"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

TƯ TƯỞNG NGHỆ THUẬT ĐẶC SẮC CỦA “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” (kỳ 2)

 Phùng Hoài Ngọc

đăng VNTB ngày 29/4/2017

(Tiếp theo NỖI BUỒN CHIẾN TRANH – TIỂU THUYẾT PHẢN CHIẾN ĐỈNH NHẤT SAU 1975- kỳ 1) đã đăng VNTB

 “Về sau, mỗi khi được nghe người ta kể hoặc được xem phim, thấy cảnh ngày 30 tháng Tư ở Sài Gòn trên màn ảnh: cười reo, cờ hoa, bộ đội, nhân dân, nườm nượp, bừng bừng, hân hoan, hạnh phúc…tự nhiên trong Kiên cứ nhói lên nỗi buồn pha cả niềm ghen tỵ”.

Nhà văn Bảo Ninh          

bao ninh

***

hai lân xuất bản NBCT

Viết tiểu thuyết hiện đại khó nhất là kết cấu nghệ thuật. Bảo Ninh đã tạo ra một kết cấu độc nhất vô nhị trong tiểu thuyết hiện đại Việt Nam*[1]. Kết cấu nghệ thuật không chỉ là “đường dẫn bạn đọc theo câu chuyện”, nó còn mang nội dung đặc biệt. Bên cạnh kết cấu nghệ thuật, tiểu thuyết  Bảo Ninh còn dùng nhiều thủ pháp nghệ thuật điêu luyện tinh tế khác.

 NGHỆ THUẬT KẾT CẦU CỦA “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” *[2]

Giúp quí bạn dễ  đọc và theo kịp được mạch kể chuyện phức tạp của nhà văn, chúng tôi vẽ ra biểu đồ sau:

QUÁ KHỨ 1. 1964-1965, ước chừng 3 tháng và 3 ngày. Hà Nội tuổi học trò, năm cuối cấp 3, mối tình đầu với Phương. Nhập ngũ, Kiên lên tàu Ga Hàng Cỏ vào Nam, lỡ tàu, vẫy đi nhờ xe tải, Phương theo tiễn đến Ga Thanh Hóa… ]

QUÁ KHỨ 2 . Từ 1966 đến 1975 ở chiến trường Tây Nguyên (10 năm)]

HIỆN TẠI 1 & 2 gồm hai phần xen kẽ:

 1975- 1976 Kiên đi tìm hài cốt đồng đội ở Tây Nguyên, nhớ lại cảnh chiến đấu.

1976- 1986  trở về Hà Nội (gặp lại Phương và bạn hữu, Kiên làm báo, viết văn) ]

          QK.1————————————————————-à 3 tháng 3 ngày

        QK.2————————————————————-à 10 năm

        HT.1&2———————————————————à 10 năm

 Sách dày 343 trang gồm 3 phần được biểu thị bằng 3 đoạn thẳng bằng nhau / biểu thị 3 chiều dài thời gian trần thuật bằng nhau. Mỗi đoạn thẳng ước chừng hơn 100 trang.

 Xin chú ý Quá khứ.1: thời gian hiện thực ngắn nhất (3 tháng 3 ngày) nhưng được kể với thời gian trần thuật dài bằng quãng thời gian QK2 HT1.2 (mỗi quãng dài 10 năm). Thời gian trần thuật QK1 gọi là “thời gian nghệ thuật” vì nó bị kéo dãn, không tương đương với thời gian khách quan. Đây là dấu hiệu nghệ thuật cơ bản nhất, nói lên quan niệm chính của nhà văn.

Đường đi ziczac của câu chuyện như sau:

Mở đầu chuyện, vào cuối năm 1975, vài tháng sau khi chấm dứt chiến tranh, Kiên dẫn Đội hài cốt quay lại Tây Nguyên thu nhặt hài cốt đồng đội. Anh đi ngược chiều thời gian, ngược chiều không gian, hướng về quá khứ. Gặp QK2 hiện ra. Tiếp tục đi về QK1, rồi quay lại Hiện tại 2, rồi Hiện tại 1,  tiếp tục luẩn quẩn và tiến lên.

