"Nói phải củ cải cũng nghe"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Tư, 2018

Ca khúc BẦU TRỜI LỊCH SỬ

Ca khúc BẦU TRỜI LỊCH SỬ

 Li bàn

Để kết thúc bộ phim sử thi Tam quốc diễn nghĩa, nhạc sĩ sáng tác 1 bài hát cho giọng nữ, như bài ca của người chinh phụ, đồng thời của người trải nghiệm lịch sử như một nhà triết học bất lực. “Bầu trời lịch sử” với giọng hát buồn bã nao lòng của nữ nhi. Bài chót đã khác hẳn với giọng điệu bi hùng và cảm khái của chủ đề khúc “Số phận anh hùng” mở đầu phim.

 Phim TAM QUỐC DIỄN NGHĨA

Ca khúc Bầu trời lịch sử 

历史的天空 (Lịch sử đích thiên không)

Bài ca kết thúc (phiến vĩ khúc) 

Ca từ : VƯƠNG KIếN

Phổ  nhạc : CỐC KIẾN PHÂN

Nghe bài hát do nữ ca thủ Mao A Mẫn 毛阿敏 thể hiện:

 Dịch nghĩa

Mờ mịt rồi ánh đao bóng kiếm,

Đã xa rồi kèn trống đua vang

Trước mắt vẫn hiển hiện lên từng gương mặt sinh động.

*

 Đã chôn vùi những đường xưa bụi bặm

Đã hoang sơ những thành quách biên cương

Mặt trời mặt trăng vẫn mang theo những cái tên từng người quen thuộc.

*

Thành bại ai quyết được ?

Thịnh suy đâu phải vu vơ !

Một trang sử gió mây cuốn rải

Thay đổi cả không gian thời gian.

*

Hợp tan đều bởi duyên

Ly tán thảy do tình

Gánh vác việc của đời trước

Mặc kệ đời sau luận bàn.

*

Trường Giang có ý hoá dòng lệ

Trường Giang  có tình phát lời ca

Bầu trời lịch sử sao nhấp nháy

Trong nhân gian, khí thế cánh quân anh hùng

vó ngựa vẫn dọc ngang.

 暗淡了刀光剑影

远去了鼓角铮鸣

眼前飞扬着一个个鲜活的面容

湮没了黄尘古道

荒芜了烽火边城

岁月啊你带不走那一串串熟悉的姓名

兴亡谁人定啊

盛衰岂无凭啊

一页风云散啊

变幻了时空

聚散皆是缘啊

离合总关情啊

担当生前事啊

何计身后评

长江有意化作泪

长江有情起歌声

历史的天空闪烁几颗星

人间一股英雄气在驰骋纵横  。

Phiên âm H-V

Ảm đạm liễu đao quang kiếm ảnh

viễn khứ liễu cổ giác tranh minh

Nhãn tiền phi dương hồ nhất cá cá tiên hoạt đích diện dung

Yên một liễu huỳnh trần cổ đạo

Hoang vu liễu phong hoả biên thành

Tuế nguyệt nhĩ đái bất tẩu na nhất quán quán thục tất đích tính danh

Hưng vong thuỳ nhân định

thịnh suy khải vô bằng

nhất hiệt phong vân tán 

biến ảo liễu thời không

Tụ tán giai thị duyên

ly hợp tổng quan tình 

Đảm đương sinh tiền sự

hà kế thân hậu bình.

Trường Giang hữu ý hoá tác lệ

Trường Giang hữu tình khởi ca thanh.

Lịch sử đích thiên không thiểm thước kỷ khoả tinh 

Nhân gian nhất cổ anh hùng khí tại trì sính tung hoành.

Phiên âm và dịch : Phùng Hoài Ngọc

 

 

 

 

Lời tháng Tư

FB. NGUYỄN XUÂN LỘC

Lời tháng Tư
(Bài thơ cuối cùng về chủ đề tháng 4)

Xin đừng hát những lời xưa cũ nữa 
Máu bên nào cũng đỏ cả thôi 
Anh cầm súng nhân danh lòng yêu nước,
Tôi khoác áo chiến binh vì phẩm giá con người.

Mọi học thuyết đều chỉ là dối trá
Ai thắng ai thua, nhân dân cũng bại rồi
Bao xương trắng còn phơi ngoài chiến địa
Vinh quang gì khi máu chảy đầu rơi ?

Tôi hiểu vì sao đất nước còn đau khổ
Dùng máu dân đen để dựng ngai vàng
Xưa đã thế và nay cũng thế…
Những ngôn từ đĩ điếm hoá cao sang.

Hãy nhìn thẳng vào tận cùng sự thật
Hạnh phúc không ở súng đạn, cường quyền,
Chỉ có tình thương và lòng nhân ái
Dân tộc này mới hạnh phúc đó em.

Thôi đừng hát những lời gian dối nữa
Đi bên anh trong tháng Tư này
Em tự hỏi giang sơn gấm vóc
Đang từng ngày lỡ loét bởi vì ai ?

Sài Gòn, 28/4 / 2018

NGAI VANG NONG DUC MANH

GIẢI TRÍ CHO NGÀY 30 THÁNG 4: bài hát LÂM GIANG TIÊN

GIẢI TRÍ CHO NGÀY 30 THÁNG 4

(kỳ 2)

“Cùng trong một tiếng tơ đồng
Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm”

 Bài Từ  LÂM GIANG TIÊN được phổ nhạc làm chủ đề khúc cho bộ phim TAM QUốC DIễN NGHĨA

CA TỪ

Gǔn gǔn Cháng Jiāng dōng shì shuǐ

Làng huā táo jìn yīng xióng.

Shì fēi chéng bài zhuǎn tóu kōng.

Qing shān yī jiù zài

Jǐ dù xī yáng hóng…

Bái fă yú qiáo jiāng zhǔ shàng

Guàn kàn qiū yuè chūn fēng

“Yì hú zhuò jiǔ xǐ xiāng féng

Gǔ jīn duō shǎo shì

Dōu fù xiào… tán zhōng” 2

(Phùng Hoài Ngọc phiên âm Bắc kinh)

Ca sĩ Dương Hồng Cơ hát:

 

GIẢI TRÍ CHO NGÀY 30 THÁNG TƯ: Bài từ LÂM GIANG TIÊN

GIẢI TRÍ CHO NGÀY 30 THÁNG TƯ

 Bài từ LÂM GIANG TIÊN

(kỳ 1)

Mở đầu hồi 1 TAM QUỐC DIỄN NGHĨA, La Quán Trung viết: có bài Từ  rằng:

Cổn cổn Trường Giang đông thệ thuỷ

Lãng hoa đào tận anh hùng

Thị phi thành bại chuyển đầu không

Thanh sơn y cựu tại

Kỷ độ tịch dương hồng ?

Bạch phát ngư tiều giang chử thượng

Quán khán thu nguyệt xuân phong

Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng

Cổ kim đa thiểu sự

Đô phó tiếu đàm trung.

(Bài Từ điệu ký “Lâm giang tiên” của Dương Thận thời Minh)

 Đôi bạn cựu chiến binh NGƯ – TIỀU tóc bạc

 Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông

Bọt sóng rửa trôi hết anh hùng.

Phải- trái, thành- bại cũng như không.

Non xanh vẫn cứ thế,

Ngày tháng qua bao nhiêu ?

Ngư ông, tiều phu tóc bạc trên bãi sông

Mê mải ngắm trăng thu gió xuân

Một vò rượu đục vui gặp gỡ

Bao nhiêu việc cổ kim

Đều bỏ vào trong câu chuyện mà cười

(Phùng Hoài Ngọc dịch nghĩa và đặt tựa đề khác)     

Chú thích: “Lâm giang tiên” là: vị tiên ở bên sông.

Nguyên văn Hán ngữ:

滚 滚 长 江 东逝水

浪 花 淘 尽 英雄

是 非 成 败 转头空

青 山 依 旧 在

几 度 夕 阳 红

白 髮 渔 樵 江渚上

惯 看 秋 月春 风

一 壶 浊 酒喜相 逢

古 今 多 少 事

都 付 笑谈 中

(调 寄 (臨 江 仙)

 

Những Điều Sỉ Nhục Và Căm Giận

Những Điều Sỉ Nhục Và Căm Giận

thơ Lưu Quang Vũ

Hôm qua tôi đăng bài thơ này, không có 4 câu đầu. Hôm nay có phát hiện của TS.Chu Mộng Long: bài còn thiếu 4 câu đầu, ai đó đã cắt bớt. Tôi vào thiviet.net thấy cũng đăng bài này đủ 4 câu đầu.

Bài thơ cho thấy nhận thức và cảm nghĩ của Lưu Quang Vũ trước 1975, có người cho rằng nhà thơ nói về miền Nam trước 1975 và cũng nói về hoàn cảnh bản thân nhà thơ khi đó sống ở Hà Nội. Có ý kiến cho rằng bài thơ cũng đúng với hoàn cảnh đất nước bây giờ.

Thôi thì cứ đăng lên để mọi người bàn luận.

NHỮNG ĐIỀU SỈ NHỤC VÀ CĂM GIẬN 
(thơ Lưu Quang Vũ)

Những điều xỉ nhục và căm giận
một dân tộc đã sinh ra
Trần Ích Tắc Lê Chiêu Thống
Hoàng Cao Khải Nguyễn Văn Thiệu…

Những điều xỉ nhục và căm giận
một đất nước luôn có kẻ dẫn đường
cho người ngoài kéo đến xâm lăng
cho những cuộc chiến tranh
đẩy con em ra trận

những điều xỉ nhục và căm giận
một xứ sở
nhà tù lớn hơn trường học
một dân tộc có nhiều gái điếm nhất thế giới
có những cái đinh để đóng vào ngón tay
có những người Việt Nam
biết mổ bụng ăn gan người Việt.

Một đất nước
đến bây giờ vẫn đói
không có nhà để ở
không đủ áo để mặc
ốm không có thuốc
vẫn còn những người run rẩy xin ăn.

nỗi xỉ nhục buốt lòng
khi thấy mẹ ta bảy mươi tuổi lưng còng
phải làm việc mệt nhoài dưới nắng
khi thấy lũ em ngày càng hư hỏng
khi người mình yêu
nói vào mặt mình những lời ti tiện
khi bao điều tưởng thiêng liêng trong sạch
bỗng trở nên ngu xuẩn đê hèn.

Khinh mọi người và tự khinh mình
như chính tay ta đã gây ra mọi việc
và tất cả không cách nào cứu vãn.

Nỗi xỉ nhục ngập tràn trái đất
khi lẽ phải luôn thuộc về kẻ mạnh
những nền văn minh chạy theo dục vọng
những guồng máy xấu xa chà đạp con người

Đi suốt một ngày
giữa rác rưởi và chết chóc
luôn thấy bị ném bùn lên mặt
nói làm sao được nữa những lời yêu

nghĩ về cha, con sẽ chẳng tự hào
nỗi tủi nhục làm cha nghẹn thở
nỗi tức giận làm mặt cha méo mó
trong hận thù không thể có niềm vui
nhưng không thể sống yên, không thể được nữa rồi
nỗi tủi nhục đen sì mỗi cành cây
nỗi tủi nhục của đứa trẻ chạy trốn
nỗi tục nhục trên mỗi bậc thang lười biếng
trong cốc nước đưa lên môi lạnh ngắt
trên mỗi dòng tin mỗi ống quần là phẳng
mỗi chiếc hôn ướt át thì thầm
mỗi nấm mồ bị vùi dập lãng quên
trên bàn tay đưa ra trên mỗi bức tường
nỗi tủi nhục tội lỗi nỗi tủi nhục kinh hoàng
trên vệt máu bầm đen trên nụ cười thoả mãn

Cha chẳng có gì để lại cho con
ngoài một cửa sổ trống trơn
ngoài một tấm lòng tủi nhục và căm giận
ngoài kỷ niệm về những năm tàn khốc
cho một ngày con được sống thương yêu

(Di cảo 1972-1975)

 

Vụ Vũ ‘Nhôm’: Giám đốc công an Đà Nẵng sẽ bị cách chức hay khởi tố?

Vụ Vũ ‘Nhôm’: Giám đốc công an Đà Nẵng sẽ bị cách chức hay khởi tố?

