"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

Thưởng thức vài bức “CHÂN DUNG 99 NHÀ VĂN ĐƯƠNG ĐẠI” CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN KHÔI

Phùng Hoài Ngọc

đăng VNTB ngày 10/6/2017

bau troi van hoa vN

ẢNH MINH HOẠ: Trên bầu trời văn hoá Việt Nam đen thui, nhà thơ Nguyễn Khôi cho rằng có nhiều ngôi sao Khuê (sao văn chương) mờ, tỏ khác nhau. Mỗi ngôi sao là một nhà văn, nhà thơ. Vài chục năm qua, Việt Nam đã có nhiều tuyển tập chân dung nhà văn, nổi tiếng nhất là “Chân dung 100 cây bút” của nhà thơ Xuân Sách. Trong tập “Chân dung 99” của Nguyễn Khôi, xuất hiện tên tuổi nào hoàn toàn tuỳ ý nhà tuyển chọn.

 Lời thưa của nhà thơ Nguyễn Khôi

Được nhà văn Lê Xuân Quang (Berlin) khuyến khích, theo gót nhà văn Xuân Sách, nhà thơ Đỗ Hoàng, nhà thơ Trần Nhương, với tiêu chí “văn là người”, Nguyễn Khôi tôi dùng thể thơ bốn câu phác họa chân dung 99 nhà văn mà mình mến mộ. Xin được chia sẻ cùng các bạn thơ.

VÀI NÉT VỀ NGUYỄN KHÔI

Trước khi nghỉ hưu ông Nguyễn Khôi là chính khách, từng ngồi ghế Phó vụ trưởng Văn phòng Quốc hội. Chức vụ có vẻ lớn, thực ra chỉ làm việc như một thư lại đời xưa, khá nhàn rỗi, ông dành nhiều thời gian và công sức say mê sáng tác văn chương, khảo cứu, Ông cũng dịch thuật văn học tiếng dân tộc Thái (miền Tây Bắc) ra tiếng Việt.

Nguyễn Khôi sinh năm 1938 tại thị xã Yên Bái, quê quán tỉnh Bắc Ninh, hiện thường trú tại Hà Nội. Ông là hội viên của 3 hội dân sự đều thuộc sự lãnh đạo của Đảng hết: Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội, Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội. 

CHÂN DUNG 99 NHÀ VĂN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

 Địa chỉ :*trang web “Quán thơ” chủ quán: Nguyễn Khôi,

Trong Lời thưa, Nguyễn Khôi nóiNguyễn Khôi tôi dùng thơ bốn câu phác họa chân dung 99 nhà văn mà mình mến mộ. Xin được chia sẻ cùng các bạn thơ”.

Thực ra ông chỉ “mến mộ” một số cây bút, bên cạnh khinh rẻ những cây bút khác, bạn đọc coi qua sẽ biết. Tôi cũng là một bạn đọc của ông, nhân đây ké thêm vài chú thích và lời bình. Tôi không đọc biết hết 99 chân dung ông đã chọn, vậy nên, biết người nào thì tôi bình chú về người ấy. Có những chân dung bộc lộ đã rõ ràng nên cũng không cần bàn thêm. Xin chia sẻ cùng bạn đọc.

           TỐ HỮU
           Tự nhận mình là Lành

           Mọi người thấy rất dữ
           Mác Lê bọc bằng thơ
           Đã đâm chỉ có “tử”.

           Tung “hoa máu” xung trận
           là hịch chống xâm lăng
           lời Thề với Đảng, Bác:
          “Từ ấy”, “Sáng tháng Năm”.

Bình chú: Truyện ngắn “Cây táo ông Lành” của nhà văn Hoàng Cát viết về Tố Hữu.

“Mác Lê” cũng có nghĩa “mác, lê” là hai thứ vũ khí bằng sắt. “Hoa máu” ám chỉ tập thơ “Việt Nam máu và hoa”.

     CHẾ LAN VIÊN
            Tài thơ đến như Chế
            Đời thật khó khen chê
            Bẻ “cành phong lan bể”
           “Con cá song cầm đuốc dẫn thơ về”.

