi tự nhủ.

2     – Gặp những người lính:

Trong chuyến hành trình trên, tôi cũng đã gặp một đoàn quân được đi phép những đợt đầu tiên sau chiến tranh, trên bến phà Long Đại thuộc tỉnh Quảng Bình. Các anh bước lên, còn chúng tôi thì chờ để bước xuống phà. Để ý quan sát, tôi thấy hầu như bên ngoài ba lô của người lính nào cũng có mấy con búp bê, mấy chiếc rổ, giá nhựa của miền Nam (ai nặng hơn thì có thêm 1 chiếc khung xe đạp). Sau này khi có dịp trò chuyện, tôi đã tò mò hỏi:

–        Bên ngoài thì là như vậy, thế còn bên trong ba lô của các ông lúc ấy là những gì? Đề nghị hãy thành khẩn khai báo, rồi sẽ được “Cách mạng” khoan hồng!

–        Thì chúng tớ sợ gì cậu mà không dám nói thẳng, nói thật. Này nhé: 1 bộ quân phục để thay đổi, một chiếc võng, 1 cái màn (mùng), 1 chiếc đèn pin, một cuốn nhật ký, vài phong lương khô quân đội, 1 – 2 gói bột ngọt, vài gói kẹo dừa, kẹo lạc của miền Nam mang ra làm quà cho gia đình, bạn bè. Hết.

Một anh nói thêm:

–        Theo mình thì có thể cũng có một số nào đó lợi dụng để thủ lợi, tuy nhiên số này nếu có thì cũng không nhiều, vì đa số lính tráng tụi mình hồi ấy đều chấp hành rất nghiêm kỷ luật quân quản. Tất nhiên những năm sau này thì không ai dám bảo đảm đâu.

Tôi hoàn toàn tin vào những ” lời khai” ấy của các anh. Tuy nhiên, ấn tượng mạnh nhất mà tôi nhận thấy ở chuyến phà năm xưa là những nét ưu tư trên gương mặt những người lính. Lúc đó tôi đã tự hỏi mình: “Các anh đã may mắn còn sống, lại là những người đại diện cho bên chiến thắng, nay sắp về đến nhà. Vậy thì những nét ưu tư kia là nghĩa làm sao?”.

Tất nhiên, với cái nhìn về cách mạng thường chỉ thấy mầu hồng của một cậu thiếu niên như tôi hồi ấy thì đó là một câu hỏi thật khó trả lời cho thỏa đáng. Nhưng càng ngày thì vấn đề càng rõ và tôi cũng đã dần tự giải đáp được cho mình: nửa năm là ngắn mà cũng là dài. Sau những nỗi vui mừng rất tự nhiên khi chiến tranh kết thúc thì trong các anh nhất định phải là sự hồi tưởng lại quá khứ, sự chiêm nghiệm hiện tại và những lo toan cho tương lai.

Cuộc chiến này tàn khốc và kéo dài quá, mình đã may mắn còn sống nhưng có hàng triệu người đã phải nằm xuống. Thậm chí có những đồng đội đã vì mình mà hy sinh. Người chết thì đã đành, nhưng gia đình họ thì mình như người mắc nợ suốt đời, không gì có thể trả được.

Có nhiều người đi biền biệt 5 – 10 năm hoặc hơn nữa. Có người đã không về kịp để nhìn thấy cha mẹ già lần cuối, trước khi các cụ nhắm mắt xuôi tay. Rồi chiến tranh cũng làm cho hậu phương lớn bầm dập những vết thương cùng cái nghèo đến xác xơ và những cánh thư báo tin bao mất mát nơi quê nhà. Trong các anh, nhiều người đã có người yêu nhưng vì các cô không thể chờ đợi thêm được nay đã đi lấy chồng.

Và nữa: hồi chiến tranh mình đã thấy những bất công, xong vẫn còn lờ mờ, nhưng chỉ mới hòa bình đây thôi thì vấn đề đã khá rõ ràng: có rất nhiều người đã tìm đủ mọi cách để thu vén hưởng lợi, mà họ lại thường có cái vẻ bề ngoài rất “đáng kính”, hay giảng giải cho mình nghe về lý tưởng cộng sản, về đạo đức cách mạng và về những lẽ công bằng trên đời. Chẳng phải đâu xa, đi cùng chiều với mình từ Nam ra Bắc thôi cũng thấy cơ man nào những chuyến xe chở đầy hàng hóa. Chúng là của ai vậy? Rất tiếc rằng nhiều “chủ hàng” lại là thủ trưởng của mình, hễ quyền lực càng cao thì khả năng lách lên phía trước lại càng lớn.

Thì ra những giá trị cao đẹp mà mình vẫn hằng tin tưởng, sẵn sàng cống hiến cả tuổi thanh xuân và xương máu cho nó, nay đã đến lúc phải nhận thức lại để không bị lợi dụng thêm nữa. Sâu xa hơn, mình cần phải xem xét lại động cơ nào khiến cho những người lãnh đạo cao nhất đã dẫn dắt cả dân tộc vào cuộc chiến tranh vừa qua? Và vì sao họ đã làm được như vậy?

