"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Bảy, 2017

VÌ LỊCH SỬ VÀ CÔNG LÝ, CHÚNG TÔI LÊN TIẾNG

VŨ THƯ HIÊN

***
Chúng tôi, những nạn nhân còn sống và thân nhân những nạn nhân đã qua đời trong một vụ án không được xét xử cách nay vừa tròn 50 năm được gọi tắt là “Vụ án Xét lại chống Đảng”, một lần nữa phải lên tiếng vì sự thật và công lý, vì lương tâm và nghĩa vụ, vì một đất nước thượng tôn pháp luật.

BỐI CẢNH LỊCH SỬ.

Năm 1956, tại Đại hội 20 Đảng cộng sản Liên Xô, Bí thư thứ nhất Nikita Khrushev đã đọc báo cáo quan trọng về chống tệ sùng bái cá nhân Stalin và chủ trương “cùng tồn tại trong hoà bình” giữa hai hệ thống cộng sản và tư bản. Đường lối mới đã được hầu hết các đoàn đại biểu tán đồng tại Đại hội các đảng cộng sản và công nhân quốc tế họp tại Moskva với 81 thành viên tham dự năm 1960.

Đoàn đại biểu Đảng Lao Động (Cộng sản) Việt Nam (viết tắt ĐCSVN) do Chủ tịch Đảng Hồ Chí Minh cùng với Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn và các ủy viên Bộ Chính trị Trường Chinh, Nguyễn Chí Thanh tham dự đã ký vào bản “Tuyên bố chung” Hội nghị trên. Đường lối mới này đã bị Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) kịch liệt lên án, gọi là “Chủ nghĩa xét lại hiện đại”.

Sự thay đổi trong nhận định về quan hệ quốc tế đã phân hoá nội bộ một số đảng cộng sản. Trong ĐCSVN cũng xuất hiện hai luồng quan điểm khác nhau. Một bên ủng hộ “cùng tồn tại trong hoà bình”, phản đối đường lối giáo điều tả khuynh của ĐCSTQ, chủ trương hòa bình thống nhất đất nước, phát triển kinh tế đa thành phần.

Bên kia, theo đường lối của ĐCSTQ, chủ trương chống “chủ nghĩa xét lại hiện đại”, duy trì xã hội chuyên chính phi dân chủ, đẩy mạnh cải cách xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ hoàn toàn cơ chế kinh tế thị trường, kiên định chủ trương thống nhất đất nước bằng bạo lực.

Cuộc đấu tranh trong nội bộ diễn ra âm thầm nhưng căng thẳng đã kết thúc bằng nghị quyết của Hội nghị Trung ương 9 ĐCSVN họp năm 1963, đi ngược lại “Tuyên bố chung Maskva 1960” đã được đoàn đại biểu Việt Nam long trọng ký kết. Nghị quyết 9 (phần đối ngoại) về thực chất là bản sao đường lối của ĐCSTQ đã khởi đầu cho cuộc trấn áp những đảng viên bất đồng chính kiến bị chụp mũ “chủ nghĩa xét lại hiện đại”. Cần lưu ý là Chủ tịch Hồ Chí Minh không tham gia biểu quyết nghị quyết này.

Toàn văn NGHị QUYếT 9 được giữ trong tình trạng tuyệt mật, nhưng nội dung tinh thần được phổ biến cho các đảng viên và trí thức. Vì có quá nhiều tranh cãi nội bộ nên Đảng tuyên bố cho phép bảo lưu ý kiến khác biệt. Thái độ cởi mở này chỉ là biện pháp để phát hiện những người không tán thành.

Nhiều ý kiến bất đồng được biểu lộ công khai như những bài viết của các ông Hoàng Minh Chính, Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin, ông Trần Minh Việt, phó Bí thư Thành ủy kiêm phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Thành phố Hà Nội. Những tâm thư của nhiều đảng viên lão thành gửi đến Bộ Chính trị, phản đối đường lối đối ngoại thân Trung Quốc, tranh luận về “đường lối giải phóng miền Nam bằng bạo lực”, nóng vội trong cải tạo kinh tế xã hội chủ nghĩa và tất cả các ý kiến phát biểu trái chiều tại các cuộc học tập đều được thu thập để rồi trấn áp khốc liệt vào cuối năm 1967.

DIỄN BIẾN SỰ KIỆN.

ĐCSVN gọi tắt vụ án này là “Vụ Xét lại chống Đảng” diễn ra năm 1967, nhưng đến tháng 3 năm 1971 mới báo cáo Bộ Chính trị, tháng 1 năm 1972 mới đưa ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 20 (khóa III). Theo ông Nguyễn Trung Thành (vụ trưởng Vụ Bảo vệ đảng thuộc Ban tổ chức Trung ương) là người trực tiếp thi hành thì Bí thư Thứ nhất LÊ DUẩN và ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng LÊ ĐứC THọ nhân danh Bộ Chính trị chỉ đạo việc bắt giữ và giam cầm.

Chiến dịch khủng bố đã bắt đầu vào ngày 27 tháng 7 năm 1967 và kéo dài bằng các cuộc bắt bớ, giam cầm, quản chế nhiều năm các cán bộ trung cao cấp mà không hề xét xử hay tuyên án.

Những người bị giam cầm nhiều năm gồm có:

– Hoàng Minh Chính tổng thư ký Đảng Dân chủ Việt Nam, tổng thư ký Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, viện trưởng Viện Triết học. 

– Đặng Kim Giang, thiếu tướng phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội, thứ trưởng Bộ Nông Trường.
– Vũ Đình Huỳnh bí thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vụ trưởng vụ Lễ tân Bộ Ngoại giao, vụ trưởng Ban thanh tra Chính phủ . 
– Lê Trọng Nghĩa, cục trưởng Cục 2 (Cục Tình báo quân đội).
– Lê Minh Nghĩa, chánh văn phòng Bộ Quốc phòng. 
– Đỗ Đức Kiên, đại tá cục trưởng Cục tác chiến.
– Hoàng Thế Dũng, tổng biên tập Báo Quân đội Nhân Dân. 
– Nguyễn Kiến Giang, tỉnh ủy viên tỉnh ủy Quảng Bình, phó giám đốc nhà xuất bản Sự Thật.
– Trần Minh Việt phó bí thư Thành ủy Hà Nội, phó Chủ tịch Ủy Ban Hành Chính thành phố Hà Nội. Vụ trưởng vụ Tài vụ Bộ Công nghiệp nhẹ. 
– Phạm Viết phó tổng biên tập Báo Thời Mới (sau sáp nhập vào tờ Thủ đô Hà Nội thành tờ Hà Nội Mới).
– Nguyễn Thị Ngọc Lan, giảng viên tiếng Anh, Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội, vợ ông Phạm Viết.
– Phạm Kỳ Vân phó tổng biên tập Tạp chí Học Tập.
– Trần Thư, tổng thư ký báo Quân Đội Nhân Dân.
– Hồng Sĩ, trung tá Công an, đặc trách công tác phản gián, Hải Phòng. 
– Trần Châu nhà báo Việt Nam Thông tấn xã.
– Lưu Động nhà báo, trưởng ban Nông nghiệp Báo Nhân Dân.
– Vũ Thư Hiên nhà báo, Báo Ảnh Việt Nam, (con trai cả ông Vũ Đình Huỳnh, không đảng).
– Huy Vân, đạo diễn điện ảnh.
– Phan Thế Vấn, bác sĩ, nguyên cán bộ nội thành Hà Nội. 
– Vũ Huy Cương biên kịch điện ảnh (không đảng).
– Nguyễn Gia Lộc, cán bộ nghiên cứu Viện Triết học.
– Phùng Văn Mỹ, cán bộ nghiên cứu Viện Triết học. 
– Bùi Ngọc Tấn, nhà báo (không đảng).
… và nhiều người khác không phải đảng viên cũng bị đảng Cộng sản Việt Nam trấn áp với nhiều mức độ khác nhau.

Những cán bộ cấp cao không bị bắt nhưng bị khai trừ Đảng là:

– Ung Văn Khiêm bộ trưởng bộ Ngoại giao. 
– Bùi Công Trừng chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước. 
– Nguyễn Văn Vịnh thứ trưởng bộ Quốc phòng. 
– Lê Liêm thứ trưởng Bộ Văn hóa. 
– Minh Tranh, phó giám đốc nhà xuất bản Sự Thật.

Một số người đang học tập, công tác ở Liên Xô đã ở lại tỵ nạn như:
– Lê Vinh Quốc đại tá Chính ủy sư đoàn 308 

– Nguyễn Minh Cần phó chủ tịch Ủy ban Hành chính Thành phố Hà Nội
– Đỗ Văn Doãn tổng biên tập Báo Quân đội Nhân Dân.

Nhiều người không bị bắt giam đã bị đày ải, trù dập như các ông:
– Minh Tranh phó giám đốc Nhà Xuất bản Sự Thật, 

– Các nhà báo Đặng Đình Cẩn, Mai Hiến, Trần Đĩnh, Mai Luân 
… và rất nhiều người khác nữa.

Trong cuộc trấn áp này, bất kỳ người nào có quan điểm ít nhiều khác với đường lối của đảng, đều bị quy kết là “xét lại” và bị trừng phạt với những mức độ khác nhau.
Sự trừng phạt nặng nề còn tiếp diễn vào cuối thập niên 90 đối với ông Nguyễn Trung Thành, người trực tiếp thụ lý vụ này khi ông cùng ông Lê Hồng Hà (Chánh văn phòng Bộ Công an) viết kiến nghị đề nghị Bộ Chính trị xem xét giải oan cho các nạn nhân.

NHỮNG NĂM THÁNG TÙ ĐẦY OAN ỨC VÀ HỆ LỤY

Người được coi là “đầu vụ” là ông Hoàng Minh Chính. Ông bị qui tội vì đã gửi cho hội nghị Trung ương hai bản kiến nghị, bản thứ nhất phê phán Bộ Chính trị đã từ bỏ nguyên tắc đồng thuận với bản “Tuyên bố Moskva 1960”, bản thứ hai phê phán đường lối quốc tế sai trái của Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc. Lần đầu, ông bị bắt tù 6 năm rồi quản chế tại gia. Lần thứ hai ông bị bắt giam từ 1981 đến 1987. Lần thứ ba từ 1995 đến 1996. Tổng cộng ông bị 12 năm tù giam và 8 năm quản chế. Là một sĩ quan thương binh, trong thời gian đó, ông phải chịu nhục hình và những hành vi xúc phạm nhân phẩm.

