"Nói phải củ cải cũng nghe"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Bảy, 2019

200 liệt sĩ SV Đại học Xây dựng Hà Nội và miếu Bắc Bỏ ở Đồng Tháp Mười

Fb Phan Trí Đỉnh

Những thằng cán bộ trung đoàn 207 được hơn 200 chiến sỹ mở đường máu cho chạy trốn khỏi trận địa đâu rồi. Đề nghị Bộ Quốc phòng truy tìm và xử lý kỷ luật trước Tòa án binh.

Chúng nó vẫn hiên ngang dưới ánh mặt trời và trước vong linh những người đã nhường lại cuộc sống cho chúng.

Cán bộ địa phương  xứ Long An đi chết đâu, sao chừng ấy năm không báo cấp trên ?

Trang chủ

Bài của nhà báo Hoàng Anh Sướng

Sự thật về cái chết bi tráng của 200 lính sinh viên đại học Xây dựng Hà Nội.

Năm 1972, cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt. Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, hàng vạn sinh viên thủ đô đã tạm xếp bút nghiên, tình nguyện lên đường “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, trong đó có hàng trăm sinh viên Đại học Xây Dựng Hà Nội.

Ông Vũ Trình Tường, người đã từng hòa mình trong cuộc tòng quân hừng hực năm ấy kể lại: “Tôi còn nhớ tháng 9 năm 1972, lúc đó chúng tôi là sinh viên năm thứ 2 trường Đại học xây dựng Hà Nội. Nhà trường có một đợt tuyển quân với quy mô lớn. Số sinh viên từ khóa 13 đến khóa 16 nhập ngũ là 225 người, riêng khóa 16 chúng tôi có gần 30 bạn. Hầu hết trong số này đã vượt Trường Sơn vào miền tây Nam Bộ biên chế vào Trung đoàn 207, Quân khu 8, chiến đấu ở vùng Mỏ Vẹt, biên giới Việt Nam – Campuchia.

Đầu tháng 10 năm 1973, Trung đoàn 207 nhận nhiệm vụ bí mật luồn sâu xuống Đồng Tháp Mười thuộc vùng 8, Kiến Tường cũ. Đêm ngày 3 tháng 10, Trung đoàn triển khai đội hình hành quân từ Ba Thu (đất Campuchia) vượt sông Vàm Cỏ Tây đến ấp Đá Biên, huyện Mộc Hóa, tỉnh Kiến Tường (nay thuộc xã Thạnh Phước, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An) thì trời vừa sáng nên đơn vị phải ém quân vào các mảnh rừng tràm.

Năm ấy, nước lên to, các gò đất bị nhấn chìm, chỉ còn những cây tràm kiên cường vươn lên giữa biển nước trắng mênh mông. Rừng tràm thì nhỏ, lại thưa thớt nên không đủ che giấu đoàn quân.

Vì lội bộ suốt đêm giữa đồng nước, có đoạn ngập đến tận cổ nên anh em cả hai tiểu đoàn đều mệt rã rời, nhất là cánh Tiểu đoàn 1. Họ hầu hết là tân binh, trong đó phần lớn là sinh viên trường Đại học xây dựng mới được bổ sung về đơn vị trước đó hai ngày. Do chưa quen địa hình đồng nước, chưa có kinh nghiệm chiến trường, sáng hôm sau, khi nấu cơm, lính tân binh để lộ khói nên máy bay trinh sát của địch đã phát hiện.

Vì Thạnh Phước là đường giao thông huyết mạch để chuyển vũ khí, chuyển quân từ miền Đông xuống miền Tây nên địch thường xuyên sử dụng máy bay trinh sát truy tìm dấu vết bộ đội. Ngay lập tức, trên trời, hàng chục máy bay trực thăng ào đến như một cơn bão nhả đạn như mưa. Dưới đất, hơn chục chiếc xe bọc thép M113 gắn hỏa lực cực mạnh ùa đến bao vây.

Trước tình thế vô cùng hiểm nguy, đơn vị đã nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu với tinh thần cảm tử, quyết mở đường máu để đưa sở chỉ huy Trung đoàn thoát khỏi vòng vây. Các chiến sĩ tân binh Tiểu đoàn 1 đã bám chặt trận địa, chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Họ tận dụng từng gốc tràm, bụi cỏ, lội nước ngang ngực ngoan cường chiến đấu từ 8 giờ sáng đến mãi chiều tàn, tiếng súng mới im. Gần 200 chiến sĩ đã hy sinh trên đồng đất Tháp Mười, không một ai chịu đầu hàng địch”.

Những ngày sau, địch vẫn tiếp tục đưa trực thăng tới càn quét nhằm tiêu diệt bất cứ mầm sống nào còn sót lại trên cánh rừng tràm mênh mông nước. Tàn bạo hơn, không chỉ dội mưa bom, bão đạn, địch còn cho quân chốt các ngả không cho bộ đội ta vào lấy thi hài tử sĩ và cứu thương binh. Mãi 12 ngày sau, khi địch rút, đại đội trinh sát cùng với du kích địa phương mới tổ chức được lực lượng vào tìm đồng đội.

Ông Phan Xuân Thi (thường gọi là Ba Thi), nguyên là lính trinh sát Trung đoàn 207, hiện là Trưởng ban liên lạc bạn chiến đấu và cựu chiến binh Trung đoàn 207 kể lại: “Khi đó, đơn vị giao nhiệm vụ cho đội trinh sát cùng du kích địa phương đêm đêm bơi xuồng tìm đồng đội. Duy nhất còn một chiến sĩ bị thương nặng được cấp cứu kịp thời, còn lại gần 200 thi thể nổi trên mặt nước, dạt vào cạnh những thân cây, bên những bông súng, bông điên điển.

Chúng tôi phải dùng màn để vớt từng phần thi thể các anh, rồi gom các mảnh xương còn mắc trên cành cây. Đồng Tháp Mười đang mùa nước nổi. Do xung quanh toàn nước, không có đất chôn nên chúng tôi phải bó từng thi thể lại, bọc trong bao ni lông, buộc chặt vào thân cây tràm ngâm trong nước lũ, chờ đến mùa khô nhờ đồng bào chôn giúp.

Chúng tôi cũng chỉ tìm được khoảng 40 thi hài. Số anh em còn lại do đêm tối cây cỏ um tùm không thể tìm thấy. Chiến trường ác liệt, đơn vị lại phải tiếp tục hành quân, đắng lòng gửi đồng đội nằm lại Đồng Tháp Mười đầm lầy chua mặn”.

Chiến trường ngày càng ác liệt. Đơn vị lại tiếp tục hành quân vào trận chiến mới. Xác các chiến sỹ bị ngâm trong nước lâu ngày trương phềnh rồi trôi dạt khắp cánh đồng, trắng cả một vùng rộng lớn. Rồi chiến dịch Hồ Chí Minh, rồi chiến tranh biên giới Tây Nam.

Theo yêu cầu nhiệm vụ mới, Trung đoàn 207 giải thể, khu 8 sát nhập khu 9, tỉnh Kiến Tường sát nhập vào tỉnh Long An, Long An sát nhập vào Quân Khu 7. Trận đánh bi tráng với cái chết của gần 200 tân binh sáng ngày mồng 3 tháng 10 năm 1973 ấy, chẳng thấy ai nhắc đến.

ảnh: liet si 200

(Liệt sỹ Nguyễn Thanh Hà – Liệt sỹ trẻ nhất hy sinh trong trần càn quét – nguyên sinh viên năm thứ nhất ĐH Xây Dựng HN)

Tấm lòng của vợ chồng anh Tư Tờ và bà con ấp Đá Biên

Sau năm 1975, dân tứ xứ đổ về ấp Đá Biên, xã Thạnh Phước, huyện Thạnh Hóa (Long An) khai hoang. Nhiều người vật đất lên làm nhà thấy có nhiều xương cốt. Anh Nguyễn Văn Tư, dân địa phương thường gọi là Tư Tờ, khi đó còn nhỏ, mới 12 tuổi, thường chèo xuồng đi lượm bình tông đựng nước, cà-mèn, mũ cối… Có lần nhặt được chiếc mũ, nâng lên anh giật mình kinh hãi khi thấy bên trong mũ còn nguyên chiếc sọ đầu lâu. Anh nghe dân làng bảo, xương cốt, bình tông ấy là của những người lính ngoài Bắc chết trong một trận đánh thảm khốc. Họ bị bỏ rơi nên hài cốt trôi dạt khắp nơi. Họ chết hầu hết khi mới mười tám, đôi mươi, chết trẻ nên rất thiêng. Khi màn đêm buông xuống, nhiều người trong ấp thường nghe tiếng khóc than vì đói khát, tiếng kêu gào đau đớn vì thi thể mắc kẹt giữa các lùm cây trong rừng tràm. Có người trong ấp khi gom củi khô và lá tràm đốt lấy tro bón ruộng, vô tình đốt lẫn cả hài cốt, bị vong linh các chú bộ đội về phạt vạ, khiến cho hóa điên, chữa mãi không khỏi.

Tin vào sự hiển linh của các chú bộ đội, nhiều người dân vào ngày rằm, mồng 1, thường làm cơm cúng cầu xin các linh hồn liệt sĩ phù hộ độ trì làm ăn hanh thông, gia đình khỏe mạnh. Cá nhân anh Tư Tờ cũng có những trải nghiệm tâm linh hết sức kỳ lạ. Năm 1990, anh làm ruộng phát hiện thấy 3 bộ hài cốt không còn nguyên vẹn. Xót thương, anh đắp một nấm mồ chôn chung. Thắp nén hương thơm, anh chắp tay lầm rầm khấn nguyện hương linh các liệt sĩ có linh thiêng thì phù hộ cho gia đình vụ mùa này bội thu để sớm thoát cảnh cơ hàn. Nếu linh ứng, anh sẽ lập miếu thờ cúng. Chẳng biết có phải do các liệt sĩ phù hộ hay không, năm ấy, anh Tư Tờ trúng vụ mùa lớn, đạt hơn 500 giạ thóc. Vợ chồng anh vui mừng khôn xiết. Song do mải làm ăn nên anh quên mất lời hứa với các liệt sĩ. Đêm nọ, bé Nguyệt, con gái đầu, sinh năm 1981, vừa tròn 9 tuổi, đang khỏe mạnh bỗng lăn đùng ra ốm. Mặt xám ngoét, mắt thất thần, suốt ngày cháu ôm đầu kêu la vì đau đớn. Vợ chồng anh bán thóc lấy tiền ôm con đi chữa chạy khắp các bệnh viện mà không khỏi. Buồn bã, bất lực. Tối nọ, đang thiu thiu ngủ, anh chợt nghe tiếng trách móc, giọng đầy ai oán: “Nói lời phải giữ lấy lời. Đừng như con bướm đậu rồi lại bay”. Anh giật mình tỉnh giấc. Sực nhớ đến lời khấn nguyện và lời hứa hôm nào, sáng sớm hôm sau, anh vội lập một miếu thờ trong khuôn viên đất nhà. Chị Mai Thị Tiếp, vợ anh, sửa soạn mâm cơm cúng. Kỳ lạ sao, chỉ vài ngày sau, bé Nguyệt lành bệnh. Anh Tư Tờ nhớ lại: “Gọi là miếu cho oai chứ thực ra tui chỉ dựng bốn cái cột, kiếm mấy tàu lá về chằm rồi lợp lên trên. Sau mùa lúa, tui chèo ghe ra mua mấy viên gạch, chút xi măng về sửa lại. Miếu “bêtông hóa” rồi mà vẫn còn nhỏ xíu, vợ chồng tui cảm thấy chưa yên. Nghe nói mấy anh chết ở đất này cả mấy trăm người, miếu chút xíu vậy sao mà thờ cho đủ, tội lắm. Không có tiền thì vợ chồng vay mượn để làm”. Nghe chồng nói vậy, chị Tư Tờ cười hiền: “Tui chèo xuồng ra chợ hỏi mua tấm thiếc mà hổng đủ tiền. Vậy là chèo về, đi mượn 1 chỉ vàng bán được 300.000 đồng mua vật liệu, mướn ông thợ về mần ba ngày mới xong. Ông thợ chỉ lấy tiền công hai ngày, còn một ngày làm ủng hộ chiến sĩ”.

Hàng ngày, mỗi khi rảnh rỗi, chị Tư Tờ lại đến miếu dọn dẹp, châm nước, thắp hương. Thấy chị cúng cơm, nhiều người đi ngang qua hỏi thăm. Biết anh chị dựng miếu để thờ các liệt sĩ, bà con tới thắp hương dần đông. Chính dân làng đã đặt tên cho miếu thờ là miếu “Bắc Bỏ” với hàm ý: bộ đội người Bắc chết bỏ xác nơi đây. Lúc đầu miếu thờ còn nhỏ, lợp gianh lá cỏ, cột và khung mái làm bằng mấy cây gỗ tràm khẳng khiu, dựng trên mô đất rộng chừng 20 m2. Sau này, mỗi năm gia đình anh Tư Tờ cùng bà con trong ấp vật đất đắp bồi nên khuôn đất rộng cả trăm m2, cất lại ngôi miếu to cao hơn, lợp mái tôn vừa làm nơi thờ cúng liệt sĩ, vừa làm chỗ cho dân đi làm ruộng có chỗ nghỉ chân hay trú mưa, tránh nắng. Hàng năm, vào ngày các anh hy sinh, nhằm mồng 8 tháng 9 âm lịch, bà con trong vùng túm lại làm đám giỗ tập thể. Không chỉ người ở rạch Đá Biên mà người từ miệt kênh trên, kênh giữa và các xã khác cũng về. Thức cúng ai có gì đem nấy: từ con cá, con lươn, cặp vịt xiêm hay mấy chai rượu trắng. Có năm bà con về đông quá không đủ bát ăn phải ăn bằng cái nắp ấm. Đám cúng buổi sáng nhưng mọi người ở lại tới chiều tối, ca vọng cổ, gõ phách, gõ chén, gõ thùng cho các liệt sĩ nghe ấm lòng. Có năm bà con ở lại đông, uống hết 130 lít rượu. Ăn đám năm này, bà con tự động góp mỗi người 5.000-10.000 đồng gây quỹ để mua nhang đèn, cúng cơm, làm đám năm sau. Với người dân nơi đây, các anh là những “thành hoàng làng đội mũ cối”.