Ký ức có vai trò dẫn dắt nhân vật đi và kể (áp dụng nghệ thuật dòng ý thức).

Ba giai đoạn được kể xen kẽ, chen chúc và dần dần cùng đi tới điểm chót ở cuối sách.

Nói cách khác, tiểu thuyết có 3 cái “kết” cùng lúc (ba mũi tên trên biểu đồ).

Khi thuyết trình, tôi gọi tên kiểu kết cấu đó là kiểu “vắt xổ” của thợ may cho SV dễ nhớ. Gần đây đọc thấy ông Diêm Liên Khoa nhà văn TQ gọi kết cấu ấy là “gấp hộp, chồng hộp” (có lẽ ông muốn ví tiểu thuyết là mấy chồng hộp tách rời, xếp chồng lên lên nhau, dựng đứng bên nhau, tiểu thuyết bị cắt thành nhiều khúc bỏ vào nhiều hộp-  tương tự như biểu đồ ba đoạn thẳng song song nằm ngang của chúng tôi).

Câu hỏi đặt ra: Giai đoạn nào trong ba giai đoạn đã thu hút hết tâm trí của nhân vật Kiên  ?

Trả lời : Đó là QUÁ KHỨ 1: Kiên và Phương sống những ngày hoà bình và tình yêu đầu đời, chưa đi bộ đội.

Kết cấu đó toát lên tư tưởng chủ đề của thiên tiểu thuyết: Phản đối chiến tranh (QK2) và không thể thích nghi với Hoà bình hậu chiến (HT.1 và 2).

Ý nghĩa của “kết cấu” đã biểu lộ quan điểm cơ bản của Kiên. Kết cấu đã mang theo nội dung chính, tư tưởng sâu sắc nhất của tác phẩm. Anh chán ngán cả hiện tại và quá khứ 2, chỉ muốn quay về quá khứ 1 – thời  hoà bình, yêu đương và chưa có chiến tranh.

Đó chính là tư tưởng phản chiến, dù  khi  Bảo Ninh viết tiểu thuyết đã là thời hậu chiến.

Đó cũng là tư tưởng Trả nợ quá khứ, đối  lập với thói “ăn mày quá khứ” / “ăn mày dĩ vãng” ngày nay.

Để thực hiện kết cấu trên, nhà văn áp dụng “nghệ thuật kể chuyện dòng ý thức” *[3]. Từ đó tạo ra kết cấu 3 giai đoạn và biểu đồ như trên đã trình bày. Đi tới nơi đâu gặp cảnh cũ hay người quen thì ký ức dần dần hiện ra. Ký ức này lại gợi mở ký ức khác, cũ hơn.

  1. NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT

 NHÂN VẬT PHỤ

Tuy miêu tả các vai phụ nhưng nội dung được dồn nén, hàm súc cực độ trong rất ít trang giấy. Gồm nhiều nhóm nhân vật phụ.

 Nhóm 1. Cha mẹ Kiên và cha mẹ Phương – tứ thân phụ mẫu và Tuyên ngôn nghệ thuật.

Cha Kiên là một hoạ sĩ tiền chiến, nghệ sĩ chế độ cũ . Sang chế độ mới ông mắc chứng mộng du. “Bệnh mộng du” là một ẩn dụ về người nghệ sĩ không hoà nhập được với thời đại mới. Tranh vẽ ra bị chê, lại bị vợ bỏ, ông ngã bệnh…

“Hà Nội thủa đó tử tế và tốt bụng, người ta sẽ sẵn sàng nhường lối cho ông già lạc nẻo, không ai xen ngang vào cõi phiêu diêu bát ngát của ông, ngay cả bọn trẻ con cũng không chọc phá ông, chúng chỉ trông chừng để giấc ngủ không đưa ông xuống hồ Thuyền Quang. Nhưng hình như mẹ anh thì không chịu đựng nổi những cơn xuất thần hiền lành và thờ thẫn của cha anh. Hình như bà coi đấy là nỗi nhục, là bằng chứng về sự suy đồi và về sự thất bại vô phương cứu vãn của cuộc đời cha anh”

 Từ lâu rồi không ai mua tranh của cha. Từ lâu ông không tham gia trưng bày, triển lãm gì nữa, giới hội họa đã quên ông. 

 “Rồi cha sẽ cho ra đời một kiệt tác!”.Trong những cơn say mèm ông thường bất lực dậm dọa như thế. Song, do những hạn chế về lập trường quan điểm, do càng ngày càng xa lạ với thẩm mỹ của quần chúng nhân dân lao động, ông đã biến hội họa của ông thành những chân dung ma quỷ… Đại khái là người ta phê phán ông như vậy. Kiên đọc thấy thế trong một tờ tạp chí mỹ thuật thời đó. Phải hạ tính vĩnh cửu xuống mà thêm chất phàm tục vào ư?  Có lần Kiên bắt gặp cha mình đang giận dữ quát vào mặt bức họa đang vẽ dở trên giá “Phải xác định thành phần giai cấp cho sông núi? Họ dạy thế, vậy bảo phải làm sao bây giờ, hả?”. Trước khi qua đời, cha Kiên đã đốt cháy hết các bức tranh, ông bảo phải phóng thích cho các nhân vật của ông khỏi cõi đời này.

 Kiên tự cảm thấy mình mang gien di truyền của Mẹ. Sau chiến tranh trở về, anh tự đánh giá mình, không khoan nhượng:

 Còn hơn là một khuyết tật, trong Kiên rõ ràng là có mầm bẩm sinh của độc ác, của thói nhẫn tâm, khô rắn, lạnh lùng. Một sự trống rỗng bất hạnh và tệ mạt. Một lương tri không lành.

  Mẹ của Kiên chỉ được miêu tả vắn tắt nhưng khó quên. Trước khi rời bỏ chồng, bà nói:

Tôi là một đảng viên, mình ạ. Và tôi là một người trí thức mới, tôi không đần, không đụt, điều đó mình cần phải nhớ hộ tôi! 

Anh không nhớ nhiều về mẹ, chỉ nhớ lời mẹ răn dạy:

Bây giờ con đã là Đội viên thiếu niên, ngày mai là vào Đoàn, trở thành người đàn ông thực thụ rồi còn gì. Nên phải cứng rắn dần lên con ạ“.

Anh nhớ nhiều về cha: “Cứ mỗi lần nghĩ lại tuổi thơ, nhớ đến cha bao giờ Kiên cũng cảm thấy ân hận, dường như anh đã yêu thương tôn kính cha chưa đủ mức một người con, anh đã biết quá ít, hầu như không biết gì cả những năm tháng cuộc đời cha. Anh đã chẳng nhớ gì mấy về tấn bi kịch gia đình, không biết vì sao cha mẹ lại chia tay, không biết rằng cha mẹ đã đau khổ như thế nào. Về mẹ thì anh càng nhớ ít hơn…”.

 Và lạ lùng là anh lại rất nhớ người chồng sau của mẹ, một nhà thơ tiền chiến đã ẩn danh và đã về già, Kiên đã một lần và chỉ một lần duy nhất đến thăm ông ở ngôi nhà nhỏ gần Chèm có cửa sổ nhìn ra đê sông Hồng. Mùa đông ấy anh vừa mười bảy tuổi, cha thì mới qua đời, còn mẹ thì mất từ mấy năm trước đấy hơn năm năm rồi. Trước ngày nhập ngũ, Kiên đến để từ biệt dượng, ấn tượng thật khó quên (…) Ông pha trà ngon mời anh, đưa thuốc cho anh hút, nhìn anh với vẻ buồn buồn, và nói với anh bằng giọng hết sức dịu dàng: “Thế có nghĩa là con sẽ ra đi đánh trận? Không phải là ta muốn cản con đâu, ta đã già mà con thì còn trẻ, ngăn chí con làm sao nổi, chỉ muốn con thật thấu hiểu lòng mình. Nghĩa vụ của một con người trước Trời Đất là sống chứ không phải là hy sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ… Không phải là ta khuyên con trọng mạng sống hơn cả nhưng mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy. Với lại, con ạ, mẹ con, cha con và cả ta nữa chỉ có mình con ở lại trên đời, nên ta mong con hãy sống và hãy trở về. Cuộc đời còn rất dài với bao nhiêu hạnh phúc và lạc thú phải hưởng của con kia có ai sống hộ cho con được bây giờ? “.

Ngạc nhiên và không đồng tình nhưng Kiên cảm thấy tin cậy những lời lẽ của cha dượng. Anh cảm thấy gần gũi với suy nghĩ của ông mặc dù không hoàn toàn hiểu hết.

Cha mẹ của Phương, cũng được miêu tả sơ lược đầy ẩn ý:

Anh đến chào từ biệt mẹ Phương một nhạc sĩ tiền chiến. Bà bảo con gái đàn một bản tiễn Kiên với cây đàn piano trong nhà, “đấy cũng là kỷ vật của cha nàng, một nghệ sĩ dương cầm đã qua đời từ trước ngày giải phóng thủ đô. Năm Phương 16 tuổi, mẹ nàng về hưu. Bà làm giáo viên âm nhạc”.

Sau ngày hoà bình, trở về Hà Nội, anh nghĩ về Phương và bản thân mình:

“Sau khi bị sa sút vì chiến tranh một con người có thể tạo dựng lại cơ nghiệp, có thể hồi phục lại mức sống hồi trước, nhưng những tài sản tinh thần, những giá trị tinh tế của đời sống nội tâm một khi đã bị đánh sập, bị đứt khúc ra thì ai là người có được cơ hội lần về với thuở ban đầu?”.

Nhóm 2: Những người bạn cựu binh, bạn học, bạn đồng hương Hà Nội

 Vượng “tồ” cựu binh lái xe tăng ở chiến trường, nay về lái xe bus Hà Nội. Vượng không chịu nổi khi xe giằn xóc nhè nhẹ, êm êm, anh buồn nôn, chóng mặt, anh giải thích, vì “Hồi bọn tớ tràn qua Xuân Lộc đuổi đánh bọn sư đoàn 18, ở các rãnh xích toàn những thịt với tóc… Xe chạy tới đâu ruồi bâu tới đấy”. Sau Vượng phải bỏ nghề lái bus.

Trần Sinh, thương binh cột sống, bán thân bất toại.

Bao bạn bè đồng lứa với Kiên trong chung cư đã ra đi mà không trở về song ngôi nhà vẫn đây, hình bóng của họ vẫn đấy. Đời sống của những người hy sinh còn vương hình bóng trên gương mặt của các thế hệ sau. Kiên nhớ tới Hạnh, người phụ nữ độc thân từng sống trong căn phòng nhỏ sát chân cầu thang mà bây giờ thuộc gia đình ông Sự. Chẳng hiểu vì sao giờ đây ở nhà này ít người còn nhớ tới Hạnh, càng không mấy ai nhớ nổi rằng Hạnh đã rời khỏi nhà này từ năm nào và đi đâu? Vì sao mà đi? …Một thời gian sau, khi Kiên nhập ngũ thì Hạnh đã vào Thanh niên xung phong và đã đi sâu vào Khu Bốn từ nhiều tuần trước. Ngày Kiên trở về, buồng chị đã có người khác ở.

Kiên nhớ, đêm ấy dưới tầng một. Trần Sinh, người bạn học của anh và Phương, đang hấp hối. Sau một thời gian dài nằm viện, Sinh được đưa về nhà để chờ chết. Giờ chết đã điểm rồi: mà thần chết lại lần chần. Đã hơn hai ngày hôn mê mà người bệnh chưa ngừng thở. Đi bộ đội sau Kiên nhưng bị thương nên Sinh giải ngũ trước. Thời gian đầu thấy nói Sinh chẳng có vẻ gì là phế binh. Anh đã định cưới vợ. Nhưng dần dần từ chân trái lan sang chân phải rồi nửa người Sinh bị liệt (…)

Kiên vào bệnh viện thăm bạn. Sinh mỉm cười, mắt nheo nheo – vậy mà mình đây đã từng ôm mộng thành nhà thơ cơ đấy. (…) mình định bụng sẽ trở thành “Lê Anh Xuân, tạc vào thế kỷ”. Đấy, ước mơ thế đấy..

Em gái bạn: Kiên tình cờ gặp và cứu cô gái điếm non choẹt trong một đêm Bờ Hồ bị bọn côn đồ hành hạ. Kiên nhận ra đó là em gái của Vĩnh người bạn cùng phố, đồng đội đã hi sinh. “Vĩnh, người anh trai của cô bé và là người bạn cùng trung đội trinh sát với Kiên thuở nào, đã nằm lại ở chân đèo Madrak” (Tây Nguyên).

Cô gái Câm: Kiên kết bạn với cô gái câm sống một mình ở tầng áp mái. Cô gái CÂM là một nhân vật đặc biệt, có vẻ cũng là một ẩn dụ. Cô là xóm giềng thân thiết nhất của Kiên, chăm chú nghe anh đọc bản thảo và chỉ nhìn anh không nói… Cuối cùng, khi Kiên bắt đầu đốt đống bản thảo mà anh biết sẽ không thể xuất bản được. (Như cha anh trước khi chết, đốt hết tranh vẽ vì không hợp thời). Cô câm lao vào can ngăn anh. Anh “hung hãn chiếm đoạt cô” rồi bỏ đi mãi mãi. Cô câm thu nhặt đống bản thảo tung toé rối bời đem về căn phòng áp mái cất đi.

Nhóm 3: Nhân vật PHƯƠNG và  LAN-  tuyên ngôn mỹ học của tình yêu

Phương là cô hàng xóm cùng chung cư, bạn học cùng lớp với Kiên. Phương được học chơi đàn piano theo ý hướng của cha mẹ và  cũng yêu thích hội họa.

Thiếu nữ Phương, một cô gái Hà thành “Sắc đẹp của cháu không bình thường, – cha Kiên nói thế khi Phương mới chỉ mười sáu tuổi, như thể cảnh báo cô vậy – Vẻ đẹp lạc thời và lạc loài… sẽ đau khổ đấy. Khổ lắm”. Trong mắt Kiên cậu học sinh cấp 3: Phương là “một sắc đẹp bừng cháy sân trường Bưởi”.  Sau tai nạn chiến tranh đầu tiên: bị cưỡng bức thảm khốc trên toa tàu đỗ ở ga Thanh Hoá, trong khi máy bay Mỹ đang oanh tạc, cô quay về Hà Nội. Cô không theo ý cha mẹ trở thành một nhạc công cổ điển, cô chấp nhận là ca sĩ thính phòng và hát linh tinh theo hợp đồng. Ngày đoàn viên với Kiên sau 1975, sau cơn sốc, cô chối từ lời cầu hôn của Kiên (tôi bỗng nghĩ tới Thuý Kiều chối từ Kim Trọng trong hồi tái hợp). Lại tiếp tục làm hàng xóm với Kiên, cả hai đều day dứt. Cô khuyên anh lấy vợ, Kiên không nghe, cô đành phải đi lấy chồng để mong cắt đứt hẳn tơ duyên với Kiên.

Kiên học xong buổi cuối cùng trung học, sáng sau nhận giấy gọi nhập ngũ (tháng Năm  1965). Nhập ngũ làm tân binh, anh quen cô Lan con bà chủ nhà nơi đóng quân miền trung du (thôn Đồi Mơ, Yên Thế, Thái Nguyên). Lan yêu một đồng đội của Kiên trong đơn vị, trước khi đơn vị Kiên đi vào chiến trường miền Nam…

Sau 1975, Kiên tìm về Đồi Mơ … Gặp lại Lan. Báo tin với cô rằng cả đơn vị hồi đó đã hi sinh hết cả. Lan kể, cô sinh con, không nuôi được. Mẹ mất. Sau một đêm mời Kiên nghỉ lại, cô yêu Kiên, sáng sau tiễn anh về Hà Nội, và nhắn nhủ mong anh trở lại… Kết thúc tiểu thuyết, Kiên bỏ hẳn Hà Nội ra đi không ai biết đi đâu. Chỉ có bạn đọc biết chắc anh đã quay lại Đồi Mơ.

(và nhiều nhân vật phụ khác).

Buc tranh NBCT

(Bức tranh “Nỗi buồn chiến tranh” của hoạ sĩ Tạ Trọng Trí)

 NHÂN VẬT CHÍNH

 Kiên, một học sinh trung học.

Tính cách chủ yếu của Kiên  được phác thảo hiện lên trong mắt người yêu:

“Phương không để anh nói, cô đặt dọc ngón tay trỏ lên môi anh, nói tiếp: 

– “Anh ít giống cha và càng ngày càng ít giống. Anh say mê cuộc chiến tranh đến đứng ngồi không yên. Anh không yêu mẹ, không yêu cha, không yêu tình yêu của em”.

Kiên và quan điểm nghệ thuật

 Kiên tiếc nuối một nền nghệ thuật cổ điển qua hình ảnh của hai người cha và gia đình Phương, đang bị mai một:

“Vận hội của một đời sống tinh thần cao cả, hoàn mỹ, của một đời sống văn hóa thiên bẩm, của những giá trị nhân phẩm bị bỏ phí”.

Kiên buồn chán trước quang cảnh văn nghệ “cách mạng vô sản” hiện tại:

“Tất cả những gì anh đang phải cụp mắt xuống để khỏi phải nhìn đều là sự phô bày đến tột độ cái bất tài, cái thô thiển nhảm nhí, cái kiêu hãnh trắng trợn, cái thảm hại vô vị của nền nghệ thuật đặc trưng cho đời sống tinh thần thời hậu chiến”.

 Đặc biệt anh nghĩ về đời sống tinh thần bị tổn thương, mất mát vì chiến tranh cách mạng:

“Sau khi bị sa sút vì chiến tranh, một con người có thể tạo dựng lại cơ nghiệp, có thể hồi phục lại mức sống hồi trước, nhưng những tài sản tinh thần, những giá trị tinh tế của đời sống nội tâm một khi đã bị đánh sập, bị đứt khúc ra thì ai là người có được cơ hội lần về với thuở ban đầu ?”.

 Kiên – người lính không xuất sắc như một anh hùng, dũng sĩ

 Kiên là một nhân vật kiểu “phản anh hùng” (anti-hero) mà văn học Mỹ và Tây Âu đã xây dựng. Tiêu biểu như nhà văn Hemingway với “Giã từ vũ khí, Chuông nguyện hồn ai”, có thể, đó là những nguồn ảnh hưởng tới nhân vật Kiên.

Tuy không phải anh hùng, nhưng Kiên là người cựu binh trung thực, trở về hoà bình anh không khoe khoang công trạng như nhiều người khác. Anh thật thà kể “… nếu không nhờ được sự che chở đùm bọc, được cưu mang và được cứu rỗi trong tình đồng đội bác ái thì ắt rằng đã chết từ lâu, không vì bị giết chết cũng sẽ tự giết mình bằng cách nào đó để thoát khỏi gánh nặng chém giết, gánh nặng bạo lực mà thân phận con sâu cái kiến của người lính phải cõng trên lưng đời đời kiếp kiếp”. Anh kể một đoạn dài về nữ chiến sĩ giao liên tên Hoà đã tự hi sinh thân mình đánh lạc hướng đối phương để chừa đường thoát sống cho Kiên.

Trở về hoà bình, anh gánh trong tim món nợ máu xương của đồng đội và nghĩ chỉ có viết một tiểu thuyết mới nhẹ cõi lòng ngập đầy mặc cảm tội lỗi.

Hàng trăm trang sách tái hiện cảnh chiến trường khủng khiếp, số xác chết nhiều hơn tất cả những tiểu thuyết chiến tranh khác ở Việt Nam. Chúng tôi xin trích vài đoạn:

“Chân trời chết chóc mở ra mênh mang, vô tận những nấm mồ bộ đội mọc lên nhấp nhô tựa sóng cồn…”

  Khổ sở vì đói, vì sốt rét triền miên, thối hết cả máu, vì áo quần bục nát tả tơi và vì những lở loét khắp người như phong hủi, cả trung đội chẳng còn ai trông ra hồn thằng trinh sát nữa. Mặt mày ai nấy như lên rêu. Ủ dột. Yếm thế. Đời sống mục ra

  Kiên viết văn để “chiến đấu lại cuộc chiến của đời mình” *[4]

  Kiên trở về hoà bình nhưng không có đoàn tụ. Anh viết văn để ghi lại trải nghiệm chiến tranh và tri ân đồng đội hi sinh. Đây là những dòng trang cuối cùng của bản thảo:

“Kiên tin rằng anh đã phục sinh, nhưng là một sự phục sinh lùi về sâu xa. Sẽ mỗi ngày một lùi xa hơn, sẽ không ngừng phục sinh trong chuỗi dài tái hiện. Có vẻ như anh đã tìm ra cuộc đời mới của mình: đấy chính là cuộc đời đã qua, là tuổi trẻ đã mất đi trong nỗi đau buồn chiến tranh”.

Kiên tự giải thích sự sống sót của mình:

“Nhưng mỗi người trong chúng tôi bị chiến tranh chà nát theo một kiểu riêng, mỗi người ngay từ ngày đó đã mang trong lòng một cuộc chiến tranh của riêng mình, nhiều khi hoàn toàn khác với cuộc chiến đấu chung, những nhìn nhận sâu trong lòng cực kỳ khác nhau về con người, về thời đại chiến trận, và đương nhiên mỗi người một số phận hậu chiến. Có thể nói chúng tôi giống nhau ở chỗ là hoàn toàn khác nhau trong cái vẻ hoàn toàn giống nhau trong quá trình nặng nề đeo đuổi cuộc chiếnNhưng chúng tôi còn có chung một nỗi buồn, nỗi buồn chiến tranh mênh mang, nỗi buồn cao cả, cao hơn hạnh phúc và vượt trên đau khổ. Chính nhờ nỗi buồn mà chúng tôi đã thoát khỏi chiến tranh, thoát khỏi bị chôn vùi trong cảnh chém giết triền miên, trong cảnh khốn khổ của những tay súng, những đầu lê, những ám ảnh bạo lực và bạo hành, để bước trở lại con đường riêng của mỗi cuộc đời có lẽ chẳng sung sướng gì và cũng đầy tội lỗi, nhưng vẫn là cuộc đời đẹp đẽ nhất mà chúng tôi có thể hy vọng, bởi vì đấy là đời sống hòa bình. (…) Nỗi buồn ngăn không cho anh cảm thấy một chút nhẹ lòng trong đời sống hiện tại. Ngày tháng của đời anh cứ lùi lại mãi.

 Sau hoà bình, Kiên đã chứng kiến 10 lần người ta tưng bừng Kỷ niệm 30/4:

 Về sau, mỗi khi được nghe người ta kể hoặc được xem phim, được thấy cảnh ngày 30 tháng Tư ở Sài Gòn trên màn ảnh: cười reo, cờ hoa, bộ đội, nhân dân, nườm nượp, bừng bừng, hân hoan, hạnh phúc…tự nhiên trong Kiên cứ nhói lên nỗi buồn pha cả niềm ghen tỵ

 KẾT

Nhà văn Bảo Ninh từng trả lời phóng viên:“nhân vật của tôi là bộ đội, không phải trí thức”. Dù nhà văn có rào đón che chắn thế nào thì nhân vật Kiên cũng đã được nhà văn thổi hồn trí thức của mình vào rồi. NỖI BUỒN CHIẾN TRANH là một tự truyện được tiểu thuyết hoá cao độ.

Chú thích

Nỗi Buồn Chiến Tranh đã nhận được nhiều giải thưởng:

Giải thưởng hạng nhất Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991.

Giải thưởng châu Á Nickei Nhật Bản tặng (Nikkei Asia Prizes) năm 2011.

Giải thưởng Sim Hun từ Hàn Quốc tặng NBCT năm 2016.

Chưa thống kê hết giải thưởng từ Anh Quốc, Tiệp khắc. v.v…

Nhà xuất bản Trẻ (Sài Gòn) đã ký hợp đồng độc quyền tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” vào năm 2016. Sắp tới, tác phẩm sẽ được NXB Trẻ tiếp tục tái bản để phục vụ độc giả  quan tâm đến tác phẩm này. Bản hợp đồng đó cũng là một “giải thưởng đặc biệt” trong nước.

 PHỤ LỤC:

MỘT SỐ LUẬN VĂN NGHIÊN CỨU TIỂU THUYẾT NỖI BUỒN CHIẾN TRANH

 1. Ngôn từ trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh cuả Bảo Ninh

    Luận văn tốt nghiệp đại học của SV Nguyễn Phương Thảo, K32 A, ĐHSP.Hà Nội

  1. 2. Tiểu thuyết NBCT dưới góc nhìn tự sự học,

   Luận văn thạc sĩ  văn học Việt Nam của Nguyễn  Thị Yên Hà, KHXHNV- HN, 2016

  1. Hội thoại trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”,

   Luận văn thạc sĩ  ngôn ngữ học của Nguyễn Thị Gấm, Đại học Thái Nguyên, 2009

  1. Hồi ức và giấc mơ trong tiểu thuyết NBCT dưới góc nhìn thi pháp học

     Luận văn thạc sĩ của Lương Thị Sim, KHXHNV- HN, 2015

  1. Thi pháp tiểu thuyết Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh (qua so sánh với tiểu thuyết “Phía Tây không có gì lạ” của Erich Maria Remarque và tiểu thuyết “Khói lửa” của Henri Barbusse)

Luận văn thạc sỹ văn học của Vũ Thị Thúy Vân, KHXHNV- HN, 2013

  1. Tiểu thuyết về chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1975 – Những khuyng hướng và sự đổi mới nghệ thuật.

    Luận văn tiến sĩ của NCS. Nguyễn Thị Thanh, ĐHSP.HN, 2012

   (…)

PHN

*[1] . Kết cấu có chịu ảnh hưởng chút ít từ nước ngoài, có thể là “Trăm Năm Cô Đơn” của G.G.Marquez nhà văn châu Mỹ la tinh.

*[2] . Trích bài giảng môn “Thi pháp học hiện đại” – Giáo trình Đại học An Giang, soạn giảng:  

      GVC Phùng Hoài Ngọc.

*[3] . Nghệ thuật dòng ý thức (hoặc dòng tâm tưởng / nguyên văn stream of consciousness) được sáng tạo bởi nhà văn James Joyce, Ireland, nhà văn hàng đầu thế kỷ 20.

*[4] . Ý của nhà văn Nguyên Ngọc

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

%d bloggers like this: