"Nói phải củ cải cũng nghe"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Tám, 2019

TIỂU THUYẾT CỦA GROSSMAN VÀ LEV TOLSTOI – GIỐNG VÀ KHÁC – SỰ THẤT VỌNG CỦA ĐẢNG LIÊN XÔ CŨ.

TIỂU THUYẾT CỦA GROSSMAN VÀ LEV TOLSTOI – GIỐNG VÀ KHÁC – SỰ THẤT VỌNG CỦA ĐẢNG LIÊN XÔ CŨ.

Phùng Hoài Ngọc

Đăng VNTB ngày 31/8/2019

***

1. DẪN NHẬP

BÌA TIẾNG nGA

(Bìa bản tiếng Nga)

Cái tên Vasily Grossman còn xa lạ với đông đảo độc giả Việt Nam. Khi sử gia Pháp Stéphane Courtouis trong cuốn “Sách đen về chủ nghĩa cộng sản” nhiều lần viện dẫn các tác phẩm của Grossman, người ta mới đặt câu hỏi:”Grossman là ai?”

Grossman sáng tác bộ tiểu thuyết này vào cuối thập niên 50, nhưng cuốn sách chỉ được ra mắt độc giả Nga mùa xuân năm 1988 trong bốn số đầu của tạp chí “Oktyabr” (Tháng Mười). Ngay sau khi được in trên mặt báo, các chuyên gia văn học và  nhiều độc giả Liên Xô đã nhất trí coi “Cuộc đời và số phận” là một tác phẩm lớn, “đáng được liệt vào hạng mẫu mực, thượng hạng của văn xuôi Xô-viết“.

Với “Cuộc đời và Số phận”, Grossman đi đến kết luận rằng hai đối thủ, Đức Quốc Xã và Liên Xô, là hai tấm gương phản chiếu của nhau. Nghĩa là hai bên có  thể soi thấy nhau trong đó, nghĩa là hai bên có nhiều điểm tương đồng.

Tiểu thuyết “Cuộc đời và số phận” (tiếng Nga: Жизнь и судьба, tiếng Anh Life and Fate) là cuốn tiểu thuyết viết xong năm 1960 được xem như là tác phẩm lớn nhất có sức công phá dữ dội của tác giả. Về mặt hình thức, đó là nửa sau của cuốn sách hai phần của tác giả. Tiểu thuyết “Vì một lý do chính đáng” được viết dưới thời cai trị của Joseph Stalin và xuất bản lần đầu năm 1952, thể hiện sự trung thành với chế độ nhưng vẫn bị Đảng phê phán không ít, thì phần II “Cuộc sống và Số phận” nhà văn lại chỉ trích mạnh mẽ “chủ nghĩa Stalin”.

Vasily Grossman, người Nga gốc Do Thái, trở thành phóng viên của tờ báo quân sự Liên Xô Krasnaya Zvezda, đã tình nguyện và bị từ chối tham gia nghĩa vụ quân sự vào năm 1941. Grossman là một trong ba phóng viên chiến trường nổi bật hàng đầu của Liên Xô. Hai người kia, Ilya Ehrenburg và Konstantin Simonov từ lâu đã được xem là nhà văn kinh điển của văn học Sô viết.

Ông làm phóng viên chiến trường khoảng 1.000 ngày trên chiến tuyến, ông đã có mặt trong nhiều trận chiến nổi tiếng trong khoảng ba trong bốn năm của cuộc xung đột giữa Phát xít Đức và Liên Xô. Ông cũng là tác giả của cuốn tiểu thuyết “Người bất tử”. Ông là một trong những nhà báo đầu tiên viết về việc thanh lọc sắc tộc ở Đông Âu. “Cuộc sống và số phận” một phần cảm hứng của nó được thúc đẩy bởi cảm giác tội ác về cái chết của mẹ mình trong vụ thảm sát Berdychiv (Ucraina) vào tháng 9 năm 1941.

“Chiến tranh và Hòa bình” của Tolstoi hiển nhiên có tầm quan trọng to lớn đối với Grossman trong cả cuộc chiến và trong suốt 15 năm sau đó khi ông viết hai cuốn tiểu thuyết cấu thành nên từ “trận đánh” Stalingrad của nhà văn: cuốn đầu tiên (có tựa đề là Vì một lý do chính đáng) và sau đó là Cuộc sống và Số phận. Chính Grossman đã viết,”Trong toàn bộ cuộc chiến, cuốn sách duy nhất tôi đọc là Chiến tranh và Hòa bình, tôi đã đọc hai lần”.

lẽ tiểu thuyết “CHIếN TRANH VÀ HÒA BÌNH” chưa bao giờ được đọc rộng rãi và chăm chú ở Liên Xô như trong Chiến tranh thế giới thứ Hai. Tiểu thuyết được phát sóng liên tục trên đài phát thanh Moscow, chọn lọc những chương phần thích hợp. Tướng tá sĩ quan phải báo cáo thường xuyên tình trạng tự đọc sách và binh lính thì nghe qua đài. Dường như lãnh đạo Đảng tin rằng  cuốn tiểu thuyết vĩ đại của văn hào Tolstoi sẽ hướng dẫn cho binh lính cách chiến thắng.

Sau chiến thắng 1945, lãnh đạo chính trị và văn học Liên Xô muốn có một “nhà văn Tolstoy cộng sản” riêng, một cuộc “Chiến và Hòa bình” của Liên Xô. Họ gợi ý và kỳ vọng vào cây bút Vasily Grossman. Anh đã sẵn sàng đón nhận thử thách này. Tình huống khó xử khi hoàn thành phần I về cuộc chiến Stalingrad của anh  khiên anh không nguôi tham vọng. Tuy nhiên Grossman đã hiểu quá rõ rằng anh ta sống ở một thế giới rất khác và anh không thể đơn giản sao chép Tolstoy.

Mặt khác, Grossman nhận thức được rằng sự tàn bạo của Chiến tranh thế giới thứ Hai là vô cùng khủng khiếp hơn bất cứ điều gì mà Tolstoy tưởng tượng:

Grossman nhiều lần nhấn mạnh đến mức không thể tìm được từ ngữ cho sự kinh hoàng của những gì mà các nhân vật của ông đã chứng kiến. Ông viết về Thiếu tá Berozkin, một trong những nhân vật tích cực nhất trong toàn bộ cuốn tiểu thuyết, chính ông đã chiến đấu vào mùa hè năm 1941 tại các khu rừng phía tây Belorussia và Ukraina. Anh ta đã sống sót sau nỗi kinh hoàng đen tối của những ngày đầu chiến tranh; anh ấy biết tất cả mọi thứ và đã nhìn thấy mọi thứ. Khi những người đàn ông khác kể chuyện về cuộc chiến, thiếu tá khiêm tốn này lắng nghe với một nụ cười lịch sự. Tôi đã thấy những điều không thể nói, mà không ai có thể viết ra.

Quan trọng hơn nữa, Grossman nhận thức rõ rằng vị trí nghệ sĩ của mình rất khác so với Tolstoy. Tolstoy được tự do viết theo ý mình. Grossman thì phải chiến đấu với sự kiểm duyệt tuyên giáo trong suốt sự nghiệp của mình.

Cả hai cuốn tiểu thuyết đều được cấu trúc xung quanh cuộc sống của các thành viên trong một, hai đại gia đình. Cả hai đều được phân chia giữa các mảng của cuộc sống quân sựdân sự. Cả hai đều bao gồm các đề tài bao quát về lịch sử, chính trị và triết học. Tuy nhiên, có một sự khác biệt cơ bản.

BÌA TIẾNG aNH

(Bìa bản tiếng Anh)

  1. SƠ LƯỢC CỐT TRUYỆN

Cuốn tiểu thuyết kể về lịch sử của gia đình Viktor ShtrumTrận chiến Stalingrad. Nó được viết, mặc dù đã cố gắng thoát khỏi nó để theo phong cách “hiện thực xã hội chủ nghĩa” có thể làm cho nó có vẻ kỳ quặc trong các phần đối với độc giả phương Tây.

Là một cuốn tiểu thuyết nhiều mặt, một trong những chủ đề của nó là Mặt trận phía Đông, là cuộc đấu tranh giữa hai quốc gia chuyên chế tương đương. Bi kịch của người dân thường là họ phải chiến đấu với cả kẻ xâm lược và chế độ toàn trị trong chính nhà nước của họ

Tiểu thuyết với vô số câu truyện diễn ra đồng thời trên khắp Nga và Đông Âu. Mặc dù mỗi câu chuyện có một sự tiến triển tuyến tính, các sự kiện không nhất thiết phải được trình bày theo thứ tự thời gian. Chẳng hạn, Grossman sẽ giới thiệu một nhân vật, bỏ qua nhân vật đó trong hàng trăm trang và sau đó quay lại kể lại các sự kiện diễn ra vào ngày hôm sau. Do đó, rất khó để tóm tắt tiểu thuyết, nhưng cốt truyện có thể được rút gọn thành ba cốt truyện cơ bản: gia đình Shtrum, Shaposhnikov, cuộc bao vây Stalingrad và cuộc sống trong các nông trại của Liên Xô song song với cuộc sống trại tập trung của Đức Quốc xã. Mặc dù tiểu thuyết được chia thành ba phần, nhưng tất cả các cốt truyện này đều tái xuất hiện trong mỗi phần.