Các ông Đặng Kim Giang, Vũ Đình Huỳnh bị qui là hai người trong “ba kẻ đầu vụ”. Cả hai cùng với ông Trần Minh Việt,… bị giam 6 năm và chịu thêm 3 năm lưu đầy biệt xứ, ở những địa phương khác nhau. Khi bị bắt, họ bị giam tại xà lim Hỏa Lò, bị cùm chân và trong phòng giam không có ánh sáng. Nơi giam cầm các ông trong nhiều năm đều là các khu biệt giam, không được giao tiếp với bất kỳ ai.

Ông Đặng Kim Giang cũng bị bắt lần thứ hai năm 1981, trên đường đi đến khu biệt giam ở Nam Định thì lên cơn nhồi máu cơ tim phải đưa thẳng vào bệnh viện công an và bị giam giữ tại đây cho đến khi bệnh tình nguy kịch, trả về nhà một thời gian thì mất.

Người bị giam lâu thứ hai là ông Vũ Thư Hiên, với 9 năm giam liên tục trong các nhà tù và trại tập trung, có những năm bị giam chung với tù hình sự.

Ông Phạm Viết, năm 1967 đang nghỉ công tác dài hạn để điều trị bệnh tim thì bị bắt, giam vào xà lim Hỏa Lò. Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, vợ ông Viết người từng bị bắt 3 lần khi hoạt động nội thành Hà Nội trong kháng chiến chống Pháp, là người phụ nữ duy nhất trong vụ này đã bị tù 2 năm rưỡi vì tội không giao nộp bản luận văn phó tiến sĩVề chủ nghĩa giáo điều ở Việt Nam” của ông Trần Minh Việt viết tại trường đảng Liên Xô. Bản này lúc đó bị vu cho là “bản cương lĩnh chính trị của tổ chức chống Đảng.”.

Thương tâm nhất trong vụ này là ông Phạm Kỳ Vân, phó tổng biên tập tạp chí Học Tập. Ông Kỳ Vân bị bắt khi đang điều trị sơ gan cổ chướng, bệnh tình trở nên trầm trọng, ông được tha về để chết. Vợ ông bị chết đuối, con gái đi Thanh niên Xung phong hy sinh trên đường Trường Sơn, con gái khác chết khi sinh nở. Người con trai út tuyệt vọng treo cổ tự vẫn. Cả gia đình không một người nào còn sống.

Còn rất nhiều người khác bị trấn áp theo nhiều cách khác nhau mà chúng tôi không thể kể ra hết: bị quản thúc với những cấm đoán ngặt nghèo, bị đưa đi cải tạo lao động, bị tước quyền công dân, tước bỏ các chính sách đãi ngộ. Họ bị đuổi khỏi cơ quan, đơn vị công tác và còn bị cấm họ làm cả những nghề kiếm sống thông thường như sửa chữa máy thu thanh, làm việc trong các cơ sở in ấn, sửa chữa đồng hồ, kể cả chữa xe đạp hay cắt tóc.

Ban tổ chức Trung ương còn có chủ trương phân biệt đối xử với con em, gia đình những người bị đàn áp: không được kết nạp vào đảng, không được đề bạt lên vị trí quản lý, không được học các trường đại học được coi là quan trọng, ngoài các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, thư viện…, không được cử đi công tác học tập nước ngoài, không được phân công về công tác tại Hà Nội và làm việc tại các bộ ngành trung ương, cơ quan quan trọng.

Hàng trăm lá đơn khiếu oan, về thực chất là những thư tố cáo đã được gửi tới các cơ quan công quyền cao nhất của nhà nước và đảng cộng sản trong suốt 50 năm qua, yêu cầu xét xử trước một phiên tòa công minh, đòi công khai vụ việc trước dư luận, bồi thường cho những thiệt hại về vật chất, tổn thương về tinh thần, phục hồi danh dự cho các nạn nhân… Tất cả những đòi hỏi chính đáng ấy chỉ được trả lời bằng sự im lặng.

NHẬN ĐỊNH CỦA NHỮNG NẠN NHÂN CÒN SỐNG VÀ THẾ HỆ KẾ TIẾP.

50 năm đã trôi qua kể từ khi những nạn nhân đầu tiên của vụ “xét lại chống Đảng” bị bắt ngày 27 tháng 7 năm 1967. Các ông Dương Bạch Mai, Ung Văn Khiêm, Bùi Công Trừng, Lê Liêm, Hoàng Minh Chính, Vũ Đình Huỳnh, Đặng Kim Giang và nhiều người khác đã qua đời, mang theo đau thương và uất hận. Những người gây ra tấn thảm kịch lớn nhất trong lịch sử đảng cộng sản Việt Nam – Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trần Quốc Hoàn, Trường Chinh… cũng đã chết.

Liên Xô, và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã tan rã. Trung Quốc và Việt Nam tuy danh xưng là xã hội chủ nghĩa nhưng trong thực tế đang đương đầu với các thách thức của giai đoạn tư bản bán khai, trước mọi tệ nạn như hối mại quyền thế, tham nhũng, lạm dụng luật pháp, chênh lệch giàu nghèo, vi phạm quyền dân chủ,… chưa từng có.

Vụ “Xét lại chống Đảng” cũng như nhiều vụ án oan đã xảy ra trong quá khứ như: Cải cách ruộng đất, Nhân văn – Giai phẩm, Cải tạo tư bản tư doanh, Hợp tác hóa, tập trung cải tạo những người tham gia quân lực và chính quyền Việt Nam Cộng hòa… chưa được các thế hệ cầm quyền kế tiếp chính thức sửa sai và nghiễm nhiên cho rằng việc xử lý trước đây là đúng.

50 năm là một thời gian quá dài cho những oan ức và bất công. Khi sự kiện này xảy ra, những người cầm quyền hiện nay còn quá trẻ, thậm chí có người còn chưa ra đời, hiển nhiên không phải là thủ phạm nhưng họ không thể phủi tay cho rằng mình không có trách nhiệm giải quyết những vụ việc xảy ra trong quá khứ. Là chính quyền kế thừa, họ phải có trách nhiệm với những việc còn tồn tại theo đúng pháp luật, sòng phẳng với lịch sử. Đó là điều phải làm nếu họ còn có ý muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền và lấy lại niềm tin của nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Mỹ, phu nhân ông Đặng Kim Giang, bà Lê Hồng Ngọc, phu nhân ông Hoàng Minh Chính, bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, phu nhân ông Phạm Viết, người phụ nữ duy nhất bị tù trong vụ này, ông Vũ Thư Hiên, ông Phan Thế Vấn và nhiều nhân chứng khác còn sống trong vụ này hiện đều đã ở tuổi gần đất xa trời. Những nhân chứng cuối cùng rồi cũng sẽ không còn, nhưng ký ức về vụ trấn áp sẽ còn sống mãi với thời gian.

Lịch sử không thể bị tẩy xoá.

Con cháu những nạn nhân đó dù chỉ là những đứa trẻ khi cha anh bị bắt, chẳng biết “xét lại” là gì, nhưng cũng nếm đủ những khổ cực của cuộc trấn áp tàn bạo nhắm vào thành viên gia đình những người không chịu cúi đầu. Đến nay, họ cũng đã về già nhưng mãi mãi không thể nào quên được những năm tháng đau thương ấy.

Cho tới nay chúng tôi vẫn còn như thấy trước mắt hình ảnh tướng Đặng Kim Giang, chỉ huy hậu cần chiến dịch Điện Biên Phủ, nằm trong chiếc quan tài hở hoác dưới ngôi nhà tranh dột nát ở ngõ Chùa Liên Phái. Bà vợ ông vừa khóc vừa giã gạch non trộn với cơm nếp, trát kín những kẽ hở của chiếc quan tài ấy.

Chúng tôi không thể quên hình ảnh ông Vũ Đình Huỳnh, nguyên Bí thư của chủ tịch Hồ Chí Minh, thành viên Việt Nam Cách mạng Đồng chí hội từ năm 1925, trước khi ĐCSVN ra đời, bị công an dùng dây thừng trói giật cánh khuỷu khi còng sắt bập vào cổ tay ứa máu mà không vừa. Khi đó ông đã về hưu được vài năm.

Chúng tôi không thể quên nấm mồ của ông Phạm Viết, nằm cô quạnh trên sườn đồi heo hút ở cạnh nhà tù Phú Sơn, Thái Nguyên. Ông là người sỹ quan thương binh đã chiến đấu nhiều năm quên mình trong nội thành Hà Nội. Ở tuổi 44, ông lìa đời mà không được có một người thân bên cạnh dù vợ con đã khẩn thiết yêu cầu được chăm sóc ông những ngày cuối đời.

Chúng tôi mãi mãi không thể quên những gì đã thấy, đã biết, đã ghi nhớ.

Và nhân đây chúng tôi cũng muốn gửi tới rất nhiều người đã đồng cảm và giúp đỡ chúng tôi trong suốt nửa thế kỷ qua lời cảm ơn chân thành. Sự chia sẻ trong tình người dù âm thầm hay công khai đã giúp chúng tôi có thêm nghị lực sống.

Bản lên tiếng này cũng là một nén hương muộn cho những nạn nhân đã khuất. Nhưng máu thịt của họ, tinh thần của họ vẫn còn đây, trong chúng tôi.

Chúng tôi cũng gửi bản lên tiếng này tới các vị đứng đầu Đảng và Nhà nước để nói rằng những thế hệ nối tiếp của các nạn nhân trong “vụ Xét lại chống Đảng” sẽ còn tiếp tục lên tiếng cho tới khi vụ này được công khai trước toàn dân, cho tới khi lẽ công bằng được lập lại cho những nạn nhân còn sống và đã khuất.

Trước sau, lịch sử sẽ phán xét một cách công bằng.

Hà Nội, ngày 27.7.2017

Dưới đây là danh sách những nạn nhân còn sống và gia đình cũng như thân nhân các nạn nhân đã khuất cùng ký tên vào bản lên tiếng này. Danh sách này còn kéo dài do không có điều kiện liên hệ trực tiếp.

– Bà Nguyễn Thị Mỹ, phu nhân ông Đặng Kim Giang và gia đình.
– Bà Lê Hồng Ngọc, phu nhân ông Hoàng Minh Chính và gia đình.
– Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, phu nhân ông Phạm Viết và gia đình
– Bà Đinh Thị Bích Đào, phu nhân ông Phùng Văn Mỹ và gia đình. 
– Bà Nguyễn Thị Oanh, phu nhân ông Lưu Động (tên thật là Nguyễn Xuân Canh) và gia đình.
– Ông Vũ Thư Hiên, con trai ông Vũ Đình Huỳnh và gia đình. 
– Ông Phan Thế Vấn và gia đình.
– Ông Trần Đĩnh và gia đình
– Ông Trần Việt Trung, con trai ông Trần Châu và gia đình. 
– Bà Minh Sơn, con gái ông Trần Minh Việt và gia đình
– Nguyễn Thị Giáng Hương, con gái ông Trần Thư và gia đình.
…………………
Nơi gửi :
Gửi tới mọi người Việt Nam và các ông, bà :

Ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam
– Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
– Ông Trần Đại Quang, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, 
– Ông Nguyến Xuân Phúc, Thủ tướng chính phủ nước chxhcn Việt Nam.

Nguồn: Facebook Vũ Thư Hiên:

https://www.facebook.com/ thuhienvu222222?hc_ref= ARTBrfo_ iI2UOjo8i9qmLiKTT3cmVhZuT- nENpENcJm74hJJc1rE36cjxjpNVyEU j0s

 

 

Advertisements

Vụ Đồng Tâm: KẾT LUẬN THANH TRA RẤT LƯƠN LẸO VÀ BẤT LƯƠNG

Vụ Đồng Tâm: KẾT LUẬN THANH TRA RẤT LƯƠN LẸO VÀ BẤT LƯƠNG

 

Nguyễn Anh Tuấn

HÀ NỘI CÔNG BỐ CHÍNH THỨC KẾT LUẬN THANH TRA 
VÔ CÙNG LƯƠN LẸO VÔ CÙNG BẤT LƯƠNG 
.
Sáng nay 25/07, tranh thủ các sự kiện hút dư luận như Trung Quốc đe doạ ngoài biển và vụ án bất công xử chị Thuý Nga ở Hà Nam, thanh tra Hà Nội cùng báo đảng tung đòn tiếp tay cướp đất – hại dân Đồng Tâm.

Một loạt các tiểu xảo được tung ra để loanh quanh lấp liếm hòng biến toàn bộ diện tích nông nghiệp của Đồng Tâm ở Đồng Sênh thành đất quốc phòng.
Trong khi đó:

Ko giải thích được, tại sao đất quốc phòng thu hồi của Đồng Tâm năm 1981 là 47,36 ha, nay lại nở ra thành 64,03 ha?
.

 
Ko giải thích được tại sao các mốc giới phía tây của dự án Sân Bay Miếu Môn chỉ đến giữa cánh đồng Sênh (mốc 23,62,61,30,29,28 thẳng Bắc-Nam), mà nay lại đòi hết cả phần từ các mốc này tới đường DT429 phía núi Rặng của Chương Mỹ cũng là đất quốc phòng? 
Vậy các mốc này có vai trò gì? Hả Thanh Tra HN?
.
 
Xin liệt kê các tiểu xảo của Thanh Tra Hà Nội trong bản kết luận chính thức:

1. Khẳng định: “Toàn bộ sân bay Miếu Môn là đất quốc phòng” .

Có ai phản đối điều này đâu? Ơ kìa.

Các ông phải cố tìm kiếm tính đúng đắn cho bản kết luận bằng cách khẳng định một câu “như đúng rồi” ngáo ngơ thế này ư?

2. Lấy lý do ngáo ngơ “đất tăng diện tích hàng chục héc ta, là do ảnh hưởng của thi công”.
.

 
3. Giải thích đất nở ra trên đất của huyện Chương Mỹ, để cố che dấu cho việc đất Quốc Phòng trên đất Đồng Tâm huyện Mỹ Đức tăng từ 47,36 ha, lên 64,03 ha.

4. “Buông lỏng quản lý, chiếm đất quốc phòng”
.

 
Cố tình lẫn lộn giữa 2 việc:
Việc 1: Sư 28 “buông lỏng quản lý” cho 14 hộ dân thuê trong diện tích 47,36 ha, nay đang đòi lại – ko ai phản đối.
.
 
Việc 2: 14 hộ khác đang sử dụng đất Đồng Sênh, bên ngoài diện tích đất quốc phòng 47,36 ha, nay bị đuổi đi để Viettel nhảy vào.
.
 
5. “Thu hồi dự thảo phương án bồi thường của 14 hộ dân”
.
 
Vì cố kiếm cách biến đất nông nghiệp của Đồng Tâm thành đất Quốc phòng, nên phải huỷ việc bồi thường. 
.
 
Vì trước đó, chưa nghĩ ra cách biến phần đất nông nghiệp này thành đất quốc phòng, nên phải ra quyết định bồi thường, để lấy đất cho Viettel. 
.
 
6. “Không có đất nông nghiệp diện tích 59 ha xứ đồng Sênh”
.
 
Cái này đúng, vì dữ liệu con số của cụ Kình và tổ đồng thuận có thể sai. .
.
 
Nhưng mảnh đất Đồng Sênh từ dãy mốc 23 đến 28 hất về phía Tây tới tỉnh lộ DT429 bên cạnh mảnh 47,36 ha đã bị thu hồi cho sân bay Miếu Môn là to đùng. Dù có thể nó ko tới 59 ha. 
.
 
Mảnh này chưa bao giờ bị thu hồi.
.
 
7. “Thu hồi ngay diện tích đất quốc phòng bị lấn chiếm”
.
 
Vâng, các ông cứ thu hồi trong phần đất 47,36 ha. Trong ấy có 14 hộ thuê đất của Sư 28. Thu lại đi.
.
 
Đừng hô khẩu hiệu rồi nhảy sang phần bên ngoài mảnh này, để thu hồi đất của 14 hộ khác, cho Viettel.
.
 
8. “Điều tra làm rõ, xử lý nghiêm cá nhân vi phạm”
.
 
Vâng, lươn lẹo để biến nốt đất Đồng Sênh bên ngoài mảnh 47,36 ha, thành đất quốc phòng nốt, để làm căn cứ cho việc biến cuộc đấu tranh giữ đất của cụ Kình và tổ Đồng Thuận, thành ra cướp đất quốc phòng?
.
 
Rồi căn cứ vào đó khởi tố bị can, đẩy họ vào tù tội?
.
 
Lươn lẹo và ác độc như những con thú!
.

Tiếm danh ‘xã hội dân sự’, chính quyền đang toan tính gì?

Tiếm danh ‘xã hội dân sự’, chính quyền đang toan tính gì?

  
Phạm Chí Dũng
VOA 26/7/2017
Một tổ chức xã hội dân sự độc lập.

Một tổ chức xã hội dân sự độc lập.

.
Đang có những dấu hiệu khá rõ cho thấy sau một thời gian “lúng túng như gà mắc tóc”, giới lãnh đạo chóp bu Việt Nam có thể đã phát ra chủ trương thừa nhận không chỉ khái niệm mà cả thực thể hoạt động của “xã hội dân sự” (XHDS).
Nhưng chưa có gì đáng vui cho giới đấu tranh dân chủ nhân quyền, bởi thái độ thừa nhận trên mới chỉ áp dụng cho đối tượng “XHDS quốc doanh”.
 .
Những kẻ tiếm danh
.
Hai tháng sau khi Trưởng ban tuyên giáo trung ương Võ Văn Thưởng phát ra tín hiệu về “đối thoại với những cá nhân khác biệt về quan điểm và đường lối”, báo Quân Đội Nhân Dân ngày 17/7/2017 đã có bài chính thức xác nhận: “Về bản chất, XHDS có nhiều điểm tích cực; đó là hoạt động trong khuôn khổ pháp lý và đạo lý vì mục tiêu khẳng định quyền làm chủ của nhân dân đối với xã hội và Nhà nước”.

.

Theo cách nhìn của tờ báo được xem là “kiên định xã hội chủ nghĩa” trên, “XHDS hiểu một cách phổ thông là xã hội trong đó các tổ chức khác nhau của người dân như: Công đoàn, hợp tác xã, nhóm v.v.. thực hiện mối liên hệ giữa công dân với Nhà nước. Đó là tổng thể các quan hệ và mạng lưới các tổ chức, hội, nhóm xã hội được hình thành và hoạt động theo nguyên tắc dân chủ, tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp lý và đạo lý, cùng với Nhà nước kiểm soát và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, phát huy dân chủ nhằm duy trì sự ổn định, cân bằng và phát triển bền vững của Nhà nước và xã hội. XHDS có các đặc trưng cơ bản là: Các tổ chức, hội nhóm nằm ngoài Nhà nước, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, độc lập về tài chính; quy mô, hình thức tồn tại, thiết chế tổ chức đa dạng; mục tiêu chung vì sự phát triển của cộng đồng, xã hội. Theo phân tích trên thì ở Việt Nam gồm có các loại tổ chức XHDS: Các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp, tổ chức nhân đạo, từ thiện, hữu nghị; các tổ chức cộng đồng theo dòng tộc, sở thích; các tổ chức dịch vụ công không do Nhà nước lập ra… Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nước ta có gần 18 tổ chức công đoàn ngành, 400 hội, hàng nghìn hiệp hội, câu lạc bộ hoạt động trong mọi lĩnh vực xã hội”.
.
Vậy là kể từ nay trở đi, toàn bộ khối hội đoàn nhà nước sẽ được mang một cái tên lạ hoắc: Xã hội dân sự.
.
Có thể đánh giá rằng đây là lần đầu tiên từ trước đến nay, dù chẳng có văn bản nào tuyên bố chính thức, chính quyền đã gần như chính thức tiếm danh, hay nói theo dân gian là “nhận vơ” khái niệm “xã hội dân sự” của phương Tây để dùng cho những “cánh tay nối dài của đảng” – theo phương châm “tay không bắt giặc”, hoặc hiểu thâm thúy hơn là “lấy mỡ nó rán nó”.
.
Thái độ có vẻ “cởi mở chính trị” như thế lại gần giống với hình ảnh “quay đầu” nếu đối chiếu với thời gian từ năm 2013 trở về trước, cũng những tờ báo chuyên chính như Quân Đội Nhân Dânvà Nhân Dân còn đăng những bài viết hằn học mang tựa đề “‘Xã hội dân sự’ – một thủ đoạn của Diễn biến hòa bình” và quy thẳng XHDS vào “thế lực phản động nước ngoài”.
 .
Vì sao phải tiếm danh?

