"Nói phải củ cải cũng nghe"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Hai, 2019

Thần tài và thần tình ái  

THƯ GIÃN đầu xuân KỶ HỢI

truyện ngắn

Thần tài và thần tình ái  

Mammon and the Archer

by O. Henry

 NGUYỄN ĐẠI HOÀNG & PHÙNG HOÀI NGỌC

chuyển ngữchú giải


ảnh minh họa: Thần tài

MAMMON

—————————–

 Ông già Anthony Rockwall, chủ hãng kiêm nhà sản xuất xà phòng Rockwall’s Eureka Soap đã nghỉ hưu, nhìn qua cửa sổ thư viện trong ngôi biệt thự ở Đại lộ số 5 bất giác bật cười. Người hàng xóm nhà bên phải – lão G.Van Schuylight Suffolk Jones – hội viên câu lạc bộ quý tộc – bước ra chiếc ô tô đang đợi sẵn, và như mọi lần, lão hếch hếch mũi khinh miệt trước pho tượng Ý thời Phục Hưng đặt ở tiền sảnh nhà ông già Xà Phòng.

– Ối trời! chẳng biết làm gì ngoài việc khó chịu với pho tượng cũ hả ! Ông già Xà Phòng phàn nàn. Cái lão bánh trái đông lạnh già nua này cho vào Bảo Tàng Eden nếu lão ấy không cẩn thận nha ! Mùa hè tới mình quyết sơn nhà màu đỏ, trắng, xanh da trời để xem cái mũi Hà Lan của lão còn hếch lên đến đâu! 

 Rồi ông Anthony, người chẳng bao giờ cần rung chuông báo, đi ra cửa thư viện, gọi lớn: “Mike nè” vẫn với cái giọng một thời xé toạc cả bầu trời thảo nguyên Kansas.

– Nói với cậu – ông nói khi nghe thấy tiếng người hầu- lên đây gặp ta trước khi cậu đi nhé.

 Khi thiếu gia nhà Rockwall bước vào thư viện, ông già đặt tờ báo qua một bên, chăm chăm nhìn khuôn mặt hồng hào béo tốt của con một cách dịu dàng, một tay ông xoa xoa lên mái đầu bạc trắng, một tay xốc xốc chùm chìa khoá trong túi kêu xủng xoảng, ông bảo:                                  

– Richard, con dùng xà phòng loại nào?

 Richard hơi giật mình, tốt nghiệp xong, anh mới ở nhà có 6 tháng. Anh không đoán được ý cha, nên có vẻ bỡ ngỡ như một cô thiếu nữ lần đầu đi dự tiệc.

– Dạ, loại 6 đô một tá, thưa cha.

– Còn quần áo?

– Dạ 100 đô, thưa cha.

– Con là một quý ông! ông Anthony dõng dạc tuyên bố- mà nghe nói bọn nhóc nhà quyền quý hay dùng xà phòng loại 24 đô một tá, quần áo thì trên 100 đô! Con thừa sức làm vậy, nhưng con vẫn dè sẻn. Như ta đến giờ cũng vẫn chỉ dùng xà phòng Eureca nhà mình đó thôi, nhưng không phải chỉ vì tình cảm đâu, mà còn vì đó là loại xà phòng tinh khiết nhất. Nếu xà phòng loại trên dưới 10 đô một bánh thì nhất định là loại linh tinh, chả thơm tho gì rồi. Nhưng loại 50 xu một bánh thì xem ra cũng khá ổn với thế hệ, địa vị và điều kiện của con. Như ta đã nói, con là một quý ông. Thiên hạ nói phải 3 đời mới nên quyền quý. Vậy là họ lạc hậu rồi. Đồng tiền sẽ làm mọi thứ trơn tru như xà phòng vậy. Đồng tiền đã tạo nên con. Và thật khó tin, đồng tiền cũng đã tạo nên ta- gần như một quý ông! Dù ta vẫn còn thô lỗ, khó chịu, xấu tính… he he …chẳng kém gì hai lão quý tộc Knickerbocker, hàng xóm hai bên nhà ta, hai lão uất ức đến mất ngủ , chỉ vì nhà ta xen vào giữa hai cái nhà của bọn họ ….

– Nhưng cũng có những thứ mà đồng tiền không thể đáp ứng được ! Anh con trai rầu rĩ nhấn mạnh.

 – Thời đại này rồi mà còn nói vậy à ! ông Anthony tỏ ra khá sốc – ta cược đấy Ta đã lật hết bộ bách khoa toàn thư đến tận vần Y, để xem có thứ gì không mua được bằng tiền không. Vẫn còn phần phụ lục, nhưng ta hy vọng sẽ xem xong vào tuần tới. Đồng tiền chiến đấu được với mọi thứ. Nào hãy nói cho ta biết thứ gì không mua được bằng tiền nào ?

– Có một thứ, cha à – Richard trả lời với vẻ khá day dứt – đồng tiền sẽ không mua được thứ đó, là thứ giúp một người đến được lãnh địa thượng lưu, đúng không ạ?

– Ô hay! Không mua được sao? Nhà quán quân của gốc rễ cái ác- gầm lên – Nào hãy cho ta biết, lãnh địa thượng lưu của con ở đâu, để xem người giàu cỡ Astor có lo liệu được cuộc hành trình đến đó hay  không?

Richard thở dài.

– Mà đó cũng là điều ta đang sắp nói đó – ông già nói kém sôi nổi hẳn– cũng là lý do ta gọi con tới đây. Con có chuyện gì đấy không ổn. Ta thấy thế đã hai tuần. Con nói ra đi. Nếu là chuyện tiền bạc, chưa cần bất động sản, thì con có ngay 11 triệu đô trong vòng 24 giờ. Nếu là chuyện bệnh gan của con, thì con có ngay chiếc tàu du thuyền Rambler đang lấy than ngoài vịnh, phóng đến Bahamas[1]* chỉ mất 2 ngày.

– Cha đoán không tệ! Gần gần đúng!

– À ta biết rồi – người cha tinh ý nói – Thế con bé tên gì?

Richard đi đi lại lại trong thư viện. Ở người cha già thô lỗ này có cái gì đó đủ thân thiện, thông cảm, khiến anh biểu lộ lòng tin tưởng.

– Sao con không ngỏ lời với cô ta? Ông già Anthony gặng hỏi. Cô ta sẽ nhảy chồm vào lòng con ngay ấy chứ, và con giàu, đẹp trai, đứng đắn. Bàn tay sạch boong. Chưa phải dùng xà phòng Eureca để rửa tay. Lại có bằng đại học. Nhưng có lẽ cô ta chưa biết hết những điều đó.

– Con không có cơ hội cha à !- Richard nói.

Hãy tạo ra cơ hội chứ! Ông Anthony nói. Đi dạo trong công viên nè. Đi dã ngoại nè. Đi lễ nhà thờ rồi đưa về nè. Cơ hội thiếu gì đó. Con thiệt là …! 

– Cha à, cha đâu biết cái gọi là cối xay nước công cộng[2]*. Và cô ấy là một phần của dòng nước làm quay cái cối xay ấy. Nghĩa là mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút trong quỹ thời gian của cô đã được sắp xếp cả rồi. Con phải có được cô gái ấy, cha à, nếu không thì thị trấn này chỉ là một cái đầm lầy gỗ sồi mãi mãi với con. Mà con lại không thể viết thư- con không thể làm được điều đó … 

– Ái chà! Ông già nói. Ý con nói là, với tất cả tiền của ta, mà con cũng không thể mua được một hay hai giờ của cô ta, dành riêng cho con hay sao?

Con đã để quá muộn màng cha à! Trưa ngày kia cô ấy sẽ lên tàu đi châu Âu trong hai năm. Con sẽ được gặp riêng cô ấy vào tối mai, nhưng chỉ 5 phút thôi. Hiện giờ cô ấy ở nhà bà dì tại Larchmont. Con đến đấy thì không tiện. Nhưng cô ấy bảo con đến đón cô ấy bằng xe ngựa tại Nhà Ga Trung Tâm, chuyến xe lửa 8g30 tối mai. Rồi phải phóng xe hết tốc lực xuống Broadway, đến rạp hát Wallack’s, gặp mẹ cô ấy và mấy người cùng đi đợi chúng con ở hành lang cùng vào xem kịch. Cha nghĩ là trong tình cảnh ấy, chỉ năm bảy phút ngắn ngủi, cô ấy có thể để tâm nghe lời tỏ tình của con hay sao? Chắc chắn là không rồi! Còn cơ hội cho con trong rạp hát, và sau đó ư ? Cũng không luôn! Không, cha ơi, mọi việc quá rối ren, tiền của cha không thể gỡ được. Chúng ta không thể dùng tiền mua được thời gian dù chỉ 1 phút đâu! Nếu mua được, thì người giàu nào cũng sẽ trường thọ hết! Con chẳng còn chút hy vọng nào được tâm tình với Lantry trước lúc cô ấy lên tàu ra khơi! 

– Thôi được rồi Richard , con trai ta- ông già Anthony vui vẻ nói– Bây giờ thì con cứ chạy xuống chơi với nhóm bạn của con đi. Cha mừng vì không phải chuyện bệnh gan của con. Nhưng thỉnh thoảng con cũng nên đến ngôi đền thắp nhang (đốt ít  lễ vật) cho Thần Tài nhé. Con nói tiền không thể mua được thời gian phải không? Phải rồi, tất nhiên là con không thể đặt mua sự vĩnh cửu, yêu cầu gói lại, và mang đến tận nhà cho con, với cái giá nào đấy, nhưng cha thì cha từng thấy Thần Thời Gian phải va vấp trầy trật cả gót chân, khi đi qua mấy cái mỏ vàng đấy!

Tối hôm đó, bà cô Ellen dịu dàng, đa cảm, da dẻ nhăn nheo, thở dài sườn sượt, dưới áp lực phú quý lễ nghĩa, qua thăm ông anh Anthony lúc ấy đang đọc báo buổi tối, rồi họ trò chuyện về những lứa đôi trắc trở.

Nó kể với tôi hết rồi- ông anh Athony vừa nói vừa ngáp- và tôi cũng nói là tôi sẽ dùng tiền lo cho nó. Nhưng nó bảo dẹp chuyện tiền qua một bên. Nó nói tiền không giúp được gì nó. Rằng những quy ước xã hội không thể bị lay chuyển, dù có cả chục ông triệu phú đi nữa ….

Anh Anthony này – cô Ellen thở dài – em mong anh đừng nói quá nhiều đến tiền bạc như thế. Đối với tình yêu chân chính thì tiền bạc không là gì cả. Tình yêu là sức mạnh vạn năng. Nếu nó chịu nói ra sớm hơn, con bé sẽ không từ chối Richard nhà mình. Em sợ là đã quá muộn anh à. Thằng bé không còn cơ hội để thổ lộ với con bé nữa rồi. Và tất cả vàng bạc của anh cũng không thể đem tới hạnh phúc cho con trai anh đâu!

Tám giờ tối hôm sau, cô Ellen lục trong chiếc rương cũ đầy mối mọt, lấy ra một chiếc nhẫn vàng cổ , đem đến đưa cho Richard.

Hãy đeo nó tối nay cháu nhé – cô van nài – Đây là chiếc nhẫn mẹ cháu cho cô. Bà ấy bảo nó mang lại may mắn cho tình yêu, và dặn cô trao lại cho cháu khi cháu tìm được người yêu.

Chàng trẻ tuổi Richard kính cẩn cầm lấy chiếc nhẫn, ướm thử vào ngón tay út, nó chỉ vào đến đốt thứ hai. Anh rút chiếc nhẫn ra và nhét nó vào túi áo vét, theo phong cách của đàn ông thời đó. Rồi anh điện cho xe ngựa tới.

Tại nhà ga, lúc 8g 32 phút anh gặp Lantry bên ngoài đám đông hỗn độn.

– Mình đừng để mẹ và mọi người đợi anh ạ. Cô nói.

– Tới nhà hát Wallack’s Theatre càng nhanh càng tốt, anh đánh xe ạ. Richard nói một cách chân thành.

Chiếc xe của họ bon bon trên đường số 42 đến Đại lộ Broadway rồi xuôi xuống một khu vực sáng trắng rực rỡ như dát sao, bắt đầu từ những bãi cỏ mịn màng của hoàng hôn đến những khu đồi núi của ban mai.

Đến đường số 34, bỗng Richard vội vàng đập đập cửa xe, bảo người đánh xe dừng lại.

–  Tôi vừa đánh rơi chiếc nhẫn –
anh xin lỗi khi trèo ra ngoài – Đây là chiếc nhẫn của mẹ tôi, và tôi không thể đánh mất nó. Làm phiền anh đánh xe chút nhé – tôi biết chỗ nó rơi rồi!

Chưa đến một phút, anh đã quay trở lại xe, cùng với chiếc nhẫn.
Nhưng chỉ trong một phút đó, một chiếc xe chạy xuyên thành phố, lại đậu chắn ngay phía trước mặt chiếc xe ngựa. Người đánh xe  cố lách sang trái, vướng phải chiếc xe tải nặng. Lách sang phải, đụng nhằm chiếc xe chở đồ nội thất nên phải lùi lại. Anh ta cố đánh xe thoát ra, nhưng làm rơi dây cương, chỉ còn biết chưởi đổng. Cuối cùng xe anh ta bị kẹt tứ phía, ngổn ngang những xe và ngựa.

Tắc đường diễn ra ở thành phố lớn có khi làm đình trệ cả thương mại và giao thông.

– Sao xe không đi tiếp hả anh? Cô Lantry hỏi, vẻ sốt ruột. Mình trễ mất!  

Richard đứng lên trên xe và nhìn quanh. Anh thấy cảnh ứ đọng tắc nghẽn như lũ lụt đủ các loại xe: xe đẩy, xe tải, xe ngựa, xe ca, tắc nghẽn ở một quảng trường rộng, nơi Đại lộ Broadway, Đại lộ số Sáu và Đường 34 giao nhau, tựa như một cô gái vòng eo 26 inch nhưng lại cố bó mình vào trong chiếc thắt lưng 22 inch vậy!

Đã vậy, từ tất cả những đường nhánh, xe cộ cứ ùn ùn đổ về chỗ hội tụ giao nhau, có những chiếc xe mở hết tốc độ, lao cả vào nhau, mấy cái bánh xe hết nhúc nhích, kèm theo tiếng chưởi rủa, tiếng la hét vang trời. Toàn bộ giao thông của khu Manhattan dồn lại quanh họ.  Ngay đến những người New York cao niên nhất trong số hàng ngàn người ngồi dọc hai bên hè phố cũng bảo là chưa bao giờ họ chứng kiến cảnh xe cộ bị tắc nghẽn tới vậy.