            Bắn pháo hoa Tư tưởng
            Vờ khóc nước non Hời
            Tháp Bay On bốn mặt
            Giấu đi mặt ma trơi.

Bình chú: Thơ Chế ví như một loại “pháo hoa tư tưởng”, mới đầu nhìn choáng ngợp mắt người, lát sau tàn lụi không để lại dấu vết. Đây là một so sánh độc đáo và thú vị về thơ Chế Lan Viên.

“Nước non Hời” nhắc lại tập thơ “Điêu tàn” đầu tay của Chế, thương tiếc tộc người Hời (tên gọi khác của người Chăm). “Giả vờ” thương người Hời. Nguyễn Khôi cho rằng Chế không có cảm xúc thực về dân tộc Chăm, chỉ là tưởng tượng vẽ vời… “Tháp Bayon bốn mặt” bài thơ tượng trưng của Chế về đất nước Campuchia.


            LÊ ĐỨC THỌ
            Thơ: mực hòa máu viết

            Người hùng – quyền thứ hai
            Giải Nô ben thứ thiệt
            Ai thấy cũng bye bye.

Bình chú: chưa hiểu rõ ý tứ câu chót của Nguyễn Khôi “ai thấy cũng bai bai” ? Có lẽ, nên hiểu là ai nhìn thấy cái giải Nobel của Lê Đức Thọ cũng chạy dài, không dám nhìn ?

            VIỆT PHƯƠNG
           “Cửa mở” hở hậu cung

           “Lụy” mấy ông xuất bản
           – Ta cái gì cũng Hồng
           – Địch cái gì cũng Xám
           – Trảm!

Bình chú:  thú vị nhất là câu thơ mở đầu “Cửa mở” hở hậu cung. Nguyễn Khôi hiểu “cửa mở” (tên tập thơ của Việt Phương) là mở ra những bí mật của giai cấp thống trị. Còn tôi hiểu “cửa mở” là mở tung tấm màn đen bưng bít sự thật nói chung và phá tung sự gò bó về tư duy.

           HỮU THỈNH
           “Thư mùa đông” cho lính

           Thơ xoàng xĩnh lên ngôi
           Điếu văn “hot” tới đỉnh
           Trơ ghế cao anh ngồi.

Bình chú: nhà thơ Nguyễn Khôi nói thẳng về thơ Hữu Thỉnh “Thơ xoàng xĩnh lên ngôi”. Hữu Thỉnh thường không quên đi điếu tang hội viên, tự mình viết và đọc “điếu văn” với tư cách chủ tịch Hội, đều rất lâm ly thống thiết.
           NGUYỄN PHAN HÁCH
           Đẹp duyên “làng quan họ”

           Thơ hay không có tiền
           Cho in thơ thả cửa
           Bán giấy phép đầu tiên.

 

Bình chú: Nguyễn Phan Hách nổi tiếng với bài thơ “Làng quan họ”, làm giám đốc lâu năm của NXB Hội Nhà văn trước khi nghỉ hưu. Nhà xuất bản này mấy chục năm qua chuyên bán giấy phép cho mọi cây bút tự in thơ truyện.

           BÚT TRE
           Người bút lông, bút sắt

           Lão quê mùa bút tre.
           Dám “biên tập” lời Bác
           Vào Đền Hùng khắc bia.
Bình chú:  Câu “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”  khắc đá trên Đền Hùng là do Bút Tre (tên thực Đặng Văn Đăng- phó Ty Văn hóa Phú Thọ) đã “văn bản hóa” câu nói của Bác (biên tập lại) qua việc nghe lỏm bộ đội kể lại.
          TRẦN ĐĂNG KHOA
          Thần đồng thơ trẻ xóm

          Hóm tếu văn “giải thiêng”
          “Chân dung và đối thoại”
           Đằm chất quê hồn nhiên.