Gần 40 năm trời tìm kiếm

Hơn 20 năm, ngôi miếu đơn sơ ấy tồn tại giữa vùng quê nghèo Đá Biên, các cựu chiến binh trung đoàn 207 và thân nhân của 200 liệt sĩ vẫn không hề hay biết. Mãi đến ngày 27 tháng 7 năm 2011, trong chuyến cùng thân nhân gia đình liệt sĩ đi tìm hài cốt, khi đến khu vực cầu 79, ấp 5, xã Tân Lập, huyện Thạnh Hóa, Ban liên lạc Trung đoàn 207 vô tình được người dân cho biết, phía trong kia có miếu Bắc Bỏ thờ những chiến sĩ quê miền Bắc hy sinh năm 1973. Nhờ đó, câu chuyện về ngôi miếu Bắc Bỏ ân tình mới được Ban liên lạc bạn chiến đấu cựu chiến binh Trung đoàn 207 biết đến. Ông Phan Xuân Thi, Trưởng ban liên lạc kể lại: “Bữa đó, xe chạy tới cầu 79 thì dừng lại hỏi thăm đường. Thoáng nghe giọng miền Bắc, anh Đoàn Văn Xẹn, bán tạp hóa ngay chân cầu, hỏi: “Mấy chú đi kiếm miếu Bắc Bỏ phải hông?”. Tôi vội hỏi dồn: “Miếu gì mà sao anh kêu là miếu Bắc Bỏ?”. Anh Xẻn trả lời: “Bà con ở đây ai mà hổng biết. Miếu đó bà con tự dựng lên để thờ mấy chú bộ đội người miền Bắc hi sinh nằm lại ở Đồng Tháp Mười này nên mới có tên vậy đó”. Nghe tới đây, tôi thấy như có luồng điện chạy dọc sống lưng. Tôi quyết định mướn ghe máy chạy vào kiếm cái miếu. Hai bên bờ kênh tràm mọc san sát. Càng chạy tầm nhìn càng bị cản trở vì bây giờ chỉ còn tràm và tràm. Chạy khoảng 10 phút, tài xế cho ghe ghé vào một gò đất. Trên gò đất nổi là ngôi miếu với dòng chữ đầy ắp ân tình của những người dân ít học: “Hi sinh gì Tổ quốc”. Dẫu có sai chính tả do người hàng xóm của anh chị Tư Tờ mới học hết lớp 1 khắc chữ, “vì” lại viết thành “gì” nhưng chính dòng chữ giản dị ấy mới chứa đựng trong đó biết bao nghĩa tình của những người dân nghèo nơi đây. Đây cũng chính là quê hương thứ hai của các liệt sỹ. Dù không được trở về nơi chôn nhau cắt rốn nhưng các anh đã được nhân dân rạch Đá Biên coi như người thân yêu ruột thịt, lúc nào cũng có nén nhang, bát cơm, chén rượu để làm ấm lòng. Tôi đã bật khóc khi nhìn thấy ngôi miếu và khẳng định đây chính là nơi đồng đội của mình đã hy sinh trong hoàn cảnh bỏ xác. Ban liên lạc đã họp, đưa thông tin về đồng đội trên các phương tiện thông tin đại chúng, cử người trong Ban liên lạc thay nhau đi tìm danh tính liệt sỹ, phần lớn là anh em miền Bắc, trong đó 2/3 là sinh viên Đại học xây dựng mới nhập ngũ, tuổi đời còn rất trẻ”.

Thân nhân liệt sĩ từ các tỉnh phía Bắc khi được biết thông tin về nơi chiến đấu, hy sinh của các liệt sỹ đã vào tận nơi để hương khói cho người thân. Biết các anh đã được người dân hương khói bấy lâu nên các thân nhân cũng được an ủi phần nào. Có thân nhân liệt sĩ vừa nghe tin liền vượt hàng ngàn cây số vào tận nhà anh Tư Tờ và đem di ảnh người thân vào gửi anh thờ tại miếu.

Thế là, sau 40 năm kể từ ngày các anh hy sinh, rất nhiều gia đình thân nhân của 200 liệt sĩ, sau biết bao tháng ngày lang thang khắp nơi kiếm tìm, nay mới thấy. Gia đình liệt sĩ Nguyễn Văn Tế đã tốn hàng trăm triệu đồng đi tìm theo sự chỉ dẫn của các nhà ngoại cảm nhưng kết quả xét nghiệm ADN lại không đúng. Họ đã mang nhầm về quê bộ hài cốt liệt sĩ vô danh từ nghĩa trang Tam Nông ở tỉnh Đồng Tháp. Trong hoang mang, đau đớn tột cùng, tình cờ gặp được ông Phan Xuân Thi, họ mới biết, người thân của mình hy sinh ở Đá Biên. Ngày 27 tháng 7 năm 2011, khi ông Thi cùng gia đình liệt sĩ Nguyễn Văn Tế tìm về đây lại càng thêm đau đớn khi biết rằng, ngôi miếu Bắc Bỏ thờ liệt sĩ trung đoàn 207 đã có từ năm 1990. Một trận đánh có 200 liệt sĩ hy sinh, xương cốt của họ còn vương khắp vùng ngập nước ấp Đá Biên mà chỉ có một ngôi miếu thờ đơn sơ do một người dân nghèo là anh Tư Tờ cất lên mang tên “Bắc Bỏ”. Trời ơi! Chua xót quá!

Mặc dầu đã được sửa sang, tôn tạo tới 3 lần nhưng miếu Bắc Bỏ vẫn bé nhỏ đến tội nghiệp giữa mênh mông nước lũ. Mái lợp tôn, bốn bề trống hoác. Bao quanh lán lưa thưa vài gốc cây tràm làm bóng mát cho hương hồn gần 300 liệt sĩ. Bệ thờ là vỉa tường vài hàng gạch, trên láng xi măng, là nơi đặt bát nhang lớn và đồ tế lễ. Phía sau bệ thờ dựng một tấm tôn, treo lá quốc kỳ, dưới bày ba khung ảnh của các liệt sĩ sinh viên trường Đại học xây dựng. Đó là kỷ vật của ba gia đình gần đây biết tin về miếu Bắc Bỏ đã tìm về thắp nhang bái vọng người thân, gửi ảnh nhờ anh Tư Tờ cúng giỗ. Anh Tư Tờ cũng đau xót lắm. Anh bảo: “Nếu vợ chồng tui làm ăn khấm khá thì thế nào cũng sửa lại cái miếu cho đàng hoàng. Để lỡ khi người thân của mấy ảnh từ ngoài Bắc hay tin vô thăm, thấy cái miếu cũng đỡ tủi thân. Mà chắc tới chừng xây lại người ta sẽ không ghi tên là miếu Bắc Bỏ nữa đâu. Tên đó nghe buồn quá”.

“Cầu được ước thấy”. Sáng ngày 30 tháng 3 năm 2016, được sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo chính quyền địa phương, các thế hệ cán bộ, sinh viên Trường đại học xây dựng Hà Nội cùng các đồng đội, người thân của các liệt sỹ Trung đoàn 207 và nhân dân địa phương đã có mặt tại ấp Đá Biên để khởi công xây dựng Đài tưởng niệm nhằm tri ân sự hy sinh cao cả của các anh. Trong không khí trang nghiêm, đầy cảm xúc, PGS.TS Phạm Duy Hòa – Hiệu trưởng – đã thay mặt nhà trường bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các đồng chí lãnh đạo và nhân dân địa phương, những người dân bình dị như gia đình anh chị Tư Tờ, trong suốt những năm qua đã âm thầm, lặng lẽ hương khói cho các liệt sỹ là sinh viên của trường Đại học xây dựng và các trường bạn. Buổi lễ trào dâng niềm xúc động khi PGS.TS Phạm Duy Hoà cho biết, đoàn cán bộ và cựu sinh viên trường Đại học xây dựng đã mang theo hộp phù sa còn thấm đẫm nước sông Hồng, dòng sông đã nuôi dưỡng tâm hồn các anh và từ những hạt phù sa này đã mọc lên những cây ngô, bông lúa, nuôi các anh trưởng thành, bước vào giảng đường đại học rồi lên đường chiến đấu và hy sinh anh dũng trên chính mảnh đất này.

Xúc động nghẹn ngào trong buổi lễ, ông Đoàn Đức Chính, nguyên lính sinh viên Đại học xây dựng đã sáng tác bài thơ “Miếu Bắc Bó – Ngày ấy, bây giờ” ngay tại Khu tưởng niệm để tri ân các liệt sỹ Trung đoàn 207:

“Ngày ấy các bạn tôi

Đã nằm xuống nơi đây

Mấy chục năm nổi chìm

Không hương khói

Không thể tìm về quê cũ

Những “thằng lính sinh viên”

Chỉ còn biết ôm nhau mà “ngủ”

Dưới những gốc tràm trong rạch Đá Biên

Năm qua đi

Tháng qua đi

Các bạn tôi

Đã là những “Ông Thành Hoàng Làng Mũ Cối”

Chen chúc nhau ngồi nơi miếu nhỏ cô đơn

“Miếu Bắc Bỏ”

Ai đặt tên mà đau từng khúc ruột?

Ai đặt tên mà ướt đầm nước mắt?

Ai đặt tên mà nghẹn thắt con tim?

Những nông dân chân lấm tay bùn

Xì xụp khói hương

Thương những thằng con đất Bắc

Bỏ quê hương vào đây đánh giặc

Chiến tranh qua lâu rồi mà sao không về Bắc?

Chiến tranh qua lâu rồi sao chẳng có ai tìm?

Các Má, các Ba/ Hương khói, bánh quà

Trái ngọt vườn nhà mùa nào thức nấy

“Thôi thì tạm nhé tụi bay…”

Miếu Bắc Bỏ

Nhỏ nhoi bập bềnh con nước

Bao năm qua

Người thân và đồng đội

Khắc khoải đi tìm

Bao nước mắt cạn khô

Bao mẹ già heo hắt

Bao đứa em ngóng đợi anh về

Mà vẫn bặt tin

Nỗi đau buồn nặng lắm các bạn ơi

Bây giờ các bạn tôi

Đàng hoàng ngồi trong “Đền thờ Liệt sỹ”

Chẳng sợ nắng mưa

Chẳng lo nước nổi

Vẫn là những “Ông Thành Hoàng Làng Mũ Cối”

Vẫn là những “thằng sinh viên” trẻ mãi đến bây giờ”.

chú thích

Ảnh có cờ Tổ quốc là nơi thờ cúng cũ do dân lập nên.

Lời bàn của trang chủ

Nhà báo Hoàng Anh Sướng có công đi viết bài, xin ghi nhận.

Tuy nhiên, lời dẫn của anh tự mâu thuẫn với câu chuyện.

 Bà con và gia đình anh Tư Tờ lập miêu thờ vì mê tín tâm linh và lòng nhân ái, chứ không phải vì “ân tình”, “nghĩa tình cách mạng”. Anh Sướng quen viết theo quán tính tuyên truyền thôi.

 

Tranh luận với bạn hữu về chuyện cái Lu chống ngập ở Sài gòn HCM

Tranh luận với bạn hữu về chuyện cái Lu chống ngập ở Sài gòn HCM

Giang Nam LÃNG TỬ

***

Có một số bạn hữu bực bội nói “Chuyện cái nhà cô Xuân và cái lu nhỏ như con thỏ. Đất nước đang nóng bỏng thù trong giặc ngòai , ngay đất Sài gòn  ồn ã nhức nhối vụ  CƯỚP ĐẤT Thủ Thiêm, PHÁ NHÀ CƯỚP ĐẤT Vườn rau Lộc Hưng sao không bàn ?!

 Tôi nói lại, chuyện nào cũng cần bàn. Chuyện con ốc còn nhỏ hơn  chuyện con thỏ nữa kia. Vậy mà tục ngữ nói “lắng nghe con ốc, ta thấy cả đại dương” thì sao đây !  Xin đừng sốt ruột.

 

 

Rất nhiều tờ báo quốc doanh đặt tựa đề có vẻ “trang trọng” phát ngôn của PGS.TS Phan Thị Hồng Xuân và giải pháp dùng Lu mỗi gia đình chống ngập lụt Sài gòn. Thì ra các nhà báo dẫu là quốc doanh thỉnh thoảng cũng khá thâm thúy. Họ nhạy cảm biết vụ này sẽ là một scandal dữ dội và ăn khách. Hàng chục tờ báo chẳng quan tâm nội dung kỳ họp HĐND, chỉ chăm chú vào phát ngôn gây bão của nữ nghị Xuân.

Tràn ngập nhanh và mạnh trên mạng xã hội MXH là hình ảnh, videoclip Phan Thị Hồng Xuân và những cái lu thật và lu chế. Tôi không kể lại những lời mỉa mai, chửi rủa tràn ngập… Hiếm có tình trạng chỉ trích phê phán diễn ngôn quan chức nào lại ghê gớm như vụ này.

Phân tích nhanh bản videoclip

Ban đầu, đại biểu Xuân nói giọng thong thả bình thản, tuy nhiên câu cú lòng thòng, từ ngữ ngây ngô, gọi mỗi hộ gia đình là “cái nhà dân”. Tuy nhiên, khi liếc thấy chủ  tịch Nguyễn Thành Phong ngồi hàng ghế đầu cố nén phì cười và tay phó gần bên cũng cười  theo thì Thị Xuân chột dạ cũng vội cười lỏn lẻn hoạ theo và nói thêm một ít rằng “tôi chỉ góp ý kiến nhỏ thôi” (xin mời mở bài báo này, xem kỹ videoclip dài ước 7 phút thôi).

Nguồn:https://vtc.vn/chuyen-gia-van-hoa-thoa-ma-si-nhuc-pgs-phan-thi-hong-xuan-se-huy-diet-y-tuong-sang-tao-d486816.html

Báo chí đăng cả lý lẽ buồn nôn của một tay PGS.TS tên Phạm Ngọc Trung giảng viên HỌC VIỆN BÁO CHÍ TUYÊN TRUYỀN HÀ NỘI bênh vực thị Xuân rất lủng củng và sến. Anh chàng này nghe người ta chế giễu “phó giáo sư tiến sĩ” thì nổi khùng mà bênh  vực Xuân. anh ta chả hiểu cái lu thế nào!

 Ts Phan Thị Hồng Xuân ngang nhiên vi phạm Hiến pháp 2013

Điều 23. Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định. (Chương II. Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân)

 Ngoài đề xuất chống ngập bằng Lu hài hước và bất khả thi, bà Xuân còn có một đề xuất vi hiến. “Như chương trình vận động toàn dân không xả rác. TP.HCM cần khảo sát xem đối tượng, khu vực nào xả rác nhiều nhất. Đã đến lúc nghĩ đến việc ăn cây nào phải rào cây nấy. Thực tế, có một bộ phận người nhập cư không tuân thủ các quy định của thành phố. Có biện pháp nào mạnh mẽ hơn không? TP.HCM có thể yêu cầu họ trở về nơi cư trú cũ vì “Anh ơi đô thành ở đây em sống không quen”*[1], bà Xuân đề nghị.

Đề xuất này là vi phạm Hiến pháp vốn khẳng định quyền tự do đi lại và cư trú của người dân. Bà Xuân là đại biểu HĐND – người làm luật ở địa phương – mà không hiểu luật.

Khi bị MXH phản ứng, chị Xuân không tranh luận được, mà quay ra giơ Luật An Ninh Mạng lên để đọa nạt. Chị đã phạm tội vi hiến và chọc giận xúc phạm những người nhập cư, khiến họ nhắn tin đe dọa “lấy mạng” chị vì bức xúc quá (không phải vì cái Lu chống ngập như chị lu loa). Chị đã phải khóa Fb cá nhân rồi. Chị đừng sợ, họ nói cho hả giận thôi mà… Chị bị sốc, xấu hổ không dám đến  cơ quan làm việc, không đến  trường giảng dạy và đã xin nghỉ phép để hồi tỉnh lại.

 Phó chủ tịch thành HCM Võ Văn Hoan bênh vực Ts Xuân rất hài

(lấy bài hát làm luận cứ khoa học)

Dự án chống ngập 33.200 tỷ đồng với 97 dự án, 2 chương trình, ngập vẫn hoàn ngập

Phó chủ tịch Võ Văn Hoan ngứa miệng dẫn lời nhạc Trịnh “phố bỗng là dòng sông uốn quanh“, ông Hoan nói: “Ngập của thành phố phần nào là một hình ảnh rất đẹp” (báo Phụ nữ online)

Ông Hoan dẫn nhạc của Trịnh Công Sơn

 “Em còn nhớ hay em đã quên ?

Trong lòng phố mưa đêm trói chân,

 Dưới hiên nhà, nước dâng tràn,

Phố bỗng là dòng sông uốn quanh” .

Sau cùng, ông Hoan mong mỏi, trong quá trình chỉnh trang đô thị, cần sự thông cảm của người dân:“Ngập là một đặc điểm rất tự nhiên của thành phố”.
và kết luận, “việc ngập của thành phố phần nào là một hình ảnh… rất đẹp

https://www.phunuonline.com.vn/…/33200-ty-dong-97-du…/.

Sau phát ngôn chiếc Lu của nghị Xuân, báo chí đến hỏi thăm phó chủ SG-HCM, ông Hoan nói “Xin thông cảm với cô Xuân…ý cô ấy nói “chiếc lu”, tức là sau này chúng ta đào nhiều cái Hồ chứa nước” (?)

Phải chăng PGD.TS Phan Thị Hồng Xuân là thiên sứ báo trước cho dân Sài Gòn chuẩn bị LU để phòng ngày đại ngập nước ?  (Từ thành phố này chị đã tiên tri – lời hát đồng dao). Đảng bộ và Nhân dân Sài gòn phải mang ơn chị  một nhà khoa học tâm huyết và sáng tạo” hiếm có, một đại biểu HĐND hết lòng lo cho dân, đừng nên chế giễu mới phải. Thành phố nên đem tặng chị 32 000 tỷ để đặt mua lu gốm Đồng Nai lẹ lên là vừa. Tỉnh Đồng Nai chuẩn bị lập đền thờ chị có công phát triển nghề gốm sứ là vừa.

Cư dân mạng đã tìm tòi và phát hiện cái “Lu” Nhật bản chống ngập mà chị ts Xuân viện dẫn ra để bảo vệ quan điểm của mình, đúng là có thật. Có điều nó không giống cái lu ở quê nhà Đồng Tháp của chị Xuân. Nó là cái hầm ngầm gần ngoại ô Tokyo dài rộng nhiều nghìn mét, được đầu tư “chỉ có” 2,4 tỷ đô thôi. Nó có đường dẫn ra con sông phòng khi ngập bể chứa. Chi Xuân đi hội nghị ngoại ngữ không thông, nghe cái hầm ra cái Lu.

Nghe nói Đại diện tổ chức JICA của Nhật bản đã lên tiếng bác bỏ viện dẫn chiếc Lu vô căn cứ của chị Xuân.

Xem xét kỹ học vị  tiến sĩ của Phan Thị Hồng Xuân

Té ra Malaysia là cái ổ chuột, đẻ ra khối tiến sĩ ở nước mình để làm lãnh đạo. Phát hiện của tiến sĩ Nguyen Ngoc Chu quả thật tê tái đến rợn người.

“Bà Phan Thị Hồng Xuân chẳng qua là phận “nữ nhi liễu yếu đào tơ”, không quá đáng trách. Đáng chê trách là kẻ đã quy hoạch bà Xuân đứng vào hàng ngũ lãnh đạo. Đáng chê trách hơn nữa là những đấng mày râu, quyền cao chức trọng hơn bà Xuân mà còn phát biểu ngô nghê hơn cả bà Xuân (nhà văn  Phạm Lưu Vũ).

Đề tài nghiên cứu tiến sĩ vu vơ, không kiểm chứng được.

Đề tài nghiên cứu khoa học phần lớn là không có giới hạn quốc gia, chẳng hạn như toán học. Và người nước này vẫn có thể nghiên cứu về vấn đề của nước khác. Nhưng 2 trường hợp dưới đây thì phải đặt dấu hỏi.

Ông Phùng Xuân Nhạ đã làm tiến sĩ nhờ vào Malaysia mà người Malysia không hề biết. Năm 1999, ông Nhạ bảo vệ Tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế với luận án có tên “Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quá trình công nghiệp hóa ở Malaysia” tại Viện Kinh tế thế giới, thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội.

Đúng ra “Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quá trình công nghiệp hóa ở Malaysia” là của người Malaysia, thì phải là người Malaysia nghiên cứu và đánh giá. Hà cớ chi người Việt Nam ở xa lắc xa lơ lại vơ lấy làm đề tài nghiên cứu khoa học cho mình?

Lỡ rồi, lẽ ra chí ít cũng gửi cho các nhà khoa học Malaysia phản biện, thì cũng còn có chút khách quan; Đàng này mấy người Việt tự đánh giá, rồi tự phong cho nhau học vị tiến sĩ!

Nay đến lượt bà Phan Thị Hồng Xuân theo bước ông Phùng Xuân Nhạ, cũng lấy đề tài Malaysia: “Cộng đồng người nhập cư và mối quan hệ tộc người ở Liên bang Malaysia” để làm Luận án Tiến sĩ. Rõ ràng luận án của bà Xuân cũng không được giới khoa học Malaysia phản biện. Liệu có ích gì cho Malaysia. Càng vô ích hơn cho Việt Nam.

Thiết nghĩ bây giờ mà đem Luận án Tiến sĩ của ông Phùng Xuân Nhạ và bà Phan Thị Hồng Xuân cho các nhà khoa học Malaysia đánh giá, thì sẽ là một scandal hài hước, với kết cục muối mặt ê chề cho phía Việt Nam.

Sao không lấy đề tài của nước mình mà phải lấy đề tài của nước khác? Ấy là để tránh kiểm chứng. Ấy là vì không muốn có thước đo ở trong nước.

Tạm không bàn về trình độ chuyên môn của bà Xuân. Chỉ bàn về “Mục đích nghiên cứu”. Đề tài Luận án Tiến sĩ là do thầy hướng dẫn khoa học quyết định. Từ đó để thấy nguyên nhân số 1 là lỗi ở các thầy hướng dẫn khoa học. Còn có các nguyên do khác nữa, nhưng không phải là đối tượng thảo luận ở đây. Mà chỉ muốn lưu ý rằng, những người như bà Xuân thì đừng tranh làm cán bộ. Chức tước của bà Xuân song hành với quyền quyết định, thì sẽ cõng tai họa về cho cộng đồng.

Tiến sĩ Dân tộc học sao lại làm trưởng khoa Đô thị học?

Câu hỏi dành cho Hiệu trưởng Trường ĐHKHXH & NV tp.HCM ?

Không khó để có được bản “Lý lịch khoa học” của cô Xuân

Ban đầu cô Xuân đi học cử nhân ngành Đông Nam Á học tại Đại học Mở Bán công HCM. Xin mọi người nhớ lại, thời điểm năm 1991, vô ĐH Mở Bán công không phải thi đầu vào mà chỉ đánh trống ghi danh, nộp tiền (tương tự một kiểu Trung tâm Giáo dục Thường xuyên cấp 4). Tự lượng sức mình, không thể thi tuyển chen chân vào đại học chính qui với hàng vạn thí sinh, cô Xuân đã ghi danh vào đây.

(Luận văn tốt nghiệp của cô là “Bước đầu tìm hiểu dân tộc học Malaysia”).

Năm 1999, cô Xuân lại học thạc sĩ ở Trường ĐH KHXH&NV, ngành Dân tộc học. Luận văn thạc sĩ là “Người Malaysia và mối quan hệ tộc người ở Liên bang Malaysia”. Biết tí ngoại ngữ thì cứ lấy tài liệu của nước bạn chép một phát là thành luận văn ngay chứ khó gì đâu (không đủ ngoại ngữ thì thuê người dịch)!

Đến năm 2003 Xuân lại tiếp tục học tiến sĩ ngành dân tộc học ở Trường ĐH KHXH&NV Sài Gòn. Luận án tiến sĩ vẫn là đề tài cũ rích về Malaysia: “Cộng đồng người nhập cư và mối quan hệ tộc người ở Liên bang Malaysia”.

Vấn đề đặt ra là, tại sao cô Xuân học về Dân tộc học mà lại được đưa về làm Trưởng khoa Đô thị học? Khoa Đô thị học còn khá non trẻ, trước đây Trưởng khoa là nhà Xã hội học lẫy lừng PGS.TS Nguyễn Minh Hoà. Sau đó, người tiền nhiệm của cô Xuân là TS Trương Hoàng Trương, tiến sĩ chính gốc về Khoa đô thị học tại Pháp bị đẩy từ Trưởng khoa làm Trưởng bộ môn… Nhưng vì sao Hiệu trưởng cần phải đẩy người đúng chuyên môn xuống để kéo cho được cô Ts Dân tộc học về làm Trưởng khoa ? Chưa hết, chẳng bao lâu cô Xuân lại đưa học trò do mình đang hướng dẫn đề tài lên làm Phó Trưởng khoa Đô thị Học. Đó là Võ Thanh Tuyền, nguyên là chuyên viên Phòng Tổ chức cán bộ của trường, nay Tuyền hiện đang làm nghiên cứu sinh Dân tộc học do cô Xuân hướng dẫn). (Có tin cho biết UVTW Đảng, bộ trưởng GTVT Nguyễn Văn Thể là cậu ruột của Xuân). Thì ra là COCC, con ông cháu cậu cũng đáng ưu tiên lắm sao ? (14/07/2019 by dangmang).

Nhìn vào danh sách lãnh đạo của Khoa Đô thị học thật buồn cười. Hai cô trò là tiến sĩ và nghiên cứu sinh Dân tộc học (thuộc khoa Sử, khoa học cơ bản) lại đi lãnh đạo và đào tạo ngành Đô Thị Học (khoa học ứng dụng) ! Ô hay, chẳng lẽ trường ĐH KHXH&NV hết người rồi hay sao? Lẽ nào quy định của Bộ cho phép bổ nhiệm tréo ngoe hài hước như thế này?

Trên website của nhà trường giới thiệu về “tầm nhìn, sứ mệnh” của khoa Đô thị học như sau:

Khoa Đô thị học có nhiệm vụ nâng cao dân trí về lĩnh vực đô thị; trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc công nghiệp hóa – đô thị hóa ở các cấp độ khác nhau (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ).

Chưa học hành nghiên cứu đô thị ngày nào mà bắt cô ấy “hiến kế chống ngập” ư ? Cho nên, cô ấy nói bậy là điều dễ hiểu. Chỉ thương cho đàn sinh viên đang được “đào tạo” bằng những PGS.TS kiểu này. Không biết tương lai của chúng đi về đâu! (Blogger Hoàng Mạnh Hà (blog. Một gia đình)

Vào xem trang Web và Fb của khoa Đô thị học do chị Ts Xuân lãnh đạo, tôi nhận thấy chỉ toàn quảng cáo chiêu sinh với những lời có cánh… Ngoài ra nội dung nghèo nàn xơ xác. Có sinh viên đã vô Web, Fb hỏi: “cô ơi năm tới có mở khoa Lu học, Chum học không ạ, học phí bao nhiêu” ? Và câu hỏi khác: “ra trường thì ai thuê, đi làm việc ở đâu ạ?”- Quản trị trang không trả lời !

Các địa chỉ “nâng đỡ cô Xuân không trong sáng” ?

Câu hỏỉ dành cho: Liên hiệp các hội KHKT tp.HCM và Lãnh đạo trường ĐHKHXH- NV và Lãnh đạo Đảng TP.HCM ?

Có vô số Phan Thị Hồng Xuân trong hàng ngũ lãnh đạo, hàng ngàn người như thế.

Bà Phan Thị Hồng Xuân chẳng qua là phận “nữ nhi liễu yếu đào tơ”, không quá đáng trách. Đáng chê trách là kẻ đã quy hoạch bà Xuân đứng vào hàng ngũ lãnh đạo.

Chuyện chị Ts Xuân đưa sáng kiến cái Lu chống ngập, nhìn bề ngoài quả là chỉ “nhỏ như con thỏ”. Tuy nhiên xung quanh thân thế vị đại biểu Hội đồng Nhân dân Tp.HCM với nhiều chức vụ hoành tráng khác, chuyện nhà khoa học “tâm huyết, sáng tạo” đã học hành ra sao, bổ nhiệm quan chức  thế nào, ấy là chuyện không hề nhỏ của chế độ chính sách “tổ chức cán bộ XHCN”. Phải không các bạn ?

Tại sao có vô số ông bà như kiểu Phan Thị Hồng Xuân trong hàng ngũ lãnh đạo” ? – đó mới là điều day dứt tê tái của mỗi chúng ta !

“Hàng ngàn ông bà như Phan Thị Hồng Xuân trong hàng ngũ lãnh đạo là hậu quả thảm hại của chính sách “quy hoạch cán bộ”. Quy hoạch cán bộ là phương thức chủ quan giáo điều, phi khoa học, đi ngược với tự do cạnh tranh, nên không bao giờ chọn được người tài đích thực. Còn quy hoạch cán bộ kiểu này thì còn hàng ngàn ông bà Phan Thị Hồng Xuân đua nhau kìm hãm trí tuệ và tàn phá sinh lực Đất nước” (nhà văn Phạm Lưu Vũ than thở).

Kết

Ts Xuân và cái Lu huyền thoại – điềm gở báo tương lai của ai đây?

 Nhiều nước đều có truyền thuyết về cái Lu và biến thể của nó.

Kinh Cựu Ước mô tả một cơn đại hồng thủy từng giết sạch cả loài người ngu muội, độc ác trên mặt đất, chỉ cho sống sót một gia đình không ngu. Kinh thánh đã mô tả “chiếc lu” thần kỳ chống lụt. Chúa Trời chỉ dẫn cho dân chúng chui vào chiếc lu ấy để thoát nạn. Người ta gọi nó là con tàu Noeh (Hebrew Nōaḥ: truyền thuyết Do thái: một tộc trưởng đã chế tạo chiếc thuyền hình vuông trong đó anh ta, gia đình anh và các sinh vật đại diện mỗi loài vật được Chúa cứu sống sót sau trận đại hồng thủy).

Truyện “Trái bầu mẹ” cổ tích Việt Nam cũng ghi nhận “trái bầu” cứu chủng tộc  Việt  một lần khỏi bị tuyệt giống (coi như tiền thân của“chiếc lu” thần kỳ Ts Xuân).

VIệt Nam hoặc Sài Gòn, có thể một ngày xấu trời, sẽ xảy ra đại hồng thủy.

Cái Lu của chị Xuân, con thuyền Noah hiện đại, dùng để cứu sống những ai ?

GN

[1] “Tàu về Quê Hương”, ca khúc trước 1975, tác giả Hồng Vân Trần Quý. 

 

“Hà Nội phố”- bài thơ ẩn dụ phản chiến và phản biện của nhà thơ Phan Vũ

“Hà Nội phố”- bài thơ ẩn dụ phản chiến và phản biện của nhà thơ Phan Vũ* [1]

 Phùng Hoài Ngọc

*đăng VNTB ngày 28/7/2019 **

Ngày 15 tháng 7 năm 2019 Phan Vũ  nhà thơ được mệnh danh là “ông Hà Nội phố” qua đời tại Sài Gòn phố thọ 93 tuổi.

.Hai áng thơ bất hủ về Thăng Long- Hà Nội

 Khó mà liệt kê hết những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc về Thăng Long- Hà Nội đa dạng  phong phú chủ đề, từ thời trung cổ đến bây giờ. Tuy nhiên nếu chọn theo chủ đề hoài cổ thì tôi chọn hai tác phẩm.

 Sau 1802 Bà Huyện Thanh Quan nữ quan của thời nhà Nguyễn viết bài thơ Nôm Thăng Long thành hoài cổ. Bà làm bài thơ này khoảng sau năm 1802, khi Nguyễn Ánh đánh thắng phong trào Tây Sơn, lên ngôi lấy hiệu Gia Long và định đô ở Huế. Từ đó, Thăng Long mất địa vị trung tâm của đất nước về chính trị và văn hóa.Bài thơ tả cảnh tang thương của Thăng Long, với tâm tình hoài cổ. Nỗi đoạn trường của tác giả trước cảnh hoang tàn của cố đô đất Bắc.

    Một trăm bảy chục năm sau.

Năm 1972,Phan Vũ thi sĩ thời Việt Nam dân chủ cộng hòa viết bài thơ “Hà Nội phố”.

Phan Vũ bật lên cảm hứng viết bài thơ dài trong 12 ngày đêm cuộc oanh tạc của máy bay Mỹ xuống Hà Nội cuối năm 1972.

Tuy nhiên có điều lạ lùng, nhà thơ không miêu tả đối phương và chẳng bộc lộ căm thù. Chỉ tả cảnh bom đạn vài câu, có “căn nhà đổ”, phần lớn nói về cảnh phố và người Hà Nội “còn” và “mất”. dường như tích lũy trong suốt cuộc đời nhà thơ đã chứng kiến, qua gần 20 năm sống ở Hà Nội. Phố và người Hà Nội được hô gọi chung là hình tượng “em” .

Trong nhiều bài báo giới thiệu bài thơ “Hà Nội- phố” của Phan Vũ và ca khúc “Em ơi Hà Nội phố” của Phú Quang, không ít nhà báo tỏ ra hiểu nông cạn, hời hợt về bài thơ. Biết vậy nhưng cũng chẳng có ai tranh luận lại. Vì sao ? Nhà thơ cũng chẳng lên tiếng phản biện. Nhiều nhà báo bình thường, kể cả nhà báo chuyên mục văn học nghệ thuật của báo chí quốc doanh, thảy đều không đọc hiểu được tầng nghĩa sâu xa của “Hà Nội phố”. Họ chỉ nhắc tới cái bối cảnh 12 ngày đêm cuối năm 1972 máy bay Mỹ oanh tạc Hà Nội…Họ loay hoay cho rằng bài thơ “Hà Nội- phố” của Phan Vũ nói lên cái “ý chí hiên ngang anh dũng hoặc gan lỳ của người dân HN trong cuộc chiến trên không Việt- Mỹ, bất chấp khó khăn gian khổ (!) v.v…”.  Thậm chí, Đài truyền hình Hanoi TV khi mở cầu truyền hình kết hợp với báo Nhân Dân và Đoàn phòng không Hà Nội đã đặt chủ đề logo là “Hà Nội bản hùng ca”. Cũng lạ cho đám đạo diễn, họ mời nhà thơ Phan Vũ từ Sài Gòn và nhạc sĩ Phú Quang ra thủ đô đọc bài thơ dài 443 câu và hát ca khúc “Em ơi Hà Nội phố”… Thôi thì, vẫn biết họ cố ép bài thơ vào chủ đề “Bản hùng ca Hà Nội” để ăn theo tên tuổi hai nghệ sĩ nổi tiếng nhưng cũng chẳng ai nỡ chối từ, dù biết tác phẩm của mình chẳng phải “hùng ca” mà thực chất là “bi ca”.

 Tôi cũng muốn viết bài tranh luận khi đọc các bài báo nông cạn và lệch lạc kia.Nhưng lại nghĩ, có thể nhà phê bình cũng biết đấy, nhưng không ai muốn “dính dáng” khuấy động một chủ đề nhạy cảm, phức tạp, có thể gây bất lợi cho nhà thơ.

Chợt nghe tin buồn nhà thơ Phan Vũ đã từ giã tất cả trở về cõi vĩnh hằng, tôi kiên quyết phải viết ra một lần. Coi như một nén tâm nhang kính viếng nhà thơ tôi cảm phục từ bấy lâu. Làm nghề nghiên cứu và dạy văn ở đại học với phương pháp khoa học đọc hiểu văn chương, tôi thấy cần nêu lên quan niệm đúng đắn về bài thơ, với lý lẽ, bằng chứng và có tham khảo ý kiến của chính nhà thơ Phan Vũ. Thực ra, một văn bản rõ ràng như bài thơ dài 24 khổ thơ đã nói lên tất cả nội hàm và ngoại diên dù không cần phải viện dẫn bằng ý kiến quan điểm của nhà thơ. Mặt khác, người viết cũng đã gắn bó hầu hết thời tuổi trẻ của mình với phố và người Hà Nội, cũng có xúc cảm thực sự để bàn chuyện thơ với những bạn tri âm, những người được nhà thơ đề tặng với phụ đề “Gửi những người Hà Nội đi xa” trong đó có tôi.

Câu thơ bất hủ của Bà Huyện Thanh Quan dẫn dắt đi tới ý thơ cho Phan Vũ:

“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

nền cũ lâu đài bóng tịch dương”

Hai câu thơ cổ điển thuở xa xưa về một kinh đô Thăng Long hai thế kỷ trước đã làm chúng ta rung động. Huống hồ những xót đau, mất mát cả về vật chất và tinh thần của thời hiện đại trên phố phường Hà Nội.

Thơ ca nghệ thuật chân chính là một dòng chảy bất tận từ quá khứ tới hiện tại. Phan Vũ không thể không biết hai câu thơ bất hủ của tiền nhân.

Hai câu thơ nổi bật nhất của Bà Huyện Thanh Quang cũng tạo ra tiểu đối giữa “còn” và “mất”:

Dấu xưa xe ngựa, hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài, bóng tịch dương”.

 Còn: Cỏ mùa thu chứa đựng linh hồn trên lối cũ. Mất : Xe ngựa

Còn: nền cũ bóng hoàng hôn phủ kín. Mất: Lâu đài.

Nhà thơ Phan Vũ tâm sự “Tôi cũng phải nói thêm, điệp từ Ta còn em còn có nghĩa “ta mất em…”.Đó là sự tiếc nuối về những gì “thật Hà Nội” không còn nữa!

“Mất”, không chỉ do chiến tranh mà còn vì những sai lầm, những vô ý, vô tình của người đời, không ngoại trừ sự quên lãng của thời gian, đã gây ra những đổ vỡ không thể hàn gắn được.

 Lần lượt 45 lần kể tả những cái “ta còn”. Và những cái “ta mất” được kể xen  kẽ khéo léo, tinh tế hơn.

Cái còn lại cuối cùng là “a còn em một màu xanh thời gian” được coi là câu  thơ lung linh trác tuyệt vào bậc nhất bài thơ dài.

Ta mất gì?

 Cái vế ẩn khuất của bài thơ là “Ta đã mất”. Nhạc sĩ không thể hay không dám đưa vào ca khúc.

Thơ trữ tình đặc biệt lắm, cái vô thanh có thể thắng cái hữu thanh khi đặt kề nhau, gần giống như âm nhạc vậy. Ngày xưa các cụ nói thơ cổ điển “ý tại ngôn ngoại” (ý thơ ở ngoài lời) là thế.

Tả những cái mất mát thật tinh tế.

Ca sĩ mất khán giá:

Trống không ô cửa.
Tiếng hát Trương Chi.
ca ngợi số nhà

Chiếc thuyền mất bến đỗ:

Cơn mưa đầy
Những hố sâu trước cửa,
Chiếc thuyền giấy lang thang
Không bến đỗ
”.

Bông hoa mất sức sống:

Dàn thiên lý đã chết khô!
Năm xưa,
Những chùm hoa,
Thơm hò hẹn.
Cuộc tình đầu ngọt lịm
”.

Căn nhà thiếu bóng người:

Căn phòng trống bỗng mênh mang bóng lẻ.
Nửa đêm đành mở cửa ra đi,
Những bước liêu xiêu
”,

Và nhiều mất mát khác, trải ra theo từng khổ thơ, song song với “ta còn Em”.

Em là ai ?

“Em” là tất cả dồn dập các hình ảnh, âm vang, dáng điệu, hương vị, niềm vui nỗi đau…của Hà Nội được kể lần lượt, xối xả, trăn trở suốt bài thơ dài 443 câu. Trong thơ Phan Vũ, một Hà Nội không chỉ là băm sáu phố phường, không chỉ là những con ngõ nhỏ nhuốm mùi thời gian. Hà Nội ấy còn là những mảnh đời, những thân phận của người phu xe đợi khách đầu ô, những kẻ nghèo khuya thức, tiếng rao đêm lạc giọng, cô gái chơi đàn khuya trên gác… còn là những nghệ sĩ đầy tâm trạng say sưa và u ẩn. Một quang cảnh Hà Nội chủ đạo gam màu xám, xanh, rêu phong với hàng trăm bức họa xếp bên nhau như một triển lãm.

Hà Nội phố chẳng phải là một lời thủ thỉ tự tình với một cô người yêu cụ thể. Nó chính là một tiếng kêu thương tha thiết… Tháng Chạp bi tráng năm ấy chỉ là ngòi nổ chất chứa nửa thế kỷ u uẩn cuộc đời trải nghiệm của nhà thơ cùng  sự thăng trầm của “Hà Nội cũ” chuyển sang “Hà Nội mới” mà bùng lên thành bài thơ da diết lạ.

Phan Vũ kể “Ngày ấy, có một nhà thơ lớn khi đọc bài thơ này đã thật lòng khuyên tôi không nên phổ biến vì có thể chuốc vạ vào thân. Tôi cũng mệt mỏi vì nhiều sự phiền hà văn chương của giai đoạn ấy nên cũng nghe lời bỏ xó”.

Cho đến năm 1985,  Phan Vũ đọc thơ cho Phú Quang nghe ở Sài Gòn. Nhạc sĩ phổ ngay một bản nhạc với tựa đề “Em ơi Hà Nội phố”. Khi nhà xuất bản âm nhạc Dihavina thu băng phát hành còn để ca khúc này ở mặt B (vì nhút nhát e sợ che bớt đi). May mắn thay ca khúc lại đoạt ngay giải thưởng lớn- giải thưởng đầu tiên làm nên tên tuổi Phú Quang

Nhà thơ Phan Vũ nhắc đến những người bạn cùng lứa, cùng thời của nhóm văn nghệ “Nhân văn- Giai phẩm”. Ông nói “Tôi cũng nghĩ tới những người bạn đã kết thân khi tôi từ miền Nam trở về Hà Nội năm 1956 (Phan Vũ đi vào Nam trong đoàn văn nghệ kháng chiến chống Pháp), đó là các anh Tử Phác, Đặng Đình Hưng, Trần Dần, Lê Đạt, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên, Phùng Quán, Phùng Cung, Hoàng Cầm, Hữu Loan… Tất cả các anh ấy đều có một số phận không may và đã lần lượt kéo nhau ra đi về “Bến lạ” (tên một tập thơ của Đặng Đình Hưng). Và tôi lại trở thành một trong những kẻ sống sót để thụ hưởng những gì mà đáng lẽ các anh ấy đều được hưởng.

Mỗi lời tâm sự của nhà thơ gói vào đó thông điệp  giấu kín bổ sung cho bài thơ đặc sắc.

Bài thơ có hàng trăm câu thơ đẹp kỳ lạ, rất mộc mạc, chủ yếu ở từ ngữ hình ảnh sinh động, gọi cảm, gọi liên tưởng, suy tư.

Tôi ghi lại một cách vội vàng, theo sự tình cờ, bất chợt, không xếp đặt”. (Phan Vũ nói)

 Đúng vậy, 24 khổ thơ cùng một cấu tứ chồng chất lên nhau, còn và MẤT

Nghệ sĩ Hà Nội được tả trong một hình ảnh say mê kỳ lạ:

Người nghệ sĩ lang thang hè phố
Bơ vơ
Không nhớ nổi con đường.
ngay trước cổng nhà mẹ cha”.

Một cây bàng, một góc phố mùa đông như con người:

Ta còn em cây bàng mùa côi mùa đông

Ta còn em góc phố mồ côi mùa đông

 Năm 1987Em ơi Hà Nội phố” ca khúc nhạc sĩ Phú Quang lên sóng.

Nhạc sĩ chỉ chọn lại  21 câu, chỉ có “ta còn em” và bỏ hầu hết những cái “mất”.

Em ơi, Hà Nội phố
“Em ơi, Hà Nội phố
Ta còn em mùi hoàng lan
Ta còn em mùi hoa sữa
Con đường vắng rì rào cơn mưa nhỏ
Ai đó chờ ai tóc xõa vai mềm

Ta còn em cây bàng mồ côi mùa đông
Ta còn em nóc phố mồ côi mùa đông
Mảnh trăng mồ côi mùa đông

Mùa đông năm ấy
Tiếng dương cầm trong căn nhà đổ
Tan lễ chiều sao còn vọng tiếng chuông ngân
Ta còn em một màu xanh thời gian
Một chiều phai tóc em bay
Chợt nhòa, chợt hiện
Người nghệ sĩ lang thang hoài trên phố
Bỗng thấy mình chẳng nhớ nổi một con đường

Ta còn em hàng phố cũ rêu phong
Và từng mái ngói xô nghiêng
Nao nao kỷ niệm
Chiều Hồ Tây lao xao hoài con sóng
Chợt hoàng hôn về tự bao giờ

Rất có thể hàng trăm ca sĩ hát không hề biết đến bản gốc cùa Thơ Phan Vũ.

Năm 2008 bài thơ của Phan Vũ mới được phép xuất bản chính thức ở NXB Văn Học. Ông đổi tựa đề theo tên ca khúc Phú Quang. Suốt nửa thế kỷ tác gải đả sửa nhiều câu chữ (do đó lưu truyền chép tay tam sao thất bản)  nên hiện nay ông công bố đây là bản chính.

Kết

 Nghệ thuật quả là một dòng chảy liên tục và bất tận.

 Nhạc sĩ thi nhân Trịnh Công Sơn đã nối tiếp cảm hứng Phan Vũ và kết bài hát  “Nhớ mùa thu Hà Nội” như một tri âm tri kỷ.

Hà Nội mùa thu đi giữa mọi người,
lòng như thầm hỏi, tôi đang nhớ ai,
sẽ có một ngày
, trời thu Hà Nội trả lời cho tôi,
sẽ có một ngày
, từng con đường nhỏ trả lời cho tôi !

 Nhạc sĩ đòi thành phố Hà Nội phải trả lời “câu hỏi” gì vậy ?

Đó là chỗ uẩn súc của thi ca gợi lên từ Phan Vũ, nối tiếp đến nhạc Trịnh và gửi đến mọi người.

 Vâng, tôi tin sẽ có một ngày trời thu Hà Nội trả lời cho các nghệ sĩ, nhà thơ Phan Vũ và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Nghe ca sĩ Lệ Thu thu âm đầu tiên: https://www.youtube.com/watch?v=_D6M4WML9iM

Mời đọc toàn văn bài thơ “Hà Nội phố” của Phan Vũ:

1/ https://www.thivien.net/Phan-V%C5%A9/H%C3%A0-N%E1%BB%99i-ph%E1%BB%91/poem-cFCa0wn9ZwJZJ5nwtlsQmQ

2/ https://wordpress.com/post/giangnamlangtu.wordpress.com/33739

*[1]: Phan Vũ, tên thật là Trần Hồng Hải, sinh năm 1926 tại Hải Phòng. Ông là nhà thơ, nhà viết kịch, đạo diễn sân khấu, điện ảnh. Năm 1954 ông làm việc tại Hà Nội. Sau ngày đất nước thống nhất, Phan Vũ định cư ở TP HCM. Ông là đạo diễn và kịch bản một số phim và sân khấu (các tác phẩm không để lại dấu ấn trong khán giả nên không cần nhắc lại). Phan Vũ sau “Hà Nội phố” chuyển qua vẽ tranh, có mở phòng tranh là gallery Phan Vũ (đường Nguyễn Trọng Tuyển, TP.HCM).

 

 

Hà Nội phố

Hà Nội phố

thơ Phan Vũ

Gửi những người Hà Nội đi xa

1.
Em ơi! Hà Nội – phố!
Ta còn em mùi hoàng lan.
Ta còn em mùi hoa sữa.
Tiếng giày ai gõ nhịp đường khuya?
Cọt kẹt bước chân quen.
Thang gác thời gian
Mòn thân gỗ.
Ngôi sao lẻ lạc vào căn xép nhỏ…

Ta còn em chấm lửa
Điếu thuốc cuối cùng,
Xập xoè.
Kỷ niệm…
Một con đường
Một ngôi nhà
Khuôn mặt ai
Dừng trong khung cửa…
Những phong thư bỏ quên trong hộc tủ
Không tên người,
Không tên phố.
Người gửi không tên.
Ta còn em chút vang động lặng im,
Âm âm tiếng gọi
Trong lòng phố…

2.

Em ơi! Hà Nội – phố
Ta còn em một gốc cây,
Một cột đèn.
Ai đó chờ ai?
Tóc cắt ngang
Xoã xoã bờ vai,

Khung trời gió.
Con đường như bỏ ngỏ…

Ta còn em khăn choàng màu tím đỏ
Thoáng qua…
Khuôn mặt chưa quen.
Bỗng xôn xao nỗi khổ.
Mỗi góc phố một trang tình sử

3.

Em ơi! Hà Nội – phố!
Ta còn em rì rào hạt nhỏ,
Cơn mưa chợt đến trong chùm lá
Vòm trên cao chuông hồi đổ,
Nhà thờ Cửa Bắc,
Tan chiều lễ
Kinh cầu còn mãi ngân nga…

Ta còn em đôi mắt buồn
Dõi cánh chim xa.
Trên hè phố
Gã Trương Chi ôm ghi ta.
Ngước lên cửa sổ,
Có một ngày…
Trống không ô cửa.
Tiếng hát Trương Chi.
Ngợi số nhà…

Ta còn em chuyến tàu khuya
Về muộn
Vào ga…

4.
Em ơi ! Hà Nội – phố
Ta còn em quả bóng lăn,
Một mình,
Trên sân cỏ.

Cơn mưa đầy
Những hố sâu trước cửa,
Chiếc thuyền giấy lang thang
Không bến đỗ
Thằng bé qua tuổi thơ vội vã,
Chợt ngẩn ngơ
Với bóng nước lung linh!
Bầu trời.
Khoảng lạ!

Ta còn em cánh cửa sắt
Lâu ngày không mở.
Nhà ai?
Qua đó, nao nao nhớ tuổi học trò…

Dàn thiên lý đã chết khô!
Năm xưa,
Những chùm hoa,
Thơm hò hẹn.
Cuộc tình đầu ngọt lịm.
Nụ hôn còn xanh mãi trên môi…

5.
Em ơi! Hà Nội – phố
Ta còn em chuỗi cười vừa dứt
Chút nắng vàng le lói vườn hoang,
Vàng ngọn cỏ.
Cô gái khẽ buông rèm cửa,
Anh chàng lệch mũ đi qua,
Lời tỏ tình đêm qua dang dở…

Ta còn em ngày vui cũ,
Tàn theo mùa hạ.
Tiếng ghi ta bập bùng tự sự,
Đêm kinh kỳ thủa ấy xanh lơ…

6.
Ta còn em tiếng tích tắc
Chiếc đồng hồ quả lắc già nua
Đếm thời gian theo nhịp đong đưa,
Những tiếng quen
Ngán ngẩm,
Mệt nhoài…

Căn phòng trống bỗng mênh mang bóng lẻ.
Nửa đêm đành mở cửa ra đi,
Những bước liêu xiêu,
Miền u tịch dọc dài,
Hàng soan nghiêng,
Lá đổ.
Tiếng mõ từ ngôi chùa,
Ẩn trong tận cùng hẻm phố…

Ta còn em ánh đèn mờ đầu ngõ
Sáng màu hoa đỏ
Bên gốc gạo
Lao xao cười nói, mời chào,
Xe cộ nổi còi hối hả…

Buổi chợ chiều trên phố vừa tan
Chợ đêm giữa kinh đô họp muộn…
Những kẻ nghèo khuya thức,
Đợi tinh mơ lại mở chợ ngày.

7.

Em ơi! Hà Nội – phố…
Ta còn em vầng trăng nửa,
Người phu xe đợi khách bến đầu ô.
Tiếng rao đêm lạc giọng
Ơ hờ…
Căn gác trọ đường vào bằng cửa sổ
Lão Mozart hàng xóm
Bảy nốt cù cưa.
Từng đêm quên giấc ngủ…

Ta còn em tiếng dương cầm.
Trong khung nhà đổ
Lả tả trên thềm
Beethoven và sonate Ánh trăng.
Nốt nhạc thiên tài lẫn trong mảnh vỡ…

Cô gái áo đỏ Venice
Xa Hà Nội,
Vẽ clavecin
Tập đàn
Trên phản gỗ…

Ta còn em những tràng pháo tay vang dậy.
Đêm lộng lẫy!
Cô gái dương cầm đứng giữa rừng hoa,
Nước mắt lã chã trên áo đỏ.

Rồi một ngày tả tơi,
Loạn gió.
Vườn Ngọc Hà
Mùa hoa cánh rã,
Đường Quán Thánh.
Bản giao hưởng Lặng câm
Trong một ngôi nhà…

Ta còn em một đam mê.
Một vật vã,
Một dang dở,
Một trống không,
Một kiếp người,
Những phìm đàn long…

8.

Em ơi! Hà Nội – phố
Ta còn em khuya phố mênh mông.
Vùng sáng nhỏ.
Bà quán ê a chuyện nàng Kiều.
Rượu làng Vân lung linh men ngọt.
Mắt cô nàng lúng liếng đong đưa…

Ngơ ngẩn bao chàng trai Kẻ Chợ.
Cơn say quá dài thành một cơn mê…

9.

Em ơi! Hà Nội – phố
Ta còn em tiếng hàng ngày.
Reo vang đường phố.
Lanh canh! Lanh canh!
Tia hồ quang chớp xanh.
Toa xe điện lên đèn.
Người soát vé áo bành tô sờn rách…

Lanh canh! Lanh canh!
– Ai xuống Bờ Hồ!
Ai đi Mơ! Ai lên Bưởi!

Lanh canh! Lanh canh!
Một đời cơ nhỡ.
Trăm ngày ngược xuôi
Đầm đìa nước mắt.
Aó vã mồ hôi.
Bơ gạo mớ rau…
Mẹ về buổi chợ
Lanh canh! Lanh canh!
Lá bánh, củ khoai.
Đàn con trên bến đợi.
Cuối ngày…

10.

Em ơi! Hà Nội – phố!
Ta còn em ráng đỏ chiều hôm.
Đôi chim khuyên gọi nhau trong bụi cỏ.
Đôi guốc bỏ quên bên ghế đá
Gã đầu trần thơ thẩn đường mưa….

Ta còn em Cổ Ngư, tên thật cũ,
Nắng chiều phai
Là đà, cành phượng vĩ,
Bông hoa muộn in hình ngọn lửa…

Chiếc lá rụng.
Khởi đầu ngọn gió.
Lao xao sóng biếc Tây Hồ.
Hoàng hôn xa đến tự bao giờ?
Những bước chân tìm nhau
Vội vội.
Cuộc tình hờ bỗng chốc nghiêm trang…

11.

Ta còn em ngọn gió Nghi Tàm
Thoáng mùi sen nở muộn.
Nhớ Nhật Tân.
Mùa hoa năm ấy.
Cánh đào phai…

Người dẫu ra đi vạn dặm dài.
Gió ngọn vẫn vương hương phố cũ…

12.

Em ơi! Hà Nội – phố…
Ta còn em cơn mưa rào qua nhanh
Sũng ướt bậc thềm.
Chiếc lá bàng đầu tiên nhuộm đỏ.
Cô gái băng qua đường bỗng hồng đôi má.
Một chút xanh hơn
Trời Hà Nội.
Hôm qua…

Ta còn em cô hàng hoa
Gánh mùa thu qua cổng chợ.
Những chùm hoa tím
Ngát
Mùa thu…

13.

Em ơi! Hà Nội – phố…
Ta còn em con đê lộng gió.
Dòng sông chảy mang hình phố.
Cô gái dựa lưng bên gốc me già.

Ngọn đèn đường lặng thinh
Soi bờ đá…

Ta còn em mùa nước đổ
Sông Hồng mất tăm bãi Giữa,
Bè xuôi, không ghé bến
Con tàu nhổ neo về biển.
Hồi còi vọng
Như một tiếng than dài
– “Mùa này trăng vỡ trên sông”

Ta còn em hàng cây khô,
Buồn như dãy phố.
Người bỏ xứ
Quay nhìn lần cuối.
Hạt sương tan,
Nhoè nhoè đuôi mắt.

“Người đi! Ừ nhỉ! Người đi thực!”…
Lữ khách khẽ ngâm câu Tống biệt
Đành đoạn một lần dứt áo xanh…

14.

Em ơi! Hà Nội – phố…
Ta còn em một Hàng Đào.
Không bán đào.
Một Hàng Bạc.
Không còn thợ bạc.
Đường Trường Thi
Không chõng, không lều.
Không ông Nghè bái tổ vinh qui…

Ngày đi,
Một nỗi mang tên nhớ.
Ngày về phố cũ bỗng quên tên.
Quên bậc đá,
Quên mái hiên.
Quên cây táo trồng ngay trước cửa.
Thưở ấu thơ thoả thích leo trèo…

Ngày về,
Ra rả tiếng ve,
Võng trưa hè kẽo kẹt,
– “À ơi! tùng tùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền
Nước mắt như mưa…”
Bài tập đọc
Quốc văn giáo khoa thư
Bà ru cháu ngủ…

Người về sững sờ bên cánh cửa,
Tiếng ru hời!
Gọi lại mảnh đời quên…

15.

Riêng về một chuyến đi

Sân ga Hàng Cỏ.
Tuổi mười tám trong hàng quân,
Năm khởi chiến.
Thề ra đi
Không trở về khi giặc chưa yên!
Cô gái Hà Nội trong đám đông đưa tiễn
Gửi chàng trai một bó hoa,
Và một nụ hôn.

Đoàn tàu chở đoàn quân về phía Nam
Vào trận đánh
Chở theo dãy phố,
Chở những con đường,
Chở nguyên Hà Nội nhớ,
Những bó hoa và cả vết môi hôn…

Khi khai trận
Anh lính trẻ bỗng bàng hoàng,
Thật bất ngờ khi súng nổ.
Và bỡ ngỡ,
Như đầu đời vừa nhận nụ hôn…

16.

Em ơi! Hà Nội – phố.
Ta còn em chiếc xe hoa
Qua hàng liễu rủ
Cánh tay trần trên gác cao
Mở cửa.
Mùa xuân trong khung
Đường phố dài
Chi chít chồi sinh
Màu ước vọng in hình xanh nõn lá
Giò phong lan.
Điệp vàng rực rỡ.
Những gót son dập dìu đại lộ
Bờ môi ai đậm đỏ bích đào?

Ta còn em tiếng trống tan trường.
Màu thanh thiên lẫn trong liễu rủ
Đêm hoa đăng tà áo nhung huyết dụ.
Đất nghìn năm còn mãi dáng kiêu sa.
Phường cũ lưu danh người đẹp lụa.
Bậc thềm nào in dấu hài hoa?

17.

Em ơi! Hà Nội – phố
Ta còn em đường lượn mái cong
Ngôi chùa cổ.
Năm tháng buồn xô lệch ngói âm dương.
Ai còn ngồi bên gốc đại già?
Chợt quên vườn hồng đã ra hoa.
Chợt quên bên đường ai đứng đợi…
Cuộc đời có lẽ nào.
Là một thoáng bâng quơ!

Ta còn em một cuộc tình
Như một bài thơ.
Mỗi nỗi đau gặm mòn thêm phận số.
Nhật ký sang trang ghi thêm nỗi nhớ…

18.

Em ơi! Hà Nội – phố
Ta còn em lô xô màu ngói cũ.
Hiu quạnh
Một ngôi nhà
Oa oa tiếng khóc.
Ngày con ra đời.
Cơn bão rớt bẻ gãy cành đa.
Con vừa lớn…
Chinh chiến gần kề trước cửa.

Ta còn em con đường đá
Lát bao niên kỷ?
Cây si kia trồng tự năm nào?

Ngày đi,
Qua đò Dâu
Nhìn về bến vắng,
Ruột đau,
Xót mẹ còng lưng gánh buổi chiều!

19.

Em ơi! Hà Nội – phố
Ta còn em đống kim ngân
Đổ đầy Hàng Mã
Lâu đài, dinh thự
Ngựa, xe, võng, lọng
Gấm, vóc, lụa, là.
Những hình nhân hầu gái
Đẹp như hoa.

Ta còn em đống than tro.
Một ngày gió nổi,
Mớ giấy tiền,
Phù du của nả.
Hai cõi âm dương,
Mịt mù bụi phố!

20.

Riêng về một tháng chạp

Tháng Chạp!
Những tàng cây óng ả sợi tơ hồng.
Tháp chạp thủ thỉ lời hò hẹn.
– “Qua đợt gió cuối mùa…
Ngày mai ta đến với mùa xuân”
Đôi tân hôn chưa kịp nằm chiếu hoa.
Đã có tên trong vòng hoa tưởng niệm…

Một tháng Chạp trắng khăn sô,
Khói hương dài theo phố.
Một tháng Chạp
Thâu đêm.
Mẹ
Thức.
Hoá vàng…

Tháng Chạp con đường ngẩn ngơ,
Dãy phố thành toạ dộ.
Khu trắng không người ở,
Dòng chữ phấn ghi trên cánh cửa,
Lời thề của người bỏ phố:
Còn một đống gạch, còn trở về nhà cũ!
Sập gụ, tủ chè, sách xưa và bình cổ
thí thân cho mất cho còn!

Một tháng chạp,
Trên nóc cao, còi hụ,
Cái chết đến tự phương nào?
Cách thủ đô bao nhiêu cây số?
Giọng Hà Nội thật ngọt ngào,
Cô gái loan truyền tin bão lửa:
“Hỡi đồng bào! Hỡi đồng bào…”

Một tháng Chạp,
Cây bàng mồ côi mùa đông,
Nóc phố mồ côi, mùa đông,
Mảnh trăng mồ côi, mùa đông.

Thang Chạp năm ấy in hình bao mộ phố!

21.

Em ơi! Hà Nội – phố…
Ta còn em mảnh đại bác
Ghim trên thành cổ
Một thịnh, một suy.
Thời thế.
Lẽ hưng vong.
Người qua đó hững hờ bài học sử…

Ta còn em dãy bia đá.
Danh hình hội tụ
Rêu phong gìn giữ nét tài hoa…

Ly rượu đầy xin rót cúng cha.
Nghìn lạy cúi đầu thương đất Tổ.
Bến nước nào đã neo thuyền ngự
Đám mây nào in bóng rồng bay?…

Ta còn em những giấc mơ lộng lẫy xiêm y.
Nhã nhạc nhịp nhàng,
Vóc dáng cung phi.
Những hào kiệt, những anh hùng,
Vương triều nào cũng có,
Và kẻ cuồng si gọi tên thi sĩ!
Thắp nén hương nhớ người tri kỷ…

22.

 Em ơi! Hà Nội – phố!
Ta còn em năm cửa ô.
Năm cửa gió
Cơn bão những mùa nào qua đó?
Ba mươi sáu phố
Bao nhiêu mảnh vỡ?

Ta còn em một màu xanh thời gian.
Màu xám hư vô.
Chợt nhoè.
Chợt hiện.
Chợt lung linh ngọn nến.
Chợt mong manh,

Một dáng, một hình.
Nhợt nhạt vàng son.
Đậm đầy cay đắng.

Người nghệ sĩ lang thang hoài trên phố,
Bỗng thấy mình không nhớ nổi con đường,
Một mình giữa bóng chiều sa,
Tha hương ngay trước cổng nhà mẹ cha…

Bầu trời này như của riêng ta!
Nỗi buồn vô cớ luôn rất lạ…

23.

Em ơi! Hà Nội – phố!
Ta còn em cánh nhạn chao nghiêng,
Chiều cuối.
Những giọt sương nhoà bóng điện,
Mặt nước Hồ Gươm bỗng nhiên trở lạnh,
Thap Rùa ngả bóng,
Lung linh…
Người ra đi mang theo buốt giá,
Áo choàng không ấm thân gầy
Cầm bằng theo cánh chim bay…

Người đi tìm khoảng cách để quên,
Nào biết phương xa,
Mài mòn đôi mắt nhớ?
24.

Em ơi! Hà Nội – phố
Ta còn em mùi hoàng lan.
Ta còn em mùi hoa sữa,
Tiếng giày ai gõ nhịp đường khuya.
Cọt kẹt bước chân quen,
Thang gác thời gian
Mòn thân gỗ,

Ngôi sao lẻ lạc vào căn xép nhỏ…!
Hà Nội, tháng Chạp 1972

HÀ NỘI PHỐ

HÀ NỘI – phố

Sách do NXB HÓng éc ¥n hành

PHAN VŨ

“Em ơi Hà Nội phố”

A1 -EmOiHanoiPho

NHẠC SĨ PHÚ QUANG

Lệ Thu hát đầu tiên 1987

 

LIÊN KHÚC 24 KHÚC “HÀ NỘI PHỐ”

443 câu

Hà Nội phố

Gửi những người Hà Nội đi xa

1.

Em ơi! Hà Nội – phố!
Ta còn em mùi hoàng lan.
Ta còn em mùi hoa sữa.
Tiếng giày ai gõ nhịp đường khuya?
Cọt kẹt bước chân quen.
Thang gác thời gian
Mòn thân gỗ.
Ngôi sao lẻ lạc vào căn xép nhỏ…

Ta còn em chấm lửa
Điếu thuốc cuối cùng,
Xập xoè.
Kỷ niệm…
Một con đường
Một ngôi nhà
Khuôn mặt ai
Dừng trong khung cửa…
Những phong thư bỏ quên trong hộc tủ
Không tên người,
Không tên phố.
Người gửi không tên.
Ta còn em chút vang động lặng im,
Âm âm tiếng gọi
Trong lòng phố…

2.

Em ơi! Hà Nội – phố
Ta còn em một gốc cây,
Một cột đèn.
Ai đó chờ ai?
Tóc cắt ngang
Xoã xoã bờ vai,

Khung trời gió.
Con đường như bỏ ngỏ…

Ta còn em khăn choàng màu tím đỏ
Thoáng qua…
Khuôn mặt chưa quen.
Bỗng xôn xao nỗi khổ.
Mỗi góc phố một trang tình sử

3.

Em ơi! Hà Nội – phố!
Ta còn em rì rào hạt nhỏ,
Cơn mưa chợt đến trong chùm lá
Vòm trên cao chuông hồi đổ,
Nhà thờ Cửa Bắc,
Tan chiều lễ
Kinh cầu còn mãi ngân nga…

Ta còn em đôi mắt buồn
Dõi cánh chim xa.
Trên hè phố
Gã Trương Chi ôm ghi ta.
Ngước lên cửa sổ,
Có một ngày…
Trống không ô cửa.
Tiếng hát Trương Chi.
Ngợi số nhà…

Ta con em chuyến tàu khuya
Về muộn
Vào ga…

4.

Em ơi! Hà Nội – phố
Ta còn em quả bóng lăn,
Một mình,
Trên sân cỏ.

Cơn mưa đầy
Những hố sâu trước cửa,
Chiếc thuyền giấy lang thang
Không bến đỗ
Thằng bé qua tuổi thơ vội vã,
Chợt ngẩn ngơ
Với bóng nước lung linh!
Bầu trời.
Khoảng lạ!

Ta còn em cánh cửa sắt
Lâu ngày không mở.
Nhà ai?
Qua đó, nao nao nhớ tuổi học trò…

Dàn thiên lý đã chết khô!
Năm xưa,
Những chùm hoa,
Thơm hò hẹn.
Cuộc tình đầu ngọt lịm.
Nụ hôn còn xanh mãi trên môi…

5.

Em ơi! Hà Nội – phố
Ta còn em chuỗi cười vừa dứt
Chút nắng vàng le lói vườn hoang,
Vàng ngọn cỏ.
Cô gái khẽ buông rèm cửa,
Anh chàng lệch mũ đi qua,
Lời tỏ tình đêm qua dang dở…

Ta còn em ngày vui cũ,
Tàn theo mùa hạ.
Tiếng ghi ta bập bùng tự sự,
Đêm kinh kỳ thủa ấy xanh lơ…

6.

Ta còn em tiếng tích tắc
Chiếc đồng hồ quả lắc già nua
Đếm thời gian theo nhịp đong đưa,
Những tiếng quen
Ngán ngẩm,
Mệt nhoài…

Căn phòng trống bỗng mênh mang bóng lẻ.
Nửa đêm đành mở cửa ra đi,
Những bước liêu xiêu,
Miền u tịch dọc dài,
Hàng soan nghiêng,
Lá đổ.
Tiếng mõ từ ngôi chùa,
Ẩn trong tận cùng hẻm phố…

Ta còn em ánh đèn mờ đầu ngõ
Sáng màu hoa đỏ
Bên gốc gạo
Lao xao cười nói, mời chào,
Xe cộ nổi còi hối hả…

Buổi chợ chiều trên phố vừa tan
Chợ đêm giữa kinh đô họp muộn…
Những kẻ nghèo khuya thức,
Đợi tinh mơ lại mở chợ ngày.

7.

Em ơi! Hà Nội – phố…
Ta còn em vầng trăng nửa,
Người phu xe đợi khách bến đầu ô.
Tiếng rao đêm lạc giọng
Ơ hờ…
Căn gác trọ đường vào bằng cửa sổ
Lão Mozart hàng xóm
Bảy nốt cù cưa.
Từng đêm quên giấc ngủ…

Ta còn em tiếng dương cầm.
Trong khung nhà đổ
Lả tả trên thềm
Beethoven và sonate Ánh trăng.
Nốt nhạc thiên tài lẫn trong mảnh vỡ…

Cô gái áo đỏ venise
Xa Hà Nội,
Vẽ clavecin
Tập đàn
Trên phản gỗ…

Ta còn em những tràng pháo tay vang dậy.
Đêm lộng lẫy!
Cô gái dương cầm đứng giữa rừng hoa,
Nước mắt lã chã trên áo đỏ.

Rồi một ngày tả tơi,
Loạn gió.
Vườn Ngọc Hà
Mùa hoa cánh rã,
Đường Quán Thánh.
Bản giao hưởng Lặng câm
Trong một ngôi nhà…

Ta còn em một đam mê.
Một vật vã,
Một dang dở,
Một trống không,
Một kiếp người,
Những phìm đàn long…

8.

Em ơi! Hà Nội – phố
Ta còn em khuya phố mênh mông.
Vùng sáng nhỏ.
Bà quán ê a chuyện nàng Kiều.
Rượu làng Vân lung linh men ngot.
Mắt cô nàng lúng liếng đong đưa…

Ngơ ngẩn bao chàng trai Kẻ Chợ.
Cơn say quá dài thành một cơn mê…

9.

Em ơi! Hà Nội – phố
Ta còn em tiếng hàng ngày.
Reo vang đường phố.
Lanh canh! Lanh canh!
Tia hồ quang chớp xanh.
Toa xe điện lên đèn.
Người soát vé áo bành tô sờn rách…

Lanh canh! Lanh canh!
– Ai xuống Bờ Hồ!
Ai đi Mơ! Ai lên Bưởi!

Lanh canh! Lanh canh!
Một đời cơ nhỡ.
Trăm ngày ngược xuôi
Đầm đìa nước mắt.
Aó vã mồ hôi.
Bơ gạo mớ rau…
Mẹ về buổi chợ
Lanh canh! Lanh canh!
Lá bánh, củ khoai.
Đàn con trên bến đợi.
Cuối ngày…

10.

Em ơi! Hà Nội – phố!
Ta còn em ráng đỏ chiều hôm.
Đôi chim khuyên gọi nhau trong bụi cỏ.
Đôi guốc bỏ quên bên ghế đá
Gã đầu trần thơ thẩn đường mưa….

Ta còn em Cổ Ngư, tên thật cũ,
Nắng chiều phai
Là đà, cành phượng vĩ,
Bông hoa muộn in hình ngọn lửa…

Chiếc lá rụng.
Khởi đầu ngọn gió.
Lao xao sóng biếc Tây Hồ.
Hoàng hôn xa đến tự bao giờ?
Những bước chân tìm nhau
Vội vội.
Cuộc tình hờ bỗng chốc nghiêm trang…

11.

Ta còn em ngọn gió Nghi Tàm
Thoáng mùi sen nở muộn.
Nhớ Nhật Tân.
Mùa hoa năm ấy.
Cánh đào phai…

Người dẫu ra đi vạn dặm dài.
Gió ngọn vẫn vương hương phố cũ…

12.

Em ơi! Hà Nội – phố…
Ta còn em cơn mưa rào qua nhanh
Sũng ướt bậc thềm.
Chiếc lá bàng đầu tiên nhuộm đỏ.
Cô gái băng qua đường bỗng hồng đôi má.
Một chút xanh hơn
Trời Hà Nội.
Hôm qua…

Ta còn em cô hàng hoa
Gánh mùa thu qua cổng chợ.
Những chùm hoa tím
Ngát
Mùa thu…

13.

Em ơi! Hà Nội – phố…
Ta còn em con đê lộng gió.
Dòng sông chảy mang hình phố.
Cô gái dựa lưng bên gốc me già.

Ngọn đèn đường lặng thinh
Soi bờ đá…

Ta còn em mùa nước đổ
Sông Hồng mất tăm bãi Giữa,
Bè xuôi, không ghé bến
Con tàu nhổ neo về biển.
Hồi còi vọng
Như một tiếng than dài
– “Mùa này trăng vỡ trên sông”

Ta còn em hàng cây khô,
Buồn như dãy phố.
Người bỏ xứ
Quay nhìn lần cuối.
Hạt sương tan,
Nhoè nhoè đuôi mắt.

“Người đi! Ừ nhỉ! Người đi thực!”…
Lữ khách khẽ ngâm câu Tống biệt
Đành đoạn một lần dứt áo xanh…

14.

Em ơi! Hà Nội – phố…
Ta còn em một Hàng Đào.
Không bán đào.
Một Hàng Bạc.
Không còn thợ bạc.
Đường Trường Thi
Không chõng, không lều.
Không ông Nghè bái tổ vinh qui…

Ngày đi,
Một nỗi mang tên nhớ.
Ngày về phố cũ bỗng quên tên.
Quên bậc đá,
Quên mái hiên.
Quên cây táo trồng ngay trước cửa.
Thưở ấu thơ thoả thích leo trèo…

Ngày về,
Ra rả tiếng ve,
Võng trưa hè kẽo kẹt,
– “À ơi! tùng tùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền
Nước mắt như mưa…”
Bài tập đọc
Quốc văn giáo khoa thư
Bà ru cháu ngủ…

Người về sững sờ bên cánh cửa,
Tiếng ru hời!
Gọi lại mảnh đời quên…

15. RIÊNG VỀ MỘT CHUYẾN ĐI

Sân ga Hàng Cỏ.
Tuổi mười tám trong hàng quân,
Năm khởi chiến.
Thề ra đi
Không trở về khi giặc chưa yên!
Cô gái Hà Nội trong đám đông đưa tiễn
Gửi chàng trai một bó hoa,
Và một nụ hôn.

Đoàn tàu chở đoàn quân về phía Nam
Vào trận đánh
Chở theo dãy phố,
Chở những con đường,
Chở nguyên Hà Nội nhớ,
Những bó hoa và cả vết môi hôn…

Khi khai trận
Anh lính trẻ bỗng bàng hoàng,
Thật bất ngờ khi súng nổ.
Và bỡ ngỡ,
Như đầu đời vừa nhận nụ hôn…

16.

Em ơi! Hà Nội – phố.
Ta còn em chiếc xe hoa
Qua hàng liễu rủ
Cánh tay trần trên gác cao
Mở cửa.
Mùa xuân trong khung
Đường phố dài
Chi chít chồi sinh
Màu ước vọng in hình xanh nõn lá
Giò phong lan.
Điệp vàng rực rỡ.
Những gót son dập dìu đại lộ
Bờ môi ai đậm đỏ bích đào?

Ta còn em tiếng trống tan trường.
Màu thanh thiên lẫn trong liễu rủ
Đêm hoa đăng tà áo nhung huyết dụ.
Đất nghìn năm còn mãi dáng kiêu sa.
Phường cũ lưu danh người đẹp lụa.
Bậc thềm nào in dấu hài hoa?

17.

Em ơi! Hà Nội – phố
Ta còn em đường lượn mái cong
Ngôi chùa cổ.
Năm tháng buồn xô lệch ngói âm dương.
Ai còn ngồi bên gốc đại già?
Chợt quên vườn hồng đã ra hoa.
Chợt quên bên đường ai đứng đợi…
Cuộc đời có lẽ nào.
Là một thoáng bâng quơ!

Ta còn em một cuộc tình
Như một bài thơ.
Mỗi nỗi đau gặm mòn thêm phận số.
Nhật ký sang trang ghi thêm nỗi nhớ…

18.

Em ơi! Hà Nội – phố
Ta còn em lô xô màu ngói cũ.
Hiu quạnh
Một ngôi nhà
Oa oa tiếng khóc.
Ngày con ra đời.
Cơn bão rớt bẻ gãy cành đa.
Con vừa lớn…
Chinh chiến gần kề trước cửa.

Ta còn em con đường đá
Lát bao niên kỷ?
Cây si kia trồng tự năm nào?

Ngày đi,
Qua đò Dâu
Nhìn về bến vắng,
Ruột đau,
Xót mẹ còng lưng gánh buổi chiều!

19.

Em ơi! Hà Nội – phố
Ta còn em đống kim ngân
Đổ đầy Hàng Mã
Lâu đài, dinh thự
Ngựa, xe, võng, lọng
Gấm, vóc, lụa, là.
Những hình nhân hầu gái
Đẹp như hoa.

Ta còn em đống than tro.
Một ngày gió nổi,
Mớ giấy tiền,
Phù du của nả.
Hai cõi âm dương,
Mịt mù bụi phố!

20. RIÊNG VỀ MỘT THÁNG CHẠP

Tháng Chạp!
Những tàng cây óng ả sợi tơ hồng.
Tháp chạp thủ thỉ lời hò hẹn.
– “Qua đợt gió cuối mùa…
Ngày mai ta đến với mùa xuân”
Đôi tân hôn chưa kịp nằm chiếu hoa.
Đã có tên trong vòng hoa tưởng niệm…

Một tháng Chạp trắng khăn sô,
Khói hương dài theo phố.
Một tháng Chạp
Thâu đêm.
Mẹ
Thức.
Hoá vàng…

Tháng Chạp con đường ngẩn ngơ,
Dãy phố thành toạ dộ.
Khu trắng không người ở,
Dòng chữ phấn ghi trên cánh cửa,
Lời thề của người bỏ phố:
Còn một đống gạch, còn trở về nhà cũ!
Sập gụ, tủ chè, sách xưa và bình cổ
thí thân cho mất cho còn!

Một tháng chạp,
Trên nóc cao, còi hụ,
Cái chết đến tự phương nào?
Cách thủ đô bao nhiêu cây số?
Giọng Hà Nội thật ngọt ngào,
Cô gái loan truyền tin bão lửa:
“Hỡi đồng bào! Hỡi đồng bào…”

Một tháng Chạp,
Cây bàng mồ côi mùa đông,
Nóc phố mồ côi, mùa đông,
Mảnh trăng mồ côi, mùa đông.

Thang Chạp năm ấy in hình bao mộ phố!

21.

Em ơi! Hà Nội – phố…
Ta còn em mảnh đại bác
Ghim trên thành cổ
Một thịnh, một suy.
Thời thế.
Lẽ hưng vong.
Người qua đó hững hờ bài học sử…

Ta còn em dãy bia đá.
Danh hình hội tụ
Rêu phong gìn giữ nét tài hoa…

Ly rượu đầy xin rót cúng cha.
Nghìn lạy cúi đầu thương đất Tổ.
Bến nước nào đã neo thuyền ngự
Đám mây nào in bóng rồng bay?…

Ta còn em những giấc mơ lộng lẫy xiêm y.
Nhã nhạc nhịp nhàng,
Vóc dáng cung phi.
Những hào kiệt, những anh hùng,
Vương triều nào cũng có,
Và kẻ cuồng si gọi tên thi sĩ!
Thắp nén hương nhớ người tri kỷ…

22. Em ơi! Hà Nội – phố!
Ta còn em năm cửa ô.
Năm cửa gió
Cơn bão những mùa nào qua đó?
Ba mươi sáu phố
Bao nhiêu mảnh vỡ?

Ta còn em một màu xanh thời gian.
Màu xám hư vô.
Chợt nhoè.
Chợt hiện.
Chợt lung linh ngọn nến.
Chợt mong manh,

Một dáng, một hình.
Nhợt nhạt vàng son.
Đậm đầy cay đắng.

Người nghệ sĩ lang thang hoài trên phố,
Bỗng thấy mình không nhớ nổi con đường,
Một mình giữa bóng chiều sa,
Tha hương ngay trước cổng nhà mẹ cha…

Bầu trời này như của riêng ta!
Nỗi buồn vô cớ luôn rất lạ…

23.

Em ơi! Hà Nội – phố!
Ta còn em cánh nhạn chao nghiêng,
Chiều cuối.
Những giọt sương nhoà bóng điện,
Mặt nước Hồ Gươm bỗng nhiên trở lạnh,
Thap Rùa ngả bóng,
Lung linh…
Người ra đi mang theo buốt giá,
Áo choàng không ấm thân gầy
Cầm bằng theo cánh chim bay…

Người đi tìm khoảng cách để quên,
Nào biết phương xa,
Mài mòn đôi mắt nhớ?

24.

Em ơi! Hà Nội – phố
Ta còn em mùi hoàng lan.
Ta còn em mùi hoa sữa,
Tiếng giày ai gõ nhịp đường khuya.
Cọt kẹt bước chân quen,
Thang gác thời gian
Mòn thân gỗ,

Ngôi sao lẻ lạc vào căn xép nhỏ…!
Hà Nội, tháng Chạp 1972

 

 

Thiếu chính sách, DƯ LUẬN VIÊN lười làm việc và cái kết của Võ Văn Thưởng *

Thiếu chính sách, DƯ LUẬN VIÊN lười làm việc và cái kết của Võ Văn Thưởng *

 VNTB 10 tháng 7

Kiều Phong

(VNTB) – Khi đất nước còn chia hai chế độ ở hai miền Nam-Bắc, các báo cáo cho thấy nhiệt tình lao động của một cán bộ Hà Nội cao gấp 4 lần một viên chức chính phủ Sài Gòn. Lối năm 1967, triết gia Lương Kim Định đang làm giáo sư giảng dạy của đại học Văn khoa Sài Gòn dự đoán trước rằng đến một ngày nào đó, họ (cán bộ Hà Nội) sẽ hết nhiệt tình.

ngu-dot-nhiet-tinh-pha-hoai

Vừa rồi, Võ Văn Thưởng, trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam than: “người đấu tranh bảo vệ và phản bác lại thụ động hơn, lại phải chờ định hướng, thậm chí là chờ chế độ, chính sách...”. Có lẽ anh Thưởng đang nhắc tới đội quân dư luận viên và lực lượng 47, gọi chung là 3 củ, tức là 3 TRIệU ĐồNG mỗi tháng. Ông Nguyễn Tường Thụy, Phó chủ tịch Hội nhà báo độc lập Việt Nam khẳng định: không có hoặc chậm 3 củ là những lực lượng này không còn động lực để làm việc và sẽ không làm việc. Dự đoán 50 năm trước của triết gia Lương Kim Định đã được thực tế chứng minh là trúng.

Cả “chủ nghĩa chọn lọc giai cấp” lẫn “chủ nghĩa chọn lọc chủng tộc” đều nằm trong chỗ quá đáng tức là: chối bỏ cách triệt để, cách có hệ thống và kèm thêm sự ép buộc bằng bạo hành.

VÕ VĂN THƯởNG cũng giống như PAUL JOSEPH GOEBBELS -Bộ trưởng Bộ Giác ngộ quần chúng và Tuyên truyền của Đức Quốc xã, đã tận dụng triệt để ba điểm này. Dư luận viên được huấn luyện để chỉ thấy là giá trị những gì theo chiều ý thức  hệ của họ, người cuồng tín cũng chỉ coi là giá trị những gì theo chiều tin tưởng của họ. Đó quả là một thứ tù ngục che lấp không cho con người trông thấy được gồm muôn khía cạnh. Không để giờ cho suy nghĩ thì tất nhiên phải suy nghĩ hộ, không ai có quyền suy nghĩ nữa, đã có ĐảNG VÀ BÁC suy tư: tất cả chỉ có việc theo lý trí của người trên. 

Vì vậy ta thấy đám quân “dư luận viên” cùng luận điệu na ná như nhau, nói năng như bầy rô-bốt được giật dây để đồng loạt phát một lời inh ỏi. Binh tốt, công an xã, huyện đội cùng trở thành những tên đao phủ của ý hệ. Nếu có ai suy tư thì Đảng vẫn đang bắt phải từ khước những ý nghĩ đó. Bao nhiêu người Việt cộng đời đầu chỉ đón rước cộng sản như để mở rộng đường suy tư, có ngờ đâu đến lúc nó thắng thế thì dù muốn dù chăng mình cũng phải trở thành một chiều như nó.

Nhưng, như người cộng sản quen nói “hạ tầng kinh tế chỉ huy thượng tầng”. Với những quan niệm quá bé nhỏ về con người như vậy, nhỏ đến nỗi còn bên dưới cả sự vật, đúng hơn chính là con của sự vật thì đừng trách họ giá áo túi cơm. Tiền hế t- tình tan – tư tưởng tàn. Đến khi dư luận viên, hồng vệ binh lương thấp đòi nghỉ việc thì cũng đừng trách họ, có trách thì trách nguyên lý thiếu chiều sâu, nền móng xây trên cát thì chỉ cần gặp một trận gió hay một trận mưa tất yếu đã đổ sụp. Vào thời chính quyền Sài Gòn, cán bộ ngoài Hà Nội còn hùng hục làm việc như trâu, tất yếu đến một ngày họ nhìn ra bên ngoài thì sẽ hết nhiệt tình, như ngày hôm nay. Biết bao người Việt-cộng ngày nay thỉnh thoảng đã nghĩ tới tình đồng bào, tình cha con, muốn ngừng tay đâm chém phá hoại. Nhiều người tan vỡ lý tưởng, lao vào nhậu nhẹt, rượu bia sau giờ làm như cơn sốt rét để khỏi nghe tiếng lòng. Nhiều nhân viên từng thề trung thành với chủ nghĩa Marx thì nay cũng không thể giả điếc trước tiếng nói của tâm tình, của lương tâm. Lúc về nhà, họp mặt gia tộc thì ai cũng là người.

Muốn sai khiến thuộc cấp tiếp tục hăng say làm việc như trước thì kẻ đứng đầu ngành tuyên truyền phải sửa nguyên lý tự nền móng. Nhưng, “Trò không lớn hơn thầy, đầy tớ không lớn hơn chủ”. Võ Văn Thưởng không dám sửa nguyên lý của Marx-Lenin, cũng giống như Joseph Goebbels không dám sửa thuyết của Hitler. Nếu động đậy muốn sửa thì đồng chí sẽ thanh trừng. Giả thiết vậy cho vui, trong thực tế trình độ của Võ Văn Thưởng còn xa lắm mới xây dựng được một nền triết mới, có căn cơ.

Ở Đức, Hitler tự sát vào ngày 30 tháng 4 năm 1945, trùng hợp thay cũng đúng ngày 30 tháng 4 người cộng sản Hà Nội đại thắng Sài Gòn. Theo như bản di chúc của Hitler, Goebbels lên kế nhiệm trong vai trò Thủ tướng Đức trong vòng một ngày, rồi sau đó cùng vợ hạ độc sáu đứa con rồi tự sát. Cả hai chủ thuyết đã gây nên sự phân tán đến cùng tột trong dân nước. Kết cục của bộ trưởng tuyên truyền cuối cùng của Đức quốc xã báo trước một tương lai ảm đạm cho Võ Văn Thưởng của chúng ta.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả

Tản mạn về 5 năm sinh hoạt Hội nhà báo độc lập Việt Nam

Gửi tặng tiên sinh Trần Đình Nhãn

Kỷ niệm 5 năm thành lập hội NBĐL.VN (4/7/2014 – 4/7/2019),

Tản mạn về 5 năm sinh hoạt Hội nhà báo độc lập Việt Nam

 Phùng Hoài Ngọc

***

Nhớ lại trước khi gia nhập Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam.

Khi còn là hội viện Hội nhà báo quốc doanh, tôi đã viết khoảng 200 bài báo cộng tác báo chí nhà nước, trong khoảng 15 năm, bị biên tập cắt gọt định hướng, tôi cảm thấy thất vọng và bế tắc. Nhờ thông tin trên mạng internet bùng nổ, với biển thông tin đa chiều, tôi cũng như nhiều người cùng thế hệ, giác ngộ mạnh mẽ và dứt khoát. Có lẽ, nếu không có mạng internet, tôi chỉ bằng lòng với dòng văn học đương đại và tư tưởng đổi mới của các nhà văn tiên phong từ  nửa sau thập niên 80 thế kỷ trước. Dòng văn học này đã đóng trọn vai trò khởi phát cuộc đấu tranh bằng vũ khí nghệ thuật…Tuy có  vào cuộc sớm hơn báo chí, tốc độ tiệm tiến của văn học khá chậm chạp chắc sẽ không theo kịp thời cuộc. Mặt khác nhà cầm quyền độc tài vốn giàu thủ đoạn đã dùng các chiêu trò của “tổ chức” để kiềm chế văn học chậm dần lại. Tôi không thể mãi bằng lòng với nhịp độ đổi mới và phản biện rụt rè chậm chạp của văn học. Nhận rõ chỉ có báo mạng và blog tự do mới đáp ứng kịp nhu cầu thông tin, tranh luận và phản biện, đáp ứng vai trò vì cuộc đấu tranh công lý và tiến bộ của nước Việt Nam đang điêu đứng trong cơn khủng hoảng chính trị và văn hóa hiện nay.

Tôi tuyên bố từ bỏ hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, kế đó rời khỏi Hội liên hiệp văn nghệ tỉnh. Thà rằng không viết để cho an tâm. Kế đó tôi tuyên bố ra khỏi đảng CS sau khi góp ý đảng khá nhiều mà vô hiệu. Tôi bắt đầu cộng tác trang Bauxite Việt Nam, rồi trang Anh Ba Sàm, và sau nữa gặp trang Việt Nam Thời Báo (VNTB) do hai người bạn giới thiệu, từ đó tôi viết với niềm hào hứng hơn bao giờ hết. Tôi vẫn nhớ và ghi nhận sự hỗ trợ của hai nhà báo sáng lập đi trước đã tin tưởng giới thiệu mình.

Sau 5 năm tôi đã viết cho VNTB khoảng 200 bài báo,

Tôi nghĩ, đã là hội viên cần có ý thức trách nhiệm bám sát thời cuộc để viết bài phản biện (trừ phi lực bất tòng tâm). Đã tự nguyện gia nhập Hội thì cần xác định trách nhiệm người làm báo tự do, độc lập.

Được cán bộ an ninh quan tâm theo dõi và tiếp cận dò hỏi, họ vốn là những người quen biết cũ. Họ khuyến cáo, cảnh báo tôi theo quán tính nghề nghiệp của họ. Tôi thuyết minh với họ rằng  viết báo là công việc cần thiết nâng cao dân trí, góp phần phản biện với chế độ cần phải sửa mình. Hội nhà báo độc lập là một tổ chức xã hội dân sự. Viết báo độc lập là việc làm chính đáng phù hợp Hiến pháp. Báo chí tự do độc lập là nét nổi bật trên bộ mặt văn minh hay hoang dã của một đất nước trong thời kỳ hội nhập toàn cầu… Có lẽ họ tâm phục (nhưng không hẳn khẩu phục), kể như quan hệ hai bên là kết bạn bình đẳng với nhau. Việc ai nấy làm.

Về việc viết bài: ban đầu khó tránh khỏi những bỡ ngỡ, cách viết khó kiềm chế cảm xúc, ban biên tập góp ý kịp thời. Khi bản thảo còn chưa hoàn chỉnh, thiếu, thừa, đều được BBT góp ý để người viết chỉnh lại. Tôi tin rằng Ban biên tập VNTB làm việc như thế là nghiêm túc, đàng hoàng.

Đọc bài của đồng nghiệp, tôi học tập được nhiều, từ kiến thức kiến văn tới kinh nghiệm. Tôi tâm niệm rằng viết báo là việc khó, không thể chủ quan sáng tạo như viết văn.

Nghĩ cũng tiếc vì sự cố một số hội viên rời bỏ Hội. Tôi nghĩ có lẽ vì quan điểm khác nhau trong làm việc. Các vị ấy có chút tự ái, chưa đủ thông cảm với Ban điều hành Hội ban đầu còn khó khăn, nhất là trong tình trạng hoạt động bán công khai. Có lẽ hoàn cảnh gia đình họ cũng có khó khăn hoặc bị đe dọa… Ai cũng biết việc lập Hội và ra tờ báo điện tử dạng web là đúng Hiến pháp và Công ước quốc tế, nhưng tiếc thay nhà cầm quyền bảo thủ, sợ hãi và chưa dám công nhận, từ đó gây áp lực làm khó dễ nhà báo tự do. Buổi ban đầu của một sự nghiệp chính nghĩa khó mà tránh khỏi khó khăn chật vật, một phần từ phiá chủ quan và chủ yếu do hoàn cảnh khách quan.

Thỉnh thoảng những người bạn ở trong nước và ngoài nước nhắn tin nói cảm tưởng và sự hào hứng khi đọc bài của chúng tôi, động viên tôi vững tâm viết. Kể cả họ góp ý nhược điểm chân tình tôi cũng tiếp nhận vui vẻ. Đó là niềm cổ vũ lớn nhất cho bản thân người viết.

Chỉ tiếc là, nhiều khi lực bất tòng tâm, trước rất nhiều đề tài nóng bỏng mà không viết kịp. Mỗi khi nghe thông báo có hội viên mới gia nhập, tôi rất mừng vui và gia tăng nguồn cảm hứng.

Cánh cửa đã mở và không ai có thể đóng lại

 Mạng web- blog đã phát động tự do ngôn luận mạnh mẽ hơn bao giờ và mở ra một giai đoạn căn bản của chế độ tự do dân chủ, kết nối sức mạnh toàn thế giới.

Mạng xã hội Facebook và mạng v-blog tiếp nối cùng với web-blog hợp thành cơn đại hồng thủy tự do biểu đạt trên phạm vi thế giới.

Nói cách khác, Internet giúp đông đảo nhân dân giải phóng cá nhân, giúp họ ý thực sự tồn tại cá nhân, như tiểu vũ trụ tồn tại trong đại vũ trụ bao la.

Những hoạt động của nhà cầm quyền bối rối phản bác chống lại TỰ do internet ngày càng bộc lộ tính hài hước lịch sử của nó.

Qua tiếp xúc những người bạn khác trong cộng đồng vốn trước “đóng băng” vì thận trọng, lo âu, nay đã dần dần làm quen với không khí phản biện xã hội, nhất là những người có học thức đang phải tự xét mình. Tôi nghĩ, chúng ta cần phải kiên trì viết báo kể cả trang FB của cá nhân, để giúp họ đẩy mạnh quá trình tự “phá băng” chật vật và nghi ngại, lăn tăn vượt nỗi sợ hãi cụ thể và vu vơ.

Hơn ai hết, những người viết báo tự do nhất định kiên trì cuộc đấu tranh vì mục tiêu Nhân quyền, Dân quyền, Dân chủ, Tự do, Công bằng, Minh bạch và Tiến bộ. Chống thói độc tài, lừa đảo, lật tẩy ngụy biện của giới cầm quyền quen thói coi thường và thách thức Dân Trí.

Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam chưa từng có tiền lệ, kinh nghiệm và truyền thống. Có chăng chỉ là Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do đã bị dập tắt cùng với cựu tù nhân lương tâm Điếu Cày Nguyễn Văn Hải khi còn non trẻ… Hội là sản phẩm bức xúc của giai đoạn lịch sử Việt Nam đau thương đang oằn mình tự xác định mình. Hi vọng sẽ có nhiều nhà báo yêu công lý và tâm huyết với sứ mệnh góp sức với trang điện tử VIỆT NAM THỜI BÁO.

Công lý và tiến bộ xã hội nhất định thắng dù phải trả giá nào đó. Lịch sử loài người đã chứng minh điều đó.

PHN

Mây thẻ