"Nói phải củ cải cũng nghe"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Mười, 2019

HỘI THẢO về “CỘNG HÒA” tại ĐẠI HỌC OREGON

HỘI THẢO về “CỘNG HÒA” tại ĐẠI HỌC OREGON, HOA KỲ, 14 / 10/2019

Trần Thị Vĩnh-Tường

đại học Oregan

Ngày 14/10/2019 mùa thu sớm, hội trường Redwood đại học Oregon thành phố Eugene, đón chào người yêu lịch sử từ tám phương trời đến nói cho nhau nghe “Những Vấn Đề Thách Thức Tầm Nhìn về Cộng Hoà ở Việt Nam” (Studying Republican Vietnam: Issues, Challenges, and Prospects).

 “CỘNG HOÀ” ĐẾN VỚI VIỆT NAM BAO GIỜ?

 36 bài tham luận đọc tại hội thảo như hồi âm từ giáo sư Tường Vũ, trong ban tổ chức, đại học Oregon:

 – Tư tưởng cộng hòa đã du nhập vào Việt Nam từ những năm 1910, trước cả chủ thuyết cộng sản.

– Từ thập niên 90, Việt Nam đã phục hồi một số giá trị cộng hòa dưới tên gọi mới như “kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, tự do tôn giáo, quyền con người, tự trị đại học, giáo dục nhân bản”.

Chữ “cộng hòa” Tường Vũ dùng là danh từ chung không viết hoa.

Khi khu vực bãi Tư Chính (Vanguard Bank) thuộc vùng đặc quyền kinh tế VN ở Biển Đông đang bị nhóm tàu Hải Dương-8 của Trung Cộng uy hiếp suốt ba tháng nay, thì hội thảo “giá trị cộng hòa” ở VN là điều đáng lưu tâm. 

 “CỘNG HOÀ” MỈM CƯỜI VỚI AI MUỐN CƯỜI

 Trong 36 tham luận của học giả và nghiên cứu sinh từ Đức, Anh, Ý, Mỹ có 7 bạn trẻ từ Việt Nam.

Điều thích thú, người Mỹ nói tiếng Việt rành rọt biết trái thơm/trái khóm/trái dứa là một thứ trái; biết Việt Nam đã ký Luật Đặc Khu hay chưa.

Điều ngạc nhiên, các bạn trẻ trên dưới 30 đang học hay dạy đại học nhưng nghiên cứu sâu, đa dạng, nhiều khuynh hướng khiến những xưng tụng dễ dãi “chuyên gia sử học” nên nghĩ lại.

Điều cảm động, một số cựu viên chức Việt Nam Cộng Hoà (Nguyễn Đức Cường, Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Đức Nhã, Phạm Kim Ngọc…) không còn trẻ, không mỏi mệt lấp đầy vùng trắng của lịch sử, vừa là nhân chứng vừa cho tư liệu chính/primary source.

 NHÂN CHỨNG NỀN GIÁO DỤC NHÂN BẢN

 Theo bạn tham dự như người quan sát, có lúc tôi thành nhân chứng đứng lên cung cấp primary source vì gốc Bắc Kỳ di cư 1954 vô Saigon anh chị em tôi học tiểu học/trung học/đại học miễn phí. Căn bản giáo dục ấy như một cái dù che thế hệ chúng tôi nên có rời mái trường đi đâu cũng nhận ra nhau nhờ chất cộng hòa.

“Cộng hòa – politeia” là gì?

Theo bản dịch của giáo sư Đỗ Khánh Hoan, triết gia Plato người Hy Lạp (428-348 TCN) định nghĩa “politeia” là đời sống công cộng và sinh hoạt chính trị trong thành phố, dân chúng chung sống, tự quản; tham gia chiến tranh, bảo vệ hòa bình. politeia qua tiếng La-tinh là “de republica”, tiếng Pháp “la République” được hiểu là chế độ hay chính thể, chính là chữ “cộng hòa” dùng ngày nay.

 CHỮ VIẾT: VĂN MINH MIỀN NAM

 Nếu chữ viết là xương sống của nền văn minh thì chính hai “đại sư” Trương Vĩnh Ký (1837-1898) và Huỳnh Tịnh Của (1834-1907) đồng sanh hiệp lực gom văn minh Miền Nam sẵn có thành một mối qua tờ Gia Định Báo, tờ báo tiếng Việt đầu tiên năm 1865, gầy dựng luôn ý thức

“Quốc Ngữ chữ Nước Ta con cháu nhà đều phải học” mở đường cho nhà văn, nhà báo, nhà giáo…

“Chữ Quốc Ngữ phải trở thành chữ viết của Nước Nhà, là công cụ duy nhất để có thể đạt tới trình độ “học thuật châu Âu”.

Thể văn xuôi đơn giản được hoan nghênh hết sức tới nỗi người Pháp dùng Gia Định Báo làm sách giáo khoa. Gia Định Báo sống tới 44 năm.

 CÁCH MẠNG CHỮ VIẾT TRƯƠNG VĨNH KÝ

 Ở Nam Kỳ năm 1882, chữ Quốc Ngữ thay thế chữ Nho trong công văn.

Năm 1907, do Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh gợi ý, sĩ phu Bắc Hà thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục, “cộng hòa” đầu tiên ở Hà Nội, cổ động học chữ Quốc Ngữ.

Năm 1910, chữ Quốc Ngữ bắt buộc dạy tại Bắc Kỳ.

Từ đó, Chữ Viết đạt hiệu quả bất ngờ từ Bắc tới Nam:  “Thống Nhất Chữ Viết dẫn đến Thống Nhất Lịch Sử”.

Hơn thế nữa, Chữ Viết như cây gậy boomerang đạt được điều mà người Pháp tính không ra: công cụ chống Pháp.

124 năm trước cuộc “Cách mạng Nhung 1989” ở Tiệp Khắc/Tchécoslovaquie, “Cách mạng Chữ Viết Trương Vĩnh Ký 1865” không chém giết không đổ máu. Châu Âu không có Plato và học trò là Aristotle sẽ không có trường học. Việt Nam không có Trương Vĩnh Ký và học trò Trương Minh Ký thì không có ngành sư phạm.

“TINH THẦN QUỐC GIA TRẦN TRỌNG KIM”  

 Vì vậy với tôi, một tham luận tại hội thảo Oregon thật bất ngờ: Nguyễn Lương Hải Khôi/ đại học Saigon đề cập đến “tinh thần quốc gia” trong Việt Nam Sử Lược do Trần Trọng Kim (1883 -1953) biên soạn năm 1919. Lần đầu lịch sử VN viết bằng chữ quốc ngữ !

Năm 1957 ở Saigon, mẹ tôi bày cuốn “Việt Nam sử lược” trên kệ sách cho trẻ con bập bẹ đọc mỗi ngày nửa trang, không chỉ dạy sử mà còn dạy “làm người”.

Mẹ giảng trong bối cảnh Chữ Viết chỉ mới manh nha ở miền Bắc năm 1907, thì VNSL của chỉ một cá nhân Trần Trọng Kim là kiệt tác /master piece” trong ý nghĩa “duy nhất /không thay thế được/ ảnh hưởng lâu dài”.

Tiếp theo, nội các Trần Trọng Kim chỉ trong bốn tháng ngắn ngủi  (tháng 4-tháng 8/1945) tiếp nối “Tinh Thần Trương Vĩnh Ký” làm được ba việc phi thường chưa từng thấy trong lịch sử đất nước:  

– thống nhất về mặt danh nghĩa vùng đất Nam kỳ vào nước Việt Nam;

– thay tiếng Pháp bằng tiếng Việt ở bậc tiểu học và trung học,  

– dùng chữ Việt trong tất cả các văn thư chính phủ (trừ lĩnh vực y tế và liên lạc với Pháp hoặc công ty Trung Hoa).

 DÙ KẾT QUẢ KHIÊM NHƯỜNG

Đang từ một xứ Khổng Nho trên vua dưới quan đang bị Pháp đô hộ, chỉ trong vòng 54 năm Chữ Viết Bắc-Nam làm được cuộc cách mạng mà Pháp mất tới hơn 900 năm mới có cách mạng 1789.

Bà nội tôi còn mù chữ nhưng ba mẹ tôi khác hẳn. Tất cả nhờ “giá trị cộng hòa” Trương Vĩnh Ký từ miền Nam gửi đi – Trần Trọng Kim miền Bắc gửi lại, làm tiền đề cho chính thể Việt- Nam Cộng-Hoà miền Nam dù ngắn ngủi 20 năm (1955-1975) nhưng để lại di sản mà 44 năm sau VN hôm nay lần lượt áp dụng dù dè dặt.

Nếu Plato đặt xã hội Hy Lạp trên cái xe cộng hòa rồi còng lưng đẩy cũng chưa đạt được ý nguyện “Không bất hòa- Không bất lực- Không bất nhân” thì ngàn năm sau Plato lại thành công ở nơi xa xôi với học trò Trương Vĩnh Ký-Trần Trọng Kim.  Các ông không đòi làm vương làm tướng mà ghé vai gánh vác nghiệp lớn trong bối cảnh lịch sử hoang mang đến nỗi khó mong kết quả dẫu khiêm nhường.

 Đúng 100 năm sau Việt Nam Sử Lược, trong hương thu ửng vàng rơi trên bãi cỏ xanh sóc nâu sóc xám nhảy múa khuôn viên đại học Oregon, học trò yêu sử chào mừng hội thảo cho dù kết quả ban đầu dẫu có khiêm nhường.

California 20/10/2019

Trần Thị  Vĩnh -Tường

 

SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT 3 LẦN TRẤN LỘT 2 NỮ DU KHÁCH ĐÀI LOAN

Sân bay Tân Sơn Nhtrng trn trn lt nữ du khách Đài Loan

Giang Nam lãng tử

***

Bấm vào hình nghe cô Lạc kể chuyện

Tuần trước, cô LẠC LẠC nữ du khách Đài Loan và người bạn đến Sài Gòn HCM đi du lịch, cô kể rằng nhân viên sân bay đã làm tiền trắng trợn hai cô vì thấy hai  khách lạ lần đầu tiên đến Việt Nam…

Tựa đề ghi chú trên màn hình video-clip:

真人 ! 真事 ! Chân nhân ! Chân sự ! (Người thật ! Việc thật)

樂樂 本人親身經歷 ! Lạc Lạc tự bản thân trải qua !

越南黑暗套餐 (Việt Nam hắc ám ăn bẩn quen).

tên link YOUTUBE:

樂樂去越南胡志明市竟碰上詐欺、勒索、搶劫!對象居然還包括政府官員?

(Lạc Lạc đã đến thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, bị lừa đảo, tống tiền và cướp ! Đối tượng lại còn bao gồm cả nhân viên công quyền ?!)

cô Lạc Lạc

(gỡ băng video-clip):

“Chào mọi người! Tôi tên là Lạc Lạc, tôi đã trở về Đài Loan rồi.

Trong lúc chờ tàu điện ngầm, tôi xin được chia sẻ với mọi người những việc không thuận lợi xảy ra ở Việt Nam.

Dưới đây là những chuyện có thật bản thân tôi đã trải qua, chứng kiến trong chuyến đi sang TPHCM lần này, nhằm giúp mọi người đề cao cảnh giác khi sang Việt Nam.

tờ visa bị rách của cô Lạc

CHUYỆN ĐẦU TIÊN, khi chúng tôi mới sang Việt Nam, tại sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, bạn tôi xếp hàng làm thủ tục hải quan. Bạn tôi để visa của cô ấy trong túi, kéo xăng tia bất cẩn làm rìa trên của tấm visa bị tróc một góc, hoàn toàn không ảnh hưởng đến nội dung viết trên tấm visa, cuốn hộ chiếu cũng không bị rách. Hải quan nói với cô ấy rằng visa đã bị hỏng, không thể sử dụng được nữa, nên muốn nhập cảnh phải đưa tiền cho anh ta. Cô bạn tôi rất lo lắng, không biết phải làm thế nào thì viên công an hải quan đòi lấy 1000 Đài tệ. Bạn tôi chỉ còn cách đưa tiền để được nhập cảnh.

Thật kỳ lạ, chính phủ Việt Nam có nhận Đài tệ không, tại sao không nhận Đô la Mĩ hoặc đồng Việt Nam mà đòi nhận Đài tệ ? Tôi rất hoài nghi là viên công an hải quan này muốn tự nhận đút lót, chứ không phải chính phủ quy định.

Đó là chuyện thứ nhất.

CHUYỆN THỨ HAI  cũng xảy ra ở sân bay. Sau khi nhập cảnh chúng tôi gọi Taxi Grab đi ra khách sạn, nhưng sân bay quá lớn, taxi không tìm thấy chúng tôi ở đâu. Lúc đó ở sân bay có một nhóm người ập đến bảo rằng có taxi đưa chúng tôi đi, chúng tôi thỏa thuận xong giá tiền, họ kéo hành lý chúng tôi đi nhanh, chúng tôi sợ mất hành lý nên chạy nhanh theo họ. Họ kéo đến một góc vắng người, ở đó đều là người của họ, rồi để hành lý lên xe, chúng tôi cũng lên xe ngồi.

Tài xế mới bảo rằng trả tiền trước khi đi, chúng tôi bèn lấy ví tiền ra, anh ta vừa thấy ví tiền của chúng tôi bèn thò tay giật lấy tiền, cô bạn tôi cố sức giữ mà không được, vì trời tối quá nên không biết đã mất 1 triệu.

Sau đó anh ta đòi chúng tôi cho tiền típ, chúng tôi bảo không có, anh ta bảo chúng tôi xuống không chở nữa.

Lúc đó có một người khác đến, cũng là người của họ cả, đòi chở chúng tôi như giá thỏa thuận ban đầu mà không cần tiền típ.

Về đến khách sạn, chúng tôi phát hiện ra đã mất 1 triệu. Chính phủ của họ hình như không quan tâm quản lý mấy chuyện này?

CHUYỆN THỨ BA cũng xảy ra ở sân bay, khi chúng tôi quay trở về Đài Loan. Tôi đến quầy làm thủ tục check in, làm xong nhân viên hãng hàng không đưa trả lại cho tôi hộ chiếu có kẹp vé bay trong đó. Chúng tôi bèn đi vào trong xếp hàng làm thủ tục hải quan, khi anh công an hải quan mở hộ chiếu ra chỉ còn thấy vé bay chứ không thấy tờ visa nữa. Tôi nghĩ tờ visa của mình đánh rơi ngoài quầy check in, vì họ kiểm tra thấy visa mới cấp cho tôi vé bay. Tôi bèn chạy trở lại quầy check in báo với họ, lúc này bạn bè của tôi đều làm xong thủ tục xuất cảnh. Nhân viên hãng bay nói cô không thấy visa tôi ở đó, bảo tôi đến tìm công an hải quan của sân bay nhờ giúp đỡ.

Tôi đến tìm gặp công an, họ dẫn tôi vào một căn phòng nhỏ, sau đó đóng cửa lại nói chuyện với tôi. Anh ta hỏi tôi muốn về Đài Loan không ? Dĩ nhiên là tôi muốn về rồi, thật là một câu hỏi ngu ngốc. Anh ta nói với tôi có 2 phương án lựa chọn, một là trở lại trung tâm TPHCM tìm Sở Ngoại vụ báo cáo sự việc, đợi họ trong 1-2 ngày làm việc cấp lại visa khác, hai là tôi đưa tiền cho anh ta, anh ta sẽ giúp tôi xử lý nhanh gọn để lập tức đáp máy bay về Đài Loan. Trong lòng tôi nghĩ mình không muốn ở lại nơi ma quỷ này chút nào nữa nên chọn phương án 2.

Trong túi tôi lúc này còn 100 Đô la Mĩ, tôi bèn đưa cho anh ta, anh ta bảo vẫn chưa đủ. Nhìn thấy trong ví tôi còn khoảng 3000 Đài tệ, tiền này tôi định giữ lại về đến Đài Loan còn phải trả tiền taxi, anh ta bảo tôi đưa luôn 3 tấm tiền màu xanh lam mới chịu giúp tôi tìm lại visa. Rốt cuộc tôi phải đưa anh ta tất cả 100 Đô la Mĩ và 3000 Đài tệ.

Sau đó anh ta đi ra khỏi phòng, chừng 2 phút sau quay trở lại mang theo tờ visa của tôi. Rốt cuộc thì tôi đã tìm thấy visa của mình, mà không phải tôi tìm thấy, là anh ta giúp tôi tìm thấy. Anh ta bảo đã giúp tôi xử lý xong sự việc.

Tôi đã nhận lại được visa, nhưng tiền của tôi đã không nhận lại được. Tốt thôi, ít nhất là tôi không phải xếp hàng làm thủ tục hải quan nữa, mọi người đang xếp hàng rất dài, anh công an đó dắt tôi đi ra cửa sau, không cần kiểm tra visa nữa mà trực tiếp đi ra máy bay.

Xin hỏi, chỉ cần có tiền là được xuất cảnh, vậy còn phải cấp visa làm gì nữa? Đây là đất nước ma quỷ gì vậy?

Tóm lại, chuyến đi TPHCM 4 ngày 3 đêm của chúng tôi, 3 sự cố ngoài ý muốn đều xảy ra ở sân bay, tôi nghĩ sân bay Tân Sơn Nhất là nơi nguy hiểm nhất, đáng sợ nhất ở TPHCM, còn trong thời gian đi chơi ở trong nội thành, những người chúng tôi gặp đều rất thân thiện. Lúc sắp sang đây mọi người bảo cẩn thận trong thành phố vì hay có nạn giật đồ, nhưng tôi thấy sân bay mới là nơi đáng sợ nhất.

Nếu mọi người có đến Việt Nam du lịch, tôi khuyên mọi người đề cao cảnh giác, chú ý giữ kỹ đồ đạc tùy thân của mình, các loại xe trong sân bay cần tránh xa, nếu muốn đi thì nên đi Taxi màu trắng (có lẽ là Vinasun) hoặc gọi Grab.

Trên đây là những chia sẻ kinh nghiệm du lịch của tôi, hy vọng có thể giúp đỡ mọi người”.

(ảnh chụp màn hình)

Nguồn: Người dịch nhận được thư link video-clip từ Đài Loan gửi cho my FB ngày 27/10/2019

Văn hóa Việt Nam Cộng Hòa là gì?

Văn hóa Việt Nam Cộng Hòa là gì?

Nguyễn Quang Duy

Việt Nam Cộng Hòa thành lập ngày 26/10/1955, đang lúc chiến tranh nên quốc sách bảo vệ tự do được ưu tiên, nhưng không phải vì thế mà quên lãng mục đích xây dựng một xã hội dựa trên triết lý nhân bản, khai phóng và dân tộc.

Lời mở đầu Hiến Pháp 1956 ghi rõ: “…dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.”

Còn Điều 11 của Hiến pháp 1967 ghi rõ “Văn hóa giáo dục phải được đặt vào hàng quốc sách trên căn bản dân tộc, khoa học và nhân bản.”

Con người làm gốc.

Việt Nam Cộng Hòa nhìn nhận mọi người đều có quyền và có bổn phận như nhau, không ai được sử dụng người khác làm phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu cá nhân hay đảng phái.

Người miền Nam tin rằng giới lãnh đạo cũng là con người nên đều mắc phải những sai lầm, vì thế cần xây dựng một thể chế đa nguyên, đa đảng đối lập, với luật pháp chặt chẽ để kiểm soát quyền lực của tầng lớp lãnh đạo.

Việt Nam Cộng Hòa nhìn nhận sự khác biệt giữa người và người, ngăn cấm việc kỳ thị giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, sắc tộc, trình độ học vấn hay kỳ thị dựa trên lý lịch, trên chính kiến, mọi người đều có cơ hội bình đẳng.

Mọi chiến lược, chính sách, chủ trương, hành động quốc gia đều phải phù hợp với nhân sinh quan về con người, với mục đích phục vụ con người, quan tâm tới quyền lợi và hạnh phúc của con người.

Ngoài việc xây dựng thành công nền giáo dục nhân bản, mọi sinh hoạt tôn giáo, sắc tộc, hướng đạo, văn hóa, văn nghệ, nghệ thuật, dân sự đều được đối xử một cách công bằng không thiên vị.

Chính quyền miền Nam nhìn nhận và bảo vệ quyền con người, quyền dân sự được ghi trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế nhân quyền.

Trong hoàn cảnh chiến tranh, gia đình những người theo cộng sản vẫn được đối xử một cách công bằng như mọi công dân khác, được pháp luật bảo vệ, được quyền bầu cử, quyền gia nhập quân đội bảo vệ đất nước, quyền tham gia chính trị, được làm ăn buôn bán, con em họ được đến trường như mọi trẻ em khác tại miền Nam.

Từ năm 1962, chương trình Hồi chánh giúp trên 200 ngàn cán binh cộng sản buông súng quay về tạo dựng cuộc sống mới trong cộng đồng dân tộc.

Dân tộc làm nền.

Tinh thần dân tộc được hình thành và phát triển theo giòng lịch sử, tạo tình đoàn kết, gắn bó dân tộc và phát triển quốc gia.

Trong thời bình thúc đẩy người dân đóng góp phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, nghệ thuật, nâng cao dân trí. Vào thời chiến giúp toàn dân đoàn kết đánh đuổi ngoại xâm.

Việt Nam Cộng Hòa luôn đề cao các giá trị lịch sử dân tộc, độc lập, tự chủ, ngôn ngữ, nghệ thuật, văn hóa. Ngay từ tấm bé trẻ em miền Nam được dạy yêu nước thương nòi.

Người miền Nam luôn tôn trọng các giá trị đặc thù, các truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong mọi sinh hoạt gia đình, nghề nghiệp, sắc tộc, địa phương và đất nước.

Chính phủ miền Nam chủ trương bảo tồn và phát huy những tinh hoa, những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc, để không bị mất đi hay bị đồng hóa với văn hóa nước ngoài.

Người miền Nam giữ gìn văn hóa dân tộc nhưng luôn cởi mở, cầu tiến, học hỏi, gạn lọc điều hay cái đẹp của văn hóa dân tộc khác.

Việt Nam Cộng Hòa đặt Tổ quốc trên hết, đặt dân tộc và đất nước trên cá nhân, trên giai cấp, trên đảng phái và trên cả thể chế chính trị.

Tự do để tiến bộ

Việt Nam Cộng Hòa lấy triết lý khai phóng làm rường cột thăng tiến, mọi người được tự do mở rộng tầm nhìn, tự do trau dồi năng khiếu, tự do ngôn luận, tự do quyết định cho chính mình, tự do tìm ra sự thật, ra điều hay, lẽ phải, tìm đến chân, thiện, mỹ.

Ngay từ nhỏ trẻ em miền Nam đã được giáo dục tự do, được khuyến khích mở rộng tầm nhìn tiếp nhận những tư tưởng và kiến thức tân tiến trên thế giới.

Nhờ vậy xã hội miền Nam đào tạo được những công dân tự do, sẵn sàng nhận trách nhiệm, tôn trọng luật pháp, biết xây dựng kinh tế, phát triển xã hội, đón nhận văn minh thế giới và tích cực đóng góp vào sự thăng tiến nhân loại.

Miền Nam đã xây dựng một hiến pháp và một thể chế dân chủ tam quyền phân lập rõ ràng.

Nền Cộng Hòa tại miền Nam có thể được xem là một nền dân chủ hiến định và pháp trị tiên tiến vào bậc nhất trong khu vực Á châu thời ấy.

Nền tảng triết lý Việt Nam Cộng Hòa

Tổng hợp 3 tinh thần nhân bản, khai phóng và dân tộc tạo thành triết lý xây dựng Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia vừa giành được độc lập, phải đối đầu với chiến tranh và chỉ trong vòng 20 năm đã xây dựng được nền tảng vững chắc.

Một quốc gia với kinh tế tự do, y tế đại chúng, người cày có ruộng, báo chí tự do, tôn giáo, văn học, văn nghệ, nghệ thuật phát triển tự do, và một nền dân chủ hiến định, pháp trị với tam quyền phân lập rõ ràng.

Một xã hội dân sự với nhiều hội đoàn dân sự, gồm các tổ chức tôn giáo, nghiệp đoàn, hướng đạo, đồng hương, tương trợ, từ thiện, nghiên cứu, các câu lạc bộ, đã được hình thành tại miền Nam.

Đặc biệt, nền giáo dục dựa trên nhân bản, khai phóng và dân tộc, đã đào tạo được những thế hệ công dân tốt cho miền Nam, cho Việt Nam và cho nhân loại.

Văn hóa Việt Nam Cộng Hòa

Con người làm gốc, dân tộc làm nền, tự do để tiến bộ đã trở thành nền tảng văn hóa Việt Nam Cộng Hòa, được bảo tồn và được truyền đạt đến các thế hệ Việt Nam ngày nay.

Văn hóa thể hiện qua cách sống cách suy nghĩ. Người Việt Nam Cộng Hòa sống, suy nghĩ và hướng về tương lai hoàn toàn khác với người cộng sản.

Sau 20 năm chia cắt lấy thời điểm 30/4/1975 làm mốc, miền Bắc đã trở thành một bản sao của cộng sản Trung Hoa.

Xem lại phim ảnh cách ăn mặc, cách phục sức, cách sống, cách giáo dục, xem lại sách báo, lại văn thơ, lại âm nhạc, lại tranh ảnh miền Bắc bạn sẽ dễ dàng nhận ra điều này.

Ở hải ngoại, 44 năm qua người Việt Nam Cộng Hòa vừa bảo vệ cộng đồng, bảo tồn văn hóa, vừa hỗ trợ quốc nội đấu tranh cho tự do và vẹn toàn lãnh thổ.

Ở những nơi đông người Việt sinh sống nhiều hội đoàn dân sự được thành lập, có trường dạy tiếng Việt, có sách giáo khoa soạn theo chương trình trước 1975, có tổ chức những buổi lễ ghi ơn các anh hùng dân tộc, tổ chức Tết, Tết Trung Thu cho trẻ em.

Mỗi gia đình đều cố gắng gìn giữ tiếng Việt cho con em, duy trì những sinh hoạt gia đình và cộng đồng, vừa giảng giải cho con em truyền thống dân tộc, vừa nhắc nhở con em lý do phải bỏ nước ra đi.

Nhiều ban nhạc, ban kịch, ban cải lương, câu lạc bộ văn học nghệ thuật và cả điện ảnh cũng được hình thành ở khắp nơi.

Truyền thanh, truyền hình và báo chí là những phương tiện phục vụ cộng đồng có mặt ở mọi nơi.

Nhiều nơi còn xây dựng đền thờ Quốc Tổ, đền thờ và tượng đài các anh hùng dân tộc, viện bảo tàng, chùa, nhà thờ, võ đường, trung tâm sinh hoạt cộng đồng.

Phục hồi Việt Nam

Ở trong nước, người Việt Nam Cộng Hòa vẫn âm thầm gìn giữ và truyền bá cho thế hệ tiếp nối nền văn hóa nhân bản, khai phóng và dân tộc, mong một ngày phục hồi đất nước.

Sức sống của văn hóa Việt Nam Cộng Hòa vô cùng mãnh liệt, mặc dù bị nhà cầm quyền Hà Nội ngăn cấm âm nhạc, văn học, nghệ thuật, cách sống tại Việt Nam ngày nay được phục hồi mạnh mẽ.

Phong trào thoát Trung là nỗ lực đẩy lùi tì vết văn hóa Trung Hoa còn tồn đọng tại Việt Nam.

Nhiều người cộng sản miền Nam trong tiềm thức vẫn chưa quên một xã hội miền Nam đầy nhân bản, khai phóng và dân tộc.

Trước Quốc Hội cộng sản, 12/9/2018, bà chủ tịch Nguyễn thị kim Ngân phải thừa nhận kiến thức về sử ký và địa lý nước nhà, bà học từ thời Việt Nam Cộng Hòa nay vẫn nhớ không quên điều gì.

Bà Ngân biểu lộ lòng luyến tiếc vì giờ đây trẻ em học hành khổ sở, nhưng sử ký và địa lý nước nhà hầu hết đều không biết.

Triết lý nhân bản, khai phóng và dân tộc ngày nay được nhiều người miền Bắc biết đến, nhất là giới trẻ Việt Nam những người đang tìm kiếm một con đường thay cho con đường cộng sản bị nhân loại đào thải.

Tự do và dân chủ chỉ là điều kiện cần, mục đích và triết lý sống của dân tộc là điều kiện đủ để phục hồi Việt Nam.

Mục đích và triết lý sống giúp mỗi dân tộc biết đang ở đâu, đang làm gì, đang sống như thế nào, sẽ đi về đâu, đi cách nào và làm sao để đạt được mục tiêu tối thượng trong hoàn cảnh và khả năng có được.

Mục đích, triết lý và văn hóa xây dựng xã hội thời Việt Nam Cộng Hòa đã thích hợp và thành công ở miền Nam, cũng sẽ thích hợp với cả nước.

Nhân bản, khai phóng và dân tộc sẽ trở thành mục đích, triết lý và văn hóa chung cho toàn dân tộc làm nền tảng đưa đất nước đi lên theo kịp đà tiến bộ và văn minh nhân loại.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

26/10/2019

Kính thưa quý vị đại diện Cộng đồng, Tôn giáo, Hội đòan, Truyền Thông cùng qúy Đồng Hương,

THƯ MỜI THAM DỰ BUỔI GÂY QUỸ TƯƠNG TRỢ 48 TÙ NHÂN YÊU NƯỚC TẠI PHAN RÍ BỊ TÙ VÌ BIỂU TÌNH CHỐNG CỘNG SẢN THÔNG QUA “LUẬT ĐẶC KHU 99 NĂM”

Ngày 10/6/2018, để bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ do ông cha để lại cả nước đã xuống đường chống Quốc hội cộng sản thông qua “Luật đặc khu hành chánh 99 năm”.

Trong các cuộc biểu tình có hằng ngàn đồng bào tại Phan Rí. Dù bị công an kéo tới đàn áp nhưng bà con đã chống trả kịch liệt, dồn chúng vào trụ sở, buộc phải lột bỏ quân trang áo giáp, trốn chạy và bà con đốt xe bọn chúng.

Ít lâu sau 48 thanh niên nam nữ những người đã năng nổ phản ứng lại cuộc đàn áp của công an đã bị bắt và bị kết án tù tổng cộng lên đến 150 năm tù.

Gia đình những tù nhân yêu nước này đang lâm vào cảnh túng thiếu vì đã nghèo, người nhà lại bị cầm tù và phải nuôi tù.

Bà con Phan Rí trên tuyến đầu đấu tranh giữ nước, chúng ta ở hậu phương yểm trợ đấu tranh, miếng khi đói gói khi no, chúng tôi sẽ tổ chức một buổi gây quỹ tất cả số tiền thu được sẽ gởi về cho gia đình 48 tù nhân yêu nước này.

Tại Đền Thờ Quốc Tổ, số 90 Knight Ave, North Sunshine, Victoria, Úc:

Vào cửa tự do.

Ăn trưa có đồ chay và đồ mặn bắt đầu từ 11 giờ sáng ngày thứ bảy 2/11/2019.

Chương trình chính thức sẽ bắt đầu từ 1 giờ trưa có văn nghệ phụ diễn.

Ban Tổ Chức sẽ công bố mọi đóng góp tài chánh, quà tặng đấu giá và sổ xố của quý vị trên tuần báo Nhân Quyền, xin cho biết nếu quý vị muốn ẩn danh.

Chúng tôi xin trân trọng kính mời quý vị tham dự buổi gây quỹ và thiết tha kêu gọi lòng hảo tâm của quý vị.

Xin liên lạc với Ban Tổ Chức Nguyễn Quang Duy điện thọai số 0444 527 829, Uyên Di đt số 0431 933 121 hay Nhóm Đồng Hương Phan Rí Cửa: Nguyễn Hùng, Nguyễn Thị Ân đt số 0423 429 063.

Melbourne ngày 30 tháng 9 năm 2019

Thay mặt Ban tổ chức

Nguyễn Quang Duy

NGU MỸ NHÂN và NGƯỜI MỸ NGU

NGU MỸ NHÂN và NGƯỜI MỸ NGU

CẦU DẪN

Thời Hán- Sở tranh hùng có nhân vật phụ nữ nổi tiếng là nàng Ngu cơ, còn gọi Ngu Mỹ Nhân 虞美人, ái thiếp của tướng Hạng Võ. Khi bị Lưu Bang đánh bại, Hạng Võ sắp bỏ chạy,  khó mang theo ái thiếp, bảo nàng cứ yên tâm ở lại, Lưu Bang trông thấy nàng đẹp nhất định sẽ trọng đãi yêu quý. Ngu mỹ nhân khóc lóc rồi rút thanh kiếm tự cắt cổ. Về sau từ ngôi mộ của nàng mọc lên loài cỏ xanh tươi bốn mùa, gọi là “Ngu mỹ nhân thảo”, sân khấu Kinh kịch có vở nổi tiếng “Hạng Võ biệt Ngu cơ”, và thi nhân viết nhiều bài tụng ca khí tiết của nàng.

Đời nay ở châu Mỹ cũng có Ngu Mỹ Nhân hoặc “MỸ NHÂN NGU”, nôm na là Người Mỹ Ngu. Mỗi khi thăng cấp hàm cho sĩ quan quân đội, họ dành vinh dự cho người thân gia đình đến buổi lễ trang trọng tự tay đeo lon, đội mũ cho người được thăng cấp.

Đảng, chính phủ Mỹ ngu thiệt chứ !

QUÂN NHÂN ĐƯỢC THĂNG CẤP, CÁM ƠN AI ?

Trân Văn, blog VOA

Hai cô con gái thay mặt Hải quân Mỹ Gắn cấp bậc mới cho thân phụ mình, tướng Nguyễn Từ Huấn. Nguồn: VOA

quan nhân Mỹ 1

Một số hình ảnh liên quan đến lễ vinh thăng ông Nguyễn Từ Huấn từ Đại tá lên Phó Đề đốc (cách gọi chuẩn tướng của hải quân và lực lượng phòng vệ duyên hải) làm nhiều người Việt thắc mắc: Tại sao không phải cấp trên mà lại là hai cô con gái thay mặt Hải quân Mỹ gắn cấp bậc mới cho ông (ảnh 1) ?

***

Khác với Việt Nam, sự thăng tiến của một quân nhân Mỹ không phải là “ơn đảng, ơn chính phủ”, đó là thành tựu từ nỗ lực cá nhân của chính quân nhân đó.

Các cấp bậc từ trung sĩ trở lên đến tướng đều từ cạnh tranh mà có.

Quân đội Mỹ có nhiều ngành. Mỗi ngành ấn định số lượng cho từng cấp bậc và việc vinh thăng dựa vào tổng điểm mà cá nhân đạt được.

Những bó hoa, dành cho người thân trong gia đình. Ảnh: VOA

quân nhân 2

Tổng điểm hình thành từ điểm của nhiều yếu tố: Đầu tiên là điểm từ các kỳ thi thể lực. Điểm sử dụng vũ khí. Điểm tích lũy từ các khóa đào tạo của quân đội về chuyên ngành. Điểm về học vấn dân sự và năng lực cá nhân (chẳng hạn mức độ lưu loát về ngoại ngữ). Và điểm tích lũy từ số huy chương được thưởng…

Dựa vào nhu cầu (số lượng đã được ấn định cho từng cấp bậc của từng ngành), bộ phận nhân sự của từng quân chủng (lục quân, không quân, hải quân, thủy quân lục chiến, phòng vệ duyên hải) sẽ chọn những cá nhân có tổng điểm cao nhất của một ngành để vinh thăng cho đủ số lượng qui định về từng cấp bậc của ngành đó.

Cũng vì vậy, chẳng ai có thể “tác động” đến việc nâng một người lính thành hạ sĩ quan hay nâng một sĩ quan từ cấp thấp lên cấp cao. Cấp bậc của một cá nhân phụ thuộc hoàn toàn vào chính đương sự: Có chịu rèn luyện thể lực hay không? Có nỗ lực học hành cả về ngành của mình lẫn nâng cao học vấn hay không? v.v… Không có hoặc không đủ điểm thì không có… cửa!

Tuy quân đội Mỹ hỗ trợ tối đa cho quân nhân thăng tiến cả về nghề nghiệp lẫn tri thức (chẳng hạn sẵn sàng trả toàn bộ học phí cho một người lính học đại học, một sĩ quan học cao học hay lấy thêm một văn bằng cử nhân,…) nhưng xét cho đến cùng, thành tựu của một quân nhân vẫn là nỗ lực của đương sự và gia đình đương sự.

Sự hỗ trợ được xác định: Đó là sự thực thi nghĩa vụ mà quân đội cam kết đối với cá nhân phục vụ mình và vì sự hỗ trợ đó còn nhằm duy trì, phát triển hiệu quả hoạt động của quân đội nên không bao giờ quân nhân Mỹ phải nghe những khuyến cáo kiểu như phải tri ân quân đội, phải ghi tâm, khắc cốt “ơn đảng, ơn chính phủ”.

Đó cũng là lý do khi được vinh thăng từ cấp thấp lên cấp cao hơn, mỗi quân nhân Mỹ có quyền chọn người gắn cấp bậc mới cho họ. Đó có thể là cha mẹ, vợ con, anh em, đồng đội. Cấp trên không có… cửa nếu không được quân nhân đó chọn và thường thì người vinh thăng không chọn cấp trên! Họ chọn thân nhân!

Đó cũng là lý do khi phát biểu, quân nhân được vinh thăng luôn cám ơn cha mẹ, vợ con trước tiên, kế đó là những đồng đội cùng đơn vị đã hỗ trợ họ thăng tiến, giành chiến thắng trong cuộc cạnh tranh để được vinh thăng. Nếu muốn tìm hiểu thêm, có thể vào You Tube, search những video clip về “promotion ceremony” để xem và nghe.

Đó cũng là lý do một số video clip trên You Tube hay những trang web khác được cả quân nhân Mỹ lẫn dân chúng Mỹ khen là “the best”, khác xa những lễ vinh thăng đã và đang diễn ra ở Việt Nam. Một trong những video clip thuộc loại “the best” ấy ghi lại cảnh BÉ TRAI BA TUổI gắn lon trung sĩ cho cha – một quân nhân Thủy quân lục chiến (1).

***

Bởi quân nhân Mỹ từ cấp thấp đến cấp cao luôn được nhắc nhở: Gia đình trên hết! Ngoài nhắc nhở, quân đội Mỹ còn đính kèm nhiều giải pháp để hỗ trợ quân nhân Mỹ có thể đặt gia đình, thân nhân của họ lên trên hết, nên chuyện, cha mẹ, vợ con,… của quân nhân Mỹ luôn hiện diện và chiếm vị trí trang trọng nhất trong những lễ vinh thăng là tất nhiên.

Lễ vinh thăng Phó Đề đốc của ông Nguyễn Từ Huấn chắc chắn sẽ bị xem là bất bình thường nếu thiếu sự hiện diện của vợ con ông, của chú thím ông (những người đã cưu mang một Nguyễn Từ Huấn trở thành trẻ mồ côi lúc mới chín tuổi), cha vợ ông… Hoa phải dành và chỉ dành cho những người như thế (Hình 2)!