Như phần I của bài Suy Nghĩ Về Nhận Thức Lại, viết vào tháng 4 năm 2001 vừa qua tôi đã có dịp trình bày:

Sau chiến tranh thế giới thứ II, cục diện trên thế giới đã có những thay đổi lớn và vì sao Việt Nam lại trở thành điểm nóng của cuộc chiến tranh lạnh giữa 2 phe. Chúng là những yếu tố bên ngoài và chủ yếu đã gây ra cuộc chiến tranh 30 năm của dân tộc ta. Nhưng sẽ thật là thiếu sót lớn nếu như không đề cập đến những yếu tố bên trong của nó nữa; tuy chúng chỉ là phụ thuộc và có sau, nhưng cũng rất quan trọng.

3 – Vấn đề là ở thể chế chính trị:

Năm 1963, tại thành phố Vũ Hán – Trung Quốc diễn ra một cuộc gặp gỡ giữa Mao Trạch Đông với 3 nhà lãnh đạo Đảng lao động Việt Nam lúc ấy là các ông: Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Chí Thanh. Trong cuộc gặp đó Mao Trạch Đông tuyên bố: “Bom nguyên tử là con hổ giấy. Nếu chiến tranh nguyên tử xảy ra, bất quá là Trung Quốc chết đi 400 triệu người, cũng còn lại 300 triệu. Còn bọn xâm lược sẽ bị tiêu diệt. Dân Trung Quốc mắn đẻ lắm. Chẳng bao lâu dân số Trung Quốc sẽ lên 700 triệu, thậm chí 800 triệu, 1 tỷ. Có gì mà phải sợ chiến tranh nguyên tử.”!

Cứ cho rằng Mao Trạch Đông đã nói không sai về đặc tính mắn đẻ của dân Trung Quốc đi nhưng không phải vì thế mà ông ta tự cho phép mình đem cả một dân tộc 700 triệu người ra để thách thức “Bọn xâm lược” như vậy. Chúng ta hãy thử hình dung nếu đấy không phải là những lời của Mao nói ra giữa lòng nước CHND Trung Hoa XHCN, mà lại là của các tổng thống Mỹ, Pháp hay các thủ tướng Anh, Úc, … cùng thời nói về đất nước và nhân dân họ thì điều gì sẽ xảy ra? Dỹ nhiên là không thể được. Ngay lập tức họ sẽ bị truất phế bởi áp lực của các tầng lớp nhân dân, các đảng phái khác, của Quốc hội và của chính ngay đảng cầm quyền mà họ đang là đại diện. Tức là thể chế chính trị của các nước này luôn luôn bảo đảm tạo ra được những đối trọng đủ mạnh, để không cho phép bất cứ ai, dù họ thuộc phái “Bồ câu” hay “Diều hâu” dám đưa ra những tính toán lạnh lùng và tàn nhẫn như vậy.

Thế nhưng những chuyện tương tự lại luôn diễn ra, chẳng những ở Trung Quốc với Mao Trạch Đông, mà còn là rất phổ biến trong toàn hệ thống XHCN. Câu chuyện trên có 3 điểm cần lưu ý :

– Khi Mao tuyên bố như vậy, ông ta đã chắc chắn rằng mình sẽ không thuộc 1 trong số 400 triệu người bị chết bởi “Con hổ giấy” kia. Nếu biết là có thể chết, ông ta đã không dám mạnh miệng. (cũng như ở Việt Nam có những người luôn hô hào nguyện được làm cây chông miệng hố, làm kho mìn nổ quật đổ quân thù,… nhưng đến khi bảo làm thật thì chưa chắc còn giữ được ý định ban đầu!)

– Mao cũng thừa biết rằng cái gọi là “Nền dân chủ XHCN” ở Trung Quốc không thể làm suy chuyển gì đến quyền lực của ông ta sau đó. Mọi ý kiến phản đối đều sẽ bị nghiền nát bởi hệ thống chuyên chính vô sản mà ông ta đang là “Người cầm lái vĩ đại”!

– Sự tập trung quyền lực về mọi mặt ở mức độ cao, chưa từng có trong lịch sử loài người ở tất cả các nước XHCN, vào trong tay chỉ duy nhất một ĐCS cầm quyền; sau đó lại có nguy cơ dồn tiếp chỉ cho một số ít, thậm chí là một người đã là mảnh đất thuận lợi dẫn tới tình trạng sản sinh ra những nhà lãnh đạo cao nhất, dám cả gan đem cả dân tộc họ đánh những canh bạc xả láng như Stalin, Mao Trạch Đông,… đã làm. Đất nước Trung Quốc bao la, dân tộc Trung Hoa với lịch sử 5000 năm đã từng là 1 phòng thí nghiệm khổng lồ để ông ta thực nghiệm những ý tưởng điên rồ từ năm 1949 đến 1976.

