"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Mười, 2016

RẤT XÔM TRÒ! ĐẠI HỘI HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI – NGÀNH THƠ THẨN

chú Tễu blog

RẤT XÔM TRÒ! ĐẠI HỘI HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI – NGÀNH THƠ THẨN 

 

ĐẠI HỘI HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI (ngành thơ)

Trần Nhương
Chủ nhật ngày 30 tháng 10 năm 2016 5:57 AM
.

TNc: Đại hội Hội Nhà văn Hà Nội kì này hóa ra sướng, có tới 3 cuộc họp để gặp nhau tay bắt mặt mừng (Thơ, Văn xuôi và Đại hội toàn thể) . Không tiệc tùng, chỉ có cái phong bì 100k cho đại biểu đi taxi.

Sáng nay (29-10) tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, đại hội ngành Thơ đã nhóm họp. Số hội viên hơn 300 thì chỉ có gần 200 người dự. Thông lệ đại hội ở xứ ta đều có báo cáo kiểm điểm nhiệm kì, báo cáo kiểm tra, báo cáo tài chính. Công bằng mà nói nhiệm kì này BCH hoạt động tốt, tổ chức nghe chuyên đề hàng 100 cuộc, đi thực tế các vùng nhiều cuộc.. .Chủ tịch Phạm Xuân Nguyên năng nổ sáng kiến nên hoạt động của Hội khá phong phú. Giải thưởng hàng năm có tiếng vang.

Cũng còn khuyết điểm nhất là giải thưởng năm qua và chưa làm được website của Hội nhà văn Thủ đô. 
.
Hội trường nóng rừng rực khi nhà thơ Hương Mộc chất vấn Bằng Việt về việc Phạm Xuân Nguyên tham gia Văn đoàn độc lập. Ý kiến có vẻ gay gắt như quả điểm huyệt với Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội. Hương Mộc cho rằng Chủ tịch Hội Phạm Xuân Nguyên tham gia Văn đoàn là không chấp nhận được. Vậy Bằng Việt xử lí ra sao xin được trả lời.
.

 
Phạm Xuân Nguyên trả lời đại ý: Tôi tham gia Ban vận động VĐĐL chứ chưa là một hội, chỉ là Ban vận động. Tôi là đảng viên, trưởng phòng của Viện Văn học. Tôi chưa nhận một lời nào yêu cầu tôi rời văn đoàn, nhà nước và các cơ quan hữu quan chưa có chỉ thị hay thông báo về Ban vận động này. Vừa rồi nhà thơ Thái Kế Toại người có chân trong Ban vận động VDĐL vẫn được bầu vào BCH Hội Điện ảnh thành phố. Sao với tôi thì có ý kiến nọ kia. Nhà thơ Hương Mộc yêu cầu nhà thơ Bằng Việt trả lời. Bằng Việt nói đại ý :Ban vận đông VDĐL có nhiều người tài danh, nhiều người là bạn tôi. Trong chỉ đạo của thành phố cũng nhắc rằng không được đẩy họ sang phía thù địch, đều là anh em mình cả. Nhưng nhiều lần tôi nói với Phạm Xuân Nguyên rằng ông có vợ lại có một cô bồ xinh đẹp, thế là bắt cá hai tay. BVĐ Văn đoàn tuyên bố độc lập nghĩa là không nằm trong hệ thống của Nhà nước, cho nên một chủ tịch Hội Nhà văn thì không nên tham gia…Tóm lại vấn đề này vẫn là cái cấn cái của Hà Nội.
.
Ông Hương Mộc. Hình ảnh trích từ video clip.

*
Trần Nhương xin được phát biểu để ĐH không sa đà vào Văn đoàn. Tôi nói đừng phong thánh cho Văn đoàn, mới chỉ là Ban vận động thì biết hình hài sẽ ra sao. Nước ta đã có Tự lực văn đoàn làm rạng danh văn học Việt, biết đâu trong mươi năm nữa đúng sai thế nào. Ta rất hay chỉ mình đúng còn người khác sai. Trong tình hình cởi mở và Luật về Hội sắp ban hành thì tôi cho rằng không nên quá lo lắng cho những hội đoàn khác. Ta đang thực hiện Hiến pháp tự do lập hội, tự do tư tưởng, tự do bày tỏ ý kiến. Hội trường vỗ tay rào rào…

Thế là Đại hội bỏ lại chuyện Văn đoàn mà bàn về công việc của nhà văn. Cuối cùng là giới thiệu nhân sự BCH khóa mới. BCH cũ giới thiệu 11 nhân sự gồm 5 chấp hành cũ và thêm 6 người như Hữu Việt, Lưu Khánh Thơ, Đỗ Bích Thúy…Cuối cùng để cử lên tới 32 vị. lại rút, bất ngờ Nguyễn Sỹ Đại phó CT khóa cũ xin rút…

Hơn 12 giờ chưa xong, tôi đói quá và phóng xe về nhà làm bát cơm sau khi đã làm xong nghĩa vụ hội viên… 
 
 
  1. Đại hội họp với tinh thần như thế là cởi mở và tốt. Ý kiến nhà thơ Trần Nhương rất rạch ròi, sòng phẳng, hợp lý, hợp tình. Văn nghệ sĩ trong cả nước rất phục sự hiểu biết của các nhà Lãnh đạo Hà Nội trong việc sử dụng cán bộ nhà văn để làm cho văn học thủ đô ngày một thêm khởi sắc. Ông Hương Mộc là ông nào ? mong ông phấn đấu để trở thành một nhà thơ hay nhà văn có tên tuổi của thủ đô. Còn như, chưa viết văn mà đã sa đà vào khôn lõi, chính trị vặt thì cái tâm bé, không viết văn được đâu ! Khó tin ông là người có đầu lắm !

  2. Ông Hương Mộc là ông hương cây, ông hương cây là ông cầy hương.Cầy hương vốn sống trong rừng nay về Thủ đô náo nhiệt nên hoảng sợ oẳng vài tiếng để tự trấn an. Đã rõ chưa thưa bác ?

     
  3. Tiếng là nhà thơ, nhà văn … thì phải đa dạng, phong phú, thoáng, cách tân … thì mới là thơ văn. Thơ văn mà sặc mùi chính trị, sợ chệch này chệch nọ thì bẻ bút đi. Chệch hay không có tuyên giáo họ lo, đừng tưởng ôm cả bầu trời là hay. Tư duy thơ văn như thế nên suốt mấy chục năm, VN không có tác phẩm nào ra hồn trên kệ sách quốc tế. Không thấy buồn, tủi, nhục à!

  4. Hương Mộc là con chó nào vậy?

    Suýt nữa thì chủ tịch hội Nhà văn HN Phạm Xuân Nguyên bị đồng nghiệp cho “thưởng thức” lại không khí sục sôi của thời kỳ CCRĐ: Đấu tố!

