"Nói phải củ cải cũng nghe"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Năm, 2019

ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI NGU DỐT, THAN ÔI!

Gã PHạM TRÍ THứC, mang cái tên uổng phí công cha mẹ vắt óc đặt cho, thân làm PHÓ CHủ NHIệM ỦY BAN PHÁP LUậT không mở mồm được gì về Pháp luật, Hắn lại nhảy sang bản lãnh vực chuyên môn khác. Gã này ngu dốt về THẨM MỸ HỌC, KHOA HỌC THẨM MỸ mà dám mở miệng nói láo.

Hãy nghe GS ngữ văn  Nguyễn Minh Thuyết – tổng chủ biên SÁCH GIÁO KHOA MỚI kiên nhẫn trao đổi về cái ngu của bọn này.

Tái bút: Trang chủ cựu giảng viên Mĩ học đại cương, nghe thằng ngu Phạm Trí Thức thì điên tiết lắm, đành bó tay cho cái quốc hội của đảng cộng sản muốn làm gì thì làm thôi.

***

ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI HIỂU THẾ NÀO LÀ GIÁO DỤC THẨM MỸ?

Đại biểu Phạm Trí Thức cho rằng dự luật “quy định trong các điều khoản của luật quá nhiều kỳ vọng và nặng về thành tích. Ví dụ điều 23 mục tiêu giáo dục mầm non quy định trẻ mầm non là từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi, đề ra mục tiêu giáo dục mầm non là phát triển toàn diện trẻ em mầm non về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1”.

Phó chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật bình luận: “Đặt lên vai trẻ em 3 tháng tuổi là trí tuệ và thẩm mỹ, chúng tôi thấy đó là kỳ vọng quá nhiều vào trẻ em. Bây giờ nếu đặt mẹ các em và hoa hậu hoàn vũ thì chắc chắn các em sẽ chọn mẹ chứ không chọn hoa hậu hoàn vũ, vậy chẳng nhẽ thẩm mỹ của các em lại thấp kém?”.

Tuổi Trẻ, 21/5/2019

QUA MỘT CƠN MÊ

QUA MỘT CƠN MÊ

Nguyên tác: At Arms with Morpheus

truyện ngắn O. Henry (S.H. Porter)

“Chuyển ngữ, quí tặng tiên sinh Trần Đình Nhãn- Lý Trọng Đạo

đang ở nơi chân trời góc biển”.

at arms

Tôi thật không thể hiểu nổi tại sao Tom Hopkins lại phạm sai lầm ngớ ngẩn đó, bởi dầu gì anh cũng đã theo trọn một khoá học tại trường y– trước khi thừa kế gia sản của bà cô– và được coi là rất khá về điều trị học.

 Chiều tối hôm đó, chúng tôi í ới gọi nhau, rồi sau đó Tom chạy lên phòng tôi để hút thuốc nói chuyện, trước khi trở về căn hộ sang trọng của anh. Và khi tôi vừa bước qua phòng bên được một lúc thì nghe Tom gọi lớn:

Billy, cho mình lấy một viên thuốc Quinine nhé, nếu cậu không phiền– Cả người mình ngầy ngật ớn lạnh. Chắc bị cảm lạnh rồi.

 -Ổn cả thôi- tôi nói vọng về– Chai thuốc đó nằm trên ngăn kệ thứ hai ấy! Và nên uống thêm một muỗng cồn thuốc khuynh diệp nữa nhé. Hết khó chịu ngay ấy mà!

Sau đó tôi trở về phòng, chúng tôi cùng ngồi bên lò sưởi, rút thuốc ra hút. Nhưng chỉ chừng bảy tám phút sau, Tom bỗng nhiên ngã về phía sau, rồi từ từ lịm đi. Tôi lập tức chạy ngay đến tủ thuốc để xem xét.

Thôi rồi, đúng là đồ đần mà!Tôi gầm lên- Thử coi tiền bạc đã giúp gì được cho cái đầu của cậu nào!

Trong tủ thuốc có một lọ Morphine đã mở nắp, mà Tom còn để đó.  

Tôi tìm được một anh bác sỹ trẻ ở ngay tầng trên, rồi nhờ anh ta đi mời ngay ông bác sĩ Gales già giặn kinh nghiệm, ở cách đấy hai khu phố. Tom quá giàu mà, lẽ nào lại để cho toàn những tay bác sỹ mới vào nghề chăm sóc cơ chứ.

Khi bác sỹ Gales đến, chúng tôi áp dụng đủ mọi phương thức điều trị đắt tiền nhất mà nghề nghiệp cho phép, để chạy chữa cho Tom. Và sau những biện pháp tẩy độc mạnh, chúng tôi cho Tom dùng Citrate Caffeine ở liều thông thường, thêm một cốc cà phê pha đậm, và chúng tôi còn xốc nách anh đi tới đi lui nữa. Bác sỹ Gales đầy kinh nghiệm đã cật lực ngắt véo, vỗ tát Tom đủ kiểu (nhằm giúp bệnh nhân tỉnh, khỏi mê man- ND) để xứng với tấm ngân phiếu hậu hĩ mà ông ta có thể thấy trước. Tay bác sỹ trẻ kia còn tận tình đá Tom một cú ra trò, và tếu táo phân bua với tôi: 

Chẳng đặng đừng thôi mà! Anh ta bảo. Mà nói thật trong đời tôi chưa bao giờ được đá một nhà triệu phú cả. Tôi e là mình chẳng có một cơ hội nào khác nữa đâu!

Này– vài giờ sau bác sỹ Gales bảo- Tom sẽ khỏi thôi. Nhưng việc của anh là phải làm sao để anh ấy luôn tỉnh táo trong một giờ nữa, bằng cách nói chuyện, và thỉnh thoảng lại lay người anh ấy. Khi mạch và nhịp thở của Tom đã trở lại bình thường thì lúc đó mới có thể để cho anh ấy ngủ. Bây giờ tôi để anh chăm sóc cho Tom nhé.

Thế là chỉ còn lại mình tôi với Tom, lúc ấy được đặt nằm trên giường, không chút động đậy, mắt nửa nhắm nửa mở. Và tôi bắt đầu việc giữ cho anh ấy tỉnh.

Này bạn cố tri– tôi nói- cậu suýt lâm vào cửa tử đấy, nhưng bọn tôi kéo lại được. Thế hồi cậu còn học trường Y, có giáo sư nào nhắc cho cậu biết là chữ M-0-R-P-H-I-A không thể nào đánh vần như chữ Q-U-I-N-I-A không, nhất là với liều lượng nguyên một viên? Mình muốn mắng cho cậu một trận, nhưng mà thôi, vì cậu còn chưa bình phục. Và lẽ ra cậu phải là một dược sĩ mới đúng, Tom à, cậu đúng là có đủ “phẩm chất tuyệt vời”để bán thuốc theo toa đấy!

Tom nhìn tôi với một nụ cười yếu ớt mụ mị. 

B’ly– anh thì thầm- mình thấy mình như con chim sâu bay quanh vô số những đoá hồng rực rỡ. Đừng có quấy rầy. Hãy để mình ngủ!

Rồi anh thiếp đi trong vòng hai giây đồng hồ, tôi phải lắc mạnh vai anh.

Này,Tom– tôi nghiêm khắc nói- cậu không được ngủ đâu đấy! Bác sĩ điều trị nói cậu phải thức trong ít nhất một giờ nữa. Nào hãy mở mắt ra! cậu chưa hoàn toàn an toàn đâu, cậu  biết mà! Thức dậy đi!

Tom Hopkins nặng gần chín chục kí. Anh khật khừ cười với tôi, nhưng rồi lại ngủ còn say hơn trước. Đáng lẽ tôi phải dìu anh đi qua đi lại, nhưng đối với tôi, làm như thế có khác nào nhảy điệu luân vũ quanh phòng với cả một toà tháp Cleopatra đồ sộ cơ chứ! Hơi thở của Tom đã trở thành tiếng ngáy, mà trong ngộ độc Morphine, đó là dấu hiệu cực kỳ nguy hiểm!

Rồi tôi bắt đầu suy nghĩ. Chắc chắn là tôi không thể nào dựng dậy cái thân hình nặng nề của Tom được, nhưng tôi phải kích động trí não anh ấy. Làm cho cậu ta tức giận- là một ý tưởng theo hướng ấy. Nghe có vẻ hợp lý. Tôi nghĩ. Nhưng kích động thế nào đây?

Chẳng có khe hở nào trong bộ áo giáp của Tom để tôi có thể tấn công vào cả . Ôi người bạn cố tri thân mến của tôi! Anh quá tốt tính, lại còn là một quý ông hào hiệp, tử tế, chân tình, và trong sáng như ánh mặt trời. Anh đến từ một nơi nào đấy ở phương Nam, nơi mà dân cư vẫn còn lý tưởng và chuẩn mực đạo đức. New York chốn đô thành quyến rũ nhường ấy cũng chẳng làm anh hư hỏng. Anh vẫn tôn thờ phụ nữ theo kiểu hiệp sĩ cổ xưa, nhưng mà đến đây thì – Eur ekatôi đã nghĩ ra rồi! Và tôi sắp xếp kế hoạch này trong đầu chừng vài phút. Tôi cười khùng khục khi nghĩ đến chơi cái trò này với anh bạn cố tri Tom Hopkins. Rồi tôi nắm lấy vai anh mà lắc cho đến khi cả hai tai anh cũng lắc lư, và anh lừ đừ mở mắt ra. Tôi dí dí ngón tay, chỉ cách mấy phân, vào mũi anh, mà xỉa xói khinh miệt.

Nghe này, Hopkins– tôi cay độc gằn từng tiếng một – cậu và tôi từng là bạn thân, nhưng tôi cho cậu biết từ đây về sau tôi dứt khoát cấm cửa cái thằng vô lại như cậu đấy!

 Nhưng trông Tom chẳng mấy quan tâm.

 –Gì thế Billy? Anh điềm tĩnh thì thầm- Cậu có chuyện bực dọc à?

-Nếu tôi là cậu- tôi tiếp tục nói- nhưng ơn trời, tôi không phải là cậu- tôi nghĩ tôi không dám nhắm mắt mà ngủ như cậu đâu! Cô gái mà cậu bắt chờ đợi võ vàng ở phương Nam– cô gái mà cậu đã lãng quên từ khi cậu rủng rỉnh tiền bạc, cô gái ấy bây giờ ra sao rồi?

Vâng, tôi biết tôi nói gì mà! Trong khi cậu còn là tên sinh viên y khoa nghèo túng, thì cô ấy còn xứng với cậu. Nhưng bây giờ, khi cậu là triệu phú, thì mọi chuyện đã khác! Tôi không biết cô ấy nghĩ sao về hạng người mà cô ấy vẫn tôn thờ – hỡi quý ông phương Nam?

Hopkins, tôi lấy làm tiếc phải nói ra mấy việc này, nhưng cậu đã che đậy quá kỹ và diễn trò quá tuyệt đến nỗi tôi thề rằng chẳng bao giờ tôi dám tin là cậu lại có thủ đoạn vô lương như thế được!

Ôi thật khốn khổ cho chàng Tom! Tôi gắng lắm mới khỏi bật cười khi thấy anh đang cố thoát ra khỏi tác động của Morphine. Rõ ràng anh đang phẫn nộ, nhưng tôi không trách anh. Tom nóng nảy theo kiểu dân miền Nam. Hai mắt anh giờ đã mở lớn, lấp loé một hai tia lửa. Nhưng Morphine vẫn còn làm trí óc anh mờ mịt, và làm lưỡi anh líu lại.

C- c – chết tiệt cậu! Anh lắp bắp. Tôi đập nát cậu ra đấy!

 Anh cố nhấc người lên khỏi giường, nhưng với thân hình quá khổ như thế nên anh còn rất yếu. Tôi lấy tay đẩy nhẹ anh nằm lại xuống giường. Anh nằm đấy, mắt trợn trừng như một con sư tử mắc bẫy.

Thế là giữ cậu tỉnh được một lúc, bạn cố tri ạ- tôi tự nhủ.

Tôi đứng dậy, châm tẩu thuốc, vì thấy cần hút thuốc, rồi đi vòng quanh một chút, tự tán thưởng bản thân về ý tưởng quá tuyệt vời kia vừa được thực hiện.

Nhưng rồi có tiếng ngáy, tôi nhìn lại, thì ra Tom đã ngủ tiếp. Tôi liền tiến đến tống cho anh một đấm vào cằm. Anh nhìn tôi, hiền lành và vô tư như một anh đần.Tôi nhay nhay tẩu thuốc trong miệng, tiếp tục nói lời khó nghe với anh. 

Tôi muốn cậu bình phục để cút khỏi đây càng sớm càng tốt. Tôi nói với giọng sỉ nhục.

 Tôi đã nói cho cậu biết tôi nghĩ gì về cậu. Thành ra, nếu cậu còn chút liêm sỉ, thì hãy suy nghĩ kỹ trước khi cậu lại muốn qua lại với người thanh lịch. Tôi lại khịt khịt mũi.

 Cô ấy là người con gái nghèo phải không nào? Có phần quá vô vị, quá quên mùa đối với bọn mình kể từ khi bọn mình có tiền phải không nào ? Cậu cảm thấy xấu hổ đi với cô ấy trên Đại lộ Số Năm phải không nào? Hopkins, cậu còn đốn mạt gấp mấy chục lần cái bọn đốn mạt cơ đấy! Ai màng đến tiền bạc của cậu chứ? Tôi không màng. Tôi biết chắc cô ấy cũng không màng. Có lẽ nếu cậu không có tiền, cậu còn ra vẻ con người hơn đấy!

 Khi có tiền có bạc, cậu đúng là một tên khốn khiếp, và – tôi nghĩ đòn này là khá đau– là cậu đã ruồng rẩy bội bạc một tâm hồn chung thủy. (Chao ôi anh bạn cố tri Tom Hopkins của tôi mà lại bội bạc một tâm hồn chung thủy!) Tôi muốn tống cổ cậu ra khỏi đây càng sớm càng tốt!

 Tôi quay lưng về phía Tom, nháy nháy mắt với tấm gương soi. Tôi nghe thấy tiếng anh cử động, và lập tức quay nhanh lại vì không muốn cả thân hình gần chín mươi kí ấy nhào lên tôi từ phía sau. Nhưng Tom chỉ xoay người một chút, một bàn tay đưa lên che mặt. Anh nói ít, nhưng đã rõ ràng hơn lúc trước:

Tôi không thể…nói với cậu …theo cái kiểu ấy…Billy, ngay cả nếu tôi nghe thiên hạ đơm đặt… đơm đặt về cậu …Nhưng khi tôi có thể…đứng dậy…tôi sẽ bẻ cổ cậu đấy …đừng có mà quên

Vào lúc ấy, tối có chút xấu hổ, nhưng những lời đó của tôi là để cứu Tom kia mà. Tôi nghĩ, sáng hôm sau, khi nghe tôi giải thích, chắc chắn hai chúng tôi sẽ cười xòa với nhau về chuyện này thôi mà.

Rồi trong khoảng hai mươi phút sau đó, Tom chìm trong giấc ngủ êm đềm mê mệt. Tôi bắt mạch cho anh, nghe ngóng nhịp hô hấp của anh, rồi để yên cho anh ngủ. Mọi việc đều trở lại bình thường, và Tom đã qua cơn nguy cấp. Tôi qua phòng bên và ngã xuống giường.

Sáng hôm sau khi tôi tỉnh dậy đã thấy Tom thức tự lúc nào và đã áo quần tề chỉnh. Anh đã hoàn toàn trở lại với chính mình, ngoại trừ các dây thần kinh còn hơi run rẩy, và lưỡi cũng còn hơi cứng.

Mình thật quá đần độn – anh trầm ngâm nói- Mình còn nhớ khi mình lấy thuốc, mình cũng đã ngờ ngợ cái chai quinine ấy là lạ làm sao ấy. Chắc cậu phải vất vả nhọc nhằn lắm để cứu mình phải không?

Tôi nói với anh là không. Trí nhớ anh dường như quá yếu  với  mọi việc đã qua. Tôi cứ nghĩ là anh chẳng còn nhớ gì đến những nỗ lực của tôi nhằm giữ cho anh được tỉnh táo, nên quyết định không cần phải giải thích gì hơn. Và tôi cũng nghĩ là vào một lúc khác, khi anh đã khỏi hẳn, hai chúng tôi sẽ đùa cợt với nhau về chuyện này.

Vậy mà, khi Tom sắp về, anh đứng lại bên cánh cửa mở, bắt tay tôi.

– Cảm ơn cậu, bạn cố tri- anh thanh thản nói- vì cậu đã quá nhọc nhằn với mình, và vì những điều cậu nói. Còn bây giờ mình phải ra phố để đánh điện cho người con gái bé nhỏ ấy đây!

***************************

http://fullreads.com/literature/at-arms-with-morpheus/

 LỜI BÀN NGƯỜI DỊCH

Đôi bạn sinh viên y khoa cùng làm việc thân thiết. Tom Hopkins và Bill. Tom vừa nhận được thừa kế của người dì, trở nên giàu có. Trong một lần uống thuốc cảm lạnh, Tom  sơ ý uống nhầm thuốc và bị sốc nặng nguy cơ mất mạng. Billy cố hết sức cứu chữa bạn nhưng rất chật vật. Sau cùng anh nghĩ kế khích tướng, đã góp phần hiệu quả cứu bạn tỉnh lại. Tuy chỉ là khích tướng bằng những lời mắng chửi hư cấu, song cũng là bài học cảnh báo cho người bạn thân khỏi sa đọa, vì bất ngờ trở nên giàu có,  cũng như bất ngờ mắc nạn.

Phản đối  bức tranh “Đạo pháp và Dân tộc”

Phản đối  bức tranh “Đạo pháp và Dân tộc”

  (họa sĩ Ngô Hải Yến vẽ, tặng, sư THÍCH THANH QUYẾT đem  tranh ra mắt tại học viện Phật giáo nhân dịp ĐẠI LỄ VESAX 2019)

***

Với tư cách Phật tử truyền gia, bản thân từng đọc kinh Phật, đã từng giảng văn chương Phật cho SV đại học khoa Văn, tôi hiểu được tấm gương vĩ đại xuất chúng của Đức Phật tổ. Trong tâm thế và nhận thức tôn giáo của mình, ttin chắc rằng Đức Phật là độc nhất vô nhị, không so sánh với ai khác. Đó là đức tin. Đó là bản chất của tự do tín ngưỡng mà các bản hiến pháp văn minh đều khẳng định.

Đó cũng là đức tin của nhiều chục triệu Phật tử trên khắp thế giới, cụ thể là phật tử 112 nước và vùng lãnh thổ – thành viên của Đại lễ VESAX năm 2019 hiện đang diễn ra tại Việt Nam.

Kẻ nào báng bổ đức tin ấy, dù với bất cứ lý do gì cũng không thể được chấp nhận.

Tôi theo dõi đại lễ với sự quan tâm của một phật tử bình thường. Đức Phật dạy rằng chung sinh bình đẳng, có nghĩa, phật tử cũng bình đẳng. Bởi vậy tôi phản đối ông Thích Thanh Quyết được cho là tiến sĩ phật học, phó chủ tịch GHPGVN, người đã đưa và giới thiệu một bức tranh báng bổ coi thường Đức Phật ra trưng bày khoe khoang trong đại lễ VESAX năm nay.

BANG BO 1

Đó là bức tranh mang tên “Đạo pháp và Dân tộc” treo ở Học viện Phật giáo và chèo kéo mời quan khách 112 nước ghé thăm.

Đây là bức tranh sơn dầu khổ lớn 4m x 2m của nữ hoạ sĩ tà đạo Ngô Hải Yến vẽ, cúng dường  cho nhà chùa.

PHÂN TÍCH BỨC TRANH QUÁI GỞ

Trong tranh, Phật tổ toàn thân tọa thiền trên tòa sen bên trái, ông HCM chân dung bán thân ngồi bên phải. Hai hình tượng nhân vật “khập khiễng”như vậy đã không thể chấp nhận được cùng ở chung một tác phẩm. Nó nói lên sự chắp vá, cắt dán tùy tiện mà những người am hiểu nghệ thuật tranh, tượng quần thể đã thấy ngay sự lố bịch của cấu trúc. Chưa nói đến tự do đức tin nổi giận, nếu chỉ là người thưởng thức tranh bình thường đã không tránh khỏi phì cười chế giễu tay nghề họa sĩ.

Xưa nay chưa từng có ai trên thế giới dám tùy tiện “sắp xếp” chỗ ngồi của Đức Phật tổ, ngồi chung chiếu, chung bàn với ai khác, dẫu đó là những vĩ nhân nổi tiếng khác, kể  gì cả HCM.

Rút cục, tôi không thấy có gì chung giữa hai nhân vật này.

Những người chân tu sao lại có thể chấp nhận một lối hoằng pháp thực dụng “ăn theo” trơ trẽn như vậy được ?

Chính giữa bức tranh là một hình tròn thể hiện “bánh xe pháp luân” nhái.

Sự ngu dốt của ai khi tạo ra cái gọi là “bánh xe pháp luân nái” dưới đây trong Phật giáo Việt Nam ? Xin lưu ý bánh xe  VIệt Nam chỉ có 8 căm xe (nan hoa).

BANH XE PHAP LUAN 1

Trang web Phật giáo Việt Nam: “Bánh xe pháp luân”

Hình “bánh xe pháp luân Việt Nam” ở trên bắt nguồn từ “mô hình bát quái”, vốn là cốt lõi tư tưởng KINH DỊCH được cho là tư tưởng Lão tử – Lão giáo – Đạo Lão gốc Trung Quốc sau đây.

BANG BO 3

Bánh xe 8 căm xe thể hiện cấu trúc 8 yếu tố cố định của Kinh Dịch.

Đó là sự xuyên tạc quan miệm Phật giáo gốc Ấn Độ- Nepal.

XIN HÃY XEM NGUỒN GỐC của BÁNH XE PHÁP LUÂN từ Ấn Độ – Nepal:

Bánh xe có nhiều căm xe (hơn số 8 nhiều lần, tùy ý ít nhiều không hạn định)

Bánh xe thể hiện vũ trụ liên tục quay, thế gian vô thường.

BANH XE PHAP LUAN 2

Kỹ sư Ngô S.Đồng Toản bèn mần thơ ngẫu hứng vịnh “bánh xe nhái VIệt Nam” như sau:

   Bánh Xe Kẽo Kẹt

Bánh xe tròn khéo vạn luân
Nay lăn tới Việt
, bất tuân luật già

Lạ lùng thay cõi ta bà
Người ta chính quả, mình là phụ tu”.