Theo tôi, nếu xét riêng về mức độ tập trung quyền lực ở các nước XHCN, thì ngay cả các nước Phát xít trước kia cũng rất khó mà có được. Bởi vì ở các nước ấy, tuy quyền lực chính trị cũng được tập trung ở mức độ cao, nhưng nền kinh tế thì về cơ bản vẫn dựa trên cơ sở tư hữu. Còn ở các nước XHCN, việc huy động “sức mạnh tổng hợp” là thuận lợi hơn nhiều, vì nền kinh tế cơ bản là dựa trên cơ sở công hữu về các tư liệu sản xuất. Chỉ có điều là chính cái “ưu thế” ấy lại bị sai từ gốc. Nó sai từ ngay trong khâu “thiết kế” của Mác, chính từ học thuyết của ông đã tạo điều kiện để những người trong các “Ban chỉ huy thi công” sau này được nắm quyền hành cực lớn; trong khi họ lại không hề bị một cơ chế hãm hữu hiệu nào khả dỹ chấp nhận được, cho những nỗi đam mê vô tận về quyền lực của họ. Vì vậy sớm muộn gì họ nói riêng cũng như cả hệ thống ấy nói chung sẽ rơi vào những tình trạng như : thoái hóa, độc tài hóa, bê tha hoá,… đi kèm với nó là những hành động đầy phiêu lưu, duy ý chí và phản khoa học.

Ở Việt Nam cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ: báo Nhân Dân số ra ngày17.7.1966 đăng toàn văn Lời Kêu Gọi của chủ tịch nước Việt Nam DCCH – Hồ Chí Minh, trong đó có đoạn “Giôn Xơn (Tổng thống Mỹ L.Jhonson) và bè lũ phải biết rằng: chúng có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng ngàn máy bay tăng cường đánh phá miền Bắc. Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng. Chúng càng hung hăng thì tội ác của chúng càng thêm nặng. Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Xong nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do ! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.”.

Không ai có thể nghi ngờ gì về nội dung đanh thép, mang đầy tính chiến đấu của đoạn văn trên. Tuy nhiên có một điều chắc chắn là: trước khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân danh nhân dân Việt Nam đọc nó thì ông cũng không cần phải hỏi ý kiến của họ hay ít ra là của gần 20 triệu đồng bào miền Bắc lúc bấy giờ. Cùng lắm, ông chỉ cần thông qua một số người trong Bộ chính trị và Ban bí thư (hoặc có thể là ngược lại: những người khác trong Đảng Lao Động Việt Nam lúc đó đã quyết định sẵn, viết sẵn rồi đưa cho ông đọc.). Còn nhân dân thì chỉ có duy nhất nghĩa vụ chấp hành mà thôi. “Ưu thế” ấy, những người nắm quyền lực ở các nước có nền dân chủ đa đảng dẫu là nằm mơ cũng không có được.

Để rõ hơn, chúng ta hãy quay trở lại với bối cảnh miền Nam Việt Nam vào những năm cuối của thập niên 1950s : Lúc này nền Đệ Nhất Cộng Hòa do tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo đã được xác lập với sự hỗ trợ mạnh mẽ của người Mỹ. Những ảnh hưởng của người Pháp trước đó đã và đang tàn lụi dần. Chưa tập kết ra Bắc – Ủy viên Bộ chính trị ĐLĐ Việt Nam, kiêm Bí thư Trung ương cục miền Nam, ông Lê Duẩn vẫn ở lại và bắt đầu viết bản Đề cương Đường Lối Cách Mạng Việt Nam Ở Miền Nam vào giữa năm 1956 tại Sài Gòn. (ông ra Bắc đầu năm 1957) . Trong bản Đề cương khẳng định: “Muốn chống Mỹ – Diệm, muốn hoàn thành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ Quốc, ngoài con đường bạo lực cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác.”.

Thế nhưng vấn đề ở đây là chúng ta hãy thử xác định xem có đúng là: “Nhân dân miền Nam không có con đường nào khác” hay không ? Hay đấy chỉ là ý kiến chủ quan, phiến diện và đầy tham vọng của một số người nắm thực quyền trong ĐLĐ Việt Nam lúc bấy giờ ?

Ý kiến sau của ông Lê Trung Tá, cán bộ thuộc Ủy Ban Khoa Học Nhà Nước – Hà Nội vào những năm 1960s rất đáng để mọi người suy ngẫm:

“Khát vọng của Lê Duẩn là phải làm một cái gì hơn cả Điện Biên Phủ, để vượt trội cả Hồ Chí Minh lẫn Võ Nguyên Giáp. Khát vọng ấy được Lê Đức Thọ đồng tình. Lập trường chủ chiến có nguồn gốc sâu xa như vậy” .

Và :

“Nếu không phát động được cuộc chiến tranh ở miền Nam thì cả Lê Duẩn lẫn Lê Đức Thọ đều chưa nắm được thế thượng phong trên vũ đài chính trị”.

