"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Ba, 2017

Triết gia Trần Đức Thảo – vài nghi vấn còn lại

Triết gia Trần Đức Thảo – vài nghi vấn còn lại

 Nguyễn Đình Cống

Hồi sinh viên (1956-1960) tôi đã nghe tên và biết ông dính vào Nhân văn – Giai phẩm. Ban đầu tôi háo hức tìm hiểu, sau biết ra thì vừa phục vừa thương. Dần dần tôi được đọc các bài viết về ông, nổi lên ở 3 vấn đề chính: 1- Ông là nhà triết học tài năng; 2- Là nhà Macxit, bảo vệ và giải thích triết học Marx; 3- Người có cuộc sống cơ cực trong hàng ngũ trí thức.

Tôi đọc một số tác phẩm của ông, nhưng vì kiến thức triết học chưa đủ tầm nên chỉ hiểu được một ít mà thôi. Điều tôi quan tâm là một nhà triết học lớn như ông, được phong giáo sư, sau khi chết còn được tặng Huân chương Độc lập và Giải thưởng Hồ Chí Minh, vậy ông có đóng góp gì tích cực trong việc vận dụng triết học cho công cuộc xây dựng đất nước, đặc biệt là việc vận dụng chủ nghĩa Marx vào trong đời sống. Càng tìm hiểu càng bị rối mù. Gần đây có lúc tôi tưởng đã hiểu được ông, nhưng rồi lại như đang bị đi vào ngõ cụt. Nguyên nhân nằm ở tác phẩm được ông viết vào cuối đời, cùng vài quyển sách về ông.

Ông được xem là nhà Macxit chân chính. Còn tôi, trước 35 tuổi tôi tuyệt đối tin tưởng và tôn sùng Marx, nhưng rồi dần dần tôi phát hiện ra Marx có sai lầm. Khi biết Bertrand Russell, nhà khoa học lớn của nước Anh, hồi trẻ cũng rất tin, nhưng khi lớn tuổi đã từ bỏ Marx, tôi nghĩ rằng có thể mình đã đúng. Thế nhưng tại sao một nhà triết học lớn như GS Trần Đức Thảo vẫn bảo vệ Marx. Tôi không thể tưởng tượng được một người có trí tuệ siêu việt vẫn cho Marx đúng trong khi một người tầm thường như tôi cho Marx sai. Hay là tôi quá chủ quan, chưa thấy được chỗ ngu dốt của mình.

Thế rồi tôi đọc được sách “TRẦN ĐỨC THẢO-NHỮNG LỜI TRĂN TRỐI” của Tri Vũ Phan Ngọc Khuê (PNK), trong đó ở chương 14, nêu đích danh Marx là thủ phạm của những tội ác mà một phần nhân loại phải gánh chịu. Theo PNK, GS Thảo đang gấp rút hoàn chỉnh cuốn sách đã ấp ủ mấy lâu nay, cho rằng đó sẽ là cuốn sách cuối đời. Trong sách đó ông vận dụng triết học để chứng minh sai lầm và tội ác của Marx: PNK tường thuật lời GS Thảo, nói tại Nhà Việt Nam ở París vào ngày 12 tháng 4,1993:

Tôi tính ít ra cũng phải bốn tháng nữa thì mới có thể hoàn thành cuốn sách với kết luận hoàn toàn mới mẻ và khách quan về mặt triết học. Vì cũng phải lướt qua những bước biến đổi của xã hội, thông qua các giai đoạn phát triển của vật chất, của vũ trụ, trải nghiệm vấn đề môi trường bị tàn phá do phát triển… chứ không thể nhảy ngay tới kết luận giản dị là mọi sự xấu xa đã xẩy đến là do học thuyết sai lạc của Marx. Thật là bi thảm cho một nhà triết học như tôi, khi đã quyết tâm cống hiến cả đời mình cho lý tưởng cách mạng vô sản. Nhưng rồi cuối cuộc đời, tôi mới khám phá ra rằng mình đã bị lạc hướng vào con đường cách mạng không tưởng, con đường độc ác, không lối thoát, mà Marx đã vạch ra”… Khi cuốn sách này được xuất bản thì các anh sẽ thấy mọi nút thắt, mọi trói buộc, mọi sức ép sẽ được tháo gỡ ra cho bằng hết… để minh bạch vấn đề công tội trong lịch sử… Công của ai, tội của ai? Đấy là cách chuộc tội của Trần Đức Thảo này!”(*)

Đọc đến đây tôi nghĩ: Có thế chứ. Thế mới đúng là nhà triết học lớn chứ, cuối cùng ông đã nhận ra sai lầm của Marx và bản thân mình đã bị lạc hướng gần cả cuộc đời.

GS Thảo đột ngột từ trần vào ngày 24 tháng 4 năm 1993 tại Paris, sau khi tỏ ý định ra khỏi nhà khách sứ quán Việt Nam tại Pháp để đi tìm sự tự do. GS chết khi cuốn sách cuối đời chưa được công bố, nội dung cuốn sách vẫn còn nằm trong bí mật. Nghe đâu mọi bản thảo của nhà triết học được thu giữ, niêm phong, nộp cho cơ quan có trách nhiệm.