.

 Chỉ từ cuối năm 2013 khi giới cầm quyền Việt Nam chính thức được chấp nhận trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc và bắt đầu phải trải qua những cuộc Kiểm điểm định kỳ phổ quát về “thành tích thực hiện nhân quyền”, trên mặt báo đảng mới thưa dần lối quy chụp XHDS với “thế lực thù địch”. Thậm chí thi thoảng một tờ báo nhà nước còn bạo phổi đăng nguyên văn từ “xã hội dân sự”, tuy sau đó bị cơ quan tuyên giáo tuýt còi và xóa mất từ ngữ hay ho này. Thái độ của giới quan chức nói chung đối với các tổ chức XHDS bắt đầu có nét thay đổi: vẻ thù địch và coi thường trước đó chuyển sang “nghiên cứu về xã hội công dân”.

.

Sau chuyến đi Hoa Kỳ của nhân vật số 2 Việt Nam là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang vào tháng 7/2013, cùng với quyết tâm “không gì lay chuyển nổi” phải vào được Hiệp định TPP để cứu vãn nền kinh tế chỉ chực chờ lao xuống vực thẳm, Hà Nội lần đầu tiên đã phải nín tiếng trước sự ra đời của hàng loạt tổ chức XHDS mà không dám bắt bớ và thẳng tay vi phạm nhân quyền như từ năm 2012 về trước.
Chỉ trong thời gian khoảng một năm từ giữa 2013 đến giữa 2014, xã hội Việt Nam đã hình thành trong lòng nó hơn hai chục tổ chức XHDS – tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do văn học, tự do tôn giáo, tự do biểu tình, nhân quyền dân oan đất đai, nhân quyền, tù chính trị… Về thực chất, khối XHDS độc lập đã chính thức hình thành như thế ở Việt Nam.
.
Trong giai đoạn 2013 – 2016, cứ mỗi năm lại xuất hiện vài dấu hiệu cho thấy chính quyền Việt Nam“sắp công nhận XHDS”. Tuy nhiên, quá trình này “bò” rất chậm chạp, cho dù từ năm 2016 giới Công giáo Vinh và những tỉnh kề cận như Hà Tĩnh, Quảng Bình đã chính thức “thực thi Luật Biểu tình của công dân theo Hiến pháp” bằng phong trào rộng lớn phản kháng quốc nạn ô nhiễm do nhà máy Formosa gây ra cùng nạn tiếp tay của một số giới chức trong chính quyền, bất chấp dự luật Biểu tình cho đến nay vẫn bị Quốc hội treo suốt một phần tư thế kỷ kể từ Hiến pháp năm 1992.
Trên thực tế, không chỉ các tổ chức XHDS độc lập mà đã ra đời ngày càng nhiều những loại hình tổ chức dân sự tự phát của người dân – như một sự tập hợp về nhân lực và vật lực để đấu tranh với chính quyền về những hậu quả trưng thu đất đai, ô nhiễm môi trường, “người dân tự chết trong đồn công an”… Từ năm 2015 đến nay, tần suất phát sinh hậu quả các vấn đề đất đai và môi trường đã dày đặc hơn hẳn thời gian trước. Ngày càng hiện ra nhiều hơn các địa chỉ phản kháng mới ở nhiều tỉnh và thành phố. Không khí phản ứng và phản kháng ngày càng sôi sục, dễ kích nổ và luôn có thể bùng phát. Tiếp nối phong trào biểu tình phản kháng Formosa ở miền Trung, vụ người dân xã Đồng Tâm ở ngay Hà Nội bắt giữ cả một trung đội cảnh sát cơ động và sau đó “rào làng chiến đấu” vào tháng 4/2017 là một minh chứng về “điểm tới hạn” của phản kháng xã hội, rất gần với hành động “khởi nghĩa” đối với chế độ cầm quyền.
.
Tuy nhiên, từ cuối năm 2016 đến nay lại chứng kiến một hình ảnh “thoái trào” của nước Mỹ về quan điểm nhân quyền đối với Việt Nam. Đây cũng là khoảng thời gian mà tác động quốc tế về nhân quyền đối với giới chóp bu Hà Nội có phần bị giảm sút. Vì thế, ẩn số cần được giải đáp là vì sao trong bối cảnh không phải chịu nhiều áp lực quốc tế, đặc biệt từ Mỹ, chính quyền Việt Nam lại vẫn dần thừa nhận XHDS?
Có những nguyên do ẩn giấu của thái độ thừa nhận hết sức miễn cưỡng trên.
 .
“Tháo ngòi nổ”

.

 
Một nguyên do phụ nhưng không phải không quan yếu: ngân sách nhà nước đã quẫn bách đến mức không còn có thể cấp chi hàng năm đến 71.000 tỷ đồng, chiếm tới 1,7% GDP quốc gia. Từ năm 2015 đến nay, nhiều “cánh tay nối dài của đảng” – một cụm từ hoa mỹ đặc tả các hội đoàn quốc doanh – đã bị cắt giảm kinh phí hoạt động từ 40 -50%, tạo ra triển vọng sẽ còn bị cắt ngân sách nhiều hơn nữa từ năm 2017 trở đi.

.

Nếu chủ trương “XHDS quốc doanh” hình thành và được triển khai một cách chính thức, nhiều khả năng sẽ chỉ có 6 tổ chức chính trị – xã hội quan trọng nhất của đảng là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam còn nhận được kinh phí ngân sách. Trái lại, phần lớn hội đoàn nhà nước sẽ bị đẩy sang khu vực XHDS mà do vậy phải tồn tại trên tinh thần “tự thu tự chi” – một phương cách khiến ngân sách nhà nước thắt bóp tiền bạc để bù đắp cho các khoản “chi thường xuyên” cho đội ngũ công chức gần 3 triệu người cùng khối công an, quân đội.
.
Nhưng “tháo ngòi nổ” mới là nguyên do chính yếu của thái độ thừa nhận XHDS.
Từ trước tới nay, một trong những thủ pháp – thủ đoạn của chính quyền vẫn thường áp dụng trong các chiến dịch “tháo ngòi nổ” là sử dụng các tổ chức hội đoàn quốc doanh để “dân vận”, không để tâm lý người dân – nạn nhân kịp biến thành bùng nổ mà sẽ quá khó để kiểm soát hay đàn áp.
.
Ngay trước mắt, chính quyền phải làm thế nào để đưa ra một số tổ chức hội đoàn có nguồn gốc nhà nước sang khu vực “xã hội dân sự”, nhưng là XHDS của nhà nước – như một bằng chứng để chứng minh với người dân và trí thức trong nước về thái độ “cởi mở dân chủ” của đảng và chính quyền, đồng thời chứng minh cho quốc tế thấy rằng Việt Nam tôn trọng nhân quyền và đòi hỏi về XHDS của nhiều nước trên thế giới…
 .
Nhiệm vụ tính đảng

.

 Trong trung hạn, khối “XHDS quốc doanh” có một nhiệm vụ mang tính đảng rất đặc biệt: làm sao phải cố gắng lấn át khối “XHDS độc lập”, không để các tổ chức XHDS độc lập và những người tranh đấu cho dân chủ nhân quyền phát triển được ảnh huởng vào quần chúng.

.

Đó cũng là nguồn cơn để mặc dù gần như chính thức tuyên bố chấp nhận XHDS, bài viết trên Quân Đội Nhân Dân ngày 17/7/2017 vẫn rút tít: “Phòng, chống hoạt động lợi dụng xã hội dân sự để chống phá Đảng, Nhà nước”, cùng đoạn nhấn mạnh “Trong Chiến lược “Diễn biến hòa bình” với nước ta, các thế lực thù địch triệt để sử dụng các thủ đoạn phi quân sự, lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo… để phá hoại từ bên trong nội bộ, hòng tạo ra lực lượng chính trị đối lập với Đảng, Nhà nước. Trong đó, chúng đặc biệt quan tâm, lợi dụng xã hội dân sự (XHDS)”.
.
Vẫn chưa có gì đáng mừng với giới đấu tranh dân chủ nhân quyền, bởi sắp tới sẽ là một thử thách mới: cuộc cạnh tranh đầy tính đố kỵ lẫn thủ đoạn chơi xấu của chính quyền và “XHDS quốc doanh” đối với “XHDS độc lập”.

Dân đang nghĩ gì khi thấy quan chức quá giàu?

Dân đang nghĩ gì khi thấy quan chức quá giàu?

 

Công Lý

Bài đăng ngày 23-7-2017 trên Tạp chí điện tử Nhà quản lý thuộc Liên hiệp các hội khoa học & kỹ thuật Việt Nam và Viện Nghiên cứu và Đào tạo về quản lý.

Có cả chục câu hỏi nhưng câu trả lời thì lại để ngỏ. BVN đành đáp thay:

“Có độc mới đủ, có phũ như chó mới giàu”,

Hệt nhau – trên dưới, trước sau – ấy mà.

Bauxite Việt Nam

clip_image002

Cơ ngơi hoành tráng của một quan chức ở Yên Bái. Ảnh: Tuổi Trẻ

Quan chức giàu có. Quan chức rất giàu. Vậy thì người dân đang nghĩ gì khi quan chức quá giàu? Liệu dân đang nghĩ rằng quan chức giàu có là do “chạy xe ôm, “buôn chổi đót”…?

Khi quan chức quá giàu…

Giám đốc Sở TN&MT tỉnh Yên Bái Phạm Sỹ Quý đang bị thanh tra vì khối tài sản khủng của mình. Trong năm 2015 và 2016, UBND TP Yên Bái đã ban hành liên tục 6 quyết định cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng hơn 13.000 m2đất vốn là đất nông nghiệp thành đất ở cho bà Hoàng Thị Huệ, vợ ông Quý, sử dụng đất tại tổ 42 và tổ 52, phường Minh Tân, TP Yên Bái. Trên các diện tích đất này, gia đình ông Quý đã xây dựng nhiều công trình nhà ở, vườn tược có quy mô lớn. Một tài sản khác cũng được đánh dấu hỏi là căn chung cư cao cấp Mandarin Garden rộng 130 m2 (Cầu Giấy, Hà Nội) mà ông Quý khai trị giá 2,5 tỉ đồng, trong khi giá thị trường thực tế cao hơn rất nhiều lần. Ông Quý thanh minh rằng ông có khối tài sản này là do nuôi lợn, buôn chổi đót… Liệu dân có tin không?

Tháng 11-2014, sau khi báo chí dồn dập đưa tin về tài sản “khủng” của ông Trần Văn Truyền, nguyên Tổng Thanh tra Chính phủ (là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý), Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã vào cuộc xác minh làm rõ. Trong kết luận về vụ việc này, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã chỉ rõ ông Trần Văn Truyền mắc một số khuyết điểm, vi phạm trong thực hiện chính sách nhà, đất. Danh sách 6 căn nhà, biệt thự có bóng dáng ông Trần Văn Truyền và người thân nắm giữ được Ủy ban Kiểm tra Trung ương liệt kê khiến dư luận không khỏi “giật mình”. Trước những vi phạm khuyết điểm ấy, ông Trần Văn Truyền đã bị kỷ luật cảnh cáo. Tuy nhiên biệt thự “khủng” của nguyên Tổng Thanh tra Chính phủ vẫn sừng sững hiên ngang, lồ lộ xuất hiện ở Bến Tre, người dân mỗi lần đi ngang đó nghĩ gì?

Vài tháng trước đây, thông tin về tài sản cổ phiếu “khủng” giá trị lên đến 600-700 tỷ đồng của Thứ trưởng Bộ Công Thương Hồ Thị Kim Thoa (là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý) cùng gia đình tại Công ty Cổ phần Bóng đèn Điện Quang khiến dư luận xôn xao. Thực tế, không khó để tìm ra các số liệu cổ phiếu này bởi tất cả đều được công khai trên các website khi Điện Quang là công ty cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán gần 10 năm nay. Bà Thoa cũng đã kê khai số tài sản là cổ phiếu này với Bộ Công Thương. Tuy nhiên, câu hỏi lại đặt ra, dù từng là một lãnh đạo doanh nghiệp nhưng là doanh nghiệp nhà nước rồi cổ phần hóa vậy bà Thoa và gia đình lấy đâu ra nguồn tiền lớn đến thế để mua cổ phiếu?

Nếu ai đã từng đến thành phố Lào Cai, chắc đều nghi ngờ về việc tỉnh này đứng trong nhóm 6 tỉnh nghèo nhất cả nước. Nhưng không tin cũng không được, bởi theo như số liệu và đặc biệt là dịp Tết Đinh Dậu 2017, tỉnh Lào Cai đã phải xin Trung ương trợ cấp hàng trăm tấn gạo cứu đói. Thế nhưng mới đây, người ta rỉ tai nhau về khu đất phân lô thuộc phường Kim Tân, TP Lào Cai có cả dãy biệt thự sang trọng nằm tách biệt với phần dân cư còn lại. Khu đất có vị trí đắc địa hướng ra mặt tiền 3 con đường to đẹp, đắt đỏ nhất Lào Cai là Soi Tiền, An Dương Vương và Lý Nam Đế. Khu biệt thự này cũng “mọc” lên ở nơi có giá trị nhất tỉnh Lào Cai. Nghe đâu, đây là khu có giá trên dưới 100 triệu/m2, thế nên các biệt thự có đến 3 mặt tiền này có giá lên tới hàng chục tỉ đồng. Điều bất thường là 6 lô đất biệt thự đều rơi vào tay 6 quan chức tỉnh này sau khi đấu giá, trong đó có Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai (là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý). Ngày 29-5, trả lời phóng viên báo chí, ông Vương Trinh Quốc – Chánh Văn phòng UBND tỉnh kiêm người phát ngôn UBND tỉnh Lào Cai cho biết quan chức Lào Cai trúng đất vì trả hơn giá khởi điểm 100.000 đồng. Ừ, thì “đúng quy trình” cả. Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc cho rằng: “Nếu việc đấu thầu khu đất vàng ở Lào Cai là công khai và công bằng thì ở góc độ kinh tế ít nhất cho chúng ta thấy một kết luận khách quan là: công chức rất giàu có, quan chức rất giàu có”.

Cũng như biệt thự “khủng” của ông Trần Văn Truyền, biệt thự “khủng” của quan chức Lào Cai, cổ phiếu “khủng” của Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa, nhiều quan chức sau khi về hưu đã từng được báo chí điểm mặt trong những căn biệt thự nguy nga xây dựng để “dưỡng già”. Nhưng những căn biệt thự, những tài sản cực lớn nhìn thấy được dường như chỉ là phần nổi của tảng băng chìm bởi dư luận đã không ít lần “dở khóc dở cười” khi đọc những bản tin về những tên trộm “viếng thăm” nhà quan chức. Họ kê khai tài sản rất khiêm tốn, nhưng khi khai báo với cơ quan công an thì thể hiện số tài sản nhà quan chức bị cuỗm đi trị giá hàng chục, hàng trăm cây vàng, hàng tỷ đồng hay vài chục nghìn đôla…

Quan chức giàu có. Quan chức rất giàu. Vấn đề đáng quan tâm là người dân đang nghĩ gì về thực trạng quan chức quá giàu?

Liệu người dân có nghĩ rằng quan chức giàu có là do “làm thối móng tay”?

Liệu người dân tin rằng quan chức giàu là do buôn chổi đót, đổ giá?

Liệu người dân có nghĩ rằng quan chức giàu có là do cóp nhặt từ “đồng lương và kinh doanh bia hơi”?

Hay liệu người dân nghĩ có rằng quan chức giàu có là do “chạy xe ôm” ngoài giờ làm việc?

Chắc chắn người dân không thơ ngây đến mức nghĩ như vậy. Vậy thì người dân đang nghĩ gì, mấy quan chức giàu có chắc cũng hiểu ra. Không có bức tranh nào tương phản sống động hơn khi so sánh biệt thự “khủng” của nguyên Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền với những căn nhà nghèo nàn của người dân xung quanh biệt thự khủng đó.

Khi quan chức quá giàu mà đa số người dân còn nghèo thì có nói bao nhiêu cũng đều vô nghĩa, không thuyết phục! Với việc Bộ Chính trị vừa ban hành Quy định số 85 về kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản đối với đối tượng là 1.000 cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, người dân kỳ vọng đây sẽ là Tuyên ngôn quan trọng về thái độ của Đảng mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đang là ngọn cờ tiên phong trong công cuộc chống tiêu cực, tham nhũng.

C.L.

Nguồn: http://nhaquanly.vn/dan-dang-nghi-gi-khi-quan-chuc-qua-giau-d22861.html

 

MỘT ĐÊM VỚI CÔ ẤY

MỘT ĐÊM VỚI CÔ ẤY

Truyện ngắn

Nguyên tác: One Night with Her

Tác giả: Sudhasree

PHÙNG HOÀI NGỌC CHUYểN NGữ

***

Trong vài năm qua, Sam cố ý bỏ qua ý tưởng trở về Ấn Độ. Anh hiện đang làm việc tại Anh quốc như là một nhà văn cho một tạp chí có uy tín. Mặc dù cuộc sống của anh ở đây rất tốt, anh luôn nghĩ về cuộc sống quá khứ của mình ở Ấn Độ. Thời thơ ấu, anh điềm tĩnh và rất nhút nhát. Anh có rất ít bạn bè và luôn luôn cố gắng thể hiện cảm xúc của mình bằng lời nói. Cách ứng xử thời thơ ấu của anh vẫn tiếp tục và anh trở thành một nhà văn với những ý nghĩ biểu hiện.

Hơn hai mươi tuổi, anh bắt đầu sự nghiệp với tư cách là một nhà văn viết cho loại truyện đăng nhiều kỳ, kịch bản phim nhiều tập. Làm việc kiểu đó, anh đã học được nhiều điều và dần dần trở nên nổi tiếng. Người ta nói rằng “nhà văn luôn viết những gì họ sống trong cuộc sống thực của họ”. Ở một mức độ nào đấy, điều đó là sự thật. Nhưng có những nhà văn chỉ viết những gì họ chưa bao giờ có trong cuộc đời họ. Có thể, họ tưởng tượng và chỉ nói ra bằng lời.

Trong trường hợp của anh, anh thực sự không bao giờ cảm thấy cần phải cảm nhận chuyện gì rồi sau đó mới viết về nó. Anh chỉ tưởng tượng ra những tình huống cần thiết và sau đó viết. Rất nhanh chóng, anh viết những câu chuyện tình yêu rất hay mà nó chưa bao giờ xảy ra trong cuộc đời anh. Đúng là có vài chuyện anh mê say thực sự, nhưng thường thì đó không phải là tình yêu có thực.

Một hôm anh đang giải thích điều gì đó với giám đốc. Thoạt đầu, anh nghe một giọng nói khiến anh quay đầu về phía cô để nhìn thấy cô.

“Tôi biết cô ấy, nhưng chưa bao giờ nghe thấy tiếng cô ấy nói”. Anh nói trong đầu. Cô ấy đang làm trợ lý cho giám đốc nghệ thuật. Cô chưa bao giờ lôi cuốn đôi mắt anh mặc dù họ làm việc cùng nhau hơn một năm nay. Bây giờ khi anh nghe cô, lần đầu tiên anh nhìn cô và ngạc nhiên vì suốt những ngày qua anh không bao giờ nhìn thấy điều gì trong mắt cô.

cô gái Ấn Độ

“Ôi lạy Chúa, đôi mắt hấp dẫn quá”. Trong khi cô đang nói, đôi mắt cô thể hiện những lời nói rõ hơn đôi môi cô. Cô đã nói xong, nhưng anh không hiểu cô đang cố nói gì. Sau đó cô đi ra. Tối hôm ấy anh đang cố nhớ lại những gì cô ấy giải thích và nghĩ rằng ngày mai sẽ hỏi cô lần nữa.