Có ý kiến cho rằng: Bây giờ mọi việc đã qua rồi thì nói dễ lắm. Nhưng chúng ta cần phải nhìn thẳng vào tình hình thực tiễn lúc đó là đế quốc Mỹ ngày càng muốn can thiệp sâu vào miền NamViệt Nam. Họ lợi dụng việc đã không trực tiếp ký vào Hiệp định Giơ-ne-vơ (Genève) tháng 7.1954, nên đã thúc đẩy chính phủ VNCH của ông Ngô Đình Diệm không chấp thuận cuộc tổng tuyển cử, thống nhất đất nước vào tháng 7.1956, theo đúng tinh thần và nội dung của bản Hiệp định trên. Đấy chính là nguyên nhân chủ yếu khiến cho nhân dân miền Nam phải vùng lên, dùng bạo lực cách mạng đập tan bạo lực phản cách mạng. Bản Đề Cương được ra đời là trong hoàn cảnh đó.

Những điều này, các sách báo trong nước đều đã đề cập đến rất tường tận bao năm qua, nó có những điểm đúng, nhưng chưa đủ. Tôi tin rằng mai sau, với một nước Việt Nam mới, nhất định giai đoạn mang tính chất bước ngoặt của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ II này cũng sẽ được các sử gia chân chính viết lại cho chính xác và đầy đủ hơn.

Tuy nhiên, có 2 vấn đề cần nhấn mạnh ở đây là:

  1. a) Bản Đề Cương trên trong thực tế đã là “cơ sở lý luận và chính trị ” của ĐLĐ Việt Nam, để sau đó rất nhiều quyết định, lực lượng quan trọng đã ra đời, nhằm mục đích phục vụ cho guồng máy chiến tranh đã vận hành. Ví dụ như : Nghị quyết 15 của TƯ (khoá II) – tháng 1.1959; Quyết định thành lập đường mòn Hồ Chí Minh tháng 5.1959 (còn gọi là Đường 559); Nghị quyết ĐH Đảng III tháng 9.1960 với 2 nhiệm vụ chiến lược : Xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam; thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam tháng 12.1960, thành lập Quân Giải Phóng Miền Nam tháng 2.1961, v.v…

Ai là người Việt Nam lúc đó dù muốn hay không? Đồng tình hay phản đối cũng đều bị ảnh hưởng bởi những sự kiện trên: “Đảng ta luôn đoàn kết và nhất trí cao độ”, nghe qua cũng thấy có nhiều người tràn dâng lên một niềm ” tin tưởng tự hào vào Đảng kính yêu”! Thế nhưng, nếu bình tĩnh suy xét một chút, người ta sẽ giật mình nhận ra rằng: chỉ trừ có “mỗi ” nhân dân Việt Nam là không thấy được hỏi ý kiến gì! Quốc hội nước Việt Nam DCCH cũng vậy, hoặc nếu có thì cũng hoàn toàn hình thức, mang nặng tính trình diễn. (mặc dù trong tất cả các bản Hiến pháp của Việt Nam DCCH hay CHXHCN Việt Nam, từ năm 1946 đến nay đều luôn xác nhận Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, kể cả quyền quyết định vấn đề : chiến tranh hay hòa bình).

Đấy cũng là cái cung cách hành xử của Mao Trạch Đông, khi ông ta xác định “Bom nguyên tử là con Hổ giấy” hay của những nhà lãnh đạo Đông Đức cũ vào tháng 8 năm 1961, chỉ trong 1 đêm đã quyết dựng nên bức tường Berlin chia đôi nước Đức, bất chấp nguyện vọng của dân tộc họ là gì. Cũng như của Phi – Đen (Phidel Castro), khi ông ta tuyên bố: “Nếu Mỹ không thích Cuba thì Mỹ dọn đi nơi khác mà ở.”! Nhân dân các nước ấy cũng không được có vai trò gì trong những trường hợp trên, mặc dù chính họ sẽ phải gánh chịu nặng nề nhất từ đó những đau đớn, mất mát, chia ly, v.v… Còn những người dẫn dắt thì chỉ được, chứ không bị mất gì.

  1. b) Trong thực tế, ĐLĐ Việt Nam đã có những cơ sở sau để cân nhắc và ra quyết định vấn đề nên chiến tranh hay hòa bình :

– Những nhà lãnh đạo của các nước lớn thuộc cả 2 phe trong cuộc chiến tranh lạnh (Cold war) lúc ấy, đều không muốn những điểm nóng của sự đối đầu sẽ trở thành tác nhân cho một cuộc chiến tranh thế giới thứ III diễn ra. (Liên Xô và Trung Quốc dù rất mâu thuẫn với nhau về nhiều quan điểm, nhưng cũng đều khuyên các nhà lãnh đạo trong ĐLĐ Việt Nam phải hết sức thận trọng trong vấn đề này.) .