Thiền Lâm
Cali Today
 Tiếp sau năm 2017, năm 2018 vẫn có vẻ là thời hoàng kim của giới nhà báo và blogger ‘thân đảng’ trong cuộc chiến ‘chống tham nhũng’ nhưng ẩn chứa không ít sắc thái ‘phe cánh chính trị’ kèm lợi ích nhóm cũ – nhóm mới.
‘Mặt trận’ Đà Nẵng. Cuộc chiến giữa một nữ nhà báo bề ngoài lẻ loi là Dương Thị Hằng Nga với nhân vật quyền thế Đại tá Lê Văn Tam – Giám đốc công an Đà Nẵng, đã tưởng như chỉ như trứng chọi đá, nhưng đang mang lại kết quả bất ngờ ‘đá sắp vỡ’.
.
Vào tháng Tư năm 2018, lần đầu tiên nhà báo Hằng Nga đăng tải trên facebook của cô một status về gia đình của Đại tá Lê Văn Tam đang sống trong ngôi biệt thự Làng Europe ở khu vực có giá đất cao nhất tại Đà Nẵng với giá trị ngôi biệt thự này lên đến hàng trăm tỷ đồng. Hằng Nga cũng tung ra một dấu hỏi lớn: có phải Đại tá Lê Văn Tam đã nhận tiền của Vũ ‘Nhôm’ để mua ngôi biệt thự này?
.
Status và những hình ảnh của nhà báo Hằng Nga về biệt thự của Đại tá Lê Văn Tam lập tức lan truyền với tốc độ cao trên mạng xã hội, khiến ngay sau đó ông Lê Văn Tam phải lên tiếng thanh minh trên báo nhà nước là ngôi biệt thự đó chính là của ông ta nhưng không phải do nhận tiền từ Vũ ‘Nhôm’.
Liệu số phận của ông Lê Văn Tam sẽ ra sao – chỉ bị mất chức hay còn bị khởi tố điều tra, thậm chí bị tống giam như hàng loạt tướng công an đã bị gần đây?
Ảnh: Tin không lề
.
Trong khi đó, một số dư luận viên bị nghi là thuộc ngành công an (không biết công an cấp bộ hay của Đà Nẵng), đã hùng hổ cáo buộc nhà báo Hằng Nga vu khống Đại tá Lê Văn Tam và đòi khởi tố nữ nhà báo này.
.
Nhưng cũng an toàn như năm 2017 dù đã tố cáo đích danh Vũ ‘Nhôm’ có nhiều hoạt động phi pháp, vào lúc này nhà báo Hằng Nga vẫn tỉnh bơ và tự do. Nữ nhà báo này còn chọc tức thêm Đại tá Lê Văn Tam và cho rằng việc cô bị Công an Đà Nẵng cấm xuất cảnh vào năm 2017 là do Đại tá Tam được ‘chỉ đạo’ bởi Vũ ‘Nhôm’.
.
Trong những ngày qua, đã không có bất kỳ một động tác ‘dằn mặt’ nào từ phía Công an Đà Nẵng đối với nhà báo Hằng Nga – một hiện tượng khiến nhiều người dân Đà Nẵng phải thật sự ngạc nhiên và liên tưởng đến một thế lực chính trị đủ mạnh đang ‘chống lưng’ cho Hằng Nga.
.
Nhà báo Hằng Nga lại không giấu diếm thế lực chính trị đó: Chủ tịch đà Nẵng Huỳnh Đức Thơ.
.
Trong cuộc chiến Huỳnh Đức Thơ – Nguyễn Xuân Anh vào cuối năm 2017, trong khi Nguyễn Xuân Anh phải chịu kỷ luật đảng, mất ghế ủy viên trung ương và chức bí thư Đà Nẵng thì Huỳnh Đức Thơ lại bình chân như vại, cho dù trách nhiệm quản lý tài nguyên và nhà cửa của ông Thơ là trực tiếp hơn nhiều so với ông Anh.
.
Chưa kể cái nhà máy thép – mà Huỳnh Đức Thơ là một trong những chủ sở hữu lớn nhất – đã ngày đêm xả khí thải gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, bị dân Đà Nẵng phản ứng rầm trời nhưng ông Thơ vẫn không bị sao cả.
.
Nhưng câu chuyện vẫn chưa đến phần hấp dẫn nhất của nó.
Đến ngày 27/4/2018 thì bức màn bí mật bắt đầu được hé mở. Một quan chức là Nguyễn Thanh Quang, Trưởng đoàn đại biểu quốc hội Đà Nẵng, cho biết ‘Bộ Công an đang điều tra vụ nhà của Đại tá Lê Văn Tam’.
.
Nhà báo Hằng Nga đã ghi điểm: 2 – 0, sau khi đã dẫn 1 – 0 trước Đại tá Tam khi tung hình ảnh về ngôi biệt thự trăm tỷ của ông này.
.
Đến lúc này, vấn đề của Đại tá Lê Văn Tam không còn đơn thuần là phản ứng hay tìm cách trả đũa nhà báo Hằng Nga nữa, mà mang tính sống còn hơn nhiều là phải đối phó với Bộ Công an.
.
Hoặc sự nghiệp chính trị của Đại tá Lê Văn Tam có thể đi đứt chỉ ít lâu nữa.
Bài học kinh nghiệm gần nhất cũng tại Đà Nẵng. Vào gần cuối năm 2017 và không bao lâu sau khi Nguyễn Xuân Anh bị cú knock – out tại Hội nghị trung ương 6, tân bí thư Đà Năng là Trương Quang Nghĩa đã bất ngờ thông tin cho cử tri thành phố này về vụ Út ‘trọc’ và Vũ ‘Nhôm’. Chỉ vài ngày sau bản thông báo không chính thức đó, có lệnh bắt Vũ ‘Nhôm’.
.
Nhưng vì sao Vũ ‘Nhôm’ đã vuột khỏi mắt trinh sát công an Đà Nẵng vào tháng Mười Hai năm 2017 – đó vẫn là một bí ẩn và có thể liên quan cả đến đường dây đã giúp cho Vũ ‘Nhôm’ đào thoát khỏi Việt Nam.
.
Có lẽ Đại tá Lê Văn Tam phải chịu một phần trách nhiệm liên đới ấy, ít nhất về chuyện đã để sổng Vũ ‘Nhôm’ ngay tại Đà Nẵng.
.
Còn ngay trước mắt, cú đánh gót của ông Nguyễn Thanh Quang đang bắn đi tín hiệu như điều tương tự mà ông Trương Quang Nghĩa đã làm: Giám đốc công an Đà Nẵng Lê Văn Tam có thể bị ‘sờ gáy’ trong những ngày tới, mà ‘biệt thự trăm tỷ’ có thể chỉ là cái cớ.

.

Liệu số phận của ông Tam sẽ ra sao – chỉ bị mất chức hay còn bị khởi tố điều tra, thậm chí bị tống giam như hàng loạt tướng công an đã bị gần đây?

Chuyện đất, chuyện người

28/04/2018

Chuyện đất, chuyện người

 (Mênh mông thế sự để gió cuốn đi số 39)

GS.Tương Lai

Rồi cũng phải có tin vui chứ! Từ Đồng Tâm, Nguyễn Quang A điện thoại cho tôi: “Anh nói chuyện với cụ Kình nhé”. Giọng trầm ấm của vị lão nông cùng một tuổi Bính Tý khiến tôi có cảm giác là đã quen nhau từ lâu lắm. Mới hôm nào nhận được tin vui từ anh Nguyễn Đăng Quang: “Bà con Đồng Tâm vừa tổ chức ngày hội mừng chuyện đất đai đã sáng tỏ sau khi bộ đội đào hào xây tường ngăn đất quốc phòng và đất Đồng Sênh của dân bấy nay bị một lớp mây mù tráo trở bao phủ” nay lại được nghe chính người dẫn đầu cuộc đấu tranh đi tới thắng lợi ấy nói qua điện thoại thì còn nỗi vui nào sánh bằng. Cụ nhũn nhặn cám ơn bà con cả nước đã sát cánh cùng với người dân Đồng Tâm“mà nếu không có sự đồng tình ủng hộ của công luận trong và ngoài nước thì chúng tôi không có được niềm vui như hôm nay. Còn riêng bản thân tôi thì tuyệt đối không có một đòi hỏi riêng tư nào khác ngoài lợi ích của người dân Đồng Tâm quyết giữ bằng được mảnh đất bao đời của ông cha. Người ta vu vạ, đánh tôi, mưu toan thủ tiêu tôi, tôi cũng không lấy làm điều”. Cùng một ý ấy, khi anh Nguyễn Đăng Quang nối điện thoại để tôi nói chuyện với chị Nguyễn Thị Lan, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Đồng Tâm, chị không hề đả động đến chuyện người ta quyết khai trừ chị ra khỏi Đảng vì chị dứt khoát không ký vào kết luận của thanh tra là đất Đồng Sênh là đất quốc phòng. Chị cũng không nhắc gì đến việc chị đã chỉ đạo cách ứng xử ra sao để thể hiện thiện chí của người nông dân Đồng Tâm đối với số anh em công an bị tạm giữ tại nhà văn hóa thôn Hoành, cũng không cần nhắc lại chính chị đã dõng dạc đọc “Bản Cam Kết” trước đương sự hai bên và cả ngàn dân làng mà một vị luật sư nhận định rằng “là cam kết độc nhất vô nhị của đại diện chính quyền cấp Thủ đô với dân” (Mênh mông thế sự để gió cuốn đi 2017, tr. 220). Chỉ bày tỏ lòng biết ơn bà con cô bác cả nước đã theo dõi sát sao và sẻ chia với người dân Đồng Tâm, chị nói, giọng xúc động: “Chúng tôi hứa sẽ xứng đáng với sự tin cậy của các bác, của đồng bào cả nước”.
Bản viết tay bài phát biểu của cụ Kình trước dân làng ngày 21.4.2018
 
Hà Nội chính thức công bố thanh tra đất Đồng Tâm: “Kết luận thanh tra nêu rõ toàn bộ diện tích đất sân bay Miếu Môn thuộc địa giới xã Đồng Tâm là đất quốc phòng”. VTC News, VietNamNet 7.7.2017
Trở lại với buổi người dân Đồng Tâm họp mặt tại thôn Hoành với những lời gan ruột của cụ Kình, lão nông 83 tuổi đời, 57 tuổi Đảng đã mở đầu bài phát biểu bằng cách nhắc lại lịch sử ngôi đình thôn Hoành, nơi đây thờ “hai vị đại vương Cao Quý Minh, Cao Quý Sơn dẫn nghĩa binh từ Thanh Hóa kéo ra dừng chân ở Thượng Lâm cách nay đã mấy trăm năm chuẩn bị vượt sông Ba Thá, tuyển mộ thêm được 43 trai làng cùng hành quân ra Thăng Long đánh giặc”. Tiếp đó Cụ nhắc lại chặng đường bi hùng của dân làng trong hai cuộc kháng chiến, kể rõ bao nhiêu liệt sĩ, bao nhiêu bà mẹ Việt Nam anh hùng, có bao nhiêu huân chương được trao tặng như thế nào. Cụ kể tỉ mỉ và gãy gọn tiến trình dân làng chấp hành việc giao đất làm công trình quốc phòng và sân bay Miếu Môn ra sao. Tiếp đó là kế hoạch cướp đất được những người nắm quyền trong tay dàn dựng bẩn thỉu như thế nào khiến dân Đồng Tâm phải quyết liệt chiến đấu giữ đất, dẫn đến bản cam kết ba điểm có điểm chỉ của Chủ tịch UBNDTP Hà Nội và xác nhận đại biểu Quốc hội giữa thanh thiên bạch nhật trước bà con dân làng để rồi sau đó là sự lật lọng của ông Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung đáng xấu hổ ra sao. Vị lão nông 83 tuổi đời, 55 tuổi Đảng đó nói có sách mách có chứng, vanh vách kể ra từng sự kiện, từng con số, từng thước đất đã bị lấn chiếm rồi dàn dựng để cướp trắng của dân ra sao. Mà là Cụ nói giữa bà con dân làng. Người ta giở trò bẩn cắt điện để hạn chế bớt sức vang xa tiếng nói của công lý và ý chí của dân làng, nhưng cũng đủ sợ để không dám giở trò thô bạo tại đây như việc xua một lũ ngợm ra “nhảy đầm” hay đem đá ra cưa trước tượng Lý Thái Tổ để phá cuộc tưởng niệm các chiến sĩ và đồng bào hy sinh trong cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược dạo nào. Chiêu bẩn cắt điện thì bị vô hiệu hóa ngay, bà con thôn Hoành đã chuẩn bị đủ máy phát điện. Và tiếng nói của công lý, của ý dân,càng vang xa hơn trên cái nền của của sự ngu muội và quá lúng túng như gà mắc tóc của một chính quyền bất chính. Thế là cái màn diễn chuyên nghiệp của những kẻ “đã đi làm đĩ lại toan cáo làng” phá sản hoàn toàn trước sức mạnh của dân Đồng Tâm biết rõ chân lý thuộc về mình.
 
Với những công cụ có trong tay, từ báo chí, truyền thông, đến nắm đấm của côn đồ phối hợp với dùi cui, súng dài, súng ngắn, còng số 8 của lực lượng mặc sắc phục, rồi thanh tra, tòa án, nhà tù, “một binh chủng hợp thành” của cái thế lực nhân danh nhà nước không thể khuất phục được người dân Đồng Tâm vì chân lý thuộc về họ!
 
Tuy nhiên, đừng quên rằng, không phải bất cứ lúc nào “chân lý”, “chính nghĩa” cũng ở thế thượng phong. Oái oăm thay, trong rất nhiều trường hợp là ngược lại! Chẳng thế mà Voltaire đã từng lạnh lùng thốt ra: “Lịch sử không là gì hơn ngoài màn kịch của tội lỗi và bất hạnh”. Cũng trong mạch ý ấy, tuy có dài dòng một chút nhưng để cố gắng lý giải chiều sâu của sự kiện, tôi đành phải mượn lời của Hegel khi bàn về biện chứng của lịch sử, trong đó đã đưa ra luận điểm độc đáoÁc là hình thức, trong đó biểu hiện động lực của sự phát triển lịch sử”.
Ảnh 3. Cuộc họp của dân làng mừng thắng lợi bước đầu tại Đồng Tâm.
Nhóm trí thức về thăm bà con Đồng Tâm đến tận mép hào được đào để xây tường làm mốc giới phân cách “đất quốc phòng” và “đất canh tác” tại Đồng Sênh của dân từng có.
 
Tôi hiểu ý của nhà triết học Đức theo nghĩa lịch sử luôn là sự vận động trong thế tương quan giữa nhiều lực nhằm tìm ra một hợp lực thúc đẩy sự phát triển. Trong hợp lực đó luôn hàm chứa những lực kìm hãm. Cuộc giằng co triền miên và gay gắt giữa đẩy tới và kéo lùi này xuyên suốt tiến trình phát triển của lịch sử. Phải chăng đó là cái mà tôi tạm gọi là sự “trái khoáy” của lịch sử trong tiến trình “cái biết đang trở thành”, luôn phải trải qua những khúc khuỷu gập ghềnh, với ngập tràn bi thương, vô vàn tàn nhẫn và đầy rẫy nghịch lý! Thì chẳng phải dòng sông cuộc sống luôn phải trải qua biết bao thác ghềnh, thậm chí có quãng dường như chảy ngược, trước khi xuôi về biển cả đó sao? Chẳng những thế, cũng theo Hegel, mỗi bước tiến mới luôn là một sự lăng nhục đối với cái hiện tồn đang ngự trị, một cuộc nổi loạn chống lại cái trật tự cũ đang suy đồi ấy nhưng được tập quán thần thánh hóa. Những kẻ đang khát khao quyền lực sẽ bằng mọi thủ đoạn để khai thác và duy trì cái quán tính của thói quen ấy trong khối người ít hiểu biết mà sự tác động của“lây nhiễm” là thật khó lường, điều mà người viết bài này đã nhiều lần báo động: “chính bằng cơ chế lây nhiễm [là chủ yếu] chứ không phải [chủ yếu] là cơ chế suy luận, mà những ý kiến và niềm tin của đám đông được truyền bá”! (Mênh mông thế sự để gió cuốn đi 2017, tr.158). Trong bối cảnh hiện nay khi một bộ máy tuyên truyền được huy động tối đa, cho dù có lúc trống đánh xuôi kèn thổi ngược  từ chủ trương, chỉ thị, nghị quyết đến cách chỉ đạo thực hiện đều rối như canh hẹ. Họ kêu ca là trên nóng dưới lạnh”nhưng khi“nhà dột từ nóc”, “thượng bất chính hạ tắc loạn” nóng lạnh từ trên hay ở dưới đều thì có gì làm điều?
 
Tuy nhiên do các loa cài đặt sẵn được mở hết công suất nên cho dù đầu óc con người đã bị bão hòa vẫn không thể không chịu tác động của cái gọi là “khả năng lây nhiễm mãnh liệt như khả năng của vi trùng” (Mênh mông thế sự để gió cuốn đi 2017, tr.158). Có điều đó bởi vì, “đất nước nào cũng có những thời kỳ khi tiếng ồn ào và sự trơ trẽn trôi theo dòng giá trị, đặc biệt là trong những biến động lớn, tiếng kêu la của những kẻ vụ lợi, hoạt đầu thường bị nhận nhầm là lòng yêu nước (Alexander Hamilton)Không quá hiếm những kẻ xênh xang nơi “cửa quyền, nhiều hiểm hóc”, hay chọn “con đường lợi, cực quanh co” mà Nguyễn Trãi từng điểm mặt chỉ tên (Tỏ chí mình, bài số 19) thường vẫn lúc nhúc chốn quan trường cuối cùng rồi cũng bị ném vào sọt rác của lịch sử, nhưng trước lúc đó, chúng vẫn là thế lực nguy hiểm đủ sức kìm hãm bước tiến của lịch sử. Đó là bi kịch mang tính quy luật trên con đường đi tới.
Cái giá phải trả cho việc nhận ra được quy luật tàn nhẫn đó để biết vận dụng nó ra sao lại là cả một “đại vấn đề”, trong phạm vi bài viết này chưa thể nói thêm gì ngoài việc dẫn tiếp khuyến nghị của Hegel với giới trẻ “còn đủ dũng khí để kêu đòi chân lý”, ông không yêu cầu gì nơi họ ngoài “lòng tin vào khoa học, lòng tin vào lý tính, lòng tin vào chính mình”. Bởi vì, “cái bản chất khép kín của vũ trụ không có lực nội tại nào để chống cự lại nỗi dũng khí của sự nhận thức: vũ trụ phải tự khai mở trước nhận thức… (diễn văn ngày 22.10.1818 tại Berlin), để hướng lời kêu gọi của mình đến giới trẻ, những người “còn có trái tim mạnh khỏe, còn có đủ dũng khí để kêu đòi chân lý”(G.W.F. Hegel, Hiện tượng học tinh thần. Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải. NXB Văn học2006, tr XXIII, tr. LII). Tôi muốn đặc biệt lưu ý thêm rằng,không những phải có “lòng tin vào chính mình”, có đủ dũng khí để kêu đòi chân lý mà còn là dũng khí để tin chắc rằng chân lý sẽ chiến thắngĐây cũng là hiện tượng mang tính quy luật.
 
Thì chẳng phải chúng ta đang chứng kiến một sự kiện nóng hổi, minh chứng sống động về bà con Đồng Tâm trong cuộc chiến giữ đất đã làm cho chân lý sáng tỏ, những tráo trở, lừa m bị vạch mặt đó sao. Có hiểu như vậy mới cảm nhận được hết chiều sâu và sức lan tỏa của “sự kiện Đồng Tâm” với một bước đột phá ngoạn mục mà bà con ta ở Đồng Tâm vừa có buổi họp mặt mừng thắng lợi bước đầu. Trong bài phát biểu của mình không là ngẫu nhiên mà cụ Kình nhắc lại sự tích “hai vị đại vương” được thờ tại ngôi đình làng ở thôn Hoành, nơi dự định tổ chức cuộc họp nhưng bị cản phá, phải dời sang địa điểm khác. Thế lực hắc ám cản trở bước tiến của lịch sử làm sao ngăn nổi dòng sông lịch sử đang cuồn cuộn chảy. Trong dòng chảy ấy, một quá khứ xa với những bước đĩnh đạc khoan thai đang hòa vào nhịp hối hả sống đông của cái quá khứ gần chất chứa bao nhiêu uẩn khúc đang dần sáng tỏ trước ánh sáng chân lý.
 
Và nếu lịch sử là con người nhân với thời gian, thì bằng “sự kiện Đồng Tâm”, thời gian đang phát huy sức mạnh của nó. Cuộc chiến đấu bền bỉ không khoan nhượng với một bản lĩnh can trường của những người từng “đạp quân thù xuống đất đen, súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa” (Nguyễn Đình Thi), người nông dân hiểu rằng, trận chiến giữ đất sẽ còn gian nan, lên thác xuồng ghềnh. Những trải nghiệm mới trước nanh vuốt của một bộ máy quyền lực bị tha hóa vốn đầy rẫy những mưu ma chước quỷ tàn độc, muốn giữ được mảnh đất ông cha để lại, người nông dân không thể “hiền như xưa” được nữa. Dựa vào bạo lực của thể chế toàn trị phản dân chủ, một thế lực có quyền nhưng bất chính, bất liêm sẵn sàng lật lọng, trở mặt như những gì đã diễn ra tại Đồng Tâm. Từ ve vuốt lừa mị nhằm tránh một cuộc bùng nổ với những phản ứng dây chuyền khó kiểm soát đến hăm dọa, đe nẹt khi tưởng đã có thể khuất phục được dân, điều mà người viết bài này đã nói đến ngay khi sự việc mới bùng nổ trong nội dung trả lời một đài nước ngoài cách nay đúng một năm, ngày 17.4.2017: “Đây là bước phát triển mới chứng tỏ rằng người dân càng ngày càng hiểu rõ nếu họ gắn bó, quyết tâm đấu tranh thì có thể đẩy lùi bạo lực. Nhưng không phải lúc nào diễn biến cũng sẽ đơn giản như thế đâu. Sẽ còn nhiều lươn lẹo, mưu mẹo trong chuyện này lắm. Vì vậy, người dân thừa kinh nghiệm, thừa cảnh giác để đối phó” (Mênh mông thế sự để gió cuốn đi 2017, tr. 217).
 
Làm sao lại có thể “hiền” trong buổi nhiễu nhương này, khi những kẻ “cầm cân nảy mực” chỉ chăm chăm chặt củi để đốt cho lò ngày càng nóng lên trong cuộc thanh toán đối thủ. Với cái “lò cừ nung nấu sự đời” (Nguyễn Gia Thiều) dưới triều đại toàn trị phản dân chủ học mót theo khuôn mẫu của “Tập hoàng đế” nhằm thực hiện khát vọng quyền lực, xã hội đang rối như mớ bòng bong. Dân tình đảo điên trong guồng máy của chế độ toàn trị phản dân chủ mà quyền lực gọi quyền lực, quyền lực luôn đòi thêm quyền lực, quyết mở rộng phạm vi quyền lực, độc chiếm quyền lực. Ai đó nói rằng cái “lò cừ nung nấu sự đời, bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương” của thế kỷ XXI với ông thợ đốt lò “vĩ đại” dở ông dở thằng đang nuôi mộng “trời con” này có cái gì na ná với cái lò trong bài phú của Giả Nghị, một thi nhân cũng ở bên Tàu mà trong Mênh mông thế sự để gió cuốn đi số 32 đã có nói đến: “Thiên địa vi lô hề, tạo hóa vi công” (trời đất như một cái lò, ông trời như thợ đốt lò) tạm hiểu là: người đời là vật bị ném vào trong lò tạo hóa tùy tay ông thợ trời nung nấu.
 
Chỉ có điều, cái ông thợ đốt lò mà cụ Ôn Như Hầu gọi là “trẻ tạo hóa” này lại “đành hanh quá ngán, chết đuối người trên cạn mà chơi”. Ông đốt lò hiện đại chắc chẳng biết Giả Nghị là ai, mà chỉ biết ông quan thầy họ Tập đang cầm tay chỉ việc để làm cho đất nước tanh bành ra như thế này khiến “bức tranh vân cẩu” được vẽ ra càng tang thương theo cấp số nhân chừng nào ông đốt lò còn theo gương thầy Tập nuôi mộng làm hoàng đế! Nhưng thôi, nói kỹ nữa có khi đổ oan cho “người đốt lò vĩ đại” vốn chỉ do ngẫu hứng mà văng ra chuyện “cái lò” với củi khô, củi tươi không có trong bài viết sẵn, nào có biết“vi lô, vi công” là cái chi chi! Vả chăng biết làm gì chỉ tổ làm cho đầu óc càng thêm lú lẫn! Riêng một chuyện Đồng Tâm thôi cũng đã làm phá sản bao mưu ma chước quỷ mà với định hướng của ông đốt lò, bao nhiêu quân tướng dưới trướng của ông đã dày công bày mưu tính kế để rồi cuối cũng “bừng con mắt dậy thấy mình tay không” trước sức quật khởi của người nông dân trong thời đại Internet nối mạng toàn cầu!
 
Ác một nỗi là trong thời buổi văn minh kỹ thuật số này, chỉ một trò vặt bẩn thỉu là sách nhiễu những người đến Đồng Tâm thăm cụ Kình nhằm ngăn cản ảnh hưởng của sự kiện Đồng Tâm lan tỏa trên công luận trong và ngoài nước ngày 21.4.2018, thì ngay tối đó người dân đã đã phát live trên Facebook nêu rõ sự việc, rồi sáng ngày 22.4.2018 cả thế giới đều biết tin qua trả lời phỏng vấn RFA của TS. Nguyễn Quang A! Đúng là không một thế lực hắc ám nào “chống cự lại nỗi dũng khí của sự nhận thức”. Nhận thức ấy được nâng lên và lan tỏa mạnh mẽ với thành tựu của của cách mạng khoa học, trước hết là công nghệ thông tin được những người dân Đồng Tâm vận dụng thành thạo một cách đáng ngạc nhiên.
Đây là điều chưa thể có với “sự kiện Thái Bình” trước đây, nên dù quy mô bùng nổ đã bục ra trong toàn tỉnh nhưng sức chấn động của nó thì chưa đủ rộng vì phạm vi lan tỏa của nó còn hạn chế. Với số dân đứng hàng thứ 9 của cả nước mà mật độ dân số thuộc vào loại cao nhất của đồng bằng sông Hồng, những cuộc khiếu kiện, biểu tình của nông dân Thái Bình lại diễn ra trên quy mô toàn tỉnh so với “sự kiện Đồng Tâm” chỉ bùng phát trong một xã với số dân xấp xỉ 8.647 người, ấy thế mà sức vẫy gọi Đồng Tâm lại vang khắp cả nước và đánh động dư luận quốc tế.
 Nhà thơ Hoàng Hưng và TS. Nguyễn Quang A bên mép đường hào vừa đào xong.
 
TS. Nguyễn Quang A trao đổi với cụ Kình tại Đồng Tâm ngày 21.4.2018.
 
Đương nhiên, vẫn còn có nhiều uẩn khúc mà bà con Đồng Tâm không thể không cảnh giác. Chỉ riêng một động tác bất ngờ của bộ đội đào hào để rồi sẽ xây tường tạo ra mốc giới phân cách giữa “đất quốc phòng” do quân đội quản lý và “đất sản xuất” ở Đồng Sênh được nói rõ là đất nông nghiệp của bà con Đồng Tâm đang canh tác đã đặt ra những câu hỏi lớn. Nhũng nhát xẻng xúc đất đào hào kia chẳng phải là những xẻng đất hắt vào mặt ông Chủ tịch Thành phố và lấp kín biên bản kết luận của Ban Thanh tra? Thì chẳng phải Bí thư Đảng ủy Nguyễn Thị Lan bị khai trừ khỏi Đảng vì lý do kiên quyết từ chối, không chịu ký xác nhận “đất cánh đồng Sênh là đất quốc phòng” theo sự chỉ đạo của Huyện ủy Mỹ Đức như cáo trạng của Huyện ủy đó sao? Vậy thì ai chỉ đạo chuyện đào hào, xây tường phân mốc ranh giới, lực lượng nào đừng đằng sau câu chuyện ly kỳ này? Liệu rồi câu chuyện bôi gio trát trấu vào mặt nhau như vậy có thể chìm đi cho “một sự nhịn là chín sự lành” nhằm ổn định tình hình trước Hội nghị Trung ương 7 hay rồi ngược lại. Nào ai biết ma ăn cỗ, mèo nào cắn mỉu nào! Có lẽ rồi “hồi sau mới sẽ rõ”. Hãy đợi đấy.
Đọc bài viết của nhà báo Nguyên Bình “Đồng Tâm, yêu thương và cảm phục” xúc động kể lại diễn biến chuyến đi thăm bà con Đồng Tâm của nhóm trí thức ngày 21.4.2018, hài hước miêu tả “các ‘thể loại’ cùn lầy như các vị công quyền vẫn thường dùng đối phó với dân Đồng Tâm”, càng thấm thía vì sao người nông dân Đồng Tâm có thể rất mực kiên cường và hết sức thông minh trong việc đối phó với những thủ đoạn lừa mị, tráo trở, vừa trấn áp vừa mua chuộc của cả một bộ máy công quyền bất chính và vô sỉ. Dõi theo những tình tiết sống động miêu tả về những thủ đoạn bẩn thỉu và hết sức ấu trĩ cho thấy một sự hoảng loạn, dấu đầu hở đuôi. Ở đó đã bộc lộ sự bất lực của một bộ máy đàn áp vừa thô bạo vừa miễn cưỡng vì quá biết cái kết cục của những hành động phi pháp sẽ bị dân chửi rủa ra sao, nhưng vì đã trót “ăn cơm chúa phải múa tối ngày” cho dù biết miếng ăn là miếng nhục! Và nếu những rô bốt công cụ của một bộ máy công quyền bất chính vừa hèn hạ vừa ngô nghê bao nhiêu, thì người dân Đồng Tâm, trong đó rất nhiều các bà, các chị lại cực kỳ tinh nhuệ trong các ứng xử đối phó với bạo quyền, chu đáo tận tình với những người cần bảo vệ. Rõ ràng là với những gì đang diễn ra ở một làng quê Việt Nam, ý chí và bản lĩnh, nhận thức và hành động của người nông dân xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức ngoại thành Hà Nội đánh dấu một bước ngoặt của nông thôn Việt Nam trong bối cảnh của thế kỷ XXI với nền văn minh kỹ thuật số mà lũy tre làng nếu còn phát huy tác dụng thì chỉ có thể là để nuôi dưỡng tinh thần quật khởi, chứ không còn là vật cản che lấp tầm nhìn của người nông dân Đồng Tâm.
Xin gợi lại đây một luận điểm tuyệt vời của nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi mà tôi đã dùng làm điểm tựa về mặt lý luận trong phân tích “Sự kiện Thái Bình” diễn ra cách nay đúng 20 năm để viết trong báo cáo khảo sát gửi đến ông Sáu Dân: “Làng là tế bào của xã hội Việt Nam. Xã hội Việt Nam là sản phẩm của tự nhiên tiết ra từ quá trình định cư và cộng cư của người dân Việt trồng trọt. Hiểu được làng Việt là có trong tay cơ sở tối thiểu và cần thiết để tiến lên hiểu xã hội Việt nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung trong sự năng động lịch sử của nó, trong ứng xử cộng đồng và tâm lý tập thể của nó, trong các biểu hiện văn hóa của nó, cả trong những phản ứng của nó trước những hình thái mà lịch sử đương đại đặt vào nó” để từ luận điểm đó mà đưa ra một khuyến cáo: “Chúng ta đang chứng kiến những phản ứng của làng trước những hình thái mà lịch sử đương đại đặt vào nó”. (Nguyễn Từ Chi, Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người – Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1996, trang 177).
Những “phản ứng của làng” được hiện diện trong giai đoạn của “đô thị hóa”và “công nghiệp hóa” với sự nghiệp “hiện đại hóa” đất nước bởi rất nhiều trạng huống đầy bi kịch. Cái giá phải trả cho những bước đường chông gai của lịch sử mà từng quốc gia đều trải qua trong sự nghiệt ngã của quy luật vận động và phát triển, với giai đoạn tích lũy sơ khai của tư bản đầy bùn và máu khỏi cần nhắc lại vì từ sự kiện Đồng Tâm, chúng ta đang chứng kiến “những phản ứng của người nông dân trước những hình thái mà lịch sử đương đại đặt vào họ”.
 
