"Nói phải củ cải cũng nghe"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Mười Một, 2016

Cu ba đã giúp gì cho Việt Nam ?

Biết tới đâu tôi kể tới đó.

Cuba giúp một đàn bò sữa giống, lập một trang trại bò sữa, ở huyện Ba Vì (Hà Tây cũ, nay thuộc Hà Nội). Trại nuôi bò này sinh ra anh hùng nuôi bò Hồ Giáo. Sữa bò thu hoạch được mang cung cấp bí mật bồi dưỡng sức khỏe cho cán bộ cao cấp trung ương. Người dân và em bé không bao giờ biết mùi sữa bò Cu ba đắng hay ngọt.

Cu ba nhận làm một đoạn đường liên tỉnh vài chục km từ thị xã Hà Đông đến thị trấn Xuân Mai, Hòa Bình. Dân quanh vùng gọi là đường Cu ba. 

Cu ba xây một bệnh viện ở tỉnh Quảng Bình.

Có lẽ còn một số thứ ặt vặt đó đây nữa.

Ai biết xin kể tiếp.

Tôi chỉ biết thế thôi.

Bù lại, những năm qua Việt Nam chi viện cho Cu ba hàng nghìn tấn gạo.

Và cái Lễ quốc tang  dành cho Fidel Castro sắp tới đây “để đền đáp công lao to lớn và tình cảm nồng nhiệt của Fidel” như Đảng tuyên bố.

Tôi e rằng lý do thực sự không phải như thế.

PHN

 

PHẢN ỨNG VỀ QUỐC TANG CHO CỰU CHỦ TỊCH FIDEL CASTRO

PHẢN ỨNG VỀ QUỐC TANG CHO CỰU CHỦ TỊCH FIDEL CASTRO

 Việt Nam cố đấm ăn xôi

  Ảnh chụp bên ngoài Tòa Đại sứ Cuba tại Hà Nội hôm 28/11/2016. Ảnh: AFP

Phản ứng về Quốc tang
cho Chủ tịch Fidel Castro tại Việt Nam

RFA
Mặc Lâm
29-11-2016

Dư luận xã hội đang tranh luận về việc Ban chấp hành Trung ương Đảng, Quốc Hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vừa có quyết định để tang Chủ tịch Fidel Castro của Cuba với hình thức Quốc tang. 

Chúng tôi có đồng minh?
 
Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam không có điều khoản nào quy định tổ chức một Quốc tang cho bất cứ ai. Tuy nhiên theo một nghị định của chính phủ ban hành vào năm 2012 thì một lễ Quốc tang cho cá nhân sẽ được áp dụng trong những trường hợp như sau: thứ nhất bốn vị trí cao nhất trong hệ thống chính trị là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch quốc hội dù đang tại chức hay mãn nhiệm khi chết đều được cử hành Quốc tang. Trong trường hợp đặc biệt một cán bộ cao cấp nào đó có công lao to lớn với quốc gia hay quốc tế sẽ được xét và tổ chức Quốc tang. Tuy nhiên theo luật cán bộ ban hành năm 2008 thì người này phải là công dân Việt Nam.

Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên phó chủ nhiệm văn phòng Quốc hội cho biết:

“Trong Hiến pháp Việt Nam không có quy định gì về lễ Quốc tang còn trong nghị định của chính phủ cũng như quy định nội bộ thì có quy định Quốc tang. Còn về trong văn bản nhà nước thì có một nghị đỉnh của chính phủ rất cụ thể trong trường hợp đó. Cũng có một nghị quyết của Bộ chính trị, một nghị quyết của Thường vụ Quốc hội quy định về các lễ tang của Việt Nam gồm có Quốc tang, lễ tang nhà nước, lễ tang cấp cao còn cái chuyện làm lễ Quốc tang cho một người nước ngoài thì nếu 4 cơ quan đó họ hè nhau họ làm thì coi như họ quyết định rồi.”

Đối với trường hợp Chủ tịch Fidel Castro Việt Nam quyết định để tang cho ông với nghi thức Quốc tang vào ngày 04 tháng 12 năm 2016. Trong thời gian này, các cơ quan, công sở trong phạm vi cả nước và các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài treo cờ rủ, có dải băng tang như quy định, không tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí công cộng.

Về việc này Giáo Sư Nguyễn Huệ Chi nhận định:

“Cái Đảng Việt Nam này tổ chức Quốc tang coi như là một cách nói với thế giới cũng như với người dân trong nước rằng chúng tôi có đồng minh đây! Đồng minh ở nơi xa xôi ấy và đã từng là hai nước chống Mỹ thì đồng minh ấy đối với chúng tôi rất quan trọng, nghĩa là họ vẫn muốn sống lại những ngày quá khứ chứ họ không nhìn đến tương lai gì cả.”

Chủ tịch Fidel Castro được công bố Quốc tang tại Việt Nam khiến rất nhiều người bức xúc. Câu hỏi đặt ra là ông Fidel không có công trạng cụ thể nào đối với đất nước nhưng lại hưởng vinh dự to lớn đối với nhân dân Việt Nam là một sai lầm mang tính trình diễn.

Trong thông cáo đặc biệt quyết định về việc này có loan đầy đủ tiểu sử của Chủ tịch Fidel Castro từ những hoạt động đầu tiên cho tới khi mất. Trong khoảng thời gian ấy ông sang thăm Việt Nam ba lần, ông vô cùng gần gũi với Đảng và nhà nước Việt Nam bằng những sự ủng hộ, lên tiếng cũng như luôn đứng về phía Việt Nam trong chiến tranh chống Mỹ. Ông là nguyên thủ đầu tiên tới thăm Việt Nam sau khi Quảng Trị được giải phóng đầu tiên vào năm 1973.

Bản thông cáo cũng ghi nhận trên phương diện quốc tế, Fidel Castro là nhà hoạt động Nhà nước và Lãnh đạo xuất sắc trong Phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế, có đóng góp to lớn và tích cực cho Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. 

Không thể nâng lên thành hàng Quốc tang?

Nhìn tổng quát nội dung bản thông cáo dân chúng không tìm ra được một việc làm cụ thể nào của Chủ tịch Fidel đối với cuộc chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam ngoài các cử chỉ đầy tính ngoại giao giống như các nước cộng sản với nhau.

Những quan hệ được gọi là đặc biệt dù sao cũng không thể nâng lên thành hàng Quốc tang, vốn dành riêng cho người có công với tổ quốc.

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi phân tích việc Hà Nội tổ chức Quốc tang cho Fidel như sau:

“Fidel Castro thực lòng khâm phục Việt Nam bởi vì ông ấy là biểu tượng cho một đội quân đã lật đổ một chế độ độc tài nhưng mà lại dựng lên một chế độ độc tài khác. Có lẽ trên phương diện nào đó còn kinh khủng hơn chế độ độc tài cũ vì độc tài cũ chỉ là một cá nhân còn độc tài này là cả một đảng. Đứng về phương diện ấy ông Fidel Castro không phải là người để đất nước này làm Quốc tang mà chính Đảng Cộng sản Việt Nam làm Quốc tang cho một ông thủ lĩnh đảng Cộng sản Cuba như thế đúng hơn. Fidel Castro chỉ vì ý thức hệ mà quy phục Việt Nam, còn ông Việt Nam thì thấy có một ông từ xa xôi quy phục mình thì đồng bệnh tương liên cho nên quy phục lại!

Bây giờ làm Quốc tang cũng là cách bày tỏ sự tương liên đối với người bạn xưa, tức là tưởng niệm quá khứ. Tức là họ nhìn về quá khứ, còn nếu nhìn về tương lai thì mọi chuyện đều vô nghĩa rối bởi vì chúng ta đang phải đi theo quy luật là đi theo con dường dân chủ tự do.”

Người dân tự hỏi, nếu những quan hệ mang tính rất đặc biệt cho một người bạn cùng ý thức hệ được áp dụng vào Trung Quốc thì biết bao nhiêu cán bộ cao cấp của họ sẽ đương nhiên được hưởng vinh dự này vì trong chiến tranh Trung Quốc đã bỏ rất nhiều của cải lẫn xương máu để Việt Nam chống Mỹ.

Người dân Việt Nam theo dõi cái chết của Fidel Castro với những góc nhìn khác nhau. Nếu hàng trăm người xếp hàng trước Tòa đại sứ Cuba tại Hà Nội để khóc lóc, tỏ bày sự thương tiếc thì cũng có hàng ngàn người khác bày tỏ sự hả hê của mình trên hệ thống mạng xã hội. Sự mâu thuẩn ấy đã làm cho Quốc tang của Fidel tại Việt Nam nếu có sẽ đào thêm hố sâu chia rẽ vì ngăn cách.

Từ khi Việt Nam thống nhất, Hà Nội đã nhiều lần giúp cho Cuba thoát khỏi khó khăn về lương thực bằng hàng ngàn tấn gạo viện trợ, đây cũng đủ trả mối thân tình mà Fidel dành cho Việt Nam.

Nếu vì mục đích trả lễ cho cá nhân ông Fidel Castro thì Quốc hội Việt Nam đã có bà Nguyễn Thị Kim Ngân, trong tư cách Chủ tịch đã dẫn phái đoàn sang Cuba vào ngày 28 tháng 11 để dự lễ tang đã trả đủ lễ đối với một nước cộng sản anh em nằm bên kia bán cầu có cùng ý thức hệ cũng như giữ vững lập trường tiến lên Chủ nghĩa xã hội như Việt Nam đang theo đuổi.

Cùng lúc với cái chết của Fidel, báo chí Việt Nam loan tải Tư lệnh hải quân Trung Quốc là tướng Ngô Thắng Lợi hôm 25 tháng 11 đã tới tham dự lễ tưởng niệm 18 tử sỹ Trung Quốc trong trận đánh vào tháng 1 năm 1974 với hải quân Việt Nam Cộng hòa để chiếm Hoàng Sa. Nếu ngay lúc này Việt Nam làm Quốc tang cho 74 người lính đã đổ máu cho tổ quốc ấy thì ý nghĩa biết bao nhiêu thay vì đem Fidel Castro vào vòng tranh cãi.

Fidel Castro ra đi, lịch sử Cuba sang trang

Fidel Castro ra đi, lịch sử Cuba sang trang

 
 
Thanh Phương
(RFI)

Với việc cha đẻ của Cách mạng Cuba Fidel Castro qua đời hôm qua, 25/11/2016, Cuba lật qua một trang sử mới, bởi vì lần đầu tiên chủ tịch Raul Castro thật sự nắm quyền một mình. Theo lời chủ tịch Quốc hội Cuba Ricardo Alarçon nói vào cuối năm 2011, kể từ khi được chỉ định làm chủ tịch Cuba năm 2006, ông Raul Castro vẫn tham khảo ý kiến của người anh trước khi ra những quyết định quan trọng.

Tuy vậy, ông Raul Castro, năm nay 85 tuổi, từ 10 năm nay đã âm thầm thúc đẩy tiến trình xích lại gần Hoa Kỳ, được chính thức thông báo vào tháng 12 năm ngoái, cho thấy ông có một đường lối rất thực dụng, khác hẳn với tư tưởng chống Mỹ đến cùng của người anh Fidel.
Theo nhận định của ông Michael Shifter, chủ tịch trung tâm Inter-American Dialogue, nói với hãng tin AFP hôm nay, 26/11/2016, sau cái chết của Fidel, tình hình kinh tế và chính trị của Cuba sẽ được cởi mở hơn. Nó sẽ trút đi một gánh nặng cho ông Raul Castro. Kể từ nay ông không còn sợ nói trái ý người anh nữa.
Tuy nhiên ông Shiffer cảnh báo rằng cái chết của Fidel chắc chắn sẽ dẫn đến nhiều xung đột, đấu đá giữa những người đang nắm quyền ở Cuba: “ Raul sẽ rộng tay hành động hơn, nhưng các đối thủ chính trị của ông cũng vậy.”
Chuyên gia về Cuba thuộc đại học Texas Arturo Lopez Levy thì không tin vào ảnh hưởng của ông Raul, người đã tuyên bố là sẽ rút lui vào năm 2018. Ông Levy dự đoán, sau cái chết của Fidel, việc mở cửa cho kinh tế thị trường và bãi bỏ những trói buộc của những quy định Cộng sản sẽ được thúc đẩy. Không còn sức hấp dẫn của Fidel nữa, tính chính đáng của Đảng Cộng sản Cuba sẽ chỉ còn dựa trên thành quả kinh tế. Tuy vậy, tác động lên nhịp độ và bản chất các cải tổ của Raul Castro sẽ rất hạn chế.
Đối với nhà đối lập ôn hòa Miriam Leyvan, cái chết của Fidel Castro có thể giúp gạt sang một bên những thành phần thủ cựu của chế độ, vốn chống lại những thay đổi. Bà Leyvan tin rằng đây là cơ hội để Cuba mở cửa xã hội hơn nữa và tiến nhanh hơn trên con đường cải tổ.

Fidel Castro từng rút máu tù nhân Cuba bán cho Việt Nam

Fidel Castro từng rút máu tù nhân Cuba bán cho Việt Nam
 
Thụy My
29-11-2016
 
“Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”. Câu nói đầy cảm động của Fidel Castro lâu nay vẫn được lưu truyền, và báo chí Việt Nam thường xuyên nhắc lại. Sự thật có lẽ phũ phàng hơn nhiều: Cuba đã từng chuyển giao máu cho Việt Nam, nhưng máu không phải được hiến mà được bán!
 
