"Nói phải củ cải cũng nghe"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Mười, 2018

Đi với kẻ trộm thì đừng bật đèn!

VNTB – Đi với kẻ trộm thì đừng bật đèn!

Hoàng Văn Hùng (VNTB) Tất nhiên, bởi kẻ trộm luôn hành nghề dựa vào bóng tối, bật đèn lên thì khác nào “lạy ông tôi ở xó này”. Chuyện tương tự vừa xảy ra với giáo sư Chu Hảo.

Bạn sẽ hỏi: giáo sư Chu Hảo thì liên quan gì đến trộm cắp? Đúng, ông ấy thì việc gì phải đi ăn trộm. Ông ấy đã đi theo đảng từ thuở thiếu niên; cha là ông Chu Đình Xương, cán bộ cao cấp của ngành công an, từng giữ chức Giám đốc Sở Công an Bắc Bộ. Do vậy có thể nói: ông là “hạt giống Đỏ”nảy mầm trên mảnh đất màu mỡ, và chịu ơn mưa móc toàn phần của chế độ cho đến nay, khi ông đã qua tuổi “xưa nay hiếm”. 

Trở lại với thắc mắc trên, tôi sẽ kể lại những gì xảy ra với Gs. Chu Hảo để các bạn thử so sánh, xem có tương đồng với cái đầu đề bài viết này không nhé.

Hôm qua, tờ báo Nhân Dân điện tử – tiếng nói của đảng (thật khó hình dung đảng với Nhân Dân là một, phải không?) – kết tội Gs. Chu Hảo thế này: “từ năm 2005 đến năm 2009, đã xuất bản một số đầu sách có nội dung sai phạm (như: đề cao giá trị dân chủ của chủ nghĩa tư bản; phủ nhận hệ thống triết học, chính trị và kinh tế của chủ nghĩa xã hội; phủ định chủ nghĩa Mác; có luận điểm đi ngược lại chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế – xã hội; sai lầm, ấu trĩ về nhận thức; nhận xét sai lầm về học thuật, phủ nhận các nội dung cốt lõi trong tư tưởng C. Mác…).

Về phần cá nhân, từ năm 2011, tên tuổi của đồng chí Chu Hảo đã bắt đầu xuất hiện trong một số văn bản kiến nghị, thư, thư ngỏ, tuyên bố trong đó có văn bản đòi “xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”, đòi “thực hiện đa nguyên đa đảng”, “phi chính trị hóa quân đội”, “chuyển đổi từ thể chế toàn trị sang thể chế dân chủ”…

Và cần phải nhắc đến nhiều bài viết, trả lời phỏng vấn của đồng chí Chu Hảo trên báo chí nước ngoài, công bố trên mạng; việc đồng chí tham gia hoặc có quan hệ với một số tổ chức, diễn đàn được lập ra chỉ nhằm mục đích phát tán, tuyên truyền, xuất bản tài liệu để quảng bá tinh thần dân chủ phương Tây, hoặc “trao đổi, tập hợp ý kiến nhằm góp phần chuyển đổi thể chế chính trị của nước ta từ toàn trị sang dân chủ một cách ôn hòa”…

Qua đó có thể thấy đồng chí Chu Hảo chưa có nhận thức đúng đắn về quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, đồng thời có việc làm, phát ngôn biểu hiện sự suy thoái rất nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, để bản thân lâm vào tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Hãy xem những quyển sách mà Gs. Chu Hảo xuất bản nói gì mà được quy là “sai phạm”? Thì ra đó là những quyển sách viết về chính trị – kinh tế chung chung, có tính chất nghiên cứu khảo luận, hoàn toàn vô tư và nghiêm túc, là sách gối đầu giường của sinh viên các nước văn minh Á, Âu, Mỹ, Úc. Thí dụ như cuốn “ Bàn về Tự do” của John Stuart Mill, hay cuốn “ Khảo luận Thứ Hai về Chính quyền” của John Locke, rồi “Nền dân chủ pháp trị của Mỹ” của Alexis de Tocqueville,…

Tất cả những cuốn sách nêu trên chẳng có “tội” gì, ngoài việc chúng là Ánh Sáng của Tự do – Dân chủ – Nhân quyền, đến từ thế giới văn minh. Và đảng coi đó là kẻ thù của mình? À, dễ hiểu thôi: bọn chuột chũi luôn sợ hãi ánh sáng, cũng như lũ trộm cắp luôn né tránh ánh đèn.

Nhà giáo Phạm Toàn có lời bình: “ Sách hay thì lúc nào cũng đụng chạm đến sự lạc hậu. Sách hay thì bao giờ cũng mở mang đầu óc con người. Và sự lạc hậu luôn chống lại sự mở mang đầu óc con người. Sách hay thì bao giờ cũng làm cho bọn độc tài phát xít sợ hãi”. Thật chí lý!.

Mọi thứ độc tài trên thế giới này đều có một quy luật chung: chúng xuất hiện trong hình dáng một “hiệp sỹ” cứu nhân độ thế, làm những việc kinh thiên động địa. Nhưng tất yếu phương cách toàn trị, độc quyền chân lý sẽ khiến bộ máy tha hóa dần, dẫn tới băng hoại xã hội, tự trở nên thối nát và khát máu không thể tránh khỏi. Cộng Sản cũng vậy: xuất hiện “sáng chói như một ngôi sao băng”, đến nay mọi đảng Cộng Sản đã “hạ cánh” xuống mặt đất và thối hoăng như một đống phân – đống phân khổng lồ với hàng triệu cục to nhỏ.

Trong đống phân thì hãy làm giòi mới có cơ kiếm ăn và béo tốt. 

Giáo sư Chu Hảo dám ly khai lũ giòi, đứng lên rọi đèn vào gian đảng, dễ hiểu vì sao chúng tru lên như chó dại gặp cơn mưa. Vừa rồi, ban Kiểm tra TƯ của cái đảng ấy đã đề nghị “kỷ luật và đuổi ra khỏi đảng” đối với Gs. Chu Hảo, đáng đời ông quá!

Tiến sỹ Nguyễn Quang A nói: “ Với quyết định này, đảng Cộng Sản Việt Nam đã dấn thân thêm một bước để tự chôn mình”. Riêng tôi có ý kiến khác: đảng CS đã tự chôn mình lâu rồi, chẳng qua nó vẫn ngắc ngoải chưa chết mà thôi. 

Ba nhà thơ viết về CHIẾC GIÀY BAY THỦ THIÊM

bài 1

CHỈ LÀ MỘT CHIẾC GIÀY –

Nguyễn Duy

Ngày phụ nữ, nhận quà , một chiếc dép ,
Dồn nén hai mươi năm nỗi phẫn uất bị cướp mất nhà
Những người nông dân Thủ thiêm chân chất ,
Bỗng chốc trở thành những dũng sĩ , xông pha .
Không phải là gươm dáo
Không phải súng ngắn, súng dài
Chỉ là một chiếc dép ,
Mà cuồng nộ dâng cao !
Thủ Thiêm , Thủ Thiêm
Một đoạn lịch sử,
bi thảm xiết bao !

Bài 2 :
CƠN PHẪN NỘ THIÊNG LIÊNG 

Dương Trọng Dật

Chiếc giày bay trong cơn phẫn nộ thiêng liêng
Như nhát dao cứa vào tim
Đau thắt câu ca cướp đêm là giặc…
Nỗi đau dằng dặc 20 năm
Đẫm nước mắt người dân
Vỡ ra thành ung nhọt
Thủ Thiêm
Lợi ích nhóm, thói cường hào
Sự vô cảm của trái tim
Chiếc giày bay
Lời cảnh báo không chỉ cho riêng ai
Phản bội lời thề “ nước là nước dân,Dân là gốc nước”
Và những đày tớ nhân dân
Quên chân lý vắt từ máu xương nghìn năm
Nuôi sự trường tồn dân tộc
“ Đẩy thuyền,lật thuyền cũng là Dân”…

Bài 3 : BÀI THƠ VỀ LIỆNG DÉP

Bùi Chí Vinh

Liệng dép vào một kẻ đại diện chính quyền
Là phản ứng con người sòng phẳng nhất
Chiếc dép có thể bay trúng mặt
Tạo thành “mặt mâm” như thành ngữ giang hồ
Chiếc dép có thể rơi xuống đất
Làm kẻ đại diện hết hồn ngưng “chém gió, bưng bô”
Liệng dép là hành động tự nhiên so với việc liệng thơ
Liệng thơ chống bất công xã hội có thể đụng an ninh tư tưởng
Liệng thơ chống Trung cộng xâm lăng có thể bị lái đi lệch hướng
Bị đổ thừa qua trồi sụt thị trường vàng
Bị lái qua những công trình phá sản
Bị lạc đường sang bọn ngáo đá chơi hoang 
Liệng dép, nói chung là trách nhiệm công dân
Ở Mỹ có khi người ta còn đổi mạng
Ở Nhật Bản, Đại Hàn Thủ Tướng đều cúi đầu lắng nghe nhân dân phán
Các ông chủ tập đoàn bất lương đều quỳ lạy rạp mình
Vì thế đừng ngạc nhiên khi liệng dép
Đó là khởi đầu cho tập quán văn minh 
Liệng dép là tức nước vỡ bờ sau gần nửa thế kỷ làm thinh !

‘Bố già’ Lê Thanh Hải và câu chuyện Thủ Thiêm bỏ ngỏ

‘Bố già’ Lê Thanh Hải và câu chuyện Thủ Thiêm bỏ ngỏ

Trần Thành (VNTB) 
.
Cựu bí thư Thành ủy TP.HCM Lê Thanh Hải có mặt tại lễ Quốc tang ở Hà Nội và cả Ninh Bình trong buổi chiều hạ huyệt vần vũ mưa. Nếu sắp tới đây ông Nguyễn Thiện Nhân lại ra Bắc, liệu ‘bố già’ Hai Nhựt (tên thường gọi của ông Lê Thanh Hải) có phải cam chịu làm củi đốt l.
.
Giới luật sư có thân chủ là những dân oan bị ‘bố già’ Hai Nhựt cướp đất ở bán đảo Thủ Thiêm, đang lo lắng rằng liệu với xáo trộn nhân sự đàng sau hậu trường chính trị vào tháng 10 cận kề, liệu vụ Thủ Thiêm lại bị xếp xó như suốt hơn hai mươi năm qua?
.
Sếp của ông ‘anh Năm Tín’ là ai?
.
Cựu phó chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Hữu Tín đang đối mặt pháp lý trong vụ án Vũ ‘nhôm’. Nói luôn, ông sếp ở thời quyền uy hét ra lửa đó của ông Nguyễn Hữu Tín chính là ông Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy TP.HCM.
Chân dung cựu Phó Chủ tịch TPHCM Nguyễn Hữu Tín vừa bị khởi tố. Ảnh: cafeF
.
Từ tháng 5 năm 2004 đến tháng 12 năm 2008, ông Nguyễn Hữu Tín là Thành ủy viên, phó Chủ tịch UBND TP.HCM. Trước đó, từ tháng 10 năm 2001 đến tháng 4 năm 2004, ông Tín là Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư TP.HCM. Tháng 5-2004, Chủ tịch UBND TP.HCM Lê Thanh Hải đã ‘rút’ ông Tín lên làm phó Chủ tịch UBND TP.HCM.
.
Trong giới làm ăn, người ta hay gọi ông Nguyễn Hữu Tín là ‘anh Năm’. 
.
Trung tuần tháng 11-2013, ‘anh Năm’ đã đặt bút ký quyết định giao 375.757m2 ‘đất sạch’ [đất đã giải tỏa xong] không thu tiền sử dụng đất, thuộc quy hoạch Khu đô thị mới Thủ Thiêm cho Công ty cổ phần Đầu tư Địa ốc Đại Quang Minh để đầu tư xây dựng bốn tuyến đường chính trong Khu đô thị này theo hình thức hợp đồng BT: Đại lộ vòng cung (tuyến R1) có diện tích đất là 175.721,6m2; đường ven hồ trung tâm (tuyến R2) có diện tích 79.218m2; đường ven sông Sài Gòn (tuyến R3) có diện tích 81.956,5m2; đường vùng châu thổ, đường châu thổ, đường ven sông – khu dân cư (R4) có diện tích 38.860,9m2.
.
Chiều dài 4 tuyến đường là 11,9km, tổng đầu tư hơn 12.000 tỷ đồng. Như vậy, trung bình 1 km làm đường tiêu tốn 1.000 tỷ đồng, mức đầu tư ‘kỷ lục’ chưa từng có tại Việt Nam.
.
Bánh ít đi, bánh quy lại. Ông Nguyễn Hữu Tín đồng ý sẽ cấp cho công ty Đại Quang Minh phần đất có diện tích gần 79 ha đóng trên địa bàn phường Thủ Thiêm và phường An Lợi Đông. Khi đó, hiện trạng phần đất được cấp này đang sử dụng để xây dựng dự án trọng điểm, là xương sống nằm trong tổng thể dự án Khu đô thị Sala, nơi có giá nhà đất đắt đỏ nhất hiện nay…
.
Giới làm ăn chắt lưỡi nói rằng, 4 tuyến đường được định giá xây dựng như vậy tưởng chừng là siêu đắt; tuy nhiên, bản thân hiện trạng các tuyến đường ấy – có thể thấy chủ yếu phục vụ cho khu đô thị Sala. Cũng chính nhờ các tuyến đường đó, mỗi mét vuông đất tại khu đô thị trên được “đội giá” lên theo thời gian.
.
Trong thương vụ này, xem ra Đại Quang Minh được ông Nguyễn Hữu Tín ưu ái. Dĩ nhiên sự ưu ái ấy trước tiên cần phải nhận được sự gật đầu của ‘bố già’ Hai Nhựt, đương kiêm Bí thư Thành ủy TP.HCM (ông Lê Thanh Hải làm Bí thư Thành ủy suốt hai nhiệm kỳ liền kề).
.
Những con rối trong tay ‘bố già’ Hai Nhựt?
.
Công bằng mà nói, với thế lực danh gia bên vợ của ông Lê Thanh Hải, gần như toàn bộ cấp phó (tính luôn cả chủ tịch Lê Hoàng Quân) thời mà ‘bố già’ Hai Nhựt làm vua một cõi ở Sài Gòn, đều dính tới những tố cáo về sai phạm trong quy hoạch khu đô thị mới Thủ Thiêm. Dĩ nhiên những tình tiết này không hề được Thanh tra Chính phủ nhắc đến trong “kết luận kiểm tra” công bố hồi đầu tháng 9/2018.
.
Trong vụ quy hoạch Thủ Thiêm, đầu tháng 6 năm 2007, ông Nguyễn Hữu Tín, phó Chủ tịch UBND TP.HCM đã tách bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư thành dự án riêng bằng Quyết định số 2466/QĐ-UBND ký ngày 5/6/2007. Quyết định này xác định, tổng diện tích đất thu hồi là 772,3 ha với tổng số 10.406 hộ gia đình và 47 cơ quan đơn vị, trụ sở hành chính, 14 trường học, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng.
.
Trong khi đó, đối với khu đất nằm ngoài ranh dự án khu trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm, ngày 17/1/2008, phó Chủ tịch Nguyễn Hữu Tín ký ban hành Quyết định 222/QĐ-UBND phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 để làm Khu đô thị chỉnh trang kế cận Khu đô thị mới Thủ Thiêm với diện tích gần 336 ha, bao gồm 80 ha chỉnh trang đô thị. Đến đây, 80 ha vốn không thuộc ranh quy hoạch Khu đô thị mới Thủ Thiêm đã “hợp thức hóa” vào Khu đô thị chỉnh trang kế cận.
Dàn lãnh đạo Tp. HCM trong biểu truy điệu Cố Chủ tịch nước Trần Đại Quang. 
.
Nói thêm, 28 dự án phân lô, bán nền nằm trong khu vực 80 ha chỉnh trang, chính là một phần trong số 160 ha đất tái định cư của dân đã bị xẻ thịt, chia phần cho các công ty tư nhân.
.
Thật ra những diễn biến về chuyện ban hành các văn bản pháp lý nói trên của ông Nguyễn Hữu Tín, hay Nguyễn Văn Đua, Nguyễn Thành Tài vẫn là nhằm để thực hiện theo kịch bản của ‘bố già’ Lê Thanh Hải – một người rất khôn ngoan, khi hiếm hoi đặt bút ký những quyết định liên quan trực tiếp tới quy hoạch bán đảo Thủ Thiêm.
.
Hồ sơ vụ việc cho thấy ngày 22/3/2002, Văn phòng UBND TP.HCM phát hành Công văn đánh số 78/TB-VP, đóng dấu ‘hoả tốc’, truyền đạt ý kiến kết luận của ông Lê Thanh Hải như sau: “Xác định diện tích đất dành cho tái định cư phục vụ đền bù giải toả cho khu đô thị mới Thủ Thiêm phải đảm bảo đủ 160 ha theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, không nhất thiết tập trung ở một địa điểm, có thể bố trí từ 3 đến 4 địa điểm trên địa bàn quận 2”.
.
Công văn hỏa tốc về ‘lệnh miệng’ này là cái cớ để hợp thức hóa về mặt ‘đánh lận con đen’ trong pháp lý cho việc băm nát, thay đổi hoàn toàn so với quy hoạch chi tiết mà trước đó UBND TP.HCM đã thuê công ty SASAKI thiết kế và được Bộ Xây dựng thẩm định.
.
Với ‘lệnh miệng’ nói trên, khu tái định cư của người dân đã bị “đánh bật” ra khỏi quy mô 930 ha đã được chính phủ phê duyệt. Điều đó đồng nghĩa với việc ông Lê Thanh Hải tự quyền điều chỉnh cả về quy mô và phạm vi quy hoạch, trái với quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 367/TTg.
.
Và nói như lời than oán của mấy trăm gia đình là nạn nhân trong chuyện quy hoạch bán đảo Thủ Thiêm, chính ông Lê Thanh Hải và phe nhóm chống lưng ông ta ở cấp Trung ương, đã phá vỡ quy hoạch khu đô thị mới Thủ Thiêm ngay từ trong trứng nước.
.
Dư luận đồn đoán ông Trần Đại Quang có liên can trong vụ Vũ ‘nhôm’ mà ‘anh Năm’ Nguyễn Hữu Tín đang đối mặt tố tụng hình sự. Trong những gương mặt đến dự lễ Quốc tang vừa rồi, trên khuôn hình trực tiếp VTV, liệu có sự hiện diện của ai đó đã giúp ‘bố già’ Lê Thanh Hải một tay che trời: ông Ba Dũng, bà Bảy Thư…?

Chiếc giày của chị Dương

Chiếc giày của chị Nguyễn Thùy Dương

21/10/2018


Chân dung chị Thuỳ Dương tại một buổi tiếp xúc cử tri tháng 6/2018, người được cho là đã ném giày vào bà Nguyễn Thị Quyết Tâm trong buổi tiếp xúc cử tri vào sáng ngày 20/10. (Ảnh chụp màn hình trên kênh Youtube Dân Oan Việt Nam)
Chân dung chị Thuỳ Dương tại một buổi tiếp xúc cử tri tháng 6/2018, người được cho là đã ném giày vào bà Nguyễn Thị Quyết Tâm trong buổi tiếp xúc cử tri vào sáng ngày 20/10. (Ảnh chụp màn hình trên kênh Youtube Dân Oan Việt Nam)

Chị Nguyễn Thùy Dương 28 tuổi, ngụ tại Q.2 vừa có một hành động vượt qua mọi suy nghĩ của người dân cả nước. Chị ném chiếc giày của mình đang mang vào bà Nguyễn Thị Quyết Tâm vào sáng ngày 20 tháng 10 trong một cuộc họp của thành phố với người dân oan Thủ Thiêm, khi bà Tâm trên bục giảng thuyết, cố gắng xoa dịu người dân oan trong giải pháp đền bù cho họ bằng việc tiếp tục hứa hẹn những điều mà họ đã nghe không biết bao nhiêu lần từ hơn hai mươi năm qua.

Chiếc giày của chị Dương không trúng bà Tâm nhưng lại trúng vào tâm điểm của cả guồng máy chính trị mang tên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mặc dù đây không phải là lần đầu tiên người dân ném giày dép vào lãnh đạo, nhưng có lẽ đây là lần đầu tiên chiếc giày của chị Dương được chú ý nhiều đến thế. Chiếc giày như một thứ vũ khí của người dân đen, nó đơn sơ như thời kỳ Đảng Cộng sản vận động người dân dùng tầm vông vạt nhọn để chiến thắng quân thù. Chiếc giày tuy không nhọn và làm nguy hiểm tính mạng như tầm vông nhưng nó lại mang hình ảnh của những gì tệ hại nhất, mọi thứ nhơ bẩn đều nằm dưới gót của nó, vì vậy, nó mặc nhiên được xem là thứ vũ khí cần thiết khi người ta muốn hạ bệ một hình tượng, một chủ thuyết hay ngay cả một chế độ. Chiếc giày là hình ảnh gây ấn tượng khi nó được ném vào ai đó. Ở đây chị Thùy Dương ném vào bà Quyết Tâm, người phụ nữ quyền lực nhất thành phố. Bà Tâm được người dân xác định là không thuộc phe nước mắt bởi bà không biết khóc, vụ Nhà hát Giao hưởng là ví dụ mới nhất sau một loạt tuyên bố đầy tai tiếng của bà.

Nhưng chiếc giày của chị Dương không chỉ nhắm vào bà Quyết Tâm. Nó nhắm vào cả hệ thống quyền lực của Việt Nam. Thông điệp của nó là bọn dân cùng khổ của chúng tôi không còn sợ hãi guồng máy này nữa. Chiếc giày là tiếng nói chính thức không những của dân oan Thủ Thiêm mà là dân oan khắp nước. Những người sống không ra sống, chết không ra chết, đang vật vã trong những công viên, khu phố ngập ngụa sình lầy, dưới gầm cầu, trong nhà lồng chợ…..những con người ấy đã và đang kêu gào khản cổ nhưng không một ai trong guồng máy trả lời cho họ. Thủ Thiêm hai mươi năm. Đồng Nai hai mươi sáu năm, Long An, Bà Rịa, Văn Giang, Dương Nội, Nam Định….không biết bao nhiêu năm nữa. Chất chứa lâu và dày như thế liệu một chiếc giày có làm cho hệ thống này tỉnh giấc hay không?

Nếu chính quyền không tỉnh thì người dân sẽ tỉnh.

Bởi họ sống quá lâu trong sợ hãi. Người dân không thể tưởng tượng ra được vào một ngày nào đó trong một buổi họp quan trọng, trong một công sở nguy nga lại có một phụ nữ 28 tuổi cũng cùng khổ như mình dám ném chiếc giày vào lãnh đạo thành phố. Người phụ nữ ấy là ai mà bạo gan như thế? Đơn giản lắm, cô chẳng phải là anh thư nữ kiệt gì, cô chỉ là một người dân oan Thủ Thiêm mất đất, bị chính quyền lừa lọc quá lâu, quá nhiều lần. Sự nóng giận nhiều ngày đã biến thành phẫn nộ và từ đó chiếc giày được phóng ra bằng sức mạnh của sự oan ức, lầm than trong bao nhiêu năm tích tụ.

Chính quyền thành phố lần này tỏ ra khôn ngoan hơn khi không bắt giam chị như những lần khác, bởi họ biết bắt người dân oan Thủ Thiêm lúc này sẽ không khác nào đẩy sự cuồng nộ trở thành bão tố.

Chiếc giày của chị Dương làm người dân bình thường chợt tỉnh sau hơn bốn mươi năm sợ hãi chỉ biết cặm cụi mưu sinh và âm thầm tuân theo quy luật do người Cộng sản đưa ra, bất kể quy luật ấy bất công đến thế nào chăng nữa.

Nhiều năm qua, người dân đã biết chống lại công an giao thông khi bị bắt xe xử phạt những lỗi mà họ không vi phạm. Người dân đã biết bất tuân dân sự khi những BOT được dựng lên cốt để thu tiền một cách bất công nhưng ra vẻ hợp pháp. Người dân đã biết biểu tình chống ô nhiễm môi trường bất kể những hậu quả tàn độc mà họ phải nhận. Người dân cũng đã biết họ có quyền từ chối một tờ giấy triệu tập bất hợp pháp của công an cũng như không chấp nhận mở cửa cho an ninh khám nhà khi không có trát tòa. Họ đã biết dạy dỗ công an khi bị canh giữ tại nhà cũng như tố cáo hành vi bất hợp pháp của lực lượng an ninh bằng cách livestream công khai trên mạng xã hội.

Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm (áo vàng) tiếp đón Tổng thống Mỹ Barack Obama nhân chuyến thăm của ông tới Việt Nam vào tháng 5/2016. Ảnh: AP Photo/Carolyn Kaster
Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm (áo vàng) tiếp đón Tổng thống Mỹ Barack Obama nhân chuyến thăm của ông tới Việt Nam vào tháng 5/2016. Ảnh: AP Photo/Carolyn Kaster

Những cái biết ấy tuần tự xảy ra, nay họ biết thêm một điều nữa: người dân có thể ném giày dép vào lãnh đạo, giữa đám đông và giữa ban ngày.

Chiếc giày của chị Dương được ném đi bằng sức đẩy của bất công và bạo lực từ chính quyền thành phố. Bất công khi lấy đất của dân mà tiền bồi thường như của bố thí. Bạo lực khi cưỡng chiếm hàng ngàn căn nhà và đẩy người dân vào đường cùng của đêm tối. Chiếc giày của chị Dương không làm ai bị thương dù có bị ném trúng, nhưng chiếc giày có khả năng sát thương cả một chế độ khi chế độ ấy tiếp tục con đường bắt người dân hy sinh cho đảng trường tồn.

Chiếc giày của chị Dương rồi đây sẽ được người dân nhớ tới trong các cuộc trà dư tửu hậu. Bên gánh hàng rong, trong những quán cà phê chật chội cáu bẩn, hay trên những bàn nhậu vỉa hè. Người dân thấp cổ bé miệng tự dưng cảm thấy lớn lên bởi họ phát hiện rằng những người Cộng sản cũng là con người như họ, cũng biết sợ hãi và đầy rẫy hèn mọn, nhất là khi bị dân chúng nổi lên chống lại.

Đối với người trí thức, chiếc giày của chị Dương làm họ bứt rứt, bất an. Mặc cảm trước một người đàn bà 28 tuổi làm cho họ nhỏ bé và tổn thương. Nhỏ bé vì bất lực, tổn thương vì tự ái. Và biết đâu chiếc giày của chị Dương sẽ khiến họ bừng tỉnh và bước ra khỏi căn chòi “cầu an” mà họ tự nhốt mình bao năm nay một cách tự giác và đầy những bao biện.

Cướp

Cướp của nhà thơ Nguyễn Duy đang nóng hổi trên mạng :

Con ơi nhớ lấy câu này

 cướp đêm là giặc cướp ngày là quan

(ca dao xưa)

Cướp xưa băng nhóm làng nhàng

Cướp nay có đảng có đoàn hẳn hoi,

Có con dấu đóng đỏ tươi

Có còng có súng dùi cui nhà tù.

Cướp xưa lén lút tù mù,

Cướp nay gióng trống phất cờ phóng loa.

Con trời bay lả bay la

Cướp trên bàn giấy cướp ra cánh đồng.

Dân oan tuôn lệ ròng ròng

Mất nhà mất đất nát lòng miền quê…

**

Ai qua thành phố Bác Hồ

Mà coi cướp đất bên bờ Thủ Thiêm

Bây giờ mẹ phải dặn thêm

Quan tham là cướp cả đêm lẫn ngày”.

 

Những tội ác được thần thánh hóa

Những tội ác được thần thánh hóa

BVN 7/10

nhà văn đại tá Phạm Đình Trọng

1. Ngôi mộ nhỏ góc vườn quê của nhà vua hiển hách và nấm mồ đất giữa rừng vắng của vị tướng lẫm liệt

Ngô Quyền dựng cọc Bạch Đằng đánh tan quân Nam Hán năm 938 chấm dứt gần ngàn năm ách nô lệ phương Bắc đè lên thân phận người Việt, trói vào số phận nước Việt. Chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938 đã dựng lên nền độc lập bền vững cho nhà nước Nam Việt. Ngô Quyền trị vì trên ngôi Vua tuy ngắn ngủi, chỉ có 6 năm nhưng nhà Ngô đã mở ra những triều đại huy hoàng Lý, Trần, Lê, Nguyễn, mỗi triều đại kéo dài hàng trăm năm. Từ đó, cương vực lãnh thổ nước Việt từ Châu Hoan, Châu Ái, từ lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Chu được mở rộng trải dài từ Hà Giang tới Hà Tiên, ra tận Phú Quốc, Thổ Chu về phía Nam và Hoàng Sa, Trường Sa về phía Đông. Vì vậy sử sách Việt Nam gọi Ngô Quyền là “Vua đứng đầu các Vua” của người Việt.

Ngô Quyền có công với dân với nước Việt lớn như vậy, có vị trí vẻ vang trong trang sử Việt oanh liệt như vậy nhưng khi làm xong sứ mệnh lịch sử lớn lao, khi thanh thản từ giã cuộc đời, vị Vua đứng đầu các Vua Việt Nam lại về yên nghỉ dưới nấm mồ bình dị trong mảnh vườn nhỏ của ông cha trên vùng đất trung du lúp xúp gò đồi xứ Đoài quê nhà. Không chiếm một mẩu đất sống của dân của nước, không xây lăng tẩm bề thế, không bia mộ tầng tầng lớp lớp.

Sau này dân làng Đường Lâm xứ Đoài quê Vua mới góp công, góp của lấp đền thờ vị Vua đứng đầu các Vua ngay trên nền ngôi nhà Vua sinh ra. Ngôi đền nhỏ bé, khiêm nhường hơn rất nhiều so với những tòa nhà lầu của người nông dân bình thường hôm nay. Không tượng đồng bia đá, không lộng lẫy vàng son, vật quí giá nhất trong đền thờ Ngô Quyền là cọc nhọn Bạch Đằng đã đâm thủng thuyền giặc Nam Hán từ hơn ngàn năm trước, đã đâm gục nền Bắc thuộc kéo dài gần ngàn năm.

Phía trước đền, cách vài trăm mét trên sườn dốc gò đồi là ngôi mộ Vua Ngô Quyền, bé nhỏ, đơn sơ, dung dị như một ngôi miếu dân dã cũng do dân làng quê Vua lập. Đền thờ Vua liền kề ngõ xóm nhà dân. Mái ngói đền Vua còn thấp hơn mái bằng tòa nhà lầu của người nông dân trong xóm. Mộ Vua kế bên vườn rau, vạt ngô, ruộng lúa của dân. Diện tích cả đền và mộ vị Vua đứng đầu các Vua của người Việt chỉ xấp xỉ một sào Bắc Bộ, ba trăm sáu mươi mét vuông. Ba trăm sáu mươi mét vuông của mái ngói nền nã màu đất trung du, của sân gạch Bát Tràng rêu phong, của đoạn đường lát đá ong vô cùng thân thuộc với đời sống hàng ngày của người dân. Ba trăm sáu mươi mét vuông của màu xanh cỏ cây hòa trong màu xanh mênh mang vô tận của làng quê Việt Nam. Không có gì khác biệt, không có gì ngăn cách với cảnh sắc, với không gian làng quê Việt Nam.

Không tốn một xu tiền thuế của dân cho việc trông coi đền nhưng suốt hơn ngàn năm qua hương khói không ngày nào tắt trong đền Vua, trước mộ Vua. Suốt hơn ngàn năm qua hồn thiêng Ngô Quyền, khí phách Ngô Quyền vẫn luôn hiện hữu giữa làng quê trung du yên ả.

Chấm dứt kiếp nô lệ cho dân, kết thúc ngàn năm Bắc thuộc cho nước, để lại cho nước trang sử vàng độc lập, lập lên triều đại phong kiến nhà Ngô rồi vua Ngô Quyền thanh thản trở về gửi xác trong mảnh vườn đồi bình dị quê nhà và gửi hồn trong màu xanh cỏ cây đất nước.

Không phải chỉ có một ông vua phong kiến Ngô Quyền biết kết thúc cuộc đời của bậc đế vương như một dân thường. Chỉ số chính xác nhất, rõ rệt nhất, ứng nghiệm nhất về sự thịnh suy của một triều đại chính là chỉ số về sự gần dân của bậc cai trị. Bậc cai trị nào cũng từ dân mà ra. Có chức quyền thì thành bậc cai trị nắm vận nước, lo phận dân. Khi sống chăm lo sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc, dân giầu nước mạnh. Cuộc đời gần gũi thân thiết với từng số phận người dân. Khi chết, chức quyền giao lại cho người khác, lại về làm dân, kết thúc đời người lặng lẽ, bình dị như mọi người dân. Những bậc cai trị đó đã tạo ra những thời huy hoàng của đất nước, triều thịnh, nước mạnh, dân an vui.

Trong lịch sử Việt Nam từ thời Hùng Vương đến hôm nay chưa có vị tướng cầm quân nào có chiến công lừng lẫy như Trần Hưng Đạo. Đạo quân Nguyên Mông hùng mạnh đã chinh phạt, khuất phục cả dải lục địa từ Á sang Âu. Suốt 30 năm 1258 – 1288, ba lần Nguyên Mông cất quân đông tướng tài tràn vào đánh Đại Viêt. Ba lần Trần Hưng Đạo thống lĩnh ba quân nhà Trần đánh giặc Nguyên Mông tan tác, giữ vững nền độc lập của Đại Việt. Vị tướng lẫm liệt, kiệt xuất để lại công lớn cho dân cho nước, viết lên trang sử Việt chói lọi như vậy, khi chết cũng chỉ có nấm mồ nhỏ âm thầm trong cánh rừng làng Vạn Kiếp, bên dòng sông Bạch Đằng lịch sử nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Ngược lại kẻ cai trị khi sống đã xa dân vời vợi bằng cuộc sống ăn tàn phá hại, cuộc sống giàu sang có được trên sự kiệt quệ của nước, trên sự khốn cùng của dân. Khi sống, bòn rút của nước, cướp bóc của dân. Cả cái chết vẫn còn làm hại nước khi chiếm đất sống của dân xây mả lớn, đền to ở một cõi riêng, tạo ra cả một không gian thần thánh cho cái chết của kẻ cai trị đầy tội ác với dân với nước.

2. Lăng mộ hoành tráng của ông cò cảnh sát cộng sản

Cách hôm nay hơn ngàn năm, thời Ngô Quyền, xã hội Việt Nam còn là thời phong kiến sơ khai. Nhà nước cộng sản ngày nay thực chất cũng chỉ là nhà nước phong kiến, chỉ khác là: nhà nước cộng sản không những học đòi tất cả những cái xấu xa, tệ hại của nhà nước phong kiến mà cái tệ hại phong kiến còn được cô đặc, nâng lên rất cao. Còn những nề nếp tốt đẹp của phong kiến thì người cộng sản không thể học được. Tuy có học hàm học vị cao chót vót, giáo sư, tiến sĩ nhưng văn hóa thực sự chỉ là văn hóa bổ túc công nông, đại học chuyên tu, đại học tại chức, nền tảng văn hóa đó không thể thấy và không thể học những giá trị, những khuôn mẫu tốt đẹp của xã hội phong kiến, những người cộng sản cầm quyền mở miệng ra là lên án xã hội phong kiến thối nát, bất công, nguyền rủa giai cấp phong kiến tội lỗi và những người cộng sản luôn vỗ ngực tự nhận là đảng cộng sản của họ không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân.

Trả lời cho tuyên truyền lừa bịp cộng sản không có gì xác đáng, thuyết phục hơn là hiện thực cuộc sống. Từ cuộc đời hiển hách công trạng để lại cho dân cho nước và cõi trở về trong lòng dân của ông vua phong kiến Ngô Quyền, của vị tướng phong kiến Trần Hưng Đạo đối chiếu với cuộc đời mang nặng nợ máu với dân, cuộc đời chiếm đoạt quá nhiều của dân và cõi trở về ngàn trùng xa cách với dân của ông cộng sản vừa lìa đời, ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang, để thấy sự giả dối ghê tởm của tuyên truyền cộng sản và bản chất phản dân hại nước của người cộng sản.

Chưa cần xét đến mức độ kệch cỡm về thẩm mĩ, sự vung phí nguồn lực của đất nước, sự lạc lõng với thời đại của lăng mộ lạnh toát màu đá và ngạo nghễ đúng thói kiêu ngạo cộng sản, sừng sững trên cả trăm ngàn mét vuông đất kim cương giữa kinh kì của ông Vua cộng sản số một Hồ Chí Minh. Chỉ riêng tiền bảo quản xác ướp ông Hồ mà dân gian gọi là ông Minh Râu và duy trì hoạt động của cả một Bộ tư lệnh Lăng, mỗi tháng đã ngốn hàng trăm tỉ tiền thuế của dân. Chỉ lăng mộ của một ông cò cảnh sát cộng sản chiếm hơn sáu mươi ngàn mét vuông đất bờ xôi ruộng mật của người nông dân đồng bằng Bắc Bộ ngàn đời đói đất cũng thấy sự giả dối, nhẫn tâm và bất lương cộng sản.

Tuy có hai năm cuối đởi ông cò cảnh sát leo lên đến tột đỉnh quyền lực, Chủ tịch nhà nước cộng sản, nhưng quãng đời hai năm ngắn ngủi đó ông Chủ tịch nhà nước cộng sản đã dành phần lớn thời gian cho những đợt nằm chữa bệnh trong bệnh viện và những chuyến đi tìm kiếm sự cứu rỗi nơi cửa Phật. Sáu lần nằm bệnh viện tận bên Nhật Bản, mỗi lần kéo dài cả tháng. Những lần vào điều trị bệnh viện trong nước còn nhiều hơn. Rồi thời gian tìm đến cửa Phật trong nước, ngoài nước. Đến tận thủ đô Phật giáo thế giới ở Gaya, bang Bihar, heo hút Tây Bắc Ấn Độ, nơi Đức Phật sống những ngày cuối cùng của kiếp người hữu hạn, nơi bắt đầu cuộc sống vĩnh hằng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Tìm đến để gục đầu vào bức tường đá ngôi đền Mahabodhi, nơi Phật đi vào bất tử, mong Đức Phật đoái thương. Vì vậy dù có hai năm danh nghĩa là Chủ tịch nhà nước cộng sản nhưng cuộc đời thật sự của ông cộng sản Trần Đại Quang là cuộc đời ông cò cảnh sát cộng sản. Và hơn sáu mươi ngàn mét vuông đất ruộng màu mỡ của dân cho năng suất lúa cao đã về tay ông từ thời ông còn làm cò cảnh sát.

Ngàn đời đói đất, với người nông dân đồng bằng Bắc Bộ đất là vàng ròng, được tính từng tấc, từng li chứ không thể hào phóng, xa xỉ tính bằng thước, bằng mét và câu cửa miệng của người dân mang nỗi đói đất truyền kiếp là: bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu. Không có đất cày cấy, bố ông cò cảnh sát cộng sản phải mưa nắng lặn sông, lội đầm đơm đó, đánh dậm kiếm con cua con cá, mẹ ông phải buôn thúng bán bưng, đòn gánh đè xuống vai, gánh vã nải chuối, thúng khoai, sản phẩm của đất quê đi chợ xa chợ gần. Vậy mà ngay từ khi còn sống, biết rõ nỗi nghèo khó vì thiếu đất sống của người dân Kim Sơn, Ninh Bình quê ông, ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang cũng nỡ chiếm 6,2 hecta, sáu mươi hai ngàn mét vuông đất ruộng màu mỡ, đất sống của người nông dân đói đất quê ông làm đất chết cho ông, làm khu lăng mộ kì vĩ cho ông về với tổ tiên của ông.

Thời nhà Nguyễn, dân số cả nước ta chỉ có mười triệu người. Đất rộng, người thưa, các Vua nhà Nguyễn thời phong kiến xấu xa, tồi tệ nhưng khi xây lăng mộ cho Vua còn biết nghĩ đến dân, dành đất sống cho dân. Ngày nay, nhà nước cộng sản Việt Nam đã cắt mười lăm ngàn cây số vuông đất biên giới phía Bắc, bằng diện tích tỉnh Thái Bình, dâng cho Tàu Cộng. Rồi những vùng đất rộng lớn đã trở thành đất sang nhượng cho Tàu Cộng như đất bô xít Tây Nguyên, đất Formosa Vũng Áng, Hà Tĩnh. Những vùng đất đã trở thành đất chết như đất phủ bùn đỏ ở Tân Rai, Lâm Đồng, đất bụi than Vĩnh Tân, Bình Thuận. Diện tích đất sống đang mất đi, đang co lại ngày càng lớn. Trong khi dân số cứ phình ra, đến nay dân số nước ta đã lên tới gần trăm triệu người. Dân số tăng gấp hơn chín lần so với thời triều Nguyễn. Đất sống của người dân vô cùng ít ỏi. Vậy mà một ông cộng sản từ khi chỉ là ông cò cảnh sát đã chiếm sáu mươi hai ngàn mét vuông đất màu của người nông dân đói đất quê ông làm lăng mộ cho mình.

Khu lăng mộ Vua Khải Định nhà Nguyễn trên núi giữa thiên nhiên hoang sơ cũng chỉ rộng 5.674 mét vuông. Lăng mộ của ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang chiếm 62 000, sáu mươi hai ngàn mét vuông ruộng lúa của dân, rộng gấp 11 lần lăng Khải Định.

Thuê thầy địa lí vạch kênh tạo dòng chảy, tạo long mạch. Khoanh hồ hứng nước mưa tụ lộc trời. Chỉ riêng việc đào kênh, kè bờ, vét ao, trồng cây cổ thụ, tạo cảnh quan phong thủy cho khu lăng mộ và làm con đường nhựa thênh thang dẫn đến lăng của ông cò cảnh sát cộng sản đã phải đổ ra cả núi tiền, phải tính tới hàng trăm, hàng ngàn tỉ đồng. Nhìn núi tiền đổ ra dựng lên lăng mả ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang lại phải nhớ đến lời khai của ông quan tham nhũng Dương Chí Dũng đã phải chi ra cả triệu đô la tìm kiếm sự che chở của những ông tướng cảnh sát điều tra vụ án Dương Chí Dũng. Lại phải nhớ đến tên tội phạm Phan Văn Anh Vũ núp danh nghĩa công an đã chiếm đoạt của nhà nước hàng ngàn tỉ đồng và bóng dáng tên tội phạm Anh Vũ luôn thấp thoáng, cặp kè phía sau ông cò cảnh sát Trần Đại Quang.

Hàng ngàn tỉ tiền đổ ra cho lăng mộ ông cò cảnh sát cộng sản trong khi người dân nghèo chỉ mắc bệnh thông thường, dễ chữa như lao phổi. Ngày nay được chữa kịp thời bệnh lao cũng chỉ như bệnh cảm cúm. Biết là bệnh lao nhưng không có tiền mua thuốc, không có tiền viện phí không dám vào bệnh viện. Đến lúc hấp hối đành đánh liều vào bệnh viện thì đã quá muộn vì lá phổi đã bị vi trùng lao khoét ruỗng rồi, không còn thuốc nào cứu được nữa. Chết rồi, không có tiền thuê ô tô đưa xác người chết từ bệnh viện về nhà, người thân đành bó xác chết trong mảnh chiếu rách, buộc xác chết sau xe máy. Manh chiếu hẹp, hai chân xác chết người nghèo thòi ra ngoài chiếu cứ lắt lẻo trên suốt chặng đường dài như đôi chân đó đang cuống cuồng chạy trốn số phận người dân đen trong nhà nước cộng sản.

Nhà nước cộng sản mua sự trung thành của khẩu súng, của sức mạnh bạo lực bằng ân sủng, bằng biệt đãi, bằng lon tướng ban phát tràn lan cho công an. Thời lạm phát tướng công an thì ông tướng Trần Đại Quang cũng chỉ sàn sàn cá mè một lứa giữa hàng trăm ông tướng công an khác. Vụ nhà nước Dega nổ ra, người dân Ê Đê, Ba Na, Gia Rai Tây Nguyên nổi dậy đòi quyền sống, đòi quyền làm chủ núi rừng ngàn đời của họ là dịp để ông tướng công an Trần Đại Quang lấy máu người dân Ê Đê, Ba Na ghi công với nhà nước cộng sản và bộc lộ lòng trung thành với đảng cộng sản của ông.

Cả cuộc đời làm cò cảnh sát, làm công cụ bạo lực của nhà nước chuyên chính vô sản, ông cò cảnh sát Trần Đại Quang đã có công rất lớn với nhà nước cộng sản trong việc duy trì nền độc tài cộng sản nhưng lại có tội rất lớn với dân, tước đoạt những giá trị làm người của người dân, trói buộc kìm hãm người dân trong tăm tối nô lệ cộng sản mà nô lệ cộng sản còn độc ác, man rợ hơn cả nô lệ Bắc thuộc và nô lệ Pháp thuộc. Máu dân và thân phận nô lệ của người dân đã đưa ông cò cảnh sát Trần Đại Quang lên tới chức bộ trưởng Bộ Công an và lên tới hàm Đại tướng. Thời ông cò cảnh sát Trần Đại Quang là Bộ trưởng Bộ Công an đã mở ra thời kiêu binh của công an. Công an lạm quyền. Bạo lực công an tràn lan. Hàng trăm người dân lương thiện bị công an đánh chết diễn ra khắp nơi, trên đường phố bình yên, giữa làng quê thanh bình, trong trụ sở công an, trong trại tạm giam. Dân oan bị quan tham cướp đất biểu tình ôn hòa đòi đất, người dân yêu nước biểu tình hợp pháp phản đối giặc Tàu Cộng xâm lược biển đảo đều bị công an vu cho người biểu tình tội gây rối trật tự công cộng, bị đàn áp dã man, bị bắt giam phi pháp. Phụ nữ bị đánh chan hòa máu mặt ngay trên đường phố. Đàn ông bị đánh chấn thương sọ não trong nhà giam.

Tồn tại bằng công cụ bạo lực nhà nước, nhà nước cộng sản dung túng bao che cho những tội ác tày trời mà đám quân của ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang đã gây nợ máu với dân và những tội ác đó đã đưa ông cò cảnh sát Trần Đại Quang lên tới vị trí người đứng đầu nhà nước cộng sản. Tội ác của ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang đã gây ra cho dân đã được nhà nước cộng sản dung túng bao che nhưng nhân dân dù bao dung vẫn đòi hỏi công bằng. Còn lịch sử luôn sòng phẳng và nghiêm khắc sẽ phán xét đảng cộng sản Việt Nam cùng những lãnh đạo hàng đầu của đảng trong đó có ông cò cảnh sát Trần Đại Quang tội chống lại nhân dân, chống lại dòng chảy tiến hóa của lịch sử, tội giam cầm, tù đày nhân dân trong nô lệ cộng sản.

Tượng đồng, tượng đá của Lênin, ông trùm cộng sản thế giới đang bị giật đổ, đập nát ở khắp nơi trên những đất nước đã phải trải qua những năm dài tăm tối cộng sản. Ông cò cảnh sát Trần Đại Quang chồng chất nợ tự do, nợ máu với dân, một tội đồ của lịch sử Việt Nam thì lăng mộ hoành tráng của một tội ác như vậy sẽ tồn tại được bao lâu?

3. Thần thánh hóa tội ác

Triều đại nào đến hồi suy vi cũng nảy nòi ra nhiều trò hại dân, hại nước. Chỉ đến triều nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng mới có lệ dồn của cải tài nguyên của nước, vắt mồ hôi nước mắt của dân xây lăng tẩm cho Vua. Dồn dập, hối hả xây lăng tẩm nhưng bảy lăng tẩm bề thế, trùng trùng lớp lớp đền đài của các Vua nhà Nguyễn cũng không chiếm một tấc đất ruộng của dân. Không để dân mất đất sống, các Vua nhà Nguyễn đều chọn những triền núi hoang, không có vườn ruộng của dân, xây lăng mộ.

Là lăng tẩm Vua nhà Nguyễn nhưng không thấy nhà mồ, chỉ thấy những đền đài mang vẻ đẹp của kiến trúc Phật giáo Việt Nam, mang thẩm mĩ tinh tế và tài hoa sáng tạo của dân gian Việt Nam đã tạo ra công trình hài hòa cùng thiên nhiên Việt Nam. Mái ngói rêu phong cổ kính đền đài thấp thoáng trong màu xanh thiên nhiên, như là một phần tư nhiên của thiên nhiên vĩnh hằng. Không gian trầm tư của lăng tẩm sâu hút trong tiếng rì rầm bất tận của rừng cây. Vẻ đẹp kiến trúc lăng tẩm của các Vua triều Nguyễn tô điểm thêm vẻ đẹp mĩ lệ, huyền ảo cho thiên nhiên đất nước đã trở thành công trình nghệ thuật của muôn đời, trở thành tài sản văn hóa của nhân dân. Đó là sự đền bù cho tài nguyên của nước, cho công sức của dân đã đổ ra để có lăng tẩm các vua nhà Nguyễn.

Thời cộng sản, lăng mộ Hồ Chí Minh, một nhà mồ đơn độc khổng lồ ngạo nghễ giữa không gian mênh mông kinh kì đã nghĩa trang hóa, tha ma hóa cả kinh đô ngàn năm văn hiến. Trần trụi, bê tông hóa cả vùng đất bảng lảng sương khói huyền thoại với chùa Một Cột nhỏ nhắn như một đóa sen, với núi Nùng chỉ là gò đất giữa ngàn xanh bách thảo nhưng lãng đãng hơi sương Hồ Tây như thực, như ảo. Nhà mồ Hồ Chí Minh xám xịt, lạnh ngắt màu đá lạc lõng giữa sắc màu đô thị, lạc lõng giữa thời đại liên tiếp những cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đưa con người tới nền văn minh tin học, giải phóng con người khỏi những thế lực thần quyền, con người đã trở thành những siêu nhân làm chủ cả vũ trụ. Lăng Hồ Chí Minh làm sống lại thế lực thần quyền, thần thánh hóa một thế lực chính trị phàm tục, đẫm máu dân và đã hết vai trò lịch sử. Lăng Hồ Chí Minh đưa Hồ Chí Minh lên thành vị thánh của cả nước, dìm cả một dân tộc đau thương thành thần dân của một thế lực thần quyền, thành nô lệ của một ông thánh do tuyên truyền cộng sản thêu dệt lên.

Cũng như lăng mả Hồ Chí Minh, lăng mả Trần Đại Quang cùng lăng mả, nhà bảo tàng, nhà tưởng niệm những nhân vật cộng sản hàng đầu khác như Trần Phú, Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh… đều nhằm thần thánh hóa con người cộng sản và tổ chức cộng sản đã gây quá nhiều đau khổ cho dân, đã gây quá nhiều mất mát, nguy hại cho nước. Lăng mộ Hồ Chí Minh đưa Hồ Chí Minh lên hàng thánh của cả nước thì lăng mộ Trần Đại Quang sẽ đưa ông cò cảnh sát Trần Đại Quang hai tay ròng ròng máu dân lên hàng thánh của một vùng quê đồng bằng Bắc Bộ. Rồi lăng mộ Đỗ Mười, lăng mộ Nguyễn Đức Bình và lăng mộ nhiều ông thủ lĩnh cộng sản kế tiếp sẽ đưa các ông đó lên hàng thánh ở vùng quê các ông. Từ nay, bầu trời tâm linh của người dân Việt Nam chỉ có các ông thánh cộng sản và đất sống của người dân Việt Nam trở thành đất sa mạc chết với trùng điệp, san sát, hiu hắt những lăng mộ cộng sản.

Lí tưởng sống của người cộng sản được tô vẽ vô cùng cao đẹp: Người cộng sản không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân! Nhưng con người cộng sản trong cuộc đời thực từ lúc sống đến cả cái chết lại vô cùng thấp hèn. Những người cộng sản đã lấy máu của hàng chục triệu người dân Việt Nam, đã dìm cả dân tộc Việt Nam vào cuộc chém giết suốt gần nửa thế kỉ để làm cuộc cách mạng trừ phong phản đế, diệt trừ phong kiến, đánh đuổi đế quốc giành chính quyền cho người cộng sản. Khi có chính quyền trong tay, những người cộng sản đã thiết lập một nhà nước vừa là thế quyền độc ác, tàn bạo hơn cả chính quyền đế quốc xâm lược, vừa là thần quyền mê muội, tăm tối, ngột ngạt hơn cả thời phong kiến cổ hủ. Cuộc đời và lăng mộ những người lãnh đạo cộng sản đã chứng minh và ghi nhận về một thời bất hạnh của giống nòi Việt Nam và một thời đen tối của lịch sử Việt Nam, thời cộng sản.

P.Đ.T.

Tác giả gửi BVN. Chúng tôi tôn trọng quan điểm và phong cách riêng của người viết.

BÁC ĐỖ MƯỜI

Lao Ta (nhà văn, BTV Nhà xuất bản Hội nhà văn)

BÁC ĐỖ MƯỜI

Tôi gọi bằng bác, vì ông hơn bố tôi gần mười tuổi. Ông lại là rể quê tôi. Vợ chính thất của ông, bà Tạ Thị Thanh, cùng họ, ở xã bên. Có ông con rể to cỡ bác Đỗ Mười đâu phải cứ muốn là được!

Khi bác Đỗ Mười làm quan lớn tỉnh Hà Đông rồi sau đó là Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình… thì bố tôi mới/vẫn chỉ phọt phẹt quan xã. Nhưng sự cuồng tín chủ nghĩa cộng sản thì bố tôi ăn đứt bác. Tôi không nói vô căn cứ. Nếu bảo bác Đỗ Mười chứng minh lòng trung thành với Đảng bằng việc đòm chết thằng con, chắc chắn bác không làm. Nhưng nếu cấp trên có ý định thử bố tôi như vậy, thì tôi sẽ phải tìm cách trốn lên rừng thật nhanh! (Giờ nghĩ lại, may mà cụ khốt mình chỉ làm đến bí thư xã, rồi bị đuổi ra khỏi đảng khi mới ngoài bốn mươi tuổi, về vườn sớm, chứ vớ vẩn cụ mà leo lên đến chức đầu triều như bác Đỗ Mười thì không khéo đất nước còn tan hoang hơn). Suốt thời bé, bố hay kể cho chúng tôi nghe về giai thoại bác Đỗ Mười đóng giả dân thường để “thử” một số cán bộ Nhà nước như công an, mậu dịch viên, bác sỹ bệnh viện… Chẳng hạn như mấy chuyện sau đây.


1- Lần ấy, b
ác Đỗ Mười (trong vai nông dân) vào cửa hàng ăn mậu dịch, khi bác rình thấy một anh công an đẹp trai cũng vào ăn. Cả bác và anh công an đều gọi phở thịt lợn (thời ấy gọi là phở có người lái). Lát sau cô mậu dịch viên bưng ra hai bát phở, bát nhiều thịt hơn thì đưa cho bác, còn bát kia lèo tèo mấy mụn thịt vụn thì đưa cho anh công an. Thấy vậy bác Đỗ Mười bảo với cô nhân viên là bác không ăn được thịt, muốn đổi cho anh công an. Cô mậu dịch viên bèn gắt ầm lên, bảo bác là vớ vẩn, không ăn thì bỏ thịt đi, không đổi chác gì cả. Nhưng bác Đỗ Mười vẫn tiếp tục kì kèo. Cuối cùng, có thêm ý kiến khách hàng, cô mậu dịch bất đắc dĩ phải đổi. Bấy giờ bác Đỗ Mười mới sục đũa xuống (vì bác biết tỏng) và moi lên những miếng thịt nạc rất ngon được cô mậu dịch viên khéo léo vùi bên dưới để che mắt thiên hạ nhưng không qua được mắt bác Đỗ Mười.


2- Cũng trong vai nông dân, lần này bác Đỗ Mười vào khám cùng với một phụ nữ trẻ, đẹp tại một bệnh viện cấp tỉnh. Thấy gái, anh bác sỹ tít mắt lên. Anh ta bỏ mặc “ông già nông dân” nằm rên hừ hừ, khám rất kĩ cho cô gái trẻ đẹp kia. Bác Đỗ Mười-trong vai nông dân-bèn nêu thắc mắc thì bị anh bác sỹ mắng té tát cho một trận nên thân.


Những chuyện kiểu như vừa kể đều hạ màn giống nhau: đó là ngay sau cuộc cãi vã với ai đó, lập tức có một chiếc xe con –biểu trưng của quyền lực lúc bấy giờ- xuất hiện đón bác Đỗ Mười, khiến cô mậu dịch, anh công an, anh bác sỹ… đều sợ tái xanh tái xám cả mặt mũi. Thật đáng đời! Vì khi họ biết là bác Đỗ Mười đi “vi hành” thì mọi chuyện đã muộn. 


Trừ một lần xuýt gặp hạn về cuốn sách có chút liên quan đến trách nhiệm của bác Đỗ Mười với Hiệp định dầu khí Việt-Xô, tôi không có ấn tượng gì đặc biệt với bác. Trước những lời kết tội bác là hung thần làm tan hoang miền Nam khiến hàng triệu người bỏ đất nước ra đi, hay những lời đồn dai dẳng về “mật ước” Thành Đô khiến Việt Nam quay trở lại lệ thuộc Trung Quốc, thì tôi chỉ biết rõ nhất một điều: Mình không đủ thông tin và trong cả hai sự kiện tai tiếng ấy, bác Đỗ Mười đều là người thực thi nhiệm vụ được giao. (Thời triệt hạ nền kinh tế miền Nam sau năm 1975, bác Đỗ Mười còn “bé tí” so với hàng chục ông lớn khác). Cơ chế ở ta là tập thể lãnh đạo, tập thể đưa ra quyết định. Một khi được giao nhiệm vụ, cỡ như bác Đỗ Mười có muốn thoái thác cũng khó! 


Nhưng tình cảm của bố tôi với bác Đỗ Mười thì đầy tính đảng và vì thế mà vô cùng bi kịch! Bố tôi luôn coi bác Đỗ Mời là thần tượng, là “bậc đàn anh trên con đường cách mạng”-như ông vẫn thường trang nghiêm bảo thế. Với bố tôi, bác Đỗ Mười là người mẫu mực về lòng tận tụy, về sự trong sạch và nghiêm khắc, mặc dù cụ khốt cũng chẳng hề có thông tin gì cụ thể mà chỉ nghe qua tuyên truyền. Bố và tôi cãi nhau khá nhiều, thậm chí có lúc đã gần tới mức bị cụ khốt từ mặt, chỉ vì bác Đỗ Mười. Nhớ nhất lần tôi kể chuyện đoàn cán bộ huyện Chương Mỹ ra chia buồn với bác Đỗ Mười về việc vợ đầu của bác từ trần. Sau khi đoàn vào lễ bái, họ cũng được bác Đỗ Mười tiếp. Nhưng thay vì cảm ơn, bác truy hỏi ông bí thư là huyện có bao nhiêu ngọn núi, cả huyện nuôi bao nhiêu con gà…khiến ông trưởng đoàn viếng tang sợ rúm vó và tất nhiên là…cứng họng! Có lẽ giọng kể của tôi có phần cợt nhả khiến bố tôi tím mặt và gầm lên: “Người ta quan tâm sát sao thế thì tốt hay xấu, hả ?”


Lần khác tôi kể chuyện nghe từ một lãnh đạo Dầu khí, rằng khi sang thăm Hàn Quốc, bác Đỗ Mười được chủ nhà dẫn đi xem một nhà máy đóng tầu thủy rất hiện đại. Bác Đỗ Mười bị choáng ngợp trước những gì hiện ra trước mắt. Bác bèn quay lại bảo với những người trong đoàn, rằng các anh phải làm sao để nước mình cũng được thế kia. Trong đoàn có ông phó thủ tướng, khi nghe vậy bèn ghé tai vị lãnh đạo Dầu khí nói vụng: “Làm gì ông cũng cấm, thì cứ chờ đấy mà bằng người ta”. Tôi chỉ kể lại cho bố những gì nghe được, không hề bịa thêm tí ti. Nhưng bố tôi vẫn giận lắm. Ông bỏ cơm giữa chừng đi nằm, không chịu nổi thần tượng của mình bị giễu cợt, để nửa đêm trở dậy ngồi lẩm bẩm chửi tôi cho đến sáng. 


Về cuối đời, bố tôi khi đó thuộc thành phần rất bất mãn, có một sở thích tai quái là ngày nào cũng ngồi chửi nhau với cái..tivi, vào đúng chương trình thời sự tối. Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng…ông gọi tuốt tuột bằng thằng, đồ ăn hại, đồ toi cơm…Bố tôi, một chiến sỹ cộng sản trung kiên bị đuổi ra khỏi đội ngũ tinh hoa mà chửi thì chua chanh và ác khẩu vào loại nhất thế giới. Một lần bố không chửi như thường lệ, mà cứ hầm hè đầy vẻ ấm ức. Mãi sau, dường như không nín nhịn được nữa, ông hét lên: “Đ.mẹ các ông! Hóa ra tôi bị các ông lừa”. 

Tôi ở trong buồng tò mò ngó nhanh ra ngoài, thì thấy trên màn hình tivi lúc ấy bác Đỗ Mười đang “chém gió” bằng tay trái.

Mây thẻ