Có thể là anh đang cố gắng tìm một cơ hội để gặp cô. Một lần nữa anh rơi vào tình trạng bị cuốn hút. Nhưng lần này thì nghiêm trọng hơn. Anh lại một lần nữa muốn nhìn vào đôi mắt hấp dẫn của cô. Xem cô ấy nói và giải thích. Đêm nay quá tối và rất dài. Sau mỗi giờ anh nhìn chằm chằm vào đồng hồ treo tường. Có phải là đồng hồ bị chậm? Anh so sánh với đồng hồ đeo tay. Nó cũng giống như đồng hồ treo tường. Vậy tại sao đêm nay lại dài vậy. Trông như sữa nhưng không phải sáng sớm. Sau một đêm dài, mặt trời mới mọc trên bầu trời.

Anh ra khỏi giường và vội vã làm mọi thứ lặt vặt. Cuối cùng anh đến nơi làm việc và thấy rằng mọi người đều đi trễ. Trên thực tế anh đã hơi sớm. Có thể, sớm tới 3 giờ ! Anh chỉ biết ngồi đợi trong phòng. Dần dà tất cả nhân viên bắt đầu vào văn phòng. Ngày hôm đó, đôi mắt anh tìm kiếm cô, nhưng cô không có mặt trong văn phòng.

Trong giờ ăn trưa, anh đến gặp giám đốc và hỏi: “Người phụ nữ nói chuyện với chúng ta hôm qua ở đâu ạ?”.

Ông ấy nói, “Cô ấy đã xin nghỉ phép 2 ngày mà tôi đã đồng ý hôm qua. Đúng lúc anh ngồi với chúng tôi đó”.

“Ôi Chúa ơi, vậy là tôi cần phải chờ thêm hai đêm nữa, như tối qua”. Chính ý nghĩ đó đã làm anh đau nhói trong tim.

Anh nghĩ anh sẽ đi tìm cô. Trong thực tế, anh ta không muốn đêm nay như đêm qua. Anh ngay lập tức kiểm tra địa chỉ của cô trong danh sách liên lạc của văn phòng đăng ký khẩn cấp và bắt đầu tìm kiếm địa chỉ đó. Cuối cùng, sau 1 giờ tìm kiếm, anh đã tìm được căn nhà của cô. “Đây không phải là nơi mát mẻ để sống”, anh nghĩ. Anh bắt đầu chuyển vào suy nghĩ không chậm trễ.

Anh gõ cửa hai lần, cô mở cửa. Cô không hỏi gì nhưng đôi mắt cô dò hỏi anh, “Anh đến có việc gì ạ?”

Anh bắt đầu nói. “Xin chào, tôi là Sam người viết kịch bản, cô đang làm việc với bộ phận đó mà”.

Cô nói,”Tôi biết rồi, xin mời vào”.

Anh bước vào trong nhà và thấy căn nhà rất gọn gàng sạch sẽ. Tất cả mọi thứ đều có trật tự. Không giống như phòng của mình, nơi mọi thứ đều lộn xộn. Nhưng anh là một nhà văn và do đó chúng ta không thể mong đợi mọi thứ ở những người sáng tạo.

Cô bắt đầu, “Thưa anh, anh cần gì ạ? “

Anh trả lời, “Không có gì, nhưng …”.

Cô ấy nói: “Tôi biết anh kể từ ngày đầu tiên tôi làm việc. Anh chắc hẳn không làm bất cứ điều gì mà không có lý do. Vậy, hãy nói cho tôi biết tôi có gì sai trái không ?”.

“Chúa ơi, cô ấy thật ngây thơ.” Anh nghĩ.

“Xin vui lòng cho biết, có việc gì thế ạ? Có vấn đề gì với công việc của tôi không?” cô hỏi.

Anh đã lấy được chút can đảm và cố gắng đơn giản như vậy.

-Tôi đến gặp cô không phải về vấn đề nghề nghiệp gì. Chỉ là cá nhân tôi mong muốn đến thăm cô. Những ngày qua tôi không bao giờ quan sát đôi mắt cô. Tôi chỉ muốn nhìn vào mắt cô và chuyện trò thôi. Tôi thực sự yêu thích những đôi mắt nói chuyện. Tôi không biết có thể nói thẳng được không. Nhưng trái tim tôi đang bảo tôi kể cho cô nghe một cái gì đó.

Đến lúc này, cô cảm thấy hơi bị sốc khi nghe anh nói. Cô chỉ nhìn chằm chằm vào anh một lúc rồi mới nói.

– Thưa anh, tôi thực sự cố gắng xứng đáng với lời nói của anh. Tôi có thể hiểu cảm giác của anh. Nhưng trước khi anh bắt đầu nói điều gì đó, tôi muốn nói với anh về bản thân mình. Tôi đã lấy chồng và là mẹ của một con bé ba tuổi. Tôi thực sự có rất nhiều trách nhiệm. Chồng tôi đang ở trong bệnh viện từ 1 năm trước. Tôi cần chăm sóc anh ấy và con gái tôi, là một phần trong công việc của tôi. Trong hoàn cảnh này, tôi không thể nào bị mất việc vì bất cứ giá nào. Nếu anh gây ra bất kỳ vấn đề gì, công việc của tôi sẽ bị rủi ro”.

Anh đứng lên và nói, “Tôi quá say mê đến rồ dại nhưng, tôi muốn được ở bên cô ít nhất một đêm. Suốt cả đêm. Tôi hứa tôi sẽ nhận tất cả các trách nhiệm của cô”.

Cô nói, “Tôi thậm chí không thể nghĩ gì về điều này. Không chỉ tôi, bất cứ ai ở vào hoàn cảnh tôi cũng không bao giờ chấp nhận đề nghị của anh… Xin anh, hãy hiểu tình trạng của tôi và đừng cố làm phiền”.

Lời nói của anh tắc nghẹn lại. Anh không biết nói gì nữa. Anh dừng lại một lúc. Bây giờ không biết làm gì. Rồi, anh nói với giọng bình thản, “Tôi đảm bảo với cô rằng sẽ không có vấn đề gì đâu. Cảm ơn cô, xin tạm biệt”.

Anh quay lại và rời khỏi nhà cô. Anh trở lại làm việc, anh nghĩ đến việc không nghĩ gì về cô nữa, anh chỉ muốn hoàn thành công việc của mình để không thể ngắm cô làm việc. Nhưng bất cứ khi nào cô xuất hiện trước anh, anh vẫn mắc một điều trong tâm trí. Một điều duy nhất: “Một đêm với cô ấy”.

Tất cả những ngày ấy trôi qua và cuối cùng anh đã hoàn thành công việc của mình. Đó là ngày cuối cùng của anh trong công việc. Anh nhìn thấy cô ấy lần cuối cùng. Đôi mắt của anh chỉ hỏi cô ta câu hỏi tương tự duy nhất và cô cũng “trả lời” giống như cô từng làm trước đó. Chán nản với cuộc sống này, anh bắt đầu sửa soạn kế hoạch rời khỏi đất nước này và anh đã nhận được một công việc khác ở Anh.

Đó là cách anh rời Ấn Độ và không muốn trở lại Ấn Độ vì anh có thể biết rằng câu trả lời của cô sẽ là một con số không to tướng. Anh nghĩ anh sẽ không cố gắng gặp cô bằng mọi giá, anh sẽ lập tức hoàn thành công việc và rời khỏi Ấn Độ càng sớm càng tốt.

Nhưng điều đầu tiên anh làm sau khi ra khỏi sân bay là đi đến nhà cô. Anh nhớ lại địa chỉ của cô. Anh đến đó và thấy rằng cánh cửa đã bị khóa. Anh hỏi một người hàng xóm về cô ấy:

– Bây giờ cô ấy ở đâu? Chồng cô ấy thế nào ạ?

– Ô, ông không biết ư. Cô ấy đang ở trong bệnh viện. Chồng cô ấy qua đời một năm rồi.

Anh hỏi “Bệnh viện nào?”.

Ông ta giải thích địa chỉ đầy đủ của bệnh viện. Sam không vui nhưng trong trái tim anh, mong ước của anh một lần nữa được làm mới. “Một đêm với cô ấy”.

Vào lúc anh đến bệnh viện, đó là 8 giờ. Anh ngay lập tức vội vã tới quầy lễ tân và hỏi về cô. Nhân viên trực kiểm tra sổ sách và nói rằng “cô ấy đang ở trong phòng số 9”.

Anh có thể nghe được nhịp tim của mình. Tất cả những ngày qua anh đã điên cuồng trong suy nghĩ của cô ấy. Bây giờ là thời gian để gặp lại cô và đặt niềm ước ao của anh trước mặt cô. Anh chạy đến phòng đó. Anh mở cửa phòng.

Anh thấy cô nằm trên giường bệnh viện. Cô mặc quần áo bệnh nhân màu xanh nhạt. Đôi mắt cô nhắm lại. Tất cả xung quanh cô đều là máy móc và ở một góc, anh nhận thấy một cô gái 6 tuổi đang ngồi. Anh từ từ di chuyển về phía cô. Tất cả sự phấn khích của anh đã biến mất. Anh đến bên cô và nắm lấy tay cô. Với cảm giác đụng chạm của anh, cô từ từ mở mắt ra.

– Ô thưa anh, là anh đấy à. Rất vui được gặp anh sau một thời gian dài. Cô thì thào.

Bất giác nước mắt anh trào ra và rớt vào cô. Cô nói, “Sao vậy thưa anh? Anh không vui khi gặp lại tôi ư? “.

“Không, tôi vui chứ”, trái tim anh tràn ngập đau đớn. “Nhưng anh chưa bao giờ nghĩ gặp em nằm trên giường bệnh. Dù sao cũng cho anh biết là em có vui khi nhìn thấy anh không?”.

“Vâng thưa anh, tôi rất vui khi nhìn thấy anh lần cuối cùng. Nhưng tôi rất buồn khi có thể tôi không gặp được anh vào ngày mai. Không chỉ anh, tôi thậm chí không thể nhìn thấy con gái tôi vào ngày mai. Thật là đau đớn vì tôi không làm được trách nhiệm của mình. Thưa anh, anh có thể cho tôi chỉ một ân huệ. Xin vui lòng thông báo cho bất kỳ trại trẻ mồ côi nào về con gái tôi sau khi tôi… “.

Đột nhiên, anh lại trào nước mắt. Giọng anh run lên. Ngay cả khi đó, anh cũng không ngừng lời. “Một đêm với em và tôi sẽ nhận trách nhiệm của em. Con gái của em là trách nhiệm của tôi. Một đêm, cả đêm”.

Cô chỉ mỉm cười. Nhưng cô cố gắng ngăn dòng nước mắt của mình.

Suốt cả đêm anh cầm tay cô trong tay. Anh nhớ lại những ngày anh từng nghĩ đến đêm nay. Cuối cùng thì tối nay là đêm của anh với cô ấy.

Anh đã giữ lời hứa của mình suốt đời và luôn luôn nhớ “một đêm với cô ấy”.

– END –

Nguồn: http://yourstoryclub.com/short-stories-love/love-story-one-night-with-her/

LỜI BÀN NGƯỜI DỊCH

Đọc xong truyện người dịch bồi hồi nhớ cố giáo sư Lưu Đức Trung khi hướng dẫn chuyên đề văn học Ấn Độ- một đất nước có nền triết học thẳm sâu. Ông đã nói về mỹ học xứ Ấn thời cổ. Hoa hồng đẹp nhất không phải vào buổi sáng, vì lúc ấy nó rực rỡ nhờ sương sớm và ánh mặt trời. Hoa hồng đẹp nhất vào buổi chiều tối khi đã héo rũ, mùi hương toả ra mới thực là tiếng của hoa hồng nói với chúng ta”.

Bước ngoặt tâm trí của nhà văn Sudhasree là khi nghe cô giãi bày hoàn cảnh neo đơn khó khăn để xin nghỉ phép hai ngày. Cô nói với giám đốc, nhưng ánh mắt thể hiện nhiều hơn. Nhà văn bắt đầu chú ý và ao ước…

PHN

 

NHỮNG ĐIỀU ĐỪNG LÀM TRÊN MÁY BAY

NHỮNG ĐIỀU ĐỪNG LÀM TRÊN MÁY BAY

Di-may-bay

WESTMINSTER, California (NV) – Chúng ta thường bị căng thẳng trong các chuyến du lịch, đặc biệt trong mùa hè. Vì thế, cần phải cẩn thận, không để bị nhiễm bệnh khi đang trong một chuyến bay. Các chuyên viên sức khoẻ tiết lộ rằng trong chuyến bay mà bạn trải qua là nơi ẩn núp của nhiều loại vi trùng và gợi ý nhiều biện pháp giúp bạn giữ sức khoẻ để cảm thấy thoải mái khi đang ở trên không trung.

Đừng để chân trần khi đi bộ

Các tiếp viên hàng không chứng kiến mỗi ngày nhiều cảnh tượng, từ người bị nôn mửa, bị đổ máu, hoặc làm đổ vấy tung toé thức ăn trên thảm lót đường đi. Linda Ferguson, nữ tiếp viên hàng không hành nghề suốt 24 năm qua cho biết cô thấy nhiều người đi bộ từ ghế ngồi đến phòng vệ sinh trên đôi chân trần. Cô đã phải năn nỉ họ đừng như thế vì sàn nhà chứa đầy vi trùng. Theo cô, bạn đừng bao giờ vào nhà vệ sinh hoặc khu vực bếp ăn mà không mang giầy dép vì thỉnh thoảng có người làm rơi ly chén, để lại nhiều mảnh thuỷ tinh bén nhọn trên sàn. Đó là những điều bí mật mà các tiếp viên hàng không không bao giờ nói cho bạn biết.

Chớ uống nước đá

Một cuộc nghiên cứu của Tổ chức Bảo vệ Môi sinh Hàng không, viết tắt là EPA năm 2004 cho thấy, chỉ có 15% trong tổng số 327 hãng hàng không cung cấp nguồn nước uống đạt tiêu chuẩn về sức khoẻ. Sau khi EPA ban hành luật quy định tiêu chuẩn nước uống của các hãng hàng không vào năm 2009, số hãng hàng không đạt tiêu chuẩn này bắt đầu gia tăng và hầu hết không dùng nước vòi để phục vụ hành khách, trừ nước đá vẫn phải dùng nguồn nước này. Ferguson cho biết các bồn chứa nước của phi cơ đã quá cũ và chứa nhiều vi trùng. Đó là lý do khiến các hãng hàng không phải chứa hàng tấn chai nước uống trên phi cơ và nguyên nhân khiến thức ăn trên phi cơ có mùi vị rất tệ.

Nên đi bộ, co duỗi tay chân mỗi tiếng đồng hồ một lần

Ngồi trên phi cơ, bạn có nguy cơ bị chứng máu đông ở tĩnh mạch hai chân. Vì vậy bạn nên đi bộ vài phút hoặc đứng lên, co duỗi tay chân để phòng ngừa chứng bệnh này. Đừng mặc quần áo quá chật có thể làm nghẽn lưu thông của máu khi bạn ngồi trên phi cơ. Theo bác sĩ Catherine Sonquist Forest của bệnh viện Stanford University Health Care, điều quan trọng là bạn cần phải đi vòng vòng hoặc cử động đôi chân ít nhất mỗi tiếng đồng hồ một lần. Bác sĩ Forest cũng nói rằng nếu không thể đứng dậy được thì nên vận động tại chỗ ngồi bằng cách nâng đầu gối lên ngực và xoay người trên ghế từ trái qua phải và ngược lại.

(more…)

Bi kịch một đời thơ Chế Lan Viên

Bi kịch một đời thơ Chế Lan Viên

 Giang Nam lãng tử

TỰA

 Nhân tháng cô hồn, điểm qua ba giai đoạn bi kịch thơ họ Chế.

Trong giàn thơ “cách mạng” thế kỷ 20, Tố Hữu và Chế Lan Viên là hai cây bút chiếm vị trí đặc biệt. (Tố Hữu ngồi riêng một chiếu một mâm, là quan chức cao cấp làm thơ. Nghề chính của Tố là chính trị, làm thơ chỉ là tay trái, vậy không bàn về ông ta như một nhà thơ nữa). Chế Lan Viên là công chức làm thơ, lãnh lương. Làm thơ là công việc chủ yếu, và làm báo văn nghệ. Không kể ông Chế đã làm đại biểu quốc hội tới 3 khoá liền, nhưng đi họp QH chỉ là dịp “tranh thủ ngồi nghĩ thơ”, chừng nào nghe chủ toạ hô thì giật mình giơ tay biểu quyết đồng ý, nên cũng không coi ông là chính khách. Do đó dịp này chỉ bàn về Chế Lan Viên như một nhà thơ đúng nghĩa, danh chính ngôn thuận.

Quá trình làm thơ của Chế Lan Viên gồm ba giai đoạn.

Giai đoạn 1, Chế Lan Viên thường gọi nhà thơ tiền chiến, với tập thơ “Điêu tàn” tiêu biểu, sau là tập tản văn “Vàng sao”.

Bắt đầu làm thơ từ năm 12, 13 tuổi đến năm 17 tuổi, Chế xuất bản tập thơ đầu tay nhan đề Điêu tàn*[1], có lời Tựa đồng thời là bản tuyên ngôn nghệ thuật của “Trường phái thơ Loạn” cùng với Hàn Mặc TửYến LanQuách Tấn nổi danh vùng Bình Định. Tư tưởng nghệ thuật chẳng có gì, Tháp Chàm chỉ là bãi tập cho chàng thiếu niên học hết cấp II này tưởng tượng và luyện bút trổ tài chơi chữ.

Năm 1939, Chế ra học thêm gì đó tại Hà Nội, trở vào Sài Gòn làm báo, lại quay  ra Thanh Hóa dạy học. Năm 1942, cho ra đời tập văn Vàng sao, tập thơ triết luận về cuộc đời với tư duy siêu hình, huyền bí, tắc tị đến mức ai viết người ấy hiểu…Đọc qua vài trang, tôi thấy một thày giáo tiểu học trẻ bị tẩu hoả nhập ma khi tự học sách triết học [2]* vì thiếu căn bản học vấn nên ngộ chữ. Triết học đông tây thập cẩm cũng trở thành bài tập làm thơ của thày giáo tiểu học này.

 Giai đoạn 2: chiếm trọn lứa tuổi trưởng thành sung sức tới khi nghỉ hưu. Được gọi tên là “nhà thơ cách mạng”. Sau 1954 tập kết ra Bác, làm tuyên huấn một thời gian rồi chuyển sang báo Văn nghệ, Hội nhà văn. 

CHE LAN VIEN TOAN TAP

Thành tích thơ văn cách mạng của Chế Lan Viên:

  • Khoảng hơn 1 chục tập thơ,
  • Khoảng gần 1 chục tập tản văn, bút ký (xã hội, chính trị, thời sự),
  • Khoảng 1 chục tập văn phê bình, lí luận văn học (văn nghệ)

Giới nghiên cứu phê bình văn học đương thời thống nhất chỉ ra một nét cơ bản của thơ Chế Lan Viên: “nhà thơ trí tuệ”. “Danh hiệu” này là con dao hai lưỡi, một lưỡi là ca tụng chất trí tuệ dồi dào của cây bút, hai là: vô hình trung chê Chế không phải nhà thơ (điều này ngoài ý muốn của giới nghiên cứu đương thời). Bởi, đặc trưng của Thơ là cảm xúc, tình cảm, không phải trí tuệ. Trí tuệ là đặc trưng nhà triết học, nhà tư tưởng. Nhưng Chế rút cục chưa bao giờ có đóng góp vào nền triết học. Hoá ra cả đời Chế loay hoay muốn làm nhà triết học, ông ta chỉ dùng hình thức thơ để chuyển tải triết lý. Ăn cây táo rào cây lê. Toàn là triết lý vụn vặt, nguỵ biện, tư biện. Nhìn lại ba chục tập sách của ông thì rõ: một chục tập thơ chỉ là cách thơ hoá sự nghiền ngẫm triết học, đồng bản chất với hai chục tập văn kia. Rút cục, cái quan định luận, không biết bây giờ phải gọi ông là “nhà” gì cho thích đáng.

Đọc bài thơ “cách mạng” cuối cùng. 

1975: “Ngày vĩ đại” – bài thơ nghênh ngáo và bạc bẽo với máu xương.