Năm 2016 cuốn sách “TRIẾT GIA TRẦN ĐỨC THẢO – DI CẢO, KHẢO LUẬN, KỶ NIỆM” do Nguyễn Trung Kiên (NTK) sưu tầm và biên soạn được phát hành. Sách dày trên 1700 trang. Theo Tự bạch của người biên soạn thì NTK đã cùng Tiến sĩ Cù Huy Chữ (là thành viên trong tổ thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng) phân loại, hệ thống hóa hàng ngàn trang bản thảo mà nhà triết học để lại cho hậu thế. NTK không nói rõ trong các trang bản thảo có bao gồm “Cuốn sách cuối đời chưa viết xong” của GS hay không vì không thấy đưa vào Di cảo nội dung nào tương tự như các ý đã nêu trên đây trong trích dẫn(*). Trong Di cảo có trình bày tác phẩm được cho là cuối cùng của GS là: “SỰ LÔGIC CỦA THỜI HIỆN TẠI SỐNG ĐỘNG”, được viết vào đầu năm 1993. Trong tác phẩm đó cũng không thấy bóng dáng của ý tưởng phê phán Marx. Tôi đã cố tìm trong hơn 1700 trang của cuốn sách xem có chỗ nào trình bày quan điểm của Trần Đức Thảo phê phán Marx hay không. Tôi chưa tìm thấy.

Như thế là thế nào. Đến cuối đời GS Thảo đã nhận ra chỗ sai của Marx hay chưa nhận ra, vẫn bảo vệ Marx. Đối với tôi đó là nghi vấn lớn. Khi tin vào sách của NTK thì phải nghi ngờ PNK và ngược lại. Nếu tin vào PNK, tin vào NHỮNG LỜI TRĂN TRỐI thì thấy NTK mới chỉ nêu lên một phần của sự thật, mặc dầu phần đó chiếm trên 90% thời gian hoạt động của GS Thảo nhưng lại không chứa đựng bản chất. Tôi băn khoăn, đề ra 3 giả thuyết: 1- Chương 14 của Những lời trăn trối là bịa đặt của PNK; 2- Chương 14 là trung thực nhưng NTK, TS Chữ không hề biết vì GS Thảo chỉ mới nói mà chưa viết ra, hoặc có viết nhưng tài liệu liên quan đã bị che giấu; 3- NTK và TS Chữ có biết rằng: “cuối cuộc đời, GS Thảo mới khám phá ra rằng mình đã bị lạc hướng vào con đường cách mạng không tưởng, con đường độc ác, không lối thoát, mà Marx đã vạch ra”, nhưng không dám trình bày. Tôi tạm nghiêng về giả thuyết 3 và xin có đôi lời:

Bạn Nguyễn Trung Kiên thân mến. Quyển sách do bạn sưu tầm, biên soạn được nhiều học giả có tên tuổi đánh giá cao, nó giống như một tượng đài lớn được dựng lên, một chân dung lớn được thể hiện. Nhưng giá trị đích thực của tượng đài hoặc chân dung không ở quy mô to lớn mà ở thần khí toát ra từ đó. Khi quan sát “Tượng đài Triết gia Trần Đức Thảo” do bạn dựng nên, tôi thấy một bóng mờ của triết gia lớn (vì tôi không phải là triết gia) và thấy rõ một con người bảo vệ học thuyết Marx. Đây có thể là cố ý của bạn hoặc do vô tình tạo ra như vậy. Điều này có lợi cho những ai muốn duy trì, kiên định Chủ nghĩa Mác- Lênin (CNML), họ nấp vào cái bóng đó để tiếp tục lừa dối thiên hạ. Ngược lại điều đó gây tác hại cho phong trào vận động dân chủ đang dùng thực tiễn và lý luận để chứng minh những sai lầm của CNML, đang muốn thay đổi thế chế.

Tôi viết nghi vấn trên đây là dựa vào ý 15 trong Tự bạch của người biên soạn.

Một nghi vấn nữa là cái chết của GS Thảo. Theo sách Triết gia Trần Đức Thảo…, nguyên nhân gần gây ra cái chết của GS là cú vấp ngã ở cầu thang, tạo nên một số chấn thương.

Theo PNK: “Bác Thảo hằng ngày vẫn có nếp ăn uống rất tinh khiết, không bao giờ ăn thức ăn cũ. Vậy mà ngay xẩm tối hôm thứ năm ấy, bỗng bác bị “thượng thổ, hạ tả” như bị trúng độc: vừa nôn mửa vừa đại tiện tràn lan đến mệt lã đi”.

Sau đó GS được đưa vào phòng, tắm rửa, nghỉ ngơi. Khi xe cấp cứu đến, bác sĩ của toán cấp cứu hỏi, cán bộ sứ quán trả lời:

– Trước đó bệnh nhân đã làm gì để rồi rơi vào hôn mê?

– Ông ta trước đó, đã bị ngất xỉu rồi bị té ở cầu thang!

– Bị ngất xỉu đến té ngã như vậy, sao không thấy thương tích gì trên người?

– Cái đó thì tôi không rõ, nhưng ông ta cũng đã cao tuổi rồi và rất yếu.

Vậy cú vấp ngã (té) đóng vài trò gì trong cái chết của GS. Mà rồi không thấy nói gì đến việc khám nghiệm tử thi trước lúc hỏa táng.

Những nghi vấn trên tôi chỉ có thể nêu ra để người nào, cơ quan, tổ chức nào có điều kiện và trách nhiệm tiến hành điều tra, tìm ra sự thật. Nếu điều tra, chứng minh được những điều trong sách của PNK “Trần Đức Thảo- Những lời trăn trối” là bịa đặt thì phải công khai cho nhiều người biết để khỏi bị mắc lừa. Còn nếu như nội dung sách của PNK là trung thực thì sách của NTK, tưởng rằng đề cao được GS Thảo nhưng thực chất đã làm cho nhiều người không biết được đúng tư tưởng của ông vào cuối đời và sự phản tỉnh của ông, cuốn sách vừa đề cao, vừa làm nhục ông. Câu cuối cùng trong Lời giới thiệu cuốn sách, Nguyễn Trọng Chuẩn viết: “Cũng chắc chắn là Trần Đức Thảo còn là một hiện tượng triết học cần được tranh luận trong thế kỷ XXI”. Phải chăng có ý ám chỉ đến các nghi vấn vừa nêu.