Chuyện đáng nói có lẽ là sự thật trớ trêu về điều mà K. Marx đã từng chỉ ra“Chúng ta đau khổ không phải vì sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa mà đau khổ vì nó còn chưa phát triển đầy đủ” (Tư bản. Quyển 1, tập 1, Nxb Sự thật, 1973, tr. 33). Cái ảo tưởng “bỏ qua chủ nghĩa tư bản, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội” với cái gọi là “thời kỳ quá độ” mà những giáo điều mốc meo vẫn đang được rao giảng khắp nơi, từ chốn đô thị phồn hoa cho đến thôn cùng xóm vắng ở nông thôn, đã dìm đất nước trong tăm tối để rồi xông thẳng vào thời kỳ hoang dã của tích lũy tư bản! Nhằm đẩy nhanh sự tích lũy của chủ nghĩa tư bản hoang dã ấy, người ta trắng trợn nhân danh nhà nước “của dân, do dân và vì dân” để ăn cướp một cách hợp pháp trong một thể chế toàn trị phản dân chủ tồi tệ nhất. Đấy chính là điều mà cụ Marx chưa thể hình dung nổi! Cái “chủ nghĩa” của cụ khi vận vào Việt Nam qua con đường của các ông Tàu “Maoít” thì với sự tha hóa quyền lực, chúng đã tạo ra một “giai cấp mới … Hạt nhân và cơ sở của giai cấp mới đã hình thành ở bên trong cũng như trên quyền lực của Đảng và bộ máy Nhà nước… Đảng biến thành một vật trang trí, chỉ kéo vào mình những kẻ hãnh tiến muốn nhập vào giai cấp mới và đẩy những người vẫn còn tin vào lý tưởng ra” (Milovan Dijlas,Giai cấp mới).
Ăn cướp dễ dàng nhất và cũng trắng trợn nhất là ăn cướp đất! Theo số liệu chính thức được công bố thì 2/3 số khiếu kiện đông người là khiếu kiện về đất đai. Tờ Economist ngày 15.6.2017 cho rằng “đất đai là vấn đề chính trị lớn ở Việt Nam, nơi mà Chính phủ cho phép dân sử dụng đất nhưng lại khẳng định đất đai thuộc về Nhà nước. Bồi thường cho các vụ thu hồi đất thấp hơn nhiều so với giá thị trường. Các cuộc tham vấn có thể chỉ hời hợt, và tòa án hiếm khi giải quyết khiếu nại. Những người dân bị mất đất thường khiếu nại về sự thông đồng giữa các quan chức địa phương và các nhà phát triển”.
 
Sự thông đồng ấy lại được bảo kê bởi điều được ghi vào trong Hiến pháp 1980 “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân”. Và rồi, theo Nguyễn Đình Lộc, “hễ có vướng mắc nào phát sinh thì người ta lại an ủi lẫn nhau rằng, đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Nhưng mọi sai lầm đều từ đó mà ra”. Từ sau 1980, Hiến pháp và Luật đất đai đã được sửa đổi nhiều, nhưng riêng điều khoản về chế độ sở hữu đất đai vẫn dậm chân tại chỗ. Tại sao lại kỳ quặc làm vậy? Ông Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp tiếp tục phân tích: “nhiều người không dễ dàng “buông” quy định này, bởi cơ chế “nhà nước quản lý” mang lại không ít nguồn lợi hấp dẫn cho một bộ phận quan chức và nhà đầu tư”. Đây là điều tôi dẫn ra trong bài viết cách nay đã 10 năm Người nông dân và khát vọng đất. Thế mà mới mấy ngày gần đây, trên mạng dồn dập tin về chuyện “quan chức và nhà đầu tư” còn trắng trợn hơn gấp bội so với chuyện mười năm trước. Chỉ liếc qua bài “Té ra Căng thật” cũng đủ để thấy sự câu kết giữa chính quyền và nhà đầu tư là trắng trợn cỡ nào! Đây là chuyện Trần Ngọc Căng, Chủ tịch Quảng Ngãi ký “công văn hỏa tốc” nhằm ưu ái tập đoàn FLC, thậm chí đã cho dừng cả dự án đồn biên phòng Bình Hải (huyện Bình Sơn) và trước đó là chuyện Dự án Quần thể Du lịch nghỉ dưỡng và đô thị FLC Bình Châu – Lý Sơn khi mà Công viên địa chất Toàn cầu Lý Sơn – Bình Châu đang trong quá trình chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO công nhận sẽ diễn tiến ra sao. Lực hút của đất quả là ghê gớm.
Chẳng thế mà TS. Hoàng Ngọc Giao, Giám đốc Viện Chính sách Pháp luật và Phát triển trong trả lời BBC ngày 18.4.2018 cho rằng vấn đề đất đai ở Việt Nam ‘mang tính chất thể chế’ và ‘có ảnh hưởng đến sự tồn vong của đất nước’. Còn TS. Phạm Quý Thọ, nguyên Chủ nhiệm Khoa Chính sách Công, thuộc Học viện Chính sách và Phát triển, Bộ Kế hoạch & Đầu tư trong một bài viết gửi cho BBC thì vạch rõ: “Quy tắc cơ bản của chủ nghĩa bảo trợ là ‘lòng tốt có đi có lại’. Lợi ích cá nhân vốn là bản chất của chủ nghĩa bảo trợ, và trong thời kỳ chuyển đổi sang kinh tế thị trường nó sẽ mạnh hơn và lấn át các chính sách, quy định hiện hành của Đảng và Nhà nước. Các lãnh đạo cấp địa phương ‘bảo trợ’ cho các quan hệ thân hữu, con cháu, họ hàng, …cán bộ cấp phường bảo kê cho các hàng quán vỉa hè, các bãi trông xe; các lãnh đạo ngân hàng, doanh nghiệp Nhà nước, và đơn vị công lập được bảo trợ vì lợi ích kinh tế…”
 
Nên chăng từ “sự kiện Đồng Tâm” mà nhớ lại “sự kiện Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng”, “sự kiện Đặng Ngọc Viết ở Thái Bình”, “sự kiện bà Ba Sương ở Cần Thơ” và nhiều vụ việc “chết đuối người trên cạn mà chơi” khác trong nanh vuốt của thể chế toàn trị phản dân chủ. Nhớ lại để mà hiểu thêm bước đột phá trong cuộc chiến giữ đất của người nông dân xã Đồng Tâm với lão nông Lê Đình Kình, nữ bí thư Nguyễn Thị Lan và những người nông dân can trường khác. Xin chỉ dừng lại ở chuyện Thái Bình 1997 và chuyện bà Ba Sương năm 2000.
Trao đổi với Thủ tướng Võ Văn Kiệt về cuộc “Khảo sát xã hội học về tình hình Thái Bình” tháng 6.1997.
 
Trình bày bản “Báo cáo Thái Bình” với Cố vấn Phạm Văn Đồng, tháng 9.1997. 2.
 
Biết tôi vừa hoàn thành bản báo cáo về “Khảo sát xã hội học về sự kiện Thái Bình” theo đòi hỏi của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Cố vấn Phạm Văn Đồng yêu cầu tôi có buổi trình bày và trao đổi với ông. Không đồng tình với kết luận của tôi “chẳng có địch ta nào ở đây cả, đây chỉ là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân”, ông dằn giọng: “Không phải là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Phải nói rõ đó là mâu thuẫn giữa nhân dân và những người cầm quyền hư hỏng ức hiếp nhân dân. Nói đúng bản chất của sự việc thì mới tìm ra giải pháp đúng, hợp lòng dân. Một nhân dân tốt đến thế như anh trình bày, thì phải khẳng định như vậy. Phải như vậy mới đề ra giải pháp đúng được” (Tương Lai,Cảm nhận và Suy tư, tr. 90). Cần nhớ rằng, sự kiện Thái Bình nổ ra vào tháng 6.1997 với quy mô lớn rộng hơn “sự kiện Đồng Tâm” năm 2017 nhiều: đã có 5 huyện trên 7 huyện thị của tỉnh Thái Bình có khiếu kiện tập thể, nhiều đoàn từ xã kéo lên trụ sở huyện, nhiều đoàn từ huyện kéo lên tỉnh, nhiều hành vi bạo động đã bùng nổ và nguy hiểm thay, người ta đã tính đến chuyện điều động quân đội sẵn sàng dập tắt những “âm mưu và hành động phản cách mạng” dẫn dụ theo bài học Thiên An Môn mà những “người đồng chí cùng ý thức hệ” đang cổ vũ. Chính trong bối cảnh ấy mà một đầu óc tỉnh táo như Võ Văn Kiệt cần gấp một cuộc nghiên cứu độc lập để đưa ra những kết luận khách quan. Thế rồi một khảo sát xã hội học được khẩn trương thực hiện. Xin trích ra đây nguyên văn một đoạn trong bản báo cáo về cuộc khảo sát đó cách nay đúng 20 năm:
Nếu khởi đầu từ cấp cơ sở đi lên, thì thật sẽ hết sức ngạc nhiên tại sao người nông dân lại có thể chịu đựng lâu đến như thế sự mất dân chủ. Trước hết là vấn đề ruộng đất. Nếu việc trả lại ruộng đất cho người nông dân tự quản là nền tảng lớn nhất và sơ khởi cho bất cứ loại hình dân chủ nào thì hiện thực ở Thái Bình là, người nông dân thường không biết được thật chính xác số đất họ có và với số đất đó họ phải nộp những khoản gì, bao nhiêu và trên văn bản nào. Tất cả đã được tính sẵn trong một quyển sổ bởi ai đó và hộ gia đình ở nhiều nơi không được giữ quyển sổ đó, mà là do trưởng xóm giữ. Chẳng thế mà sau những sự biến, ở nhiều nơi cán bộ xã (có thể dưới sự chỉ đạo của cấp trên) đã lẳng lặng đến tuyên bố hoặc gạch bỏ những khoản mục mà dân phải đóng góp và đã được ghi vào sổ. Bà con kháo nhau, nếu cứ đà này thì vài năm là chúng ta có thể giàu! Bằng những chuyện thật mà cứ tưởng như đùa này, quyền làm chủ đất đai, ước mơ nghìn đời của người nông dân trên thực tế đã bị vi phạm nghiêm trọng và khiến cho mọi sự bàn cãi về thành tích dân chủ của một nông thôn mới quả là một điều xa xỉ…”!
 
Hai thập kỷ trôi qua, vấn đề nông dân và khát vọng đất vẫn còn nguyên tính thời sự. Mà đâu chỉ có thế, trong một lần trình bày với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng tác giả của Vấn đề dân cày khi nghe tôi nói rõ tính bức xúc của sự kiện Thái Bình, ông có vẻ băn khoăn: “Phiêu nói với tôi là đã giải quyết xong rồi mà”. Tôi nghĩ, đã đến lúc phải rành rọt chuyện này: “Thưa anh, câu chuyện nông dân vẫn còn nguyên vẹn, thậm chí, những điều Qua Ninh và Vân Đình đặt ra trong “Vấn đề dân cày” xuất bản năm 19940, về cơ bản vẫn nóng bỏng như vậy. Thực trạng nông thôn Thái Bình vẫn tiềm ẩn những mâu thuẫn gay gắt… vẫn là vấn đề muôn thuở giữa đất và người. Nói rằng sự kiện Thái Bình đã được giải quyết chỉ là cách tự trấn an, hoặc chỉ giải quyết trên bề nổi. Phần chìm của tảng bang vẫn còn đó”. Đấy là chưa nói đến chuyện những người lãnh đạo ở xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ còn dựng lên hiện trường giả vể “những kẻ phản động đã đập tượng Bác Hồ” để vu vạ cho dân. Rồi để khỏi dông dài, tôi lại trích nguyên văn một đoạn trong Báo cáo Thái Bình mà tôi đã có dịp gửi theo yêu cầu của ông: “Khi cái nhọt đã bục vỡ, nếu biết cách xử lý, nỗi đau sẽ giảm nhẹ đi rất nhiều và phần cơ thể nhiễm khuẩn sẽ lành mạnh trở lại. Ðiều ấy là dễ hiểu song không dễ chấp nhận, không dễ có một thái độ dám nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật với một sự dũng cảm mổ xẻ, phân tích để tìm ra đúng nguyên nhân. Nếu không tìm ra đúng nguyên nhân của sự kiện, chỉ dừng lại trên bề mặt của hiện tượng, đối phó bị động và tạm thời bằng những giải pháp chắp vá, thì nhất thời có thể tạm yên được sự bùng nổ, nhưng cái đẩy tới sự bùng nổ thì vẫn còn nguyên, thậm chí còn nung nấu thêm, đây là một logic tất yếu mà mọi sự bưng bít, che đậy hay xuyên tạc sẽ gánh chịu những hệ lụy khó lường… Sự kiện Thái Bình có những nguyên cớ ngẫu nhiên, đặc thù, song vấn đề nông dân trỗi dậy đòi quyền lợi về kinh tế, về chính trị, về xã hội thì không còn là cá biệt và ngẫu nhiên chỉ xảy ra ở Thái Bình. Do đó, giải quyết đúng sự kiện Thái Bình cũng chính là giải quyết đúng vấn đề nông thôn, nông nghiệp, nông dân hiện nay. Chừng nào mà quyền sở hữu đất đai, khát vọng bao đời của nông dân chưa được tường minh quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân còn ngự trị thì vẫn tiềm ẩn khả năng bùng nổ và rồi sẽ không chỉ riêng ở Thái Bình”. Tác giả của Vấn đề dân cày trầm ngâm trong suy ngẫm và khẽ khàng nhưng rành rọt nói: “đây là chủ đề nóng bỏng mà anh cần tiếp tục nghiên cứu”. Sau này trong những lần gặp ông tại nhà riêng 30 Hoàng Diệu, đôi lần ông nhắc lại ý này. Nghĩ lại mấy dòng ghi ở trang đầu cuốn Tổng tập Hồi ký ông tặng tôi mà đã có lần tôi nói đến: Chúc Đc. Tương Lai có những đóng góp mới vào Lý luận của Đảng. Hà Nội 27/9/2006 chắc có liên quan đến mối quan tâm này. (Mười bài mênh mông thế sự 2016, tr. 28).
Tương Lai tại hiện trường giả do lãnh đạo xã An Ninh dựng lên để vu vạ cho dân. Người đứng giữa là Phó Chủ tịch xã, bên cạnh là một cán bộ khoa học của Viện Xã hội học tham gia cuộc khảo sát xã hội học.
Di bút của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
 
Sẽ càng hiểu rõ hơn những điều vừa trình bày nếu nhớ lại “sự kiện bà Ba Sương” ở nông trường Sông Hậu, Cần Thơ năm 2008. Trong bài Lực hút của đất viết vào tháng 12 năm 2011, tôi đã dẫn ra ý kiến của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong bức thư ông gửi cho Thành ủy Cần Thơ một tháng trước khi ông qua đời cách đây đúng 10 năm: Tôi biết đây là ý của các đồng chí chứ không phải của công tố viên khi khởi tố vụ án [bà Sương]. Ông chỉ rõ: “Bà đã có những đóng góp không nhỏ cho nông nghiệp và phát triển nông thôn ở Cần Thơ, Hậu Giang và các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, những sai phạm nếu có thì cũng nên giải quyết có tình có lý”. Rành mạch và dứt khoát hơn nữa khi ông công khai nói rõ cái ẩn dấu đằng sau vụ án Ba Sương: “Tôi hoàn toàn không tán thành chủ trương thu hồi đất của nông trường để xây khu công nghiệp”. Trong bài viết tôi đã nói rõ: Cái gì đã đẩy bà Ba Sương, anh hùng lao động thời Đổi Mới, từng được tôn vinh là “người phụ nữ tiêu biểu của Đông Nam Á”, lại là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, vào vòng lao lý bất chấp lương tri và luật pháp, ngồi xổm trên công luận của cả nước rần rần phản đối. Cái gì mà ghê gớm, mà tàn bạo làm vậy? Xin thưa đó là cái “lực hút của đất”. Một Nông trường Sông Hậu với mênh mông hơn 4000 ha đất nông nghiệp, bỗng chốc được quy hoạch chuyển đổi thành đất “dự án” với bao mục đích rất chi là hoành tráng “vì nước, vì dân, vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Ai dám cưỡng lại thì tù là cái chắc! Một bà anh hùng, cả hai cha con bả đều là anh hùng, chứ cả nông trường anh hùng thôi cũng vậy, “phen này ông quyết…cho đi hết”, vì rồi đây, những mảnh đất chia lô đem bán thì dù có “vừa chửi vừa rao cũng đắt hàng” (Tú Xương). Các đạo diễn bậc thầy của “quy hoạch” để “chuyển đổi mục đích sử dụng” rồi “hoá giá”, rồi “đền bù, giải tỏa” được thực thi trong sự “đồng thuận” của cả “hệ thống quyền lực” một cách nhanh gọn và ngoạn mục rất đúng quy trình mà một đại biểu Quốc hội gọi là “siêu nhanh”.Ở đây cho thấy có cả một mạng lưới khép kín và tinh nhuệ của quy trình hoá giá của những kẻ đang thao túng bộ máy quyền lực (Đảng và Nhà nước) cứ ung dung mà làm cái việc ăn cướp công khai của chung ai khéo vẫy vùng làm riêng”. Cái chuyện “vẫy vùng” này sẽ ngày càng tăng theo cấp số nhân tỷ lệ thuận với sự ruỗng nát của bộ máy lãnh đạo chỉ dồn tâm trí vào những thủ đoạn thanh toán đối thủ để giành cái ghế quyền lực.
Bà Ba Sương trước “vành móng ngựa” với tội danh biển thủ 9 tỷ đồng và lập quỹ trái phép, kết án 8 năm tù.
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt và anh hùng lao động Trần Ngọc Hoằng, cha của bà Ba Sương, nguyên Giám đốc Nông trường Sông Hậu.
 
Vậy là, chìm sâu bên dưới những hiện tượng về đụng độ xoay quanh chuyện đất đai là cuộc giằng co quyết liệt giữa tư duy đổi mới và thế lực bảo thủ kiên trì cái mô hình đã kìm hãm sự phát triển của đất nước mà cuộc “Đổi Mới” với Đại hội VI chỉ mới gióng lên hồi chuông giục giã nhưng rồi tiếng kèn xung trận lại ngập ngừng tùy theo toan tính và tầm vóc của người nhạc trưởng. Và cuối cùng thì tịt ngóm với câu chuyện Thành Đô, “mở đầu cho thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai” như Nguyễn Cơ Thạch, một đầu óc sáng láng hiểu quá rõ âm mưu và thủ đoạn của người “đồng chí cũng ý thức hệ” với Nguyễn Văn Linh và những người cũng hội cũng thuyền nối nghiệp.
Một khi cái mô hình đã phá sản với sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa Đông Âu vẫn còn được lải nhải rao giảng trong các trường Đảng, các sách báo chính thống, trên mạng lưới tuyên giáo và truyền thông đại chúng, trong đó “đất đai là sở hữu toàn dân” được xem là một chỉ báo của sự kiên định, thì vấn đề nông dân với ruộng đất, khát vọng bao đời của họ sẽ còn đối diện với những thách đố gay gắt, tiềm ẩn những bùng nổ ngày càng gay gắt.
Điều cảnh báo của Phạm Văn Đồng, sự nung nấu của bộ óc tỉnh táo Võ Văn Kiệt, nỗi suy tư của vị tướng huyền thoại Võ Nguyên Giáp vốn là tác giả củaVấn đề dân cày đều chìm vào trong quên lãng. Đấy là tôi chỉ nhắc lại trong mối quan hệ hạn hẹp tôi có dịp tiếp xúc để trình bày, trao đổi về vấn đề nông dân và nỗi khát vọng bao đời của họ. Còn biết bao những người khác vốn nặng lòng với sự nghiệp của đất nước đã dành mối ưu tư cho vấn đề rộng lớn và bức xúc này đang phải đương đầu với những thế lực hắc ám quyết bám chặt cái mô hình tệ hại từng dìm đất nước vào tăm tối, lạc hậu và ngày càng bung bét, nhằm giữ bằng được cái ghế quyền lực vừa giành giật được trong cuộc tranh bá đồ vương tàn khốc.
Vì vậy mà tai ác thay, xoay quanh chuyện đất lại luôn là chuyện người, chuyện con người với những mối quan hệ đan chen của lợi ích và quyền lực, gia đình và dòng họ, lương thiện và hiểm ác. Có người tiên liệu được sự sụp đổ không thể tránh khỏi của cái thể chế chính trị thối nát đã “tranh thủ ngoạm một miếng rồi chuồn” như Lênin từng cảnh báo. Cũng có người nhận ra được thời cơ hiếm có cho cái ác mặc sức tung hoành, đã nhanh nhảu tung hô kẻ đang chiếm thế mạnh để mong theo đóm ăn tàn và sẵn sàng bán rẻ lương tâm, vứt bỏ liêm sỉ. Đôi khi, với thời gian và sự khảo nghiệm của thực tiễn, có những sự kiện lờ mờ bỗng trở nên sáng tỏ. Xin gợi lại một “kỷ niệm” riêng tư không vui vẻ gì cốt để minh họa cho những điều vừa nói.
Dạo ấy, sau “Báo cáo khảo sát xã hội học về sự kiện Thái Bình”, trong một lần tôi được mời họp Chi ủy với tư cách là một Viện trưởng và cũng là chi ủy viên. Thật bất ngờ khi Bí thư Chi bộ, môt Phó Viện trưởng và là bạn thân của tôi, tuyên bố là tôi “phải kiểm điểm vì đã nói xấu Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh”. Duyên do là trong một sinh hoạt khoa học, tôi có phát biểu về một câu nói thời thượng của ông Nguyễn Văn Linh đang được tung hô rất dữ: “Phải tự cứu mình trước khi trời cứu”. Theo tôi, câu đó đúng là “cởi trói cho văn nghệ sĩ đang bị o ép và trói buộc, mất tự do sáng tác”, vì câu đó được nói trong cuộc gặp văn nghệ sĩ. Thế nhưng, trên cương vị Tổng Bí thư, thì câu nói trên e không thật chuẩn vì nghĩ kỹ ra nó có hơi hướng của “chủ nghĩa dân túy”. Tranh luận khá gay gắt nhưng không bẻ gãy được lập luận tôi đưa ra. Cuối cũng, Bí thư yêu cầu phải biểu quyết. Tôi hỏi: “Biểu quyết về cái gì?”. Được trả lời là biểu quyết là “Viện trưởng chống lại tư tưởng của Tổng Bí thư”! Mà biểu quyết thì chắc chắn tôi là thiểu số. Quả như thế, 3/5 số phiếu. Thật ra, đây chỉ là “khúc dạo đầu” (prélude) được thực hiện một cách ngô nghê.
Bản “giao hưởng” không êm ái tiếp theo là tôi bị quy là gián điệp, là tay sai của thế lực nước ngoài vì đã bán bí mật quốc gia, cụ thể là bán bản “Báo cáo Khảo sát Xã hội học về Thái Bình” cho CIA. Ông Ủy viên Trung ương Đảng đang là thủ trưởng cơ quan của tôi quay ngoắt 180 độ, từ chỗ hứa sẽ làm sáng tỏ sự vu khống bẩn thỉu đến chỗ “Án tại hồ sơ, em cũng chịu thôi bác ạ”. Câu chuyện bi hài này chỉ chấm dứt khi cụ Phạm Văn Đồng tuyên bố công khai“cùng chịu trách nhiệm với Tương Lai về bản Báo cáo Thái Bình và về việc tiếp tục thực hiện cuộc nghiên cứu này” (Tương Lai, Cảm nhận và Suy tư, tr.105). Chán ngán trước những toan tính bẩn thỉu và sự dàn dựng quá ngu xuẩn, tôi tuyên bố từ chức Viện trưởng vì “không thể và không đáng cộng tác với ĐHN, một Ủy viên Trung ương đang là thủ trưởng trực tiếp của tôi”. Khi tôi đọc lời tuyên bố thì câu trên được anh Việt Phương khuyên là nên sửa mấy từ “không đáng để cộng tác” thành “để tránh những đụng độ không cần thiết”. Có lẽ vì cử chỉ ôn hòa ấy mà một thời gian sau, khi từ Hà Nội bay vào Sài Gòn trao tấm huân chương lao động hạng nhất cho tôi để rồi tôi nhét dưới đáy ngăn kéo tủ cho đến tận nay, ĐHN tay bắt mặt mừng như không hề có chuyện gì xảy ra! Còn chuyện “tiếp tục thực hiện cuộc nghiên cứu này” theo yêu cầu của Phạm Văn Đồng thì lại là một chuyện bi hài khác mà tôi miễn kể ra đây vì nó dài dòng quá. Chỉ xin nhắc môt kỷ niệm nhỏ để biểu tỏ sự trân trọng đối với ông bạn đã quá cố, Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn, nguyên là Tổ phó tổ công tác của Bộ Chính trị giải quyết vụ Thái Bình do ông Phạm Thế Duyệt, thường trực của Thường vụ Bộ Chính trị lúc đó làm tổ trưởng.
Nhóm trí thức về thăm bà con Đồng Tâm, công an phải trả lại tự do sau khi “thẩm vấn”.
 
Anh Nguyễn Công Tạn đã dành gần nửa buổi trao đổi và kín đáo nhắc nhở tôi khi biết tôi hăng hái thực hiện yêu cầu của Thủ tướng Võ Văn Kiệt về khảo sát khoa học độc lập và đưa ra kết luận trái với chiều hướng kết luận của Bộ Chính trị. Nguyễn Công Tạn lưu ý tôi nhiều điều nhưng do “ngu lâu” nên tôi không chú ý đến những khuyến cáo đầy thiện chí của anh, vì nếu làm như thế sẽ khó có được cái “Báo cáo” khách quan và trung thực như tôi đã hoàn thành. Khi nghe tôi gặp nạn, anh Tạn đã gọi điện động viên và cho biết sẽ làm những gì anh ấy có thể. Anh làm những gì, tôi không được biết, nhưng câu chuyện giữa anh với tôi tại gian phòng hẹp phía sau phòng làm việc của Phó Thủ tướng chỉ đủ kê một chiếc giường vải gấp lại được mở ra khi nghỉ trưa, một chiếc nghế ngồi và chiếc bàn nhỏ đủ đặt một bộ ấm trà và chiếc điếu cày hôm ấy mãi là một kỷ niệm đẹp, gợi nhớ trong tôi bài học đường đời với câu nói chân thành của anh: “Cậu chưa thấy hết và chưa đủ kinh nghiệm đối phó với những toan tính của người ta đâu”.
 
Về sau này, nối kết những mảnh ghép của cuộc sống, tôi lờ mờ hiểu ra rằng tôi chỉ là con tốt đen trên bàn cờ chính trị mà ông Sáu Dân là mục tiêu triệt hạ của người nắm quyền lực cao nhất. Phải triệt hạ vì sau Lê Duẩn, Võ Văn Kiệt là người quyết liệt và tỉnh táo vạch rõ tham vọng đen tối của ông bạn láng giềng “cùng chung ý thức hệ” với những người gắn kết với mật ước Thành Đô. Và rồi Phạm Văn Đồng, người cứu tôi khỏi những mưu toan đen tối, cũng chính là người bị đưa vào cái bẫy tệ hại ấy từng công khai vạch rõ “đã hớ, đã dại rồi mà còn nói đặt sự nghiệp cách mạng lên trênn hết… Người lãnh đạo không nên làm như vậy. Với Trung Quốc, vừa qua không phải là chúng ta bình thường hóa, mà là chúng ta đã bị “phụ thuộc hóa” quan hệ” (“Đọc lại Hồi ký Trần Quang Cơ”. Mênh mông thế sự in năm 2015, tr. 20).
 
Điều tôi muốn lưu ý là buổi nói chuyện thân tình với anh Nguyễn Công Tạn dạo ấy khiến tôi thấm thía lời của M. Gorki tôi từng suy ngẫm: “Chính trị là miếng đất trên đó các loại cây gai của sự thù địch độc hại, các nghi kỵ xấu xa, các sự lừa dối trơ trẽn phát triển rậm rạp và um tùm”. Đặc biệt là khi mà“chúng ta phải sống trong cơn bão của các xúc cảm chính trị, trong sự hỗn độn của một cuộc chiến giành quyền lực, cuộc chiến này đánh thức bên cạnh các tình cảm tốt đẹp còn cả những bản năng đen tối” (Nhục dân mệnh, 7.11.2015. Mênh mông thế sự in năm 2015, tr. 72). Dù sao thì “các tình cảm tốt đẹp” vẫn là điều chúng ta cần đánh thức để cho cuộc sống đỡ ngột ngạt hơn khi mà sự lừa mị, dối trá và hung bạo đang trùm lấp trên môi trường sống của cả xã hội ta hôm nay.
Tôi bỗng nhớ lại một câu chuyện hài hước mà vì nó Voltaire bị tống vào ngục Bastille: “Khi quan phụ chính của vua Louis XV quyết định bán đi một nửa số ngựa trong các chuồng ngựa của hoàng gia với lý do tiết kiệm, nhà Khai sáng Pháp đã bình rằng: ‘Giá loại đi một nửa số con lừa trong triều đình thì có lợi hơn nhiều’”! Thật thế, nhưng hình như Voltaire quên rằng “không thể chống lại những thằng ngu vì chúng đông quá” bởi lẽ, cái sự thật nghiệt ngã ấy được nói ra sau câu đùa chí lý của ông đến hai thế kỷ, câu ấy của Einstein. Chúng đông quá thật! Mà cái chế độ toàn trị phản dân chủ lại luôn muốn biến số đông ấy thành một đàn cừu ngoan ngoãn để chúng tiện bề chăn dắt. Đó cũng lại là một bi hài của lịch sử. Vì rằng “một xã hội của loài cừu rồi sẽ phải sinh ra một nhà nước của loài sói”. Nhưng nếu chỉ thế thì làm gì có những thành tựu của văn minh mà chỉ đầy rẫy tăm tối của địa ngục. Chẳng phải những con sói độc ác cũng đã bị mắc bẫy của người thợ săn, và rồi những người thợ săn ấy đã lột da cáo để đóng giày, may túi đó sao?
 
Rồi có khi những người thợ săn ấy sẽ thực hiện thiên chức của của người thợ trời, ném xác cáo vào cái “lò cừ nung nấu sự đời” mà những thiên địa vi lô hề, tạo hóa vi công” nói ở trên đã biến thái trở thành cái lò của ông Trọng! Cái lò “đã nóng lên” để cho củi tươi vào chỉ là sự cải biên một cách vụng về và ngớ ngẩn để thức dậy “những bản năng đen tối” chứ chẳng gì khác. Thì đó, những lươn lẹo, lật lọng của giới công quyền, sản phẩm tuyệt vời của thể chế toàn trị phản dân chủ của “người đốt lò vĩ đại” được hiện diện tại Đồng Tâm vừa được miêu tả sống động chẳng phải là khúc biến tấu quá ư hài hước đó sao?
Hài hước, đúng! Những toan tính chính trị trở thành trò hề điển hình, phải chăng là để cho người ta vui vẻ từ biệt cái quá khứ buồn thảm mà cụ K. Marx đã từng nói rất chí lý!
Sài Gòn ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, 25.4.2018
T. L.
Tác giả gửi BVN.

Bài thơ cảm tác tháng Tư lịch sử lại về

Bài thơ cảm tác tháng Tư lịch sử lại về

Phùng Hoài Ngọc – Mr Trần

*Kỳ 2 *

ĐĂNG ĐÀI

Tiền duy kiến bất nhân

Hậu duy kiến vô đạo

Niệm thế sự chi tiêu tiêu

Độc hận nhiên nhi thế hạ.

TRAN TU NGANG

Đây là bài  tập cổ theo “Đăng U Châu đài ca” vốn của Trần Tử Ngang thi nhân thời Sơ Đường.

Tôi thực sự ngỡ ngàng trước cảm xúc mãnh liệt và không kém phần quyết liệt của người thầy giáo dạy môn Hoá học. Mỗi câu chữ tôi cảm thấy chất liệu hiện thực đời sống đè nặng lên câu thơ. Và tôi vội vàng chuyển ngữ nhanh.

Bản dễn nôm 

 Trèo lên đài cao

Nhìn phiá trước chỉ thấy kẻ bất nhân

Ngó phía sau chỉ thấy quân vô đạo

Nghĩ thế sự tiêu tàn một mình hận

Bỗng nhiên nước mắt rơi xuống.

Bài thơ tập cổ rất giản dị mộc mạc, chẳng còn gì phải phân tích. Đứng giữa hiện tại, người làm thơ ngoái nhìn quá khứ (tiền), suy ngẫm rồi lại nhìn về tương lai gần (hậu). Người ta cố tung hô quá khứ hào hùng vinh quang vĩ đại, nhắc mọi người phải ghi nhớ ân nghĩa. Anh không đồng cảm được với họ. Người ta âm thầm hăm hở “qui hoạch” tương lai, anh thì thất vọng. Anh là thi nhân cổ điển trong lòng hiện đại.

Bản gốc Đăng U châu đài ca:

 

Tho Tran Tu Ngang ban chinh

Tôi thừa nhận anh Trần đã viết hai bài Hoạ  tương xứng với 2 tứ thơ cổ nhân rất đắc địa, hợp thời thế và thời sự. Tứ thơ anh có thể gặp được bạn tri âm đâu đó thời nay. Thơ cổ đem lại một sự quân bình cảm xúc cho người đương thời. Thơ cổ gợi nhiều hơn tả. Nó ám ảnh tâm trí người ta với rất ít ngôn từ mà lại dễ nhớ.

Bản chữ thảo “Đăng U châu đài ca”

DANG U CHAU DAI CA

Bản viết chân phương kèm phiên âm la tinh:

TRAN TU NGANG VA DANG U CHAU

Đăng U châu đài ca

“Tiền bất kiến cổ nhân

Hậu bất kiến lai giả

Niệm thiên địa chi du du

Độc thương nhiên nhi thế hạ”.

2. Ngày xưa, năm 1961 cũng có Tố Hữu nhà thơ tập cổ chọn thật khéo “Đăng U châu đài ca” của Trần Tử Ngang. Rất nhiều bài bình luận trên sách báo tán dương bài thơ của “con chim đầu đàn” nhưng không ai chỉ ra cái nguồn gốc tứ thơ tập cổ Trần Tử Ngang. Hoặc có biết cũng không dám nói bởi sợ “phạm huý”. Nhà thơ cũng không bao giờ bày tỏ rằng ông ta làm thơ tập cổ.

“Chào 61! Đỉnh cao muôn trượng

Ta đứng đây, mắt nhìn bốn hướng

Trông lại nghìn xưa, trông tới mai sau

Trông Bắc trông Nam, trông cả địa cầu !”

(Bài ca Xuân 61)

“TRÔNG” là động từ chính xuyên suốt bài thơ, với hàm nghĩa mặc nhiên là “trông thấy hết và hiểu rõ tất cả”. Anh nhà thơ này vỗ ngực tự đắc rằng mình có trí tuệ tinh tướng hiểu rõ cả thế giới, biết tuốt cả quá khứ, hiểu thấu cả tương lai.

Anh này đứng ở đâu mà nhìn rõ tuốt tuồn tuột thế ?

– “Ta” đứng ở hội trường Ba Đình, trên hàng ghế cao của chủ tịch đoàn Đại hội Đảng lần thứ III. “Đảng ta là trí tuệ là văn minh”, đỉnh cao trí tuệ – lời phát biểu tự hào của chủ toạ đoàn. Chém gió kinh thật ! Vô địch Bắc kỳ !

Anh này tự mãn có đôi mắt tinh anh hơn ông Cả Trọng. Ông Cả sau ĐH XII ngửa mặt lên giời mà than rằng “Chả biết đến hết thế kỷ 21 này có CNXH hoàn thiện không nữa”. Ông Trọng nhìn về tương lai và chẳng thấy gì !

Tự mãn “trông tới mai sau” nhưng Tố Hữu không nhìn thấy 25 năm sau ông rớt đài thảm hại. Năm 1986 ĐH.6 ông này bất ngờ bị rớt hết chức vụ, bỗng nhiên á khẩu “bí thơ”. Hận đồng chí, hận cách mạng, ông chỉ buột ra câu văn xuôi cục mịch “chẳng lẽ bây giờ miềng lại lên rừng lập đội du kích !”.

 

TỪ ĐỒNG TÂM ĐẾN PHÚC LÂM, BA CÂY SỐ, HAI “TAI NẠN”

TỪ ĐỒNG TÂM ĐẾN PHÚC LÂM, BA CÂY SỐ, HAI “TAI NẠN”

(Hay là những trò rằn mặt nhóm trí thức về với bà con Đồng Tâm ngày 21.4.2018)

Đào Tiến Thi

Bảy anh chị em chúng tôi, gồm anh Nguyễn Đăng Quang (cựu đại tá công an), anh Hoàng Hưng (nhà thơ, từ Sài Gòn ra), anh Nguyễn Quang A (TS kinh tế học), chị Nguyên Bình (nhà văn), chị Hoàng Hà (nhà giáo), chú Lê Trường Thanh (giảng viên đại học) và tôi (Đào Tiến Thi, nhà văn), rủ nhau về Đồng Tâm sáng 21-4-1018. Anh Nguyễn Đăng Quang đã thân thuộc với bà con từ một năm nay, còn lại, chúng tôi chỉ dõi theo Đồng Tâm trên báo chí, dư luận, đây là lần đầu tiên chúng tôi về mảnh đất này, nhưng cảm xúc kính phục, mến thương đã đầy ắp trong lòng.

Đồng Tâm – điểm nóng về đất đai, biểu tượng của “làng chiến đấu”, của những trí tuệ nông dân độc đáo, của những tấm lòng nhân ái khoan dung có một không hai,… được về tận nơi, chúng tôi càng cảm nhận sâu sắc, nhưng tất cả những chuyện đó xin kể sau. Hôm nay chỉ xin kể một sự cố bất ngờ không mong muốn xảy ra trên đường về.

Xe chúng tôi vừa ra khỏi thôn Hoành, đến chỗ cây xăng thì bỗng thấy bên phải đường có một xe máy để nằm ngang, phía trước khoảng 15m có mấy cảnh sát với tư thế rất sẵn sàng cho một việc gì đó. Họ ra hiệu dừng xe chúng tôi. Chúng tôi giật mình: có chuyện gì đây? Nhưng chú Thanh lái xe bảo: “Yên tâm, không mắc lỗi gì và xe đủ giấy tờ”. Xuống xe, họ xem giấy tờ và giải thích là vừa có tai nạn ở đây, họ kiểm tra xem xe có liên quan hay không.

Chúng tôi nói, đại ý: Tai nạn đã xảy ra trước đó và cảnh sát thì đã có mặt ở đây trước khi xe chúng tôi đến, vậy làm sao có thể nghi ngờ xe chúng tôi gây được tai nạn được? Và tại sao bao nhiêu xe khác đi qua không xét hỏi, lại xét hỏi mỗi xe chúng tôi? Họ bảo: “Chúng tôi được nhân dân tố giác nghi xe các bác liên quan đến tai nạn”!.

Thì đây, trong nháy mắt, nhân dân đã đổ xô ra! Họ không “tố giác” chúng tôi mà tố cáo cái trò dàn dựng bỉ ổi này. Chú Công, con trai cụ Kình, bức xúc quá, xông vào, may mà có người can ra được. Qua sự việc này, chúng tôi mới biết: hễ có khách xa đến là bà con đều tổ chức bảo vệ rất sát sao. Chứ không là rất dễ bị chơi đểu.

Giấy tờ rất đầy đủ, đàng hoàng, chẳng có lý do gây sự, tất nhiên họ phải để chúng tôi đi. Và còn giục chúng tôi đi cho nhanh. Vì càng chậm dân càng ra đông, họ càng lộ mặt.

Chúng tôi ra cánh đồng Sênh (nơi nhà cầm quyền cố tình cướp 59 héc-ta của dân cũng là nơi đá gãy xương đùi, xương hông cụ Kình) tham quan trong ít phút rồi chia tay bà con. Đi được khoảng 3 cây số, vào khoảng 14g20, bỗng xuất hiện hai thanh niên lạ đi một xe máy từ phía sau vọt lên, lạng lách trước mũi trước ô tô, rồi trong khoảnh khắc, một ô tô nữa chặn đầu xe chúng tôi, buộc xe chúng tôi phải dừng. Chiếc xe đỗ chắn ngang đường khiến chúng tôi không thể lách ra để đi tiếp. Ô tô này đậu đó ít phút, khi xuất hiện công an xã thì đi. Về sau chúng tôi khớp biển xe này với một xe đậu trong sân Ủy ban Phúc Lâm, phát hiện ra vẫn chính là nó. Hai thanh niên đến bên cửa kính ô tô, ra hiệu hạ kính để nói chuyện. Chú Thanh hạ kính xuống. Hai thanh niên khoảng 20 tuổi, người gầy, da tái. Một cậu áo phông cộc tay tận vai, để lộ ra hai cánh tay xăm trổ nhằng nhịt, tóc đằng trước để dài, phần gáy lại gọt trắng, kiểu đầu Kim Châng Un, lãnh tụ của Bắc Triều Tiên (XHCN). Cậu còn lại cũng áo phông nhưng có “tay cộc”, không xăm trổ, tóc gần như ngược với cậu kia, đằng trước ngắn, chân gáy để dài. Cả hai có dáng không được lương thiện. Họ bảo chú Thanh: “Xe này đánh võng”. Chú Thanh nói: “Cháu xem, trên xe toàn người già, làm sao đánh võng được”.

Hai bên nói qua nói lại vài phút. Hơi lạ là hai cậu này nói nhỏ, dáng lừ đừ chứ không nổi nóng, không hung dữ, chửi bới như thường thấy ở một người bị tông xe. Tuy nhiên, chúng tôi cũng nhận ra tình thế: lại “có chuyện” rồi! Chúng tôi xuống xe, thấy trước mũi ô tô gần 1m, họ đã ngả nằm ngang chiếc xe máy. Chú Thanh còn nhìn thấy trước khi để nằm chiếc xe máy, hai cậu lấy xe của mình huých nhẹ một cái vào đầu ô tô. Trong khoảnh khắc ấy không hiểu sao họ còn làm một việc buồn cười là tráo vào đó một chiếc xe khác làm tang chứng chứ không phải cái xe đang đi. Những bức ảnh chụp được cho thấy cái xe đánh võng trước mặt chúng tôi là xe màu đen, còn cái xe bây giờ nằm đây làm tang chứng “tai nạn” lại là xe màu trắng! Có thể vì hai thanh niên không chịu dùng xe của mình làm vật “thí thân”, hay là xe của các cậu không đủ giấy tờ hợp pháp?

Một trong hai thanh niên biến đâu mất. Cậu còn lại vào vỉa hè ngồi, đầu khật khưỡng, dáng mệt mỏi. Bỗng có vài người đến bảo: “Phải đưa thằng bé này đi viện, nó bị tông xe nên choáng đấy”. Thế là họ đưa đi. Sau này chúng tôi biết, đã một người dân Đồng Tâm bám theo, vào tận “giường bệnh” phỏng vấn. Cậu thanh niên này bảo: “Người ta (tức chúng tôi) không sai, chỉ tại em uống rượu thôi (…) Và em cũng không sao cả!”.

Chúng tôi gọi điện cấp báo về Đồng Tâm. Công an xã kéo ra rất nhanh và đông “như quân Nguyên”, cứ như đã phục sẵn từ bao giờ. Họ hầu hết là người có tuổi, thường là sáu mươi, bảy mươi cả rồi, có nhiều ông mặt mày hoặc dữ tợn hoặc xôi thịt. Một ông chưa xem xét gì đã vội kết luận: “Người ta chặn anh lại rồi sau đó anh cố tình húc vào người ta”. Tôi nói với họ: “Đây là một vụ dàn dựng để thực hiện một âm mưu bẩn thỉu. Các bác cẩn thận kẻo bị lừa”. Họ chẳng những chẳng thèm nghe mà còn hung hăng đe dọa tôi”.

Bất giác tôi nhớ câu “Người nách thước, kẻ tay đao…”, bỗng thấy mình thật dại: làm sao nói điều phải chăng với những con người này, trong tình huống này. May mà lúc này bà con Đồng Tâm đã có mặt, nhiều người dân xông đến áp đảo, những cái “mặt ngựa” ấy mới lui. Thấy có một cậu công an xã còn trẻ dáng chừng là “sếp” của đám già kia, tôi lại gặp và nói lại ý trên. Cậu này có phần nhã nhặn, bảo rằng: “Vì được báo có tai nạn cho nên chúng cháu phải làm (…), xin hứa sẽ làm đúng pháp luật, không bênh ai”.

Bà con Đồng Tâm kéo đến mỗi ngày một đông. Họ biết ngay kiểu ăn vạ quen thuộc này nên rất bức xúc. Chú Công, con cụ Kình và một số thanh niên quá nóng nảy, dễ manh động, bà con kịp thời đưa về, nếu không họ có thể tạo thêm một màn vu vạ mới không chừng. Tuy nhiên, giới nữ thì lại được huy động. Họ “khẩu chiến” không lúc nào ngừng với đám người nhà nước. Ngược lại, với chúng tôi, bà con hết lòng quan tâm, thương yêu, nào đưa quạt, nón mũ, nào mua nước mát, lại bảo chúng tôi cứ vào vỉa hè ngồi nghỉ để bà con đương đầu thay, không sợ gì cả.

Cảnh sát giao thông, cảnh sát trật tự của huyện, của thành phố kéo đến dày đặc. Nhiều thanh niên không mặc sắc phục nhưng nhìn mặt mũi, tác phong cũng đủ biết đó là an ninh chìm (mật vụ). Đêm hôm đó, lúc quay về Đồng Tâm, một chị cho tôi biết, chị có gặp một cậu công an tỉnh, sau khi nghe chị giải thích thực chất của sự việc, cậu ấy bảo: “Chúng em được báo có vụ tai nạn gây ách tắc giao thông nên về đây, thế thôi. Còn các bác nói gì cứ nói, làm gì cứ làm (ý chừng nói: các bác cứ việc “khẩu chiến”).

Các loại cảnh sát đông như vậy, tuy nhiên, sau vài động tác đo đường và lấy vôi khoanh cái xe máy ăn vạ thì đám người nhà nước này hầu như chẳng làm gì hết. Anh Nguyễn Quang A có việc riêng nên bắt xe về trước, còn lại sáu người chúng tôi. Trời nóng nực và bóng ngả về tây rồi mà chúng tôi cứ phải chờ đợi mà chẳng biết cái gì sắp diễn ra.

Khoảng 2 tiếng sau, một chiếc xe cẩu ở đâu được đưa đến. Trên sàn xe, nghênh ngang một ông nhà báo quốc doanh cầm máy ảnh chuyên nghiệp chầm chậm soi từng điểm một để quay. Bà con đọc ngay một âm mưu: họ sẽ cẩu ô tô chúng tôi đi! Thế là, trong nháy mắt, bà con kịp thời ập đến chặn đầu, khiến cho xe cẩu không tiến lên được nữa. Không khí nóng lên dữ dội. Công an bảo chú Thanh đưa xe về huyện khám nghiệm, bà con thì đòi đưa về Đồng Tâm mà khám chứ dứt khoát không về huyện. Chúng tôi yêu cầu khám tại đây nhưng họ bảo đem về huyện mới đủ “phương tiện”. Chúng tôi thương lượng, là đưa vào một địa điểm nào gần nhất quanh đây và họ đồng ý. Tuy nhiên, khi xe của họ dẫn đường qua ngã ba thì nhân dân phát hiện đấy là đường về huyện, cách đây những hơn 20km. Bà con hò hét phản đối rất dữ dội và cho chúng tôi biết nếu về huyện thì bà con không thể theo lên đông, họ sẽ làm những trò bỉ ổi không biết đâu mà lường. Bà con yêu cầu dứt khoát phải về Đồng Tâm. Tuy nhiên chúng tôi biết không đời nào nhà chức trách chịu về Đồng Tâm nên thương lượng với cả nhà chức trách lẫn bà con là hãy vào Ủy ban xã Phúc Lâm, chỉ cách chỗ này vài chục mét, bà con vào luôn đó giám sát là được. Bà con thấy vẫn không ổn nhưng nể lời đề nghị của bác Đăng Quang nên cuối cùng cũng đồng ý.

Đến cổng ủy ban, bỗng thấy hàng chục công an xã và dân phòng hùng hổ chạy vào trước ôm hai cánh cổng. À, họ chuẩn bị tư thế, sẽ chỉ cho ô tô lọt vào là sập cổng, cách ly bà con với chúng tôi. Chú Thanh dừng xe lại và chúng tôi đấu tranh quyết liệt phải để bà con vào giám sát. Ý kiến chúng tôi là: Giám sát là quyền của công dân. Nhất là khi chỉ trong chưa đầy một tiếng đồng hồ công an đã dàn dựng hai vụ tai nạn giả, chưa kể vừa nãy định lừa chúng tôi về huyện, vậy thì hãy để bà con giám sát để chứng minh câu cửa miệng “Hãy tin chúng tôi” của các ông đi. Nhưng họ kiên quyết từ chối yêu cầu này. Đám công an xã ăn nói rất bặm trợn, bảo rằng đây là chỗ nhà nước, họ có quyền không cho ai vào.

Cánh công an huyện thì mềm dẻo hơn chút, hứa với chúng tôi họ sẽ làm việc rất nhanh, vì chỉ là thủ tục. Họ liên tiếp tuôn ra rất nhiều lời lẽ giả dối, như “chúng tôi làm theo pháp luật”, “chúng tôi làm theo lương tâm”, nghe rất chối, nhưng cãi mãi mỏi miệng, đành thua họ.

Nhùng nhằng khá lâu ở giữa cổng, cuối cùng chúng tôi đành chấp nhận, để bà con ở bên ngoài, mấy người chúng tôi cô độc bên trong giữa năm, sáu chục cảnh sát các loại. Bóng tối đã đổ xuống lờ mờ. Sợ nhất là chúng quẳng ma túy vào xe. Tận dụng lúc này còn chút ánh sáng, chú Thanh kiểm tra cốp xe, lật các ghế xe lên, sợ biết đâu cửa kính hạ lên hạ xuống trong lúc lời qua tiếng lại suốt mấy tiếng vừa rồi, chúng đã kịp quẳng cái gì vào.

Họ bắt đầu “khám” xe. “Phương tiện” khám mà lúc nãy họ bảo về huyện mới có hóa chỉ là… cái thước dây để đo centimet và cái bút, tờ giấy để ghi kết quả! Họ phát hiện đầu ô tô (gần chỗ mà cái xe máy tai nạn để nằm cạnh) có một vết xước nhỏ. Lúc ấy chúng cũng tôi hơi lo: hay là vết xước này do 2 thanh niên, vào lúc ô tô đã dừng, còn cố tình lấy xe máy “dí” vào một cái đây? Tuy nhiên chúng tôi vẫn yên tâm: kiểu gì thì không thể coi đó là một cú tông của ô tô vào xe máy, gây tai nạn.

“Khám” xong họ bảo anh Nguyễn Đăng Quang đi làm việc. Tôi theo vào để giám sát. Họ không nghe, bảo tôi sang phòng bên, rồi cũng sẽ đến lượt. Hỏi việc gì thì họ bảo chúng tôi là nhân chứng, cần tường thuật lại. Tôi băn khoăn một lát rồi cuối cùng cũng đồng ý. Vì nghĩ thông qua việc này, mình có cơ hội vạch mặt mưu hèn kế bẩn không thể chối cãi của họ. Sau tôi, anh Hoàng Hưng cũng chấp nhận làm việc. Riêng hai chị Nguyên Bình và Hoàng Hà thì dứt khoát từ chối.

Sau khi tường thuật sự việc, tôi yêu cầu ghi vào ý kiến của tôi: hai vụ “tai nạn” giao thông này hoàn toàn là sự dàn dựng có chủ đích của một lực lượng nào đó. Anh Nguyễn Đăng Quang, sau khi thuật và ký, nhận ra cái xe đậu trong ủy ban chính là cái xe ép chúng tôi dừng lúc chiều (xe biển số 30E – 856.26) nên vào khai bổ sung. Còn tôi thì đã khai là không nhớ biển số cái xe đó (điện thoại đã hết pin chẳng biết là lúc ấy có chụp được hay không) nên không bổ sung gì thêm.

Màn đêm buông đã lâu nhưng sân ủy ban không có đèn hay do họ cố ý không bật nên tối om. Bà con gửi vào cho chúng tôi bánh mì và nước uống nên không lo đói nhưng rất mệt. Vì từ chiều đến giờ phải chiến đấu chưa ngưng nghỉ và cũng không thể biết diễn biến tiếp theo thế nào. Thỉnh thoảng tôi lại hỏi họ bao giờ thì chúng tôi được về. Ban đầu họ còn trả lời nhã nhặn, rằng “lát nữa”, “chút nữa thôi”, “cố chờ tí nữa thôi”, nhưng càng về sau, khi số mặc sắc phục CSGT và CSTT rút bớt đi, chỉ còn đa số là an ninh mặc thường phục và công an xã, dân phòng thì càng chỉ thấy có những khuôn mặt lạnh lùng. Họ chỉ nói hai tiếng “không biết” và không nói gì thêm.

Đội quân tóc dài bên ngoài vẫn tiếp tục “khẩu chiến” với đám người nhà nước bên trong. Đôi lúc bị chửi đau quá, vài ông ra chiến lại nhưng bị nốc ao ngay, lại phải quay vào.