Viktor Shtrum là một nhà vật lý tài giỏi, cùng với vợ, Ludmila, và con gái, Nadya, đã được sơ tán từ Moscow đến Kazan. Anh đang gặp khó khăn lớn với công việc của mình, cũng như với gia đình. Sau đó anh nhận được một lá thư từ mẹ mình từ bên trong một khu ổ chuột Do Thái thông báo rằng anh ta sẽ sớm bị giết bởi người Đức. Ludmila, trong khi đó, đến thăm con trai từ cuộc hôn nhân đầu tiên của cô, Tolya, trong một bệnh viện quân đội, nhưng anh ta chết trước khi cô đến. Khi cô trở về Kazan, cô vô cùng xa cách và dường như vẫn đang mong đợi sự trở lại của Tolya. Viktor thấy mình tham gia vào các cuộc trò chuyện chống Liên Xô tại nhà của đồng nghiệp của anh ta, Sokolov, một phần để gây ấn tượng với vợ của Sokolov, Marya (người bạn duy nhất của Ludmila). Anh luôn so sánh các tình huống chính trị với vật lý, và nhận xét rằng Chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa Stalin không quá khác biệt. Sau đó, anh hối hận vì những cuộc thảo luận này vì sợ rằng anh ta sẽ bị tố cáo, một sự thiếu quyết đoán gây khó khăn cho việc ra quyết định của anh ta trong suốt cuốn tiểu thuyết. Đột nhiên, Viktor tạo ra một bước đột phá toán học khổng lồ, giải quyết các vấn đề đã cản trở các thí nghiệm của anh ta. Các đồng nghiệp của Viktor chậm phản ứng, nhưng cuối cùng cũng chấp nhận thiên tài khám phá của anh ta. Tuy nhiên, sau khi quay trở lại Moscow, những người cao cấp bắt đầu chỉ trích những khám phá của ông là chống Lênin và họ đã tấn công bản sắc Do Thái của ông. Viktor, tuy nhiên, từ chối ăn năn công khai và buộc phải từ chức. Anh ta sợ rằng mình sẽ bị bắt, nhưng sau đó nhận được một cuộc gọi từ chính Stalin (có lẽ vì Stalin đã cảm nhận được tầm quan trọng của quân đội trong nghiên cứu hạt nhân), và ngay lập tức đảo ngược vận may của anh ta. Sau đó, anh ký một lá thư tố cáo hai người đàn ông vô tội và sau đó họ bị buộc tội. Những chi tiết cuối cùng về Viktor liên quan đến mối tình không hồi kết của anh với Marya.

Các sự kiện được kể lại tại trung tâm Stalingrad về cô Yevghenia Shaposhnikova (em gái của Lyudmila), Krymov (chồng cũ của cô) và Novikov (người yêu của cô). Sau khi kết nối lại với Novikov, Yevghenia di tản đến Kuibyshev. Novikov, chỉ huy của một quân đoàn xe tăng Liên Xô, gặp viên tướng Nyeudobnov và Chính ủy Getmanov, cả hai đều là những mũi nhọn đột nhập. Họ cùng nhau bắt đầu lên kế hoạch cho cuộc phản công vào Stalingrad. Novikov trì hoãn việc bắt đầu cuộc tấn công vì sợ hy sinh binh lính của mình một cách không cần thiết. Getmanov sau đó tố cáo Novikov và anh ta được triệu tập để xét xử, mặc dù cuộc tấn công xe tăng là một thành công hoàn toàn. Trong khi đó, Krymov, một Chính ủy, được cử đến để điều tra Nhà 6/1, nơi một nhóm binh sĩ nhỏ bé đã giữ chân người Đức trong nhiều tuần, mặc dù họ bị bao vây hoàn toàn và cắt đứt mọi nguồn cung cấp. Grekov, sĩ quan chỉ huy, từ chối gửi báo cáo, và coi thường những lời hoa mỹ của Krymov. Sau đó anh ta đã làm Krymov bị thương trong giấc ngủ, khiến anh ta phải bỏ chạy khỏi nhà. Ngay sau đó, Nhà 6/1 hoàn toàn bị san bằng bom Đức. Krymov, một người cộng sản trung thành, sau đó bị buộc tội là kẻ phản bội (đây là tiêu chuẩn cho những người lính Nga bị mắc kẹt sau hàng ngũ kẻ thù) và bị gửi đến nhà tù Lubyanka ở Moscow, nơi anh ta bị đánh đập và buộc phải thú nhận. Yevghenia quyết định không kết hôn với Novikov và đến Moscow để thử và thăm Krymov. Anh nhận được một gói hàng từ cô và nhận ra rằng anh vẫn còn yêu cô nhưng có thể không bao giờ được ra tù.

Nhiều phần diễn ra trong các trại có một vài nhân vật trở đi trở lại, ngoại trừ Mostovskoy, một người Bolshevik già tham gia vào một âm mưu nổi dậy chống lại người Đức,nhưng bị mất niềm tin vào chủ nghĩa cộng sản. Người thẩm vấn ông là sĩ quan SS tên Liss, khẳng định rằng Chủ nghĩa phát xít và Chủ nghĩa Cộng sản là hai mặt của cùng một đồng tiền, đã làm đảo lộn tâm trí Mostovskoy rất nhiều. Ông ta sau đó bị người Đức giết chết vì tham gia cuộc nổi dậy. Trong một cảnh, sĩ quan SS.Sturmbannführer Liss nói với Mostovskoy rằng cả Stalin và Hitler đều là những người lãnh đạo theo công thức mới về mặt chất lượng: “Khi chúng ta nhìn vào khuôn mặt của nhau, chúng ta không chỉ thấy một khuôn mặt đáng ghét; bạn có nhận ra chính mình, có thấy ý chí mạnh của bạn trong chúng tôi không?”

Khi Grossman chuyển sang Phần thứ ba của cuốn tiểu thuyết, anh viết với phong cách ngày càng phân tích và từ bỏ nhiều nhân vật mà anh đã tạo ra. Các âm mưu duy nhất đạt được sự đóng cửa thực sự là những người có nhân vật chính bị diệt vong trong chiến tranh. Tất cả những nhân vật này, dường như ông nói, là một phần của một câu chuyện lớn hơn, đang diễn ra  về nước Nga và nhân loại. Chương cuối cùng củng cố quan niệm về tính phổ quát này. Tác giả giới thiệu một tập hợp các nhân vật vẫn ẩn danh: một góa phụ già quan sát người thuê nhà, một sĩ quan quân đội bị thương vừa mới xuất viện, vợ và con gái nhỏ của họ. Tuy nhiên, kết thúc là viên sĩ quan trở về với gia đình của anh ta là thiếu tá Byerozkin, một nhân vật từ Stalingrad, người được chứng minh là một người đàn ông tốt bụng đang đấu tranh để giữ lại nhân tính. Do đó, theo một nghĩa nào đó, nhiều nhân vật đã chết, hoặc trải qua bi kịch, nhưng ít nhất một người tốt về cơ bản có được kết thúc có hậu.

Grossman mô tả kiểu chức năng của đảng viên Cộng sản, những người mù quáng tuân theo đường lối của Đảng và tạo thành cơ sở cho chế độ áp bức. Sagaidak, một nhân vật chính trị như vậy, Sagaidak, cho rằng toàn bộ gia đình và làng mạc đã cố tình tự chết đói trong quá trình tập thể hóa ở Liên Xô.

  1. SỰ GIỐNG NHAU ĐÔI NÉT GIỮA “CUỘC ĐờI VÀ Số PHẬN” VỚI “CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH”

Grossman tự nhận mình chịu ảnh hưởng của Toolstoi. So sánh hai tác phẩm cách nhau 100 năm là sự khập khiễng. Chủ yếu giống nhau về hình thức cấu trúc tác phẩm, cách phân chia các tuyến nhân vật. Về tư tưởng cũng có vài nét tương đồng và khác biệt lịch sử.

Hai mảng hiện thực cuộc sống chiến tranh và hòa bình xen kẽ.

Hai tuyến nhân vật đối lập theo từng cặp:

Một bên là Nga hoàng, đại tướng Kutouzov. Bên kia là Napoleon và vua Áo

Một bên là Staline, các tướng lĩnh sĩ quan. Bên kia Hitler và tướng tá phát xít

Tolstoi miêu tả nhóm quí tộc trại ấp và cung đình là nhân vật trung tâm.

Grossman miêu tả nhà khoa học, các chính ủy, sĩ quan cỡ trung là nhân vật trung tâm.

Giống nhau đặc biệt: Tolstoi khẳng định công lao chiến thắng là thuộc về nhân dân và sĩ quan quí tộc. Grossman xác định công lao chỉ thuộc về nhân dân (khác một chút).

Cả hai nhà văn đều thờ ơ, không ca tụng công lao của lãnh đạo tối cao (Nga hoàng và Staline). Thậm chí, Grossman còn khéo léo “đồng nhất” Đảng CS Liên Xô và kẻ thù là Chủ nghĩa phát xít.