N.Đ.C.

_______

PHAN CHÂU TRINH VÀ 10 BI AI CỦA DÂN TỘC

PHAN CHÂU TRINH VÀ 10 BI AI CỦA DÂN TỘC
Bùi Quang Minh

Phan Châu Trinh (1872-1926) là bậc hào kiệt đi đầu trong vận động chấn hưng dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX, là nhà cách mạng xã hội, có tư tưởng dân chủ đầu tiên, là nhà văn hóa, một nhân cách lớn. Phan Châu Trinh là một tấm gương sáng trong phong trào Duy Tân đầu thế kỷ 20. Ông là một nhà nho yêu nước có nhiều suy nghĩ tiến bộ. Có thể xem ông là người có tư tưởng dân chủ sớm nhất trong số các nhà nho yêu nước tiến bộ đầu thế kỷ.

Đặc biệt hơn nữa, ông chọn con đường dấn thân tranh đấu nhưng ôn hòa, bất bạo động. Ông coi dân chủ cấp bách hơn độc lập và coi việc dùng luật pháp, cai trị quy củ có thể quét sạch hủ bại phong kiến.

Với tinh thần yêu nước nồng nàn, suốt đời gắn bó với vận mệnh đất nước, với cuộc sống sôi nổi, gian khó và thanh bạch, ông xứng đáng để hậu thế ngưỡng mộ, noi theo ngày hôm nay…

Phan Châu Trinh là người Việt Nam đầu tiên đã nhìn thấy trước cảnh “dịch chủ tái nô” (Đổi chủ nhưng Dân vẫn là Nô lệ)… Để tránh điều này, ông đã chỉ ra con đường giành độc lập – tự do cho dân tộc là phải bắt đầu từ “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”.

Lời tiên tri của ông xuất phát từ 10 nhận xét vô cùng tinh tế và chính xác về đặc điểm con người Việt Nam mà đối chiếu thực tế ngày nay vẫn còn nguyên, thâm căn cố đế. Tiếc thay các thế hệ nối tiếp nhau đến nay vẫn chưa thực hiện đúng theo lời lời giáo huấn của ông. Dẫu sao, chậm còn hơn không bao giờ, mỗi người Việt Nam chúng ta dù sống ở đâu và làm việc gì, còn trẻ hay đã già hãy chiêm nghiệm những lời dạy trên đây của bậc Tiền bối đáng kính của dân tộc.

Mười điều bi ai của dân tộc Việt Nam

1. Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày.

2. Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám.

3. Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc; thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con.

4. Trong khi họ có tinh thần đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; thì ta lại chỉ quen thói giành giật, lừa đảo nhau vì chữ lợi.

5. Trong khi họ biết bỏ vốn lớn, giữ vững chữ tín trong kinh doanh làm cho tiền bạc lưu thông, đất nước ngày càng giàu có; thì ta quen thói bất nhân bất tín, cho vay cắt cổ, ăn quỵt vỗ nợ, để tiền bạc đất đai trở thành vô dụng.

6. Trong khi họ biết tiết kiệm tang lễ, cư xử hợp nghĩa với người chết; thì ta lo làm ma chay cho lớn, đến nỗi nhiều gia đình bán hết ruộng hết trâu.

7. Trong khi họ ra sức cải tiến phát minh, máy móc ngày càng tinh xảo; thì ta đầu óc thủ cựu, ếch ngồi đáy giếng, không có gan đua chen thực nghiệp.

8. Trong khi họ giỏi tổ chức công việc, sắp xếp giờ nghỉ giờ làm hợp lý, thì ta chỉ biết chơi bời, rượu chè cờ bạc, bỏ bê công việc.

9. Trong khi họ biết gắng gỏi tự lực tự cường, tin ở bản thân; thì ta chỉ mê tín nơi mồ mả, tướng số, việc gì cũng cầu trời khấn Phật.

10. Trong khi họ làm việc quan cốt ích nước lợi dân, đúng là “đầy tớ” của dân, được dân tín nhiệm; thì ta lo xoay xở chức quan để no ấm gia đình, vênh vang hoang phí, vơ vét áp bức dân chúng, v.v…

 
Nguồn: Fb BQM

Chuyện thật như bịa: “MÀU HOA ĐỎ” LÀ MÀU HOA NÀO – CẤM LUÔN!

Chuyện thật như bịa: MÀU HOA ĐỎ LÀ MÀU HOA NÀO – CẤM LUÔN!

 Trời ôi trỉnh độ cán bộ Văn hoá tỉnh Tiền Giang và còn ai nữa ?
Màu hoa đỏ là màu hoa nào: cấm luôn
Hưởng ứng phong trào Con đường xưa em đi là con đường nào?– Sở Văn Hóa-Thể Thao-Du lịch tỉnh Tiền Giang đã ra văn bản cấm luôn bài hát Tổ sư bồ đề của nhạc cách mạng là Màu hoa đỏcủa nhạc sĩ Thuận Yến, trong quyết định cấm còn ghi rõ: nhạc đỏ.