– Xin lỗi em– Richard nói khi trở lại ghế ngồi – chúng ta bị kẹt rồi. Cũng phải cả tiếng nữa mới qua được. Đó là lỗi của anh. Nếu anh không làm rớt chiếc nhẫn thì …

– Cho em xem chiếc nhẫn nào! Lantry nói – Giờ mà nói thì có được gì đâu, em không quan tâm. Việc xem kịch cũng không quan trọng nữa đâu anh …

Mười một giờ đêm hôm đó, có người gõ cửa phòng ông Anthony.

– Vào đi! Ông Anthony nói lớn. Lúc ấy ông mặc chiếc áo khoác màu đỏ, đang đọc một cuốn truyện phiêu lưu về hải tặc.  

Người đó là cô Ellen, trông cô như một thiên thần tóc xám mắc đoạ bị bỏ lại chốn trần gian. 

Tụi nó đính hôn rồi anh Anthony ạ. Cô nhẹ nhàng báo tin. Con bé đã hứa hôn với Richard. Trên đường tới nhà hát xảy ra vụ kẹt xe, phải mất tới 2 tiếng đồng hồ, mới thông xe được.

Và Anthony này, vậy thì từ nay anh đừng bao giờ huênh hoang khoe mẽ về đồng tiền nữa nhé. Cái vật nho nhỏ biểu tượng cho tình yêu chân chính – mà chiếc nhẫn nhỏ bé tượng trưng cho tình cảm thuần khiết và bất diệt ấy- mới là căn nguyên giúp Richard tìm được hạnh phúc. Richard đánh rơi chiếc nhẫn trên đường, và tìm lại được nó. Rồi trước khi chúng có thể đi tiếp thì xảy ra kẹt xe. Richard đã thổ lộ tình yêu và đã chiếm được trái tim con bé, chính trong khi chiếc xe ngựa bị vây bọc bốn bề. Tiền chỉ là rác rưởi khi so với tình yêu chân chính, anh Anthony à.

–  Vậy là tốt rồi – ông Anthony nói – tôi rất mừng là thằng bé đã đạt được ý nguyện. Tôi đã bảo nó mà, tốn kém thế nào tôi cũng chẳng ngại miễn là …
– Nhưng mà, này anh Anthony, trong chuyện này, tiền bạc của anh có đem lại điều tốt lành gì đâu?

à– ông Anthony nói- tôi đọc đến đoạn một tên cướp biển lâm vào tình thế nguy cấp, tàu sắp đắm, nhưng hắn sẽ không bị chết đuối, vì hắn là tay cực kỳ sành sỏi về giá trị của tiền bạc. Cô hãy để tôi xem tiếp chương này nhé…

Câu chuyện tưởng đã kết thúc ở đây. Tôi cũng như quý vị độc giả đều thực lòng mong ước một cái kết như thế. Tuy nhiên chúng ta cũng phải đi đến tận cùng của sự thật xem sao nhé!

Ngày hôm sau, có một người mặc áo ngắn tay, cà vạt lốm đốm xanh, tên là Kelly, ghé qua nhà ông Anthony, và lập tức được đưa ngay vào thư viện.

– Tuyệt quá – ông Anthony với tay lấy cuốn ngân phiếu – đây là khoản “bôi trơn phí“ nhé. Để xem nào – anh được 5000 đô tiền mặt!

– Tôi còn phải bỏ thêm 300 đô tiền túi đó thưa ông – Kelly nói – tôi phải chi phí nhiều hơn dự kiến một chút. Các loại xe ngựa đa số đòi 5 đô; đa số xe tái và xe song mã đòi nâng lên thành 10 đô. Xe ô tô đòi 10 đô, còn xe chở hàng đòi những 20 đô. Mấy ông cảnh sát lấy đậm nhất, có hai ông tôi phải trả tới 50 đô một ông, còn mấy ông còn lại , tôi trả 20 đô và 25 đô một ông. Nhưng nó không thành công mỹ mãn hay sao ngài Rockwall? Tôi mừng là ông đạo diễn, kịch tác gia William A. Brady *[3]đã không thấy cái cảnh xe cộ tắc nghẽn đó. Tôi không muốn ông William phải đứng tim vì ganh tị. Ấy là chẳng tập dượt gì trước đó nhé! Anh em đến rất đúng giờ chẳng chậm 1 giây! Phải mất 2 tiếng đồng hồ mới thông xe được! 

– Một ngàn 300 đô của anh đây, Kelly – ông Anthony nói, và xé một tờ ngân phiếu. Thưởng thêm anh 1000 đô, còn 300 đô là để trả lại tiền anh ứng ra trước. Anh không chê tiền chứ, Kelly?

– Tôi ấy à – Kelly nói – tôi thì tôi nện vào mặt cái kẻ tạo ra nghèo đói ấy chứ.

Ông Anthony gọi Kelly khi anh ta vừa ra đến cửa:

– À này Kelly hôm qua ở chỗ kẹt xe, anh không nhìn thấy một thằng bé béo tốt, không mặc quần áo, giương cung bắn tên ra khắp nơi, đúng không?

– Ô, không, ông nói sao thế – Kelly bối rối nói – Tôi không thấy. Mà nếu có thằng bé như ông nói, thì cảnh sát đã tóm nó trước khi tôi đến rồi!

– Tôi cũng nghĩ thằng cung thủ nhí ấy không có ở đấy! ông Anthony cười tủm tỉm- Thôi chào anh nhé, Kelly!

—————————————————————————————-

 NOTE

 Mammon (Thần Tài)

Trong Tân Ước Kinh Thánh,  Mammon thường được cho là tiền bạc, của cải vật chất hoặc bất kỳ thực thể nào hứa hẹn sự giàu có và có liên quan đến việc theo đuổi tham lam để kiếm lợi.  Kinh dạy”Bạn không thể phục vụ cả Chúa và Mammon“.

Vào thời trung cổ, Mammon thường được nhân cách hóa như một vị thần và đôi khi được đưa vào bảy hoàng tử của địa ngục. Mammon trong tiếng Do Thái có nghĩa là “tiền”. Nói chung Mammon là vị thần vật chất.

The Archer (Cung thủ/ Thần ái tình)

Bắt nguồn từ năm 700 trước Công nguyên, nhân vật trong truyền thuyết này được gọi là Eros tiếng Hy Lạp nghĩa là “sự ham muốn”. Eros – con trai của Aphrodite, nữ thần tình yêu – sẽ chơi đùa với trái tim của những người phàm trần và các vị thần để gây ra tình trạng hỗn loạn. Được miêu tả là một chàng trai trẻ tuổi vị thành niên, đẹp trai và nguy hiểm, cậu ta sẽ sử dụng sức mạnh của mình để khiến mọi người yêu nhau. Khi hai nam nữ gặp nhau, cậu ta bắn 1 mũi tên vào trái tim họ, khiến họ yêu ngay người khác giới kia (không phải người thân).

Nền văn hóa Roman tiếp thu văn hóa Hi lạp sau gọi tên là Cupid/ Cupidon.

Eros

LỜI BÀN NGƯỜI DỊCH

Ông chủ Anthony Rockwall một nhà tư sản già điển hình và đầy cá tính là hiện thân của triết lý “tiền có thể mua được tất cả”.

Con trai và em gái ông vẫn còn giữ thiên lương nguyên chất và chỉ tin vào tình yêu chân thành không thủ đoạn.

Một truyện hài hước nhẹ nhàng của O. Henry.

Dường như nhà văn cũng ngập ngừng về triết lý sức mạnh đồng tiền. Do đó, một mặt nhà văn vẫn đề cao vai trò Thần ái tình (the Archer) tuy nhiên cũng không coi rẻ thần Tài (Mammon). Thần Tài chỉ giúp sức cho thần ái tình, đi theo câu chuyện tình chớm nở của hai nhân vật chính ngay khi họ gặp trắc trở…

 PHÙNG HOÀI NGỌC  &  NGUYỄN ĐẠI HOÀNG chuyển ngữchú giải

Hết

https://americanliterature.com/author/o-henry/short-story/mammon-and-the-archer

[1]* . Bahamas: quần đảo nằm ở phía đông bắc Cuba, nổi tiếng với khí hậu thuận lợi và những khu nghỉ dưỡng sức khỏe thời thượng.

[2] *. “The Social Mill”: phép so sánh, ý nói cối xay nước tự nhiên dành cho công cộng, không ai ngăn trở, gián đoạn được (người dịch tạm hiểu)

*[3] . William Aloysius Brady nhà viết kịch,đạo diễn 260 vở kịch ở New York. Ý Kelly tự mãn rằng nhà đạo diễn kia cũng thua anh ta về  tài xếp đặt dàn dựng.

LỜI BÀN NGƯỜI DỊCH

Ông chủ Anthony Rockwall nhà tư sản già điển hình và cá tính, hiện thân của triết lý “tiền có thể mua được tất cả”.

Con trai và em gái ông vẫn còn giữ thiên lương nguyên chất và chỉ tin vào tình yêu chân thành, không thủ đoạn.

Một truyện hài hước nhẹ nhàng của O. Henry. Dường như nhà văn cũng ngập ngừng về triết lý sức mạnh đồng tiền. Do đó một mặt nhà văn vẫn đề cao vai trò Thần ái tình  (the Archer) tuy nhiên cũng không coi rẻ thần Tài. Thần Tài chỉ giúp sức cho thần ái tình, đi theo câu chuyện tình chớm nở của hai nhân vật chính…

https://americanliterature.com/author/o-henry/short-story/mammon-and-the-archer

[1]* . Bahamas: quần đảo nằm ở phía đông bắc Cuba, nổi tiếng với khí hậu thuận lợi và những khu nghỉ dưỡng sức khỏe thời thượng.

[2] *. “The Social Mill”: phép so sánh, ý nói cối xay nước tự nhiên dành cho công cộng, không ai ngăn trở, gián đoạn được (người dịch tạm hiểu)

[3*] The Archer (Cung thủ/ Thần ái tình): hình chú bé cởi truồng, có cánh bay, tay cầm cung tên

Bắt nguồn từ năm 700 trước Công nguyên, nhân vật trong truyền thuyết này được gọi là Eros là từ Hy Lạp cho “sự ham muốn”. Trong thời kỳ cổ xưa, Eros – con trai của Aphrodite, nữ thần tình yêu – sẽ chơi đùa với trái tim của những người phàm trần và các vị thần để gây ra tình trạng hỗn loạn. Được miêu tả là một chàng trai trẻ ở tuổi vị thành niên, anh ta được coi là đẹp trai và nguy hiẻm, vì anh ta sẽ sử dụng sức mạnh của mình để khiến mọi người yêu nhau. Nền văn hóa latin sau gọi tên là Cupid .

Trung Quốc kỷ niệm 40 năm cuộc chiến 1979 như thế nào?

Trung Quốc kỷ niệm 40 năm cuộc chiến 1979 như thế nào?

BBC

 ảnh 1 Một cựu chiến binh Trung Quốc đến thăm nghĩa trang quân đội ‘Martyr’s Cemetery’ dành cho tử sĩ của cuộc chiến với Việt Nam năm 1979

cuu binh TRung Quốc đánh Việt Nam

Không kèn không trống không hoa. Không một lời đề cập trên TÂN HOA XÃ hay NHÂN DÂN NHậT BÁO. Đó là cách Trung Quốc chọn kỷ niệm 40 năm cuộc chiến biên giới với Việt Nam vào năm 1979.

Trong suốt bốn thập kỷ qua, chính quyền Trung Quốc hầu như im lặng về cuộc chiến kéo dài 4 tuần đã khiến ít nhất 20.000 lính Trung Quốc, và khoảng 10.000 lính Việt Nam thiệt mạng (dù còn nhiều tranh cãi về những con số).

Sự im lặng của Trung Quốc về cuộc chiến đã kéo theo sự câm lặng của cả một thế hệ cựu chiến binh Trung Quốc.

(Đọc thêm:

Chiến tranh 1979: Liên Xô biết là TQ sẽ đánh VN?

 Chiến tranh biên giới 1979 qua các con số

 Cuộc chiến 1979 thực sự đã ‘bắt đầu từ trước’)

 Một cuộc chiến không được thừa nhận, dẫn đến những ngôi mộ, và nhiều cựu binh tàn tật Trung Quốc sống trong quên lãng – dẫn đến xung đột mâu thuẫn kéo dài giữa hội cựu chiến binh Trung Quốc với chính quyền Bắc Kinh.

Bài báo đăng 19/2, trên Bưu điện Hoa Nam viết: “Trong khi lễ kỷ niệm cuộc chiến được tổ chức một cách công khai ở Việt Nam, những cựu chiến binh Trung Quốc phải lén gặp riêng, vì chính quyền Bắc Kinh vẫn im lặng, lo ngại làm gia tăng căng thẳng với láng giềng về vấn đề chủ quyền”.

“Giới chức vẫn lưỡng lự tổ chức bất kỳ sự kiện kỷ niệm nào [cho cuộc chiến], nhưng cựu chiến binh khắp nước vẫn quyết tâm tổ chức các cuộc tụ họp vào Chủ Nhật bởi vì chúng tôi tin cuộc chiến vẫn là một huân chương danh dự,” ông Sun Xingan 62 tuổi nói.

Ở Việt Nam, năm nay cũng là lần đầu tiên báo chí trong nước được ‘thả cửa’ để viết về Chiến tranh Biên giới Việt – Trung, dù Đài Truyền hình Việt Nam vẫn tuyệt nhiên không dùng cụm từ “Trung Quốc”.

Còn ở nước ở bên kia biên giới, theo Bưu điện Hoa Nam, không có một sự đề cập nào trên truyền thông nhà nước, ngoại trừ một số video trên mạng cho thấy có một vài cuộc tụ tập nhỏ.

Và việc tổ chức các cuộc gặp gỡ này ngày càng trở nên khó khăn.

Image caption

Bộ đội biên phòng trên mặt trận Trung-Việt vào tháng 8 năm 1978 ở miền Bắc Việt Nam

bộ đội BP của TQ năm 1978

Thế hệ cựu binh bị lãng quên

“Rất là khó để giữ liên lạc với nhau sau nhiều năm, vì một vài đồng chí của chúng tôi đã qua đời. Chúng tôi đều trở nên già yếu,” ông Chen Zaichun, 62 tuổi nói.

“Còn vài mảnh đạn vẫn ở trong đầu tôi kể từ cuộc chiến. Tôi chỉ hy vọng chính quyền sẽ chính thức công nhận chúng tôi càng sớm càng tốt,” cựu chiến binh Lou Yuming nói.

