"Nói phải củ cải cũng nghe"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Sáu, 2019

Nụ hôn quyến rũ

Để tặng tiên sinh Trần Đình Nhãn nơi chân trời góc biển

nguyên tác: The Enchanted Kiss

by O. Henry

https://americanliterature.com/author/o-henry/short-story/the-enchanted-kiss

Phùng Hoài Ngọc- Trần Quốc Dũng chuyển ngữ

***

Samuel Tansey tuy là một nhân viên bán hàng quèn trong một cửa hàng dược phẩm giảm giá, nhưng cái dáng vóc mảnh khảnh của anh ta như là một miếng giấy thấm*[1] bọc lấy niềm đam mê của Romeo*[2], sự u ám của Laura, sự lãng mạn của D’Artagnan*[3] và cảm hứng tuyệt vọng của Melnotte. Thật đáng tiếc, tuy nhiên, anh ta đã không thể biểu lộ được rằng anh ta đã phải chịu gánh nặng đọa đầy của sự rụt rè hoàn toàn, rằng thần Định Mệnh đã buộc anh ta phải im lặng và đỏ mặt trước những thiên thần mặc áo choàng mỏng- người phụ nữ- mà anh yêu mến và tự mãn được lao vào giải cứu, ôm xiết, an ủi và chinh phục.

Kim đồng hồ đã chỉ gần mười giờ trong khi Tansey đang chơi bi-a với một số bạn bè. Vào các buổi tối luân phiên, anh được thả ra khỏi phiên trực cửa hàng sau bảy giờ. Ngay cả trong số những người đồng nghiệp của mình, Tansey cũng rụt rè và bối rối ngượng nghịu. Trong trí tưởng tượng của mình, anh ta đã thực hiện những hành động dũng cảm và những hành động ga- lăng nổi bật; nhưng thực tế anh ta là một thanh niên hai mươi ba tuổi vàng vọt, với cách cư xử quá khiêm nhường và vốn từ vựng ít lời.

Khi đồng hồ điểm mười giờ, Tansey vội vàng đặt cây gậy bi-a của mình và đánh mạnh vào hộp trưng bày với một đồng xu để người phục vụ đến và nhận tiền trả cho số điểm thắng của anh ta.

“Có gì vội không, Tansey?” một người gọi,”Có một cuộc hẹn khác à?”

“Tansey đã có hẹn!” một tiếng khác vang lên. “Không phải chuyện của cậu. Tansey phải về nhà tại Motten theo lệnh của nhà cô Peek ấy”.

“Không có chuyện đó đâu,” một thanh niên nhợt nhạt, rút điếu xì gà lớn khỏi  miệng; “Tansey sợ bị trễ vì cô Katie có thể xuống cầu thang để mở khóa cửa và hôn anh ta trong phòng khách”.

Câu chế giễu tinh quái cuối cùng này như mảnh vỡ  sắc lẹm đã bắn ra một tiếng ù ù dữ dội vào máu của Tansey, bởi vì bản cáo trạng ấy là đúng – trừ nụ hôn. Đó là một điều đáng mơ ước; để hy vọng  mãnh liệt; nhưng quá xa vời và thiêng liêng- một điều cần suy ngẫm nhẹ nhàng.

Ánh mắt lạnh lùng và khinh bỉ nhìn vào người nói – một hình phạt tương xứng với tinh thần rụt rè của chính mình – Tansey rời khỏi phòng, đi xuống cầu thang xuống phố.

Trong hai năm, anh đã âm thầm ngưỡng mộ cô Peek, tôn thờ cô từ một khoảng cách tinh thần xuyên qua vẻ thu hút của cô mang đến sự sáng chói như ngôi sao và bí ẩn. Bà Peek nhận một vài người khách trọ lựa chọn, trong số đó là Tansey. Những chàng trai trẻ khác đã quậy phá Katie, đuổi theo cô với quả bóng crickets trong ngón tay của họ, và “chọc ghẹo” cô với một sự tự do bất nhã đã biến trái tim của Tansey trở nên lạnh lùng trong tình cảm. Dấu hiệu của sự ngưỡng mộ của anh ta là rất ít – một lời “chào buổi sáng” bẽn lẽn, lén lút liếc nhìn cô ấy trong bữa ăn, và thỉnh thoảng (ôi, mê ly) chơi bài cribbage say mê, đỏ mặt với cô ấy trong phòng khách trong vài buổi tối hiếm hoi khi  có ít cuộc hẹn giữ cô ấy ở nhà. Hôn anh ta trong phòng khách ! Vĩnh viễn, anh ta sợ nó, nhưng đó là một nỗi sợ ngây ngất như Elijah*[5] cảm thấy khi cỗ xe ngựa kéo anh ta vào nơi chưa biết.

Nhưng đêm nay, sự chế giễu của những người đồng nghiệp đã đốt chích khiến anh ta cảm giác hướng về phía trước, về sự chống đối lộn xộn; một sự thách thức, liều lĩnh. Tinh thần của cướp biển, nhà thám hiểm, một người yêu, nhà thơ, sự phóng túng kiểu bohemien[6]* đã sở hữu anh ta. Những ngôi sao anh nhìn thấy phía trên anh dường như không phải không thể đạt được nữa, không kém phần cao hơn sự ưu ái của cô Peek hay sự ngọt ngào đáng sợ của đôi môi quyến rũ của cô. Số phận của anh dường như rất kịch tính và thảm thiết, và kêu gọi thèm muốn một phụ âm mấp máy an ủi với sự tận cùng của đôi môi ấy. Một quán rượu ở gần đó, và anh ta đi vụt tới, gọi rượu ngải đắng- không còn nghi ngờ gì nữa, thức uống phù hợp nhất với tâm trạng của anh – người nổi tiếng, người yêu bị bỏ rơi, người yêu đang thở dài vô ích.

Đã có lần anh ta uống rượu đó, và một lần nữa, một lần nữa cho đến khi anh ta cảm thấy một cảm giác kỳ lạ, xuất thần của tình trạng không tham gia vào các vấn đề trần tục tràn ngập anh ta. Tansey không phải là tay bợm rượu; việc anh ta tiêu thụ ba ly rượu trong vòng vài phút chứng tỏ anh ta không có năng lực trong nghệ thuật; Tansey chỉ đơn thuần bị tràn ngập những thứ chất lỏng không thể chứng minh cho nỗi buồn  của mình; mà lí lịch và truyền thống bị khẳng định là kẻ thẫn thờ.

Đi ra vỉa hè, anh búng ngón tay một cách bướng bỉnh theo hướng khu nhà của bà Peek, rẽ sang hướng khác, và hành trình giống như Columbus*[7] vào vùng hoang dã của một con đường đầy mê hoặc. Cũng không phải là dáng vẻ quá đáng, vì, ngoài cửa hàng của mình, Tansey hiếm khi được đặt chân đến trong nhiều năm – giữa  cửa hàng và nhà trọ; giữa các nơi ẩn náu này, anh ta được lập biểu đồ để chạy, và các dòng chảy ngược lại hiếm khi làm chệch hướng sự can đảm của anh ta.

Tansey vô tình kéo dài cuộc đi của anh, và, cho dù đó là sự lạ lẫm của anh ở quận này, sự tham gia và sai lầm liều lĩnh gần đây của anh ta, hay lời thì thầm ngụy biện của một bà tiên mắt xanh nào đó, cuối cùng anh ta bước đi để bước qua một cửa chớp, trống rỗng và vang vọng, tối tăm và không có người. Và, đột nhiên, con đường này đi đến đoạn kết (như nhiều đường phố ở thị trấn San Antone kiểu Tây Ban Nha), đập đầu vào một bức tường gạch cao,…Không – đường phố vẫn sống! Ở bên phải và bên trái, nó thở qua những ống thoát hiểm mảnh khảnh – những khe núi hẹp, vắng vẻ, đá cuội được lát và không được chiếu sáng. Dễ thấy một cái dốc trên đường phố về bên phải dẫn vào một dãy cầu thang gồm năm bậc đá vôi tỏa sáng, bên cạnh một bức tường có cùng chiều cao và cùng chất liệu.

Trên một trong những bậc thềm này, Tansey ngồi xuống và nghĩ về tình yêu của anh, và nghĩ làm sao mà cô ấy có thể không bao giờ biết cô là tình yêu của anh. Và về bà Peek, béo, cảnh giác và tốt bụng; không hài lòng, Tansey nghĩ rằng anh và Katie nên chơi bài cribbage trong phòng khách cùng nhau. Đối với cửa hàng dược phẩm giảm giá đã không cắt giảm lương của anh, mà nói một cách ngớ ngẩn, đã xếp anh ta làm khách trọ xuất sắc tại nhà bà Peek. Và anh nghĩ đến Đại úy Peek, cha của Katie, một người đàn ông mà anh sợ hãi và ghê tởm; một người đi rong dịu dàng và tiêu xài hoang phí, ăn bám vào lao động của phụ nữ lớn tuổi; một con cá rất quái gở, và, nhờ vào danh tiếng, không phải là con cá tươi nhất.

Đêm đã chuyển lạnh và sương mù. Trung tâm của thị trấn với những tiếng ồn, lùi lại phía sau. Phản chiếu từ cột hơi nước cao, những ngọn đèn sáng xa của nó được biểu lộ trong sự run rẩy, các cột sáng hình nón, trong những vệt phấn màu không rõ tên, trong những làn sóng ma quái không ổn định, xa xa, lóe lên. Bây giờ khi bóng tối trở nên thân thiện hơn, bức tường mà đường phố bị vỡ vụn đã phát triển thành một tảng đá nằm trên đỉnh với một phần gai nhọn. Bên ngoài cái bóng lờ mờ của nó hiện ra những cái dường như là những góc nhọn đỉnh núi, bị xuyên thủng đó đây bởi những hình bình hành nhỏ bé. Xem xét khung cảnh này, Tansey từ lâu đã thuyết phục bản thân rằng những ngọn núi dường như trên thực tế là tu viện Santa Mercedes, với đống đồ cổ và cồng kềnh mà anh ta quen thuộc hơn từ các góc nhìn khác nhau. Một nốt nhạc dễ chịu trong tai anh củng cố ý kiến ​​của anh. Cao vút, ngọt ngào, thánh thiện, xa cách và hài hòa và nổi dậy, như các nữ tu được thánh hóa theo phản ứng của họ. Các bà xơ hát lúc mấy giờ? Anh cố nghĩ – có phải lúc sáu, tám, mười hai giờ không? Tansey dựa lưng vào bức tường đá vôi và tự hỏi. Những điều kỳ lạ theo sau. Không khí đầy những con bồ câu trắng, bay lượn quẩn quanh, và đậu trên bức tường tu viện. Bức tường nở rộ với một đôi mắt màu xanh lá cây lấp lánh chớp mắt và nhìn chằm chằm vào anh ta từ khối xây kiên cố. Một nữ thần cổ điển màu hồng đến từ một cuộc khai quật trên con đường hang động và nhảy múa, chân trần và thoáng mát, trên những ngọn lửa rách rưới. Bầu trời bị vượt qua bởi một nhóm mèo hoang, diễu hành trong đám rước trên không, kỳ diệu. Tiếng ồn càng ngày càng lớn; một chùm ánh sáng của những con đom đóm trái mùa bay qua, và những tiếng thì thầm kỳ lạ phát ra từ bóng tối mà không có ý nghĩa hay lý do gì.

Không ngạc nhiên, Tansey đã lưu ý đến những hiện tượng này. Anh đang ở trên một mặt phẳng mới của sự hiểu biết, mặc dù tâm trí anh thấy dường như rõ ràng và thực sự, vui vẻ yên bình.

Một khao khát di chuyển và thám hiểm đã chiếm giữ anh: anh đứng dậy và rẽ vào cái khe màu đen bên phải đường. Trong một lúc, bức tường cao hình thành một trong những ranh giới của nó; nhưng xa hơn nữa, hai dãy nhà cửa sổ đen khép lại.

Đây là khu phố của thành phố từng được trao cho một người Tây Ban Nha. Ở đây vẫn còn những nơi gớm ghiếc họ cư trú, xây bằng bê tông và gạch mộc, chịu lạnh và bất khuất chịu đựng cả thế kỷ. Từ khe nứt âm u, mắt nhìn thấy, bay lên trời những vật sặc sỡ mảnh nhẹ rối rắm của ban công kiến trúc đường cong kiểu Tây ban nha thế kỷ 8 đến 16 của thành phố. Qua cổng vòm bằng hơi thở của những người chết, không khí lạnh buốt đã phát ho vào anh ta; chân anh đập vào những vòng sắt leng keng trong kẹp đá vùi trong nửa cái vòng. Dọc theo những đại lộ nhỏ mọn này đã dọa dẫm nhà quí tộc Tây ban nha kiêu ngạo, và quay nửa vòng sang bên và bản dạ khúc hăm dọa ầm ĩ trong khi rìu nhẹ và súng trường của người mở đường đã giương lên để trục xuất anh ta khỏi một lục địa. Và Tansey, sẩy chân vấp phải bụi trần thế giới cũ này, ngước lên, trời tối thui và thấy những người đẹp Andalusia (một khu tự trị ở Tây ban nha) lấp lánh trên ban công. Một số trong những người ấy đã cười và nghe thứ nhạc ma quái vẫn bám theo sau; Những người khác nghe một cách sợ hãi suốt đêm, cố gắng nghe cho được những tiếng vó ngựa của những hiệp sĩ có tiếng vang cuối cùng từ những viên đá đã chết cách đây một thế kỷ. Những người phụ nữ đó im lặng, nhưng Tansey nghe thấy tiếng chói tai của những chiếc dây cương gắn chuông không có ngựa, tiếng xèo xèo của những người chèo kéo, và, thi thoảng, một lời nói lầm bầm bằng tiếng nước ngoài. Nhưng anh không sợ hãi. Bóng tối, cũng không phải bóng của âm thanh có thể làm anh nản chí. Sợ gì chứ? Không !  sợ mẹ Peek ư ? Sợ phải đối mặt với cô gái của trái tim mình ? Sợ đại úy Peek khó tính? Không! cũng không phải ma quỉ này, cũng không phải tiếng hát ma quái đó luôn theo đuổi anh. Ca hát ! Anh sẽ tỏ cho họ thấy ! Anh cất lên một giọng nói mạnh mẽ và chói tai:

“Khi bạn nghe thấy tiếng chuông của họ râm ran,” phục vụ thông báo về các lực tác động bí ẩn mà có thể sẽ đi đến một cuộc đối đầu trực tiếp.

“Sẽ có một thời gian nóng trong phố cổ đêm nay!”

Tansey không rõ mất bao lâu để bước đi trên con đường ma ám này, nhưng đúng lúc đó, anh đã xuất hiện trong một đại lộ rộng rãi hơn. Khi trong một vài thước  ở góc anh ta nhận thấy, qua một cửa sổ, một loại vật nhỏ có hình dạng trung bình của hãng bánh kẹo được đặt ở góc. Anh nhìn thoáng qua, ước tính thiết bị nhỏ đó là bình chứa nước soda giá rẻ và thuốc lá và đồ ngọt, đã nhận ra đại úy Peek đang đốt một điếu xì gà dưới ánh đèn gas.

Khi Tansey vòng qua góc tường, đại úy Peek đi ra, họ gặp nhau và đối đầu. Một niềm vui khôn xiết tràn ngập Tansey khi anh thấy mình đối đầu với cuộc gặp gỡ với lòng can đảm ngầm. Ông Peek, đúng rồi! Anh giơ tay lên và búng tay rất to.

Chính là  ông Peek, người đã cảm thấy tội lỗi trước sắc mặt dũng cảm của anh nhân viên bán thuốc. Bất ngờ quá sức và một nỗi sợ hãi có thể sờ thấy trên khuôn mặt của viên đại úy. Và, thật ra, khuôn mặt đó là một người dễ bật ra những biểu cảm như vậy về khuôn mặt của người khác. Khuôn mặt của một thần tượng ngoại đạo dâm đãng, mắt nhỏ, với những nếp gấp trong đôi má nặng nề và một giấy phép ngoại đạo tiêu tốn trong biểu hiện của nó. Trong rãnh nước ngay bên ngoài cửa hàng, Tansey nhìn thấy một cỗ xe khép kín cửa đang đỗ quay lưng về phía anh và một người lái xe bất động ngồi ở vị trí đánh xe.

“Làm gì vậy, là Tansey đấy à !” Đại úy Peek kêu lên, “cậu khỏe không, Tansey? cậu hút một điếu xì gà nhá, Tansey?”.

“Tại sao vậy, ông Peek!” Tansey cũng kêu lên, nóng lên với nỗi bực bội của chính mình. “Ông đang làm trò đùa gì vậy, ông Peek? Hãy trở lại đường phố với cỗ xe kín cửa! Nhục nhã lắm ! ông Peek !”

“Không có ai trong xe ngựa cả,” Đại úy nói một cách trơn tru.

“Mọi người ra khỏi đó là may mắn,” Tansey tiếp tục, hung hăng. “Tôi muốn cho ông biết, ông Peek, rằng tôi không bị  ông cản trở. Ông là một kẻ côn đồ mũi chai”.

“Sao hả, con chuột nhắt say rượu kia !” Đại úy la lên, vui mừng; “chỉ là say rượu thôi, và tôi nghĩ rằng anh ta đã tỉnh! Cút về nhà đi, Tansey, và đừng làm phiền những người trưởng thành trên đường phố, nhá”.

Nhưng ngay sau đó, một hình người mặc đồ trắng xuất hiện trên xe ngựa và một giọng nói chói tai, giọng nói của Katie, cắt ngang không khí: “Sam ! Sam! – giúp tôi với, Sam!”.

Tansey vọt về phía cô, nhưng đại úy Peek đã can thiệp với bộ dạng cồng kềnh của ông ta. Kỳ quan của kỳ quan ! Chàng thanh niên vô hồn trước đây đã xuất hiện với quyền của anh ta, và đại úy to lớn thô vụng bỏ đi qua trong một tràng chửi rủa. Tansey bay đến Katie và ôm cô như một hiệp sĩ chinh phục. Cô ngẩng mặt lên, và anh hôn cô – hoa violet ! luồng điện lực! kẹo caramen ! Rượu sâm banh ! Đây là sự đạt được giấc mơ mà không mang lại bất mãn.

“Ôi, Sam,” Katie khóc khi cô có thể, “Em biết anh sẽ đến giải cứu em. Anh nghĩ điều gì sẽ xảy ra với em?”

“Hãy tự nhìn lại mình” Tansey nói, rồi băn khoăn về nhận xét ngu ngốc của của mình.

“Không, họ sắp ăn thịt em. Em đã nghe họ nói về chuyện đó”.

“Ăn thịt em à !” Tansey nói, sau khi suy nghĩ một lúc.”Điều đó không thể được; không thấy có đĩa”.

Nhưng một tiếng động bất ngờ cảnh báo anh quay đầu lại. Chụp xuống anh ta là ông đại úy và một chú lùn râu dài quái dị trong chiếc áo choàng lấm lem và quần bó chẽn thân màu đỏ. Người lùn nhảy sáu thước và chộp lấy hai người. Đại úy bắt giữ Katie và hất cô ta ra, hét lên, quay trở lại xe ngựa, ông ta đi theo và chiếc xe lao đi. Người lùn nâng Tansey lên cao trên đầu và chạy vào cửa hàng. Giữ anh ta bằng một tay, hắn nâng nắp một cái rương khổng lồ chứa đầy những cục đá lạnh, ném Tansey vào trong, và đóng nắp lại.

Lực của cú ngã phải rất lớn, vì Tansey đã bất tỉnh. Khi thân thể và trí óc anh đã hồi tỉnh, cảm giác đầu tiên của anh là một cơn cảm lạnh nghiêm trọng dọc theo lưng và tay chân. Mở mắt ra, anh thấy mình đang ngồi trên những bậc đá vôi vẫn đối diện với bức tường và tu viện của Santa Mercedes. Ý nghĩ đầu tiên của anh là nụ hôn ngây ngất từ Katie. Hành vi côn đồ tàn bạo của Đại úy Peek, bí ẩn phi thường của tình huống, mâu thuẫn phi lý của anh ta với người lùn không thể xảy ra – những điều này đã khuấy động và chọc giận anh, nhưng không để lại ấn tượng gì về sự phi lý.

“Tôi sẽ quay lại đó ngày mai,” anh lớn tiếng càu nhàu,”và đánh bật cái đầu mập lùn của vở hài kịch opera đó. Chạy ra và bắt lấy đúng những kẻ lạ, và đẩy họ vào kho lạnh!”.

Nhưng nụ hôn vẫn tồn tại phần lớn ở trong đầu anh. “Ta có thể đã làm điều đó từ lâu,” anh trầm ngâm. “Cô ấy cũng thích hôn. Cô ấy đã gọi ta là ‘Sam’ bốn lần. Ta sẽ không đi lên con đường đó nữa. Quá nhiều mảnh vụn nạo ra. Đoán xem ta sẽ đi xuống theo đường khác”. Anh tự hỏi cô ấy có ý gì khi nói rằng họ sẽ “ăn” cô ấy!

Tansey bắt đầu cảm thấy buồn ngủ, nhưng sau một lúc, anh quyết định di chuyển dọc theo lần nữa. Lần này anh mạo hiểm ra bên trái đường. Đường chạy ngang qua một khoảng cách, rồi nhẹ nhàng nghiêng xuống, mở ra một không gian rộng lớn, mờ ảo, cằn cỗi – trung tâm mua bán của nhà binh cũ Military Plaza. Bên trái anh, cách xa hàng trăm thước, anh nhìn thấy một chùm đèn nhấp nháy dọc theo ranh giới của khu Plaza. Anh biết địa phận đó ngay lập tức.

Nằm lộn xộn trong giới hạn hẹp là tàn dư của các nhà cung cấp nổi tiếng một thời của nhà bếp quốc gia Mexico nổi tiếng. Vài năm trước, những cuộc cắm trại hàng đêm của họ trên khu Alamo Plaza lịch sử, ở trung tâm thành phố, là một lễ hội hóa trang, một trào lưu nổi tiếng khắp vùng đất. Sau đó, các chủ khách sạn cung cấp số lượng hàng trăm; hàng ngàn khách quen. Được quyến rũ bởi thứ âm nhạc tiểu thư làm dáng của các ngừơi hát rong Tây Ban Nha kỳ lạ, và các món ăn Mexico lạ lùng được phục vụ tại một trăm bàn đua tranh, đám đông đổ về Alamo Plaza suốt đêm. Khách du lịch, người chăn nuôi, những bữa tiệc gia đình, người đồng tính ăn chơi trác táng khoe khoang, người ngắm cảnh và người đi dạo với nhiều thứ tiếng, con cú đêm San Antone đã hòa mình vào đó ở trung tâm của niềm vui và vui đùa của thành phố. Sự xuất hiện của nút chai, súng lục và câu hỏi; sự long lanh của đôi mắt, đồ trang sức và dao găm; những tràng cười và đồng xu – đây là đơn đặt hàng của đêm.

Nhưng bây giờ không còn nữa. Đến một nửa tá lều, bếp lửa và bàn ghế đã làm suy giảm lễ hội đẹp như tranh vẽ, và những thứ này đã được chuyển xuống một quảng trường cổ xưa bị vứt bỏ.

Tansey thường đi dạo xuống những khán đài này vào ban đêm để tham gia vào món tương ớt khoái khẩu, món liên quan đến thiên tài Mexico, bao gồm các loại thịt tinh tế băm nhỏ với các loại thảo mộc thơm và cay đắng của tương ớt xứ Colorado, một hỗn hợp đầy đủ hương vị độc nhất và niềm say mê bốc lửa thú vị đối với khẩu vị của người miền Nam (Southron).

Mùi kích thích mạnh của món đồ pha chế này bây giờ bay ra, trên làn gió, đến lỗ mũi của Tansey, đánh thức trong anh ta cảm giác thèm muốn ăn nó. Khi anh quay về hướng đó, anh thấy một cỗ xe lao thẳng đến những cái lều của người Mexico, thoát khỏi sự ảm đạm của khu Plaza. Một số hình người di chuyển qua lại trong ánh sáng không rõ ràng của những chiếc đèn lồng, và sau đó cỗ xe được lái đi nhanh chóng.

Tansey đến gần, và ngồi vào một trong những cái bàn phủ dầy tấm vải dầu. Giao thông lúc này thật buồn tẻ. Một vài cậu bé trưởng thành ăn uống một cách ồn ào ở một bàn khác; Người Mexico không nhất trí với nhau và thản nhiên về đồ gốm của họ. Và nó vẫn thế. Màn đêm của thành phố đổ xô vào bức tường của những tòa nhà tối tăm xung quanh khu Plaza, và lắng xuống một tiếng ồn ào mập mờ qua cái lỗ sắc sảo của  tiếng lách tách của bếp lửa uể oải và tiếng nĩa và muỗng lộp bộp. Một cơn gió lắng dịu thổi từ phía đông nam. Bầu trời không có sao ép xuống trái đất như một lớp vỏ chì.

Tansey lặng lẽ quay đầu đột ngột, và thấy, không chút nghi ngờ, một đội kỵ binh bóng ma dàn quân vào Plaza và một đội hình bộ binh tỏa sáng để duy trì cơn hoảng sợ. Anh nhìn thấy ngọn lửa dữ dội của đại bác và những vũ khí nhỏ, nhưng không nghe thấy âm thanh. Những người chiến thắng bất cẩn uể oải đờ đẫn, không đành lòng xem xung đột. Tansey nhẹ nhàng tự hỏi những quốc gia mà những chiến binh câm này có thể thuộc về quốc gia nào; quay lưng lại với họ và gọi món ớt và cà phê từ người phụ nữ Mexico- người đi lên phục vụ anh ta. Người phụ nữ này đã già và tiều tụy; Khuôn mặt của cô ấy giống như vỏ của một quả dưa đỏ. Cô lấy các vật phẩm từ một cái chậu đặt bên đống lửa âm ỉ, rồi lui về một cái lều gần đó, bên trong tối tăm.

Ngay sau đó Tansey nghe thấy một sự hỗn loạn trong lều; một tiếng khóc lóc, đau lòng trong tiếng cầu xin than vãn bằng tiếng Tây Ban Nha du dương, và rồi hai hình người rơi xuống trong ánh sáng của những chiếc đèn lồng. Một người là bà già; người kia là một đàn ông mặc đồ lộng lẫy và ánh lên sự tráng lệ. Người phụ nữ dường như nắm chặt và cầu xin anh ta điều gì đó trái với ý của anh ta. Người đàn ông dứt ra khỏi cô và đẩy cô tàn nhẫn trở lại lều, nơi cô nằm, thút thít và vô hình. Quan sát Tansey, anh ta bước nhanh đến cái bàn nơi anh ngồi. Tansey nhận ra anh ta là Ramon Torres, một người Mexico, chủ sở hữu của gian hàng mà anh ta đang bảo trợ.

Torres là một gã đẹp trai, gần như đặc sệt dòng máu người Tây Ban Nha, vào  khoảng ba mươi tuổi, và có phong thái kiêu kỳ nhưng cực kỳ nhã nhặn. Đêm đến anh ta mặc đồ lộng lẫy. Trang phục của anh ta là của hiệp sĩ đấu bò chiến thắng (gọi là matador), được làm bằng nhung tím gần như được che khuất bởi vải thêu gắn  kim cương. Những viên kim cương có kích thước khổng lồ lóe lên trên áo choàng và cánh tay anh. Anh với lấy một cái ghế, và, ngồi ở phía đối diện bàn, bắt đầu cuộn một điếu thuốc lá tinh xảo.

“Ô, ông Tansey,” anh ta nói, với một ngọn lửa oi bức trong đôi mắt đen, mượt mà của anh, “Tôi rất vui khi gặp ông tối nay. ông Tansey à, ông có nhiều lần đến ăn ở bàn của tôi. Tôi nghĩ ông là người an toàn, một người bạn tốt. Cần bao nhiêu tiền thì ông vui lòng bỏ đi mãi mãi? “

“Không quay lại nữa à?”, Tansey hỏi.

“Không; không rời khỏi; không chết”.

“Tôi sẽ gọi nó là” Tansey nói, “một cái búng tay”.

Torres dựa cùi chỏ của mình lên bàn, nuốt một ngụm khói và phun ra – mỗi từ được phóng ra khi bập bập một bụm khói xám.

“Ông nghĩ tôi bao nhiêu tuổi, ông Tansey ?”

“Ồ, hai mươi tám hoặc ba mươi.”

“Thứ Năm (Thees day)”, người Mexico nói, “đúng là sinh nhật của tôi. Tôi bốn trăm lẻ ba tuổi hôm nay”.

“Một bằng chứng khác,” Tansey nói nhẹ nhàng, “về sự lành mạnh môi trường  của chúng ta”.

“Đó không phải là môi trường. Tôi sẽ kể ông nghe một bí mật của giá trị rất tốt đẹp. Hãy nghe tôi, ông Tansey. Ở tuổi hai mươi ba, tôi từ Tây Ban Nha đến Mexico. Khi nào? Vào năm một nghìn năm trăm mười chín, với con tem của ngài Hernando Cortez. Tôi đến đất nước này năm mười bảy mười lăm. Tôi thấy xứ Alamo của bạn suy giảm đi. Nó giống như ngày hôm qua đối với tôi. Cách đây ba trăm chín mươi sáu năm trước tôi học được bí mật luôn luôn để bỏ đi. Hãy nhìn quần áo tôi mặc này lấp lánh kim cương. Ông có biết tôi mua chúng bằng số tiền tôi kiếm được bằng việc bán tương ớt, ông Tansey? “

“Tôi nghĩ là không phải,” Tansey nói ngay lập tức. Torres cười lớn.

Nhưng tôi thì tin. Nhưng bây giờ nó không phải là loại ông đang ăn. Tôi làm một loại khác thường, việc ăn uống món đó khiến người ta luôn luôn phải bỏ đi. Ông nghĩ gì! Một ngàn người tôi cung cấp, số tiền mười nghìn pesos mỗi người trả cho tôi trong tháng. Ông thấy đấy! Mười nghìn peso một tháng. Cái đó chịu trách nhiệm! Làm thế nào tôi không mặc váy ! Ông có thấy bà già đó cố giữ tôi lại lúc nãy không? Khi tôi cưới cô ấy, cô ấy còn trẻ – mười bảy tuổi, đẹp. Giống như những người còn lại, cô ấy trở nên già và – những gì ông nói! – khắc nghiệt, khó khăn? Tôi luôn như vậy – trẻ mãi luôn. Tối nay, tôi quyết tâm tự mặc quần áo và tìm một người vợ khác phù hợp với tuổi của mình. Bà già này cố gắng cào mặt tôi. Ha! Ha! ông Tansey – giống như cách họ làm / giữa chúng ta những người Mỹ thôi”. Hai vị thần song sinh con thần Dớt.

“Và món thực phẩm sức khỏe này, anh đã nói về nó ư ?” Tansey nói.

“Hãy nghe tôi,” Torres nói, nghiêng người qua bàn cho đến khi anh ta nằm thẳng trên bàn; đó là tương ớt được làm không phải từ thịt bò hay thịt gà, mà từ thịt tươi của cô tiểu thư (senorita) trẻ và dịu dàng. Đó là một bí mật. Tháng nào ông cũng phải ăn nó, phải quan tâm làm như vậy trước khi mặt trăng tròn, và ông sẽ không chết bất cứ lúc nào. Hãy xem tôi tin tưởng ông như thế nào, người bạn Tansey! Tối nay tôi đã mua một cô gái trẻ- rất xinh đẹp, rất là gầy, béo, yếu đuối! Ngày mai món tương ớt sẵn sàng. Bây giờ có một ngàn đô la tôi trả cho cô gái trẻ này. Từ một người Mỹ. Tôi đã mua – một người đàn ông thượng hạng, đại úy Peek, ông ta phải không? “.

Bởi Tansey đã vung chân, chiếc ghế đảo lộn. Câu nói của Katie vang lên bên tai anh: “Họ sẽ ăn tôi, Sam.” Đây là số phận tàn ác quái dị mà cô được cha mẹ quái dị của mình trao cho. Cỗ xe mà anh ta thấy khi lái đi từ khu Plaza là của đại úy Peek. Katie đâu rồi? Có lẽ đã…

Trước khi anh có thể quyết định làm gì thì một tiếng hét lớn phát ra từ căn lều. Bà già người Mexico chạy ra, một con dao lấp lánh trên tay. “Tôi đã thả cô ấy ra,” bà  la lên. “Ông sẽ không giết nữa. Họ sẽ treo cổ ông lên, kẻ vô ơn, kẻ quyến rũ!”

Torres, với một tiếng kêu rít, chĩa vào cô ấy.

“Ramoncito!” cô thét lên; “anh đã có lần yêu tôi”.

Cánh tay của người Mexico giơ lên và hạ xuống. “Bà già rồi”, anh kêu lên; và bà ta ngã xuống và nằm bất động.

Một tiếng hét khác; cánh cửa lều bị văng sang một bên, và Katie đứng đó, trắng bệch vì sợ hãi, cổ tay cô vẫn bị trói bằng một sợi dây độc ác.

“Sam!” Cô khóc, “cứu em lần nữa!”

Tansey đi vòng qua bàn, và ném mình, với thần kinh tuyệt vời, đè lên người gã Mexico. Ngay sau đó một sự náo động bắt đầu; các đồng hồ của thành phố báo 12 giờ đêm. Tansey bám lấy Torres, và trong khoảnh khắc ấy, anh cảm thấy mình đang nắm lấy lớp nhung và mặt lạnh của những viên đá quý lấp lánh. Khoảnh khắc tiếp theo, tên hiệp sĩ Tây ban nha diêm dúa bị trói đã teo lại trong tay anh thành một bộ xác ướp làn da nhăn  thu nhỏ, bộ râu trắng, già, già, gào thét, đi dép, tả tơi rách rưới, và bốn trăm lẻ ba. Người phụ nữ Mexico đang lê bước chân và cười. Bà ấy đưa bàn tay rám nắng lắc lắc cái bộ mặt đang rên rỉ, cũ kỹ.

“Đi đi, ngay bây giờ,” bà kêu lên, “và tìm kiếm cô tiểu thư của cậu. Đó là tôi, Ramoncito, người đã đưa cậu đến đây. Trong mỗi lần trăng tròn, cậu ăn ớt mang lại sự sống. Là vì tôi đã tính nhầm thời gian cho cậu. Cậu đáng lẽ nên ăn hôm qua thay vì ngày mai. Quá muộn rồi. Đi thôi cậu, về nhà đi ! Cậu quá già đối với tôi! “.

“Chuyện này”, Tansey quyết định, buông thả bàn tay nắm bộ râu xám, “là một vấn đề gia đình riêng tư liên quan đến tuổi tác, và không phải việc của tôi”.

Với một trong những con dao để bàn, anh ta vội vã cắt những sợi dây trói người tóc vàng bị bắt cóc; và sau đó, lần thứ hai đêm đó anh hôn Katie Peek – lại nếm trải sự ngọt ngào, kỳ diệu, hồi hộp của nó, một lần nữa đạt được tối đa những giấc mơ không ngừng của anh.

Ngay sau đó, một lưỡi kiếm lạnh buốt cắm sâu vào giữa hai vai anh; anh cảm thấy máu mình từ từ ứa ra; nghe thấy tiếng yếu ớt của người Tây Ban Nha già; nhìn thấy quảng trường Plaza trỗi dậy và quay cuồng cho đến khi sao thiên đỉnh rơi xuống đường chân trời – và không còn biết gì nữa.

Khi Tansey mở mắt ra một lần nữa, anh ta đang ngồi trên những bậc thềm giống nhau đó, nhìn chằm chằm vào phần lớn bóng tối của tu viện đang ngủ. Ở giữa lưng anh vẫn là cơn đau cấp tính, ớn lạnh. Làm thế nào anh ta đã được chuyển trở lại đó một lần nữa? Anh ta cảm thấy cứng ngắc đôi chân và co duỗi chân tay bị chuột rút. Tựa người vào công trình xây đá, anh nghĩ lại những cuộc phiêu lưu ngông cuồng đã xảy ra mỗi khi anh đi lạc những bước chân tối hôm đó. Khi xem xét chúng một số hình ảnh gượng ép tính cả tin của anh. Anh có thực sự gặp Đại úy Peek hay Katie hay người Mexico tuyệt vời trong những cuộc lang thang vơ vẩn của anh không – anh có thực sự gặp họ trong điều kiện phổ biến và bộ não bị kích thích quá mức của anh ta đã cung cấp những sự phi lý? Tuy nhiên, đó có thể là một ý nghĩ bất chợt, phấn chấn khiến anh ta có một niềm vui mãnh liệt. Gần như tất cả chúng ta, trong một số thời điểm trong cuộc sống của mình – hoặc để bào chữa cho sự ngu ngốc của chính chúng ta hoặc để xoa dịu lương tâm của chúng ta – đã ban hành một số lý thuyết về chủ nghĩa định mệnh. Chúng ta đã thiết lập một số phận thông minh hoạt động theo mã và tín hiệu. Tansey cũng đã làm như vậy; và bây giờ anh ta đọc, thông qua các sự cố ban đêm, dấu vân tay của định mệnh. Mỗi chuyến chơi rong mà anh thực hiện đã dẫn đến một trận chung kết tối quan trọng – với Katie và nụ hôn đó, tồn tại và trở nên mạnh mẽ và say đắm trong ký ức của anh. Rõ ràng, định mệnh  đang đưa cho anh ta chiếc gương tối hôm đó, gọi anh ta hãy quan sát những gì đang chờ anh ta ở cuối con đường nào anh ta có thể đi. Anh ta lập tức quay lại, và vội vã về nhà.

Mặc một chiếc áo choàng màu xanh nhạt tinh xảo, được cắt vừa vặn, cô Katie Peek ngả người trên chiếc ghế bành trước khi bếp lửa tàn lụi trong phòng. Đôi chân trần nhỏ bé của cô ấn mạnh vào đôi giày đi trong nhà có viền hình thiên nga. Dưới ánh sáng của một ngọn đèn nhỏ, cô đang bắt tay vào đọc các tin tức xã hội của tờ báo Chủ Nhật số mới nhất. Một số vật chất vui vẻ, dường như không thể phá hủy, đang bị nghiền nát nhịp nhàng giữa hàm răng trắng nhỏ của cô. Cô Katie đọc về các buổi lễ, họp mặt và váy xếp nếp, nhưng cô giữ một tai lắng nghe âm thanh bên ngoài và mắt thường xuyên nhìn đồng hồ trên mặt lò sưởi. Mỗi bước chân trên vỉa hè nhựa đường, chiếc cằm tròn, mịn màng của cô sẽ ngừng lại trong một khoảnh khắc giữa khi nó lên xuống thường xuyên, và một cái nhíu mày lắng nghe sẽ làm nhăn đôi lông mày xinh đẹp của cô.

Cuối cùng, cô nghe thấy tiếng chốt cửa sắt. Cô đứng dậy, khẽ bước đến trước gương, nơi cô ấy làm một vài cử chỉ đung đưa của những người phụ nữ, vuốt qua mái tóc trước trán và cổ của cô để bảo đảm thôi miên vị khách đang đến gần.

Chuông cửa reo. Cô Katie, trong sự vội vàng của mình, đã vặn ngọn đèn thấp hơn thay vì cao hơn, và vội vã lặng lẽ bước xuống cầu thang vào sảnh. Cô xoay chìa khóa, cánh cửa mở ra và anh chàng Tansey bước vào cửa bên.

“Tại sao, hình dung được không !” Cô Katie kêu lên, “đây có phải là anh không, anh Tansey? Đã sau nửa đêm rồi. Anh có thấy xấu hổ khi đánh thức tôi dậy vào một giờ như vậy để cho anh vào không? Anh thật là khủng khiếp”.

“Tôi về trễ”, Tansey nói một cách rạng rỡ.

“Em nên nghĩ rằng anh về trễ ! Mẹ đã hết sức lo lắng về anh. Khi anh chưa về lúc mười giờ, cái anh chàng Tom McGill đáng ghét đó nói rằng anh ra ngoài để gọi một người khác – nói rằng anh ra ngoài đi gọi một cô gái trẻ. Em chỉ ghét thằng McGill. Chà, em sẽ không mắng anh nữa đâu, anh Tansey, nếu đó chỉ  là về hơi muộn – Ồ! Em đã hiểu lầm rồi”.

Cô Katie khẽ kêu lên. Như đãng trí cô đã tắt ngọn đèn hoàn toàn thay vì vặn cao hơn. Trời rất tối.

Tansey nghe thấy một tiếng cười khúc khích, nhẹ nhàng và hít hà một mùi hoa vòi voi. Một bàn tay mò mẫm chạm vào cánh tay anh.

“Em thật vụng về! Anh có thể nhìn thấy gì không- Sam?”

“Anh, anh nghĩ rằng anh có một bao diêm, cô Katie à”.

Một âm thanh quẹt lên; một ngọn lửa; một tia sáng được giữ ở độ dài của cánh tay bởi người đi theo hèn nhát của Số phận chiếu sáng một hoạt cảnh sinh động, là cái sẽ chấm dứt biên niên sử (sự ghi chép) nhục nhã – một cô thiếu nữ với đôi môi khinh khỉnh, cong, không biết hôn, từ từ nhấc ống khói đèn lên và cho bấc đèn bắt lửa; sau đó vẫy một bàn tay tỏ ra khinh bỉ rút lui về phía cầu thang – chàng Tansey bất hạnh, cựu hiệp sĩ trong danh sách tiên tri của định mệnh, nhục nhã bay lên đến sự bất hạnh đã biết vừa đủ của mình, trong khi (chúng ta hãy tưởng tượng) một nửa trong số đôi cánh đương đầu với hình dáng sắp xảy ra của Định Mệnh đang giật nhát gừng rụt rè những sợi dây sai trái, và trộn mọi thứ theo cách thông thường  lành nghề của cô ấy.

Hết

Chú thích: Hai nhân vật trong giấc mộng du nói tiếng Anh chưa thạo, lại chen tiếng Tây ban nha, chúng tôi dịch luôn mà không ghi chú từng câu nguyên tác.

Lời bàn người dịch

Một mối tình mộc mạc bắt đầu chín muồi của hai người trẻ – anh khách trọ và cô con gái bà chủ nhà. Mộc mạc nhưng đượm vẻ lãng mạn là chàng nhân viên làm công ở nhà thuốc, nhút nhát và tự ty mặc cảm. Bên trong tâm hồn giàu tưởng tượng của anh ta là mối tình cổ điển trong vẻ quí tộc hiệp sĩ dành cho giai nhân cần được bảo vệ chở che. Ôm mối tình si, anh đi uống rượu và chìm vào hai đợt mộng du. Những cảnh đời trong hai giấc mộng du ấy lại là những hiện thực trần trụi trong bối cảnh cuộc sống xung quanh anh.

Nghệ thuật kể chuyện bất thường của O Henry lại có dịp thể hiện. Ba nhân vật quen thuộc: hai vợ chồng ông đại úy- bà chủ trọ và cô con gái được tả trong giấc mộng du. Khi kết chuyện, cô gái Katie hiện thực mới xuất hiện, chủ động tỏ tình với chàng trai khách trọ.

ND

[1] * a pad : miếng giấy thấm: gần như cách nói sau này “bản copy” của Romeo.

[2] * Romeo: nhân vật chàng công tử quí tộc chung tình chết cùng người yêu Juliet trong vở bi kịch “Romeo và Juliet” của W. Shakespeare thời Phục Hưng.

[3] *D’Artagnan: hiệp sĩ quí tộc Pháp trong tiểu thyết “Ba chàng ngự lâm quân” của Alexandre Dumas thế kỷ 19.

[5]* Definition of Elijah:một nhà tiên tri Do Thái của thế kỷ thứ 9 trước công nguyên. Người mà theo lời kể trong sách I Kings đã bảo vệ sự thờ phượng của Đức Giê-hô-va và chống lại các thần địa phương Baal  xứ Palestine và Phoenicia.

[6] *. Bohemien là 1 bộ tộc Tiệp khắc sống lang thang . Từ ngữ chỉ người sống lang thang, thiên về nghệ thuật.

[7] * Columbus: Nhà thám hiểm Tây ban nha tìm ra châu Mỹ

Tranh luận với tt.Nguyễn Xuân Phúc về “nợ công”

Tranh luận với tt.Nguyễn Xuân Phúc về “nợ công”

Phùng Hoài Ngọc

(BÀI ĐÃ ĐĂNG ” VIỆT NAM THỜI BÁO” ngày 16/6/2019, bút danh Giang Nam)

***

PHUC KEU GOI NO CONG

Thành ngữ “đồng cam cộng khổ” miêu tả một tình trạng đoàn kết  gắn bó, thống nhất giữa hai người trở lên. Ít thì đôi bạn, đôi vợ chồng, nhiều hơn thì 1 tổ chức, một đảng phái, một cộng đồng có tình cảm mật thiết… Ông Phúc rất thích nói thơ, nói chữ nhưng thường ngộ nhận sai lầm. Vốn là thành ngữ cổ chữ chữ nho, có hai vế đối nhau gọi là tiểu đối, kiểu song hành: ĐỒNG CAM và CỘNG KHỔ.

Đồng cam” nghĩa đen: cùng ngọt, nghĩa rộng cùng hưởng niềm vui, hạnh phúc.

Cộng khổ”: cùng đắng, nghĩa rộng sẻ chia khó khăn gian khổ.

Thành ngữ trên xưa nay chỉ dùng để chỉ một tình trạng ổn định, thống nhất, gắn bó. Không ai dùng làm lời hiệu triệu, kêu gọi cộng đồng.

Khi ông Phúc dùng để phát ngôn kêu gọi thì nó hoá ra thành diễn ngôn hài hước, một kiểu độc tấu hài. Nó không thể khơi chút nào lòng yêu nước của nhân dân được.

Vế thứ 1 “ĐỒNG CAM”: Cán bộ quan chức đảng viên rất biết “đồng cam”, cùng hưởng lợi với nhau, cùng ăn chia.

– Sống, biệt phủ biệt thự, hồ bơi vườn cảnh thênh thang xe ngựa.

– Chết, nghĩa trang cao cấp, đất rộng nằm xoạc chân sải cánh.

(Nguyên nhân gây nợ công lại chính do quan chức “đồng cam” gây ra. Sẽ nói ở phần sau).

Vế thứ 2: “CỘNG KHỔ” trút hết cho Dân bằng cách thu thuế, thu phí “vặt lông vịt !.

Thực chất chỉ là “quan đồng cam, dân cộng khổ”.

Lời kêu gọi mang cả “hai vế” thì trở thành chuyện hài hước chính trị rồi.

Nợ công chính đáng là gì ?

Chẳng may, một đất nước năm nào đó bị thiên tai, địch họa, ngân sách phải xả ra cứu trợ hoặc, phải vay nợ nước ngoài để chi phí cho Dân… Sau khi qua cơn bĩ cực, chính phủ mới kêu gọi nhân dân“thắt lưng buộc bụng” để trả nợ công. Hợp lý hợp tình như vậy ai cũng nghe được!

Hoặc, nhà nước đầu tư cho đời sống dân sinh, chẳng hạn như hạ tầng cơ sở giao thông vận tải, mà chính người dân được hưởng lợi. Tuy nhiên công trình BT bán đất và BOT giao thông đã đẩy gánh sang cho tư nhân tự tung tự tác rồi còn gì !

Chính phủ “bán thóc giống” trả nợ công không xiết.

Bao nhiêu cố gắng từ thời TT.Ba Dũng kêu gào “bán vốn xã hội chủ nghĩa” được gọi một cách văn vẻ là “cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước”. Năm nào chính phủ cũng thúc giục, rồi cuối năm báo công năm sau “bán” được nhiều hơn năm trước. Bán riết rồi cố thủ một số tập đoàn kinh tế nhà nước để “giấy rách còn giữ lấy lề”. Mấy tập đoàn cố thủ ấy tự gọi là “quả đấm thép” cào rách nền kinh tế quốc dân. Các tập đoàn “đào tài nguyên lên bán” như xăng dầu, than đá, bôxít, thuỷ điện luôn kêu ca lỗ vốn. Vốn xhcn ấy bán rồi đổ đi đâu?

Dược biết chia bình quân “nợ công” cho 100 triệu dân kể cả Em bé lọt lòng mẹ và cụ già, mỗi người gánh 32 triệu vnd.

“NỢ CÔNG” DO CÁC NGUYÊN NHÂN SAU.

TẠM LIỆT KÊ:

1. Lãng phí

Trả lương công chức đảng chính phủ ngốn ngân sách không thể tưởng tượng. Đặc biệt, bao nhiêu tiền nuôi bộ máy “siêu chính phủ” gọi là đảng cầm quyền, từ chi bộ ấp khóm đến trung ương và “6 cánh tay nối dài”, chỉ riêng một cái “văn phòng trung ương” mỗi năm ngốn nhiều trăm tỷ.

Chế độ chính sách cựu binh, thương bệnh binh, liệt sĩ, gia đình có công (tuy dàn đều, bôi ra cho có) nhưng số lượng khủng chiếm ngân sách vượt hơn hẳn số trợ cấp an sinh xã hội. Chỉ nhẩm tính trên một xã là thấy ngay.

Xây dựng cơ quan công quyền trung ương, tỉnh, thành, quận huyện thị hoành tráng không sử dụng hết công năng.

Xây quảng trường, tượng đài, khu hành chính hoành tráng tràn lan khắp các tỉnh thành, đua nhau.

Các loại nhà bảo tàng chuyên đề và bảo tàng địa phương đổ tiền ra, kết quả vắng khách và/hoặc bỏ cho rêu phong.

Các loại lễ hội “kỷ niệm” tỉnh thành tách, nhập thay nhau tròn năm chẵn để giải ngân sách hàng năm.

Kế sao cho xiết sự lãng phí !

2. Lãnh đạo kinh doanh kém

Tập đoàn doanh nghiệp nhà nước thất bát lỗ vốn:

Hàng chục dự án nghìn tỷ của Bộ Công Thương đắp chiếu !

Góp bao nhiêu phần trăm vốn đối ứng vào dự án CÁT LINH- HÀ ĐÔNG, tuy còn dở dang ngổn ngang nhưng mỗi năm suốt 11 năm qua cứ đóng nợ & lãi 650 tỷ đồng/ năm.

Rất nhiều, chỉ nói một dự án ở Nha Trang đội vốn 40 lần, từ 7 tỷ lên 275 tỷ đồng. Và còn đâu nữa ?

Đầu tư sang Venezuela cả nửa tỷ đô mất trắng vốn không đòi được.

Tòa án xử bậy, phải bồi thường Dân oan sai trong nước, lai rai, kinh phí sao chiụ nổi.

Tư pháp xử bậy, thua kiện nước ngoài như vụ kiện Trịnh Vĩnh Bình bồi thường cả nửa tỷ đô.

  1. Tham nhũng

Số lượng tham nhũng cụ thể hiện nay không tính được.

Đành lòng vậy !

Tuy nhiên, có thể ước chừng số lượng thất thoát theo kiểu khác. Thử làm theo kiểu “tổng điều tra dân số đồng loạt”: phát phiếu tố giác từng địa phương cả nước, trong 1 tuần biết ngay kết quả đại cương:

– số thống kê bất động sản bất thường của quan chức khắp cả nước.

– số thống kê du học sinh con quan chức (giao cho Bộ ngoại giao và hệ thống sứ quán, sở ngoại vụ thực hiện, có ngay kết quả).

– số thống kê quan chức mua nhà đất ở nước ngoài và có tài khoản ngân hàng nước ngoài. Việc này nhờ nước ngoài thống kê giùm.

– số thống kê các công ty “sân sau”, số cổ phần của quan chức các cấp trong các cty.

Các con số trên chính là do tham nhũng mà có. Đây là kết quả logic dễ dàng của suy luận.

– Các vụ án tham nhũng đã xử: truy đòi bồi thường vô kế khả thi. Bọn tham nhũng chấp nhận câu “hi sinh đời bố, củng cố đời con” mất rồi. Họ chịu “bóc lịch” để trả nợ nhà nước.

– Hàng loạt ngân hàng bị tham ô rút ruột các kiểu, lần lượt nhau, hàng nghìn tỷ đồng. Thủ phạm ra tòa nhưng tiền không truy đòi được, cũng như không.

4. Chi phí ngoại giao kỳ quặc khó hiểu

– Ông tổng bí chủ Nguyễn Phú Trọng lấy tiền ngân sách 25 triệu đô đem tặng Cam pu chia xây nhà quốc hội. Ông còn đem một số lớn tặng bạn Lào cũng xây nhà QH cho họ ? Tiền của Đảng ông làm ra hay sao mà ông “vung tay ném tiền qua cửa sổ”?

Người ta chỉ tặng/ viện trợ nước bạn khi  họ gặp thảm họa thiên tai, cứu đói, cứu nạn. Mẹ kiếp, sao lại tặng tiền xây “nhà quốc hội”?

– Đổ bao nhiêu tiền mời mọc hơn 118 nước đón đưa khách khứa, tăng ni 119 nước dự đại hội Phật giáo quốc tế trong 5 năm tổ chức tới hai lần ? Để hoằng dương Phật pháp hay để lấy lòng quốc tế, đánh bóng hình ảnh vốn đã nhọ nhem về đàn áp và hạn chế tôn giáo ?

Trên đây chỉ nêu vài nét đại cương về nguyên nhân tạo nợ công. Nguyên nhân và Giải pháp nằm trong tay chính phủ và đảng cầm quyền.

Không thể kêu gọi NHÂN DÂN “cộng khổ” được, vì không có lý do chính đáng !

TB: cách đây vài bữa ông Phúc lại kêu gọi Hà Nội, Hải Phòng, tp. HCM góp sức giúp chính phủ trả nợ công !

GN

Hai bài viết có tính cách dự báo của KTS Trần Thanh Vân

Hai bài viết có tính cách dự báo của KTS Trần Thanh Vân

KTS Trần Thanh Vân thân mến,

Cảm ơn chị đã gửi tới BVN 2 bài như đã hứa. Hai bài rất hay. Dù so với thời điểm này bài 1 của chị đã cũ, nhưng tính thời sự của nó thì chưa hề cũ. Còn bài thứ 2 đương nhiên là còn rất thời sự. Cũng phải nói, trước nay BVN không đưa những bài cụ thể về số phận những tên tay sai bán nước chưa bị vạch mặt chỉ tên lên trang mình, nhưng chúng tôi hoàn toàn tin chị đã điểm trúng mặt tên tay sai này. Chúng tôi cũng có niềm tin sâu sắc vào những điều chị dự đoán ở bài 2 (Ngay trong lời Cùng bạn đọc ở đặc san số 1 dành cho 10 năm Bauxite Việt Nam vừa qua, không hẹn mà gặp, chúng  tôi cũng đã đưa ra một thông báo tương tự phần kết cuối bài 2 của chị, tuy không có tài liệu cụ thể để xác định chắc chắn thời điểm mà mình dự báo (mời chị xem lại câu sau: “Để đánh dấu đệ thập chu niên của diễn đàn, BVN quyết định xây dựng một chùm đặc san 10 năm Bauxite Việt Nam công bố vào cuối tháng 5-2019, mời các vị cộng tác viên kỳ cựu cũng như quý độc giả viết về nhiều đề tài khác nhau, nhằm ôn lại những gì đã gặt hái được trên con đường đã qua và rút kinh nghiệm cho bước đường đang tới mà chúng tôi nghĩ sẽ diễn ra những đổi thay quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với tương lai dân tộc, vì không đổi thay là chết” – http://www.boxitvn.net/bai/62563). Điều có thể lượng định được là ĐCSVN đã chấm dứt vai trò dù là nhìn trên chiều hướng tổng quát hay nhìn vào từng hoạt động cụ thể, và chỉ trong vòng một thời gian nữa thôi nó sẽ phải tự giải thể, nếu những người đang chèo lái còn có chút tỉnh táo (mà chúng ta tin chưa phải quá muộn để họ còn có được sự tỉnh táo ấy, nhất là sau cú đột quỵ vừa qua của ông Tổng Chủ, kẻ đứng mũi chịu sào). Lý do không chỉ ở sự kém cỏi đủ mọi mặt trong quản lý và điều hành đất nước suốt nhiều chục năm kể từ sau ngày chiếm trọn cả nước vào tay họ. Điều ấy thì quá rõ rồi. Nhưng ở đây chúng tôi muốn nhìn ở một chiều kích khác: ở chỗ: “đảng” đã bị TQ lừa cho quá sâu, đẩy nó vào tư cách kẻ bán nước và triệt hạ lẫn nhau lộ liễu mà nó dù không muốn cũng không còn cưỡng được. Trong khi dân tộc chúng ta vốn mang dòng máu quật cường trong suốt chiều dài lịch sử, kể từ khi chỉ mới là một tộc người (ethnie) – ý chúng tôi muốn nói một bộ lạc (tribu) hay liên minh bộ lạc (union tribale) – mà được như ngày nay, thì tất yếu lực lượng nào cản trở nó cuối cùng cũng lâm tình thế bị hủy diệt. Ngay từ ông Hồ, một người rất thông minh, có dòng dõi sĩ phu và có truyền thống yêu nước, theo chúng tôi cũng đã thừa biết sự lừa đảo khủng khiếp của Tàu Cộng, nhưng tình thế không cho ông làm khác (ông muốn thoát ra bằng cách đi với Mỹ – với 19 bức thư gửi Tổng thống Truman thì không phải chuyện đãi bôi, làm để lấy lòng ai đó – mà không tài nào đi được). Cũng nên nhớ ở thời đại ông Hồ việc thực dân và đế quốc tự nguyện trả lại độc lập cho các dân tộc nhược tiểu là chuyện hoang tưởng (cho đến sau cuộc chiến với Việt Nam kết thúc bằng đại bại Điện Biên Phủ, tiếp liền là cuộc chiến tàn khốc ở Algérie diễn ra được 2 năm, đến 1956 người Pháp mới tỉnh ngộ để trả độc lập cho Maroc mà nhân dân Maroc không tốn chút máu xương nào). Cho nên vào năm 1946, cứu nước bằng cách kêu gọi toàn dân vùng dậy đánh đuổi chúng phải nói là con đường đại nghĩa. Vì lẽ ấy, ông Hồ đã được đại bộ phận trí thức yêu nước đi theo. Nhưng ông Hồ không còn biết dựa vào đâu nên đành phải mượn sức TQ và LX để đạt cho được mục tiêu mà mình khởi xướng. Chỉ đáng tiếc, cái giá lâu dài phải trả cho LX và nhất là TQ, hình như lâm thời ông tính không ra. Mặt khác, giới hạn của thời đại cũng không cho ông nhìn thấy trước sự tiêu vong của LX và cả phe XHCN. Đó là “gót chân Achilles” của ông. Có trách ông là trách ở chỗ ấy. Đến thế hệ thứ hai (Giáp, Duẩn, Trường Chinh, Đồng) cũng có những người thông minh, và đều yêu nước, chúng tôi không phủ định họ. Tuy vậy những hạn chế cơ bản của ông Hồ chính họ cũng vấp. Vấp lớn hơn ông Hồ, vì họ không đi ra thế giới nên không biết hết những chuyện kinh hoàng đằng sau tấm màn son của chủ nghĩa quốc tế CS (Quốc tế III) mà quan trọng nhất là họ không biết hoặc biết quá muộn, rằng chính bọn Tàu đã vứt xó cái gọi là ý thức hệ vô sản từ lâu (có lẽ tướng Giáp là người hiểu sớm nhờ trực tiếp cầm quân nên Tàu rất ghét Giáp, nhưng giáp lại rất dur và cũng bị bọc kín bởi giáo điều để có thể tự mình có được một chuyển đổi thật sự trong tư duy). Mà dẫu có biết ra thì lúc nhận thức ra được, cả thế hệ thứ hai không trừ một ai, cũng trở tay không kịp nữa. Kể từ ông Hồ đã bị lừa, thế hệ sau ông vẫn bị lừa, đến thế hệ chạy sang Thành Đô thì vì trình độ quá dốt nát chứ làm sao thông minh được như lớp trước, lại thêm sự cuồng tín thấm vào máu anh cùng đinh chân đất, nên “cắn câu” bọn Tàu một cách còn thê thảm hơn (hình ảnh ông Nguyễn Văn Linh bị méo mồm trước cơn gió lạnh khi dự hội nghị ở Đông Đức vẫn cố sức kêu với Gorbatchov và Honecker lập một chủ nghĩa quốc tế mới mà TS Lê Đăng Doanh kể lại đã làm không ít người phải thương hại cho ông ta (cho nên xin chị thứ lỗi, từ rất lâu rồi, với những kẻ như Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh… trí thức chúng tôi đều có cái nhìn phản cảm; có vẻ như người nào trong số này cũng là công cụ giai cấp chứ ở bên trong khó mà chắt ra một vài giọt phẩm chất người). Nhưng nguy hại của việc mang gông ý thức hệ của thế hệ đang chấp chính hiện nay thì mới chính là được đẩy đến mức cao tột: họ đã không còn biết cách tự bảo vệ cái tổ chức mà họ kế thừa từ các thế hệ trước, nó là một nguyên tắc sơ đẳng người nào cũng cần phải thấm nhuần cả trên lý thuyết cũng như trong bản năng sinh tồn của từng người như từng tế bào của tổ chức. Điều đó khiến cho bộ máy tình báo Tàu quá dễ dàng luồn vào làm tha hóa hầu hết đội ngũ, và trớ trêu thay, đưa những tên tay sai như Phạm Minh Chính, HTH… lên hàng ngũ kế cận. Nó còn luồn vào đủ các cơ quan đầu não để đặt các công cụ do thám, đến mức như một Bộ Công an là bộ máy công cụ hàng đầu bảo vệ thể chế, mà ngôi nhà của Bộ xây xong không thể đến làm việc được vì trót giao phó cho TQ xây, thế thì còn nói gì đến các công sở bộ ngành khác ở Hà Nội mất cảnh giác với Tàu đến thế nào (sao Việt Cộng nổi tiếng ranh ma là thế mà lại khù khờ trước kẻ thù truyền kiếp đến như vậy không thể biết nữa). Có thể khẳng định, chính phương châm “4 tốt và 16 chữ” là con đường ngắn nhất và trực tiếp đưa ĐCSVN đến chỗ tiêu vong, điều ấy không ai mà không chứng kiến sự hiển hiện tận mắt, từng ngày. Thậm chí đến hôm nay Tàu đã luồn vào được đến Ban bảo vệ sức khỏe là nơi phải tuyệt đối an toàn thì có thể nghĩ, đến đây đã sắp sửa là hồi kết. Tại sao NBT rồi đến TĐQ cứ theo nhau chết mà cái Ban bảo vệ từ lớp ngoài cho chí lớp trong lại không lập được một hàng rào hữu hiệu nào cả? Phải chăng điều đó chứng tỏ sức đề kháng tự nó của ĐCS với tư cách một tổ chức độc quyền thống trị đã là số không tròn trĩnh?

Trong một tình thế rối beng như thế, bài viết thứ 2 của chị rõ ràng nổi lên như một Dự báo rất đáng để dư luận quan tâm. Lẽ dĩ nhiên, trước không ít cạm bẫy đang rình rập, một trí thức không tấc sắt trong tay chỉ có thể dự báo theo cách của mình, dưới hình thức một câu chuyện hồi ký nhẹ nhàng và kín đáo. Nhưng tinh thần chung toát lên ở phía sau thì ai cũng hiểu được, chị muốn thông báo bằng tất cả linh cảm nhạy bén, rằng giờ kết thúc của ĐCSVN đã điểm và không có một thế lực nào có thể níu kéo nó lại, bởi đây là một hiện tượng phù hợp với xu thế tiến hóa của lịch sử – cái gì đã thuộc về quá khứ thì nhất thiết sẽ trôi về quá khứ.

Xin cảm ơn chị và xin được đăng cả hai bài lên trong cùng một tiêu đề ngắn gọn nhằm thông tin đến bạn đọc. Chi xin được thanh minh một chút: tiếng nói của BVN trước sau vẫn giữ nguyên tắc chừng mực, không bao giờ quá khích, không sa vào xỉ vả ai. Nhưng việc báo trước một sự kiện đang và sẽ xảy đến cho đất nước thì lại là một chức năng tối cần thiết mà bất kỳ diễn đàn XHDS nào cũng phải coi là nhiệm vụ hàng đầu. Chối bỏ nó là vô trách nhiệm trước lịch sử.

Bauxite Việt Nam

Bài 1: 

Thâm Quyến là nơi nào và Phạm Minh Chính là kẻ nào?

3-7-2018

Thâm quyến là nơi nào?

Vào những năm 70 của Thế kỷ trước, sau Cách mạng Văn hóa, nước CHND Trung Hoa một tỷ dân rơi vào tình trạng nghèo đói kiệt quệ. Mỗi bữa ăn, mỗi người chỉ có một bát cháo hoa, một chiếc bánh bao không nhân và vài miếng ca-la-thầu (xu hào muối dầm tương).

Có hai sinh viên (một nam một nữ) ở lớp Quy hoạch thuộc Khoa Kiến trúc khóa 1961 – 1966, Trường Đại học Đồng Tế thành phố Thượng Hải, là Quách Nhữ Trân và Vương Đồng Hội, sau một thời gian dài đi làm Hồng vệ binh để đập phá hò hét, do “cải tạo tốt”, họ đã may mắn được phân công công tác.

Họ được điều về một vùng bãi biển làng chài thuộc tỉnh Quảng Đông, cách thành phố Hồng Kông con sông Thâm Quyến, dân cư lúc đó có khoảng 30.000 dân. Họ được giao nhiệm vụ lập đồ án Quy hoạch một thành phố mới, có tên là Thâm Quyến.

Thâm Quyến năm 1964

Đây là một nhiệm vụ chính trị mà ông Đặng Tiểu Bình, lãnh tụ tối cao của ĐCS Trung Quốc lúc đó đề ra là: Quyết tâm xây dựng một Hồng Kông của TQ. Đặng Tiểu Bình cay cú vì thời kỳ CMVH, chính ông ta cũng bị vô hiệu hóa và Mao Trạch Đông đã để cho bà vợ văn công Giang Thanh lãnh đạo bè lũ 4 tên lộng hành, phá nát cả đất nước Trung Hoa. Nhiều người dân lục địa, kể cả người Thượng Hải đã phải bỏ quê hương, tìm đường sang Hồng Kông lánh nạn.

Cay cú, họ cho hai sinh viên QH học chưa xong về vùng chài này vẽ một đồ án quy hoạch trên một vùng đất gần như trống. Những ngày đầu gian nan ấy, hai Hồng vệ binh học chưa đến đầu đến đũa phải vừa học vừa làm và quân đội phải nhảy vào thi công xây dựng… Hồng Kong có những ngôi nhà chọc trời, họ cũng phải có những ngôi nhà chọc trời đối phó với Hồng Kong.

Nhưng đâu có dễ, mãi đến ngoài năm 1990, nhà nước TQ phải cử các đoàn sang Mỹ học từ đầu và phải tổ chức các cuộc thi quốc tế, gồm Mỹ, Nhật, Hồng Kong, Singapore… Người Mỹ và người Nhật đã trúng thầu những khu quan trọng nhất, như khu Trung tâm Phúc Điền, như quy hoạch Núi Liên Hoa, thì tình hình mới tạm ổn định. Có quy hoạch rồi, nhưng khó là có tiền để xây dựng hay không?

Ông Đặng Tiểu Bình với đầu óc cách tân từ năm 1920 khi bước chân lên tàu đến thành phố Marseille nước Pháp du học, rồi sang Nga, rồi thấm nhuần chủ nghĩa Marx – lê. Ông xứng đáng là lãnh tụ đứng đầu nước Trung Hoa, ông có khả năng làm những việc kinh thiên động địa, không chỉ dồn toàn thể nhân tài vật lực của cả TQ đầu tư TP Thâm Quyến sánh với Hồng Kong, ông còn có thể chỉ huy vụ thảm sát Thiên An môn khủng khiếp, và thâm hiểm hơn cả, ông đã vạch nhiều kế hoạch thâm sâu để nuốt đất nước VN.

Thế nên, khi Đặng Tiểu Bình mất đi thì Thâm Quyến đã thành công và trở thành miếng mồi cho nhiều kẻ ngu xuẩn VN nằm mộng giấc mộng Trung Hoa.

Thực ra Thâm Quyến có đáng gọi là “Giấc mộng Trung Hoa” hay không? Ngày nay Thâm Quyến là thành phố có 12 triệu dân từ nơi khác đến, nhưng đời sống dân cư thì cũng như mọi nơi khác của TQ thôi.

Xin mời xem những hình ảnh sau đây. Trung Quốc đã cố gắng xây 4 đặc khu Kinh tế khác, nhưng có thành công đâu. Chẳng nhẽ có ai đó cãi lại là hình ảnh này là người Trung Quốc ở thành phố khác, chứ không phải người Thâm Quyến?

Đời sống thực của dân Thâm Quyến hiện nay khi TP đã có 12 triệu người.

Thâm quyến “thành công” chỉ thấy đèn và nhà cao tầng.

Khi đó, Thâm Quyến vẫn là một làng chài nghèo với khoảng 30.000 dân. Giờ đây, Thâm Quyến là một siêu đô thị với 12 triệu dân, hơn 1.000 tòa nhà cao tầng, trong đó ít nhất 169 tòa cao trên 150 m. Không có gì bất ngờ khi mùi hương đồng cỏ mà ông Houng ngửi được năm ấy đã được thay thế bằng mùi của các cao ốc văn phòng và cửa hàng đắt tiền.

Phạm Minh Chính nghe nói học ngành xây dựng ở Romani về, tài năng thì chẳng có, chơi bời là chính, nhưng được cái nhanh nhạy láu cá, lại nịnh hót giỏi, được lòng quan trên, nên có người trợ giúp, anh ta cứ lên vù vù. Nghề được đào tạo thì ông ta chỉ là anh kỹ sư xây dựng tốt nghiệp năm 1985, nhưng không biết học từ bao giờ mà lại có bằng Tiến sĩ và hàm Giáo sư về Luật học dễ dàng? Đã thế ông ta từng là cán bộ Bộ Ngoại giao và cũng có cả các chức tước tại Văn phòng Chính phủ. Đặc biệt chui được vào ngành công an chứ không học ngành an ninh mà được phong tướng cũng rất nhanh. Năm 2007 được lên Thiếu tướng và 2010 đã lên Ttrung tướng và được phong Thứ trưởng Bộ công an, không rõ ông này có công gì, tài cán gì, mà lên hàm nhanh như vậy? Nhưng tài năng xuất sắc nhất của ông Phạm Minh Chính này là bắt đầu từ năm 2011, khi ông ta được trúng UVTWĐ khóa 11, ông ta về làm Bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh, thì ông ta bắt đầu kề vai sát cánh với Trung Quốc xây dựng Đặc khu Kinh tế Vân Đồn. Website của Trung tâm nghiên cứu Đặc khu Kinh tế Trung Quốc thuộc Trường Đại học Thâm Quyến, ngày 14/3/2013 đăng tin: ngày 19/1/2013, Tỉnh ủy Quảng Ninh đã mời 5 chuyên gia của Trung Quốc, trong đó có bà GS Đào Nhất Đào sang Quảng Ninh dự Hội thảo khoa học về Đặc khu Kinh tế, các hình ảnh Ông Phạm Minh Chính và bà Đào Nhất Đào kề vai sát cánh bên nhau để xây dựng Đặc khu Kinh tế Vân Đồn.

.

Phạm Minh Chính, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh, gặp bà Đào Nhất Đào ngày 19/1/2013, là ngày TQ chiếm Sa. Ảnh: ĐH Thâm Quyến.

Hoàng  Phạm Minh Chính (thứ 3 từ phải sang) và những người trong phái đoàn TQ gặp nhau ngày 19/1/2013. Ảnh: ĐH Thâm Quyến.

  

Nguyễn Văn Đọc (thứ tư từ phải sang), Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, gặp phái đoàn TQ ngày 19/1/2013. Ảnh: ĐH Thâm quyến

Báo Quảng Ninh của cơ quan Tỉnh ủy Quảng Ninh, ngày 19/3/2014 cũng đăng một bài phỏng vấn bà GS Đào về Khả năng có thể thành Đặc khu Kinh tế của Khu vực Vân Đồn… Khả năng gì? Tại sao lại lấy Thâm Quyến làm tấm gương cho Vân Đồn noi theo?

Như tôi đã nói ở trên, Đặc khu kinh tế Thâm Quyến là ý chí chính trị của Đặng Tiểu Bình từ những năm 70 của thế kỷ trước, thực chất làng chài bên bờ sông Thâm Quyến cạnh Hồng Kông không có chút tiềm năng gì cả. Họ chỉ quyết tâm xây nhiều nhà chọc trời và đưa công nghệ ở chỗ khác đến, di dân ở chỗ khác đến mà thôi.

Thâm Quyến nằm cạnh Hồng Kông. Ảnh: Google map

Vậy Vân Đồn có gì? Và tại sao họ lại mang kinh nghiệm và hình ảnh như Thâm Quyến đến đây? Vân Đồn không có gì cả ngoài du lịch. Mà Du lịch thì không cần nhà chọc trời.

Vân Đồn lại là một khu quân sự. Mà Quân sự thì không thể giao cho người nước ngoài đầu tư. Thế mà hôm nay, luật đầu tư chưa được thông qua mà Pano giới thiệu quy hoạch Đặc khu Kinh tế Vân Đồn đã làm xong và đã quảng cáo khắp nơi rồi. Rõ ràng quy hoạch này do TQ làm để TQ thực hiện?

ĐOÀN TÀU VIỆT NAM VÀ ĐỊNH VỊ QUỐC GIA

Nguyễn Quang Dy

Trong bài này, tôi mượn hình tượng “đoàn tàu Việt Nam” để dễ hình dung và chia sẻ, với những ẩn ức và ám ảnh trong tâm thức người Việt. Đã lâu tôi không đi tầu, nhưng những kỷ niệm khó quên về tầu hỏa vẫn còn đọng lại từ thời niên thiếu và thời chiến tranh. Nay tôi ngại đi tầu không phải chỉ vì nó chạy quá chậm, mà còn vì những ám ảnh trong tâm thức.   

Đoàn tàu Việt Nam đang ở đâu

Mỗi lần nghe bài hát “tầu anh qua núi” tôi lại thấy buồn, tuy bài hát đó có giai điệu vui. Tôi nhớ có lần (cuối thập niên 1980), đã theo một đoàn làm phim Úc đi từ Bắc vào Nam để quay phim tài liệu về tầu hỏa. Tôi vẫn nhớ hình ảnh tuyệt đẹp khi đầu tầu hơi nước hú còi và phun khói trắng hòa vào mây trời trước khi đoàn tàu trườn mình vượt đèo Hải Vân.

Từ đó đến nay, “đoàn tàu Việt Nam” hầu như không có gì thay đổi. Vẫn là những đầu tàu cũ kỹ ỳ ạch kéo những chiếc toa cũ kỹ lầm lũi chạy trên tuyến đường sắt chật hẹp (1,100m). Vẫn là cái barrier chắn đường thời trước để chặn dòng chảy đường bộ cho “tàu anh qua phố”, làm du khách nước ngoài ngỡ ngàng thích thú như xem bộ phim “Oriental Express”.

Hình tượng đó vẫn ám ảnh tâm thức về một đất nước giàu đẹp nhưng “không chịu phát triển”, như hoài niệm về câu chuyện cho trẻ em thời trước là “Mít Đặc và Biết Tuốt” (tại bến “lần sau tàu chạy”). Trong khi “chính phủ kiến tạo” nói nhiều về công nghệ 4.0, thì hệ tư duy (mindset) và hệ quy chiếu (paradigm) của người Việt vẫn dừng lại ở ngã ba đường.

Từ cuối thập niên 1990, tuyến đường sắt Hà Nội-Lào Cai đã có mấy toa “tàu Victoria” chủ yếu để phục vụ khách nước ngoài của khách sạn Victoria ở Sapa. Tại sao họ làm được một đoàn tầu tử tế cho khách hàng của họ, mà ngành đường sắt Việt Nam sau mấy thập kỷ vẫn chưa làm được những toa tàu tử tế như vậy cho người Việt mình? Thật là vô lý!

Hơn bốn thập kỷ sau chiến tranh, Việt Nam tuy nhiều tài nguyên, nhưng khai thác đến cạn kiệt mà vẫn chưa công nghiệp hóa và hiện đại hóa, vẫn tụt hậu so với nước láng giềng. Bộ GTVT thừa nhận Việt Nam chưa làm được cao tốc Bắc-Nam, mà “chỉ có Trung Quốc làm được”, bất chấp bài học đau đớn về dự án đường sắt trên cao Cát Linh-Hà Đông.

Ám ảnh về “đoàn tàu Việt Nam” là hệ quả của mấy thập kỷ cải cách kinh tế thị trường (nhưng què quặt) vì “định hướng XHCN” (đã lỗi thời). Đó là một thể chế bất cập được duy trì quá lâu làm triệt tiêu các nguồn lực tích cực dựa trên hệ giá trị cốt lõi của dân tộc, nhưng hậu thuẫn cho các nguồn lực tiêu cực dựa trên lợi ích nhóm “thân hữu” (cronyism).

Thể chế đó đã sinh ra “một bầy sâu” (theo lời ông Trương Tấn Sang) đang đua nhau đục khoét và “ăn của dân không từ một thứ gì” (theo lời bà Nguyễn Thị Doan). Chiến dịch chống tham nhũng của TBT-CTN Nguyễn Phú Trọng tuy đạt được những kết quả đáng khích lệ, được đa số người dân ủng hộ, nhưng khó thành công nếu không giải quyết tận gốc.

Cái gốc đó là thể chế (như cái vỏ) đã lỗi thời, kìm hãm sự phát triển nguồn lực dân tộc (là cái lõi), cản trở dòng chảy của lịch sử. Các quốc gia hưng thịnh hay suy vong đều do các nguyên nhân nội tại. Sẽ là sai lầm và bi kịch nếu vẫn cố bám giữ “chủ nghĩa đặc thù” (exceptionalism) để bào chữa cho sự trì trệ bằng tư duy “tiệm tiến” (gradualism). Sau ba thập kỷ, động lực đổi mới (vòng một) đã hết đà, phải đổi mới (vòng hai) trước khi quá muộn.

Tại sao phải định vị quốc gia  ?

Muốn phát triển, các doanh nghiệp thường phải “định vị” (positioning) trên thị trường. Các quốc gia cũng phải định vị (hoặc tái định vị) nước mình, nhất là khi bàn cờ quốc tế biến đổi. Mấy năm qua, trật tự thế giới đã bị đảo lộn đến chóng mặt và khó lường. Nếu không định vị lại và điều chỉnh chiến lược, Việt Nam dễ bị mắc kẹt vào thế “lưỡng nan” (ketch 22).

Hãy thử so sánh Việt Nam với nước láng giềng Thailand (trong ASEAN). Năm 2012, Per Capita của Việt Nam là US$ 1.373, bằng Thailand năm 1981 (tụt hậu 30 năm). Theo dự đoán của IMF, đến năm 2019, Per Capita của Việt Nam sẽ là US$ 2.473, bằng Thailand năm 1985 (tụt hậu 34 năm). Việt Nam đã từng tuyên bố đến năm 2020 sẽ là một nước công nghiệp, nhưng đến nay vẫn chưa công nghiệp hóa, năng suất lao động vào loại thấp nhất khu vực.

Hàn Quốc là một nước Đông Á, cũng bị thuộc địa, chiến tranh, và chia cắt Bắc-Nam, nhưng sau ba thập kỷ (1960-1990) đã vươn lên thành cường quốc. GDP Hàn quốc (năm 1960) là US$ 155, trong khi Việt Nam (năm 1981) là US$ 251. Nhưng sau 30 năm, GDP của Hàn Quốc tăng 34 lần, trong khi GDP của Việt Nam tăng có 4,25 lần (bằng 1/8 Hàn quốc).

Hàn quốc là một nước độc tài, nhưng để trở thành cường quốc, họ phải chuyển sang thể chế dân chủ (theo quy luật tất yếu). Tuy cùng vạch xuất phát tương tự, nhưng Hàn Quốc nay đã giàu mạnh. Việt Nam tuy thống nhất, nhưng nay vẫn nghèo nàn, tụt hậu. Việt Nam phải trả giá quá đắt cho sự ngộ nhận và nhầm lẫn, dẫn đến thất bại trong thời hậu chiến.

Trong bốn thập kỷ thực dân Pháp đô hộ Việt Nam, tuy 95% người dân mù chữ, nhưng họ đã xây dựng được đường sắt, đường bộ, cầu cống, cảng biển, sân bay, thành phố Hà Nội và Sài gòn (như “hòn ngọc Viễn Đông”). Nay với trình độ công nghệ cao hơn gấp nhiều lần, tuy 95% người dân biết chữ, nhưng hệ thống đường sắt vẫn kém hơn thời Pháp thuộc.

VIỆT NAM ĐƯỢC ĐÁNH GIÁ TỰ DO ĐẾN ĐÂU?

VOA tiếng Việt

Bà Trần Thị Nga, một nhà hoạt động nhân quyền, trong phiên tòa về tội tuyên truyền chống Nhà nước hồi năm 2017

Bà Trần Thị Nga, một nhà hoạt động nhân quyền, trong phiên tòa về tội tuyên truyền chống Nhà nước hồi năm 2017

Việt Nam được 20 điểm trên thang 100 điểm về mức độ tự do, trong đó bị xếp hạng rất thấp về mức độ tự do chính trị nhưng lại có điểm cao hơn về tự do dân sự, theo đánh giá của Freedom House, tổ chức nghiên cứu và cổ súy cho dân chủ-tự do toàn cầu có trụ sở tại thủ đô Washington D.C. của Mỹ.

Thang bậc gồm 100 điểm này được chia ra làm 40 điểm cho tự do chính trị và 60 điểm cho các quyền tự do dân sự. Việt Nam được chấm 3/40 về tự do chính trị và 17/60 về tự do dân sự.

Tự do chính trị

Để đánh giá mức độ tự do về chính trị (tối đa 40 điểm), Freedom House dựa trên ba tiêu chí lớn bao gồm: tiến trình bầu cử; đa nguyên và sự tham gia chính trị; sự vận hành của chính quyền.

Mỗi tiêu chí trong ba tiêu chí này tiếp tục được chia ra làm các tiêu chí nhỏ. Tổng cộng có 10 tiêu chí nhỏ được dùng để đánh giá tự do về chính trị. Mỗi tiêu chí được chia số điểm tối đa là 4.

Trước hết, Hà Nội bị đánh giá rất tồi tệ về tiến trình bầu cử: không được điểm nào trong toàn bộ ba tiêu chí nhỏ (tổng cộng 12 điểm) là bầu cử các lãnh đạo tự do và công bằng; bầu cử cơ quan lập pháp (Quốc hội) tự do và công bằng; luật và cơ chế bầu cử công bằng và không thiên vị.

Freedom House lưu ý rằng toàn bộ các vị trí hàng đầu trong bộ máy hành pháp ở Việt Nam, từ Chủ tịch nước cho đến Thủ tướng chính phủ đều được quyết định từ trước trong nội bộ cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam (cụ thể là Bộ Chính trị và Ban chấp hành trung ương) mặc dù trên danh nghĩa Quốc hội là cơ quan bầu ra các chức danh này.

Bản thân Quốc hội cũng được bầu trong một cơ chế được đảng kiểm soát chặt chẽ, theo tổ chức phi chính phủ này, và điều này dẫn đến kết quả là các đảng viên Cộng sản được Đảng chỉ định chiếm số lượng áp đảo các đại biểu được bầu vào Quốc hội đương nhiệm hồi năm 2016, với 473 trong tổng số 500 ghế. Phần lớn các ứng cử viên mang tiếng là độc lập, tức không phải là đảng viên, trúng cử vào Quốc hội cũng đều đã được đảng rà soát kỹ lưỡng.

Hơn 100 ứng viên độc lập thật sự, trong đó có nhiều nhà hoạt động xã hội dân sự trẻ, bị cấm ra tranh cử vào Quốc hội vào năm 2016.

Freedom House cũng lưu ý rằng mặc dù con số cử tri đi bầu theo thống kê chính thức của chính quyền ở mức rất cao (trên 99%) nhưng có thông tin rằng nhiều thùng phiếu ‘đã bị chính quyền nhét phiếu vào cho đầy’.

Còn về luật và cơ chế bầu cử, Freedom House cho rằng chỉ nhằm để đảm bảo cho đảng Cộng sản thắng áp đảo trong tất cả các cuộc bầu cử. Sở dĩ có tình trạng như vậy là vì đảng nắm tất cả các cơ quan bầu cử để loại ra ngoài vòng đấu các ứng viên độc lập.

Mây thẻ