– Xu hướng cùng chung sống hòa bình và thi đua trong kinh tế để giải quyết vấn đề “Ai thắng ai” đã xuất hiện. Xu hướng này bắt đầu từ năm 1956 tại Đại hội lần thứ 20 của ĐCS Liên Xô. Nó cũng được đa số những nhà lãnh đạo và nhân dân các nước trên thế giới đồng tình và ủng hộ. Việt Nam chỉ là 1 trong ít nhất là 4 điểm nóng của cuộc đối đầu giữa 2 phe lúc ấy . ( ba điểm nóng còn lại là : Đông – Tây Đức, Nam – Bắc Triều Tiên, Cuba và Mỹ, nhưng ở đó, do sự tự kiềm chế của các bên liên quan nên đều đã không xảy ra chiến tranh lan rộng .) .

– Ở miền Nam Việt Nam, chính phủ của tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm (1955 – 1963), một mặt phụ thuộc vào nước Mỹ để cùng thực hiện mục tiêu chung là ngăn chặn phong trào cộng sản trên thế giới. Nhưng mặt khác, chính phủ ấy cũng có rất nhiều điểm mâu thuẫn với Mỹ nhất là về phương thức ngăn chặn phong trào này. (điển hình là mâu thuẫn giữa việc nên hay không nên để quân đội Mỹ trực tiếp tham chiến ở Việt Nam. Đó là mâu thuẫn lớn nhất và cuối cùng ông Diệm đã phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Những nguyên nhân khác như: sự độc đoán, gia đình trị, sự bất đồng của nhiều người trong giới quân nhân đối với gia đình họ Ngô, bàn tay can thiệp của C.I.A,… cũng có, nhưng theo tôi, chúng chỉ là phụ và lệ thuộc vào mâu thuẫn lớn nhất nói trên.) .

– Đã có những người ở cả trong và ngoài ĐLĐ Việt Nam khi ấy nêu ý kiến: hai miền Nam – Bắc hãy cùng chung sống hòa bình và thi đua trong kinh tế để giải quyết vấn đề “Ai thắng ai? “.

Rất tiếc, tất cả những cơ sở trên đều đã bị những người thuộc phái chủ chiến trong ĐLĐ Việt Nam lúc ấy phớt lờ. Thể chế chính trị ấy cho phép họ ” không cần phải có nhu cầu ” làm một cái gì đó tương tự như Hội Nghị Diên Hồng năm xưa của ông cha ta, thời nhà Trần. Dĩ nhiên, tôi không có ý khẳng định 100% rằng hễ cứ gộp tất cả những điều trên lại là bảo đảm để cuộc chiến Đông Dương giai đoạn 1960 – 1975 sẽ không diễn ra, mà chỉ muốn nói rằng: Lẽ ra chúng phải được đặt lên bàn cân một cách nghiêm túc, trước khi đưa ra một quyết định rất quan trọng là chiến tranh hay hòa bình ? Xong tất cả đều đã bị guồng máy ấy dùng đủ mọi cách từ gầm gừ, lườm nguýt, đến chia cắt, bao vây, ngăn chặn và nếu cần thì triệt tiêu luôn . Những quyết định khác sau năm 1975 như: các chiến dịch cải tạo, tách tỉnh ra rồi lại nhập tỉnh vào, đưa quân vào Campuchia và ở lại đấy quá lâu (1979 – 1989), v.v… cũng đều là những sản phẩm của cung cách ra quyết định cố hữu nói trên.

Nguy cơ của những quyết định tuy rất “giầu tính Đảng” nhưng lại rất nghèo tính nhân dân ấy nay còn không? Tất nhiên là vẫn còn, bởi vì nguyên nhân sinh ra nó, xuất phát từ thể chế chính trị là chỉ có duy nhất một ĐCS Việt Nam lãnh đạo đất nước vẫn còn nguyên.

Dẫu là nay, những nhà lãnh đạo mới của Đảng đã khéo che đậy hơn, tung ra nhiều “Cơ chế dân chủ cơ sở” hơn. Nhưng xét về thực chất, nó cũng giống như cách mà những con Kỳ Nhông vẫn thường làm: luôn biến đổi sắc mầu cho phù hợp với môi trường, thời thế đã thay đổi. Bằng cách này, lúc đầu cũng có thể đánh lừa được một số người. Xong chỉ một thời gian sau, người dân sẽ thấy ngay rằng: nếu ở trên Thượng tầng kiến trúc vẫn chỉ là duy nhất thì sớm muộn gì những “mẩu vụn dân chủ” mà họ mới nhận được cũng sẽ bị vét sạch mà thôi. (và những “Ông lão đánh cá” tội nghiệp vẫn lại phải trở về với “cái máng lợn” xưa của mình!).

4 – Sự khủng hoảng về nhân cách và những nỗi bất công hôm nay:

Những vấn nạn của đất nước ta hôm nay thì không chỉ có vậy. Có rất nhiều người ở cả trong và ngoài nước đã viết và nói về chúng. Trong phần này tôi xin được trình bày chỉ riêng về 2 điều trên, theo cách nhìn của những nhà làm phim trong nước.