Bình chú:  Hiện nay nhà văn Việt Nam có xu hướng lật lại quá khứ, gọi là “Dòng văn học giải thiêng”. Có hai xu hướng “giải”: phục hồi vẻ đẹp bị chìm khuất do vô tình hay cố ý.  Hoặc vạch ra cái xấu của thần tượng được tô vẽ quá lố do lợi ích tuyên truyền. Cả hai xu hướng đều nhằm mục tiêu phát hiện SỰ THẬT và CHÂN LÝ từng bị chìm khuất hoặc tô hồng/bôi đen. Trần Đăng Khoa nổi tiếng với cuốn “Chân dung và đối thoại”.

           

          HOÀNG CÔNG KHANH
          Tù Tây lại tù ta

           “Quyền được rên” chẳng có
          Bởi luôn đòi Tự do
          Gánh văn là gánh khổ.

 

 Bình chú: “Quyền được rên” là một truyện vừa của nhà văn Lê Mai viết về nhà văn Hoàng Công Khanh. Ông Khanh sáng tác từ hồi chống Pháp, sau 1954 bị tù oan vì vụ Nhân văn- Giai phẩm.
Mời bạn đọc vài đoạn trích truyện “Quyền được rên”:

Ở trong tù, ông (nhân vật Hoàng) hỏi quản giáo:

 “Thưa cán bộ, trường hợp tôi bao giờ thì được ra toà?”

Người quản giáo nhìn ông. Nhìn từ đầu xuống chân rồi khinh khỉnh nói:

Ông là nhà văn có tiếng mà còn dốt thế! Tù rồi còn đòi ra tòa làm gì?

 

Những câu trả lời ngô nghê của người quản giáo là minh chứng hùng hồn cho một thời bạo lực ấu trĩ:  

Nhìn ông, anh quản giáo cười hiền, tỏ ý thông cảm:

– Dốt thế, ở tù cũng đáng… Ông là đi học tập, đi cải tạo chứ có phải tù đâu mà hỏi án bao nhiêu năm. Đi học tập, đi cải tạo thì bao giờ học tập tốt, cải tạo tốt thì… ra trường. Tốt nghiệp ý mà! Muốn biết bao nhiêu năm thì phải tự hỏi mình chứ hỏi gì tôi. Thôi, hồ hởi, phấn khởi nhé!

Ra tù, ông Hoàng thủ thỉ với con và cũng như nói với lòng mình:

Con ơi! Oán hờn mà trả bằng oán hờn thì oán hờn ngày càng chồng chất. Con người hơn con vật ở chỗ đối xử với nhau có nghĩa có nhân. Lớn lên rồi con sẽ hiểu, không phải ngẫu nhiên mà Thánh Gandhi nói:“Tôi không bao giờ tự hạ thấp mình ngang tầm của bạo lực”. Cái gì đã qua, bố con mình cùng cho qua con nhé! Chớ để bụng, đừng thù oán ai cả… Càng đớn đau mình phải sống càng nhân hậu, con có hiểu không ?” .

 

Đó cũng chính là tư tưởng xuyên suốt mạch truyện QUYỀN ĐƯỢC RÊN- chân dung của nhà văn Hoàng Công Khanh.
            MINH HUỆ
            Vì sao “Bác không ngủ?”

            Vợ dí thơ… tỉnh tình.
            “Bác là Hồ Chí Minh”
            Tỉnh tình đâu mà dí”.
           
Bình chú: Nhà thơ Nguyễn Khôi nhái giễu bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” của Minh Huệ, dùng từ “tỉnh tình” ngôn từ dân gian nhằm ám chỉ việc “làm tình”.
            SƠN NAM
            Theo ông già Nam Bộ

            Thưởng “Hương rừng Cà Mau”
            Mai sau khô không khốc
            Nhớ hoài “Mùa len trâu”.
Bình chú: “Mai sau khô khô không khốc”. So sánh văn chương Sơn Nam trước khi theo cách mạng, Sơn Nam viết được truyện hay “Hương rừng Cà Mau”. Khi làm cách mạng, ông viết văn “khô không khốc”.
            
            TRẦN TRỌNG KIM
            Trung thực được như ông

            Là “Việt Nam sử lược”
            “Hồi kí” (1) thực như tâm
            Tin đời còn sự thật.
                             

 Bình chú: Hồi kí “Một cơn gió bụi” tác phẩm cuối cùng của Trần Trọng Kim nhà giáo nhà sử học, nhà thơ và chính khách. Nhà thơ Nguyễn Khôi khẳng định cụ Trần là người trung thực, quan điểm trái với lịch sử của Đảng chửi ông là tay sai bán nước.
            
            TRẦN ĐỨC THẢO
            Giảng triết cho lũ dốt

            Tù đầy giữa đời thừa
            Yêu nước thành phản quốc
            “Trăn trối” đã quá mùa.

            TRƯƠNG TỬU
            Làm thầy bọn trò ngốc

            Thôi về “châm cứu” chui
            Cứu người được quả phúc
            Văn chương chiếc yếm rơi…

            NGUYÊN NGỌC
            Chết rồi anh hùng Núp

            “Rừng Xà nu” bị nghiền
            Lập “Văn đoàn độc lập”
            Mơ “Đất nước đứng lên”.

           VŨ THƯ HIÊN
            Trải  “Đêm giữa ban ngày”

            Tộc Tà ru bị loại
            “Bông hồng vàng” bầm dập
            Paris “thoại” cùng ai?

           THÁI KẾ TOẠI
            Văn sĩ làm “mật vụ”

            Mà chẳng thấy bắt ai
            Lũ Nhân văn kết bạn
            Khua giáo lên văn đài.
Bình chú: Đại tá an ninh Thái Kế Toại từng phụ trách hồ sơ vụ “Nhân văn- Giai phẩm”. Về sau ông xem lại hồ sơ, ra sức thuyết phục lãnh đạo đảng phục hồi danh dự cho các cây bút Nhân văn- Giai phẩm.
            
            PHẠM TIẾN DUẬT
            “Đường ra trận…đẹp lắm

            Lừa mị lũ trai làng.
            Chết, hồn kết “Vòng trắng
            Đưa thơ về Trường Sơn.

           BÙI MINH QUỐC
            Hăng hái “Lên miền Tây”

            Đi B không sợ chết
            “Bình công” nuốt đắng cay
            Làm thơ trong xó bếp.

            LÊ LỰU
            Phụ tình vợ Tấm Cám

            Chạy theo lũ choai choai
            “Ở đáy sông” quả báo,
            Ngoác mồm nói xấu ai?

            LƯU QUANG VŨ & XUÂN QUỲNH
            Đến chết vẫn lăn tăn “Thời kì đồ đểu”

            “Uống rượu với bác Lâm” chuốc chén về trời
            Để biển cũng bạc đầu thương nhớ
            “Đắng cay” là chòi biếc thưở xa khơi.

           BÙI NGỌC TẤN
            “Chuyện kể năm 2000”

            “Tại sao tù?” thắc mắc
            Đọc Solzhenitsyn
            Ôi “Quần đảo Gulag”

            DƯƠNG THU HƯƠNG
            Tới “Đỉnh cao chói lọi”

            Tức khí mà tắt kinh.
            “Thiên đường mù” vẫy gọi
            Chào “Tỉnh lẻ vĩ nhân”

             HOÀNG HƯNG
             Thích Hoàng Cầm vương lụy

             Mang thơ phải vào tù
             Uất “Đi tìm cái mặt”
             Ngắc ngoải một đời thơ.

             TRẦN HUY QUANG
             Trời xui viết “Linh nghiệm”

             Hơn Azit Nexin
             Treo bút ba năm, hiếm
             Bõ bèn một truyện in.

             NGUYỄN MINH CHÂU
             Ai điếu “Văn minh họa”

             Vượt lão “Tầm nhìn xa”
             Mỗi lần qua chợ Giát
             Lại quặn lòng xót xa.

            HOÀNG NGỌC HIẾN
             Xướng “Văn chương phải đạo”

             Giáo sư chẳng được phong
             Học trò không đứa láo
             Dạy “Giáo dục công dân”.