Trung Quốc có khoảng 57 triệu cựu chiến bình và thường luôn được truyền thông nhà nước ca ngợi, nhưng điều này không xảy ra đối với nhóm cựu chiến binh “cuộc chiến tự vệ” năm 1979.

“[Lễ kỷ niệm] khá là nhạy cảm, và chúng ta có thể thấy từ thực tế rằng Trung Quốc đã không tổ chức một chương trình tưởng niệm nào. Các quan chức Trung Quốc vẫn giữ quan điểm duy trì bức tranh lớn trong mối quan hệ với Việt Nam,” Zhang Zhang Jie, nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế tại Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc nói với Bưu điện Hoa Nam.

Kết quả dẫn đến nhiều cuộc biểu tình trong nhiều năm gần đây, điển hình là cuộc biểu tình năm 2016, qua đó nhiều cựu chiến binh đòi được quan tâm hỗ trợ hơn, và nhiều người khác, nhất là nhóm cựu chiến binh tham chiến năm 1979 thì mong được công nhận – nhưng họ đã nhanh chóng bị lực lượng an ninh trấn áp.

Image caption Cựu chiến binh TQ chiến tranh 1979 biểu tình Image caption Cựu chiến binh TQ chiến tranh 1979 biểu tình

biểu tình

“Chính quyền nghe lén điện thoại của tôi, theo dõi mọi hành động của tôi, nên tôi không thể tham dự bất kỳ sự kiện công cộng nào vì tôi không muốn bị rắc rối,” cựu chiến binh Zhong Jiangquang nói.

cuu binh TQ biểu tình 2

Một nhà sử học quân sự, cũng từng chiến đấu trong một cuộc đụng độ biên giới với Việt Năm năm 1984 nói rằng việc thiếu công nhận chính thức cho sự đóng góp của các cựu chiến binh trong cuộc chiến Việt-Trung là một lý do chính khiến các cựu chiến binh này tiếp tục đấu tranh với chính quyền, theo Bưu điện Hoa Nam.

Một cựu chiến binh kể lại rằng sau cuộc chiến, khoảng 300 lính Trung Quốc đã từng bị phía Việt Nam bắt giữ trong cuộc chiến đã bị công khai bêu rếu (publicly shamed).

“Tất cả những người lính này sau đó đã bị tước bỏ vị thế quân sự, nghĩa là họ đã mất tất cả và kết quả là gia đình họ phải chịu đựng,” vị cựu chiến binh xin dấu tên nói.

Những người bị thương trong cuộc chiến thì không được phân loại là thương binh, và vì vậy không được hưởng chế độ trợ cấp và cũng vì không được Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc (PLA) chấp nhận nên cũng không có tiền chăm sóc lăng mộ của các liệt sĩ nằm rải rác biên giới hai nước.

Những cựu chiến binh này cũng đổ lỗi cho giới lãnh đạo là đã “đánh giá thấp sức mạnh của đối phương”, cách đào tạo kém, không hiểu phương pháp chiến đấu hiện đại và phương thức liên lạc lạc hậu, dẫn đến 7.000 binh lính Trung Quốc thiệt mạng và 15.000 người bị thương – con số thương vọng mà Trung Quốc tuyên bố.

Vì sao Trung Quốc im lặng về cuộc chiến này?

Antony Wong, một nhà quan sát quân sự có trụ sở tại Macau, lên tiếng cho rằng: “Bắc Kinh nên công nhận sự đóng góp của họ cho đất nước, và thực tế là họ phải chịu đựng vì sự phán xét kém của giới lãnh đạo.”

“Chỉ có một lời xin lỗi có thể ngăn họ tổ chức các cuộc biểu tình, và giúp chữa lành vết thương tinh thần và thể chất của họ.”

Derek Grossman, nhà phân tích quốc phòng của Rand Corporation, thì nói với Bưu điện Hoa Nam rằng:

“Nói chung, vì lợi ích của sự minh bạch, thì việc [thừa nhận kỷ niệm] là lựa chọn tốt nhất cho Trung Quốc. Việt Nam thì thuận lợi hơn trong việc tổ chức lễ kỷ niệm.

“Nhưng đây là lần cuối cùng Trung Quốc tham chiến và đã thua. Nếu họ bắt đầu lên tiếng, thì nó sẽ khơi mào cho những người khác nói rằng, ‘Thực ra anh đang bắt nạt Việt Nam và những nước tuyên bố chủ quyền [Biển Đông] vào lúc này cơ mà’. Nếu lôi nó ra thì chỉ phiền hà cho Bắc Kinh.”

Còn Colin Koh, nghiên cứu sinh tại Trường Chính Sách Nghiên cứu Quốc tế Singapore, thì cho rằng cuộc chiến năm 1979 không ‘vẻ vang’ gì cho Bắc Kinh.

“Một trong những lý do có thể khiến Trung Quốc hạ thấp cuộc chiến này là vì quân đội PLA đã bị ‘dập máu mũi’ không phải trong tay Quân đội Nhân dân Việt Nam, mà là trong tay dân quân phòng thủ biên giới.”

Bắc Kinh hay tự ca ngợi rằng đã chiến thắng và thành công trong việc “dạy cho Việt Nam vô ơn một bài học”.

Nhưng ông Koh cho rằng việc Trung Quốc phải chịu những thất bại quân sự mặc dù có vô vàn lợi thế chắc chắn trước Việt Nam là một điều “xấu hổ”.

Tuy nhiên, trả lời Bưu điện Hoa Nam, cựu đại sứ Việt Nam tại 5 nước, Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Trường lưu ý rằng không có quan chức cấp cao nào của Việt Nam đưa ra bất kỳ tuyên bố nào về ngày kỷ niệm.

Ông nói tháng Hai, 2019 là lần đầu tiên truyền thông Việt Nam được phép viết về ngày kỷ niệm một cách công khai, phần lớn là do mối quan tâm, áp lực của công luận về cuộc chiến.

Ông Trường thừa nhận Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã cố gắng gác lại cuộc chiến này để duy trì mối quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc. Nhưng dư luận ở Việt Nam, đặc biệt là các cựu chiến binh của cuộc chiến năm 1979, đã không bằng lòng với điều này.

Năm ngoái, Trung Quốc đã hoãn chiếu bộ phim Phương Hoa, tái hiện lại cuộc chiến năm Việt-Trung 1979, sau một “cuộc thảo luận phút chót”.

Ai là người cầm đầu trong vụ án Trần Việt Tân – Bùi…

Ai là người cầm đầu trong vụ án Trần Việt Tân – Bùi Văn Thành – Phan Hữu Tuấn – Vũ Nhôm? Ai/Cái gì đã ép Tòa án Hòa Bình nhất quyết phải bỏ tù BS Hoàng Công Lương?

Nguyễn Ngọc Chu

Chừng nào chưa xóa bỏ nền tư pháp què quặt phụ thuộc để thay thế bằng một hệ thống tòa án sòng phẳng độc lập, thì chừng đó đừng nói đến công lý cho người nghèo kẻ yếu. Nguy hiểm hơn, cả xã hội không có lòng tin vào lẽ phải, không có lòng tin vào chính quyền, và đất nước không thể phát triển bền vững lành mạnh

CẦN MỘT HỆ THỐNG TÒA ÁN SÒNG PHẲNG ĐỘC LẬP

Đầu năm 2018 nền Tư pháp Việt khởi đầu bằng vụ án oan sai Đặng Văn Hiến.

Đầu năm 2019 nền tư pháp Việt lại tiếp tục khởi đầu bằng hai vụ án oan sai: Trần Việt Tân – Bùi Văn Thành – Phan Hữu Tuấn – Vũ Nhôm và BS Hoàng Công Lương. Thêm một lần minh chứng rằng: OAN SAI LÀ THUỘC TÍNH CỦA NỀN TƯ PHÁP VIỆT.

Trước hết hãy nói về vụ án Trần Việt Tân – Bùi Văn Thành – Phan Hữu Tuấn – Vũ Nhôm.

XÁC ĐỊNH SAI ĐỐI TƯỢNG CẦM ĐẦU VỤ ÁN

Phải khẳng định rằng, không phải Vũ Nhôm, mà Trần Việt Tân – Bùi Văn Thành – Phan Hữu Tuấn mới đúng là tên gọi chủ đạo của vụ án. Chính xác là vụ án Trần Việt Tân – Bùi Văn Thành – Phan Hữu Tuấn – Vũ Nhôm. Có thể còn có tên người khác nữa bỏ sót, chưa đứng trong tên vụ án. Nhưng rõ ràng là đã xác định sai đối tượng cầm đầu nên đã gọi không đúng tên vụ án. Từ đó dẫn đến xử sai.

Để làm sáng tỏ khẳng định trên, chúng ta bắt đầu bằng câu hỏi dưới đây:

AI LÀ NGƯỜI CẦM ĐẦU TRONG VỤ ÁN TRẦN VIỆT TÂN – BÙI VĂN THÀNH – PHAN HỮU TUẤN – VŨ NHÔM?

Điều hiển nhiên ai cũng rõ, rằng mưu sĩ có thể hiến kế, nhưng chủ tướng có thể dùng hay không dùng kế của mưu sĩ. Việc thành bại là do chủ tướng quyết định và chịu trách nhiệm.

>Cụ thể cho trường hợp đánh chiếm thành:

KẾ ĐÁNH THÀNH CÓ THỂ DO MƯU SĨ ĐỀ XUẤT. TƯỚNG DÙNG KẾ CỦA MƯU SĨ CHIẾM THÀNH MỚI LÀ CHỦ THÀNH TRÌ CHỨ KHÔNG PHẢI MƯU SĨ.

Từ đó thì suy ngay ra được câu trả lời cho câu hỏi: “Ai là người cầm đầu trong vụ án Trần Việt Tân – Bùi Văn Thành – Phan Hữu Tuấn – Vũ Nhôm?”.

Dứt khoát không phải Vũ Nhôm. Mà chính Trần Việt Tân – Bùi Văn Thành và những quan tướng khác mới là người đẻ ra các công ty đứng tên Vũ Nhôm để chiếm đoạt công sản, mà không phải là công ty bình phong để hoạt động tình báo. “Tình báo” là bình phong để chiếm đoạt công sản. Điều này được khẳng định bởi lời thừa nhận trước Tòa của ông Phan Hữu Tuấn – nguyên Tổng cục phó Tổng cục Tình báo: “Đến nay, cả hai công ty này (Công ty Xây dựng Bắc Nam 79 và Công ty Nova Bắc Nam 79) chưa hề có hoạt động nghiệp vụ nào đối với lĩnh vực tình báo” (Dân trí, 29/01/2019). Trong khi đó thì hai công ty Xây dựng Bắc Nam 79 và Nova Bắc Nam 79 đã kịp chiếm đoạt hàng ngàn tỷ đồng nhà công sản.

Ngay cả ông Phan Hữu Tuấn cũng không phải người cầm đầu. Vì ông Trần Nhật Tân – Bùi Văn Thành không dùng kế của ông Phan Hữu Tuấn thì không có các công ty bình phong đứng tên Vũ Nhôm.

Vũ Nhôm không thể tự mình trở thành công ty bình phong của Tổng cục Tình báo (Bộ Công an). Ngay cả khi Vũ Nhôm là người đầu tiên đề xuất ý tưởng, thì Vũ Nhôm cũng không thể tự trở thành công ty bình phong của Tổng cục Tình báo. Trong mọi trường hợp Vũ Nhôm không thể là người cầm đầu. Đề xuất mưu kế không có nghĩa là cầm đầu. Trần Việt Tân – Bùi Văn Thành không phải là người tiếp tay cho Vũ Nhôm, mà Trần Việt Tân – Bùi Văn Thành là những kẻ cầm đầu băng nhóm chiếm đoạt công sản. Vũ Nhôm chỉ là chiếc áo khoác và là thuộc hạ thừa hành.

Xác định sai đối tượng cầm đầu nên xét xử không đúng. Cầm đầu băng nhóm cướp đoạt hàng ngàn tỷ đồng tiền nhà công sản mà chỉ có 3 năm tù cho Trần Việt Tân và 2 năm rưỡi tù cho Bùi Văn Thành là các quan tòa đã ngồi xổm trên luật pháp.

TỚI VỤ ÁN BÁC SĨ HOÀNG CÔNG LƯƠNG

Bác sĩ Hoàng Công Lương được giới bác sĩ chuyên môn ủng hộ vô tội.

Ngay cả gia đình các nạn nhân cũng kêu oan cho BS Hoàng Công Lương.

Quan trọng nữa, dư luận xã hội liên tục lớn tiếng về sự vô tội của BS Hoàng Công Lương.

Đến báo chí của Nhà nước cũng kêu oan cho BS Hoàng Công Lương.

Đến các ĐBQH cũng chất vấn vụ BS Hoàng Công Lương. Vụ án BS Hoàng Công Lương đã trở thành không thể che giấu.

Vậy mà, đại diện VKS tỉnh Hòa Bình nhất quyết buộc tội. Và Tòa án tỉnh Hòa Bình nhất quyết xử 42 tháng tù đối với BS Hoàng Công Lương.

Câu hỏi hiển nhiên là: Ai đã ép Tòa án Hòa Bình nhất quyết phải bỏ tù BS Hoàng Công Lương?

Nếu không có quyền lực nào ép VKS và Tòa án Hòa Bình bỏ tù BS Hoàng Công Lương thì câu hỏi tiếp theo sẽ là: Đồng tiền nào đã ép bỏ tù BS Hoàng Công Lương?

Nếu không phải đồng tiền đã ép bỏ tù BS Hoàng Công Lương thì câu hỏi tiếp theo sẽ là: Sự ngu dốt nào đã bỏ tù BS Hoàng Công Lương?

Cả 3 câu hỏi trên đã nói lên bản chất nền Tư pháp Việt qua vụ án BS Hoàng Công Lương.

Từ vụ án Trần Việt Tân – Bùi Văn Thành – Phan Hữu Tuấn – Vũ Nhôm và vụ án BS Hoàng Công Lương có thể thấy được sự chính xác không chối cãi của khẳng định sau:

Không chỉ Oan Sai, mà Bẻ Cong Công Lý chắc chắn cũng là một Thuộc Tính của nền Tư pháp Việt.

Chừng nào chưa xóa bỏ nền tư pháp què quặt phụ thuộc để thay thế bằng một hệ thống tòa án sòng phẳng độc lập, thì chừng đó đừng nói đến công lý cho người nghèo kẻ yếu. Nguy hiểm hơn, cả xã hội không có lòng tin vào lẽ phải, không có lòng tin vào chính quyền, và đất nước không thể phát triển bền vững lành mạnh.

Nền Tư pháp Việt không chỉ đang tự biến mình thành kẻ thù của Nhân dân, mà một cách vô tình còn là kẻ thù nguy hiểm cho chính Nhà nước CHXHCN Việt Nam.

 N.N.C.

 Nguồn: FB Nguyen Ngoc Chu

 VIệT NAM MÙA TẾT: MÙA TÍN NGƯỠNG & TÔN GIÁO

tản mạn tâm linh

 VIệT NAM MÙA TẾT: MÙA TÍN NGƯỠNG & TÔN GIÁO

Tựa: Ôi đất nước nhạt nhòa trong hương khói !

***

Tôi và thế hệ mình nhiều lần nghe các thầy dạy chính trị và nhiều người nhắc lại câu này của Marx “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”. Từ đó họ đả kích tôn giáo và giương cao thuyết vô thần.

Thực ra bọn họ dùng xảo thuật trích dẫn một câu văn đơn lẻ trong một đoạn văn. Xảo thuật này đi ngược lại với ngụ ngôn “thầy bói xem voi”. Họ nói “con voi giống như 4 cái cột nhà”.

Chúng tôi dạy Ngữ văn và giảng cho SV rằng “một câu văn chỉ có ý nghĩa xác định trọn vẹn trong một đọan văn, một đoạn văn được xác định trong một bài văn ”. Đám tuyên huấn ngày xưa học hành tào lao hay là họ biết mà cố tình lừa dối người học bằng thủ đoạn tầm thường ấy?

Đây, hãy đọc cả đoạn văn có câu nói đó của Marx.

Trong tác phẩm “Lời nói đầu Góp phần phê phán triết học pháp quyền của ​H​egel​,​ Karl Marx viết như sau: “S​ự đau khổ của tôn giáo, một mặt là biểu hiện của sự đau khổ hiện thực và mặt khác là sự phản kháng chống sự khổ đau hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân“.

Mặt khác, để hiểu một từ ngữ lại cần khảo sát  kỹ gắn với thực tế.

Thuốc phiện là gì ?

Thuốc phiện (ma túy, opium) có hai mặt: 1. Là chất thuốc cần thiết trong y khoa và không thể thiếu khi điều trị nhiều căn bệnh. 2. Là thứ thuốc ăn chơi sinh ra nghiện ngập và vô số hậu quả tai hại khác. Trong văn cảnh (đoạn văn) nói trên, ý của Marx rất rõ: thuốc phiện là chất giảm đau đớn vì nỗi đau khổ hiện thực, tương ứng với tác dụng thứ nhất của thuốc phiện.

Tiến sĩ Nguyễn Quốc Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu tôn giáo, Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia đã viết bài Kiến nghị giữ lại nguyên trạng Hội dòng Mến thánh giá Thủ Thiêm, Nhà thờ Thủ Thiêm và các cơ sở tôn giáo lâu đời ở vùng đất này. Bài đăng trên Người Đô Thị ngày thứ Sáu, 03/03/2017. Mục tiêu kiến nghị của ông hợp lòng dân và được nhân dân cả nước ủng hộ.

Tuy nhiên cần bàn lại về quan điểm hơi có chút lạc quan sau đây của Ts Tuấn:

Nhờ sự phát triển của kinh tế mà ngày nay văn hóa truyền thống, đặc biệt là văn hóa tâm linh, đang được coi trọng, củng cố ”.

Tiến sĩ cho rằng văn hóa tâm linh ngày nay phát triển là nhờ “kinh tế phát triển”. Tôi e rằng các nhà kinh tế nghiêm túc sẽ phản bác quan điểm này.

Tuy nhiên ý kiến sau của ts Tuấn về tình trạng “tâm linh nhốn nháo” lại có thể chấp nhận được.

Hiện nay có ý kiến rằng lối sống của người Việt Nam đang bị phá vỡ, bon chen, nhốn nháo…Vì thế, những nơi tâm linh là nơi đọng lại tâm hồn con người, giúp con người hướng thiện, sống tốt đẹp hơn. Xã hội hiện đại cần có những hạt nhân tinh thần chi phối đời sống con người, đời sống tâm linh”.

Vấn đề tâm linh nước ta cần nhìn lại cả một quá trình lịch sử.

Trước khi xuất hiện chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhân dân ta cũng đã có sẵn đức tin. Tin vào Trời, Phật, Chúa. Mấy chục năm sau đó, nhà cầm quyền áp đặt “thuyết duy vật vô thần” đã kịp tàn phá một phần không nhỏ đức tin tôn giáo truyền thống của Nhân Dân… Vài chục năm lại đây, thuyết vô thần phá sản không phanh kịp, “đức tin” của nó cũng tiêu biến mất. Thành ra một chế độ mồ côi tâm linh. Con người ta hóa ra bơ vơ về tâm linh. Nhà văn Trần Thanh Cảnh gọi đó là tình trạng “người Việt mồ côi đức tin”. Mồ côi thì bơ vơ, hành vi sẽ tùy tiện, bởi chẳng còn có gì ràng buộc nữa.

Một khi con người ta có đức tin, có niềm tin vào luật Trời, luật nhân quả… người ta sẽ tự tin sống thiện lương. Không cần phải “dâng sao giải hạn” hay cầu cạnh thần linh. Bởi cưỡng cầu cũng không được. Trời có mắt. Tất cả những hành động vô lương tàn ác của ai đó có thể giấu được người chứ không có cách gì che được Trời. Và ngài ghi sổ đầy đủ. Họ sẽ phải trả ngay kiếp này hoặc ở kiếp sau, tùy theo cuộc sống xoay vần. Đó là luật rồi. Thế nên chúng ta hãy sống tử tế, đừng làm điều ác, chẳng phải cầu cúng gì mọi sự vẫn an lành.

Nghe tin phi vụ “dâng sao giải hạn” năm ngoái ở chùa Phúc Khánh Hà Nội tổng doanh thu đến 84 tỷ đồng. Siêu lợi nhuận. Ngân sách thì đang thâm thủng. Liệu cơ quan thuế có biết mò tới  chùa mà xử lý  ? Năm nay không có gì bảo đảm rằng các loại lễ “dâng sao giải hạn” không trên đà phát triển rộng khắp hơn, tràn lan hơn “cùng kỳ năm ngoái”.

Nhóm lợi ích địa phương kết hợp nhóm lợi ích buôn thần bán thánh. Nhìn hình ảnh sau đây mà thấy sợ hãi cho thời buổi nhiễu nhương này.

Có người thử giải thích: Vì mưu sinh quá khổ cực, mất niềm tin vào cuộc sống, nên dân ta cứ mê muội tin vào thánh thần rồi tâm linh, mong có cuộc sống sung sướng. Nhưng càng tin càng thất vọng, bọn người vô luân kia nhân cơ hội tranh tối tranh sáng thu lợi bất chính trên sự đau khổ của dân chúng.

Người khác nói:  Khủng hoảng niềm tin nghiêm trọng, không biết bấu víu vào điều gì nên người ta phải tìm đến Đấng Siêu Nhiên.

Người khác thất vọng: Không còn đức tin thì sớm muộn cũng loạn. Không có tôn giáo chắc cũng thế mà thôi.

Ngày nay đảng viên và công chức đi chùa chiền nhà thờ là chuyện bình thường.

Tuy nhiên từ các đảng viên lan sang công chức, trong các hồ sơ lý lịch phần lớn ở mục ghi TÔN GIÁO vẫn ghi là “Không” (!?).

Rất nhiều người lãnh đạo, từ cán bộ cấp cao nhất là tổng bí thư chủ tịch nước trở xuống đi lễ chùa cầu xin phù hộ để đạt mọi mong muốn. Ai muốn tránh mặt thì sai vợ đi thay.

Chức tước thì do Đảng và tổ chức phân công, cớ gì phải đi lạy lục chỗ này chỗ kia ?

Câu cửa mồm của những kẻ lụy “thánh thần mác lê” là: “tin tưởng tuyệt đối vào đảng” hóa ra xáo rỗng giả dối. Hình ảnh lan rộng trên mạng hai năm qua là ông Nguyễn Tấn Dũng và ông Trần Đại Quang thành kính trầm tư trước Phật đài tiêu biểu cho sự khủng hoảng “đức tin” của Đảng.

Có bao nhiêu cán bộ đảng viên như thế nữa ?

Ngày Tết đi chơi, ghé vãn cảnh chùa chiền đền miếu cũng tốt. Trước Tam bảo hay trước Hậu cung mà ngẫm về cuộc sống cũng có cái thú vui riêng.

Việc thờ cúng ông bà tổ tiên, ơn nhớ những người đi trước, nhất là những người đã bỏ mình vì đại nghĩa là tình cảm tự nhiên của những ai làm người. Chẳng có gì mà ầm ỹ. Lại càng không cần quá nhiều nghi lễ rườm rà. Nghi lễ “cách mạng”luôn có nguy cơ bị tha hóa thành “trò diễn”. Chỉ tổ nuôi béo đám đạo diễn và ca sĩ ca công chạy sô mệt nghỉ.

Năm mới, phong tục mới ra đời.

Lại đến Tết, lại mùa Lễ hội, lại om sòm ỏm tỏi khắp nơi xung quanh các từ khóa “cướp”, “giật”, “đốt”, “chen”, “lấn”, “phát”, “ấn”…. tóm lại là những phàn nàn muôn thưở.

Thấy ai cũng luyến tiếc ngày xưa nó thế này, ngày xưa nó thế khác còn ngày nay thì nó nào là “mất đi” nào là “xuống cấp” nào là do mặt trái kinh tế thị trường ….và thể nào cũng đổ lỗi một phần do giới trẻ!

Cho nên Lễ hội những năm gần đây là làm đầy thêm, làm phì đại cái mặt trái, mặt dở của cái gọi là “truyền thống” chứ có mất đi cái gì đâu!

Cả hệ thống xã hội tham gia vào việc “làm đầy” này, chả thấy ai nỗ lực làm vơi, hay phát huy truyền thống tôn giáo dân tộc!

 Năm ngoái về trước, tục “chém lợn ngang lưng” man rợ bị công luận đả kích dữ dội, nhà cầm quyền địa phương đành phải ra tay. Họ ra qui định hạn chế hành lễ chém lợn trong phạm vi hẹp, kín, cấm người xem.

Năm nay, phong tục mới nảy ra: “nhổ lông lợn cầu may” (xem ảnh).

NHO LONG LON CAU MAY

Chẳng lẽ bây giờ người Việt lại khát trò hành hạ súc vật đến thế này. Họ đang tâm hành hạ con lợn theo kiểu “tùng xẻo” chết dần từng phút. Nhổ từng cái lông cho đến khi nó sống dở chết dở sau đó mới mổ thịt.

Lợn bị xả phanh thây, sau đó người ta chen chúc quệt mảnh giấy vào máu lợn lấy may!

Lợn mổ phanh chấm máu lấy hên

Kết

Sẽ có ít nhất ba tháng liền sau Tết Kỷ Hợi – mùa lễ hội tưng bừng triền miên. Các nhà báo tha hồ được cử đi phản ánh “niềm vui” dân chúng và làm đầy trang báo nhà.

Báo DÂN TRÍ hôm qua góp phần mở mang “dân trí”:

Lòng đường tắc nghẹt để “dâng sao giải hạn” vì sân chùa đã hết chỗ.

Đúng 19h ngày 12/2 (mùng 8 tháng Giêng âm lịch), tại sân chùa Phúc Khánh (quận Đống Đa, Hà Nội) chật kín người đến làm lễ dâng sao giải hạn đầu năm.

Xem VTV1 lúc 19h ngày hôm qua 12/02/2019, thấy đưa tin Thủ tướng Phúc đi kiểm tra thi công chuẩn bị cho Vesak tại ngôi chùa LỚN NHẤT THẾ GIỚI tại Việt Nam.

 

TT PHUC ĐI THĂM CHÙA LỚN NHẤT VN

tt phuc 3Này ông Thủ tướng ơi, ông theo đường lối cộng sản chủ nghĩa mà sao rảnh quá dành cho tâm linh, không còn việc gì điều hành hay sao ?

tt phuc 2

Hay là, nước ta đang ngầm “tự chuyển biến” làm Cộng Hòa XHCN PHẬT GIÁO VIỆT NAM rồi?

Để “Toàn đảng toàn dân cầu xin và hy vọng Phật tổ phù hộ cho nước nhà mau tiến lên được CNXH ”?

Đất nước nhạt nhòa trong hương khói thật rồi ư !

Giang Nam tôi kiến nghị Bộ GD và hoặc Học viện Chính trị Quốc gia HCM cũng nên mở thêm mã ngành Phật giáo hay Bụt giáo gì đó trong hệ thống các trường ĐH, CĐ và TC để đào tạo thầy tu cấp tốc, kẻo quá thiếu nhân lực khi chùa chiền phát triển “nóng” quá nhanh khắp toàn quốc. Tất cả đảng viên phải đi học lớp “Vái, lạy tạ, gục đầu vào vách núi, ngồi bệt, quỳ gối” để phục vụ việc lễ Chùa ! (ý kiến Fb Lê Quang Hợp).

PHN

CÂU CHUYỆN VĂN HỌC ĐẦU NĂM: MỘT SỐ KIẾN GIẢI VỀ BÀI THƠ QUAN HẢI

CÂU CHUYỆN VĂN HỌC ĐẦU NĂM: MỘT SỐ KIẾN GIẢI VỀ BÀI THƠ QUAN HẢI

Phùng Hoài Ngọc

 ————————————-

DẪN: QUAN HẢI của Nguyễn Trãi là một bài thơ có nhiều điểm thú vị về mặt ngữ nghĩa dịch thuật, nhưng thú vị nhất có lẽ nằm ở tựa bài thơ: QUAN HẢI. Vậy QUAN HẢI là gì?

HẢI là biển thì ai cũng biết. Thế nhưng QUAN có nhiều nghĩa, mà nếu không xác định được nghĩa nào, thì bản dịch có khi rất buồn cười. Có người hiểu QUAN là CỬA nên QUAN HẢI là CỬA BIỂN. Có người hiểu QUAN là ĐÓNG nên QUAN HẢI là ĐÓNG CỬA BIỂN. Có người hiểu QUAN là NGẮM nên QUAN HẢI là NGẮM BIỂN . Có người lại hiểu QUAN HẢI là CÔNG TÁC PHÒNG NGỰ TRÊN BIỂN (!) …

Nhưng TỰA THƠ chính là NỘI DUNG rút gọn của cả bài thơ. Hiểu TỰA THƠ khác nhau tất sẽ hiểu NỘI DUNG bài thơ khác nhau. Tuy nhiên đa số các dịch giả Việt Nam, dù hiểu tựa thơ khác nhau, nhưng lại phản ánh được tư tưởng của nội dung bài thơ khá thống nhất: CHỈ CÓ CHÍNH NGHĨA MỚI THẮNG ĐƯỢC HUNG TÀN!

