"Nói phải củ cải cũng nghe"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Hai, 2018

Cung chúc tân xuân

Cung chúc tân xuân

 TRANG WEB BOXIT VIỆT nAM
 
Một năm mới lại đến trên đất nước ta. Nhưng mới là mới ở đất trời, luân chuyển theo vòng tuần hoàn nên cảm thấy mới. Còn con người thì ngày một cũ, tầng lớp đương quyền đương chức lại càng cũ, chỉ có khả năng “ăn không chừa thứ gì” là đổi mới từng ngày từng tháng từng năm theo cấp số nhân. Và có lẽ đó là cái mới duy nhất làm cho mọi thứ càng trở nên già cỗi, nặng nề hơn: thuế tăng, xăng tăng, trạm BOT mọc lên nhan nhản, rừng vàng biển bạc cạn kiệt, kho tàng nhà nước cũng cạn theo. Dân chúng thêm mệt nhọc vì vai còng thêm, đất mất thêm, môi trường ô nhiễm nặng thêm, mà kêu trời không thấu.
 
BVN chỉ có một lời chúc chân thành: dân tộc Việt Nam vốn thông minh, kiên cường sẽ mau chóng tìm cách tự cứu lấy mình để sớm cởi hết mọi thứ tai ách quàng lên mình đã quá lâu.
 
Cũng như thông lệ, dịp Tết này Ban biên tập chúng tôi xin phép nghỉ từ ngày thứ Tư 14-2-2018 (tức 29 tháng Chạp Âm lịch), và sẽ lên bài trở lại vào ngày thứ Năm 22-2-2018 (tức mồng 7 tháng Giêng năm Mậu Tuất).
 
Kính mong gặp lại bạn đọc trong tinh thần một mùa xuân mới.
 
Bauxite Việt Nam
 

BẢN LÊN TIẾNG VỀ QUYỀN ĐƯỢC NÓI VÀ NGHE SỰ THẬT 

          Nhận định:
 
          1– Nói sự thật và nghe sự thật, đó là quyền lợi và nghĩa vụ của con người cũng như của một nhà nước. Điều này nằm trong chính phẩm giá của một công dân tự do, trong bản chất của một chính quyền biết phục vụ quần chúng lẫn thăng tiến xã hội, và được hàm chứa trong Điều 19 Tuyên ngôn Nhân quyền lẫn Điều 19 Công ước về các Quyền dân sự và chính trị. Bởi lẽ chỉ có sự thật mới đem lại tự do, thăng tiến nhân quyền, kiến tạo hòa bình, hỗ trợ phát triển.
          2- Thế nhưng, qua vụ án blogger bác sĩ Hồ Văn Hải, vụ án Phong trào Chấn hưng Nước Việt (với 3 bị cáo Vũ Quang Thuận, Nguyễn Văn Điển và Trần Hoàng Phúc), cả hai đều bị truy tố theo điều Điều 88 của Bộ luật Hình sự: “Tuyên truyền chống nhà nước”, và vụ án nhóm đấu tranh chống Formosa Hoàng Đức Bình + Nguyễn Nam Phong, bị truy tố  theo điều 258 BLHS cũ: “Lợi dụng quyền tự do dân chủ”,  toàn những tội danh hết sức mơ hồ và không hề có trong nền pháp chế của nhân loại tiến bộ, nhà cầm quyền đã thẳng tay chối bỏ quyền nghe và nói sự thật của công dân.
          3- Cả 6 người đã chỉ dùng mạng xã hội với các bài viết và video clip để phân tích hiện trạng của xã hội, trình bày bộ mặt của chế độ, nhận định công việc của chính phủ, đưa ra đòi hỏi của quần chúng về nhân quyền và dân chủ (cụ thể qua thảm họa Formosa), nhằm nói lên mọi sự thật về đất nước cho nhân dân cũng như cho nhà nước, để hàng lãnh đạo rút kinh nghiệm mà hành xử và để mọi giới đồng bào cộng tác cách xứng hợp mà xây dựng Tổ quốc. Thế nhưng họ đã bị vu khống là xuyên tạc chân lý, lợi dụng dân chủ và chống lại nhà cầm quyền.
          4- Ngay cả 3 phiên tòa đối với 6 bị cáo cũng cho thấy ý đồ bưng bít và lấp liếm sự thật. Như công an cấm cản thân nhân, bằng hữu của bị cáo và báo chí độc lập tham dự, thậm chí đánh đập cướp bóc họ; quan tòa lẫn công tố không thèm xem xét chứng cứ, ngăn cản luật sư biện hộ, dưa ra những lập luận ngụy biện, những nhận định võ đoán, rồi cuối cùng tuyên các bản án nặng nề để trả thù những công dân can đảm nói sự thật, chứ không phải để bảo vệ công lý cho toàn xã hội.
          5- Một sự thật cũng cần được trình bày cho công luận lúc này là cuộc chiến Mậu Thân cách đây nửa thế kỷ. Nhiều chứng cứ, chứng từ và chứng nhân cho thấy đó là một sự thất bại của Cộng sản về mặt quân sự và chính trị (lòng người), một sự phản bội cam kết ngưng bắn vào dịp đầu Xuân, một sự chà đạp ý nghĩa thiêng liêng của Ngày Tết, một sự thảm sát rùng rợn đối với hàng vạn Đồng bào vô tội. Thế nhưng nhà cầm quyền vẫn cứ xuyên tạc sự thật, rầm rộ ăn mừng, coi đó là một chiến thắng, thản nhiên chối bỏ tội ác lẫn sai phạm, bất chấp nỗi khổ đau của các oan hồn lẫn gia đình họ và vết thương trên trái tim Dân tộc.
          Tuyên bố: Đòi hỏi nhà cầm quyền phải tôn trọng quyền được nói và được nghe sự thật của nhân dân:
 
          1- Bằng việc hủy bỏ các Điều 79, 88 và 258 của Bộ luật Hình sự cũ (Điều 109, 117 và 331 Bộ luật Hình sự mới), trả tự do cho mọi công dân đã bị kết án vì các điều mơ hồ, ngụy biện, bất công này. Đó là những khoản luật (hình sự hóa các nhân quyền) mà toàn thể quốc dân và quốc tế đang lên án kịch liệt.
          2- Bằng việc chấm dứt mọi hình thức bạo lực và mọi lực lượng truyền thông có mục đích củng cố và bảo vệ sự dối trá, vì điều đó chỉ gây ra hậu quả tai hại: xã hội đầy lường gạt và bạo hành, nhân dân sống trong hoang mang và sợ hãi, khí phách dân tộc nên bạc nhược, đạo đức và văn hóa suy tàn. Từ đó Tổ quốc và giống nòi dễ lâm nguy trước ngoại bang xâm lược đang rình chực từng ngày.
          3- Bằng việc trả lại toàn bộ sự thật liên quan đến biến cố Mậu Thân, thành tâm sám hối trước tất cả những đồng bào nạn nhân của cuộc thảm sát mùa Xuân ấy và để cho mọi công dân tự do tưởng niệm biến cố đau thương này. Đó là món nợ mà đảng và nhà cầm quyền Cộng sản đang mắc đối với lịch sử và dân tộc. Bằng không, sẽ chẳng nhận được sự tha thứ của toàn dân.
          Lên tiếng quốc nội và hải ngoại ngày 09 tháng 02 năm 2018, trong bầu khí tưởng nhớ 50 năm Tết Mậu Thân
          Các tổ chức đồng ký tên (đợt 1)
1- Ban Bảo vệ Tự do Tín ngưỡng đạo Cao đài. Đại diện : Hiền tài Nguyễn Thanh Liêm, California, Hoa Kỳ.
2- Ban Đại diện Khối Nhơn sanh đạo Cao đài. Đại diện: Các CTS  Hứa Phi, Nguyễn Kim Lân, Nguyễn Bạch Phụng.
3- Báo điện  tử Tiếng Dân Việt Media. Đại diện: Nhà báo Trần Quang Thành.
4- Diên Hồng Thời Đại Việt Nam. Đại diện: Ông, Phạm Trần Anh .
5- Diễn đàn Dân chủ Đuốc Việt. Đại diện: Ông Lưu Hoàn Phố, Bà Thái Hằng
6- Diễn đàn Xã hội Dân sự. Đại diện: Tiến sĩ Nguyễn Quang A
7- Đảng Dân Chủ Việt. Đại diện: Ông Hương Huỳnh
8- Đảng Dân chủ Nhân dân. Đại diện: BS Lê Nguyên Sang.
9- Giáo hội Cộng đồng Tin lành Lutheran VN–HK. Đại diện: MS Nguyễn Hoàng Hoa.
10- Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo VN. Đại diện: Ông Cao Xuân Khải
11- Hội Cựu Tù nhân Lương tâm. Đại diện: BS Nguyễn Đan Quế và LM Phan Văn  Lợi.
12- Hội Dân oan Đòi Quyền sốn. Đại diện: Bà Hồ Thị Bích Khương.
13- Hội Người Việt Tự Do tại BC Canada. Đại diện: Ông Phan Mật
14- Hội Pháp Việt Tương Trợ AFVE. Đại diện: Ông Bùi Xuân Quang.
15- Khối Tự do Dân chủ 8406. Đại diện: KS Đỗ Nam Hải, Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa.
16- Khối Tự do Dân chủ 8406 Hoa Kỳ. Đại diện: Ông Vũ Hoàng Hải
17- Liên minh Dân chủ Tự do cho Việt Nam. Đại diện: Ông Huỳnh Hưng Quốc
18- Little Saigon Vancouver Foundation. Đại diện: Ông Nguyễn Hữu Ninh
19- Người Bảo vệ Nhân quyền (Defend the Defenders). Đại diện: Ông Vũ Quốc Ngữ.
20- Nhóm Bảo vệ Tự do tôn giáo và bình đẳng sắc tộc. Đại diện: Huỳnh Trọng Hiếu 
21- Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền. Đại diện: LM Nguyễn Hữu Giải và LM Nguyễn Văn Lý
22- Nhóm Yểm Trợ Bns/TDNL. Đại diện: Ông Nguyễn văn Lợi & Ông Sơnny Nguyễn. 
23- Tăng đoàn Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất. Đại diện: Hòa thượng Thích Không Tánh.
24- Trung tâm Sinh hoạt Văn hoá Việt Nam tại BC Canada. Đại diện: Bà Mai Kim Huyen
25- Phong trào Đồng Tâm (We Are One Global, Úc châu). Đại diện: Ông Nguyễn Việt Hưng
26- Phong trào Yểm trợ Khối 8406 Canada. Đại diện: Ông Lạc Việt.
27- Phong trào Yểm trợ Tự do Tôn giáo và Nhân quyền VN. Đại diện: HT Thích Nguyên Trí.
28- Tập hợp Quốc Dân Việt Úc châu. Đại diện: Ông Nguyễn Việt Hưng
29- Tập hợp Quốc dân Việt Vancouver Canada. Đại diện: Ông Lê ngọc Diệp
30- Trang mạng nganlau.com Hoa Kỳ. Đại diện: Ông Vũ Hoàng Anh Bốn Phương.
  
          Các cá nhân đồng ký tên (đợt 1)
1- Bùi Quang Vơm, Kỹ sư, Paris, Pháp
2- Cao Xuân Lý, Nhà văn, Australia.
3- Hoàng Hưng, Nhà thơ, Sài Gòn
5- Kha Lương Ngãi, nguyên PTBT báo SaiGon GP, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng
6- Lê Anh Hùng, Nhà báo độc lập, Hà Nội
7- Lý Đăng Thạnh, Người chép Sử, Sài Gòn. 
8- Nguyễn Thế Quang, Giáo viên. Hoa Kỳ
9- Nguyễn Văn Thái, Ph.D., GSTS, Pennsylvania, USA.
10- Nguyễn Việt Hưng (Facebooker Trung Le), Melbourne Úc châu 
11- Thích Thiện Minh, Thượng tọa, Bạc Liêu
12- Trần Thị Mỹ Nhật, Cựu Giáo sư Trung học, Pennsylvania, USA
 
          Các tổ chức đồng ký tên (đợt 2)
31- Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo Thuần túy. Đại diện: Ông Lê Quang Hiển, Ông Lê Văn Sóc.
32- Giáo xứ Phú Yên, Giáo phận Vinh. Đại diện: LM Đặng Hữu Nam.
33- Hội đồng Liên kết Quốc nội Hải ngoại Việt Nam: Đại diện: Đồng Chủ tịch: Hòa thượng Thích Không Tánh, Lm Phan Văn Lợi, Chánh trị sự Hứa Phi, Đạo huynh Lê Văn Sóc, Mục sư Nguyễn Hoàng Hòa, BS Võ Đình Hữu, BS Đỗ Văn Hội, Nhân sĩ Lưu Văn Tươi, Nhân sĩ Nguyễn Văn Tánh, Nhà biên khảo Phạm Trần Anh, Phó trị sự Trần Viết Hùng, Nhân sĩ Cao Xuân Khải, Nhân sĩ Trần Ngọc Bính, Nhân sĩ Trần Văn Đông, BS Hoàng Thị Mỹ Lâm. Cố vấn: LM Nguyễn Văn Lý, Hòa thượng Thích Minh Tuyên.
34- Hội thánh Tin lành Mennonite Cộng đồng. Đại diện: Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng.
35- Nhóm Anh Em Thiện Chí San Jose. Đại diện: Trần Long, Hoàng Lan.
36- Phong trào Giáo dân Việt Nam Hải ngoại. Đại diện: Ông Phạm Hồng Lam.
37- Phong trào Thăng Tiến Việt Nam. Đại diện : Hoàng Lê Hy Lai.
38- Radio VNHN Âu châu. Đại diện: Ông Đinh Kim Tân 
39- Tập hợp Quốc Dân Việt. Đại diện: Nguyễn Trung Kiên.
          Các cá nhân đồng ký tên (đợt 2)
13- Đặng Hữu Nam, Linh mục, Nghệ An.
14- Nguyễn Khắc Mai, Cán bộ hưu trí, Hà nội
15- Nguyệt Quỳnh, Nhà báo, Hoa Kỳ.
16- Trần Viết Tuyên, Kiến trúc sư, Hamburg, CHLB Đức
17- Võ Văn Tạo, Nhà báo, Nha Trang
 (Cập nhật và chấm dứt chữ ký ngày 12-02-2018)

Thư Xuân Mậu Tuất (2018): Vững bước!

Thư Xuân Mậu Tuất (2018): Vững bước!
 

Ban điều hành (VNTB) Kính gửi Hội viên Hội nhà báo độc lập Việt Nam (IJAVN) và quý độc giả!

 

 

Trong thời khắc chuyển giao thiêng liêng của trời đất, đón chào Xuân mới – Mậu Tuất 2018, thay mặt Ban điều hành IJAVN, tôi xin trân trọng gửi tới quý vị những lời chúc mừng tốt đẹp nhất. Chúc quý vị và gia đình một năm mới tràn đầy sức khỏe, hạnh phúc và thành công.

 

Nhìn lại năm Đinh Dậu vừa qua, chúng tôi đánh giá đây là năm có nhiều mất mát trong đấu tranh đòi hỏi các giá trị cơ bản về quyền làm người ở Việt Nam, với hàng loạt những nhà đấu tranh bị đánh đập, bắt giữ và kết án. 

 

Năm Đinh Dậu, cũng là năm mà chúng ta nhận thấy sự bó hẹp không gian xã hội dân sự Việt Nam lại, nổi bật nhất là Quyết định 102 của Bộ Chính trị ĐCSVN – cấm Đảng viên bàn về “thể chế xã hội dân sự” – sự kiện mà IJAVN cùng nhiều báo đài khác đã phản ánh. 

 

Năm Đinh Dậu, cũng là năm mà đấu đá chính trị tại Việt Nam được đẩy lên một mức độ mới hơn, khốc liệt với nhiều mắt xích thuộc tầng lớp tinh hoa chính trị. 

 

Tuy nhiên, năm Đinh Dậu cũng cho thấy những chuyển biến mới trong đời sống xã hội dân sự Việt Nam, đặc biệt là sự hiệp đồng đấu tranh của các anh em tài xế đối với các trạm BOT trên cả nước bằng phương pháp tiền lẻ; những gương mặt trẻ ngày càng xuất hiện nhiều trong đấu tranh nhân quyền – dân chủ cho Việt Nam; những nhận thức đa chiều và sự quan tâm ngày càng nhiều về chính trị – xã hội của người dùng mạng xã hội Facebook,…

 

Có thể những khó khăn mà chúng ta đã trải qua trong năm cũ vẫn chỉ là bước khởi đầu. Và năm Mậu Tuất dự đoán sẽ tiếp tục là một năm đầy biến động, khó khăn và thách thức đối với không gian nhân quyền Việt Nam. Do đó, đòi hỏi mỗi chúng ta phải nỗ lực nhiều hơn, khẳng định quyết tâm mạnh mẽ hơn trong cuộc tranh đấu giành, và giữ lấy các giá trị nhân quyền phổ quát mà chúng ta xứng đáng được hưởng. 

 

Với IJAVN, Ban điều hành và mọi thành viên tin tưởng sẽ vượt qua khó khăn để khẳng định vị thế, uy tín và sự phát triển mạnh mẽ của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tự do báo chí và quyền được biết của người dân. 

 

“Hãy để trí óc con người tự do. Nó phải được tự do. Nó sẽ được tự do”. Ban điều hành IJAVN xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Anh/Chị em hội viên cùng với quý độc giả vì những cố gắng, nỗ lực cống hiến cũng như sự gắn bó và tâm huyết mà Anh/Chị em đã, đang và sẽ giành cho IJAVN thông qua đóng góp, theo dõi, giám sát tin bài trên Việt Nam Thời Báo từ trước đến nay. 

 

Với tất cả tình cảm và sự trân trọng, thay mặt Ban điều hành IJAVN, tôi xin chúc toàn thể quý vị và gia đình một năm mới vững bước – đồng tâm trong đấu tranh – vì một giá trị nhân quyền Việt Nam vẹn toàn. 

 

TM. Ban điều hành IJAVN 

 

Nhà báo Phạm Chí Dũng

SỰ LẠ VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI THẾ KỶ 20 !

SỰ LẠ VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI THẾ KỶ 20

(nhân đọc hồi ký GS Nguyễn Đăng Mạnh- chương VIII về Tố Hữu)

 Nhìn lại lứa trí thức cách mệnh vô sản Việt Nam gồm những người thuộc lớp trung học: Nguyễn Ái Quốc, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp,  Lê Duẩn, Lê Hồng Phong, Trần Phú…. em út là Tố Hữu. Đây tạm gọi là lớp Nhì.

Lớp Nhất cách mệnh  gồm các vị cử nhân- đại học trở lên, như các cụ Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Trần Trọng Kim, Hòang Xuân Hãn và các luật sư Phan Văn Trường, bác sĩ, kỹ sư trong nội các Trần Trọng Kim- Bảo Đại…

 Lớp Nhất học hàm học vị cao hơn, thế mà thất bại. Chịu nhường bước cho lớp Nhì với lớp trưởng thủ quân Nguyễn Aí Quốc dẫn bóng qua mặt lớp nhất, sút bóng căng cầu vồng giành thắng lợi.

 Lớp nhì ở Liên Xô có Lê Nin và đồng chí, cũng chưa qua đại học (riêng Lê Nin còn táo bạo sáng lập “Đại học cộng sản phương Đông”, từng mời  tú tài Nguyễn Ái Quốc sang làm “giảng viên”, và “tuyển sinh đặc cách ưu tiên khu vực 1” một số SV như Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Trần Phú…). Tuy nhiên thuỷ tổ của quốc tế cộng sản lại có tiến sĩ Karl Marx thuộc lớp nhất, còn Engels cũng chỉ lớp Nhì – phổ thông trung học.

 Các nhà sử học và giáo dục học thực khó nghĩ.

 Lớp Nhất thua lớp Nhì  có lẽ ở chỗ họ can đảm “đạp cửa xông vào liều mình như chẳng có”. “Anh hùng tạo thời thế” – lời cổ nhân quả không sai.

 Tuy nhiên bây giờ đã có độ lùi thời gian lịch sử kiểm chứng, ta thấy hình như lớp Nhất vẫn sáng suốt hơn lớp Nhì mặc dù thất bại.

 Thế kỷ 21 lại là kỷ nguyên của lớp Nhất chăng ?

 

Ai tổ chức chiến dịch ‘giải cứu Đinh La Thăng?’

Ai tổ chức chiến dịch ‘giải cứu Đinh La Thăng?’

Phạm Chí Dũng
Người Việt 11/2/2018
Phiên tòa đầu tiên xử cựu ủy viên bộ chính trị nhưng vẫn còn là ủy viên trung ương Đinh La Thăng vừa khép lại trong Tháng Giêng, 2018 với bản án 13 năm tù dành cho ông Thăng, nhưng những gì đã, đang và sẽ xảy ra xung quanh vụ án của nhân vật này có lẽ còn khá lâu nữa mới thật sự chấm dứt.
.
Có hay không một ý đồ, một kế hoạch hoặc thách thức hơn nữa đối với quyền lực của Nguyễn Phú Trọng – một chiến dịch “giải cứu Đinh La Thăng” ở Việt Nam vào những ngày cuối năm 2017, đầu năm 2018?
.
Có!
Vở kịch mang tên “Đinh La Thăng” vẫn chưa hề kết thúc bởi ông Thăng còn phải đối mặt với một phiên tòa khác có thể còn nặng nề hơn – vụ “800 tỷ đồng,” và bởi trước và trong phiên tòa “Thăng – Thanh” đã thực sự có cả một chiến dịch nhằm “giải cứu Đinh La Thăng” – điều chưa từng có tiền lệ ở Việt Nam.
.
Chỉ một ngày sau phiên tòa “Thăng – Thanh” kết thúc vào ngày 21 Tháng Giêng, 2018, báo Công An Nhân Dân – cơ quan ngôn luận của của Bộ Công An – đăng bài “Nhận diện chiêu trò thổi bão, kéo lệch bản chất vụ án ở Tập Đoàn Dầu khí,” trong đó có đoạn:
.
“Dư luận lại đang nhìn nhận vụ án với hình ảnh ông bộ trưởng, ông bí thư Thành Ủy năng động, xông xáo, nhiệt huyết mà quên đi những cáo buộc VKS luận tội. Sự nhầm lẫn này rất tai hại, khiến người ta có cách nhìn không đúng về phiên tòa. Đó là từ việc bày tỏ lòng ngưỡng mộ ông Đinh La Thăng rồi quay sang đặt nghi vấn về việc xét xử của cơ quan tiến hành tố tụng, biến việc chống tham nhũng của đảng, nhà nước thành vấn đề chính trị, nội bộ. Từ chỗ lẽ ra phải lên án hành vi tham nhũng, làm trái, gây thất thoát tiền, tài sản của nhà nước của các bị cáo trong vụ án lại đẩy sang việc tung hô, xin ‘cứu xét.’
.
Vì trào lưu đó mà trên mạng có những người đặt câu hỏi, ông Thăng xông xáo, tốt với dân như thế sao lại bị buộc tội? Thổi bão cho trào lưu này là những trang facebook kêu gọi ủng hộ 10 triệu chữ ký để xóa tội, giảm tội cho bị cáo.”
.
Bài viết “chống diễn biến hòa bình” trên của báo Công An Nhân Dân đã gần như chính thức xác nhận những đồn đoán trước đó của dư luận về một kế hoạch “giải cứu Đinh La Thăng,” được tổ chức và thực hiện ít ra trên phương diện truyền thông mạng xã hội, nếu không muốn nói là có cả hơi hướng trên một số tờ báo nhà nước cùng những hành động trong hậu trường chính trị.
.
$880,000?
Vào thời gian diễn ra phiên tòa “Thăng – Thanh,” có thông tin trên mạng xã hội cho biết đã có một nhóm người nào đó đã và đang tung ra một số tiền lên đến $880,000, tương đương chẵn 20 tỷ đồng, để tạo chiến dịch truyền thông nhằm gỡ tội cho Đinh La Thăng. Một số dư luận cho rằng nguồn thông tin mạng xã hội này là đáng tin cậy.
Cho tới nay, chưa biết nhóm người định “giải cứu Đinh La Thăng” là ai hay thuộc một thế lực chính trị nào, nhưng hẳn nhiên nếu tồn tại nhóm người này thì rất có thể là “phe Thăng,” hoặc những người “cùng cảnh ngộ” mà nếu không tìm cách cứu Đinh La Thăng, hoặc chí ít không làm loãng và giảm hiệu lực đối với phiên tòa “Thăng – Thanh,” thì chính số phận của họ cũng có thể bị ông Trọng đóng đinh vào cột.
.
Trong thực tế “đời sống” báo chí nhà nước ở Việt Nam, chuyện mua bán và kéo bè kéo cánh đánh nhau giành ăn, giành lãnh địa và xung đột nội bộ đảng đã trở thành “truyền thống.” Trước đây, nhiều tờ báo đã “nhúng tràm” vì ăn bẩn và tống tiền doanh nghiệp. Những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2012 đến nay, cùng với đà xung đột nội bộ trong đảng tăng dần đến mức khốc liệt, một số tờ báo nhà nước cũng vươn đến khuynh hướng “phe cánh chính trị” – một cụm từ đặc thù được thể hiện trong các báo cáo nội bộ, và dùng mặt báo để công kích giới “chính khách.” Vào thời gian trước đại hội 12, đã từng nổi lên một số bài viết vừa đánh bóng vừa bênh vực cho Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và gia đình ông, khiến dư luận xã hội lại càng có cơ sở để cho rằng “anh Ba X” và gia đình luôn “mạnh vì gạo, bạo vì tiền.”
.
“Chỉ cần 1 triệu đô la là đóng cửa bất cứ tòa soạn nào” – gần đây một đại gia Việt Nam đã tuyên bố một câu xanh rờn như thế, trong bối cảnh một bữa nhậu.
1 triệu đô la lại tương đương hơn hai chục tỷ đồng, khá vừa vặn với số tiền được cho rằng dùng để mua truyền thông nhằm “giải cứu Đinh La Thăng.”
.
Ai?
Ở một góc nhìn khác, có những dấu hiệu cho thấy Tổng Bí Thư Trọng đã phải chịu một áp lực lớn đối với vụ Đinh La Thăng. Ngay sau khi Đinh La Thăng bị bắt và bị điều tra, đã có những đồn đoán về khả năng một “thái thượng hoàng” đã can thiệp vào hệ thống pháp đình nhằm “giải cứu Đinh La Thăng.” Dù tới nay vẫn còn mù mờ về tên thật của “thái thượng hoàng,” nếu thật sự có tồn tại tác động của nhân vật này vào “chuyên án Đinh La Thăng,” nhưng ai cũng hiểu là “tập quán” chính trường và hậu trường chính trị Việt Nam rất thường chịu ảnh hưởng, thậm chí ảnh hưởng mang tính quyết định của đội ngũ “thái thượng hoàng,” nhất là vào thời “ban cố vấn.”
.
Hẳn đó là lý do để ông Trọng phải chỉ đạo các cơ quan tư pháp gấp rút hoàn tất những thủ tục tố tụng hình sự đối với Đinh La Thăng, hoàn tất trong một thời gian kỷ lục, thần tốc đến mức khó tưởng tượng, thậm chí kết cho Thăng một cái án đến 13 năm tù giam vì tội “cố ý làm trái…” cho dù hồ sơ chứng cứ kết tội thiếu tính thuyết phục…, để đặt mọi chuyện vào “sự đã rồi,” để không còn một cấp nào hay nhân vật nào có thể can thiệp vào vụ án này, để Đinh La Thăng bắt buộc phải trở thành Bạc Hy Lai của Trung Quốc – một tiền đề cực kỳ quan trọng với đảng của ông Trọng và với cả sự tồn tại “hậu đại hội 12” của ông ta.
.
Hẳn là trong thời gian diễn ra phiên tòa “Thăng – Thanh,” Nguyễn Phú Trọng với tư cách là “tổng chỉ huy” chiến dịch “bắt và xử tù Đinh La Thăng,” không thể thiếu thông tin về chiến dịch “giải cứu Đinh La Thăng” do các cơ quan tình báo quân đội và an ninh công an cung cấp, về một phe phái nào đó đang nổi lên chống lại sự nghiệp được xem là “chống tham nhũng” nhưng mới chỉ đang “chống tham nhũng thời kỳ trước” hay “chống tham nhũng một bên” của ông.
.
Một khả năng có thể sẽ xảy đến là sau phiên tòa “Thăng – Thanh,” ông Trọng sẽ tức khí chỉ đạo các cơ quan đặc biệt cùng khối tuyên giáo đảng lùng sục nhằm tìm bằng được và có bằng chứng về thế lực nào và những nhân vật nào đã tổ chức chiến dịch “giải cứu Đinh La Thăng,” ít ra trên phương diện truyền thông, và ít ra liên đới với số tiền $880,000 được dư luận đồn đoán.
.
Năm cùng tháng tận. Chính trường Việt Nam vẫn tiếp tục kịch hay. Thậm chí vẫn có thể rú lên một cơn bão ngay trong những ngày Tết Nguyên Đán 2018.
(Phạm Chí Dũng)

chương 8: TỐ HỮU

HỒI KÝ NGUYỄN ĐĂNG MẠNH  (trích)

 LỜI GIỚI THIỆU CỦA PHÙNG HOÀI NGỌC:

 Tố Hữu biết rõ rằng ông đang nói chuyện với Gs.Trưởng bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại, người này đã và sẽ viết sách, giảng dạy về thơ của ông. Có lẽ sợ nhà nghiên cứu, nhà giáo không hiểu mình, Tố Hữu  (trình độ trung học) lên lớp dạy giáo sư mấy tiết liền không giải lao. Tố Hũu nói chuyện một mình, hùng biện liên miên, chen nhiều tiếng Pháp không cần thiết, có lẽ chỉ để khoe mẽ và dằn mặt GS Mạnh (thầy Mạnh ghi lại được đầy đủ tiếng Pháp cũng giỏi quá, nhưng thầy ghi lại nguyên dạng chữ Pháp mà không chuyển ngữ. Trang chủ Giang Nam lãng tử phải điền chữ Việt vào ngoặc đơn sau tiếng Pháp, bực cả mình). Thầy Mạnh có khiếu hài hước đặc biệt: “Trên đời không có gì nhảm nhí bằng chuyện văn chương, chỉ có đi tiểu là quan trọng nhất”.

 PHN
Chương VIII. TỐ HỮU

            Nhớ lại ba, bốn chục năm về trước, vào những năm 60, 70 của thế kỷ vừa qua, biết bao thế hệ đã từng mê thơ Tố Hữu. Mê thật sự. Đọc những bài như “Bài ca mùa xuân 61” mà chảy nước mắt. Hồi ấy ông rất xứng đáng với danh hiệu “Lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam”. Để phục vụ cách mạng và kháng chiến, thơ ca hồi ấy bám rất sát từng nhiệm vụ chính trị, nên thường viết chung một số đề tài: anh bộ đội, anh giải phóng quân, Bác Hồ, anh Trỗi, mẹ Suốt, chị Trần Thị Lý, miền Nam thành đồng Tổ Quốc, miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội… Ngẫu nhiên mà thành ra những cuộc thi thơ toàn quốc. Trong những “cuộc thi” như thế, Tố Hữu hầu như đều chiếm giải nhất. Vinh quang của Tố Hữu đâu chỉ ở tư cách nhà thơ. Về chính trị ông cũng lên vòn vọt, có lúc tưởng như là người kế cận Lê Duẩn, thay Lê Duẩn đến nơi. Cho nên ngày Tết, người ta xếp hàng nối đuôi nhau ra tận ngoài đường để chúc tết Tố Hữu. Loại như Nguyễn Văn Hạnh, Hà Xuân Trường thì phải xếp hàng mãi tít ngoài đường, rất xa. Còn Hoàng Xuân Nhị thì chỉ rình rình chen ngang… Lúc bấy giờ được viết về Tố Hữu cũng danh giá lắm! Tôi nhớ có lần anh Lý Hải Châu, giám đốc nhà xuất bản Văn học có ngỏ ý giao cho tôi làm “Tuyển tập thơ Tố Hữu”. Định thế thôi chứ đã giao thật đâu. Vậy mà tiếng đồn ra, nhiều người đã mừng cho tôi. Anh Xuân Diệu gặp tôi, bắt tay chúc mừng: “Thế là Mạnh bắt đầu được tiếp cận với nhà đỏ rồi đấy!”

            Thế mà bây giờ! Không thể ngờ Tố Hữu xuống giá nhanh chóng và thảm hại đến thế, ở cả hai tư cách: nhà chính trị và nhà thơ. Hầu như các thế hệ làm thơ bây giờ không ai còn làm theo phong cách Tố Hữu nữa. Ở khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội (có lẽ khoa Văn các trường Đại học khác cũng thế) có điều này, nếu Tố Hữu sống lại chắc buồn lắm: hàng năm cán bộ giảng dạy phải hướng dẫn hàng trăm sinh viên cao học, hàng chục nghiên cứu sinh làm luận án thạc sĩ, tiến sĩ. Đề tài ngày càng bí, quanh đi quẩn lại khai thác mãi những Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam Cao, Thạch Lam, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu… hầu như đã cạn kiệt. Rất bí. Cả thầy lẫn trò đều bí. Vậy mà không ai chịu làm về Tố Hữu, tuy Tố Hữu vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình phổ thông và đại học như một tác gia lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam.

            Kể cũng lạ ! Tôi cho rằng hiện tượng này cần được giải thích, nhất là đối với những thế hệ lớn lên sau 1975, đặc biệt là sau 1986, khi đất nước bước vào thời kì đổi mới. Tất nhiên, giải thích theo quan điểm lịch sử.

            Theo tôi tốt nhất là tôi thuật lại những lần được trò chuyện với Tố Hữu trước 1986. Chính những lời phát biểu của ông về chính trị, về thơ ca sẽ giải thích cụ thể sự thăng trầm của số phận ông. Ngoài ra cũng phải hiểu ông đã quan niệm về thơ như thế nào và làm thơ như thế nào. Vì vẫn phải giảng thơ ông trong nhà trường, vì dù sao ông cũng là một nhà thơ tiêu biểu nhất, vẻ vang nhất, có vị trí quan trọng trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại và trong chương trình môn văn ở các trường phổ thông và đại học.

            Tôi được gặp riêng Tố Hữu hai lần, không kể những lần được nghe ông nói chuyện ở các hội nghị.

            Qua hai lần tiếp xúc với Tố Hữu, tôi thấy ông là người thông minh, nói rất giỏi. Một nhà hùng biện. Ông rất tin ở những điều mình nói như là những chân lý tuyệt đối. Nói rất sôi nổi, say sưa, không cho ai cắt ngang dòng biện thuyết của mình.

            Cuộc tiếp xúc lần thứ nhất là năm 1967. Địa điểm: nhà riêng Tố Hữu, biệt thự 76 Phan Đình Phùng.

            Hồi ấy gặp riêng Tố Hữu rất khó. Anh Huỳnh Lý lúc ấy là chủ nhiệm khoa Văn Đại học Sư phạm Vinh, đã liên hệ trước như thế nào đó mới xin phép được. Rất tiếc cuốn sổ tay tôi ghi chép về cuộc tiếp xúc này tôi đã để thất lạc mất, thành ra chỉ còn lưu lại được trong óc một vài ấn tượng.

            Tố Hữu nói về chính trị là chính. Ông say sưa ca tụng dân tộc mình trong chiến tranh chống Mỹ vừa thông minh vừa anh hùng. Ông nói về Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Văn Bé. Ông rất lạc quan và hoàn toàn thoả mãn về Đảng, về cách mạng Việt Nam chỉ có tiến lên theo đường thẳng. Con đường chỉ có toàn ánh sáng. Cách mạng Việt Nam không hề có bi kịch.

            Tố Hữu tỏ ra rất phục Lê Duẩn. Ông cho Lê Duẩn đúng là một penseur (người suy nghĩ). Ấn tượng khó quên nhất của tôi là ông nói liên miên, nói rất nhiều. Tôi nhớ ông nói từ khoảng hai ba giờ chiều. Nói rất bốc. Lúc đầu còn ngồi ngay ngắn, sau co chân xếp bằng tròn trên salon. Tôi ngồi sát cạnh, thỉnh thoảng ông còn vỗ mạnh vào đùi tôi, hỏi một câu gì đó. Hỏi không phải để nghe trả lời, mà là cách gây chú ý, để nghe ông nói tiếp. Ông nói cho đến khoảng năm giờ chiều.

Anh thư kí riêng đi ra, xem đồng hồ, ý nhắc ông nghỉ cho đỡ mệt. Ông không để ý, đứng dậy bật đèn, nói tiếp.

            Thực tình lúc ấy tôi mót đi tiểu quá. Ngồi ngay cạnh ông, đứng lên không tiện. Vả lại biết đi toa lét ở chỗ nào ! Mà cũng nghĩ ông sắp nghỉ rồi, vì trời đã muộn. Nhưng ông cứ nói, nói liên miên, nói say sưa hào hứng. Lúc đó, thực bụng tôi nghĩ: Trên đời không có gì nhảm nhí bằng chuyện văn chương, chỉ có đi tiểu là quan trọng nhất.

            Nhưng cuối cùng thì ông cũng nghỉ, có lẽ do cách nhắc khéo của anh Huỳnh Lý. Ông bắt tay từng người. Đến lượt tôi, không hiểu sao, ông lại còn giữ tay, nói tiếp mấy câu nữa. Sợ quá !

            Cuộc tiếp xúc thứ hai. Địa điểm: ở ngôi nhà bát giác cạnh trường Chu Văn An bên Hồ Tây, năm 1980.

            Lần này do anh Đoàn Trọng Huy, phó chủ nhiệm khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội liên hệ được. Lúc này tôi đã được chuyển ra công tác tại Hà Nội.

            Cũng như lần trước, Tố Hữu vẫn nói nhiều, nói liên miên. Ông nói về chính trị, về thơ, về việc giảng dạy văn trong nhà trường. Sau năm 1975, tình hình đất nước đã ít nhiều đổi khác. Vì thế ông cũng nói đến chuyện “mở cửa”, đến chống chủ nghĩa Mao, đến mở rộng đề tài thơ và phát triển phong cách thơ.

            Nhưng tinh thần vẫn như cũ, vẫn Đảng ta là đúng nhất, sáng suốt nhất, nhân dân ta, dân tộc ta là tuyệt vời, Mác Lênin là chân lý tuyệt đối, và văn học gắn với chính trị, phục vụ chính trị là chân lý muôn thuở.

            Dưới đây là lời độc thoại triền miên của Tố Hữu, tôi ghi lại được:

 “Vấn đề mối quan hệ giữa chính trị và văn nghệ, tưởng không còn chuyện gì nữa, hoá ra không đơn giản. Vẫn còn có nhiều người chưa nhận ra cái lẽ lớn ấy.

            Văn học phải góp phần tạo ra con người mới, con người xã hội chủ nghĩa, để bảo vệ và xây dựng đất nước. Với dân tộc ta, động viên hy sinh xương máu dường như dễ hơn là động viên đổ mồ hôi, đổ trí óc để tăng năng suất lao động, cải thiện đời sống cho mình.

            Tiêu chuẩn đánh giá một nền văn học lớn là góp sức tạo ra con người mới. Đó là thước đo, nói là cao nhất cũng được, nói là duy nhất cũng được.

Cũng có thể gọi đó là quan điểm thẩm mỹ của ta.

            Đúng là các vấn đề văn học nên đưa ra tranh luận, kể cả với quan điểm đối địch. Nên làm quen với những cách suy nghĩ khác nhau. Nên học cả những vũ khí của địch. Muốn hay không muốn, trái đất cũng có những cuộc giao lưu như thế. Không nên bịt cửa. Trong thời đại này, không có dân tộc nào sống như thế. Chủ nghĩa Mao nẩy sinh trong sự bịt cửa, tự bịt cửa trong ngu dốt và tàn bạo.

            Phải mở cửa. Mở cửa để đón ánh sáng và gió mát chứ không phải để đón ma quỷ. Vì đời có cả thiên thần và ma quỷ… Phải biết đóng cửa, mở cửa một cách khoa học. Mở cửa cũng còn để trao đổi với ngoài. Có vay có trả, có góp cho đời. Ta rất tự hào về văn học ta là văn học của một dân tộc tiên phong, có vẻ đẹp của nó.

Quy luật từ xưa đến nay là quy luật riêng- chung.

            Xưa cái chung lấn át cái riêng.   Nay cái riêng lấn át cái chung.

            Cần hoà hợp riêng chung.

Cái chung mà không phát huy cái riêng, cái riêng nó sẽ quay lại chống lại cái chung.

            Làm chính trị là l’art des possibités (nghệ thuật của cái có thể). Làm sao sử dụng được đến ngón tay út của con người. Tập thể là vô cùng. Con người cũng là vô cùng. Nói vượt mình là không đúng. Nên nói phát huy khả năng của mình. Làm sao vượt mình được ! Chủ nghĩa Mác ý thức được khả năng vô tận của con người. Con người là gì ? Cuộc sống là gì?

Là vật chất, trí tuệ, tình cảm, là con – người – mới.

            Khổng Tử phủ nhận “con” là dối trá. Thực ra Khổng Tử coi con người là trâu chó.

            Con người khác con vật là có trí tuệ và tình cảm. Có cái đầu pensant (suy nghĩ). Mao không cần. Tư sản cần nhưng chỉ cần để phục vụ nó. Làm trái nó, nó chặt đầu. Mọi chế độ bóc lột đều ngu dân ở những mức độ khác nhau, mức hạn chế khác nhau, do lợi ích giai cấp. Chỉ có chủ nghĩa cộng sản là parti de l’intelligence (đảng trí tuệ).

            Cái “con” là nécessité (cần thiết). Nhưng trí tuệ, tình cảm mới là đặc trưng của người. Chủ nghĩa xã hội là làm chủ tập thể cộng với công nghiệp hoá. Lênin thì nói: Chính quyền Xô viết và điện khí hoá…

            Bác Hồ thì nói độc lập tự do. Tự do là chuyện muôn đời. Nécessité comprise (phạm trù nhu cầu cần thiết) là chuyện muôn đời. Vĩ nhân là làm chủ quy luật và chiến đấu cho tự do. Đúng thế. Nhưng thực sự là người tự do, khó lắm! Hạnh phúc lớn nhất là tự do, là làm chủ.

             “Uống ngụm nước suối trong đỡ khát

            Trông trời cao mà mát tâm can”.

            Nước suối mà sao ngon? Vì đó là tự do, là nécessité (cần thiết), quy định bởi cái nécessité cao hơn tức là cứu nước. Tôi chỉ nói tới nói lui những điều đã cũ, không có gì mới. Vì không cần nói gì hơn.

           “Bay vào vũ trụ” là nécessité. Dép lốp là nécessité.

            Tôi thừa nhận dép lốp, cơm khoai, vì đó là nécessité. Song tôi cũng có cái đầu để mơ ước chứ ! Cho nên tôi thấy bay vào vũ trụ cũng là nécessité.

            Nói vị nghệ thuật là dối trá. Ai chả vì cuộc sống này khác. Chỉ có người cộng sản là nói ouvertement (mở ra). Phong kiến, tư sản không dám nói. Còn tiểu tư sản là tù binh của mọi nguồn, bơi trong mọi dòng nước, tự lừa dối mình. Tiểu tư sản không có đời sống độc lập. Ta nói ouvertement vì ta nói sự thật và chỉ có ta mới nói được.

            Thanh niên bây giờ có xu hướng “Tây loăng quăng hoá”, dễ mất tính dân tộc. Ông cha ta bản lĩnh lắm, mãnh liệt lắm nên mới tránh được Tây hoá.

            Nhưng dân tộc phải nhịp theo thời đại. Đó là sự thật khách quan. Thời đại là: ba dòng thác cộng với cách mạng khoa học kỹ thuật. Nhật Bản đã trở thành 2 ème puissance (sức mạnh thứ 2  thế giới) vì có ba yếu tố: 1. Tinh thần Đại Nhật bản (Đảng Cộng sản lẽ ra phải tranh lấy ngọn cờ dân tộc. De Gaulle và tư bản Nhật nắm dân tộc hơn đảng cộng sản). 2. Cách mạng khoa học kỹ thuật

  1. Quản lý xã hội, quản lý kinh tế rất khôn ngoan (quản lý theo lối tư bản cộng với truyền thống gia trưởng)

            Conscience và Science (Ý thức và khoa học). Thời đại này có hai cái đó thì thắng. Trẻ con ta có Conscience politique (ý thức chính trị) rất sớm. Nói phải có lý nó mới phục, nó mới nghe.

            Tài nguyên thì ta có dầu, có sắt. Cho nên lắm kẻ đã ve vãn “xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến oanh”.

            Dân tộc ta có truyền thống rất mạnh. Tinh thần thời đại cũng mạnh. Hai cái đều mạnh. Nhiều dân tộc phải xấu hổ vì ông cha của mình: ăn cướp, quân phiệt, hoặc đầu hàng khiếp nhược.

            Dân tộc ta, cái dominant (chủ yếu) là nhân dân. Không cần tư sản. Do chống ngoại xâm mà hình thành dân tộc. Chống xâm lược trên quy mô lớn nên dân tộc lập tức gắn với nhân dân.

            Dân ta profondement – athée – vô thần – pratique (sâu sắc – vô thần – thực tế). Lừa cả thần, lừa cả Phật (Trạng Quỳnh). Bất chấp Khổng, Phật, Thiên Chúa. Rất matérialiste (duy vật). Cái nôi dân tộc ở chính Việt Nam. Nhân dân ta là miếng đất lí tưởng cho chủ nghĩa cộng sản.

            Dân tộc – Nhân dân – pratique (thực tế). Lại có tính nhân dân nữa. Thừa nhận giá trị con người rộng rãi lắm “Thương người như thể thương thân”. Nhân ái lắm!

            Không lấy mình làm chuẩn như Khổng Tử “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”. Tình làng xóm, cha con, vợ chồng rất khác đạo Nho. Tầu nói trọng nghĩa khinh tài, đào viên kết nghĩa mà dối nhau, giết nhau.

            Thời đại ta có chủ nghĩa Mác nên tránh được tự phát, tuỳ tiện. Cái yếu nhất của ta là khoa học kĩ thuật. Đảng đề ra cách mạng khoa học kĩ thuật là then chốt, trúng quá!

            Cuộc thắng Mỹ của Việt Nam lớn lắm. ảnh hưởng đến nhiều dân tộc trên thế giới. Họ không sợ Mỹ nữa. Mỹ không dám gây sự, không dám có một Việt Nam thứ hai.

            Tố Hữu ngừng lại một lát rồi tiếp: “Đấy là tất cả những gì tôi đã nghĩ và đã nói bằng thơ.

            Từ “Từ ấy” tôi vẫn nói thế thôi: lẽ phải, chân lý, tình cảm. Chân lý chói qua tim. Chân lý phải qua tim mới dẫn tới hành động. Tình cảm lớn phải có chân lý lớn chỉ đạo. Mao không có tim và chân lý. Tôi nói Mỵ Châu “Trái tim lầm chỗ để lên đầu” làm mất nỏ thần. Mao thù. Tầu bay Việt Nam không cho qua Trung Quốc.

            Thơ Tố Hữu nói lẽ phải lớn của dân tộc và thời đại. Tôi viết bài “Một nhành xuân”. Có lẽ người ta đã quên lẽ phải lớn chăng, nên phải nói lại. Người ta nói tầm bậy về Đảng quá. Apolitique (phi chính trị) nặng. Không biết lịch sử dân tộc do Đảng đem lại. Chủ nghĩa công thần, tính công trạng mình nhiều quá mà không tính công Đảng. Hoàng Văn Hoan tách Đảng, thành phản quốc. Còn gắn với Đảng là mùa xuân vĩnh viễn.

           Nhà văn phải có message (thông điệp) nhắn gửi cho đời. Vấn đề là có cái gì đáng nhắn gửi thật không? Chuyện văn là chuyện đời, chuyện lẽ phải.

            Nghệ thuật phải có hình thức adéquate (đầy đủ) 100%. Nhưng đó là chuyện dĩ nhiên. Art là personnel (nghệ thuật con người), không phải individualiste (cá thể). Rất riêng song không cá nhân chủ nghĩa. Bên cạnh hoàng anh, hoạ mi, phải có sẻ sẻ, chim chích, thích chứ, vui chứ! Nhưng cá tính là gì? Cá tính có ý nghĩa thực là góp một tiếng nói cho đời. Hoạ mi hót mà đời insensible (vổ cảm) thì phục vụ ai, có ích gì, vô nghĩa. Có người chủ trương viết cho mai sau, không cần đời chấp nhận. Vô lý. Mai sau ai sinh ra? Trên trời rơi xuống à? Người mai sau là ai? Chẳng qua là trốn dư luận, ai biết mai sau là gì!

            Nghệ sĩ phải sống với thời đại của mình. Có convention (hiệp ước), có giao ước của nó chứ! Rút lại phải sao cho người đương thời chấp nhận.

            Có nhà thơ chỉ nói tình yêu, tình bạn, hoa đẹp. Thích chứ! Có người nói thời buổi chiến tranh không nên vẽ phong cảnh, vẽ hoa. Tầm bậy! Cảm thụ được cái đẹp của thiên nhiên muôn hình muôn vẻ, lớn lắm chứ! Nhưng phải bàn thế nào là đẹp. Rút cuộc là trở về hunanisme (chủ nghĩa nhân văn).

Rất mừng là thế hệ trẻ đang lên. Lê Thị Kim có bài Cỏ. Tôi không viết được. Yêu thiên nhiên và yêu tình yêu. Khánh Chi rất nên ủng hộ. Tuổi mình không còn là tuổi tình yêu, nói gì được nữa.

            Rất may là thời đại ta cùng tồn tại bốn thế hệ: thế hệ già, thế hệ thời chống Pháp, thời chống Mỹ, thời xây dựng chủ nghĩa xã hội. Già có vẻ đẹp của già (đừng có lẩm cẩm). Trẻ biết đâu mà nói. Mỗi thế hệ có vẻ đẹp riêng, có ưu thế riêng. Hãy nói to lên những điều đẹp nhất của mình.

            Tôi rất chú ý từ ngữ, âm điệu, nhạc điệu. Không dùng từ ẩu bao giờ. Thơ phải tiết kiệm, không nói dài. Tôi không có khả năng sáng tạo từ mới. Từ vựng của tôi nghèo lắm! Từ ít và không thông minh như của Chế Lan Viên. Phạm Tiến Duật, Bằng Việt cũng lắm từ, chịu khó tìm tòi, sáng tạo ngôn ngữ. Chỗ yếu của tôi là thường dùng từ ngữ quen thuộc. Không nói được điều gì bất ngờ, làm nên sự giật mình về hình thức.

            Nhạc điệu ngôn ngữ Việt Nam hay lắm. Âm thanh diễn đạt chính xác, cụ thể, nhiều giọng điệu. Mỗi bài thơ phải tìm một giọng thích hợp: Emily con, Kính gửi cụ Nguyễn Du, Theo chân Bác… Bác thích loại thơ rigoureux (nghiêm ngặt). Bác rất Classique (cổ điển). Vì thế Theo chân Bác phải dùng thể thất ngôn mới thích hợp. Nhịp sống thay đổi, cũng phải tạo nhạc điệu mới. Phải phá thể, phá cách. Lục bát cũng thế:

            “Thác, bao nhiêu thác cũng qua” . Các cụ xưa không làm thế.

            Tôi rất nghiêm trong việc dùng chấm và phẩy. Học sinh bây giờ chấm phẩy bừa quá. Phải học tính chính xác, khoa học, khẩn trương, hoạt bát. Ông bà ta không làm được điều đó vì nhịp điệu nông nghiệp quen rồi. Tôi cố gắng phục vụ mọi người. Xã hội ta có ba loại:

– Loại văn hoá thấp: Trình độ cấp I. Người lao động phần lớn ở mức độ này.

– Loại trình độ cấp II, cấp III, tuổi 30, 40. Loại này cũng có hàng triệu người

– Loại đại học. Trí thức.

            Bài Emily,con…phục vụ độc giả từ trung học trở lên. Viết cho loại này, tiện, vì cùng loại với tác giả. Có thể làm một cách tự nhiên, không mất công. Viết cho loại một cực lắm. Đối tượng là dân gian. Bài “Ba muơi năm đời ta có Đảng” viết cho hàng chục triệu người. Gọi là vè rất đúng, là khen, vì dụng ý của tôi là làm vè.

            Bài “Mẹ Suốt” viết cho chính mẹ Suốt. Nhưng không giữ mức vè. Đó là bài thành công với nhiều tầng lớp.

            Bài “Theo chân Bác” phải vừa hợp phong cách Bác, vừa phục vụ toàn dân, cho cả trí thức. Dùng thất ngôn có thể giải quyết được. Bài “Nước non ngàn dặm” chủ yếu nói cho miền Nam. Cần gợi cảm nên dùng lục bát là tiện. Nhưng có savant (khoa học) hơn một chút. Cấu tứ không khó lắm! Khó là forme (hình thức) nào, giọng nào. Năm ba câu đầu mà bắt được giọng rồi thì dễ lọt.

            Câu đầu lợi hại lắm. Bài “Một nhành xuân” tôi đã làm năm năm trước. “Năm 20 của thế kỉ XX”. Sau nghĩ làm lý lịch làm gì, anh là gì mà khai lí lịch ! Tôi phải nghĩ hai câu mở đầu khác:

“Vâng xin kể cùng Xuân đồng chí

Chuyện riêng chung một cuộc đời bình dị”.

            Thường khó làm câu đầu và câu cuối. Câu cuối phải gợi ra cái gì rộng hơn cái mình nói trong thơ. Phải mở, không được đóng. Đóng lại là vô duyên. Đọc câu cuối người ta còn nghĩ, còn vơ vơ vẩn vẩn, thế hay hơn. Còn từ câu đầu đến câu cuối không biết trước, không tự giác. Trước khi viết nghĩ nhiều. Khi viết quên đi và thả cho xúc cảm, cứ như tìm hoa trong đêm. Thơ kị nhất đọc câu trước người ta đoán được câu sau. Chính mình cũng không biết, không ngờ. Phải cho thơ tự nó sinh sôi, phát triển. Có ai đó nói rằng, nhà thơ hoàn toàn biết rõ tiến trình sáng tác một bài thơ, hoàn toàn biết trước câu thơ cuối cùng của tác phẩm. Tôi thì có khi làm xong bài thơ, cũng ngơ ngơ ngác ngác về tác phẩm của mình. sáng tác là cảm xúc không luôn luôn tỉnh táo. Văn xuôi có tỉnh hơn chăng? ở đây có những yếu tố ngẫu nhiên, tình cờ. Có khi cũng không biết là hay hay dở nữa kia. Anh Xuân Diệu hỏi tôi, sao anh lại tạo ra được hai câu: “Nỗi niềm chi rứa Huế ơi, Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên”. Tôi cũng không biết sao mình lại tài thế!

Thơ có quy luật riêng của nó.

            Phạm Tiến Duật là anh lính thì hay. Đến lúc luận là chết. Vòng trắng. Sao đời lại tự tử! Hai lần tự tử! Giết anh và giết người chết rồi. Không hiểu đời đã luận đời !

            Trần Đăng Khoa đang dở dang, hết trẻ con, nhưng chưa thành người lớn. Nói giọng ông già là trật.

            Phải luôn đề cao thế giới quan, nhân sinh quan. Nhưng đối với lớp trẻ, nó thấy khắc khổ quá. Phải nói đạo lý thế nào đấy không xa lạ với nó. Nên đề cập đến tất cả những gì nó quan tâm. Đừng nói đại nghĩa trước mà phải đi từ tiểu nghĩa trước (tình yêu, tình bạn). Từ bỏ tiểu nghĩa, nó không nghe đâu! Không chấp nhận tình yêu và thơ tình là không đúng, là nihilisme (thuyết hư vô). Thơ tình là loại thơ khó nhất: nói được cái gì mới? Tôi không làm được. Nói thơ Tố Hữu không nói hết mọi vấn đề là đúng. Nhưng cho rằng thơ Tố Hữu chỉ nói cái to không nói cái nhỏ thì oan. Nhưng chuyện cụ thể chỉ là cái cớ để nói cái to. Cái tật quen của tôi nó vậy. Tố Hữu có nói cả hoa và rác đấy chứ. Nhưng phải có trách nhiệm, phải làm cách mạng, phải quét rác (Tiếng chổi tre)…

            Bài “Hồ Chí Minh”. Khi viết bài này, tôi chưa được thấy Bác, chỉ biết qua về Bác, chưa đọc gì của Bác. “Vung gươm lắp súng” là nghĩ thế, viết thế. Nhưng nói “Người lính già” là bạo, thế mà đúng. Lúc bấy giờ nói thế là bạo, trái với xu hướng quan niệm về lãnh tụ, về vĩ nhân, lúc đó. Đúng, Bác là người lính.

            “Bà má Hậu Giang”. Có chuyện thật nghe nói ở Ban Mê Thuột: một bà má nấu nồi cơm to, bị Tây chặt đầu. Còn (thì tôi) phịa ra cả. Lúc đó Bắc Sơn thất bại, Nam kỳ thất bại. Tư tưởng défaitisme (bại chiến), cần góp phần khôi phục lại niềm tin. “Ly rượu thọ”. Có chuyện một viên tướng có bà mẹ yêu nước. Còn chuyện chúc thọ là bịa.

            Mẹ Suốt, có chuyện đẻ con bị xẩy, có chuyện vải màn nguỵ trang thật và cũng có hỏi mẹ mấy câu. Nhưng đặt thêm ra lời hỏi và câu trả lời. “Cá tôm cũng sướng” là bịa.

            Nhân tiện thấy ông nói về những bài thơ cụ thể, tôi tranh thủ hỏi về bài “Ân hận” tôi đọc trên báo thời Mặt trận dân chủ Đông Dương, đề tặng một “nàng trinh nữ” nào đấy. Ông nói bài này làm trong nhà tù. Hồi ấy yêu một cô. Cô ấy đi lấy chồng. Đơn giản thế thôi.

Nói mãi cũng mệt. Tố Hữu nghỉ, uống nước.

***

            Qua ý kiến của Tố Hữu, thấy ông quả là một nhà thơ có kinh nghiệm. Và không phải là không có tài.

            Nhưng vì sao thơ ông không có giá trị lâu dài? Có lẽ vì ông chọn cho mình con đường làm thơ chính trị. Ông đã đáp ứng xuất sắc tâm lý chính trị của dân tộc một thời. Nhưng thời ấy đã qua rồi.

            Thơ tuyên truyền chính trị nên phải đơn nghĩa. Và vì phải hướng chủ yếu về đối tượng công nông binh, nên phải sử dụng những thể điệu truyền thống kể cả lối ca vè và phải dùng những hình ảnh, những ngôn từ quen thuộc, tránh sáng tạo hình ảnh và từ ngữ mới lạ.

            Tố Hữu lại tiếp tục nói. Ông chuyển sang nói về giáo dục, về việc dạy văn. Ông cho rằng muốn dạy tốt phải dựa trên nghiên cứu khoa học. Giáo viên không được tiếp xúc với các công trình khoa học thì như người lính ra trận không có vũ khí. Giáo viên văn học là giáo viên khổ nhất mà đáng lẽ sướng nhất. Học sinh nộp bài như nộp thuế.

            Ta còn thiếu những công trình khoa học có sức thuyết phục. Tôi chưa tin có ai đã dạy Kiều, hiểu Kiều một cách đầy đủ. Và liệu đã có ai hiểu hết một bài Bình ngô đại cáo. Bài văn lạ lùng trên nhiều mặt. Lượng thông tin ghê gớm.

            Từng từ có giá trị xã hội, đại diện cho một thực thể xã hội. Trí tuệ, tư tưởng ghê gớm lắm: “Lấy nhân nghĩa”, “lấy chí nhân”. “Chí nhân” thời ấy là gì? “Cường bạo” nội dung thời ấy là gì? “Trúc chẻ ngói tan”phải là một chiến dịch ghê gớm lắm. Bao nhiêu ý nghĩa nhận thức!

            Thày giáo văn học là đắt nhất. Nghề này không chỉ đòi hỏi hiểu biết. Anh phải sống đẹp. Thông tin văn học khác. Phải gây hiểu biết và xúc động thật sự. Không cảm thụ được và truyền đạt được cảm xúc thì nghề dạy văn là vô nghĩa.

            “Đau đớn thay phận đàn bà”, không có gì sáng tạo cả mà hay, vì là tiếng kêu giữa trời cho ba trăm năm sau. Thiên tài là sự nhuần thấm máu thịt đến mức như là cảm quan ngẫu nhiên, tạo ra cái đẹp mà không biết. “Long lanh đáy nước in trời”. “Long lanh” sau mới thấy “đáy nước” và thấy “trời”. Được nghe, hiểu một câu thơ như thế, chết cũng sướng.

            Nếu loài người hiểu hết vẻ đẹp của mình thì là thiên thần. Là thoát ra khỏi tấn bi kịch lớn. Bi kịch của loài người là không ý thức được vẻ đẹp của mình, do mình tạo ra, và tất cả thấy cần phải sống đẹp như thế. Làm sao một dân tộc rất đẹp như Campuchia lại bị tiêu diệt có vẻ dễ dàng như thế? Tôi vẫn suy nghĩ mãi về điều đó.

            “Phải đặc biệt coi trọng giáo dục, coi trọng văn học. Chủ nghĩa xã hội đâu phải chỉ cần cơ sở khoa học kỹ thuật. Con người còn cần tâm hồn nữa chứ.

            Nếu không, chỉ là “con” thôi, một thứ con cao cấp thôi”.

***

            Ý kiến của Tố Hữu về giáo dục, về dạy văn nói chung là đúng, tuy không có gì mới mẻ đặc sắc. Sức hấp dẫn vẫn chỉ là ở nhiệt tình sôi nổi và niềm tin mãnh liệt, đã trở thành phong cách riêng, khẩu khí riêng của ông. Lúc đó anh Đoàn Trọng Huy vừa mua được cuốn “Tuyển tập thơ Tố Hữu” do Hà Minh Đức soạn. Anh xin chữ kí của Tố Hữu. Tôi đọc bài “Mẹ Tơm”, thấy câu thơ “Sống trên cát, chết vùi trong cát” in là “Sống trên cát, chết hoà trong cát”, bèn nhân tiện hỏi Tố Hữu: hoà hay vùi? Tố Hữu nói “vùi chứ hoà thì còn văn chương gì nữa”. Ông tỏ ra tán thành lời bình của Hoài Thanh về chữ vùi trong bài thơ này.

            Tố Hữu trông người nhỏ nhắn, nhẹ nhõm như một thư sinh. Nhưng rất hách. Tôi đã nghe Hoàng Cầm nói, ông đã từng ra lệnh bắt Trần Dần, Tử Phác bằng sáu tiếng ngắn gọn: “Gọi nó về, bắt lấy nó”. Tôi đã chứng kiến Nguyễn Đình Thi sợ ông như thế nào, tôi ví như con cua co dúm người lại trước con ếch.

            Tôi đã nghe Hoàng Ngọc Hiến thuật lại về Tố Hữu trong cuộc họp nhà văn đảng viên hồi tháng Sáu năm 1979. Nguyên Ngọc trình bầy bản đề cương chống Mao-ít. Tố Hữu đã quạt cho Nguyên Ngọc một trận, cho đây là hiện tượng “ngược dòng”, ông có cách nói mỉa mai rất ác. Nhân thấy Nguyên Ngọc, người thấp, nhân làm đổ cái micro trên bàn chủ tịch đoàn, ông nói: “Cái bục này đối với tôi hơi cao, đối với anh Nguyên Ngọc thì cao quá!”. Ông còn đến vuốt râu Nguyên Hồng: “Để râu sớm quá đấy, để trốn họp chi bộ chứ gì!”. Gần đây Kim Lân còn cho tôi biết, hôm ấy, Tố Hữu đến chỗ Kim Lân, nói: “Dạo này viết ít quá đấy!”. Kim Lân buột miệng nói: “Bác lại phê bình em rồi!”. Có vậy thôi mà nghĩ sợ quá. Kim Lân nói: “Tôi nhớ trong truyện Tam quốc, có hai anh bạn thân, sau một anh làm to, anh kia đến chơi, nói suồng sã về những kỉ niệm thuở hàn vi. Sau bị tay kia cho người đuổi theo thủ tiêu – Sợ quá!”.

            Tôi chắc Kim Lân sợ thì có sợ, nhưng làm gì đến nỗi thế. Bọn nhà văn là chúa hay phóng đại.

            Nguyễn Khải cũng kể lại, hôm ấy anh ngồi chủ tịch đoàn. Có một cậu nói nhỏ với anh: “Ông Lành đang nói sao cậu lại cười?” Khải sợ quá, vội chối: “Không, răng tôi nó hô đấy chứ, tôi có dám cười đâu!”.

            Gần đây anh Hoàng Dũng cán bộ giảng dạy khoa Văn Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, học trò thân thiết của Nguyễn Tài Cẩn, cho biết, Tố Hữu có lần gọi Huy Cận, bảo phải biên soạn cuốn “từ điển” về thơ Tố Hữu: “Puskine có từ điển, sao Tố Hữu không có từ điển ?”. Huy Cận nhờ nhà ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn giúp cho việc này. Cẩn từ chối không được, bèn dùng mẹo, nhận nhưng không làm, tuy thỉnh thoảng lại giả vờ đến Tố Hữu “xin” ý kiến về câu này, chữ khác của thơ ông. Bây giờ Tố Hữu chết rồi, chẳng có trang từ điển nào cả. Anh đồ Nghệ láu thật !

            Năm 1986, Đại hội Đảng lần thứ VI. Tố Hữu mất hết mọi chức vụ. Tự tột đỉnh vinh quang tụt xuống đất. Đau lắm ! Từ Sơn đến chơi thấy nhà như có tang. Ông nói với Từ Sơn: “Chúng nó tiếc gì mà không cho mình làm cố vấn!”. Rồi kéo Từ Sơn ra ngoài vườn như sợ có kẻ nào nghe trộm: “Có gan lên chiến khu làm cách mạng lại không?” Đúng là cay cú đến mức điên rồ !

Tố Hữu rất ghét thi hoa hậu. Ông nói với Hoàng Điệp, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin: “Thi hoa hậu để khoe mông khoe đùi chứ gì! Làm như thế những phụ nữ xấu người ta tủi. Sao không thi bắn súng?”.

 Tất nhiên Tố Hữu rất ghét Gooc ba chốp. Chị Tố Nga, vợ Hoàng Ngọc Hiến, bắt chước giọng Huế của ông rất vui: “Miềng có Hồ Chí Minh của miềng chứ! Thấy người ta chốp chốp, cũng chóp chóp”.

            Những năm cuối đời, Tố Hữu có chuyện này cũng lạ: thường phủ nhận những điều mình đã nói, đã làm. Trong cuốn Chân dung và đối thoại, Trần Đăng Khoa nói đến chuyện Phù Thăng một thời bị qui chụp chính trị rất nặng. Khoa cũng thuật lại cuộc phỏng vấn Tố Hữu về việc sáng tác bài Hoan hô chiến thắng Điện Biên. Tố Hữu nói, không hề biết chuyện Phù Thăng, còn những điều Trần Đăng Khoa hỏi ông về bài Chiến thắng Điện Biên là bịa. Thực ra Tố hữu từng viết bài phê phán Phù Thăng, còn về cuộc phỏng vấn ông về bài “Chiến thắng Điện Biên” thì Khoa nói với tôi: “Em có ghi băng hẳn hoi, đâu có bịa”. Lại có chuyện Nhật Hoa Khanh công bố một bài phỏng vấn Tố Hữu rất dài. Đọc bài phỏng vấn này, thấy Tố Hữu nói ngược hẳn những điều ông nghĩ, ông viết và ông làm trước đây đối với các nhà văn thuộc nhóm Nhân văn giai phẩm. Ngược hẳn lại như quay 180 độ, khiến rất khó tin là có thật. Trần Đăng Khoa cho rằng, Tố Hữu quả cũng hay phủ nhận những điều mình đã nói, đã làm, nhưng không đến nỗi quá quắt như trong bài phỏng vấn của Nhật Hoa Khanh. Tô Hoài thì nói, những sự kiện, những chi tiết trong bài phỏng vấn đều có thật cả, chỉ có điều Tố Hữu nói ngược lại. Nhật Hoa Khanh thì nói, anh có ghi âm, còn giữ băng ghi âm.

            Hiện tượng này tôi vẫn thấy khó tin và cũng khó giải thích. Hay là giải thích bằng tính cách của người Huế chăng: “Sơn bất cao, thuỷ bất thâm…” Tố Hữu ngay khi đã mất hết chức vụ, vẫn rất hách. Trong một cuộc gặp mặt của các nhà văn lão thành (Hữu Thỉnh hằng năm cứ vào đầu xuân lại mời các nhà văn ở Hà Nội từ 70 tuổi trở lên đến gặp mặt để chúc Tết và mừng tuổi), người đã đến đông, Tố Hữu đến sau, ông nhìn khẩu hiệu trên tường“Hoan nghênh các nhà văn lão thành cách mạng”, nói thủng thẳng: “Lão, nhưng liệu có thành không chứ!”.

         Tính cách Tố Hữu như thế nên nói chung văn nghệ sĩ không ưa. Khi ông có chức có quyền, người ta sợ, người ta phải đến – như xếp hàng chúc Tết ông chẳng hạn. Nay hết chức quyền rồi, người ta lảng hết. Tôi nhớ đám tang Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh ở 51 Trần Hưng Đạo, người đến viếng đông lắm. Viếng xong, mọi người sang phòng bên uống nước và trò chuyện. Tôi thấy Tố Hữu ngồi một mình. Chả có ai đến nói chuyện. Ông ngồi một lúc rồi lẳng lặng bỏ về.

            Hết mọi quyền lực rồi, Tố Hữu vẫn có tật nói nhiều. Hôm báo Văn nghệ tổ chức hội thảo về cuốn Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa, ông có đến dự. Một mình ông nói hàng tiếng đồng hồ.

(…)

          Hình như Gala cười (VTV 3) có diễn một tiết mục văn nghệ về một anh chàng mắc bệnh nói nhiều thì phải.

Ca dao có câu:

Rượu lạt uống lắm cũng say,

Người khôn nói lắm, dẫu hay cũng nhàm.

Láng Hạ, ngày 22 – 5 – 2007.

Đọc nguyên văn Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh theo địa chỉ:

https://giangnamlangtu.wordpress.com/h%E1%BB%93i-ky-nguy%E1%BB%85n-dang-m%E1%BA%A1nh/

 

TƯỞNG NHỚ GS.NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

TƯỞNG NHỚ GS.NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

(1930-2018) 

Nghe tin buồn trên FB của Chu Văn Sơn, sau đó Văn Giá, báo tin thầy Mạnh vừa dứt áo ra đi mãi mãi.

Thế là năm Đinh Dậu mình mất hai người thầy lớn: GS Lưu Đức Trung và GS Nguyễn Đăng Mạnh.

Ngồi nhớ lại vài kỉ niệm nhỏ về thầy Mạnh.

Lớp Sau đại học K11 chúng tôi học chuyên đề “Phương pháp nghiên cứu văn học” do thầy Mạnh giảng. Ngoài những câu chuyện thực tế đi nghiên cứu hấp dẫn, nhớ nhất 1 câu “Nhà văn chân chính phải có tư tưởng và phong cách. Có tư tưởng rồi sẽ sinh phong cách, không thì thôi”. (đại ý như vậy, tôi không nhớ rõ từng chữ). Chuyên đề sau  GS.Trần Đình Sử hướng dẫn cách đi tìm “tư tưởng và phong cách” qua giáo trình “Thi pháp học hiện đại”… Các bậc đại sư phụ hợp tác giảng dạy như thế thực là tuyệt.

Nhớ lại một cuộc họp Đảng uỷ Khoa Văn trong năm 1987 hoặc 88. Đảng uỷ có bảy uỷ viên. Gồm các thầy: Gs Đỗ Hữu Châu, Gs Trần Đình Sử, Nguyễn xuân Hậu, Hoàng Hữu Yên, Đặng Thị Lanh, Nguyễn Thị Bình và tôi (lọt vào đó một học trò là tôi, chẳng phải có tài đức gì, chỉ vì là bí thư chi bộ SV-HV nên nghiễm nhiên phải ứng cử, bầu cử và trúng cử theo qui hoạch, chị Bình lúc ấy là trợ lý khoa kiêm bí thư liên chi Đoàn khoa). Cuộc họp xét duyệt hồ sơ kết nạp đảng của ba giáo sư xấp xỉ 60 tuổi: Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Đình Chú. Nghe thầy bí thư (thầy Hậu) nêu nội dung họp, tôi giựt mình, ngỡ ngàng. Ba giáo sư hàng đầu, cổ thụ của Khoa tính tới lúc đó, đã trải qua 20 năm thâm niên cảm tình đảng, đối tượng đảng, nay nhờ ĐH6 “cởi trói” mới được thành uỷ Hà Nội chuẩn y  kết nạp… Hồ sơ lí lịch của ba thầy được các chi bộ thông qua rồi đưa lên đảng uỷ. Tất nhiên là Đảng uỷ Khoa nhất trí trăm phần trăm. Tôi cũng giơ tay đồng ý theo 6 thầy cô mà trong bụng ngượng ngùng lắm, mình là cái thá gì mà được biểu quyết “sinh mạng chính trị” các thầy chứ, chẳng qua là do qui trình Đảng nhiêu khê mà thôi.

Nhớ buổi chiều hôm các chi bộ tổ chức kết nạp ba thầy, nghe nói các em SV biết tin, tíu tít mua hoa kéo đến chúc mừng ba thầy. Trước hết là tình cảm thầy trò thắm thiết. Nhưng mãi sau mình vẫn lăn tăn chả biết các em SV đoàn viên nghĩ thế nào về việc chúc mừng. Lẽ nào ý thức chính trị của SV thời đó cao ngất trời đến thế nhỉ.

Nhớ có lần anh bạn học Chu Văn Sơn [1]*(đệ tử ruột, chân truyền của thầy Mạnh) rủ tôi tới nhà thầy Mạnh chơi, đạp xe đến khu tập thể Đồng Xa. Trước khi về thầy hỏi tôi có rảnh không, đi Thư Viện Quốc Gia tìm giúp thầy một tài liệu của nhà văn Vũ Trọng Phụng vì thầy bận quá. Tôi nhận lời. Hôm sau tôi hăng hái đạp xe hơn chục cây số đến TVQG. Qui chế hồi đó SV đại học năm 3,4 và Sau đại học trở lên mới được cấp thẻ mượn sách của Thư viện lớn nhất miền Bắc này. Bạt ngàn là sách đông tây kim cổ tích luỹ sau cả nghìn năm lịch sử. Lục tìm các hộp phích cả buổi mới thấy tập tài liệu cũ Vũ Trọng Phụng từ thời Pháp thuộc.

Nhớ nhất công trìnH cuối cùng của thầy “HỒI KÝ NGUYỄN ĐĂNG MẠNH”.

K11 VÀ THẦY MANH

CHÚ THÍCH:

Ảnh buổi liên hoan chia tay K11 và các thầy Khoa Văn, HN  cuối 1988. Thầy Mạnh cười rất tươi, giữa hàng sau (thứ 12 từ phải qua)

 [1] *. Chu Văn Sơn nhà nghiên cứu phê bình văn học kiêm hoạ sĩ, tôi ỷ thế bạn cũ gọi anh là nhà phê bình theo trường phái thương hoa tiếc ngọc, chắc anh cũng chả bực bội đâu.

HỒI KÝ NGUYỄN ĐĂNG MẠNH :

https://giangnamlangtu.wordpress.com/h%E1%BB%93i-ky-nguy%E1%BB%85n-dang-m%E1%BA%A1nh/

 

QUỐC PHỤC – LOAY HOAY ĐI TÌM CÁI ĐÃ CÓ 

Nhà văn Hoàng Quốc Hải 
QUỐC PHỤC – LOAY HOAY ĐI TÌM CÁI ĐÃ CÓ .
MỘT NỀN Y PHỤC TRUYỀN THỐNG LÂU ĐỜI 

Từ khi loài người đoạn tuyệt với giai đoạn sơ khai, dời hang động ra sinh sống ngoài trời. Bắt đầu có ý thức đấu tranh với thiên nhiên để giành sự sống, cũng là lúc con người biết xấu hổ, biết tìm cách che đậy bộ phận kín bằng các thứ lá khô hoặc vỏ cây khô. Đó chính là áo quần của nhân loại thời tiền sử. 

Vào khoảng thập niên 60, 70 của thế kỷ 20, bộ đội Trường Sơn khi mở đường đã gặp bộ tộc người Rục vẫn mặc áo quần bằng vỏ cây sui, đó là bằng chứng y phục thời tiền sử còn vương sót lại. 

Từ chỗ tìm kiếm đồ che đậy thân thể để chống lại thời tiết khắc nghiệt bằng các sản phẩm thiên nhiên như lá cây, vỏ cây chuyển sang giai đoạn biết dùng các loại sợi lấy từ cây cỏ như tơ chuối, tơ dứa,tơ tằm và cả đến lông thú, da thú thì y phục của nhân loại đã có bước tiến khổng lồ. 

Mỗi dân tộc sử dụng vải bông, vải lụa làm đồ may mặc đều phụ thuộc vào khí hậu và thói quen của chính dân tộc đó. Thường là người trong mỗi bộ tộc, mỗi dân tộc đều có lối ăn mặc giống nhau. Trong một nước có nhiều dân tộc, trang phục của mỗi tộc người, gọi là y phục dân tộc. Trang phục của dân tộc đa số mang tính tiêu biểu cho quốc gia đó thì gọi là quốc phục. 

Vậy quốc phục là gì? Quốc phục của một nước, là cách dùng các đồ vải sợi,tơ lụa,len dạ… chế tác thành các kiểu áo quần, được dân chúng trong cộng đồng dân tộc tự nguyện chấp thuận và sử dụng một cách ổn định qua nhiều đời. Vậy quốc phục là nét đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc được kết tụ lại. 

Do đó, quốc phục của nước ta chính là một bộ phận văn hóa được kết cấu chung vào nền văn hóa Đại Việt từ cổ xưa. Thật vậy, y phục của một dân tộc được hình thành từ trí tuệ và tập tục của chính dân tộc đó; không một người tài giỏi nào nghĩ ra được lối y phục cho cả một cộng đồng dân tộc, và cũng không một người quyền uy nào bắt được cả một dân tộc phải mặc như thế này, hoặc như thế kia. 

Nước ta có quốc phục không? Đó là một câu hỏi dở. Rất dở. Đó là câu hỏi ở người không am hiểu lịch sử dân tộc mình. Lỗi này có thể tạm tha thứ vì không hiểu biết. Nhưng cũng có kẻ có học thức, song mất gốc, muốn phủ định quá khứ của dân tộc mình. Loại này thường nói, y phục của ta là sản phẩm học mót của người Tầu. Đó là giọng lưỡi của kẻ có ý thức hệ làm nô lệ, làm tay sai cho ngoại bang từ trong máu huyết di truyền. 

Thử nhìn vào mặt trống đồng Đông Sơn, trống đồng Ngọc Lũ, cách ta từ 2500 – 3000 năm,tức là trước cả thời Hùng vương, trong đó có các phụ nữ mặc váy dài, đứng thẳng, đâm chày giã vào cối gạo, và các chàng trai đóng khố, đầu đội mũ lông chim, tay cầm giáo, cầm khiên đang múa. Đó chẳng phải là người Việt cổ, tổ tiên của chúng ta sao? Và cho đến 1945, hầu hết phụ nữ nông thôn miền Bắc vẫn mặc váy và yếm, còn đàn ông tuy mặc quần áo bình thường, nhưng để tiết kiệm, do vải sợi đắt, những người thợ cầy vẫn đóng khố đi cày ruộng như hình người trên trống đồng. 

Y phục các đời đều có cải tiến để cả dân tộc có một nền quốc phục tương đối hoàn thiện, và nó tồn tại suốt chiều dài lịch sử cho đến tận năm1945. 

Ngoài ra, bằng chứng về nền quốc phục và cả lễ phục, còn lưu giữ trên hệ thống tượng thờ các đời vẫn nằm rải rác trong khắp nước. Lại nữa, chính sử ghi chép khá phong phú, ngay cả sự xê dịch về kích thước cũng được ghi chép,bất kỳ người nào cũng có thể khảo cứu được. 

Không chỉ sử sách ta ghi chép, mà sử sách của các sứ giả Trung Hoa cũng có mô tả chi tiết. Trong tác phẩm “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn, trang 81, Nhà xuất bản sử học Hà Nội, tác giả viết: “Trần Cương Trung, nhà Nguyên đi sứ nước ta về, viết trong cuốn “Sứ Giao Châu về chiếc áo của người Việt thời nhà Trần” Người trong nước đều mặc lụa thâm, áo hoa, quần mỏng, cổ áo tròn khâu bằng là. Đàn bà cũng mặc áo thâm, nhưng màu trắng ở trong rộng hơn để viền vào cổ áo rộng bốn tấc, họ cho đó là khác với áo đàn ông. Các sắc màu xanh, hồng, vàng, tía, tuyệt nhiên không có”. 

Trần Cương Trung đâu biết là những màu ông ta không thấy dân chúng dùng, là bởi họ không được dùng. Ví dụ màu tía, chỉ các quan trong hàng đệ nhất phẩm như tam thái, tam thiếu (thái sư, thái phó, thái bảo, thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo) mới được dùng. Còn sắc xanh dùng cho các quan thuộc hàng lục, thất phẩm ở các cấp phủ, huyện. 

Hoàn toàn khác với Trung Quốc, các vua nhà Lý dùng màu đỏ chứ không dùng màu vàng. Không những thế, Lý Thái tông (1028-1054) còn sai các cung nữ trồng dâu, chăn tầm lấy kén làm tơ sợi. Lý Thái tông là người dẫn đầu việc dùng hàng nội. Sử chép “Tháng hai năm Canh thìn (1040), vua dạy cung nữ dệt gấm vóc. Tháng ấy xuống chiếu phát hết gấm vóc của nhà Tống ở trong kho ra để may áo bào ban cho các quan, để chứng tỏ rằng triều đình không dùng gấm vóc của nhà Tống nữa. Từ đó triều phục may thuần bằng gấm vóc nội”. 

Vua dạy cung nữ dệt gấm vóc, và triều phục trong triều đình may thuần bằng đồ nội. Thử hỏi trong lịch sử dân tộc mấy ngàn năm, có vị vua nào làm được như Lý Thái tông? 

Như vậy, ta có một nền văn hóa y phục xuyên suốt từ cổ đại cho tới năm 1945; đó là quốc phục. Như mọi người đã biết, quốc phục là loại áo quần do dân chúng trong nước thường dùng một cách phổ cập. Nhưng cần biết thêm, trong quốc phục, lại phân ra thường phục và lễ phục. Thường phục là loại y phục mặc thường ngày, lễ phục là y phục mặc vào những ngày lễ, tết hoặc giao tiếp trong các dịp có tính long trọng như hội hè, cưới, hỏi, thăm viếng hoặc du ngoạn và cả giao tế v.v… Vậy lễ phục khác với quốc phục ở chỗ nào? Về nguyên tắc, việc chế tác lễ phục phải lấy cốt cách và chuẩn mực từ quốc phục, nhưng khác ở chỗ vải vóc sang quí hơn, màu sắc sáng sủa hơn, và thợ cắt may lành nghề hơn. 

Việc chọn vải và chọn thợ là tùy khả năng tài chính của mỗi người. Đây là nói về quốc phục và lễ phục của một dân tộc, còn triều phục lại có qui chế riêng, nhưng vẫn phải giữ được hồn cốt dân tộc. Tức là không được thoát ly quốc phục. 

Ngày nay,nếu các nguyên thủ quốc gia đều mặc quốc phục, thì chỉ trông vào mũ áo của từng người, ta nhận ra ngay quốc tịch của người đó. Ví dụ, Thủ tướng Ấn Độ khi họp Quốc hội hoặc tiếp khách nước ngoài, ta thường thấy ông đội chiếc mũ tựa như chiếc khăn vành dây quấn theo hình chữ nhân ( l) của người Việt xưa. Ông vận chiếc áo dài lửng màu trắng, ngoài mặc thêm chiếc gi-lê. Nguyên thủ các nước vùng Vịnh thường mặc áo trắng vừa rộng vừa dài, đầu phủ một chiếc khăn trắng dài, trên chỏm có vành đai đen ôm lấy đầu. v.v… 

Ngày nay Âu phục đã trở thành quốc tế phục, nhưng trong mỗi quốc gia, ngay cả các quốc gia Châu Âu, phần y phục truyền thống vẫn được lưu giữ, được tôn trọng, ngay đến các nguyên thủ vẫn phải mặc các trang phục truyền thống trong các dịp lễ tiết của dân tộc mình. 

Khẳng định có bằng chứng được ghi chép trong chính sử, và cả hiện vật khảo cổ cùng nhiều tranh, tượng còn lưu giữ trong bảo tàng, và sinh động nhất là trong dân gian cả nước vẫn đang sử dụng quốc phục một cách bình thường trong các dịp hội hè, tết lễ và cưới hỏi. Vậy đó, quốc phục truyền thống của dân tộc ta vẫn đang tồn tại là điều không thể bác bỏ. 

Nhân đây nhắc lại bộ quốc phục thường ngày của người dân Việt Nam, tiêu biểu là miền Bắc Việt Nam. 

Khi mặc ở nhà, với đàn ông thường dùng chiếc áo cộc. Cộc có nghĩa là hai vạt trước của áo chỉ dài tới nửa đùi, đuôi áo khi ngồi chấm chiếu. Ngay trên thân áo, từ đầu tới nửa thế kỷ 20 cũng có thay đổi ấn tượng. Đầu thế kỷ 20, áo cộc nam không có túi, khuy tết bằng vải. Sau có thêm một túi ngực. Vào những thập niên 30, 40 lại bỏ túi ngực, thay vào hai túi ở cuối vạt, bỏ khuy vải, thay khuy bằng sừng, bằng trai như chiếc áo cộc ngày nay. Đàn ông xưa thường hút thuốc lào. Và tục ăn trầu thì phổ biến cả nam, nữ. Nên hai túi, một bên đựng sáp thuốc lào, một bên đựng bọc trầu cau. Khi đi làm đồng, người ta vấn quần cao tới háng. Sau thay quần dài bằng quần cộc để khi làm việc ở nhà và làm đồng cho tiện. 

Tuy nhiên, khi đã ra khỏi nhà, kể cả chạy qua thăm hàng xóm hoặc đi chợ búa, thì mọi người đều phải vận thêm chiếc áo dài. Đó là qui ước bất thành văn của xã hội. 

Với phụ nữ ngày thường vận áo cộc, trong có chiếc yếm, quần là chiếc váy. Ngang lưng bất kể lúc nào cũng thắt chiếc dải yếm. Dải yếm là một khổ vải rộng độ 20cm dài gần 2 mét. Trong dải yếm, phía bụng giắt một bịch trầu cau ở bên trái, và một túi vải có quai buộc vào giải yếm, còn túi giắt trong dải yếm, phía bụng phải. Trong túi thường đựng một ít tiền xu, chiếc gương tròn hoặc bầu dục to bằng quả trứng vịt, và chiếc lược thưa chải tóc bé tẹo. Đó là y phục phụ nữ mặc ở nhà hoặc đi làm đồng. Khi lao động, hai dải yếm buộc quàng về phía sau lưng, thường thì buông dài quá đầu gối. 

Trước 1945, mỗi khi gia đình có khách, mọi người trong nhà đều phải mặc áo dài. Như thế là biểu hiện một phần của lễ nghi giao tiếp theo phong tục cổ xưa. 

Đó là thường phục của nam nữ. Còn lễ phục như phần trên đã nói. 

Trớ trêu thay, thứ quốc phục truyền thống ấy, ngày nay lại không được nhà nước thừa nhận, và cũng không chính thức phủ nhận. Nhưng lại cứ mải mê đi tìm hình hài quốc phục mãi tận đâu đâu? 

MỘT VÀI KHỞI ĐỘNG ĐỂ TÌM LẠI QUỐC PHỤC 

Câu chuyện tìm về quốc phục bắt đầu hé lộ từ năm 1989. Khi ấy Nhật hoàng Akihito, (đúng ra phải gọi: Hoàng đế của nước Nhật Bản (Emperor – of Japan) lên ngôi. Nước Nhật có mời một số nguyên thủ quốc gia tham dự, trong đó có nước ta. Giấy mời ghi rõ: Về trang phục, xin quí Ngài vận quốc phục của nước mình. Hoặc quí Ngài có thể dùng lễ phục Châu Âu, nhưng xin cho biết trước để chúng tôi tiện sắp xếp. 

Bộ ngoại giao ta phúc đáp, Việt Nam sẽ tham dự. Việc này lãnh đạo nước ta bàn khá kỹ mà vẫn chưa quyết được. Có ý kiến đưa ra nên mặc theo y phục truyền thống: khăn đóng, áo dài, may thật sang, đẹp. Lại có ý kiến: nếu thế thì trùng với Ngô Đình Diệm à? Ông ta tiếp các đại sứ trình quốc thư, hoặc đi công cán nước ngoài đều dùng trang phục truyền thống. 

Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm rất thoải mái vận Quốc phục 
khi tiếp khách Quốc tế. Ảnh: Tư liệu.
.
Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm vận Quốc phục, trang trọng tiếp 
Quốc vương Thái Lan. Ảnh: Tư liệu.

Trong khi ta chưa quyết được, thì Tòa đại sứ Nhật thỉnh thoảng lại nhắc hỏi: Lễ phục đại diện của quí quốc sẽ dùng loại nào? 

Khi gần hết hạn, ta mới quyết: Lễ phục Châu Âu. Và tức tốc gửi số đo của Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Nguyễn Hữu Thọ vào thành phố Hồ Chí Minh may gấp. 

Lần thứ hai vào năm 1991, Thủ tướng Võ Văn Kiệt là khách mời của Hiệp hội Đông Nam Á, họp tại Malaysia. Nước chủ nhà tặng quốc phục Malaysia cho tất cả các quan khách. Hội nghị trở nên đồng phục Malaysia. Dường như bị kích thích bởi tinh thần dân tộc. Khi về nước, Thủ tướng cho triệu ngay Bộ trưởng Bộ Văn hóa Trần Văn Phác, trao nhiệm vụ phải nghiên cứu và sớm trình Thủ tướng bộ quốc phục của nước ta. 

Bộ trưởng trao nhiệm vụ này cho thứ trưởng Nông Quốc Chấn. 

Một cuộc họp được triệu tập gấp, thành phần gồm có: Vụ Mỹ thuật, Cục Văn hóa quần chúng, Cục Bảo tồn bảo tàng, Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia cùng một số họa sĩ. 

Vào họp, thứ trưởng Nông Quốc Chấn hỏi: 
– Các nhà chuyên môn, có ai biết quốc phục là thế nào không? 
Im lặng. 
Thứ trưởng lại hỏi: 
– Liệu loại y phục truyền thống trước đây của ta có phải là quốc phục không? 
Vẫn im lặng. 
Thứ trưởng bèn chỉ định Vụ trưởng Vụ Mỹ thuật phát biểu. 
Vụ trưởng Vụ Mỹ thuật nói ngập ngừng: 
– Báo cáo thủ trưởng, tôi cũng không hình dung được quốc phục của ta trước đây như thế nào, và bây giờ nếu phải làm, tôi cũng không biết bắt đầu như thế nào. 

Các họa sĩ không nói được điều gì khả dĩ về quốc phục. Thậm chí nhiều người tham dự cuộc họp còn ngỡ ngàng với từ quốc phục, và dường như không có cả khái niệm về quốc phục. 

Thứ trưởng Nông Quốc Chấn đề nghị mở cuộc thi sáng tác mẫu quốc phục, thời gian trong hai tháng, giải 1 triệu đồng. 
Trao đi đổi lại mãi. Kết thúc cuộc thi, có được vài chiếc áo, chiếc thì từa tựa áo cộc của người Việt, chiếc thì từa tựa áo cộc của người Tày, từ màu sắc đến kiểu dáng, nó đạt tới tuyệt đỉnh của sự phản cảm về y phục. 

Cách đây ít năm còn thấy lưu giữ mấy chiếc áo ấy tại Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia. 

Kể từ cuộc thi sáng tác mẫu quốc phục thất bại năm 1991, tới nay Bộ văn hóa và các Cục, Vụ chuyên môn tổ chức có tới gần chục cuộc hội thảo bàn về quốc phục. 

Nếu kể cả các năm 1998 – 1999 chuẩn bị cho giỗ tổ Hùng Vương năm 2000, thì chỉ riêng việc này, Bộ Văn hóa cũng tổ chức tới 5-6 cuộc hội thảo bàn về áo lễ – lễ phục truyền thống để may cho vị chủ lễ và phụ lễ Đền Hùng.Công việc chuẩn bị khá hào hứng và sôi nổi.Thực sự đã ra mắt bộ áo lễ khả dĩ làm mọi người tạm hài lòng.Việc đến tai ông Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh.Ông Mạnh đề nghị Bộ Văn hóa may cho ông một bộ để ông mặc dâng hương trong ngày giỗ Tổ.Nếu ngày ấy không có gì trắc trở,giỗ Tổ Hùng Vương ngoài Chủ tịch Quốc hội còn có Bộ trưởng Bộ Văn hóa và Chủ tịch tỉnh Phú Thọ mặc aó lễ truyền thống dâng hương.Nếu việc đó được thực hiện,chắc chuyện quốc phục đã tới hồi kết.Tiếc quá,tới phút chót Văn phòng Tổng bí thư Lê Khả Phiêu gọi điện tới Bộ Văn hóa truyền đạt rằng, ý kiến của Tổng bí thư là Lễ phục truyền thống trong lễ dâng hương Đền Hùng năm nay, chỉ đại biểu địa phương mặc thôi,đại biểu trung ương tạm hoãn.Tạm hoãn,có nghĩa là ông Tổng bí thư vẫn chưa thật sự yên tâm về chuyện quốc phục. 

Và thế là các cuộc hội thảo lại tiếp tục; hội thảo nào cũng sôi nổi truy tìm quốc phục, mà vẫn chưa nắm bắt được hình hài. 

Điều dễ hiểu, các cán bộ lãnh đạo và chuyên môn sinh sau 1945, nay đều đã trên dưới 70 tuổi. Suốt thời gian đằng đẵng ấy không ai đả động gì đến vai trò của quốc phục. Gần hết cuộc đời họ, vẫn chưa có khái niệm gì về cái gọi là quốc phục. Ngay cả các nhà lãnh đạo quốc gia từ cụ Hồ Chí Minh, ông Trường Chinh, ông Phạm Văn Đồng… suốt từ Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945, đến họp Quốc hội đầu tiên năm 1946, và cả sau 1954 khi họp Quốc hội, họp chính phủ, tiếp ngoại giao đoàn đều vận áo theo kiểu Tôn Trung Sơn hoặc kiểu áo đại cán của người Trung Hoa. Do đó các thế hệ tiếp nối cứ ngỡ thứ trang phục đó là quốc phục của nước mình. Tuy nhiên trong các bức ảnh chụp các đại biểu quốc hội họp năm 1946, ta còn nhận thấy một số nhân sĩ, trí thức vẫn vận quốc phục khi làm việc công như Bùi Bằng Đoàn, Lê Văn Hòe, Trương Thị Mỹ, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Sơn Hà, Ngô Tử Hạ, Huỳnh Thúc Kháng v.v… 
 ảnh ông HCM mặc áo Tàu quần Tây, đứng giữa hai Cụ mặc quốc phục:

 

(more…)

Mây thẻ