  1. a) Sự khủng hoảng về nhân cách:

Trong bộ phim Khoảng Cách chiếu trên Đài truyền hình trung ương gần đây, có một đoạn đối thoại giữa một chàng sinh viên ở thành phố với người cha của anh ta như sau:

–        Con công nhận với bố rằng cô ấy hiền lành, ngoan ngoãn. Thậm chí quá hiền lành, quá ngoan ngoãn, đến nỗi con có cảm tưởng là cô ấy không… có thật! Con sợ. Một người “bình thường” thì phải biết… dối trá, biết thay đổi, biết mưu mô, biết thủ đoạn. Đằng này cô ấy không biết gì là xấu xa, vì vậy cô ấy không phải là người bình thường! Con không dám yêu một người không bình thường đâu, bố ạ!

Ở một đoạn khác sau đó là câu chuyện giữa cô gái “không bình thường” trên với người chị của chàng sinh viên kia:

–        Chị ơi! Anh ấy bỏ em rồi.

–        Nhưng nó có nói tại sao không? – Người chị hỏi.

–        Có, anh ấy bảo là tại em ngoan quá nên anh ấy chán, anh ấy thích hư cơ!

Hãy bỏ qua một bên lối triết lý cùn, vụn của chàng sinh viên kia, người xem sẽ nhận ra ngay một điều: Trong xã hội Việt Nam hôm nay, những điều cần mất thì lại còn, những điều cần còn thì lại mất! Có những gia đình cả 3, 4 thế hệ cùng phạm tội. Theo tôi, trong tất cả những sự sụp đổ thì sự sụp đổ về nhân cách là đau đớn nhất, khó khắc phục hậu qủa nhất.

Chẳng những ở thành phố, làng quê Việt Nam trước đây vốn thanh bình là vậy thì nay cũng ” Ào ào như thác đổ “. Chúng ta hãy đọc sau đây trích đoạn câu chuyện giữa một ông giáo làng đã có tuổi, với người vợ lẽ của ông ta, trong bộ phim Thương Nhớ Đồng Quê:

– Tôi không sợ làng xóm chê cười, mặc xác họ. Tôi chỉ dặn cô một điều : có ngủ với ai nhớ đòi tiền, không có tiền thì lấy thóc hay gà, vịt thế vào chứ đừng ngủ không!

(ông này quả là cũng đã có “đổi mới” nhưng chắc là đổi chưa tới bến, chứ thời buổi này trong những trường hợp như vậy, mấy ai còn mang những thứ quang quác, quàng quạc ấy ra mà trao đổi nữa!)

  1. b) Những nỗi bất công hôm nay:

Cũng ở phim Khoảng Cách nói trên, một cô gái làm ở nhà hàng Karaoke ôm đã tâm sự trong nước mắt như sau:

–        Em biết chị khinh em, nhưng em làm việc này lâu quá thành quen mà quên mất đó là việc làm đáng xấu hổ, đáng khinh bỉ. Chị đã nhắc cho em nhớ đến thân phận nhục nhã của mình. Em nhớ lại hồi đầu em cũng xấu hổ lắm, nhưng nhà em thì nghèo, làm ở đấy một ngày đủ nuôi cả nhà em cả tháng chị ạ. Những người khách vào hát với em họ đều là những người giầu có, lịch sự . Họ nhiều tiền lắm, họ làm gì mà nhiều tiền thế? Họ đòi hỏi bọn em phải phục vụ họ, nhưng tại sao bọn em thì bị khinh rẻ? Còn họ? Họ vẫn được kính trọng. Nhà em thì nghèo, mà làm lụng từ sáng đến tối chứ có lười đâu!

“Họ làm gì mà nhiều tiền thế?”. Cô gái kia đã không giải đáp được câu hỏi ấy, nhưng chỉ cần suy luận một chút, chúng ta cũng có thể nắm được thực chất của vấn đề: Những đồi núi bị san lấp, những cánh rừng bị tàn phá, đất đai bị cho thuê bán, sang nhượng; biển cả bị khoan và những khoản nợ xấu khó đòi hàng trăm ngàn tỷ đồng Việt Nam,… Tất cả kết hợp lại đã tạo ra một thiểu số người cực kỳ giầu có, rất “lịch sự, sang trọng” đấy xong cũng rất lố bịch và hợm hĩnh đấy. Trong khi đại đa số nhân dân là nghèo khó, nhọc nhằn với một tương lai bất ổn. Họ hầu như không nhận được gì trong những nguồn thu từ đất, biển, núi, rừng nói trên.

Ở Việt Nam hôm nay “Gió đã xoay chiều”, mọi việc không phải như một khẩu hiệu mà trước đây Lênin từng đưa ra: Tước đoạt của những kẻ đi tước đoạt! mà xuất hiện cơ man nào những kẻ đang nhẫn tâm đi tước đoạt của những con người đã bị tước đoạt đến cùng cực.

Cũng trong bộ phim Thương Nhớ Đồng Quê, có đoạn đối thoại giữa một thầy giáo huyện với một cô gái từ nước ngoài về thăm gia đình như sau :

– Cô thấy cách làm việc của người nông dân bây giờ có khác trước kia không? Vẫn con trâu đi trước cái cày đi sau, vẫn dựa vào sức lực cơ bắp của con người là chính. Khoa học kỹ thuật hầu như chưa giúp gì được cho họ.