Advertisements

Bắt con tin ở TP.HCM: Lãnh sự quán Mỹ xuống hiện trường

Bắt con tin ở TP.HCM: Lãnh sự quán Mỹ xuống hiện trường

VNTB 31.10.16

Giao thông

Vụ người Mỹ bắt 3 người thân làm con tin vẫn rất căng thẳng, Lãnh sự quán Mỹ có mặt tại hiện trường.
1_260277
Người của Lãnh sự quán Mỹ tại TP HCM đã có mặt tại chung cư Him Lam để phối hợp giải quyết vụ giam lỏng con tin.
 *
Tin mới vụ bắt con tin ở chung cư Him Lam, TP.HCM:
Đến 11 giờ trưa 31/10, lực lượng cảnh sát và các cơ quan chức năng TP.HCM vẫn túc trực xung quanh chung cư Him Lam quận 8, để tìm cách giải quyết vụ người đàn ông Mỹ giam lỏng vợ và 2 con người Việt bên trong chung cư Him Lam. Theo cơ quan chức năng, mục tiêu chính là phải giải cứu an toàn các nạn nhân bị giam lỏng.
.
Đến thời điểm hiện nay, người của Lãnh sự quán Mỹ tại TP HCM đã xuống hiện trường để phối hợp các cơ quan chức năng Việt Nam giải quyết vụ việc. Đồng thời Phòng xuất nhập cảnh công an TP HCM cũng có mặt để phối hợp cùng Lãnh sự quán Mỹ và các phòng nghiệp vụ khác của công an TP, giải cứu các nạn nhân.
.
Như đã thông tin, người gây ra vụ việc là một người đàn ông quốc tịch Mỹ có tên là Ken, giam lỏng vợ và 2 con người Việt suốt đêm 30/10, đến sáng hôm nay 31/10 người này vẫn khóa trái cửa cố thủ bên trong. Vụ việc được cho là xuất phát từ mâu thuẫn giữa mối quan hệ của ông Ken và người vợ Việt.
2_55075
Người đàn ông Mỹ đã giam lỏng vợ và 2 con suốt từ chiều tối 30/10.
.
Theo đó vào khoảng 18 giờ chiều 30/10 một số người bạn nhận được điện thoại của vợ ông Ken cầu cứu, về việc bị ông này dùng hung khí khống chế, giam giữ bên trong căn hộ ở lầu 8 chung cư Him Lam . Khi những người bạn đến nơi khuyên nhủ ông Ken mở cửa, thì ông này nhất định không chịu mở.
.
Do đó bạn của gia đình ông Ken đã gọi điện thoại trình báo công an địa phương. Ngay khi nhận được tin báo, công an quận 8 cùng lực lượng cảnh sát 113 công an TP đã có mặt, thuyết phục nhưng ông Ken vẫn không chịu ra mở cửa.
.
Hiện nay lực lượng chức năng vẫn tiếp tục thực hiện biện pháp thuyết phục, chưa áp dụng biện pháp mạnh để giải quyết nhằm bảo vệ các nạn nhân.
.
Sao Mai

Chỉ có trộm mới biết tài sản nhà quan chức!

31/10/2016

Chỉ có trộm mới biết tài sản nhà quan chức!

 Điền Phương Thảo

clip_image002

Theo báo cáo của Chính phủ, năm 2015 có hơn 1 triệu người kê khai tài sản và không phát hiện ra người vi phạm dù xác minh hơn 400 trường hợp(1).

Quả là một tín hiệu đáng mừng (?) cho đất nước trong công tác thẩm tra phòng chống tham nhũng. Vậy mà ai đó nói rằng “tham nhũng đã trở thành quốc nạn”, “vì giờ nó liên quan đến hầu hết mọi người làm việc cho Nhà nước”, nào là “ra ngõ đã thấy tham nhũng” và nó đã “như con rắn 100 đầu, đập đầu này nó có đầu kia”.

Trong bộ phim Ván bài lật ngửa, cố vấn Ngô Đình Nhu đã đánh giá bản khai lý lịch của chiến sĩ tình báo Nguyễn Thành Luân “chỉ là một tờ giấy trắng” với “hai nghĩa: nó quá thật, quá đủ dẫn tới nghĩa thứ hai là chưa có chữ nào cả”. Nghĩa là “nó thật đến mức nó nói láo”.

Để có thể hoạt động tốt trong lòng địch, tất nhiên chiến sĩ tình báo Luân phải chuẩn bị cho mình một bản lý lịch rất minh bạch, không để lộ một sơ hở nào. Cũng vậy, khi kê khai tài sản, các cán bộ, công chức, đảng viên cũng phải kê khai sao cho tài sản của mình “trắng trẻo không tì vết” là điều dễ hiểu.

Thiết nghĩ, điều xã hội và người dân cần ở đây là tính trung thực của các cán bộ, công chức, đảng viên chứ không phải là có bao nhiêu đầy tớ nhân dân kê khai tài sản, thu nhập. Nếu các giao dịch bằng tiền mặt không qua ngân hàng thì làm sao kiểm tra? Chưa kể từ xưa đến nay, Nhà nước không quản lý nguồn gốc đồng tiền từ đâu có và nó sẽ di chuyển đi đâu, giờ mới thực hiện việc kê khai, thử hỏi làm sao phân biệt được tiền nào là do cha mẹ để lại, tiền nào là do cán bộ làm ra?

Theo một bài viết đăng trên trang báo vietnamnet.vn vào ngày 24/07/2014 cho biết “chỉ đến khi bị trộm viếng thăm, khối tài sản khủng trị giá hàng chục, hàng trăm cây vàng, hàng tỷ đồng hay vài chục nghìn đôla… được giấu kín của nhiều quan chức mới bị lộ”(2). Thậm chí một “siêu trộm” còn thừa nhận tại tòa án rằng “vào nhà đại gia, quan chức lắm tiền nhiều của chứ nhà dân thường lấy đâu ra tiền mà đột nhập vào cho mất công?”

Vậy ra “cháy nhà mới ra mặt chuột”. Nên chăng Ban Thẩm tra phòng chống tham nhũng cứ lấy số liệu từ những vụ trộm này, có khi xã hội sẽ biết tài sản thật của các đầy tớ nhân dân mà không cần tốn giấy mực, công sức để thực hiện bảng kê khai?

Đ.P.T.

__________

(1) http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/khong-phat-hien-ai-vi-pham-trong-1-trieu-nguoi-ke-khai-tai-san-2016102814115756.htm

Nguồn: http://www.tinmungchonguoingheo.com/blog/2016/10/30/chi-co-trom-moi-biet-tai-san-nha-quan-chuc/

GỚM CHO NHÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC NGUYỄN VĂN LƯU !

GỚM CHO NHÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC NGUYỄN VĂN LƯU !

 GỚM CHO ÔNG NGUYỄN VĂN LƯU MẠT SÁT THẲNG CÁNH CHỦ TỊCH HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI TẠI ĐẠI HỘI TRÙ BỊ 

 
FB Nguyen Viet Chien
Chủ nhật ngày 30 tháng 10 năm 2016 9:46 PM
TNc: Sáng nay Đại hội ngành Văn xuôi và Lý luận phê bình nhóm họp. Theo bạn bầu kể lại diễn ra rất kịch tính, có quy chụp kiểu những năm 1958, có cướp diễn đàn, có tranh luận, có không khí dân chủ đáp trả. Rất nóng, rất căng thẳng và cũng rất vui hơn hẳn Đại hội của mấy thi sỹ. Trang nhà đưa trước bài trên FB của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến. Sẽ có bài kĩ hơn về Đại hội này…
 
Sáng 30/10/2016, tại Đại hội trù bị Hội Nhà văn Hà Nội chuyên ngành văn xuôi, bỗng dưng nhà phê bình Nguyễn Văn Lưu giơ tay xin phát biểu ý kiến. Không cần đợi micro, ông vén quần, nhảy phắt lên thẳng diễn đàn (gần đoàn chủ tịch đại hội), xổ luôn một tràng, mạt sát thẳng cánh nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên (Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội) đủ điều, theo kiểu “chụp mũ chính trị”. Trong đó có việc Nguyên đầu bạc đã đi ngược lại tôn chỉ, mục đích hoạt động của Hội Nhà văn Hà Nội (chỉ còn thiếu mỗi nước vu cho Nguyên là “phản động” cần phải bắt giữ ngay!?), rồi đến chuyện Nguyên thao túng trong việc trao giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2015 cho tiểu thuyết “Mình và họ” của nhà văn Nguyễn Bình Phương (hiện là đại tá, Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội) là cuốn sách mà ông Lưu đã có bài “đánh đập không nương tay” trên một tờ báo ở Sài Gòn. Ngay lập tức, nhà văn Vũ Ngọc Tiến (tác giả tiểu thuyết Rồng Đá) cũng lên diễn đàn phê phán sự thiếu văn hóa trong cách phát biểu của ông Lưu và cho rằng hành vi này “thật sự tởm lợm”!? Tiếp theo, một số nhà văn khác như Phạm Ngọc Tiến cũng thẳng thắn phê bình ông Lưu. Còn Nguyên đầu bạc âm thầm “chịu trận” nghe mọi người phát biểu, rồi sau đó trong phần tổng kết mới thưa rằng: “Mọi hoạt động của Hội 5 năm qua không hề bị thành phố Hà Nội và các cấp, ngành nhắc nhở. Và tiểu thuyết “Mình và họ” của nhà văn Nguyễn Bình Phương do NXB Trẻ in phát hành trên toàn quốc trước khi trao giải được Hội đồng giải thưởng Hội Nhà văn HN (gồm 9 nhà văn có uy tín) bỏ phiếu cao tuyệt đối” . Một số nhà văn cũng phát biểu tại đại hội, cho rằng cuốn “Mình và họ” là tiểu thuyết đương đại hay nhất hiện nay khi đề cập đến cuộc chiến tranh chống xâm lược ở biên giới phía Bắc từ năm 1979-1984. Để cho ông Lưu “hạ hỏa” và ông Nguyên “bớt buồn”, tôi tặng mỗi ông “một em” trong ảnh dưới đây vì “cái đẹp sẽ cứu rỗi thế giới này và sẽ cứu rỗi các ông qua những cuộc luận chiến văn chương tẩu hỏa nhập ma bất phân thắng bại”. 