Tác giả Gilles William Godlnadel trong bài viết mang tựa đề “Cái chết của Fidel Castro: Chống cộng là nhân đạo, ngoại trừ tại Pháp” đăng trên trang web của nhật báo cánh hữu Le Figaro ngày 28/11/2016, kịch liệt phê phán những tên tuổi Pháp đã khóc thương lãnh tụ Cuba vừa qua đời.
 
h1
Một người tình nghi là

gián điệp bị bắn tại chỗ. Ảnh internet

 
Luật sư kiêm nhà văn, chủ tịch Hội Pháp-Israel tố cáo: “Castro không chỉ là một nhà độc tài Nam Mỹ, mà còn là một đao phủ. Không tự hài lòng với việc tra tấn và hành quyết các nhà đối lập, ông ta còn bán máu của họ. Tờ Wall Street Journal trong một bài viết đề ngày 30/12/2005 cho biết: Ngày 27/05/1966, theo lệnh của Fidel Castro, 166 người tù đã bị rút ba lít rưỡi máu mỗi người và bán cho nước Việt Nam cộng sản với giá 100 đô la một lít. Sau khi bị lấy máu, 166 tử tội trong tình trạng thiếu máu não, tê liệt và bất tỉnh, bị đưa đi trên các băng-ca và giết chết.”
 
h1
Linh mục gặp tử tội trước lúc hành quyết. Ảnh tư liệu của cubanet.org
 
Tác giả bài viết không dẫn link, nhưng một số trang web khác như truthbarrier.com, blog cubaexilequarter có trích nguồn. Bạn đọc nào có đăng ký Wall Street Journal có thể tham khảo bài “Counting Castro’s Victims” tại link sau:
 
h1
Một cảnh xử bắn trong trại Cabana. Ảnh tư liệu của cubanet.org
 
Báo cáo bằng tiếng Tây Ban Nha của Ủy ban Nhân quyền Liên Mỹ ngày 07/04/1967, mục E “Extracción de sangre a condenados a muerte“ (Lấy máu của tử tù), có ghi rõ sự việc. Nhờ Google dịch giùm từ tiếng Tây Ban Nha sang tiếng Pháp, thì được biết nội dung đại thể như sau:
 
Chúng tôi nhận được các thông tin từ Cuba cho biết, thân nhân các tù nhân chính trị bị đòi hỏi phải “hiến” máu nếu muốn được đi thăm họ. Những ai từ chối thì không được thăm người thân đang ở tù.
Ngày 27/05/1966 từ khoảng sáu giờ sáng đến sáu giờ chiều, đã diễn ra cuộc hành quyết tại trại Cabana ở La Habana. Đội thi hành án gồm ba quân nhân và một sĩ quan, tử tội là các chính trị phạm, quân nhân và thường dân. Vấn đề càng trầm trọng hơn khi biết rằng những người bị xử bắn trước đó đã bị rút lấy máu hàng loạt để cung ứng cho ngân hàng máu.
 
Số 166 thường dân và quân nhân Cuba đã bị lấy trung bình 7 pint máu mỗi người. Số máu này được đem bán cho nước Việt Nam Cộng sản với giá 50 đô la một pint, với hai mục đích cùng lúc là kiếm ngoại tệ đồng thời đóng góp cho cuộc chiến của Việt Cộng.
 
Một pint tương đương khoảng nửa lít máu. Trích xuất 7 pint, tức ba lít rưỡi máu dẫn nạn nhân đến cái chết – não thiếu máu, bất tỉnh và tê liệt.
 
Một khi máu đã được rút, người tù bị hai dân quân cùng với đội hành quyết khiêng trên băng-ca đến nơi xử bắn.
 
Tại trại Cabana có một đơn vị y tế gồm các nhà huyết học Cuba và Liên Xô, phụ trách các thủ tục y khoa, thử nghiệm khoa học với máu và các nhân viên được đào tạo để trợ thủ (…)
 
Cùng ngày với việc hành quyết 166 người Cuba, khoảng bảy chuyến xe tải đã chở xác đi chôn tại một khu vực ở ngoại ô thành phố Marianao, gần La Habana, trong một hố chôn tập thể. Địa điểm chôn xác người này của chế độ Castro không được người dân biết đến.
 
Động cơ của vụ xử bắn hàng loạt hôm 27/5, không chỉ nằm trong loạt các hành động tàn bạo, thủ lợi (máu của người Cuba bị xử bắn đã bị bán đi), mà còn nhằm triệt tiêu các đối thủ đáng gờm nhất của chế độ, dù là dân sự hay quân sự, bị cầm tù vì đã tranh đấu chống lại chủ nghĩa Castro cộng sản.

An giấc nghìn thu người Bôn-sê-vích cuối cùng

An giấc nghìn thu người Bôn-sê-vích cuối cùng

VÀO LÚC 30.11.16 AN GIẤC NGHÌN THU NGƯỜI BÔN-SÊ-VÍCH CUỐI CÙNG, ANH VĂN, OPPOSITE, VNTB,

Anh Văn

(VNTB) – “Lũng đoạn quyền lực, độc quyền chân lý” thời hòa bình đã thay thế dần “nhân phẩm và sự nhiệt huyết” thời cách mạng.

Fidel Castro – người cha của cách mạng cộng sản Cuba, hay “kẻ bạo chúa” (theo cách gọi của giới phương Tây) ở pháo đài Cộng sản vùng Tây Bán cầu đã trút những hơi thở cuối cùng, sau khi toại nguyện gặp được những người cộng sản anh em Việt Nam sang thăm.

Cũng như nhiều lãnh tụ cộng sản khác, Fidel Castro là người bước lên địa vị quyền lực từ cuộc chiến tranh nhân dân chống lại áp bức, bóc lột gắn liền với chủ nghĩa đế quốc – thực dân. 

Năm 1953, khi đứng trước tòa, ông đã tự bảo vệ mình và với câu nói nổi tiếng: “Lên án tôi. Nó không quan trọng. Lịch sử sẽ xóa án cho tôi.”

Và cũng như nhiều vị lãnh tụ cộng sản khác, sau chiến thắng 1/1959 – ông nắm quyền thủ tướng trong 32 năm liền (1976-2008); 50 năm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Cuba (1961-2011) để tiếp tục xây dựng CNXH và chống lại đế quốc.

Ông ra đi, để lại một di sản lịch sử và đất nước hiện tại. Cuba vẫn nổi bật với giáo dục miễn phí từ 5 tuổi cho đến khi tiến sĩ; y tế miễn phí và phát triển nằm trong tọp 20 của thế giới. Và 20% GDP từ khai thác du lịch.

Sức mạnh đó là sức mạnh đến từ nỗ lực của sự bao vây, cấm vận. Vào tháng 10/2016, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã tiếp tục thông qua nghị quyết yêu cầu Mỹ dỡ bỏ cấm vận đối với Cuba, được áp đặt từ năm 1962. Biểu hiện đậm nét là nhà lãnh đạo Cuba đã từng tuyên bố Cuba “là nước duy nhất trên thế giới mà không cần đến thương mại với Mỹ.” Không có thương mại với đế quốc Mỹ, nhưng Cuba vẫn đảm bảo sữa-giáo dục – và y tế cho người dân; không khiến cho người dân phải xếp hàng mua giấy vệ sinh như bên Venezuela hay ngày ngày đối diện với tiếng gào thét hạt nhân như Bắc Triều Tiên, thậm chí không có nạn quá tải bệnh viện hay giáo dục mục nát như Việt Nam. Đó hẳn vẫn là một thành tựu đáng ghi nhận khi nhìn quanh các khối nước theo CNXH, hay nhìn về những nước thần quyền ở châu Phi.

Fildel Castro vẫn luôn bày tỏ sự tin tưởng vào mô hình XHCN – nó vẫn đẹp trong mắt ông. Và chỉ thực sự đẹp khi và chỉ khi những người thực hiện nó (cộng sản) là những người xây dựng với sự nhiệt huyết và nhân phẩm như ông từng thừa nhận. Và chỉ có như thế, thì mới “có thể sản xuất vật chất và tinh thần mà con người cần”. Đáng tiếc, điều này không phải lúc nào cũng được những người cộng sản thực hiện tốt, nên “lũng đoạn quyền lực, độc quyền chân lý” thời hòa bình đã thay thế dần “nhân phẩm và sự nhiệt huyết” thời cách mạng.

Do đó, sự đặc trưng cách mạng Cuba không thoát ra khỏi đặc trưng của thể chế cộng sản và đám mây CNXH khi nó biến một con người lý tưởng nhất – dấn thân nhất cho sự nghiệp giải phóng dân tộc thành một lực cản – đánh phá sự phát triển xã hội – ở đây là Cuba. Lý tưởng XHCN dù cao đẹp đến bao nhiêu, thì nó cũng không ngăn cản những yếu tố Cộng sản xuất hiện trong xã hội, trong đó bao gồm: bắt giam nhà bất đồng chính kiến, ngăn cản quyền tự do lập hội và một nền kinh tế phi thị trường,…

Theo báo Tuổi Trẻ cho biết, vào tháng 8/2016, chỉ tính riêng 2 năm trở lại – “hàng chục ngàn người Cuba đã vượt qua biên giới Mexico – Mỹ và vượt biển với hy vọng đến được Florida do lo ngại chính sách nhập cư giữa hai nước sớm thay đổi trong bối cảnh quan hệ ngoại giao ấm dần lên (sự thay đổi này được hiểu là người Cuba vượt biên sẽ không được hưởng quyền không cần thị thực khi đặt chân tới Mỹ).”

Dòng người trốn chạy ra khỏi đất nước không phản ánh hết được bản chất của thể chế, nhưng nó cũng cho thấy thể chế đó thực sự có vấn đề – mà vấn đề lớn nhất là sự đảm bảo quyền con người không được thực hiện theo hệ thống phổ quát mà thế giới đề ra.

Trở về với cái chết, không ai rõ khi ông ra đi, ông đã có dặn dò gì cho Chủ tịch nước Việt Nam, nhưng nếu đó là lời “hãy hỏa táng tôi” và việc hỏa táng được nhà nước Cuba thực hiện một cách nghiêm túc, thì hẳn đó là một lời nói sáng suốt sau cùng của một nhà độc tài cộng sản nhân dân, và lời nói chân thực nhất của một Bôn-sê-vích thời sơ khai.

Người Bôn-sê-vích với tinh thần cách mạng triệt để (làm cách mạng với 82 đồng chí của mình) đã ra đi. Dù còn nhiều bàn cãi với di sản để lại, bên cạnh cảnh ăn mừng, cũng không ít quốc gia và cá thể, tổ chức đã lên tiếng chia sẻ với sự ra đi này bằng cụm từ “R.I.P Fidel Castro” (Requiescat In Pace – yên giấc ngàn thu). Ít nhất là chia sẻ quan điểm không quá “tham quyền cố vị” của ông như ông đã từng tuyên bố từ chức Chủ tịch Hội đồng nhà nước Cuba vào năm 2008, vì nó đòi hỏi trách nhiệm cao hơn khả năng và sự cống hiến mà ông có thể làm được.

Blogger Quyền Cao Xuân trong một chia sẻ cho biết, ông khâm phục khả năng chịu đựng, sự quả cảm, sự kiên cường của Fidel và các đồng chí của ông. Các phẩm chất hàng đầu của những nguời đấu tranh. Nhưng đồng thời, ông cũng “kinh tởm sự độc tài và tàn bạo của ông đã nhấn chìm đất nước Cuba giàu đẹp vào địa ngục của nghèo đói.”

Với đất nước và người dân Cuba, cái chết của người lãnh tụ cách mạng đưa đất nước này chuyển biến sang một trang mới. Lựa chọn tương lai như thế nào sẽ hoàn toàn nằm trong tay họ. Bởi nếu tiếp tục dựa trên một quan điểm nổi tiếng của Fidel Castro vào năm 1959 thì, “Một cuộc cách mạng không phải là một luống hoa hồng. Cách mạng là cuộc đấu tranh giữa tương lai và quá khứ”.

28/11/2016

Fidel Castro, nhà cách mạng cuối cùng 

Thụy My

Tổng hợp Le Figaro và Libération 26/11/2016

…Những năm tháng Fidel được ghi dấu với vô số vụ vi phạm nhân quyền. Nhưng trên trường quốc tế, Fidel Castro với bộ quân phục giản dị, râu quai nón lại chiếm được cảm tình, nhất là cánh tả phương Tây. Người dân Cuba không biết gì về đời tư lãnh tụ tối cao. Tại Matxcơva, báo chí tiết lộ cuộc sống xa hoa của Fidel Castro với ba du thuyền, 32 dinh thự và 9.700 cận vệ riêng…

clip_image002

Fidel Castro năm 1959.

Huyền thoại Fidel Castro, người thách thức chủ nghĩa tư bản đã qua đời hôm thứ Sáu 25/11/2016 tại La Habana ở tuổi 90. Chính người em ông là Raul, đương kim chủ tịch nước đã loan báo trên truyền hình quốc gia.