4. MỘT SỐ CHỦ ĐỀ CHÍNH CỦA “CUỘC ĐờI & Số PHẬN”

4.1 Chủ đề về bản sắc Do Thái và cuộc diệt chủng đại qui mô

Viktor Shtrum là một phần phản ánh tính cách của Grossman. Có nhiều sự chồng chéo giữa cuộc sống của Shtrum và cuộc sống của Grossman,như cái chết của mẹ họ trong cuộc diệt chủng. Lớn lên như một người Do Thái, rõ ràng Shtrum phát hiện ra một phần bản sắc của mình thông qua những đau khổ mà anh gặp phải.

4.2 Ý tưởng của Grossman về con người và lòng tốt của con người

Ở chương 15 Phần II, Grossman sử dụng lá thư của Ikonnikov để đưa ra quan điểm của riêng mình về loài người. Đầu tiên anh ta hỏi liệu một điểm chung cho tất cả mọi người tồn tại, và sau đó tiến hành mô tả lý tưởng tốt đẹp đã thay đổi như thế nào đối với các chủng tộc và tôn giáo khác nhau. Lịch sử loài người không phải là cuộc chiến đấu tranh để chống lại cái ác. Đó là một trận chiến được chiến đấu bởi một ác quỷ vĩ đại đang đấu tranh để nghiền nát hạt nhân của lòng tốt của con người. Nhưng nếu những gì là con người trong con người chưa bị hủy diệt ngay cả bây giờ, thì cái ác sẽ không bao giờ chinh phục được. Ở đây, Grossman đưa ra một giải pháp thay thế cho sự tuyệt vọng: ý tưởng rằng, bất chấp cái ác vĩ đại như vậy, nhân loại và người tốt sẽ là người chiến thắng cuối cùng. Đơn giản, thường không được chú ý, lòng tốt của con người là nền tảng cho lý thuyết của Grossman. Cho dù cái ác có thể lớn đến mức nào, thì hạt nhân cơ bản tốt này là một phần quan trọng trong bản chất con người và không bao giờ có thể bị nghiền nát.

4.3 Sự biến dạng của thực tế và giá trị của Stalin

Theo Grossman, “qua hàng ngàn năm, Nga là đất nước của quyền lực vô biên và độc đoán của các Nga hoàng và những kẻ tạm thời. Nhưng trong một ngàn năm của lịch sử nước Nga, chưa từng có ai thâu tóm một quyền lực như Stalin”.

Ian Buruma đã viết trong bài báo Đánh giá sách của mình ở New York với tựa đề “Nỗi sợ hãi vĩ đại “, Simon Sebag Montefiore [tác giả của cuốn sách Buruma đang xem xét]. Buruma sau đó thông báo cho độc giả rằng, khi Stalin chuẩn bị ra lệnh giết hàng trăm ngàn người trong Đại khủng bố năm 1937, ông nói như sau với một số cộng tác viên lâu đời nhất của mình, những người sắp bị cuốn trôi trong các cuộc thanh trừng: “Có lẽ điều đó có thể được giải thích bằng việc bạn mất niềm tin”.

Thế giới quan này được phản ánh trong chương 40 phần I, khi Grossman mô tả Abarchuk và tình yêu của ông đối với chủ nghĩa Stalin. Anh ấy [Abarchuk] đã lặp lại, “Bạn không thể bị bắt vì không có gì”, tin rằng chỉ có một thiểu số nhỏ bé, trong số họ, đã bị bắt do nhầm lẫn. Thanh gươm công lý đang trừng phạt kẻ thù của Cách mạng. Anh ta đã nhìn thấy sự phục vụ, sự phản bội, sự phục tùng, sự tàn nhẫn … Và anh ta đã gọi tất cả những điều này là ‘vết bớt của chủ nghĩa tư bản’, tin rằng những dấu ấn này đã được tạo ra bởi những người trong quá khứ … Đức tin của anh ta không thể lay chuyển, sự tận tâm của anh ta Đảng là vô hạn. Abarchuk không có khả năng hiểu được thực trạng của tình huống của mình: rằng anh ta đã bị cầm tù sai và sẽ đau khổ bất chấp sự vô tội của mình, như đã xảy ra với rất nhiều người khác. Abarchuk hoàn toàn đắm chìm trong hào quang của Đảng và tận tâm với “tôn giáo Stalin” đến nỗi anh ta không thể nhìn thấy những vi phạm đạo đức xảy ra xung quanh mình.Anh là một sự phản ánh của tôn giáo điên cuồng tôn giáo của chủ nghĩa Stalin; tù nhân chỉ đơn giản là từ chối hiểu tình hình của mình và thay vào đó chọn tập trung vào đức tin và sự tận tâm của mình đối với Đảng.

Do đó, Abarchuk và tâm lý của anh ta, tại thời điểm này trong cuốn sách, những đại diện của Grossman về đảng viên nguyên mẫu và thế giới giấc mơ nơi anh ta đang sống. Mặc dù được thuyết phục với một lý do tuyệt vời để từ bỏ Đảng, Abarchuk vẫn duy trì đức tin của mình.

4.4 Quan điểm của Grossman về chủ nghĩa toàn trị

(kiểu Sô viết và kiểu Đức phát xít)

Tác động của chủ nghĩa toàn trị đối với xã hội là một chủ đề chính khác trong tiểu thuyết của Grossman. “Trận chiến Stalingrad” là giữa hai chính phủ toàn trị. Một là Đức quốc xã phát xít, là những kẻ đối nghịch rõ ràng trong suốt tiểu thuyết. Nhóm khác là Cộng sản Stalin. Grossman không thể lên tiếng chống lại chủ nghĩa cộng sản khi viết Cuộc sống và Số phận, nhưng anh ta có thể che giấu niềm tin của mình về chế độ cộng sản Liên Xô thông qua các nhân vật của mình và bằng cách vẽ ra những điểm tương đồng với chủ nghĩa phát xít.

Nhiều nhân vật trong tiểu thuyết của Grossman bị ảnh hưởng trực tiếp bởi chế độ toàn trị. Nhân vật Abarchuk là một người Cộng sản tận tụy, kết thúc cuộc đời trong một trại lao động. Anh ta nói với mình rằng anh ta chỉ ở đó vì đó là nơi anh ta có thể giúp đỡ nhiều nhất cho Đảng Cộng sản, nhưng rõ ràng anh ta chỉ là một nạn nhân khác của một chính phủ bất công. Nhân vật Krymov là một người khác không làm gì sai mà vẫn bị giam giữ. Anh ta bị buộc tội phản quốc sau khi Getmanov báo cáo về anh ta. Nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết, Viktor Shtrum, là một kẻ nổi loạn trong suốt phần lớn tiểu thuyết. Ông làm công việc của mình cho sự phát triển của khoa học, không phải để phục vụ riêng Liên Xô. Ông cũng từ chối đi làm cho đến khi các nhà lãnh đạo Liên Xô cấp cho ông chức danh đầy đủ. Nhưng một cuộc gọi đơn giản của Stalin khiến anh ta quay lại làm việc nghiên cứu và anh ta thậm chí còn ký một lá thư tố cáo mọi tuyên bố rằng chính phủ Liên Xô bỏ tù người dân dựa trên niềm tin chính trị của họ.

Grossman thấy chủ nghĩa toàn trị của Liên Xô giống như chủ nghĩa phát xít. Ông dốc sức dành nhiều chương để so sánh hai phe. Một cách được thực hiện là thông qua một cuộc đối thoại của một tù nhân trại tập trung của Đức Quốc xã  với tên sĩ quan SS thẩm vấn tù binh.Thay vì thực sự thẩm vấn tù nhân của mình, Mostovskoy, sĩ quan SS Liss cố gắng chỉ cho Mostovskoy những điểm tương đồng giữa Chủ nghĩa Cộng sản và Chủ nghĩa Phát xít. Liss tuyên bố rằng “Đức quốc xã đã học được từ Stalin rằng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một quốc gia, người ta phải phá hủy tự do của nông dân…Stalin đã không từ chối thanh lý hàng triệu nông dân. Hitler của chúng tôi thấy rằng người Do Thái là kẻ thù cản trở phong trào xã hội chủ nghĩa quốc gia Đức. Và ông ấy cũng thanh lý hàng triệu người Do Thái”.

Có một số chương mà Grossman thậm chí còn thẳng thắn hơn trong quan điểm của mình về chủ nghĩa toàn trị. Grossman cũng tham khảo các sự kiện đã xảy ra ở Nga như các cuộc nổi dậy ở Berlin, Hungary và Siberia trong những năm 1950 trong sự chỉ trích của ông về chủ nghĩa toàn trị.

  1. TỔNG BÍ THƯ KHRUTSOV CŨNG KHÔNG DÁM BÊNH VỰC GROSSMAN

Nhà nghiên cứu văn học Semyon Lipkin (1911-2003) viết bài “Chính nghĩa chiến thắng” cho chúng ta biết về số phận một tác phẩm vĩ đại trong một thể chế cộng sản độc đoán.

“Năm 1961, Vasily Grossman bị gọi đến chỗ Mikhail Suslov, bí thư Ban Trung ương đảng Cộng sản Liên Xô, trùm tư tưởng văn hóa. Suslov thông báo cho nhà văn biết: đảng và nhân dân đánh giá cao những tác phẩm của Grossman như “Nhân dân bất tử”, “Stepan Kolchugin”, những truyện ngắn và tùy bút về đề tài chiến tranh. Nhưng nói về tiểu thuyết “Cuộc đời và số phận“, thì đây, tiểu thuyết đó cùng lắm chỉ có thể được ấn hành hai, ba trăm năm sau. Những nhà lãnh đạo Hội Nhà văn thời bấy giờ cũng nói với Grossman như vậy.

Sau khi Stalin chết, trận đấu đá chống lại nhà văn mới chấm dứt.

“Và khi Alexander Fadeyev chủ tịch Hội nhà văn Liên Xô (người sau này tự sát vì bế tắc tư tưởng) phát biểu trong Đại hội nhà văn lần thứ 2, ông còn đủ nghị lực để xin lỗi Grossman vì trước kia, ông ta từng đả phá tiểu thuyết “Vì chính nghĩa” một cách không công bằng. Sau đó, cuốn tiểu thuyết đó cũng được hai nhà xuất bản ấn hành.

“Nhớ lại đầu mùa đông năm 1960, Grossman đem cho tôi xem bản thảo đánh máy tiểu thuyết “Cuộc đời và số phận”, dày hơn ngàn trang. Khi đọc đến đoạn cuối của bản thảo, tôi chợt hiểu: tôi được may mắn là độc giả đầu tiên của một tác phẩm xuất sắc, và tôi dám hi vọng rằng, của một kiệt tác bất tử.

Đến ngày nay, tôi vẫn còn giữ một bản sao của lá thư:

Gửi Nikita Sergeyevich Khrushchev, tổng bí thư Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô.

Tôi muốn thẳng thắn chia sẻ những suy nghĩ của tôi với Đồng chí. Trước hết, phải nói rằng tôi không kết luận cuốn sách của tôi chứa đựng những điều gian dối. Trong cuốn sách của tôi, tôi đã viết những gì tôi coi là đúng đắn và đến nay, tôi vẫn coi chúng là đúng; tôi chỉ viết những gì tôi đã suy ngẫm, đã chiêm nghiệm, đã chịu đựng.

Cuốn sách của tôi không phải là thứ văn chương chính trị. Trong mức độ năng lực nghèo nàn của mình, tôi đã viết về con người, về nỗi buồn, niềm vui, về những bước lạc lối của họ, về cái chết của họ, về tình thương con người và lòng đồng cảm với con người.

Trong cuốn sách của tôi có những trang cay đắng, nặng nề, đưa chúng ta về quá khứ, về cơn lốc chiến tranh. Có thể không nhẹ nhàng khi đọc những trang sách đó. Nhưng đồng chí hãy tin rằng tôi cũng không hề nhẹ nhõm khi viết chúng. Tuy nhiên, tôi vẫn cứ phải viết.(…) Tại Đại hội XX, Đồng chí đã không ngần ngại lên án những hành động phi pháp và tàn bạo đẫm máu do Stalin gây ra. Đồng chí đã làm điều đó với một nghị lực và lòng quả cảm hoàn toàn khiến tôi có quyền suy nghĩ.(…)

Xin Đồng chí hãy trả lại tự do cho cuốn sách của tôi, đề nghị hãy để cho các biên tập viên – chứ không phải các nhân viên Cơ quan An ninh Quốc gia – tranh luận với tôi về bản thảo của tôi.

Có một cái gì đó vô nghĩa và dối trá trong hiện trạng của tôi, trong sự tự do thân thể của tôi, khi cuốn sách mà tôi đã dành cho nó cả đời tôi đang ở trong tù ngục, rốt cuộc tôi cũng đã viết nó, rốt cuộc tôi cũng đã không từ bỏ nó và cũng sẽ không phủ nhận nó. Mười hai năm đã trôi qua kể từ ngày tôi bắt tay viết cuốn sách này. Ý kiến của tôi vẫn không thay đổi: tôi đã viết sự thật trong đó, bằng tình thương, bằng nỗi đồng cảm với con người và bằng niềm tin vào con người. Xin Đồng chí hãy trả tự do cho cuốn sách của tôi”.  (trích Trần Lê chuyển ngữ từ bản tiếng Nga, đăng Nhịp cầu thế giới online – tại Hungary).

KẾT

Ngẫm suy về số phận hai nền văn học Việt Nam- Liên Xô cùng ý thức hệ cộng sản, tất nhiên chúng ta thấy có nhiều điểm tương đồng.

Sau 1975, rất giống Đảng anh cả Liên Xô, Đảng CSVN cũng kỳ vọng lớn vào giới văn nghệ sĩ. Giành được lãnh thổ rồi, họ muốn giành được vinh quang do giới văn nghệ sĩ đem lại cho họ để được “đóng đinh” vào lịch sử muôn đời. Họ nhắc nhở thẳng tưng rằng các văn nghệ sĩ còn “mắc nợ lịch sử” (nợ ai?) Đảng lấy tiền thuế Dân cấp kinh phí nuôi sống các hội VHNT với tham vọng họ sẽ sáng tác cho đời sau “tác phẩm sử thi vĩ đại” ca tụng công lao Đảng.

Tuy nhiên hơn 44 năm trôi qua rồi (1975- 2019), chẳng những không có tác phẩm tầm cỡ, mà còn có nguy cơ văn nghệ sĩ dần dần“phản tỉnh”, mất cả chì lẫn chài nữa. Quả đắng “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh không thể sánh tầm vóc với “Cuộc đời và số phận” Grossman nhưng dù sao chúng ta cũng có thể tin tưởng vào nhàvăn VIêt ệtNam

 “Nỗi buồn chiến tranh” dù chưa thể sánh với “Cuộc đời và số phận” cũng khiến Đảng Việt Nam khó nuốt trôi. Đảng sơ suất lỡ để nó ra đời rồi, giờ có muốn “bắt giữ bản thảo” (như “Cuộc đời và số phận” của Grossman) cũng đã muộn. Và bây giờ có muốn vùi dập nó cũng là không thể, vì nó tuột khỏi vòng tay Đảng rồi. Ấy là nhờ thế giới đã chuyển sang trang mới.

CHÚ THÍCH

Cuộc đời và số phận” chưa được dịch ở Việt Nam. Cuốn này chỉ được giới thiệu  sơ qua và trích dịch một vài đoạn trên tuần báo “Văn nghệ” ở Việt Nam vào thời kỳ “cởi trói” cuối thập niên 80 (giai đoạn Nguyên Ngọc tổng biên tập).

Tài liệu tham khảo chính

Robert Chandler: http://tolstoy.ku.edu/personal-reflection/vasily-grossman-and-leo-tolstoy-by-robert-chandler/

Tạp chí “Nhịp Cầu Thế Giới” online,  giấy phép của Bộ Di sản Văn hóa Dân tộc Hungary.2.2.4./73/2002.

PHN

 

ĐỀ NGHỊ ĐỐI THOẠI

Hà Nội, ngày 20 tháng 7 năm 2019 

ĐỀ NGHỊ ĐỐI THOẠIgs cong 2

Kính gửi Ông Võ Văn Thưởng – Trưởng Ban Tuyên giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Thưa ông, 

vo van thuong

ĐCSVN đang chuẩn bị đại hội XIII để thảo luận và quyết định nhiều điều quan trọng liên quan mật thiết đến vận mệnh đất nước chứ không phải chỉ riêng cho Đảng. Vì lẽ đó mà chúng tôi, những người tự nhận là nhân sĩ, trí thức yêu nước thấy có trách nhiệm đóng góp ý kiến xây dựng.

Việc góp ý bằng kiến nghị, bằng thư như vẫn làm trước đây đã tỏ ra có rất ít tác dụng. Thấy rằng chỉ còn việc tổ chức đối thoại là biện pháp có hiệu quả trực tiếp hơn. Chính ông là người biết rõ và đã đề xướng việc này và đã từng phát biểu: “ Không sợ đối thoại, không sợ tranh luận, bởi vì sự phát triển của mỗi lý luận và của học thuyết cách mạng nào rồi cũng phải dựa trên sự cọ xát và tranh luận. Và cũng chính sự tranh luận đó tạo ra cơ sở để hình thành chân lý”.

Đó là đối thoại giữa A và B

Bên A là Đảng và Chính quyền. Người đại diện có thể là chính ông, cấp cao hơn và các cộng sự.

Bên B là một số cá nhân, bất đồng về vài đánh giá tình hình hoặc đường lối do bên A công bố. Họ có thể là đại diện cho một vài tổ chức xã hội dân sự hoặc chỉ là cá nhân độc lập, có thể là đảng viên đang sinh hoạt, đảng viên đã từ bỏ Đảng hoặc người ngoài Đảng. Họ có kiến thức và thái độ ôn hòa.

Hiện nay tồn tại một vài lực lượng và cá nhân chống cộng cực đoan, bên B không bao gồm những người như vậy.
Phải đối thoại vì quan điểm của A và B có nhiều trái ngược mà bên nào cũng tự cho mình là đúng và phản bác bên kia. 

A là chính thống, tự nhận hoàn toàn đúng đắn và tiến bộ, cho B là thế lực thù địch, không chịu hợp tác, tìm cách loại bỏ. 

B tự cho mình là những người yêu nước chân chính, chỉ một lòng vì nước vì dân, phê phán A là giáo điều, cố chấp, phản tiến bộ, phản dân chủ, gây ra nhiều tai họa, làm kìm hãm sự phát triển đất nước.

Những trái ngược như vậy làm chia rẽ dân tộc, làm yếu đi sức mạnh tổng hợp cần thiết cho phát triển. Đặc biệt nó có thể làm cho những người đứng đầu Đảng và Nhà nước đánh giá sai tình hình, từ đó đề ra những chủ trương đường lối không hợp quy luật, trước mắt là việc chuẩn bị ĐH XIII của Đảng.

Đối thoại tạo cho mỗi bên trình bày và bảo vệ quan điểm, tiếp nhận những lập luận và phê phán của bên kia để điều chỉnh và hoàn thiện nhận thức, để hợp tác, tìm ra đâu là sự thật, đâu là nguyên nhân cơ bản, chỉ ra việc nào dân tộc cần làm, tìm ra con đường cần đi và đích cần đến…

Đối thoại chứ không phải đấu tranh hoặc đối đầu. Tốt nhất là tổ chức được những buổi đối thoại công khai để cho nhân dân có thể theo dõi và đánh giá. Tuy vậy trước mắt có thể tổ chức những buổi đối thoại trong phạm vi hẹp.

Thưa ông Trưởng Ban Tuyên giáo, 
Trong tình hình hiện nay bên B không thể tự đứng ra tổ chức để mời A đối thoại. Nó chỉ có thể xuất phát từ bên A, mà cụ thể là từ Ban Tuyên giáo. Các ông có thể viện cớ trì hoãn vì Ban Bí thư chưa soạn xong Quy định về đối thoại. Đó là ngụy biện. Để đối thoại điều cần thiết đầu tiên là thiện chí của hai bên. Có quy định của ai đó để tham khảo thì cũng tốt, mà không có cũng được, trong quá trình chuẩn bị hai bên sẽ thỏa thuận với nhau về các điều khoản. Nhưng nếu không có thiện chí thì có thể tìm ra nhiều lý do để lẩn tránh.
Đối thoại giúp mỗi bên phát hiện ra những nhận thức mới, những sự thật mà trước đó chưa thấy hoặc bị nhầm. Khi có thiện chí thì đối thoại sẽ mang lại nhiều lợi ích tốt đẹp cho mỗi bên. Thế nhưng việc đối thoại đang gặp một số cản trở về tâm lý, đó là sự đánh giá nhầm của bên này về bên kia và tự đánh giá nhầm về mình.

A có những đánh giá nhầm về B như ghép họ vào cùng loại người “thoái hóa đạo dức”, hiểu nhầm đến quy kết sai mục tiêu và đánh giá sai phẩm chất của B.

A tự đánh giá quá cao, không thấy được những sai lầm từ bản chất, phản ảnh không đúng thực tại. Lãnh đạo Đảng quá tin vào những điều không có thật nên đã đề ra và thực hiện một số điều trái quy luật.

B có thể chưa hiểu hết về A cũng như cần được A chỉ ra những nhược điểm phạm phải.
Việc đối thoại cũng nhằm để cho những trí thức chân chính được bày tỏ quan điểm và đánh giá với phương châm “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”, nhưng trước hết là để cho Đảng tiếp cận với những nguồn thông tin quan trọng.

Để có thể tổ chức và bắt đầu đối thoại cần phải có với nhau một số thỏa thuận về: Vấn đề đưa ra, người trực tiếp đối thoại ở mỗi bên, người tham gia và chứng kiến, cách tiến hành, địa điểm, thời gian, cách đưa thông tin và bảo mật, v.v. Những vần đề này chúng tôi đã chuẩn bị, nhưng chưa tiện trình ra đây. Điều quan trọng nhất là về phía Đảng, các vị có thấy được sự cần thiết và chấp nhận đối thoại hay không.

Thưa ông, 
Gửi thư này đi chúng tôi mong nhận được trả lời chính thức trong thời gian một tháng để còn chuẩn bị những việc cần thiết.
Để tiến hành việc này, ban đầu chúng tôi gồm một số trí thức thống nhất với nhau, chấp nhận GS Nguyễn Đình Cống làm đại diện. Mọi thông tin liên hệ theo địa chỉ sau:

Số ĐT: 0389 578 620
Email: ndcong37@gmail.com
Gửi thư: Nguyễn Đình Cống- 7A. ngách 23, ngõ 102. Phố Hoàng Đạo Thành , Phường Kim Giang, Q. Thanh Xuân- Hà Nội.

Xin gửi ông lời chào trân trọng.
N.Đ.C.
Tác giả gửi BVN

Nguôn: BVN (Bauxite Vietnam)

HÃY DẸP BỚT KIÊU NGẠO CỘNG SẢN !

HÃY DẸP BỚT KIÊU NGẠO CỘNG SẢN
Gs. Nguyễn Đình Cống

Gần đây tôi được một nhóm trí thức cử làm đại diện nhằm trao đổi với các cơ quan có thẩm quyền của Đảng CSVN để bàn việc tổ chức đối thoại. 

Nhóm này gồm trên mười trí thức hoạt động cho công cuộc dân chủ hóa đất nước, được các anh Chu Hảo, Phạm Xuân Đại và tôi vận động đồng tình.

Tôi đã viết văn bản ĐỀ NGHỊ ĐỐI THOẠI, gửi ông Võ Văn Thưởng, trưởng Ban Tuyên giáo ĐCSVN vào ngày 20 tháng 7- 2019. Văn bản được gửi bảo đảm qua Bưu điện và mang đến tận văn phòng. Cả 2 nơi đều có biên nhận. Sau vài ngày tôi gửi tiếp cho ông Nguyễn Xuân Thắng, chủ tịch Hội đồng lý luận. Cả 2 văn bản có yêu cầu được trả lời (trước ngày 20 tháng 8 với ông Thưởng, trước ngày 27/8 với ông Thắng).

Thế nhưng cho đến ngày 30 tháng 8, tôi không nhận được một thông tin gì từ phía các ông. Họ không trả lời, dù một câu qua điện thoại, rằng đã nhận được đề nghị.

Tại sao vậy? 
Quá bận chăng? 
Có lẽ chỉ có thể giải thích bằng thái độ kiêu ngạo cộng sản. Kiêu ngạo này là của cá nhân hay là một chủ trương của Bộ Chính trị mà các ông phải chấp hành. Dù sao thì đây cũng là biểu hiện thiếu tôn trọng, thiếu lịch sự, thiếu văn hóa.

Ông Thưởng từng phát biểu: “Đối thoại, tranh luận tạo cơ sở để hình thành chân lý”. Từ chối đối thoại phải chăng Ban Tuyên giáo, Hội đồng lý luận của ĐCSVN không muốn, không cần tìm chân lý.

Các vị lãnh đạo ĐCSVN có một nhầm lẫn tai hại, nghĩ rằng dựa vào đội ngũ trí thức của Đảng, dựa vào các ban ngành, các hội đồng, hội thảo mà họ có thể tìm thấy toàn bộ sự thật.

Không đâu. Vì kém trí tuệ, thiếu dũng cảm, yếu về phương pháp, lại bị ý thức hệ Mác Lê không chế, bị các điều cấm đảng viên kiềm tỏa nên các trí thức và cán bộ của Đảng chỉ có thể tìm ra một phần của sự thật mà lãnh đạo muốn nghe. Mà khốn thay đa số những phần đó không chứa đựng bản chất thường ở dạng ẩn giấu.

Tiếc thay vì kiêu ngạo CS mà lãnh đạo Đảng đã bỏ qua một cơ hội trao đổi với một số trí thức của dân tộc.

Đối lại với thái độ kiêu ngạo và coi thường người dân của các tổ chức và cán bộ ĐCSVN, tôi công khai ĐỀ NGHỊ ĐỐI THOẠI này để dư luận rộng rãi được biết.
Sau đây là văn bản gửi ông Thưởng. Văn bản gửi ông Thắng có nội dung tương tự, chỉ thay đổi vài câu liên quan đến vai trò cá nhân.
*

Fb.Hoàng Hưng

KHI CÁC ĐỆ TỬ CỦA LÊ NIN ĐI QUÁ TRỚN

KHI CÁC ĐỆ TỬ CỦA LÊ NIN ĐI QUÁ TRỚN

Nina Khrushcheva

Matskva ngày 14 tháng 8 năm 2019

Phùng Hoài Ngọc dịch

(đăng Việt Nam Thời Báo ngày 27/8/2019)

Hai nhà độc tài

Ghi chú về tác giả: Nina Khrushcheva (sinh 1964), giáo sư về các vấn đề quốc tế tại Trường Học Mới (The New Scholl), New York, Hoa Kỳ, thành viên cao cấp của Viện chính sách thế giới, New York, Hoa Kỳ và là biên tập viên đóng góp cho dự án SYNDICATE (Hiệp hội báo chí toàn thế giới).

Cô cũng là GS thỉnh giảng tại Đại học quốc gia Moscow, Liên bang Nga và Đại học Princeton, New Jersey, Hoa Kỳ

Khrushcheva sinh ra ở Moscow, Liên bang Nga và là cháu gái của cựu TBT Liên Xô Nikita Khrushchev. Khi con trai tổng bí thư là Leonid qua đời trong Thế chiến II, Nikita đã nhận nuôi cô con gái hai tuổi của Leonid là Julia, mẹ của Nina. Tổng bí thư Khrushchev là ông cố sinh học của Nina Khrushcheva (ông 4 đời), nhưng là ông nội nuôi về pháp lý. Cha của cô Khrushcheva là Lev Petrov, mất năm 1970, 47 tuổi.

(Ghi thêm về ông nội của Nina Khrushcheva:

LEONID NIKITISH KHRUSHCHYOV (10.11.1917 – 11.3 .1943), phi công quân đội Xô viết. Năm 1942, Leonid Khrushchev đã bắn chết 1 đồng đội khi đùa giỡn lúc say rượu, bị tòa án binh kết án 8 năm tù giam, nhưng được miễn án tù để ra trận chiến đấu. Sau 6 phi vụ thì Leonid đào ngũ sang phía Đức. Cơ quan Tình báo Xô viết đã xâm nhập vào tận Berlin để bắt Leonid đưa về Moscow. Đại nguyên soái Stalin quyết định không có sự ưu đãi nào với tội đào ngũ sang phe địch, kể cả khi đó là con của cộng sự thân thiết, nên Leonid bị xử bắn (Việc Stalin không tha tội cho Leonid có thể là một trong những nguyên nhân chính khiến Nikita Khrushchev công kích Stalin sau khi ông qua đời, mở ra cuộc vận động Chống Staline hóa ở Liên Xô).

Trong đoạn kết bài bình luận, tác giả Nina Khrushcheva nhắc về “số phận” ông cố nội Khrutsov: dịch gỉa xin ghi chú “Năm 1964 tổng bí thư N.Khrutsov bị bỏ phiếu bất tín nhiệm bởi những người đồng chí của mình trong đảng và được thay thế bởi LEONID BREZHNEV trong chức vụ tổng bí thư, Aleksey Kosygin lên làm thủ tướng. Ông được cho về hưu với một căn nhà ở Moskva và một dacha (nhà nghỉ mát) ở vùng quê. Những năm còn lại của cuộc đời ông luôn bị sự giám sát chặt chẽ của cơ quan tình báo Nga KGB. Nhưng hồi ký của ông vẫn được buôn lậu ra phương Tây và được xuất bản một phần vào năm 1970. Khrushchyov mất năm 1971 vì bệnh tim.

Cuốn sách mới nhất của cô Nina (với Jeffrey Tayler) là “Bước đi mới của Putin: Tìm kiếm linh hồn của một đế chế trên khắp Khu vực mười một múi giờ nước Nga” (In Putin’s Footsteps: Searching for the Soul of an Empire Across Russia’s Eleven Time Zones).

Nina Khrushcheva

“Tổng thống Nga Vladimir Putin và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong nhiều năm đã uốn cong các cơ chế chính sách đối ngoại và củng cố quyền lực tại quê nhà của họ. Nhưng Nga và Trung Quốc hiện đang ngày càng xuât hiện cô lập trên trường thế giới, và câu hỏi bây giờ là liệu cuối cùng họ đã đi – hay sẽ sớm đi – quá xa, quá trớn rồi.

Các cuộc biểu tình trên đường phố đang diễn ra ở Hồng Kông và Moscow không nghi ngờ gì đã làm hoảng sợ cặp đôi độc tài Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Nga Vladimir Putin. Các cuộc biểu tình ở Matxcơva, lớn nhất trong nhiều năm, hẳn khiến Putin phải thức đêm, hoặc họ sẽ bị xua tan với sự tàn bạo không giảm sút như vậy. Tuy nhiên, thay vì tổ chức một cuộc đối thoại với người dân, Putin đã chứng minh rằng mình đang kiểm soát, thậm chí còn làm dáng với những bức ảnh trong bộ trang phục da bó sát với băng đảng xe máy yêu thích của mình.

Tuy nhiên, các cuộc biểu tình đã trở thành một dấu hiệu sâu sắc về tính đại chúng ngày càng giảm của Putin, kể cả trong giới tinh hoa Nga, những người có quan điểm chủ đề khác với các hình thức quan điểm của đa số dư luận. Trong hai thập kỷ, các phe phái đối thủ trong giới tinh hoa của Nga nói chung đã coi Putin là người bảo đảm cuối cùng cho lợi ích của họ – đặc biệt là lợi ích tài chính của họ. Nhưng khi nền kinh tế Nga đã chìm trong sự đình trệ do lệnh trừng phạt, sự lãnh đạo của Putin đã bắt đầu giống như một kẻ ngáng đường hơn là một hàng rào bảo vệ. Càng ngày càng ít người Nga vẫn chấp nhận rằng “Putin là Nga và Nga là Putin”, một câu thần chú mà người ta thường nghe thấy chỉ 5 năm trước, sau khi Kremlin sáp nhập Crimea.

Hơn nữa, niềm hy vọng của Putin rằng Tổng thống Mỹ Donald Trump sẽ cải thiện quan hệ với Nga đã bắt đầu tỏ vẻ thiển cận, nếu không muốn nói là hết sức ảo tưởng. Mặc dù Trump đã làm suy yếu các thể chế của Mỹ và làm xói mòn các liên minh phương Tây, vốn đóng vai trò trong sự ảnh hưởng của Putin, nhưng Nhà Trắng cũng khiến chính sách đối ngoại của Mỹ hoàn toàn không thể đoán trước. Tồi tệ hơn, chính quyền Trump hiện đang tháo gỡ một cách có hệ thống các hiệp ước kiểm soát vũ khí vốn từ lâu đã mang lại một số mức độ chắc chắn cho các vấn đề hạt nhân.

Giới tinh hoa Nga biết rằng đất nước của họ không sẵn sàng để giành chiến thắng trong cuộc đua vũ trang hạt nhân với Hoa Kỳ như Liên Xô trong những thập kỷ trước. Vụ nổ gần đây của một động cơ tên lửa hạt nhân tại một địa điểm thử nghiệm trên bờ biển phía bắc Bắc Cực của Nga là một lời nhắc nhở nghiệt ngã về sự kém tài sâu sắc. Và không giống như Putin, giới tinh hoa Nga lo lắng sâu sắc rằng việc Mỹ xa lánh sẽ biến Nga thành một quốc gia trong thực tế là chư hầu của Trung Quốc.

Các cuộc biểu tình ở Hồng Kông, không có dấu hiệu giảm bớt, cũng là sản phẩm của sự vượt quá đà của chính quyền. Họ bắt đầu với một luật đề xuất cho phép công dân và cư dân Hồng Kông bị dẫn độ về lục địa Trung Quốc. Cho rằng luật pháp được đưa ra một cách vụng về bởi nhà lãnh đạo Bắc Kinh sau lưng Hongkong, bà Carrie Lam, có thể giới lãnh đạo Trung Quốc chỉ biết lờ mờ về nó và tác động chính trị tiềm tàng của nó. Tuy nhiên, phản ứng của chính phủ Trung Quốc đối với các cuộc biểu tình đã ngày càng lộ ra tự thất bại.

Để bắt đầu xuất phát, Quân đội Giải phóng Nhân dân đã công khai đe dọa can thiệp để ngăn chặn các cuộc biểu tình chống lại chính quyền bà Lam. Và trong trường hợp những kẻ côn đồ thân chính phủ của “hội Tam hoàng”, rất có thể dựa vào đại lục, đã xuất hiện để tấn công người biểu tình, cảnh sát đã vắng mặt cho thuận tiện. Như mọi người ở Hồng Kông đều biết, những vụ đánh đập ngông cuồng này đã được chấp thuận bởi chính quyền Tập.

Đáng ngại hơn, Tập có thể đã quyết định rằng thời gian cho “một quốc gia, hai hệ thống” đã trôi qua. Trung Quốc, ông ta có thể lập luận, không còn có thể dung túng cho một nền bán dân chủ hoạt động trong lãnh thổ của mình, bất chấp thỏa thuận mà nước này chấp nhận như một điều kiện của Hồng Kông trở lại Trung Quốc vào năm 1997. Lo ngại về Đài Loan và sự trôi dạt chính trị của nó ngày càng xa lục địa, Tập có thể đang nghĩ rằng một chính sách hà khắc khắc nghiệt sẽ khiến người Đài Loan sợ hãi thành phòng tuyến. Nếu làm vậy, ông ta đã quên rằng ức hiếp Đài Loan chỉ mang lại kết quả ngược lại với những gì Trung Quốc dự định.

Sau đó, một lần nữa, Tập có thể đang suy nghĩ về một cái gì đó thậm chí còn tồi tệ hơn. Nếu ông ta kết luận rằng chính quyền Trump của “Nước Mỹ trước hết” sẽ không làm gì để bảo vệ Đài Loan, ông ta có thể xem xét một cuộc tấn công quân sự chớp nhoáng vào hòn đảo để đưa nó trở lại dưới sự kiểm soát của Đại lục. Nhưng điều này cũng sẽ là một sai lầm. Với bối cảnh rộng lớn hơn về quan hệ Trung-Mỹ, ngay cả chính quyền Trump cũng có thể sẽ phản ứng với chủ nghĩa phiêu lưu quân sự của Trung Quốc tại Đài Loan. Bên cạnh đó, Mỹ không cần phải tham gia vào một cuộc đối đầu quân sự mở với Trung Quốc để khiến cho sự gây hấn đối với Đài Loan đáng trở nên rắc rối hơn. Hải quân Hoa Kỳ vẫn có khả năng cắt đứt các tuyến đường biển cung cấp năng lượng và khoáng sản cho Trung Quốc, bất kể Mỹ có tích cực tham gia vào vấn đề Biển Đông hay không.

Như với Putin, sự vượt quá đà dường như là vị trí mặc định của Tập, ngày nay, đánh giá bằng cách ông ta xử lý cuộc chiến thương mại và hành vi hung hăng đối với các nước láng giềng Trung Quốc. Trên thực tế, việc uốn cơ bắp của Tập Cận Bình đã không được chú ý đến mức Trung Quốc giờ đây thấy mình ngày càng bị cô lập về mặt ngoại giao. Hầu như tất cả các cường quốc quân sự và kinh tế hàng đầu thế giới – Liên minh châu Âu, Ấn Độ, Nhật Bản, Brazil – vẫn duy trì mối quan hệ thực dụng với những người tiền bối của Tập. Nhưng họ đã trở nên ngày càng thận trọng cảnh giác với Trung Quốc, và một số thậm chí còn tiến gần hơn đến Mỹ (trong thời đại của Trump, không hơn không kém).

Như trong trường hợp của Nga, những người ưu tú của Trung Quốc sẽ không nghi ngờ gì về việc Tập đang biến đất nước này thành một kẻ bị bỏ rơi sống ngoài lề quốc tế. Thế giới bên ngoài có thể cho rằng lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc là người phụ thuộc vào Tập như Kremlin đối với Putin. Nhưng đó cũng là những gì nhiều người nghĩ về Bộ chính trị Liên Xô cũ và tổng bí thư Nikita Khrushchev ngược lại vào năm 1964. Khrushchev đã bị lật đổ trước cuối năm đó.

Có một chuyện đùa cũ, trong đó bộ trưởng ngoại giao Liên Xô giữ ghế lâu dài, Andrei Gromyko, đã nói dí dỏm “chúng tôi phải loại bỏ Khrushchev. Ông ta là một con bạc liều lĩnh, chúng tôi sẽ chỉ may mắn kiên nhẫn chờ đợi vào Moscow nếu ông ta được tiếp tục”. Khrushchev thực sự bốc đồng khi ông kết thúc cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba. Nhưng ông ta đã được thúc đẩy bởi một mong muốn duy trì ngang bằng quân sự với Hoa Kỳ. Ông không chia sẻ những ảo tưởng mù quáng kiểu Staline vĩ đại mà dường như nó đang thúc đẩy Putin và Tập đánh cuộc với quốc gia của chính họ.

Ngày nay, không ai nên cho rằng một trong hai nhà lãnh đạo sẽ không phải chịu số phận của Khrushchev, hay thậm chí là cái chết nghiệt ngã của Stalin, vốn được mong đợi bởi chính đoàn tùy tùng của ông ta, những thành viên đã mệt mỏi vì sự quá trớn bạo ngược của ông ta”.

Nguồn: bản gốc “When Leninists Overreach”:

https://www.project-syndicate.org/commentary/xi-putin-authoritarian-overreach-by-nina-l-khrushcheva-2019-08

PHN

 

ÔNG BẢO ĐẠI CÓ CỐNG HIẾN GÌ CHO NƯỚC VIỆT NAM?

ÔNG BẢO ĐẠI CÓ CỐNG HIẾN GÌ CHO NƯỚC VIỆT NAM?

 Lễ bế mạc khoá đầu tiên Võ Bị Đà Lạt. Tân thiếu úy thủ-khoa chào Quốc Trưởng Bảo Đại và nhận kiếm.

An Nam Yakukohaiyo

Ông Bảo Đại có cống hiến gì cho nước Việt Nam?

– Ông là người có những cải cách mới cho triều đình nhà Nguyễn, bãi bỏ các vị thượng thư già cả lạc hậu thay bằng những người trí thức mới, phế bỏ chế độ thái giám vô nhân tánh, bỏ thủ tục quỳ lạy vua.

– Ông mở rộng ngoại giao với các quốc gia trên thế giới như Cam pu chia, Trung Hoa Dân Quốc, Tân Tây Lan, Úc Đại Lợi, Lào, Anh quốc, Pháp quốc, Ý Đại Lợi, Thái….

– Năm 1945, ông là người bắt Pháp trả lại độc lập cho VN sau gần 100 năm cai trị

– Ông và Trần Trọng Kim tiếp tế cứu đói trong trận đói năm Ất dậu nhưng bị Việt Minh chặn đường cướp.

– Năm 1948, ông yêu cầu Pháp trả lại sáu tỉnh Nam kỳ cho VN bị bảo hộ từ ngày cụ Phan qua xin chuộc bất thành mà tự vận.

– Từ đó, ông thành lập quốc gia Việt Nam với các cải cách dân chủ, lập quân đội, lập nội các, thủ tướng, giáo dục, và viết Hiến Pháp đầu tiên cho quốc gia VN độc lập.

– Ông thành lập Trường võ bị Đà Lạt năm 1948.

– Năm 1949, ông điều hành quốc gia VN và tham gia liên hiệp quốc và được chấp thuận là một quốc gia hợp pháp trong khi VNDCH bị bác đơn.

– Ông đại diện quốc gia VN độc lập gia nhập Liên hiệp quốc tế viễn thông năm 1952 bao gồm vô tuyến, viễn thông, và chọn đầu số điện thoại ở Nam kỳ là (+84).

– Ông thành lập Ngân hàng quốc gia VN vào tháng 1.1955 tại bến Chương Dương.

– Ông dựa vào uy tín của mình kêu gọi quốc tế viện trợ đưa hơn một triệu dân Bắc kỳ vô Nam tỵ nạn cộng sản năm 1954.

Và hơn hết trong gần 20 năm trị vì ông chưa hề làm đổ máu một người con dân Việt Nam nào…

Sau ngày bị phế truất bởi Ngô đình Diệm, Bảo Đại không đem theo bất cứ tài sản nào trong quốc khố ngoại trừ một số bảo vật của hoàng gia.

175 triệu USD vẫn còn nằm trong ngân hàng quốc gia VN do chánh quyền Ngô đình Diệm tiếp quản cộng với 33 tấn vàng trong ngân hàng Pháp từ thời đế quốc VN cũng được chánh quyền Ngô đình Diệm đòi về từ ngân hàng Pháp.

Chuyện ngoài lề

Hồi Nhựt vô xin Bảo Đại cấp quân binh, Bảo Đại cương quyết ko cho vì ko muốn anh em nhà binh phải đổ máu.

Nên đối với ông, cái gì gọi là “mơ ước hay giấc mơ cầm súng đánh giặc” là một điều thảm hại đau thương thay vào đó là tìm cách mưu cầu hoà bình.

Hồi 1945 khi mà cộng sản chưa thâu tóm được một quốc gia nào ở Đông Á, thì nó chỉ ngấm ngầm len lỏi vào các đảng phái lớn mạnh để tồn tại và sinh tồn bằng việc lợi dụng những bất ổn chánh trị của quốc gia đó mà phát triển theo kiểu chánh nghĩa, ít ai được hiểu về nó và có cơ hội thấy những việc nó làm như sau này.

Tại Việt Nam, CỘNG SẢN núp trong tổ chức yêu nước gọi là Việt Minh, ông Hồ không lấy danh nghĩa cộng sản mà lấy danh nghĩa là Việt Minh chống Pháp “vì lợi ích dân tộc”.

Trong tình huống dầu sôi lửa bỏng giữa việc Nhựt tình nguyện “ủng hộ ngôi báU nhà Nguyễn và sự kiện “Việt Minh ép ông thoái vị” .

Bảo Đại đã không ngần ngại bỏ cả ngai vàng, bỏ cả nghiệp đế đã gầy dựng bao trăm năm từ các tiên đế mà chọn lấy sự bình yên cho con dân Việt, 

Ông ngăn chặn Người Nhựt tấn công Việt Minh và ông thoái vị vì muốn giữ lại “từng giọt máu” của con dân mình.

Nếu không chánh biến diễn ra khi Nhựt tuyên chiến ở VN thì hậu quả Nhựt để lại sẽ như Nam Kinh và Triều Tiên. Và Việt Minh có chết hết không thì tôi không biết nhưng người chết chắc chắn là dân Nam, trong đó có khi là ông bà, cha mẹ của chúng ta ngày nay…Thậm chí từng mồ mả ông bà cũng phải tan tành theo chiến cuộc…

Đây có thể là cách làm không hoàn toàn tốt nhưng nó là lựa chọn tốt nhứt trong tình huống khi đó.

Giỗ đầu Bùi Tín – Và chưa chi chiều đã tắt

 Dòng họ Bùi Tín quê huyện Ứng Hòa, Hà Đông (Hà Tây cũ), kể như đồng hương với trang chủ tôi. Hồi đi học, tôi được đọc bài thơ của ông HỒ chí Minh tặng cụ Bùi Bằng Đoàn thân phụ của Bùi Tín trong thời chống Pháp (có lẽ bây giờ các tuyển tập văn đã đục bỏ bài thơ này). Thời chiến tranh đọc các bài báo của Thành Tín (bút danh của Bùi Tín) đầy trên báo Nhân Dân, Quân Đội…

Xin trân trọng giới thiệu bài tùy bút thú vị của Trần Phương từ hải ngoại.

Giang Nam lãng tử

Giỗ đầu Bùi Tín – Và chưa chi chiều đã tắt

Tôi gặp Bùi Tín lần đầu vào một chiều mùa hè năm 1980 tại Hà Nội. Tôi gặp ông lần cuối cũng vào mùa hè 2017 tại California. Tôi không bao giờ nghĩ rằng đó là lần cuối.
Những buổi chiều ngắn ngủi bên ông. Chúng tôi đi dạo trong khuôn viên thinh lặng, mêng mông của một trường đại học miền Nam Cali. Ông dừng lại như để lấy thêm hơi thở rồi hỏi tôi có biết loài cây này không. Tôi cố cười để giấu sự dốt nát của minh. Tôi trả lời thành thật. Tên tiếng Việt của nó tôi còn chưa biết nói gì đến tiếng Anh. 
 Ông nói tên tiếng Anh và tiếng Việt của nó.  Ông giải thích vì sao nó tới đất này. Thì ra đó là loài phượng tím. Tôi đã đi trên con đường này bao lần. Hoa tím vương đầy lối mà tôi thật vô tâm.  Chẳng khi nào dừng lại mà tự hỏi đó là cây gì, hoa gì? Rồi tôi suy ngẫm về thân phận con người. Thì ra không phải chỉ có loài người đi tìm nơi lánh nạn, mà cả loài cỏ cây, gỗ đá cũng kiếm nơi trú ẩn.  
Ông và tôi ngồi nghỉ dưới vòm phượng tím, không gian yên tĩnh, nắng chiều Cali thật dịu dàng.  Tôi hỏi ông về câu chuyện trưa 30/4/1975. Khi ông còn ở Việt Nam, sử sách viết rõ: Ông là sỹ quan cao cấp nhất có mặt vào thời điểm đó. Ông đại diện cho Quân đội Nhân dân bước vào Dinh Độc Lập nhận bàn giao từ Tổng thống Dương Văn Minh. Từ khi ông bỏ Đảng, trở thành nhà bất đồng chính kiến, tên ông bị đục bỏ khỏi khoảnh khắc bi thương và oan nghiệt nhất của lịch sử Việt Nam đương đại.
Huy Đức khẳng định: Bùi Tín không có mặt ở Dinh Độc Lập vào thời điểm đó. Huy Đức là một người viết được cho là  tử tế. Cuốn Bên Thắng Cuộc của anh do nhà xuất bản Người Việt tại Hoa Kỳ phát hành, không bị kiểm duyệt. Tại sao Huy Đức lại loại tên ông ra. Lẽ nào Huy Đức nhầm lẫn. Lẽ nào Huy Đức lại ngụy tạo lịch sử trắng trợn đến cỡ đó.  Ông cười nhẹ nhàng, nhưng không trả lời rồi bảo: Cho đến giờ ông vẫn còn ân hận vì đã quá lời với Dương Văn Minh lúc đó. Ông vẫn còn nhớ như in khi ông đọc tờ thực đơn của bữa ăn trưa cuối cùng của tống thống Việt Nam Cộng Hòa: Cá thu kho mía và gân bò hầm sâm.   
Ngày ông mất, truyền thông phương Tây tràn ngập những bài về ông. Con trai cưng của một Thượng thư Bộ Hình lẫy lừng trong triều đình Huế. Một người lính đã can dự vào trận Điện Biên Phủ và bị thương ở đó. Một phóng viên chiến trường cự phách. Một sỹ quan quân đội đã tham gia thẩm vấn những phi công Mỹ tại nhà tù khét tiếng Hỏa Lò. Một người đã tiếp nhận sự đầu hàng của vị Tổng thống Nam Việt Nam. Một sĩ quan cao cấp của Quân đội Nhân dân đào ngũ. Một nhà bất đồng chính kiến kiên cường. Một kiếp lưu vong bất khuất.
Tôi xót xa cho những năm tháng lưu đày lênh đênh thương nhớ vô tận của ông. Tôi hỏi ông có nghĩ đến cơ hội trở về. Ông bảo: “Người ta” có bắn tiếng sẽ cho ông về, sẽ phục hồi mọi quyền lợi cho ông, với một điều kiện. Ông phải im lặng. Ông không được viết lách phát biểu gì. Làm sao Bùi Tín có thể im lặng trước nỗi đau đớn tủi nhục của đồng bào mình.     
Như bao nhiêu những người Việt Nam khác cùng thế hệ, ông đã can dự vào cả bốn cuộc chiến liên tục, đẫm máu, dai dẳng và tàn khốc nhất trong lịch sử Việt Nam. Đánh Pháp. Đánh Mỹ. Đánh Khmer Đỏ. Đánh bá quyền Trung Quốc. Ông đã giành cả thời trai trẻ để tham dự vào đoàn quân quyết đập vỡ mặt nền Cộng hòa Pháp, quyết đánh bể đầu nền Tự do Mỹ. 
Nhưng rồi, chính Pháp và Mỹ đã giang rộng vòng tay cưu mang ông những năm tháng lưu vong tận tuyệt. Cũng chính Pháp và Mỹ đã cho ông nếm hương vị của bầu khí quyển tự do vô tận mà ông cùng các đồng chí của ông hằng đánh đuổi. Cuộc đời ông là một bi kịch khổng lồ, một trò nhạo báng vĩ đại, một nghịch lý siêu phàm, một tấn hài kịch cay đắng, một nhầm lẫn lịch sử.   
Giữa ông và tôi rất khác nhau. Ông lừng danh. Tôi vô danh. Ông nổi tiếng tầm cỡ quốc tế. Tôi nổi tiếng tầm cỡ gia đình. Ông dày dạn. Tôi non kém. Ông sâu sắc. Tôi nông cạn. Nhưng ông và tôi giống nhau một điểm. Cả hai đến từ miền Bắc Việt Nam. Nguời anh em Cộng sản gọi chúng tôi là “bọn phản động.” Người anh em Cộng hòa coi chúng tôi là “bọn nằm vùng.” Chúng tôi lưu vong ngay giữa gia đình. 
Dưới vòm phượng tím, bầu trời đang tối dần. Ông đọc bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” của cô giáo Lam, ở Hà Tĩnh. Tuổi 90, tay chống gậy, Bùi Tín bước từng bước chậm chạp và khó nhọc, nhưng giọng ông hùng hồn, mạch lạc và sang sảng. Ông nhấn từng chữ, gởi cả tâm tư vào những câu hỏi đầu tiên của mỗi khổ thơ: Đất nước mình ngộ quá phải không anh? Đất nước mình lạ quá phải không anh? Đất nước mình buồn quá phải không anh? Đất nước mình thương quá phải không anh?
Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu…
 
Những tia nắng cuối cùng trong ngày hắt lên. Ông nhọc nhằn ngồi xuống phiến đá lặng im như một pho tượng. Màn đêm nhạt nhòa buông xuống. Tôi đọc cho ông nghe câu thơ của Salvatore Quasimodo:
“Mỗi người đứng bơ vơ trên trái tim trái đất.
Lòng xuyên qua một tia nắng mặt trời.
Và chưa chi chiều đã tắt”.
Thi sỹ trẻ tuổi người Mỹ gốc Việt Ocean Vương vừa cho ra đời cuốn tiểu thuyết “On Earth We’re Briefly Gorgeous” (Trên mặt đất chúng ta chỉ huy hoàng trong chốc lát). Ngạn ngữ Việt có câu “Đời người sống gởi thác về” .Trịnh Công Sơn hát “Có đường phố nào vui. Cho ta qua một ngày” . Chúa Giê Su trước giờ lâm chung Ngài cầu nguyện: “Xin Cha ở với con giờ này. Mọi việc trên đất đã xong xuôi cả rồi”. Cuộc dạo chơi trên đất của Bùi Tín cũng đã xong xuôi.       
Ông và thế hệ của ông đã đánh thức lương tri, đã gieo mầm mơ ước, đã thắp lên những tia hy vọng, tự do, đã đốt lên đốm lửa trong đêm dài tăm tối. Ông như người lính đã hoàn thành nhiệm vụ. Ông như người nông dân vừa cày xong thửa ruộng. Ông xứng đáng được yên nghỉ. 
Giỗ đầu ông. Đốt nén nhang lòng, truy điệu một người lính đã nằm xuống. Ông sống khôn chết thiêng. Mong ông tha thứ. Tôi hứa đưa ông về nhà chơi, nhưng chưa kịp. Ông đã ra đi và chưa chi chiều đã tắt. 
Queen East Toronto, Canada 
August 5, 2019

Mây thẻ