Vậy có thơ rằng :
Đầu bạc đấu với râu dài
Thằng râu, thằng tóc cãi hoài không tha
Phê bình chỉ điểm đấy à
Nay thì cá kiếm mai là cá mương

Tranh tếu của TN

Đào Trinh Nhất – nhà báo Việt Nam tiên tri sớm nhất về số phận Nước Nga xô viết

Đào Trinh Nhất – nhà báo Việt Nam tiên tri sớm nhất về số phận Nước Nga xô viết

Phùng Hoài Ngọc

dao-trinnh-nhatbia-sach

*ảnh: nhà báo  Đào Trinh Nhất 20 tuổi khi viết quyển sách đầu tay, năm 1919 .

Mời quí bạn đọc chương 1, quan điểm kinh tế- chính trị của nhà báo Đào Trinh Nhất:

Một là tư bản và nhân công hợp với nhau. Tư bản với nhân công là hai tài liệu để lập nên một nước phú cường, tất phải tương tư tương trợ lẫn nhau, rời nhau ra thì đều là vô dụng, lại có hại nữa. Thế giới ngày nay, xướng lên cái chủ nghĩa tư bản, và cái chủ nghĩa lao động, có ý phản đối nhau, song kết quả chỉ thấy là phá hoại, thường khi bọn thợ đình công, mà công nghệ phải chịu ảnh hưởng lớn, thường khi ông chủ đóng cửa xưởng, mà bọn thợ đến nỗi mất việc làm, chứng cớ rành rành, là nước Nga gây nên cái chính sách lao nông, mà trong nước tan tành ra đó, chỉ nay mai tất ta thấy nước ấy phải quay về chế độ thường, nghĩa là nhân công phải đi đôi với tư bản. Như thế thì đủ hiểu rằng tư bản với nhân công, không thể bỏ nhau mà làm nên việc được”. (trang 28,29, từ bản gốc: Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ, nhà xuất bản Thụy Ký, Hà Nội 1924, do Nxb Hội nhà văn tái bản tháng 8.2016, in nguyên gốc và bìa).

Xin bạn đọc lưu ý, chúng ta vừa đọc gần hai trang sách trên được viết cách đây ngót 100 năm. Tiếng Việt từ đó đến nay đã thay đổi nhiều theo quá trình lịch sử, nên có thể chúng ta có ngỡ ngàng đôi chút về lời văn và từ ngữ. Chẳng hạn, hồi đầu thế kỷ 20, trí thức và báo chí còn dùng nhiều từ Hán Việt, ví như câu “Tư bản với nhân công là hai tài liệu để lập nên một nước phú cường”. Nhà báo dùng từ “tài liệu” rất chuẩn theo nghĩa gốc (nguyên vật liệu để làm việc). Đương đại, tài liệu chỉ còn là “giấy tờ và tương đương”. Lại nữa, nhà báo gọi công nhân thợ thuyền là “bọn thợ đình công” không có ý gì khinh miệt người thợ, đó chỉ là từ Việt cổ quen dùng (bọn: số đông).

Bây giờ chúng ta bàn về quan điểm cơ bản của nhà báo “Thế giới ngày nay, xướng lên cái chủ nghĩa tư bản, và cái chủ nghĩa lao động, có ý phản đối nhau”. 

Ai “xướng lên” cái chuyện đó ?

Chính là những người truyền bá chủ nghĩa Mác Lê đã đưa vào Việt Nam chủ trương đó. Lúc này Nguyễn Ái Quốc đang bôn ba hải ngoại trời Âu tuồn về nước một số bài báo quảng bá “cách mạng tháng Mười và Lê Nin, chủ nghĩa Mác”. Lúc này Đảng cộng sản chưa ra đời ở nước ta, kể cả Trung quốc. Nhà báo tạm gọi cái chủ nghĩa Mác Lê là “chủ nghĩa lao động”. Chủ nghĩa Mác Lê đưa ra giải pháp “thuyết đấu tranh giai cấp”: kêu gọi giai cấp vô sản tức “giai cấp lao động” phải tiêu diệt giai cấp tư sản.

Nhà báo đã rất ngạc nhiên về “học thuyết” này. Ngay từ năm 1919, Đào Trinh Nhất từ Hà Nội quan sát nước Nga xô viết xa xôi và nhận xét về cuộc “cách mạng” tháng Mười bên đó: “song kết qủa chỉ thấy là phá hoại, thường khi bọn thợ đình công, mà công nghệ phải chịu ảnh hưởng lớn, thường khi ông chủ đóng cửa xưởng, mà bọn thợ đến nỗi mất việc làm, chứng cớ rành rành, là nước Nga gây nên cái chính sách lao nông, mà trong nước tan tành ra đó”.

Nhà báo gọi tên chính sách Nga xô xây dựng CNXH từ trước năm 1919 là “chính sách lao nông”. Nghĩa là, chính sách vắt kiệt sức lao động của nông dân (và công nhân) cho sự nghiệp cách mạng, chỉ cậy sức lực số đông vô sản, không quan tâm “tư bản”.

Và kỳ tài thay, nhà báo trẻ từ 1919 đã tiên đoán “…chỉ nay mai tất ta thấy nước ấy phải quay về chế độ thường, nghĩa là nhân công phải đi đôi với tư bản. Như thế thì đủ hiểu rằng tư bản với nhân công, không thể bỏ nhau mà làm nên việc được” (người viết in đậm nhấn mạnh- PHN).

“Chế độ thường” nghĩa là chế độ đúng qui luật, tức là chế độ tư bản. Mặc nhiên nhà báo coi chế độ cộng sản Nga là chế độ “dị thường”.

Lời tiên đoán thiên tài của nhà báo nhà kinh tế chính trị học, trưởng thành từ gốc văn hóa Hán-Pháp, về cái tương lai của nước Nga: “nay mai” tuy chưa xác định cụ thể, nhưng  nhất định nó phải thất bại và thay đổi. Tiên tri đã ứng nghiệm hơn sáu chục năm sau, khi “bức tường Berlin” và hệ thống XHCN Đông Âu sụp đổ.

Trong khi nhà báo viết công trình này (1919) chỉ hai năm sau “cách mạng tháng Mười Nga” 1917, một năm trước khi ông Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng cộng sản Pháp năm 1920. Nguyễn Ái Quốc sau đó đã tìm cách đưa một số người sang Nga học “đại học cộng sản” gọi tên là “ĐH lao động cộng sản phương Đông” để rước “món nợ” về nước Nam ta (Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, trước đó cùng 1 nhóm đồng chí đã tham gia hoạt động với Trung cộng).

Công trình Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ được viết từ năm 1919, xuất bản 1924, nội dung chủ yếu nghiên cứu về tình hình người Hoa ở Việt Nam và đề xuất sách lược sống chung với họ, đồng thời lưu ý giải pháp ngăn cản sự bành trướng vô lối của họ. Nhà báo không sa vào ý thức “bài Hoa” theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi. Ông chỉ cảnh báo cái họa Bắc phương. Và ông không ngờ cái họa “hữu hảo hai Đảng”  sau này còn ghê gớm hơn nhiều. Bởi vì khi nhà báo viết sách, cái họa ấy còn đang manh nha mọc mầm bên kia biên giới. Lúc ấy mới chỉ có lù lù hiện tượng Nga xô, còn Đảng của Mao tới năm 1921 mới mọc lên. Tuy nhiên, tiên tri quá sớm về Nga cộng cũng là tiên đoán về Trung cộng vì họ cùng tôn thờ một “chủ nghĩa lao động”, Nga cộng và Tàu cộng chỉ là thầy và trò mà thôi.

Phụ lục

Lướt qua tiểu sử nhà báo kiệt xuất Đào Trinh Nhất:

Đào Trinh Nhất sinh năm Canh Tý (1900) tại Huế. Nguyên quán tại xã Thượng Phán, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình. Trưởng thành và làm báo ở Hà Nội. Mất 1951 tại Sài Gòn. Ông là con trưởng của Đào Nguyên Phổ *[1], đỗ Đình nguyên nhị giáp tiến sĩ (tức hoàng giáp, xếp hạng nhì sau Trạng nguyên). Mẹ là Lương Thị Hòa, con gái nhà yêu nước Lương Ngọc Quyến và là cháu ngoại  chí sĩ Lương Văn Can.

Thuở nhỏ, Đào Trinh Nhất theo học chữ Hán ở quê nhà, sau lên Hà Nội học chữ Pháp và chữ quốc ngữ. Từ năm 1921 – 1925, ông bước vào làng báo, làm biên tập Hữu thanh tạp chí Thực nghiệp dân báo. Rồi viết cho các báo: Trung hòa nhật báo, báo Đông Pháp. 14 tháng 11 năm 1925, ông vào Sài Gòn, làm thư ký tại Chez Phan Chu Trinh, số 5 Catinat (nay là đường Đồng Khởi). Ngày 22 tháng 3 năm 1926, ông sang Pháp du học. Ngày 15 tháng 4 năm đó, ông tới Paris, liên lạc với Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Như Phong và viết cho báo Việt Nam Hồn. Năm 1929, ông về nước, ở luôn trong Nam viết báo, viết sách cho đến bị trục xuất về Bắc vào ngày 25 tháng 7 năm 1939.

Trong khoảng 10 năm ở Sài Gòn, ông đã cộng tác với các báo: Phụ nữ tân văn, Công luận, Thần chung, Tân văn, Việt Nam, Điểm tin. Và làm chủ bút báo Ðuốc Nhà Nam (Flambeau d’Annam) của Bùi Quang Chiêu (năm 1930-1931), tự xuất bản báo Mai (tháng 2 năm 1936-1938).

Ra Hà Nội, Đào Trinh Nhất viết cho tờ Trung Bắc Chủ nhật (1940-1945). báo Nước Nam (1944-1945). Sau năm 1945, ông hồi cư về Hà Nội, tiếp tục viết cho báo Ngày mới, Việt thanh.

Năm 1948, ông viết cho tờ Cải tạo. Năm 1949-1950, ông vào Sài Gòn làm việc trong Bộ ngoại giao với Nguyễn Phan Long và viết cho báo Ánh sáng, Sài Gòn mới, Dân thanh cho đến ngày mất. Ông đang dịch bộ tiểu thuyết Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, mới được nửa bộ đang đăng báo thì từ trần. Ông mất trong một gian nhà nhỏ ở xóm Hòa Hưng (Sài Gòn) vào chiều thứ Sáu ngày 18 tháng Giêng năm Tân Mão (23 tháng 11 năm 1951), hưởng dương 52 tuổi, an táng tại nghĩa địa Hòa Hưng.

Được tin ông mất, làng báo, làng văn trong Nam ngoài Bắc đều có bài nói về thân thế, văn nghiệp của Đào Trinh Nhất và cho đăng nhiều điếu từ, đối phúng,văn tế, thơ viếng…để tỏ tình mến tiếc. Ngoài ra, báo Tiếng Dội (Sài Gòn) còn chủ xướng việc xây mộ cho ông, báo Cải Tạo (Hà Nội) tổ chức ngày lễ truy điệu long trọng và cho ra một số báo đặc biệt viết đầy đủ về ông (Cải Tạo số 134, năm 1951).

Vốn là nhà báo viết văn, hầu hết tác phẩm của Đào Trinh Nhất đều đăng từng kỳ trên báo rồi sau mới in thành sách. Theo thống kê chưa đầy đủ, sau 30 năm cầm bút (1921-1951), ông đã để lại khá nhiều tác phẩm (ước 20 cuốn).

  1. Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ (Thụy Ký – Hà Nội, 1924)
  2. Thần tiên kinh (Dịch sách tiếng Pháp của A lan Kardec, 1930)
  3. Cái án Cao Đài (Sài Gòn, 1929)
  4. Việt sử giai thoại (Hà Nội, 1934)
  5. Nước Nhựt Bổn ba mươi năm duy tân (Đắc Lập-Huế, 1936)
  6. Phan Đình Phùng, một vị anh hùng có quan hệ đến lịch sử hiện thời. (Cao Xuân Hữu – Hải Phòng, 1936; Đại La- Hà Nội, tái bản 1945; Tân Việt –Sài Gòn, tái bản 1957)
  7. Việt Nam Tây thuộc sử (Đỗ Phương, Huế-Chợ Lớn, 1937)
  8. Ðông Kinh nghĩa thục (Mai Lĩnh-Hà Nội, 1938)
  9. Ngục trung thư (Đời cách mạng Phan Bội Châu) (Mai Lĩnh-Hà Nội, 1938; Tân Việt-Sài Gòn tái bản, 1950)
  10. Vương An Thạch (Hà Nội, 1943; Tân Việt-Sài Gòn tái bản 1960)
  11. Cô Tư Hồng (tiểu thuyết, Trung Bắc, Hà Nội, 1941)
  12. Chu Tần tinh hoa (dịch, Hà Nội, 1944)
  13. Lê Văn Khôi (1941-1945)
  14. Con trời ngã xuống đất đen (Hà Nội, 1944)
  15. Chu Tần tinh hoa (1944)
  16. Vương Dương Minh-Người xướng ra học thuyết lương tri và tri hành hợp nhất (Hà Nội, 1944; Tân Việt-Sài Gòn tái bản 1950)
  17. Kẻ bán trời
  18. Con quỷ phong lưu
  19. Bùi Thị Xuân
  20. Lương Ngọc Quyến và cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên 1917 (Quốc Dân thư xã- Hà Nội, 1946; Tân Việt- Sài Gòn tái bản 1957).
  21. Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, ông mới dịch được nửa bộ, đang đăng báo thì từ trần (Nxb Bốn Phương xuất bản -Sài Gòn, 1950) ¢

PHN

[1] * Đào Nguyên Phổ (1861-1908), quê làng Thượng Phán, tổng Đồng Trực, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình. Ông là một văn thân yêu nước tiến bộ, lãnh tụ phong trào Đông Kinh nghĩa thục.

ông đỗ Cử nhân năm 1884, nhưng chưa dự thi Hội ngay mà ra làm quan nhà Nguyễn. Ban đầu, Đào Nguyên Phổ được bổ chức Huấn đạo huyện Tam Nông tỉnh Hưng Hóa, rồi làm Tri huyện tại huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh. Sau vì để mất trộm tiền thuế của huyện, ông bị bãi chức, trở về đi dạy học trên địa bàn tỉnh Nam Định cũ. Trong thời gian này, ông giao du với các chí sĩ yêu nước thời đó. Năm 1895, ông vào Huế, học tại trường Quốc tử giám. Đến 1898, sau 3 năm học tại kinh đô, ông dự thi Hội và đỗ Đình nguyên Hoàng giáp. Ngay sau đó, ông được bổ chức Hàn lâm thừa chỉ. Năm 1902, ông từ quan, ra Hà Nội làm nghề nhà báo, viết cho Đăng cổ tùng báoL’Annam, và tích cực truyền bá tư tưởng duy tân. Năm 1907, ông tham gia sáng lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục, cùng với Lương Văn Can, Nguyễn Quyền…

Sau khi Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa, tiếp đến vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Thành bị thất bại, Đào Nguyên Phổ bị người Pháp truy lùng ráo riết. Ông phải tự sát vào năm 1908 để khỏi bị Pháp bắt, cũng để giữ danh tiết đồng thời tránh hệ lụy cho gia đình và bạn bè. Ngày nay có tên đường phố Đào Nguyên Phổ ở Đà Nẵng.

 

Tháng Mười: ‘Báo chí cách mạng’ rúng động ghê gớm!

Tháng Mười: ‘Báo chí cách mạng’ rúng động ghê gớm!

 
 
Tháng Mười: ‘Báo chí cách mạng’ rúng động ghê gớm!“Tay kiếm” Trương Minh Tuấn. Ảnh Báo Mới
Tháng Mười năm 2016 đã đi vào lịch sử của nền “báo chí cách mạng” với hàng loạt vụ “trảm”. Có lẽ phải rất lâu nữa giới nhà báo quốc doanh mới lãng quên được cơn khủng hoảng đột biến này.
.
Những cái tên bị “trảm” như Ngyễn Như Phong của tờ báo chuyên chính Petrotimes, Lê Bình của VTV24, Võ Khối của báo Thanh Niên, Nguyễn Thanh Phong của báo Lao động và Xã hội đang khiến cho báo giới nhà nước rúng động ghê gớm. Chỉ dám thầm thì trong các cuộc họp nội bộ, nhưng bùng phát trong các quá cà phê, nhiều nhà báo cho rằng đây thực sự là một chiến dịch “đánh” báo chí mà ông Trương Minh Tuấn – Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông kiêm Phó trưởng ban tuyên giáo trung ương – là mũi chủ công.
.
Cũng trong tháng Mười, đã có hai tờ báo điện tử là Petrotimes và Tầm Nhìn bị đình bản – quá nhiều so với mật độ xử trị báo chí thưa thớt trước đây.
.
Tuy nhiên, chiến dịch “trảm” báo chí không thuần túy mang một màu sắc, mà với những gam màu khác nhau. Nếu Nguyễn Như Phong bị cách chức được nhận định mang màu sắc đơn thuần do vấn đề chính trị, khi cho đăng bài phỏng vấn của “phản động Người Buôn Gió” trên Petrotimes, thì những trường hợp bị kỷ luật khác bị cho là liên quan đến hoặc nhóm lợi ích truyền thông, hoặc đến “truyền thông bẩn” qua vụ nước mắm.
.
Dư luận cũng cho rằng ngoài mục tiêu “làm sạch báo chí” như chủ trương và cách thức “chống tham nhũng” của Tổng bí thư Trọng đã phát ra, một mục tiêu khác không thể lẫn vào đâu được là giới định hướng và quản lý báo chí. Ông Trọng muốn nhân chiến dịch này để thanh loại một số lãnh đạo báo không ăn cánh, hoặc thuộc phe “đối lập” (không phải bất đồng chính kiến mà đối lập mà quyền lực và lợi ích trong nội bộ).
.
Sau Hội nghị trung ương 4 với khẩu hiệu giương cao là “chống tự chuyển hóa, tự diễn biến” của Tổng bí thư Trọng, “tay kiếm” Trương Minh Tuấn đã nổi rõ độ sắc bén của mình bằng loạt hai bài viết trên báo Nhân Dân về cùng chủ đề này. Ông Tuấn còn mạnh miệng đòi phải đưa ra khỏi báo những phần tự “tự chuyển hóa, tự diễn biến”.
.
Khác nhiều với bộ trưởng cũ, ngay sau khi chấp nhiệm chức bộ trưởng Thông tin và Truyền thông, ông Trương Minh Tuấn đã có một số động thái khá mạnh mẽ về “chấn chỉnh báo chí”. Tháng 7/2016, ông Tuấn được Bộ Chính trị điều động kiêm Phó trưởng ban Tuyên giáo trung ương, để về thực chất ông Tuấn trở thành “người của đảng”.
.
Trương Minh Tuấn được nhiều người bình luận rằng ông là người có tham vọng chính trị ngùn ngụt. Và trong một hoàn cảnh cần thiết, thậm chí ông còn tỏ ra sắt son với đảng hơn nhiều so với các ủy viên bộ chính trị. Theo đó, Trương Minh Tuấn đang được “quy hoạch” để trở thành tân ủy viên bộ chính trị trong tương lai.
.
Nếu bình luận trên là đúng, logic tiếp tới sẽ là việc ông Trương Minh Tuấn trở thành “tay kiếm” sắc nhất để tiếp tục thực hiện chiến dịch “trảm” báo chí, trong đó một phần sẽ khiến nhiều tổng biên tập báo phải quy thuận với Tổng bí thư Trọng.
Lê Dung / SBTN  

“Ông đội trưởng”

29/10/2016

“Ông đội trưởng”

Hạ Đình Nguyên

Thật thú vị, khi tự hỏi: “Ông Trọng thuộc loại người nào?”.

Trong khi làm vườn, quét sân, đốt lá, hay nhổ cỏ tôi luôn tự hỏi mình, tôi có thiên kiến, định kiến, thành kiến gì với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chăng, mà cứ nghe ông phát biểu, là tôi bị cảm lạnh hoặc mất ngủ! Mất ngủ mỗi lần nghe ông nói, từ khi ông lên làm Tổng Bí thư cho đến nay. Rồi cố quên ông đi, nhưng mới đây nữa, với Hội nghị Trung ương lần 4 vừa kết thúc, lại phải nhìn ông và nghe ông đọc diễn văn, dù có người bảo, nghe làm gì cho mệt!

Vốn là công dân bình thường, rất xa Hà Nội, không quen biết hay quan hệ hay… tư thù cá nhân gì với ông, vậy mà cứ khó chịu. Lại tự hỏi, vì sao ông ấy có thể trở thành Tổng Bí thư của một Đảng có chiều dài lịch sử như thế? Do đâu ông lại được tái nhiệm lần thứ hai? Và vì sao mấy trăm người ở Ban Chấp hành Trung ương lại nhất tề bầu ông? Tôi nghĩ đây là thắc mắc và cũng là nỗi ray rứt của nhiều người, chứ không riêng ai. Có lẽ lời giải đáp mù mờ nhất, mà cũng khả dĩ ổn nhất, ấy là do vận nước đã đến hồi… phải như thế! Có thể ông là nút thắt cuối cùng của một tiến trình suy sụp “đúng quy trình”?

Sự lên ngôi của ông là kết quả của tiến trình đi xuống tiệm tiến 20 năm, và đến ông, liệu là sự kết thúc một thời đại mà ông gọi là “rực rỡ nhất lịch sử”?

Và thật là thú vị, khi đọc tựa đề bài viết của tác giả Thuận An cách đây không lâu: “Ông Nguyễn Phú Trọng là loại người nào?“. Đây là một câu hỏi cần thiết, và nó có chút tương ứng cái tính tò mò có sẵn trong tôi về con người nổi tiếng và đặc biệt ấy. Tìm hiểu về ông cũng là điều lý thú, về tính đặc trưng hiếm có ở cá nhân ông, lại bởi ông không phải là người dân đơn thuần, mà là người ở vị trí cầm vận mệnh của đất nước này, theo nguyên tắc ông là người của công chúng.

Ngoài cái lý lịch mặt trắng thư sinh (1) từ nhỏ đến lớn ông bám vào con chữ mà nổi lên thành một lãnh tụ số một của Đảng Cộng sản Việt Nam, hẳn ông phải là người thế nào chứ! Ông ấy nổi tiếng về những câu/ý mà ông phát biểu. Nhiều lắm, và rất điển hình. Nhưng chỉ xin dẫn vài điều có thể là đặc trưng về tính cách của ông đang còn gây ấn tượng đậm đà trong dư luận.

Đặc điểm 1: Lập trường cách mạng kiên định với tầm thế giới.

Sau khi đắc cử chức Tổng Bí thư lần I với lời hứa là sẽ “đột phá” cái gì đó rất lằng nhằng, ông xuất ngoại sang Cuba với bài diễn văn làm chấn động trong chính trường thế giới, đến độ bà Tổng thống Brasil, với vai chủ nhà đứng ra mời khách, đã vùng vằng bực dọc, hủy bỏ chuyến đón tiếp ông mà không xin lỗi tiếng nào. Đoàn đại biểu do ông dẫn đầu phải quay về sớm, chuyên viên trong đoàn phải bở hơi tai đăng ký xin lại lịch trình bay phức tạp qua gần 20 nước. Bài diễn văn độc đáo đã bộc lộ ý chí mãnh liệt của ông: Muốn tái dựng phong trào Cách mạng xã hội chủ nghĩa, ít nhất là ở quy mô các nước đang phát triển, mà Việt Nam đang là tấm gương chiếu sáng (đọc lại bài diễn văn ấy là thấy ngay). Trong khi Liên Xô sụp đổ, Trung Quốc rời bỏ chủ nghĩa xã hội để trở thành chủ nghĩa bá quyền mèo trắng mèo đen, ông nuôi tham vọng đưa Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của ông, sớm trở thành ngọn cờ đầu của phe xã hội chủ nghĩa. Bà Tổng thống Brasil quá mừng rằng đã (suýt) được tiếp xúc với một linh hồn từ thế kỷ 19 mới hồi sinh. Sự kiện này tuy đã thành một sự cố gây dư luận ồn ào trong nước và ngoài nước, nhưng nó biểu trưng tính cách mạng kiên định nơi ông, như ông đã thấm nhuần trong sách giáo khoa của trường Đảng. Dân gian thường nói: kẻ điếc thì “dũng cảm”, vì không nghe được tiếng súng. Ông đã kiên trì đề cao và nâng niu, trang trí lại cái chủ nghĩa mà nhân loại đã sợ chết khiếp gần thế kỷ nay!

Đặc điểm 2: Biểu trưng người miền Bắc và có lý luận.

Ở tầm nội trị, để chuẩn bị cho sự thành công Đại hội 12 của mình, ông khoanh vùng về việc bầu cử: “Tổng Bí thư phải là người miền Bắc, phải là người có lý luận”. Và câu nói cũng nổi tiếng: dân chủ đến thế là cùng, vì mọi điều tiếng không hay ông đều bỏ ngoài tai.

Buồn cười thật!

Đành rằng miền Bắc Việt Nam là có trước miền Nam, dân Việt từ miền Bắc mà Nam tiến theo chiều dài lịch sử mở nước và dựng nước, nhưng đâu đơn giản là kẻ ra đi (Nam tiến) kém hơn người ở lại? Sao ông cả gan dám nói về đề tài mà ông không từng học hành? Tri thức cải biên Lê-Mao của ông không bao gồm môn lịch sử, xã hội học, dân tộc học… Trong lịch sử Việt Nam chưa có một ông vua hay quan nào dám phát biểu như vậy. Trong thời đại này, cái ý tưởng ấy lại càng dị hợm hơn. Nó lạc hậu về mọi loại kích thước.

Và lại nữa, phải là người “có lý luận”. Cái lý luận thì xưa nay vốn vô cùng vô tận. Mà thế nào là “có lý luận”? Mà có nhất thiết phải là lý luận Lê-Mao theo cái ông học và cách ông hiểu, mới được gọi là lý luận chăng? Ông muốn kích hoạt cho tinh thần người miền Bắc nhằm tạo vây cánh, hay chỉ muốn loại trừ những người ở phía Nam mà lý luận bốc đồng như thế? Đằng nào thì cũng không ổn! Phát biểu ấy, nếu ông sinh hoạt trong một chi bộ nghiêm khắc nào đó, có thể bị kiểm điểm ít nhất là ba ngày chưa xong, và bị hạ tầng công tác, vì ngoài cái tính nói càn, lại mắc phải tội kỳ thị địa phương, gây mất đoàn kết trong bộ Đảng và trong nhân dân.

Xóm tôi ở có khối người “có lý luận”, kể cả lý luận Mác-Lê, mà thuộc loại origin nữa, họ học và đọc từ nguyên bản chứ chẳng phải từ sách chế, mà hà tất phải là người Bắc mới có. Mà cũng có cả người Bắc di cư vào từ 1945, 1954, 1975 và liên tục cho đến nay, không thiếu, mà cũng giỏi lý luận lắm. Xác định cái sự “có lý luận” bởi cái bằng “Mác-Lê – Xây dựng Đảng” như ông, thì cũng có người có nốt, tuy ít người thích học, và cũng không dám khoe khoang. Theo ý ông, dù người có lý luận như ông mà không phải là người Bắc là không được, mà dù người Bắc như ông mà không có lý luận – giống như ông – cũng không được. Thì chỉ còn ông thôi, đúng không? Cũng có nhiều người bàn luận về chuyện này, và họ cười ngất trong quán xá và các chỗ vui chơi.

Thực tế phải thừa nhận ông là người miền Bắc, và có lý luận – dù cái lý luận ấy ra sao – ông vẫn rất độc đáo và không thể không nổi tiếng: trong lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, nay mới có một Tổng Bí thư như thế!

Đặc điểm 3: Một người không tham vọng quyền lực.

Để hướng dẫn/khống chế đại biểu trong chuyện bầu cử Quốc hội, ông đã ra chỉ thị rất ngon lành: “không đưa vào danh sách ứng cử những người có tham vọng quyền lực”.

Và cái Chỉ thị 244 do ông đạo diễn đã trắng trợn tước quyền dân chủ của Đảng viên đại biểu: “không được ứng cử, không được quyền chấp nhận đề cử” những ai bị khoanh vùng bởi Bộ Chính trị mà ông là người chủ trì.

Đây là chỉ thị để cả Đảng thi hành. Không những chỉ là Quốc hội, ông cũng đã đưa ra tiêu chí này khi tiến hành tổ chức Đại hội Đảng 12. Đi sâu để phân tích cái “Có tham vọng quyền lực” thì tác giả Thuận An đã nói kỹ xin không lặp lại, nay có lẽ cả quan và dân cả nước đang quẩn chân không biết làm sao để chứng minh thế nào là “có tham vọng quyền lực” nằm trong bụng của ai đó để “không bầu vào Quốc hội”? Và không có cái tham vọng ấy thì phải có cái gì thay vào đó chứ?

Chắc cái ấy là loại siêu quyền lực xã hội chủ nghĩa vốn rất khó hiểu chăng?

Thế mà mọi việc cũng đã xong xuôi. Ông thuyết phục được mọi người trong Đảng, và mọi người trong Đảng đã để cho ông thuyết phục. Điều đáng kinh ngạc lần này là ở cái Đại hội Đảng do ông cầm đầu, đã bầu ông. Liệu có gì bí ẩn bên trong Đảng, hay bên ngoài… biên giới Quốc gia? Chẳng ai tiếc rẻ gì những kẻ ra đi, nhưng lại ngỡ ngàng về người ở lại.

Có thể phác họa sơ bộ về ông với bốn điểm đậm đặc sau:

– Cách mạng xã hội chủ nghĩa triệt để (cho Thế giới thứ 3)

– Người miền Bắc (Việt Nam)

– Có lý luận (Mác-Lênin theo cách mà ông hiểu)

– Không có tham vọng quyền lực (để làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam)

Đại hội còn có thêm nhu cầu đoàn kết trong Đảng. Thế là ông lập tức có khả năng đáp ứng thêm nhu cầu thứ năm này nữa, nên chi toàn Đại hội đã nhất tề bầu ông tiếp tục giữ vai trò Tổng Bí thư thêm một năm hoặc là nửa nhiệm kỳ nữa (nghe nói thế!).

Ông đã đắc cử vẻ vang như chưa từng có.

Các đối thủ miền Nam của ông, vì không có lý luận mà lại có tham vọng quyền lực, và tất nhiên không phải là người miền Bắc, phải lập tức khăn gói về quê, kẻ thả câu, nuôi yến (anh Sáu) người đi chùa (anh Ba), hay người ca tân cổ giao duyên (anh Tư). Chỉ còn lại mình ên, cực chẳng đã, ông phải chấp chính cái quyền lực tuyệt vời ấy – mà vốn thực lòng ông không hề muốn, như ông đã từng gay gắt lên án và cũng từng than thở. Ông cố thắp lên “ngọn nến trong sương mù Mác-Lê như cách nói của ai đó trong một bài báo.

Thông qua lý luận, ông tin rằng chẳng còn ai là xứng tầm đối thủ của ông trong Ban Chấp hành Trung ương mới, ông lại có những 73 mùa xuân già cỗi có lý luận, chắc chắn là ông khiển được, trên dưới sẽ một lòng, nhất hô bá ứng, giữ vững càn khôn đại cục, chủ nghĩa Mác-Lê sáng quắc, tình hữu nghị Việt-Trung đời đời vàng chói, với 16 chữ, với các thông cáo chung “chiến lược và toàn diện” mà ông từng ký kết. Biển Đông vẫn bình yên, đều đều vỗ sóng xanh (để ông thong dong tổ chức bầu cử như lời ông nói). Trên biển, trên bờ, cả trên các thảo nguyên bạt ngàn phấp phới những bóng cờ đỏ, vàng vàng những sáu sao, ghi hình trên 40 điểm như những vết lở lói, rải đều các nơi nhạy cảm trên cơ thể Việt Nam.

Tuy nhiên, gió bão không ngừng thổi lên từ đất, từ rừng, từ biển, từ trời, và từ người.

Có tiếng rào rào của hàng thảo dân khắp nơi lại cho rằng, cả cuộc đời của ông đã cần mẫn, cạy cục cho cuộc tìm kiếm quyền lực, suốt thời gian từ trước khi lên chức Tổng Bí thư đỉnh cao hôm nay, ông đã liên miên phát động các chiến dịch tìm quyền lực dưới các loại lý luận, gây nên suy thoái mọi mặt của xã hội, mà suy thoái lớn nhất, chính là sự “có lý luận” của ông đã dẫn đầu cho một cuộc suy vi về lý luận. Ông nổi bật lên như kẻ cầm đầu của một dòng chảy bảo thủ vốn và giáo điều đã có trong quy trình của Đảng ông mấy mươi năm qua, ít nhất từ cái suối nguồn “Hội nghị Thành Đô” đến nay. Với nhiệm kỳ 5 năm làm Tổng Bí thư đã qua, người dân cho rằng ông đã đi từ thất bại này đến thất bại khác, và thất bại nào cũng cay đắng cho ông, và cho đất nước. Lại nhờ cái “không tham vọng quyền lực” may ra trời cho, ông đạt được “đỉnh cao quyền lực”. Đại hội 12 mà đồng tình, thì hàng thảo dân cũng đành lòng lý luận: Đảng Cộng sản Việt Nam lúc này xứng đáng có một Đảng trưởng như vậy. Dân Việt Nam lúc này cũng xứng đáng có một ông “vua tốt” như vậy, và cũng đành… chấp nhận nốt một bản “anh hùng ca dang dở” thôi.

Thế rồi lịch sử đã bước sang một trang rất dang dở với sự thành công rực rỡ của ông. Trên 5.200 quân với bụi mờ và tiếng ầm ì của tăng và pháo quần thảo quanh Ba Đình, ở bên trong hội trường, thì vang lên cái lý luận siêu phàm, siêu nhiên, siêu siêu, gọi là trời ơi cũng được, đã làm cho cả nước hồi hộp: “Tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường.

Trong bối cảnh ảm đạm sau bức màn sân khấu, thế là Đại hội đã kết thúc, và một chiến dịch mới ra đời rất bề thế. Và có nguyên một “Ông Đội trưởng” hẳn hoi từ đó bước ra.

Ông Đội trưởng “Đội cải cách”!

Xem tác phẩm “Ba người khác” của Tô Hoài thì phác họa được chân dung của ông “Đội trưởng” Đội cải cách ruộng đất vào thập niên 60 ở Miền Bắc, một chiến dịch nổi tiếng, được Đảng ngợi ca là “long trời lở đất với vai trò nổi bật của ông Đội trưởng. Ý nghĩa chung của chiến dịch là vô cùng khủng khiếp. Mà kết quả sau đó là có nước mắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và sự mất chức Tổng Bí thư của ông Trường Chinh. Nhưng chân dung “Ông Đội trưởng” thì không phai mờ qua thời gian!

Và chân dung ấy đang sừng sững tái hiện vào lúc này, với chiến dịch có tên mới là “Cải cách tham nhũng”, cũng hứa hẹn sẽ long trời lở đấtchăng?

Nhiều người cho rằng dư luận đáng ân hận vì đã nhầm to khi người ta – xuất phát từ người miền Bắc có lý luận, trước khi lan truyền cả nước – đặt tên cho ông là Lú, bởi thực tế đã không hẳn ông giống như tên gọi này. Với khẩu hiệu chống kẻ có tham vọng quyền lực, ông đã hoàn thành việc chiếm được trọn vẹn quyền lực một cách không thể ngoạn mục hơn. Từ tháng Ba năm nay, bây giờ là tháng 10/2016, trong 7 tháng tiếp tục cầm quyền với tư cách Tổng Bí thư lần hai, cả nước đang trở nên rối mù thêm nữa. Và ngay từ cái ngày Đại hội ở Ba Đình diễn ra thì cụ Rùa Hồ Gươm đột ngột ra đi, như báo một điềm xui: thiên tai, địch họa, nhân họa và cả Đảng họa đã liên miên xảy ra. Cái lỗi hệ thống đã làm nhễu nhão cả khung sườn lãnh đạo quốc gia, từ lý thuyết tư tưởng đến thực tế, kinh tế, giáo dục, đạo đức… mọi sự tệ hại lớn nhỏ xảy ra trên khắp xứ sở. Những bất ngờ, bất định, bất ổn không thể dự đoán trước, ngày càng xảy ra rộn ràng hơn.

Một sự suy sụp triệt để, từ vĩ mô đến vi mô.

Ông Trọng, như một người hùng Don Quixote với chiếc “Cối xay gió” trong tiểu thuyết của nhà văn Tây Ban Nha Miguel de Cervantes(2). Ông cũng khởi sự phát huy quyền lực của mình sâu rộng thêm, và như lẽ thường, ông đang đứng trước các phản động lực ngày càng gay gắt hơn, ông càng xoay người thì gió càng thốc tới, bởi tính “tự diễn biến” của nó mà ông hết sức không ưa.

Và như dân gian thường nói, gió ngược càng mạnh, chiếc diều sẽ bay cao hơn.

Ông sẽ bay cao hơn chăng, có thể cao tít tới trời xanh không chừng! Ông cũng đang trang bị cho mình chiếc áo giáp của phi hành gia, và xông xáo vào khắp các ngả đường làng. Cái ghế Tổng Bí thư Đảng – chiếc áo Chủ tịch Quân ủy Trung ương, chưa đủ! Ông mặc thêm quần cảnh sát, trang bị luôn súng ngắn, dùi cui, roi điện… của ngành cảnh sát (3).

Ông Đội trưởng Đội cải cách tham nhũng chưa có chỉ dấu nào cho thấy sự thành công của chiến dịch. Ông tiếp tục bài vọng cỗ biện chứng mà ông từng đã và đang ca. Qua Hội nghị lần 4 với bài diễn văn chỉ đạo hội nghị và diễn văn kết thúc hội nghị với âm giọng rề rề buồn tẻ, bộc lộ đủ cái lý luận gàn và lòng vòng, mà nội dung thì không còn một chút nắng. Cả mở đầu lẫn kết thúc lại nhạt nhòe, đắm chìm trong cơn mưa lũ bão bùng khắp nước, với cả 100% các loại “lỗi hệ thống” đã nở hoa. Một loài hoa mà có nhà tiến sĩ văn hóa xã hội chủ nghĩa đã đề xuất làm Quốc hoa, tên là “hoa cứt lợn”, hay là hoa “mắc cỡ” gì đó.

Để phác họa thời kỳ rực rỡ nhất này, có bài viết của một quan to vừa rời ghế, là Vũ Ngọc Hoàng, đã tổng kết có phần xác đáng ở các phần chi tiết. Cái tổng thể thì ông Hoàng chỉ đề cập hơi nghiêng nghiêng. Ông Hoàng không nói về cái gì tương tự như “lỗi hệ thống” như ông nguyên Chủ tịch Quốc hội trước đây – Nguyễn Văn An – đã nói, bởi cái cụm từ ông An dùng đã là quá tế nhị, đã có chừa vùng cấm. Thuở ông An nói khi còn ngồi ghế, trong bối cảnh ấy dù không phải là sớm, nhưng cũng gọi là dũng cảm vì đã dám hé lộ nguyên hình của một sự thật căn cơ không tốt đẹp gì. Nhưng cũng chỉ được có từng ấy! Ông Hoàng có thể tăng ga thêm một chút nữa được không? Bởi bây giờ đã khác trước nhiều lắm rồi. Người dân đã chấp nhận đi đầu, bị đánh đập, bắt tù và chảy máu, và đang đứng lên đòi quyến sống, dõng dạc nói lên tiếng nói của mình. Đã có tiếng súng hoa cải của Đoàn Văn Vươn, lại mới có hoa cải ở Đắc Nông, đã có 6 phát súng Colt của Đặng Ngọc Viết, lại có 8 phát K59 ở Yên Bái. Đã có dân của bốn tỉnh miền Trung với Formosa, đã có những ngày Chủ nhật Hà Nội – Sài Gòn như vừa qua… Đã có những người như linh mục Antôn Đặng Hữu Nam với hàng vạn giáo dân của mình đã thắp lên một ngọn đuốc sáng, có MC Phan Anh với tư cách một cá nhân riêng lẻ và mấy lời kêu gọi trên mạng, đã có hơn hai chục tỉ đồng đóng góp trong một thời gian ngắn. Các chỉ dấu ấy chứng tỏ lòng dân không có sự sợ hãi mà người gieo rắc đã mong chờ. Và đa số người dân, bên ngoài được xem là thầm lặng, nhưng bên trong lại chứa đầy nhiệt huyết!

Hãy tin đó là một sức mạnh thật sự có. Sức mạnh của nước.

Đợi chờ gì từ một nơi hoang tưởng nhập nhằng, khi đánh chuột sợ vỡ bình, đánh tham nhũng là ta đánh ta? Đúng như lời ông ấy nói, chống tham nhũng khó thật! Nên chăng, chỉ cải cách cái cách tham nhũng  thôi, để không rơi vào thế nghịch, ta lại đánh ta?

Trời mưa trút nước, lũ lụt dâng cao, đồng xanh lúa chết, người và súc vật cùng một thân phận lao đao. Với thứ lý luận phá sản, loài sâu tham nhũng gặp thời, đang có trong tay vùng đất hứa, vẫn sinh sản tốt và đang phát triển ổn định. Như hãng nước mắm hóa chất Masan đang tận dụng nhanh chóng cơ hội phát huy tác dụng, như hãng xe Mai Linh đang làm cánh tay nối dài…

Câu hỏi vẫn còn nguyên đây, Nguyễn Phú Trọng, thực ra ông là ai? Không phải Lú, không phải là Ông Giáo Làng. Nhân loại vẫn sợ người cuồng tín.

Và Đảng của ông đang làm gì trước những hỗn độn rất “chiến lược và toàn diện” này?

Mỗi lần có sự bế tắc trên thực tiễn, thì những chùm từ ngữ mới, cách nói mới xuất hiện, như một giải pháp có tính vô hình, như một sự đánh đố vô nghĩa. Một thời hỗn loạn, có khái niệm “làm chủ tập thể” ra đời. Một thời bế tắc, thì xuất hiện kẻ thù “quan liêu bao cấp”. Cái khó hôm nay thì bên ngoài có “Việt Tân” lãnh tiếng, kế tiếp bên trong là “thằng tham nhũng” nào đó lãnh đủ, vừa được gọi tên thêm là thằng “ta đánh ta”. Lý luận vòng quanh lâu ngày cũng thấy đơn điệu! Vì thế, ông Nguyễn Phú Trọng vừa nhả bóng lại cho Hội đồng Lý luận Trung ương những câu hỏi bắt bí, làm quẩn chân các ông “Hội đồng” vốn đã quẩn chân lâu nay, về những sản phẩm do chính ông chế tác, với cái yêu cầu có chút thần thánh: Yêu cầu Trung ương “tiếp tục đổi mới với tinh thần kiên định sáng tạo”. Thật là khó lòng phải nhắm mắt (để kiên định), lại vừa phải mở mắt (để sáng tạo). Sau đó, ông vo tròn một gói giải pháp gọi là “Năm là”, và suýt bóng. Nhưng quả bóng đã hóa thành một thứ văn chương rổn rảng, rỗng đến không gì bằng ở mỗi cụm từ của nó:

“Con đường đi lên (!) chủ nghĩa xã hội (?) của Việt Nam dù còn nhiều khó khăn (!), gian khổ (!), nhưng là con đường đúng đắn (?), sáng tạo (?). Lẽ phải thuộc về chúng ta (?). Cần chú trọng đấu tranh trên mặt trận (!) tư tưởng, lý luận; đấu tranh không khoan nhượng (!) bằng những luận cứ khoa học sắc bén (!), giàu sức thuyết phục, bằng sức mạnh của niềm tin (!) không thể lay chuyển(!) vào chân lý, làm thất bại mọi mưu toan, hành động xuyên tạc (!), kích động (!), chống phá (!) Đảng, chế độ và sự nghiệp đổi mới (?) của đất nước”.

Sự hoang tưởng đến đây thì đủ rõ. Tư duy – lý luận bề bộn thế này không thể cứu vớt được ông Tổng Bí thư, dù ông rất tự tin! Là một giỏ chứa đầy những ý nghĩ bảo thủ, trộn với các ý niệm bạo lực, và những nhân danh hơi lớn.

Biết thế, nên ông đã động viên các ông “Hội đồng Lý luận”: “Nghiên cứu lý luận là công việc khó khăn, vất vả nhưng tràn đầy niềm vui sáng tạo (ôi!). Lý luận không phải là khô khan như có người tưởng, trái lại, rất sống động và thú vị (ôi!), bởi nó phản ánh quy luật vận động muôn màu muôn vẻ của cuộc sống (ôi!), bởi đó là sự khám phá chân trời trí tuệ không giới hạn (ôi chà!), nó là kim chỉ nam (ôi chao!) cho hành động của chúng ta”.

Vâng, niềm vui là chính? Quả là nỗi thú vị đắng cay!

Để hòa niềm vui vào công cuộc nghiên cứu lý luận được đề nghị, tôi gợi ý bà con nên nghiên cứu về ông ấy, chắc cũng là rất sống động và thú vị sẽ mênh mông. Để bớt băn khoăn và dễ tưởng tượng, cần gọi đúng tên, cái mà ông Trọng đang chỉ huy, là “Đội Cải Cách Tham Nhũng” mà chính ông thủ vai Đội trưởng. Sau đó, ráng nổ súng lên trời, như lời ông Thủtướng Phúc đã nói và đang nổ, để bảo vệ Đảng. Và lệnh cho cánh dư luận viên la ầm lên là cuộc cải cách tham nhũng đang “long trời lở đất”. Cứ hãy đem “lý luận” mà trấn áp thực tiễn theo cách không khoan nhượng của ông ấy! (Vì thế ông đã vào vai Công an?)

Cho đến một hôm “Dân ta vùng lên như bão tố. Dân ta vùng lên như cuồng phong…” (Nhạc sĩ Tôn Thất Lập – thời chống Mỹ) để chấm dứt cái phương châm tai họa “đúng quy trình”, trên cơ sở cái quy trình không đúng mà rất hỗn độn ấy.

Để có quy trình đúng là không thể thoát ly tam quyền phân lập. Lúc ấy vĩnh viễn không còn phương châm “nhất Đội nhì Trời” và cũng vắng bóng luôn “Ông Đội trưởng”. Lúc ấy lòng dân sẽ phục sinh, mà không nhất thiết ai đó phải cố lấy lại bằng cách dao búa./.

H. Đ. N.

__________

(1) Xem lịch sử của ông Trọng trong thư gởi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, của Nguyễn Thanh Giang, có tựa “Quyền lực rất lớn, hiệu lực rất kém“.

(2) Don Quixote nói với những người lái buôn phải khen Dulcinca del Toboso là người đẹp nhất trần gian và kết thúc bằng một cuộc giao đấu của chàng với những người lái buôn, vì họ không chịu khi mà họ chưa từng thấy nàng (như nàng chủ nghĩa xã hội? – người viết). Don Quixote bị đánh nát người và được một bác nông dân đưa về nhà chăm sóc.

Trước khi chết, Don Quixote tỏ ra là một người nhận thức được tai hại của những cuốn truyện hiệp sĩ mà mình đã từng đọc khi viết những dòng di chúc để lại cho đời.

(3) Xem bài viết “Anh Trọng đi làm cảnh sát, tham bát bỏ mâm“ của ông Nguyễn Khắc Mai.

Tác giả gửi BVN.

Mây thẻ