Nguyễn Đức Đảm, Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch (VH-TT-DL) tỉnh Tiền Giang, ký 2 công văn gửi Sở TN&MT, UBND và Phòng Văn hóa Thông tin các huyện, thị, thành trong tỉnh, yêu cầu cấm hát 1 nhạc phẩm cách mạng và kiên quyết không cấp phép hoạt động cho người dân chuyển đổi công năng từ nhà ở sang kinh doanh karaoke.
Công văn thứ nhất có số hiệu 120/SVHTTDL-TTr ký ngày 7.2, nêu rõ: đề nghị Phòng VHTT các huyện, thành thị thông báo cho các cơ sở kinh doanh karaoke trên địa bàn quản lý yêu cầu trong thời hạn 30 ngày phải gỡ bỏ ngay các bài hát chưa được cấp giấy phép phê duyệt nội dung…
Sau ngày 10.3, đội kiểm tra liên ngành các cấp tiến hành kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính các cơ sở kinh doanh karaoke chưa gỡ bỏ các bài hát chưa được phép phê duyệt nội dung cho phép lưu hành, phổ biến theo quy định của pháp luật. Kèm theo công văn này là danh sách 354 bài hát “không được phép lưu hành, cấm phổ biến”.
Điều khiến mọi người bất ngờ là trong danh sách cấm này, ở số thứ tự từ 152 đến 154 là nhạc phẩm Màu hoa đỏ của cố đại tá nhạc sĩ Thuận Yến sáng tác năm 1991 (phổ thơ Nguyễn Đức Mậu), 1 ca khúc nổi tiếng nói về thời chiến tranh bom đạn ác liệt và từng được trao giải ca khúc xuất sắc của Bộ Quốc phòng vào năm 1994. Trong danh sách cấm ghi rõ ca khúc Màu hoa đỏ là Nhạc Đỏ .(Motthegioi.vn)
Có người lính
Từ mùa thu ấy ra đi từ mái tranh nghèo
Có người lính
Mùa xuân ấy ra đi từ đó không về
Dòng tên anh khắc vào đá núi
Mây ngàn hóa bóng cây tre
Chiều biên cương trắng trời sương núi
Mẹ già mỏi mắt nhìn theo.
Việt Nam ơi ! Việt Nam !
Núi cao như tình mẹ bốn mùa tóc bạc nỗi thương con
Việt Nam ơi ! Việt Nam !
Ngọn núi nơi anh ngã xuống
Rực cháy lên màu hoa đỏ phía rừng xa
Rực cháy lên màu hoa đỏ phía hoàng hôn

Cho dù cái Sở này giải thích thế nào tôi cũng không tin, một bài nhạc diễm lệ về người lính như thế lại bị cấm.
Theo các anh chị thì tại sao, Sở VHTTDL lại gan cùng mình đến mức cấm hát cả nhạc cách mạng?
Hay mấy tía nhậu ba sợi nên nghe “lính” là cấm???