            TRẦN QUÁN ANH
             Một vở “Tiền tuyến gọi”

             Đủ lừng danh… đói dài
            “Giáo sư Dái” thoải mái
            Tiền tấn thừa rong chơi.

      Bình chú: Bác sĩ Trần Quán Anh ngẫu hứng viết vở kịch nói “Tiến tuyến gọi” loại mỳ ăn liền, cổ vũ thầy thuốc đi B. chiến đấu.  Sau  Trần Quán Anh làm trưởng khoa Nam học nên được gọi “giáo sư Dái”.

        
              NGUYỄN HUY THIỆP
              Mang cưa xẻ quá khứ

              “Tướng về hưu” trộm dòm
              “Nhà thơ: lũ vô học”
              “Vong bướm” ám vào hồn!

              VI THÙY LINH
              Chẳng cần tốc váy đỏ

              “Quốc sư” vẫn say thơ
              Văn em không có sex
              Đếch ai thèm tìm mua.

Bình chú: nữ văn sĩ Vi Thuỳ Linh chốn Hà thành học đòi làm sang, viết văn sex đánh bóng tên tuổi. Lại nhờ có “quốc sư” Vũ Khiêu ca tụng quảng bá. Để trả ơn, thị cũng viết bài ca ngợi Vũ Khiêu.

              PAUL NGUYỄN HOÀNG ĐỨC
              Giỏi đàn, lắm lí sự

              Bạn quí gọi “triết gia”
              Đứa ghét chê “ngộ chữ”
              Gã sùng bái Hi La.

             NGUYỄN VĂN LƯU
             Hơn lão Vũ Đức Phúc

             Vượt trên tầm Đông La
             “Luận chiến văn chương”hả?
             Chỉ điểm bãi tha ma.

Bình chú: Nguyễn Văn Lưu từng làm giám đốc NXB Văn học, kiêu ngạo, vung cây bút phê bình chém bừa các nhà văn tiến bộ. Nhà thơ Nguyễn Khôi xếp Lưu cùng nhóm với cây bút văn triết học mác lê Vũ Đức Phúc và “chí Phèo” Đông La. Trong thành tích đâm  thuê chém mướn của Lưu, một nạn nhân trẻ là thạc sĩ Nhã Thuyên.

             NHÃ THUYÊN
             Nhà xuất bản Giấy Vụn

             Mấy thầy cô muốn “nghiên”
             Cánh “phê bình chỉ điểm”
             “Chém” cô trò Nhã Thuyên.

             PHẠM XUÂN NGUYÊN
             Văn sĩ tài khẩu khí

             Một xác đứng hai chân
             Cả Viện Văn tiến sĩ
             mình Nguyên là cử nhân.
                               

         Ghi chú: “hai chân”:  ông Nguyên sinh hoạt hai hội: Hội Nhà văn Hà Nội và Văn đoàn Độc lập.

        
             NGUYỄN CHÍ THIỆN
             Tù lâu thành “ngục sĩ”

             “Hoa địa ngục” trời cho
             Thơ trở thành cứu cánh
             Sang “thế giới tự do”.
Bình chú: cây bút Nguyễn Chí Thiện (1939 – 2012) là một nhà thơ phản kháng. Sinh trưởng ở Hà Nội, dạy học. Làm thơ phản kháng, bị bắt tù ba lần (trước và sau 1975). Được bảo lãnh xuất cảnh sang Mỹ. Tập thơ “Hoa địa ngục” tố cáo chế độ cai trị ở miền Bắc.

 

          ĐỖ TRƯỜNG
             Nếm đủ mùi “xuất khẩu”

             Ghét “Cộng”, tếch ly hương
             Đạt tiêu chí “văn chửi”
             Khối người khoái Đỗ Trường.

             VŨ NGỌC TIẾN
             Xả “Sóng hận sông Lô”

             Lên “Qủy vương” chễm chệ
             Trai Hà Nội đào hoa
             Sướng cuộc đời dâu bể.

Bình chú: Vũ Ngọc Tiến vừa xuất bản  tiểu thuyết “Quỉ vương” một tiểu thuyết cổ trang trào phúng, đang được đón nhận nồng nhiệt ở miền Bắc.
             
