"Nói phải củ cải cũng nghe"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Mười Một, 2017

NỮ LUẬT SƯ LIÊN THÀNH LÊN TIẾNG VỀ VỤ LS. VÕ AN ĐÔN

NỮ LUẬT SƯ LIÊN THÀNH LÊN TIẾNG VỀ VỤ LS. VÕ AN ĐÔN

 
Nữ luật sư Hồ Liên Thành. Ảnh: FB Liên Thành.


(Thành phố Hồ Chí Minh) · 

NỖI NIỀM VÕ AN ĐÔN

Hôm trước khi hay tin Luật sư Võ An Đôn bị Hội đồng khen thưởng, kỷ luật Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên đưa ra họp xem xét đề nghị kỷ luật, tôi đã có bài viết TRĂN TRỞ VÕ AN ĐÔN, được nhiều bạn bè trên trang FB đồng cảm, chia sẻ…

Hôm nay, tôi hay tin Luật sư Võ An Đôn bị Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên ra quyết định kỷ luật bằng hình thức cao nhất: xóa tên khỏi Đoàn Luật sư, tôi thực sự cảm nhận nỗi niềm đau xót.

Dù rằng tôi và nhiều người không đồng tình về một số nội dung ý kiến phát biểu của Luật sư Võ An Đôn trên trang FB Đôn An Võ và dù rằng tôi biết Luật sư Võ An Đôn có những phản ứng quá lời khi nhận được góp ý của một số bạn bè, đồng nghiệp… Nhưng, không vì vậy mà tôi nghĩ mọi người sẽ xa lánh Võ An Đôn và không phải vì vậy mà tôi giữ im lặng khi Võ An Đôn gặp hoạn nạn…!

“Nhân vô thập toàn”, huống gì những điều Luật sư Võ An Đôn phát biểu nhận xét nó phản ánh một hiện thực trần trụi, phũ phàng và nhức nhối mà mỗi ngày vẫn diễn ra, mang tính phổ biến và chưa có phương thuốc chữa trị trong đời sống pháp luật và của chính giới luật sư.

Tôi đã từng đưa ra ý kiến lý giải phát ngôn của Võ An Đôn trên trang FB của mình: 

“1. Nội dung phát ngôn của Võ An Đôn chứa đựng một sự thật trần trụi và đau lòng, đó là địa vị pháp lý của luật sư ở Việt Nam quá thấp và từng bước bị vô hiệu hóa, để tồn tại được trong môi trường mà án tòa xử “sáng đúng, chiều sai, đến mai lại đúng” hay “án dân sự muốn xử sao cũng được” thì luật sư buộc phải “chạy án”, nhưng khi nói, viết thì vị luật sư này không thèm rào trước, đón sau, không loại trừ và phân biệt luật sư tư vấn với luật sư tranh tụng, không dùng từ “phần lớn” hay “bộ phận không nhỏ” như cách nói của những người “khôn ngoan”…!

2. Có thể vì quá bức xúc trước thực trạng hệ thống tư pháp còn nhiều bất cập, cơ quan công quyền hành xử sai trái có hệ thống, người dân yếu thế gánh chịu bất công và oan sai tràn ngập, chính thân chủ của luật sư bị chết oan, bị bức hại, ngay luật sư cũng bị hành xử bất công, nên vị luật sư này đã chọn cách thể hiện bằng ngôn ngữ “nói quá” như một sự “khiêu khích” để lôi kéo chú ý và tạo ra ý kiến phản biện, nhằm đưa vấn đề lên cao, cảnh báo trong toàn giới luật sư và trước công luận…!

3. “Trung ngôn nghịch nhĩ” hay “Thuốc đắng giã tật, lời thật mất lòng” là lẽ thường tình và rất đúng trong trường hợp phát ngôn gây phản ứng của Võ An Đôn. Vị luật sư này chọn cho mình lý tưởng phụng sự công lý, hết lòng bảo vệ người nghèo và người yếu thế, không thỏa hiệp với cường quyền, lẽ cố nhiên là người không chấp nhận “chạy án” nên nội dung lời nói, bài viết luôn là lời nói thẳng, nói thật, dễ gây mất lòng và khó nghe với nhiều người, cũng là điều dễ hiểu. Ở một khía cạnh khác, những lời nói khó nghe của Võ An Đôn trở nên có giá trị như những liều thuốc đắng chữa trị các căn bệnh mãn tính, thậm chí là bệnh an y trong đời sống xã hội Việt Nam!”.

Nếu nghe thấy Luật sư Võ An Đôn bị xử lý kỷ luật mà nghĩ rằng Võ An Đôn là người xấu thì ắt đó là suy nghĩ của đầu óc nông cạn! Nếu trong lúc đồng nghiệp mình bị hoạn nạn, không lên tiếng bênh vực thì chớ, còn a dua xỉ vả, đạp đổ thì đó chỉ có thể là lòng dạ của kẻ tiểu nhân!!

Theo tôi, với những thông tin mà chúng ta có được, với sự cân nhắc và thận trọng, bằng tinh thần trách nhiệm và tình đồng nghiệp, tôi đề nghị các vị luật sư chân chính cần lên tiếng nói để bảo vệ đồng nghiệp Võ An Đôn trước quyết định kỷ luật quá khắt nghiệt và áp đặt.

Liên Thành.

Tôi bị tước thẻ Luật sư

Tôi bị tước thẻ Luật sư

 Võ An Đôn

Ai ám sát công lý ở Phú Yên?

Luật sư tâm huyết và can đảm, chính trực hiếm có – chuyên bảo vệ nạn nhân của bạo quyền hắc ám – Võ An Đôn vừa bị 2/3 thành viên Ban CN Đoàn LS Phú Yên tán thành ra quyết định xoá tên khỏi Đoàn LS tỉnh vào chiều 26/11/2017.

Những người theo dõi vụ án thanh niên Ngô Thanh Kiều, bị C.A điều tra TP Tuy Hoà bắt giam và tra tấn đến chết, đều biết ban đầu Phó C.A Tuy Hoà là thượng tá Lê Đức Hoàn lọt lưới pháp luật. LS Võ An Đôn đã cương quyết và kiên trì đòi công lý cho nạn nhân và gia đình. Rốt cục, tên Hoàn bị cách chức, truy tố, 9 tháng tù treo.

Với những vụ án được coi là “nhạy cảm” tương tự vụ này, chóp bu Đảng CS luôn dài tay chỉ đạo. Ở đây, trực tiếp là Trưởng ban Nội chính Tỉnh ủy Phú Yên Nguyễn Thái Học. File ghi âm lời Học cay cú, hằn học, trịch thượng và vô pháp đòi “truy sát” bằng được Đôn trong cuộc họp do Ban Nội chính chủ trì với đại diện Sở Tư pháp và toàn thể thành viên Đoàn LS tỉnh bị trưng lên mạng cho công chúng tỏ tường, bộc lộ dã tâm đen tối ấy.

Những vụ Đôn bảo vệ cho giới tranh đấu vì nhân quyền, dân oan thấp cổ bé họng… làm giới chức hắc ám không chỉ của Phú Yên điên tiết.

Nại cớ Võ An Đôn viết FB, trả lời phỏng vấn truyền thông quốc tế, giới chức hắc ám xuyên tạc sự thật mà Đôn phanh phui thành “nói xấu” đồng nghiệp và các cơ quan tố tụng. Chúng giật dây Đoàn LS tỉnh loại Đôn khỏi đội ngũ vốn ít ỏi LS VN tâm huyết, can đảm bênh vực nạn nhân của bạo quyền.

Được biết, những “tên lính xung kích” trong vụ trả thù bẩn thỉu và hèn hạ này là Ngô Thiên Phương – Trưởng ban và Ngô Minh Tùng – Uỷ viên Ban Khen thưởng & kỷ luật của Đoàn LS Phú Yên. Hai thành viên trong Ban Chủ nhiệm Đoàn LS Phú Yên là Chủ nhiệm Nguyễn Hương Quê và PCN Nguyễn Tâm Hoàng đã cam chịu nhục nhã cúi đầu trước cái ác.

Theo quy định của luật pháp, LS Đôn có quyền khiếu nại quyết định hắc ám nói trên lên Liên đoàn LSVN. Động thái tới đây của Liên đoàn sẽ một phần cho thấy ở VN có công lý hay không? Danh dự, uy tín của giới LS VN.

Bộ Tư pháp VN, với trách nhiệm và thẩm quyền nhà nước trong vụ này, nên coi đây là một dịp để minh chứng với quốc tế rằng VN đang nỗ lực hướng tới một VN thượng tôn pháp luật theo khuyến cáo, hỗ trợ và mong đợi lâu nay của cộng đồng quốc tế, nhất là trong bối cảnh hình ảnh không mấy hay ho của VN sau vụ Trịnh Xuân Thanh với CHLB Đức và EU.

FB Võ Văn Tạo

Hôm qua 26/11/2017, Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư [Phú Yên] họp quyết định kỷ luật tôi với hình thức: xóa tên khỏi danh sách Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên.

Quyết định này có hiệu lực ngay. Kể từ đây ước mơ làm Luật sư bào chữa cho dân nghèo và người cô thân yếu thế của tôi coi như chấm dứt, để lại nhiều vụ án oan đang làm dở dang.

Đoàn Luật sư cho rằng tôi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, trả lời phỏng vấn các báo đài nước ngoài và nói xấu Luật sư, để xóa tên tôi khỏi danh sách Đoàn Luật sư là mang tính áp đặt, vô căn cứ.

Đoàn Luật sư không làm tròn nghĩa vụ cao cả của mình là bảo vệ Luật sư, mà làm theo sự chỉ đạo từ phía an ninh, kỷ luật tôi gấp gáp ngay trong ngày Chủ nhật, không có mặt tôi. Nhằm mục đích không cho tôi tham gia bào chữa cho blogger Mẹ Nấm, tại phiên tòa phúc thẩm ngày 30/11/2017.

Những Luật sư quyết định xóa tên tôi khỏi danh sách Đoàn Luật sư gồm: Luật sư Ngô Thiên Phương (Chủ tịch Hội đồng kỷ luật) và Luật sư Ngô Minh Tùng (thành viên Hội đồng kỷ luật) đề nghị hình thức kỷ luật đối với tôi. Luật sư Nguyễn Hương Quê (Chủ nhiệm Đoàn Luật sư) và Luật sư Nguyễn Tâm Hoàng (Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư) bỏ phiếu quyết định xóa tên tôi khỏi Đoàn Luật sư.

Mong cộng đồng hãy lên tiếng bảo vệ tôi, để tôi trở lại làm Luật sư bào chữa cho dân nghèo, người cô thân yếu thế và tù nhân lương tâm.

clip_image002

clip_image004

clip_image006

V.A.Đ.

Nguồn: F

Những dấu hỏi từ vụ rút thẻ của Luật sư nhân quyền Võ An Đôn

Những dấu hỏi từ vụ rút thẻ của Luật sư nhân quyền Võ An Đôn

Phạm Chí Dũng
Cali Today
Vietnam – Cali Today news – Vì sao Đoàn Luật sư Phú Yên quyết định rút thẻ hành nghề của Luật sư nhân quyền Võ An Đôn vào thời điểm này?
  .
Ý định rút thẻ của Luật sư Đôn đã manh nha từ Đoàn Luật sư Phú Yên cả vài năm qua. Vào đầu năm 2017, ý định này có vẻ đã chuyển thành một kế hoạch với lộ trình cụ thể, tuy chưa thực hiện được. Trong năm 2017, báo Phú Yên (thuộc tỉnh ủy Phú Yên) đã tìm cách “đánh” Luật sư Đôn với những vu cáo về vị luật sư nhân quyền này có “hành  vi xấu, độc”, thậm chí còn đe dọa xử lý Luật sư Đôn bằng Luật Hình sự.
.
 Vụ Đoàn Luật sư Phú Yên ra tay rút thẻ hành nghề của Luật sư nhân quyền Võ An Đôn chỉ xảy ra ít ngày trước phiên xử phúc thẩm blogger Nguyễn Ngọc Như Quỳnh – một nhà hoạt động đấu tranh phản đối nạn xả thải gây thảm họa ô nhiễm khủng khiếp của Nhà máy Formosa ở miền Trung Việt Nam, người đã được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vinh danh “Người Phụ nữ can đảm quốc tế” vào tháng Ba năm 2017. Võ An Đôn là một trong những luật sư bảo vệ cho Nguyễn Ngọc Như Quỳnh tại phiên tòa xử sơ thẩm. Tuy nhiên với bản án bỏ túi của chính quyền, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã bị giáng cái án đến 10 năm tù giam.
.
 Sau lần vào trại giam gặp Nguyễn Ngọc Như Quỳnh mới đây và nghe Quỳnh kể lại, Luật sư Võ An Đôn đã công bố lên mạng xã hội một thông tin quan trọng (hoặc rất quan trọng): trước đó, Luật sư Hà Huy Sơn – một trong những luật sư bào chữa cho Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, đã chuyển lời của Bộ Công an cho Quỳnh là nếu cô chịu nhận tội thì sẽ được giảm án rất nhiều.
.
 Ngay sau khi tin tức trên được Luật sư Đôn công bố, anh đã bị rút thẻ hành nghề luật sư. Vụ rút thẻ này đã được Đoàn Luật sư Phú Yên tiến hành rất nhanh, rất vội vã, và “có hiệu lực ngay”. Điều đó cũng có nghĩa là Luật sư nhân quyền Võ An Đôn sẽ bị tước quyền có mặt trong phiên tòa phúc thẩm xử Nguyễn Ngọc Như Quỳnh vào ngày 30/11 tới.
Tin tức mà Luật sư Võ An Đôn thuật lại trên mạng xã hội về “nếu Nguyễn Ngọc Như Quỳnh nhận tội thì sẽ được giảm án rất nhiều” rất có thể đã làm sôi máu Bộ Công an. Tin tức này có thể đã khiến một ý đồ hoặc kế hoạch nào đó của Bộ Công an cho phiên tòa xử phúc thẩm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh bị công khai hóa.
Ảnh: Việt Nam Dân Chủ
.
 Nhiều người rất nghi ngờ rằng Đoàn Luật sư Phú Yên đã chịu sức ép từ “trên”, có thể là chính Bộ Công an, để ngay lập tức phải chấm dứt sự hiện diện của Luật sư Đôn tại tòa.
 Phải chăng vì lời khuyên của Luật sư Đôn khi gặp Nguyễn Ngọc Như Quỳnh – rằng nếu cô nhận tội thì phong trào dân chủ sẽ bị ảnh hưởng và do đó Quỳnh không thể nhận tội – đã khiến cho Bộ Công an cay cú và tìm cách trả đũa Võ An Đôn?
.
 Nhưng nếu nhớ lại những vụ bào chữa trước đây của Luật su Đôn cho những người bất đồng chính kiến, Võ An Đôn cũng thường khuyên những người này không nhận tội và anh cũng công bố lời khuyên của mình trên mạng xã hội như việc công bố lời khuyên với Nguyễn Ngọc Như Quỳnh mới đây, thì khi đó Võ An Đôn chỉ phải chịu sức ép không đáng kể từ phía công an chứ không bị rút thẻ.
.
 Trong thực tế, không chỉ Võ An Đôn mà một số luật sư khác cũng thường khuyên người bất đồng chính kiến không nên nhận tội – điều mà Bộ Công an biết rõ và đã “thành quen” (nói theo từ ngữ rất đặc thù của cố trưởng ban nội chính Nguyễn Bá Thanh). Nhiều khả năng là không phải do lời khuyên như thế mà Võ An Đôn bị rút thẻ luật sư.
.
 Nhưng tin tức mà Võ An Đôn thuật lại trên mạng xã hội về “nếu Nguyễn Ngọc Như Quỳnh nhận tội thì sẽ được giảm án rất nhiều” rất có thể đã làm sôi máu Bộ Công an. Tin tức này có thể đã khiến một ý đồ hoặc kế hoạch nào đó của Bộ Công an cho phiên tòa xử phúc thẩm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh bị công khai hóa. Mà đã công khai hóa thì đương nhiên phải chịu mổ xẻ và còn có thể phải chịu búa rìu của dư luận xã hội, đặc biệt dư luận từ giới ủng hộ cuộc đấu tranh vì dân của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh.
.
 Một dấu hỏi khác được đặt ra là vì sao Đoàn Luật sư Phú Yên phải vội vã rút thẻ hành nghề của Luật sư nhân quyền Võ An Đôn vào thời điểm này mà không phải “để dành” sau phiên tòa xử phúc thẩm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh?
.
 Bởi với truyền thống “án bỏ túi”, ngành tư pháp và công an Việt Nam từ lâu đã chẳng mấy quan ngại ảnh hưởng của giới luật sư nhân quyền. Tại phiên tòa sơ thẩm xử Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, bất chấp nhiều ý kiến phản đối của Luật sư Đôn và những luật sư khác, tòa vẫn tung ra cái án tù giam đến 10 năm kia mà!
.
 Vậy phải chăng vào ngày 30/11 tới, tòa án và công an lo ngại sự có mặt của Luật sư Đôn có thể gây ảnh hưởng đến phiên tòa phúc thẩm? Hoặc họ sợ Luật sư Đôn sẽ nắm được diễn biến và cả những ẩn ý nào đó trong phiên tòa để sau đó anh thông tin ra ngoài?
 Và nếu tâm lý lo ngại trên là có thật, phải chăng phiên tòa phúc thẩm đó sẽ có thể diễn biến khác với “kịch bản” trước đây, có thể sẽ có một vài thay đổi nào đó về luận tội và cả mức án?
.
 Nhìn khách quan, nếu bối cảnh xử án diễn ra như trước đây, Luật sư Đôn sẽ không phải chịu nhiều rủi ro từ cơ chế rút thẻ hành nghề. Nhưng việc rút thẻ vào lần này khiến dư luận có cảm giác rằng Bộ Công an “giận cá chém thớt”.
.
 Nếu cảm giác trên là đúng, vì sao Bộ Công an “giận cá” – “giận” Nguyễn Ngọc Như Quỳnh – trong khi cô đã hoàn toàn nằm trong tay công an và chính quyền muốn giáng bao nhiêu năm tù cũng được?
.
 Có thể, đang có một tính toán và thay đổi ngấm ngầm nào đó từ phía chính quyền.
 Phiên tòa xử phúc thẩm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh chỉ diễn ra vài ngày trước một cuộc đối thoại nhân quyền rất quan trọng giữa Liên minh châu Âu (EU) và Việt Nam tại Hà Nội. Kết quả cuộc đối thoại nhân quyền này sẽ là cơ sở chính để EU xem xét có tiếp tục đàm phán và thông qua sau đó về Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – châu Âu (EVFTA) hay không.
.
 Bối cảnh trên cũng có nét tương đồng với năm 2013, khi Việt Nam đôn đáo lấy lòng Mỹ để được vào Hiệp định TPP. Sau chuyến đi Mỹ của Trương Tấn Sang – Chủ tịch nước – vào tháng 7/2013, đến tháng Tám năm 2013 đã diễn ra phiên tòa phúc thẩm xử Nguyễn Phương Uyên – một người hoạt động nhân quyền trẻ tuổi.
.
 Dù tại phiên tòa sơ thẩm, Phương Uyên đã bị “bỏ túi” đến 6 năm tù giam, nhưng vào buổi chiều của phiên tòa phúc thẩm, tòa án bất ngờ quyết định trả tự do cho cô ngay tại tòa.
.
 Ngay sau đó, một nguồn tin đáng tin cậy cho biết Phương Uyên nằm trong danh sách 5 tù nhân lương tâm mà Hoa Kỳ yêu cầu chính quyền Việt Nam trả tự do vô điều kiện. Phương Uyên đứng thứ 5 trong danh sách đó.
.
 2017. Bản án phúc thẩm với Nguyễn Ngọc Như Quỳnh liệu có thay đổi?

Bàn về tâm lý chính trị: cấp tiến, bảo thủ, cực tả, cực hữu

Bàn về tâm lý chính trị: cấp tiến, bảo thủ, cực tả, cực hữu

  
TS Trần Xuân Thời (VNTB) Người ta thường nói đến tâm lý quần chúng, tâm lý xã hội, nhưng ít nghe ai nói đến “tâm lý chính trị”. Thật ra tâm lý chính trị thường được thể hiện qua “diễn đàn chính trị” nghĩa là tư tưởng lên khuôn cho hành động theo nhiều chủ trương, đường lối khác nhau gọi chung là lập trường chính trị… 
 
Leftist, Rightist, cánh tả, cánh hữu hay độc tài và dân chủ
Hành động nào cũng thường nhắm thực hiện một chủ đích, một sứ mệnh. Từ quan niệm tồn cổ, những gì do quá khứ tạo nên và lưu truyền lại cho hậu thế đều tốt đẹp, đều đáng quí, đáng học hỏi và đáng được xem là khuôn vàng thước ngọc, “Xưa Bày Nay Làm” hoặc hiện tại đáng yêu, đáng mến, đáng duy trì không cần phải thay đổi, đến quan niệm cải cách, phá hoại truyền thống, khuynh đảo trật tự xã hội đương thời để thay thế bằng cơ cấu tổ chức và trật tự mới, con người đã đi từ quan niệm cực hữu (reactionary-rightist) đến quan niệm cực tả (radical-leftist).
.
Trong quần chúng có những người đắn đo kỹ lưỡng trước khi chấp nhận một lập trường vĩnh viển, cũng có người thay đổi lập trường tùy hoàn cảnh. Dù trong hoàn cảnh nào, lập trường chính trị cá nhân hay tập thể thường được thể hiện qua bốn ý niệm chính:
.
(1)Cực tả /Cách mạng (Radical extremist /revolutionay), (2) Cấp tiến (Liberal/ Progressive), (3) Bảo thủ (Conservative), (4) Cực hữu / Phản cách mạng (Far right/ Reactionary).  Các “nhãn hiệu” này thường được đề cập trên sách báo hiện hành, nhất là tại các nước dân chủ, trong đó người công dân có quyền tự do ngôn luận và có quyền gán bất cứ “nhãn hiệu” nào cho người đối lập trong phạm vi tự do tư tưởng theo luật định.
.
Cực tả/Radical
.
Chúng ta thường gọi người theo chủ thuyết cộng sản là “bọn phá hoại” (radical), người cộng sản gọi là cách mạng (revolutionary), vì họ chủ trương tiêu diệt tư bản chủ nghĩa, đả phá hệ thống xã hội đương thời tận gốc rễ. Nói khác đi kẻ chống đối phải bị thủ tiêu. Ngôi nhà cũ thì phải bị triệt hạ, đập nát để xây ngôi nhà mới, không cần tu bổ hay sửa chữa. Thay đổi tận gốc rễ như chính sách cải cách điền địa của nhà nước cộng sản. Cộng sản không những chỉ tịch thu ruộng đất mà còn đấu tố, sát hại các địa chủ nhằm khủng bố và triệt tiêu đầu óc tiểu tư sản như đã áp dụng ở các nước cộng sản “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”.
.
Đa số những người theo Cộng sản hoặc vì hận thù, hoặc vì nhẹ dạ, nóng lòng thay đổi. Họ mù quáng mơ ước thiên đường cộng sản, nhưng ngày nay đã dần dần vỡ mộng, vì thực tế chứng minh các lãnh tự CS Đông Âu, Trung Quốc hay Việt Nam đều lợi dụng giới vô sản, bần cố nông để dành quyền lực với danh nghĩa giả tạo vì “Độc lập-Tự do-Hãnh phúc”.  Sau khi thành công các đảng vỉên CS trở thành tư bản đỏ, triệu phú, tỷ phú, nhà cao cửa rộng, aó xiêm buộc trói lấy nhau, nắm giữ chính quyền. Khi đảng viên CS không còn lợi dụng giới bần nông thì họ áp dụng chính sách độc tài để đàn áp giới vô sản, xoá bỏ truyền thống ba đời bần cố nông mới được trở thành lãnh tụ CS.  Người đời gọi họ là đảng viên của chủ nghĩa Cộng sản vô thần vì CS chủ trương tôn giáo là thuốc phiện mê hoặc lòng người. Họ quan niệm con người chỉ là sản phẩm thiên nhiên (product of natural selection).  Đảng viên CS tự cho mình thuộc giai cấp “đỉnh cao trí tuệ”, có quyền xử dụng quần chúng như xử dụng vật dụng trong nhà. “Bảo sanh viện” được họ gọi là “Xưởng đẻ”. Con người được sinh ra giống như cơ xưởng sản xuất ra vật liệu gia dụng. Vì thế các lãnh tụ CS đối với người khác không có nhân tình. Những cán bộ CS này thuộc thành phần cực tả quá khích (radical extremist).
.
Trước khi bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Cộng Sản ra đời năm 1848, năm 1846 Đức Giáo Hoàng Piô Thứ 9 (Pope Pius IX) đã cảnh giác thế giới về hiểm hoạ của chủ nghĩa Cộng sản:  “The unspeakable doctrine of Communism, as it is called, a doctrine most opposed to the very natural law. For if this doctrine were accepted, the complete destruction of everyone’s laws, government, property, and even of human society itself would follow.” (Thông Điệp Qui Pluribus.16, ngày 9/11/1846).  Cái học thuyết nguy hại mà người ta gọi là chủ nghĩa Cộng Sản từ bản chất trái vói luật thiên nhiên, mỗi khi được chấp nhận, tà thuyết đó sẽ tiêu diệt hết nhân quyền, mọi định chế công quyền hợp pháp, quyền tư hữu và chính xã hội loài người.
.
Nhiều quốc gia đã xoá bỏ chủ nghĩa CS. Nhiều người đã ly khai đảng CS, mặc dù trước đây họ đã hết sức hăng hái mang nhãn hiệu cách mạng, hãnh diện là đô đệ của đệ nhất, đệ nhị hoặc đệ tam Cộng Sản Quốc Tế.  Chủ nghĩa CS đã tạo nên những kẻ sát nhân như Stalin đã giết hơn 20 triệu người, Mao Trạch Đông giết trên 70 triệu người, Hồ Chí  Minh cũng như Pol Pot của Campuchia được liệt kê vào danh sách của những kẻ diệt chủng nỗi tiếng nhất trên thế giới.( Mao, The untold Story, Jung Chang)
.
Tại Hoa Kỳ, cực tả quá khích đã phát triển từ cuộc suy sụp về kinh tế năm 1929. Họ chủ trương tái tạo xã hội Hoa Kỳ mới, dựa trên căn bản lý thuyẽt của Karl Marx. Họ hỗ trợ tích cực các phong trào công dân thợ thuyền với khẩu hiệu “Not Black, not white Power but Worker’s Power”, như là phương tiện gián tiếp để cộng sản hóa Hoa Kỳ… Môn phái cực tả chủ trương canh tân các chương trình xã hội, tôn giáo và xã hội Hoa Kỳ theo quan niệm của xã hội chủ nghĩa.
.
Hiện nay có hai nhóm cực tả:  Nhóm thứ nhất chủ trương cải cách xã hội bằng phương tiện cách mạng bạo động và sắt máu. Nhóm thứ hai chủ trương cải tổ ôn hoà bằng cách lợi dụng quyền đầu phiếu. Các nhóm này lôi cuốn một số người nhẹ dạ nhưng không đủ khả năng lôi cuốn quần chúng và chính quyền. Những người này không liên kết với đảng Cộng Hòa hay Dân Chủ.  Đối với những người Mỹ theo đường lối này thường áp dụng chính sách mỵ dân.  Chủ trương tự do cá nhân phải có tính cách tuyệt đối nhằm dụ hoặc quần chúng. Họ chủ trương cứu cánh biện minh cho phương tiện, nghĩa là dùng bất cứ phương tiện tốt, xấu gì cũng được miễn là đạt được kểt quả mong muốn.  Đối với họ, Xã hội chủ nghĩa là thể chế hoàn mỹ, không thể chế nào có thể thay thế, và tuyệt đối tin tưởng vào chương trình cải cách kinh tế của xã hội chủ nghĩa.
.
Các tổ chức tả phái của Hoa Kỳ đã từng hoạt động như Communist Party – USA, W.F.B Dubois Club of America, Progressive Labor Party, Socialist Labor Party, Socialist Worker Party, Young Socialist Alliance, Spartacist League, Guardian, Worker League, World Socialist Party of USA, Ramparts, Monthly Review…. Mỗi tổ chức đều ấn hành tạp chí để phổ biến chủ trương đường lối cho hội viên và quần chúng. Cũng nên lưu ý là ngược lại danh từ Radical ngày nay còn được dùng để mệnh danh những phần từ chủ trương đả phá chế độ cộng sản tại Nga và các nước Cộng Sản Trung Âu hay những phần tử quá khích như Radical Islamist…
.
Cấp tiến/ Liberal
.
Chủ trương thay đổi với mức độ ôn hoà thường được gọi là cải cách (reformer/liberal) sẵn sàng chấp nhận sự thay đổi nhưng không có tính cách đả phá, hủy hoại chế độ hay hệ thống đựơng thời.  Tu bổ, sữa chữa lại ngôi nhà đang cư ngụ hơn là áp dụng phương thức phá hoại như Cộng Sản đã và đang áp dụng. Cộng Sản chủ trương đốt nhà để cho sống cảnh màn trời chiếu đất, nghĩa là chịu hy sinh cực khổ trong hiện tại, trong lúc xây cất lại ngôi nhà mới nhưng không biết bao giờ hoàn thành. Lý tưởng Cộng sản:  Sản xuất theo khả năng, tiêu thụ theo nhu cầu chỉ là bánh vẽ vô vọng. “Thôi thôi ta đã biết rồi, lồng vàng âu cũng là nơi ngục tù”!
.
Những người chủ trương thay đổi cải cách thường chấp nhận chủ thuyết của đảng Dân Chủ hoặc cấp tiến, đều có khuynh hướng cải cách xã hội, và thường được quần chúng Mỹ liệt vào loại thiên tả ôn hoà (leftist) vì đảng CS được tự do hoạt động tại Mỹ dưới hình thức đoàn thể xã hội và lợi dụng các quyền tự do để bành trướng. Đặc tính của nhũng người chủ trương cải cách thường hỗ trợ cho phong trào cải cách xã hội trong tinh thần dân chủ. Họ tin tưởng vào khả năng của công dân: ý thức được nhiệm vụ của mình, biết xử dụng quyền hành của mình một cách khôn ngoan qua quyền bầu cử và ứng cử.
.
Ngày nay, các thuật ngữ “cánh tả” và “cánh hữu” được sử dụng như các từ tượng trưng cho những người tự do và bảo thủ, nhưng ban đầu chúng được đặt ra để chỉ việc sắp xếp chỗ ngồi thực tế của các chính trị gia trong cuộc Cách mạng Pháp.
Những người thuộc môn phái “Liberal” có phần đồng quan điểm với Mạnh Tử “nhân chi sơ, tánh bổn thiện”.  Họ tin tưởng vào tính tốt của con người và khả năng suy xét khôn ngoan của mỗi người.  Danh từ “Liberal” phát xuãt từ thể kỷ thứ 19 do tiếng Tây Ban Nha, tên của một chính đảng ở quốc gia này. Chính đảng này chủ trương chính quyền lập hiến, dành nhiều tự do cho công dân hơn là chính quyền chuyên chế.
.
 Đảng viên Liberal tin tưởng vào khả năng của công dân biết xử dụng quyền hành của mình một cách xứng đáng. Trong cuộc tranh cử Tổng thống năm 1988, ứng cử viên TT Bush đã nhận xét ứng cử viên TT Dukakis là “Liberal”. Dù danh hiệu này rất thông dụng, nhưng hiện nay vẫn chưa gây được ý niệm tốt trong tâm lý quần chúng vì có tính cách thiên tả và các phương pháp cải cách táo bạo của tả phái.
.
Bảo thủ/ Conservative
.
Khác với hai chủ trương nêu trên (radical và liberal) có tính cách khuynh tả (leftist), theo quan niệm hiện hành của công dân Hoa Kỳ, những người chủ trương bảo thủ ( conservative) ôn hoà bằng lòng với hiện tại. Họ cho rằng hiện tại vẫn tốt đẹp, không cần phải thay đổi. Những người này thường chủ trương hỗ trợ đảng Cộng Hoà. Danh từ Bảo thủ (conservative do động từ “to conserve”) nghĩa là bảo tồn, như bảo tồn truyền thống, thuần phong mỹ tục và định chế chính quyền dân chủ đã được hình thành qua kinh nghiệm chung của nhân loại. Môn phái bảo thủ cũng chống lại chủ trương tự do quá trớn hay tự do phóng nhậm, vì tự do cũng cần phải được giới hạn để mọi người có cơ hội hưởng tự do đồng đều.
.
Sở dĩ đảng Cộng Hoà dành được thắng lợi trong các cuộc tranh cữ Tổng thống ba nhiệm kỳ liên tiếp từ hơn 12 năm (1981-1993), một phần cũng nhờ dân chúng nhìn thấy tình trạng xã hội đương thời không cần thay đổi nên đã dồn phiếu cho đảng Cộng Hoà thay vì bầu cho Dân Chủ. Đa số những người trung niên, giới trí thức và lão niên chấp nhận khuynh hướng bảo thủ. Khuynh hướng này đang là những làn sóng ngầm ảnh hưởng đến tâm lý quần chúng hiện nay khiến cho những đề nghị cải cách táo bạo không có cơ hội phát triển.
.
Cực hữu/ Reactionary
.
Lớp người bảo thủ cực hữu (reactionary/far right) là những người vẫn thích thay đổi, nhưng thích tồn cổ hơn.  Những gì do tiền nhân để lại đều đáng quí trọng, đáng được học hỏi, đáng bảo tồn, đúng với câu “xưa bày nay làm”, và thích trở lại nhũng ngày vàng son của thời đại vua Nghiêu, vua Thuấn.  Những người này đương nhiên không chấp nhận thái độ cách mạng, phá hoại truyền thống của Cộng Sản nên đã gây trở ngại cho sự bành trướng của Cộng Sản. Cộng sản gọi những người quốc gia chống cộng thuộc khuynh hướng cực hữu là  thành phần “phản động” cực hữu  (right wing extremist).
.
Tại Hoa Kỳ hiện nay có một số tổ chức chủ trương cực hữu như John Birch Society, 20th Century Reformation Hour, Life Line, Christian Crusade, Manion Forum, Christian Anti-Communist Crusade, Liberty Lobby, Conservative Society of America, Church League of America, Harding College’s National Education Program, Richard Cotten, Christian Freedom Foundation, v.v…
.
Mỗi cơ quan đều có tạp chí để phổ biến đường lối trong quần chúng. Chủ trương quốc gia cực hữu nhất quyết không công nhận cộng sản dưới bất cứ hình thức nào, đã đang là thành trì chống cộng hăng hái nhất hiện nay. Khuynh hướng nầy cũng không hổ trợ tự do phóng nhậm gây tai hại cho xã hội. “The extremists as we all know, in every point, are destructive to both virtue and enjoyment” (Edmund Burke).
.
Tâm lý chung của những người bảo thủ cho rằng không phải người nào cũng đáng tin cậy, cho nên phải “chọn mặt gởi vàng”. Họ không hẳn tin tưởng vào khả năng của công dân có thể quyết định sáng suốt, nên họ chủ trương cần có chính quyền. Họ chủ trương quốc gia cần được giai cấp ưu tú (enlightened group) lãnh đạo. Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 cũng do các vị khai quốc công thần ưu tú soạn thảo. Quốc hội Hoa Kỳ cũng gồm hai viện. Thượng Viện thể hiện giá trị truyền thống, tôn trọng kho tàng văn hiến, khôn ngoan đã được tích lũy qua hàng trăm năm lịch sữ. Trong bài diễn văn lịch sử đọc tại Gettysburg năm 1863, Tổng Thống Abraham Lincoln đã tái xác nhận Hoa Kỳ sẽ được tái sinh trong Ơn Thánh Chúa là quốc gia tự do của dân, bởi dân, để phục vụ nhân dân và sẽ không biến mất trên thế gia nầy: This nation, under God, shall have a new birth of freedom — and that government of the people, by the people, for the people, shall not perish from the earth. (Abraham Lincoln, November 19, 1863)
.
Trong thời gian chiến tranh lạnh sau thế chiến thứ hai, giữa hai khối Tự do và  Cộng sản, Mao Trạch Đông đã từng khích lệ các lãnh tụ CS Nga sô tấn công tiêu diệt Hoa Kỳ. Năm 1962 dưới thời TT Kennedy, Nga Sô đã đem hoả tiển thiết  trí tại Cuba, chỉ cách Hoa kỳ 90 miles. Hoa kỳ phản ứng mạnh mẽ, một mặt phong toả vịnh Cuba, mặt khác ra lệnh chuẩn bị tấn công, nếu Nga Sô không tháo gở các dàn hoả tiển.  Nga Sô sợ Thiên Chúa bảo vệ Hoa Kỳ qua lời sấm Trạng Trình Lincoln “Hoa Kỳ sẽ không biến mất trên thế gian nầy” bèn lui binh vô điều kiện!
.
Xã hội Hoa Kỳ đã và đang được thay đổi bằng những cải cách tiệm tiến, tuy chậm nhưng chắc, cũng nhờ những đỉnh cao trí tuệ thực sự nỗ lực làm việc vì quốc gia dân tộc. Thay đổi nhanh chóng theo kiểu cách mạng cộng sản, thiếu suy tư và thiếu điều nghiên kỹ lưỡng đã đưa đẩy các nước cộng sản đến bờ vực thẳm, thảm khốc về cả hai phương diện kinh tế lẫn chính trị.
.
.
Những người cực hữu chống Cộng Sản mãnh liệt tại Hoa Kỳ cũng như các nước tự do trên thế giới, nhiều khi “dùng gậy ông để đập lưng ông”, nghĩa là “dĩ độc trị độc”. Họ dùng ngay phương pháp cộng sản để trị cộng sản. Họ là những người lớn tiếng cảnh giác quần chúng về hiểm hoạ cộng sản trước và sau khi bản Tuyên Ngôn Quốc   Cộng Sản ra đời. Trong suốt hơn 70 năm nay từ khi cuộc cách  mạng Cộng Sản năm 1917 tại Nga sô, những người chống cộng cực hữu chấp nhận thái độ bất cộng đái thiên với cộng sản, đa số không vì tư lợi cá nhân mà chỉ vì quốc gia dân tộc. Họ sẵn sàng chống đối những gì sinh lợi cho cộng sản, kể cả vấn đề bang giao, viện trợ cho thế giới cộng sản. Nhờ đó vào cuối thập niên 1980, Cộng Sản Nga Sô và ĐôngÂu sụp đổ.   Từ sau đệ nhị thế chiến, khối Cộng sản Nga sô Đông Âu  và Trung hoa vẫn mua ngũ cốc của Hoa Kỳ vì nền kinh tế của Nga Sô và Trung hoa trì trệ không đủ thực phẩm bán cho quần chúng.
.
Những người cực hữu cũng rất quan tâm về sự suy đồi của nền luân lý và giá trị cổ truyền. Họ rất trung thành với giá trị luân lý của đảng Cộng Hoà. Họ thường chống đối những chương trình, kể hoạch mà họ nghĩ là do cộng sản quốc tế hỗ trợ, các tệ đoan như tham những, hối lộ trong công quyền, trong nền tư pháp của Hoa Kỳ và các cơ quan cảnh sát.  Họ chủ trương chính quyền có nhiệm vụ giáo huẩn quần chúng để tránh sự lợi đụng của Cộng sản và các phần tử phá hoại. Đặc biệt những người cực hữu hỗ trợ chế độ tự do kinh doanh và tư bản chủ nghĩa và chống đối chế độ xã hội chủ nghĩa do nhóm cực tả chủ trương.
.
Đặc nét của chính quyền dân chủ là tự do kinh doanh và tự do cạnh tranh. Tâm lý kinh tế chính trị này thể hiện rỗ rệt nhất trong các cuộc bầu cử. Cử tri sẽ luận xét về chủ trương và đường lối của ứng cử viên về phương diện kinh tế nhiều hơn về các phương diện khác.  Sự kiện này cũng hiển hiện ngay trong các nước cộng sản, vì tình trạng kinh tế suy sụp, quần chúng nghi ngờ khả năng quản trị của giới lãnh đạo, hô hào đòi tự do kinh doanh, tự do dân chủ.  Vì thế, bây giờ các nước Đông Âu kể cả Nga Sô không còn noi gương xã hội chủ nghĩa mà ngược lại noi gương các nước tư bản để phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của quần chúng.  Lenin, Staline không còn là thần tượng mà là tội đồ của các dân tộc Đông Âu. Do đó chúng ta có thể nói, bất cứ hình thức chính quyền nào mang lại cho quần chúng hạnh phúc, no cơm ấm áo với các quyền tự do căn bản đều được dân chúng hỗ trợ. Tự do dân chủ là môi trường thuận lợi nhất cho vấn đề phát triển về mọi phương diện nhân sinh.
.
Tâm lý cử tri                                                   
.
Ngoài bốn chủ trương nêu trên thể hiện qua tâm lý quần chúng, ảnh hưởng trầm trọng đến kết quả các cuộc tranh cử cấp tiểu bang và liêng bang, tâm lý chính trị của cử tri còn thể hiện ảnh hưởng của hai loại khuynh hướng về chính trị và kinh tế: (1) Khuynh hướng thứ nhất là bầu cho người tại vị (incumbency-oriented) và chọn ứng cử viên theo chính sách quốc gia (policy-oriented), (2)  Khuynh hướng thứ hai là chọn ứng cử viên theo kinh nghiệm kinh tế cá nhân của cử  tri (personal experiences) và lượng định tình trạng kinh tế quốc gia (national assessment).
.
Cử tri thường dồn phiếu cho ứng cử viên đương nhiệm hoặc ứng cử viên cùng đảng với vị tiền nhiệm, nếu tình trạnh kinh tế khả quan. Năm1981, cử tri Hoa Kỳ đã bầu Tổng thống Reagan (1981-1988) và sau đó bầu cho Tổng thống Bush (1989-1993) thể hiện nền kinh tế khả quan dưới thời Cộng Hoà so với nền kỉnh tế suy sụp lạm phát phi mã dưới thời Carter (1976-1981) nên TT Carter đã thất cử khi ra tranh cử nhiệm kỳ hai.
.
Trong nền kinh tế Hoa Kỳ nên lưu ý đến hai vấn đề quan trọng: thất nghiệp (unemployment) và sinh hoạt đắt đỏ (inflation). Hai hiện tượng kinh tế này có tính cách nghịch vị: Thất nghiệp tăng thì lạm phát giảm. Thời Tổng thống Carter (1976-1981) lạm phát quá cao, cử tri không bầu cho Carter đương nhiệm mà bầu cho Reagan. Cử tri chú trọng vào chính sách hơn là đảng phái hoặc cá nhân khiến cho Carter thất cử. Từ năm 1981 đến 1993, đàng Dân Chủ không thể dành lại ngôi vị Tổng thống vì đảng Cộng Hoà có nhiều bí quyết chế ngự được nạn lạm phát và giảm tỷ số thất nghiệp.
.
Thường nạn thất nghiệp dưới thời Cộng Hoà cao hơn dưới thời Dân Chủ, do đó những người sợ nạn thất nghiệp, hay lo lắng về tình trạng kinh tế cá nhân thường dồn phiếu cho ứng cử viên đảng Dân Chủ.  Hai vấn đề này đều thuộc về kinh tế đại tượng (macro-economics).  Đảng nào quân bình được cán cân thất nghiệp và lạm phát sẽ có nhiều cơ hội gặt hái được kết quả tốt đẹp trong các cuộc bầu cữ. Hiện nay 2017, tình trạng kinh tế Hoa Kỳ khởi sắc nhờ óc kinh doanh của vi Tân Tổng Thống Donald Trump so với giai đoan trước đây.
.
Kinh nghiệm của cử tri về kinh tế cá nhân (personal experiences) và tình trạng kinh tế quốc gia (national assessment) cũng đóng một vai trò quyết định trong sự hình thành quyết định của cử tri. Nếu tình trạng gia đình khả quan, cứ tri sẽ tiếp tục bầu cho Tổng thống, Thống đốc đương nhiệm.  Sự kiện này có thể suy luận từ tình trạng kinh tế và kết quả các cuộc bầu cử cấp tiểu bang và liên bang. Chính cá nhân cử tri mới hiểu rõ tình trạng hạnh phúc hay đau khổ của mình vì sự thăng trầm của nền kinh tế, đúng như nhận xét của kinh tế gia Adam Smith: “Every man feels his own pleasures and his own pains more sensibly than those of other people”.
.
Lại nữa trong bất cứ nhiệm kỳ nào của Dân Chủ hay Cộng Hoà đều có người thất nghiệp. Những người thất nghiệp có thể có hai thái độ: Họ vẫn bầu cho tổng thống đương nhiệm nếu nhận thấy tình trạng quốc gia khả quan và không cần luận về tình trạng thất nghiệp cá nhân. Cũng có thể họ bầu cho ứng cử viên mới để mong tình trạng cá nhân hầu có thể thay đổi. Vấn đề này thuộc tâm lý cá nhân nghĩ đến quốc gia dân tộc hay đặt nặng quyền lợi cá nhân, do đó cùng một hoàn cảnh có thể hai người hai người có hai thái độ khác nhau.
.
Trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ (2001-2008), đa số dân chúng Mỹ nghĩ rằng tình trạng kinh tế khả quan, đời sống gia đình thoải mái nên bầu cho ứng cử viên Cộng Hoà George Bush về cả hai phương diện kinh nghiệm kinh tế cá nhân và tình trạng kinh tế quốc gia. “When the nation’s economy is doing well, the voters would tend to vote for the incumbents, while those who believed it had been worsened would tend to vote for the challengers”.
.
Nhưng sau cuộc chiến kéo dài ở Trung Đông nhằm tiêu diệt khủng bố đã đánh vào thành trì tư bản của thế giới năm từ năm 2001. Tính trạng kinh tế gặp khó khăn nên dân chúng cần có sự thay đổi “change” theo khẩu hiệu của đảng Dân chủ. Nhờ đó TT Obama được bầu làm Tổng Thống được 2 nhiệm kỳ (2008-2016).
.
Tuy nhiên, đến nay cũng gần hết hai nhiệm kỳ của Obama, xem ra dân chúng không thấy được sự thay đổi như Đảng Dân Chủ đã hứa hẹn. Tình hình ngân sách quốc gia thâm thụt đến gần 20 trillion hay 20,000 tỷ ($20,000,000,000,000). Tình hình an ninh quốc nội lại bị khủng bố đe doạ, thất bại về kinh tế và chính sách đối ngoai, không kiểm soát được vấn đề di dân… Bầu một vị Tổng Thống da màu chứng tỏ Hoa kỳ không hẵn là một quốc gia kỳ thị chủng tộc mà là một quốc gia tôn trọng nhân quyền đối với quốc nội cũng như quốc tế. Tuy nhiên được bầu làm Tổng thống là một ân huê, nhưng cũng phài có khả năng điều hành quốc gia và không bị các đối lực chi phối.
.
 Xem ra Obama chỉ làm những việc để thoã mãn chủ ý riêng tư của mình như tài giảm binh bị,  thiếu kiểm soát biên giới, dựđịnh phân phối người lớn và trẻ em vượt biên bất hợp pháp từ Nam Mỹ, hoặc di dân từ Trung Đông đến các tiểu bang. Sự kiện nầy đã gây phẩn nộ trong quần chúng và hơn 30 vị Thống Đốc đã phản đối TT Obama và nhiều vấn đề nhiêu khê khác.  
.
Năm 2008, khi TNS Obama nhậm chức Tổng Thống, đảng Dân Chủ chiếm đa số cả Thượng viện lẫn Hạ Viện Hoa Kỳ.  Sau 4 năm trị vì, dân chúng bất mãn, đảng Dân chủ mất một số lớn ghế Thống Đốc và mất luôn quyền kiểm soát Thương viện và Hạ viện Hoa Kỳ và lưỡng viện quốc hội tại nhiều tiểu bang.  
.
Sở dĩ cuộc vận động tranh cử Tổng Thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2016-2020 đã có nhiều ứng cử viên đảng Cộng Hoà ra tranh cửvì các đảng viên Cộng Hoà  thấy đây là cơ hội tốt để thắng cử. Trong lúc đó đảng Dân chủ chỉ có 3 ứng cử viên, nhiều người không tham gia tranh cử vì thấy cơ hội thắng cử của đảng Dân chủ thấp.
.
Trong các xã hội độc tài đảng trị chỉ có môt khuynh hướng chính trị độc tôn. Trong các quốc gia dân chủ, tự do cá nhân được hưởng những quyền tự do căn bản do Thượng Đế ban cho không ai có quyền xâm phạm.  Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ năm 1776 đã ghi rõ: “All men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable rights that among these are Life, Liberty and the pursuit of Happiness”.  Mọi người sinh ra đều được bình đẵng, thọ hưởng những quyền bất khả xâm phạm do Thượng Đế ban cho, như quyền được sinh sống, quyền tự do và quyền tìm kiếm hạnh phúc…
.
Nền chính trị tại Hoa kỳ rất phức tạp, luôn luôn có những làn sống ngầm xung đột giữa các quan niệm khác nhau, trong vấn đề chọn ưu tiên khi thực hiện quốc sách liên quan đến quốc nội và quốc ngoại. Đại loại có năm chủ trương:
.
(1) Trào lưu cổ truyền từ khi lập quốc thỉnh thoảng được công chúng nhắc đến là ý nguyện của các bậc khai quốc công thần đã thể hiện qua Bản Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 và Hiến Pháp năm 1787 chủ trương dành ưu tiên tôn để bảo vệ quyền tự do thiên nhiên của con người do Thượng Đế ban cho “Natural Rights liberty”.
.
(2)  Khuynh hướng thứ hai là dành ưu tiên đề bảo quản quyền tự trị địa phương hay tiểu bang “Classical Communitarian Liberty”.
.
(3) Khuynh hướng thứ ba là ưu tiên để bảo vệ tự trị kinh tế cá nhân “Economic Autonomy Liberty”.
.
(4)  Khuynh hướng thứ tư là dành ưu tiên bảo vệ công bằng xã hội “Social Justice Liberty” và
.
(5) Thứ năm là dành ưu tiên bảo vệ tự do cá nhân (Personal Autonomy Liberty”
.
Những người làm chính trị có thể không ít thì nhiều am hiểu tâm lý chính trị. Nhưng không hẳn người hiểu tâm lý chính trị lại làm chính trị. Trường hợp này, nghiên cứu để hiểu biết chính trị hơn là áp dụng kiến thức vào sinh hoạt chính trị một cách tích cực qua chính đảng. Hoặc nói cách khác đi không có “khiếu” hoặc không thích làm chính trị.
.
Làm chính trị cần sự dấn thân, can đảm, bền chí, nhẫn nhục… có khi hy sinh cả cuộc đời, không vì tư lợi mà vì quốc gia dân tộc. Tuy vậy số người hy sinh vì quốc gia dân tộc thường ít, và khi hành động cần người hợp tác. Người hợp tác có thể vì danh lợi, thừa gió bẻ măng, tạo nên nạn bè phái oán cừu, có khi làm cho người có tâm huyết thân bại danh liệt.
.
Người có tâm huyết làm chính trị chỉ vì muốn thực hiện một sứ mệnh cao cả, không nề gian khổ, nếm mật nằm gai, quyết chí xây dựng quốc gia dân tộc, như lời thơ diễn tả của Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy.
.
“Họ là những anh hùng không tên tuổi,
Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông,
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh,
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.”
.
Chung quy, con người thường hành động theo tư tưởng của mình. Tư tưởng thu nhận từ xã hội, học đường, bạn bè… kết tinh thành trạng thái tâm lý, gọi chung là tâm lý quần chúng. Muốn thu phục nhân tâm, trước hết phảỉ am hiểu tâm lý quần chúng. Muốn am hiểu quần chúng phải có tâm hồn khoáng đạt, cởi mở để có thể tiếp nhận ý kiến từ nhiều quan điểm thuận cũng như nghịch, để rồi tinh luyện, biến hoá, tương kế tựu kế, hầu thực hiện sứ mệnh cao cả của mình.
.
Dầu sinh hoạt chính trị dưới hình thức nào đi nữa thì bốn lập trường nêu trên từ cách mạng tả phái đến phản cách mạng hữu phái, vẫn là đặc tính chung của phạm trù tâm lý chính trị.  Trong bất cứ xã hội nào, thường một thiểu số chấp nhận một thái độ, một lập trường và dùng lập trường đó như kim chỉ nam hướng dẫn hành động. Từ đó một thiểu số tranh đấu cho lý tưởng của họ, nếu thắng thế, họ sẽ trở thành cấp lãnh đạo.
.
Lãnh đạo vì dân vì nước là phước của quốc gia. Lãnh đạo vì xôi thịt là quốc nạn. Thế thì không nên hờ hững với chính trị. Một mặt sinh hoạt chính trị “nhằm sửa trị sự việc cho chính trực”, mặt khác nếu mình không tỏ rõ lập trường, tà đạo lên nắm quyền thì chính mình sẽ là nạn nhân của thời cuộc.
.
Nhờ tôn trọng tự do tư tưởng mà các nước dân chủ đã tiến xa trên bước đường xây dựng quốc gia dân tộc, ý thức chính trị của quần chúng cao. Ý dân là ý trời, không phải thể hiện bằng cách mạng, bằng đảo chánh, gây chiến tranh, cướp chính quyền mà bằng phương thức ôn hoà, nhân bản, bầu cử tự do.
.
Nếu vai trò của chính đảng là để hoằng dương chủ trương, đường lối chính trị để mời gọi sự hợp tác của quần chúng trong công cuộc xây dựng tự do, dân chủ và thịnh vượng cho quốc gia, dân tộc, thì quần chúng phải sáng suốt tự chọn lấy lập trường thích ứng cho chính mình vậy.   

Thưa chuyện cùng ông Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương: Đảng CSVN có dám tổ chức trưng cầu dân ý?

Thưa chuyện cùng ông Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương: Đảng CSVN có dám tổ chức trưng cầu dân ý?

 

Trúc Giang (VNTB) “Ngoài lợi ích của người dân, Đảng không còn lợi ích nào khác. Đất nước phát triển mà lòng dân không yên, ngày nào tuần nào cũng có khiếu kiện thì không ổn”. Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng nói với cử tri thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai hôm 27-11.
 
Là Cử nhân triết học thì ông đã quá rõ “lý thuyết lòng dân bất ổn”
 
Năm 1992, ông Thưởng tốt nghiệp Cử nhân Triết học Mác – Lê nin tại trường Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, học vị Cử nhân. Năm 1999, ông tốt nghiệp thạc sĩ triết học cũng tại trường này, với luận văn về đạo đức trong sinh viên học sinh thành phố Hồ Chí Minh.
 
Như vậy, ông Thưởng có kiến thức chuyên sâu về triết học chính trị. Để có được học vị Cử nhân, thạc sĩ, chắc hẳn ông Thưởng cũng đã làu làu trong nghiên cứu nhóm vấn đề cơ bản về nhà nước – chính quyền – chính trị – tự do – công lý – tài sản – quyền – luật và việc thực thi luật pháp bởi các cơ quan thẩm quyền.
 
 
Nếu là người ăn học tử tế, chắc ông Thưởng hiểu nằm lòng về mặt lý thuyết, thì mục tiêu nghiên cứu của triết học chính trị nhằm lý giải về mối quan hệ, cũng như sự tồn tại của các vấn đề trên một cách thấu đáo bởi các nhà triết học; cụ thể là trả lời các câu hỏi như những yếu tố kể trên là gì, tại sao lại phải có chúng, cái gì khiến cho chính quyền là hợp pháp, những quyền và tự do nào cần được bảo vệ và tại sao, luật pháp là gì và khi nào có thể hủy bỏ luật một cách hợp lẽ?.
 
Như vậy, ở một quốc gia không có sự cạnh tranh giữa các đảng phái chính trị, ông Thưởng chắc chắn từng được giảng dạy trên ghế giảng đường, rằng khi đó quốc gia ấy sẽ “dễ tính” với tham nhũng chính trị, tham nhũng về thể chế – được phân biệt với hối lộ và các loại lợi ích cá nhân rõ rệt khác.
 
Là Cử nhân Triết học Mác – Lê nin và cũng đã từng ngồi ghế bí thư tỉnh ủy, ông Thưởng cũng ắt tường tận nguyên cớ vì sao Bí thư Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh bị cách chức, trong khi những “sai phạm” của ông Nguyễn Xuân Anh còn dễ dàng tìm thấy ở bí thư Kiên Giang; chỉ khác là ông bí thư Kiên Giang có người cha vai vế quá lớn trong hậu trường chính trị.
 
Đã vì dân thì sao dân chúng lại oán giận, ghét bỏ?
 
“Ngoài lợi ích của người dân, Đảng không còn lợi ích nào khác…”. Ông Thưởng “tuyên ngôn” với cử tri Biên Hòa mà quên mất rằng người đàn bà ngồi cạnh bên ông khi đó là Phan Thị Mỹ Thanh – Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai. Bà Thanh là người bị người dân Đồng Nai tố cáo là “sâu dân mọt nước”, và mới đây Bộ Chính trị của ông Thưởng đã “kỷ luật cảnh cáo” bà Phan Thị Mỹ Thanh.
 
Nếu Đảng thực sự chỉ có mỗi chuyện “lợi ích của người dân” thì lẽ ra cần xem xét các trách nhiệm công vụ, dân sự và dấu hiệu hình sự về nhữngvi phạm luật phòng chống tham nhũng mà Ủy ban Kiểm tra Trung ương ĐCSVN đã viện dẫn để ra quyết định “kỷ luật cảnh cáo” bà Phan Thị Mỹ Thanh.
 
Câu chuyện “vi phạm luật phòng chống tham nhũng” của người đàn bà ngồi cạnh ông Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương tại hôm gặp gỡ cử tri thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai sáng ngày 27-11, đã gián tiếp trả lời ông Thưởng nguyên cớ “Đảng vì dân”, nhưng tại sao “dân lại ghét Đảng” (!?)
 
Là người đứng đầu cơ quan Tuyên giáo và cũng là một Cử nhân Triết, ông Võ Văn Thưởng cũng hiểu rõ rằng ở Việt Nam, những chính khách như ông, như bà Phan Thị Mỹ Thanh, ông Nguyễn Xuân Anh, ông Đinh La Thăng và cả như ông Trịnh Xuân Thanh nữa, thực ra đều là sự sắp đặt cố tình cho lợi ích của ĐCSVN, chứ không hề đi lên từ lá phiếu bầu chọn khách quan của người dân.
 
Lý thuyết về triết học chính trị mà cá nhân người viết bài này tin rằng hồi còn ở giảng đường Đại học Tổng hợp TP.HCM, ông Thưởng được học rất kỹ từ giáo sư Trần Trung Hậu: “Chính khách hay Nhà Chính trị, hay Chính trị gia là một người hoạt động tích cực trong Đảng chính trị, hoặc một người giữ hoặc tìm kiếm vị trí trong Chính phủ. Ở các quốc gia dân chủ, các chính trị gia tìm kiếm các vị trí tự chọn trong chính phủ thông qua bầu cử hoặc, đôi khi, bổ nhiệm tạm thời để thay thế các chính trị gia đã chết, từ chức hoặc đã bị bãi nhiệm.
 
Tại các quốc gia phi dân chủ, họ sử dụng các phương tiện khác để đạt được quyền lực thông qua cuộc hẹn, hối lộ, cuộc cách mạng và mưu đồ. Một số chính trị gia cũng có kinh nghiệm trong nghệ thuật hoặc khoa học. Các nhà chính trị đề xuất, hỗ trợ và tạo ra các luật lệ hoặc chính sách chi phối đất đai. Nói chung, một “nhà chính trị” có thể là bất cứ ai đang tìm cách đạt được quyền lực chính trị ở bất kỳ cơ quan hành chánh nào”.
 
Khi ấy, giáo sư Trần Trung Hậu diễn giải nôm na về sự khác biệt giữa “Chính khách quốc doanh” và “Chính khách tư bản”, là nếu như chính khách của bất cứ quốc gia tư bản nào cũng phải biết diễn thuyết, nghĩa là hùng biện, có ngữ điệu, diễn giải có logic, nói đúng, rõ ràng bản chất sự việc, nguyên nhân các vấn đề và các giải pháp khắc phục, thì chính khách ở các nước xã hội chủ nghĩa đơn giản hơn nhiều, họ chỉ cần nói đúng theo “Nghị quyết Đảng”.
 
“Chính khách tư bản” là một nghề nên rất chuyên nghiệp, do đó họ rất giữ danh giá, gắn bó với cộng đồng – đối tượng mà họ kiếm phiếu. Chính trị chính là sản phẩm của chính khách ấy.
 
Các ông bà vừa bị ĐCSVN “kỷ luật cảnh cáo” như Phan Thị Mỹ Thanh, Nguyễn Xuân Anh, Đinh La Thăng… đều là những “Chính khách quốc doanh”. Cũng bởi lẽ đó, nên đúng như lời than vãn của ông Võ Văn Thưởng: “Ngoài lợi ích của người dân, Đảng không còn lợi ích nào khác. Đất nước phát triển mà lòng dân không yên, ngày nào tuần nào cũng có khiếu kiện thì không ổn”.
 
Năm 2018: Trưng cầu ý dân về Điều 4, Hiến pháp 2013?
 
Luật Trưng cầu ý dân có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2016. Để giải đáp thắc mắc của ông Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương rằng vì saongoài lợi ích của người dân, Đảng không còn lợi ích nào khác, thế nhưng lòng dân không yên, ngày nào tuần nào cũng có khiếu kiện?, cần thiết thực hiện một cuộc trưng cầu ý dân về nội dung người dân có cần “Đảng độc quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội” quy định ở Điều 4.1, Hiến pháp 2013?.
 
Nội dung ở Điều 6, Luật Trưng cầu ý dân cho phép thực hiện việc trưng cầu này: “Điều 6. Các vấn đề trưng cầu ý dân. Quốc hội xem xét, quyết định trưng cầu ý dân về các vấn đề sau đây: 1. Toàn văn Hiến pháp hoặc một số nội dung quan trọng của Hiến pháp; 2. Vấn đề đặc biệt quan trọng về chủ quyền, lãnh thổ quốc gia, về quốc phòng, an ninh, đối ngoại có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của quốc gia; 3. Vấn đề đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đất nước; 4. Vấn đề đặc biệt quan trọng khác của đất nước”.
 
Vấn đề còn lại là Quốc hội Việt Nam có thực sự vì dân, vì nước để tổ chức cuộc trưng cầu ý dân hay không? Trong hoàn cảnh hiện tại, có lẽ hỏi tức là đã trả lời.

LS. VÕ AN ĐÔN KÊU GỌI CỘNG ĐỒNG LÊN TIẾNG BẢO VỆ ÔNG

LS. VÕ AN ĐÔN KÊU GỌI CỘNG ĐỒNG LÊN TIẾNG BẢO VỆ ÔNG

 

 

Võ An Đôn

TÔI BỊ TƯỚC THẺ LUẬT SƯ

Hôm qua 26/11/2017, Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư họp quyết định kỷ luật tôi với hình thức: xóa tên khỏi danh sách Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên. 

Quyết định này có hiệu lực ngay, kể từ đây ước mơ làm luật sư bào chữa cho dân nghèo và người cô thân yếu thế của tôi coi như chấm dứt, để lại nhiều vụ án oan đang làm dở dang.

Đoàn luật sư cho rằng tôi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, trả lời phỏng vấn các báo đài nước ngoài và nói xấu luật sư, để xóa tên tôi khỏi danh sách Đoàn luật sư là mang tính áp đặt, vô căn cứ. 

Đoàn luật sư không làm tròn nghĩa vụ cao cả của mình là bảo vệ luật sư, mà làm theo sự chỉ đạo từ phía an ninh, kỷ luật tôi gấp gáp ngay trong ngày chủ nhật, không có mặt tôi. Nhằm mục đích không cho tôi tham gia bào chữa cho blogger Mẹ Nấm, tại phiên tòa phúc thẩm ngày 30/11/2017.

Những luật sư quyết định xóa tên tôi khỏi danh sách Đoàn luật sư gồm: luật sư Ngô Thiên Phương (Chủ tịch Hội đồng kỷ luật) và luật sư Ngô Minh Tùng (thành viên Hội đồng kỷ luật) đề nghị hình thức kỷ luật đối với tôi. Luật sư Nguyễn Hương Quê (Chủ nhiệm Đoàn luật sư) và luật sư Nguyễn Tâm Hoàng (Phó Chủ nhiệm Đoàn luật sư) bỏ phiếu quyết định xóa tên tôi khỏi Đoàn luật sư.

Mong cộng đồng hãy lên tiếng bảo vệ tôi, để tôi trở lại làm luật sư bào chữa cho dân nghèo, người cô thân yếu thế và tù nhân lương tâm.

 

 

 

 

“Rất khó xử lí tài sản bất minh của cán bộ”

“Rất khó xử lí tài sản bất minh của cán bộ”

 Ngọc Thành

Nhưng lại rất dễ tịch thu tài sản của trí – phú – địa – hào, tư sản và cả dân thường mà chẳng hề đếm xỉa chúng có bất minh hay không. Thực đúng là lòng dạ, miệng lưỡi của kẻ cướp!

Bauxite Việt Nam

Dù dự luật Phòng chống tham nhũng (PCTN) sửa đổi bổ sung quy định về giải trình nguồn gốc tài sản, nhưng với tài sản bất minh vẫn rất khó xử lí – Ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội (cơ quan thẩm tra dự án Luật PCTN sửa đổi) cho biết như vậy, đồng thời nhấn mạnh để phòng chống tham nhũng thì một luật này không giải quyết được vấn đề mà phải có cả một hệ thống quy định chặt chẽ ở các lĩnh vực.

Qua tổng kết cho thấy nhiều giải pháp đưa ra cơ bản là đúng nhưng tổ chức thực hiện có điểm hạn chế, không phát huy hiệu quả. Như luật khẳng định nguyên tắc công khai minh bạch nhưng nhiều cơ quan, tổ chức không thực hiện tốt, thậm chí lạm dụng quy định liên quan bí mật để không công khai hay chỉ công khai ở phạm vi mà người dân không tiếp cận được.

Làm sao khẳng định được anh vay của ai!

PV: Các báo cáo trong nhiều năm đều cho thấy việc thu hồi tài sản tham nhũng còn thấp, khó kiểm soát tài sản của cán bộ. Dự luật PCTN sửa đổi đề ra giải pháp gì để khắc phục tình trạng này, thưa ông?

Ông Nguyễn Mạnh Cường: Chúng ta đã có quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ công chức, cũng có quy định về kê khai, rồi trong trường hợp nào thì tiến hành xác minh. Tuy nhiên, quy định kê khai, xác minh còn hình thức, khó thực hiện.

Với hơn 1 triệu đối tượng phải kê khai, trong khi đó quy định về xác minh thì chỉ tiến hành đối với một số trường hợp mà luật quy định cụ thể. Cơ quan đứng ra xác minh thì chúng ta đang giao cho bộ phận tổ chức cán bộ của mỗi đơn vị thực hiện nhiệm vụ kiểm soát kê khai. Ngoài vấn đề nghiệp vụ thì cơ quan này cũng gặp khó về thẩm quyền xác minh.

Hơn nữa, quy định đối tượng kê khai giới hạn ở vợ/chồng, con chưa thành niên, vậy còn lại đối tượng khác như cha, mẹ, con thành niên thì sao? Điều này dẫn đến tài sản có thể bị chuyển dịch, khó kiểm soát được. Ví dụ trường hợp ông Phạm Sỹ Quý (Yên Bái), ông ấy kê khai có nhà, biệt thự như thế, rồi vay của người khác nhưng để chứng minh tài sản đó bất minh hay không là vấn đề rất khó vì không kiểm soát được thu nhập của toàn xã hội.

Nếu ở nhiều nước, khi anh nói vay của ông A thì người ta biết ngay tài sản của ông A như thế nào nhưng ở mình bảo tôi vay của ông A nhưng ông A này không thuộc diện kiểm soát tài sản, thu nhập thì làm sao chúng ta có thể kiểm tra được! Đây là vấn đề rất khó hiện nay!

Hiện ta đang kê khai đối tượng có hệ số phụ cấp 0,2 trở lên (từ phó phòng cấp huyện trở lên). Tiến tới nếu mở rộng ra, trong khi tập trung vào một đơn vị kiểm soát thì liệu quản lí như thế có rơi vào hình thức hay không? Đây cũng là điểm mà Ủy ban Tư pháp rất băn khoăn.

Để khắc phục những hạn chế này, dự thảo sửa đổi theo hướng có điều chỉnh đối tượng phải kê khai bằng 2 phương án là mở rộng hơn hoặc thu hẹp lại (phụ cấp từ 0,7 và 0,9 trở lên). Tôi cho cả 2 phương án đều bất cập khi đang từ điểm giữa lại đi vào cực hết sức rộng hay một cực hết sức hẹp. Ủy ban Tư pháp đề nghị cân nhắc, có thể thu hẹp đối tượng kê khai ở một mức độ nhất định, còn mở rộng thì phải làm từng bước để làm sao kiểm soát được tài sản, thu nhập.

Luật mới có giải quyết được câu chuyện chuyển dịch tài sản cho người thân không, thưa ông?

Dự luật đưa ra quy định về giải trình về tài sản bất minh, tài sản không giải trình nguồn gốc (có thể là tài sản tăng lên hay tài sản giảm đi một cách bất thường). Anh có thể chuyển tài sản cho người khác thì nó giảm đi, còn nhận của người khác thì nó tăng lên. Luật lần này có quy định liên quan vấn đề này.

Không có căn cứ thu hồi tài sản bất minh

Vấn đề lớn đặt ra là trong trường hợp không giải trình được nguồn gốc tài sản thì khối tài sản đó được xử lí như thế nào?

Người không giải trình được thì có thể bị kỉ luật. Tuy nhiên, đây mới là xử lí về mặt chính trị. Dự thảo luật chưa đưa ra cơ chế xử lí đối với tài sản bất minh. Đây là vấn đề khó vì liên quan sở hữu cá nhân. Người ta không giải trình được nhưng mình cũng không có căn cứ để thu hồi.

Thực tế cũng phải nhìn nhận việc hiểu thế nào là giải trình không hợp lí? Tôi bảo đi vay của bạn thì đó là hợp lí hay không hợp lí? Người ta có nhiều cách để có thể kiếm tiền một cách chân chính nhưng không phải cái gì cũng lên bảng thuế để nhà nước kiểm soát đâu. Có thể chính đáng nhưng về sau cũng không có cái gì chứng minh tài sản đó là bất minh hay không.

Cũng giống như trường hợp ông Phạm Sỹ Quý bị xử lí kỉ luật nhưng khó làm rõ tài sản của ông này?

Hiện nay ta chưa có quy định về việc xử lí tài sản bất minh. Nó khác với tài sản tham nhũng là bị thu hồi bằng thi hành án. Còn đây là tài sản không được giải trình được nguồn gốc – cách chúng ta gọi như vậy, hiểu như vậy nhưng nếu xử lí cứng quá lại có thể gây oan sai.

Đây là vấn đề người dân và dư luận rất quan tâm, tại sao không đưa vào dự luật sửa đổi, thưa ông?

Vấn đề đã được đặt ra, đang đặt ra và tìm cách giải quyết. Cũng có phương án đề nghị đối với tài sản không giải trình được nguồn gốc thì có thể ra tòa.

Do tài sản liên quan quyền sở hữu nên việc tước quyền sở hữu của một người chỉ có thể bằng một bản án có hiệu lực của pháp luật. Đây là phương án đề xuất, tuy nhiên vẫn chưa được thiết kế trong dự thảo luật lần này bởi nếu không làm chặt chẽ thì nó có thể đi từ cực này đến cực kia, cũng có thể làm oan cho người ta, vì vậy phải hết sức cân nhắc, tính toán.

Vậy theo ông, đâu là giải pháp căn cơ để thu hồi tài sản tham nhũng?

Nghị quyết Quốc hội đặt ra thu hồi 60% nhưng thực tế thấp vì nhiều lí do. Để đạt cao thì phải bằng tăng cường áp dụng biện pháp kê biên khi phát hiện, khởi tố bị can liên quan tham nhũng để bảo đảm thi hành án sau này. Hiện nay đang tăng cường biện pháp này để bảo đảm thu hồi tài sản tham nhũng một cách cao nhất.

Xin cảm ơn ông!

N.T

Nguồn: https://www.baomoi.com/rat-kho-xu-ly-tai-san-bat-minh-cua-can-bo/c/23834799.epi

Mây thẻ