Thời gian trôi đi nặng nề. Tôi sốt ruột quá liền đến một đám đang đứng khá đông, có đủ loại sắc phục và lứa tuổi, hỏi: “Tôi hỏi, ai là người chỉ huy cao nhất ở đây?” Không ai trả lời. Bỗng một lão già khoảng 60, nhỏ người nhưng mặt mày hung dữ, sắc phục công an xã (hay là dân phòng), tay đeo dùi cui, quát”:

– Đ. mẹ mày, mày muốn gì?”

Tôi bảo:

– Này, anh mặc sắc phục nhà nước và đang làm việc trong ủy ban mà ăn nói thế à?

– Đ. mẹ mày, tao đéo cần. Tao cởi bộ sắc phục này ra cho mày biết tay đây.

Ông ta giật luôn mấy cái cúc áo, phanh bụng ra và xông vào tôi. Tôi lùi lại, đồng thời anh Hoàng Hưng và một ông công an xã già, dáng cao lớn xông vào chặn được ông ta.

Một sỹ quan công an bảo tôi:

– Xin bác ngồi một chỗ cho, đừng đi lại nữa, “dân” người ta bức xúc, chúng tôi không đảm bảo an toàn cho bác được đâu!”

– Ô, ông vừa nãy là “dân” ư? Các ông có cho người dân vào trong sân này đâu. Chúng tôi vẫn đang làm việc trong sân ủy ban này mà ông bảo “không dám đảm bảo an toàn”, thế nghĩa là các ông chứa côn đồ trong sân này à?

Anh ta liền đánh bài lảng.

Lát sau tôi thấy một toán toàn công an xã đi theo một ông có vẻ chỉ huy vào một góc tối để hội ý. Tôi đi chầm chậm lại gần để nghe, nhưng họ nói nhỏ, không thể nghe được, chỉ đoán lờ mờ hình như là họ sợ bà con sắp làm gì đó, cần phải chặn ngay. Hội ý xong, trên đường đi ra, một ông đắc chí, vung tay nói: “Chúng ta có quyền “nực”. Ai chống “nại” chúng ta “nà” chúng ta xử “nuôn” nhé. Nhớ đấy, phải sử dụng quyền “nực” vì chúng ta có quyền “nực!”. Nghe thế, anh Hoàng Hưng bảo: “Chả có mãi quyền lực đâu ông ơi. Khối tướng công an đang chết đấy thôi. Các ông cứ giữ trật tự, nhưng đừng tự biến mình thành kẻ thù của nhân dân!”. Chị Nguyên Bình tiếp: “Không quay về với dân, cứ bám theo dây của họ rồi có ngày chết chùm đấy”. Và chị Hoàng Hà: “Quyền lực của chính quyền là để bảo vệ dân chứ không phải mang quyền lực ra đàn áp dân đâu nhá”.

Tuy nhiên những lời nhắc nhở nhẹ nhàng ấy liệu có thể lọt tí nào vào những cái đầu đã bị nhồi đặc một điều duy nhất: “Công an chỉ biết còn Đảng còn mình”.

Cảm thấy như một âm mưu gì đó đối với bà con sắp diễn ra, tôi ra kể với bà con và nhân thể kể sự việc tay công an xã định đánh tôi lúc nãy. Bà con chẳng quan tâm âm mưu gì sắp tới cho mình, chỉ lo cho chúng tôi thôi. Các chị bảo:

– Chết, nó đã đánh bác chưa? Có gì các bác phải báo ngay với chúng em chứ. Nếu nó đánh là chúng em phá ngay cửa sắt này vào chơi nhau với chúng đấy. Chúng em chả sợ chết gì nữa đâu.

Từ đó bà con cứ luôn phải rọi đèn pin vào để quan sát mọi âm mưu, diễn biến. Hai chiếc chiếu đại mới tinh được trải ra trươc cổng Uỷ ban. Một chị nói: “Chúng tôi sẽ ở lại đây cả đêm, cho đến khi nào các cụ được về!”.

Cuối cùng thì cũng không thấy chúng giở trò gì thêm nữa. Họ gọi chú Thanh đi làm các thủ tục để nhận xe. Chú Thanh cho biết kết luận cuối cùng về vụ “tai nạn” là: “có va chạm nhưng người và phương tiện cả hai bên đều an toàn”. Tôi bảo va chạm gì đâu nhưng chú Thanh giải thích trong giao thông hễ có người ngã, có xe đổ là tính “va chạm” rồi.

Lúc này khoảng 21 giờ. Chú Thanh vẫn định về, vì mai xe phải trả sớm, nhưng bà con kiên quyết không cho về. Mọi người chờ ý kiến quyết định của anh Đăng Quang. Anh Đăng Quang bảo, thôi cứ quay lại Đồng Tâm chút đã rồi quyết định sau.

Đèn sáng trưng, tiếng động cơ rầm rập, mấy trăm con người hùng dũng về Đồng Tâm. Bà con chia làm hai nửa, một nửa đi trước, một nửa đi sau, bảo vệ chúng tôi như tháp tùng nguyên thủ quốc gia vậy.

THƯ NGỎ GỬI THỦ TƯỚNG NGUYỄN XUÂN PHÚC

THƯ NGỎ GỬI THỦ TƯỚNG NGUYỄN XUÂN PHÚC

 
THƯ NGỎ GỬI THỦ TƯỚNG NGUYỄN XUÂN PHÚC

Thưa Thủ tướng,

Ngày 21/4/2018, chúng tôi gồm: Nguyễn Quang A, Nguyễn Nguyên Bình, Hoàng Hà, Hoàng Hưng, Nguyễn Đăng Quang, Lê Trường Thanh và Đào Tiến Thi về thăm bà con nông dân xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. 

Sau những dữ liệu thu thập được và chứng kiến những gì đã xảy ra trong ngày hôm ấy, chúng tôi thấy cần thông tin đến Thủ tướng hai vấn đề lớn sau đây:

I- VẤN ĐỀ “HẬU BIẾN CỐ ĐỒNG TÂM”.

Qua tiếp xúc với cụ Lê Đình Kình, đảng viên lão thành, cựu Bí thư Đảng ủy, cựu Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân xã Đồng Tâm, bà Nguyễn Thị Lan, nguyên Bí thư Đảng uỷ, nguyên Chủ tịch Hội đồng Nhân dân xã Đồng Tâm, và qua tìm hiểu trên thực địa cánh đồng Sênh, chúng tôi thấy:

1. Một năm sau biến cố Đồng Tâm báo hiệu nguy cơ bất bình tột độ của nhân dân trước những “tập đoàn lợi ích bất chính” cấu kết với thành phần tham nhũng trong chính quyền. Đến nay, 59 ha đất nông nghiệp vẫn chưa thực sự trở lại thuộc quyền sử dụng của người dân Đồng Tâm. Vẫn có những thế lực ngoan cố quyết trấn áp dân để giành bằng được 59 ha đất này, sẵn sàng bất chấp luật pháp, bôi nhọ hình ảnh một “Chính phủ Kiến tạo” mà ngài là người đứng đầu, cũng ngang nhiên đối đầu với công cuộc “đốt lò chống tham nhũng” đang đến hồi quyết liệt.

2. Cho đến nay, sau một năm, lực lượng nhân danh công an bắt trái phép cụ Lê Đình Kình, hành hung cụ đến thương tật suốt đời (gãy xương đùi và vỡ xương hông, khiến từ nay cụ phải đi lại bằng xe lăn) vẫn chưa bị truy cứu trách nhiệm. Đó là điều không thể chấp nhận được dưới một nhà nước pháp quyền.

3. Tinh thần kiên định, tình đoàn kết vững chắc, trình độ giác ngộ chính trị, hiểu biết và thượng tôn pháp luật, trình độ tổ chức của người dân dưới sự lãnh đạo của các vị đảng viên lâu năm ở Đồng Tâm hết sức đáng khâm phục. Họ đã đấu tranh ngoan cường và nhiều việc đã thành công. Họ chính là chỗ dựa vững vàng nhất của “Chính phủ Kiến tạo” và đại chiến dịch “chống tham nhũng”, nếu thực sự Chính phủ muốn như vậy. 

II- VẤN ĐỀ CÔNG AN HÀ NỘI QUA SỰ CỐ “TAI NẠN GIAO THÔNG”.

Từ Đồng Tâm trở về, chúng tôi gặp hai sự cố giao thông rất thô thiển và vô lý. 

Lần đầu cảnh sát giao thông lấy cớ kiểm tra xe chúng tôi sau khi có một vụ tai nạn (không ai nhìn thấy tai nạn này). Bị bà con Đồng Tâm kéo đến phản đối, họ phải để chúng tôi đi. Nhưng lần thứ hai, một bàn tay nào đó cố tình dàn dựng một vụ “va chạm giao thông” hết sức thô thiển. Xin kể vắn tắt như sau:
Ra khỏi Đồng Tâm khoảng 3 cây số, vào khoảng 14g20, đến gần ngã ba Phúc Lâm, bỗng xuất hiện hai thanh niên đi trên một xe máy lạng lách phía trước, buộc xe chúng tôi phải giảm tốc độ, rồi một ô tô 4 chỗ vượt lên chặn đầu xe chúng tôi, buộc xe chúng tôi phải dừng lại. Ngay lúc đó, 2 thanh niên đi xe máy kia áp sát chặn đầu xe của chúng tôi rồi ngả chiếc xe máy xuống đường ngay trước mũi xe của chúng tôi, làm như xe chúng tôi vừa đâm vào họ!
Công an của xã Phúc Lâm, của huyện Mỹ Đức và của TP. Hà Nội rầm rập kéo đến rất đông, khoanh hiện trường để điều tra. Có người dân nghe được lời một viên sỹ quan cảnh sát nói nhỏ: “Dựng hiện trường thế này không ổn đâu!”. Và ông ta cho kéo cái xe “tai nạn” đi chỗ khác. 
Một trong hai cậu thanh niên bị “tông” tự động biến mất; cậu thứ hai, đóng màn kịch bị “thương tích” nhưng sau đó cũng chẳng làm sao.
Tuy nhiên cảnh sát cũng chẳng giải quyết vụ “tai nạn”, cứ để ách tắc giao thông suốt hơn hai giờ đồng hồ. Hàng trăm bà con Đồng Tâm kéo đến đấu tranh. Họ thừa biết đây là vụ dàn dựng bỉ ổi. Họ phê phán ngành công an vô pháp, vô lương vang cả một góc trời. 
Gần tối, họ bắt chúng tôi đưa xe về thị trấn huyện để “khám”. Việc làm này thật bất thường, khác hẳn với một vụ va quệt nhẹ (nếu quả đúng vậy), khi người không một chút thương tích, xe không một chút hỏng hóc. Trước sự đấu tranh của bà con, không thể ép xe chúng tôi về huyện, họ toan dùng xe cẩu để cẩu đi. Nhưng vẫn không thành trước áp lực của nhân dân, cuối cùng họ chọn cách đưa xe vào Ủy ban Phúc Lâm, nhưng không cho bà con vào giám sát. 
Khoảng năm chục công an các loại vậy bọc sáu người chúng tôi. Để giải quyết một vụ “va quệt” giao thông sao lại phải huy động một lực lượng vũ trang lớn như vậy? Có những nhân viên rất lỗ mãng, toan hành hung một người trong chúng tôi.
Bất ngờ nữa là chúng tôi thấy chiếc ô tô 4 chỗ mà ban chiều chặn đầu xe chúng tôi ngoài đường, nay đang đậu ngay trong sân Uỷ ban xã Phúc Lâm. 
Cuối cùng thì họ cũng chẳng thể buộc tội gì ngoài kết luận “va quệt nhẹ, không để lại hậu quả và thương tích gì”. Nhưng chúng tôi phải chịu đựng mệt mỏi gần bảy giờ đồng hồ. Còn lực lượng công an thì liên tục bị những trận chỉ trích của bà con mà không thể nào đối đáp, thật chẳng còn hình ảnh gì của “công an nhân dân” cả.
Chúng tôi khẳng định vụ việc trên là một kịch bản do công an dàn dựng (cấp nào thì chưa rõ). Nhưng kịch bản này hết sức vụng về và trắng trợn, do đó đã bị chỉ trích ngay lập tức của cộng đồng mạng toàn thế giới, hàng trăm ngàn người đã xem và bình luận, hết sức bất lợi cho ngành công an và nhà nước Việt Nam.

III -KẾT LUẬN.

Hai vấn đề trên tuy hai mà một. Vì việc cướp đất ở Đồng Tâm được thực hiện chủ yếu bởi chính quyền sử dụng vũ lực của ngành công an. Trong khi sự cố Đồng Tâm vẫn đang nóng hừng hực, chúng tôi là những công dân có trách nhiệm với đất nước, muốn tìm hiểu rõ vấn đề, ngõ hầu góp một ý kiến cùng Chính phủ do Ngài đứng đầu giải quyết dứt điểm, thì lực lượng công an lại dùng nghiệp vụ của họ để phá đám, phá hoại khối đoàn kết dân tộc. 

Chúng tôi khẩn thiết yêu cầu Thủ tướng cho thanh tra ngay sự việc Đồng Tâm để giải quyết rốt ráo, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân; xử lý nghiêm khắc những cá nhân, đơn vị lạm dụng chức quyền gây hậu quả nghiêm trọng là phá hoại uy tín của “chính quyền nhân dân” ở mức rất nguy hiểm.

Chúc Ngài thành công trong sự nghiệp xây dựng “Chính phủ Kiến tạo”, điều hành đất nước ngày một phát triển.

Hà Nội, ngày 24 tháng 4 năm 2018.

Đồng ký tên: 

 
– Nguyễn Quang A, Tiến sỹ khoa học.
– Nguyễn Nguyên Bình, nhà văn – nhà báo.
– Hoàng Hà, nhà giáo.
– Hoàng Hưng, nhà thơ – nhà báo. 
– Nguyễn Đăng Quang, Đại tá – nguyên cán bộ Bộ Công an, 
cư trú tại phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
– Lê Trường Thanh, Giảng viên Đại học.
– Đào Tiến Thi, Thạc sỹ Ngữ văn, nguyên Ủy viên BCH Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, 
cư trú tại Dương Nội, Hà Đông, Hà Nội.

Mây thẻ