Hạnh Phúc không tự nhiên mà có

Hạnh Phúc không tự nhiên mà có

 
Phương Thảo (VNTB) Trong Báo cáo về Hạnh phúc Thế giới năm 2017, mười quốc gia hạnh phúc nhất thế giới đều là các quốc gia phương tây, dẫn đầu là Na uy, tiếp theo lần lượt là Đan mạch, Iceland, Thuỵ sỹ, Phần lan, Hoà lan, Canada, New Zealand, và Thuỵ Điển. Việt nam đứng hạng thứ 94 trong tổng số 126 nước tham gia trong cuộc khảo sát.
Theo báo cáo, hạnh phúc được xác định trên cơ sở các yếu tố như: sự phân phối công bằng của cải, sự liên kết xã hội, niềm tin vào xã hội và chính phủ, chất lượng chăm sóc và sự tự do. Trong cuộc khảo sát, người ta sẽ cho điểm từ 1 đến 10 về sự hỗ trợ xã hội họ nhận được khi có bất trắc xảy ra, sự tự do trong chọn lựa cuộc sống, cảm giác về tham nhũng trong xã hội cũng như họ hào phóng đến mức nào.
Các yếu tố này được đưa ra cụ thể hơn so với các câu hỏi mà Indochina Research đã làm trước đây và đưa ra kết quả Việt nam là quốc gia hạnh phúc thứ 5 trên thế giới nhằm ru ngủ và mị dân trong bối cảnh nền kinh tế không còn phát triển, nợ nần chồng chất và chất lượng môi trường cuộc sống đang tuột dốc.
Phân hoá xã hội
Việt nam giờ đây có 2 tỷ phú đô la được đưa vào bảng xếp hạng của Forbes, là ông Phạm Nhật Vượng và bà Nguyễn Thị Phương Thảo. Số người giàu và siêu giàu tăng lên đến chóng mặt nhờ vào kinh doanh bất động sản, cổ phiếu, tài nguyên thiên nhiên chứ không gắn liền với phát triển bền vững. Ở Việt nam vẫn còn có tới 15% hộ nghèo và cận nghèo và khoảng cách giàu nghèo vẫn vô cùng lớn.
Sự liên kết xã hội được đánh giá vào sự giúp đỡ của những người trong cộng đồng với nhau. Có thể nói người Việt nam sẽ tự hào vì truyền thống lá lành đùm lá rách và cho rằng đó là sự hào phóng lớn một khi có thiên tai, lũ lụt, hay có gia cảnh thương tâm thì số tiền từ thiện quyên góp được sẽ tăng lên đến chóng mặt.
Ông Phạm Nhật Vượng và bà Nguyễn Thị Phương Thảo là những tỷ phú USD của Việt Nam.
Chỉ số này có thể cao khi có sự huy động, nhưng nghịch lý ở chỗ trách nhiệm của nhà nước đã bị đá sang sân của dân chúng. Trong khi trách nhiệm của nhà nước là làm thế nào để bảo vệ người dân tránh thiên tai lũ lụt chứ không phải để người dân tồn tại được nhờ vào lòng từ thiện của cộng đồng.
Khi người dân bị mất đi sinh kế trong thời gian dài hạn, chẳng hạn do ô nhiễm môi trường ở miền Trung, người già không còn sức lao động, lao động tự do và không thuộc biên chế nhà nước, thì họ phải tự bươn chải và bị gạt ra bên lề xã hội.
Những người già, trẻ em hay người tàn tật đi bán vé số, bán hàng rong để kiếm dăm bảy chục ngàn đắp đổi qua ngày là những hình ảnh nhức nhối, cho thấy chính quyền Việt nam hoàn toàn bất lực trong việc chăm sóc người dân. Viễn cảnh được trợ cấp khi thất nghiệp hay không còn khả năng lao động, được hưởng đến 5 tuần phép trong năm như các quốc gia hạnh phúc hàng đầu này với người Việt chắc chắn vẫn còn xa vời vợi.
Người già chật vật kiếm sống trong một phóng sự của Channel News Asia mới đây thể hiện rõ cái gọi là hỗ trợ xã hội được đo ở mức gần như không tồn tại cho những người đã bị xã hội quên lãng này khi họ đã 70-80 tuổi – độ tuổi lẽ ra được nghỉ hưu và an hưởng tuổi già từ lâu. Có thể đổ lỗi cho việc họ không có thói quen đóng quỹ hưu trí để được bảo trợ khi về già theo như khuyến khích của nhà nước, nhưng điều này lại là hệ luỵ của việc không có niềm tin vào thể chế hiện hành.
Niềm tin xa xỉ
Niềm tin vào xã hội và chính phủ của dân chúng có lẽ chưa bao giờ giảm sút như thế này. Bằng chứng là việc gì họ cũng phải gọi thủ tướng từ xây resort, đến tội phạm ấu dâm, điều chỉnh giá xăng dầu hay cả bị cát tặc đe doạ. Đến nỗi ông Tiến sỹ Nguyễn Sĩ Dũng phải tâm tư “Mọi thứ có vẻ đều đang đổ dồn lên cho Thủ tướng. Và xử lý cho hết, không biết Thủ tướng còn thời gian để ăn và ngủ nữa không?”
Dân không còn tin vào quan chức địa phương cũng như hệ thống hành pháp của nhà nước vì mọi việc hoặc sẽ bị chìm xuồng vì xâm phạm lợi ích nhóm hoặc đụng chạm đến (cựu) quan chức chính phủ. Hoặc dân chúng đã sợ hãi đến độ họ không dám kêu than, phản kháng những bất công trong xã hội khi nhìn thấy những khuôn mặt đầy máu của những người dân đi khiếu kiện Formosa hay bày tỏ lòng yêu nước đã bị các nhân viên công quyền, anh ninh đàn áp thẳng tay.
Người ta nghi ngờ lẫn nhau trong khi sự tin tưởng là một trong những điều cùng tụ hội về để tạo nên sự hạnh phúc mà tiền bạc không thể đem lại theo như quan điểm của người dân xứ Na uy. Niềm tin vào chính phủ làm sao có được khi Chỉ số cảm nhận tham nhũng của Việt nam theo tổ chức Minh bạch thế giới năm 2016 là 33/100 điểm và xếp hạng 113 trên 176 quốc gia. “Việt Nam chưa tạo ra sự thay đổi mang tính đột phá trong cảm nhận về tham nhũng trong khu vực công và tiếp tục nằm trong nhóm các nước mà tham nhũng được cho là nghiêm trọng.”
Cảm nhận tham nhũng tồn tại bắt đầu từ việc chạy trường cho con học từ lớp mầm non cho đến khi chạy bằng cấp, chạy việc, chạy chức; nạn mãi lộ cho cảnh sát giao thông, chạy án; phong bì lót tay cho các thủ tục hành chính từ cấp phường xã trở đi. Cảm nhận tham nhũng của dân đối với chính phủ đạt ở mức “vô cùng quan ngại” khi các công trình nghìn tỷ tỷ lệ thuận với độ phình về tài sản của quan chức.
Tham nhũng từ đất đai cũng đang là một ung nhọt lớn của xã hội khi đất vàng lẫn các công trình kiến trúc có tính lịch sử văn hoá lần lượt lọt vào tay đại gia như thương xá Tax, khu Thủ thiêm Sài gòn; sinh thái bị huỷ hoại để phát triển resort như ở bán đảo Sơn trà hay các nhà máy nhiệt điện, thép … với công nghệ Trung quốc lỗi thời, lạc hậu như Formosa, Bauxit Tây nguyên.
Cũng với điều tra của Tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố ngày 7 tháng 3 năm 2017, Việt nam “ được” xếp hạng hai ở Châu á với tỷ lệ tham nhũng 65% – chỉ sau Ấn độ. 60% người dân tham gia điều tra cảm thấy rằng chính quyền gần như không làm gì để chống lại nạn tham nhũng.
Với những thành tích như vậy thì niềm tin vào xã hội và chính phủ của người dân Việt nam là một thứ xa xỉ.
Tự do
Tự do vốn là những điều cơ bản của nhân quyền. Người Việt nam vẫn tự cho rằng họ đang rất “tự do trong khuôn khổ” khi muốn nói gì, làm gì cũng được miễn là không đụng chạm đến chính trị, không đụng chạm đến chính phủ và các “vấn đề nhạy cảm”. Sự giới hạn tự do cũng như ý thức cộng đồng hạn chế ảnh hưởng đến mức độ tận hưởng hạnh phúc của chính bản thân người dân cũng như cả xã hội.
93% người tham gia khảo sát ở 10 quốc gia hàng đầu cho biết họ có tự do để chọn lựa trong cuộc sống. Sự tự do góp phần làm tăng hiệu quả tích cực và giảm bớt hiệu quả tiêu cực. Trong khi ở các quốc gia có chỉ số hạnh phúc thấp, cảm giác tự do chỉ vào khoảng trên dưới 75%.
Năm 2016, Tổ chức Freedom House xếp Việt nam vào nhóm các quốc gia không có tự do về quyền chính trị, tự do dân sự. Tự do ngôn luận không thể hiện rõ ở nơi người dân có quyền bày tỏ chính kiến và tranh luận để bảo vệ luận điểm. Tự do báo chí vẫn là ước mơ khi tất cả phải đi theo định hướng của Đảng, để bảo vệ và phục vụ đảng cầm quyền và được xếp hạng 175/180 toàn thế giới theo chỉ số xếp hạng của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới.
Tổ chức Freedom House nhiều lần xếp Việt nam vào nhóm các quốc gia không có tự do về quyền chính trị, tự do dân sự.
Người dân có tự do để chọn không thực hiện những điều không phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật, nhưng họ đã không làm điều đó. Thay vào đó họ chọn tự do xả rác, tự do hái hoa; tự do sử dụng các sản phẩm nhái, giả đến việc vô tư vi phạm bản quyền sách báo, phim ảnh; tự do xài hàng lậu do giá rẻ; hay cho đến tự do huỷ hoại thiên nhiên; tự do tận diệt sinh vật biển và chim thú, tận diệt rừng phòng hộ; tự do khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên, rồi cả tiếp tay cho nạn tham nhũng.
Vì những tự do cá nhân trước mắt mà trong dài hạn họ đã tước đi quyền lợi của cả cộng đồng mà dù có tiền cũng không thể mua được như môi trường trong sạch sống, tuổi thọ kéo dài, sức khoẻ được bảo vệ và chăm sóc tốt, xã hội minh bạch và đối xử với những nhau bằng sự tôn trọng. 
Sự tự do của người Việt nam đã không được thực thi dựa trên ý thức cộng đồng và và hiểu biết công ích – điều cốt lõi đã làm cho các quốc gia hàng đầu trên thế giới được mệnh danh là các quốc gia hạnh phúc nhất.