Lên nắm quyền năm 1959, cựu luật sư đã lãnh đạo đảo quốc với bàn tay sắt trong gần năm thập kỷ. Từ khi cơn bệnh buộc ông phải nhường quyền lại cho người em Raul năm 2006, Fidel bắt đầu bình luận thời sự thế giới qua các bài xã luận đăng trên tờ báo chính thức Granma, với đề mục Phản ứng của đồng chí Fidel. Tuy giới trẻ Cuba quá chán ngán những khẩu hiệu sáo mòn, gọi ông là “el loco”(kẻ điên), Fidel vẫn bướng bỉnh đóng vai trò “người da đỏ cuối cùng”.

clip_image004

Trói mình trong bức tường kiêu căng vòi vọi, Lider Maximo (lãnh tụ tối cao) không muốn nghe, không muốn thấy gì khác và nhất là những bức tường nứt nẻ của La Habana. Fidel đã trở nên một tượng đài cần phải chiếu sáng vĩnh cửu như là “ngọn đèn pha trước mắt toàn thế giới”. Nhằm để lại cho hậu thế hình ảnh một nhà cách mạng thuần khiết, Fidel Castro sẵn sàng buộc mọi người Cuba phải hy sinh.

clip_image006

Những thất bại liên tiếp

Fidel sinh năm 1926, trong một gia đình khá giả. Cha ông là Angel, từ Galice (Tây Ban Nha) sang đã mua được một đồn điền trồng mía nhờ làm ăn với người Mỹ. Fidel nhớ lại: “Cha hối lộ các quan chức, mời họ đến nhà, mở tủ trong phòng khách lấy ra những bao thư đầy tiền đưa cho họ”.

Ông Angel Castro qua mặt vợ, sưu tập vô số mối tình. Mẹ của Fidel, Lina Ruz, trước đó là người giúp việc gốc Créole trong gia đình, đã sinh cho ông Angel hai người con ngoài giá thú là Angela và Ramon, sau Fidel lại có thêm Juanita, Raul và Augustina. Cho đến khi được rửa tội năm 1935 và được cha nhìn nhận, Fidel vẫn mang họ mẹ.

clip_image007

Thời sinh viên

Fidel được gởi đi học nội trú tại Dòng Tên, từ tiểu học lên đến trung học. Trong một trận đấu bóng rổ giữa trường trung học Công giáo Bélen ở La Habana với trường Tin Lành La Progresiva, Fidel đem lòng yêu cô Mirta Diaz-Balart, lúc đó mới 15 tuổi. Năm 1943, Fidel Castro ghi danh học luật ở La Habana, trở thành Chủ tịch Liên đoàn sinh viên và dần dần tiêm nhiễm ý tưởng cách mạng.

Năm 1947, Fidel tổ chức một đoàn quân sang Cộng hòa Dominica để lật đổ tướng Trujillo nhưng thất bại, và một năm sau tham gia cuộc nổi dậy Bogota ở Colombia. Lider Maximo sau này kể lại: “Chúng tôi thời đó rất lãng mạn, tự do và không tưởng”. Fidel muốn người ta hiểu rằng ông chỉ trở thành người cộng sản do thái độ thù địch của “bọn Yankee”. Nhưng giả thiết đáng tin cậy nhất là Fidel đã được KGB tuyển mộ ngay từ thời học đại học.

clip_image008

Fidel bên cạnh người vợ Mirta Diaz-Balart và con trai Fidelito.

Mirta vẫn chờ đợi người tình cách mạng ở La Habana. Lễ cưới được tổ chức ngày 10/10/1048 tại một giáo đường ở quê vợ, sau đó cả hai lên đường sang Mỹ hưởng tuần trăng mật tại Miami rồi New York. Castro bị chinh phục bởi nước Mỹ trong vinh quang thời hậu chiến, thậm chí còn muốn định cư tại đây. Hai vợ chồng ba tháng sau mới trở về La Habana. Fidelito, người con trai duy nhất được Fidel Castro nhìn nhận, chào đời vài tháng sau.

Năm 1950 Fidel ra trường, mở văn phòng luật sư “để bảo vệ người nghèo”, nhưng công ty sập tiệm vì người dân không có tiền để kiện tụng. Hơn nữa, Fidel thích làm chính trị. Ông gia nhập Đảng Nhân dân Cuba và tham gia tranh cử Quốc hội, nhưng kết quả bị bác bỏ khi đại tá Fulgencio Batista đảo chính ngày 10/03/1952. Fidel Castro kiện lên Tòa Bảo hiến nhưng bị bác, bèn lao vào đấu tranh trực tiếp chống độc tài. Những người đối lập với Batista bị đàn áp, tệ nạn tràn lan, trên nửa triệu người Cuba thất nghiệp.

Suốt nhiều tháng trời, cặp vợ chồng sống dựa vào tiền chu cấp của người cha Fidel. Điện bị cúp thường xuyên vì không trả tiền (Công ty điện lực có vốn của Mỹ nằm trong số các công ty bị quốc hữu hóa đầu tiên sau cách mạng), nhưng Fidel Castro vẫn chi số tiền ít ỏi vào việc sưu tập các bài diễn văn và bài báo của nhà độc tài Benito Mussolini.

clip_image009

Người tù trên đảo Cây Thông

Cùng với người em Raul, Fidel Castro và khoảng 150 thanh niên khởi động cuộc tấn công vũ trang chống chế độ Batista ngày 26/07/1953, đánh vào căn cứ Moncada ở Santiago. Cuộc nổi dậy bị đàn áp đẫm máu, hai anh em thoát chết nhưng bị bắt. Đảng Cộng sản Cuba vốn không thích thú gì trước các hành động của những người trẻ này, tố cáo “các thanh niên trưởng giả phiêu lưu”. Trong phiên xử ngày 16/10, Fidel Castro tự biện hộ với câu nói nổi tiếng “Lịch sử sẽ miễn tội cho tôi”. Hai anh em Castro bị kết án 15 năm tù giam tại nhà tù trên đảo Cây Thông.

clip_image010

Lá thư viết cho cô bồ lại được gởi đến tay người vợ.

Trong thời gian chồng ở tù, Mirta bất ngờ phát hiện những cuộc tình vụng trộm của Fidel. Từ nhiều năm qua, Fidel vẫn lén lút đi lại với Naty Revuelta, một cô gái tóc vàng mắt xanh rất xinh đẹp làm thư ký cho Standard Oil Company ở La Habana. Từ xà lim, Fidel viết thư tình cho cả Mirta và Naty. Nhưng một hôm những người có trách nhiệm của trại giam đã ranh mãnh tráo thư, gởi cho người vợ hợp pháp lá thư dành cho cô bồ và ngược lại.

clip_image011

Người tình Naty

Mirta ngay lập tức tiến hành thủ tục ly dị. Sau đó cô tái giá với Emilio Blanco Nunez, con trai của đại diện chính quyền Batista tại Liên Hiệp Quốc và có hai con gái. Còn Naty sinh ra Alina, con gái duy nhất của Fidel, làm người mẫu ở Cuba một thời gian dài, sau đó cô tố cáo “người cha lãnh tụ độc tài” và năm 1993 sang Mỹ tị nạn.

clip_image012

Fidel Castro và con gái Alina.

Fidel Castro, được ân xá và trả tự do cùng với Raul năm 1955, sau cách mạng đã trả thù bằng cách hành quyết giám đốc nhà tù. Người phụ nữ thứ hai chính thức sống chung với Fidel là cô giáo Dalia Soto Del Valle, sinh cho ông năm con trai. Fidel Castro có tổng cộng ít nhất tám người con.

Không còn sự giúp đỡ của cha, bị gia đình vợ khinh ghét, và lo ngại trước các tay súng bắn tỉa của Batista, Fidel Castro trốn sang Mêhicô tháng 7/1955. Cùng một số người trung thành, ông thành lập Phong trào 26/7 (tức M26) tại đây, trong đó có một y sĩ cách mạng trẻ Achentina là Ernesto “Che” Guavara. Fidel quyên góp tại Hoa Kỳ, huấn luyện du kích ở Mêhicô.

clip_image013

Cách mạng thành công và Chiến tranh Lạnh

Ngày 25/11/1956, cuộc cách mạng Cuba được khởi động từ hữu ngạn dòng sông Tuxpan gần Vịnh Mêhicô, với 82 chiến binh hướng về Cuba trên chiếc tàu nhỏ tồi tàn Granma do Phong trào 26/7 mua. Castro kể lại: “Có ít chỗ đến nỗi những ai mập và to cao nhất phải ở lại đất liền”.

Hình ảnh những “barbudos” – du kích quân để râu và mặc quân phục màu ô liu chuyên phục kích quân chính phủ nhanh chóng chiếm được cảm tình trong dân chúng. Fidel giành hết chiến thắng này đến chiến thắng khác, nối kết với người dân nhờ nói với họ về tự do và công lý. Chế độ Fulgencio Batista sụp đổ vào tháng Giêng 1959. Sự thay đổi tại Cuba không làm các cường quốc lo ngại nhất là Hoa Kỳ, chuẩn bị công nhận chính quyền mới.

clip_image014

Sau trận đánh Santa Clara, Fidel Castro ca khúc khải hoàn, tiến vào La Habana trong không khí lễ hội. Vị tổng tư lệnh giữ kín ý đồ của mình, mời một chính khách tự do là bác sĩ Manuel Urrutia làm tổng thống và sang Hoa Kỳ để khẳng định vẫn duy trì căn cứ quân sự Mỹ ở Guantanamo, không đụng đến sở hữu tư nhân của người ngoại quốc và trung thành với các giá trị dân chủ phương Tây. Fidel Castro giải thích ông “không phải là người cộng sản”.

clip_image015

Nhưng đồng thời tại Cuba, “các kẻ thù của cách mạng” bị bỏ tù. Cả Che lẫn Castro đều không ngần ngại tham gia các cuộc hành quyết tùy tiện. Họ tung ra cải cách ruộng đất, quốc hữu hóa các công ty hầm mỏ do người Mỹ làm chủ, và buộc Tổng thống Urrutia từ chức.

Quan hệ với Mỹ nhanh chóng xấu đi. Fidel muốn thương lượng giá bán đường, nhưng Washington từ chối cố định giá trong mùa thu hoạch. Castro tức giận, đe dọa sẽ bán cho nước khác. Tháng 2/1960, Liên Xô ký hợp đồng đổi dầu lửa lấy đường đầu tiên, và tám tháng sau, Hoa Kỳ tuyên bố cấm vận thương mại Cuba.

clip_image016

Fidel (dưới cùng) trong vụ Vịnh Con Heo.

Tháng 4/1961, John F.Kennedy, người đầu tiên trong số 11 Tổng thống Mỹ mà Castro lần lượt thách thức, cho tiến hành vụ đổ bộ vào Vịnh Con Heo do những người tị nạn Cuba được CIA hỗ trợ tiến hành, nhưng thất bại hoàn toàn. Fidel Castro trở thành ngọn cờ chống đế quốc.

Đang trong Chiến tranh Lạnh, Nikita Khrouchtchev nâng đỡ Fidel và cho bố trí các hỏa tiễn Liên Xô trên lãnh thổ Cuba. Kennedy lập tức huy động 150.000 quân dự bị, phong tỏa đường biển Cuba và đưa ra tối hậu thư cho Matxcơva. Ban đầu Khrouchtchev từ chối nhưng rốt cuộc đến ngày 28/10 đã chấp nhận rút đi các thiết bị quân sự, đổi lấy cam kết của Mỹ không tấn công đảo quốc.

Phẫn nộ trước thỏa thuận giữa hai đại cường, Fidel quay sang phía Bắc Kinh. Đảng của các tổ chức cách mạng chuyển đổi thành Đảng Cộng sản Cuba. Trên trường quốc tế, tuy đóng vai một quốc gia không liên kết nhưng lính đánh thuê Cuba do Matxcơva trả lương đi chiến đấu tại Angola, Ethiopia, Nicaragua, Surinam, Congo, Libya, Yemen, Guinée-Bissau nhân danh “tinh thần tương trợ quốc tế vô sản”.

clip_image017

Trốn khỏi “thiên đường” Cuba

…Tình hình kinh tế bi thảm khiến Cuba rơi hẳn vào vòng tay của Liên Xô vào đầu thập niên 70. La Habana lệ thuộc Matxcơva về thương mại đến trên 80%. Năm 1991 Liên Xô sụp đổ, gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế mới.

Tuy từ năm 1959 đến 1989 Cuba đã làm Liên Xô hao tốn đến 100 tỉ đô la viện trợ, Fidel Castro vẫn có thể khoe khoang hệ thống giáo dục và y tế tốt đẹp, cũng như thành công của thể thao Cuba. Nhưng Perestroika mà Fidel từ chối áp dụng tại đảo quốc, đã lột trần bộ mặt cách mạng Cuba.

clip_image018

Không có viện trợ Liên Xô, tất cả suy sụp rất nhanh. Dầu lửa bắt đầu khan hiếm, và cả xà bông, rau quả, thịt… khiến Fidel Castro đành phải nhượng bộ chút ít cho tư bản chủ nghĩa, cho đến khi tìm được một đồng minh mới là Tổng thống Venezuela Hugo Chavez. Đồng đô la được lưu chuyển, du lịch được khuyến khích.

Giới ăn trên ngồi trước làm giàu, nhưng người dân quê vẫn không được quyền tự do bán sản phẩm của mình. Ngày càng nhiều người dân Cuba tìm cách vượt biên sang Hoa Kỳ. Các balsero (thuyền nhân) ra đi trên những chiếc tàu cũ kỹ. Fidel cho đánh chìm một số, hoặc làm lơ cho đi với hy vọng làn sóng boat people sẽ khiến Washington phải nới lỏng cấm vận.

clip_image019

Người Cuba tại Miami vui mừng trước tin Fidel qua đời, 26/11/2016.