(trích)

BANG BO 2
Ông Thích Thanh Quyết cười toe toét đón nhận bức tranh của nữ hoạ sĩ Ngô Hải Yến vẽ tặng. Bởi không hiểu gì Phật học và tự do tín ngưỡng, ông tiến sĩ Phật học đã hồ hởi đón nhận bức tranh tà đạo này mà chẳng chút lăn tăn !?

Nhà văn Phạm Lưu Vũ một phật tử Hà Nội đã gửi bức thư ngỏ cho Sư Quyết.

Như sau:

Nhắn với SƯ QUYẾT

Chưa xong chuyện Vesak ở Tam Chúc (tác giả đại gia Xuân Trường) thì lại đến việc anh sư Quyết hớn hở như anh hề bên bức tranh gọi là “Đạo pháp và dân tộc” của một kẻ ngu si nào đó tặng các anh.

 Này anh sư Quyết, tôi từng gọi anh là sư đại gia, được chế độ bưng anh vào ngồi trong quốc hội cho có đủ sắc màu, cho anh nắm những ngôi chùa ngàn tỷ, lễ tết cúng dâng sao giải hạn thu hàng trăm tỷ… thì cứ coi như đó là phước báo của anh. Nhưng càng ngày anh càng quá lắm, đến nỗi tham không biết đường mà dấu, si không biết lối mà che, nịnh không biết chừa phương mà diễn… Tự cho mình cái quyền lộng hành ngang ngược, đã hủy hoại chánh Pháp, phá hòa hợp Tăng, lại còn phỉ báng cả Đức Phật nữa thì anh liều thật, dẫu Phật từ bi anh không e sợ, thế chẳng lẽ anh không sợ các vị hộ Pháp Kim Cương, không sợ cả nhân quả nữa hay sao?

Này anh sư Quyết, “Đạo pháp và dân tộc” là đạo riêng của các anh, quyết không phải đạo của Đức Phật. Chánh pháp chỉ có một, thì cái đó là tà pháp. Khoác áo nhà Phật mà hành theo tà pháp thì đó là tà sư. Vẽ bánh xe Pháp mà có cả đồ hình Thái cực thì đó là hổ lốn Phật, Lão. Đưa (ông cụ) Bác Hồ vào tranh, ngang với Đức Phật là hủy báng Như Lai. Đức Phật là đức Thế Tôn, là Thiên Nhân sư, là Thường Tịch Quang Tịnh độ… Bác Hồ dẫu vĩ đại với chế độ này, thời đại này, thì vẫn còn ở trong Tam giới. Trong Thường tịch quang Tịnh độ không có Tam giới. Trong Tam giới không có Thường tịch quang Tịnh độ, thì sao có thể hiện cùng lúc Thánh với phàm? Hưởng ơn mưa móc của chế độ thì anh cứ việc nịnh bợ, thế nào cũng được. Nhưng mà nịnh ngu như thế thì không những anh và bọn làm tranh tạo nghiệp nặng, mà còn tạo nghiệp dữ cho chính Bác Hồ nữa anh có biết không?

Anh sư Quyết đảo điên, diễn hề mồi tứ phía lung tung như thế, chẳng lẽ bộ VH không ai nhận ra? Chính phủ “kiến tạo” không ai nhận ra? Anh Phúc đang bận hóa rồng đã đành, thế còn anh Đam, phó phụ tránh Văn hóa, Giáo dục…? Hay là về đạo pháp, anh sư Quyết ví như con chim cú có bộ lông vàng đậu trên cành cây, anh phó Đam ví như chú gà rù đứng ở dưới gốc, cho nên mới không dám cục tác lên một tiếng?”.

***

Về cô nữ họa sĩ Ngô Hải Yến, cố ấy có thể là Phật tử, hoặc có thể là cô theo “Đạo HCM”. Cái đó là tùy  tự to tín ngưỡng của cô ả. Là một họa sĩ cô ấy muốn vẽ sao cũng tùy, song cô chỉ có thể treo ở nhà riêng hoặc bán cho người thừa tiền thiếu não. Cô ấy không có quyền đem treo nơi công cộng dù là bất cứ đâu. Tuy nhiên phải có kẻ tiếp tay thì bức tranh chắp vá nhếch nhác của cô ta mới treo nơi công cộng được. Cả ông sư Quyết và họa sĩ đã xúc phạm Đức Phật, xúc phạm những Phật tử chân chính bình thường trên toàn thể giới. Suy cho cùng, lỗi của sư Quyết nặng hơn

Tôi nghiêm khắc lên án sư Thích Thanh Quyết  phó CT Phật giáo VN, đại biểu quốc hội VIệt Nam, về hành vi tà đạo nói trên.

PHN

MỘT SỰ ĐÁNH ĐỔI CAY ĐẮNG

cu danh chan hi sinh

***

MỘT SỰ ĐÁNH ĐỔI CAY ĐẮNG

A Sacrifice Hit

by O. Henry

(tập Whirligigs, 1910)

http://www.online-literature.com/o_henry/1049/

 Phùng Hoài Ngọc Nguyễn Đại Hoàng chuyển ngữ

*************************************************

Biên tập viên tờ Hearthstone Magazine có ý tưởng riêng trong vấn đề chọn bản thảo để xuất bản. Lý luận của ông chẳng có gì bí mật; thật vậy, ông luôn sẵn lòng ngồi ở bàn giấy, miệng cười hiền lành, cặp kính gọng vàng gõ gõ lên đầu gối, giải thích tường tận cho bạn hiểu điều đó.

Tờ Hearthstone Magazine – ông nói- không thuê một đội ngũ độc giả, mà chúng tôi tiếp nhận những ý kiến, nhận định, về các bản thảo, được gửi trực tiếp cho chúng tôi, từ các tầng lớp độc giả khác nhau.

Đó là lý luận của ông biên tập viên; và đây là phương thức ông thực hiện nó:

Cứ mỗi một đợt những bản thảo được gởi đến, ông biên tập viên nhét tất tần tật vào túi của ông, rồi đem phân phát cho thiên hạ, khi ông đến chỗ này chỗ kia trong ngày. Họ là những người nhân viên văn phòng, người phục vụ khách sạn, người gác cổng, người gác thang máy, người đưa tin, người bồi bàn tại quán cà phê nơi ông dùng bữa trưa, người bán quầy báo nơi ông mua tờ báo buổi tối, người bán tạp hóa, người giao sữa, người bảo vệ tuyến đường sắt chạy trên cao lúc 5.30, người soát vé ở đường thứ Sáu Mươi, người đầu bếp và cô giúp việc nhà ông – đây là những độc giả đồng ý nhận đọc những bản thảo đã được gửi đến tờ Hearthstone Magazine.

Và khi ông về đến mái ấm gia đình của mình, nếu cái túi đó vẫn không hoàn toàn trống rỗng, thì ông đem những bản thảo còn lại trao cho vợ đọc, sau khi em bé đã ngủ say. Vài ngày sau, trong những chuyến đi dạo như thường lệ, ông biên tập viên thu thập lại những bản thảo, và xem xét nhận định của đủ loại độc giả ghi trên đó.

Phương thức này làm nên một tạp chí rất thành công; và số lượng phát hành của tạp chí, theo mức quảng cáo, tạo ra một kỷ lục kỳ diệu về tốc độ phát triển.

Công ty Hearthstone cũng xuất bản sách, và tên tuổi của nó được tìm thấy trên một số tác phẩm thành công- tất cả đều được đề xuất, ông biên tập viên nói, bởi đội ngũ độc giả tình nguyện viên của tạp chí Hearthstone. Nhưng thỉnh thoàng (theo tiết lộ của vài thành viên không kín mồm kín miệng trong ban biên tập), vì nghe theo lời khuyên của những độc giả có ý kiến bất đồng, Hearthstone cũng để “lọt” một số bản thảo, mà sau đó cho thấy là những tác phẩm bán rất chạy, khi được những nhà xuất bản khác ấn hành.

Chẳng hạn (theo những lời đồn đoán), cuốn Sự trỗi dậy và sụp đổ của Silas Latham đã bị người giữ thang máy phản đối; anh nhân viên văn phòng thì quyết từ chối bản thảo Ông chủ; cuốn Trong cỗ xe của Giám mục bị người soát vé xe điện coi thường; cuốn Lời phán quyết bị một nhân viên ở cơ quan đăng ký- có bà mẹ vợ vừa tới chơi nhà hai tháng- từ chối; cuốn Cuốn sách của nữ hoàng đã bị người gác cổng gửi trở lại với lời bình luận:“Thì cũng là sách thôi mà!”

Tuy nhiên, Hearthstone tuân thủ lý thuyết và hệ thống của nó, và nó sẽ không bao giờ thiếu độc giả tình nguyện; bởi vì mỗi nhân viên rải rác rộng rãi, từ người viết tốc ký là cô gái trẻ trong tòa soạn cho đến người xúc dọn than (người đã quyết định bất lợi làm thiệt hại cho Công ty Hearthstone về bản thảo cuốn “Thế giới ngầm”) đều có kỳ vọng trở thành biên tập viên của tạp chí một ngày nào đó.

Phương pháp này của Hearthstone đã được cây bút Allen Slayton biết đến khi ông viết cuốn tiểu thuyết có tựa đề “Tình yêu là tất cả”. Slayton đã đeo bám các tòa soạn của tất cả các tạp chí một cách kiên trì đến nỗi anh ta đã làm quen với hoạt động bên trong của mỗi tòa soạn ở Gotham *[1].

Anh ta không chỉ biết rằng biên tập viên của Hearthstone đã trao bản thảo của họ cho khắp những kiểu người khác nhau để đọc, anh ta còn biết rằng những câu chuyện về tình yêu tình cảm hấp dẫn sẽ đưa đến cô Puffkin, người viết tốc ký của ông biên tập. Một  qui tắc đặc biệt khác của biên tập viên là luôn luôn che giấu tên của  tác giả trên từng bản thảo, để một cái tên lấp lánh có thể không ảnh hưởng đến sự chân thành trong các báo cáo của họ.

Slayton đã thực hiện bản thảo “Tình yêu là tất cả” với nỗ lực của cuộc đời mình. Anh đã dành sáu tháng làm việc tốt nhất của trái tim và khối óc của mình. Đó là một câu chuyện tình yêu thuần khiết, tốt đẹp, bay bổng, lãng mạn, say đắm – một bài thơ văn xuôi mang phước lành thiêng liêng của tình yêu (tôi đang viết lại từ bản thảo) được đặt lên trên tất cả những món quà và danh dự trần thế, và liệt kê nó trong danh mục phần thưởng cao nhất của thiên đường. Tham vọng văn chương của Slayton rất mãnh liệt. Anh đã hy sinh tất cả những tài sản sở hữu trần tục khác để có được danh tiếng trong nghệ thuật mà anh chọn. Anh đã gần như cắt đứt bàn tay phải của mình, hoặc đã tự hiến mình cho con dao của người đam mê mổ viêm ruột thừa để thực hiện ước mơ thấy một trong những nỗ lực của mình được công bố trên Hearthstone.

Slayton đã hoàn thành bản thảo “Tình yêu là tất cả” và mang trong người đến tạp chí Hearthstone. Văn phòng của tạp chí nằm trong một tòa nhà lớn của tập đoàn kinh doanh, dưới sự chủ trì của một người gác cổng.

Khi nhà văn bước vào cánh cửa trên đường đến thang máy, một cái máy nghiền khoai tây bay qua phòng khách, phá hỏng chiếc mũ của Slayton và đập vỡ cửa kính. Theo sát sau tiếng náo động của dụng cụ bay qua là người gác cổng-một người đàn ông to lớn, vẻ bất thiện, nghi ngờ và bẩn thỉu, hoảng loạn và khó thở. Một người phụ nữ cau có, cao lớn với mái tóc bay chạy theo sau vật ném ra. Chân của người gác cổng trượt trên sàn lát gạch, anh ta ngã xuống một đống với tiếng kêu tuyệt vọng. Người phụ nữ vồ lấy anh ta và túm tóc anh ta. Người đàn ông rống lên dữ dội.

Sự báo thù của cô đã hả giận, người đàn bà hung dữ đứng dậy và hiên ngang chiến thắng như nữ thần Minerva*[2], trở lại, rút lui khó hiểu vào trong, phía sau nhà. Người gác cổng lồm cồm đứng dậy, thở dốc vẻ bẽ mặt.

“Đây là cuộc sống hôn nhân,” anh ta nói với Slayton, với một sự hài hước khó chịu nhất định. “Đó là cô gái mà tôi đã từng thức trắng đêm để mơ tưởng về cô ả. Xin lỗi về chiếc mũ của ông, thưa ông. Tôi nói nha, đừng mách lẻo ông chủ về việc này, phải không? Tôi không muốn mất việc”.

Slayton đi thang máy ở cuối hành lang và lên văn phòng của tòa soạn Hearthstone. Anh để lại tập “Tình yêu là tất cả” cho biên tập viên- người đồng ý sẽ đưa cho anh ta câu trả lời về tính khả dụng của nó vào cuối tuần.

Slayton xây dựng kế hoạch chiến thắng tuyệt vời của mình trên đường đi xuống. Nó đập vào anh ta bằng một tia sáng rực rỡ, và anh ta không thể không ngưỡng mộ thiên tài của mình trong việc hình thành ý tưởng. Chính đêm đó, anh bắt đầu thực hiện nó.

Cô Puffkin, người viết tốc ký Hearthstone, thuê cùng khu nhà với tác giả. Cô là một người giúp việc già nua, gầy gò, độc tài, uể oải, đa cảm; và Slayton đã được giới thiệu với cô ấy một thời gian trước đó.

Dự án táo bạo và tự hy sinh của nhà văn là thế này: Anh biết rằng biên tập viên của Hearthstone đã dựa rất nhiều vào phán đoán của cô Puffkin trong loại bản thảo tiểu thuyết lãng mạn và tình cảm. Thị hiếu của cô đại diện cho mức trung bình to lớn của những người phụ nữ tầm thường đọc kiểu nuốt chửng các tiểu thuyết và những câu chuyện kiểu đó. Ý tưởng trung tâm và ý chủ đạo của tiểu thuyết “Tình yêu là tất cả” là tình yêu từ cái nhìn đầu tiên… sự mê hoặc, không thể cưỡng lại, xúc động ly kỳ, cảm giác khiến một người đàn ông hoặc một người phụ nữ nhận ra người bạn đời của mình ngay khi trái tim lên tiếng với trái tim. Giả sử anh ta gây ấn tượng về sự thật thiêng liêng này với cô Puffkin một cách riêng tư! – liệu cô ấy có chắc chắn sẽ xác nhận được những cảm giác mới mẻ và cuồng nhiệt của mình bằng cách giới thiệu đánh giá cao cuốn tiểu thuyết “Tình yêu là tất cả” cho biên tập viên của Hearthstone ?

Slayton nghĩ như vậy. Và tối hôm đó anh đưa cô Puffkin đến nhà hát. Tối hôm sau, anh tán tỉnh mãnh liệt với cô trong căn phòng lờ mờ của nhà trọ. Anh trích dẫn thoải mái từ “Tình yêu là tất cả”; và anh ta quay đầu cô Puffkin trên vai mình, và  viễn ảnh về sự nổi tiếng văn chương đang nhảy múa trong đầu anh ta.

Nhưng Slayton đã không dừng lại ở việc tán tỉnh. Điều này, anh tự nói với mình, là bước ngoặt của cuộc đời anh; và, giống như một vận động viên thực thụ, anh ta “cán đích, đi đến giới hạn”. Vào tối thứ Năm, anh và cô Puffkin đi bộ đến Nhà thờ Lớn ở giữa dãy phố và kết hôn.

Slayton thực dũng cảm ! Nhà thơ Chateaubriand*[3] chết trong một gác xép, thi hào Byron*[4] tán tỉnh một góa phụ, nhà văn Keats nhịn đói đến chết, nhà văn Poe[5] tự pha chế đồ uống của mình; De Quincey*[6] hút tẩu thuốc, Ade*[7] sống ở Chicao, James*[8] tiếp tục làm việc đó, Dic Zack*[9] mặc tất trắng, De Maupassant*[10] mặc áo khoác ngoài, Tom Watson*[11] trở thành một người theo chủ nghĩa dân túy, Jeremiah[12] đã khóc, tất cả những tác giả này đã làm những việc này vì lợi ích của văn học, còn anh đã  làm trò bịp bợm che đậy tất cả; anh cưới một người vợ để tự khắc cho mình một cái hốc đá đặt tượng trong ngôi đền danh vọng!

Vào sáng thứ Sáu, bà Slayton nói rằng bà sẽ đến văn phòng Hearthstone, trả một hoặc hai bản thảo mà biên tập viên đã đưa cho bà đọc, và từ chức vị trí người viết tốc ký.

“Có bất cứ điều gì – ờ … mà… ờ – em đặc biệt thích trong những câu chuyện em sẽ đem giao lại ban biên tập?” Slayton hỏi với một trái tim đập mạnh.

“Có một cuốn tiểu thuyết mà em rất thích”, vợ anh nói. “Em cho rằng em chưa từng  đọc được bất cứ bản thảo nào trong nhiều năm như cuốn đó, vừa thú vị vừa đúng với cuộc sống”.

Chiều hôm đó, Slayton vội vã xuống văn phòng Hearthsone. Anh cảm thấy phần thưởng của mình đã gần kề. Với một cuốn tiểu thuyết của Tạp chí Hearthstone, danh tiếng văn học sẽ sớm trở thành của anh.

Cậu nhân viên văn phòng gặp nhà văn ở lan can văn phòng bên ngoài. Lan can này không dành cho các tác giả không thành công để tổ chức trao đổi cá nhân với biên tập viên ngoại trừ trong lúc hiếm hoi nào đó.

Slayton, ôm ấp trong lòng, nuôi dưỡng trong lòng anh niềm hy vọng đẹp đẽ để có thể đè bẹp chàng nhân viên văn phòng với thành công sắp tới.

Anh hỏi về cuốn tiểu thuyết của mình. Cậu nhân viên văn phòng đã đi vào khu vực linh thiêng và đưa ra một phong bì lớn, dày với sức nặng hơn một ngàn trang.

“Ông chủ bảo tôi nói với ông rằng ông ấy xin lỗi”, cậu con trai nói, “nhưng bản thảo của ông không dùng được cho tạp chí ạ”.

Slayton đứng đó, bàng hoàng. “Cậu có thể cho tôi biết,” anh lắp bắp, “có hay không cô Puff – cô ấy là … của tôi – ý tôi là cô Ruffkin – đã giao một cuốn tiểu thuyết sáng nay mà cô đã được yêu cầu đọc ?”.

“Chắc chắn cô ấy giao rồi,” cậu trai văn phòng trả lời một cách khôn ngoan. “Tôi nghe ông già nói cô Puffkin nói rằng đó là  đứng đầu. Tên của nó là “Đã kết hôn với Mazuma”, hay còn gọi là “Chiến thắng của một cô gái công nhân“.

“Nói  xem!” Cậu nhân viên văn phòng nói một cách tự tin, “tên của ông là Slayton, phải không ạ? Tôi nghĩ là tôi đã để lộn các trường hợp giao tài liệu, do vô ý thôi. Ông chủ đưa cho tôi một số bản thảo để giao cho mọi người bữa trước và tôi nhận tài liệu giao cho cô Puffkin và người gác cổng bị lẫn lộn. Mặc dù vậy, tôi đoán là ổn rồi”.

Và rồi Slayton nhìn gần hơn và thấy trên bìa bản thảo của mình, dưới tiêu đề “Tình yêu là tất cả”, là bình luận của người gác cổng viết nguệch ngoạc bằng một mẩu than:

Cái ông nói đấy! *[13]

Hết

Hết

(Tập truyện “Whirligigs”, 1910)

http://www.online-literature.com/o_henry/1049/

[1] * Thành phố Gotham thuộc bang New Jersey, thủ phủ nằm ở gần Washington.DC.

[2] * Nữ thần Minerva:  nữ thần La Mã từ thế kỷ thứ hai trước công nguyên, tương đương với nữ thần Athena Hy Lạp. Bà là nữ thần đồng trinh của thơ ca, y học, trí tuệ, thương mại, dệt, hàng thủ công, ảo thuật, và nhà phát minh âm nhạc. Bà thường được mô tả là 1 vị thần thiêng liêng và là một biểu tượng của sự khôn ngoan.

[3] *.Keats: nhà văn Anh

[4] * Byron: nhà thơ Anh

[5] . Edga Poe nhà văn Mỹ

Các nhà văn Mỹ:

[6] * De Quincey,

[7] * Ade

[8] * James

[9] * Dic Zack

[10] * Guy De Maupassant nhà văn Pháp

[11] * Tom Watson: nhà văn Mỹ

[12] * Jeremiah: nhà văn Mỹ

[13]* “The… you say”- “Cái…. ông nói đi”. Người gác cổng bối rối nói không thành câu, rồi bảo “ông (BTV tự) nói đi !”, ý là, tôi chẳng có gì để nói cả vì tiểu thuyết này quá dở. Hoặc: “Cái này…ông nhà văn nói đó thôi. Thực tế chẳng phải như vậy”.

Người dịch ghi chú

AN GIANG 12/ 5/ 2019

Làm cho cả thiên hạ thân thiết 

Make the Whole World Kin

Làm cho cả thiên hạ thân thiết 

truyện ngắn

by O. Henry

https://americanliterature.com/author/o-henry/short-story/makes-the-whole-world-kin

Tên trộm bước vào cửa sổ một cách nhanh chóng, và rồi anh ta làm chủ thời gian. Một tên trộm tôn trọng nghệ thuật của mình luôn mất thời gian trước khi lấy bất cứ thứ gì khác.

Ngôi nhà là một nơi ở riêng. Bằng cách vào cửa trước của nó và qua hàng rào dây thường xuân Boston không xén, tên trộm biết rằng bà chủ của nó đang ngồi dưới một mái hiên bên bờ biển nói với một người đàn ông thông cảm trong chiếc mũ đi du thuyền rằng không ai hiểu được trái tim cô đơn, nhạy cảm của cô. Anh ta biết được qua ngọn đèn trong các cửa sổ mặt trước của tầng ba, và bởi độ trễ của mùa màng, chủ nhân của ngôi nhà đã về nhà, và sẽ sớm tắt ngọn đèn và nghỉ ngơi. Vì đó là tháng 9 của năm và của tâm hồn, và trong cái mùa đó người đàn ông tốt của ngôi nhà đi đến chỗ coi các khu vườn, mái nhà và người viết tốc ký là những điều phù phiếm, và mong muốn sự trở lại của người bạn đời và hạnh phúc đúng mực ổn định hơn của sự  đoan trang và sự xuất sắc về đạo đức.

Tên trộm châm một điếu thuốc. Ánh sáng được che của que diêm chiếu sáng những điểm nổi bật của anh ta trong giây lát. Anh ta thuộc loại trộm thứ ba

MAKE THE WHOLE WORLD

Loại thứ ba này chưa được công nhận và chấp nhận. Cảnh sát đã làm cho chúng tôi quen thuộc với loại thứ nhất và thứ hai. Phân loại của họ là đơn giản. Cổ áo là dấu hiệu phân biệt.

Khi một tên trộm bị bắt không mặc cổ áo, anh ta được mô tả là người thoái hóa thuộc loại thấp nhất, độc ác và đồi trụy, và bị nghi ngờ là tên tội phạm tuyệt vọng đã lấy còng tay ra khỏi túi của cảnh sát tuần tra Hennessy năm 1878 và đã thoát khỏi bắt giữ.

Một loại nổi tiếng khác là tên trộm mặc cổ áo. Anh ta luôn được nhắc đến như một anh chàng Raspberry trong cuộc sống thực. Anh ta luôn luôn là một quý ông vào ban ngày, ăn sáng trong bộ quần áo tươm tất và đóng giả làm một người thợ dán giấy tường, và khi trời tối, anh ta thực hiện hành vi trộm cắp bất chính của mình. Mẹ anh là một cư dân cực kỳ giàu có và được kính trọng của khu Ocean Grove, và khi anh được dẫn đến phòng giam của mình, anh đã yêu cầu cho một cái giũa móng tay và tờ tạp chí cảnh sát. Anh ta luôn có vợ ở mọi bang trong nước và hôn thê ở tất cả các vùng lãnh thổ, và các tờ báo in hình trưng bày hôn nhân của anh ta sau khi bị năm bác sĩ từ bỏ, trải qua sự khuây khỏa tuyệt vời sau lần đầu ngoài các kho hình cắt của những người phụ nữ chỉ được chữa khỏi bệnh bởi một chai rượu tiên bị bệnh hoa liễu.

Tên trộm mặc áo len màu xanh. Anh ta không phải là một tay cỡ Raffles cũng chẳng phải là một trong những đầu bếp từ Hell’s Kitchen. Cảnh sát sẽ bị lúng túng nếu họ cố gắng phân loại anh ta. Họ chưa nghe nói về tên trộm đáng kính, không khoan nhượng, người không ở trên hay chẳng ở dưới địa vị của anh ta.

Tên trộm loại thứ ba bắt đầu rình mò. Anh ta không đeo mặt nạ, đèn lồng tối, hoặc giày gôm. Anh ta mang một khẩu súng lục ổ quay cỡ 88 trong túi, và anh ta trầm ngâm nhai kẹo cao su bạc hà.

Các đồ nội thất của ngôi nhà đã được tránh bụi mùa hè bởi các vật che bụi. Đồ bạc đã ở rất xa trong hầm tiền gửi an toàn. Kẻ trộm dự kiến ​​không có đồ vật đánh dấu là”đồ ăn cắp”. Quan điểm khách quan của anh là căn phòng thiếu ánh sáng nơi chủ nhân của ngôi nhà cần ngủ rất nhiều sau mọi sự an ủi  anh đã tìm cách làm nhẹ gánh nặng của sự cô đơn. Một sự “đụng chạm” có thể được thực hiện ở đó, đến mức phạm vi lợi ích khéo léo nhà nghề – tiền để hớ hênh, đồng hồ đeo tay, một cây gậy trang sức, ghim cài – không có gì quá đáng hay vượt quá sự lành mạnh. Anh đã thấy cửa sổ mở và nắm lấy cơ hội.

Tên trộm nhẹ nhàng mở cánh cửa căn phòng sáng đèn. Khí gas đèn đã vặn thấp. Một người đàn ông nằm trên giường ngủ. Trên tủ quần áo để nhiều thứ lộn xộn – một cuộn hóa đơn nhàu nát, đồng hồ, chìa khóa, ba con bài xì phé, xì gà nghiền nát, một cái nơ tóc bằng lụa màu hồng và một chai bromo-nước khoáng có gaz chưa mở cho người bảo vệ vào buổi sáng.

Tên trộm bước ba bước về phía tủ quần áo. Người đàn ông trên giường đột nhiên thốt ra một tiếng rên rỉ và mở mắt ra. Tay phải anh trượt xuống dưới gối, nhưng vẫn ở đó.

“Nằm yên”, tên trộm nói với giọng điệu trò chuyện. Kẻ trộm loại ba không rít lên. Người công dân trên giường nhìn vào miệng tròn của khẩu súng ngắn và nằm yên.

“Bây giờ hãy giơ cả hai tay lên,” tên trộm ra lệnh.

Người công dân có một bộ râu nhỏ, nhọn, màu nâu và xám, giống như của một nha sĩ không buồn đau. Anh ta trông rắn rỏi, đáng quý trọng, cáu kỉnh và ghê tởm. Anh ngồi dậy trên giường và giơ tay phải lên trên đầu.

“Giơ tay kia lên,” tên trộm ra lệnh. “Ông có thể là loài lưỡng cư và bắn bằng tay trái. Ông có thể đếm đến hai, phải không? Nhanh lên, ngay bây giờ”.

“Không thể nâng tay kia được” công dân nói, mặt nhăn nhó

“Có chuyện gì đó xảy ra với nó?”

“Bệnh thấp khớp ở vai.”.

“Viêm hả ?”

“Đã bị. Chứng viêm đã giảm”.

Tên trộm đứng một lúc, chĩa súng trên người đang đau bệnh. Anh liếc nhìn đống đồ trên tủ quần áo và sau đó, với một vẻ nửa bối rối, quay lại nhìn người đàn ông trên giường. Rồi anh cũng nhăn mặt.

“Đừng đứng đó mà ngẩn mặt ra”, người công dân chộp lấy, thô lỗ. “Nếu anh đến để ăn trộm tại sao anh không làm đi? Có một số đồ đạc xung quanh đó”.

“‘Làm tôi bối rối,” tên trộm nói với nụ cười toe toét; “nhưng nó cũng chỉ khiến tôi bị thương một chút. Thật may cho ông là bệnh thấp khớp thì tôi đã quen lâu rồi. Tôi cũng bị nó trong cánh tay trái. Hầu hết mọi người, trừ tôi bất thình lình hỏi ông khi ông cũng không nhấc được tay trái của mình”

“Ông bị bệnh đó bao lâu rồi?” người công dân hỏi thăm.

“Bốn năm. Tôi nghĩ chẳng phải chỉ có thế. Một khi ông đã bị nó, đối với ông sẽ là một cuộc sống thấp khớp suốt đời – đó là phán đoán của tôi”.

“Đã bao giờ thử dầu rắn chuông chưa?” Người công dân hỏi, vẻ quan tâm.

“Hàng thùng rồi,” tên trộm nói. “Nếu tất cả những con rắn mà tôi đã sử dụng dầu được xâu thành một hàng thì chúng sẽ dài tới tám lần tới với Sao Thổ, và có thể nghe thấy tiếng lục lạc leng keng ở Valparaiso, Indiana và vòng trở lại”.

“Một số người sử dụng thuốc của Chiselum”, người công dân nhận xét.

“Vớ vẩn !” tên trộm nói. “Đã uống 5 tháng rồi. Không tốt. Tôi đã cảm thấy nhẹ nhõm trong cái năm tôi đã dùng thử Finkelham’s Extract, Balm of Gilead poultices và Potts’s Pain Pulverizer;

“Cơn đau của ông nặng hơn vào buổi sáng hay buổi tối?” công dân hỏi.

“Đêm,” tên trộm nói; “ngay khi tôi bận rộn nhất. Nói đi, bỏ cánh tay của ông xuống – tôi đoán là ông sẽ không …- Nói đi! Ông đã bao giờ thử Blickerstaff’s Blood Builder chưa?”

“Tôi chưa bao giờ làm thế. Có phải ông đến trong tình trạng cơn đau bộc phát hay đó là một cơn đau ổn định?”.

Tên trộm ngồi xuống chân giường và đặt súng lên đầu gối bắt chéo.

“Nó nhảy,” ông nói. “Nó đau khi tôi không chờ đợi nó. Tôi đã phải từ bỏ công việc ở tầng hai vì đôi khi tôi bị mắc kẹt nửa chừng. Nói cho ông biết, cái gì nhỉ, tôi không tin các bác sĩ đang nở rộ như ruồi biết điều gì là tốt cho nó”.

“Tương tự ở đây đó. Tôi đã tiêu cả ngàn đô la mà không giảm đau chút nào. Ông có bị sưng không?”

“Buổi sáng. Và khi trời sắp mưa – Christopher tuyệt vời!”

“Tôi cũng vậy,” người dân nói. “Tôi có thể biết khi nào một vệt không khí ẩm có kích thước bằng khăn trải bàn bắt đầu từ Florida trên đường đến New York. Và nếu tôi đi qua một nhà hát nơi có một buổi biểu diễn ‘Đông Lynne’ sắp diễn ra, hơi ẩm bắt đầu nhảy trên cánh tay trái của tôi như đau răng “.

“Nó không bị loãng ra – nằm nghiêng!” tên trộm nói.

“Ông đã quá đúng”, người dân nói.

Tên trộm nhìn xuống khẩu súng lục của mình và nhét nó vào túi với một nỗ lực vụng về thoải mái.

“Nói đi, ông già,” anh nói, gượng gạo, “đã bao giờ thử thuốc bóp phong thấp opodeldoc chưa ?”

“Đổ đi !” Công dân giận dữ nói. “Cũng có thể chà lên bơ nhà hàng.”

“Chắc chắn rồi,” tên trộm đồng tình. “Đó là một thứ xoa dịu phù hợp với con  Minnie khi con mèo gãi ngón tay. Tôi sẽ nói với ông điều gì! Chúng tôi chống lại nó. Tôi chỉ thấy một điều giúp cô  mèo ấy bớt căng thẳng. Này ? MỘt ít vệ sinh cải thiện, kẻo -, uống say để quên đi. Nói xem – công việc đã xong – tha lỗi cho tôi – mặc quần áo vào đi và đi ra ngoài và dùng một số.Xin lỗi tự do, nhưng – ái cha! Nó lại đến đấy !”.

“Trong một tuần,” người dân nói. “Tôi không thể tự mặc quần áo mà không có sự giúp đỡ. Tôi sợ Thomas đang ở trên giường, và …”

“Lăn ra ngoài,” tên trộm nói, “Tôi sẽ giúp ông mặc đồ”.

Thói quen thông thường trở lại như một làn sóng thủy triều và tràn ngập người dân. Anh vuốt bộ râu màu nâu xám.

“Nó rất khác thường -” anh bắt đầu.

“Đây là áo của ông,” tên trộm nói, “rơi ra. Tôi biết một người đàn ông nói dùng thuốc mỡ Omberry đã pha hợp với anh ta trong hai tuần thế là anh ta có thể dùng cả hai tay để buộc như là có bốn tay”.

Khi họ đang đi ra khỏi cửa, người công dân quay đầu và bắt đầu quay lại.

“Hình như tôi để quên tiền,” anh giải thích; “để nó trên tủ quần áo tối qua”.

Tên trộm nắm lấy tay áo bên phải của anh ta.

“Thôi nào,” anh nói một cách ranh mãnh. “Tôi hỏi ông. Hãy để nó một mình. Tôi có tiền rồi. Đã bao giờ thử dùng nước cây phỉ và dầu cây lộc đề mùa đông chưa?”

Hết

Tháng 10 và tháng 6

October and June

by O. Henry

Tháng 10 và tháng 6

Thuyền trưởng nhìn đăm đăm vào thanh kiếm treo trên tường. Trong tủ quần áo gần đó được lưu trữ đồng phục bạc màu của mình, bị ố và rách bởi thời tiết và làm việc. Thật là một khoảng thời gian dài, dường như kể từ những ngày báo động chiến tranh cũ !

Và bây giờ, với tư cách cựu chiến binh mà anh ta ở thời kỳ vất vả của đất nước, anh ta đã bị sa sút, khốn khổ vì bị đôi mắt mềm mại và đôi môi mỉm cười của một người phụ nữ từ bỏ. Khi ngồi trong căn phòng yên tĩnh, anh cầm trong tay lá thư vừa nhận được từ cô – lá thư khiến anh phải mang vẻ ngoài u ám đó. Anh đọc lại đoạn văn chí mạng đã phá hủy hy vọng của anh.

Khi từ chối sự tôn trọng, bạn đã  hỏi tôi làm vợ, tôi cảm thấy mình nên nói thẳng thắn.

 Lý do tôi làm như vậy là vì sự khác biệt lớn giữa lứa tuổi của chúng ta. Tôi thích bạn rất, rất nhiều, nhưng tôi chắc chắn rằng cuộc hôn nhân của chúng ta sẽ không hạnh phúc. Tôi xin lỗi vì phải đề cập đến điều này, nhưng tôi tin rằng bạn sẽ đánh giá cao sự trung thực của tôi khi nói cho bạn lý do thực s”.

Thuyền trưởng thở dài, và dựa đầu vào tay. Vâng, có nhiều năm nằm giữa độ tuổi của họ. Nhưng anh mạnh mẽ và cứng rắn, anh có vị trí và giàu có. Chẳng phải tình yêu của anh, sự chăm sóc dịu dàng của anh và những lợi thế anh có thể dành cho cô sẽ khiến cô quên đi vấn đề tuổi tác? Bên cạnh đó, anh gần như chắc chắn rằng cô quan tâm chăm sóc anh.

Thuyền trưởng là một người hành động kịp thời. Trong lĩnh vực này, anh đã biểu lộ phẩm chất quyết đoán và giàu năng lượng của mình. Anh sẽ gặp cô và biện hộ cho duyên cớ của anh lần nữa về cá nhân anh. Tuổi tác ư ! – điều đó thì làm sao giữa anh và người anh yêu?

Trong hai giờ, anh ta đã sẵn sàng, theo thứ tự hành quân nhẹ nhàng, cho trận chiến lớn nhất của mình. Anh bắt chuyến tàu đến thị trấn miền Nam cũ ở bang Tennessee nơi cô sống.

Theodora Deming đang ngồi trên những bậc thang của ngôi biệt thự cổ có mái vòm xinh đẹp, tận hưởng hoàng hôn mùa hè, thì chàng thuyền trưởng bước vào cổng và bước lên lối đi rải sỏi. Cô gặp anh với một nụ cười không chút bối rối. Khi thuyền trưởng đứng lên bậc thang phía dưới cô, sự khác biệt về tuổi tác của họ không có vẻ quá lớn. Anh ta cao và thẳng, mắt trong và nâu. Cô ấy đang ở trong sự nở rộ của người phụ nữ đáng yêu.

“Tôi không mong đợi anh,” Theodora nói; “nhưng bây giờ anh đã đến, anh có thể ngồi lên bậc thềm. Anh không nhận được thư của tôi à?”

“Tôi đã nhận được,” Thuyền trưởng nói; “và đó là lý do tại sao tôi đến. Tôi nói, bây giờ, Theodora, cân nhắc lại câu trả lời của em, được không?”

Theodora khẽ mỉm cười với anh. Anh ấy đã đi qua những năm tháng tốt đẹp. Cô thực sự thích sức mạnh của anh, vẻ ngoài lành mạnh tráng kiện, rất nam tính – có lẽ, nếu…

“Không, không,” cô nói, lắc đầu, hăng hái; “Không có vấn đề gì. Tôi thích anh rất nhiều, nhưng kết hôn thì sẽ không làm được. Tuổi của tôi và của anh là …nhưng đừng bắt tôi phải nói lại – tôi đã nói với anh trong thư của tôi rồi”.

Thuyền trưởng đỏ mặt một chút như màu đồng trên mặt. Anh im lặng một lúc, buồn bã nhìn chằm chằm vào hoàng hôn. Ngoài một dãy rừng mà anh có thể nhìn thấy là một cánh đồng nơi những cậu bé mặc áo xanh đã từng cắm trại trên đường hành quân về phía biển. Đã bao lâu rồi mà tưởng như bây giờ! Quả thật, Số phận và Thần thời gian đã lừa anh vô cùng nghiêm trọng. Chỉ là vài năm xen vào giữa anh và hạnh phúc!

Bàn tay của Theodora rón rén đưa xuống và nằm yên trong cái nắm tay chắc nịch màu nâu của anh. Ít nhất, cô cảm thấy tình cảm đó na ná như tình yêu.

“Đừng cảm thấy quá khó khăn, làm ơn đi,” cô nói, nhẹ nhàng. “Tất cả là vì điều tốt nhất. Tôi đã tự mình suy ngẫm rất sáng suốt. Một ngày nào đó anh sẽ rất vui vì tôi đã không cưới anh. Nó sẽ rất tốt và đáng yêu trong một thời gian – nhưng, hãy nghĩ đi! Chỉ trong một vài năm ngắn ngủi, chúng ta sẽ có những sở thích khác nhau! Một trong chúng ta muốn ngồi bên lò sưởi và đọc sách, và có thể chăm sóc bệnh đau thần kinh hoặc thấp khớp vào buổi tối, trong khi người kia sẽ phát điên vì những quả bóng và rạp chiếu phim và bữa ăn khuya. Không, bạn thân mến của tôi ơi. Mặc dù không chính xác là tháng 1 và tháng 5, nhưng đây là một trường hợp rõ ràng của tháng 10 và gần đầu tháng 6“.

“Tôi sẽ luôn làm những gì em muốn tôi làm, Theodora. Nếu em muốn…”

“Không, anh sẽ không thể đâu. Bây giờ anh nghĩ rằng anh sẽ làm thế, nhưng anh sẽ không làm đâu. Làm ơn đừng hỏi tôi nữa”.

OCTOBER AND JUNE

Thuyền trưởng đã thua trận. Nhưng anh ta là một chiến binh hào hoa phong nhà, và khi anh ta đứng dậy để chào từ biệt cuối cùng thì miệng anh ta  tỏ ra một cách dứt khoát và đôi vai của anh ta ngay ngắn thẳng thắn.                    

Anh đi tàu về miền Bắc tối hôm đó. Vào tối hôm sau, anh trở lại trong phòng, nơi thanh kiếm của anh ta được treo trên tường. Anh ta đang mặc trang phục cho bữa tối, buộc chiếc cà vạt trắng của mình vào một chiếc nơ rất cẩn thận. Và cùng lúc đó, anh ta đắm chìm trong một màn độc thoại.

“‘Về danh dự của tôi, cuối cùng tôi tin rằng Theodora nói đúng. Không ai có thể phủ nhận rằng cô ấy là một đóa đào hoa, nhưng cô ấy phải hai mươi tám tuổi, theo cách tính toán tốt nhất”.

Bạn có thể thấy, Thuyền trưởng chỉ mới mười chín tuổi, và thanh kiếm của anh ta chưa bao giờ được rút ra, ngoại trừ khi diễu hành trên khu đất ở Chattanooga, gần nơi anh ta từng tham gia cuộc chiến tranh Mỹ- Tây Ban Nha.… the end ….

Note

Cuộc chiến Mỹ- Tây Ban Nha

Vào ngày 25 tháng 4 năm 1898 Hoa Kỳ tuyên chiến với Tây Ban Nha sau khi tàu chiến Battleship Maine bị đắm ở cảng Havana vào ngày 15 tháng 2 năm 1898. Kết quả là Tây Ban Nha đã mất sự kiểm soát của họ đối với phần còn lại của đế chế hải ngoại – Cuba, Puerto Rico, Philippines, đảo Guam và các đảo khác.

Hiệp ước Paris được ký kết vào ngày 10 tháng 12 năm 1898.

Các ủy viên từ Hoa Kỳ và Tây Ban Nha đã gặp nhau tại Paris vào ngày 1 tháng 10 năm 1898 để đưa ra một hiệp ước chấm dứt chiến tranh sau sáu tháng chiến sự.

ND

LỜI BÀN

Mối tình đơn phương của một chàng thuyền trưởng gốc quí tộc 19 tuổi (chỉ tham gia chiến tranh 6 tháng) với một tiểu thư miền Nam hiểu đời và lịch thiệp – kết quả bất thành nhưng rất lịch sự, dễ thương.

Nhà văn tủm tỉm cười khi kể chuyện chàng trai 19 tuổi đã tự hào “cựu chiến binh”. và  sự non nớt của anh ta trong mối tình lãng mạn …

Tựa đề truyện ngắn hơi lạ “ October and June”.

Bạn đọc có thể hiểu gì qua câu nói của cô tiểu thư Theodora:

Mặc dù không hẳn tháng 1 và tháng 5 nhưng đây là một trường hợp rõ ràng của tháng 10 và gần đầu tháng 6“.

“Tháng 1 và tháng 5”, cách nhau 4 tháng.

Tháng 10 và tháng 6, cũng cách nhau 4 tháng.

Nhưng thứ tự tháng ngược nhau ?

Phải chăng tiểu thư muốn so sánh hai người như cặp tháng: 1 với 5 thì chấp nhận được, còn 10 với 6 thì không thể ?

ND

Hãy để tôi nghe nhịp đập của bạn

Let Me Feel Your Pulse

This is the last story completed by O. Henry.

(Đây là câu chuyện cuối cùng được hoàn thành bởi O. Henry).

Hãy để tôi nghe nhịp đập của bạn

Thế là tôi đã đi đến một bác sĩ.

“Đã bao lâu rồi kể từ khi bạn uống bất kỳ loại rượu nào vào cơ thể của mình?” anh ấy hỏi.

Quay đầu qua một bên, tôi trả lời: “Ồ, khá lâu rồi”.

Anh là một bác sĩ trẻ, ước khỏang giữa hai mươi và bốn mươi. Anh ta mang vớ màu đỏ ánh xanh, nhưng anh ta trông giống một cái bánh kem. Tôi thích anh ấy vô cùng.

“Bây giờ,” anh nói, “Tôi sẽ cho bạn thấy tác dụng của rượu đối với sự lưu thông máu của bạn”. Tôi nghĩ rằng đó là “sự tuần hoàn”, anh nói; mặc dù nó có thể là “quảng cáo”.

Anh ta vén áo tay trái của tôi lên khuỷu tay, mang ra một chai rượu whisky và đưa cho tôi một ly. Anh ta bắt đầu trông giống cái bánh kem hơn. Tôi bắt đầu thích anh hơn.

Sau đó, anh ta bóp chặt vào phần cánh tay trên của tôi, dùng ngón tay chặn mạch của tôi và bóp một quả bóng cao su được kết nối với một thiết bị trên giá đỡ trông giống như một nhiệt kế. Thủy ngân nhảy lên nhảy xuống mà dường như không dừng lại ở đâu; nhưng bác sĩ cho biết nó đã ghi chép hai trăm ba mươi bảy hoặc một trăm sáu mươi lăm hoặc một số như vậy.

“Bây giờ,” anh ta nói, “bạn thấy những gì rượu đã làm với huyết áp”.

“Thật tuyệt vời,” tôi nói, “nhưng ông có nghĩ rằng đó là một bài kiểm tra hiệu quả không? Làm một tay cho tôi rồi, và hãy thử cánh tay kia.” Nhưng, không!

Rồi anh nắm lấy tay tôi. Tôi nghĩ rằng tôi đã thất bại và anh ấy đang nói lời tạm biệt. Nhưng tất cả những gì anh ta muốn làm là đâm một cây kim vào đầu một ngón tay và so sánh giọt máu đỏ với rất nhiều chip quân bài năm mươi xu mà anh ta đã buộc chặt vào một lá bài.

“Đó là xét nghiệm chất hæmoglobin,” anh giải thích. “Màu máu của bạn là sai rồi”.

“Chà,” tôi nói, “Tôi biết nó nên có màu xanh, nhưng đây là một đất nước hỗn hợp chủng. Một số tổ tiên của tôi là những người phóng túng, nhưng họ đã gắn bó nhiều với một số tộc người trên đảo Nantucket, vì vậy…,”

“Ý tôi là,” bác sĩ nói, “rằng màu đỏ quá nhạt”.

“Ồ,” tôi nói, “đó là một trường hợp so sánh thay vì khớp.”

Bác sĩ sau đó đập mạnh vào vùng ngực tôi. Khi anh ấy làm điều đó tôi không biết liệu anh ấy có nhắc tôi nghĩ nhiều nhất về Napoleon hay Battling hay Lord Nelson không. Sau đó, anh ta nhìn nghiêm trang và đề cập đến một chuỗi phàn nàn rằng xác thịt là thừa kế chủ yếu kết thúc bằng “bệnh”. Tôi ngay lập tức trả cho anh ta mười lăm đô la trên tài khoản.

“Là nó hoặc một số hay bất kỳ cái nào trong số đó có nhất thiết phải gây tử vong không?” Tôi hỏi. Tôi nghĩ rằng mối liên hệ của tôi với vấn đề có rõ ràng một số hứng thú/ quan tâm/lợi ích nào đó.

“Tất cả những cái đó,” anh vui vẻ trả lời. “Nhưng sự diễn tiến của chúng có thể bị chặn lại. Với sự chăm sóc và  điều trị đúng đắn liên tục, bạn có thể sống đến tám mươi lăm hoặc chín mươi”.

Tôi bắt đầu nghĩ về hóa đơn của bác sĩ. “Tám mươi lăm là đủ, chắc chắn,” là nhận xét của tôi. Tôi đã trả cho anh ta thêm mười đô la vào tài khoản.

“Điều đầu tiên cần làm”, ông nói, với sự hào hứng được đổi mới, “là tìm một viện điều dưỡng, nơi bạn sẽ nghỉ ngơi hoàn toàn trong một thời gian, và cho phép thần kinh của bạn có được trạng thái tốt hơn. Chính tôi sẽ đi cùng bạn và chọn một cái phù hợp”.

Thế là, anh ấy đưa tôi đến một ngôi nhà bệnh tâm thần ở Catkills. Ngôi nhà ở trên một ngọn núi trọc thường là chỉ có những người không thường xuyên đến. Bạn không thể thấy gì ngoài đá và đá cuội, một vài mảng tuyết và cây thông rải rác. Một bác sĩ trẻ phụ trách là dễ chịu nhất. Anh ấy cho tôi một chất kích thích mà không ép nén vào cánh tay. Đó là thời gian ăn trưa, và chúng tôi được mời tham dự. Có khoảng hai mươi bệnh nhân ngồi tại các bàn nhỏ trong phòng ăn. Vị bác sĩ trẻ phụ trách đã đến bàn của chúng tôi và nói: “Đó là một phong tục với khách của chúng tôi không coi họ là bệnh nhân, mà chỉ là những quý bà và quý ông mệt mỏi nghỉ ngơi. Bất kể bệnh tật nhẹ nào họ có thể không bao giờ được ám chỉ hay nhắc đến trong cuộc trò chuyện.

Bác sĩ của tôi đã gọi to một cô hầu bàn mang một ít phốts phát thuỷ phân vôi băm, bánh mì thịt chó, bánh kếp bromo-seltzer và trà nuxummyica cho món ăn của tôi. Rồi một âm thanh nổi lên như một cơn bão gió bất chợt giữa những cây thông. Nó được phát ra bởi mọi khách trong phòng thì thầm khá to, “Suy nhược thần kinh!” – ngoại trừ một người đàn ông với cái giọng mũi, người mà tôi nghe rõ  nói là “Nghiện rượu mãn tính”. Tôi hy vọng sẽ gặp lại anh ấy. Bác sĩ trực quay ra và bỏ đi.

Một tiếng sau bữa ăn trưa, anh ta dẫn chúng tôi đến một xưởng máy, nói rằng cách nhà năm mươi thước. Theo hướng đó, các vị khách đã được điều khiển bởi bác sĩ tạm thay phụ trách và người giữ miếng bọt biển- một người đàn ông có hai bàn chân và áo len dài tay màu xanh. Anh ta cao đến nỗi tôi không chắc anh ta có khuôn mặt; nhưng Công ty Bao bì Armor sẽ rất vui mừng với đôi tay của anh ta.

“Đây,” bác sĩ phụ trách nói, “khách của chúng tôi tìm thấy sự thư giãn khỏi những lo lắng về tinh thần trong quá khứ bằng cách cống hiến hết mình cho lao động thể chất giải trí trong thực tế”.

Có máy tiện, trang phục thợ mộc, công cụ mô hình đất sét, bánh xe quay, khung dệt, máy chạy bộ, trống bass, thiết bị chân dung phóng to, đồ thợ rèn, và mọi thứ, dường như, có thể thu hút những vị khách mất trí của một bệnh viện hạng nhất.

“Người phụ nữ làm bánh pa tê bùn ở góc nhà”, bác sĩ phụ trách thì thầm, “không ai khác ngoài cô bé Lula Lulington, tác giả của cuốn tiểu thuyết mang tên ‘Why Love Loves’. Những gì cô ấy đang làm bây giờ chỉ đơn giản là nghỉ ngơi sau khi biểu diễn tác phẩm đó”.

Tôi đã xem cuốn sách. “Tại sao cô ấy không làm sách đó bằng cách viết một cái khác thay thế?” Tôi hỏi.

Như bạn thấy, tôi đã không đi xa hoài như họ nghĩ tôi là vậy.

“Người đàn ông đang rót nước vào phễu,” bác sĩ phụ trách tiếp tục, “là một nhà môi giới ở Phố Wall bị ngã bệnh vì làm việc quá sức”.

Tôi cài nút áo khoác.

Những người khác mà ông chỉ ra là các kiến trúc sư chơi với các thuyền lớn của Nô-ê, các giáo sĩ/mục sư đang đọc “Thuyết tiến hóa” của Darwin, các luật sư cưa gỗ, những phụ nữ công tác xã hội mệt mỏi nói chuyện Ibsen (Henrik 1828–1906 nhà thơ và nhà viết kịch Na uy) với người giữ miếng bọt biển áo xanh, một triệu phú rối loạn thần kinh đang ngủ trên sàn và một họa sĩ nổi tiếng vẽ một chiếc xe ngựa nhỏ màu đỏ xung quanh phòng.

“Bạn trông khá mạnh mẽ đấy”, bác sĩ phụ trách nói với tôi. “Tôi nghĩ rằng sự thư giãn tinh thần tốt nhất cho bạn sẽ là ném những tảng đá nhỏ qua sườn núi và sau đó mang chúng trở lại”.

Tôi đã đi một trăm mét trước khi bác sĩ của tôi bắt kịp tôi.

“Có chuyện gì vậy?” anh ấy hỏi.

“Vấn đề là,” tôi nói, “rằng không có máy bay tiện dụng. Vì vậy, tôi sẽ vui vẻ và vội vã chạy bộ trên con đường đến nhà ga đằng kia và bắt chuyến tàu than mềm số lượng lớn đầu tiên trở lại thị trấn”.

“Chà,” bác sĩ nói, “có lẽ bạn đúng. Đây dường như khó là nơi yên tĩnh thích hợp cho bạn. Nhưng điều bạn cần là nghỉ ngơi tuyệt đối và tập thể dục”.

Tối hôm đó tôi đến một khách sạn trong thành phố và nói với nhân viên bán hàng: “Điều tôi cần là nghỉ ngơi và tập thể dục tuyệt đối. Ông có thể cho tôi một căn phòng với một trong những chiếc giường gấp cao trong đó không, và một tốp nhân viên trực tầng để điều khiển giường lên xuống trong khi tôi nghỉ ngơi? “

Người thư ký xoa một đốm bẩn trong móng tay của mình và liếc nhìn  nghiêng sang một người đàn ông cao lớn đội mũ trắng ngồi trong sảnh. Người đàn ông đó đi đến và hỏi tôi một cách lịch sự rằng tôi có nhìn thấy cây bụi ở lối vào phía tây. Tôi không thấy, vì vậy anh ấy chỉ cho tôi xem và sau đó nhìn tôi.

“Tôi nghĩ rằng bạn đã có cây đó,” anh nói, chẳng phải không tử tế, “nhưng tôi đoán bạn không sao. Tốt hơn là bạn nên đi gặp bác sĩ, ông già ạ”.

Một tuần sau đó bác sĩ của tôi đã kiểm tra huyết áp của tôi một lần nữa mà không cần chất kích thích sơ bộ. Anh ta nhìn tôi ít hơn một chút so với ông bác sĩ Napoleon. Và đôi tất của anh ta có một màu rám nắng không hấp dẫn tôi.

“Những gì bạn cần,” ông quyết định, “là không khí biển và bạn đồng hành”.

“Sẽ là một nàng tiên cá” Tôi bắt đầu; nhưng anh ta trượt theo quán tính chuyên nghiệp của mình.

“Bản thân tôi,” anh ta nói, “sẽ đưa bạn đến khách sạn Bonair ngoài khơi Long Island và thấy rằng bạn có thể trạng tốt. Đây là một khu nghỉ mát yên tĩnh, thoải mái, nơi đó bạn sẽ sớm hồi phục”.

Khách sạn Bonair đã chứng tỏ là một ký túc xá thời trang chín trăm phòng trên một hòn đảo ngoài khơi. Mọi người không mặc trang phục cho bữa tối đều bị đẩy vào một phòng ăn bên cạnh và chỉ được cho một bàn thịt rùa, nước ngọt và rượu sâm banh. Vịnh biển là một nơi tuyệt vời cho các chủ du thuyền giàu có. Chiếc tàu Corsair neo ở đó vào ngày chúng tôi đến. Tôi thấy ông Morgan đang đứng trên boong ăn bánh sandwich phô mai và nhìn chằm chằm khao khát vào khách sạn.Tuy nhiên, đó là một nơi rất rẻ. Không ai có thể trả cái giá của họ. Khi bạn rời đi xa, bạn chỉ cần để lại hành lý, lấy trộm một chiếc thuyền nhỏ và chèo về đất liền trong đêm.

Khi tôi ở đó được một ngày, tôi nhận được một bản điện báo ở bàn của nhân viên thư ký và bắt đầu nối dây với tất cả bạn bè để nhận tiền gửi từ xa. Bác sĩ của tôi và tôi đã chơi bóng vồ trên các đường golf và ngủ trên bãi cỏ.

Khi chúng tôi trở lại thị trấn, một ý nghĩ dường như xảy ra với anh ấy đột ngột. “Nhân tiện,” anh hỏi, “bạn cảm thấy thế nào?”

“Tôi rất nhẹ nhõm,” tôi trả lời.

Bây giờ một bác sĩ tư vấn lại là khác. Anh ta không chắc chắn chính xác liệu anh ta có được trả tiền hay không, và sự không chắc chắn này đảm bảo cho bạn sự chú ý cẩn thận nhất hoặc bất cẩn nhất. Bác sĩ đưa tôi đến gặp bác sĩ tư vấn. Anh ấy chẩn đoán sơ sài và chú ý đến tôi rất cẩn thận. Tôi thích anh ấy vô cùng. Anh ấy cho tôi trải qua một số bài tập phối hợp.

“Bạn có bị đau sau gáy không?” anh ấy hỏi. Tôi nói với anh rằng tôi không đau.

“Hãy nhắm mắt lại,” anh ra lệnh, “đặt hai chân sát nhau, và nhảy lùi xa nhất có thể”.

Tôi luôn luôn là một người nhảy lùi tốt với đôi mắt nhắm nghiền, vì vậy tôi đã vâng lời. Đầu tôi đập vào mép cửa phòng tắm, nơi đã bị mở và chỉ cách ba bước chân. Bác sĩ rất xin lỗi. Anh đã bỏ qua thực tế là cánh cửa đang mở. Anh đóng nó lại.

“Bây giờ chạm vào mũi của bạn với ngón trỏ bên phải của bạn,” ông nói.

“Ở chỗ nào?” Tôi hỏi.

“Trên khuôn mặt của bạn,” ông nói.

“Tôi nói là ngón trỏ bên phải của tôi,” tôi giải thích.

“Ồ, xin lỗi,” anh nói. Anh mở lại cửa phòng tắm, và tôi rút ngón tay ra khỏi khe  nứt của nó. Sau khi tôi thực hiện kỳ công (uống) thuốc mũi kỳ lạ, tôi nói:

“Tôi không muốn lừa dối ông về các triệu chứng, bác sĩ à; Tôi thực sự có một cái gì đó giống như một cơn đau ở phía sau đầu.” Anh ta phớt lờ triệu chứng đó và kiểm tra trái tim tôi một cách cẩn thận bằng một chiếc kèn ear-penny-in-the-slot phổ thông mới nhất. Tôi cảm thấy như một bản ballad* .

“Bây giờ,” anh nói, “phi nước đại như ngựa trong khoảng năm phút quanh phòng.”

Tôi đã làm sự bắt chước tốt nhất có thể về một con ngựa kéo xe đang bị dẫn ra khỏi công viên quảng trường Madison. Sau đó, chẳng tốn kém gì, anh lại lắng nghe ngực tôi.

“Không có bệnh loét mũi truyền nhiễm trong gia đình của chúng tôi, bác sĩ à,” tôi nói.

Bác sĩ tư vấn giơ ngón trỏ lên trong vòng ba phân trước mũi tôi. “Hãy nhìn ngón tay của tôi,” anh ra lệnh.

“Ông đã bao giờ gặp rắc rối không” Tôi bắt đầu; nhưng anh ấy đã tiếp tục bài kiểm tra của mình một cách nhanh chóng.

“Bây giờ hãy nhìn qua vịnh. Ở ngón tay của tôi. Bên kia vịnh. Ở ngón tay của tôi. Ở ngón tay của tôi. Bên kia vịnh. Bên kia vịnh. Ở ngón tay của tôi. Bên kia vịnh.”  Chuyện này làm trong khoảng ba phút.

Ông giải thích rằng đây là một thử nghiệm về hành động của não. Nó có vẻ dễ dàng với tôi. Tôi chưa bao giờ nhầm ngón tay của mình với vịnh. Tôi sẽ đặt cược rằng nếu anh ta đã sử dụng các cụm từ: “Nhìn chằm chằm, như đã từng, không được chú ý, hướng ngoại hay nói đúng hơn là theo hướng của đường chân trời, đặt ở dưới, có thể nói, với đầu vào chất lỏng liền kề” và “Bây giờ, trả lại hay đúng hơn là, theo cách nào đó, thu hút sự chú ý của bạn, ban cho nó chữ số được nâng cao”.Tôi sẽ đặt cược, tôi nói, rằng chính Henry James có thể đã vượt qua kiểm tra.

Sau khi hỏi tôi rằng tôi đã từng có một ông chú già bị cong vẹo cột sống hay anh em họ bị sưng mắt cá chân, hai bác sĩ đã lui vào phòng tắm và ngồi trên mép bồn tắm để được tư vấn. Tôi ăn một quả táo, và đầu tiên nhìn chằm chằm vào ngón tay của tôi và sau đó nhìn qua vịnh.

Các bác sĩ đi ra  nhìn có vẻ nghiêm nghị. Thêm nữa: họ nhìn bia mộ và tờ giấy xin sao chép báo chí Tennessee. Họ đã viết ra một danh sách chế độ ăn kiêng mà tôi cần bị hạn chế. Nó có mọi thứ mà tôi từng nghe nói để ăn kiêng, ngoại trừ ốc. Và tôi không bao giờ ăn ốc trừ khi nó bắt kịp tôi và cắn tôi trước.

“Bạn phải tuân thủ nghiêm ngặt chế độ ăn kiêng này”, các bác sĩ nói.

“Tôi sẽ đi sau nó một dặm nếu tôi có thể gặp một phần mười những gì trong danh mục đó,” tôi trả lời.

“Tầm quan trọng tiếp theo,” họ tiếp tục, “là không khí ngoài trời và tập thể dục. Và đây là một đơn thuốc sẽ mang lại lợi ích lớn cho bạn”.

Sau đó tất cả chúng tôi đã lấy một cái gì đó. Họ lấy mũ của họ, và tôi đã khởi hành.

Tôi đi đến một tiệm bán thuốc và cho anh ta xem toa thuốc.

“Nó sẽ là 2,87 đô la cho một chai ounce”, ông nói.

“Ông cho tôi một sợi dây bọc được không ?” tôi nói

Tôi tạo một lỗ hổng trong đơn thuốc, luồn dây qua nó, buộc nó quanh cổ và nhét nó vào trong. Tất cả chúng ta đều có một chút mê tín, và tôi chạy theo niềm tin vào bùa hộ mệnh.

Tất nhiên không có vấn đề gì với tôi, nhưng tôi rất ốm yếu. Tôi không thể làm việc, ngủ, ăn, hoặc chơi bóng gỗ. Cách duy nhất tôi có thể nhận được bất kỳ sự đồng cảm nào là đi mà không cạo râu trong bốn ngày. Thậm chí sau đó ai đó sẽ nói: “Ông già, bạn trông cứng rắn như một cây thông. Ông bạn đã sẵn sàng cho một cuộc chơi trong rừng Maine, hả?”.

Sau đó, đột nhiên tôi nhớ rằng tôi phải có không khí ngoài trời và tập thể dục. Vì vậy, tôi đã đi xuống miền Nam đến nhà John. John gần như là một người họ hàng theo sự nhận định của một nhà truyền giáo đang đứng với một cuốn sách nhỏ trên tay trong một lùm cây hoa cúc trong khi một trăm ngàn người đứng xem. John có một ngôi nhà nông thôn cách bảy dặm từ Pineville. Đó là ngôi nhà vùng cao và trên dãy núi Blue Ridge trong một tình trạng quá trang nghiêm nên khó bị kéo vào cuộc tranh cãi này. John là chất thạch trong bóng cá, có giá trị rõ ràng hơn vàng.

Anh ấy gặp tôi ở Pineville, và chúng tôi lấy xe đẩy tay về nhà anh ấy. Đó là một ngôi nhà lớn, không có hàng xóm, trên một ngọn đồi được bao quanh bởi một trăm ngọn núi. Chúng tôi xuống xe tại trạm xe riêng nhỏ của anh ấy, nơi gia đình của John và Amaryllis gặp và chào đón chúng tôi. Amaryllis nhìn tôi lo lắng.

Một con thỏ đi qua ngọn đồi giữa chúng tôi và ngôi nhà. Tôi ném vali xuống và vội vàng đuổi theo nó. Sau khi tôi chạy được hai mươi thước và thấy nó biến mất, tôi ngồi xuống bãi cỏ và khóc lóc thất vọng.

“Tôi không thể bắt một con thỏ nữa”, tôi nức nở. “Tôi không còn sử dụng được nữa trên đời này. Tôi cũng có thể chết”.

“Ồ, là gì vậy, anh John, là gì vậy?” Tôi nghe Amaryllis nói.

“Thần kinh căng thẳng một chút thôi,” John nói, theo cách bình tĩnh của anh. “Đừng lo lắng. đứng dậy đi, người đuổi thỏ, và đi vào nhà trước khi bánh quy nguội lạnh”. Đó là lúc chạng vạng, và những ngọn núi xuất hiện một cách lộng lẫy theo mô tả của cô Murfree về chúng.

Ngay sau bữa tối tôi đã thông báo rằng tôi tin rằng tôi có thể ngủ trong một hoặc hai năm, bao gồm cả các ngày lễ hợp pháp. Vì vậy, tôi được chỉ cho một căn phòng rộng và mát như một vườn hoa, nơi có một chiếc giường rộng như một bãi cỏ. Ngay sau đó, người cuối cùng của hộ gia đình đã nghỉ ngơi, và cả khu vực rơi vào im lặng.

Tôi đã không nghe thấy một sự im lặng trước đó trong nhiều năm. Đó là tuyệt đối. Tôi tự nâng khuỷu tay lên và lắng nghe. Ngủ ! Tôi nghĩ rằng nếu tôi chỉ có thể nghe thấy một ngôi sao lấp lánh hoặc một lá cỏ tự vuốt mài thì tôi có thể tự soạn ra sự nghỉ ngơi. Tôi đã từng nghĩ rằng tôi nghe thấy một âm thanh như cánh buồm của một chiếc thuyền đang vỗ khi nó lướt qua trong một cơn gió nhẹ, nhưng tôi quyết định rằng nó có lẽ chỉ là một cái gì đó động đậy trong tấm thảm. Tôi vẫn lắng nghe.

Đột nhiên, một con chim nhỏ trong bóng tối đậu xuống bệ cửa sổ, và, trong cái điều mà nó không nghi ngờ gì coi là giọng buồn ngủ, đã phát ra tiếng ồn thường được dịch là “chíp chíp!”

Tôi nhảy lên không trung.

“Này! Có chuyện gì ở dưới kia vậy?” John gọi từ phòng của anh ta phía trên tôi.

“Ồ, không có gì,” tôi trả lời, “chỉ là tôi vô tình va đầu vào trần nhà”.

Sáng hôm sau tôi ra ngoài hiên và nhìn vào những ngọn núi. Có bốn mươi bảy người trong số họ trong tầm mắt. Tôi rùng mình, đi vào phòng khách lớn của ngôi nhà, chọn cuốn “Thực hành y học gia đình của Pancoast” từ một tủ sách, và bắt đầu đọc. John bước vào, lấy cuốn sách ra khỏi tay tôi và dẫn tôi ra ngoài. Ông có một trang trại gồm ba trăm mẫu đất được trang bị với sự bổ sung thông thường của kho, chuồng trại, con la, nông dân và cày bừa với ba chiếc răng bừa trước bị gãy. Tôi đã nhìn thấy những điều như vậy trong thời thơ ấu của tôi, và trái tim tôi bắt đầu chìm xuống.

Sau đó, John nói về cỏ linh lăng, và tôi bừng sáng ngay lập tức. “Ồ, vâng,” tôi nói, “không phải cô ấy trong đoạn nhạc “Chúng ta hãy nhìn”.

“Cỏ màu xanh lá cây, anh biết không,” John nói, “và mềm mại, và bạn cày nó sau mùa đầu tiên”.

“Tôi biết,” tôi nói, “và cỏ mọc trùm lên cô ấy”.

“Phải,” John nói. “Anh biết sau tất cả một cái gì đó về trồng trọt”.

“Tôi biết điều gì đó về một số người nông dân,” tôi nói, “và một lưỡi hái chắc chắn sẽ hạ gục họ một ngày nào đó”.

Trên đường trở về nhà, một sinh vật xinh đẹp và không thể hiểu đã đi ngang qua con đường của chúng tôi. Tôi dừng lại mê mẩn không thể cưỡng lại, nhìn nó. John kiên nhẫn chờ đợi, hút thuốc lá. Ông là một nông dân hiện đại. Sau mười phút, anh nói: “anh sẽ đứng đó nhìn con gà đó cả ngày phải không? Bữa sáng gần như đã sẵn sàng”.

“Con gà à?” tôi nói

“Một con gà mái Orpington trắng, nếu anh muốn gọi tên cụ thể”.

“Một con gà mái Orpington trắng à ?” Tôi nhắc lại, với sự thích thú mãnh liệt. Con gà đi chậm chạp với phong cách duyên dáng, và tôi đi theo như một đứa trẻ đi sau người thổi sáo hay. Sau năm phút nữa được John cho phép, và sau đó anh ấy nắm tay áo tôi và dẫn tôi đi ăn sáng.

Sau khi tôi ở đó một tuần, tôi bắt đầu phát hoảng tăng lên. Tôi đã ngủ và ăn uống tốt và thực sự bắt đầu tận hưởng cuộc sống. Đối với một người đàn ông trong tình trạng tuyệt vọng như tôi sẽ không bao giờ làm gì. Vì vậy, tôi lẻn xuống trạm xe đẩy, lấy xe đi Pineville và đến gặp một trong những bác sĩ giỏi nhất trong thị trấn. Đến lúc này tôi mới biết chính xác phải làm gì khi cần điều trị y tế. Tôi treo mũ lên lưng ghế và nói nhanh:

“Bác sĩ ơi, tôi bị xơ gan tim, động mạch bị suy nhược, suy nhược thần kinh, viêm thần kinh, khó tiêu cấp tính và nghỉ dưỡng sau khi ốm. Tôi đang sống trong chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt. Tôi cũng sẽ tắm nước nóng vào buổi tối và tắm nước lạnh vào buổi sáng. Tôi sẽ cố gắng vui vẻ và tập trung vào những chủ đề dễ chịu. Trong cách dùng thuốc, tôi dự định uống một viên thuốc phốt pho ba lần một ngày, tốt nhất là sau bữa ăn, và một loại thuốc bổ bao gồm các loại rượu gentian, cinchona, calisaya, và hợp chất thảo quả. Trong mỗi muỗng cà phê này, tôi sẽ trộn thuốc nuxhmica, bắt đầu bằng một giọt và tăng nó mỗi ngày cho đến khi đạt được liều tối đa. Tôi sẽ rỏ nó bằng thuốc nhỏ giọt, có thể mua được với một chi phí không đáng kể ở bất kỳ hiệu thuốc nào. Chào buổi sáng”.

Tôi lấy mũ  và bước ra ngoài. Sau khi tôi đóng cửa, tôi nhớ ra một điều mà tôi đã quên nói. Tôi lại mở cửa ra. Bác sĩ đã không dời đi từ nơi anh ta vẫn đang ngồi, nhưng anh ta bắt đầu hơi lo lắng khi gặp lại tôi.

“Tôi quên nhắc đến,” tôi nói, “rằng tôi cũng sẽ nghỉ ngơi và tập thể dục tuyệt đối”.

Sau khi tham khảo ý kiến này, tôi cảm thấy tốt hơn nhiều. Sự tái lập trong tâm trí của tôi về sự thật rằng tôi bị bệnh vô vọng mang lại cho tôi rất nhiều sự hài lòng đến nỗi tôi gần như trở nên ảm đạm một lần nữa. Không có gì đáng báo động cho một bệnh suy nhược thần kinh hơn là cảm thấy bản thân phát triển tốt và vui vẻ.

John chăm sóc tôi cẩn thận. Sau khi tôi tỏ ra rất thích thú với con gà trắng Orpington của anh, anh ấy đã cố gắng hết sức để đánh lạc hướng tâm trí của tôi, và đặc biệt là nhốt con gà mái ban đêm lại. Dần dần không khí núi như thuốc bổ, thức ăn lành mạnh và hàng ngày đi bộ giữa những ngọn đồi làm giảm bớt căn bệnh quái ác của tôi đến nỗi tôi trở nên hoàn toàn khốn khổ và nản lòng. Tôi nghe nói về một bác sĩ nông thôn sống ở vùng núi gần đó. Tôi đã đến gặp anh ấy và kể cho anh ấy toàn bộ câu chuyện. Anh ta là một người đàn ông có râu màu xám với đôi mắt nhăn nheo, sáng màu xanh mặc bộ quần áo màu xám tự làm tại nhà.

Để tiết kiệm thời gian, tôi nói chẩn đoán trường hợp của mình, dùng ngón tay phải chạm vào mũi, đánh vào dưới đầu gối để chân đá lên, đánh vào ngực, lè lưỡi ra và hỏi anh ta về giá của một lô đất nghĩa trang ở Pineville.

Ông ta châm tẩu thuốc và nhìn tôi khoảng ba phút. “Người anh em ơi,” anh nói, sau một lúc, “anh đang ở trong tình trạng tồi tệ vô cùng. Có cơ hội để anh vượt qua, nhưng đó là một cơ hội rất mong manh”.

“Nó có thể là gì vậy ?” Tôi háo hức hỏi. “Tôi đã uống asen và vàng, phốt pho, tập thể dục, nuxhmica, tắm thủy nhiệt, nghỉ ngơi, náo nhiệt hưng phấn, thuốc giảm đau và dung dịch thơm amoniac. Có còn gì khác trong từ điển dược không?”.

“Một nơi nào đó trên những ngọn núi này,” bác sĩ nói, “có một loại cây mọc ra một loại hoa sẽ chữa bệnh cho bạn, và đó là điều duy nhất sẽ xảy ra. Đó là một loại lâu đời như thế giới này, nhưng về sau nó cực khan hiếm và khó tìm. Bạn và tôi sẽ phải săn lùng nó. Bây giờ tôi không nhận chữa tích cực: Tôi vẫn đeo bám việc đó trong nhiều năm, nhưng tôi sẽ nhận trường hợp của bạn. Bạn sẽ phải đến vào buổi chiều và giúp tôi săn lùng loại cây này cho đến khi chúng ta tìm thấy nó. Các bác sĩ thành phố có thể biết rất nhiều về những điều khoa học mới, nhưng họ chẳng biết nhiều về các phương pháp chữa bệnh mà thiên nhiên mang theo trong túi yên ngựa của cô ấy”.

Thế là, mỗi ngày, bác sĩ già và tôi săn lùng cây thuốc chữa bệnh giữa những ngọn núi và thung lũng của dãy Blue Ridge. Chúng tôi cùng nhau trèo lên cao, độ cao rất trơn trượt với những chiếc lá mùa thu rơi đến nỗi chúng tôi phải nắm bắt từng cây con và cành cây trong tầm với để cứu mình khỏi bị ngã. Chúng tôi lội qua các hẻm núi và vực thẳm, ngực ngập với cây nguyệt quế và dương xỉ; chúng tôi đi theo bờ suối dài nhiều dặm; Chúng tôi lượn quanh con đường của mình như người da đỏ xuyên qua những cái hãm của cây thông bên đường, sườn đồi, ven sông, sườn núi mà chúng tôi đã khám phá trong hành trình tìm kiếm cây thần kỳ.

Như bác sĩ già đã nói, cây đó đã trở nên khan hiếm và khó tìm. Nhưng chúng tôi cứ đi theo cuộc truy tìm của mình. Ngày qua ngày, chúng tôi đi thẳng xuống các thung lũng, leo lên độ cao và len lỏi trên các cao nguyên để tìm kiếm cái cây kỳ diệu. Như cái nòi giống của núi non, ông ta dường như không bao giờ mệt mỏi. Tôi thường về đến nhà quá mệt mỏi đến mức chẳng làm được bất cứ điều gì ngoại trừ ngã vào giường và ngủ đến sáng. Điều này chúng tôi giữ tình trạng này trong một tháng.

Một buổi tối sau khi tôi trở về từ một cuộc lang thang sáu dặm với bác sĩ già, Amaryllis và tôi đi dạo một lúc dưới những tán cây ven đường. Chúng tôi nhìn vào những ngọn núi đang vẽ những chiếc áo choàng màu tím long trọng xung quanh chúng để nghỉ đêm.

“Tôi rất vui vì anh đã khỏe lại”, cô nói. “Khi anh lần đầu tiên đến anh làm tôi sợ hãi. Tôi nghĩ anh thực sự bị bệnh”.

“Khỏe lại ư!” . Tôi gần như hét lên. “Cô có biết rằng tôi chỉ có cơ hội một phần ngàn để sống không?”.

Amaryllis nhìn tôi ngạc nhiên. “Tại sao,” cô nói, “anh mạnh mẽ như một cái cày bừa, anh ngủ mười hoặc mười hai giờ mỗi đêm, và anh đang đi ăn cùng chúng tôi ra khỏi nhà và nhà. Anh muốn làm gì hơn nữa?”.

“Tôi nói với cô,” tôi nói, “trừ khi chúng tôi tìm thấy cây ma thuật, đó là cây mà chúng tôi đang tìm kiếm cho kịp thời, không gì có thể cứu nổi  tôi. Bác sĩ nói với tôi như vậy”.

“Bác sĩ nào vậy?”

“Bác sĩ Tatum, ông bác sĩ già sống ở lưng chừng núi Black Oak. Cô có biết ông ta không?”

“Tôi biết ổng từ khi tôi biết nói chuyện. Và đó có phải là nơi anh đến mỗi ngày ? Chính ông ấy là người đưa anh đi bộ và leo trèo dài đã mang lại sức khỏe và sức mạnh cho anh? Chúa phù hộ bác sĩ ấy”.

Ngay sau đó, vị bác sĩ già tự lái xe chầm chậm xuống con đường trong chiếc xe độc mã cũ ọp ẹp của mình. Tôi vẫy tay với ông ấy và hét lên rằng tôi sẽ có mặt vào ngày hôm sau vào giờ thường lệ. Ông ta dừng ngựa và gọi Amaryllis đến để gặp ông. Họ nói chuyện trong năm phút trong khi tôi chờ đợi. Rồi bác sĩ già lái xe về.

Khi chúng tôi đến ngôi nhà, Amaryllis đưa ra một cuốn bách khoa toàn thư và tìm kiếm một từ trong đó. “Bác sĩ,” cô nói với tôi, “nói rằng anh không cần gọi là một bệnh nhân nữa, nhưng ông sẽ rất vui khi gặp anh bất cứ lúc nào như một người bạn. Và sau đó ông ấy bảo tôi tìm tên tôi trong bách khoa toàn thư và cho anh biết ý nghĩa của nó. Nó dường như là tên của một loài thực vật có hoa, và cũng là tên của một cô gái nông thôn ở vùng Theocritus và Virgil. Anh cho rằng bác sĩ có ý gì? “.

“Tôi hiểu ý của ông ấy”, tôi nói. “Bây giờ tôi biết rồi”.

Một lời nói với một người anh em – người  có thể đã chịu ảnh hưởng câu thần chú của quí cô Suy nhược thần kinh bồn chồn lo lắng.

Công thức là đúng. Mặc dù đôi khi mò mẫm, các bác sĩ của các thành phố sống trong bức tường bao kín đã chỉ biết đặt ngón tay của họ vào các loại thuốc cụ thể.

Và vì vậy, đối với bài luyện tập, người ta nhắc đến bác sĩ Tatum tài giỏi trên núi Black Oak, hãy đi theo con đường bên phải của bạn đến Phòng họp của Hội giám lý trong khu rừng thông nhỏ.

Nghỉ ngơi và tập thể dục tuyệt đối !

Nghỉ ngơi cách gì để chữa bệnh tốt hơn là ngồi với cô Amaryllis trong bóng râm mát, và, với giác quan thứ sáu, đọc câu thần chú của nhà thơ không lời về những dãy núi xanh biếc cờ hiệu vàng và đi bộ trật tự vào khu nhà nghỉ của đêm ?

Hết

Viên kim cương của Kali

The Diamond of Kali

by O. Henry

Viên kim cương của Kali

***

Các mục tin tức ban đầu liên quan đến viên kim cương của nữ thần Kali*[1] đã được trao cho biên tập viên mục thành phố. Anh mỉm cười và giữ nó một lúc phía trên thùng rác. Sau đó, anh đặt nó trở lại trên bàn và nói: “Hãy thử  mục the Sunday people; họ có thể tìm ra gì đó từ đó.”

Biên tập viên mục Nhân dân Chủ nhật liếc nhìn qua mục này và nói: “Hừm” Sau đó, ông gửi cho một phóng viên và mở rộng bình luận của mình.

Cậu có thể nhìn thấy tướng Ludlow,” ông nói, “và tạo ra một câu chuyện từ điều này nếu cậu có thể viết. Những câu chuyện kim cương là một loại thuốc phiện, nhưng cái này đủ lớn để được tìm thấy bởi một người phụ nữ quét dọn quấn trong một mảnh giấy báo và giấu dưới góc của tấm vải sơn phòng khách. Trước tiên hãy tìm hiểu xem Đại tướng có một cô con gái có ý định lên sân khấu không. Nếu không, cậu có thể tiếp tục câu chuyện. Chạy các đoạn cắt trong bộ sưu tập của Kohinoor và JP Morgan, và đưa hình ảnh của các mỏ Kimberley và Barney Barnato. Hãy điền vào bảng so sánh các giá trị của kim cương, nguyên tố phóng xạ radium và thịt bê băm kể từ khi hàng thịt bãi công, và để nó chạy trên một nửa trang“.

Vào ngày hôm sau, phóng viên quay lại câu chuyện của mình. Biên tập viên mục Chủ nhật để mắt thấy anh đọc nhanh theo các dòng của nó. “Hừm!” Anh lại nói. Lần này, bản thảo đi vào giỏ rác hiếm khi động đậy.

Người phóng viên cứng đờ môi một chút; tuy nhiên anh ta đang huýt sáo nhẹ nhàng và hài lòng giữa hai hàm răng khi tôi đến nói chuyện với anh ta về chuyện đó một giờ sau đó.

“Tôi không đổ lỗi cho ‘ông già’,” anh nói một cách khoan dung, “vì đã cắt nó ra rồi. Nó nghe có vẻ như là một công việc buồn cười, nhưng nó đã xảy ra đúng như tôi đã viết. Nói xem, tại sao bạn không moi cái bí mật câu chuyện đó ra khỏi Ngân hàng thế giới, và sử dụng nó? Có vẻ như đối với tôi nó hay như chuyện vô lý anh viết”.

Tôi đã chấp nhận lời mách nước, và nếu bạn đọc thêm, bạn sẽ tìm hiểu sự thật về viên kim cương của nữ thần Kali như được xác nhận bởi một trong những phóng viên đáng tin cậy nhất trong đội ngũ nhân viên.

Tướng Marcellus B. Ludlow sống ở một trong những lâu đài gạch đỏ cũ nát nhưng được tôn sùng đang suy tàn ở West Twenties. Đại tướng là thành viên của một gia đình New York cũ không quảng cáo. Ông ta là một người chạy nước kiệu toàn cầu khi sinh ra, một quí ông được ưa chuộng, một triệu phú được phù hộ bởi lòng thương xót của Thiên đàng và một người sành sỏi về đá quý bởi nghề nghiệp.

Người phóng viên đã được mời vào ngay khi anh ta  tìm được đến nhà của Đại tướng vào khoảng 8.30 vào buổi tối mà anh ta nhận nhiệm vụ. Trong thư viện tráng lệ, anh được chào đón bởi một lữ khách nổi tiếng và một người sành sỏi, một quý ông cao lớn, thẳng thắn, ước trên 50 tuổi, với bộ ria mép gần trắng hết và mang vẻ người lính mạnh mẽ đến nỗi người ta nhận thấy ông ta hiếm có dấu vết của Vệ binh Quốc gia. Vẻ mặt bất chấp thời tiết của ông ta bừng sáng với một nụ cười thích thú khi phóng viên cho biết mục đích của anh ta.

“Ah, bạn đã nghe nói về phát hiện mới nhất của tôi. Tôi sẽ vui mừng cho bạn thấy cái tôi phát minh là một trong sáu viên kim cương xanh có giá trị nhất hiện nay”.

Đại tướng mở một chiếc két sắt nhỏ ở một góc của thư viện và mang ra một chiếc hộp bọc kín. Mở hộp ra, ông hướng về anh phóng viên đang ngơ ngác nhìn một viên kim cương to lớn và rực rỡ – to gần bằng một cục mưa đá.

“Viên đá này,” Đại tướng nói, “là thứ gì đó còn hơn cả một viên ngọc đơn thuần. Nó từng là con mắt giữa của nữ thần ba mắt Kali, người được tôn thờ bởi một trong những bộ lạc hung dữ và cuồng tín nhất Ấn Độ. Nếu bạn sắp xếp cho mình một cách thoải mái tôi sẽ cung cấp cho bạn một lịch sử ngắn gọn về nó cho bài viết của bạn.

Tướng Ludlow mang một bình rượu whisky và ly từ trong tủ, và đặt một chiếc ghế bành thoải mái cho người ghi chép may mắn.

kali nử thần

“Bộ tộc Phansigars, hay Thugs, của Ấn Độ,” Đại tướng bắt đầu, “là những kẻ nguy hiểm và đáng sợ nhất trong các bộ lạc ở Bắc Ấn Độ. Họ là những kẻ cực đoan trong tôn giáo, và tôn thờ nữ thần kinh hoàng Kali dưới dạng hình ảnh tưởng tượng. Nghi lễ của họ thú vị và đẫm máu. Việc cướp và giết khách du lịch được dạy lại như một hành động bắt buộc và xứng đáng bởi quy tắc tôn giáo kỳ lạ của họ. Việc thờ phụng nữ thần ba mắt Kali được tiến hành một cách bí mật đến nỗi không một du khách nào có vinh dự chứng kiến các nghi lễ .Sự độc đáo đó được dành riêng cho bản thân tôi

“Khi còn ở Sakaranpur, giữa kinh đô Delhi và Khelat, tôi thường khám phá rừng rậm theo mọi hướng với hy vọng tìm hiểu điều gì đó mới về những người Phansigar bí ẩn này.

“Một buổi tối lúc chạng vạng, tôi đang đi qua một khu rừng gỗ tếch, thì tôi gặp một vùng trũng sâu trong một không gian mở, ở trung tâm là một ngôi đền bằng đá thô kệch. Tôi chắc chắn rằng đây là một trong những ngôi đền của bộ tộc Thugs, vì vậy tôi giấu mình trong bụi cây thấp để theo dõi.

“Khi mặt trăng trỗi dậy, vùng trũng nơi quang đãng bỗng chốc tràn ngập hàng trăm hình bóng người lờ mờ, lướt nhanh. Sau đó, một cánh cửa mở ra trong đền thờ, để lộ một hình ảnh của nữ thần Kali được chiếu sáng rực rỡ, trước đó một tu sĩ mặc áo trắng bắt đầu đọc câu thần chú man rợ, trong khi nhóm tín đồ phủ phục trên mặt đất.

“Nhưng điều khiến tôi quan tâm nhất là con mắt giữa của pho thần tượng bằng gỗ khổng lồ. Tôi có thể thấy bởi ánh sáng chói lóa của nó, rằng đó là một viên kim cương to lớn như làm bằng nước tinh khiết nhất.

“Sau khi các nghi thức được kết thúc, lũ tín đồ tộc Thugs lặng lẽ đi vào rừng lặng lẽ như khi họ đến. Vị tu sĩ đứng trong vài phút trước cửa đền, tận hưởng sự mát mẻ của đêm trước khi đóng cửa khu nhà khá ấm áp của mình. Một cái bóng mềm mại rơi xuống hốc, nhảy lên người linh mục, và hạ gục anh ta bằng một con dao sáng chói. Sau đó, kẻ giết người nhảy tới bức tượng nữ thần như một con mèo và cạy con mắt giữa của Kali đang phóng ánh sáng như một vũ khí. Hướng thẳng về phiá tôi, anh ta chạy với phần thưởng long trọng. Khi anh ta ở trong hai bước chân, tôi đứng bật dậy và đánh anh ta bằng tất cả lực của tôi giữa hai mắt. Anh ta lăn qua ngất lịm và viên ngọc tuyệt đẹp rơi xuống từ tay anh ta. Đó là viên kim cương màu xanh lộng lẫy mà bạn vừa thấy – một hòn đá xứng đáng với vương miện của một vị vua”.

“Đó là một câu chuyện kỳ lạ,” phóng viên nói. “Cái bình rược đó giống hệt như người mà John W. Gates luôn đặt ra trong một cuộc phỏng vấn”.

“Xin lỗi,” Tướng Ludlow nói, “vì đã quên lòng hiếu khách trong sự phấn khích với câu chuyện của tôi. Hãy tự nhiên rót uống nhé”.

“Đến chỗ nó đang nhìn vào ông,” phóng viên nói.

“Điều tôi sợ bây giờ,” Đại tướng hạ giọng nói, “là tôi có thể rơi vào nạn viên kim cương bị cướp. Viên ngọc hình thành nên con mắt của nữ thần của họ là biểu tượng thiêng liêng nhất của họ. Bằng cách nào đó bộ lạc ấy nghi ngờ tôi có viên kim cương. Một số thành viên của nhóm người đó đã theo tôi một nửa vòng quanh trái đất. Họ là những kẻ cuồng tín xảo quyệt và độc ác nhất trên thế giới, và lời thề tôn giáo của họ sẽ buộc họ ám sát kẻ vô tín đã mạo phạm kho báu thiêng liêng của họ.

“Một lần ở Lucknow, ba đặc vụ của họ, cải trang thành người hầu trong khách sạn, đã cố gắng siết cổ tôi bằng một miếng vải xoắn. Một lần nữa, ở Luân Đôn, hai tên bộ tộc Thugs, cái trang thành nhạc sĩ đường phố, trèo vào cửa sổ của tôi vào ban đêm và tấn công tôi. Họ thậm chí đã theo dõi tôi đến tận đất nước này. Cuộc sống của tôi không bao giờ an toàn. Một tháng trước, khi tôi đang ở một khách sạn ở Berkshires, ba người trong số họ mọc lên từ những đám cỏ dại ven đường. Tôi đã tự cứu mình lúc đó bằng kiến thức về phong tục của họ”.

“Thế là thế nào, tướng quân?” người phóng viên hỏi.

“Có một con bò đang gặm cỏ gần đó”, Tướng Ludlow nói, “một con bò  giống Jersey hiền lành. Tôi chạy đến bên cạnh cô bò ấy và đứng dậy. Ba tên côn đồ ngừng tấn công, quỳ xuống và đánh ba phát trên mặt đất bằng trán của chúng. Sau lời chào trân trọng theo kiểu chào sa lam của đạo Hồi, họ đã khởi hành bỏ đi”.

“Họ sợ con bò sẽ húc hay sao ạ?” phóng viên hỏi.

“Không; con bò là một con vật linh thiêng đối với bộ tộc Phansigar. Bên cạnh nữ thần của họ, họ tôn thờ con bò. Họ chưa bao giờ được biết là có hành động bạo lực trước sự hiện diện của con vật mà họ tôn kính”.

“Đó là một câu chuyện thú vị,” phóng viên nói.

“Nếu ông không phiền, tôi sẽ uống một ly nữa, và sau đó là một vài ghi chép nữa”.

“Tôi sẽ uống cùng bạn mà,” Tướng Ludlow nói, với một cái vẫy tay lịch sự.

“Nếu tôi là ông,” phóng viên khuyên, “Tôi sẽ mang viên kim cương đó đến Texas. Đến một trang trại bò và ở đó, và những người Pha-ri-si …”

“Phansigars”, Đại tướng sửa lại.

“Ồ, vâng, những con vật cảnh đó sẽ chạy lên theo một tiếng còi dài dài mỗi khi họ nghỉ ngơi”.

Tướng Ludlow đóng hộp kim cương và đẩy nó vào bộ ngực của mình.

“Các gián điệp của bộ lạc đã tìm thấy tôi ở New York,” ông nói, dáng người cao ngồi thẳng lên. “Tôi quen thuộc với dàn diễn viên Đông Ấn ủng hộ tôi, và tôi biết rằng mọi chuyển động của tôi đều bị theo dõi. Họ chắc chắn sẽ cố gắng cướp và giết tôi ở đây”.

“Ở đây ư?” phóng viên kêu lên, nắm chặt cái bình rượu và rót ộc ra một lượng nước.

“Bất cứ lúc nào,” Đại tướng nói. “Nhưng là một người lính và một người sành sỏi, tôi sẽ bán cuộc đời và viên kim cương của mình một cách thân thương nhất có thể”.

Tại thời điểm câu chuyện của phóng viên này có một sự mơ hồ nhất định, nhưng có thể được nghe được là có một tiếng động lớn vang lên ở phía sau ngôi nhà họ đang ở. Tướng Ludlow cài áo khoác kín và bật ra cửa. Nhưng người phóng viên nắm chặt lấy anh ta bằng một tay, cón tay kia anh ta cầm bình rượu.

“Hãy nói với tôi trước khi chúng ta chạy,” anh hối hả trong giọng nói khàn đặc với một chút rối loạn bên trong, “có cô con gái nào của ngài dự tính sẽ lên sân khấu không?

“Tôi không có con gái – hãy chạy lẹ lên vì mạng sống của bạn – bộ tộc Phansigar đang ở trên đầu chúng ta!” Đại tướng kêu lên.

Hai người lao ra khỏi cửa trước của ngôi nhà.

Nhưng đã muộn rồi. Khi đôi chân của họ chạm vào những người đàn ông xa lạ bên hành lang, vẻ mặt tối tăm và góm ghiếc dường như trồi lên khỏi trái đất và bao vây họ. Một người với những đặc điểm châu Á đã áp sát gần Đại tướng và nói với giọng kinh khủng:

“Mua cái áo choàng đúc ‘!”

Một người khác, râu ria đen tối và nham hiểm, lách sang một bên và bắt đầu bằng một giọng rên rỉ:

“Nói đi, thưa ông, ông có mười xu cho một kẻ tiều phu tội nghiệp gì  không …”

Họ vội vã tiếp, nhưng chỉ vào vòng tay của một con mắt đen láy, có vầng trán xẫm tối, người giơ chiếc mũ của mình dưới mũi, trong khi một đồng bọn diện mạo phương Đông vặn tay cầm của một cây đàn organ đường phố gần đó.

Chạy hai mươi bước xa hơn về Tướng Ludlow và phóng viên thấy mình ở giữa một nửa tá người đàn ông có vẻ ngoài hung ác với cổ áo có lông cao và phải đối mặt với bộ  tóc rậm rạp và râu không cạo.

“Chạy đi!” tiếng rít của Đại tướng. “Họ đã phát hiện ra người sở hữu viên kim cương của nữ thần Kali”.

Hai người đàn ông chãng không bén gót chân. Những người báo thù của nữ thần đuổi theo.

“Ôi, Chúa ơi!” Người phóng viên rên rỉ, “không có con bò nào ở phía bên Brooklyn. Chúng ta không tồn tại nữa rồi!”

Khi đến gần góc, cả hai ngã xuống trên một vật bằng sắt mọc lên từ vỉa hè gần cái rãnh nước. Bám sát nó một cách tuyệt vọng, họ chờ đợi số phận của mình.

“Nếu tôi có một con bò!” phóng viên rên rỉ – “hoặc một cốc rượu khác trong  cái bình đó, tướng quân ơi!”

Ngay khi những người truy đuổi nhìn kỹ nơi nạn nhân của họ đang ẩn náu, họ đột nhiên bật ngửa ra và rút lui một khoảng cách đáng kể.

“Họ đang chờ quân tiếp viện để tấn công chúng ta”, Tướng Ludlow nói.

Nhưng phóng viên bật lên một tiếng cười, và hất chiếc mũ của mình lên không trung một cách đắc thắng.

“Nghĩ lại xem,” anh hét lên, và dựa mạnh vào vật bằng sắt. “Những kẻ kỳ quái hay tín đồ sát nhân của ngài, bất kể ngài gọi họ là gì, đều kịp thời. Thưa ông, đây là một chiếc máy bơm mà chúng ta nấp đằng sau – giống như một con bò ở New York (hic!), thấy không? Những kẻ giận dữ bốc khói không tấn công chúng ta nữa – thấy không? Con vật thiêng liêng, cái máy bơm ở New York, ôi vị tướng thân yêu của tôi !”.

Nhưng xa hơn trong bóng tối của đường Hai Mươi Tám, những kẻ tìm mồi  ấy đang bàn bạc.

“Thôi nào, Reddy,” một người nói. “Chúng ta hãy đi lục soát  the old ‘un. Một viên kim cương lớn như một quả trứng gà của ông ấy đang được phô trương khắp Đại lộ thứ 8 trong hai tuần qua”.

“Không phải trên hình bóng của bạn,” Reddy quyết định. “Anh có thấy họ đang tập hợp lại quanh nhà máy bơm The Pump không? Họ là bạn của nhà Bill. Bill sẽ không đứng về cái chẳng liên quan vụ này trong khu vực của anh ta kể từ khi anh ta trả giá cái này cho nhà Esopus”.

Chuyện này tận dụng khai thác hết khả năng các sự kiện có liên quan đến viên kim cương Kali. Tuy nhiên viên kim cương ấy được coi là gần gũi với bản tin (trả tiền*[2]) ngắn gọn sau đây xuất hiện trong một tờ báo buổi sáng hai ngày sau đó.

Có tin đồn rằng một cô cháu gái của tướng Marcellus B. Ludlow, thành phố New York, sẽ xuất hiện trên sân khấu vào mùa tới.

“Kim cương của cô ấy được cho là vô cùng quý giá và là mối quan tâm lớn trong lịch sử“.

LỜI BÀN NGƯỜI DỊCH                          

Tướng Marcellus B. Ludlow suốt đời sẽ sống trong sợ hãi.

Những người báo thù và đoạt lại vật báu của đức tin tôn giáo sẽ không bỏ cuộc.

Tướng quân sẽ suốt đời sống cạnh một con bò vị thần hộ mệnh được chăng ?

Cách tốt nhất là đem trả lại viên kim cương con mắt thần Kali.

Lòng tham sẽ giết chết con người.

Bên cạnh đó, chúng ta nghe mấy chuyện hài nghề làm báo thực là hóm hỉnh.

[1] * Kali: TRONG THẦN THOẠI ẤN ĐỘ.

Kali là một nữ thần đặc biệt ghê rợn. Với nước da màu đen, tượng trưng cho sự tan biến của mọi màu sắc. Mái tóc dựng đứng, con mắt thứ ba nằm giữa trán (như thần tối cao Shiva), miệng mở to, lưỡi đẫm máu thò dài ra ngoài. Thần Kali có khả năng hủy diệt đối thủ của mình bằng tia nhìn nảy lửa từ con mắt thứ ba của Bà. Kali thường trần truồng, một khía cạnh của phá chấp, hay của “sống thật với bản thân” không che đậy giả dối. Ngài mang một sâu chuỗi gồm năm mươi sọ người, mỗi sọ ứng với một chữ trong vần Sanskrit, chứng tỏ sự thông thái, hay sự phù phiếm của “danh sắc”.  Kali cũng là thần trí tuệ và thi ca.

Thần Kali đã uống máu quỷ vương nên trở nên rất điên cuồng và dữ tợn. Trong cơn điên loạn vì ảnh hưởng từ chất độc trong máu quỷ, thần Kali đã nhảy múa điên cuồng tàn phá vạn vật. Để ngăn chặn vũ điệu hủy diệt, thần tối cao Shiva đã nằm xuống dưới chân Kali, và vị Nữ thần ngừng dẫm tan thế giới, sau được Shiva cưới  làm vợ.

Kali rất thất thường, hay thay đổi, vừa sản sinh muôn loài vừa đem tới cái chết, thần là kẻ sát nhân có linh hồn của quỷ dữ mà chỉ qua mô tả thôi cũng đủ thấy điều đó. 

Để có được cuộc sống an lành, tín đồ đạo Hinđu phải thường xuyên cúng tế động vật, thậm chí giáo phái Thuggee thời xưa ở Ấn Độ còn phải giết người để tế nữ thần này.

[2] * Paid Item: bản tin do người đưa tin trả tiền như quảng cáo.

Viên kim cương của Kali

The Diamond of Kali

by O. Henry

Viên kim cương của Kali

***

Các mục tin tức ban đầu liên quan đến viên kim cương của nữ thần Kali*[1] đã được trao cho biên tập viên mục thành phố. Anh mỉm cười và giữ nó một lúc phía trên thùng rác. Sau đó, anh đặt nó trở lại trên bàn và nói: “Hãy thử  mục the Sunday people; họ có thể tìm ra gì đó từ đó.”

Biên tập viên mục Nhân dân Chủ nhật liếc nhìn qua mục này và nói: “Hừm” Sau đó, ông gửi cho một phóng viên và mở rộng bình luận của mình.

Cậu có thể nhìn thấy tướng Ludlow,” ông nói, “và tạo ra một câu chuyện từ điều này nếu cậu có thể viết. Những câu chuyện kim cương là một loại thuốc phiện, nhưng cái này đủ lớn để được tìm thấy bởi một người phụ nữ quét dọn quấn trong một mảnh giấy báo và giấu dưới góc của tấm vải sơn phòng khách. Trước tiên hãy tìm hiểu xem Đại tướng có một cô con gái có ý định lên sân khấu không. Nếu không, cậu có thể tiếp tục câu chuyện. Chạy các đoạn cắt trong bộ sưu tập của Kohinoor và JP Morgan, và đưa hình ảnh của các mỏ Kimberley và Barney Barnato. Hãy điền vào bảng so sánh các giá trị của kim cương, nguyên tố phóng xạ radium và thịt bê băm kể từ khi hàng thịt bãi công, và để nó chạy trên một nửa trang“.

Vào ngày hôm sau, phóng viên quay lại câu chuyện của mình. Biên tập viên mục Chủ nhật để mắt thấy anh đọc nhanh theo các dòng của nó. “Hừm!” Anh lại nói. Lần này, bản thảo đi vào giỏ rác hiếm khi động đậy.

Người phóng viên cứng đờ môi một chút; tuy nhiên anh ta đang huýt sáo nhẹ nhàng và hài lòng giữa hai hàm răng khi tôi đến nói chuyện với anh ta về chuyện đó một giờ sau đó.

“Tôi không đổ lỗi cho ‘ông già’,” anh nói một cách khoan dung, “vì đã cắt nó ra rồi. Nó nghe có vẻ như là một công việc buồn cười, nhưng nó đã xảy ra đúng như tôi đã viết. Nói xem, tại sao bạn không moi cái bí mật câu chuyện đó ra khỏi Ngân hàng thế giới, và sử dụng nó? Có vẻ như đối với tôi nó hay như chuyện vô lý anh viết”.

Tôi đã chấp nhận lời mách nước, và nếu bạn đọc thêm, bạn sẽ tìm hiểu sự thật về viên kim cương của nữ thần Kali như được xác nhận bởi một trong những phóng viên đáng tin cậy nhất trong đội ngũ nhân viên.

kali nử thần

Tướng Marcellus B. Ludlow sống ở một trong những lâu đài gạch đỏ cũ nát nhưng được tôn sùng đang suy tàn ở West Twenties. Đại tướng là thành viên của một gia đình New York cũ không quảng cáo. Ông ta là một người chạy nước kiệu toàn cầu khi sinh ra, một quí ông được ưa chuộng, một triệu phú được phù hộ bởi lòng thương xót của Thiên đàng và một người sành sỏi về đá quý bởi nghề nghiệp.

Người phóng viên đã được mời vào ngay khi anh ta  tìm được đến nhà của Đại tướng vào khoảng 8.30 vào buổi tối mà anh ta nhận nhiệm vụ. Trong thư viện tráng lệ, anh được chào đón bởi một lữ khách nổi tiếng và một người sành sỏi, một quý ông cao lớn, thẳng thắn, ước trên 50 tuổi, với bộ ria mép gần trắng hết và mang vẻ người lính mạnh mẽ đến nỗi người ta nhận thấy ông ta hiếm có dấu vết của Vệ binh Quốc gia. Vẻ mặt bất chấp thời tiết của ông ta bừng sáng với một nụ cười thích thú khi phóng viên cho biết mục đích của anh ta.

“Ah, bạn đã nghe nói về phát hiện mới nhất của tôi. Tôi sẽ vui mừng cho bạn thấy cái tôi phát minh là một trong sáu viên kim cương xanh có giá trị nhất hiện nay”.

Đại tướng mở một chiếc két sắt nhỏ ở một góc của thư viện và mang ra một chiếc hộp bọc kín. Mở hộp ra, ông hướng về anh phóng viên đang ngơ ngác nhìn một viên kim cương to lớn và rực rỡ – to gần bằng một cục mưa đá.

“Viên đá này,” Đại tướng nói, “là thứ gì đó còn hơn cả một viên ngọc đơn thuần. Nó từng là con mắt giữa của nữ thần ba mắt Kali, người được tôn thờ bởi một trong những bộ lạc hung dữ và cuồng tín nhất Ấn Độ. Nếu bạn sắp xếp cho mình một cách thoải mái tôi sẽ cung cấp cho bạn một lịch sử ngắn gọn về nó cho bài viết của bạn.

Tướng Ludlow mang một bình rượu whisky và ly từ trong tủ, và đặt một chiếc ghế bành thoải mái cho người ghi chép may mắn.

“Bộ tộc Phansigars, hay Thugs, của Ấn Độ,” Đại tướng bắt đầu, “là những kẻ nguy hiểm và đáng sợ nhất trong các bộ lạc ở Bắc Ấn Độ. Họ là những kẻ cực đoan trong tôn giáo, và tôn thờ nữ thần kinh hoàng Kali dưới dạng hình ảnh tưởng tượng. Nghi lễ của họ thú vị và đẫm máu. Việc cướp và giết khách du lịch được dạy lại như một hành động bắt buộc và xứng đáng bởi quy tắc tôn giáo kỳ lạ của họ. Việc thờ phụng nữ thần ba mắt Kali được tiến hành một cách bí mật đến nỗi không một du khách nào có vinh dự chứng kiến các nghi lễ .Sự độc đáo đó được dành riêng cho bản thân tôi

“Khi còn ở Sakaranpur, giữa kinh đô Delhi và Khelat, tôi thường khám phá rừng rậm theo mọi hướng với hy vọng tìm hiểu điều gì đó mới về những người Phansigar bí ẩn này.

“Một buổi tối lúc chạng vạng, tôi đang đi qua một khu rừng gỗ tếch, thì tôi gặp một vùng trũng sâu trong một không gian mở, ở trung tâm là một ngôi đền bằng đá thô kệch. Tôi chắc chắn rằng đây là một trong những ngôi đền của bộ tộc Thugs, vì vậy tôi giấu mình trong bụi cây thấp để theo dõi.

“Khi mặt trăng trỗi dậy, vùng trũng nơi quang đãng bỗng chốc tràn ngập hàng trăm hình bóng người lờ mờ, lướt nhanh. Sau đó, một cánh cửa mở ra trong đền thờ, để lộ một hình ảnh của nữ thần Kali được chiếu sáng rực rỡ, trước đó một tu sĩ mặc áo trắng bắt đầu đọc câu thần chú man rợ, trong khi nhóm tín đồ phủ phục trên mặt đất.

“Nhưng điều khiến tôi quan tâm nhất là con mắt giữa của pho thần tượng bằng gỗ khổng lồ. Tôi có thể thấy bởi ánh sáng chói lóa của nó, rằng đó là một viên kim cương to lớn như làm bằng nước tinh khiết nhất.

“Sau khi các nghi thức được kết thúc, lũ tín đồ tộc Thugs lặng lẽ đi vào rừng lặng lẽ như khi họ đến. Vị tu sĩ đứng trong vài phút trước cửa đền, tận hưởng sự mát mẻ của đêm trước khi đóng cửa khu nhà khá ấm áp của mình. Một cái bóng mềm mại rơi xuống hốc, nhảy lên người linh mục, và hạ gục anh ta bằng một con dao sáng chói. Sau đó, kẻ giết người nhảy tới bức tượng nữ thần như một con mèo và cạy con mắt giữa của Kali đang phóng ánh sáng như một vũ khí. Hướng thẳng về phiá tôi, anh ta chạy với phần thưởng long trọng. Khi anh ta ở trong hai bước chân, tôi đứng bật dậy và đánh anh ta bằng tất cả lực của tôi giữa hai mắt. Anh ta lăn qua ngất lịm và viên ngọc tuyệt đẹp rơi xuống từ tay anh ta. Đó là viên kim cương màu xanh lộng lẫy mà bạn vừa thấy – một hòn đá xứng đáng với vương miện của một vị vua”.

“Đó là một câu chuyện kỳ lạ,” phóng viên nói. “Cái bình rược đó giống hệt như người mà John W. Gates luôn đặt ra trong một cuộc phỏng vấn”.

“Xin lỗi,” Tướng Ludlow nói, “vì đã quên lòng hiếu khách trong sự phấn khích với câu chuyện của tôi. Hãy tự nhiên rót uống nhé”.

“Đến chỗ nó đang nhìn vào ông,” phóng viên nói.

“Điều tôi sợ bây giờ,” Đại tướng hạ giọng nói, “là tôi có thể rơi vào nạn viên kim cương bị cướp. Viên ngọc hình thành nên con mắt của nữ thần của họ là biểu tượng thiêng liêng nhất của họ. Bằng cách nào đó bộ lạc ấy nghi ngờ tôi có viên kim cương. Một số thành viên của nhóm người đó đã theo tôi một nửa vòng quanh trái đất. Họ là những kẻ cuồng tín xảo quyệt và độc ác nhất trên thế giới, và lời thề tôn giáo của họ sẽ buộc họ ám sát kẻ vô tín đã mạo phạm kho báu thiêng liêng của họ.

“Một lần ở Lucknow, ba đặc vụ của họ, cải trang thành người hầu trong khách sạn, đã cố gắng siết cổ tôi bằng một miếng vải xoắn. Một lần nữa, ở Luân Đôn, hai tên bộ tộc Thugs, cái trang thành nhạc sĩ đường phố, trèo vào cửa sổ của tôi vào ban đêm và tấn công tôi. Họ thậm chí đã theo dõi tôi đến tận đất nước này. Cuộc sống của tôi không bao giờ an toàn. Một tháng trước, khi tôi đang ở một khách sạn ở Berkshires, ba người trong số họ mọc lên từ những đám cỏ dại ven đường. Tôi đã tự cứu mình lúc đó bằng kiến thức về phong tục của họ”.

“Thế là thế nào, tướng quân?” người phóng viên hỏi.

“Có một con bò đang gặm cỏ gần đó”, Tướng Ludlow nói, “một con bò  giống Jersey hiền lành. Tôi chạy đến bên cạnh cô bò ấy và đứng dậy. Ba tên côn đồ ngừng tấn công, quỳ xuống và đánh ba phát trên mặt đất bằng trán của chúng. Sau lời chào trân trọng theo kiểu chào sa lam của đạo Hồi, họ đã khởi hành bỏ đi”.

“Họ sợ con bò sẽ húc hay sao ạ?” phóng viên hỏi.

“Không; con bò là một con vật linh thiêng đối với bộ tộc Phansigar. Bên cạnh nữ thần của họ, họ tôn thờ con bò. Họ chưa bao giờ được biết là có hành động bạo lực trước sự hiện diện của con vật mà họ tôn kính”.

“Đó là một câu chuyện thú vị,” phóng viên nói.

“Nếu ông không phiền, tôi sẽ uống một ly nữa, và sau đó là một vài ghi chép nữa”.

“Tôi sẽ uống cùng bạn mà,” Tướng Ludlow nói, với một cái vẫy tay lịch sự.

“Nếu tôi là ông,” phóng viên khuyên, “Tôi sẽ mang viên kim cương đó đến Texas. Đến một trang trại bò và ở đó, và những người Pha-ri-si …”

“Phansigars”, Đại tướng sửa lại.

“Ồ, vâng, những con vật cảnh đó sẽ chạy lên theo một tiếng còi dài dài mỗi khi họ nghỉ ngơi”.

Tướng Ludlow đóng hộp kim cương và đẩy nó vào bộ ngực của mình.

“Các gián điệp của bộ lạc đã tìm thấy tôi ở New York,” ông nói, dáng người cao ngồi thẳng lên. “Tôi quen thuộc với dàn diễn viên Đông Ấn ủng hộ tôi, và tôi biết rằng mọi chuyển động của tôi đều bị theo dõi. Họ chắc chắn sẽ cố gắng cướp và giết tôi ở đây”.

“Ở đây ư?” phóng viên kêu lên, nắm chặt cái bình rượu và rót ộc ra một lượng nước.

“Bất cứ lúc nào,” Đại tướng nói. “Nhưng là một người lính và một người sành sỏi, tôi sẽ bán cuộc đời và viên kim cương của mình một cách thân thương nhất có thể”.

Tại thời điểm câu chuyện của phóng viên này có một sự mơ hồ nhất định, nhưng có thể được nghe được là có một tiếng động lớn vang lên ở phía sau ngôi nhà họ đang ở. Tướng Ludlow cài áo khoác kín và bật ra cửa. Nhưng người phóng viên nắm chặt lấy anh ta bằng một tay, cón tay kia anh ta cầm bình rượu.

“Hãy nói với tôi trước khi chúng ta chạy,” anh hối hả trong giọng nói khàn đặc với một chút rối loạn bên trong, “có cô con gái nào của ngài dự tính sẽ lên sân khấu không?

“Tôi không có con gái – hãy chạy lẹ lên vì mạng sống của bạn – bộ tộc Phansigar đang ở trên đầu chúng ta!” Đại tướng kêu lên.

Hai người lao ra khỏi cửa trước của ngôi nhà.

Nhưng đã muộn rồi. Khi đôi chân của họ chạm vào những người đàn ông xa lạ bên hành lang, vẻ mặt tối tăm và góm ghiếc dường như trồi lên khỏi trái đất và bao vây họ. Một người với những đặc điểm châu Á đã áp sát gần Đại tướng và nói với giọng kinh khủng:

“Mua cái áo choàng đúc ‘!”

Một người khác, râu ria đen tối và nham hiểm, lách sang một bên và bắt đầu bằng một giọng rên rỉ:

“Nói đi, thưa ông, ông có mười xu cho một kẻ tiều phu tội nghiệp gì  không …”

Họ vội vã tiếp, nhưng chỉ vào vòng tay của một con mắt đen láy, có vầng trán xẫm tối, người giơ chiếc mũ của mình dưới mũi, trong khi một đồng bọn diện mạo phương Đông vặn tay cầm của một cây đàn organ đường phố gần đó.

Chạy hai mươi bước xa hơn về Tướng Ludlow và phóng viên thấy mình ở giữa một nửa tá người đàn ông có vẻ ngoài hung ác với cổ áo có lông cao và phải đối mặt với bộ  tóc rậm rạp và râu không cạo.

“Chạy đi!” tiếng rít của Đại tướng. “Họ đã phát hiện ra người sở hữu viên kim cương của nữ thần Kali”.

Hai người đàn ông chãng không bén gót chân. Những người báo thù của nữ thần đuổi theo.

“Ôi, Chúa ơi!” Người phóng viên rên rỉ, “không có con bò nào ở phía bên Brooklyn. Chúng ta không tồn tại nữa rồi!”

Khi đến gần góc, cả hai ngã xuống trên một vật bằng sắt mọc lên từ vỉa hè gần cái rãnh nước. Bám sát nó một cách tuyệt vọng, họ chờ đợi số phận của mình.

“Nếu tôi có một con bò!” phóng viên rên rỉ – “hoặc một cốc rượu khác trong  cái bình đó, tướng quân ơi!”

Ngay khi những người truy đuổi nhìn kỹ nơi nạn nhân của họ đang ẩn náu, họ đột nhiên bật ngửa ra và rút lui một khoảng cách đáng kể.

“Họ đang chờ quân tiếp viện để tấn công chúng ta”, Tướng Ludlow nói.

Nhưng phóng viên bật lên một tiếng cười, và hất chiếc mũ của mình lên không trung một cách đắc thắng.

“Nghĩ lại xem,” anh hét lên, và dựa mạnh vào vật bằng sắt. “Những kẻ kỳ quái hay tín đồ sát nhân của ngài, bất kể ngài gọi họ là gì, đều kịp thời. Thưa ông, đây là một chiếc máy bơm mà chúng ta nấp đằng sau – giống như một con bò ở New York (hic!), thấy không? Những kẻ giận dữ bốc khói không tấn công chúng ta nữa – thấy không? Con vật thiêng liêng, cái máy bơm ở New York, ôi vị tướng thân yêu của tôi !”.

Nhưng xa hơn trong bóng tối của đường Hai Mươi Tám, những kẻ tìm mồi  ấy đang bàn bạc.

“Thôi nào, Reddy,” một người nói. “Chúng ta hãy đi lục soát  the old ‘un. Một viên kim cương lớn như một quả trứng gà của ông ấy đang được phô trương khắp Đại lộ thứ 8 trong hai tuần qua”.

“Không phải trên hình bóng của bạn,” Reddy quyết định. “Anh có thấy họ đang tập hợp lại quanh nhà máy bơm The Pump không? Họ là bạn của nhà Bill. Bill sẽ không đứng về cái chẳng liên quan vụ này trong khu vực của anh ta kể từ khi anh ta trả giá cái này cho nhà Esopus”.

Chuyện này tận dụng khai thác hết khả năng các sự kiện có liên quan đến viên kim cương Kali. Tuy nhiên viên kim cương ấy được coi là gần gũi với bản tin (trả tiền*[2]) ngắn gọn sau đây xuất hiện trong một tờ báo buổi sáng hai ngày sau đó.

Có tin đồn rằng một cô cháu gái của tướng Marcellus B. Ludlow, thành phố New York, sẽ xuất hiện trên sân khấu vào mùa tới.

“Kim cương của cô ấy được cho là vô cùng quý giá và là mối quan tâm lớn trong lịch sử“.

LỜI BÀN NGƯỜI DỊCH                          

Tướng Marcellus B. Ludlow suốt đời sẽ sống trong sợ hãi.

Những người báo thù và đoạt lại vật báu của đức tin tôn giáo sẽ không bỏ cuộc.

Tướng quân sẽ suốt đời sống cạnh một con bò vị thần hộ mệnh được chăng ?

Cách tốt nhất là đem trả lại viên kim cương con mắt thần Kali.

Lòng tham sẽ giết chết con người.

Bên cạnh đó, chúng ta nghe mấy chuyện hài nghề làm báo thực là hóm hỉnh.

[1] * Kali: TRONG THẦN THOẠI ẤN ĐỘ.

Kali là một nữ thần đặc biệt ghê rợn. Với nước da màu đen, tượng trưng cho sự tan biến của mọi màu sắc. Mái tóc dựng đứng, con mắt thứ ba nằm giữa trán (như thần tối cao Shiva), miệng mở to, lưỡi đẫm máu thò dài ra ngoài. Thần Kali có khả năng hủy diệt đối thủ của mình bằng tia nhìn nảy lửa từ con mắt thứ ba của Bà. Kali thường trần truồng, một khía cạnh của phá chấp, hay của “sống thật với bản thân” không che đậy giả dối. Ngài mang một sâu chuỗi gồm năm mươi sọ người, mỗi sọ ứng với một chữ trong vần Sanskrit, chứng tỏ sự thông thái, hay sự phù phiếm của “danh sắc”.  Kali cũng là thần trí tuệ và thi ca.

Thần Kali đã uống máu quỷ vương nên trở nên rất điên cuồng và dữ tợn. Trong cơn điên loạn vì ảnh hưởng từ chất độc trong máu quỷ, thần Kali đã nhảy múa điên cuồng tàn phá vạn vật. Để ngăn chặn vũ điệu hủy diệt, thần tối cao Shiva đã nằm xuống dưới chân Kali, và vị Nữ thần ngừng dẫm tan thế giới, sau được Shiva cưới  làm vợ.

Kali rất thất thường, hay thay đổi, vừa sản sinh muôn loài vừa đem tới cái chết, thần là kẻ sát nhân có linh hồn của quỷ dữ mà chỉ qua mô tả thôi cũng đủ thấy điều đó. 

Để có được cuộc sống an lành, tín đồ đạo Hinđu phải thường xuyên cúng tế động vật, thậm chí giáo phái Thuggee thời xưa ở Ấn Độ còn phải giết người để tế nữ thần này.

[2] * Paid Item: bản tin do người đưa tin trả tiền như quảng cáo.

Trường học và trường đời

Trường học và trường đời

Nguyên tác: Schools and Schools

by O. Henry

https://americanliterature.com/author/o-henry/short-story/schools-and-schools

I

Ông già Jerome Warren sống trong ngôi nhà trị giá cả trăm ngàn đô la tại số 35 phố East Fifty- Soforth. Ông ta là một nhà môi giới ở trung tâm thành phố, khỏe mạnh và phogn độ đến mức ông ta có thể – vì sức khỏe mình – đi bộ vài dãy nhà theo hướng văn phòng của ông mỗi sáng, và sau đó gọi một chiếc taxi.

Ông ta có một đứa con trai nuôi, vốn là con trai của một người bạn cũ tên Gilbert Cyril Scott mà ông có thể đối xử với cậu ta một cách đàng hàn tử tế – người đang trở thành một họa sĩ thành công nhanh như anh ta vắt sơn ra khỏi ống thuốc vẽ. Một thành viên khác trong gia đình là cô Barbara Ross, một người cháu gái vợ. Con người ta sinh ra là sinh với cả rắc rối; vậy nên, bởi lão Jerome không có gia đình riêng, nên ông đỡ lấy gánh nặng của người khác.

Chàng Gilbertcô Barbara sống cùng nhau êm thuận. Có một ngụ ý và sự hiểu  ngầm trong tất cả mọi chuyện rằng cả hai sẽ đứng dậy dưới một chiếc cổng hoa vào buổi trưa cao quí, và hứa với vị mục sư sẽ giữ tiền bạc của lão Jerome trong tình trạng rung chuyển, chấn động và phát triển. Nhưng tại thời điểm này các tình trạng phức tạp phải được giới thiệu.

Ba mươi năm trước, khi lão Jerome còn là chàng trai Jerome, có một em trai tên là Dick. Dick đã đi về miền Tây để tìm kiếm vận may của mình hoặc của một người khác. Không có tin tức gì về anh ta cho đến khi một ngày lão Jerome nhận được một lá thư từ em trai mình. Thư được viết nguệch ngoạc trên giấy xấu kẻ li có mùi thịt ướp muối và bã cà phê. Thư viết chữ nguệch ngoạc như gà bới

Có vẻ như, thay vì Dick buộc gia tài phải trụ vững và chia ra cho mọi người, anh ta đã tự trì hoãn mình trở thành vật làm tin cho kẻ chống đối. Đó là, như bức thư của anh tiết lộ, anh đã bị sạt nghiệp sinh biến chứng rối loạn mà ngay cả rượu whisky cũng đã không cản lại được. Tất cả những gì ba mươi năm hi vọng của anh ta đã khiến anh chỉ còn lại một cô con gái mười chín tuổi, khi gửi theo chuyến tàu, người mà anh gửi về phía Đông, vé trả tiền trước một chiều, để Jerome chi phí quần áo, cho ăn uống, giáo dục, an ủi và yêu mến cái phần còn lại của cuộc sống tự nhiên của cô ấy hoặc cho đến khi hôn nhân của cô cháu gái khiến họ chia tay.

Lão Jerome là một người thích đi bộ. Mọi người đều biết rằng thế giới được chống đỡ bởi đôi vai của thần Atlas[1]*; và Atlas đứng trên hàng rào đường sắt; và hàng rào đường sắt được xây dựng trên lưng rùa. Bây giờ, con rùa phải đứng trên một cái gì đó; và đó là một cuộc đi bộ tạo nên những người như lão Jerome.

Tôi không biết liệu sự bất tử có sẽ đổ dồn cho con người hay không; nhưng nếu chẳng phải như vậy, tôi muốn biết khi nào những người như lão Jerome sẽ được hưởng những thứ đó ?

Họ đi đón Nevada Warren tại nhà ga. Đó là một cô gái nhỏ, rám nắng đậm đà và trông cực kỳ xinh gái và khỏe mạnh, với phong cách thẳng thắn không cầu kỳ, nhưng là một người mà ngay cả một tay đánh trống hút xì gà cũng sẽ không dám xâm phạm mà không suy nghĩ kỹ. Nhìn vào cô ấy, bằng cách nào đó bạn sẽ mong đợi nhìn thấy cô ấy trong một chiếc váy ngắn và xà cạp da, bắn bóng thủy tinh hoặc luyện ngựa thảo nguyên. Nhưng với cái váy đen có phần eo vải trắng trơn, cô ấy khiến bạn phải đoán lần nữa. Với một sự phô bày sức mạnh khá dễ dàng, cô vung lên một chiếc vali nặng mà những người khuân vác mặc đồng phục đã cố gắng bất lực khi đỡ lấy từ tay cô.

Nevada 2

“Tôi chắc chắn chúng ta sẽ là những người bạn tốt nhất,” cô Barbara nói, hôn vội vào cái má rắn chắc, cháy nắng.

“Tôi hy vọng như vậy,” cô Nevada nói.

“Cháu gái nhỏ thân mến”, ông Jerome nói, “cháu được chào đón đến nhà bác như thể đó là của riêng cha cháu”.

“Cảm ơn ạ,” cô Nevada nói.

“Và tôi sẽ gọi cô là ’em họ’,” Gilbert nói, với nụ cười quyến rũ của anh.

“Hãy xách va li lên, nào,” Nevada nói. “Nó nặng một triệu pao. Nó chứa mẫu từ sáu mỏ cũ của cha cháu,” cô giải thích với Barbara. “Tôi dự tính họ sẽ khảo nghiệm từ khoảng chín xu đến một ngàn tấn, nhưng tôi đã hứa với ông ấy sẽ mang chúng theo”.

II

Đó là một thói quen phổ biến khi nhắc đến sự phức tạp thông thường giữa một người đàn ông và hai người phụ nữ, hoặc một phụ nữ và hai người đàn ông, hoặc một phụ nữ và một người đàn ông và một quý ông, hoặc – chà, bất kỳ vấn đề nào – như hình tam giác. Nhưng chúng không bao giờ là tam giác không tuyệt đối. Chúng luôn luôn là cân bằng…không bao giờ bằng nhau. Vì vậy, khi Nevada Warren đến, cô và Gilbert và Barbara Ross đã xếp thành một hình tam giác như vậy; và trong tam giác đó Barbara hình thành nên cạnh huyền*[2].

Một buổi sáng, ông Jerome già nua đã nán lại rất lâu sau khi ăn sáng trên tờ báo buổi sáng buồn tẻ nhất trong thành phố trước khi bắt đầu đi thả bẫy ruồi ở trung tâm thị trấn. Ông trở nên khá yêu thích Nevada, tìm thấy ở cô nhiều tính độc lập thầm lặng và sự thẳng thắn khó tin của người em trai quá cố của ông.

Một cô giúp việc mang theo một bức thư cho cô Nevada Warren.

“Một cậu bé đưa tin mang lá thư đến cửa,” cô  giúp việc nói. “Cậu ấy đang chờ thư trả lời”.

Nevada, người đang huýt sáo một điệu nhạc valse Tây Ban Nha giữa hai hàm răng của mình, và đứng xem những chiếc xe ngựa và ô tô lăn bánh trên đường, cầm lấy phong bì. Cô biết đó là thư của Gilbert trước khi cô mở nó ra, vì cái dấu hiệu màu vàng nhỏ ở góc trên bên trái.

Sau khi bóc nó ra, cô mân mê lá thư một lúc, vẻ chăm chú. Sau đó, với khuôn mặt nghiêm túc, cô ấy đi đến và đứng bên khuỷu tay của ông bác mình.

“Bác Jerome, Gilbert là một cậu bé tốt bụng phải không?”

“Sao vậy, cầu Chúa phù hộ cho đứa trẻ!”  Ông Jerome già nói, vò mạnh tờ báo; “tất nhiên nó là thế đấy. Bác tự nuôi nó mà”.

“Anh ấy sẽ không viết bất cứ điều gì cho bất cứ ai mà không chính xác – ý cháu là mọi người không thể hiểu và đọc được, phải không ạ?”

“Bác chỉ muốn nhìn thấy nó viết gì,” ông bác nói, xé một nắm từ tờ báo của mình. “Tại sao vậy, cái gì …”

“Bác đọc thư anh ấy vừa gửi cho cháu đi, bác à, và bác có nghĩ nó ổn và thích hợp không. Bác biết đấy, cháu không biết nhiều về người dân thành phố và cách sống của họ”.

Ông già Jerome ném tờ báo xuống và dẫm cả hai chân lên. Ông cầm cái thư của Gilbert và dữ dội đọc lướt hai lần, rồi lần thứ ba.

“Tại sao, con nhỏ,” ông nói, “cháu đã khiến bác gần như lo lắng, mặc dù bác chắc chắn về cậu bé đó. Nó là một bản sao của cha nó, và nó là một viên kim cương mạ vàng. Nó chỉ hỏi cháu và Barbara có sẵn sàng vào lúc bốn giờ chiều nay lái xe ô tô đến đảo Long Island hay không. Bác không thấy bất cứ điều gì đáng phê phán trong đó ngoại trừ văn phòng phẩm. Bác luôn ghét màu tối xẫm đó”.

” Vậy việc đó sẽ ổn chứ ạ ?” Nevada hỏi, háo hức.

“Ừ, ừ, ừ, bé con, tất nhiên. Tại sao lại không chứ? Tuy nhiên, bác rất vui khi thấy  cháu rất cẩn thận và thật thà. Đi đi, bằng cách gì cũng được”.

“Cháu không biết,” Nevada nói một cách e dè. “Cháu nghĩ sẽ hỏi bác. Bác có thể đi với tụi cháu không, bác ?”

“Bác ư? Không, không, không, không! Bác đã từng lái một chiếc xe mà cậu bé đang lái. Không bao giờ nữa! Nhưng cái xe đó hoàn toàn thích hợp để cháu và Barbara đi. Được, được. Nhưng bác sẽ không đi. Không, không, không không!”

Nevada bay đến cửa và nói với cô giúp việc:

“Anh chắc chắn rằng chúng tôi sẽ đi. Tôi sẽ trả lời thay cho cô Barbara. Bảo với cậu ấy nói với anh Warren, ‘ Anh cứ chắc chắn là chúng tôi sẽ đi”.

“Nevada,” ông Jerome gọi, “bác xin lỗi, cháu yêu à, nhưng chẳng lẽ không tốt khi gửi cho cậu ta một cái thư trả lời chứ? Chỉ cần một dòng là được”.

“Không, cháu sẽ không bận tâm về điều đó,” Nevada nói, vui vẻ. “Gilbert sẽ hiểu – anh ấy luôn như vậy. Cháu chưa bao giờ lái ô tô trong đời, nhưng cháu đã chèo một chiếc thuyền xuôi dòng sông Little Devil qua kênh Lost Horse, và chẳng biết có cái gì sinh động hơn cái mà cháu muốn biết ! “.

III

Ước chừng hai tháng đã trôi qua.

Barbara ngồi trong phòng sách của ngôi nhà trăm ngàn đô la. Đó là một nơi tốt cho cô ấy. Nhiều địa danh được giới thiệu trên thế giới, nơi đàn ông và phụ nữ có thể lui tới cho mục đích giải thoát khỏi những khó khăn của thợ lặn, thợ mò ngọc trai, mò tàu đắm. Có những  tu viện, nơi than vãn, nơi tưới nước, buổi xưng tội, ẩn sĩ, văn phòng luật sư, tiệm làm đẹp, máy bay, và các nghiên cứu; và lớn nhất trong số này là các nghiên cứu.

Nó thường khiến một cạnh huyền phải mất một thời gian dài để khám phá ra rằng đó là cạnh dài nhất của một hình tam giác. Nhưng đó là một đường dài không có chỗ rẽ ngoặt.

Barbara ở nhà một mình. Bác Jerome và Nevada đã đi đến nhà hát. Barbara chẳng  thích đi. Cô muốn ở nhà và học tập trong phòng sách. Nếu bạn, cô gái, là một cô gái New York tuyệt đẹp, và thấy hàng ngày rằng một phù thủy phương Tây màu da nâu ngây thơ đang buộc dây ràng buộc vào một chàng trai trẻ và buộc dây thòng lọng vào chàng trai bạn muốn cho chính mình, bạn cũng sẽ mất đi sự ưa thích đối với  bạc bị ôxy hóa (có lẽ nói vật phẩm hóa trang- không tự nhiên- ND) trong dàn cảnh cho một vở hài kịch âm nhạc.

Nhà hát New York

(ảnh: nhà hát opera New York)

Barbara ngồi bên bàn thư viện gỗ sồi. Cánh tay phải của cô nghỉ ngơi trên bàn, và những ngón tay bên phải của cô hồi hộp vầy vò một lá thư niêm phong. Bức thư được gửi đến Nevada Warren; và ở góc trên bên trái của phong bì là dấu hiệu màu vàng nhỏ của Gilbert. Thư đã được giao lúc chín giờ, sau khi Nevada rời đi.

Barbara sẽ tặng vòng cổ ngọc trai của cô để biết bức thư chứa gì; nhưng cô không thể mở và đọc nó bằng sự trợ giúp của hơi nước, hoặc cái quản bút, hoặc kẹp tóc, hoặc bất kỳ phương pháp nào được biết, bởi vì vị trí của cô trong xã hội cấm hành động đó. Cô đã cố đọc một số dòng của bức thư bằng cách giơ phong bì lên một ánh sáng mạnh và ấn mạnh vào tờ giấy, nhưng Gilbert có một sở thích quá tốt trong văn phòng phẩm nên  người khác không thể dễ  dàng xem thư được.

Mười một giờ rưỡi, những người đi xem kịch trở về. Đó là một đêm mùa đông dễ chịu. Ngay cả  đến giờ này, từ chiếc taxi chở họ đến cái cánh cửa, những đám bông tuyết dày đổ xuống xiên xéo từ các người đi nhờ xe. Ông Jerome làu bàu vẻ tốt bụng về dịch vụ taxi dân làng và những đường phố bị phong tỏa. Nevada, như một bông hồng, với đôi mắt xanh sáng trong như viên ngọc bích, nói bập bẹ về những đêm giông bão trên những ngọn núi quanh căn lều của cha. Trong tất cả những lời hô ngữ của mùa đông lạnh lẽo này, Barbara, lạnh lùng trong trái tim, gỗ cưa – là điều thích hợp duy nhất cô có thể nghĩ ra để làm.

Ông Jerome ngay lập tức đi lên cầu thang đến chỗ chai nước nóng và thuốc quinine. Nevada bay nhẹ  nhàng vào phòng sách, căn phòng duy nhất được chiếu sáng vui vẻ, nằm xuống một chiếc ghế bành, và, trong khi thực hiện nhiệm vụ vô tận là cởi nút găng tay chỗ khuỷu tay, đưa ra lời bàn bằng miệng về những khuyết điểm của “chương trình biểu diễn”.

“Vâng, tôi nghĩ rằng ông Fields thực sự thú vị, thỉnh thoảng thôi”. Barbara nói. “Đây là bức thư cho cô, bạn thân yêu, được gửi bằng cách giao đặc biệt ngay sau khi cô đi”.

“Ai gửi thư vậy?” Nevada hỏi, giật mạnh một nút áo.

“Chà, thực là,” Barbara nói với một nụ cười, “tôi chỉ có thể đoán. Phong bì có một dấu nhỏ bé kỳ quặc ở một góc mà Gilbert gọi là bảng màu, nhưng tôi  nhìn giống như một trái tim mạ vàng trên một tấm thiệp ngày Tình nhân valentine của cô nữ sinh”.

“Tôi băn khoăn quá, chẳng biết anh ấy viết những gì cho tôi” Nevada nhận xét, vẻ lơ đễnh.

“Tất cả chúng ta đều giống nhau,” Barbara nói; “tất cả phụ nữ. Chúng ta cố gắng tìm hiểu những gì trong một bức thư bằng cách nghiên cứu dấu bưu điện. Như một cách cuối cùng, chúng ta sử dụng kéo và đọc nó từ dưới lên trên. Đây là lá thư”.

Cô làm một động tác như thể ném lá thư qua bàn tới Nevada.

“Ôi những con báo sư tử vĩ đại!”, Nevada kêu lên. “Những nút áo màu lửa ở giữa này thật phiền toái. Tôi thà mặc chiếc quần ống túm còn hơn. Ôi, Barbara, làm ơn bóc cái thư đó ra và đọc đi. Có lẽ là phải đến nửa đêm trước khi tôi tháo xong đôi găng tay ra!”.

“Tại sao, em thân mến, em không muốn tôi mở thư của Gilbert cho em chứ ? Nó là dành cho em mà, và dĩ nhiên em sẽ không muốn ai khác đọc nó cả!”.

Nevada ngước đôi mắt  màu ngọc sapphire, kiên định, điềm tĩnh dời khỏi đôi găng tay.

“Không ai viết cho tôi bất cứ điều gì mà mọi người không thể đọc”, cô nói. “Thôi nào, Barbara. Có lẽ Gilbert muốn chúng ta ra ngoài bằng xe của anh ấy một lần nữa ngày mai”.

Tò mò có thể làm nhiều việc hơn là giết một con mèo; và nếu cảm xúc, được công nhận là nữ tính, không giống với cuộc sống của mèo, thì sự ghen tuông sẽ sớm khiến cả thế giới trở nên vô nghĩa. Barbara mở bức thư, với vẻ nuông chiều, hơi buồn chán.

“Chà, em thân yêu,” cô nói, “Tôi sẽ đọc nó nếu em muốn”.

Cô rạch phong bì, và đọc lá thư với đôi mắt di chuyển nhanh nhẹn; đọc lại lần nữa và  liếc nhanh cái nhìn sắc sảo về Nevada, người, lúc đó, dường như coi găng tay là thế giới ưa thích của cô ta, và những lá thư từ các họa sĩ đang lên không khác gì tin nhắn từ sao Hỏa.

Trong một phần tư phút, Barbara nhìn Nevada với sự kiên định kỳ lạ; và rồi một nụ cười nhỏ đến nỗi miệng cô chỉ mở to phần mười sáu inch, và nheo mắt không quá một phần hai mươi inch, lóe lên như một ý nghĩ đầy cảm hứng lướt trên khuôn mặt cô.

Ngay từ đầu, không có người phụ nữ nào là bí ẩn đối với người phụ nữ khác. Nhanh như khi du hành bằng ánh sáng, mỗi người thâm nhập vào trái tim và tâm trí của người khác, chộp lấy những lời ngụy trang xảo quyệt nhất của họ, đọc những ham muốn tiềm ẩn nhất của cô, và nói ra những lời ngụy biện từ cô. những sợi tóc từ một chiếc lược, vặn vẹo chúng giữa ngón tay cái và ngón tay của cô trước khi để chúng trôi đi trên những làn gió nghi ngờ cơ bản. Ngày xưa, con trai của Eve*[3] đã bấm chuông cửa của một gia đình ở công viên thiên đường Paradise Park, mang một quí cô lạ mặt trên tay, người mà anh ta giới thiệu. Eve đưa con dâu sang một bên và nhướng đôi lông mày cổ điển.

“Vùng đất của cái gật đầu”, cô dâu nói, uể oải vuốt ve chiếc lá cọ. “Tôi cho rằng bà đã ở đó, tất nhiên chứ ạ?”.

“Không phải gần đây,” Eve nói, hoàn toàn không ngạc nhiên. “Cô có nghĩ rằng nước sốt táo[4] họ phục vụ ở đó là có thể thực hiện được không? Tôi thích hiệu ứng áo dài lá dâu đó, nhưng, tất nhiên, hàng hóa phục trang hình quả vả*[5] thực sự sẽ không có ở đó. Đi qua phía sau bụi tử đinh hương trong khi các quý ông tách một loại thuốc bổ từ rau cần tây. Tôi nghĩ rằng lỗ sâu bướm đã làm cho chiếc váy của cô mở ra một chút ở phía sau”.

Vì vậy, ngay lập tức và ngay tại đó – theo sách ghi chép – là liên minh được hình thành bởi hai người phụ nữ duy nhất trên thế giới. Sau đó, người ta đã đồng ý rằng người phụ nữ sẽ mãi mãi trong sáng như một ô kính – mặc dù tấm kính chưa được phát hiện đối với những người phụ nữ khác, và rằng cô nên tự đánh lừa mình về người đàn ông như một bí ẩn.

Barbara có vẻ do dự.

“Thực sự là, Nevada à,” cô nói, với một chút bối rối, “cô không nên khăng khăng đòi tôi mở cái này. Tôi chắc chắn nó không có ý nghĩa với bất kỳ ai khác”.

Nevada đã quên găng tay trong giây lát.

“Thế thì đọc to lên,” cô nói. “Vì chị đã đọc nó rồi, có gì khác cơ chứ ? Nếu anh Warren đã viết cho tôi một cái gì đó mà bất kỳ ai khác không nên biết, đó là tất cả lý do hơn nữa vì sao mọi người nên biết nó”.

“Chà,” Barbara nói, “đây là những gì thư nói:

Nevada thân yêu nhất – Hãy đến phòng vẽ của tôi vào lúc mười hai giờ đêm. Đừng bỏ cuộc “, Barbara đứng dậy và bỏ tờ giấy vào lòng Nevada. “Tôi vô cùng xin lỗi,” cô nói,” rằng tôi biết. Nó không giống Gilbert. Hẳn là có một số nhầm lẫn nào đấy. Chỉ cần nghĩ  rằng tôi không biết gì về nó, được không, em thân mến? Tôi phải đi lên cầu thang bây giờ, tôi đau đầu quá. Tôi chắc chắn tôi không hiểu bức thư. Có lẽ Gilbert đang ăn tối quá ngon, và anh ấy sẽ giải thích. Chúc ngủ ngon! “.

IV

Nevada rón rén bước vào phòng khách và nghe tiếng cửa của Barbara đóng lại trên lầu. Chiếc đồng hồ bằng đồng trong phòng sách cho biết mười hai giờ quá mười lăm phút. Cô chạy nhanh ra cửa trước và thả mình vào cơn bão tuyết. Xưởng vẽ của Gilbert Warren cách đó tới sáu khối phố.

Bằng sức lực màu trắng, lặng lẽ của cơn bão như chuyến phà trên không trung đã tấn công thành phố từ bên kia sông Đông ảm đạm. Tuyết đã rơi sâu một thước trên vỉa hè, những giọt tuyết nóng lên bám như những cái thang trên tường của thị trấn bị bao vây bởi tuyết. Đại lộ yên tĩnh như một con phố ở Pompeii. Những chiếc taxi thoảng thoảng lướt qua như những con chim mòng biển cánh trắng trên đại dương ánh trăng; và những chiếc xe máy ít thường xuyên hơn – duy trì sự so sánh – rít qua những đợt sóng sủi bọt như những chiếc thuyền ngầm trong những chuyến đi đầy nguy hiểm, vui nhộn của chúng.

Nevada lao xuống như một con chim hải âu bị gió cuốn đi trên đường. Cô nhìn lên những dãy núi rách rưới của những tòa nhà phủ đầy mây mọc trên đường phố, bị bóng đèn chiếu sáng và những hơi nước ùn ùn chuyển sang màu xám, buồn tẻ, như làn khói, hoa oải hương hối thúc và màu thiên thanh. Chúng giống như những ngọn núi mùa đông lạnh lẽo trong ngôi nhà miền Tây của cô đến nỗi cô cảm thấy một sự hài lòng khi ngôi nhà trăm ngàn đô la hiếm khi mang lại cho cô.

Một cảnh sát khiến cô do dự ở một góc phố, chỉ do ánh mắt và cân nặng của anh ta.

“Xin chào, Mabel! ” anh nói. “Vì sao muộn rồi mà cô còn ra ngoài ?”

“Tôi – tôi chỉ đến cửa hàng thuốc,” Nevada nói, vội vã đi qua anh ta.

Lời biện bạch hiệu quả như một hộ chiếu tinh vi nhất. Liệu nó có chứng minh rằng người phụ nữ chẳng bao giờ tiến tới, hay cô ấy mọc ra từ xương sườn của Adam, đầy bản lĩnh về trí tuệ và  mưu mẹo?

Luồng gió đổi hướng quay về hướng đông, làm giảm một nửa tốc độ của Nevada. Cô chạy theo những đường ngoằn ngoèo trong tuyết; nhưng cô cứng rắn như một cây thông bá hương, và cúi chào nó một cách duyên dáng. Đột nhiên, tòa nhà xưởng vẽ hiện ra trước mắt cô, một cột mốc quen thuộc, giống như một vách đá phía trên được nhớ kỹ. Nỗi ám ảnh của công việc và người hàng xóm thù địch của nó, nghệ thuật, trời tối tăm và im lặng. Thang máy dừng lại ở số mười.

Lên tám bậc của cầu thang kiểu Stygian, Nevada đi tới, và gõ mạnh vào cánh cửa ghi số “89”.Cô đã từng đến đây nhiều lần trước đó, cùng với Barbara và bác Jerome.

Gilbert mở cửa. Anh ta cầm một cây bút chì màu trong một tay, một vệt màu xanh lá cây trên mắt và một cái tẩu hút trong miệng. Cái tẩu rơi xuống sàn.

“Tôi có trễ không?” hỏi Nevada. “Tôi đến nhanh hết sức đấy. Bác và tôi đã đi nhà hát tối nay. Tôi đây rồi, Gilbert!”.

Gilbert đã thực hiện một hành động của Pygmalion và Galatea *[6]. Anh đã biến đổi từ một bức tượng u mê thành một chàng trai trẻ có vấn đề cần giải quyết. Anh mời Nevada vào, cầm một cái chổi cọ cán ngắn và bắt đầu quét tuyết trên quần áo của cô. Một chiếc đèn tuyệt vời, với một bóng râm màu xanh lá cây, treo trên giá vẽ, nơi họa sĩ đang phác họa bằng bút chì.

“Anh muốn gặp tôi à,” Nevada nói đơn giản, “và tôi đã đến. Anh đã nói như vậy trong thư của anh. Anh gọi tôi đến để làm gì?”

“Cô đọc thư của tôi chưa ?” Gilbert hỏi, chống chọi với gió.

“Barbara đọc thư cho tôi nghe. Sau đó tôi mới nhìn thấy nó. Thư viết: “Hãy đến phòng vẽ của tôi vào lúc mười hai giờ đêm, và đừng bỏ lỡ.’ Tôi nghĩ rằng anh bị bệnh, tất nhiên, nhưng dường như anh không bị  sao cả”.

“A ha!” Gilbert nói vẻ không liên quan. “Tôi sẽ cho em biết lý do tại sao tôi mời em đến, Nevada. Tôi muốn em kết hôn với tôi ngay lập tức đêm nay. Một cơn bão tuyết nhỏ là gì nào? Em đồng ý chứ?”

“Anh có thể đã nhận thấy rằng em đã muốn như vậy, từ lâu rồi,” Nevada nói. “Và em khá bế tắc về cái đầu óc quay cuồng trong bão tuyết, tự em thôi. Em chắc chắn sẽ ghét một trong những đám cưới buổi trưa giữa nhà thờ hoa mỹ này. Gilbert, em đã không biết rằng anh có đủ  can đảm để cầu hôn theo cách này. Chúng ta hãy làm họ sốc – đó là đám tang của chúng ta, phải không anh ?”.

“Em cá đi !” Gilbert nói. “Anh đã nghe thấy trò chơi đó ở đâu nhỉ ?” anh nói thêm, “Đợi một chút nha, Nevada; anh muốn gọi điện một chút”.

Anh ta chui vào trong một phòng thay đồ nhỏ đóng cửa lại, và kêu gọi ánh sáng của thiên đàng – cô đặc lại thành những con số và địa hạt.

“Đó là cậu à, Jack? Cậu có vẻ bực bội vì ngái ngủ à! Ừ, dậy đi, đây là tôi – hoặc tôi – ờ, đã làm phiền vì sự khác biệt ngữ pháp! Tôi sẽ kết hôn ngay lập tức. Vâng ! Hãy đánh thức em gái của cậu– đừng trả lời tôi, hãy mang cô ấy theo – cậu phải làm ngay ! Nhắc nhở Agnes về cái lần tôi cứu cô ấy khỏi chết đuối ở hồ Ronkonkoma – tôi biết là thật buồn khi nhắc đến nó, nhưng cô ấy phải đi cùng cậu. Nevada đang ở đây, đang chờ đợi. Chúng tôi đã đính hôn một lúc lâu rồi. Có một số sự phản đối giữa những người thân thích, cậu biết đấy, và chúng tôi phải kéo nó ra theo cách này. Chúng tôi đang đợi cậu ở đây. Đừng để Agnes ra ngoài cuộc nói chuyện với bạn – mang cô ấy đi! Cậu sẽ đi chứ? Cậu bé già tốt bụng! Tôi sẽ gọi một chiếc xe ngựa để đón cậu, nhanh gấp đôi lên. qủi tha ma bắt, cậu ấy, Jack, cậu ổn rồi ! “.

Gilbert trở về căn phòng nơi Nevada chờ đợi.

“Người bạn cũ của anh, Jack Peyton và em gái của anh ấy đáng lẽ đã ở đây từ 12 giờ kém 15,” anh giải thích; “nhưng Jack quá đỗi chậm chạp. Anh vừa gọi điện cho họ giục nhanh lên. Họ sẽ đến đây sau ít phút. Anh là người đàn ông hạnh phúc nhất thế giới, Nevada ! Em đã làm gì với bức thư anh gửi cho em hôm nay? “

“Emi chắc nó ở đây,” Nevada nói, kéo nó ra từ bên dưới chiếc áo choàng opera của cô.

Gilbert rút lá thư từ phong bì và xem cẩn thận. Rồi anh nhìn Nevada ân cần.

“Em không nghĩ rằng thực là quái gở khi anh mời em đến phòng vẽ của anh vào lúc nửa đêm sao?” anh hỏi.

“Tại sao vậy, không đâu,” Nevada nói, tròn mắt. “Chẳng phải là kỳ quái nếu anh cần  gặp em. Ở miền Tây xa kia, khi một người bạn gửi cho bạn một cuộc gọi vội vàng – chẳng phải đó là những gì anh nói ở đây sao? – chúng ta đến đó trước và nói về nó sau khi tranh cãi kết thúc. Và cũng thường có tuyết rơi ở đó, khi mọi chuyện xảy ra. Vậy, em không bận tâm”.

Gilbert vội vã vào một căn phòng khác, và trở lại với một ôm nặng những chiếc áo khoác  bảo đảm chống gió, mưa hoặc tuyết.

“Mặc chiếc áo mưa này vào,” anh nói và giữ áo cho cô. “Chúng ta có một phần tư dặm để đi. Jack già và em gái của anh ấy sẽ ở đây trong vài phút nữa.” Anh bắt đầu loay hoay chui vào một chiếc áo khoác nặng nề. “Ồ, Nevada,” anh nói, “chỉ cần nhìn vào các tiêu đề trên trang nhất của tờ báo buổi tối đó ở trên bàn, phải không? Đó là nói về khu vực miền Tây của em, và anh biết nó sẽ khiến em quan tâm.”

Anh ta đợi một phút, giả vờ tìm thấy rắc rối trong việc mặc áo khoác, rồi quay lại. Nevada vẫn không động đậy. Cô đang nhìn anh bằng ánh mắt kỳ lạ, trầm ngâm, và thẳng thắn. Má cô có một vệt đỏ ửng bởi xúc động ngoài màu sắc được đóng góp bởi gió và tuyết; nhưng đôi mắt cô kiên định.

“Em sẽ nói với anh,” cô nói, “dù sao đi nữa, trước em – trước chúng ta – trước -, trước mọi thứ. Bố không bao giờ cho em một ngày đi học. Em chưa bao giờ học đọc hay viết một từ quái quỉ nào. Bây giờ nếu…”. Đã nghe thấy tiếng chân bước lên cầu thang nào đó của họ, đôi chân của Jack người ngủ gật và Agnes, người biết ơn.

V

Khi ông bà Gilbert Warren đang xoay tròn nhẹ nhàng về nhà trong một chiếc xe ngựa kín cửa, sau buổi lễ đám cưới, Gilberts nói:

“Nevada, em có thực sự muốn biết những gì anh đã viết cho em trong bức thư mà em nhận được vào buổi tối không?”

“Đốt đi !” Cô dâu của anh nói.

Từng chữ một nhá,” Gilbert nói, “đó là ‘Cô Warren thân mến của tôi – cô đã nói đúng về bông hoa. Đó là một bông hoa cẩm tú cầu, và không phải là hoa cà”.*[7]

“Được rồi,” Nevada nói. “Nhưng chúng ta hãy quên nó đi. Dù sao thì đó là trò đùa của Barbara !”

Hết

[1] * Atlas: thần trụ trời trong  thần thoại Hi Lạp cổ đại

*[2] . Cạnh huyền: cạnh dài hơn hai cạnh kia của tam giác vuông. Ý nói cô Barbara có ưu thế hơn cô Nevada.

[3] * Eva/ Eve là người phụ nữ  đầu tiên mời Adam- đàn ông đầu tiên, ăn trái táo… sau đó họ cảm thấy giới tính và ham muốn tình dục.

[4] * Nước sốt táo nhắc đến quả táo (trái cấm- trong Kinh thánh)

[5] * Quả vả hoặc sung (theo Kinh thánh) nhắc đến lá vả,  lá sung Eva ngắt để che bộ phận kín. Toàn bộ các chi tiết Eva, Adam, con trai, con dâu, quả táo, lá vả… ngụ ý tả cô Barbara đọc Kinh thánh và nghĩ  đến tình dục và sự quyến rũ người đàn ông của cô.

[6]*. Pygmalion và Galatea: hai nhân vật lãng mạn trong thần thoại Hy Lạp. Hoàng tử Pygmalion từ chối yêu cầu của vua cha ép anh cưới vợ. Bởi vì không thấy bất kỳ phụ nữ nào trong đời là người đẹp trong mắt anh. Anh là họa sĩ, say mê tạc tượng. Anh tạc xong bức tượng người con gái đẹp bằng ngà voi. Anh đặt tên cho nàng là Galatea, may trang phục cho nàng, và yêu nàng… Tuy nhiên anh lại thất vọng vì nàng thiếu sức sống con người. Anh đến đền thờ Venus- Nữ thần tình yêu và sắc đẹp, cầu nguyện ban cho nàng sức sống… Khi quay trở về nhà, nàng mở cửa tươi cười bước ra đón anh. Nữ thần đắc chí. Câu chuyện là một tuyên ngôn nghệ thuật cổ đại, rằng mọi nghệ thuật đều thấp hơn cuộc sống và phải hướng tới cuộc sống (-ND).

[7] * Có thể, trong lần gặp trước ở phòng vẽ, Gilbert đố cô gái bức tranh vẽ hoa gì. Cô nói cẩm tú cầu. Anh nói đùa hoa cà. Trong lá thư  này, anh nói “đúng như cô nói đó là hoa cẩm tú cầu, không phải hoa cà”.

Mây thẻ