Nếu coi QUAN HẢI là một kiệt tác của danh nhân văn hoá Nguyễn Trãi, thiết tưởng ngữ nghĩa của bài thơ nói chung, và tựa thơ nói riêng cũng nên xem lại. Đối với vấn đề  này, nhà nghiên cứu Phùng Hoài Ngọc đã đưa ra một số kiến giải, xin giới thiệu cùng quý vị độc giả gần xa . Trân trọng. TS VĨNH TUỆ

——————————-

Về bài thơ QUAN HẢI, hiện có hai bản tựa đề khác nhau trôi nổi trên mạng:

關海 (quan hải: đóng cửa biển) chữ “quan” giản thể là: 关

观海( quan hải: quan sát biển, đứng ngắm biển)

Từ đó tồn tại hai kiểu dịch tựa đề khác nhau. Khi in ấn bản gốc nào đó, có thể do ai đó hiểu sai chính tả khi viết chữ « quan » đồng âm, khác chữ (關 và 观). Chúng ta biết chọn chữ nào đây ?

Vậy phải phân tích về nội dung thơ, xét xem tựa đề nào phù hợp nội dung hơn, ta sẽ chọn tựa đề đó.

Có nhiều chữ “quan” khác nhau, xin dẫn ra 2  chữ quan quen thuộc nhất với các nhóm /trường nghĩa khác nhau:

QUAN 1: (ca, đóng cửa) 

1.1 Nghĩa cụ thể, vật chất

Động từ:

Quan hải: 关海đóng cửa biển

Bế quan: 閉关 khép cửa biên giới

Danh từ: Hải quan 海关(nơi xét giấy tờ, hàng hóa, đóng thuế), như Quan thuế

Mục Nam quan (cửa ải nhìn về phương Nam), Quan tái/ Quan ải (cửa khẩu biên giới),

Quan môn (cửa quan)

Quan san: núi non và cửa ải (thế giới nói chung, hàm ý xuyên quốc gia, nghĩa cổ)

v.v…

1.2. Nghĩa trừu tượng, tinh thần, tình cảm, tâm trạng với cường độ mạnh

Quan ngại :关碍: e ngại vì bị cản trở (cô Lê Thu Hằng spokeswoman Bộ ngoại giao hay nói “quan ngại” về tình hình China gây hấn trên biển Đông với ý phản đối rụt rè, nhẹ nhàng. v.v…)

Quan liên 关联: liên quan, dính dáng (chữ này người Việt đọc viết ngược với Hán)

Quan tâm 关心 lưu ý, chăm sóc, giúp đỡ

Quan hoài 关懷: lo lắng chăm sóc giúp đỡ (mạnh, sâu sắc hơn quan tâm)

Quan thiết 1:关切 xem (ai, cái gì) là quan trọng (về ý thức, ý chí)

Quan thiết 2:关切 gần gũi quan tâm (về tình cảm)

Quan hệ:关系 mối liên hệ, liên lạc (như can hệ 干系)

* Nhân tiện, thử phân tích 1 động từ “quan tâm”: đóng, khoá, ngừng trái tim để dành cho/với ai đó (ví dụ: anh A hồi này rất quan tâm tới cô B: tức là, anh A hồi này khóa/dừng/tạm khép trái tim/tâm hồn với người khác, chỉ dành cho cô B. Tức là, anh A đã dành tình cảm và hành động cho/vì cô B.

QUAN 2: (nhìn, ngắm…)

Quan hải: : quan sát biển

Quan sát 观察 (nhìn tìm hiểu), quan khán 观看(nhìn thưởng thức)

Quan trắc 观测: đo đạc bằng mắt và dụng cụ

Kỳ quan 奇观: vật hiếm lạ quí

Giác quan 覺观

Quan điểm: 观点

Quan niệm: 观念

Thế giới quan:世介观

Hiện nay, bạn đọc đang băn khoăn giữa QUAN 1 hay QUAN 2, vậy cái nào là tựa đề của Nguyễn Trãi ?

關海   hay là ?

Chọn một bản gốc:

樁木重重海浪前,
沉江鐵鎖亦徒然。
覆舟始信民猶水,
恃險難憑命在天。
禍福有媒非一日,
英雄遺恨幾千年。
乾坤今古無窮意,
卻在滄浪遠樹煙。

(câu 8 có dị bản: 卻在滄遠樹煙)

Phiên âm:

 QUAN HẢI

Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền,
Trầm giang thiết toả diệc đồ nhiên.
Phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ,
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên.
Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật,
Anh hùng di hận kỉ thiên niên.
Kiền khôn kim cổ vô cùng ý,
Khước tại thương lang viễn thụ yên.

Dịch nghĩa

Cọc gỗ lớp lớp trồng trước sóng biển
Xích sắt cũng được trầm dưới nước để phong toả như thế
Thuyền có bị lật mới biết rằng dân chẳng khác gì nước
Cậy vào địa thế hiểm trở cũng khó bằng mệnh trời
Họa phúc đều có duyên do, đâu phải chỉ một ngày.
Anh hùng để lại mối hận nghìn năm
Xưa nay ý trời đất thì vô cùng tận
Lui về chốn cây cỏ s
ương khói xa xôi.

 Bản dịch của nhóm Đào Duy Anh :

 Lớp lớp rào lim ngăn sóng biển,
Khoá sông xích sắt cũng vầy thôi.
Lật thuyền mới rõ dân như nước,
Cậy hiểm khôn xoay mệnh ở trời.
Hoạ phúc gây mầm không một chốc,
Anh hùng để hận mấy trăm đời.
Vô cùng trời đất gương kim cổ,
Cây khói xa mù bát ngát khơi.


(Nguồn: Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học xã hội, 1976)

Nhiều bản dịch khác chọn “xứ Thương Lang”: (địa danh)

Bản dịch của NGUYỄN ĐẠI HOÀNG:

 ĐỨNG TRƯỚC BIỂN

 Cọc gỗ trùng trùng chắn biển khơi

Sông sâu lưới sắt bủa nơi nơi

Lật thuyền mới biết dân như nước

Cậy hiểm nào hay mệnh tại trời

Hoạ phúc ngọn nguồn đâu một lúc

Anh hùng để hận đến muôn đời

Chuyện trời đất cổ kim vô tận

Khói rừng xa suối biếc sương rơi…

Bài thơ QUAN HẢI của Nguyễn Trải tương truyền được ông làm ra, nhân khi đi qua công trình phòng thủ mà nhà Hồ đã xây dựng để chống giặc Minh xâm lược. Tuy chiến thuật này là giống với chiến thuật của các bậc tiền nhân- như Ngô Quyền chống quân Nam Hán, Lê Hoàn chống quân Tống, Trần Hưng Đạo chống Nguyên Mông- nhưng tiền nhân đại thắng, còn cha con Hồ Quý Ly đại bại.

 Nhà Hồ cũng vẫn sử dụng hiểm địa, dùng cọc lim trồng ở cửa biển, xích sắt giăng ngầm đáy sông…nhưng lòng dân, niềm tin của dân bây giờ đã khác. Đây là giai đoạn nhà Hồ mới đoạt vương quyền nhân lúc nhà Trần suy thoái, nhưng lòng dân chưa theo nhà Hồ. Đó là lý do Nguyễn Trãi nói: “Phúc do thuỷ tín dân do thuỷ”.

 Nguyễn Trãi viết “Phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ” là dựa vào điển cố Tuân Tử, một triết gia nước Triệu (Trung Quốc, sống từ khoảng giữa thế kỷ 4 và 3 trước Công Nguyên). đã nói: “Dân do thủy dã, thủy năng tải chu, nhi năng phúc chu” (Dân cũng như nước, nước chở thuyền được mà cũng làm lật thuyền được).

Ta nên chọn tựa đề nào cho bài thơ thất ngôn bát cú ?

 Chỉ có 2/8 câu thơ mở đầu nói về việc “đóng cửa biển, khóa biển” (quan hải 關海). Thực ra phải dịch là “chặn biển” tức là hành động ngăn chặn quân xâm lược phương Bắc, phù hợp với hoàn cảnh nhà Hồ sắp mất vào nhà Minh xâm lược (nghĩa chung của “quan hải” là: nhà cầm quyền tuyên bố lệnh cấm tàu thuyền nước khác đi vào vùng biển chủ quyền của mình).

Tuy nhiên, phần chính bài thơ còn tới 6/8 câu thơ tả việc nhà thơ quan sát biển mà suy ngẫm về sức mạnh Nhân dân, về Mệnh trời, về anh hùng thất thế, và đặc biệt câu kết bài thi nhân tỏ vẻ thất vọng nhà Hồ, tỏ ý lui về chốn xa xôi hoang vắng ẩn mình.

Rút cục thì, “chặn biển” hay là “quan sát biển, ngắm biển”? Phải chọn một chứ không thể dung hòa.

Trộm nghĩ rằng, tựa đề phải là “quan sát biển” mà bản dịch “Đứng trước biển” của Nguyễn Đại Hoàng vừa chính xác vừa đậm tính văn chương.

Câu 8 cuối cùng cũng có hai dị bản: thương lãng hay Thương Lang ?

滄 thương: biển, màu xanh, rét lạnh,  浪 lãng: sóng nước. Thương lãng: sóng xanh/biếc

蒗 lang: tên đất (ví dụ 滄蒗:Thương Lang). 

“Lang” sinh ra từ chữ lãng thêm bộ thảo (cỏ 艹) trên đầu: , chỉ địa danh.

Hai dị bản câu cuối đều phù hợp bài thơ, chọn cái nào cũng được.

Giá như chữ Hán có qui định viết hoa như chữ la tinh thì điạ danh “Thương Lang” được biết ngay.

CUỘC TRAO ĐỔI NGẮN VỚI NGUYỄN ĐẠI HOÀNG

Tôi đem bài thơ nói trên trao đổi với Nguyễn Đại Hoàng. Nguyễn quân bảo chỉ mạo muội trao đổi, góp ý với các bạn trẻ, các bạn sinh viên học sinh, những bạn vốn chưa học qua chữ Hán và các điển tích mà thôi.

> VỀ TỰA BÀI THƠ :

Khi được hỏi vì sao lại dịch QUAN HẢI là ĐỨNG TRƯỚC BIỂN, Nguyễn Quân luận rằng: 

 Chữ HẢI là biển thì ai cũng biết.Thế nhưng chữ QUAN lại có nhiều nghĩa, mà nếu không xác định được nghĩa nào, thì bản dịch có khi rất buồn cười. Có người hiểu QUAN là CỬA nên dịch là CỬA BIỂN. Có người hiểu QUAN là ĐÓNG nên dịch là ĐÓNG CỬA BIỂN. Có người hiểu QUAN là NHÌN NGẮM, QUAN SÁT nên dịch là NGẮM BIỂN, thậm chí có người còn đi xa hơn khi dịch QUAN HẢI là CÔNG TÁC PHÒNG NGỰ TRÊN BIỂN (sic)! Theo tôi QUAN dịch là QUAN SÁT, NGẮM NHÌN là phù hợp. Nhưng nên hiểu : NGẮM bằng MẮT, và CẢM bằng TIM. Nói cách khác, đằng sau chữ QUAN hữu hình còn một chữ QUAN vô hình khác nữa. Và bởi không có một chữ QUAN thứ ba nào khác có thể thay thế cho 2 chữ QUAN trên. Nên cụm từ ĐỨNG TRƯỚC BIỂN là khả dĩ nhất để dịch tựa bài thơ QUAN HẢI. Đứng trước biển là để NGẮM và để NGHĨ. Chỉ vậy thôi!

> VỀ CÂU THƠ CUỐI :

卻在滄浪遠樹烟

Khước tại thương lang viễn thụ yên

Khi bàn về ý nghĩa câu thơ này, Nguyễn quân cho rằng : “thương lang” 滄浪 có mấy nghĩa sau đây :

  1. Thương Lang : phần hạ lưu sông Hán (Trung Quốc).  Trong bài ca Ngư Phủ của Khuất Nguyên, có hai câu :Thương Lang chi thủy thanh hề, khả dĩ trạc ngã anh
    Thương Lang chi thủy trọc hề, khả dĩ trạc ngã túc.

Dòng nước Thương Lang trong ư? Ta có thể giặt giãi mũ
Dòng nước Thương Lang đục ư? Ta có thể rửa chân

Trong thi văn, Thương Lang thường dùng để chỉ nơi ẩn dật.

 2.Thương lang : Nước xanh ( biếc). 

Trong bản dịch của mình, Nguyễn quân đã chọn thương lang với ý nghĩa là “nước biếc, suối biếc”.

Nguyễn quân cũng lưu ý:

Chữ YÊN trong câu thơ nói trên có nghĩa là sương, khói – chứ không phải là bình yên như nhiều bạn trẻ đã hiểu. Nhân tiện cũng nói thêm về câu thơ :英雄遺恨幾千年 – Anh hùng di hận kỷ thiên niên thì chữ kỷ trong kỷ thiên niên (kỷ: vài ba, several) khác với chữ kỷ trong thiên niên kỷ (kỷ: giai đoạn, period)! Câu thơ nói trên cũng bị nhiều bạn trẻ hiểu đại khái là: anh hùng HẬN đến ngàn năm. Trong đó HẬN là động từ.

Nhưng thực ra phải hiểu là: dù là anh hùng, nhưng nếu làm sai, thì anh hùng BỊ hậu thế HẬN cả ngàn năm.  Nghĩa là ANH HÙNG BỊ HẬN chứ không phải ANH HÙNG HẬN đâu! Quả đúng vậy :英雄遺恨幾千年 – Anh hùng di hận kỷ thiên niên. Các bạn hãy xem chữ DI HẬN遺恨 thì rõ. Về mặt ngữ pháp thì DI ở đây là động từ, còn HẬN là danh từ! Anh hùng để hận đến muôn đời. Tôi hiểu vậy, không biết Phùng tiên sinh và quý vị thân hữu nghĩ sao? ….”

Tôi chưa kịp trả lời thì Nguyễn quân đã hẹn sẽ cùng tôi trở lại bài QUAN HẢI trong một dịp khác. Sâu xa và khúc chiết hơn. Ít nhất là sẽ luận về 2 câu kết, khi tôi toan lôi kéo Nguyễn quân quay trở lại câu thơ cuối, bằng cách buông lời “khích bác” theo kiểu kiếm hiệp :   

卻在滄浪遠樹烟

Khước tại thương lang viễn thụ yên

Khói rừng xa suối biếc sương rơi….