Quân đội Mỹ xác tín, giống như mọi quân nhân Mỹ khác, họ có một Nguyễn Từ Huấn đủ tư cách mang cấp bậc Phó Đề đốc là nhờ gia đình, thân nhân. Thành ra khi công nhận thành tựu của một cá nhân phục vụ quân đội, phải bày tỏ sự biết ơn thì đối tượng cần tri ân không phải là “đảng, chính phủ” như… Việt Nam.

Hình như chuyện “đảng, chính phủ” ở Việt Nam luôn giành giữ vai trò chính trong thăng tiến của một cá nhân, kể cả những cá nhân phục vụ “lực lượng vũ trang”, gạt gia đình, thân nhân sang một bên, có “quan hệ nhân quả” với thực trạng quốc gia nói chung và thực trạng “lực lượng vũ trang” như hiện nay.

Chú thích

Video Em bé 3 tuổi gắn lon trung sĩ cho cha

(1) https://www.youtube.com/watch?v=kc8gHYJ6jfw

https://youtu.be/kc8gHYJ6jfw

Vì sao chính trị Mỹ tiến bộ nhất thế giới ?

Vì sao chính trị Mỹ tiến bộ nhất thế giới?

(VNTB) – Chính sách liên tục thay đổi, nội bộ các đảng chính trị liên tục bất đồng, các đảng chính trị liên tục tranh cãi, luận tội, truất phế, là đặc tính nổi bật trong sinh hoạt chính trị tại Hoa Kỳ.
 
Vậy tại sao nhiều người vẫn tin tưởng vào thể chế tự do và xem nền dân chủ Mỹ như một mẫu mực chính trị tiến bộ nhất thế giới?
 
 
Chủ quyền thuộc về toàn dân
 
Nước Mỹ thành lập từ 13 thuộc địa Anh Quốc, nên ngay từ thời lập quốc người Mỹ đã lo ngại quyền lực chính trị bị tóm thâu vào tay 1 cá nhân, 1 nhóm chính trị gia, 1 tiểu bang lớn đông dân hay 1 đa số quá bán ủng hộ độc tài.
Vì thế Bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ nêu rõ mọi người phải được bình đẳng và có quyền được sống, được tự do và được hạnh phúc.
Các nhà lập quốc Mỹ xây dựng một Hiến pháp với nguyên tắc chủ quyền thuộc về toàn dân, chính phủ chỉ được làm những điều người dân cho phép.
Người dân cho phép Tổng thống đại diện cho quốc gia, Thượng viện đại diện cho tiểu bang và Hạ Viện đại diện cho cử tri quận hạt.
Chính phủ trung ương với 3 nhánh có thẩm quyền và chức năng rõ rệt: Quốc Hội làm luật, Tư pháp giải thích luật và Hành Pháp thi hành luật. Mọi đạo luật phải được cả Thượng viện và Hạ Viện thông qua và đồng thời phải được Tổng thống ký ban hành.
Ba nhánh vừa độc lập với nhau, vừa kiểm soát và cân bằng quyền lực cho nhau. Vì thế ngay chính Tổng thống cũng bị luận tội và có thể bị truất phế.
Mỗi tiểu bang có cơ quan Lập pháp, Tư pháp và Hành pháp riêng để quản trị những vấn đề thuộc thẩm quyền và chức năng của tiểu bang.
Nói tóm lại thể chế chính trị Mỹ chặt chẽ đến độ không thể phát sinh độc tài, cũng như tối thiểu được nạn lạm dụng quyền lực và tham nhũng.
Toàn dân chính trị
 
Chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống do Cử tri đoàn từ các tiểu bang bầu lên.
Mỗi tiểu bang có số đại cử tri bằng với số dân biểu và nghị sĩ tiểu bang cộng lại. Việc bầu chọn các đại cử tri tuỳ thuộc mỗi tiểu bang, vì thế tại nhiều tiểu bang các đảng chính trị phải cạnh tranh từng lá phiếu.
Các đảng chính trị phải vận dụng chiến thuật và chiến lược tranh cử vừa sáng tạo vừa thích hợp nhất để thu hút cử tri đi bầu và bầu cho ứng cử viên đảng mình.
Người Mỹ ngay từ khi còn bé ở gia đình đã được khuyến khích tranh luận chính trị, khi lớn lên thường hiểu rõ quyền hạn và nghĩa vụ chính trị, nên thường rất tích cực tham gia tranh luận chính trị và thực hiện quyền chính trị.
Chính phủ hay Quốc hội không được phép lập ra cơ quan tuyên truyền cho đường lối chính sách.
Truyền thông báo chí tự do và tư nhân quảng bá bầu cử một cách rầm rộ tạo một bầu không khí tranh cử nhộn nhịp khác xa với thế giới.
Chính trị Mỹ có thể được xem là một nền chính trị được toàn dân tham gia rất đáng để người Việt chúng ta học hỏi.
Hai đảng cùng mục đích
 
Cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa bắt nguồn từ đảng Dân chủ Cộng hòa (Democratic Republican Party), được hai nhà lập quốc Mỹ James Madison và Thomas Jefferson thành lập năm 1791.
Mục đích là đối lập với đảng Liên bang (Federalist Party) thuộc giới tinh hoa và quý tộc giàu có, những người muốn đề cao sức mạnh của chính phủ liên bang.
Đảng Dân chủ Cộng hòa ủng hộ quyền của các tiểu bang, ưu tiên hỗ trợ cho nông dân và giới lao động thành thị.
Khi nắm được chính quyền, đảng Dân chủ Cộng hòa lại bị chia thành hai đảng Dân Chủ và đảng Whig. Đảng Whig đổi thành đảng Cộng hòa với chủ trương xóa bỏ chế độ nô lệ.
Năm 1860, Tổng thống Cộng Hòa đầu tiên Abraham Lincoln đắc cử và chiến thắng trong cuộc nội chiến Bắc Nam.
Tổng thống Lincoln tái lập hòa bình, thực hiện hòa giải và hòa hợp với mục đích tạo ra một chính quyền của dân, do dân và vì dân.
Từ đó cả hai đảng Cộng Hòa và đảng Dân chủ đều có chung mục đích là cạnh tranh để thành lập một chính quyền của dân, do dân và vì dân.
Lưỡng đảng tranh quyền
 
Nhờ có chung mục đích cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ chấp nhận tồn tại nhiều khuynh hướng khác nhau, dễ dàng chấp nhận thành viên thay đổi chính kiến và cả việc thay đổi đảng.
Cả hai đảng thật ra bao gồm hằng ngàn tổ chức chính trị, kinh doanh, tín ngưỡng, nghiệp đoàn, dân sự và phong trào xã hội lớn nhỏ cùng hằng chục triệu đảng viên cá nhân không tham gia tổ chức.
Cả hai đảng không có bất kỳ cơ quan nào kiểm tra lý lịch, hoạt động hay quan điểm chính trị của đảng viên.
Đảng viên không có bất kỳ tư lợi, nghĩa vụ hay bó buộc nào liên quan đến đảng mình tham dự, chỉ cần ghi danh là có quyền bầu đại diện đảng trong cuộc bầu cử sơ bộ.
Lãnh đạo đảng là những chính trị gia thắng cử như Tổng Thống, Thống Đốc, lãnh đạo đảng ở Thượng Viện và Hạ Viện liên bang và tiểu bang.
Ở cấp tiểu bang các Uỷ Ban của đảng sẽ chịu trách nhiệm gây quỹ, tổ chức tranh cử và bầu cử sơ bộ.
Các Ủy Ban không có quyền ngăn cản người ra tranh cử ngay cả khi người ấy bất đồng quan điểm với đa số trong đảng hay công khai chống lại các mục tiêu của đảng.
Ứng cử viên phải tự đưa ra chương trình hành động, tự xây dựng nhóm tham mưu và tự vận động các cử tri đảng viên trong các cuộc bầu cử sơ bộ.
Quyết định ai đại diện đảng ra tranh cử Tổng thống và Phó Tổng Thống chủ yếu thuộc về cử tri đoàn của các tiểu bang tham dự Đại hội đảng.
Tất cả chính trị gia đều phải qua cuộc bầu cử sơ bộ. Chính trị gia thắng cử sẽ được Ủy Ban vận động hỗ trợ tranh cử với các đảng khác.
Bằng cách công khai tranh luận chính sách các chính trị gia lôi cuốn các nhóm nhỏ và cá nhân gia nhập đảng, xây dựng sức mạnh chiến thắng đối phương.
Chương trình hành động hay Cương lĩnh chính trị của mỗi đảng được đại biểu các tiểu bang soạn thảo và thông qua trong Đại hội đảng tổ chức mỗi bốn năm, vì thế chính sách đảng luôn luôn thay đổi, thậm chí thay đổi cả chiến lược quốc gia.
Quyết định ai thắng cử Tổng thống và Phó Tổng thống lãnh đạo quốc gia sẽ thuộc về Cử tri đoàn.
Nhờ hệ thống tranh cử này Tổng thống Mỹ chọn đều là những người thật sự tài giỏi và đều thích ứng với thời cuộc trong và ngoài nước Mỹ.
Nhưng như đã trình bày bên trên quyền lực của Tổng thống bị giới hạn rất nhiều, họ làm được gì thì còn tùy thuộc vào thế mạnh mà cử tri ban cho ở Thượng Viện và Hạ Viện.
Học được gì?
 
Xã hội Mỹ là xã hội tự do, đa văn hóa, đa nguyên, đa đảng chính nhờ nền tảng chủ quyền thuộc về toàn dân và cách sinh hoạt toàn dân chính trị người Mỹ không bị ràng buộc bởi ý thức hệ, không cực đoan chính trị, dễ đồng thuận, dễ thỏa hiệp và rất thực dụng.
Chính sách liên tục thay đổi, nội bộ các đảng chính trị liên tục bất đồng, các đảng chính trị liên tục tranh cãi, luận tội, truất phế, tất cả những xáo trộn chính trị đều đã được các nhà lập quốc Mỹ nghĩ tới khi xây dựng thể chế chính trị tự do, 250 năm về trước, và trở thành một giá trị dân chủ của nền chính trị Hoa Kỳ.
Mục đích chung của cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ là cạnh tranh để thành lập chính quyền của dân, do dân và vì dân.
160 năm đã qua mục đích này không hề thay đổi, nhờ vậy dân Mỹ ngày càng giàu hơn, nước Mỹ càng ngày càng mạnh lên.
Từ 13 thuộc địa bị phân hóa bởi chiến tranh Nam Bắc, Hoa Kỳ trở thành một cường quốc số 1 trên thế giới và giữ vững vị thế cho đến nay. Vì thế chính trị Mỹ được nhiều người xem là tiến bộ và dân chủ nhất thế giới.
Sau biến cố 30/4/1975, nước Mỹ trở thành quốc gia định cư của 3 triệu người Việt tự do.
Nhiều người Mỹ gốc Việt đã trở thành dân cử liên bang, tiểu bang và địa phương, nhiều tướng lãnh quân đội, nhiều công chức cao cấp và nhiều người thành đạt luôn hướng về bên kia Thái Bình Dương mong mỏi một ngày Việt Nam có tự do.
Rút tỉa những ưu điểm và kinh nghiệm của Hoa Kỳ sẽ giúp Việt Nam tự do sớm vượt qua những khó khăn ban đầu xây dựng một thể chế chính trị lưỡng đảng tranh quyền tân tiến như Mỹ và nhiều quốc gia khác trên thế giới.

Hợp âm khuyết thiếu

Thân tặng  Lí Chánh Đạo – Trần  Đình Nhãn tiên sinh nơi chân trời góc biển

Hợp âm khuyết thiếu

(hay là: Cung đàn lỗi nhịp)

Truyện ngắn  O Henry

nguyên tác: The Missing Chord

[in the collection “Heart of the West” (1907)]

Tôi dừng lại qua đêm tại trang trại cừu của Rush Kinney, trên Ngã ba Cát vùng Nueces. Tôi không quen biết Kinney cho đến khi tôi gọi “xin chào!” bên cái giá đỡ xe ngựa của anh ấy; nhưng từ lúc đó cho đến khi tôi khởi hành vào sáng hôm sau, chúng tôi theo qui tắc ứng xử Texas, là những người bạn không có gì phải chối cãi.

Sau bữa ăn tối, người chăn nuôi và tôi kéo ghế của mình ra bên ngoài ngôi nhà hai phòng, đến phòng trưng bày không có sàn được lợp bằng cỏ cây lá thấp và cỏ sacuista. Với hai chân ghế sau của chúng tôi ăn chìm sâu vào ổ vách đất sét cứng, mỗi người chúng tôi tựa vào một trụ cột của căn nhà và hút thuốc lá El Toro, trong khi chúng tôi tranh luận thân thiện về các vấn đề khác của thế giới.

Nếu muốn truyền đạt xứng đáng sự quyến rũ hấp dẫn của một buổi tối thảo nguyên thì sẽ thất vọng đấy. Bởi tả cảnh Texas đầu mùa xuân ấy phải do một cây bút dày dạn kia. Dù chỉ là một bản kê tóm tắt cũng phải đầy đủ.

Trang trại nằm trên đỉnh dốc thoai thoải. Đồng cỏ xung quanh được đa dạng hóa bởi kênh lạch và những đường cây bụi rậm và cây lê âm u, nằm xung quanh chúng tôi như một cái bát tối mà ở phía dưới đáy, chúng tôi lắng đọng nghỉ ngơi như phần cặn ly ca phê. Giống như một viên ngọc lam che phủ kín, bầu trời đã gắn chặt chúng tôi ở đó. Không khí kỳ diệu, nồng nàn với khí ozone và làm một bản ghi nhớ ngọt ngào bởi sự liên kết những bông hoa dại, mang lại âm vang và hương vị cho hơi thở. Trên bầu trời là một ánh sáng tìm kiếm tuyệt vời, tròn trịa, xoa dịu mà chúng ta biết đó không phải là mặt trăng, mà là chiếc đèn lbão của mùa hè đêm tối, ai đó đã cầm để đi về phía bắc  tìm một con suối đang co mình lại vì rét. Trong bãi quây súc vật gần nhất, một đàn cừu nằm im lặng cho đến khi một cơn hoảng loạn vô cớ sẽ khiến một nhóm trong số chúng rúc vào nhau với một sự hoảng sợ dồn dập như tiếng trống. Bởi vì những âm thanh khác, một gia đình chó sói tru tréo chói tai bay ra khỏi bãi xén lông cừu,và những con chim săn muỗi ríu rít trên bãi cỏ dài. Nhưng ngay cả những âm thanh không hòa hợp này cũng khó có thể làm lay động dòng thác tiếng hót rõ ràng của những chú chim nhại tỏa xuống từ hàng chục cây bụi và cây cối lân cận. Và dường như một người trần thế đi nhón chân và thử chạm vào các ngôi sao cũng chẳng phải là ngớ ngẩn, bởi chúng treo đó rất sáng và rất gần.

Vợ anh Kinney, một phụ nữ trẻ và thành thạo, chị ở lại trong nhà khi chúng tôi ra ngoài. Chị ấy vẫn bận rộn với các việc vặt trong nhà, khi đó tôi đã quan sát thấy rằng chị dường như có một niềm tự hào và hài lòng. Trong một căn phòng, chúng tôi đã ngồi ăn uống. Ngay sau đó, từ một phòng khác, khi Kinney và tôi ngồi yên lặng, bỗng có tiếng nhạc bất ngờ và rực rỡ nổi lên. Nếu tôi có thể đánh giá chính xác nghệ thuật chơi đàn piano, người xây dựng nên sự tưởng tượng lộn xộn đó đã làm chủ được những bí mật của bàn phím một cách đáng khen. Một cây đàn piano, và một người chơi rất tốt, đối với tôi dường như là một thứ không bình thường khi nó ở trong ngôi nhà  trại gia súc nhỏ và không có gì hứa hẹn điều đó. Tôi đã phải ngạc nhiên nhìn Rush Kinney, vì anh ta cười theo cách miền Nam mềm mại của mình, và gật gù với tôi qua làn khói thuốc lá của chúng tôi mơ hồ giãi dưới ánh trăng.

“Anh thường không nghe thấy âm thanh dễ chịu khi ở trang trại cừu”, anh ấy nhận xét; “nhưng tôi không bao giờ thấy bất kỳ lý do nào để không biểu diễn đạt tới nghệ thuật và uyển chuyển duyên dáng chỉ vì chúng tôi ngẫu nhiên sống ngoài bụi rậm này. Nơi đó là cuộc sống đơn độc đối với một người phụ nữ, và nếu một chút âm nhạc có thể làm cho nó tốt hơn thì tại sao không có nó ? Đó là cách tôi nhìn vào nó”.

“Một lý thuyết khôn ngoan và hào phóng,” tôi đồng ý. “Và chị Kinney chơi rất hay. Tôi không được học về khoa âm nhạc, nhưng tôi nên gọi cô ấy là một người biểu diễn hay khác thường. Cô ấy có kỹ thuật và hơn cả một tài năng thông thường”.

Mặt trăng rất sáng, bạn sẽ hiểu, và tôi thấy trên mặt Kinney có một biểu cảm thích thú và yên lặng đầy ý nghĩa, như thể có những điều đằng sau nó nên được giải thích cặn kẽ.

“Anh đã đi đường mòn từ Double-Elm Fork,” anh ta nói vẻ hứa hẹn. “Khi anh băng qua nó, anh hẳn đã nhìn thấy một căn lều cũ bị bỏ hoang bên trái anh dưới một cái đường hào ngăn cách”.

“Tôi đã đi rồi,” tôi nói. “Có một đàn lợn rừng ồn ào xung quanh đó. Tôi có thể nhìn thấy các bãi quây súc vật bị hỏng và không ai sống ở đó”.

“Đó là nơi ý tưởng âm nhạc này bắt đầu sinh ra,” Kinney nói. “Tôi không ngại nói với anh về điều đó trong khi chúng ta hút thuốc. Đó là nơi ông Cal Adams già sinh sống. Ông ấy có khoảng tám trăm con cừu giống merino loại cừu trắng lông mịn nguồn gốc Tây Ban Nha sản xuất ra loại lông cừu nặng, có chất lượng đặc biệt, và một cô con gái như bằng lụa thuần nhất, và đẹp đẽ như một sợi dây thừng còn mới, dùng buộc cọc một con ngựa tơ ba mươi đô la. Và tôi không ngại nói với anh rằng tôi đã phạm tội ở mức độ thứ hai là đeo bám quanh trang trại của ông Cal mỗi khi tôi có thể rảnh rỗi khỏi việc chăn cừu và xén lông. Tên của cô ấy là Marilla và tôi đã tìm hiểu ra thói quen trong số hai người mà cô đã được định sẵn để trở thành bà chủ và người phụ nữ cấp trên của trại gia súc Lomito, thuộc về ngài Rush Kinney, nơi anh hiện đang là một vị khách được chào đón và tôn trọng.

“Tôi sẽ nói rằng ông Cal già không bị coi là một người chăn cừu bình thường. Ông ta là một bậc đại trượng phu, nhỏ bé, già nua, gù lưng tôm, như cái bao kiếm, với bộ râu trắng lởm chởm, và bị chê trách vì nói chuyện nhiều, liên miên. Ông già Cal không có tiếng tăm trong cái nghề nghiệp mà ông chọn, đến nỗi thậm chí còn chẳng bị những người chăn bò ghét nữa. Và khi một người chăn cừu không đủ nổi tiếng để có được sự thù địch của những người chăn gia súc, ông ấy có khả năng chết không được ai khóc và không được ca ngợi đáng kể.

“Tuy nhiên Marilla lại là một cô gái rất ưa nhìn. Và cô ấy là một người quản gia thanh lịch nhất. Tôi là hàng xóm gần nhất và tôi thường đánh xe đến bất cứ chỗ nào ở Double-Elm từ chín đến mười sáu lần một tuần chở bơ tươi hoặc một phần tư tạ thịt thú rừng hoặc một hàng mẫu mới loại thuốc nhúng cừu*[1] chỉ là một cái cớ phù phiếm để nhìn thấy Marilla. Marilla và tôi đã giao tiếp tìm hiểu rộng rãi với nhau, và tôi khá chắc chắn rằng tôi sắp lấy sợi dây của mình quàng quanh cổ cô ấy và dẫn đến Lomito. Chỉ có điều cô ấy rất thấm đẫm tình cảm hiếu thảo với cha Cal già đến nỗi tôi không bao giờ có thể gợi ý cô ấy bàn về những vấn đề hệ trọng.

“Anh chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ ai trong cuộc sống với đầy kiến ​​thức và ít minh mẫn hơn ông Cal. Ông ấy đã cho lời khuyên về tất cả các ngành thông tin trong học tập, và ông ấy đã chịu đựng tất cả những nguyên lý của các chủ nghĩa, giáo lý và lý thuyết khai sáng. Anh không thể vượt qua ông ấy được. Anh sẽ không thể khuyên ông ấy bất kỳ ý tưởng nào, về bất kỳ phần nào của lời nói hay dòng suy nghĩ. Anh có thể nghĩ ông ấy là giáo sư về thời tiết và chính trị, và hóa học, và lịch sử tự nhiên và nguồn gốc của thuyết tiến hóa. Bất kỳ chủ đề nào anh đưa ra ông Cal đều có thể cung cấp cho anh bản tóm tắt phong phú về nó từ cái gốc Hy Lạp cho đến thời hiện đại, khi nó bị phế bỏ  hay còn bán trên thị trường.

Một ngày sau mùa xén lông cừu vụ thu, tôi lái xe đến Double-Elm với một tạp chí phụ nữ về thời trang cho Marilla và một tờ báo khoa học cho ông Cal.

Trong khi tôi đang buộc con ngựa của mình vào một cây gai, Marilla chạy ra ngoài,vẻ “vui mừng đến chết “với một tin tức gì đó không thể nhịn được.

“‘Ôi, anh Rush à,’ cô nói, tất cả đều đỏ bừng vì lòng yêu mến và sự hài lòng, “anh  nghĩ sao! Cha sẽ mua cho em một cây đàn piano. Có lẽ nó không phải loại lớn ? Thật tuyệt vời phải không? Em chưa bao giờ mơ ước mình có một cái”.

“‘Chắc chắn là rất vui”, tôi nói.’ Tôi luôn thích thú tiếng ồn ào dễ chịu của một cây đàn piano. Nó sẽ đem lại rất nhiều bạn hữu cho em. Đó là điều tuyệt vời khi chú Cal làm điều đó”.

“Em vẫn chưa hoàn toàn quyết định,’ Marilla nói, “giữa một cây đàn piano và một organ. Một organ cho phòng khách là tốt rồi”.

“Piao hay organ đều được” tôi nói,”đều là hạng nhất để xóa bớt sự thiếu tiếng ồn xung quanh trang trại cừu. Về phần anh thì, anh không nên thích bất cứ điều gì tốt hơn là đánh xe về nhà buổi tối và lắng nghe một vài điệu valse và nhảy với ai đó có tầm vóc như em đang ngồi trên ghế đẩu trước cây đàn piano và chạy vòng quanh các nốt nhạc”.

“Ồ, đừng nói về điều đó nha anh,” Marilla nói, “và tiếp tục đi vào nhà nào. Cha em đã không đi chơi, cả ngày. Cha cảm thấy không khỏe”.

Ông Cal ở bên trong, nằm trên một cái võng. Ông bị cảm lạnh và ho khá nặng. Tôi ở lại ăn tối.

“Marilla sắp có một cây đàn piano, cháu nghe nói vậy,”, tôi nói với ông già.

“Sao kia, ồ vâng, một thứ gì đó tương tự, anh Rush à,” ông ta nói, “Cô ấy đang khao khát âm nhạc vì say mê đã lâu, và tôi cho phép thu xếp cho cô ấy bằng thứ gì đó ngay lập tức. Mỗi con cừu đã xén lông được sáu cân vào mùa thu này, và tôi sẽ mua cho Marilla một nhạc cụ nếu được giá cho toàn bộ số lông cừu vụ này”.

“‘Nhãn hiệu Star Wayno,’ tôi nói. “Cô  gái nhỏ xứng đáng với thứ đó”.

“Tôi sẽ đi San Antone trên chuyến len cuối vụ,” chú Cal nói, “và tự mình chọn một nhạc cụ”.

“Sẽ chẳng tốt hơn sao”, tôi đề nghị,”chú hãy mang Marilla đi cùng và để cô ấy chọn thứ mình thích ?”.

Tôi nghĩ rằng chú Cal sẽ chuẩn bị đi. Tất nhiên, một người đàn ông như ông ấy, biết tất cả những điều mới mẻ về mọi thứ, sẽ xem việc đó như một sự bày tỏ kiến thức thành tựu của mình.

“Không, quí ngài, điều đó sẽ không đâu”, ông nói, vuốt bộ râu ria trắng của mình. “Không có một nhà nghiên cứu thẩm định nhạc cụ nào trên toàn thế giới có thể giỏi hơn tôi. Tôi có một ông chú”, ông nói, “đó là một đối tác trong một nhà máy sản xuất đàn piano và tôi đã thấy hàng ngàn người như ông ta kết hợp với nhau. Tôi biết tất cả về các nhạc cụ từ đàn organ đến cây đàn violon thân ngô*[2]. Không có một người đàn ông nào đang sống, thưa ngài, có thể cho tôi biết bất kỳ tin tức nào về bất kỳ nhạc cụ nào mà nó phải được gõ, thổi, cạo, mài, búng hoặc thổi ra gió bằng một cái phím”.

“‘Cha cứ chọn cho con những gì cha thích, cha ạ”, Marilla nói, cô không thể giữ yên đôi chân của mình trên sàn nhà vì niềm vui.”Tất nhiên cha biết phải chọn cái gì. Con chỉ biết đó là một cây đàn piano hoặc đàn organ, hay cái gì đó”.

“Tôi có lần thấy ở thành phố St.Louis cái mà họ gọi là dàn nhạc”, chú Cal nói, “cái mà tôi đánh giá là về thứ hay nhất trong các thứ mà âm nhạc từng được phát minh. Nhưng dù sao cũng không đủ chỗ trong ngôi nhà này. Tôi tưởng tượng nó sẽ tiêu tốn một ngàn đô la. Tôi nghĩ rằng một thứ gì đó trong dòng đàn piano sẽ phù hợp nhất với Marilla. Cô ấy đã học được bài học chi tiết cụ thể trong hai năm tại Birdstail. Tôi không tin tưởng giao việc mua một nhạc cụ cho bất kỳ ai khác, ngoài bản thân tôi. Tôi nghĩ rằng nếu tôi không bận nuôi cừu, tôi đã trở thành một trong những nhà soạn nhạc hoặc nhà sản xuất đàn piano và đàn organ tốt nhất trên thế giới”.

Đó là phong cách của chú Cal. Nhưng tôi chưa bao giờ mất kiên nhẫn với ông ấy, vì suy nghĩ của ông ấy về Marilla rất nhiều. Và cô ấy cũng nghĩ như thế về ông. Ông đã gửi cô đến học viện nghệ thuật ở Birdstail trong hai năm trong khi gần như dành dụm mỗi cân len để trả các chi phí.

Cho đến khoảng thứ Ba, chú Cal đi San Antone trên chiếc xe chở chuyến len  cuối vụ. Chú Ben của Marilla, sống ở Birdstail, đến thăm và ở lại trang trại cừu trong khi chú Cal đi vắng.

Khoảng chín mươi dặm tới San Antone, và bốn mươi dặm đến ga đường sắt gần nhất, vì vậy ông Cal đã biến mất khoảng bốn ngày. Tôi đã đi qua Double- Elm khi ông đang quay về nhà một buổi tối khi mặt trời lặn. Và ở đó trong thùng xe, khá tin chắc, là một cây đàn piano hoặc một cây đàn organ – chúng tôi không thể biết được – tất cả được bọc kín trong vỏ bao đựng len, với một chiếc xe ngựa được phủ tấm vải bạt rộng che kín phòng trường hợp trời mưa. Và nhảy chân sáo ra, Marilla, hét lên ‘Ôi, Oi!’ với đôi mắt sáng ngời và mái tóc bay bồng bềnh. “Cha – cha,” cô nói như hát lên, “Cha đã mang nó chưa – cha đã mang nó chưa?” – và nó ở ngay trước mắt cô ấy, như phụ nữ sẽ làm.

“Đàn piano tốt nhất ở San Antone”, chú Cal nói, vẫy vẫy tay tự hào.

“Gỗ hồng mộc chính cống, và giai điệu đẹp nhất và to nhất con từng nghe. Cha nghe thấy tay thủ kho chơi nó rồi, và cha lấy nó ngay tại chỗ và trả tiền mặt luôn”.

Tôi và Ben, chú Cal và một người Mexico đã nhấc nó ra khỏi xe và mang  vào nhà và đặt ở một góc. Đó là một trong những nhạc cụ thẳng đứng, và không nặng lắm hoặc không to lắm.

Và sau đó, rất bất ngờ chú Cal lảo đảo và nói rằng ông rất bệnh. Ông bị sốt cao, và phàn nàn về cái phổi của mình. Ông đi vào giường, trong khi tôi và Ben đi ra ngoài thả con ngựa ra đồng cỏ và Marilla bay xung quanh để lấy cho chú Cal thứ gì đó nóng để uống. Nhưng trước tiên, cô đặt cả hai tay lên cây đàn đó và ôm nó với một nụ cười dịu dàng, giống như bạn thấy những đứa trẻ làm với đồ chơi Giáng sinh của chúng.

Khi tôi từ đồng cỏ quay về, Marilla đang ở trong phòng có cây đàn piano. Tôi có thể nhìn thấy những sợi dây buộc và chiếc bao đựng len cừu trên sàn mà cô ấy đã tháo cởi nó ra. Nhưng bây giờ cô ấy lại buộc tấm bạt phủ xe ngựa lên nó, và có một vẻ mặt trang nghiêm, trắng bệch ra.

“Không thích âm nhạc nữa à, cô Marilla?’, Tôi hỏi: “Có vấn đề gì với chỉ một vài giai điệu để xem cô ấy đi dưới yên ngựa như thế nào chứ?’

“Không phải đêm nay, anh Rush à”, cô nói. ‘Tôi không muốn chơi chút nhạc gì đêm nay. Cha tôi quá bệnh. Chỉ cần nghĩ, Rush à, ông đã trả ba trăm đô la cho nó – một phần ba số thu nhập của xe chở len !”.

“Chà chà, dù sao nó cũng không phải là gần một phần ba cái giá trị mà em  xứng đáng,” tôi nói với cô ấy. “Và anh không nghĩ rằng chú Cal quá mệt đến nỗi không thể nghe một chút khởi động các phím đàn piano chỉ để khai trương câyi đàn.

“Không phải đêm nay, anh Rush,” Marilla nói, theo cách mà cô nói khi muốn ổn định mọi việc.

Nhưng có vẻ như bệnh chú Cal đã tăng rất nhiều. Rốt cuộc, bệnh chú ấy đã trở nên tồi tệ đến mức chú Ben buồn bã và cưỡi ngựa đến Birdstail tìm bác sĩ Simpson. Tôi loanh quanh ở lại để xem có cần gì không.

Khi cơn đau của chú Cal nhẹ xuống một chút, chú gọi Marilla và nói với cô ấy: “con có xem kỹ nhạc cụ của mình chưa, con yêu? Và con có thích nó không?’

“Thật đáng yêu, cha ạ”, cô nói, cúi xuống bên gối; “Con chưa bao giờ thấy một cây đàn nào đẹp như vậy. Cha thật đáng yêu và tốt khi mua cho con!”

“Cha chưa nghe thấy con chơi trên cây đàn đó”, chú Cal nói, “và cha vẫn lắng nghe nãy giờ. Sức khỏe cha không nặng nề như vậy đâu, con không thể chơi một bản nhạc nào ư, Marilla?”.

Nhưng không, cô ấy để chú Cal nằm ra và vuốt ve xoa dịu chú như bạn từng thấy phụ nữ làm với một đứa trẻ. Có vẻ như lúc này cô ấy đã quyết định không chạm vào cây đàn piano đó.

Khi bác sĩ Simpson đến, anh ta nói với chúng tôi rằng chú Cal bị viêm phổi  loại tồi tệ nhất, và vì ông già đã ngoài sáu mươi và gần như phải nâng đứng dậy, sự cố chấp đã chống lại việc ông muốn đi trên cỏ.

“Vào ngày thứ tư của căn bệnh, ông gọi Marilla một lần nữa và muốn nói chuyện về piano. Bác sĩ Simpson vẫn ở đó, ông Ben và bà Ben cũng vậy, cố gắng làm tất cả những gì họ có thể.

“Tôi đã đạt được thành công tuyệt vời trong bất cứ điều gì liên quan đến âm nhạc”, chú Cal nói. ‘Tôi đã kiếm được nhạc cụ tốt nhất với số tiền đó ở San Antone. Chẳng phải cây đàn piano đó đều hoàn hảo mọi khía cạnh chứ, Marilla?’

“Cây đàn thật hoàn hảo, cha ạ’, cô nói. “Nó có giai điệu hay nhất con từng nghe. Nhưng cha không nghĩ rằng cha có thể ngủ một chút bây giờ hả cha?”

“Không, cha không ngủ được,” chú Cal nói. “cha muốn nghe cây đàn piano đó. Cha không tin là con đã thử đàn. Cha đã đi đến San Antone và tự mình mang nó về. Cha đã mất một phần ba sản lượng mùa thu để mua nó, nhưng cha chẳng băn khăn rằng nó làm cho cô gái tốt của cha hạnh phúc hơn. Sao con không chơi một chút cho cha nghe, Marilla? “.

Bác sĩ Simpson vẫy gọi Marilla sang một bên và đề nghị cô ấy làm những gì chú Cal muốn, như vậy nó sẽ khiến ông ấy dịu lặng. Cả chú Ben và vợ chú ấy cũng khuyên cô như vậy.

“Tại sao không nhấn một hoặc hai giai điệu với cái bàn đạp mềm?’ Tôi hỏi Marilla. “Chú Cal đã năn nỉ em mãi rồi. Nó sẽ làm hài lòng chú khi nghe em chạm vào cây đàn piano mà chú đã mua cho em. Em không nghĩ là mình làm được sao ?’

Nhưng Marilla đứng đó với những giọt nước mắt lớn lăn ra từ đôi mắt của cô ấy và không nói gì. Và rồi cô ấy chạy đến và luồn cánh tay của mình dưới cổ chú Cal và ôm chặt lấy chú.

“Tại sao vậy, tối qua mà, cha” chúng tôi nghe cô ấy nói, “con đã chơi nó rất nhiều. Thật mà – con đã chơi đàn. Và đó là một nhạc cụ tuyệt vời, cha không biết con thích nó như thế nào đâu. Đêm qua con chơi “Bonnie Dundee” và “Anvil polka” và “Blue Danube” – và rất nhiều bản nhạc. Cha chắc chắn đã nghe thấy con chơi một chút rồi, phải không cha? Con không thích chơi ầm ĩ khi cha đang quá ốm”.

“‘Chà, tốt,” chú Cal nói, “có lẽ cha đã nghe. Có lẽ cha đã nghe và quên mất rồi. Cái đầu tôi thỉnh thoảng lại hơi xộc xệch tròng trành. Tôi đã nghe thấy người đàn ông trong cửa hàng chơi rất hay. Cha rất vui vì con thích nó, Marilla. Ừ, cha tin rằng cha có thể đi ngủ một lúc nếu con ngồi ngay bên cạnh cha cho đến khi cha thức”.

Có một điểm Marilla khiến tôi phải đoán mò. Khi cô ấy nghĩ về ông già đó, cô ấy không gõ một nốt nhac nào vào cây đàn piano mà ông ấy đã mua. Tôi không thể tưởng tượng được tại sao cô ấy nói với ông rằng cô đã chơi cây đàn đó, vì chiếc xe ngựa vẫn không rời khỏi cây đàn kể từ khi cô ấy đặt nó trở lại, vào cùng ngày nó đến. Tôi biết rằng dù sao đi nữa cô ấy có thể chơi một chút, vì tôi đã từng nghe cô ấy hăm hở chơi vồ vập một bản nhạc dance khá hay trên một cây đàn piano cũ ở trại gia súc Charco Largo.

Trong khoảng một tuần, bệnh viêm phổi đã đi tới mức nặng nhất với chú Cal. Họ đã tổ chức đám tang tại Birdstail và tất cả chúng tôi đã đi đưa tiễn. Tôi đưa Marilla trở về nhà trong chiếc xe ngựa bốn bánh của tôi. Chú Ben và vợ ông ta sẽ ở lại vài ngày với cô ấy.

Đêm đó Marilla dẫn tôi vào phòng có cây đàn piano, trong khi những người khác đứng ở ngoài phòng trưng bày.

“Đến đây, Rush,” cô nói, ‘Em muốn anh thấy điều này ngay bây giờ”.

“Cô ấy tháo dây và kéo tấm vải phủ trùm trên toa xe.

Nếu người ta có bao giờ từng cưỡi lên cái yên mà không có ngựa, hoặc bắn ra một khẩu súng không nạp đạn, hoặc uống rượu từ một cái chai rỗng không, thì tại sao bạn lại sợ phải chơi một hai bản opera trong cái nhạc cụ chú Cal đã mua.

Thay vì một cái đàn piano thật sự, đó là một trong những cỗ máy mà họ đã phát minh ra để “chơi” piano. Bản thân nó cũng giống như những chiếc lỗ trống không có cây sáo.

Và đó là cây đàn piano mà chú Cal đã chọn, và đứng bên cạnh nó là cô gái bận toàn đồ len tốt, đã không bao giờ để chú biết sự thật về nó.

“Và những gì anh đã nghe chơi trong nhà hồi nãy,” anh Kinney kết luận, “cũng chính là “cái thay thế piano”- chiếc máy chơi piano đó, bây giờ để ở bên cạnh cây đàn piano sáu trăm đô la mà tôi đã mua cho Marilla ngay khi chúng tôi vừa cưới nhau”.

Hết

Ghi chú của người dịch

piano machine: Máy chơi piano, có lẽ là một loại hộp nhạc cái đặt âm rồi lên dây cót, ghi sẵn bản nhạc (như là music box, đồ chơi hiện đại chạy bằng pin ngày nay), tất nhiên “máy” không có bàn phím để gõ và bàn đạp như đàn piano bình thường Nhà văn O Henry gọi nó là “deputy-piano machine”, tương tự như ta nói “phó / quyền” thay thế cho “trưởng”. Có nghĩa như “ cây phó đàn piano”. (ND)

(rút trong tập “Heart of the West”,1907)

https://americanliterature.com/author/o-henry/short-story/the-missing-chord

[1] * Nguyên văn: sheep-dip: nhúng cừu. Thuốc tắm cho cứu để trừ côn trùng, sâu bọ

[2]*. Nguyên tác: cornstalk Fiddle là một món đồ chơi, và cũng một loại nhạc cụ dây cung được chơi trong lịch sử ở Bắc Mỹ. Nhạc cụ này bao gồm một thân cây ngô, với các khe cắt vào trục để cho phép một hoặc nhiều phần sợi tách ra khỏi thân chính và đóng vai trò là “dây”. Các mảnh gỗ hoặc vật liệu khác được nêm dưới dây trước khi chúng nối lại thân đàn để phục vụ.

Fiddle có thể được kéo bằng một cây cung làm từ một cây ngô khác, được làm từ dây giày hoặc một đoạn dây khác, hoặc với một cây cung vĩ cầm tiêu chuẩn. Nhạc cụ được chứng thực từ thời Nội chiến Hoa Kỳ trở đi.

Mây thẻ