"Nói phải củ cải cũng nghe"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Mười Một, 2018

Hãy cảnh giác: tiểu thuyết và điện ảnh Kim Dung- quyền lực mềm rải khắp châu Á

Hãy cảnh giác: tiểu thuyết và điện ảnh Kim Dung- quyền lực mềm rải khắp châu Á

 Phùng Hoài Ngọc

 *

Tối ngày 30/10/2018, cả Trung Hoa Đại Lục và những người mến mộ rung động nghe tin cha đẻ của hàng loạt tác phẩm tiểu thuyết và điện ảnh chuyển thể thành phim quen thuộc nhất Châu Á qua đời.

Truyền thông các vùng lãnh thổ tiếng Hoa bàng hoàng trước tin  Kim Dung qua đời ở tuổi 94. Ông được giới  hâm  mộ đánh giá là “minh chủ võ lâm”, “đại hiệp của các đại hiệp” trong tiểu thuyết và điện ảnh, là người có sức ảnh hưởng trong lĩnh vực văn học Trung Quốc nói riêng và cả châu Á nói chung suốt nửa sau thế kỉ 20 khó quên với một gia tài tác phẩm nghệ thuật khủng. Không ít tờ báo Việt Nam cũng đưa tin và viết  bài ca tụng.

Kim Dung quả là tiểu thuyết gia có tài xuất chúng, người có sức ảnh hưởng trong lĩnh vực văn học Trung Quốc nói riêng và cả châu Á nói chung suốt nửa sau thế kỉ 20 sang đầu  thế  kỷ  21. Đặc biệt với một gia tài tác phẩm chuyển thể thành phim đã từng gây sốt hết lần này đến lần khác, có phim được chuyển thể đến 9 lần như Thần điêu đại hiệp. Đến tận đầu thế kỷ 21 phim chuyển thể KD vẫn tiếp tục hút khách.

Kim Dung được coi là người viết tiểu thuyết võ hiệp thành công nhất các vùng đất Hoa ngữ. Con số 300 triệu bản in (chưa tính một lượng lớn những bản in lậu) đã đến tay độc giả của Trung Hoa đại lục, Hồng Kông, Đài Loan, châu Á và đã được dịch ra các thứ tiếng Việt, Hàn, Nhật, Thái, Anh, Pháp, Indonesia. Tác phẩm của ông này đã được chuyển thể thành phim truyền hình, trò chơi điện tử.

Bỏ Trung cộng  ra đi và Kim Dung thành công

 Kim Dung tên thật là Tra Lương Dung sinh ngày 6 tháng 2 năm 1924 tại tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc trong một gia tộc khoa bảng danh giá. Ông nội là Tra Văn Thanh làm tri huyện Đan Dương ở tỉnh Giang Tô.

Năm 1941, Kim Dung học Luật quốc tế tại Học viện chính trị Trung ương ở Trùng Khánh, bị đuổi học, sau chuyển sang học viện Pháp lý thuộc Đại học Đông Ngô gần đó, học tiếp về luật quốc tế.

Năm 1948, tờ Đại công báo ra phụ bản tại Hồng Kông, ông được cử sang làm việc ở đó.

Cột mốc 1949, nhà nước cộng sản Trung Hoa chiếm lãnh toàn lãnh thổ đaị lục. Và Kim Dung không quay về đại lục nữa, lập nghiệp luôn ở Hongkong, trở thành chủ báo và nhà văn nổi tiếng và ăn khách nhất châu Á (cho đến ngày Bắc Kinh trải thảm đỏ mời ông như thượng khách).

Năm 1950, trong cuộc Cải cách thổ địa do Trung cộng tiến hành ở đại lục, gia đình ông còn ở cố hương bị quy thành phần địa chủ, cha ông bị đấu tố, từ đó ông mất liên lạc với gia đình. 

Ở Hongkong, Kim Dung làm việc tại Thư viện trung ương. Ngoài đọc sách sử học, khoa học, ông còn mê đọc những cuốn võ hiệp phương Tây như Ivanhoe, tiểu thuyết của Walter Scott, Ba người lính ngự lâm, Bá tước Monte Cristo của Alexandre Dumas (cha). Những truyện này đã ảnh hưởng mạnh  mẽ  và  quyết  định đến văn chương của ông trên nền tảng võ hiệp Nguyên, Minh, Thanh xứ sở. Tại đây ông bắt đầu sáng tác truyện võ hiệp.

Thái đ tiền hậu bất nhất của Trung cộng và Hà Nội với Kim Dung

Ban đầu Trung cộng ngăn chặn tác phẩm của Kim Dung không cho lọt vô đại lục.

Truyện Kim Dung tuy không chống Cộng, nhưng họ sợ truyện Kim Dung hấp dẫn hơn văn học “cách mạng”, sẽ khiến tuổi trẻ mê say rồi quay lưng với văn học chính thống. (Hà Nội đương nhiên cũng chặn theo).

Thập kỷ 80 sách KD từ Hongkong rò rỉ vào đại lục, nhà cầm quyền lúc này buông thả cửa, vì họ thấy cũng có thể lợi dụng sự mê muội KD với lớp trẻ. Họ biết văn học “cách mạng” cũng hết hơi và chẳng còn tác dụng với thanh niên rồi.

Trước 1975, tiểu thuyết Kim Dung đăng báo hàng ngày Hongkong, Đài Loan và Sài Gòn.

Hà Nội sau 1975 ban đầu vẫn ngăn chặn dòng chảy KD từ Nam ra Bắc, khi thấy TQ thả giàn thì họ cũng thả theo.

Mấy chục năm ngăn chặn các loại sách ngoài luồng đã chán rồi, vả nay nhà cầm quyền Hà Nội cũng thấy không cần ngăn chặn nữa. Lãnh thổ toàn quốc nắm trọn trong tay, họ chả còn sợ gì nữa. Nói chung, tâm thế và ứng phó của nhà cầm quyền hai nước rất giống nhau. Kẻ trước người sau.

Nhà cầm quyền TQ xả cảng cho truyện và phim võ hiệp KD vào đại lục vì thấy nó có lợi nhiều mặt. Lợi rõ rệt nhất là ru ngủ thanh thiếu niên.

Nhà cầm quyền Bắc Kinh còn ve vãn thỉnh mời KD sang Đại học Bắc Kinh; làm lễ phong tặng “Giáo sư danh dự”, “Tiến sĩ danh dự”. Họ không ngại “nhổ rồi lại liếm” mà quên rằng trước đó họ mở máy cho giới phê bình chửi bới KD mệt nghỉ.

Khi phong trào làm phim chuyển thể KD lên cao, TQ cũng thả cửa cho các hãng phim chạy đua chuyển thể.

Từ phim bộ ăn khách, người Hoa khai thác sang Game-online dựa trên các hình tượng nhân vật nổi tiếng trong phim.

Tháng 2 năm 2006, Kim Dung được độc giả Hoa ngữ bầu là nhà văn được yêu thích nhất Trung Quốc.

Nhà cầm quyền TQ đã nhận thấy sản phẩm KD trở thành một thứ “quyền lực mềm” chiếm lĩnh người dân hâm mộ khắp vùng châu Á nhất là khu vực đồng văn Hán tự. Chẳng những tuổi trẻ đa số mà một lớp ngừơi cao tuổi có học (chưa hẳn trí thức) cũng tìm thấy ở KD một nguồn thư giãn, vô hại để vùi đầu giết thời gian. Nhìn chung có thể nói là căn bệnh “nghiện Kim Dung” dành cho những người ưa thích chủ nghĩa cá nhân.

Truyện Kim Dung tuy xoáy vào ca tụng nhu cầu Tự do cá nhân nhưng quay mặt hoàn toàn với nhu cầu Dân chủ , mà đây mới thực là nhu cầu thời đại.

Sản phẩm truyện và phim võ hiệp KD chỉ có thể là sản phẩm trên một đất nước đa nguyên, tự do như Hongkong thuộc Anh và Đài Loan độc l ập.

Các nhà sách và NXB Việt Nam ào ạt ăn theo, dịch và in, quảng bá rầm rộ.

Các kênh TV nước ta cũng đua nhau mua rẻ bản quyền phim bộ KD chiếu lai rai suốt hàng chục năm qua.

Họ bất kể tác hại âm thầm của loại quyền lực mềm của KD. Họ vốn đã coi thường phim cổ trang lịch sử TQ mà chiếu ròng rã vài chục năm qua thì còn tiếc gì, lo gì phim Kim Dung nữa.

Nhà cầm quyền còn bao nhiêu điều sát sườn phải lo cho sự an toàn  của  quyền lực  thống  trị. Cần chi phải lo cho an toàn văn hóa Việt !

Hình thành cả một phong trào nghiên cứu phê bình Kim Dung ở châu Á, chủ yếu là thưởng thức, tán dương.

Có thể, tiểu thuyết gia Kim Dung cũng nhận ra tác hại của phim chuyển thể. Giá trị văn học nghệ thuật ngôn từ sẽ chẳng thể đọ được với hình ảnh và xảo thuật điện ảnh và dễ bị nó đè bẹp lấn át. Ngôn  ngữ  điện ảnh  dù  ly kỳ  đến  đâu, anh hùng giang hồ tài năng xuất chúng cỡ nào, nhân vật nữ xinh đẹp cuốn hút tới đâu vẫn là nghèo nàn so với ngôn ngữ văn học.

Kim Dung xây dựng nên hàng loạt hình tượng anh hùng giang hồ quân tử, nghĩa hiệp, với những mỹ nhân quyến rũ,  ông được mệnh danh là đại hiệp của các đại hiệp.

Công chúng say mê đắm chìm vào một thế giới trượng nghĩa, độc đáo, đậm bản sắc Hán  tộc và những triết lý nhân sinh trung dung.

Mười bốn tiểu thuyết và 1 truyện ngắn lấy bối cảnh từ thế kỷ 6 đến thế kỷ 19 trên đất nước rộng lớn đầy biến động lịch sử và vô vàn bất trắc (1. Bạch mã khiếu tây phong, 2. Bích huyết kiếm, 3.Hiệp khách hành,4. Liên thành quyết,5.Lộc Đỉnh ký, 6.Phi hồ ngoại truyện, 7.Thiên long bát bộ. 8.Thư kiếm ân cừu lục, 9.Thần điêu hiệp lữ, 10.Tiếu ngạo giang hồ,11.Tuyết Sơn phi hồ, 2.Uyên Ương đao, 13.Việt nữ kiếm (truyện ngắn), 14.Xạ điêu anh hùng truyện, 15.Ỷ thiên Đồ long ký).

Kết: Văn hóa Việt Nam vẫn cần thận trọng với sản phẩm Kim Dung

Việt Nam nằm sát nách Đại Hán cũng như ảnh hưởng về văn hóa – chính trị của họ quá nặng nề lâu dài nên không phải tự nhiên mà các Đài truyền hình trong nước hiện nay ưu tiên phát sóng dày đặc các bộ phim cổ trang (truyền hình nhiều tập) của Trung Quốc.

Bởi chính quyền thân Tàu xứ này họ vẫn ngầm chấp nhận gieo rắc tư tưởng phong kiến vào người Việt Nam và chỉ biết tôn sùng bái lãnh tụ.

Họ không muốn người dân ở “vùng trũng” này mở mang và hiểu về những giá trị Dân Chủ cũng như Tự do Ngôn luận của những nước văn minh phương Tây mà các quốc gia châu Á như Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Thái Lan, Mã Lai… đang áp dụng

Loại phim ru ngủ này thường hay ngụy biện cho sự an phận và hèn nhát khi đề cập đến việc đấu tranh cho Dân chủ cũng như quan tâm về các vấn đề chính trị của đất nước.

Mặt khác, hậu quả của việc xem phim cổ trang Tàu là người Việt sẽ rành Lịch sử Trung Quốc hơn lịch sử nước nhà. Một chất men say văn hóa Hán càng ngày càng tăng nồng độ.

Kim Dung là một chương mới của văn học Trung Hoa miệt mài đề cao dân tộc của họ, với khát vọng bá chủ thế giới.

Về mặt đề cao sĩ diện cá nhân giang hồ, nghệ thuật Kim Dung chẳng những có hại cho chính dân chúng Hoa ngữ, còn có hại cho sự tiến bộ, phát triển của nhân loại. Dĩ nhiên, ở đây, chúng ta không phủ nhận những giá trị tư tưởng nền  tảng của truyện Kim Dung, như: Khát vọng tự do, tính nhân văn, ca ngợi tình yêu chân  chính .vv… Tuy nhiên, tựu trung, nó vẫn tuyên truyền cho văn hóa Hán, mê hoặc dân tộc khác, lệ thuộc vào nó một cách vô hình. Như thế, người Hán vươn tay thống trị từ xa mà không cần viễn chinh cai trị. Các nước láng giềng thì vô hình trung coi mình là chư hầu, thần phục Trung Hoa mà không biết. Văn  tài Kim Dung dẫu  vô  tình  hay cố  ý vô hình trung đã xâm lăng tư tưởng, xâm lăng văn hóa sang nước khác, khiến các dân tộc đó bị nô dịch êm đềm về tư tưởng, văn hóa và thẩm mỹ Trung Hoa, không hề băn khoăn cảnh giác. 

PHN

Ký hiệp định CPTPP: CHÍNH QUYỀN VN SẼ KHÔNG THỂ MÃI GIẤU DIẾM VỀ CÔNG ĐOÀN ĐỘC LẬP

Ký hiệp định CPTPP: CHÍNH QUYỀN VN SẼ KHÔNG THỂ MÃI GIẤU DIẾM VỀ CÔNG ĐOÀN ĐỘC LẬP

VNTB  06 tháng 11

Minh Quân

(VNTB) – suốt 3 năm chính quyền Việt Nam bưng bít thông tin về Công đoàn độc lập đã qua, còn giờ đây, điều gì phải đến đã phải đến.

Một chục triệu công nhân Việt Nam lần đầu tiên biết được họ đang có trong tay một cơ chế pháp lý mang tính quốc tế hóa cao nhằm bảo đảm và hỗ trợ các quyền tự do lập nghiệp đoàn lao động.

giai cap cong nhan

Vào cuối năm 2018, để được tham gia vào CPTPP (Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương), lần đầu tiên Nguyễn Phú Trọng và chế độ độc trị của ông ta đã phải nhượng bộchấp nhận điều kiện về cho phép người lao động được tự do thành lập các tổ chức nghiệp đoàn tự do để tự bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, tức về thực chất sẽ có một hình thái tổ chức nghiệp đoàn độc lập, hay còn gọi là công đoàn độc lập, tồn tại song song với hệ thống Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam từ trung ương xuống các địa phương. Không những thế, công nhân còn được thành lập nghiệp đoàn tự do không chỉ giới hạn ở từng khu vực mà còn trên cả nước, và các nghiệp đoàn độc lập này được kết nối với nhau…

Nhưng tin tức quá nóng hổi trên không phải được công bố bởi Văn phòng Quốc hội hay bất kỳ cơ quan nào của Chính phủ, mà chỉ được hé ra từ một cuộc thảo luận tổ ở Quốc hội về CPTPP – chủ đề mà đến nay ‘Tổng Chủ’ Nguyễn Phú Trọng đã làm tờ trình chính thức cho Quốc hội và chỉ còn chờ đến khi cơ quan được coi là dân cử tối cao này ‘gật’ theo quán tính.

Trong khi toàn bộ báo giới bên đảng và các cơ quan tuyên giáo vẫn im như thóc và như thể chìm trong nỗi sượng sùng vô kể khi trước đó đã lỡ lên án Công đoàn độc lập là ‘một thủ đoạn của Diễn biến hòa bình’, một số tờ báo dù thuộc nhà nước nhưng le lói quan điểm cải cách thể chế và cả cải cách chính trị đã đăng tin về Công đoàn dộc lập, nhưng chưa dám gọi thẳng ra cái tên đó mà chỉ ẩn dụ theo cách ‘người lao động sẽ được quyền thành lập tổ chức công đoàn khác và song song với Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam’.

Nhưng như thế cũng đã là tốt, đã tạm đủ thông tin ban đầu cho một chục triệu công nhân ở Việt Nam, để họ lần đầu tiên biết được họ đang có trong tay một cơ chế pháp lý mang tính quốc tế hóa cao nhằm bảo đảm và hỗ trợ các quyền tự do lập nghiệp đoàn lao động, đình công và đòi hỏi những quyền lợi chính đáng của họ trước giới chủ và trước cả một bộ phận không nhỏ quan chức chính quyền Việt Nam ‘làm thuê’ cho giới chủ.

Tình hình hiện thời – năm 2018 – đã khác khá nhiều với năm 2015 và những năm trước đó. Về minh bạch hóa thông tin.

Nhớ lại năm 2015. Sáu tháng sau khi đoàn đàm phán Việt Nam “hoàn tất đàm phán song phương và đa phương về TPP với các nước” vào tháng Chín năm đó, chính quyền Việt  Nam vẫn hầu như ém nhẹm trên mặt truyền thông về định chế công đoàn độc lập – một trong những điều kiện tiên quyết để được gia nhập TPP mà Bộ Chính Trị đảng CSVN đã phải chấp nhận vô điều kiện.

Hé lộ hầu như duy nhất chỉ đến từ ông Nguyễn Đức Kiên, phó chủ nhiệm Ủy Ban Kinh Tế của Quốc Hội Việt Nam. Sau Tết Nguyên Đán 2016, ông Kiên cho biết “người lao động được quyền lập hội và họ được tự do tham gia một tổ chức hội nào đó mà họ muốn và chính quyền phải chấp nhận” trên báo chí nhà nước.

Cũng phải mất đến sáu tháng sau khi kết thúc đàm phán TPP, phía Việt Nam mới chịu công bố bản văn tiếng Việt, trong đó có nội dung công đoàn độc lập.

Cố tình không công bố thông tin về công đoàn độc lập không chỉ là một thủ thuật xấu chơi của giới lãnh đạo Việt Nam, mà hành vi này còn vi phạm chính cam kết về việc phải công khai toàn bộ thông tin mà đoàn đàm phán TPP của Việt Nam đã hứa hẹn và ký.

Cho đến nay và mặc dù đã gần như chính thức tham gia vào CPTPP, não trạng bưng bít truyền thống của nhà nước Việt Nam vẫn hầu như chưa có gì được khai sáng: trong khi vẫn chưa xuất hiện bất cứ cụm từ “công đoàn độc lập” nào trên miệng giới quan chức và trên mặt báo chí, tất cả cùng lắm chỉ đề cập đến “người lao động có quyền thành lập tổ chức của mình.”

Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời. Những người theo đường lối một đảng lợi ích ở Việt Nam chắc chắn vẫn hy vọng kịch bản WTO năm 2007 “được cả hai” sẽ lặp lại vào năm nay: vừa vào được CPTPP, vừa “hồi tố” bắt giam trở lại những kẻ bất đồng chính kiến liều lĩnh nhất.

Còn trong thời gian chờ đợi CPTPP được các nước còn lại ký để bắt đầu triển khai vào tháng Giêng năm 2019, chiến thuật ưa thích nhất của chính quyền Việt Nam vẫn là vừa kiềm chế những người bảo vệ quyền lợi công nhân, vừa bưng bít thông tin đến mức tối đa về công đoàn độc lập!

Mây thẻ