            PHẠM THÀNH
             Sống thời “Hậu Chí Phèo”

             Giữa cuộc đời sấp ngửa
             Thả “Xã nghĩa cò hồn”
             Tai ương chờ ngoài cửa.

Bình chú: Nhà văn Phạm Thành, chủ blog Bà Đầm Xòe, viết tiểu thuyết “Cò hồn xã nghĩa”, gửi dự thi Hội nhà văn Việt Nam. Ông nói Hội đã tố cáo ông với an ninh. Ông Thành mô tả tác phẩm là “khái quát giai đoạn Cộng sản Việt Nam đã mang học thuyết Marx – Lenin về với những chiêu bài làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” và “làm cho dân miền Bắc đến chỗ đau đớn khổ sở, đạo đức bị suy đồi“.
               
               NGUYỄN TÔN NHAN
               Thôi rồi một đấng tài hoa

               Nhà “Trung hoa học” còn là ai đây?
               Giáo sư, học giả thì đầy
               Riêng anh “học thật” tiếc thay một người!

               ĐỖ LAI THÚY
               “Luộc văn” bị nghi án

               Càng viết càng lên tay
               Hồ Xuân Hương tuột yếm
               Chân trời có người bay.

               THẾ PHONG
               Chào vĩnh biệt Yên Bái

               Vào Sài Gòn lập thân
               Mình một nhà xuất bản
               Lừng lững văn Thế Phong.

Viết xong ở Làng Mọc Quan Nhân, Hà Nội ngày 07.05.2017

 

Ghi chú của người viết:

 

* Nguyễn Khôi tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp Hà Nội năm 1963, lên công tác tại Sơn La, qua nhiều chức vụ: Trưởng phòng kĩ thuật sở nông nghiệp Sơn La, Giám đốc nông trường, Thư ký Uỷ ban nhân dân tỉnh Sơn La. Ngoài công tác chuyên môn ông đã ra sức học tiếng Thái và đi sâu nghiên cứu văn học các dân tộc ở Tây Bắc… Kết quả là, tập thơ “Gửi mường bản xa xăm” đã đưa tác giả vào các tuyển tập thơ quốc gia, được xếp vào số các nhà thơ Việt Nam thế kỷ XX; bản dịch truyện thơ “Sống Chụ Son Sao” (Tiễn dặn người yêu”, 1024 câu song thất lục bát là một bản dịch thành công được bạn đọc trong và ngoài nước đón nhận; cuốn sách Họ và tên của 54 dân tộc ở Việt Nam là một công trình “giải mã” về cách thức đặt tên của các tộc người ở Việt Nam, xưa nay chưa có ai viết).

 

Ông còn  tốt nghiệp học viện hành chính Quốc gia Hà Nội; 1986 – 1987, lại đi tu nghiệp quản lý kinh tế trên đại học tại trường Đại học kinh tế tài chính Xanh-Petecbua, Cộng hòa liên bang Nga; về làm chuyên viên cao cấp Phó Vụ Trưởng Văn phòng Quốc hội Việt Nam. Song song với công việc ở cơ quan ông đã dành công sức trong vòng 8 năm biên soạn cuốn “Bắc Ninh thi thoại” (đã xuất bản tới 3 lần và được thư viện các nước Hoa Kỳ, Anh Quốc lưu giữ giới thiệu về nền thơ ca 10 thế kỷ xứ Kinh Bắc).

 

Sau khi nghỉ hưu, ông tập trung viết bộ sử làng “Cổ Pháp cố sự”- 4 tập, 920 trang, một công trình biên khảo công phu. Tác giả đã khai thác phát huy vốn văn sử chính thống cùng văn học dân gian một các nhuần nhuyễn, khoa học với những chứng cứ khảo cứu trung thực về quê hương cội nguồn nhà Lý xưa và nay.

 

Điều bất ngờ nhất là vào lúc cuối đời, ông tung lên mạng tập “Chân dung 99 nhà văn”.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

%d bloggers like this: