"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Ba, 2017

Hà Tĩnh biểu tình vụ Formosa

31/03/2017

Hà Tĩnh: Hàng trăm người dân bao vây trụ sở UB xã đòi bồi thường thảm hoạ môi trường do Formosa gây ra

 

CTV Danlambao – Vào lúc 15 giờ ngày 30/03/2017, hàng trăm người dân đã biểu tình ôn hoà trước UBND xã Thạch Bằng, huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh, yêu cầu nhà cầm quyền Cộng sản bồi thường những thiệt hại mà họ gánh chịu sau thảm hoạ Formosa.

https://www.youtube.com/watch?v=HlM7v0ZJhh4

Những người biểu tình giương cao băng rôn ghi dòng chữ “yêu cầu chính quyền đền bù thoả đáng cho dân”. Họ hô vang khẩu hiệu, “trả lại biển cho dân”, “trả lại quyền lợi cho dân”“chủ tịch xã trả lời cho dân”… Bài hát tranh đấu quen thuộc “Trả lại cho dân” được những người biểu tình hát vang để động viên tinh thần cho nhau.

Như thường lệ, lực lượng đông đảo gồm an ninh, mật vụ được huy động đến để bảo vệ trụ sở công quyền và sẵn sàng đàn áp người dân khi cần thiết.

Thảm hoạ môi trường tồi tệ nhất trong lịch sử Việt Nam do Formosa gây ra đến nay đã một năm nhưng nhà cầm quyền Cộng sản không những không khắc phục hậu quả, mà còn ngăn cản người dân đi khiếu kiện, bắt bớ và đánh đập họ.

Chừng nào thảm họa môi trường còn chưa được khắc phục, cuộc sống của ngư dân chưa trở lại bình thường thì chừng đó, cuộc chiến chống lại Formosa vẫn tiếp diễn.

Video: Ngọc Linh

Advertisements

Ai ký giấy phép cho Lee & Man xả thải ra sông Hậu và Formosa xả thải ra biển Vũng Áng? *

Ai ký giấy phép cho Lee & Man xả thải ra sông Hậu và Formosa xả thải ra biển Vũng Áng? *

 

Bạch Hoàn

Vẫn là nguyên thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Thái Lai.

Giữa năm 2016, Formosa cúi đầu thừa nhận xả thải gây ra thảm hoạ biển miền Trung. Cùng thời điểm, tại Hậu Giang, người dân thấp thỏm âu lo về một Formosa thứ hai khi Nhà máy giấy Lee & Man Việt Nam của nhà đầu tư Trung Quốc đang chuẩn bị vận hành có thể bức tử sông Hậu.

Gần một năm, sau những kiểm tra, thanh tra, Lee & Man vừa được vận hành thử nghiệm. Và đây là phản ánh của người dân khu vực gần nhà máy.

“Hằng ngày tui quét nhà ra một đống bụi than đá. Thử hỏi mình hít thở còn độc hại thế này thì làm sao không lo sợ?”.

“Một ngày chúng tôi phải hít vào cơ thể không biết bao nhiêu là mùi khác lạ, bụi than đá, mùi thối rất khó chịu phát ra từ nhà máy, tiếng ồn nhà máy 24/24 giờ… Bên cạnh còn nguồn nước sinh hoạt, chúng tôi rất lo ngại vì hiện chúng tôi dùng nước sông…”.

“Khói bụi cộng thêm mùi hôi khủng khiếp lắm. Nhà tui ngủ chịu không được, vào phòng đóng cửa lại cũng bị hôi. Đến mức ngủ phải bịt khẩu trang”

Còn đây là khẳng định của ông Nguyễn Văn Tuấn, phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang:

“Hậu Giang đã tổ chức đoàn kiểm tra, công ty đã thực hiện tất cả yêu cầu trước đó của Tổng cục Môi trường. Mọi thứ đều tốt”.

Từ ngày 7-3, Nhà máy Lee & Man được phép vận hành thử nghiệm trong 6 tháng. Mới chỉ hơn 20 ngày mà đã xảy ra tình trạng dân than một đằng, quan bảo vệ một nẻo. Ai là kẻ dối trá?

Giấy phép xả thải ra sông Hậu của nhà máy giấy Lee & Man do nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ký vào ngày 11-12-2015. Đó cũng là ngày ông Lai ký giấy phép cho Formosa xả thải ra biển Vũng Áng, trước khi ông Lai về nghỉ hưu 20 ngày.

Sẽ còn bao nhiêu Formosa, còn bao nhiêu Lee & Man nữa trên đất nước này?

Nguồn: https://www.facebook.com/bachhoanvtv24/posts/1900153270231919

* Tên bài do BVN đặt

Bài liên quan: http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20170330/dan-keu-cuu-vi-o-nhiem-tu-nha-may-giay-lee-man/1288934.html

KÝ ỨC: HÀNG RONG VÀ VỈA HÈ

KÝ ỨC: HÀNG RONG VÀ VỈA HÈ

hang rong 1

Lê Thanh Nhanh

Mảnh đất quanh năm nhiễm phèn và người chồng thương binh không đảm bảo tương lai cho mấy đứa nhỏ, chắc mẹ tôi nghĩ vậy.

Mẹ cùng chị, khi ấy đang học lớp 7, rời xa mảnh đất và 3 thằng con trai đang tuổi ăn tuổi lớn.

Một chiếc ghe nhỏ, đôi mái chèo và vài trăm ngàn vay mượn là tất cả những gì để bắt đầu cuộc mưu sinh ngày ấy.

Bắt đầu là những chuyến đi ngắn chừng vài ngày, đến khi chuối những vùng gần không đủ để cung cấp thì những chuyến đi vài ngày hơn và xa hơn, có khi đến tận Cà Mau để lấy chuối về Kiên Giang bán lại, lần ấy là khi tôi 7 tuổi, mẹ đi gần 1 tháng.

Những ngày hè anh em tôi thường được mẹ cho theo ghe, nhưng thường chỉ được đi tối đa 2 thằng, và tôi là con giữa vì không thể chăm sóc em nên trở thành một phe riêng với anh tư và thằng út, chắc có lẽ vì thế mà tâm lí của tôi không được bình thường như 2 thằng còn lại.

Chuối trổ không theo mùa nên hết mùa các trái cây khác thì nhà lại đi buôn chuối. Mùa khóm thì mua ở miệt Ba Đình – Vĩnh Thuận hay Hóc Quả – Hậu Giang rồi xuôi ghe theo Kênh Sáng Xà No về Ngã 7 Phụng Hiệp bán lại cho các ghe nhỏ hơn, mùa dâu thì chạy dọc theo các kênh nhỏ ở Nàng Mau, Vị Thanh mua từ nhà vườn rồi chở ra Rạch Giá bán lại cho các sạp trái cây trên chợ và cũng có khi ngồi bán lẻ, rồi dưa hấu, vú sữa, sa bô, cam quýt …

Hết mùa của các loại trái cây đó thì nhà quay lại bán chuối, mua thì ở nhiều nơi nhưng bán thì chỉ có 2 chợ chủ yếu, hồi trước là Tắc Ráng và bây giờ là Rạch Sỏi, đều nằm trong TP. Rạch Giá.

hang rong 2

Hồi còn bán ở chợ Tắc Ráng, là chợ nhỏ nên mỗi lần từ ghe mang lên chỉ được 1 sề (chừng 10 nải chuối), chỗ bán thì có khi là đầu chợ, lúc thì cuối chợ hoặc mái hiên nhà người ta. Tôi nhớ cứ mang sề chuối lên là có thằng lại thu tiền, gọi là tiền hoa chi, nhưng thu được một lúc thì có đám khác mặc đồng phục của ban quản lí chợ lại đuổi, người nào có sạp hẵn hoi thì thôi phần còn lại thì bưng lên cứ đi đi lại lại chờ đám người đó đi thì lại ngồi xuống bán tiếp. Cũng có hôm tụi nó làm mạnh, giành giựt với người bán, rau thì đổ tùm lum, trái cây thì bầm dập. Có khi chúng nó giựt được rồi người ta lại văn phòng tụi nó viết cam kết này nọ để xin lại.

Bán buôn vậy đó mà mẹ cũng nuôi được 3 anh em tôi đi học đàng hoàng, rồi đổi ghe lớn hơn, rồi chị lấy chồng, bắt rễ.

Sau này ghe lớn hơn nên đổi về chợ Rạch Sỏi để bán, đã đăng kí được chỗ bán hẵn hoi nhưng những chuyến chuối chín bán không kịp thì mỗi người trong nhà lại 1 sề bưng ra chợ trời, vỉa hè bán tiếp cho kịp.

Nhớ hồi học cấp 3, có lần đi học gặp con bạn nó bảo với nhóm bạn chơi chung thế này: bác tao đi chợ gặp thằng Nhanh ổng khen quá chừng, ổng bảo cái thằng con trai gì mà bưng sề chuối ra chợ trời ngồi bán tiếp mẹ mà chẳng ngại gì. Bà mẹ lúc đó muốn độn thổ luôn ấy chứ, mà nghĩ cũng ngộ thiệt, mình buôn bán đàng hoàng có trộm, cướp gì đâu mà mắc cỡ ghê. Chỉ mỗi tội là lấn chiếm lòng lề đường thôi.

Vậy đó, lòng lề đường, vỉa hè đã nuôi chúng tôi lớn, đã đóng phí cho 3 anh em tôi biết bao nhiêu năm học, nếu ngày ấy Kiên Giang có ông lãnh đạo như ông Hải ở Quận 1 bây giờ chắc mấy anh em tôi lại về vườn cắm mặt xuống mương phèn mà trồng tràm, trồng khóm hay xấu hơn thì xã hội có thêm mấy thằng đầu trộm đuôi cướp chứ bằng đại học, bằng cao đẳng, bằng nghề làm sao có được.

Viết bài này tôi không hề cổ súy cho việc lấn chiếm vỉa hè, lấn chiếm lòng lề đường. chỉ mong sao những người lãnh đạo hãy biết rằng muốn được ăn ngon mặc đẹp thì trước tiên phải có cơm no áo ấm. Hãy xây dựng đất nước văn minh từ trước tiên là đời sống của người dân. Sẽ chẳng có một đất nước văn mình nào tồn tại nếu như dân chúng vẫn còn lầm than, lòng người còn ích kỉ hẹp hòi.

hang rong 3

“Giai cấp mới”, đã đến giai đoạn cuối (kỳ 3/3)

“Giai cấp mới”, đã đến giai đoạn cuối (kỳ 3/3) 

Phùng Hoài Ngọc

(Đọc sách GIAI CẤP MỚI của Milovan Djilas, bản dịch Phạm Nguyên Trường)

 Đăng VNTB ngày 29/3/2017

CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN DÂN TỘC VÒNG ĐỜI 5 GIAI ĐOẠN  

tranh : Bữa tiệc cuối cùng (dựa theo Kinh Thánh)

communism (1)

Ngày nay “quốc tế cộng sản” đã tan rã.

Hãy cùng điểm lại quá trình hoạt động của QTCS trước khi bàn đến giai đoạn tột cùng của nó.

Quốc tế cộng sản 1 tên đầy đủ là Hội Liên hiệp Lao động Quốc tế *[1], tiếng Anh là The International Workingmen’s Association (IWA, 1864 -1876). Đây là tổ chức đầu tiên của các nhóm xã hội quốc tế, được thành lập ở Luân Đôn vào ngày 28. 9.1864, mục đích là đoàn kết các nhóm xã hội khuynh tả, cộng sản, các nhóm vô chính phủ và các tổ chức công đoàn. Trong thời gian tồn tại, QTCS1 tiến hành 5 lần đại hội, thông qua các nghị quyết chính: tán thành bãi công, thành lập công đoàn, đấu tranh đòi ngày làm 8 giờ, đòi cải thiện đời sống công nhân”.

Quốc tế CS 2 là một liên minh quốc tế với sự kết hợp của các đảng xã hội chủ nghĩa và một số tổ chức công đoàn trên thế giới, chủ yếu là tại châu Âu, được thành lập ngày 14 tháng 07 năm 1889 ở Paris, được phục hưng lại vào các năm 1923 và 1951.

Quốc tế CS3 là tổ chức của những người cộng sản, thành lập tháng 3 năm 1919 ở Moskva, giải tán năm 1943, được tái sinh năm 1947 và cuối cùng giải tán năm 1956, sau Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô. Cương lĩnh hoạt động là đấu tranh lật đổ chế độ TBCN, xây dựng chế độ XHCN, thiết lập Chuyên Chính Vô Sản. Ông trùm Vladimir Ilyich Lenin vạch ra chiến lược, sách lược chỉ đạo phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và đề ra biện pháp đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít.

Từ mục đích cụ thể rõ ràng như thế, đã có bao kẻ “ăn theo” lợi dụng để đạt các mục đích khác, ngày càng xa rời mục đích ban đầu. Kết thúc số phận “quốc tế cs” là Quốc tế thứ 4.

Quốc tế CS 4 (Đệ tứ Quốc tế) là liên minh quốc tế của những người theo Chủ nghĩa Trotsky thành lập năm 1938 tại Paris, theo khuynh hướng “cách mạng thường trực” do Trotsky đưa ra sau khi Lenin (trùm quốc tế cộng sản 3) qua đời (1924) để chống lại đường lối “cách mạng vô sản trong một quốc gia” của Stalin. Kể từ năm 1953, Quốc tế thứ 4 bị phân hóa ra nhiều nhóm nhỏ.

Người Việt Nam đầu tiên nhập cuộc chơi lớn và tốn kém với QTCS 3 là Nguyễn Ái Quốc, đồng thời  tham gia Đảng CS Pháp năm 12/1920 tại đại hội ở Tours.

 Công trình GIAI CẤP MỚI của Milovan Djilas đã chỉ ra “tính dân tộc” của các Đảng cộng sản trong “Quốc tế cộng sản” như thế nào? Nhà nghiên cứu đã chỉ ra tính phi lý của QTCS và báo hiệu về sự tan vỡ của nó.

LIENXO

STALIN

“CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN DÂN TỘC”

Sau khi nắm được “tay lái”, những người cộng sản ở các nước khác nhau phải đối diện với những trình độ kĩ thuật, văn hoá khác nhau, với những quan hệ xã hội không giống nhau, với những đặc thù dân tộc khác nhau, chính quyền mới không thể không tính đến điều đó.

Bây giờ, đây không chỉ là một “cái chảo quyền lợi chung” của bộ máy quan liêu cộng sản quốc tế mà còn là môi trường dung dưỡng cho những cuộc cắn xé và bất hoà của cái “tập thể” ấy trên cơ sở quốc gia-dân tộc. “Chủ nghĩa quốc tế vô sản” chỉ còn là những khẩu hiệu; giờ đây nó chỉ còn là một hố sâu che giấu những lợi ích trong quan hệ đối nội và đối ngoại trần trụi, che đậy những kế hoạch, dự định của các nhóm cộng sản chóp bu đương quyền mà thôi.

 Nhận ra sự khác nhau giữa các nước cộng sản,  trùm đế quốc Liên Xô Stalin đã cố gắng loại bỏ một cách vô vọng.

 Không có chế độ cộng sản nào, dù có vẻ giống các chế độ khác đến đâu, có thể tồn tại được nếu nó không khoác lên mình những biểu hiện của chủ nghĩa cộng sản dân tộc. Hơn thế nữa, để có thể trụ được, chế độ cộng sản càng ngày càng phải có hình thức dân tộc chủ nghĩa hơn, càng phải thích nghi với thực tiễn của dân tộc hơn. 

Sự khác nhau giữa các nước càng lộ rõ khi những người cộng sản ở một nước nào đó, vì hoàn cảnh, đã chiếm được quyền lực bằng những con đường “phi truyền thống” và với tốc độ khác các nước kia. Và họ phải là những người tương đối độc lập.

Cụ thể chỉ có ba nước: Liên Xô, Trung Quốc và Nam Tư (nơi nhiều nơi ít khác nhau), nơi những người cộng sản tự tiến hành cách mạng, giành chính quyền và bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội theo kiểu của mình và với tốc độ do mình định đoạt. Các nước này đã giữ được độc lập sau khi đã trở thành cộng sản, ngay cả khi Nam Tư trước đây và Trung Quốc hiện nay bị áp lực lớn từ phía Liên Xô. Tại phiên họp kín đại hội XX, Khrushchev đã vén bức màn bí mật về việc ngăn chặn vụ tranh chấp giữa Stalin với ban lãnh đạo Trung Quốc. Như vậy là, vụ đối đầu với Nam Tư không phải là vụ duy nhất, nó chỉ là vụ đầu tiên và kịch tính nhất, trồi lên trên bề mặt trong thời gian gần đây mà thôi.

Tiếc thay, Việt Nam thiếu tự chủ, chẳng được như Nam Tư và ít nhất như Trung cộng. Việt Nam luôn luôn bị động. Ngay khi vừa giành được chính quyền 1945  đã rơi ngày vào vòng tay “đồng chí nâng đỡ” của Trung cộng. Và đó là nguyên nhân trực tiếp bi kịch ngày nay.

Đảng Nam Tư chính là đảng CS đầu tiên tỉnh táo và kiên quyết thoát dần ra khỏi “vòng tay bạo lực” của Liên Xô. Milovan Djilas nhận định rất sớm:

Như ta đã biết, tất cả các nước cộng sản khác đều là do lãnh đạo Liên Xô áp đặt bằng quân đội của mình. Vì vậy, sự khác biệt về đường lối và tốc độ phát triển không đạt đến mức như Nam Tư và Trung Quốc. Nhưng cùng với sự củng cố của bộ máy quan liêu đương quyền, cùng với việc bộ máy này càng ngày càng độc lập hơn, nó sẽ càng ngày càng nhận thức được rằng việc tuân theo, việc sao chép Liên Xô một cách mù quáng chỉ làm cho nó thêm mất giá, nó sẽ bắt chước Nam Tư, nghĩa là phát triển độc lập hơn. Cộng sản Đông Âu là tay sai của Liên Xô không phải là vì họ thích như thế mà vì họ quá yếu. Cùng với việc ổn định vị thế của mình và khi điều kiện cho phép, nhất định họ sẽ bắt đầu khao khát độc lập, sẽ bắt đầu bảo vệ “nhân dân nước mình” khỏi bá quyền Xô Viết.

Các nước, nơi mà cách mạng cộng sản chiến thắng chủ yếu nhờ vào nội lực, nhất định sẽ chọn đường lối phát triển riêng và sẽ mâu thuẫn với các nước khác, nhất là với Liên Xô, nước cộng sản mạnh nhất và cũng có thái độ đế quốc nhất. Theo quan điểm triết học, như vậy có nghĩa là tầng lớp quan liêu của dân tộc ấy đã nhận thức được bản chất của mình, đã giành được chính quyền và nay đòi hỏi quyền bình đẳng.

Các chính quyền cộng sản phụ thuộc ở Đông Âu có thể và phải giành lấy độc lập từ tay Liên Xô. Ước muốn độc lập sẽ đi xa đến đâu, cũng như mâu thuẫn sẽ biểu hiện dưới hình thức nào, là vấn đề không ai có thể đoán trước được, điều đó phụ thuộc vào hàng loạt tác nhân quốc gia và quốc tế. Nhưng bộ máy quan liêu cộng sản từng nước sẽ càng ngày càng độc lập hơn và nắm được nhiều quyền lực hơn, đấy là một điều chắc chắn. Phong trào phản đối Tito ở Đông Âu khi Stalin còn sống, cũng như việc công khai nói đến “xây dựng chủ nghĩa xã hội” theo “con đường riêng”, nhất là ở Ba Lan và Hungari, hiện nay, đã chứng minh điều đó. Chính phủ trung ương Liên Xô còn phải giải quyết vấn đề “dân tộc chủ nghĩa” ngay với những nhà lãnh đạo do họ nặn ra (Ukraine, Caucasia), nói gì đến các nước Đông Âu.

  1. Trước khi Thế chiến II kết thúc, khái niệm chủ nghĩa cộng sản dân tộc là khái niệm vô giá trị, (…) Khái niệm này chỉ xuất hiện khi xảy ra đụng độ giữa Nam Tư và Liên Xô. Các quốc gia cộng sản khác cũng có cùng xu hướng phát triển như vậy. Một lúc nào đó, tuỳ vào khả năng và hoàn cảnh, các chế độ đó cũng sẽ muốn trở thành (và sẽ trở thành) các nước đế quốc và bá quyền theo kiểu của mình.

Như vậy là, nếu không kể giai đoạn thứ nhất, giai đoạn hai, bắt đầu với chiến thắng cùa Stalin, của công nghiệp hoá và sự thống trị của giai cấp mới trong những năm 1930, chính sách đối ngoại của Liên Xô bắt đầu mang tính đế quốc chủ nghĩa. Bước ngoặt này xảy ra ngay trước chiến tranh, khi chính quyền Stalin đáng ra phải (và đã có điều kiện) chuyển từ những tuyên bố yêu chuộng hoà bình và chống đế quốc thành việc làm thực tế thì việc thay đổi lãnh đạo Bộ ngoại giao, từ một người cởi mở, khả ái và có nguyên tắc là Litvinov bằng một người người kín đáo và vô nguyên tắc là Molotov lại cho thấy điều ngược lại.

Khi các đảng cộng sản Đông Âu chưa đủ mạnh và chính Liên Xô cũng chưa củng cố được về mặt kinh tế, chính phủ Xô Viết (ngay cả nếu không có sự độc đoán của Stalin) buộc phải dùng các biện pháp hành chính để duy trì sự thống trị trong các nước Đông Âu. Chủ nghĩa đế quốc Liên Xô đã buộc phải sử dụng các biện pháp chính trị, mà trước hết là cảnh sát và lực lượng vũ trang, để bù đắp cho những yếu kém, trước hết là về kinh tế của mình.

Đây chỉ là biểu hiện ở một trình độ cao hơn của chủ nghĩa đế quốc phong kiến – quân phiệt thời Sa Hoàng, nó cũng phù hợp với cơ cấu nội tại của Liên Xô, nơi bộ máy hành chính và cảnh sát đặt dưới sự chỉ huy của một cá nhân duy nhất đang giữ thế thượng phong.

Chủ nghĩa Stalin chính là sự kết hợp của nền chuyên chính cộng sản độc tài cá nhân và chủ nghĩa đế quốc quân phiệt.

Lập ra các tổ chức xã hội hữu nghị và các tổ chức khác ở mỗi nước, sử dụng áp lực chính trị để nhập khẩu hàng hoá từ Đông Âu theo giá thấp hơn giá cả trên thị trường quốc tế, thành lập “thị trường xã hội chủ nghĩa”, kiểm soát tất cả chính sách của các chính phủ và các đảng phụ thuộc, biến tình cảm tốt đẹp của những người cộng sản đối với “quê hương của chủ nghĩa xã hội” thành sự sùng bái nhà nước Xô Viết, sùng bái Stalin là những chính sách không thể tách rời của chủ nghĩa đế quốc Xô Viết.

MAO

Chuyện gì đã xảy ra? 

Ở Liên Xô, trong nội bộ giai cấp cầm quyền đã diễn ra sự thay đổi “thầm lặng”, Stalin đã ngăn chặn sự xuất hiện công khai của những thay đổi này. Những thay đổi tương tự cũng đã diễn ra trong các nước Đông Âu: bộ máy quan liêu dân tộc ở đấy, trong khi củng cố quyền lực và sở hữu của mình, đã vấp phải những vấn đề do áp lực bá quyền của Liên Xô gây ra. Nếu trước đây, để giành quyền lực, họ phải từ bỏ đặc thù dân tộc của mình thì ngày nay quan điểm đó đã trở thành chướng ngại vật trên con đường tiến lên của họ. Ngoài ra, chính phủ Liên Xô cũng không còn đủ khả năng theo đuổi chính sách đe doạ sử dụng vũ lực và cách li vừa tốn kém vừa nguy hiểm như thời còn Stalin, đồng thời, họ cũng không thể giữ mãi một loạt nước châu Âu trong “sân sau” của mình trong thời buổi mà những tình cảm chống đế quốc dâng cao như hiện nay nữa.

Sau một giai đoạn lúng túng và câu dầm, các lãnh tụ Liên Xô buộc phải công nhận rằng những lời kết án chống lại các nhà lãnh đạo Nam Tư về việc họ là gián điệp của phát xít Đức và của Mĩ vì họ đã bảo vệ quyền xây dựng chủ nghĩa xã hội của mình là không có cơ sở. Tito đã trở thành nhân vật nổi tiếng của phong trào cộng sản đương đại. Nguyên tắc dân tộc đã được công nhận về mặt hình thức. Nhưng đồng thời, Nam Tư cũng đánh mất vai trò của lực lượng sáng tạo trong phong trào cộng sản. Cách mạng Nam Tư đã được “thuần hoá”, bắt đầu một thời kì phát triển hoà bình và đơn điệu dưới quyền cai trị của độc tài cộng sản. Tình thân giữa các kẻ thù cũ không trở thành vĩnh cửu, các cuộc tranh cãi cũng chưa kết thúc. Chỉ là một giai đoạn mới.

Đồng thời Liên Xô cũng chuyển sang giai đoạn hai, giai đoạn sử dụng các biện pháp kinh tế và chính trị cho các tham vọng đế quốc của mình. Ít nhất, ta có cảm tưởng như thế khi phân tích các sự kiện hiện có trong ngày hôm nay. 

Chủ nghĩa cộng sản dân tộc đã trở thành hiện tượng phổ biến. Nơi nhiều, nơi ít, nhưng nó đã thâm nhập vào phong trào cộng sản tất cả các nước. Liên Xô là trường hợp ngoại lệ, đấy chính là đối tượng mà các phong trào dân tộc chĩa mũi dùi vào. Nhưng trong thời Stalin, cộng sản Liên Xô cũng đã từng là cộng sản dân tộc. Khi đó phong trào cộng sản Nga đã chối bỏ chủ nghĩa quốc tế, nó chỉ lợi dụng tinh thần quốc tế như là công cụ của chính sách đối ngoại của mình mà thôi.. .

CUBA

Chế độ cộng sản Xô Viết đã và đang đối diện với đòi hỏi phải công nhận một thực tế mới trong phong trào cộng sản quốc tế. 

Việc chính phủ Liên Xô phải “nghiến răng” công nhận các hình thức dân tộc của phong trào cộng sản là một sự kiện cực kì quan trọng nhưng cũng cực kì nguy hiểm cho chủ nghĩa đế quốc Xô Viết. 

Chính Moskva cũng đã không còn như xưa nữa. Độc quyền về tư tưởng và đạo đức đã không còn. Sau khi đoạn tuyệt với Stalin, Moskva không đã còn là trung tâm tư tưởng nữa. Thời đại của những hoàng đế cộng sản vĩ đại và những tư tưởng vĩ đại đã chấm dứt, bây giờ là thời của những viên chức quan liêu cộng sản tầm thường.

Liên Xô không còn là trung tâm tư tưởng của phong trào cộng sản quốc tế nữa. Sự thống nhất của phong trào cộng sản quốc tế đã bị một vết thương không gì cứu chữa được, hiện chưa có dấu hiệu gì chứng tỏ nó sẽ hồi sinh trong một tương lai không xa.

Nhưng dù đã thay thế cá nhân Stalin, “Ban lãnh đạo tập thể” không thể thay đổi được bản chất của hệ thống ở Liên Xô; cũng như các phong trào cộng sản dân tộc, dù đã vững mạnh lên sau khi thoát khỏi ảnh hưởng của Moskva, cũng không thể thay đổi được bản chất nội tại của mình, đấy là nhà nước toàn trị, độc quyền tư tưởng và bộ máy quan liêu. Thực ra nó cũng đã hạn chế được áp lực và làm chậm lại quá trình củng cố quyền sở hữu, đặc biệt là ở nông thôn. Nhưng chủ nghĩa cộng sản dân tộc không có ý định và không thể trở thành một cái gì khác ngoài chủ nghĩa cộng sản. Chính vì vậy mà nó luôn luôn và một cách vô thức quay về với Liên Xô như là “cội nguồn của mọi cội nguồn”. Nó không thể tách số phận của mình khỏi số phận của các nước và các phong trào cộng sản khác. 

Biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc trong phong trào cộng sản đã tạo ra nhiều nguy cơ cho chủ nghĩa đế quốc Xô viết giai đoạn Stalin, nhưng không phải là nguy cơ của chính phong trào cộng sản. Ngược lại, nó có thể tăng cường sức mạnh ở những nơi đã giành được quyền lực và như thế, trở nên hấp dẫn hơn với những con mắt nhìn vào từ bên ngoài.

Chủ nghĩa cộng sản dân tộc xuất hiện trong giai đoạn phi giáo điều, nghĩa là giai đoạn bài Stalin của phong trào cộng sản và cũng là đặc điểm quan trọng của giai đoạn này.

3.
Chủ nghĩa cộng sản dân tộc không có khả năng thay đổi tình hình chính trị thế giới cả trên bình diện quan hệ giữa các quốc gia lẫn trong nội bộ phong trào công nhân. Dĩ nhiên là nó có thể có ảnh hưởng to lớn với cả hai tiến trình này.

Thí dụ, chủ nghĩa cộng sản dân tộc Nam Tư đã có tác động không nhỏ trong việc xói mòn chủ nghĩa đế quốc Xô Viết và hạ bệ chủ nghĩa Stalin trong nội bộ phong trào cộng sản quốc tế. Nguyên nhân của những sự thay đổi đang diễn ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu nằm ngay trong lòng những nước đó. Nhưng những thay đổi đầu tiên theo kiểu đó đã xảy ra ở Nam Tư. Và cũng kết thúc ở đấy trước. Chủ nghĩa cộng sản dân tộc Nam Tư, bằng cuộc đối đầu với chủ nghĩa Stalin, đã khơi mào cho một giai đoạn mới, giai đoạn hậu Stalin trong phong trào cộng sản quốc tế. Ảnh hưởng của nó đối với phong trào cộng sản quốc tế là rõ ràng, đối với quan hệ quốc tế và phong trào công nhân phi cộng sản, dĩ nhiên là ảnh hưởng của nó có yếu hơn.

Các nhà lãnh đạo Nam Tư đã lẫn lộn giữa ước mơ và hiện thực, giữa quyền lợi nhất thời với những dị biệt sâu xa về xã hội và lịch sử. 

Các liên minh và khối quân sự là những hiện tượng nhất thời, trong khi chủ nghĩa xã hội phương Tây và chủ nghĩa cộng sản phương Đông là những xu hướng có tính ổn định và có nguồn gốc sâu xa hơn nhiều.

Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa cộng sản và phong trào dân chủ xã hội không chỉ vì sự khác nhau về nguyên tắc (ít lí do nhất) mà là sự khác nhau về xu hướng phát triển của sức mạnh kinh tế và tinh thần. Điều mà Deutscher đã gọi rất đúng là khởi đầu một sự chia rẽ vĩ đại trong lịch sử – vụ đụng độ giữa Martov và Lenin tại Đại hội II Đảng dân chủ xã hội Nga ở London năm 1903 về vấn để đảng tịch, đúng hơn là về mức độ tập trung hoá và kỉ luật – đã đưa đến một loạt hậu quả mà những người khởi xướng cuộc tranh luận ấy không thể nào mường tượng nổi. Đấy không chỉ là sự khởi đầu của hai phong trào mà là sự khởi đầu của hai hệ thống xã hội khác nhau

 Tác giả Milovan nhận định về tình hình Nam Tư. Đảng CS Nam Tư muốn liên kết với các đảng phái xã hội dân chủ khi vẫn muốn giữ quyền cai trị là điều phi lý, không thể thành công. Chính vì điều này mà ông bị Đảng của ông ruồng bỏ. (Cũng như ngày nay, Trung cộng tạo ra vài đảng phái xã hội dân chủ giả bộ liên kết nhưng vẫn giữ quyền cầm lái, cầm càng thì không thể tốt đẹp được).

Không thể nào loại bỏ được hố sâu ngăn cách giữa những người cộng sản và những người dân chủ xã hội nếu không thay đổi bản chất của hai phong trào ấy, nếu không thay đổi ngay cái hoàn cảnh đã tạo ra mâu thuẫn giữa chúng với nhau. Trong nửa thế kỉ qua, dù có một số lần xích lại gần nhau trong những giai đoạn ngắn, sự khác biệt chỉ ngày một sâu sắc thêm, bản chất khác nhau của mỗi bên càng lộ rõ thêm. Hôm nay, dân chủ xã hội và chủ nghĩa cộng sản không chỉ là hai phong trào mà còn là hai thế giới.

Bàn về các đảng cộng sản thuần túy không độc tài toàn trị:

Giống như Nam Tư, nếu các đảng cộng sản ở các nước phi cộng sản theo đuổi đường lối dân tộc chủ nghĩa thì ảnh hưởng của nó trên trường quốc tế sẽ còn lớn hơn cả ảnh hưởng của những đảng cộng sản dân tộc chủ nghĩa đã giành được chính quyền. Trước hết, đấy là đảng cộng sản Pháp và Ý, là những đảng tập hợp được đa số tuyệt đối giai cấp công nhân và nếu không kể đến một vài đảng ở châu Á, thì đây là những đảng có ảnh hưởng mạnh nhất trong thế giới phi cộng sản. 

Các biểu hiện của chủ nghĩa cộng sản dân tộc trong các đảng đó hiện chưa đạt được qui mô và sự hưởng ứng có ý nghĩa. Nhưng các biểu hiện như vậy nhất định sẽ xảy ra và cuối cùng sẽ dẫn tới những thay đổi cơ bản trong nội bộ những đảng đó. 

 Càng không thể coi đấy là do sự thay đổi đường lối một cách đột ngột của Moskva và các đảng cộng sản chấp chính khác, tức là những thay đổi đã đặt những người cộng sản vừa kể và cả những người chưa được kể, hiện chưa nắm chính quyền, trước sự “khủng hoảng về mặt lương tâm”, phải lên án những điều mà vừa mới hôm qua còn được đưa lên tận chín tầng mây, buộc phải thay đổi đường lối một cách đột ngột.

Chỉ một nhóm những người cộng sản giáo điều là có thể bình thản đứng nhìn sự xa lánh của công nhân, trong khi những nhà lãnh đạo chính trị tỉnh táo sẽ tìm mọi cách để cải thiện vị thế của mình, dù cái giá phải trả là giảm thiểu liên hệ với Moskva.

Những khối quần chúng đang đi theo các lãnh tụ cộng sản sẽ dễ dàng bỏ rơi họ một khi nhận ra rằng người cộng sản sẵn sàng hi sinh các biểu hiện dân tộc và những cơ hội cụ thể của giai cấp công nhân vì bản chất quan liêu, vì chế độ “chuyên chính vô sản” và các quan hệ với Moskva của họ.

Tất cả những điều vừa nói dĩ nhiên chỉ là giả thiết.

Hiện nay các đảng đó đang rơi vào tình trạng cực kì khó khăn. Nếu thực sự muốn theo con đường nghị trường, các lãnh tụ của họ phải từ bỏ đường lối chống nghị trường, nghĩa là ủng hộ chủ nghĩa cộng sản dân tộc, mà như thế – nếu tính đến vị trí của họ hiện nay – cũng có nghĩa là sự phân liệt của các đảng này. 

Đấy chính là khởi đầu của một cuộc khủng hoảng trong các đảng cộng sản ở các nước phi cộng sản. Chuyển sang lập trường cộng sản dân tộc thì có nguy cơ đánh mất bản chất, mà không chuyển thì mất người ủng hộ. Để thoát khỏi mâu thuẫn này, các lãnh tụ, nghĩa là những người đại diện cho bản chất cộng sản sẽ phải rất khéo léo. Nhưng họ cũng khó ngăn chặn được quá trình tan rã. Họ sẽ mâu thuẫn với những xu hướng phát triển mới cả trong nước cũng như trên trường quốc tế. 

Chủ nghĩa cộng sản dân tộc trong các nước phi cộng sản nhất định sẽ dẫn tới sự li khai với chính phong trào cộng sản, sự tan rã của các đảng cộng sản. Cơ hội của chủ nghĩa cộng sản dân tộc trong các nước phi cộng sản là rất lớn, nhưng chắc chắn nó sẽ dẫn đến việc li khai với phong trào cộng sản.

Khi xem xét những đảng cộng sản không nắm quyền, ta thấy rằng chủ nghĩa cộng sản dân tộc, mặc dù, với ý định “làm mới” chủ nghĩa cộng sản “nói chung” hay với ý định củng cố nó, nhưng đồng thời đấy lại là một một dị giáo, nó nhất định sẽ phá nát cái chủ nghĩa cộng sản “nói chung” ấy. Chủ nghĩa cộng sản dân tộc chứa đầy mâu thuẫn nội tại. Về bản chất, nó vẫn là cộng sản Xô viết, nhưng về hình thức, nó lại có xu hướng tách ra, mang màu sắc dân tộc. Trên thực tế, đấy là chủ nghĩa cộng sản trong giai đoạn suy đồi, giai đoạn thoái trào.

Công trình nghiên cứu của Milovan Djilas hoàn thành năm 1957.

 Lúc này tác giả chưa quan tâm tới tình trạng Trung cộng và Việt cộng, Bắc Triều tiên và Cuba. Ông đã sớm chỉ ra rằng “chủ nghĩa cộng sản dân tộc” tồn tại là tất yếu. Tuy nhiêng ông không biết rằng Đảng cộng sản Việt Nam đi theo hướng dân tộc chẳng phải vì lợi ích dân tộc và giai cấp mà vì tình trạng bị quốc tế cộng sản bỏ rơi. Cụ thể là vì chỗ dựa Liên Xô sụp đổ, Trung cộng trở mặt làm thù địch.

 Theo quan điểm của Milovan Djilas, CNCS bước vào giai đoạn PHI GIÁO ĐIỀU, đó sẽ là giai đoạn cuối cùng. Lý tưởng và lý luận chẳng còn vai trò gì quan trọng nữa. Vấn đề bây giờ là tìm một cái chính danh tạm bợ nào đó cho quyền lực. Cốt lõi bây giờ là gia tăng quyền lực tự bảo vệ, nhất là bạo lực.

Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc (中国特色社会主义). Đại hội XV đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 9 năm 1997 xác định mục tiêu là chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc[2], rằng hệ tư tưởng chính thức của nó vẫn dựa trên chủ nghĩa xã hội khoa học. Họ cho rằng Ý thức hệ này hỗ trợ việc tạo ra một nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa chi phối bởi các khu vực công. Trung cộng cho rằng họ không từ bỏ chủ nghĩa Mác nhưng đã phát triển nhiều thuật ngữ và khái niệm của lý thuyết Mác-xít để hàm chứa hệ thống kinh tế mới. Thực ra bắt đầu từ cuối năm 1978 Trung Quốc tiến hành cải tổ nền kinh tế từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung kiểu Xô viết sang nền kinh tế hướng thị trường rõ hơn nhưng vẫn trong khuôn khổ kiểm soát của Đảng.

 Chậm hiểu và chậm chân hơn TQ, vì còn mải bám riết theo Liên Xô, “chủ nghĩa xã hội Việt Nam” không chế tạo thêm được chữ nào noi theo Trung cộng. Tuy nhiên cũng học theo chiêu thức “Tư tưởng Mao Trạch Đông”, các nhà lý luận Việt Nam bèn chế tác ra “Tư tưởng HCM” bằng cách lý luận hóa những di sản ý kiến vụn vặt, văn bản lẻ tẻ và hành động của chủ tịch HCM. Trước sau, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ biết nói đơn giản, huỵch toẹt “chúng ta kiên định chủ nghĩa Mác Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh”, một mặt ông ta thường xuyên thúc giục “Hội đồng lý luận TW” phải cố gắng mở “đột phá về lý luận”, nhưng vô vọng, mặc dù nhiều nhiệm kỳ đã trôi qua. Đó chỉ là liệu pháp tinh thần an ủi các “đồng chí”, cứ yên tâm có lý luận đây rồi (!).

Bây giờ, thậm chí không có bất cứ hai đảng cầm quyền nào chơi tử tế với nhau, đừng nói tổ chức sinh hoạt QTCS. Trung cộng và Việt cộng nửa thù nửa bạn. Trung cộng và Triều cộng kìm kìm, bực bội, dằn vặt hục hặc lẫn nhau. Việt cộng và Triều cộng như người dưng nước lã, khỏi cần thăm viếng lẫn nhau, chả ai cần ai. Chẳng những thế, Việt cộng còn chơi thân với Hàn Quốc, kẻ thù của Triều cộng. Cu ba cộng sản nay đang băn khoăn giữa ngã ba đường lịch sử …

Nhưng bất chấp tất cả, có thể do điếc không sợ súng, các đảng viên VN vẫn mấp máy môi hát “quốc tế ca” ! Nhhững lời ca vô cảm vô duyên vô nghĩa. Thậm chí bây giờ không cần hát, chỉ nín thinh, phó cho cái đĩa điện tử quay vòng vòng. Đó là hình ảnh tượng trưng của hàng triệu đảng viên im lặng, không bày tỏ chính kiến, chỉ giữ riêng trong lòng mình.

Ý kiến một độc giả

Sau khi đọc công trình của Milovan Djilas, người ta cho rằng ông Việt Phương một lão thành cách mạng đã nói về vòng đời 5 giai đoạn của CNCS và ĐCS cầm quyền.

Đảng cộng sản cầm quyền tự xưng có vòng đời trải qua 5 giai đoạn:

1.Lý tưởng, 2. Giai cấp mới, 3. Toàn trị , 4. Khủng hoảng,  5. Sự rút lui

Nay họ đang loay hoay bước vào giai đoạn 5 : SỰ RÚT LUI.

Hết

[1] *. Căn cứ cái tên đó, nhà báo kinh tế học Đào Trinh Nhất từ năm 1924 đã gọi chủ nghiã Marx- Lê Nin là “chủ nghĩa lao nông” . Ông là người Việt Nam đầu tiên tiên dự đoán chủ nghĩa Mác- Lê Nin sớm muộn sẽ thất bại. (xem sách “Thế lực khách trú và công cuộc di dân Nam Kỳ”- Nxb Hội nhà văn Việt Nam tái bản 2016).

[2]* . “Đặc sắc” có nghĩa: ưu điểm riêng biệt. Nhiều người Việt Nam thường hiểu nhầm và nói “CNXH màu sắc Trung Quốc”.

Bối cảnh hội nghị Trung ương 5 khác với đại hội 12 ra sao?

Bối cảnh hội nghị Trung ương 5 khác với đại hội 12 ra sao?

 

Lê Dung / SBTN

clip_image002

Ảnh: Báo Dân Sinh

Bằng vào bầu không khí “thi đua tố cáo” trên mạng xã hội và cả trên mặt báo nhà nước từ tuần đầu tháng Ba năm 2017 đến nay, có thể nhận ra hơi thở hầm hập của Hội nghị Trung ương 5 Đảng CSVN đang đến rất gần phả rát gáy chính giới.

Cũng bởi theo cái cách mà một địa phương như Đà Nẵng “chiến đấu” với nhau, thì có vẻ chính giới các nơi đều muốn “ăn thua đủ”.

Do đó, Hội nghị Trung ương 5 sắp tới có thể mang tính “quyết liệt” không kém thua gì so với Đại hội 12. Chỉ có điều, bối cảnh của Hội nghị Trung ương 5 so với thời điểm kết thúc Đại hội 12 là khác hẳn nhau.

Sau Đại hội 12, thế “hai hổ” đã bất ngờ trở thành thế cực quyền, và đưa ông Nguyễn Phú Trọng lên đỉnh cao chưa từng có trong sự nghiệp chính trị của đời ông. Nay thì trước Hội nghị Trung ương 5, vòng hào quang trên đầu ông Trọng dường như không còn chói lọi nữa. Kể từ vụ Yên Bái “cả ba bị bắn” cho đến nay, nạn cát cứ quyền lực mà Đảng luôn lo sợ lại có chiều hướng tăng dần và tăng mạnh. Thay vì hình ảnh tập quyền ngay sau Đại hội 12, giờ đây Đảng phải đối diện với nguy cơ “đa trung tâm quyền lực”. Chẳng phải ngẫu nhiên mà từ lâu đã hiện ra “dây Thanh Hóa”, “dây miền Trung”, “dây Nam Bộ”…, chưa kể đồn đãi “tổng bí thư phải là người Bắc và có lý luận”.

Trong khi đó, nền kinh tế và ngân sách ngày càng tuột dốc. Nếu tại thời điểm Đại hội 12 được bắt đầu bởi tán thán “ngân sách Trung ương chỉ còn 45 ngàn tỷ đồng mà không biết chi cho cái gì” của Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh, thì đến đầu năm 2017, tất cả mọi người đều nghe Thủ tướng Phúc bật thốt cảnh báo “sụp đổ tài khóa quốc gia”.

Sự thật hiển nhiên là từ Đại hội 12 đến trước Hội nghị Trung ương 5, phía chính phủ vẫn chưa giải quyết được bất cứ khoản tồn đọng nào – từ nợ xấu đến nợ công và ngân sách quốc gia, chưa kể phát sinh hàng loạt vấn nạn về môi trường và xã hội.

Hy vọng lớn nhất của Đảng trước và sau Đại hội 2 là Hiệp định TPP, nhưng đến cuối năm 2016 thì hiệp định này hầu như tan vỡ. Giờ đây trước thềm Hội nghị Trung ương 5, Đảng chỉ còn trông mong vào Hiệp định Tự do Thương mại Việt Nam – Châu Âu (EVFTA). Nhưng ngay cả hiệp định này cũng chưa hề được triển khai cho dù đã được ký kết từ cuối năm 2015. Nghe đâu, phía EU hoàn toàn không hài lòng với “thành tích nhân quyền” của chính thể Việt Nam. Mà nhân quyền lại là một điều kiện then chốt trong EVFTA.

Và nếu sau Đại hội 12, chính thể Việt Nam vẫn còn có cơ hội để trả treo với chính quyền Obama về nhân quyền, thương mại và quân sự, thì giờ đây rất nhiều khả năng Trump không quan tâm, và cũng chẳng muốn biết Hội nghị Trung ương 5 là gì.

Khung cảnh bế tắc toàn diện như thế lại thường dẫn đến kết quả: bất kể ai là người chiến thắng tại Hội nghị Trung ương 5, điều đó cũng chẳng có ý nghĩa đáng kể nào nữa.

Trách nhiệm lớn nhất của người chiến thắng là phải kiếm ra tiền để nuôi Đảng, nhưng tình cảnh bây giờ lại quá khó để kiếm tiền…

L.D.

Nguồn: http://www.ijavn.org/2017/03/vntb-boi-canh-hoi-nghi-trung-uong-5.html

Triết gia Trần Đức Thảo – vài nghi vấn còn lại

Triết gia Trần Đức Thảo – vài nghi vấn còn lại

 Nguyễn Đình Cống

Hồi sinh viên (1956-1960) tôi đã nghe tên và biết ông dính vào Nhân văn – Giai phẩm. Ban đầu tôi háo hức tìm hiểu, sau biết ra thì vừa phục vừa thương. Dần dần tôi được đọc các bài viết về ông, nổi lên ở 3 vấn đề chính: 1- Ông là nhà triết học tài năng; 2- Là nhà Macxit, bảo vệ và giải thích triết học Marx; 3- Người có cuộc sống cơ cực trong hàng ngũ trí thức.

Tôi đọc một số tác phẩm của ông, nhưng vì kiến thức triết học chưa đủ tầm nên chỉ hiểu được một ít mà thôi. Điều tôi quan tâm là một nhà triết học lớn như ông, được phong giáo sư, sau khi chết còn được tặng Huân chương Độc lập và Giải thưởng Hồ Chí Minh, vậy ông có đóng góp gì tích cực trong việc vận dụng triết học cho công cuộc xây dựng đất nước, đặc biệt là việc vận dụng chủ nghĩa Marx vào trong đời sống. Càng tìm hiểu càng bị rối mù. Gần đây có lúc tôi tưởng đã hiểu được ông, nhưng rồi lại như đang bị đi vào ngõ cụt. Nguyên nhân nằm ở tác phẩm được ông viết vào cuối đời, cùng vài quyển sách về ông.

Ông được xem là nhà Macxit chân chính. Còn tôi, trước 35 tuổi tôi tuyệt đối tin tưởng và tôn sùng Marx, nhưng rồi dần dần tôi phát hiện ra Marx có sai lầm. Khi biết Bertrand Russell, nhà khoa học lớn của nước Anh, hồi trẻ cũng rất tin, nhưng khi lớn tuổi đã từ bỏ Marx, tôi nghĩ rằng có thể mình đã đúng. Thế nhưng tại sao một nhà triết học lớn như GS Trần Đức Thảo vẫn bảo vệ Marx. Tôi không thể tưởng tượng được một người có trí tuệ siêu việt vẫn cho Marx đúng trong khi một người tầm thường như tôi cho Marx sai. Hay là tôi quá chủ quan, chưa thấy được chỗ ngu dốt của mình.

Thế rồi tôi đọc được sách “TRẦN ĐỨC THẢO-NHỮNG LỜI TRĂN TRỐI” của Tri Vũ Phan Ngọc Khuê (PNK), trong đó ở chương 14, nêu đích danh Marx là thủ phạm của những tội ác mà một phần nhân loại phải gánh chịu. Theo PNK, GS Thảo đang gấp rút hoàn chỉnh cuốn sách đã ấp ủ mấy lâu nay, cho rằng đó sẽ là cuốn sách cuối đời. Trong sách đó ông vận dụng triết học để chứng minh sai lầm và tội ác của Marx: PNK tường thuật lời GS Thảo, nói tại Nhà Việt Nam ở París vào ngày 12 tháng 4,1993:

Tôi tính ít ra cũng phải bốn tháng nữa thì mới có thể hoàn thành cuốn sách với kết luận hoàn toàn mới mẻ và khách quan về mặt triết học. Vì cũng phải lướt qua những bước biến đổi của xã hội, thông qua các giai đoạn phát triển của vật chất, của vũ trụ, trải nghiệm vấn đề môi trường bị tàn phá do phát triển… chứ không thể nhảy ngay tới kết luận giản dị là mọi sự xấu xa đã xẩy đến là do học thuyết sai lạc của Marx. Thật là bi thảm cho một nhà triết học như tôi, khi đã quyết tâm cống hiến cả đời mình cho lý tưởng cách mạng vô sản. Nhưng rồi cuối cuộc đời, tôi mới khám phá ra rằng mình đã bị lạc hướng vào con đường cách mạng không tưởng, con đường độc ác, không lối thoát, mà Marx đã vạch ra”… Khi cuốn sách này được xuất bản thì các anh sẽ thấy mọi nút thắt, mọi trói buộc, mọi sức ép sẽ được tháo gỡ ra cho bằng hết… để minh bạch vấn đề công tội trong lịch sử… Công của ai, tội của ai? Đấy là cách chuộc tội của Trần Đức Thảo này!”(*)

Đọc đến đây tôi nghĩ: Có thế chứ. Thế mới đúng là nhà triết học lớn chứ, cuối cùng ông đã nhận ra sai lầm của Marx và bản thân mình đã bị lạc hướng gần cả cuộc đời.

GS Thảo đột ngột từ trần vào ngày 24 tháng 4 năm 1993 tại Paris, sau khi tỏ ý định ra khỏi nhà khách sứ quán Việt Nam tại Pháp để đi tìm sự tự do. GS chết khi cuốn sách cuối đời chưa được công bố, nội dung cuốn sách vẫn còn nằm trong bí mật. Nghe đâu mọi bản thảo của nhà triết học được thu giữ, niêm phong, nộp cho cơ quan có trách nhiệm.

Năm 2016 cuốn sách “TRIẾT GIA TRẦN ĐỨC THẢO – DI CẢO, KHẢO LUẬN, KỶ NIỆM” do Nguyễn Trung Kiên (NTK) sưu tầm và biên soạn được phát hành. Sách dày trên 1700 trang. Theo Tự bạch của người biên soạn thì NTK đã cùng Tiến sĩ Cù Huy Chữ (là thành viên trong tổ thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng) phân loại, hệ thống hóa hàng ngàn trang bản thảo mà nhà triết học để lại cho hậu thế. NTK không nói rõ trong các trang bản thảo có bao gồm “Cuốn sách cuối đời chưa viết xong” của GS hay không vì không thấy đưa vào Di cảo nội dung nào tương tự như các ý đã nêu trên đây trong trích dẫn(*). Trong Di cảo có trình bày tác phẩm được cho là cuối cùng của GS là: “SỰ LÔGIC CỦA THỜI HIỆN TẠI SỐNG ĐỘNG”, được viết vào đầu năm 1993. Trong tác phẩm đó cũng không thấy bóng dáng của ý tưởng phê phán Marx. Tôi đã cố tìm trong hơn 1700 trang của cuốn sách xem có chỗ nào trình bày quan điểm của Trần Đức Thảo phê phán Marx hay không. Tôi chưa tìm thấy.

Như thế là thế nào. Đến cuối đời GS Thảo đã nhận ra chỗ sai của Marx hay chưa nhận ra, vẫn bảo vệ Marx. Đối với tôi đó là nghi vấn lớn. Khi tin vào sách của NTK thì phải nghi ngờ PNK và ngược lại. Nếu tin vào PNK, tin vào NHỮNG LỜI TRĂN TRỐI thì thấy NTK mới chỉ nêu lên một phần của sự thật, mặc dầu phần đó chiếm trên 90% thời gian hoạt động của GS Thảo nhưng lại không chứa đựng bản chất. Tôi băn khoăn, đề ra 3 giả thuyết: 1- Chương 14 của Những lời trăn trối là bịa đặt của PNK; 2- Chương 14 là trung thực nhưng NTK, TS Chữ không hề biết vì GS Thảo chỉ mới nói mà chưa viết ra, hoặc có viết nhưng tài liệu liên quan đã bị che giấu; 3- NTK và TS Chữ có biết rằng: “cuối cuộc đời, GS Thảo mới khám phá ra rằng mình đã bị lạc hướng vào con đường cách mạng không tưởng, con đường độc ác, không lối thoát, mà Marx đã vạch ra”, nhưng không dám trình bày. Tôi tạm nghiêng về giả thuyết 3 và xin có đôi lời:

Bạn Nguyễn Trung Kiên thân mến. Quyển sách do bạn sưu tầm, biên soạn được nhiều học giả có tên tuổi đánh giá cao, nó giống như một tượng đài lớn được dựng lên, một chân dung lớn được thể hiện. Nhưng giá trị đích thực của tượng đài hoặc chân dung không ở quy mô to lớn mà ở thần khí toát ra từ đó. Khi quan sát “Tượng đài Triết gia Trần Đức Thảo” do bạn dựng nên, tôi thấy một bóng mờ của triết gia lớn (vì tôi không phải là triết gia) và thấy rõ một con người bảo vệ học thuyết Marx. Đây có thể là cố ý của bạn hoặc do vô tình tạo ra như vậy. Điều này có lợi cho những ai muốn duy trì, kiên định Chủ nghĩa Mác- Lênin (CNML), họ nấp vào cái bóng đó để tiếp tục lừa dối thiên hạ. Ngược lại điều đó gây tác hại cho phong trào vận động dân chủ đang dùng thực tiễn và lý luận để chứng minh những sai lầm của CNML, đang muốn thay đổi thế chế.

Tôi viết nghi vấn trên đây là dựa vào ý 15 trong Tự bạch của người biên soạn.

Một nghi vấn nữa là cái chết của GS Thảo. Theo sách Triết gia Trần Đức Thảo…, nguyên nhân gần gây ra cái chết của GS là cú vấp ngã ở cầu thang, tạo nên một số chấn thương.

Theo PNK: “Bác Thảo hằng ngày vẫn có nếp ăn uống rất tinh khiết, không bao giờ ăn thức ăn cũ. Vậy mà ngay xẩm tối hôm thứ năm ấy, bỗng bác bị “thượng thổ, hạ tả” như bị trúng độc: vừa nôn mửa vừa đại tiện tràn lan đến mệt lã đi”.

Sau đó GS được đưa vào phòng, tắm rửa, nghỉ ngơi. Khi xe cấp cứu đến, bác sĩ của toán cấp cứu hỏi, cán bộ sứ quán trả lời:

– Trước đó bệnh nhân đã làm gì để rồi rơi vào hôn mê?

– Ông ta trước đó, đã bị ngất xỉu rồi bị té ở cầu thang!

– Bị ngất xỉu đến té ngã như vậy, sao không thấy thương tích gì trên người?

– Cái đó thì tôi không rõ, nhưng ông ta cũng đã cao tuổi rồi và rất yếu.

Vậy cú vấp ngã (té) đóng vài trò gì trong cái chết của GS. Mà rồi không thấy nói gì đến việc khám nghiệm tử thi trước lúc hỏa táng.

Những nghi vấn trên tôi chỉ có thể nêu ra để người nào, cơ quan, tổ chức nào có điều kiện và trách nhiệm tiến hành điều tra, tìm ra sự thật. Nếu điều tra, chứng minh được những điều trong sách của PNK “Trần Đức Thảo- Những lời trăn trối” là bịa đặt thì phải công khai cho nhiều người biết để khỏi bị mắc lừa. Còn nếu như nội dung sách của PNK là trung thực thì sách của NTK, tưởng rằng đề cao được GS Thảo nhưng thực chất đã làm cho nhiều người không biết được đúng tư tưởng của ông vào cuối đời và sự phản tỉnh của ông, cuốn sách vừa đề cao, vừa làm nhục ông. Câu cuối cùng trong Lời giới thiệu cuốn sách, Nguyễn Trọng Chuẩn viết: “Cũng chắc chắn là Trần Đức Thảo còn là một hiện tượng triết học cần được tranh luận trong thế kỷ XXI”. Phải chăng có ý ám chỉ đến các nghi vấn vừa nêu.

N.Đ.C.

_______

PHAN CHÂU TRINH VÀ 10 BI AI CỦA DÂN TỘC

PHAN CHÂU TRINH VÀ 10 BI AI CỦA DÂN TỘC
Bùi Quang Minh

Phan Châu Trinh (1872-1926) là bậc hào kiệt đi đầu trong vận động chấn hưng dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX, là nhà cách mạng xã hội, có tư tưởng dân chủ đầu tiên, là nhà văn hóa, một nhân cách lớn. Phan Châu Trinh là một tấm gương sáng trong phong trào Duy Tân đầu thế kỷ 20. Ông là một nhà nho yêu nước có nhiều suy nghĩ tiến bộ. Có thể xem ông là người có tư tưởng dân chủ sớm nhất trong số các nhà nho yêu nước tiến bộ đầu thế kỷ.

Đặc biệt hơn nữa, ông chọn con đường dấn thân tranh đấu nhưng ôn hòa, bất bạo động. Ông coi dân chủ cấp bách hơn độc lập và coi việc dùng luật pháp, cai trị quy củ có thể quét sạch hủ bại phong kiến.

Với tinh thần yêu nước nồng nàn, suốt đời gắn bó với vận mệnh đất nước, với cuộc sống sôi nổi, gian khó và thanh bạch, ông xứng đáng để hậu thế ngưỡng mộ, noi theo ngày hôm nay…

Phan Châu Trinh là người Việt Nam đầu tiên đã nhìn thấy trước cảnh “dịch chủ tái nô” (Đổi chủ nhưng Dân vẫn là Nô lệ)… Để tránh điều này, ông đã chỉ ra con đường giành độc lập – tự do cho dân tộc là phải bắt đầu từ “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”.

Lời tiên tri của ông xuất phát từ 10 nhận xét vô cùng tinh tế và chính xác về đặc điểm con người Việt Nam mà đối chiếu thực tế ngày nay vẫn còn nguyên, thâm căn cố đế. Tiếc thay các thế hệ nối tiếp nhau đến nay vẫn chưa thực hiện đúng theo lời lời giáo huấn của ông. Dẫu sao, chậm còn hơn không bao giờ, mỗi người Việt Nam chúng ta dù sống ở đâu và làm việc gì, còn trẻ hay đã già hãy chiêm nghiệm những lời dạy trên đây của bậc Tiền bối đáng kính của dân tộc.

Mười điều bi ai của dân tộc Việt Nam

1. Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày.

2. Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám.

3. Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc; thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con.

4. Trong khi họ có tinh thần đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; thì ta lại chỉ quen thói giành giật, lừa đảo nhau vì chữ lợi.

5. Trong khi họ biết bỏ vốn lớn, giữ vững chữ tín trong kinh doanh làm cho tiền bạc lưu thông, đất nước ngày càng giàu có; thì ta quen thói bất nhân bất tín, cho vay cắt cổ, ăn quỵt vỗ nợ, để tiền bạc đất đai trở thành vô dụng.

6. Trong khi họ biết tiết kiệm tang lễ, cư xử hợp nghĩa với người chết; thì ta lo làm ma chay cho lớn, đến nỗi nhiều gia đình bán hết ruộng hết trâu.

7. Trong khi họ ra sức cải tiến phát minh, máy móc ngày càng tinh xảo; thì ta đầu óc thủ cựu, ếch ngồi đáy giếng, không có gan đua chen thực nghiệp.

8. Trong khi họ giỏi tổ chức công việc, sắp xếp giờ nghỉ giờ làm hợp lý, thì ta chỉ biết chơi bời, rượu chè cờ bạc, bỏ bê công việc.

9. Trong khi họ biết gắng gỏi tự lực tự cường, tin ở bản thân; thì ta chỉ mê tín nơi mồ mả, tướng số, việc gì cũng cầu trời khấn Phật.

10. Trong khi họ làm việc quan cốt ích nước lợi dân, đúng là “đầy tớ” của dân, được dân tín nhiệm; thì ta lo xoay xở chức quan để no ấm gia đình, vênh vang hoang phí, vơ vét áp bức dân chúng, v.v…

 
Nguồn: Fb BQM

Mây thẻ