BẢN CHẤT CỦA BIỂU TÌNH TẠI VIỆT NAM

Bách Ngà: BẢN CHẤT CỦA BIỂU TÌNH TẠI VIỆT NAM

 chú Tễu blog

Người dân Sài Gòn biểu tình phản đối chính sách bá quyền của Trung Quốc. Ảnh: internet

BẢN CHẤT CỦA BIỂU TÌNH TẠI VIỆT NAM

FB Nguyễn Thị Bích Ngà
21-3-2017

Tất cả các cuộc biểu tình ở VN cho đến thời điểm hiện tại và trong tương lai gần về bản chất chỉ là CUỘC CHIẾN VỀ TRUYỀN THÔNG. Đã đến lúc đặt vấn đề để nhìn nhận đúng bản chất, đúng thực tế, nhằm hiểu rõ mục tiêu và mục đích, từ đó tìm ra giải pháp và phương thức đúng cho các cuộc biểu tình.

Để trình bày một cách cặn kẽ về vấn đề này, tôi sẽ viết khá dài. Bạn nào lười nên ngừng tại đây.

Biểu tình là gì? Có nhiều hình thức biểu tình và mỗi một hình thức mang một bản chất khác nhau tùy theo mục tiêu, mục đích mà nhóm biểu tình đề ra.

Lấy ví dụ về cuộc biểu tình của sinh viên Hong Kong. Mục đích của cuộc biểu tình đó là: đòi hỏi quyền dân chủ thực thụ, cụ thể là được quyền đề cử Đặc khu trưởng mà không phải thông qua quyết định của ủy ban bầu cử. Mục tiêu đề ra là: Phải đạt được mục đích hoặc đạt được các thỏa thuận tương đối.

Và ta thấy, khi đã xác định rõ mục đích và mục tiêu cụ thể, sinh viên Hong Kong làm tất cả nhũng gì có thể: Truyền thông, gây thiện cảm, lôi cuốn nhiều người nhiều thành phần từ khắp nơi trên thế giới quan tâm, kiên trì ngày qua ngày đêm qua đêm, chiếm trung tâm, giữ ôn hòa… Tất cả mọi việc đều vì một mục đích duy nhất. Cuối cùng, tuy mục tiêu đề ra chưa đạt được nhưng các bạn ấy đã cố gắng hết sức và gây được tiếng vang rất lớn trên thế giới, làm cho giới lãnh đạo phải dè chừng.

Ba Lan: Công Đoàn Đoàn Kết ra đời từ tháng 8/1980 và tổ chức đình công. Mục đích: đòi tăng lương, phản đối chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của nhà nước. Mục tiêu: CHo đến khi đạt được mục đích hoặc thỏa thuận tương đối. Và họ đã tổ chức đình công lan rông cả nước kiên trì với mục tiêu đề ra để đạt được mục đích. Ngày 31 tháng 08 năm 1980, chính phủ đã phải ký kết với Ủy ban Đình Công Toàn Quốc đồng ý tăng lương, thả những người bị bắt trong các cuộc đình công, v.v… Và phong trào lớn mạnh cho đến tháng 04 năm 1989, đảng cầm quyền buộc phải chấp nhận “Hội nghị bàn tròn” với Công Đoàn Đoàn kết và đồng ý tổ chức bầu cử dân chủ vào quốc hội và thượng viện. Tháng 06 năm 1989, trong cuộc bầu cử dân chủ, Công Đoàn Đoàn kết thắng lớn. Công Đoàn Đoàn kết cùng các lực lượng đối lập là Đảng Nhân dân Thống Nhất và Đảng Dân chủ đứng ra lập chính phủ liên hiệp.

