"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Tư, 2017

Linh mục Nguyễn Duy Tân gặp viên chức Toà Đại Sứ Hoa Kỳ

Linh mục Nguyễn Duy Tân gặp viên chức Toà Đại Sứ Hoa Kỳ

  
Linh mục Nguyễn Duy Tân gặp viên chức Toà Đại Sứ Hoa KỳLinh mục Nguyễn Duy Tân và Viên chức chính trị Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Hà Nội.
Vào ngày 28 tháng 4 năm 2017, linh mục Nguyễn Duy Tân đã có cuộc gặp với cô Pamela R.D.Pontius – Viên chức chính trị Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Hà Nội để trao đổi các vấn đề liên quan đến tự do tôn giáo và vi phạm nhân quyền ở Việt Nam.
.
Linh mục Nguyễn Duy Tân cho biết buổi làm việc với vị đại diện Toà đại sứ Hoa Kỳ gồm ba nội dung: (1) Trường hợp của bác Vương Văn Thả ở tỉnh An Giang. (2) trường hợp 12 người ở Đồng Nai không được nhà cầm quyền cấp hộ khẩu. (3) Trường hợp của linh mục Nguyễn Duy Tân bị nhà cầm quyền tỉnh Nghệ An đề nghị không được dâng lễ ở các nhà thờ thuộc giáo phận Vinh, và bị phạt 20 triệu đồng vì đăng những bài viết lên trang Facebook cá nhân.
.
Linh mục Tân tường thuật thêm về buổi họp: “Đối với trường hợp nhà bác Vương Văn Thả, cô Pamela R.D.Pontius cho biết toà đại sứ Hoa Kỳ vẫn luôn quan tâm theo dõi. Vừa qua, Toà đại sứ cũng đã gọi điện tới chính quyền tỉnh An Giang và đề nghị chính quyền hãy đối xử  nhân đạo với gia đình Bác, vì trong nhà có người già và trẻ em.
Phía Toà đại sứ cũng đã hứa là sẽ giúp đỡ trong việc gây áp lực để nhà cầm quyền tỉnh Đồng Nai phải cấp hộ khẩu cho 11 hộ gia đình giáo xứ Thọ Hoà ở tỉnh Đồng Nai.
Còn trường hợp của tôi thì phía Toà đại sứ cũng đã ghi nhận và sẽ tiếp tục quan sát, theo dõi tình hình. Vấn đề đặt ra là tại sao người Việt không biết yêu người Việt mà cứ phải nhờ người Mỹ can thiệp?”
.
Ông Vương Văn Thả sinh năm 1969, là tín đồ của Phật Giáo Hòa hảo (PGHH) tại xã Vĩnh Hậu, huyện An Phú, tỉnh An Giang. Hiện nay ông Thả muốn thành lập nhánh riêng để truyền dạy đạo pháp nhưng bị nhà cầm quyền tỉnh An Giang đã khủng bố tinh thần cả gia đình.
.
Chính quyền đã cho người ném đá, đe doạ tính mạng những người thân, ngăn cấm những người xung quanh tiếp cận với gia đình ông Vương Văn Thả. Chịu sức ép từ phía nhà cầm quyền nên ông Thả đã thông báo là sẽ tự sát nếu bị nhà cầm quyền xông vào bắt bớ, đánh đập người thân trong gia đình ông.
.
Về linh mục Nguyễn Duy Tân, trước đó ông đã bị công an tỉnh Đồng Nai mời làm việc 15 lần, bị phạt 20 triệu đồng vì có nhiều bài viết lên án bất công trong xã hội và nhiều hoạt động đấu tranh cho công lý – hoà bình – sự thật.
.
Nguyên Nguyễn / SBTN
Advertisements

Việt Nam bị xếp vào nước hoàn toàn không có tự do thông tin 28.4.17

Việt Nam bị xếp vào nước hoàn toàn không có tự do thông tin

28.4.17

 Việt Hà, phóng viên RFA
2017-04-26
Bản đồ tự do thông tin do tổ chức Phóng viên Không biên giới cung cấp, Việt Nam nằm trong số các nước bị bôi đen.

Bản đồ tự do thông tin do tổ chức Phóng viên Không biên giới cung cấp, Việt Nam nằm trong số các nước bị bôi đen.

 RFA photo
*
Tổ chức Phóng viên Không biên giới có trụ sở tại Pháp hôm 26 tháng 4 công bố bản báo cáo hàng năm về tình hình tự do thông tin trên toàn thế giới. Báo cáo năm nay cho thấy một bức tranh ảm đạm của tự do thông tin ở nhiều nước trên thế giới bao gồm cả ở những nước phát triển, và đặc biệt đáng lo ngại ở những nước vốn luôn bị xếp vào những nước cuối bảng hàng năm của tổ chức này, trong đó có Việt Nam.
.
Tình trạng trì trệ
Trong số 180 nước được điều tra trong báo cáo thường niên về tình hình tự do thông tin toàn cầu của tổ chức Phóng viên Không biên giới năm 2017, Việt Nam đứng thứ 175 với điểm số là 73.96, tức là không có thay đổi về thứ hạng so với năm ngoái và chỉ có một thay đổi rất nhỏ về điểm số là 0.31 so với năm ngoái. Nếu nhìn vào bản đồ tự do thông tin do tổ chức Phóng viên Không biên giới cung cấp, Việt Nam nằm trong số các nước bị bôi đen, tức là hoàn toàn không có tự do thông tin.
.
Bản báo cáo năm 2017 dựa vào những số liệu và thông tin của toàn bộ năm 2016 ở từng nước.
.
Đảng Cộng sản vẫn tiếp tục đối xử tàn tệ đối với các blogger và những người lên tiếng về nhân quyền. 
– Benjamin Ismail
Nhận xét về tình hình của Việt Nam trong năm 2016, ông Benjamin Ismail, phụ trách khu vực châu Á của tổ chức Phóng viên Không biên giới, cho đài Á châu Tự do biết:
Thực tế chúng ta đang đối với một tình trạng trì trệ. Nhìn chung cũng giống như năm trước. Một cải thiện rất nhỏ thể hiện qua điểm số so với năm ngoái. Báo cáo này dựa vào các số liệu và thông tin mà chúng tôi thu thập được từ các blogger, nhà báo trong nước để đánh giá tình hình Việt Nam.
Chúng tôi tổng hợp tình hình vi phạm tự do báo chí trong suốt cả năm. Những tấn công, đàn áp, sách nhiễu nhắm vào những người cung cấp thông tin đều được tính vào điểm số. Điểm số năm nay có thể tốt hơn một chút xíu so với giai đoạn năm 2015 là năm mà nhiều nhà báo, blogger bị tấn công bởi công an thường phục và đồng phục. Nhưng nhìn chung thì tình hình không thay đổi. Đảng Cộng sản vẫn tiếp tục đối xử tàn tệ đối với các blogger và những người lên tiếng về nhân quyền. Họ không chấp nhận bất cứ những chỉ trích nào.
.
Phóng viên Không biên giới nhìn nhận vai trò đưa tin của các blogger, người dân, mạng xã hội trong suốt năm 2016, điển hình là sau thảm họa môi trường do Formosa gây ra. Nhưng những hoạt động này đã bị chính quyền đàn áp thẳng tay. Ông Benjamin Ismail nói tiếp
Những hoạt động này đã không được chính phủ chấp nhận. Những nhà báo đã bị tạm giữ, một số bị hành hung vì họ tìm cách đưa tin.
.
Theo Phóng viên Không Biên Giới, tính đến cuối năm 2016, vẫn có ít nhất khoảng 17 blogger bị cầm tù ở Việt Nam, giảm hơn so với con số 35 người được tổ chức này đưa ra vào năm 2013. Người đại diện của Phóng viên Không Biên Giới cho rằng điểm số cải thiện không đáng kể trong năm 2016 của Việt Nam có thể là do số blogger được trả tự do từ sau năm 2013 đến năm 2016, nhưng theo ông con số này còn quá nhỏ để cho thấy một sự cải thiện rõ ràng.
.
Phóng viên Không Biên Giới cho rằng những blogger được trả tự do trong thời gian vừa qua là vì hoặc đã thụ hết án tù, hoặc được thả trong các trao đổi ngoại giao và phải ra nước ngoài. Tuy nhiên Phóng viên Không Biên giới cảnh báo vẫn còn những blogger đang bị giam giữ chưa bị xét xử nên số blogger bị cầm tù sẽ có thể tăng lên trong thời gian tới. Nói về sức ép của quốc tế lên Việt Nam, ông Benjamin Ismail cho biết:
Một số blogger được thả đặc biệt trong năm 2014 sau khi Việt Nam phải qua phiên kiểm điểm định kỳ ở Liên Hiệp Quốc là do sức ép của quốc tế nhưng từ năm 2015, đảng Cộng sản lại tiếp tục đàn áp các bloggers và nhiều người trong số họ, các nhà hoạt động nhân quyền sau đó bị bắt và ra tòa vì các hoạt động nhân quyền của mình. Dường như chính quyền không có ý muốn thay đổi chính sách của mình.
.
Tự do thông tin và dân chủ trên toàn cầu đang suy giảm
Trong báo cáo đọc tại hội thảo về tự do thông tin ở tòa báo Washington Post tại Washington DC vào cùng ngày, bà Delphin Halgand, giám đốc khu vực Bắc Mỹ của Phóng viên Không Biên Giới nhận định tình hình tự do thông tin trên toàn cầu trong năm qua đang suy giảm khi 2/3 số nước trong bản báo cáo đều cho thấy những dấu hiệu đi xuống về tự do thông tin
.
Trong năm ngoái 2/3 số nước được điều tra trong báo cáo cho thấy sự xuống dốc. Ngay cả những nước hàng đầu như Phần Lan là nước 6 năm liền dẫn đầu bảng xếp hạng cũng đầu hàng.
.
Bà Delphin Halgand cho biết sự tấn công nhắm vào báo chí đang gia tăng ngay cả ở các nước phát triển như Mỹ và Anh. Nhưng điều đáng ngại hơn là nền dân chủ ở các nước Mỹ và châu Âu đang ở điểm bùng phát (tipping point).
.
Tổng số 21 nước đã bị bôi màu đen trên bản đồ năm 2017 vì tình hình ở đó được xác định là hết sức tồi tệ. 
– Bà Delphine Halgand
.
Báo cáo năm nay cho thấy một thế giới mà những tấn công vào truyền thông đã trở nên phổ biến và những kẻ mạnh (strong men) đang mạnh lên. Báo cáo năm nay nhấn mạnh điểm bùng phát trong tình hình tự do truyền thông, đặc biệt là ở những nước dân chủ hàng đầu.
.
Cả hai nước Mỹ và Anh trong báo cáo năm nay đều bị tụt hai hạng so với năm ngoái.
Theo bà Delphine Halgand, tình trạng xuống dốc của tự do truyền thông và dân chủ thể hiện trong báo cáo năm nay không có gì mới. Xu hướng này đã được ghi nhận từ năm ngoái. Tuy nhiên mức độ và tình trạng vi phạm tự do báo chí là điều đáng ngại ở nhiều nước.
.
Nhưng điều đáng ngại hơn theo tổ chức Phóng viên Không Biên Giới chính là số nước bị tô đen toàn bộ trong báo cáo năm nay, tức hoàn toàn không có tự do thông tin.
Tình hình đáng ngại đang trở nên tồi tệ, bản đồ tự do báo chí toàn cầu tối đen hơn. Tổng số 21 nước đã bị bôi màu đen trên bản đồ năm 2017 vì tình hình ở đó được xác định là hết sức tồi tệ.
.
Ba nước là Bắc Hàn, Eritrea và Turkmenistan tiếp tục duy trì vị trí cuối bảng trong 12 năm liên tiếp.

Đinh La Thăng, điều phải đến đã đến

Đinh La Thăng, Điều phải đến đã đến

 Bùi Quang Vơm

Hội nghị Trung ương 5 dự định diễn ra trong nửa đầu tháng 5/2017 có thể phải chuyển nội dung trọng tâm từ chuyên đề tăng trưởng và cân đối vĩ mô cho nền kinh tế đang có nguy cơ sụt giảm không thể cứu vớt, các chỉ tiêu lớn có khả năng bị phá sản, sang một vấn đề nóng bỏng và gay cấn hơn là vấn đề nhân sự, vốn là nội dung trọng tâm được sắp đặt cho Hội nghị Trung ương 6 dự kiến vào khoảng tháng 10/2017.

Ngày 27/04/2017 Uỷ ban Kiểm tra Trung ương công bố kiến nghị Bộ Chính trị kỷ luật Đảng đối với ông Đinh La Thăng, nguyên Bí thư, Chủ tịch Tập đoàn Dầu khí Việt Nam PVN, đương kim Bí thư Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh, Uỷ viên Bộ Chính trị.

Những gì phải đến đã đến và đang đến. Dù công bố của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương có hơi đột ngột, nhưng là công bố được chờ đợi từ lâu.

Đây có thể là phát súng đầu tiên của một chiến dịch có quy mô tổng hợp, được bắt đầu từ Nghị quyết 4 khoá XI năm 2012; nhưng ngay lúc đó ít ai hình dung được tính chất trầm trọng và quy mô chiến dịch tới mức độ như hiện đang bộc lộ.

Nghị quyết TW 4, ban hành ngày 16/01/2012, có viết “một bộ phận không nhỏ đảng viên hư hỏng, thoái hóa, biến chất, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”…

Cuộc vận động được ông Trọng phát động trong hàng ngũ lãnh đạo trung ương để kỷ luật một cán bộ cao cấp, được hiểu về sau này, là nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng cuộc bỏ phiếu tín nhiệm, ông Dũng được trên 75%, khiến kế hoạch kỷ luật của ông Trọng và những người ủng hộ ông thất bại, và trước micro, trước 200 uỷ viên Trung ương, trước hơn 90 triệu người dân, tại Hội nghị TƯ 6, ông Trọng uất ức đến phát khóc.

Cái uất ức ấy đã được ông Trương Tấn Sang chuyển thành thông điệp, như nói hộ cho ông “Dứt khoát phải tiến hành thành công. Ðó là mệnh lệnh của nhân dân. Không thể để Nghị quyết Trung ương 4 không thành công, là phụ lòng tin của dân, của Ðảng, là không vì lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc. Chúng ta không có con đường nào khác, chỉ có một lựa chọn duy nhất là phải thành công. Cho dù phải chấp nhận những biện pháp đau đớn cũng phải làm, vì đó là sự sống còn của Ðảng, của chế độ và tương lai tươi sáng của đất nước này”.

Đây chính là quyết tâm của Bộ Chính trị trên danh nghĩa chống tham nhũng, nhưng được thúc đẩy bằng sự thèm khát rửa hận của ông Trọng và ông Sang cùng những người mà vì lòng tham mê muội, gần cuối, ông Dũng đã biến họ thành kẻ thù.

Cái quyết tâm và nỗi khao khát đó là nền tảng của những kế hoạch được thành hình từ ngày đó, và mục tiêu của nó hướng tới điểm cuối cùng là ông Dũng.

Chính vì vậy mà tất cả những sợi dây liên kết với ông Dũng sẽ lần lượt được bóc tách.

Có thể thấy thế này:

Mũi số 1: Trịnh Xuân Thanh – Vũ Huy Hoàng – Đinh La Thăng – Nguyễn Tấn Dũng.

Mũi số 2: Vũ Kim Cự – Hoàng Trung Hải – Nguyễn Tấn Dũng.

Mũi số 3: Trầm Bê – Nguyễn Văn Bình – Nguyễn Tấn Dũng.

Cả 3 mũi “giáp công” hiện đang được đồng thời tiến hành, đều dẫn đến ông Dũng và để đòi món nợ “Trung ương 6”.

Còn những mũi khác, chẳng hạn như vụ kỷ luật bí thư và phó bí thư Hậu Giang đích thân xin Trịnh Xuân Thanh về làm phó chủ tịch tỉnh, vụ kỷ luật bí thư và phó bí thư Bình Định cố tình cơ cấu Nguyễn Minh Triết, con trai út ông Dũng, 24 tuổi, vào Ban chấp hành Tỉnh uỷ, chỉ là dẹp bỏ vây cánh của ông Dũng tại địa phương. Còn Tỉnh uỷ Kiên Giang nữa, Nguyễn Thanh Nghị có lẽ sắp phải nhận công tác khác.

Trong các kết luận của Uỷ ban Kiểm tra, ông Đinh La Thăng còn được ghi thêm tội tham mưu, đề xuất Thủ tướng cho chỉ định nhiều gói thầu không bảo đảm các điều kiện theo quy định của pháp luật. Điều này muốn nói rằng, nếu đề xuất một việc phạm pháp mà chịu kỷ luật, thì người ký duyệt quyết định phi pháp đó không thể không bị kỷ luật. Đây là phần sẽ dành cho ông Dũng, là cánh cửa hé mở tới chỗ ngài nguyên thủ tướng.

Tin rò rỉ mới nhất tiết lộ, Ban Bí thư đã quyết định hình thức cảnh cáo đối với ông Thăng. Cảnh cáo là mức kỷ luật nặng thứ hai sau mức khai trừ. Nó mở màn cho các quyết định cách chức hàng loạt chức danh khác. Cùng với Trịnh Xuân Thanh, ông Đinh La Thăng khó thoát được án ngồi tù.

Và nếu ông Vũ Huy Hoàng đã bị kỷ luật cách chức nguyên Bí thư Đảng Đoàn Bộ Công Thương, ông Vũ Kim Cự bị cách các chức nguyên Bí thư và nguyên Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh, thì ông Hoàng Trung Hải, ông Nguyễn Tấn Dũng làm sao thoát kỷ luật nguyên Phó Thủ tướng và nguyên Thủ tướng.

Người ta đã thắc mắc và không hiểu cái trò kỷ luật quá khứ, kỷ luật chức vụ không còn giữ nữa là trò chơi gì, ai là tác giả của cái trò quái dị này. Bây giờ mới ngộ ra rằng, đích ngắm của nó là ông Dũng. Ông Dũng sẽ bị cách chức nguyên Thủ tướng.

Đây thực chất là cái kỷ luật mà ông Dũng phải chịu từ ngày 15/01/2012, vì thực ra các quyết định kỷ luật ông đã được dự thảo ngay tại Hội nghị Trung ương 6, nghĩa là kỷ luật thì thuộc quá khứ, nhưng bây giờ mới công bố. Nghĩa là ông Trọng không hề thất bại. Và sự ngạo mạn xuẩn ngốc của ông Dũng phải trả giá. Ông sẽ bị tước hết mọi thứ kể từ ngày đó. Ông đã vênh vênh đi ra khỏi phòng họp, nhưng không phải ông là người thắng cuộc. Ông Dũng phải hiểu như vậy.

Sau khi bị kỷ luật Đảng, hồ sơ sẽ được truy cứu tiếp. Tiếp theo là các căn cứ hình sự sẽ được “phát hiện”, và không ai dám chắc, ông Dũng liệu có thoát được một cái án tù 10 năm không, vì một là, những dấu hiệu chứng minh ông Dũng trực tiếp tham nhũng không thiếu, hai là, khi đã truy xét trách nhiệm, thì thiệt hại hàng triệu tỷ đồng của ngân quỹ quốc gia, do nguyên nhân tham nhũng của bộ máy Chính phủ, không có vụ tham nhũng nào nằm ngoài trách nhiệm của ông Dũng. Vả lại, đã đến nước cùng, ông Vũ Huy Hoàng và ông Đinh La Thăng cũng sẽ tự tìm cách gỡ tội. Không lẽ chỉ có hai ông này tẩu tán hết 7 tỷ đôla tiền lãi do trượt giá dầu khí những năm 2009-2011.

Nhưng cho đến thời điểm này, người ta có lẽ vẫn chưa xác quyết được kẻ phát hiện ra số tiền 7 tỷ đô nằm nghỉ trong két Tập đoàn Dầu khí những năm 2007-2008 là ông Dũng hay ông Vũ Huy Hoàng. Đây là số tiền lãi trời cho chỉ do giá dầu thế giới tăng vọt từ 50 lên xấp xỉ 140 đô la một thùng. Tiền vào két mà không phải chi phí nào phát sinh, thì chỉ cần một động tác kế toán là xong, có thể rút ra một cách an toàn. Ông Dũng vốn chỉ có sẵn lòng tham, chứ nghiệp vụ kế toán, chưa chắc ông biết được gì. Cho nên, nhiều suy đoán cho là kẻ phát hiện được số tiền này và nghĩ ra được cách tẩu tán nó, là ông Vũ Huy Hoàng và ông kế toán trưởng của Bộ Công Thương, vì chính hai vị này là chủ quản vốn nhà nước tại PVN.

Nhưng phát hiện ra Đinh La Thăng lại là thiên tài của ông Dũng.

Ông Thăng vừa có kinh nghiệm 7 năm kế toán trưởng siêu Tổng Công ty Sông Đà, vừa có kinh nghiệm 5 năm Tổng Giám đốc. Vừa biết cách rút tiền, vừ biết lấp liếm bằng sổ sách kế toán.

Theo kế hoạch của ông Thăng, một sự phối hợp nhịp nhàng bắt đầu. Ông Dũng phát hành quyết định quy chế Tập đoàn Đa ngành, cho phép các tập đoàn đầu tư ngoài nghiệp vụ chính. Ông Thăng trình Thủ tướng phê duyệt hàng loạt dự án, từ đó cho ra đời hàng loạt Ban Quản lý dự án và một đầu mối quan trọng nhất là Tổng Công ty xây lắp PVC của Trịnh Xuân Thanh. Tiền trong két PVN được rót xuống cho các Ban Quản lý, rồi từ các Ban Quản lý chuyển cho Tổng Công ty xây lắp. Tổng Công ty xây lắp thành lập hàng loạt công ty thi công xây lắp và các thầu phụ. Tiền từ Tổng Công ty xây lắp PVC giải ngân thanh toán cho các công ty thi công và thầu phụ xây lắp. Từ đây, tiền thanh toán cho các công ty ma và các khối lượng xây lắp khống sẽ quay trở lại PVC cho Trịnh Xuân Thanh. Trịnh Xuân Thanh là người trực tiếp phân phối lại cho toàn bộ hệ thống. Như vậy, Trịnh Xuân Thanh là người biết tất cả, ít nhất cũng tới chỗ ông Đinh La Thăng. Từ ông Đinh La Thăng tới ông Vũ Huy Hoàng và ông Nguyễn Tấn Dũng, ông Thanh chắc chắn biết, nhưng biết một cách cụ thể, thì chỉ có ông Thăng và tay hòm chìa khoá của ông Thăng là Vũ Đức Thuận.

Những chuyện tày đình này, ông Vũ Văn Ninh, Bộ trưởng Tài chính lúc đó có biết không? Có thể khẳng định được rằng là có, vì sau khi ông Thăng được thuyên chuyển về bộ Giao thông, ông Ninh tiếp tục lên Phó Thủ tướng phụ trách tài chính.

Ngoài những nguồn khác, có thể một trong những người phát hiện ra vụ việc là ông Vương Đình Huệ, lúc đó là Tổng Kiểm toán Nhà nước.

Điều đáng được nhắc lại là tại Đại hội 12, theo tin từ dư luận, để loại ông Dũng ra khỏi Trung ương, ông Trọng và Bộ Chính trị đã phải nhượng bộ ông Dũng bằng cách chấp nhận cơ cấu ông Nguyễn Văn Bình, ông Đinh La Thăng và ông Hoàng Trung Hải vào Bộ Chính trị. Vì vậy mới có chuyện lội ngược dòng của 3 ông này mà theo phỏng đoán của dư luận thì phải ra khỏi Đảng.

Tuy nhiên, Bộ Chính trị đã đẩy hai ông Hải và Thăng xuống hai thành phố, với ý định cách ly Ban Bí thư, nơi hình thành và sản sinh các quyết định của Bộ Chính trị, còn ông Bình, sau một thời gian rất lâu không được phân công, cuối cùng, nhận Ban Kinh tế, và sau đó thì được giao đặc trách khu Tây Bắc.

Như vậy, sau kỷ luật của ông Đinh La Thăng, không biết ông Trọng có đi tới tận cùng không, nghĩa là cả ông Hải lẫn ông Bình sẽ ra khỏi Bộ Chính trị?

Vì chính ông Trọng từng nói, “chống tham nhũng là ta đánh ta”, nghĩa là ông đang làm yếu chính ông, hay đang làm yếu cái Đảng Cộng sản mà ông đang là người đứng đầu. Hội nghị Trung ương 6 đứng trước một khó khăn khó có lời giải thoả đáng.

Vụ án PVN sắp tới cùng với 12 vụ đại án phải xét xử trong năm nay sẽ còn đưa hàng nghìn đảng viên, kể cả đảng viên cốt cán vào tù, gây ra một tâm lý hoảng loạn, nghi kị nội bộ, chỉ còn lo việc che chắn, lợi dụng cơ hội hại nhau và chiếm chỗ của nhau, cả hệ thống sẽ tê liệt, không còn ai quan tâm tới sản xuất.

Những đảng viên nếu biết làm, thì không thể không biết biển thủ công quỹ và trở thành xấu. Những đảng viên còn tốt, chỉ là những đảng viên không biết làm, tức là những đảng viên vô dụng.

Trước mắt, phải thay bí thư Sài Gòn. Ông Nguyễn Thành Phong nếu lên bí thư, thì ông Tất Thành Cang sẽ lên phó bí thư, chủ tịch thành phố. Phương án này ít tốn kém và ít tổn hại nhất, nhưng cần có sự thoả hiệp giữa ông Phong và ông Cang. Mặc dù cùng có xuất thân “thanh niên”, nghĩa là cùng thuyền với Lê Thanh Hải trước đây, nhưng ông Phong về Sài Gòn trên danh nghĩa đặc phái viên của ông Trọng, nhằm cùng với ông Võ Văn Thưởng giải giáp ông Lê Thanh Hải, trong khi ông Cang và ông Võ Tiến Sĩ, Bí thư Quận 5, là hai nhân vật được coi là con tin của ông Hải nằm lại trong hệ thống mới. Giải pháp cách mạng triệt để sẽ là ông Võ Văn Thưởng bí thư, ông Nguyễn Thành Phong tiếp tục phó bí thư, chủ tịch. Đây là phương án hoàn hảo, Bộ Chính trị sẽ nắm hoàn toàn thành phố, loại được mầm cát cứ. Nhưng Ban Tuyên giáo, nếu không quay lại cho ông Đinh Thế Huynh thì nguy cơ rơi vào tay ông Trương Minh Tuấn, đúng ý của phái cơ hội bảo thủ, sẽ là một thảm hoạ cho chế độ, tuyệt đường cải cách.

Nếu phải bầu bổ sung Bộ Chính trị lấp vào chỗ cả ba ông Thăng, Hải, Bình, thay bí thư, phó bí thư cho các tỉnh Hậu Giang, Bình Định, và Kiên Giang, có thể cả Lai Châu, cùng với việc đi hay ở của ông Trọng, thì Hội nghị Trung ương 6 sẽ gần như một hội nghị trù bị cho một Đại hội giữa nhiệm kỳ vào đầu hay giữa năm 2018.

Nếu bỏ qua mục đích trả thù cá nhân ông Dũng, khiến ông Trọng phải lao tâm khổ tứ (thực chất là “một công đôi việc”), những diễn biến từ sau Đại hội 12 cho thấy, ông Trọng và Bộ Chính trị có quyết tâm chống tham nhũng rất lớn với tham vọng làm trong sạch Đảng, bằng cách đó củng cố vị thế của Đảng và bảo vệ sự tồn tại của chế độ.

Cái tâm huyết mà ông dồn vào đấy, một mặt cho thấy ông trong sạch, ông thậm chí kỷ luật ông Cự với máu lạnh, chỉ vì có một tấm ảnh ghi hình ông Cự ghé tai ông như chuyện thầm thì giữa hai kẻ đồng loã. Nhưng mặt khác chứng tỏ ông là một người giáo điều mụ mẫm. Ông vẫn giữ một đức tin không lay chuyển rằng, tham nhũng có nguồn gốc đạo đức, và chỉ cần cải tạo đạo đức là thủ tiêu được tham nhũng. Đạo đức là sản phẩm của giáo dục, trong khi tham nhũng là thuộc tính bản năng. Bằng giáo dục đạo đức, tham nhũng có thể giảm, nhưng chỉ buông lỏng giáo dục, tham nhũng bùng phát trở lại. Tham nhũng thực chất là ăn cắp. Luật Phòng chống tham nhũng định nghĩa: tham nhũng là lợi dụng quyền chức để chiếm đoạt của công. Như vậy chống tham nhũng trước hết là kiểm soát quyền lực. Muốn kiểm soát quyền lực thì pháp luật phải độc lập. Tư pháp, cảnh sát và toà án phải được phi chính trị hoá, không có tính Đảng, độc lập với quyền lực chính trị, không chịu sự lãnh đạo của bất cứ đảng phái, hay giáo phái nào. Thứ hai là không để bất cứ tài sản nào là tài sản công. Vì tài sản công với đối tượng nào đó, trong phạm vi nào đó là một thứ tài sản vô chủ, có thể biến được thành của riêng. Đất đai và tài sản trong các doanh nghiệp nhà nước chính là các tài sản công. Như vậy, chống tham nhũng chỉ có hai việc, một là tam quyền phân lập, tối thiểu là độc lập tư pháp, hai là tư hữu hoá đất đai và tài sản công.

Muốn chống những kẻ tham nhũng như ông Dũng, thì thứ nhất là cơ quan điều tra phải độc lập với Chính phủ và pháp luật có thể bỏ tù được ông Dũng, thứ hai là không có cái khoản tiền như khoản 7 tỷ đô la tiền xuất khẩu dầu khí, gọi là tiền quốc gia, nhưng thực chất là vô chủ, để ông Dũng và tay chân của ông ta nổi máu tham.

Ông Thăng, ông Dũng và những gì trái lòng người không thể không bị phán xử. Cái phải đến đã đến và sẽ còn đến.

Nhưng một cái tất đến khác, cái tất đến lớn hơn, là một nền dân chủ đích thực cho dân tộc Việt Nam cũng sẽ đến và thực sự đang đến. Bởi đơn giản là cái độc Đảng chuyên chế và cái sở hữu toàn dân là những cái không hợp quy luật tự nhiên và trái lòng người, sẽ tự nó biến mất.

B.Q.V.

Tác giả gửi BVN.

Cuộc đối đầu giữa Công giáo và Cộng sản

Cuộc đối đầu giữa Công giáo và Cộng sản

Phong Phạm (Danlambao) – Cuộc đối đầu của 2 lực lượng Công giáo và Cộng sản hiện đang ngày càng rõ nét. Sau nhiều thập niên ẩn mình, cũng như đã chịu nhiều bách hại từ nhà cầm quyền CSVN, Công giáo mà đặc biệt là tại các địa phương ở miền Trung và miền Bắc, nơi ý thức tôn giáo và lòng sùng kính Thánh giá đặc biệt hăng say, nhưng cũng là những nơi chịu rất nhiều đau khổ từ những vụ hạch sách, đàn áp dưới ách cộng sản trong nhiều thập niên. Nay, Công giáo đã lấy lại tư thế, trở nên can đảm hơn, rõ ràng hơn và dần dần trở thành lực lượng đối đầu mạnh mẽ và kiên quyết nhất đối với nhà cầm quyền CSVN.

Trên thực tế, mối quan hệ này chưa bao giờ được êm ả, cho dù gần đây vẫn có những giao tiếp về ngoại giao và các cuộc thăm viếng của những người cầm đầu của nhà nước CSVN đến Vatican và ngược lại.

Một phần của những mâu thuẫn vẫn chưa được giải quyết này là việc: sau năm 1975 CSVN đã buộc đóng cửa nhiều nhà thờ, quốc hữu hóa nhiều cơ sở của Giáo hội Công giáo trên danh nghĩa là tiếp quản (?), dùng danh nghĩa trưng thu hoặc mượn nhưng thực tế là cướp đoạt. Việc trưng dụng đất đai của nhà cầm quyền CSVN là một trong những nguyên nhân chính làm cho mối quan hệ giữa đảng / nhà nước cộng sản và Giáo hội Công giáo rạn nứt trầm trọng. Ở miền Nam Việt Nam, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, rất nhiều đất đai, tài sản của Giáo hội Công giáo cũng như các tôn giáo khác bị nhà nước cộng sản trưng dụng vào những mục đích khác nhau. Chỉ riêng giáo phận Sài Gòn, đã có hơn 400 cơ sở và rất nhiều đất đai và tài sản khác của giáo hội Công giáo bị chiếm đoạt và tịch thu, còn tại Hà Nội thì hơn 95 cơ sở bị cướp đoạt.

Mặt khác, với chủ trương đàn áp Công giáo của CSVN ngay từ những năm tháng sau khi cướp chính quyền, và họ chưa từng bao giờ từ bỏ ý định đó, đã dẫn đến tình trạng đối đầu trong âm thầm giữa Nhà nước CS và giáo hội Công giáo VN trong nhiều thập niên và sự căng thẳng này chưa bao giờ chấm dứt.

Thêm vào đó, đặc tính của Công giáo và người Công giáo, do chịu ảnh hưởng của văn hóa Tây phương, nên suy nghĩ và tôn chỉ cuộc sống rất hướng ngoại.

Công giáo tham dự tích cực vào cuộc sống và cộng đồng với ước vọng xây dựng cộng đồng và làm thăng tiến cuộc sống trên niềm tin Công giáo. Thoạt nhìn, có vẻ như mang màu sắc chính trị. Tuy nhiên, nếu trong một xã hội hiện đại và đặc biệt là trong thời điểm hiện tại, trên thế giới đang nhiệt liệt cổ vũ cho lý tưởng gây dựng Xã hội Dân sự (XHDS), nơi mà người Dân có thể tham gia tích cực vào những hoạt động của xã hội để mang lại lợi ích cho cộng đồng, bản thân, và gia đình cũng như tương lai của con cái họ, thì những hoạt động của Công giáo, cũng mang hình thức tương tự, đã gây sự sợ hãi cho chế độ độc tài CSVN. Từ đó CSVN gia tăng đàn áp, đánh phá và gia tăng sự đối đầu, đặc biệt là tại những vùng địa phương của miền Trung, nơi kinh tế kém phát triển và đời sống của người dân rất khó khăn.

Sự đối đầu này rồi sẽ đưa đến những gì thì ta không nên võ đoán. Tuy nhiên, với bề dày lịch sử tồn tại trên cả ngàn năm của Công giáo, với kinh nghiệm từ những kết cục bi thảm của những chế độ độc tài và cá nhân độc tài trên thế giới, cộng với mối tương quan lực lượng: đảng CSVN có 4, 5 triệu đảng viên vào năm 2016, Công giáo có 6,18 triệu tín đồ vào năm 2008 (từ năm 2008 đến nay không có số liệu), thì chắc bạn đọc đã đoán trước được cái kết quả sẽ là như thế nào.

01.03.2017

Phong Phạm

danlambaovn.blogspot.com

 

Ngày 30 tháng Tư

Ngày 30 tháng Tư

 BVN 30/4

Phạm Đình Trọng

Từ mấy năm nay, cứ gần đến ngày 30 tháng Tư tôi đều phải rời căn hộ dịu mát, thoáng đãng, từ đó phóng tầm mắt ôm được cả một khoảng rộng Sài Gòn bừng sáng những tòa tháp cao tầng như những tòa ánh sáng. Từ mấy năm nay, cứ đến gần ngày 30 tháng Tư tôi lại phải rời bỏ nếp sinh hoạt ổn định hàng ngày rồi hấp tấp khăn gói lưu vong khỏi Sài Gòn. Từ nhiều năm nay cứ đến ngày 29, 30 tháng Tư cả đám an ninh cộng sản lại đến bủa vây quanh nơi tôi ở. Tôi phải lưu vong mấy ngày đó để thoát khỏi sự giam hãm.

Những ngày cả Sài Gòn giăng cờ, kết hoa, rực rỡ đèn đuốc chào mừng ngày 30 tháng Tư được những người cộng sản gọi là Ngày Giải phóng miền Nam thì an ninh cộng sản lại đến giam cầm tôi ngay giữa “Sài Gòn giải phóng”.

Vậy thực sự ngày 30 tháng Tư, năm 1975 có phải là ngày nửa dải đất phía Nam của Tổ quốc Việt Nam được giải phóng không?

Giải phóng đích thực, giải phóng có giá trị lớn lao, thiết thực nhất phải là giải phóng con người, giải phóng tư duy, giải phóng sự sáng tạo của con người và giải phóng sức phát triển của xã hội.

Ngày 30 tháng Tư năm 1975 cả triệu người Việt Nam dù yêu nước cháy bỏng cũng phải bỏ nhà cửa, bỏ tài sản, bỏ cả mồ mả ông bà, bỏ nước ra đi trốn chạy những người nhân danh là người yêu nước nhưng chỉ biết có ý thức hệ cộng sản, trốn chạy những người mang chuyên chính vô sản sắt máu vay mượn từ nước ngoài về nô dịch cả dân tộc. Ngày 30 tháng Tư năm 1975 mang đến mất mát uất hận lớn như vậy cho cả triệu người Việt Nam làm sao có thể gọi là Ngày Giải phóng?!

Với biến cố 30 tháng Tư năm 1975, hàng trăm ngàn người dân miền Nam trở thành người tù trong những trại tập trung cải tạo, hàng triệu người thân của họ phải bỏ nhà cửa êm ấm, bỏ cuộc sống đầy đủ tiện nghi, lếch thếch đi lưu đày nơi đầu rừng cuối bãi hoang vu, khắc nghiệt với cái tên trá hình là đi xây dựng khu kinh tế mới.

Với biến cố 30 tháng Tư năm 1975, nền công nghiệp non trẻ nhưng hiện đại, đầy sức sống và đang phát triển mạnh mẽ của miền Nam bị đánh sập. Những người chủ tài năng đã dựng nên cơ nghiệp cho gia đình, tạo ra nền công nghiệp tươi sáng cho đất nước phải giao nhà máy cho Nhà nước Cộng sản, giao tài sản mồ hôi nước mắt cho những cán bộ vô sản không có kiến thức kinh tế, không biết quản lí, điều hành sản xuất. Từ đó nhà máy hoạt động không hiệu quả, kinh doanh thua lỗ, sản xuất đình đốn, công nhân thất nghiệp. Sự dốt nát và vô trách nhiệm của những ông chủ vô sản đã tàn phá, xóa sổ cả một nền công nghiệp hiện đại đầy triển vọng rực rỡ của miền Nam.

Từ biến cố 30 tháng Tư năm 1975, người kinh doanh lớn không được hoạt động. Chỉ còn những người buôn bán cò con, mua đầu chợ bán cuối chợ. Không còn kinh tế thị trường, chỉ còn nền kinh tế tự cấp tự túc từ thời mông muội xa xưa. Nghề thủ công và nghề làm ruộng cần sự cần cù, chịu thương chịu khó và sự sáng tạo cùng kinh nghiệm cá nhân thì hai nghề này phải vào hợp tác xã, chịu sự quản lí của cán bộ cộng sản quan liêu, tham nhũng và thành quả lao động bị mang chia đều, bình quân, làm cho người sản xuất không còn gắn bó với công việc, không còn cần đến sự cần cù, sáng tạo nữa. Miền Nam từ vựa lúa xuất khẩu gạo nay chính người làm ra hạt gạo cũng không có đủ gạo ăn. Người làm ra hạt gạo còn đói thì cả nước đương nhiên phải đói.

Từ biến cố 30 tháng Tư năm 1975, con người miền Nam bị quản lí theo chế độ nô dịch, nền sản xuất miền Nam bị tàn phá và kìm hãm thì không thể coi ngày 30 tháng Tư là Ngày Giải phóng miền Nam.

Ngày 30 tháng Tư hàng năm, tôi cùng hàng ngàn người Việt Nam nói tiếng nói trung thực đòi tự do dân chủ, đòi những giá trị làm người đã bị bộ máy công cụ bạo lực nhà nước cộng sản Việt Nam đến bủa vây, giam cầm tại nhà thì ngày 30 tháng Tư càng không thể là Ngày Giải phóng.

Ngày 30 tháng Tư năm 1975 là ngày thống nhất đất nước, giang sơn thu về một mối ư? Đất nước thống nhất trước hết phải thống nhất trong lòng người. Từ 30 tháng Tư năm 1975, người Việt Nam bị chia rẽ đau đớn và sâu sắc nhất chưa từng có trong lịch sử hiển hách bốn ngàn năm dựng nước của dân tộc Việt Nam.

Ngay cả thời Pháp đô hộ Việt Nam với chính sách chia để trị, Pháp chia đất nước Việt Nam thành ba kì với ba chế độ chính trị khác nhau thì người Việt Nam ở Bắc Kì và người Việt Nam ở Nam kì vẫn thương yêu đùm bọc nhau trong tình cảm đồng bào ruột thịt. Câu ca dao thương yêu của ông bà từ ngàn xưa để lại vẫn được cả người Bắc Kì lẫn người Nam Kì mang ra dạy bảo con cháu: Nhiễu điều phủ lấy giá gương / Người trong một nước phải thương nhau cùng.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, văn hóa yêu thương của ông bà để lại đã bị thay thế bằng văn hóa hận thù. Dân tộc Việt Nam yêu thương bị phân chia thành giai cấp đối kháng, phân chia thành trận tuyến ta – địch. Người dân bị đẩy vào cuộc đấu tranh giai cấp giả tạo mà đẫm máu và triền miên. Người dân nói tiếng nói yêu nước thương nòi mà động chạm đến tội của Đảng Cộng sản làm mất đất đai tổ tiên, động chạm đến tội của Đảng Cộng sản tước đoạt những giá trị làm người của người dân liền bị Đảng Cộng sản cầm quyền đẩy sang thế lực thù địch.

Pháp đô hộ chia nước ta thành ba kì chỉ là vạch ranh giới trong không gian, chia địa lí hành chính trên giấy tờ. Đảng Cộng sản chia dân tộc Việt Nam thành giai cấp đối kháng là chia rẽ trong lòng dân tộc, chia rẽ, li tán trong lòng người. Đặc biệt từ 30 tháng Tư năm 1975 sự chia rẽ này càng độc ác, man rợ khi chuyên chính vô sản, hận thù giai cấp đã ào ạt, quyết liệt tước đoạt tự do, tước đoạt mạng sống của hàng triệu người dân miền Nam ở tầng lớp tinh hoa, những trí thức, những nhà chính trị, những quan chức nhà nước và sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Từ 30 tháng Tư năm 1975, chuyên chính vô sản, đấu tranh giai cấp đã làm cho người Việt hận thù người Việt sâu sắc, hàng triệu người Việt yêu nước thương nòi bị đẩy sang thế lực thù địch và hàng triệu người Việt yêu nước phải bỏ nước ra đi đã coi ngày 30 tháng Tư năm 1975 là Ngày Quốc hận thì làm sao có thể coi ngày 30 tháng Tư năm 1975 là ngày thống nhất lòng người.

Chia rẽ, li tán làm cho dân tộc Việt Nam suy yếu. Kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam là nhà cầm quyền bành trướng Đại Hán liền nhân cơ hội cướp hàng ngàn kilomet vuông đất biên cương của Việt Nam, cướp cả quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam thì không thể coi ngày 30 tháng Tư năm 1975 là ngày thống nhất đất nước, giang sơn thu về một mối như sự khoa trương, lấp liếm của bộ máy tuyên truyền Nhà nước Cộng sản Việt Nam.

Ngày 30 tháng Tư hàng năm những người cộng sản Việt Nam vui mừng vì ngày đó năm 1975 họ đã đánh thắng cả dân tộc Việt Nam, đã nô dịch được cả dân tộc Việt Nam, họ đã mang hận thù giai cấp đánh tan tác, li tán cả dân tộc Việt Nam. Còn những người Việt Nam chân chính phải nhận lấy nỗi buồn lịch sử, phải nhận lấy trách nhiệm lịch sử: Đấu tranh đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi nô dịch cộng sản và giành lại những mảnh đất thiêng liêng của tổ tiên người Việt đã bị mất mát, sang nhượng cho bành trướng Đại Hán dưới thời cộng sản.

P.Đ.T.

Tác giả gửi BVN.

Kỷ luật Đinh La Thăng: Việt Nam vẫn nhảy múa trong bài tang lễ không tên

Kỷ luật Đinh La Thăng: Việt Nam vẫn nhảy múa trong bài tang lễ không tên

 
Anh Văn (VNTB) Ngày 27/04/2017, Đinh La Thăng bị Ủy ban kiểm tra trung ương đề nghị kỷ luật liên quan đến sai phạm điều hành kinh tế. Hai mươi bảy năm về trước, cũng vào ngày 27 (27/03), một kỷ luật được đưa ra và áp dụng với một Ủy viên Bộ Chính trị – Trần Xuân Bách. 
 
Ủy viên Bộ Chính trị – Trần Xuân Bách
Kỷ luật Trần Xuân Bách và sự tiếc nuối thế kỷ
 
Ông Trần Xuân Bách là ai? Ông là một Ủy viên Bộ Chính trị, và là Bí thư Trung ương Đảng từ khóa V (1982), Chánh Văn phòng Trung ương Đảng. Nhưng điều đáng nói, ông lại là một người có tư tưởng đa nguyên, với quan điểm: Dân chủ là quyền của dân.
 
Phải nhắc lại như vậy, để thấy rằng, ông Trần Xuân Bách và cái án “kỷ luật”, nhất là vào thập niên 80 – 90 của thế kỷ trước lớn mức độ nào.
 
Ông là người, trên cương vị đảng viên cao cấp của ĐCSVN đã khẳng định xu thế tất yếu của chuyển đổi mô hình CNXH Stalin sang mô hình mới hơn. Cụ thể là: sở hữu tư nhân, kinh tế hàng hóa, nhà nước pháp quyền, và xã hội dân sự.
 

(more…)

TƯ TƯỞNG NGHỆ THUẬT ĐẶC SẮC CỦA “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” (kỳ 2)

TƯ TƯỞNG NGHỆ THUẬT ĐẶC SẮC CỦA “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” (kỳ 2)

 Phùng Hoài Ngọc

đăng VNTB ngày 29/4/2017

(Tiếp theo NỖI BUỒN CHIẾN TRANH – TIỂU THUYẾT PHẢN CHIẾN ĐỈNH NHẤT SAU 1975- kỳ 1) đã đăng VNTB

 “Về sau, mỗi khi được nghe người ta kể hoặc được xem phim, thấy cảnh ngày 30 tháng Tư ở Sài Gòn trên màn ảnh: cười reo, cờ hoa, bộ đội, nhân dân, nườm nượp, bừng bừng, hân hoan, hạnh phúc…tự nhiên trong Kiên cứ nhói lên nỗi buồn pha cả niềm ghen tỵ”.

Nhà văn Bảo Ninh          

bao ninh

***

hai lân xuất bản NBCT

Viết tiểu thuyết hiện đại khó nhất là kết cấu nghệ thuật. Bảo Ninh đã tạo ra một kết cấu độc nhất vô nhị trong tiểu thuyết hiện đại Việt Nam*[1]. Kết cấu nghệ thuật không chỉ là “đường dẫn bạn đọc theo câu chuyện”, nó còn mang nội dung đặc biệt. Bên cạnh kết cấu nghệ thuật, tiểu thuyết  Bảo Ninh còn dùng nhiều thủ pháp nghệ thuật điêu luyện tinh tế khác.

 NGHỆ THUẬT KẾT CẦU CỦA “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” *[2]

Giúp quí bạn dễ  đọc và theo kịp được mạch kể chuyện phức tạp của nhà văn, chúng tôi vẽ ra biểu đồ sau:

QUÁ KHỨ 1. 1964-1965, ước chừng 3 tháng và 3 ngày. Hà Nội tuổi học trò, năm cuối cấp 3, mối tình đầu với Phương. Nhập ngũ, Kiên lên tàu Ga Hàng Cỏ vào Nam, lỡ tàu, vẫy đi nhờ xe tải, Phương theo tiễn đến Ga Thanh Hóa… ]

QUÁ KHỨ 2 . Từ 1966 đến 1975 ở chiến trường Tây Nguyên (10 năm)]

HIỆN TẠI 1 & 2 gồm hai phần xen kẽ:

 1975- 1976 Kiên đi tìm hài cốt đồng đội ở Tây Nguyên, nhớ lại cảnh chiến đấu.

1976- 1986  trở về Hà Nội (gặp lại Phương và bạn hữu, Kiên làm báo, viết văn) ]

          QK.1————————————————————-à 3 tháng 3 ngày

        QK.2————————————————————-à 10 năm

        HT.1&2———————————————————à 10 năm

 Sách dày 343 trang gồm 3 phần được biểu thị bằng 3 đoạn thẳng bằng nhau / biểu thị 3 chiều dài thời gian trần thuật bằng nhau. Mỗi đoạn thẳng ước chừng hơn 100 trang.

 Xin chú ý Quá khứ.1: thời gian hiện thực ngắn nhất (3 tháng 3 ngày) nhưng được kể với thời gian trần thuật dài bằng quãng thời gian QK2 HT1.2 (mỗi quãng dài 10 năm). Thời gian trần thuật QK1 gọi là “thời gian nghệ thuật” vì nó bị kéo dãn, không tương đương với thời gian khách quan. Đây là dấu hiệu nghệ thuật cơ bản nhất, nói lên quan niệm chính của nhà văn.

Đường đi ziczac của câu chuyện như sau:

Mở đầu chuyện, vào cuối năm 1975, vài tháng sau khi chấm dứt chiến tranh, Kiên dẫn Đội hài cốt quay lại Tây Nguyên thu nhặt hài cốt đồng đội. Anh đi ngược chiều thời gian, ngược chiều không gian, hướng về quá khứ. Gặp QK2 hiện ra. Tiếp tục đi về QK1, rồi quay lại Hiện tại 2, rồi Hiện tại 1,  tiếp tục luẩn quẩn và tiến lên.

Ký ức có vai trò dẫn dắt nhân vật đi và kể (áp dụng nghệ thuật dòng ý thức).

Ba giai đoạn được kể xen kẽ, chen chúc và dần dần cùng đi tới điểm chót ở cuối sách.

Nói cách khác, tiểu thuyết có 3 cái “kết” cùng lúc (ba mũi tên trên biểu đồ).

Khi thuyết trình, tôi gọi tên kiểu kết cấu đó là kiểu “vắt xổ” của thợ may cho SV dễ nhớ. Gần đây đọc thấy ông Diêm Liên Khoa nhà văn TQ gọi kết cấu ấy là “gấp hộp, chồng hộp” (có lẽ ông muốn ví tiểu thuyết là mấy chồng hộp tách rời, xếp chồng lên lên nhau, dựng đứng bên nhau, tiểu thuyết bị cắt thành nhiều khúc bỏ vào nhiều hộp-  tương tự như biểu đồ ba đoạn thẳng song song nằm ngang của chúng tôi).

Câu hỏi đặt ra: Giai đoạn nào trong ba giai đoạn đã thu hút hết tâm trí của nhân vật Kiên  ?

Trả lời : Đó là QUÁ KHỨ 1: Kiên và Phương sống những ngày hoà bình và tình yêu đầu đời, chưa đi bộ đội.

Kết cấu đó toát lên tư tưởng chủ đề của thiên tiểu thuyết: Phản đối chiến tranh (QK2) và không thể thích nghi với Hoà bình hậu chiến (HT.1 và 2).

Ý nghĩa của “kết cấu” đã biểu lộ quan điểm cơ bản của Kiên. Kết cấu đã mang theo nội dung chính, tư tưởng sâu sắc nhất của tác phẩm. Anh chán ngán cả hiện tại và quá khứ 2, chỉ muốn quay về quá khứ 1 – thời  hoà bình, yêu đương và chưa có chiến tranh.

Đó chính là tư tưởng phản chiến, dù  khi  Bảo Ninh viết tiểu thuyết đã là thời hậu chiến.

Đó cũng là tư tưởng Trả nợ quá khứ, đối  lập với thói “ăn mày quá khứ” / “ăn mày dĩ vãng” ngày nay.

Để thực hiện kết cấu trên, nhà văn áp dụng “nghệ thuật kể chuyện dòng ý thức” *[3]. Từ đó tạo ra kết cấu 3 giai đoạn và biểu đồ như trên đã trình bày. Đi tới nơi đâu gặp cảnh cũ hay người quen thì ký ức dần dần hiện ra. Ký ức này lại gợi mở ký ức khác, cũ hơn.

  1. NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT

 NHÂN VẬT PHỤ

Tuy miêu tả các vai phụ nhưng nội dung được dồn nén, hàm súc cực độ trong rất ít trang giấy. Gồm nhiều nhóm nhân vật phụ.

 Nhóm 1. Cha mẹ Kiên và cha mẹ Phương – tứ thân phụ mẫu và Tuyên ngôn nghệ thuật.

Cha Kiên là một hoạ sĩ tiền chiến, nghệ sĩ chế độ cũ . Sang chế độ mới ông mắc chứng mộng du. “Bệnh mộng du” là một ẩn dụ về người nghệ sĩ không hoà nhập được với thời đại mới. Tranh vẽ ra bị chê, lại bị vợ bỏ, ông ngã bệnh…

“Hà Nội thủa đó tử tế và tốt bụng, người ta sẽ sẵn sàng nhường lối cho ông già lạc nẻo, không ai xen ngang vào cõi phiêu diêu bát ngát của ông, ngay cả bọn trẻ con cũng không chọc phá ông, chúng chỉ trông chừng để giấc ngủ không đưa ông xuống hồ Thuyền Quang. Nhưng hình như mẹ anh thì không chịu đựng nổi những cơn xuất thần hiền lành và thờ thẫn của cha anh. Hình như bà coi đấy là nỗi nhục, là bằng chứng về sự suy đồi và về sự thất bại vô phương cứu vãn của cuộc đời cha anh”

 Từ lâu rồi không ai mua tranh của cha. Từ lâu ông không tham gia trưng bày, triển lãm gì nữa, giới hội họa đã quên ông. 

 “Rồi cha sẽ cho ra đời một kiệt tác!”.Trong những cơn say mèm ông thường bất lực dậm dọa như thế. Song, do những hạn chế về lập trường quan điểm, do càng ngày càng xa lạ với thẩm mỹ của quần chúng nhân dân lao động, ông đã biến hội họa của ông thành những chân dung ma quỷ… Đại khái là người ta phê phán ông như vậy. Kiên đọc thấy thế trong một tờ tạp chí mỹ thuật thời đó. Phải hạ tính vĩnh cửu xuống mà thêm chất phàm tục vào ư?  Có lần Kiên bắt gặp cha mình đang giận dữ quát vào mặt bức họa đang vẽ dở trên giá “Phải xác định thành phần giai cấp cho sông núi? Họ dạy thế, vậy bảo phải làm sao bây giờ, hả?”. Trước khi qua đời, cha Kiên đã đốt cháy hết các bức tranh, ông bảo phải phóng thích cho các nhân vật của ông khỏi cõi đời này.

 Kiên tự cảm thấy mình mang gien di truyền của Mẹ. Sau chiến tranh trở về, anh tự đánh giá mình, không khoan nhượng:

 Còn hơn là một khuyết tật, trong Kiên rõ ràng là có mầm bẩm sinh của độc ác, của thói nhẫn tâm, khô rắn, lạnh lùng. Một sự trống rỗng bất hạnh và tệ mạt. Một lương tri không lành.

  Mẹ của Kiên chỉ được miêu tả vắn tắt nhưng khó quên. Trước khi rời bỏ chồng, bà nói:

Tôi là một đảng viên, mình ạ. Và tôi là một người trí thức mới, tôi không đần, không đụt, điều đó mình cần phải nhớ hộ tôi! 

Anh không nhớ nhiều về mẹ, chỉ nhớ lời mẹ răn dạy:

Bây giờ con đã là Đội viên thiếu niên, ngày mai là vào Đoàn, trở thành người đàn ông thực thụ rồi còn gì. Nên phải cứng rắn dần lên con ạ“.

Anh nhớ nhiều về cha: “Cứ mỗi lần nghĩ lại tuổi thơ, nhớ đến cha bao giờ Kiên cũng cảm thấy ân hận, dường như anh đã yêu thương tôn kính cha chưa đủ mức một người con, anh đã biết quá ít, hầu như không biết gì cả những năm tháng cuộc đời cha. Anh đã chẳng nhớ gì mấy về tấn bi kịch gia đình, không biết vì sao cha mẹ lại chia tay, không biết rằng cha mẹ đã đau khổ như thế nào. Về mẹ thì anh càng nhớ ít hơn…”.

 Và lạ lùng là anh lại rất nhớ người chồng sau của mẹ, một nhà thơ tiền chiến đã ẩn danh và đã về già, Kiên đã một lần và chỉ một lần duy nhất đến thăm ông ở ngôi nhà nhỏ gần Chèm có cửa sổ nhìn ra đê sông Hồng. Mùa đông ấy anh vừa mười bảy tuổi, cha thì mới qua đời, còn mẹ thì mất từ mấy năm trước đấy hơn năm năm rồi. Trước ngày nhập ngũ, Kiên đến để từ biệt dượng, ấn tượng thật khó quên (…) Ông pha trà ngon mời anh, đưa thuốc cho anh hút, nhìn anh với vẻ buồn buồn, và nói với anh bằng giọng hết sức dịu dàng: “Thế có nghĩa là con sẽ ra đi đánh trận? Không phải là ta muốn cản con đâu, ta đã già mà con thì còn trẻ, ngăn chí con làm sao nổi, chỉ muốn con thật thấu hiểu lòng mình. Nghĩa vụ của một con người trước Trời Đất là sống chứ không phải là hy sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ… Không phải là ta khuyên con trọng mạng sống hơn cả nhưng mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy. Với lại, con ạ, mẹ con, cha con và cả ta nữa chỉ có mình con ở lại trên đời, nên ta mong con hãy sống và hãy trở về. Cuộc đời còn rất dài với bao nhiêu hạnh phúc và lạc thú phải hưởng của con kia có ai sống hộ cho con được bây giờ? “.

Ngạc nhiên và không đồng tình nhưng Kiên cảm thấy tin cậy những lời lẽ của cha dượng. Anh cảm thấy gần gũi với suy nghĩ của ông mặc dù không hoàn toàn hiểu hết.

Cha mẹ của Phương, cũng được miêu tả sơ lược đầy ẩn ý:

Anh đến chào từ biệt mẹ Phương một nhạc sĩ tiền chiến. Bà bảo con gái đàn một bản tiễn Kiên với cây đàn piano trong nhà, “đấy cũng là kỷ vật của cha nàng, một nghệ sĩ dương cầm đã qua đời từ trước ngày giải phóng thủ đô. Năm Phương 16 tuổi, mẹ nàng về hưu. Bà làm giáo viên âm nhạc”.

Sau ngày hoà bình, trở về Hà Nội, anh nghĩ về Phương và bản thân mình:

“Sau khi bị sa sút vì chiến tranh một con người có thể tạo dựng lại cơ nghiệp, có thể hồi phục lại mức sống hồi trước, nhưng những tài sản tinh thần, những giá trị tinh tế của đời sống nội tâm một khi đã bị đánh sập, bị đứt khúc ra thì ai là người có được cơ hội lần về với thuở ban đầu?”.

Nhóm 2: Những người bạn cựu binh, bạn học, bạn đồng hương Hà Nội

 Vượng “tồ” cựu binh lái xe tăng ở chiến trường, nay về lái xe bus Hà Nội. Vượng không chịu nổi khi xe giằn xóc nhè nhẹ, êm êm, anh buồn nôn, chóng mặt, anh giải thích, vì “Hồi bọn tớ tràn qua Xuân Lộc đuổi đánh bọn sư đoàn 18, ở các rãnh xích toàn những thịt với tóc… Xe chạy tới đâu ruồi bâu tới đấy”. Sau Vượng phải bỏ nghề lái bus.

Trần Sinh, thương binh cột sống, bán thân bất toại.

Bao bạn bè đồng lứa với Kiên trong chung cư đã ra đi mà không trở về song ngôi nhà vẫn đây, hình bóng của họ vẫn đấy. Đời sống của những người hy sinh còn vương hình bóng trên gương mặt của các thế hệ sau. Kiên nhớ tới Hạnh, người phụ nữ độc thân từng sống trong căn phòng nhỏ sát chân cầu thang mà bây giờ thuộc gia đình ông Sự. Chẳng hiểu vì sao giờ đây ở nhà này ít người còn nhớ tới Hạnh, càng không mấy ai nhớ nổi rằng Hạnh đã rời khỏi nhà này từ năm nào và đi đâu? Vì sao mà đi? …Một thời gian sau, khi Kiên nhập ngũ thì Hạnh đã vào Thanh niên xung phong và đã đi sâu vào Khu Bốn từ nhiều tuần trước. Ngày Kiên trở về, buồng chị đã có người khác ở.

Kiên nhớ, đêm ấy dưới tầng một. Trần Sinh, người bạn học của anh và Phương, đang hấp hối. Sau một thời gian dài nằm viện, Sinh được đưa về nhà để chờ chết. Giờ chết đã điểm rồi: mà thần chết lại lần chần. Đã hơn hai ngày hôn mê mà người bệnh chưa ngừng thở. Đi bộ đội sau Kiên nhưng bị thương nên Sinh giải ngũ trước. Thời gian đầu thấy nói Sinh chẳng có vẻ gì là phế binh. Anh đã định cưới vợ. Nhưng dần dần từ chân trái lan sang chân phải rồi nửa người Sinh bị liệt (…)

Kiên vào bệnh viện thăm bạn. Sinh mỉm cười, mắt nheo nheo – vậy mà mình đây đã từng ôm mộng thành nhà thơ cơ đấy. (…) mình định bụng sẽ trở thành “Lê Anh Xuân, tạc vào thế kỷ”. Đấy, ước mơ thế đấy..

Em gái bạn: Kiên tình cờ gặp và cứu cô gái điếm non choẹt trong một đêm Bờ Hồ bị bọn côn đồ hành hạ. Kiên nhận ra đó là em gái của Vĩnh người bạn cùng phố, đồng đội đã hi sinh. “Vĩnh, người anh trai của cô bé và là người bạn cùng trung đội trinh sát với Kiên thuở nào, đã nằm lại ở chân đèo Madrak” (Tây Nguyên).

Cô gái Câm: Kiên kết bạn với cô gái câm sống một mình ở tầng áp mái. Cô gái CÂM là một nhân vật đặc biệt, có vẻ cũng là một ẩn dụ. Cô là xóm giềng thân thiết nhất của Kiên, chăm chú nghe anh đọc bản thảo và chỉ nhìn anh không nói… Cuối cùng, khi Kiên bắt đầu đốt đống bản thảo mà anh biết sẽ không thể xuất bản được. (Như cha anh trước khi chết, đốt hết tranh vẽ vì không hợp thời). Cô câm lao vào can ngăn anh. Anh “hung hãn chiếm đoạt cô” rồi bỏ đi mãi mãi. Cô câm thu nhặt đống bản thảo tung toé rối bời đem về căn phòng áp mái cất đi.

Nhóm 3: Nhân vật PHƯƠNG và  LAN-  tuyên ngôn mỹ học của tình yêu

Phương là cô hàng xóm cùng chung cư, bạn học cùng lớp với Kiên. Phương được học chơi đàn piano theo ý hướng của cha mẹ và  cũng yêu thích hội họa.

Thiếu nữ Phương, một cô gái Hà thành “Sắc đẹp của cháu không bình thường, – cha Kiên nói thế khi Phương mới chỉ mười sáu tuổi, như thể cảnh báo cô vậy – Vẻ đẹp lạc thời và lạc loài… sẽ đau khổ đấy. Khổ lắm”. Trong mắt Kiên cậu học sinh cấp 3: Phương là “một sắc đẹp bừng cháy sân trường Bưởi”.  Sau tai nạn chiến tranh đầu tiên: bị cưỡng bức thảm khốc trên toa tàu đỗ ở ga Thanh Hoá, trong khi máy bay Mỹ đang oanh tạc, cô quay về Hà Nội. Cô không theo ý cha mẹ trở thành một nhạc công cổ điển, cô chấp nhận là ca sĩ thính phòng và hát linh tinh theo hợp đồng. Ngày đoàn viên với Kiên sau 1975, sau cơn sốc, cô chối từ lời cầu hôn của Kiên (tôi bỗng nghĩ tới Thuý Kiều chối từ Kim Trọng trong hồi tái hợp). Lại tiếp tục làm hàng xóm với Kiên, cả hai đều day dứt. Cô khuyên anh lấy vợ, Kiên không nghe, cô đành phải đi lấy chồng để mong cắt đứt hẳn tơ duyên với Kiên.

Kiên học xong buổi cuối cùng trung học, sáng sau nhận giấy gọi nhập ngũ (tháng Năm  1965). Nhập ngũ làm tân binh, anh quen cô Lan con bà chủ nhà nơi đóng quân miền trung du (thôn Đồi Mơ, Yên Thế, Thái Nguyên). Lan yêu một đồng đội của Kiên trong đơn vị, trước khi đơn vị Kiên đi vào chiến trường miền Nam…

Sau 1975, Kiên tìm về Đồi Mơ … Gặp lại Lan. Báo tin với cô rằng cả đơn vị hồi đó đã hi sinh hết cả. Lan kể, cô sinh con, không nuôi được. Mẹ mất. Sau một đêm mời Kiên nghỉ lại, cô yêu Kiên, sáng sau tiễn anh về Hà Nội, và nhắn nhủ mong anh trở lại… Kết thúc tiểu thuyết, Kiên bỏ hẳn Hà Nội ra đi không ai biết đi đâu. Chỉ có bạn đọc biết chắc anh đã quay lại Đồi Mơ.

(và nhiều nhân vật phụ khác).

Buc tranh NBCT

(Bức tranh “Nỗi buồn chiến tranh” của hoạ sĩ Tạ Trọng Trí)

 NHÂN VẬT CHÍNH

 Kiên, một học sinh trung học.

Tính cách chủ yếu của Kiên  được phác thảo hiện lên trong mắt người yêu:

“Phương không để anh nói, cô đặt dọc ngón tay trỏ lên môi anh, nói tiếp: 

– “Anh ít giống cha và càng ngày càng ít giống. Anh say mê cuộc chiến tranh đến đứng ngồi không yên. Anh không yêu mẹ, không yêu cha, không yêu tình yêu của em”.

Kiên và quan điểm nghệ thuật

 Kiên tiếc nuối một nền nghệ thuật cổ điển qua hình ảnh của hai người cha và gia đình Phương, đang bị mai một:

“Vận hội của một đời sống tinh thần cao cả, hoàn mỹ, của một đời sống văn hóa thiên bẩm, của những giá trị nhân phẩm bị bỏ phí”.

Kiên buồn chán trước quang cảnh văn nghệ “cách mạng vô sản” hiện tại:

“Tất cả những gì anh đang phải cụp mắt xuống để khỏi phải nhìn đều là sự phô bày đến tột độ cái bất tài, cái thô thiển nhảm nhí, cái kiêu hãnh trắng trợn, cái thảm hại vô vị của nền nghệ thuật đặc trưng cho đời sống tinh thần thời hậu chiến”.

 Đặc biệt anh nghĩ về đời sống tinh thần bị tổn thương, mất mát vì chiến tranh cách mạng:

“Sau khi bị sa sút vì chiến tranh, một con người có thể tạo dựng lại cơ nghiệp, có thể hồi phục lại mức sống hồi trước, nhưng những tài sản tinh thần, những giá trị tinh tế của đời sống nội tâm một khi đã bị đánh sập, bị đứt khúc ra thì ai là người có được cơ hội lần về với thuở ban đầu ?”.

 Kiên – người lính không xuất sắc như một anh hùng, dũng sĩ

 Kiên là một nhân vật kiểu “phản anh hùng” (anti-hero) mà văn học Mỹ và Tây Âu đã xây dựng. Tiêu biểu như nhà văn Hemingway với “Giã từ vũ khí, Chuông nguyện hồn ai”, có thể, đó là những nguồn ảnh hưởng tới nhân vật Kiên.

Tuy không phải anh hùng, nhưng Kiên là người cựu binh trung thực, trở về hoà bình anh không khoe khoang công trạng như nhiều người khác. Anh thật thà kể “… nếu không nhờ được sự che chở đùm bọc, được cưu mang và được cứu rỗi trong tình đồng đội bác ái thì ắt rằng đã chết từ lâu, không vì bị giết chết cũng sẽ tự giết mình bằng cách nào đó để thoát khỏi gánh nặng chém giết, gánh nặng bạo lực mà thân phận con sâu cái kiến của người lính phải cõng trên lưng đời đời kiếp kiếp”. Anh kể một đoạn dài về nữ chiến sĩ giao liên tên Hoà đã tự hi sinh thân mình đánh lạc hướng đối phương để chừa đường thoát sống cho Kiên.

Trở về hoà bình, anh gánh trong tim món nợ máu xương của đồng đội và nghĩ chỉ có viết một tiểu thuyết mới nhẹ cõi lòng ngập đầy mặc cảm tội lỗi.

Hàng trăm trang sách tái hiện cảnh chiến trường khủng khiếp, số xác chết nhiều hơn tất cả những tiểu thuyết chiến tranh khác ở Việt Nam. Chúng tôi xin trích vài đoạn:

“Chân trời chết chóc mở ra mênh mang, vô tận những nấm mồ bộ đội mọc lên nhấp nhô tựa sóng cồn…”

  Khổ sở vì đói, vì sốt rét triền miên, thối hết cả máu, vì áo quần bục nát tả tơi và vì những lở loét khắp người như phong hủi, cả trung đội chẳng còn ai trông ra hồn thằng trinh sát nữa. Mặt mày ai nấy như lên rêu. Ủ dột. Yếm thế. Đời sống mục ra

  Kiên viết văn để “chiến đấu lại cuộc chiến của đời mình” *[4]

  Kiên trở về hoà bình nhưng không có đoàn tụ. Anh viết văn để ghi lại trải nghiệm chiến tranh và tri ân đồng đội hi sinh. Đây là những dòng trang cuối cùng của bản thảo:

“Kiên tin rằng anh đã phục sinh, nhưng là một sự phục sinh lùi về sâu xa. Sẽ mỗi ngày một lùi xa hơn, sẽ không ngừng phục sinh trong chuỗi dài tái hiện. Có vẻ như anh đã tìm ra cuộc đời mới của mình: đấy chính là cuộc đời đã qua, là tuổi trẻ đã mất đi trong nỗi đau buồn chiến tranh”.

Kiên tự giải thích sự sống sót của mình:

“Nhưng mỗi người trong chúng tôi bị chiến tranh chà nát theo một kiểu riêng, mỗi người ngay từ ngày đó đã mang trong lòng một cuộc chiến tranh của riêng mình, nhiều khi hoàn toàn khác với cuộc chiến đấu chung, những nhìn nhận sâu trong lòng cực kỳ khác nhau về con người, về thời đại chiến trận, và đương nhiên mỗi người một số phận hậu chiến. Có thể nói chúng tôi giống nhau ở chỗ là hoàn toàn khác nhau trong cái vẻ hoàn toàn giống nhau trong quá trình nặng nề đeo đuổi cuộc chiếnNhưng chúng tôi còn có chung một nỗi buồn, nỗi buồn chiến tranh mênh mang, nỗi buồn cao cả, cao hơn hạnh phúc và vượt trên đau khổ. Chính nhờ nỗi buồn mà chúng tôi đã thoát khỏi chiến tranh, thoát khỏi bị chôn vùi trong cảnh chém giết triền miên, trong cảnh khốn khổ của những tay súng, những đầu lê, những ám ảnh bạo lực và bạo hành, để bước trở lại con đường riêng của mỗi cuộc đời có lẽ chẳng sung sướng gì và cũng đầy tội lỗi, nhưng vẫn là cuộc đời đẹp đẽ nhất mà chúng tôi có thể hy vọng, bởi vì đấy là đời sống hòa bình. (…) Nỗi buồn ngăn không cho anh cảm thấy một chút nhẹ lòng trong đời sống hiện tại. Ngày tháng của đời anh cứ lùi lại mãi.

 Sau hoà bình, Kiên đã chứng kiến 10 lần người ta tưng bừng Kỷ niệm 30/4:

 Về sau, mỗi khi được nghe người ta kể hoặc được xem phim, được thấy cảnh ngày 30 tháng Tư ở Sài Gòn trên màn ảnh: cười reo, cờ hoa, bộ đội, nhân dân, nườm nượp, bừng bừng, hân hoan, hạnh phúc…tự nhiên trong Kiên cứ nhói lên nỗi buồn pha cả niềm ghen tỵ

 KẾT

Nhà văn Bảo Ninh từng trả lời phóng viên:“nhân vật của tôi là bộ đội, không phải trí thức”. Dù nhà văn có rào đón che chắn thế nào thì nhân vật Kiên cũng đã được nhà văn thổi hồn trí thức của mình vào rồi. NỖI BUỒN CHIẾN TRANH là một tự truyện được tiểu thuyết hoá cao độ.

Chú thích

Nỗi Buồn Chiến Tranh đã nhận được nhiều giải thưởng:

Giải thưởng hạng nhất Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991.

Giải thưởng châu Á Nickei Nhật Bản tặng (Nikkei Asia Prizes) năm 2011.

Giải thưởng Sim Hun từ Hàn Quốc tặng NBCT năm 2016.

Chưa thống kê hết giải thưởng từ Anh Quốc, Tiệp khắc. v.v…

Nhà xuất bản Trẻ (Sài Gòn) đã ký hợp đồng độc quyền tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” vào năm 2016. Sắp tới, tác phẩm sẽ được NXB Trẻ tiếp tục tái bản để phục vụ độc giả  quan tâm đến tác phẩm này. Bản hợp đồng đó cũng là một “giải thưởng đặc biệt” trong nước.

 PHỤ LỤC:

MỘT SỐ LUẬN VĂN NGHIÊN CỨU TIỂU THUYẾT NỖI BUỒN CHIẾN TRANH

 1. Ngôn từ trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh cuả Bảo Ninh

    Luận văn tốt nghiệp đại học của SV Nguyễn Phương Thảo, K32 A, ĐHSP.Hà Nội

  1. 2. Tiểu thuyết NBCT dưới góc nhìn tự sự học,

   Luận văn thạc sĩ  văn học Việt Nam của Nguyễn  Thị Yên Hà, KHXHNV- HN, 2016

  1. Hội thoại trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”,

   Luận văn thạc sĩ  ngôn ngữ học của Nguyễn Thị Gấm, Đại học Thái Nguyên, 2009

  1. Hồi ức và giấc mơ trong tiểu thuyết NBCT dưới góc nhìn thi pháp học

     Luận văn thạc sĩ của Lương Thị Sim, KHXHNV- HN, 2015

  1. Thi pháp tiểu thuyết Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh (qua so sánh với tiểu thuyết “Phía Tây không có gì lạ” của Erich Maria Remarque và tiểu thuyết “Khói lửa” của Henri Barbusse)

Luận văn thạc sỹ văn học của Vũ Thị Thúy Vân, KHXHNV- HN, 2013

  1. Tiểu thuyết về chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1975 – Những khuyng hướng và sự đổi mới nghệ thuật.

    Luận văn tiến sĩ của NCS. Nguyễn Thị Thanh, ĐHSP.HN, 2012

   (…)

PHN

*[1] . Kết cấu có chịu ảnh hưởng chút ít từ nước ngoài, có thể là “Trăm Năm Cô Đơn” của G.G.Marquez nhà văn châu Mỹ la tinh.

*[2] . Trích bài giảng môn “Thi pháp học hiện đại” – Giáo trình Đại học An Giang, soạn giảng:  

      GVC Phùng Hoài Ngọc.

*[3] . Nghệ thuật dòng ý thức (hoặc dòng tâm tưởng / nguyên văn stream of consciousness) được sáng tạo bởi nhà văn James Joyce, Ireland, nhà văn hàng đầu thế kỷ 20.

*[4] . Ý của nhà văn Nguyên Ngọc

Mây thẻ