“ Này các hạ! Viễn Thụ mà dịch là Rừng Xa nghe được đấy! Nhưng mà câu thơ dịch Khói rừng xa suối biếc sương rơi…. tại hạ nghe có vẻ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư thế chứ! Liệu có đúng ý cụ Nguyễn Trải không hả Nguyễn đại nhân …?

 Nguyễn quân cũng chỉ cười trừ mà rằng: Đã hẹn rồi mà! Và nói thêm: Tôi sẽ tiếp tục trao đổi cùng Phùng tiên sinh, nếu tiên sinh đối được câu sau đây trong vòng 5 phút: 

“Quan hải quan quan hải”

….………………………..

Thôi thế thì thôi vậy, tôi đành hẹn lại quý vị thân hữu trong những bài viết sau vậy. Kính chúc quý vị thân hữu, các bạn trẻ gần xa một năm mới hạnh phúc, thành công (Đừng quên đối lại câu xuất nói trên của Nguyễn quân nhé!

Trân trọng.

 PHÙNG HOÀI NGỌC

2/2019

Sự tích Táo quân, đài VTV3 và Cụ Tổng đi phóng sinh cá chép đỏ ở Hồ Gươm

Sự tích Táo quân, đài VTV3 và Cụ Tổng đi phóng sinh cá chép Hồ Gươm

Phùng Hoài Ngọc

*** Đăng trên tờ VNTB

Ngày 22 tháng Chạp âm lịch năm con chó Mậu Tuất, vợ chồng ông Tổng Chủ và giàn quan chức năm nay sáng kiến tô đậm hình ảnh tân chủ tịch Nước và Đệ nhất phu nhân. Họ đi phóng sinh một thau cá chép đỏ ở Hồ Kiếm, nhân tiện gắn tên tuổi tân vương với cựu vương Lê Lợi trả kiếm cho hồ. Có vẻ quan chức cao cấp nước ta và Tổng Chủ quí trọng bảo tồn truyền thống dân gian, tôn vinh Táo quân dịp Tết năm con heo Kỷ Hợi 2019.

sư tich Tao quan

Tuy nhiên, éo le thay, tối 30 tết, VTV3 lại công diễn chương trình GẶP GỠ CUỐI NĂM, còn gọi “Táo quân về trời” được nhiều báo chí khai thác từ lúc giàn diễn viên hề còn đang tập luyện và đùa giỡn khá tục tĩu. Dân chúng thì nao nức haó hức chờ đón giờ truyền hình cuối năm âm lịch. Họ chờ đợi điều gì ? Họ dự đoán năm nay chuyện gì và nhân vật nào của hệ thống chính trị xã hội sẽ bị chế giễu. Báo chí quốc doanh và Mạng Xã Hội đăng lại nhiều góc hình diễn viên hài đang tập luyện… Lời bình rôm rả.

Hai sự kiện trên đã thể hiện rõ nét tính nước đôi  văn hóa Việt Nam.

“Tư tưởng nước đôi” này chính là cái nhược điểm chết người của dân tộc ta, khiến nó cứ bùng nhùng không phân định được đâu là truyền thống đâu là hủ tục.

Nhân đây tôi xin đóng vai nhà Folklore học khảo lại sự tích Táo quân, từ đó soi chiếu vào “hai hiện tượng” trên.

Truyện cổ tích Việt Nam: “Sự tích ba ông đầu rau”

 Từ hình ảnh cái bếp gồm ba cục đất nặn hình hộp vuông hoặc khối chữ nhật (sau này phát triển thành kiềng sắt ba chân), ai đó sáng tác chuyện “Sự tích ba ông đầu rau”. Chuyện kể hai vợ chồng nghèo, người chồng phải tha phương đi làm ăn xa. Luôn luôn gặp khó khăn, người chồng không thể về quê. Vợ ở nhà chờ đợi mãi không có tin tức gì, nghĩ chồng đã chết rồi nên đã đi bước nữa. Một ngày nọ người chồng cũ lần tìm về quê nhà. Một cuộc đoàn viên tay ba éo le mừng mừng tủi tủi. Khó xử cho cả ba người. Người vợ xấu hổ nên đã đâm đầu vào đống lửa tự vẫn. Lần lượt hai ngừi chồng cũng đâm vào chết theo cho trọn nghĩa vợ chồng. Thượng đế thương tình và cám cảnh ba người chung tình liền cho họ làm ba ông đầu rau để được sống mãi bên nhau.

Rõ là thi pháp của truyện cổ tích là tìm cách gán cho ba cục đất mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Từ đó lại đẻ thêm truyện ông vua Bếp hàng năm bay về thượng giới trình báo chuyện nhân gian cho Ngọc Hoàng biết.

Lại sinh thêm truyền thuyết vua Bếp về báo cáo việc cai trị của vua chúa quan lại địa phương cho thiên đình nắm được. Câu chuyện này mang ý nghĩa phản phong, phát triển từ câu chuyện trước. Đó cũng là một cách phản biện dân gian về chính trị xã hội.

Các nhà sáng tác hài kịch dân gian lại vẽ thêm “con cá chép” được chọn cho vua Bếp cưỡi. Còn vua Bếp chỉ mặc áo thụng, không mặc quần (vì ngồi trong bếp sợ quần bén lửa). Vua Bếp hiện ra vừa trân trọng linh thiêng lại vừa hài hước dung tục. Đó cũng chính là sự thể hiện “tính nước đôi” trong sáng tác dân gian. Bởi vậy ngay từ thời phong kiến, giai cấp thống trị không phải ngẫu nhiên mà đều rất coi khinh coi rẻ văn nghệ dân gian vì cái tính thiếu nhất quán của nó.

Phong tục cúng ông Táo

Táo quân (chữ Hán: 灶君); Táo vương (灶王) gốc Trung Hoa có nghĩa Vua Bếp, người ta gọi  nôm là Ông Táo trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, được xem là vị thần cai quản việc bếp lửa trong mỗi nhà. (Táo: 灶, zào, có nghĩa là bếp (bộ hỏa kết hợp bộ thổ).  Chữ Táo cũng dùng gọi ba suất ăn trong hệ thống chính trị Trung cộng nhập khẩu vào Việt Nam từ hồi chiến tranh Việt- Pháp. Ban đầu chỉ áp dụng cho cố vấn và lính  Trung cộng sau  cán bộ sĩ quan của ông Hồ Chí Minh cũng học theo, ngay từ trong kháng chiến 9 năm. “Tiểu táo” dành cho cán bộ tướng lĩnh và cán bộ cao cấp, “trung táo” cho cán bộ trung cấp, còn “đại táo” dành cho lính trơn ! Mới đầu bộ đội nghe được ăn “đại táo” tưởng là mâm to, cỗ đầy, ngờ đâu “đại” là cái nồi, chảo to nấu ăn cho lính tráng ăn “đại trà”. “Tiểu táo” tuy nhỏ nhưng là suất ăn đặc biệt nấu trong bếp nhỏ, nồi nhỏ cho cao cấp).

Tín ngưỡng dân gian Việt Nam và Trung Quốc đều phong thần cho hai vị trí đặc biệt trong mỗi ngôi nhà. Góc nhà là nơi thờ thần Đất (Địa công, ông Địa) với niềm tin vị thần này giữ gìn an ninh con người và nhà cửa. Hỏa thần (tức Táo quân, vua Bếp) phù hộ việc ăn uống. Đó là nguồn gốc thờ thần Bếp. Hàng năm dân chúng chọn một ngày cúng lễ vua Bếp, 23 tháng Chạp âm lịch. Tín ngưỡng này không liên quan gì chuyện Táo quân về Trời báo cáo và cưỡi cá chép.  Mỗi gia đình một mâm cỗ cúng là xong.

Phong tục thả cá phóng sinh bắt nguồn từ giáo lý nhà Phật.

  Đạo Phật có lời răn giới “Chim sa cá nhảy”. Các nhà sư dạy rằng đi đường gặp “chim sa” tức con chim bị bệnh rơi xuống thì nuôi dưỡng nó, khi nó khỏe rồi thì thả bay đi. “Cá nhảy” là con cá dưới ao hồ vì nhảy mạnh lỡ đà văng lên mặt đất. Ai bắt gặp thì thả con cá xuống nước. Đi đường gặp “chim sa cá nhảy” chớ ham ăn mà bắt mang về mang tội rất nặng. Từ đó nhà chùa lại đẻ ra tục lệ “phóng sinh” thực ra trải qua bao thế kỷ, không phải ai cũng làm theo, ngay cả bây giờ cũng vậy. Con chim đang sống tự do, con cá đang vùng vẫy chốn ao hồ, dùng bẫy và lưới bắt về rồi lại làm “lễ phóng sinh”, chẳng phải là sự gian dối hay sao.

Đó cũng là tính nước đôi của phong tục tập quán nước ta và Tàu.

Sự tích Táo quân cưỡi cá chép mang tính hư cấu tùy tiện. Nhà folklore chất vấn tại sao chỉ là cá chép, mà không thể là con cá khác ? Sao không cưỡi chim mà lại cưỡi cá ? Thiên đình tọa lạc ở dưới thủy cung hay sao ?

“Gặp gỡ Táo quân vừa tôn trọng vừa chế giễu hài hước

Đây vẫn là biểu hiện rõ nét về tính nước đôi của văn hóa ngệ thuật Việt.

Suốt 15 năm qua đài truyền hình quốc gia VTV dàn dựng công phu tiết mục “Táo quân” tức “Gặp gỡ cuối năm”. Nội dung vừa tôn trọng vừa chế giễu các vị Táo quân và cả thiên đình. Cảm hứng chế giễu rõ ràng lấn át cảm hứng trân trọng. Thêm một tính nước đôi văn hóa Việt mang tính ngụy biện.

Sự kiện vợ chồng ông Tổng Chủ chọn ngày 22 tháng Chạp âm lịch ra bờ Hồ Hoàn Kiếm làm lễ phóng sinh một thau cá chừng một kí lô, rõ là một động thái hình thức “diễn” để xây dựng hình ảnh một lãnh tụ làm gương cho Dân ngày 23 hưởng ứng phóng sinh. Sau đó 7 ngày công chúng lại xúm quanh ti vi xem Táo quân và triều đình diễn hề, mặc dù được tiếng vớt vát là phê phán thói hư tật xấu. Các đài miền Nam nhất là Sài Gòn cũng đua đòi theo VTV đổ tiền bạc làm trò hề Táo quân, phiên bản miền Nam. Làm mãi cũng nhàm nhưng còn biết làm gì hơn !

Đài truyền hình quốc gia VTV đã chính thức “giải thiêng” hình ảnh Táo quân và Ngọc Hoàng thượng đế. Tuy nhiên đến cuối tiết mục lại ca tụng, đánh bóng hình ảnh Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu và các Táo cùng nhau đồng thanh nói/ hát một câu “kết luận” theo đúng “định hướng xã hội chủ nghĩa”, lấy lại lập trường kiên định.

Sáng tạo tiết mục “Gặp gỡ Táo quân” đã vô hình trung phá bỏ hình ảnh đáng tôn trọng của tín ngưỡng dân gian.

Những ông, bà Táo ăn mặc đủ kiểu nhí nhố, cãi lộn, chọc tức nhau, thậm chí cùng với hai vị quan triều đình Nam Tào, Bắc Đẩu dám giễu cợt cả Ngọc Hoàng ! Công chúng phần nhiều ngóng theo để được cười xả láng. Như vậy công chúng tự mâu thuẫn với mình khi họ vừa cúng lễ trịnh trọng ngày 23 thì đúng một tuần sau lại hồi hộp theo dõi các Táo  diễn trò và cả Ngọc Hoàng cũng tự chế giễu, bị chế giễu ! Giữa cái văn hóa tín ngưỡng nước đôi như thế, ông Tổng Chủ vốn gốc dân Văn nghĩ gì, hay là tranh thủ làm gì đó cho hình ảnh của mình và hệ thống  là được ?

Đó là vì “tư tưởng văn hóa nước đôi” !

“Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Tín ngưỡng cúng 23 tháng Chạp vốn không kèm theo hủ tục, xin cứ việc giữ gìn vì nó vô hại.

Chuyện cá phóng sinh vốn thuộc Phật giáo, không nhất thiết phải gắn vào ngày cúng ông Táo thuộc phạm trù Nho giáo.

Năm nay không khí chờ đợi được nhắc nhở sớm hơn. Ấy là nhờ vợ chồng ông Tổng Chủ làm ra màn daọ đầu hấp dẫn. Đệ nhất phu nhân nước Việt mặc đồ rất chói mắt: áo thêu rồng đỏ chói và tấm quần vàng chóe: một game màu nóng hực lên giữa trời Hà Nội se lạnh. Ông xã bận complet xám chính khách. Đội ngũ tháp tùng cà vạt com lê xúm quanh hình bán nguyệt  lại thêm một nhà sư áo vàng và ông đạo sĩ áo đỏ, vỗ tay cười hỉ hả. Cameraman đứng từ phiá bờ hồ đối diện chụp nhiều góc máy, đăng trên nhiều báo chí quốc doanh…

Đó là ca tụng hay là chế giễu ?

Lại thể hiện tính nước đôi của văn hóa Việt !

PHN

NƯỚC MỸ VẪN ĐỨNG ĐẦU CẢ KHOA HỌC XÃ HỘI- NHÂN VĂN

TẦM QUAN TRỌNG CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI-NHÂN VĂN TẠI MỸ

HÔM NAY 11/2/2019 tờ báo OBSERVER (Người quan sát) đăng bài viết của nhà nghiên cứu Nguyễn Hải Hoành. Tờ “Nghiên cứu quốc tế.org” đăng lại bản tiếng Việt.

Observer (Người quan sát) là một tờ báo của nước Anh được xuất bản vào chủ nhật. Ở cùng một vị trí chính trị như các tờ báo chị em của nó The Guardian (Người bảo vệ) và The Guardian Weekly (tuần báo Người bảo vệ), có công ty mẹ là Guardian Media Group Limited, theo đường lối dân chủ xã hội hoặc tự do xã hội trong hầu hết các vấn đề.

Tờ báo Observer xuất bản số đầu tiên năm 1791.

Tác giả: Nguyễn Hải Hoành

Cho tới nay vẫn còn có người cho rằng nước Mỹ chỉ chú trọng phát triển khoa học tự nhiên và kỹ thuật (viết tắt KHKT) mà coi nhẹ khoa học xã hội và nhân văn (KHXHNV). Một số học giả Trung Quốc nói văn hóa Mỹ và phương Tây chỉ nhấn mạnh cách làm việc mà coi nhẹ luân lý đạo đức, chỉ có văn hóa Trung Hoa (nhất là Nho học) nhấn mạnh luân lý đạo đức, chú ý trau dồi cách tu dưỡng làm người.

Sách Nghiên cứu chiến lược xuất bản năm 2003 của nhà chiến lược học nổi tiếng TQ Nữu Tiên Chung viết đại ý:

“Người Mỹ coi trọng công nghệ mà không coi trọng tư tưởng, coi trọng quản lý mà không coi trọng chiến lược. Họ có tâm trạng ăn xổi ở thì, chỉ cầu lợi trước mắt, dân Mỹ thiếu ý thức lịch sử, với bất cứ vấn đề nào họ đều muốn tìm kiếm giải đáp có tính kỹ thuật.[1]”.

 Ngay ở nước Mỹ hiện nay vẫn có học sinh vì cho rằng tư duy kỹ thuật cần được coi trọng hơn tư duy xã hội mà phân vân trước việc nên ưu tiên học ngành KHKT hay các môn xã hội và nhân văn.[2]

Thực ra từ ngày lập quốc tới nay, chính quyền cũng như giới tinh hoa nước Mỹ luôn luôn chú trọng phát triển cả KHKT cũng như KHXHNV; nhưng vì thành tựu KHXHNV ít có các biểu hiện bề nổi nên người ta khó nhận thấy. Nếu coi nhẹ KHXHNV, coi nhẹ tư tưởng, thiếu ý thức lịch sử và đầu óc chiến lược thì nước Mỹ sao có thể chỉ sau hơn trăm năm lập quốc mà vượt qua tất cả các cường quốc có lịch sử lâu đời, vươn lên vị trí siêu cường số một thế giới cả về sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Tiến trình ấy có lúc trắc trở, thất bại nhưng nhìn chung là một chặng đường thuận lợi. Từ lúc đấu tranh giành độc lập cho tới lúc mở mang bờ cõi, xây dựng đất nước, chiến thắng các quốc gia thù địch trong hai cuộc thế chiến và chiến tranh lạnh, nước Mỹ luôn tiến lên với tốc độ cao, từ đầu thế kỷ 20 cho tới nay giữ vị trí hàng đầu về KHKT và KHXHNV; sau Thế chiến II trở thành quốc gia lãnh đạo thế giới và có tiềm lực giữ được vai trò này trong một thời gian dài nữa.

KHOA HỌC XÃ HỘI ĐI TRƯỚC, QUYẾT SÁCH NHÀ NƯỚC ĐI SAU

Sự phát triển KHXHNV Mỹ có đặc điểm là nghiên cứu KHXHNV phục vụ trực tiếp cho việc chính quyền hoạch định đường lối chính sách đối nội đối ngoại. Đó là do các thế hệ nhà lãnh đạo Mỹ đều chủ trương mọi quyết sách lớn của nhà nước phải dựa vào các nghiên cứu đi trước của giới KHXHNV. Mặt khác, trong xã hội dân sự, mọi người dân đều có ý thức làm chủ đất nước, các nhà KHXHNV Mỹ luôn mong muốn kết quả nghiên cứu của mình có thể tác động tới chính quyền và xã hội, chứ không muốn nghiên cứu để mà nghiên cứu. Tương tác như vậy giữa chính quyền với giới khoa học đã giúp cho KHXHNV Mỹ phát triển rất sôi động; đầu tư vào ngành KHXHNV đem lại hiệu quả thiết thực. Phần lớn chính sách đối nội về cơ bản phù hợp nguyện vọng của dân, nhờ thế xã hội Mỹ từ ngày lập quốc (1776) tới nay luôn giữ được ổn định không hề xảy ra đảo chính hoặc cách mạng lật đổ chính phủ, cho dù dân chúng được hưởng quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp biểu tình (thậm chí được sở hữu vũ khí) và phế truất Tổng thống. Duy nhất có một lần tổng thống từ chức (Nixon, do vụ bê bối Watergate).

MINH BẠCH CÁC TƯ LIỆU LỊịCH SỬ là điều kiện tiên quyết cực kỳ quan trọng để khoa học XHNV phát triển, bởi lẽ tư liệu lịch sử là “nguyên vật liệu” để làm ra các sản phẩm KHXHNV; tư liệu mập mờ hoặc sai sự thật thì không thể có sản phẩm KHXHNV tốt. Chính phủ Mỹ quy định mọi sự thật lịch sử sau 30 năm phải được công khai cho dư luận biết; mới đây họ đã công khai toàn bộ hồ sơ về chiến tranh Việt Nam. Từ đầu thế kỷ 20, chính phủ Mỹ đã lập Cục Thống kê nhà nước, một việc làm rất quan trọng thể hiện nhà nước quan tâm phát triển KHXHNV. Hiển nhiên, không có các số liệu thống kê tin cậy về mọi mặt thì giới KHXHNV, trước hết là kinh tế học, sẽ không có căn cứ để tiến hành nghiên cứu hữu hiệu.

Trong Thế chiến I, quân đội Mỹ vận dụng tâm lý học để trắc nghiệm tâm lý binh sĩ, thiết thực dùng tâm lý học phục vụ chiến tranh. Cuối thập niên 1920, Tổng thống Hoover tổ chức các nhà KHXHNV nghiên cứu vấn đề xu thế phát triển xã hội Mỹ. Trong Đại khủng hoảng kinh tế thập niên 1930, chính phủ đã áp dụng nhiều thành tựu KHXHNV nhất là kinh tế học để vạch ra Chính sách kinh tế mới (New Deal). Trước Thế chiến II, chính phủ Roosevelt đưa ra các nguyên tắc cơ bản phát triển KHKT và KHXHNV sau chiến tranh.

Trong Thế chiến II, chính phủ Mỹ động viên nhiều nhà KHXHNV trong các trường đại học và cơ quan nghiên cứu tư nhân tham gia nghiên cứu tình hình trong nước và quốc tế để cung cấp căn cứ lý luận giúp chính phủ ấn định các quyết sách.

Cơ quan điều tra xã hội của chính phủ Anh nhận xét: Các nhà KHXHNV Mỹ trong mọi lĩnh vực đều tham gia chiến tranh. Các nhà nhân học và địa lý học nhận nhiệm vụ cung cấp các thông tin về dân tộc và địa lý ở vùng Thái Bình Dương. Các nhà kinh tế và chính trị học nghiên cứu việc sản xuất và kiểm soát các vật tư quân sự. Các nhà tâm lý học hăng hái tòng quân để làm công tác tuyên truyền trong quân đội. Từ cuộc chiến tranh này, chính phủ Mỹ hiểu được rằng địa vị quốc tế mới của nước Mỹ đòi hỏi phải có những người hiểu được lối sống và ngôn ngữ của các dân tộc khác.

Ngành KHXHNV đã đề xuất nhiều biện pháp cụ thể về chính sách kinh tế, phân phối tài nguyên, chiến tranh tâm lý. Như nghiên cứu đưa ra bản báo cáo về tình trạng tâm lý của con người Hitler để chính phủ Mỹ dùng làm căn cứ lên kế hoạch tấn công nước Đức. Trước chiến dịch giải phóng các đảo quốc Nam Thái Bình Dương, ngành KHXHNV Mỹ đã nghiên cứu văn hóa, phong tục dân gian các xứ này để quân đội Mỹ dựa vào đó đưa ra các điều lệ quy định cách ứng xử khi chiếm đóng các đảo quốc nhằm giữ được quan hệ thân thiện với dân địa phương. Cũng với cách làm đó, khi chiếm đóng các quốc gia thù địch Đức, Nhật, quân đội Mỹ đã gây được ấn tượng tốt với dân bản xứ. Một nhà ngoại giao Nhật nói: “Trong keo vật tinh thần với người Mỹ, chúng tôi bị một dạng quan niệm cao hơn đánh bại. Vấn đề đích thực là vấn đề về đạo đức; chúng tôi thua về đạo đức”. Dưới sự chỉ huy của tướng MacArthur, quân đội Mỹ chiếm đóng Nhật đã để lại ấn tượng tốt trong lòng người dân Nhật.

Khi vừa mới tham gia Thế chiến II, giới tinh hoa Mỹ nhìn xa trông rộng đã lập tức nghiên cứu thiết kế tổng thể thế giới sau khi chiến tranh chấm dứt. Chính phủ tập hợp các học giả, nhà báo, nghị sĩ, sĩ quan vào các nhóm tư vấn để nghiên cứu bàn thảo rộng rãi về mọi công việc sau chiến tranh như cách thức chiếm đóng các nước thù địch, cách điều chỉnh lãnh thổ thế giới, an ninh quốc tế, phục hồi quan hệ thương mại… Một ví dụ: ngay trong khi thừa nhận nước Trung Hoa Dân quốc của Quốc dân đảng TQ là đồng minh chống phát xít, Mỹ đã đưa ra chiến lược ngăn chặn sự bành trướng của ông bạn này, vì họ cho rằng TQ trước sau dứt khoát sẽ bành trướng.

Khi Thế chiến II chấm dứt, Mỹ lập tức thi công bản thiết kế tổng thể đó, ra sức tạo dựng một thế giới phù hợp lợi ích của mình. Họ đã xây dựng được một hệ thống thể chế có tính toàn cầu về kinh tế, tài chính-tiền tệ, tư tưởng, quân sự và các quy chế chung. Từ đó nước Mỹ dẫn đầu thế giới trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực KHXHNV nói riêng và sức mạnh mềm nói chung.

Bước vào cuộc chiến tranh lạnh với Liên Xô, Mỹ không chỉ ra sức phát triển công nghệ hạt nhân và vũ trụ mà còn ra sức phát triển KHXHNV theo quan điểm lấy con người làm gốc; xây dựng hệ thống lý luận về chiến tranh lạnh trên cơ sở dùng tăng trưởng kinh tế cao và ưu thế về giá trị quan tự do, dân chủ, nhân quyền để thắng đối phương mà không cần đụng độ về quân sự.

Chương trình khôi phục kinh tế của Tổng thống Truman đề xuất quan điểm: “Đẩy mạnh phát triển KHXHNV là yếu tố quan trọng để nước Mỹ giữ vai trò lãnh đạo thế giới”. Các Quỹ tư nhân đều ủng hộ quan điểm này. Năm 1950, Quỹ Ford tài trợ kinh phí lớn cho việc nghiên cứu các ngành khoa học hành vi[3] như tâm lý học, xã hội học, nhân học; trong 6 năm Quỹ này đã lập một số trung tâm nghiên cứu; về sau mở rộng sang kinh tế học, chính trị học, ngôn ngữ học, v.v.. Một loạt think-tank mọc ra như nấm đưa nghiên cứu KHXHNV lên một cao trào mới.

Năm 1958, Tổng thống Eisenhower lập các nhóm chuyên gia nghiên cứu đưa ra báo cáo Nhà nước ủng hộ khoa học hành vi”, đề xuất KHXHNV Mỹ phải giữ được ưu thế rõ rệt so với Liên Xô, muốn vậy nhà nước phải tăng mạnh tài trợ. Năm 1962, Tiểu ban Cố vấn khoa học của Tổng thống đưa ra báo cáo “Tăng cường khoa học hành vi”, kiến nghị đưa giáo dục tri thức KHXHNV vào chương trình phổ thông trung học và kiến nghị tất cả các chính sách lớn của chính phủ đều phải căn cứ vào kết quả nghiên cứu đi trước của ngành KHXHNV.

Báo cáo “Biến trí thức thành hành động: cải tiến việc nhà nước sử dụng KHXHNV “đưa ra năm 1969 vào lúc các mâu thuẫn nội bộ xã hội Mỹ trở nên căng thẳng, một lần nữa nhấn mạnh phải coi trọng KHXHNV vì “so với các khoa học khác, KHXHNV có mối quan hệ khăng khít hơn với nhiều chính sách đối nội bức thiết nhất”, trước khi triển khai một chính sách xã hội mới, chính phủ phải hỏi ý kiến các nhà KHXHNV. Báo cáo yêu cầu nhà nước tăng tài trợ cho KHXHNV, tăng số nhà KHXHNV làm việc trong Nhà Trắng v.v…

HỆ THỐNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI

KHXHNV chủ yếu được nghiên cứu tại các Viện, Trung tâm nghiên cứu thuộc nhà nước hoặc tư nhân; đặc biệt hệ thống think-tank và trường đại học góp phần rất quan trọng.

Hệ thống think-tank ở Mỹ do nhà nước và tư nhân tài trợ, chủ yếu nghiên cứu đưa ra quan điểm về các vấn đề có tính thời sự, hình thành các giải pháp có tính khả thi nhằm giải quyết những vấn đề trước mắt hoặc tương lai. Nước Mỹ có 1777 think-tank (toàn thế giới có 5465; Trung Quốc — 74), được đầu tư lớn, ví dụ ngân sách hàng năm của Viện Brookings là 60 triệu USD, của Công ty Rand là 250 triệu USD (1.600 nhân viên). Chính phủ Mỹ rất coi trọng các think-tank.

Các trường Đại học thường là nơi ra đời những tư tưởng, học thuyết mới. Trong lĩnh vực sử học và quan hệ quốc tế xuất hiện nhiều học giả nổi tiếng, như R. Keohane (ĐH Princeton),  Paul Kennedy (ĐH Yale), S.Huntington, E. Vogel, J. Nye (ĐH Harvard), J. Mearsheimer (ĐH Chicago), Warren I. Cohen (ĐH Maryland) v.v…Các tác phẩm và phát ngôn của họ thường có tiếng vang ở Mỹ và trên thế giới, được nhiều người trích dẫn, tác động lớn tới chiến lược của chính phủ Mỹ.

Chẳng hạn N. J. Spykman (ĐH Yale) đề xuất Chiến lược kiềm chế (containment) và Thuyết Vùng biên (Rimland theory); ngay từ năm 1941 ông đã đưa ra quan điểm Mỹ cần kiềm chế Trung Quốc (chứ không phải Nhật!). Thuyết Đụng độ giữa các nền văn minh của S. Huntington mới đầu bị chê trách, về sau được thực tiễn kiểm nghiệm xác nhận là đúng, đi trước thời đại.

Hiện nay J. Nye là học giả có ảnh hưởng lớn đối với chính sách đối ngoại của nhà nước Mỹ. Khái niệm Sức mạnh mềm do ông đề ra đã tác động rất lớn đến hướng nghiên cứu của giới KHXHNV Mỹ và toàn thế giới. Ông từng 3 lần sang thăm Việt Nam, gặp Thủ tướng nước ta và nói chuyện với giới doanh nhân nước ta.

Lĩnh vực chính trị học đạt được nhiều thành tựu đáng kể, bởi lẽ người Mỹ thường quy kết mọi tồn tại trong xã hội như khủng hoảng kinh tế, bất đồng xã hội (ví dụ: do chiến tranh Việt Nam, do vụ Watergates …) đều có nguyên nhân là chế độ chính trị có vấn đề. Vì thế mỗi khi xảy ra tình hình trên thì khoa học chính trị lại được dịp đẩy lên một bước. Chính trị học, chính trị học so sánh (comparative politics), quan hệ quốc tế, lý luận chính trị là 4 lĩnh vực chính hợp thành ngành khoa học chính trị (political science) trong các trường ĐH. Các nhà chính trị học nghiên cứu rất nhiều vấn đề như chủ nghĩa tinh hoa (Elite Approach), thuyết đồng thuận (Consensus Theory) v.v.. Chủ nghĩa đa nguyên (Pluralism) là lĩnh vực được nghiên cứu tương đối chín muồi, thu hút nhiều người tham gia.

Các cá nhân quan tâm tới KHXHNV cũng có những đóng góp đáng kể. Như A. Mahan (1840-1914), một sĩ quan quân đội yêu sử học, đã sáng lập thuyết Sức mạnh biển, góp phần quan trọng làm tăng sức mạnh địa-chính trị của nước Mỹ; ông được Tổng thống F. Roosevelt ca ngợi là một trong những nhân vật vĩ đại có ảnh hưởng nhất ở Mỹ; một số tàu chiến Mỹ mang tên ông.

Hầu hết nhà lãnh đạo và ngoại giao, nghị sĩ Mỹ đều giỏi về KHXHNV. Tổng thống W. Wilson là tiến sĩ chính trị học, nguyên hiệu trưởng ĐH Princeton lừng danh (1902-1910), từng xuất bản hơn 40 tác phẩm, trong đó có các bestseller. Các Tổng thống Monroe, T. Roosevelt, F. Roosevelt, Truman v.v.. và nhiều nghị sĩ đều tốt nghiệp khoa luật các ĐH danh tiếng, họ đã đề xuất những chiến lược lớn có tính thời đại nhằm để nước Mỹ trở thành cường quốc. Nhà ngoại giao G. Kennan cha đẻ Thuyết Ngăn chặn (Containment theory), là nhân vật chính của lý thuyết chiến tranh lạnh: năm 1946 khi làm Đại biện lâm thời Mỹ tại Liên Xô, ông gửi về Mỹ một bức điện báo dài đề xuất chính sách đối với Liên Xô, được chính phủ Mỹ chấp nhận. Các cựu Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Condoleezza Rice và G. P. Schultz từng là thành viên Hội Nghiên cứu KHXHNV Mỹ (Social Science Research Council, SSRC).

HỆ THốNG ẤN PHẨM HOÀN THIỆN VỂ KHOA HỌC XÃ HỘI

Khác với khoa học tự nhiên, ngành KHXHNV có đặc điểm là người đi sau phải kế thừa, tham khảo thành tựu nghiên cứu của người đi trước, nếu không sẽ chẳng thể sáng tạo được lý thuyết, ý tưởng gì mới. Các thành tựu đó chủ yếu được thể hiện dưới dạng văn bản, ấn phẩm (chứ không phải là sản phẩm vật chất thực thể và nói chung không cần giữ bí mật như trong KHKT). Các trường ĐH đều yêu cầu thầy giáo và sinh viên (SV) ngành KHXHNV phải đọc một lượng sách báo rất lớn. Quy mô thư viện là một tiêu chí đánh giá chất lượng các trường ĐH. Quốc hội Mỹ có thư viện lớn nhất thế giới. Các Tổng thống Mỹ khi nghỉ hưu thường bỏ tiền túi lập thư viện để phục vụ xã hội.

Vì vậy tổng thuật một cách khoa học và hệ thống các công trình nghiên cứu KHXHNV là việc rất quan trọng và bức thiết; nó giúp các nhà KHXHNV tổng kết thành tựu đã đạt được và xác định hướng nghiên cứu.

Ngày nay nước Mỹ đã xây dựng được một cơ chế tổng thuật thành tựu nghiên cứu KHXHNV có tính hệ thống cao, gồm các tập san học thuật, các ấn phẩm tổng thuật chuyên ngành.

Nước Mỹ có nhiều tập san danh tiếng được cả thế giới đọc và trích dẫn, như American Journal of Sociology, American Sociological Review, American Political Science Review, Public Administration Review…Các tập san được biên tập rất công phu. Thí dụ American Political Science Review số 4/2006 (kỷ niệm 100 năm tập san này) được chuẩn bị trong hai năm, chọn đăng 24 trong số 100 bài chất lượng cao nhận được.

Nhưng vì thể loại tập san thường bỏ đi nhiều bài, để bổ cứu, người Mỹ còn xuất bản các loại Annual Reviews (hơn 40 loại) không kiếm lời, đưa ra những thông tin có tính khái quát nhằm giúp các nhà KHXHNV có thêm tư liệu tham khảo.

Các hội học thuật và nhà xuất bản còn ra những loại ấn phẩm tổng thuật thành tựu nghiên cứu KHXHNV của cả một thời gian dài. Ví dụ Hội chính trị học Mỹ cứ 10 năm tổ chức một đợt tổng thuật thành tựu 10 năm qua.

TĂNG CƯờNG GIảNG DạY KHOA HọC XÃ HộI TRONG CÁC TRƯờNG HọC

Thời xa xưa các trường học trên thế giới đều chỉ dạy môn KHXHNV, mãi sau này mới có khoa học tự nhiên và kỹ thuật. Người Trung Quốc dạy luân lý đạo đức, văn thơ lấy từ các kinh điển như Tứ thư Ngũ kinh. ĐH Harvard ban đầu vốn là trường đào tạo linh mục tôn giáo. Từ giữa thế kỷ 19, khi KHKT bắt đầu phát triển mạnh thì các kiến thức thực dụng như khoa học tự nhiên và kỹ thuật dần dần chiếm ưu thế. Về sau người Mỹ nhận ra mặt tiêu cực của sự phát triển KHKT như làm xấu môi trường sống, giảm cơ hội con người tiếp xúc với thiên nhiên, hạ thấp phẩm chất con người, làm phai nhạt mối quan hệ người-người; phát triển lệch về giáo dục KHKT ngày càng bất lợi cho việc giải quyết mâu thuẫn người với thiên nhiên, người với người, thậm chí còn làm tăng các mâu thuẫn đó. Vì vậy trong khi phát triển kinh tế, xã hội Mỹ càng nhấn mạnh tính quan trọng của tinh thần nhân văn.

Hiện nay các trường ĐH Mỹ rất chú trọng nghiên cứu và giảng dạy KHXHNV nhằm giúp SV hình thành nhân sinh quan, giá trị quan, đạo đức nghề nghiệp và cảm giác trách nhiệm với xã hội, trau dồi nhân cách lành mạnh, giúp họ hiểu biết về văn hóa và văn minh của loài người và trở thành người tích cực tham gia nền văn hóa đó.

Các trường ĐH đều theo đuổi mục tiêu giáo dục tổng thể (general education), cho rằng ngoài các môn chuyên ngành ra, SV còn phải học một chương trình rộng hơn mà tất cả các chuyên ngành đều cần; điều đó có lợi cho cả cuộc đời của họ. Nhà trường yêu cầu SV học các môn cơ bản (core curriculum) với trọng tâm là khoa học xã hội (tâm lý, lịch sử, địa lý, nhân học, chính trị, kinh tế, xã hội học) và khoa học nhân văn (triết học, ngôn ngữ, cổ điển học, ngoại ngữ, âm nhạc, lịch sử nghệ thuật). Cụ thể học môn nào thì do mỗi trường tự quyết định. Ở ĐH Harvard mỗi SV khóa cử nhân phải học 32 môn học cơ bản của 7 loại: văn hoá nước ngoài, nghiên cứu lịch sử, văn học nghệ thuật, luân lý đạo đức, toán lý hóa, khoa học và phân tích xã hội, nhằm giúp sinh viên nâng cao năng lực tư duy phê phán và sức tưởng tượng, học cách phát hiện và kiểm định chân tướng sự thật, kiên trì phân tích nghiêm ngặt sự vật, nhận thức các vấn đề một cách có cơ sở lịch sử và có lý trí v.v…

Từ năm 1981 trở đi, SV ngành nào hai năm đầu cũng phải chọn học một bộ 10 môn cơ bản, trong đó 7 môn là KHXHNV. Việc giảng dạy các môn này là do một nửa số giáo viên phụ trách, cán bộ lãnh đạo nhà trường cũng tham gia giảng dạy. Các trường cao đẳng cộng đồng chế độ 2 năm cũng phải học các môn KHXHNV.

Nội dung giáo dục KHXHNV gồm tinh thần nhân văn, giá trị quan, các quy chế xã hội và tinh thần dân tộc, kỹ năng giải quyết các vấn đề đời sống hiện thực, khả năng hiểu biết đạo đức. Trong khi nhấn mạnh tính dân tộc lại đồng thời coi trọng tính quốc tế, chẳng hạn ĐH Harvard yêu cầu SV phải nắm vững di sản văn hóa phương Tây.

Năm 1987, bang California đi đầu ấn định phương án giảng dạy môn lịch sử-xã hội học (history-social science curriculum) cấp trung-tiểu học, nhấn mạnh dùng lịch sử và địa lý làm nòng cốt để xây dựng chương trình học môn xã hội học. Năm 2000, cơ quan giáo dục California hoàn thiện chương trình nói trên, lập quy hoạch thống nhất nội dung giảng dạy môn lịch sử- xã hội học ở các cấp học.

KHOA HỌC XÃ HỘI PHÁT TRIỂN SÔI ĐỘNG, HIỆU QUẢ THIẾT THỰC

Năm 1971, tạp chí Science đăng báo cáo khảo sát của một nhóm chuyên gia ĐH Harvard, cho biết trong 62 thành tựu nghiên cứu về KHXHNV trên toàn thế giới thời gian 1900-1965 thì 45 là của Mỹ.

Cho tới 2011 hầu hết chủ nhân giải Nobel kinh tế (46/66) là người Mỹ. Giải Nobel kinh tế 2018 cũng thuộc hai người Mỹ (William Nordhaus và Paul Romer). Giới kinh tế Mỹ đóng góp rất nhiều ý kiến vào việc đối phó khủng hoảng tài chính toàn cầu. Như Krugman (Nobel kinh tế 2008) đưa ra nhiều giải pháp về tài chính. Sách giáo khoa kinh tế các nước XHCN như Trung Quốc, Việt Nam sử dụng nhiều lý thuyết kinh tế của Mỹ.

Phần lớn các học thuyết mới, khái niệm mới, tư tưởng mới trong KHXHNV đều xuất hiện ở Mỹ, người Mỹ chiếm đa số trong số các nhà KHXHNV được thế giới trích dẫn nhiều nhất. Ví dụ trong sách Giấc mơ Trung Quốc của đại tá Trung Quốc Lưu Minh Phúc, lượng trích dẫn từ các nhà KHXHNV Mỹ gấp vài chục lần lượng trích dẫn từ các nhà KHXHNV Trung Quốc. Phần đông truyền thông các nước khi nói về các sự kiện quốc tế lớn đều nhắc tới quan điểm của truyền thông Mỹ. Phát biểu của các nhà KHXHNV hoặc nhà báo Mỹ thường được thế giới quan tâm.

Thông kê năm 1978 cho biết nước Mỹ có hơn 1,3 triệu nhà khoa học, trong đó có khoảng 330 nghìn nhà KHXHNV, chiếm chừng 25%.

Các cuộc bàn cãi học thuật trong giới KHXHNV Mỹ thường diễn ra hết sức sôi động. Thí dụ suốt hơn 40 năm qua người Mỹ tranh cãi về vấn đề ai cai trị nước mình. Hai cuốn sách Who Rules America? và Who’s Running America? cứ dăm năm lại bổ sung, tái bản một lần, tới nay đã ra bản thứ 6.[4]

Báo cáo điều tra năm 2008 của TRIP (Teaching, Research and International Policy) cho thấy người Mỹ chiếm 8 trong số 10 học giả chuyên ngành quan hệ quốc tế có ảnh hưởng nhất thế giới. Đó là: R. Keohane (xếp hạng thứ 1), K. Waltz (3), J. Mearsheimer (4), J. Fearon (5), J. Nye (6), R. Jervis (7), S. Huntington (8), P. Katzenstein (9).[5]

Rõ ràng KHXHNV Mỹ đang dẫn đầu thế giới và thu hiệu quả thiết thực.[6] Họ đạt được thành tựu ấy là do có môi trường nghiên cứu tuyệt đối tự do, dân chủ, lại được nhà nước coi trọng và tăng mạnh đầu tư. Ngành KHXHNV Trung Quốc hiện nay dường như cũng đang phát triển theo hướng này; chính phủ bước đầu nới rộng phạm vi chọn đề tài, cho phép nghiên cứu các vấn đề  thuộc “vùng cấm”.

——————

[1] 钮先钟Niu Xian Zhong, 1913-2004, Giáo sư chuyên nghiên cứu vấn đề chiến lược của phương Tây, làm việc tại Viện Nghiên cứu châu Âu, ĐH Đạm Giang, TQ

[2] Người Mỹ trăn trở: Học ngành KHKT hay Nhân văn. T/c Tia Sáng ngày 20/5/2011.

[3] Khoa học hành vi (Behavioral Science) là khoa học dùng thực nghiệm để nghiên cứu hành vi của con người, nghĩa rộng gồm cả kinh tế học, chính trị học, xã hội học, tâm lý học, nhân loại học, ngôn ngữ học v.v…

[4] Xem: WhoRulesAmerica.net.

[5] TRIP survey of International Relations in Ten Countries

http://irtheoryandpractice.wm.edu/projects/trip/Final_Trip_Report_2009.pdf

[6] Để so sánh: TQ có nhiều cán bộ KHXHNV nhất thế giới (trong các viện, trung tâm, trường ĐH, trường Đảng các cấp) nhưng hiệu quả nghiên cứu hữu hạn, vì định hướng nghiên cứu bị giới hạn trong các kinh điển Marx -Mao- Đặng đã khai thác cạn kiệt. Thập niên 90, bà Thatcher nói trong vài chục thậm chí cả trăm năm tới TQ không thể có bất cứ tư tưởng mới nào. Tướng Lưu Á Châu chính ủy ĐH Quốc phòng Trung Quốc nói “TQ không có nhà tư tưởng, chỉ có nhà mưu lược”.

Mây thẻ