Qua hai ví dụ trên, ta thấy, các cuộc biểu tình, đình công của Ba Lan, Hong Kong (và nhiều nơi khác) đề ra mục đích và mục tiêu cụ thể, rõ ràng và họ làm bằng được mới thôi.

Việt Nam: Đã có nhiều cuộc biểu tình của nhân dân diễn ra theo rất nhiều mục đích với từng sự vụ cụ thể: Năm 2007 một loạt các đợt biểu tình đã diễn ra chống lại những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại biển Đông, kêu gọi lòng yêu nước. Rất nhiều cuộc biểu tình của người dân phản đối chính sách đền bù đất đai của nhà nước. Phản đối giàn khoan 981 của Trung Quốc xâm phạm vùng biển Việt Nam năm 2014. Phản đối Trung Quốc tôn tạo xây cất trái phép trên các đảo Trung Quốc chiếm đóng trái phép của Việt Nam. Biểu tình phản đối công ty Formosa xả thải ra biển làm ô nhiễm vùng biển bốn tỉnh miền Trung, đòi công ty Formosa phải đền bù thiệt hại, cải tạo biển và đòi chính phủ phải minh bạch thông tin, đòi chính phủ phải đuổi công ty Formosa ra khỏi Việt Nam do các vi phạm môi trường…Và mới đây là các cuộc biểu tình theo lời kêu gọi của Cha Lý.

Điểm lại các cuộc biểu tình tại Việt Nam trong thời gian qua, ta thấy, các cuộc biểu tình có đặt ra mục đích. Nhưng không hề đặt ra mục tiêu.

Ví dụ: Dân oan phản đối chính sách đền bù đất đai của nhà nước. Mục đích là gì? Phải chăng là phải đạt được mức đền bù theo thỏa thuận với giá trị thực hiện hành? Vậy mục tiêu là gì? Phải chăng là cho đến khi nào đạt được mục đích? Nhưng, ta thấy, dân oan không hề kiên trì với mục tiêu nhằm đạt được mục đích. Dân oan sáng đi biểu tình, chiều về làm đồng. Ở miền Nam thì còn theo thời vụ, rảnh việc đồng mới đi biểu tình.

Ví dụ: Biểu tình phản đối giàn khoan 981, đòi Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi Việt Nam. Chủ nhật cuối tuần, rảnh công việc thì người dân xuống đường biểu tình phản đối, đến trưa về nhà còn đón con, chăm gia đình hoặc đi đá bóng. Trung Quốc nó rút giàn khoan hay không thì…mình còn phải đi làm nuôi gia đình. Tuần sau chủ nhật biểu tình tiếp.

Biểu tình đòi chính phủ minh bạch về Formosa và đuổi Formosa ra khỏi Việt Nam. Cũng một hình thức: Cuối tuần xuống đường biểu tình hai, ba tiếng buổi sáng, về nghỉ, sang ngày đi làm, tuần sau biểu tình tiếp. Không hề kiên trì mục tiêu và làm mọi thứ để thực hiện mục tiêu.

Các cuộc biểu tình kể trên không đặt ra mục tiêu cụ thể là khi nào đạt được mục đích hoặc đạt được thỏa thuận thì mới thôi. Không có tính liên tục, không có tính áp lực, không đạt được mục đích đặt ra. Do đó, về bản chất, các cuộc biểu tình đó chỉ là hình thức tuần hành nêu lên tiếng nói của người dân đối với chính phủ.

Và khi đã là tuần hành nêu lên tiếng nói thì đó chỉ là CUỘC CHIẾN VỀ TRUYỀN THÔNG. Chính phủ chỉ gặp áp lực về truyền thông. Chính phủ dập tắt các cuộc biểu tình, đàn áp, bắt bớ, đánh đập…cũng chỉ là vì không muốn phe biểu tình thắng về truyền thông khi biểu tình tự do. Cho đến giờ, họ có gặp áp lực với một mục đích cụ thể nào để phải thỏa thuận nhằm đáp ứng mục đích của người dân biểu tình chưa? Chưa.

Trong bối cảnh phần lớn người dân Việt Nam còn chưa biết quyền hiến định của mình, còn nghe tuyên truyền biểu tình là xấu, là gây mất ổn định, là phản động, là bị xúi giục…thì chưa thể có được các cuộc biểu tình kiên trì với mục tiêu đề ra để đạt được mục đích cụ thể, bởi không có được số đông, không có sự đồng thuận, không có sự đồng lòng để tổ chức chặt chẽ.

Từ những phân tích trên, đã rõ, khi chưa thể có được điều kiện cần và đủ để có được các cuộc biểu tình với mục đích và mục tiêu cụ thể thì các cuộc biểu tình diễn ra theo sự vụ chỉ là cuộc chiến về truyền thông. Trong cuộc chiến đó, ai biết cách làm truyền thông sẽ thắng.

Đừng hô hào to tát, đừng đặt ra mục đích cao xa khi chưa đủ điều kiện để thực hiện mục tiêu, thậm chí không dám đề ra mục tiêu và thực hiện cho kỳ được. Nhìn nhận đúng thực tế tình hình để suy nghĩ cách làm truyền thông cho tốt khi tổ chức biểu tình trong thời điểm hiện tại là bước đi nhỏ nhưng chắc và thực tế.

“Chiếm trung tâm?!” Vâng, rất kêu, nhưng trước hết hãy nhìn xung quanh mình đi đã ạ.

Bài này, tôi biết sẽ vấp phải những ý kiến tranh cãi rất dữ, và tôi sẽ nhận rất nhiều lời chụp mũ hoặc thái độ thù ghét từ cả ba bên bốn phía. Nhưng, đã đến lúc chúng ta hãy thôi ảo tưởng mà nhìn lại cho đúng để học. Có nóng lòng, có sốt ruột thì cũng phải chịu. Phải chấp nhận học đi trước khi chạy, không thể khác. 

“Giai cấp mới”, đã đến giai đoạn cuối (kỳ 2)

“Giai cấp mới”, đã đến giai đoạn cuối (kỳ 2)

đăng VNTB  23/3/2017

Phùng Hoài Ngọc

(Đọc sách GIAI CẤP MỚI*[1] của Milovan Djilas)

***

Nhà nước đảng trị

Quyền lực, bất chấp luật pháp, nằm trong tay hai lực lượng: tổ chức Đảng và cảnh sát mật*[2]. Đảng và cảnh sát liên hệ mật thiết với nhau trong hoạt động hàng ngày, sự khác nhau chỉ còn là phân công lao động.

Đảng trị chia ra hai cách:

Cách thứ nhất: theo tổ chức Đảng đoàn, họ bàn bạc, đưa ra mọi quyết định sau khi đã thoả thuận với cấp lãnh đạo bên trên. Đây là cách chủ yếu.

Cách thứ hai: hầu hết chức vụ của chính quyền chỉ được giao cho các đảng viên.

Tục ngữ Việt Nam cũng nói “một mình một chợ”.

 “Vai trò lãnh đạo của đảng” không thấy ghi trong bất kì điều luật nào, nhưng lại thấm vào mọi tổ chức và mọi lĩnh vực hoạt động.

(more…)

Nguyễn Quang A: Xin lỗi ngài Đại sứ Australia

Nguyễn Quang A: Xin lỗi ngài Đại sứ Australia

23.3.17

FB Nguyễn Quang A
22-3-2017

Giấy mời ông Nguyễn Quang A của Đại sứ Australia, Craig Chittick.

nguyen quang a

Tôi nhận được lời mời của Đại sứ Craig Chittick tới dự cuộc chia tay bà Nadia Krivetz vào lúc 18h đến 20H ngày 22-3-2016. Tôi rất xin lỗi Ngài Đại sứ và bà Nadia Krivetz vì tôi đã bị 6 an ninh Hà Nội (tôi không gọi họ là côn đồ nữa vì vẫn là mấy người mà tôi đã quá quen mặt và họ đã câu lưu tôi ngày 14-3-2017 và họ nói với công an Long Biên rằng họ từ công an Hà Nội) tống lên xe lúc 17h25 phút khi đi đến nhà Ngài Đại sứ và tôi về đến nhà đúng 22H cùng ngày.

CA Hà Nội đã vi phạm nhân quyền, vi phạm pháp luật rành rành. Tôi đã rất bực và chửi họ và các sếp của họ hết lời (trong 6 người mặc thường phục đó, có 1 vị đã chỉ huy việc câu lưu tôi ngày 14-3-2017 và anh ta đã không lên xe). Còn lại 5 người, 2 người ngồi trên ghế đầu cùng lái xe (một sự vi phạm luật giao thông rành rành), 2 người còn lại ngồi 2 bên kẹp tôi ở giữa.

Tôi đã rất nặng lời với họ khoảng 20 phút đầu tiên, tôi xin lỗi vì tôi biết họ cũng chỉ là người thi hành mệnh lệnh.

Họ đưa tôi xuống Đồng Văn và muốn mời tôi ăn tối ở 1 quán chim nào đó.
Tôi bảo họ tôi không chấp nhận lời mời và tôi bảo họ “họ đã hoàn thành xuất sắc lệnh của trên”, vì bằng vũ lực và bằng sự vi phạm pháp luật họ đã thành công, cản tôi tham dự cuộc chia tay.

.
Tôi khuyên họ quay về, một bạn đã tháp tùng tôi đi Hưng Yên khi cản tôi gặp Tổng thống Obama gần 1 năm trước, đề nghị đi uống bia, ban đầu tôi từ chối, sau đó đã cùng cả 5 người về quán bia ở gần nhà tôi để nói chuyện với họ (thực ra tôi nói toẹt với họ là tôi làm công tác an ninh vận).

.
Rồi họ chở tôi về nơi họ đã bắt cóc, và tôi về đến nhà lúc 10 tối.
Ngày mai 23-3-2017, cách đây đúng 1 năm họ đã bắt cóc tôi khi dự vụ xử Basam.
Tôi không trách mấy bạn an ninh trẻ, nhưng tôi tiếc cho họ đã tuân lệnh những kẻ đã buộc họ BÔI TRO TRÁT TRẤU LÊN BỘ MẶT VIỆT NAM và lên lực lượng CA một cách hiệu quả chưa từng thấy.

.
Tôi kịch liệt phản đối việc làm như vậy và yêu cầu ông Đoàn Trọng Khương Giám đốc CA Hà Nội và ông Tô Lâm Bộ trưởng Bộ CA chấm dứt ngay việc làm phi pháp của họ đối với tôi và với các nhà hoạt động khác.

.
Xin kính báo để bà con được biết và một lần nữa xin lỗi Ngài Đại Sứ và bà Nadia Krivetz.

Mây Thẻ