– Nhưng tôi thấy ở nông thôn nhiều nhà cũng có điện đấy chứ.

– Có điện đấy, nhưng giá điện cao gấp 2 – 3 lần ở thành phố, không ai dám dùng nhiều. Nông phẩm làm ra rất rẻ, trong lúc giống má, phân bón, thuốc trừ sâu,… người nông dân phải mua với giá cao; khốn nỗi họ thường bị bọn con buôn ở thành phố lường gạt, có khi mua về toàn đồ giả. Hồi chiến tranh ra trận nhiều nhất là nông dân, hy sinh nhiều nhất cũng là người nông dân, cô xem, trên bàn thờ nhà nào hầu như cũng có 1 – 2 người chết trẻ. Bây giờ hết chiến tranh rồi, họ vẫn tiếp tục nai lưng, đổ mồ hôi trên cánh đồng để tự tồn tại, chưa kể những lúc thiên tai như hạn hán, lũ lụt,…

– Tôi nghe nói ở nhà dư thừa thóc gạo, lại còn để xuất khẩu nữa.

– Đúng đấy, nhưng có ai chỉ ăn gạo mà sống hả cô?

– Thì bán thóc đi, rồi mua những thứ khác .

– Cô có biết giá bao nhiêu 1 cân thóc không? 2000 đồng, bằng 1/5 lon bia ở thành phố.

Còn hoa mầu ư? Cô không nghe người ta ví sao? Một điếu thuốc lá đánh ngã 5 củ xu hào. Dân thành phố chúng ta đều có tội, chúng ta tàn phá họ bằng những lạc thú vật chất của mình, bóc lột họ, vô trách nhiệm đối với họ. Trong lúc người nông dân phải gánh vác bao nhiêu thứ nghĩa vụ, nhưng có ai có nghĩa vụ đối với họ đâu?

Nếu hôm nay ai có về nông thôn sẽ thấy là những điều trên đều khá xác thực. Duy có điều “Dân thành phố chúng ta đều có tội ” thì không hẳn là như vậy. Rất nhiều người dân thành phố đã làm bao điều thật có ích cho nông thôn, còn những kẻ có tội với những người dân lương thiện ở cả thành phố lẫn nông thôn thì không chỉ có dân thành phố . Những nhà tư bản đỏ, những kẻ cường hào, ác bá, lý trưởng thời nay đã xuất hiện “trù mật” trên khắp mọi miền đất nước.

Để kết thúc phần này, tôi xin ghi lại ý kiến sau đây của một đảng viên cộng sản có hơn 50 năm tuổi đảng – Ông sang Úc du lịch thăm con cháu:

“Tất nhiên mọi so sánh đều khó tránh được sự khập khiễng, nhưng có thể nhận xét một cách đại thể rằng: những gì mà trước đây, khi đi làm cách mạng bác vẫn hằng tin tưởng và nguyện dấn thân cho một xã hội XHCN tưởng là tốt đẹp; rằng mọi người ai cũng được bình đẳng, ai cũng được nhà nước chăm lo đầy đủ về miếng cơm, manh áo. Ốm đau được chữa bệnh miễn phí, ai muốn học thì được đi học bất kể tuổi tác, v.v… thì chúng lại đang ở bên này. Còn những gì được cho là xấu xa, bóc lột và bất công của xã hội tư bản thì nó lại đang ở Việt Nam.

Thể chế dân chủ ở đây bảo đảm để những nhà làm chính trị phải thực sự là của dân, do dân và vì dân. Nếu anh làm tốt, lần bầu cử sau dân lại tín nhiệm anh. Nếu anh làm không tốt để cho dân bất tín nhiệm thì xin mời các anh về củng cố lại đội ngũ, để cho đảng khác lên làm.

Đảng nào thì cũng có những anh lem nhem, bê bối; nhưng dân chưa kịp trị mấy anh đó bằng lá phiếu, thì đảng của anh ta đã trị anh ta rồi. Đơn giản là vì họ nghĩ nếu làm không tốt, không nghiêm thì kỳ bầu cử sắp tới, chắc chắn cử tri sẽ phạt đảng của họ.

 

Không có chuyện kiểu như bên nhà mình, làm thì dở mà cứ hứa hươu hứa vượn với dân là: rồi Đảng sẽ nghiêm khắc tự kiểm điểm, chứ Đảng cũng đau lòng lắm! Đảng đau từ kỳ đại hội này sang kỳ đại hội khác, từ thế kỷ nọ sang thế kỷ kia, nhưng vẫn “cương quyết không chịu san xẻ” nỗi đau ấy cho ai! Nhân dân, cán bộ, đảng viên muốn đóng góp thì cứ đóng góp. Riêng cái điều 4 Hiến pháp thì chớ có ai được đụng vào!”.