Chế độ toàn trị và cuộc sống riêng xa hoa

Những năm tháng Fidel được ghi dấu với vô số vụ vi phạm nhân quyền: bắt bớ tùy tiện, những bản án tù nặng nề, đàn áp đối lập, đóng cửa các nhà sách, truy bức người đồng tính, thanh trừng, thiếu vắng các quyền tự do căn bản. Cả một hệ thống toàn trị nhằm ngăn ngừa phản kháng. Nhiều người bạn chiến đấu của Fidel Castro thời hàn vi đã bị trấn áp vì dám lên tiếng chỉ trích.

clip_image020

Nhưng trên trường quốc tế, Fidel Castro với bộ quân phục, râu quai nón và đôi giày thể thao lại chiếm được cảm tình, nhất là cánh tả phương Tây. Cho đến trước khi lâm bệnh năm 2006, Fidel là khách mời danh dự của nhiều diễn đàn trên thế giới. Huyền thoại này khi xuất hiện trước đám đông phóng viên ảnh và truyền hình, với những bài diễn văn hùng hồn luôn bảo đảm cho thành công của cuộc tập hợp.

clip_image021

Trên du thuyền với các cận vệ.

Phong cách giản dị của Fidel thu hút những người bảo vệ những kẻ bị áp bức, nhưng Lider Maximo thích bí mật. Người dân Cuba không biết gì về đời tư lãnh tụ tối cao, chẳng bao giờ thấy cảnh Fidel ăn uống. Ông cũng che giấu kỹ các bà vợ, các người tình và những đứa con. Không ai biết về các dinh cơ, cách sống và những lần di chuyển của Fidel. Tại Matxcơva, báo chí tiết lộ cuộc sống xa hoa của Fidel Castro với ba du thuyền, 32 dinh thự và 9.700 cận vệ riêng.

Huyền thoại Fidel đã chết, một trang sử của thế kỷ 20 đã được lật qua.

Nguồn: http://thuymyrfi.blogspot.fr/2016/11/fidel-castro-nha-cach-mang-cuoi-cung.html

 

Đòn thù độc ác của chính quyền Hà Tĩnh

Đòn thù độc ác của chính quyền Hà Tĩnh

VÀO LÚC 28.11.16 DEMOCRACY, ĐÒN THÙ ĐỘC ÁC CỦA CHÍNH QUYỀN HÀ TĨNH, TÂM DON, VNTB,

Tâm Don

(VNTB) – Vụ ba người phụ nữ yếu ớt Mai Thị Tịnh, Mai Thị Tiệm và Lê Thị Thủy bị kết án tù thực chất chỉ là những đòn thù tàn bạo của chính quyền mang tính răn đe và trấn áp đối với những địa phương, những con người đã dung cảm bảo vệ quyền sống của mình.

Những người phụ nữ yếu ớt Mai Thị Tịnh, Mai Thị Tiệm và Lê Thị Thủy chính quyền Hà Tĩnh bị kết án tù

Đòn thù răn đe

Theo nhiều nguồn tin, Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh (Hà Tĩnh) vừa mở phiên toà sơ thẩm vụ án gây rối trật tự công cộng tại xã Kỳ Nam vào tháng 12/2015.

Các bị cáo bị đưa ra xét xử gồm: Hoàng Thị Thái (SN 1968), Mai Thị Tịnh (SN 1968), Mai Thị Tiệm (SN 1964) đều trú tại thôn Minh Huệ, xã Kỳ Nam; Lê Thị Thủy (SN 1993, trú tại khu tái định cư Ba Đồng, phường Kỳ Phương, TX. Kỳ Anh).

Theo cáo trạng, trong khoảng thời gian từ 09h30’ ngày 11/12/2015, tại Km578+200 trên QL1A (khu vực đèo Con, thuộc thôn Minh Huệ, xã Kỳ Nam), nhiều người dân địa phương dùng gạch đá, cây cối, các chướng ngại vật ném ra đường; tụ tập, ngồi thành hàng ngang chặn không cho các phương tiện tham gia giao thông nhằm gây áp lực, đưa yêu sách đòi cơ quan chức năng thả 2 đối tượng Hoàng Văn Thiết, Nguyễn Hữu Phương (người cùng địa phương) bị bắt giữ trước đó về hành vi “bắt giữ người trái pháp luật”.

Vụ việc khiến hoạt động giao thông trên tuyến QL1A qua khu vực này bị tê liệt hoàn toàn hơn 20 giờ đồng hồ.

Báo Hà Tĩnh- công cụ tuyên truyền của đảng bộ và chính quyền Hà Tĩnh, không cho biết ba người phụ nữ nói trên bị bắt giữ vào thời điểm nào, và mỗi người nhận bao nhiêu tháng tù giam hay tù treo, chỉ nêu ra rằng: ba người phụ nữ nói trên nhận mức án 24 tháng tù.

Hoàng Văn Thiết, Nguyễn Hữu Phương là ai?

Đông Yên thuộc xã Kỳ Lợi, huyện Kỳ Anh, Tỉnh Hà Tĩnh là một giáo xứ lâu đời sống bằng nghề biển, nay bị cưỡng bức chuyển lên vùng núi gần Quốc lộ 1A, để nhà cầm quyền lấy đất của họ, nhưng điều trớ trêu là họ bị đuổi khỏi quê hương khi mà đất đai họ ở chưa có một dự án cụ thể nào, mà chỉ là vì họ ở quá gần đại dự án tai tiếng Formosa Hà Tĩnh. Cuộc di dời người dân ở đây đã gây ra nhiều hệ quả đau thương, tan nát.

Điều người dân bức xúc hiện nay, là những người đến nơi tái định cư đã không được yên ổn làm ăn và đời sống của họ lâm vào hoàn cảnh khó khăn không lối thoát vì bao đời nay họ bám biển để sống, giờ lên núi không có nghề nghiệp, đồng thời các cơ sở hạ tầng, ô nhiễm… luôn là vấn đề gây ức chế cho họ.

Một số người tại nơi cũ gồm 158 hộ gia đình với khoảng 1000 giáo dân không di chuyển, nhà cầm quyền đã dùng mọi cách để trấn áp họ và cách tàn bạo nhất là đập phá trường học không cho học sinh tiếp tục học hành. từ năm ngoái đến năm nay, 155 học sinh phổ thông đã không được học hành.

Vào ngày 12 tháng 11-2015, hàng ngàn giáo dân Đông Yên, Thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh đã kéo nhau lên đòi nhà cầm quyền cho biết lý do chặn bắt cóc một số người thuộc Giáo xứ Đông Yên ngày 11-11, trong đó có hai người là Hoàng Văn Thiết và Nguyễn Hữu Phương. Đường Quốc lộ 1A và 1B đã bị chặn và tắc nghẽn từ 8h đến 16 giờ.

Người  dân Đông Yên cho biết: Ngày 11-11-2015, ông Hoàng Văn Thiết đi làm về bị công an chặn bắt ở Cầu Rác và ông Nguyễn Hữu Phương bị chặn bắt ở Khu Công nghiệp Formosa mà gia đình và giáo dân không hề được biết lý do bắt giữ. Ông Hoàng Văn Thiết là Trưởng ban An Ninh Giáo xứ, ông Nguyễn Hữu Phương, hiện là Phó ban An ninh Giáo xứ Đông Yên.

Việc chặn bắt giữ người này không đúng theo trình tự pháp luật và không có lý do chính đáng, gia đình và bà con giáo dân không hề hay biết. Người dân đã đi hỏi lý do nhưng không nhận được trả lời từ phía chính quyền.

Trước đó, có một gia đình ở Đông Yên đã bị ném vật nổ vào nhà hỏng mất một vạt sân, sau đó công an đã tập trung về rất đông. Hai người bị đã bắt đi không rõ lý do, không đúng các quy định pháp luật đã gây ra sự ngờ vực và bức xúc của người  dân tại đây.

Trước đó nữa, vào ngày 5/10/2015 lúc gần 9h sáng, một chiếc xe biển số xanh chở 4 người không mặc sắc phục đi vào một gia đình ở  Đông Yên tại khu Tái định cư bên đường Quốc lộ 1A, Hà Tĩnh đoạn qua Vũng Áng. Đây là gia đình có người bị bắt giữ hơn một tháng nay và việc bắt giữ, theo giáo dân là trái pháp luật và đạo đức. Theo giáo dân Đông Yên, mục đích của việc này, là nhằm để bắt giữ tiếp người con thứ 2 của gia đình.

Sau khi 4 người vào gia đình, giáo dân đã tập trung đến và yêu cầu cho biết họ là ai, đến đây với mục đích làm gì mà không có sắc phục và không có lệnh nào, cũng không có chính quyền địa phương hoặc ít nhất là xóm trưởng đi cùng. Họ đã không trả lời thỏa đáng những căn cứ pháp luật của việc này và đã bị người dân giữ lại.

Đông đảo giáo dân Đông Yên đã bất bình và bao vây 4 người lạ mặt này để xác minh xem họ là ai. Khi được biết họ là công an, thì giáo dân đã yêu cầu họ thả ngay một giáo dân đã bị bắt vô cớ trước đó hơn một tháng là anh Nguyễn Xuân Toàn. Bởi theo giáo dân, những người chủ động gây sự đáng bắt thì nhà cầm quyền đã không bắt, lại bắt một người chỉ vì sự công chính và sự thật mà bày tỏ thái độ của mình.

4 người bị giữ lại đã được bảo vệ trong nhà của giáo dân, nơi họ đến và được đối xử tử tế, gia đình nấu cơm, nước mời họ ăn và Tổ an ninh thôn đã bảo đảm an toàn cho họ về tài sản và con người trong suốt quá trình họ ở đó.

Sau đó, một Phó Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh là ông Đặng Quốc Khánh, hai Phó Giám đốc Công an tỉnh Hà Tĩnh là Đại tá Bùi Đình Quang, và ông An, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Thị xã Kỳ anh, Trưởng  Công an Thị xã Kỳ Anh ông Đại tá Đặng Hoài Sơn, ông Tiến Chủ tịch UBND xã là ông Sơn đã mời Ban Hành Giáo và Cán bộ thôn và đại diện gia đình người bị bắt để thương lượng. Qua cuộc thương lượng, bên phía chính quyền đã cam kết sẽ thả người bị bắt là ông Nguyễn Xuân Toàn sau hai ngày nữa.

Theo nhận định của một số người dân Hà Tĩnh, Đông Yên là một điểm nóng, rất nóng ở Hà Tĩnh. Chính quyền Hà Tĩnh đã kiên quyết bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư Formosa mà bỏ quên lợi ích chính đáng của người dân Đông Yên. Con giun xéo lắm cũng quằn, người dân Đông Yên đã cất cao tiếng nói đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình đã bị phá nát, dẫm đạp. Sự phản kháng dù rất ôn hòa của người dân Đông Yên đã làm chính quyền khó chịu. Và, chính quyền đã ngụy tạo các chứng cứ mù mờ để bắt giữ trái pháp luật một số người dân vô tội để hòng dập tắt sự phản kháng. Và việc ba người phụ nữ yếu ớt  Mai Thị Tịnh, Mai Thị Tiệm và Lê Thị Thủy bị kết án tù thực chất chỉ là những đòn thù tàn bạo của chính quyền mang tính răn đe và trấn áp đối với những địa phương, những con người đã dung cảm bảo vệ quyền sống của mình.

BANG VÔ ĐẠO…

BANG VÔ ĐẠO…

Trần Văn Chánh

  Việt Nam trong vòng vài chục năm nay rõ ràng đã và đang ở trong tình trạng khó

khăn, gần như vô đạo, tức chính trị thối nát và thiên hạ bị mất lòng tin trên diện

rộng". Bài rất uyên thâm, đọc rất thấm! 

     Cho dù không thuộc phái nào trong số hai phái chủ yếu đề cao và bài

bác Khổng Tử, nhưng dường như hầu hết ai cũng phải khách quan nhận

rằng văn chương trong sách vở kinh điển của Nho gia có nhiều đoạn rất

hay, rất “đắc”, hàm súc mà thâm trầm tế nhị về phương diện diễn đạt,

khi nó muốn phát biểu bất cứ chuyện gì liên quan đến các vấn đề thuộc

chính trị, văn hóa, đạo đức…

     Chẳng hạn, muốn nói về thái độ sống và trách nhiệm của hạng người

quân tử tức tầng lớp lãnh đạo hay tầng lớp trên trong xã hội phong kiến

thời xưa (phân biệt với đông đảo quần chúng), Khổng Tử chỉ buông ra

một câu rất gọn mà dứt khoát, trong Luận ngữ, thiên “Thái Bá”: “Bang

vô đạo, phú thả quý yên, sỉ dã” (Khi nước vô đạo nghĩa là đang ở trong

tình trạng hắc ám về chính trị mà lo chạy theo lợi danh để mong được

giàu và sang là điều đáng hổ thẹn).

        Về hai chữ “vô đạo”, Hán ngữ đại từ điển của Trung Quốc nêu lên

cả thảy 5 ý nghĩa khác nhau, trong số có 3 nghĩa liên quan chính trị rất

rõ: (1) Chỉ tình trạng quốc gia có nền chính trị hôn ám tệ hại, chính sự

rối loạn thối nát, người lãnh đạo không trị dân bằng đạo đức (tương ứng

với ý nghĩa trong câu vừa dẫn trên); (2) Vô đạo đức, vô hạnh, không thi

hành chính đạo, làm những việc xấu ác (như trong câu  “Ngô văn Tống

quân vô đạo…”, Ta nghe vua nước Tống làm những chuyện xấu

ác, trong Hàn Phi Tử, “ Ngoại trữ thuyết tả thượng”); (3) Kẻ vô đạo, chỉ

kẻ xấu không làm việc nhân nghĩa, hoặc vua chúa tàn bạo (như trong

câu: “Phạt vô đạo, tru bạo Tần”  Đánh kẻ vô đạo, kể tội và giết nhà Tần

tàn bạo, trong Sử ký, “Trần Thiệp thế gia”).       

       Xét các ý nghĩa của cụm từ “vô đạo” như trên thì Việt Nam trong

vòng vài chục năm nay rõ ràng đã và đang ở trong tình trạng khó khăn,

gần như vô đạo, tức chính trị thối nát và thiên hạ bị mất lòng tin trên

diện rộng. Bên cạnh vài nhà lãnh đạo mà dân chúng còn có phần hi vọng

được, một bộ phận không nhỏ kẻ khác tham lam vô hạnh/ vô đạo (nghĩa

thứ 2 và 3) đã bằng con đường cơ hội hoặc thủ đoạn chính trị chen được

vào bộ máy quản lý đất nước, để xảy ra tình trạng “thượng bất chính, hạ

tắc loạn”, luật pháp không nghiêm, mà diễn đạt theo nghĩa bình dân dễ

hiểu là mạnh ai nấy làm, “trên bảo dưới không nghe”, dẫn đến nhiều

thực trạng đau buồn: môi trường thiên nhiên và xã hội bị phá nát, các

thang giá trị bị đảo lộn, văn hóa-giáo dục-đạo đức xuống cấp tới mức

lâm nguy, xã hội bất công trầm trọng, hố ngăn cách giàu nghèo thêm sâu

sắc, quốc nạn tham nhũng, tội ác giết người cùng các loại hình tệ nạn xã

hội khác diễn biến phức tạp theo chiều hướng ngày một gia tăng…, vô

phương cứu chữa!

        Trong khi đó, một nhóm những kẻ thuộc tầng lớp trên nhưng lại bất

cố liêm sỉ, cứ hớn hở ngồi trên các vị trí lãnh đạo câu kết lẫn nhau trục

lợi và tranh giành quyền lực trước tình trạng ngày càng gian nan điêu

đứng của khối quảng đại quần chúng lao động nghèo khổ bao gồm phần

lớn là công nhân, công chức cấp thấp, dân nghèo thành thị, đặc biệt nông

dân và đồng bào miền núi, những thành phần vốn bị lép vế, không tiền

không quyền, chỉ biết mưu sinh chân chính bằng sức lao động trong nền

chính trị không có tự do dân chủ và luật pháp nghiêm minh, trùm lên cả

một nền kinh tế bất ổn định, lương không đủ sống, do chính những phần

tử đặc quyền đặc lợi nêu trên gây ra. Nhóm đặc quyền đặc lợi này, dù bị

dư luận phê phán bao nhiêu dường như họ cũng tỏ ra không biết hổ thẹn,

trái lại cứ nhơn nhơn hằng ngày không ngượng miệng, nói mãi những

câu chỉ đạo chung chung vô nghĩa, vừa giáo điều vừa sáo rỗng, mà

chẳng cần biết có đối tượng dân chúng hay nhân sĩ trí thức nào còn

muốn được nghe họ nói nữa hay không.  

        Hạng người như vừa nêu trên trong lịch sử thời nào cũng có, đặc

biệt bộc lộ rõ nhất trong các thời kỳ “bang vô đạo”. Thời xưa đó là hàng

trăm những ông quan đại thần trong triều (tương đương các quan chức

trung ương như bộ trưởng, vụ trưởng vụ phó, cục trưởng cục phó …

ngày nay), được chỉ huy bởi vua và tể tướng. Trong điều kiện chính trị

hủ bại, nhóm người này từ tể tướng trở xuống đều trở thành những kẻ vô

trách nhiệm, ăn hại đái nát, chuyên  ăn hối lộ đè đầu cưỡi cổ đám dân

đen nghèo khổ, mà chẳng có kế sách gì để cải cách hay vực dậy hiệu quả

nền chính trị trong nước, trái lại còn tìm cách duy trì sự thối nát bằng

những luận điệu bảo thủ cũ rích để tiếp tục được hưởng lợi quyền lâu

dài, cho cá nhân và cho những nhóm lợi ích liên quan tới mình.

     Không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam và Trung Quốc, xưa cũng như

nay, đều có những giai đoạn chính trị bại hoại tàn tệ gần gần giống như

nhau.

     Ở Việt Nam, tiêu biểu có thể kể là vào khoảng cuối thời Hậu Lê, như

thư viết năm 1766 của giáo sĩ thừa sai Reydellet gởi cho người em trai ở

Pháp, đã mô tả rất sinh động tình trạng tệ hại trong nước, với giọng mỉa

mai sâu sắc: “Về việc giữ gìn an ninh và luật pháp trong xứ [Đàng

Ngoài, tức Bắc Việt] thì có lẽ sẽ rất dài dòng nếu ta đi sâu vào các chi

tiết. Tôi chỉ xin nói để chú biết là nhìn tổng quát thì luật lệ ở đây rất

đúng đắn, rất hợp lý và được quy định rõ ràng. Chỉ tệ một nỗi là chẳng

được kẻ nào tôn trọng cả. Chính những người có phận sự thi hành

luật pháp lại là những người phạm luật trước hơn ai hết. Tiền bạc và

những tặng vật  đút lót xóa sạch những tội ác. Dù có là đại gian hùng

nhưng nếu biết cách che giấu những hành động bất chính của mình

thì vẫn là người lương thiện [TVC nhấn mạnh]. Chỉ những kẻ vụng về,

những kẻ ngờ nghệch, ngây ngô, những kẻ nghèo hèn là bị trừng phạt

thôi. Điều này cho thấy là đức hạnh của con người không đủ sức tạo ra

những kẻ có lòng lương thiện” (xem Thư của các giáo sĩ thừa sai, bản

Việt dịch từ Pháp ngữ của Nguyễn Minh Hoàng, NXB Văn Học, tr. 74).

     Tương tự như vậy, ở Trung Quốc thời xưa, ngay từ giai đoạn đầu nhà

Minh (khoảng cuối thế kỷ 14), chính trị đã bộc lộ rõ sự bại hoại vô đạo,

khiến một quan chức lớn vừa là nhà văn/ nhà trí thức đương thời là Lưu

Cơ (tức Lưu Bá Ôn, 1311-1375) đã không ngăn được nỗi bức xúc, cực

lực phê phán một cách sâu sắc hiện trạng quan lại gian tà trong bài “Mại

cam giả ngôn” (Lời người bán cam), một tiểu phẩm cổ văn chính luận

rất nổi tiếng, nội dung mượn lời người bán cam bình phẩm sự tác tệ của

bọn quan chức ăn hại để kết luận bài viết. Đại khái, tác giả trách anh bán

cam lừa đảo bán toàn cam bên vỏ ngoài màu mè thấy tươi tốt nhưng bên

trong hỏng nát, thì được anh ta đáp lại bằng một luận điệu trông có vẻ

rất tự nhiên bình thản: “Ở đời, kẻ lừa gạt người không phải ít, há chỉ có

riêng tôi hay sao?… Nay những kẻ đầu đội nón cao to [chỉ giới quan lại

cấp cao trong triều]…, nhưng… cướp dấy lên mà không biết ngăn, dân

khốn khổ mà không biết cứu, quan lại gian tà mà không biết cấm, pháp

luật bại hoại mà không biết sửa, ngồi không ăn tốn lúa trong kho mà

không biết nhục. Trông họ ngồi trên nhà cao, cưỡi ngựa lớn, say rượu

ngon, no thịt cá, thì kẻ nào mà chẳng vòi vòi đáng sợ…, bề ngoài thì như

ngọc như vàng mà bề trong thì như bông nát? Nay ông chẳng xét những

kẻ đó mà chỉ xét cam của tôi!”.

     Đọc tiểu phẩm cổ văn chính luận dẫn trên, chúng ta thấy dường như

tác giả Lưu Cơ đã không tiếc lời mạt sát khinh miệt đám quan lại cấp

cao “ngồi không ăn tốn lúa trong kho” còn thậm tệ hơn cả anh bán cam

vì nghèo mà không tôn trọng đạo đức kinh doanh đến phải phạm tội lừa

đảo.  

     Ngày nay, đối chiếu với thực trạng Việt Nam, nếu để ý quan sát, sẽ

thấy đại khái cứ có khoảng bao nhiêu kẻ thất học vô công rồi nghề lừa

đảo, cướp của giết người… phải vào tù ra khám thì có lẽ cũng có chừng

ấy không ít hơn những viên chức-quan chức nhà nước bị truy tố, phải tra

tay vào còng và bị đăng hình lên báo chí vì một số loại tội phạm như

tham ô, móc ngoặc, hối lộ, lừa đảo…. Cho nên câu ca dao dạy trong các

trường học “Con ơi nhớ lấy câu này, cướp đêm là giặc cướp ngày là

quan” là ám chỉ khá đúng cho tình trạng hiện tại.

     Chỉ có điều, ngoài lòng tham và bản năng chạy tội ra thì giữa hai loại

kẻ cướp lại có những đặc điểm hầu như khác nhau hoàn toàn. Đại khái:

Một đằng thất học vô nghệ, lý lịch đôi khi không rõ ràng, bần cùng sinh

đạo tặc; còn đằng kia thì phần nhiều được đào tạo có cấp bằng văn hóa

hoặc chuyên môn cao hẳn hoi (kể cả không ít thạc sĩ, tiến sĩ), lý lịch từ

quá tốt đến tốt, được tín nhiệm giao cho quyền cao chức trọng, không

bần cùng mà vẫn sinh đạo tặc. Đạo tặc loại nào cũng nguy hiểm, hại dân

hại nước, cần trừng trị như nhau, nhưng loại đạo tặc quan chức đứng đầu

các cơ quan lãnh đạo hành chính hoặc doanh nghiệp nhà nước lớn (như

tập đoàn, tổng công ty…) thì lẽ tất nhiên phải có hại cho dân nhiều hơn,

vì thực chất dưới tay họ là những cơ quan công quyền hoặc công ty kinh

doanh thuộc sở hữu của khoảng 90 triệu dân trong nước.

     Cũng như những kẻ giựt dọc khác, hầu hết đạo tặc quan chức khi bị

phát hiện đều tìm mọi cách chối tội/ chạy tội,  đôi khi cũng trốn chui

trốn nhủi ra nước ngoài, ngành công an phải phát lệnh truy nã; nhưng

thường thì họ chỉ được xử lý nội bộ theo kiểu bao che lẫn nhau để hạ

cánh an toàn, tiếp tục thụ hưởng sự giàu sang bên cạnh một đám đông

dân số nghèo khổ mà chẳng ai làm gì được họ. Đám người này, một số

đã về hưu, nếu chưa phạm trọng tội hình sự rõ ràng (không che giấu

được) và bị đuổi ra khỏi tổ chức thì hầu hết cũng đều không chịu từ bỏ

cái tổ chức chính trị đã nát bét nhưng nhờ đó họ được dung dưỡng trở

nên vinh sang giàu có, nhà cao cửa rộng, cộng thêm một số ưu quyền mà

thường dân không có. Một số người khác tuy có phẩm cách sạch sẽ

trong sáng hơn, cố giữ mình trinh bạch tương đối cho lương tâm đỡ bị

cắn rứt tới lúc về hưu, nhưng vẫn không dám mạnh dạn có tiếng nói

phản biện trung thực, ngại xin ra khỏi tổ chức, vì sợ bị trù dập, mất các

quyền ưu tiên, hoặc ngầm hiểu bản thân mình có thể hi sinh quyền lợi

nhưng còn e ảnh hưởng bất lợi đến tương lai con cháu. Xét cho cùng kỳ

lý, nhóm thiểu số tạm gọi tốt đẹp này cũng đã bị khéo lợi dụng mà

không hay biết, vì kẻ xấu thường tìm cách treo gương họ ra bằng những

tấm bằng khen, huân chương để tuyên truyền cho tính ưu việt của thể

chế chính trị, khi gọi họ là những người con “ưu tú”, “chân chính”, “anh

hùng”… của nhân dân và đất nước XHCN! 

     Một khi đã trở thành tội phạm, thì nhân cách các đối tượng đều xấu

như nhau, nhưng nếu xét “hoàn cảnh” cụ thể thì hạng phạm nhân quan

chức gây thiệt hại tiền tỉ cho dân lại đáng bị xã hội khinh chê nguyền

rủa hơn, chẳng hạn so với quân trộm chó mạt hạng…, vì những kẻ này

vốn đã được xã hội ưu ái, cho ăn học-đào tạo-đề bạt chức vụ, nhờ đó

(trên nguyên tắc/ lý thuyết) hiểu biết luật pháp, có điều kiện nhận thức

tốt hơn về những gì đáng làm và không nên làm. Vì lòng tham không

đáy, họ dám phản bội cả lòng tin của tổ chức cấp trên và của nhân dân,

bằng đủ loại thủ đoạn cao cường quỷ quyệt, sẵn sàng vi phạm phép nước

để thỏa mãn tham vọng thấp hèn, góp phần tạo nên môi trường xấu và

tình trạng bất công,  cũng chính là tạo nên cái điều kiện cơ bản để từ đó

liên tục làm nảy sinh các loại tệ nạn xã hội khác.

     Ở các cấp lính lác thừa hành nhỏ hơn, noi gương xấu cấp trên, họ

không thể kiên nhẫn chịu mãi sự lép vế thu nhập so với thượng cấp, nên

một bộ phận không nhỏ đã lần lần trở nên hèn kém hư hỏng bằng đủ mọi

loại thủ đoạn kiếm chác rẻ tiền. Một số khác trong họ đã trở thành những

phần tử tha hóa ác ôn, ức hiếp bóc lột dân chúng, thường thấy trong

những vụ cưỡng chế giải tỏa nhà đất, hoặc dẹp lòng lề đường…; nhân

danh nhiệm vụ cấp trên giao, đi đến đâu cũng “đầu trâu mặt ngựa ào ào

như sôi” (Nguyễn Du), sẵn sàng thi triển những hành động vô cảm, “phũ

tay tồi tàn” ngay cả đối với những phụ nữ nghèo khổ mua gánh bán

bưng lương thiện ngoài đường phố để kiếm tiền nuôi con.

     Những hình ảnh phản cảm như trên vừa nói gợi chúng ta nhớ đến một

tiểu phẩm cổ văn chính luận khác cũng rất nổi tiếng, đó là bài “Bổ xà giả

thuyết” (Lời người bắt rắn) của Liễu Tông Nguyên (773-819) thời

Đường, nội dung công kích mạnh mẽ vào đám tham quan ô lại và bày tỏ

sự cảm thông sâu sắc với những người dưới đáy xã hội bị bóc lột tận

xương tủy, với ý tưởng chính coi chính sách thuế khóa bóc lột dân nghèo

còn độc hại hơn cả nọc rắn độc và còn “dữ hơn cọp” nữa. Đại khái, trong

câu chuyện, người dân đen ở nông thôn thà liều chết bắt rắn nộp lên

quan để được miễn thuế còn hơn phải chịu khổ về nỗi thuế má nặng nề,

lại còn bị bắt nạt hiếp đáp trăm chiều: “Bọn lại hung ác tới làng tôi, hò

hét ở phía đông phía tây, phá phách ở phía nam phía bắc, ầm ĩ làm cho

mọi người kinh hoảng, tới gà chó cũng không được yên”.    

     Bên cạnh một bộ phận không nhỏ giới quan liêu thối nát đủ cỡ và các

cấp thừa hành chỉ biết làm theo lệnh cấp trên, xưa nay còn có một số

không ít (chứ không phải tất cả) trí thức nô dịch ăn theo thể chế kinh tế-

chính trị bằng cách minh họa/ phụ họa cho những chính sách mị dân, sai

lầm. Những người này tuy chưa xứng gọi ăn hại đái nát, một số cũng có

hoàn cảnh riêng biệt đáng được thông cảm, nhưng nói chung về mặt

chiều sâu còn có hại hơn cả đám lính lác đi dọn dẹp lòng lề đường, trong

vai trò đồng lõa của họ với những cái xấu lớn hơn/ gây tác hại nhiều hơn

thuộc về đường lối, chính sách.

     Trong bối cảnh chính trị Việt Nam hiện tại, một số trong họ là những

ông nghị viên hội đồng các tỉnh thành, ủy viên mặt trận này mặt trận nọ,

chủ tịch các thứ hội, hoặc thậm chí cả đại biểu Quốc hội, vốn được cơ

cấu sẵn để đưa vào tổ chức chính trị nhưng thực chất chỉ hữu danh vô

thực, giữ vai trò a dua phụ họa. Đối với hạng trí thức này, có lần tôi đã

mạnh dạn viết rõ: “Người ta thường thấy vẫn có không ít trí thức về mặt

nhận thức đối với các hiện tình chung của xã hội thì họ vẫn đủ sáng

suốt, thấy hết mọi vấn đề, nhưng vì nhiều lý do thực tế của cuộc sống, họ

đã chọn lựa thái độ cầu an nên thường không dám tỏ thật thái độ, thậm

chí vô hình trung còn đồng lõa với một số điều tệ hại đi ngược với quyền

lợi của công chúng. Một số khác trong họ bên ngoài cuộc sống hiền lành

và có vẻ trong sạch còn dần dà trở thành những phần tử thỏa hiệp nguy

hiểm để hợp lý hóa cho những chủ trương chính sách sai lầm, gọi là

‘văn quá sức phi’, tức tìm cách tô điểm cho những điều bậy bạ trở nên

có văn vẻ để mị hoặc quần chúng. Nếu cần tỏ thái độ phê bình, họ chỉ

phát biểu vừa phải để giữ mức an toàn cho bản thân và cho những chức

vụ đang được nắm giữ, rốt cuộc trở thành những kẻ ngụy tín ngụy biện

lúc nào không hay. Họ có thừa khả năng lý luận để biện minh và che

giấu cho mặt trái hành động của mình, so với đám tham quan ô lại thì

thành phần trí thức dạng này còn nguy hiểm hơn nhiều vì chính họ mới

là thủ phạm gián tiếp dung dưỡng, làm trái độn bắc cầu cho những kẻ

tham quan ô lại tiếp tục hoành hành. Chuyện này không có gì mới, vì

lịch sử đã nhiều lần chứng tỏ, trong một số thời kỳ chính trị hủ bại, một

bộ phận của tầng lớp sĩ phu không phải lúc nào cũng đứng về phía binh

vực cho quyền lợi của nhân dân lao động” (xem tuần báo Công Giáo Và

Dân Tộc, số 1384).

     Nhưng nói đi rồi cũng phải nói lại cho đúng sự thật và công bằng

sòng phẳng: dẫn đến tình trạng trầm trọng đáng lo như hiện nay

không phải do tội lỗi của từng cá nhân riêng lẻ gộp lại, mà do cái

tổng thể của kiểu cách/ mô thức tổ chức điều hành xã hội đã không

thể không tạo nên tình trạng tha hóa cho mỗi con người mà cá nhân

chỉ là sản vật. Nói cách khác, chính là cái thể chế kinh tế-chính trị, mà

người ta thường nói giảm đi cho lịch sự tế nhị bằng hai chữ “cơ chế”,

thứ cơ chế đã có mấy đời thủ tướng (như Võ Văn Kiệt, Phan Văn

Khải…) gợi ý khéo léo cần phải thay đổi (chứ khó nói huỵch toẹt ra vì

dù cấp thủ tướng trong cơ chế đó cũng chẳng dám hoặc được tự do phát

biểu…), và có lần ông bộ trưởng Bộ Giao thông-Vận tải Đào Đình Bình

đã phải ngậm ngùi phát biểu lớn lên giữa phiên họp Quốc hội ngày

15.6.2006 trước khi ông bị bắt buộc phải từ chức: “Cơ chế hiện nay phải

thay đổi. Nếu không thay đổi thì bộ trưởng nào ngồi vào đây cũng sẽ

mắc khuyết điểm. Tôi từ chức rồi, nhưng các đồng chí sau tôi chắc chắn

cũng khó vượt qua” (dẫn lại theo tạp chí Phát Triển Kinh Tế, số 191,

tháng 9.2006).

     Liên quan sự bất lực của cả hệ thống, rất nhiều quan chức cấp cực lớn

trước nay đã thừa nhận công khai, như có thể nhắc lại, chính cựu Thủ

tướng Phan Văn Khải khi vừa rời khỏi chính trường cũng có lần phát

biểu trả lời phỏng vấn trước Quốc hội: “Rất nhiều lần tôi nói cả hệ thống

chính trị chứ không chỉ hệ thống hành chính của chúng ta có vấn đề, cần

phải cải cách, chấn chỉnh, nâng cao năng lực, hiệu quả, hiệu lực, chống

cho được tham nhũng, tiêu cực, nhũng nhiễu…” (nt.).

     Một cái thông bệnh của quan chức các cấp nhà nước trong hệ thống

chính trị là thường khi người ta sắp hoặc đã về hưu rồi mới có người

thỉnh thoảng dám nói lên một phần sự thật mấy vấn đề cốt lõi về quan

điểm/ lập trường chính trị; còn trong khi đương chức, nghĩ mình là

phương diện quốc gia, sớm tối xách cặp đi họp/ đi báo cáo/ chỉ đạo…

gọi là làm việc nước, để chỉ phát biểu qua loa mấy vấn đề râu ria sự vụ,

mà chẳng dám động vào những chỗ bị ngầm hiểu (vì không có văn bản

hay luật pháp quy định) là “vùng cấm” hay “vùng nhạy cảm”, vì sợ đi

chệch đường lối chính thống sẽ có thể bị chính những đồng chí thân thiết

của mình nghi ngờ và quy chụp quan điểm, từ đó có thể “bị đì”, rất khó

tiến thân trên con đường sự nghiệp. Hậu quả tất yếu là hầu hết quan

chức có chức vụ càng cao lại càng trở nên rụt rè gà phải cáo, sống và

làm việc thiếu trung thực, (để giữ ghế chờ đến lúc về hưu hưởng đủ các

loại chế độ?), và vì thế quốc gia nếu không ngày càng suy bại, bộ  máy

vận hành nhà nước không ngày càng kém hiệu lực, mới là chuyện lạ.      

     Sự thật, chẳng phải không có những quan chức lãnh đạo cấp cao có

thực tâm cải cách, chống tham nhũng, muốn làm trong sạch bộ máy và

nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, nhưng chính cái hệ

thống với bản chất thiếu công khai dân chủ này trước hết đã vùi dập làm

tê liệt mọi sáng kiến và quyền tự do phát biểu cá nhân, khiến cho một

người dù thiện chí đến đâu rốt cuộc cũng phải chịu cảnh lực bất tòng

tâm! Và trong tình huống triệt buộc bất lực một cách phổ biến như vậy,

chỉ một số rất ít trong họ dám có quyết định “từ quan” để ít nhất cũng

giữ mình trong sạch trong lương tâm thanh thản vì không tiếp tục mắc

tội đồng lõa với một số biện pháp/ chính sách bất cập do tập thể quyết

định. 

     Vậy rõ ràng vấn đề cần được giải quyết từ gốc, bằng cách phải sửa

đổi căn bản hệ thống kinh tế-chính trị theo hướng dân chủ hóa toàn

bộ hoạt động xã hội một cách thực chất, thông qua quá trình sửa đổi

Hiến pháp và thực thi đúng Hiến pháp, vì trên thực tế, kể từ Hiến pháp

Việt Nam đầu tiên (năm 1946) cho tới Hiến pháp bây giờ (năm 2013),

hầu hết các quyền tự do dân chủ căn bản đều chỉ dừng lại ở mức độ lý

thuyết: nói tự do ngôn luận mà không có tự do ngôn luận (nên mới có vụ

trấn áp nhóm Nhân Văn Giai Phẩm năm 1956…); nói biểu tình mà

không có quyền biểu tình (đến nay luật biểu tình vẫn chưa được thông

qua, và ai tổ chức biểu tình cũng đều bị trấn áp, quy chụp do kẻ thù này

khác xúi giục…); nói ứng cử/ bầu cử tự do nhưng thực tế chỉ do sự cơ

cấu/ quy hoạch sẵn của một tổ chức độc quyền lãnh đạo (nên những

người tự nộp đơn ứng cử hầu hết đều bị loại…) … 

     Cho đến hiện nay, tình trạng mất tự do dân chủ kiểu nêu trên vẫn

chưa được cải thiện đáng kể, mọi ý đồ tốt đẹp của quốc gia vì thế đều

chỉ nằm trên giấy, trong khi mọi thứ hiện tượng tiêu cực trong đó nổi bật

quốc nạn tham nhũng tràn lan nêu ra từ mấy chục năm nay chẳng những

không dừng lại mà còn tiếp tục gia tăng hoành hành, hay được mô tả

khéo bằng cụm từ “diễn biến phức tạp”.

      Trong bối cảnh gần như bế tắc như vậy, không ít người có thiện chí

đã tỏ ra lúng túng, cố gắng lắm cũng chỉ thẳng thắn nêu lên được một

vài ý kiến phản biện/ đóng góp trên các phương tiện truyền thông (lề

phải, lề trái) nhưng thường chỉ được đáp lại bằng sự im lặng gần như

tuyệt đối của các nhà đương cuộc! Một số người khác thất vọng vì lực

bất tòng tâm, không đủ kiên nhẫn chờ đợi lâu thêm, họ đã lai rai buồn bã

đoạn tuyệt với cái tổ chức chính trị độc quyền trì trệ ít chịu thay đổi mà

họ kịp nhận ra chính sự độc quyền trì trệ đó mới là nguyên nhân đích

thực của mọi nguyên nhân  tạo nên tình trạng hôn ám, vô đạo như từ

trước đến nay. Họ dứt khoát như vậy, vừa để tránh mặc cảm đồng lõa,

vừa để bắt chước người xưa bảo tồn danh tiết.         

     Từ rất lâu đã có loại lý lẽ cho rằng, trong điều kiện nước nhà “vô

đạo”, tức chính trị hôn ám bại hoại, nếu thật sự là người tốt, chân chính

thì không ai có thể tiến thân xa trên con đường chính trị. Trường hợp ai

đó thản nhiên chịu nhận chức vụ cao một cách không ngay chính (vì

thiếu đức thiếu tài, lại được cơ cấu/ đề bạt không theo nguyên tắc công

bằng, dân chủ…) để được giàu sang như trong thực tế xã hội hiện tại

“tiền và quyền đi đôi với nhau” mà chẳng làm được gì có ích cho dân thì

họ chỉ được cái mã ngoài tốt đẹp vinh thân phì gia nhưng thực chất chỉ

là một nỗi nhục nhã hết sức lớn lao, tương lai sẽ bị lịch sử phán xét

không thương tiếc!

      Là một người không từ bỏ lý tưởng xã hội, hẳn ai cũng muốn đóng

góp phần mình vào sự nghiệp tiến bộ chung của đất nước. Nhưng ngặt

nỗi, cuộc sống không đứng yên một chỗ, thực tế thời cuộc cũng ngày

một đổi khác, lòng yêu nước, mục đích lý tưởng vì thế cũng cần được

biến thông, thể hiện khác đi cho phù hợp với thời thế và hoàn cảnh lịch

sử cụ thể đã thay đổi. Nếu vẫn cứ một mực “ngu trung” theo con đường

cũ, khi sự vật đã khác xưa, thì đó chắc chắn không phải là cách lựa chọn

sáng suốt của một người trong sạch luôn coi lợi ích của nhân dân là mục

đích tối thượng.

     Về phía các nhà đương cuộc chịu trách nhiệm lèo lái quốc gia, ngày

càng thấy dường như họ đã nhận ra tầm quan trọng và tính bức bách của

nhu cầu cải cách thể chế. Về mặt phát biểu công khai, không ít các nhà

lãnh đạo cấp cao đã đề cập vấn đề này từ lâu. Nhiều người trông chờ vào

một bước đột phá có tính quyết định để khai thông mọi bế tắc; một vài

cố gắng cũng đã được bàn thảo và thực hiện bước đầu, tuy vẫn còn vấp

phải khá nhiều khó khăn trở ngại, bởi nhiều lý do rất phức tạp. Nhưng

dù thế nào, nếu thật sự muốn lấy lại niềm tin trong nhân dân, để đất

nước được ổn định phát triển lâu dài và thông suốt, tiêu chí của giá trị

cải cách nhất định cũng phải được đánh giá dựa trên cái ngưỡng từ đó

trông thấy rõ nỗ lực vượt lên mấy nút chặn nghiệt ngã bấy lâu nay, liên

quan những nội dung/ vấn đề cốt lõi như quyền tự do ngôn luận-báo chí-

xuất bản, quyền ứng cử, quyền biểu tình, quyền sở hữu ruộng đất (trên

thực tế)…, chứ không thể chỉ dựa vào mấy câu chữ lưỡng nghĩa vốn đã

được sửa đi sửa lại nhiều lần ghi trong các bản nghị quyết suốt mấy chục

năm nay mà bản chất gần như không có gì đổi mới.

Nhân quyền Cuba Ra Sao Sau Khi Ông Castro Qua Đời?

VOA

Các thành viên cộng đồng Cuba tại Mỹ phản ứng trước cái chết của ông Fidel Castro ở khu Little Havana, Miami, ngày 26 tháng 11 năm 2016.
 .
Sau khi ông Fidel Castro qua đời hôm 25/11 ở tuổi 90, nhiều cư dân của đảo quốc cộng sản và những người Mỹ gốc Cuba đã nhìn thấy cơ hội thay đổi ở đất nước có vi phạm nhân quyền kéo dài hàng chục năm nay. Nhưng có lẽ những thay đổi đó không diễn ra một cách dễ dàng.
.
Khi ông Castro nắm quyền, ba thế hệ người dân Cuba hầu như không có các quyền tự do dân sự và chính trị cơ bản, hàng ngàn người bất đồng chính kiến bị trừng phạt hoặc bỏ tù.
.
Ngay cả việc khôi phục quan hệ với Hoa Kỳ kể từ năm 2014 cũng không nới lỏng các hạn chế về tự do. Internet vẫn bị kiểm duyệt nghiêm ngặt và việc giam giữ các nhà báo và những nhà bảo vệ nhân quyền đã tăng lên.
.
Giờ đây, ông Raul Castro đã dần dần nắm quyền kiểm soát đảo quốc cộng sản. Liệu ông có quyết định là việc anh trai mình qua đời cũng đánh dấu sự kết thúc của một thời đại hay không hoàn toàn tùy thuộc vào ông.
.
Giáo sư Guadalupe Correa nói với đài VOA qua Skype: “Ông ấy cần phải thay đổi cách tiếp cận và cho phép đất nước cởi mở hơn”.
.
Guadalupe Correa là giáo sư về hoạt động của chính phủ và nghiên cứu an ninh tại Đại học Texas.
.
Vài giờ sau khi ông Castro qua đời, nhiều nhà lập pháp Hoa Kỳ cũng bày tỏ hy vọng trên Twitter.
.
Hạ nghị sỹ Carlos Curbelo bày tỏ: “Đây là một cơ hội đặc biệt cho những người đấu tranh vì tự do ở Cuba, các nhà lãnh đạo đối lập đã mạo hiểm mạng sống, an ninh và hạnh phúc của họ trong nhiều năm qua để đấu tranh để có một đất nước tốt hơn. Giờ đây họ sẽ trở nên mạnh mẽ hơn”.
.
Nhưng sự thay đổi sau khi ông Castro qua đời có thể đi kèm với một cái giá đắt. Nhà phân tích chính sách đối ngoại Brian Fonesca nói với VOA qua Skype: “Xét đến thực tế là việc giữ quyền lực là điều quan trọng nhất đối với giới chóp bu chính trị Cuba, tôi nghĩ rằng chúng ta có thể sẽ thấy hoạt động đàn áp chính trị sẽ tăng lên ít nhất là trong ngắn hạn”.
.
Brian Fonseca là Viện trưởng Viện Chính sách Công, Đại học Quốc tế Florida.

27/11/2016 ca sĩ Mai Khôi, một thông điệp của cuộc sống

BVN 27/11/2016

Mai Khôi, một thông điệp của cuộc sống

ca-si-mai-khoi

Xuân Thọ

…Thật xúc động được nghe các bài hát do chính Mai Khôi sáng tác (…). Chúng không chỉ đem đến cho người nghe cảm xúc âm nhạc sâu lắng, mà còn đánh thức lương tri con người…

Xưa nay tôi không hề tốn giấy mực về các hiện tượng Obama hay Trump, mặc dầu rất ngưỡng mộ nhân cách và trí tuệ của Barak Obama hoặc rất bị sốc về chiến thắng của Donald Trump.

Tôi viết về những người Đức bình dị như Ruppert Neudeck, Harald Jäger, mà tôi coi là tiêu biểu cho số phận, cho lương tri nước Đức, quê hương lựa chọn của tôi. Càng tự hào về quê hương này bao nhiêu, tôi càng lo lắng cho số phận quê hương chôn rau cắt rốn bấy nhiêu và chỉ mong người Việt hãy tự nắm lấy vận mệnh của mình, đừng đặt hy vọng vào các cường quốc Tây phương, vào Obama hay Trump.

Nhiều người Việt đã đấu tranh cho một Việt Nam công bằng và dân chủ mà không hề ảo tưởng đến sự giúp đỡ của ngoại bang, như Cấn Thị Thêu, Hồ Thị Bích Khuơng, Đoàn Văn Vươn… những người không còn gì để mất.

Sự ra đi của kinh tế XHCN đã góp phần hình thành một tầng lớp trung lưu được sở hữu quá nhiều thứ để mất: địa vị, danh vọng, tiền tài, cuộc sống ấm no và hạnh phúc gia đình. Một số nhỏ trong đó dám chấp nhận hy sinh các lợi ích trên, chỉ để bảo vệ những giá trị mà họ ôm ấp: Tự do, Công bằng và Bác ái. Những người trẻ hơn tôi cả một thế hệ còn chấp nhận thêm một hy sinh: Sự nghiệp. Ca sỹ Đỗ Nguyễn Mai Khôi là một người trong số đó.

Tôi được may mắn làm quen với ca sỹ trẻ Đỗ Nguyễn Mai Khôi sau khi trên mạng có một số dư luận xấu về cô(1). Mai Khôi tin ở tôi nên đã thổ lộ việc cô sang Đức biểu diễn. Tin vào sự trong sáng của Mai Khôi, tôi đã làm hết sức mình, cùng các bạn trẻ quanh tôi giúp Mai Khôi đưa những ca khúc trong Album “Trói vào Tự do” đến với cộng đồng ở Köln và Praha(2), bất chấp mọi lời can ngăn, dị nghị.

Một số báo chí phương Tây đã viết về Mai Khôi với đại ý: “Lady Gaga Việt Nam lên tiếng thách thức” hoặc “Lady Gaga Việt Nam quan tâm đến chính trị”(3). Trước khi đề cập đến những thông điệp chính trị của Mai Khôi, các bài báo này thường so sánh phong cách biểu diễn đầy khiêu khích của cô ca sỹ trẻ Việt Nam với siêu sao âm nhạc Mỹ.

Mai Khôi cho rằng: Người ta so sánh vậy có thể vì trước đây Mai Khôi có phong cách biểu diễn hơi khác thường, từ cách ăn mặc, từ màu tóc đến cách thể hiện khá táo bạo, làm như vậy để giúp cho khán giả quen dần với việc xóa bỏ các định kiến. Chúng ta sống trong một xã hội quá nhiều định kiến, giải phóng thanh niên khỏi các định kiến cũng là giải phóng tư tưởng. Chính vì vậy mà Khôi đã sáng tác nhạc dance, sử dụng nhạc dance để truyền tải các thông điệp xã hội. Ví dụ như trong bài “Selfie orgasm” Khôi đã mô tả hành vi tự sướng và thái độ tiếp nhận, chia sẻ thông tin không chín chắn, thiếu suy nghĩ đang ngự trị trong thanh niên Việt, làm tê liệt ý chí vươn lên của họ. Chính người Việt mình đã phát minh ra khái niệm “Selfie Orgasm (Tự sướng)” để đặt tên cho căn bệnh xã hội của mình. Giới trẻ là những người giữ trọng trách làm cho đất nước thay đổi và làm cho đất nước phát triển, nếu cứ suốt ngày “tự sướng” thì thời gian đâu để suy nghĩ cho đất nước.

Tôi coi sự so sánh Mai Khôi với Lady Gaga là rất khiên cưỡng. Khác biệt cơ bản: Lady Gaga của nước Mỹ có thể tự do làm mọi việc mà không sợ bị ảnh hưởng đến cuộc sống, điều mà Mai Khôi ở Việt Nam không thể có.

Hợp với suy nghĩ của tôi, ngày 24.10.16, báo tiếng Đức Asienzeitung đã đem những hoạt động xã hội của Mai Khôi để so sánh ngược lại rằng: giờ đây, ngay cả Lady Gaga của nước Mỹ cũng đã bắt đầu quan tâm đến chính trị, khi cô lên tiếng về nạn bạo hành của cảnh sát chống người da mầu(4).

Trong ba ngày Mai Khôi là khách của gia đình tôi ở Köln, vợ chồng tôi, ngoài việc được chứng kiến tài năng âm nhạc của một nghệ sỹ trẻ đầy nhiệt huyết, còn khám phá được một trái tim lớn bên trong một phụ nữ nhỏ bé, kiều diễm. Mai Khôi đã làm chúng tôi thật sự cảm động, khi cô tìm cách quan tâm đến một cậu fan trẻ tuổi có số phận rất đáng thương mà trong khuôn khổ bài viết này không thể kể chi tiết.

Vì ca sỹ Jazzy Dạ Lam ở Munich bận, không tham gia cùng Mai Khôi trong buổi biểu diễn tại Köln, tôi phải mời cặp vợ chồng Phương Hoa, Lê Hùng, hai nghệ sỹ nhạc dân tộc Việt Nam ở Berlin cùng tham gia để “chia lửa” cho Mai Khôi trong suốt gần 3 giờ trên sân khấu. Hai bạn Hoa, Hùng đã vui vẻ nhận lời, không lấy tiền thù lao. Vợ chồng Hoa, Hùng đã chở toàn bộ nhạc cụ, thiết bị âm thanh đến Köln giúp đỡ. Không ngờ sự tham gia của hai bạn Hoa, Hùng đã tạo nên một sự kết hợp rất thành công giữa nhạc pop hiện đại và nhạc dân gian cổ truyền Việt Nam, làm nức lòng tất cả khán giả Đức Việt có mặt hôm đó.

Thật xúc động được nghe các bài hát do chính Mai Khôi sáng tác: “Những chuyến xe Bus”, “Tiếng lòng tôi”, “Trói vào tự do”… Chúng không chỉ đem đến cho người nghe cảm xúc âm nhạc sâu lắng, mà còn đánh thức lương tri con người. Mai Khôi được thừa hưởng của cha, của gia đình cái “gen” âm nhạc là điều tôi biết, nhưng cái gì đã nuôi dưỡng nên ý thức xã hội và lòng nhân ái của một người nghệ sỹ? Không phải nhạc sỹ nào khi nhìn thấy những người vô gia cư nằm ngủ bên ngoài các tòa nhà trống đều có thể hét lên câu hỏi: Vì sao lại có sự bất công đó? Không phải người Việt nào khi nhìn thấy những chiếc xe buýt bắt người biểu tình cũng cất lên tiếng thét xé lòng như Mai Khôi.

Trong lúc hát bài “Những chuyến xe bus”, không hiểu có phải vì cảm xúc mạnh trước hình ảnh đàn áp và máu chảy trên mặt đường mà Mai Khôi đã đánh đứt dây đàn. Khán giả xúc động, vỗ tay cổ vũ cô hát tiếp.

Mai Khôi cho biết, cô thừa hưởng năng khiếu âm nhạc từ cha. Ông đã dạy cô chơi nhạc từ bé và đem cô theo ông đi biểu diễn nhạc đám cưới từ lúc cô 12 tuổi. Các cảm xúc trong cuộc sống thì được hình thành từ một gia đình giàu lòng nhân ái, trong đó người mẹ góp phần không nhỏ. Mẹ Khôi dạy văn nên thường truyền lại cho các con những suy nghĩ và cách hành xử rất nhân văn, những mẩu chuyện về tình thương. Do đó Khôi thường có những cảm xúc rất mạnh về xã hội, về thân phận con người. Từ nhỏ, bé Khôi đã hay khóc khi nhìn thấy những người nghèo khổ ngoài đường, hay bảo vệ các bạn yếu thế (những bạn hay bị bắt nạt) trong trường, lớp của mình.

Lớn lên, Khôi cũng hiểu được những diễn biến chính trị đã làm ảnh hưởng đến xã hội Việt Nam như thế nào thông qua lời kể, lời dạy của ông bà và cha mẹ cô, những người đã trải qua các cuộc chiến. Rồi Khôi run rủi yêu Ben, một thanh niên Úc làm việc trong một dự án quốc tế về chống bạo lực học đường tại Việt Nam. Ben hay trao đổi với cô về trách nhiệm xã hội của những người trí thức, của người nghệ sỹ trước bạo lực, truớc đói nghèo, trước bất công. Tất cả các yếu tố đó đã thổi ngọn lửa vào tâm hồn, tạo cho Mai Khôi tầm nhìn trong cuộc sống và trong ca nhạc.

Thưởng thức các sáng tác song ngữ Anh-Việt qua giọng hát mạnh mẽ của Khôi, bằng một thứ tiếng Anh rất rõ ràng, tôi thực sự ngạc nhiên về khả năng tư duy và phong cách thể hiện phá bỏ không gian của một cô gái 33 tuổi, sinh ra, lớn lên và được đào tạo trong một xã hội đầy khuôn phép như Việt Nam. Với câu niệm chú “Om Mani Padme Hum” của kinh Phật Tây Tạng, Khôi muốn gửi niềm tin vào tôn giáo hàng đầu Á châu, đang thịnh hành trong dân tộc, song cũng bày tỏ niềm thất vọng rằng niềm tin đó đã không giải phóng được cô ra khỏi những thực tế đắng cay trên quê hương. Một bài thơ mộc mạc chứa đựng tính triết lý.

Mai Khôi cùng ban nhạc Lotus của Phương Hoa, Lê Hùng tại Köln hôm 06.11.2016

Ngược lại, với bài hát vui “You’ve Been A Bad Bad Boy” mà cô định hát tặng Tổng thống Obama trong buổi gặp mặt hôm 24.5 tại Hà Nội, Mai Khôi đã tận dụng khả năng châm biếm của nghệ thuật để qua lời độc thoại rất đời thường với vị Tổng thống đáng kính nọ, gửi một thông điệp tới giới chính khách: Đừng quá say trong những trò chơi chính trị mà làm mất đi lòng tin của người dân!

Đáng tiếc là trong buổi gặp đầy sóng gió đó(5), Mai Khôi không có cơ hội để hát tặng Obama. Nhưng nếu có, chắc chắn người đàn ông thông minh và hào hiệp kia sẽ rất hạnh phúc đón nhận sự phê phán ngọt ngào của Khôi.

Ca khúc “Adam Was No Sinner” khẳng định: Adam không có tội ! Quyền được tò mò, quyền được ăn trái cây là quyền con người ! Một thông điệp của cuộc sống, không thể rõ ràng hơn.

Tôi chợt tự hỏi: Một người có những tư chất như Mai Khôi thừa thông minh để nhìn ra con đường thênh thang truớc mắt, nếu cô biết tận dụng thế mạnh về chất giọng, về nhạc cảm, về kiến thức phối âm, về tư duy sáng tác độc đáo, và quan trọng hơn nữa là về ngoại hình, về phong cách biểu diễn để chinh phục công chúng qua các sáng tác giải trí. Vậy cái gì đã tạo ra buớc ngoặt, khiến Mai Khôi quan tâm đến các đề tài tiến bộ xã hội, dân chủ, nhân quyền và bất chấp mọi nguy hiểm, tìm mọi cách đưa chúng vào âm nhạc?

Ngày hôm sau, trong một quán cà phê dưới chân tượng đài Beethoven ở thành phố Bonn, Mai Khôi tâm sự với tôi:

– Ngay từ khi bắt đầu biết sáng tác nhạc, Mai Khôi đã quan tâm đến công bằng xã hội. Nhưng có lẽ chỉ từ khi nghe anh Quang A tuyên bố đứng ra ứng cử Quốc hội thì cô mới bắt đầu thực sự đi tìm các câu trả lời về sự bế quan tỏa cảng trong sáng tác nghệ thuật, về sự kiểm duyệt vô nguyên tắc. Rồi Khôi nhận ra rằng việc người nghệ sỹ không có quyền tự do sáng tác cũng chính là việc người dân không có quyền được nói lên tiếng nói của mình. Vậy nên cô quyết định đứng ra ứng cử đại biểu Quốc hội. Tất nhiên với việc làm đó, cô mong muốn thức tỉnh giới trẻ hãy quan tâm hơn đến chính trị, hơn là mong mình được vào Quốc hội.

Đối với Khôi, việc trở thành một ca sĩ giải trí với hàng trăm ngàn người hâm mộ chưa bao giờ là ước mơ của cô. Khôi luôn luôn muốn được sáng tạo ra gì đó mới mẻ. Khi thấy ca sĩ giải trí đã nhan nhản khắp nơi, trong khi con người đang lạc trong mê hồn trận tiêu khiển, cô không muốn trở thành một thứ giải trí nữa. Khôi không thể nào chịu nổi, không thể nào ngồi im, không thể nào mua vui, khi thấy người dân bị ức hiếp, bạn bè anh em bị bỏ tù vô tội, bị đánh, bị cướp quyền đi lại….Vậy hãy biểu đạt những điều Khôi nghĩ, những điều Khôi thấy, những điều Khôi muốn, chính là bằng âm nhạc, sức mạnh duy nhất mà Khôi có.

– Gia đình Mai Khôi phản ứng ra sao trước sự lựa chọn đó? tôi hỏi.

– Ba mẹ Khôi luôn vun xới cho sự nghiệp của Khôi và tất nhiên ông bà rất mừng về con đường âm nhạc của Khôi. Sau khi Khôi đứng ra tự ứng cử đại biểu Quốc hội, địa phương có cử người đến gia đình nhắn nhủ. Mẹ Khôi lo lắng lắm. Khôi nghe mẹ than thở nhưng không muốn bàn chuyện đó qua điện thoại. Khôi về tận quê giải thích cho mẹ nghe, để mẹ hiểu rằng Khôi không hề làm điều gì sai trái, Khôi đang làm đúng nghĩa vụ công dân như mẹ đã dạy dỗ Khôi. Mẹ nghe ra và trở nên vững tâm. Còn ba Khôi thì ủng hộ Khôi ngay từ đầu và ông chính là một trong những nguồn động viên Khôi. Ben, chồng Khôi cũng là người vô cùng tâm huyết với những vấn đề xã hội, đặc biệt là xã hội Việt Nam. Ben đã sống ở Việt Nam 7 năm, đưa chương trình giáo dục về chống bạo lực và bất bình đẳng giới vào các trường học cấp hai nhằm mục đích giải quyết bạo lực và định kiến giới ở tận gốc. Dĩ nhiên, Ben rất vui sướng khi có người đồng tư tưởng với mình, đó là mong muốn và làm hết sức mình cho một xã hội tốt đẹp hơn.

Trong buổi biểu diễn ở Köln, các nghệ sỹ luôn nhận được những tràng pháo tay vang dội của khán giả, dù sao chỉ là của khoảng 100 người, trong một hội trường nhỏ, bố trí đơn sơ, lắp đặt vội vàng. Tôi nghĩ một người đã nổi tiếng như Mai Khôi, với 40.000 người hâm mộ (Followers) trên Facebook, đã từng đứng dưới hào quang của các sân khấu lớn, liệu có bị hụt hẫng trong hoàn cảnh khiêm tốn như hiện tại?

Mai Khôi nói rằng, đó là một sự ngộ nhận: Khôi xưa nay, kể cả lúc thành đạt nhất, chưa bao giờ đi tìm ánh hào quang. Chính vì vậy cô rất ít khi xuất hiện ở những sân khấu lớn. Điều quan trọng của Khôi là tình cảm thực sự của khán giả, là sự gắn bó của khán giả đối với các sáng tác của mình, chứ không phải sự cuồng nhiệt vì giá trị giải trí của các show. Do vậy trước hay sau khi bị gây khó dễ bởi các hoạt động xã hội của mình, những khán giả yêu mến Khôi vẫn luôn bên cô. Khôi không hề bị hụt hẫng. Ngược lại tình cảm của bà con tại các buổi biểu diễn ấm cúng ở Đức, ở Tiệp mấy hôm vừa qua, đã làm cho Khôi hết sức xúc động. Điều duy nhất làm cho Khôi buồn là một số bạn bè thân thiết của Khôi, không biết vì quá lo lắng cho Khôi, hay cho bản thân mà họ đã khuyên can Khôi từ bỏ con đường Khôi đã lựa chọn, có những người thậm chí đã xa lánh Khôi.

Sau buổi biểu diễn, một cô gái Việt, cùng tuổi với Mai Khôi, đã đặt câu hỏi rất đơn giản cho mọi người Việt, nhưng lại rất khó hiểu cho những người Đức tại hội truờng: Liệu những hoạt động xã hội của Mai Khôi có trở thành nguy cơ đe dọa sự nghiệp âm nhạc của một nghệ sỹ có tài hay không?

Mai Khôi: Tùy quan niệm của mọi người về hai chữ “sự nghiệp”. Đối với Khôi, sự nghiệp âm nhạc không chỉ là các nốt nhạc, các lời ca, mà chính là các thông điệp chính trị chứa đựng trong đó. Do vậy nếu sáng tác âm nhạc mà không gắn bó với các vấn đề nóng bỏng của xã hội thì không thể coi đó là sự nghiệp.

Mặt khác, Khôi thấy, mức độ phát triển sự nghiệp của một người nghệ sỹ có tài thường tỉ lệ thuận với những rủi ro, nguy khốn, những thử thách. Do vậy nếu muốn phát triển phải chấp nhận những thử thách.

Khi được hỏi liệu cô có sợ bị khó khăn khi quay về nước? Mai Khôi nói: Khôi không nghĩ như vậy. Khôi không chống lại Nhà nước. Khôi chỉ muốn Nhà nước nghe được dân đang nghĩ gì, đang cần gì. Khôi yêu Việt Nam và muốn Việt Nam cũng phát triển như những nơi mà Khôi đã đến. Ở tất cả những nơi nơi đó, người dân và chính phủ luôn đối thoại bình đẳng với nhau.

Với sáng tác, với giọng hát và cây đàn của mình, Mai Khôi muốn cổ vũ giới trẻ: Hãy quan tâm đến chính trị, đến quyền được nói, quyền được yêu, được ghét, quyền tự do sáng tác, quyền được ứng cử của mình và hãy đấu tranh để bảo vệ chúng. Cũng chính bằng âm nhạc, Khôi muốn nhắc nhở chính quyền phải tôn trọng các quyền thiêng liêng đó của người dân, vốn đã ghi trong Hiến pháp.

Tiễn Mai Khôi tại nhà ga, nhìn cô đeo chiếc đàn guitar bước lên tàu hỏa để tiếp tục mang lời ca đến cho đồng bào, tôi nghe văng vẳng tâm sự của cô: Mỗi con người hãy gửi gắm những ước mơ đẹp của mình vào sự nghiệp. Đối với cô, đó là âm nhạc.

Köln 11.2016

X.T.

__________

(1) Sau cuộc gặp với Tổng thống Obama hôm 24.05.16, có một số ý kiến trên mạng cho rằng Mai Khôi đã không hề phát biều gì về tự do ngôn luận, tự do biểu diễn, về nhân quyền trong cuộc gặp này, mặc dầu cô khẳng định là có. BBC cũng đưa tin như vậy và sau này đã lên tiếng cải chính. Blogger Anh Gấu Phạm, người phiên dịch cho phái đoàn Mỹ gần đây cũng khẳng định là Mai Khôi đã kể đúng những gì cô phát biểu trong cuộc gặp.

(2) Tôi đã liên hệ với hai nhà Việt Nam học ở Praha là Jan Komarek và Ondra Slowik. Hai bạn giúp tổ chức buổi biểu diễn của Mai Khôi tại Jam Club Praha hôm 30.10.16.

(3)https://www.suedtirolnews.it/unterhaltung/leute/vietnams-lady-gaga-fordert-kommunistische-regierung-heraus

http://www.abc.net.au/news/2016-03-17/mai-khoi-vietnam-lady-gaga-running-for-parliament/7255670

(4)http://www.asienzeitung.com/component/flexicontent/32-vietnam/10052-vietnams-lady-gaga-fordert-kommunistische-regierungheraus

(5) Nhà Trắng dự định mời khoảng 10 người đại diện cho các tổ chức Xã hội Dân sự Việt Nam đến gặp Tổng thống Obama, nhưng nhiều người trong số đó bị chặn hoặc bị bắt cóc. Đến giờ chót số ghế trống mới được dọn đi.

 

Tác giả gửi BVN.

Mây thẻ