 (Viết ngày 3/5/1975, in trong tập thơ “Hái theo mùa” (1976),

***

Tỉnh thức vĩ đại mà cứ ngỡ cơn mơ vĩ đại,

Có phải ta vừa giành lại non sông, có phải ?”

Ngôn từ khoa trương cường điệu, thủ pháp lạ hoá của Chế là một đặc trưng thi pháp của ông. Cảm xúc giả tạo. Cái gì ông thích thì đều là “vĩ đại”! Ngày 30/4 ấy, với nghệ sĩ Văn Cao đó là “mùa bình thường, mùa vui nay đã về”. Với ông cụ thân sinh của tôi, 30/4 là ngày ông thắp nhang khấn vái tổ tiên và bảo tôi “Hai thằng anh mày sống rồi, sắp về nhà rồi, con ạ” (hai anh tôi đang ở chiến trường miền Nam).

Dẫu sao, vô ý mà Chế Lan Viên đã nói một điều rất thực vốn bị che giấu dưới những lý tưởng đẹp đẽ, cao cả của giới tuyên truyền. Ngày 30/4  là ngày giành giật được tất cả đất đai lãnh thổ:

“Ta chưa xong một câu thơ thì đã thu hồi hàng trăm dặm đất

Tổ quốc thu về bán đảo Sơn Trà và những Ngũ Hành Sơn

Ngoặt một cái ta có gấp đôi đất và gấp đôi trời bể”

Rồi, Chế rơi trở lại khoa trương cường điệu, chém gió:

Ngoặt một cái ta lành nghìn vết thương Bến Hải

Ngoặt một cái sạch hết bùn, chỉ có hoa sen.

Ta vứt hết thương đau và thành vĩ đại”.

 Ô hay, bao nhiêu núi xương sông máu đổ ra suốt 20 năm mà nhà thơ viết như giỡn chơi “ngoặt một cái”, như ông ta bật cái công tắc đèn.

Tuy nhiên câu này thì CHế lại viết đúng về sự bạc bẽo “Ta vứt hết thương đau” !

Suốt bài thơ dài, là lí luận miên man chắp vá về lịch sử dân tộc như một cây bút cuồng ngôn (chúng tôi không đủ kiên nhẫn dẫn lại nữa).

Chế viết phần Kết.

Với mọi bài thơ, phần Kết là quan trọng nhất.

Chế không nghĩ gì đến nỗi đau hàng triệu chiến sĩ và nhiều triệu thân phận tổn thất, tàn mạt vì chiến tranh.

Vậy, ông Chế nghĩ đến ai?

Đây này:

“Đất nước vinh quang thì đã vắng Bác rồi

Máu lòng Người đau tận chót Cà Mau

Miệng Người đắng vì bát cơm Phú Lợi

Tóc bạc phơ nhanh từng sợi trên đầu”.

Sau đó, Chế thương cảm đến “mái tóc”các vị Lãnh tụ khác:

Ba mươi năm, cho tôi kính chào các Anh tôi những mái tóc trắng màu,

 những mái tóc hoa râm

Khi theo Bác ra đi, tóc các Anh còn xanh, bây giờ tóc bạc”.

Tôi không tin. Tôi nghi ngờ cảm xúc của nhà thơ là giả tạo vào cái ngày chấm dứt chiến tranh ấy. Đó chỉ là thơ nịnh. Chao ôi đến giờ này còn nịnh, riết thành quen rồi !

 Tiểu kết

san gon

 Đến đây tôi phải thốt kêu lên: giống thi nhân khốn nạn !

Bài thơ “Ngày vĩ đại” Chế  viết ngày 3 tháng 5 năm 1975. Có lẽ, còn bao hơi sức “cách mạng” ông trút ra hết, để rồi sau đó khép hẳn lại hai giai đoạn chính của đời thơ “tiền chiến” và “cách mạng”.

Sau bài thơ trên, nhà thơ sẽ bế tắc, lúng túng, sượng sùng và bước vào giai đoạn DI CảO.

Giai đoạn 3: Di cảo

DI CAO THO CHE anh bia

Năm 1987: “Ai ? Tôi !”- bài thơ dũng cảm, bức xúc, nhận lỗi.

Ai? Tôi! 
(Chế Lan Viên)

Mậu Thân 2000 người xuống đồng bằng 
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết hai nghìn người đó?
Tôi !

Tôi – người viết những câu thơ cổ võ 
Ca tụng người không tiếc mạng mình
trong mọi cuộc xung phong.
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về, sau mười năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ

Quán treo huân chương đầy mọi cỡ, 
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ! 

Ai chịu trách nhiệm vậy?
Lại chính là tôi !

Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời, 
Tôi ú ớ. 

Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong
Mà tôi xấu hổ.
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay
Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ
Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười

(Rút trong sổ tay thơ tập 5 của tác giả năm 1987)

Lời bình của Thuỳ Anh khi đọc Di cảo Chế Lan Viên

Trong những ngày tháng Bảy này, người ta nói nhiều đến việc tri ân liệt sĩ bằng việc dâng hương tưởng niệm, đến thăm các gia đình thương binh liệt sĩ… Nhưng có một việc mà họ đã quên, hay là cố tình quên đi, đó là trách nhiệm với vấn đề dân tộc hôm nay. Tri ân không phải chỉ là những hành động mang tính hình thức đó, mà phải là những việc làm thiết thực vì cuộc sống của nhân dân. Môi trường bị tàn phá, những công trình nghìn tỉ đắp chiếu, những dự án xây dựng méo mó với kinh phí cao gấp nhiều lần bình thường, biển đảo bị xâm chiếm v.v… Những điều đó đang diễn ra, và thủ phạm vẫn nhởn nhơ tại vị, không những không nhận trách nhiệm, mà còn ngang nhiên tiếp tục lộng quyền! Sự hy sinh của những người lính là vì những con người như vậy ư? Vì một cuộc sống như thế sao?

Tôi chợt nhớ đến mấy câu này của nhà thơ “thần đồng” Trần Đăng Khoa:

Nhân dân là mác là chông. Là sông là núi cũng không là gì”.

(trích “Chả lẽ ông Chủ tịch thành phố Hà Nội không có lỗi gì trong vụ chặt cây” – FB.Trần Đăng Khoa).

Sự hy sinh của những người lính (…), thế nhưng gia đình liệt sĩ thì người mất đã mất, người còn thì sống trong tàn tạ của đói nghèo và đau thương. Thương binh, lính chiến trở về thì lay lắt với đủ nghề bé mọn. Không ấm, chẳng no! Không tiền, không quyền! Chỉ có “quá khứ hào hùng” còn vang vọng trong tiếng súng nổ, bom rơi váng óc còn mãi ám ảnh không dứt. Sâu thẳm tâm linh nhà thơ Chế Lan Viên đã xấu hổ và xót xa vì sự hy sinh của những người lính ấy dường như là phi lý, bởi hiện thực cay đắng này! Độc lập dân tộc đã có, nhưng vẫn thiếu hạnh phúc, ấm no”.

Lời bình của Giang Nam

Qua bài thơ “ Ai?- Tôi!”, Chế Lan Viên đã nhận trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm nhà thơ, không đổ thừa cho ai cả ; Mặc dù nhà thơ có quyền truy cứu đến cùng đích danh thủ phạm.

Giới nghiên cứu văn học, mỹ học đã đúc kết ra 6 loại bi kịch của con người thường được thể hiện trong lịch sử văn học nghệ thuật. Chế Lan Viên thuộc loại bi kịch hỗn hợp giao thoa của ba loại bi kịch: Bi kịch vỡ mộng, bi kịch của sự lầm lẫn, bi kịch của sự cả tin.

Với tập Di cảo nhà thơ  Chế  đã có một cố gắng cuối cùng, phá vòng vây bi kịch thoát ra. Cây bút Vũ Thị Thường vợ ông đã cố gắng giữ gìn di cảo và đưa tới nhà xuất bản, thực hiện di nguyện của ông. Đó là điều đáng ghi nhận ở bà.

Bi kịch Chế Lan Viên xứng đáng điển hình cho bi kịch văn nghệ sĩ “cách mạng” Việt Nam.

Tiếc thay, những nhà thơ phản tỉnh, nhận lỗi công khai còn quá ít, đếm chưa đủ ngón bàn tay *[3] trong đội ngũ cả nghìn cây bút thời chiến tranh. Bên cạnh Chế Lan Viên, hiếm có một nhà giáo dạy Văn đại học như GS Trần Đình Sử đã lên tiếng xin lỗi cựu sinh viên về những bài giảng ấu trĩ thời xưa của ông. Phần lớn họ giữ im lặng. Nói làm sao bây giờ ! Nhưng chưa nói thì chưa thể nhẹ lòng, vẫn còn mang đó nỗi hận dài.

Phải chăng họ còn nợ những người ngã xuống một câu Kiều:

Nợ tình chưa trả cho ai

Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.

GN

[1]* . Đọc một đoạn bài thơ “Cáí sọ người” trong tập ĐIỀU TÀN: “Ta muốn cắn mi ra từng mảnh nhỏ /Muốn điên cuồng nuốt cả khối xương khô / Để nếm lại cả một thời xưa cũ/ Cả một dòng năm tháng đã trôi xa!”. Nhà thơ tỏ lòng thương tiếc vương quốc Champa quá vãng trong lịch sử thực ra chỉ là biểu hiện của chủ nghĩa hư vô lịch sử. Vô ích ! Người dân Chăm cũng chẳng cần đọc thơ này làm gì nữa.

[2]* . Trích  tản văn Vàng sao:Mở chiếc áo để tìm vú mẹ, ta băn khoăn mở đôi cánh cửa, tìm trời. Chỉ một cử chỉ đó thôi mà ta tưởng đã lìa bỏ một cái gì để đưa mình vào một cái gì khác lạ. Thật thế, cách đây ba bước, ấy là phiền hà sâu bọ của cuộc đời: bữa cơm không ngon, đôi giày sắp thủng, bức thư nhạt nhẽo của cô nhân tình, tánh hạnh ngỗ nghịch của mấy ông học trò khó dạy. Nhưng bây giờ ta đã có một cõi khinh thanh”.

[3]* . Có thể kể một số cây bút phản tỉnh tiêu biểu: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Khải, Trần Quang Huy, Lưu Quang Vũ, Bảo Ninh, Dương Hương Ly…

GN

Mây thẻ