5 – Những lời thay cho kết luận:

Tôi đã từng đứng lặng hàng giờ trên bến Cảng Sài Gòn, khi con tầu mang tên Thống Nhất cập bờ. Đó là những chuyến tầu thủy đầu tiên đưa hành khách từ Bắc vào Nam sau năm 1975. Rất nhiều người đi trên tầu là những cán bộ miền Nam tập kết, nay được trở về quê hương. Dưới chân tầu những người thân ruột thịt đang nôn nao đón chờ họ. Những nỗi mừng vui của ngày gặp lại, những giọt nước mắt đoàn viên. Nhiều người vì quá xúc động đã ngất lịm đi trong vòng tay người thân. Hơn 21 năm trước đây, họ cũng người trên tầu – người dưới bờ giơ 2 ngón tay cùng hẹn ước với nhau rằng: 2 năm sau nhất định sẽ gặp lại, khi cuộc Hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất nước được thực thi. Thế rồi hoàn cảnh đã không chiều lòng họ, để hôm nay – Ngày tái hợp, dẫu họ có giơ 2 lần của cả hai bàn tay cũng vẫn chưa đủ cho số năm xa cách.

Lúc ấy, với tuổi học sinh vô tư, tôi đã không mấy lưu tâm đến việc có biết bao bạn bè cùng lớp mình đang có cha, anh họ đang phải đi học tập cải tạo; lại càng không hay biết gì về chuyện có nhiều ngàn thường dân vô tội đã bị chết oan khiên tại Huế – Xuân 68. Sau này vào ký túc xá, chúng tôi cùng ăn, ở, học hành chung,… cùng chia xẻ với nhau từng gói mì tôm, từng đồng bạc cuối cùng và biết bao chuyện vui buồn khác, tôi mới hiểu thêm về những nỗi đau của các bạn mình. Đúng là sự vô tư nhiều khi lại đồng nghĩa với sự vô tâm đến đáng trách. Những sự khác biệt ban đầu bởi nhiều yếu tố cũng đã từng ngăn cách, nhưng thời gian và nhất là tấm lòng chân thành đã giúp chúng tôi ngày càng xích lại gần nhau hơn. Rất nhiều người đã cảm mến, rồi yêu nhau và nên vợ nên chồng – Đấy là thực tế. Nó đã, đang và sẽ vẫn diễn ra theo đúng quy luật của cuộc sống.

Theo tôi, về cơ bản thì trong nội bộ dân tộc ta đã tự hàn gắn được cho nhau những vết thương của quá khứ. Thời gian đã như một phép mầu giúp cho tình tự dân tộc và tính nhân bản của người Việt Nam ngày càng được phục hồi và chiến thắng tất cả. Nhưng một điều cũng rất hợp với quy luật là: khi những vết thương kia càng được hàn gắn nhanh bao nhiêu thì lại càng bộc lộ sâu sắc mâu thuẫn cơ bản của dân tộc ta hôm nay bấy nhiêu. Đó là mâu thuẫn giữa đại bộ phận dân tộc, không phân biệt hoàn cảnh xuất thân, tôn giáo, sắc tộc, vùng, miền, quốc gia định cư, v.v… với một thiểu số hiện đang cố duy trì thể chế chính trị độc đảng ở Việt Nam. Mâu thuẫn này là đối kháng, không có cơ sở dung hòa, một khi mà nguyên nhân sinh ra nó vẫn còn đó!

Tôi tin rằng trong một tương lai gần, cái gọi là “Cuộc cách mạng XHCN ở Việt Nam” nhất định sẽ phải thôi gào thét, cũng như Ý thức hệ cộng sản nhất định phải ra đi trên đất nước ta. Nó không tạo ra được động lực thì nó phải ra đi, đó là chân lý đơn giản và rõ ràng. Còn hiện nay thì nó đang vay mượn không hề có khế ước xã hội và hoàn toàn sống ký sinh vào dân tộc!

Những người dân chủ Việt Nam hôm nay muốn đưa ra lời kêu gọi cùng đồng bào của mình là: Muốn chống bất công, đói nghèo, tụt hậu; muốn hoàn thành những mục tiêu của 1 nước Việt Nam mới nhằm hòa nhập được tốt vào thế giới hiện đại; ngoài con đường dân chủ, đa nguyên, đa đảng và pháp trị, nhân dân Việt Nam không còn con đường nào khác!

Nhưng không giống với cung cách ra quyết định cố hữu của ĐCS Việt Nam như trên đã trình bày, họ đề nghị một cách làm dân chủ mang tầm vóc toàn dân tộc: với vị thế chính trị hiện nay của mình, ĐCS Việt Nam hãy để cho dân tộc ấy được thể hiện ý chí và nguyện vọng của họ, thông qua một cuộc Trưng Cầu Dân Ý về bất cứ điều gì mà từ trước đến nay ĐCS Việt Nam vẫn luôn ngụy biện rằng: “Đó là sự lựa chọn của nhân dân và của lịch sử!”.

Phương Nam – Australia.

Tháng 8 năm 2001.

Phụ lục:

Việt Nam Đất Nước Tôi – Phương Nam, tháng 6/2000.

http://vnthuquan.net/mobil/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n4n0n3n1n31n343tq83a3q3m3237nvn

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

%d bloggers like this: