"Nói phải củ cải cũng nghe"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Mười Một, 2019

Cuộc đấu tay đôi

Chuyển ngữ, nghĩ tới tiên sinh Lí Trọng Đạo đang thi đấu tay đôi với đất nước Hoa Kỳ. Hì hì…

Cuộc đấu tay đôi

truyện ngắn của O. Henry

nguyên tác: The Duel

https://americanliterature.com/author/o-henry/short-story/the-duel

O HENRY 2

Các vị thần, nằm bên cạnh chai rượu tiên trên đỉnh núi  O’lympus[1]* và nhìn qua rìa của vách đá núi, nhận thấy một sự khác biệt trong các thành phố ở hạ giới. Mặc dù có vẻ như các thị trấn thành phố trong tầm nhìn của họ phải xuất hiện dưới dạng những tổ kiến lớn hoặc nhỏ mà không có vẻ gì đặc biệt, nhưng thực tế không phải vậy. Nghiên cứu thói quen của loài kiến từ một độ cao quá lớn tuy nhiên lại là một sự giải trí nhẹ nhàng đi đôi với nước giải khát nhẹ mà thần thoại kể cho chúng ta là niềm an ủi duy nhất của họ. Nhưng không nghi ngờ gì, họ đã thích thú khi so sánh các làng quê và thị trấn; và sẽ không có tin tức gì với họ (có lẽ, không thể đối với nhiều người), rằng ở trong một New York đứng đó cá biệt giữa các thành phố trên thế giới. Đây sẽ là chủ đề của một câu chuyện nhỏ đàm thoại với người đàn ông ngồi hút thuốc với đôi chân đi dép ngày lễ Sa-bát gác trên một chiếc ghế khác, và với người phụ nữ vồ lấy tờ báo trong giây lát khi đang luộc rau hoặc khi một đứa bé mê ngủ để cô ấy tự do. Với những người này, tôi thích ngồi trên mặt đất và kể những câu chuyện buồn về cái chết của các vị vua *[2].

Thành phố New York có 4 triệu người lạ bí ẩn; do đó đã đánh bại Trung tâm Chim với ba triệu và nửa tá số chín (3.999 999)[3]* con chim. Họ đến đây bằng nhiều cách và vì nhiều lý do – dòng sông Hendrik Hudson, các trường nghệ thuật, hàng hóa rau xanh, đàn cò, hội nghị thợ may hàng năm, Đường sắt Pennsylvania, tình yêu tiền bạc, sân khấu, các hãng du lịch rẻ tiền, những người giỏi nhất, cột báo quảng cáo cá nhân, giày đi bộ nặng, tham vọng, tàu hỏa chở hàng… tất cả những thứ này đã nắm tay nhau tạo nên dân số đó.

Tuy nhiên mỗi người đàn ông tên Jack[4]* khi lần đầu tiên đặt chân lên những tảng đá của Manhattan khu phố thương mại của New York đã phải chiến đấu. Anh ta phải chiến đấu ngay lập tức cho đến khi anh ta hoặc đối thủ của mình chiến thắng. Không có nghỉ ngơi giữa các hiệp đấu, bởi vì không chia hiệp. Nó cứ đấu tranh miệt mài từ hiệp đầu tiên. Đó là một cuộc chiến đi đến kết thúc.

Đối thủ của bạn là Thành Phố. Bạn phải chiến đấu với nó từ khi chiếc phà đưa bạn lên đảo cho đến khi nó là của bạn hoặc nó đã chinh phục bạn. Nó là như thế cho dù bạn có một triệu đồng trong túi hoặc chỉ có số tiền bằng giá phòng trọ một tuần.

O HENRY 1

Trận chiến là để quyết định xem bạn sẽ trở thành người New York hay biến thành người nước ngoài tầm thường và thứ người dốt nát chỉ biết ăn. Bạn phải là loại này hoặc là loại kia. Bạn không thể giữ vị trí trung lập. Bạn phải ủng hộ hoặc chống lại – là người yêu hoặc kẻ thù – là người bạn tâm giao hoặc kẻ bị ruồng bỏ. Và, ôi chà, thành phố là mọi người trong vòng khung võ đài đấu quyền Anh. Không chỉ có những cú đánh mà nó còn cố tìm cách khuất phục bạn. Nó nài nỉ bạn say mê với trái tim của nó, với sự huyền ảo của những nàng tiên cá. Nó là sự kết hợp của tình nhân phản bội người yêu, rượu thơm màu xanh nhạt, nhạc cổ điển Beethoven, chất lỏng ethanal chứa chất gây nghiện và khách mua hoa*[5] trong những ngày tuyệt nhất của anh ta.

Ở các thành phố khác, bạn có thể đi lang thang và ở lại chịu đựng như một người xa lạ miễn là bạn muốn. Bạn có thể sống ở Chicago cho đến khi tóc bạc trắng, trở thành công dân và vẫn nói huyên thuyên về hạt đậu nếu Boston làm mẹ bạn và không bị quở trách. Bạn có thể trở thành một trụ cột dân sự ở bất kỳ thị trấn nào khác, ngoại trừ làm người “ma cũ” (*[6]), và luôn luôn công khai chế nhạo các tòa nhà của nó, so sánh chúng với kiến trúc nguy nga tráng lệ của đại tá Telfair ở Jackson, Mississippi bạn đến từ đâu cũng sẽ không được chào đón. Nhưng ở New York, bạn phải là người New York hoặc là kẻ xâm lược thành Troy*[7] hiện đại, được giấu trong con ngựa gỗ của chủ nghĩa tỉnh lẻ tự phụ của bạn. Và lời mở đầu ảm đạm này chỉ để giới thiệu với bạn những nhân vật không quan trọng là William và Jack.

Họ đến từ miền Tây cùng nhau, nơi họ từng là bạn bè. Họ đến để đào vận may từ thành phố lớn này.

Cha xứ dân bản địa đã gặp họ tại phà, đưa một tay phải lên mũi và tay kia cắt ngang cao hơn bên trái, chỉ để cho họ biết rằng cuộc chiến đang diễn ra.

William đến đây là để kinh doanh; Jack đến vì nghệ thuật. Cả hai đều trẻ và đầy tham vọng; Vì vậy, họ đã phản công và xiết chặt đối phương. Tôi nghĩ rằng họ đến từ Nebraska hoặc có thể Missouri hoặc Minnesota. Dù sao đi nữa, họ đã ra đi vì thành công và những mảnh nhỏ và số lượng lớn, và họ đã xử trí thành phố như hai Lochinvars khớp khuỷu tay bằng đồng thau và một cú lôi kéo tại Tòa thị chính.

Bốn năm sau, William và Jack gặp nhau tại bữa tiệc trưa. Người đàn ông kinh doanh thình lình bước vào như một cơn gió tháng Ba, quăng chiếc mũ lụa của mình cho một người phục vụ, thả vào chiếc ghế được đẩy tới dưới anh ta, nắm lấy tờ thực đơn báo giá và đặt món cho đến món phô mai trước khi anh nghệ sĩ có thời gian để gật đầu. Sau cái gật đầu đó, một nụ cười hài hước xuất hiện trong mắt anh.

“Billy à,” anh Jack nói, “cậu đã xong việc. Thành phố đã ngấu nghiến cậu. Nó đã bắt được cậu và cắt cậu theo mô hình của nó và đóng dấu cậu với thương hiệu của nó. Cậu giống như mười ngàn người tôi từng thấy hôm nay đến nỗi  cậu  không thể được chọn ra từ họ nếu không phải là vì dấu vết đồ giặt của riêng cậu”.

“Phó mát Camembert à,” William kết thúc. “món gì vậy? Ồ, cậu vẫn còn mang nặng suy nghĩ của mình hồi xưa về New York phải không? Chà, cái làng cũ ồn ào trên tàu điện ngầm[8]* nhỏ bé là đủ tốt cho tôi rồi. Nó cho tôi cái của tôi. Và, tôi đã từng nghĩ rằng miền Tây là cả một thế giới tròn – chỉ bị xẹp nhẹ ở hai cực mỗi khi Bryan chạy. Tôi thường hét lên giọng khàn khàn của mình về chi phí miễn phí, và treo mũ trên đường chân trời, và nói rằng cắt mọi thứ trong cửa hàng tạp hóa cho những con cá ra nhiều mảnh nhỏ từ miền Đông. Nhưng tôi chưa bao giờ thấy New York, hồi đó, Jack à. Tôi thấy nó từ những người bán hàng rong. Đại lộ thứ Sáu là miền Tây đối với tôi bây giờ. Cậu đã nghe người bạn Crusoe*[9] này hát chưa? Hòn đảo hoang ấy là của anh ta, nhưng vợ tôi bắt tôi đi. Hãy cho tôi May Irwin hoặc ES Willard bất cứ lúc nào”.

“Billy tội nghiệp à”, anh nghệ sĩ nói, tinh tế châm một điếu thuốc. “Cậu có nhớ, khi chúng ta đang trên đường đến miền Đông, chúng ta đã nói về thành phố vĩ đại tuyệt vời này như thế nào và chúng ta có ý định chinh phục nó và không bao giờ để nó lấy đi cái tốt nhất của chúng ta không? Chúng ta đang chỉ là những chàng trai như chúng ta đã luôn luôn như vậy, và không bao giờ để nó làm chủ chúng ta. Nó đã hạ bệ cậu, ông già à. Cậu đã thay đổi từ một người không đảng phái thành một cái bánh bơ đậu”.

“Đừng nhìn thấy chính xác những gì cậu đang lái xe vào đó,” William nói. “Tôi không mặc áo khoác len lông với quần xanh và áo vest vải sọc nhăn trong các dịp ăn mặc, như tôi thường mặc ở nhà. Cậu nói về việc được cắt thành một mẫu – tốt, hình mẫu đó không ổn sao? Nếu ở Rome, cậu phải làm như người Ý hay Tây Ban Nha nhập cư.

Thành phố này đối với tôi, có lẽ đã phải lột da những đô thị khác để xác định cho các vị trí cắm cờ. Theo lịch trình đường sắt mà tôi có trong đầu, Chicago và Saint Jo và Paris, Pháp, là những điểm dừng đánh dấu hoa thị – có nghĩa là cậu vẫy lá cờ đỏ và lên tàu mỗi thứ Ba khác. Tôi thích vùng ngoại ô nhỏ này của ngôi làng bên sông Hudson. Có một cái gì đó hoặc ai đó làm suốt thời gian này. Tôi đang thu nhập 8.000 đô la một năm khi bán máy bơm tự động và tôi đang sống như một vị vua. Tại sao nào, ngày hôm qua, tôi đã được giới thiệu với ngài John W. Gates. Tôi đã đi chuyến xe tự động với chị gái của một đại lý rượu vang. Tôi thấy hai người đàn ông chạy qua một chiếc xe đường phố, và tôi thấy Edna May chơi vào buổi tối. Nói về miền Tây, tại sao, đêm nọ, tôi đánh thức mọi người dậy trong tiếng ồn ào ở khách sạn. Tôi mơ thấy mình đang đi trên một tấm ván vỉa hè ở Oshkosh. Cậu có gì để chống lại thành phố này, Jack? Chỉ có một điều trong đó tôi không quan tâm, và đó là một chiếc phà”.

Anh họa sĩ nhìn đăm đăm vào tờ báo có hình ảnh trên tường. “Thành phố  này,” anh ta nói, “là một con đỉa. Nó hút máu của cả đất nước. Bất cứ ai đến đó đều chấp nhận thách thức một cuộc đấu tay đôi. Từ bỏ hình dạng của con đỉa, đó là một kẻ lừa bịp, như con Moloch, một con vật hiến tế, một con quái vật mà sự ngây thơ, thiên tài và vẻ đẹp của vùng đất đều phải tôn trọng. Hãy đánh giáp lá cà, hỡi những người mới đến mà chiến đấu với thủy quái khổng lồ. Cậu đã lạc đường rồi, Billy à. Nó sẽ không bao giờ chinh phục được tôi. Tôi ghét điều đó như người ta ghét tội lỗi hay bệnh dịch hoặc – công việc lòe loẹt trong một tạp chí mười xu. Tôi khinh thường sự rộng lớn và sức mạnh của nó. Nó có những triệu phú nghèo nhất, những người vĩ đại nhỏ bé nhất, những tòa nhà chọc trời thấp nhất, những thú vui buồn thảm nhất của bất kỳ thị trấn nào tôi từng thấy, nó đã bắt được cậu, ông già ạ, nhưng tôi sẽ không bao giờ chạy bên cạnh bánh xe ngựa của nó. Nó tự sáng bóng khi người Hoa phủ bóng lên cổ áo của anh ta. Hãy cho tôi sự kết thúc trong gia đình. Tôi có thể đối phó một thị trấn được cai trị bởi sự giàu có hoặc một người bị cai trị bởi một tầng lớp quý tộc; nhưng đây là một người bị cai trị bởi các thành phần thấp nhất của nó. Văn hóa tuyên bố, đó là điều thô thiển nhất, khẳng định sự nổi trội của nó, phủ nhận tất cả các giá trị và đức hạnh, đó là sự hẹp hòi nhất. Hãy cho tôi sự thuần khiết và trái tim rộng mở của đất nước miền Tây. Tôi sẽ quay lại đó vào ngày mai nếu có thể”.

“Cậu không thích món thăn thịt bò này ư?” William nói. “Cởi áo ra đi, ngay bây giờ, những gì được sử dụng để đánh bại thành phố! Đó là điều tuyệt vời nhất từ trước đến nay. Tôi không thể bán một máy bơm tự động giữa Harrisburg và quán rượu của Tommy O’Keefe ở Sacramento, và tôi bán hai mươi chiếc ở đây. Và cậu đã thấy Sara Bernhardt trong ‘Andrew Mack’ chưa?”

“Thành phố đã bắt được cậu rồi, Billy à” Jack nói.

“Được rồi,” William nói. “Tôi sẽ mua một ngôi nhà tranh trên hồ Ronkonkoma vào mùa hè tới”.

Nửa đêm, nghệ sĩ Jack đấy cửa sổ lên và ngồi sát vào nó. Anh nín thở trước những gì anh nhìn thấy, mặc dù anh đã nhìn thấy và cảm nhận nó hàng trăm lần.

Xa xa bên dưới và xung quanh thành phố như một giấc mơ màu tím rách rưới. Những ngôi nhà bất thường giống như phần bên ngoài của những vách đá bên những khe nước sâu bị phá vỡ và những con suối uốn lượn. Một số là miền núi; một số nằm trong các con khe dài, hoang vu. Đó là nền tảng của một thành phố tuyệt vời, tàn khốc, mê hoặc, bối rối, tai họa. Nhưng trong bối cảnh này đã cắt thành vô số hình bình hành sáng chói, hình tròn và hình vuông qua đó phát ra nhiều ánh sáng màu rực rỡ. Và từ sâu thẳm màu tím và màu tíá phớt xanh bay lên như âm thanh tâm hồn của thành phố và mùi hương và cảm giác mạnh tạo nên cơ thể công dân. Ở đó mọc lên hơi thở của sự vui tươi không hạn chế của tình yêu, của sự ghét bỏ, của tất cả những đam mê mà con người có thể biết. Ở dưới anh ta là tất cả mọi thứ, tốt hay xấu, có thể được mang đến từ bốn góc của trái đất để chỉ dẫn, làm vui lòng, cảm xúc mạnh, làm giàu, coi thường, nâng cao, ném xuống, nuôi dưỡng hoặc giết chết. Như vậy, hương vị của nó đến với anh ta và đi vào máu anh ta.

Có tiếng gõ cửa. Một bức điện tín đã gửi đến cho anh. Nó đến từ miền Tây và đây là những từ ngữ của nó:

“Quay lại và câu trả lời sẽ là có.

Búp bê.

Anh giữ cậu bé đưa thư chờ đợi mười phút, và sau đó viết câu trả lời: “Không thể rời khỏi đây lúc này”. Sau đó, anh ngồi sát cửa sổ một lần nữa và để thành phố đặt cốc nước khoai ma thảo dược của nó lên môi anh một lần nữa.

Rốt cuộc nó không phải là một câu chuyện; nhưng tôi muốn biết ai là anh hùng đã chiến thắng trong trận chiến chống lại thành phố. Vì vậy, tôi đã đi đến gặp một người bạn rất uyên bác và đặt câu hỏi này trước mặt anh ta. Nhưng anh ta chỉ nói: “Xin đừng làm phiền tôi; tôi phải đi mua quà Giáng sinh đây”.

Vậy thôi, nó ngừng lại ở đó; và bạn sẽ phải tự quyết định cho mình.

The End

(in the Collection of “Strictly Business”)

CHÚ THÍCH

Truyện ngắn được viết vào cuối những năm 1800 của O. Henry, in trong tập Strictly Business: “Kinh doanh nghiệt ngã”.

Nhà văn giới thiệu thành phố New York dưới con mắt của các vị thần linh trên núi Olympus, Hi Lạp.

[1] * O’lympus: núi cao nhất ở miền Bắc Hi Lạp, theo thần thoại là nơi trú ngụ của thần linh. Thời cổ xưa, lãnh chúa thường tổ chức các cuộc thi đấu võ nghệ (và thể thao) dưới chân núi, để dâng lên các vị thần linh thưởng thức … gọi là Olympiade (-ade, chiến công/ cuộc thi đấu…ở núi O’lympus). [Đài VTV3 thường nói sai là đỉnh núi Olumpia] (!)

2 * Nguyên tác: Kings: chuyện trong Cựu ước, hai vương quốc Israel và Judah từ khi vua David băng hà đến khi người Do thái (Israeli/Jewish/Hebrew) lưu lạc đến xứ Babylonia thế kỷ 6 BC/ trước Chúa giáng sinh.

3 * Tác giả, có lẽ, ngụ ý nói: Thuở ban đầu, con người đến New York lập nghiệp, phải khai hoang… Bốn triệu người đánh bại 3.999 999 con chim hoang dã để lập nên thành phố. Ẩn dụ hài hước rằng; số người đông hơn số chim 1 cá thể nên đã thắng cuộc tranh đấu sinh tồn (- Người dịch bàn luận).

4 * Jack: tên gọi một người lạ (anh gì đó ơi), người lạ ở bất kỳ xứ nào đặt chân đến New York, không phân biệt kỳ thị ở xứ nào.

5 *John Lackman (John L.): khách làng chơi như Sở Khanh…

6* Nguyên tác: Knickerbocker: những người định cư Hà Lan đầu tiên của New York, nói chung: là một người bản địa hoặc cư dân của thành phố, tiểu bang New York (biệt danh, tiếng lóng)

7 * điển tích con ngựa gỗ thành Troy, kẻ trà trộn vào trong đối phương để làm nội ứng phá từ trong ra.

8 * nguyên tác: Noisyville-on-the-Subway

9 *  Robinson Crusoe: nhân vật phiêu lưu khi tàu đắm dạt vào một đảo hoang trong tiểu thuyết Robinson Crusoe của nhà văn Anh Daniel Defoe thế kỷ 19.

Nghệ thuật tán gái thất bại

Nghệ thuật tán gái thất bại

Nguyên tác: A Lickpenny*[1] Lover

by O. Henry

https://americanliterature.com/author/o-henry/short-story/a-lickpenny-lover

LOVER 1

ảnh minh họa

mèo Malta

con cáo bạc

Có 3.000 cô gái trong Cửa hàng lớn nhất. Masie là một trong số đó. Cô ấy mười tám tuổi và là người bán hàng khu vực găng tay quí ông. Tại đây, cô trở nên thông thạo hai giống người – loại người mua găng tay quí ông trong các cửa hàng bách hóa và loại phụ nữ mua găng tay cho những quí ông không may mắn. Bên cạnh kiến thức rộng rãi về các mẫu người, Masie đã có được thông tin khác. Cô đã lắng nghe thu lượm sự khôn ngoan được truyền bá từ 2.999 cô gái khác và đã lưu trữ nó trong một bộ não bí mật và cảnh giác như một con mèo Malta*[2]. Có lẽ tự nhiên thấy trước rằng cô sẽ thiếu những cố vấn khôn ngoan, đã trộn lẫn thành phần tích lũy của sự sắc sảo cùng với vẻ đẹp của cô, vì cô đã ban cho con cáo bạc bộ lông vô giá một sự xảo quyệt hơn những con vật khác.

Bởi vì Masie thật đẹp. Cô có bộ tóc vàng tông màu trầm, với sự điềm tĩnh của một người phụ nữ nấu bánh bơ trong cửa sổ. Cô đứng sau quầy của mình trong Cửa hàng lớn nhất; và khi bạn đo sợi dây của bạn trên dải băng cho thước đo găng tay của mình, bạn nghĩ về Hebe nữ thần xuân sắc; và khi bạn nhìn lại, bạn tự hỏi làm thế nào cô ấy nhìn thấy bằng mắt của nữ thần trí tuệ Minerva.

Khi người trông coi cửa hàng không nhìn, cô  Masie nhai mứt quả; khi anh ta nhìn cô, cô ngước lên như những đám mây và mỉm cười đăm chiêu.

Đó là nụ cười của cô gái bán hàng, và tôi cấm bạn tránh xa họ trừ khi bạn được củng cố bằng sự nhẫn tâm của trái tim, kẹo caramen và sự đồng tình dành cho những người yêu thích Thần tình yêu. Nụ cười này thuộc về giờ giải trí của Masie chứ không thuộc về cửa hàng; nhưng người trông coi cửa hàng phải có cái riêng mình. Anh ấy là kẻ cho vay nặng lãi *[3] của các cửa hàng. Khi góc mũi xung quanh sống mũi anh ta là một cây cầu thu phí. Đó là đôi mắt đa tình hay “git” khi nhìn về phía một cô gái xinh đẹp. Tất nhiên không phải tất cả những người trông coi cửa hàng đều như vậy. Chỉ một vài ngày trước, các  báo đăng tin tức của một người hơn tám mươi tuổi đấy.

Một ngày nọ, Irving Carter, họa sĩ, triệu phú, nhà du hành, nhà thơ, nhà sản xuất ô tô, tình cờ bước vào Cửa hàng lớn nhất. Đó là do anh ấy nói thêm rằng chuyến thăm của anh ấy không tự nguyện. Nghĩa vụ hiếu thảo đưa anh ta vào cái cổ áo mà anh ta bị nắm và kéo vào trong, trong khi mẹ anh ta lảng vảng giữa những bức tượng nhỏ bằng đồng và đất nung.

Carter đi ngang qua quầy găng tay để lượn vài phút vào sự bay bổng. Nhu cầu găng tay của anh là chân thật; anh đã quên mang theo một đôi. Tuy nhiên hành động của anh hầu như không kêu gọi lời xin lỗi, bởi vì anh chưa bao giờ nghe về những lời tán tỉnh ở quầy bán găng tay.

Khi đến gần vùng định mệnh, anh ngập ngừng, đột nhiên ý thức được giai đoạn chưa biết của công việc nghiệp dư của Thần ái tình.

Ba hoặc bốn đồng nghiệp tầm thường, mặc quần áo bảnh bao, đang nghiêng người qua quầy, vật lộn với những tấm phủ bao tay trung gian, trong khi những cô gái cười khúc khích chơi những giây sôi nổi để dẫn đầu họ trong chuỗi kết hợp lám dáng. Carter có thể rút lui, nhưng anh đã đi quá xa. Masie đối mặt với anh ta phía sau quầy của cô với một ánh mắt dò hỏi lạnh lùng, đẹp đẽ, màu xanh ấm áp như tia nắng mặt trời mùa hè phủ trên một tảng băng trôi trên biển phía Nam.

Và rồi Irving Carter họa sĩ triệu phú v.v, cảm thấy một sự nóng lên ấm áp trên khuôn mặt nhợt nhạt quý phái của mình. Nhưng không phải từ sự thiếu tự tin. Sự đỏ mặt là trí tuệ có nguồn gốc. Anh ta biết trong một khoảnh khắc rằng anh ta đứng trong hàng ngũ những thanh niên sẵn sàng tán tỉnh những cô gái đang cười khúc khích ở các quầy khác. Bản thân anh ta dựa vào vị trí đáng sợ của một con gà trống Tình yêu với mong muốn trong trái tim anh ta vì sự ưu ái của một cô bán hàng găng tay. Anh ta không hơn Bill và Jack và Mickey. Và sau đó cảm thấy một sự khoan dung bất ngờ đối với họ, và một sự khinh miệt, can đảm đối với các quy ước mà anh ta đã nuôi dưỡng, và một sự ngăn cản không thể chối cãi để có sinh vật hoàn hảo này cho riêng mình.

Khi găng tay được trả tiền và bọc  lại, Carter nán lại một lúc. Lúm đồng tiền ở khóe miệng thêu hoa của Masie ngày càng sâu. Tất cả các quý ông mua găng tay nán lại theo cách đó. Cô cong một cánh tay, thể hiện như con bướm lông qua ống tay áo thắt eo của cô, và đặt một khuỷu tay lên cạnh vỏ hộp trưng bày.

Carter chưa bao giờ gặp phải một tình huống mà anh ta không phải là chủ nhân hoàn hảo. Nhưng bây giờ anh ta đứng ngượng ngùng hơn nhiều so với Bill hay Jack hay Mickey. Anh không có cơ hội gặp cô gái xinh đẹp này về mặt quan hệ xã hội. Tâm trí anh đấu tranh để nhớ lại bản chất và thói quen của các cô gái bán hàng như đã được đọc hoặc nghe về họ. Bằng cách nào đó đã nhận ra ý tưởng rằng đôi khi họ không khăng khăng quá nghiêm ngặt đối với các kiểu giới thiệu thông thường. Tim anh đập mạnh khi nghĩ đến việc đề xuất một cuộc gặp gỡ độc đáo với sinh vật đáng yêu và trinh nguyên này. Nhưng sự hỗn loạn trong trái tim anh đã cho anh can đảm.

Sau một vài nhận xét thân thiện và được đón nhận về các chủ đề thông thường, anh đặt danh thiếp của mình trên tay cô trên quầy.

“Cô có vui lòng tha thứ cho tôi không,” anh nói, “nếu tôi có vẻ quá táo bạo, nhưng tôi tha thiết hy vọng cô sẽ cho phép tôi vui mừng khi gặp lại cô. Đây là tên tôi, tôi đảm bảo với cô rằng đó là sự tôn trọng lớn nhất mà tôi muốn sự giúp đỡ để trở thành một trong những …người quen của cô. Tôi có mất hy vọng vào sự ưu tiên không? “

Masie biết đàn ông – đặc biệt là đàn ông mua găng tay. Không do dự, cô nhìn anh thẳng thắn và mỉm cười trong mắt, và nói:

“Chắc chắn. Tôi đoán là anh được mà. Mặc dù vậy, tôi thường không đi chơi với những quý ông lạ. Đó không phải là phụ nữ ủy mị đâu. Khi nào anh có thể  muốn gặp lại tôi?”

“Ngay khi tôi có thể,” Carter nói. “Nếu cô cho phép tôi ghé thăm nhà của cô, tôi …”

Masie cười như hát. “Ồ, lạ thật, không!” Cô nói, dứt khoát. “Nếu anh có thể nhìn thấy căn hộ của chúng tôi một lần! Có tới năm người chúng tôi trong ba phòng. Tôi chỉ muốn nhìn thấy khuôn mặt của mẹ nếu tôi mang một người bạn lịch lãm đến đó!”

“Bất cứ nơi nào, thế thì,” Carter say mê nói, “điều đó sẽ thuận tiện cho cô”.

“Nói nghe này,” Masie đề nghị, với một ý tưởng sáng sủa trong khuôn mặt hoa đào nở của cô ấy; “Tôi nghĩ đêm thứ Năm sẽ phù hợp với tôi. Giả sử anh đến góc của Đại lộ số tám và Đường bốn mươi tám lúc 7:30. Tôi sống ngay gần góc phố. Nhưng tôi phải trở về nhà lúc mười một giờ. Mẹ không bao giờ hãy để tôi ở ngoài sau mười một giờ đêm”… Carter hứa với thái độ biết ơn sẽ giữ cuộc hẹn, và sau đó vội vã đến với mẹ mình, người đang tìm kiếm anh để phê chuẩn việc bà mua một chiếc tượng Diana bằng đồng.

Một cô bán hàng, với đôi mắt nhỏ và chiếc mũi khó chịu, đi dạo gần Masie, với một nụ cười thân thiện.

“Bạn đã tạo ra một cú đánh thành công với anh quý tộc của mình, Mase?” Cô hỏi.

“Người đàn ông xin phép gọi điện.” Masie trả lời, với không khí tuyệt vời, khi cô nhét danh thiếp của Carter vào eo của cô.

“Quyền được gọi!” đôi mắt nhỏ vang lên, với một tiếng cười. “Anh ta có nói gì về bữa tối ở Waldorf và sau đó là một cuộc đi dạo trong ô tô của anh ta không?

“Ồ, phô mai đấy!” Masie nói, mệt mỏi. “Tôi đã từng sử dụng để làm xuất sắc mọi thứ, tôi không nghĩ. Bạn đã có một chuỗi hạt bị sưng lên kể từ khi người lái xe kéo ống đưa bạn ra một khớp nối sành điệu. Không, đừng bao giờ nhắc đến Waldorf; nhưng có một Địa chỉ Fifth Avenue trên thẻ của anh ấy, và nếu anh ấy mua bữa ăn tối, bạn có thể đặt cược cuộc sống của mình, sẽ không có bím tóc trên người phục vụ, thứ gì sẽ ra lệnh. “

Khi Carter lướt đi từ Cửa hàng lớn nhất cùng mẹ trong ô tô nhỏ chạy điện của mình, anh cắn chặt môi với nỗi đau âm ỉ trong tim. Anh biết rằng tình yêu đã đến với anh lần đầu tiên trong suốt hai mươi chín năm của cuộc đời anh. Và rằng đối tượng của nó nên dễ dàng hẹn gặp anh ta ở một góc phố, mặc dù đó là một bước tiến tới ham muốn của anh ta, hành hạ anh ta bằng những mối nghi ngờ.

Carter không biết cô gái bán hàng. Anh ta không biết rằng nhà cô ta thường là một căn phòng nhỏ khó có thể ở được hoặc là nơi ở đầy tràn ngập bè bạn họ hàng. Góc phố là phòng khách của cô, công viên là phòng vẽ của cô; đại lộ là lối đi trong vườn của cô; nhưng đối với phần lớn nhất, cô ấy là tình nhân bất khả xâm phạm của chính mình trong các nơi ấy cũng như người phụ nữ của tôi trong căn buồng treo thảm của cô ấy.

Một buổi tối lúc chạng vạng, hai tuần sau cuộc gặp gỡ đầu tiên của họ, Carter và Masie đi dạo tay trong tay trong một công viên nhỏ, thiếu ánh sáng. Họ tìm thấy một chiếc ghế dài, dưới bóng cây và hẻo lánh, và ngồi đó.

Lần đầu tiên cánh tay anh len lén nhẹ nhàng quanh cô. Cái đầu màu đồng vàng của cô trượt thảnh thơi trên vai anh.

“Lạ thật!” Masie thở dài, vẻ biết ơn. “Tại sao anh chưa từng nghĩ về điều đó trước đây?”

“Masie,” Carter nói một cách thành khẩn, “em chắc chắn biết rằng tôi yêu em. Tôi yêu cầu em chân thành kết hôn với tôi. Em biết tôi đủ rõ vào thời điểm này để không nghi ngờ gì về tôi. Tôi muốn em, và tôi phải có em. Tôi không quan tâm đến sự khác biệt trong địa vị của chúng ta”.

“Sự khác biệt là gì?” Masie hỏi, tò mò.

“Chà, không có gì,” Carter nói, nhanh chóng, “ngoại trừ trong suy nghĩ của những người ngu ngốc. Đó là khả năng của anh mang đến cho em một cuộc sống xa hoa. Vị trí xã hội của anh vượt ngoài tranh luận, và phương tiện của anh rất dư giả”.

“Tất cả họ đều nói thế,” Masie nhận xét. “Đó là đứa trẻ mà tất cả họ dành cho anh. Tôi cho rằng anh thực sự làm việc trong một cửa hàng bán món ăn ngon hoặc chạy theo các cuộc đua. Tôi không màu xanh như tôi nhìn bề ngoài”.

“Tôi có thể cung cấp cho em tất cả các chứng minh em muốn,” Carter nói nhẹ nhàng. “Và tôi muốn em, Masie. Tôi yêu em ngay cái ngày đầu tiên tôi nhìn thấy em”.

“Tất cả họ đều nói như vậy”, Masie nói, với một tiếng cười thích thú, “khi  nghe họ nói chuyện. Nếu tôi có thể gặp một người đàn ông mắc kẹt vào tôi lần thứ ba,anh ta gặp tôi, tôi nghĩ rằng tôi đã bị anh ta nghiền nát”.

“Làm ơn đừng nói những điều như vậy”, Carter khẩn khoản. “Hãy nghe tôi, em yêu. Kể từ lần đầu tiên tôi nhìn vào mắt em, em là người phụ nữ duy nhất trên thế giới đối với anh”.

“Ồ, anh không phải là đứa trẻ!” Masie mỉm cười. “anh từng nói điều đó với  bao nhiêu cô gái khác rồi ?”

Nhưng Carter vẫn kiên trì. Và cuối cùng, một cách mong manh anh đạt được linh hồn nhỏ bé của cô gái bán hàng bay phất phơ tồn tại ở đâu đó sâu thẳm trong bộ ngực đáng yêu của cô.

Lời nói của anh xuyên thấu trái tim mà sự nhẹ nhàng của họ là bộ giáp an toàn nhất của nó. Cô ngước nhìn anh bằng đôi mắt đã biết. Và một ánh sáng ấm áp ghé thăm đôi má mát mẻ của cô. Lúng túng, khủng khiếp, đôi cánh bướm đêm của cô khép lại, và cô dường như sắp sửa ổn định bông hoa tình yêu. Một vài tia sáng yếu ớt của cuộc sống và những khả năng của nó ở phía bên kia của chiếc găng tay của cô ấy hé rạng trên cô. Carter cảm thấy sự thay đổi và nhảy xô vào cơ hội.

“Kết hôn với tôi nhé, Masie,” thì thầm nhẹ nhàng, “và chúng ta sẽ đi xa từ thành phố xấu xí này đến những thành phố đẹp. Chúng ta sẽ quên công việc và kinh doanh, và cuộc sống sẽ là một kỳ nghỉ dài. Tôi biết tôi nên đưa em đi đâu – nơi tôi đã từng thường ở đó. Hãy nghĩ về một bờ biển nơi mùa hè là vĩnh cửu, nơi những con sóng luôn gợn sóng trên bãi biển đáng yêu và mọi người hạnh phúc và tự do như những đứa trẻ. Chúng ta sẽ chèo thuyền đến những bờ biển đó và ở đó bao lâu như em muốn. Một trong những thành phố xa xôi đó có những tòa lâu đài lớn và đáng yêu, đầy những bức tranh và tượng đẹp. Các đường phố của thành phố là nước và người ta đi lai trong…”.

ĐÃO COSNEY

(Ảnh trên : công viên Luna Park trên đảo Coney, 1910)

“Tôi biết,” Masie nói, ngồi dậy đột ngột, “thuyền đáy bằng”.

“Vâng,” Carter mỉm cười.

“Tôi cũng nghĩ vậy,” Masie nói.

“Và sau đó,” Carter tiếp tục, “chúng ta sẽ đi du lịch và xem bất cứ điều gì chúng tôi muốn trên thế giới. Sau các thành phố châu Âu, chúng ta sẽ đến thăm Ấn Độ và các thành phố cổ ở đó, cưỡi voi và xem những ngôi đền tuyệt vời của người Hindu và Bà la môn và các khu vườn Nhật Bản và các toa  tàu lạc đà và các cuộc đua xe ngựa ở Ba Tư, và tất cả các điểm tham quan ở nước ngoài. Em không nghĩ rằng em sẽ thích nó ư, Masie?

Masie đứng dậy.

“Em nghĩ rằng chúng ta nên về nhà,” cô nói, lạnh lùng. “Sắp khuya rồi”.

Carter hài hước với cô. Anh đã biết được tâm trạng khác nhau của cô, và cảm thấy vô ích khi chiến đấu với nó. Nhưng anh cảm thấy một chiến thắng hạnh phúc nào đó. Anh ta đã giữ được một lúc, nhưng bằng một sợi tơ, linh hồn của loài bướm lông hoang dã của anh ta, và hy vọng sẽ mạnh mẽ hơn trong anh ta. Khi cô ấy đã gập đôi cánh của mình và bàn tay lạnh lẽo của cô ấy đã khép lại quanh anh ta.

Tại Cửa hàng lớn nhất vào ngày hôm sau, bạn thân chung phòng Lulu đã dẫn cô đến một góc quầy.

“Sao, cô và quí ông sang trọng làm được gì rồi? Cô ấy hỏi.

“Ồ, anh ta ư?” Masie nói, vỗ nhẹ vào lọn tóc thả bên má cô. “Anh ta không còn ở trong đó nữa. Nói thử xem, Lu, cô nghĩ anh bạn đó muốn tôi làm gì?”

“Đi làm diễn viên ư?” Lulu đoán, nín thở.

“Chàng ngốc; anh ta quá rẻ rúng, không thể là một chàng trai nghĩ tới điều đó. Anh ta muốn tôi cưới anh ta và đi xuống đảo Coney trong một tour du lịch đám cưới !”

hết

CHÚ THÍCH

*[4]. A Lickpenny Lover:  dịch sát “Một tình nhân liếm tiền”

* Người dịch đặt tựa đề khác cho dễ hiểu.

[1]* Lickpenny something that uses up money

“law is a lickpenny— Sir Walter Scott”. Nhà văn Anh thế kỷ XIX.

“pháp luật là một kẻ liếm tiền” – Ngài Walter Scott

[2] * Maltese cat: một loài mèo lông ngắn màu xám xanh

[3] * Nguyên tác: Shylock  nhân vật cho vay nặng lãi trong kịch của W. Shakespeare

[4] *lickpenny (nghĩa cổ xưa) một cái gì đó sử dụng hết tiền.

Lời bàn người dịch

Anh chàng Irving Carter tán gái quen dùng các thủ đoạn nhàm chán của quí ông. Anh ta đưa ra hứa hẹn những thú vui hưởng lạc thời thượng.

Anh không hiểu cô gái đẹp Masie – một cô gái bán hàng nhưng có lý tưởng cao hơn những món mồi anh ta tung ra. Cô thích làm diễn viên sân khấu  (Lulu cô bạn hé lộ ra cho ta biết).

Bởi nhầm đối tượng nên quí ông thất bại !

 

Kho báu chôn giấu

Kho báu chôn giấu

nguyên tác: Buried Treasure

by O. Henry

(tập Options 1909)

http://www.online-literature.com/o_henry/1001/

thảo nguyên

Có nhiều loại người ngu. Bây giờ, mọi người sẽ vui lòng ngồi yên lặng cho đến khi ai đó được gọi rõ ràng rồi hãy đứng lên chứ?

Tôi đã từng là một kẻ ngốc trừ một kiểu người ngốc. Tôi đã xài hết gia sản thừa kế, giả bộ một cuộc hôn nhân của mình, chơi bài xì phé, sân cỏ tennis và cửa hàng bán xô xách nước, sớm tiêu hết tiền của mình bằng nhiều cách. Nhưng vẫn còn một quy tắc của anh hề đội mũ và đeo chuông mà tôi đã không chơi. Đó là việc làm người đi tìm kho báu chôn vùi. Đối với một số ít người, sự khâm phục vui vẻ sẽ đến. Nhưng trong tất cả những người theo sau dấu chân của vua Midas*[1], không ai tìm thấy một sự theo đuổi rất giàu trong lời hứa thú vị.

Tuy vậy, trở lại với chủ đề của tôi một lúc – như những cây bút yếu kém phải làm – tôi là một kẻ ngốc của sự mềm yếu trong tình cảm. Tôi nhìn thấy May Martha Mangum,và thuộc về cô ấy. Cô ấy mười tám tuổi, màu của những phím màu trắng ngà của một cây đàn piano mới, đẹp đẽ và được sở hữu bởi sự trang nghiêm tinh xảo và quyến rũ cảm động của một thiên thần chất phác, sống trong một thị trấn đồng cỏ, nhỏ và buồn tẻ ở Texas. Cô ấy có một tinh thần và sự quyến rũ có thể cho phép cô ấy hái những viên hồng ngọc như quả mâm xôi từ vương miện của nước Bỉ hoặc bất kỳ vương quốc trung thực nào khác, nhưng cô ấy không biết điều đó và tôi không vẽ bức tranh cho cô ấy.

Bạn thấy đấy, tôi muốn có được May Martha Mangum và giữ gìn. Tôi muốn cô ấy ở lại chịu đựng với tôi, và vứt bỏ dép lê và ống tẩu thuốc của tôi đi hàng ngày ở những nơi không thể tìm thấy lại vào buổi tối.

Cha của May Martha là một người đàn ông giấu mặt sau bộ râu và cặp kính. Ông ta sống vì bọ và bướm và tất cả các loài côn trùng bay hoặc bò hoặc vo ve hoặc chui vào lưng bạn hoặc trong bơ phó mát. Ông là một nhà ngôn ngữ học nghiên cứu gốc từ ngữ, hoặc hiệu ứng của từ ngữ. Ông ta dành cả đời để tung lưới bắt những con cá bay của nhóm loài bọ tháng Sáu, và sau đó cài ghim ghi tên gọi giống loài đó.

Ông ấy và cô May Martha là cả gia đình. Ông ta đánh giá cao cô như một mẫu vật tốt của loài racibus humanus vì cô biết rằng ông có sẵn thức ăn mọi lúc, mặc quần áo luôn đứng đắn, và giữ chai rượu của ông luôn đầy. Các nhà khoa học, họ nói, ông có lẽ dễ bị đãng trí.

Ngoài ra còn có một người khác nghĩ rằng May Martha Mangum là người anh ta mong muốn. Đó là Goodloe Banks, một chàng trai trẻ mới học xong đại học. Anh đã có tất cả những thành tựu học được trong sách – tiếng Latin, tiếng Hy Lạp, triết học, và đặc biệt là các chuyên ngành cao hơn của toán học và logic học.

Nếu anh ta không có thói quen rót ra thông tin đó và tìm hiểu mọi thông tin của người khác mà anh ta nói chuyện, thì tôi đã khá thích anh ta. Nhưng, ngay cả khi như vậy, anh ấy và tôi, bạn sẽ nghĩ  rằng, là những người bạn tuyệt vời.

Chúng tôi gặp nhau mọi lúc có thể vì mỗi người chúng tôi muốn dò hỏi người kia bất cứ thứ gì chúng tôi có thể để tìm xem ngọn gió thổi từ trái tim của May Martha Mangum hướng tới đâu – đúng hơn là một phép ẩn dụ hỗn hợp; Goodloe Banks sẽ chẳng bao giờ sai trái về điều đó. Đó là cách của các đối thủ.

Bạn có thể nói rằng Goodloe chạy đến với sách, cách cư xử, văn hóa, chèo thuyền, trí tuệ và quần áo. Tôi sẽ đặt bạn suy nghĩ nhiều hơn về  bóng chày  và tranh luận xã hội tối thứ Sáu – bằng con đường văn hóa – và có thể về một tay đua ngựa giỏi.

Nhưng trong các cuộc nói chuyện của chúng tôi với nhau, và trong các chuyến thăm và trò chuyện với May Martha, cả Goodloe Banks và tôi cũng không thể tìm ra được ai trong chúng tôi được cô ấy thích. May Martha là một người không biết hứa hẹn bẩm sinh, và biết từ cái nôi của mình làm thế nào để mọi người suy đoán.

Như tôi đã nói, ông già Mangum đãng trí. Sau một thời gian dài, ông phát hiện ra, một ngày nọ – một con bướm nhỏ hẳn phải nói với ông – rằng hai thanh niên đang cố tung lưới qua đầu người trẻ, một cô con gái hoặc một số phần phụ kỹ thuật như vậy, người chăm sóc những nguồn an ủi của ông.

Tôi không bao giờ biết các nhà khoa học có thể đứng lên với những dịp như vậy. Ông già Mangum bằng lời đã dán nhãn và phân loại Goodloe và bản thân tôi một cách dễ dàng trong số các nhóm thấp nhất của dãy động vật có xương sống; và trong tiếng Anh cũng vậy, không cần đi sâu vào tiếng Latin hơn các tài liệu tham khảo đơn giản về Orgetorix, Rex Helvetii – mà theo chừng mực mà tôi từng biết. Và ông ấy nói với chúng tôi rằng nếu còn bắt gặp chúng tôi lảng vảng gần nhà ông một lần nữa, ông ấy sẽ thêm chúng tôi vào bộ sưu tập của ông.

Goodloe Banks và tôi tránh xa được năm ngày, hy vọng cơn bão sẽ lắng xuống. Khi chúng tôi liều mạng ghé nhà cô một lần nữa, May Martha Mangum và cha cô đã biến mất. Đi đâu mất rồi ! Ngôi nhà họ thuê đã bị đóng cửa. Cửa hàng nhỏ và tài sản của họ cũng biến mất.

Và May Martha cũng không một lời từ biệt với một trong hai chúng tôi – không phải là một miếng giấy trắng rung rinh được ghim vào bụi cây táo gai; không có một dấu phấn trên hộp bưu điện và cũng không một tấm bưu thiếp qua  bưu điện để cho chúng tôi một dấu vết.

Trong hai tháng, Goodloe Banks và tôi – riêng rẽ – đã thử mọi kế hoạch mà chúng tôi có thể nghĩ ra để theo dõi cuộc chạy trốn. Chúng tôi đã sử dụng tình bạn và tầm ảnh hưởng của chúng tôi với đại lý bán vé, với những người làm ở chuồng ngựa, người soát vé đường sắt, và một người cảnh sát cô đơn của chúng tôi, nhưng không có kết quả.

Sau đó, chúng tôi trở thành bạn tốt hơn và kẻ thù tồi tệ hơn bao giờ hết. Chúng tôi gặp nhau trong phòng sau của quán rượu Snyder vào mỗi buổi chiều sau giờ làm việc, và chơi cờ domino, và đặt bẫy trò chuyện để tìm hiểu nhau xem có bất cứ manh mối gì được phát hiện. Đó là cách của những đối thủ.

Bây giờ, Goodloe Banks đã có một cách mỉa mai thể hiện việc học của chính mình và đưa tôi vào lớp đang đọc bài “Đáng thương Jane Ray, con chim của cô ấy đã chết, cô ấy không thể chơi.” Chà, tôi khá thích Goodloe, và tôi khinh thường việc học đại học của anh ấy, và tôi luôn được coi là tốt tính tự nhiên, vì vậy tôi đã giữ bình tĩnh. Và tôi cố gắng tìm hiểu xem anh ấy có biết điều gì mới về May Martha không, vì vậy tôi đã chịu đựng cái kiểu giao thiệp của anh ấy.

Khi trò chuyện hết cả một buổi chiều, anh ta nói với tôi:

“Giả sử cậu tìm thấy cô ấy, Ed à, nhờ đó cậu sẽ thu được lợi ích ư? Cô Mangum có suy nghĩ riêng. Có lẽ điều đó vẫn là văn hoá kém, nhưng cô ấy được dành cho những thứ cao hơn cậu có thể cho cô ấy. Tôi đã  không nói chuyện với người nào có vẻ đánh giá cao hơn sự mê hoặc của các nhà thơ nhà văn cổ đại và các giáo phái hiện đại đã đồng hóa và mở rộng triết lý sống của họ. Cậu có nghĩ rằng cậu đang lãng phí thời gian để tìm kiếm cô ấy không? “.

“Ý tưởng của tôi,” tôi nói, “về một ngôi nhà hạnh phúc là một ngôi nhà tám phòng trong một rừng sồi sống bên cạnh một chiếc xe ngựa trên thảo nguyên Texas. Một cây đàn piano,” tôi tiếp tục “với một người chơi đàn tự động trong phòng khách, ba ngàn đầu gia súc dưới hàng rào để bắt đầu khởi nghiệp, một cái xô nước và đàn ngựa con luôn chen lấn ở một cái cột cho ‘bà chủ’ – và May Martha Mangum để chi tiền thu nhập từ trang trại khi cô vừa lòng, và ở lại chịu đựng với tôi, và mang dép và ống tẩu của tôi đi hàng ngày bỏ ở những nơi không thể tìm thấy vào buổi tối. Điều đó”, tôi nói,”là những gì sẽ tồn tại, và là một con số vô giá trị, khô khốc như Smyrna, dago-stand – cho các môn học, đam mê và triết học của anh”.

“Cô ấy có nghĩa là dành cho những thứ cao hơn”, Goodloe Banks lặp lại.

“Dù cô ấy có ý dành cho cái gì,” tôi trả lời, ngay bây giờ cô ấy đã hết tiền. Và tôi sẽ tìm thấy cô ấy ngay khi tôi có thể mà không cần sự trợ giúp của các trường đại học”.

“Trò chơi bị chặn,” Goodloe nói, đặt một domino xuống và chúng tôi uống bia.

Không lâu sau đó, một người nông dân trẻ mà tôi quen biết đã vào thị trấn và mang cho tôi một tờ giấy màu xanh được gấp lại. Anh ta nói ông của anh ấy vừa qua đời. Tôi giấu một giọt nước mắt, và anh ta tiếp tục nói rằng ông già đã bảo vệ cái tờ giấy này trong hai mươi năm vẻ ganh ghét . Ông để lại cho gia đình như một phần tài sản của mình, phần còn lại bao gồm hai con la và một vùng đất không thể canh tác.

Tờ giấy thuộc loại cũ, loại màu xanh được sử dụng trong cuộc nổi loạn của những người theo chủ nghĩa bãi bỏ chống lại những kẻ ly khai. Giấy ghi ngày 14 tháng 6 năm 1863 và nó mô tả nơi cất giấu mười gói đồng xu vàng và bạc trị giá ba trăm ngàn đô la. Ông già Rundle– ông nội của cháu trai ông, Sam – được một linh mục người Tây Ban Nha cung cấp thông tin về việc chôn giấu kho báu, và người đã chết nhiều năm trước – không, sau đó – tại nhà của ông già Rundle. Ông Rundle đã viết nó ra từ việc nghe ông linh mục đọc chính tả.

“Tại sao cha bạn không tìm kiếm điều này?” Tôi hỏi anh Rundle trẻ.

“Ông bị mù trước khi ông có thể làm như vậy”, anh trả lời.

“Tại sao cậu không tự mình săn lùng nó?” Tôi hỏi.

“Chà,” anh ta nói, “Tôi chỉ mới biết về tờ giấy này được mười năm. Trước tiên là phải cày ruộng mùa xuân, và sau đó nhổ cỏ dại ra khỏi ruộng ngô, và sau đó đến lấy cỏ khô thức ăn gia súc, và chẳng mấy chốc mùa đông lại đến với chúng tôi. Dường như phải chạy dọc theo năm đó qua năm khác. “

Điều đó nghe có vẻ hoàn toàn hợp lý với tôi, vì vậy tôi đã bàn việc đó với Lee Rundle trẻ ngay lập tức.

Các hướng dẫn trên giấy rất đơn giản. Toàn bộ đoàn kỵ binh chất đầy kho báu bắt đầu từ một phái bộ cũ của Tây Ban Nha ở Hạt Dolores. Họ đã đi về phía nam bằng la bàn cho đến khi họ đến được sông Alamito. Họ đã lội qua  chỗ này và chôn kho báu trên đỉnh một ngọn núi nhỏ có hình dạng như một cái yên ngựa đứng thành một hàng giữa hai cái hình yên ngựa cao hơn. Một đống đá đánh dấu nơi chôn cất kho báu. Tất cả đoàn ngựa ngoại trừ linh mục Tây Ban Nha đã bị người da đỏ giết chết vài ngày sau đó. Bí mật là độc quyền kiểm soát. Điều đó có vẻ tốt với tôi.

Lee Rundle gợi ý rằng chúng tôi nên mặc một bộ trang phục cắm trại, thuê một nhà khảo sát để thực hiện đường dây từ phái bộ Tây Ban Nha, và sau đó chi ba trăm ngàn đô la để ngắm cảnh vật ở Fort Worth. Nhưng, do không được giáo dục bậc cao, tôi biết một cách để tiết kiệm thời gian và chi phí.

Chúng tôi đã đến văn phòng địa chính nhà nước và có một bài học thực hành, cái mà họ gọi là bản phác thảo “làm việc”, được tạo ra trong tất cả các khảo sát về đất đai từ chỗ phái bộ cũ đến sông Alamito. Trên bản đồ này, tôi vẽ một đường từ phía nam tới con sông. Độ dài của các đường khảo sát và phần đất được đưa ra chính xác trên bản phác thảo. Bằng những điều này, chúng tôi đã tìm thấy điểm đó trên sông và có một “mối liên hệ” được thực hiện với nó và một góc quan trọng, được xác định rõ ràng trong cuộc khảo sát của Los Animos – một khoản trợ cấp của vua Philip Tây Ban Nha.

Bằng cách này, chúng tôi không cần phải theo đường vẽ của một người vẽ bản đồ địa chinh. Đó là một tiết kiệm lớn về chi phí và thời gian.

Vì vậy, Lee Rundle và tôi trang bị một đội xe song mã với tất cả các phụ kiện, và lái xe đi một trăm bốn mươi chín dặm đến Chico, thị trấn gần nhất với địa  điểm chúng tôi muốn tiếp cận. Ở đó chúng tôi đã chọn một đại diện văn phòng vẽ bản đồ quận. Anh ta tìm thấy cái góc khảo sát của vùng Los Animos cho chúng tôi, trải ra năm ngàn bảy trăm hai mươi thước Tây ban nha về phía tây mà bản phác thảo của chúng tôi yêu cầu, đặt một viên đá tại chỗ đó, uống cà phê và ăn thịt xông khói, và bắt kịp giai đoạn đường thư quay lại Chico .

Tôi khá chắc chắn rằng chúng tôi sẽ nhận được ba trăm ngàn đô la. Lee Rundle chỉ một phần ba, vì tôi đã trả tất cả các chi phí. Với hai trăm ngàn đô la đó, tôi biết rằng tôi có thể tìm thấy May Martha Mangum nếu cô ấy ở trên trái đất. Và với nó, tôi cũng có thể kích động những con bướm trong chuồng bồ câu của ông già Mangum. Nếu tôi có thể tìm thấy kho báu đó !

Nhưng Lee và tôi đã dựng một cái trại. Bên kia sông là hàng chục ngọn núi nhỏ được bao phủ dày đặc bởi đám tuyết tùng, nhưng không phải là một hình dạng một cái yên ngựa. Điều đó đã không ngăn cản chúng tôi. Bề ngoài có thể gây nhầm lẫn. Một chiếc yên ngựa, giống như vẻ đẹp, chỉ có thể tồn tại trong mắt của kẻ si tình.

Tôi và cháu nội của kho báu đã kiểm tra những ngọn đồi phủ tuyết tùng đó như là sự chăm sóc của một phụ nữ đang săn lùng con bọ chét độc ác. Chúng tôi khám phá tất cả các bên, hàng cao nhất, chu vi, độ cao trung bình, góc, độ dốc, và chỗ lõm của mỗi cái đối với hai dặm lên xuống sông. Chúng tôi đã dành bốn ngày để làm như vậy. Sau đó chúng tôi quá giang con ngựa lang và con ngựa nâu xám, và mang phần còn lại của cà phê và thịt xông khói một trăm bốn mươi chín dặm trở lại thành phố Concho.

Lee Rundle nhai nhiều thuốc lá trong chuyến trở về. Tôi đang bận lái xe, vì tôi đang vội.

Ngay sau khi trở về tay không, Goodloe Banks và tôi đã gặp lại trong phòng sau của quán rượu Snyder để chơi trò chơi domino và câu cá. Tôi nói với Goodloe về chuyến thám hiểm của tôi tìm kho báu bị chôn vùi.

“Nếu tôi có thể tìm thấy ba trăm ngàn đô la,” tôi nói với anh ta, “Tôi có thể đã lùng sục và sàng cả bề mặt trái đất để tìm May Martha Mangum”.

“Cô ấy có nghĩa là dành cho những thứ cao hơn,” Goodloe nói. “Tôi sẽ tự mình tìm thấy cô ấy. Nhưng, hãy nói cho tôi biết cậu đã khám phá ra nơi mà cây cối mọc không tiếp đất này được chôn cất một cách thiếu thận trọng”.

Tôi nói với anh ấy từng chi tiết nhỏ nhất. Tôi chỉ cho anh ta bản phác thảo của người dẫn đường với những khoảng cách được đánh dấu rõ ràng trên đó.

Sau khi liếc nhìn nó một cách thuần thục, anh ta ngả người ra ghế và ban cho tôi một tiếng cười sảng khoái, vượt trội, tiếng cười của trường đại học.

“Chà, anh là đồ ngốc, Jim à,” anh ta nói, khi có thể nói.

“Đó là trò chơi của bạn,” tôi nói, kiên nhẫn, gõ gõ hai ngón tay đôi.

“Hai mươi,” Goodloe nói, vạch hai cây thánh giá trên bàn bằng cục phấn của mình.

“Tại sao tôi là một kẻ ngốc ?” Tôi hỏi. “Kho báu chôn đã được đi tìm trước đây ở nhiều nơi rồi”.

“Bởi vì,” anh ta nói, “khi tính toán cái điểm trên dòng sông nơi dòng kẻ của cậu sẽ chạm vào cậu đã bỏ qua việc cho phép biến dạng. Biến dạng sẽ có chín độ về phía tây. Hãy để tôi dùng cây bút chì của cậu”.

Goodloe Banks nhanh chóng vẽ ra ở mặt sau của một cái phong bì.

“Khoảng cách, từ bắc xuống nam, của dòng chạy từ chỗ phái bộ Tây Ban Nha”, theo câu chuyện của cậu” anh ta nói rằng”chính xác là hai mươi hai dặm. Nó được điều hành bởi một la bàn bỏ túi, theo câu chuyện của cậu. Cho phép cho sự biến dạng, các điểm trên sông Alamito nơi cậu nên tìm kiếm kho báu của cậu là đúng sáu dặm và 945 thước Tây ban nha xa hơn về phía tây so với nơi cậu chạm vào. Ôi, thật là một kẻ ngốc, Jim à !”

“Biến dạng này mà anh nói đến là gì?” Tôi hỏi. “Tôi nghĩ rằng con số không bao giờ nói dối.”

“Sự biến đổi của la bàn từ tính,” Goodloe nói, “từ kinh tuyến thực sự”.

Anh mỉm cười theo cách trịch thượng của mình; và sau đó tôi thấy xuất hiện trong khuôn mặt của anh ta sự lập dị, háo hức, máu tham ám ảnh của người tìm kiếm kho báu chôn giấu.

“Đôi khi,” anh nói với giọng điệu của nhà tiên tri, “những truyền thống cũ về giấu tiền này không phải là không có cơ sở. Giả sử cậu để tôi xem qua tờ giấy mô tả địa điểm. Có lẽ chúng ta có thể…”.

Kết quả là Goodloe Banks và tôi, đối thủ của nhau trong tình yêu, đã trở thành bạn đồng hành trong cuộc phiêu lưu. Chúng tôi đến Chico theo giai đoạn từ Huntersburg, thị trấn có đường sắt gần nhất. Ở Chico, chúng tôi đã thuê một đội đi một chiếc xe ngựa có mái che và đồ dùng cắm trại. Chúng tôi đã thuê một nhà vẽ bản đồ chạy theo khoảng cách của chúng tôi, như được sửa đổi bởi Goodloe và các biến dạng của anh ấy, sau đó chia tay anh ấy đi và gửi anh ấy trên con đường về nhà anh ta.

Đó là ban đêm khi chúng tôi đến nơi. Tôi cho ngựa ăn và đốt lửa gần bờ sông và nấu bữa tối. Goodloe sẽ có ích, nhưng sự học của anh ta đã không phù hợp với anh ta về điều thực tế.

Tuy nhiên trong khi tôi làm việc, anh ấy đã cổ vũ tôi bằng cách thể hiện những suy nghĩ tuyệt vời được truyền lại từ những người tiền bối. Anh ta trích dẫn một số bản dịch từ tiếng Hy Lạp một đoạn dài.

“Thơ trữ tình cổ HI Lạp,” anh giải thích. “Đó là một đoạn yêu thích với cô Mangum khi tôi đã đọc nó”.

“Cô ấy có nghĩa là dành cho những thứ cao hơn,” tôi nói, lặp lại cụm từ của anh ta.

“Còn có bất cứ điều gì cao hơn,” Goodloe hỏi, “hơn là sống trong xã hội của kinh điển, để sống trong bầu không khí học tập và văn hóa? Cậu đã thường xuyên chê bai giáo dục. Cậu đã lãng phí những nỗ lực nào khi làm ngơ về toán học đơn giản? Đến bao lâu cậu sẽ tìm thấy kho báu của mình nếu không nhờ kiến thức của tôi chỉ cho cậu thấy lỗi của mình? “

“Chúng ta sẽ xem xét những ngọn đồi bên kia sông trước,” tôi nói, “và xem chúng ta tìm thấy gì. Tôi vẫn nghi ngờ về các biến dạng. Tôi đã được nuôi dưỡng để tin rằng mũi kim là chỉ đúng với cực la bàn”.

Sáng hôm sau là một tháng Sáu tươi sáng. Chúng tôi dậy sớm và ăn sáng. Goodloe có vẻ say mê. Anh ấy đọc thơ của nhà thơ Anh tên Keats*[2], tôi nghĩ là vậy, và Kelly hoặc Shelley, trong khi tôi nướng thịt xông khói. Chúng tôi đã sẵn sàng để băng qua sông, nơi chỉ còn một quãng vượt qua một con lạch cạn ở đó, và khám phá nhiều ngọn đồi phủ đầy tuyết tùng sắc nhọn ở phía bên kia.

“Ulysses*[3] tốt của tôi,” Goodloe nói, vỗ vai tôi trong khi tôi đang rửa đĩa ăn sáng bằng thiếc, “hãy để tôi xem tài liệu quyến rũ này một lần nữa. Tôi tin rằng nó đưa ra hướng leo lên ngọn đồi có hình dạng như một cái yên ngựa. Tôi chưa bao giờ thấy một cái yên ngựa. Nó như thế nào, hả Jim? “.

“Tôi ghi một điểm một so với văn hóa rồi nha”, tôi nói. “Tôi sẽ biết nó khi tôi nhìn thấy nó”.

Goodloe đang xem tài liệu của ông Rundle già thì anh ta bật ra một từ chửi thề không quen tai nhất.

“Đến đây coi,” anh nói, giơ tờ giấy lên soi dưới ánh sáng mặt trời. “Nhìn đây này,” anh nói, đặt ngón tay lên nó.

Trên tờ giấy màu xanh – một điều mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy trước đây – tôi thấy nổi bật trong các chữ màu trắng là chữ và con số: “Malvern, 1898”.

“Cái đó thì sao?” Tôi hỏi.

“Đó là dấu vân giấy,” Goodloe nói. “Giấy được sản xuất vào năm 1898. Chữ viết trên giấy có niên đại 1863. Đây là một sự gian lận có thể sờ thấy được”.

“Ồ, tôi không biết”, tôi nói. “Rundles là những người nông dân khá đáng tin cậy, đơn giản, ít học. Có lẽ các nhà sản xuất giấy đã cố gắng phạm một sự lừa đảo”.

Và rồi Goodloe Banks trở nên hoang dã như sự giáo dục của anh cho phép. Anh bỏ kính ra khỏi mũi và lườm tôi.

“Tôi thường nói với cậu rằng cậu là một kẻ ngốc”, anh nói. “Cậu đã để cho mình bị lừa dối bởi một kẻ quê mùa cục ịch. Và cậu đã lợi dụng tôi”.

“Tôi đã lừa dối anh như thế nào?”- tôi hỏi.

“Bởi sự thiếu hiểu biết của cậu,” anh nói. “Hai lần tôi đã phát hiện ra những sai sót nghiêm trọng trong kế hoạch của cậu, rằng nếu cậu có một nền giáo dục trường phổ thông thì đã cho phép cậu tránh được. Và”, anh ta tiếp tục, “Tôi đã phải trả giá để biết rằng tôi không đủ khả năng theo đuổi cuộc tìm kiếm lừa đảo này. Tôi đã xong với nó rồi”.

Tôi đứng dậy và chĩa một chiếc thìa lớn vào anh ta, chiếc thìa sạch sẽ nhờ nước rửa chén.

“Goodloe Banks này,” tôi nói, “Tôi không quan tâm đến một hạt đậu xanh dương luộc nửa chừng chưa chín như sự giáo dục của anh. Tôi luôn luôn chịu đựng nó với bất kỳ ai, và tôi coi thường nó trong con người anh. Việc học của anh đã làm gì cho anh ? Đó là một lời nguyền rủa với chính anh và sự nhàm chán với bạn bè của anh. Biến đi”, tôi nói ” cút đi với những dấu vân trên giấy và cái la bàn biến dạng của anh. Mấy cái đó không là gì với tôi. Chúng sẽ không làm chệch hướng tôi khỏi cuộc săn tìm”.

Tôi chỉ chiếc thìa của mình qua sông đến một ngọn núi nhỏ có hình dạng một cái yên ngựa.

“Tôi sẽ tìm kiếm ngọn núi đó,” tôi tiếp tục nói, “tìm kho báu. Hãy quyết định bây giờ xem anh có ở trong đó hay không. Nếu anh muốn để một dấu vân giấy hoặc một biến dạng làm run rẩy tâm hồn anh, anh không phải là nhà thám hiểm thực thụ. Quyết định đi”.

Một đám mây bụi trắng bắt đầu mọc lên phía xa phía con đường sông. Đó là chiếc xe chở thư từ Hesperus đến Chico. Goodloe vẫy lá cờ với chiếc xe.

“Tôi đã xong việc với sự lừa đảo,” anh ta nói một cách chua chát. “Không ai ngoài một kẻ ngốc sẽ chú ý đến tờ giấy đó bây giờ. Chà, cậu luôn là một kẻ ngốc, Jim. Tôi để cậu đến với số phận của cậu nhá”.

Anh ta thu thập các đồ đạc cá nhân của mình, trèo vào thùng thư, điều chỉnh kính một cách lo lắng và bay đi trong một đám mây bụi.

Sau khi tôi rửa chén và buộc ngựa trên đám cỏ mới, tôi băng qua dòng sông cạn và đi chầm chậm qua những cây tuyết tùng lên đến đỉnh đồi có hình dạng như một cái yên ngựa.

Đó là một ngày tháng Sáu tuyệt vời. Chưa bao giờ trong đời, tôi nhìn thấy rất nhiều loài chim, rất nhiều ruồi bớm, ruồi rồng, châu chấu, và những con thú có cánh và chích khó chịu trên bầu trời và cánh đồng.

Tôi khám phá ngọn đồi có hình dạng như một cái yên ngựa từ chân đến đỉnh. Tôi tìm thấy sự vắng mặt tuyệt đối của các dấu hiệu liên quan đến kho báu bị chôn giấu. Không có đống đá, không có những vết cắt làm dấu cổ xưa trên cây, không có bằng chứng nào về ba trăm ngàn đô la, như được ghi trong tài liệu của ông già Rundle.

Tôi đi xuống đồi trong cái mát mẻ buổi chiều. Đột nhiên, ra khỏi đám tuyết, tôi bước vào một thung lũng xanh tuyệt đẹp, nơi một dòng suối nhánh nhỏ chảy vào sông Alamito.

Và ở đó, tôi bắt đầu thấy tôi đã làm gì để trở thành một người đàn ông hoang dã, với bộ râu xù xì và mái tóc nhàu rối, chạy đuổi theo một con bướm khổng lồ với đôi cánh rực rỡ.

“Có lẽ anh ta là một kẻ điên chạy trốn,” tôi nghĩ; và tự hỏi làm thế nào anh ta đi lạc quá xa khỏi vị trí của giáo dục và học tập.

Và sau đó tôi bước thêm vài bước và thấy một ngôi nhà phủ đầy cây nho gần con suối nhỏ. Và trong một vạt cỏ cây, tôi thấy May Martha Mangum đang hái hoa dại.

Cô ấy đứng thẳng dậy và nhìn tôi. Lần đầu tiên kể từ khi tôi biết cô ấy, tôi đã nhìn thấy khuôn mặt của cô ấy, màu của các phím trắng của một cây đàn piano mới chuyển sang màu hồng. Tôi đi về phía cô ấy không nói một lời. Cô thả những bông hoa đã hái trên tay từ từ rơi xuống cỏ.

“Em biết anh sẽ đến, Jim,” cô nói rõ ràng. “Cha không cho em viết thư, nhưng em biết anh sẽ đến.

Những gì tiếp theo bạn có thể đoán – có đoàn xe và đội của tôi ở bên kia sông.

Tôi thường tự hỏi rằng giáo dục quá nhiều thì tốt cho một người đàn ông thế nào nếu anh ta không thể sử dụng nó cho chính mình. Nếu tất cả những lợi ích của nó là để đi đến người khác, nó đi vào đâu?

Bởi vì May Martha Mangum chịu sống bên tôi. Có một ngôi nhà tám phòng trong một khu rừng sồi tươi tốt, và một cây đàn piano với một người chơi tự động, và một khởi đầu tốt đẹp cho ba ngàn đầu gia súc đang ở dưới hàng rào.

Và khi tôi đi xe về nhà vào ban đêm, ống tẩu và dép của tôi được đặt ở những nơi không thể tìm thấy.

Nhưng ai quan tâm đến điều đó ? Ai quan tâm…ai quan tâm chứ ?

núi yên ngựa

Hết

[1] * King Midas, sự tích trong thần thoại Hi Lạp: một vị vua huyền thoại, được thần linh ban cho sức mạnh biến mọi thứ thành vàng khi anh ta chạm vào.

[2] *John Keats (31 tháng 10 năm 1795 – 23 tháng 2 năm 1821) – nhà thơ Anh, , một đại diện tiêu biểu của trường phái lãng mạn Anh thế kỉ XIX, người cùng thời với Percy Bysshe ShelleyLord Byron.

[3] *Ulysses: còn có tên Odyssee, nhân vật anh hùng sau khi chinh phục thành Troy, dẫn đội quân vượt biển trở về quê hương, mất mười năm đồng thời khám phá vùng Địa Trung Hải.

Tiệm ăn dưới tầng hầm và bông hoa hồng

Tiệm ăn dưới tầng hầm và bông hoa hồng

https://americanliterature.com/author/o-henry/short-story/the-rathskeller-and-the-rose

nguyên tác: The Rathskeller and the Rose

by O. Henry

Gửi tặng tiên sinh Lí Trọng Đạo ở nơi chân trời xa xa

***

thành phố của diễn viên

Posie Carrington đã đạt được thành công nghề nghiệp. Cô bắt đầu cuộc sống người khuyết tật với cái họ là “Bogss” trong một thị trấn nhỏ gọi là Cranberry Corners. Ở tuổi mười tám, cô đã giành được nghệ danh “Carrington” và một vị trí trong dàn hợp xướng của một đoàn hài kịch đô thị. Từ đó trở đi, cô đã thăng hoa nhờ những bước hợp pháp và vui vẻ của ca sĩ “gà giò”, thành viên của tốp ca bộ tám “Con Chim Non”, nổi tiếng trong vở hài kịch âm nhạc thành công “Fudge và bạn hữu”, thủ lĩnh của điệu nhảy bọ khoai tây trong vở “Fol- de-Rol” và vai người hầu gái Toinette trong vở “Váy tắm khổng lồ” với một đoạn dài, những tiết mục đó đã bắt gặp các nhà phê bình tạo cho cô cơ hội. Và khi chúng ta xem xét cô Carrington, trong tình trạng sung sức, nổi tiếng và vang dội; và người quản lý khôn khéo của cô là Herr Timothy Goldstein, khắc chữ ký của cô ấy trên các tờ báo bọc sắt mà cô ấy sẽ đóng vai chính trong mùa diễn sắp tới trong vở kịch hài mới “Paresis by Gaslight” của tác giả Dyde Rich.

Không chậm trễ, anh quản lý Herr Timothy đã đến gặp một diễn viên trẻ cá tính  tiềm năng của thế kỷ hai mươi tên là Highsmith, người được chọn tham gia vào vai “Sol Haytosser” nhân vật nam chính trong vở kịch vui “Paresis by Gaslight”.

“Cậu bé của tôi,” Herr Timothy Goldstein nói, “hãy nhận vai diễn nếu cậu có thể giành được. Cô Carrington sẽ không lắng nghe bất kỳ lời đề nghị nào của tôi. Cô ấy đã từ chối một nửa tá những kẻ bắt chước giỏi nhất của bản nhạc nông thôn trong thành phố này. Cô ấy tuyên bố sẽ không đặt chân lên sân khấu trừ khi vai ‘Haytosser’ là người giỏi nhất có thể được tìm ra – Cô ấy được nuôi dưỡng trong một ngôi làng, bạn biết không, và khi một “cây phong lan Broadway” đội cái mũ rơm trên tóc anh ấy và cố gắng gọi anh ta là cây cỏ ba lá trổ hoa mà cô ấy đội lên,được rồi. Tôi hỏi cô ấy, vẻ mỉa mai châm biếm, rằng cô có nghĩ Denman Thompson sẽ tạo một cơ hội nào trong vai này chăng? “Ồ, không”, cô nói, “Tôi không muốn anh ấy hoặc John Drew hoặc Jim Corbett hoặc bất kỳ diễn viên nào trong số những diễn viên giỏi  mà không biết từ “cây củ cải” là từ chữ “cửa quay cho từng người ra vào”*[1]. Tôi muốn một bài báo thực sự”… Vì vậy, chàng trai của tôi, nếu cậu muốn diễn vở ‘Sol Haytosser’, cậu sẽ phải thuyết phục được cô Carrington. Chúc may mắn ở bên cậu”.

Highsmith đã đi tàu vào ngày hôm sau tới Cranberry Corners. Anh ở lại ngôi làng bị bỏ rơi và vô tri vô giác đó ba ngày. Anh đã tìm thấy gia đình Bogss và tìm hiểu lịch sử xoắn ốc *[2] của họ cho đến thế hệ thứ ba và thứ tư. Anh đã cóp nhặt các sự kiện và màu sắc địa phương của Cranberry Corners. Ngôi làng đã không phát triển nhanh như cô Carrington. Nam diễn viên ước tính rằng họ đã phải chịu đựng một vài thay đổi thực tế kể từ sự ra đi của người theo dõi đơn độc của Thespis nhà thơ viết kịch cổ Hi Lạp khi đã có một giai đoạn mà “bốn năm được cho là đã trôi qua”. Anh ta đã hiểu được làng Cran-berry Corners và quay trở về thành phố của những thay đổi như con tắc kè hoa.

Ở quán ăn trong tầng hầm đó – nơi Highsmith đã tạo nên cú hích trong sự nghiệp lịch sử của mình. Không cần phải đặt tên cho địa điểm; chỉ có một quán ăn như thế, nơi mà bạn có thể hy vọng tìm thấy cô Posie Carrington sau buổi biểu diễn vở “Chiếc váy tắm khổng lồ”.

Có một bữa tiệc nhỏ vui nhộn tại một trong những cái bàn thu hút nhiều ánh nhìn. Cô Carrington nhỏ xinh, nổi tiếng, sôi sục, sáng tươi, say xỉn, sẽ được gọi tên đầu tiên. Herr Goldstein theo sau, sắc sảo, tóc xoăn, nặng nề, một người lo lắng vặt, như một con gấu đã bắt được một con bướm trong móng vuốt của mình bằng cách nào đó. Bên cạnh đó, một người phê phán một tờ báo, buồn bã, nhã nhặn, võ biền, phân tích về rác rưởi của tòa báo, về mọi câu nói được đổ lên tòa báo, ngấu nghiến tờ Newburg trong sự im lặng cao thượng. Để chấm dứt, một thanh niên với mái tóc rẽ ngôi, một cái tên màu vàng cho các tạp chí đỏ và vàng ở mặt sau của một tấm séc bữa ăn tối. Những người này ngồi vào bàn trong khi các nhạc sĩ chơi đàn, trong khi những người phục vụ di chuyển đi lại quanh co sau lưng tất cả những ai muốn phục vụ, và tất cả đều kỳ quái và vui vẻ vì nó thấp hơn ba thước so với vỉa hè.

Vào lúc 11,45 một người bước vào quán ăn dưới tầng hầm. Cây vĩ cầm đầu tiên kéo một bản nhạc gam đô trưởng đáng lẽ là phải là nốt tự nhiên không thăng, không giáng; Kèn clarionet thổi như thổi một quả bong bóng thay vì một nốt nhạc uyển chuyển; Cô Carrington cười khúc khích và thanh niên với mái tóc rẽ ngôi nuốt một hạt ô liu.

Tiết mục mới là một bản nhạc đồng quê tinh xảo và không thể chê được. Một thanh niên gầy gò, tóc nâu vàng nhạt, bối rối, do dự, há hốc miệng, lúng túng, đau khổ vì ánh đèn và đám đông. Quần áo của anh ta nhuộm màu cây bồ đào, với cà vạt màu xanh sáng, lộ ra cổ tay xương xẩu dài bốn phân và đôi vớ màu trắng che mắt cá chân. Anh bối rối với một cái ghế, rồi ngồi vào một cái khác, cuộn một chân quanh chân bàn và co rúm lại khi người phục vụ đến gần.

“Bạn có thể lấy cho tôi một ly bia nhẹ,” anh nói, để đáp lại câu hỏi kín đáo của người phục vụ.

Những con mắt của quán ăn dưới tầng hầm đang nhìn anh. Anh ta trong sạch  như một con cá đuối và khéo léo như một cái cào cỏ khô. Anh ta để mắt nhìn bâng quơ về cái nơi như một người quan tâm, mắt mở to, như con lợn trong đám khoai tây. Ánh mắt anh dừng lại lúc lâu trên cô Carrington. Anh đứng dậy và đi đến bàn của cô với một nụ cười rạng rỡ nghiêng một bên, đỏ mặt bối rối và hài lòng.

“Cô khỏe không, cô Posie?” anh ta nói bằng giọng không thể nghi ngờ.”Cô không nhớ tôi sao, Bill Summers đây mà, nhà Summers sống ở sau cửa hàng thợ rèn ấy ? Tôi nghĩ, tôi đã lớn lên nhiều từ khi cô rời khỏi làng Cranberry Corners”.

“Cô Liza Perry ấy mà, có lẽ tôi đã thấy cô trong thành phố khi tôi ở đây. Cô đã  biết tin Liza kết hôn với Benny Stanfield chưa, và cô ấy nói rằng …”.

“À, nói sao chứ !” Cô Carrington ngắt lời, rạng rỡ, “Lize Perry không bao giờ kết hôn – cái gì chứ ! Ôi, những đốm tàn nhang của cô ấy!”

“Kết hôn vào tháng 6 rồi,” kẻ tán chuyện cười toe toét, “và sống ở vùng Tatum cũ. Ham Riley tôn sùng tôn giáo, bà Blithers già đã bán chỗ của mình cho đại úy Spooner, cô gái trẻ nhất Waters chạy trốn cùng một giáo viên âm nhạc; Tòa án đã bị đốt cháy hồi tháng Ba vừa rồi, Wiley chú của bạn, đã được chọn làm cảnh sát, Matilda Hoskins đã chết vì bị cây kim cắm vào tay, và Tom Beedle làm tòa án ở  Sallie Lathrop, người ta nói rằng anh ta không bỏ lỡ một đêm nào ngồi dưới hiên nhà của họ”.

“Như con mắt trên tường!” Cô Carring thốt lên, với vẻ hớn hở. “Tại sao chứ, Tom Beedle có lần…, các bạn ơi, xin lỗi một lúc – đây là một người bạn cũ của tôi – Ông tên là gì? Vâng, ông Summers à… Ông Goldstein, ông Ricketts nghe này, ông…, họ ông là gì ạ ? ‘Johnny sẽ làm…lại đây và nói với tôi một số chuyện nữa đi”.

Cô kéo anh đến một cái bàn riêng biệt ở một góc. Ông bầu sô Herr Goldstein nhún đôi vai béo và vẫy tay với người phục vụ. Người làm báo sáng lên một chút và đề cập đến rượu áp xanh. Anh chàng trẻ với mái tóc rẽ ngôi đã rơi vào u sầu. Những vị khách của quán ăn tầng hầm cười, ly cốc leng keng và thưởng thức vở kịch hài mà Posie Carrington đã chiêu đãi họ sau buổi biểu diễn thường xuyên của cô. Một vài người nhạo báng thì thầm “đại lý báo chí” và mỉm cười vẻ khôn ngoan.

Posie Carrington đặt chiếc cằm lúm đồng tiền và ham muốn của mình lên bàn tay, và quên mất khán giả của mình – một khả năng đã giành được vòng nguyệt quế cho cô.

“Tôi dường như không nhớ lại bất kỳ anh Bill Summers nào,” cô nói, trầm ngâm nhìn thẳng vào đôi mắt xanh ngây thơ của chàng trai trẻ mộc mạc. “Nhưng tôi biết dòng họ Summers, được rồi. Tôi đoán, không có nhiều thay đổi trong thị trấn  cũ. Anh có gặp bất kỳ ai trong gia đình tôi gần đây không?”

Và lúc đó Highsmith chơi kèn trumpet. Vai diễn của “Sol Haytosser” khêu gợi lên cảm xúc bi thương cao cả cũng như hài kịch. Cô Carrington nên thấy rằng anh ta cũng có thể gợi lên điều đó.

“Cô Posie”, chàng “Bill Summers” nói, “Tôi đã đến nhà quê của cô mới cách đây hai hoặc ba ngày. Không, không có nhiều thay đổi đáng kể. Bụi cây hoa cà bên cửa sổ nhà bếp cao hơn ba tấc và cây du ở sân trước đã chết và phải đốn hạ. Nhưng ngôi nhà dường như không giống với trước đây”.

“Mẹ tôi thế nào?” Cô Carrington hỏi.

“Bà ấy đứng ở cửa trước, đan móc một tấm thảm che đèn khi tôi nhìn thấy bà ấy lần cuối”, “Bill” nói.” “Bà ấy có vẻ già hơn trước, cô Posie à. Nhưng mọi thứ trong nhà đều vẫn thế thôi. Mẹ của bạn mời tôi ngồi xuống. ‘Đừng chạm vào cái ghế xích đu có gối, chú William,” bà nói. ‘Nó không được di chuyển kể từ khi Posie rời nhà đi; và đó là cái tạp dề cô ấy khâu viền đó, nó vừa vắt trên cái ghế đó. Tôi hy vọng rằng”, bà ấy tiếp tục nói rằng “Posie sẽ hoàn thành khâu viền cái tạp dề vào một ngày nào đó”.

Cô Carrington vẫy tay gọi người phục vụ một cách kiên quyết.

“Một nửa lít rượu mạnh nguyên chất,” cô ra lệnh, ngắn gọn,”và đưa séc cho ông Goldstein”.

“Mặt trời đang lấp lánh bên trong cửa,” anh chàng tiếp nối cuốn biên niên về Cranberry, “và mẹ của cô đã đứng ngay trong đó. Tôi hỏi bà sao bà không đứng lui trở lại một chút thì tốt hơn. “William à,”  bà nói, ‘khi tôi say rượu và nhìn xuống đường, tôi không thể chịu được sự di chuyển. Chưa bao giờ đi được một ngày”, bà nói, “nhưng những gì tôi đặt ở đây mỗi phút mà tôi có thể tằn tiện tiết kiệm và canh chừng chúng làm hàng rào giữ cho Posie. Nó đi xa xuống con đường đó trong đêm, vì chúng tôi nhìn thấy dấu vết giày nhỏ của nó  trong đất bụi, và có điều gì đó nói với tôi rằng nó sẽ quay trở lại khi nó mệt mỏi với cái thế giới và bắt đầu suy nghĩ về người mẹ già của nó”.

“Khi tôi đi, chàng “Bill” kết luận,” Tôi đã nhổ cái này ra khỏi bụi cây bên bậc thềm trước cửa. Tôi nghĩ có lẽ tôi sẽ gặp cô trong thành phố, và tôi biết cô thích gì đó từ ngôi nhà cũ”.

Anh ta lấy từ trong túi áo khoác của mình một bông hồng – một bông hồng nhung rủ xuống, màu vàng, có mùi thơm, treo mấy giọt nước trong bầu không khí hôi hám của quán ăn dưới tầng hầm như một trinh nữ cúi đầu trước hơi thở nóng bỏng của những con sư tử trên đấu trường La Mã.

BONG HỒNG VÀNG

Cô hiểu rõ và tiếng cười the thé như hát của cô Carrington đã vượt lên trên dàn nhạc đang diễn bài “Cây hoa chuông”.

“Ồ, nói đi !” Cô ấy khóc với niềm vui sướng, “không phải những nơi nhỏ mọn tầm thường đó là điều quá quắt sao? Tôi chỉ biết rằng hai giờ của anh ở Cranberry Corners có thể mang đến cho tôi sự chán ghét như bây giờ. Chà, tôi rất vui khi gặp anh, anh Summers. Chắc rằng bây giờ tôi sẽ hối hả chạy về khách sạn và ngủ ngon”.

Cô nhét bông hồng vàng vào ngực áo lụa tuyệt đẹp xinh xắn của mình, đứng dậy và gật đầu vẻ độc đoán với Herr Goldstein.

Ba người bạn đồng hành của cô và anh “Bill Summers” đã cùng cô đi ra chỗ taxi. Khi những đường viền ren váy và mấy lá cờ đuôi nheo của cô đều được vén an toàn vào trong xe, cô làm họ sững sờ kinh ngạc bằng những lời chào tạm biệt từ đôi mắt và hàm răng sáng ngời lấp lánh.

Hãy đi đâu đó rồi đến khách sạn và gặp tôi, Bill Summers à, trước khi anh rời khỏi thành phố nha” cô gọi to khi chiếc taxi lấp lánh lăn đi.

Highsmith, vẫn trong trang phục, đi cùng quản lý Herr Goldstein đến một quán cà phê.

“Ý tưởng sáng sủa, hả?”, Nam diễn viên mỉm cười hỏi. “Phải giao vai ‘Sol Haytosser’ cho tôi, ông có nghĩ thế không? Cô gái nhỏ chưa từng một lần làm xáo lộn sân khấu”.

“Tôi không chịu nổi cuộc trò chuyện của cậu”, ông bầu Goldstein nói, “nhưng trang điểm và diễn xuất của cậu là khá 0.K. Đây là thành công của cậu. Tốt hơn hết là cậu nên gọi cô Carrington sớm vào ngày mai và đẩy cô ấy vào vai diễn. Tôi không thấy làm sao mà cô ấy có thể không hài lòng với cuộc triển lãm khả năng của cậu đấy”.

Vào lúc 11,45 sáng ngày hôm sau, Highsmith, đẹp trai, mặc trang phục mới nhất, tự tin, với một cành hoa vân anh cài áo, gửi tấm danh thiếp của mình đến cho cô Carrington ở căn hộ khách sạn của cô.

Anh xuất hiện và được đón tiếp bởi chị giúp việc người Pháp của nữ diễn viên.

“Tôi là người giúp việc,” chị Hortense nói, “nhưng tôi muốn nói điều này với tất cả mọi người. Thật là rất đáng tiếc. Cô Carington đã hủy bỏ tất cả các hợp đồng sân khấu và trở về sống ở cái nơi các anh gọi thị trấn đó là gì nhỉ ?– à,  Cranberry Corners!”.

Hết

Lời bàn người dịch

Hóa ra là một câu chuyện giản dị và cảm động về tình làng quê, tình mẹ con của một nữ diễn viên xa quê lên thành phố lập nghiệp giữa lúc cô sung mãn và thành công nhất. Anh chàng diễn viên Highsmith đã khơi gợi tình cảm thân thiết ấy cho cô diễn viên vốn bị khuyết tật sống ở thành phố, đặc biệt khi anh hái một bông hồng vàng ở nhà cô mang lên tặng cô.

Rút cục, hẳn là anh Highsmith không được giao vai diễn cùng cô Carrington trong vở hài kịch mới, nhưng anh đã đóng tròn vai diễn bất ngờ- vai một người đồng hương với cô Carrington.

Kết cấu truyện vòng vo, khép lại bất ngờ, nhà văn đã đánh lừa độc giả chúng ta lúc ban đầu.

ND

[1] * Chơi chữ: turnip: củ cải, from a turnstile (cửa quay)

[2] * Nguyên tác: corkscrewed their history: ý nói A family Tree: “Cây gia hệ” hình xoắn ốc, bậc thang.

Thông cáo báo chí của Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam về việc ông Phạm Chí Dũng bị bắt giữ

Thông cáo báo chí của Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam về việc ông Phạm Chí Dũng bị bắt giữ

Ông Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội nhà báo độc lập Việt Nam, một tổ chức xã hội dân sự ra đời vào tháng  Bảy năm 2014 đã bị bắt ngày 21 tháng 11 năm 2019.

Ông Phạm Chí Dũng bị khởi tố cùng ngày vì hành vi “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”.

Sự thật là trong 5 năm hoạt động của IJAVN dưới sự điều hành của ông Phạm Chí Dũng, IJAVN vẫn thực hiện nghiêm túc điều lệ Hội, trong đó phấn đấu thực hành quyền tự do ngôn luận, vốn được ghi nhận tại Điều 25 – Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam. Và hoàn toàn phù hợp với Công ước quốc tế về quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam là một nước đã ký kết.

Với việc bắt và khởi tố ông Phạm Chí Dũng,  Cơ quan Công an Tp. Hồ Chí Minh đã xoá bỏ các nỗ lực tuyên truyền và thúc đẩy Quyền dân sự – Chính trị của Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trong thời gian gần đây; vẽ thêm mảng tối về tự do báo chí, tự do ngôn luận tại Việt Nam; xác lập sự vi phạm trắng trợn các cam kết nhân quyền của Nhà nước Việt Nam đối với cộng đồng thế giới và khu vực.

Chúng tôi lên tiếng bảo vệ tinh thần và trách nhiệm của công dân Phạm Chí Dũng trong tiến trình tự do báo chí tại Việt Nam.

Chúng tôi lên tiếng bảo vệ tinh thần tự do báo chí của các tổ chức xã hội dân sự.

Chúng tôi phản đối việc bắt giữ ông Chủ tịch IJAVN Phạm Chí Dũng và mở rộng vụ án.

Chúng tôi phản đối sử dụng việc bắt giữ những nhà báo độc lập, những nhà hoạt động dân chủ – nhân quyền như một cách thức để trao đổi thương mại với các quốc gia.

Chúng tôi lên tiếng kêu gọi tiếng nói của các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức xã hội dân sự về quyền con người nói chung và quyền tự do báo chí nói riêng trong sự kiện trấn áp tiếng nói tự do của ông Phạm Chí Dũng và tổ chức IJAVN.

Chúng tôi kêu gọi tinh thần đoàn kết của những nhà hoạt động, vận động nhân quyền – dân chủ ở Việt Nam trong đấu tranh đòi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Chúng tôi kêu gọi lương tri của trách nhiệm của những quốc gia có truyền thống về dân chủ – nhân quyền lên tiếng và bảo vệ tinh thần tự do báo chí, tự do ngôn luận của ông Phạm Chí Dũng và IJAVN.

Chúng tôi khuyến nghị khẩn cấp EU xem xét lại EVFTA, EPA vì những hành vi xâm phạm nhân quyền nghiêm trọng của Nhà nước Việt Nam qua trường hợp bắt giữ ông Phạm Chí Dũng và mở rộng vụ án trong thời gian tới.

Bằng ý chí và khát vọng tự do báo chí, tự do ngôn luận. Chúng tôi cam kết tiếp tục đòi hỏi quyền, hiện thực hoá quyền được ghi nhận trong Hiến pháp 2013 và những điều mà Việt Nam cam kết với quốc tế.

Chúng tôi lên án việc cam kết nhân quyền nhưng không đi kèm thực hành trong thực tiễn của nhà cầm quyền Việt Nam.

Chúng tôi yêu cầu trả tự do ngay lập tức cho ông Phạm Chí Dũng.

Việt Nam ngày 22 tháng 11 năm 2019

HỘI NHÀ BÁO ĐỘC LẬP VIỆT NAM

LỜI NHẮN 20-11 CỦA MỘT CÔ GIÁO

LỜI NHẮN 20-11 CỦA MỘT CÔ GIÁO

 

LỜI NHẮN 20-11

Trò gọi về chúc mừng cô nhân 20-11. Đứa nào cũng hứa lần sau sẽ về thăm cô. Cô nhắn tin chung: cô rất hạnh phúc khi trò thành đạt trở về nhưng hãy nhớ những trường hợp sau thì cô cấm cửa:


1- Những đứa làm CSGT mà từng bắt chẹt nhân dân để kiếm bánh mì.

2- Những đứa khoác sắc phục cảnh sát ra bao che cho BOT bẩn cướp tiền của dân.

3- Những đứa ăn cơm dân nuôi nhưng lại có mặt trong đội quân cưỡng chế, tiếp tay cho doanh nghiệp cướp đất của dân, gây ra nạn DÂN OAN – đội quân màn trời chiếu đất đang kêu gào đòi công lý ở thủ đô kia!

4- Những đứa làm nghề dạy học mà không lo dạy chính lại chăm chắm bắt trò học thêm để thu tiền.

5- Những đứa làm nghề Y mà thờ ơ với dân nghèo, tiếp tay buôn thuốc giả;

6- Những đứa làm quan to quan nhỏ chỉ quen hoạnh họe dân lành, sẵn sàng thò tay ăn đút lót…;

4- Những đứa trong lực lượng AK47 !

Đói thì về chạy Grab hay làm bất cứ việc gì chứ đừng làm nô lệ cho cái ác, cho tà quyền tà đạo. 

Đừng vì tiền mà để bị nhồi sọ cái dã tâm, vô hình chung làm bình phong cho lũ phản bội hại nước hại dân. Những kẻ đang rao giảng đạo đức ngoài kia không ai khác chính là quân phản trắc, vô đạo…

*Nhìn sv Hongkong thà chết đòi tự do, nhìn dân oan kêu gào trước quốc hội, nhìn…luật sư bị tống cổ ra khỏi phiên tòa khi đang bào chữa cho bị cáo… Ta nghĩ đến trò của mình. Ta thấy mình có tội, Mark ạ. Đau lòng.
 

VTV1 và cây bút PHONG THU đã “NỊNH HÓT KHÔNG TRONG SÁNG” !

VTV1 và cây bút PHONG THU đã “NỊNH HÓT KHÔNG TRONG SÁNG” !
***

Tối qua coi VTV1 diễn cái “GIAI ĐIỆU TỰ HÀO tháng 11” với chủ đề “BÀI HỌC ĐẦU TIÊN” để chào mừng (cúng giỗ) NHÀ GIÁO VIỆT NAM.

Lẽ thường, trang chủ không thích coi món văn nghệ của VTV1, vì nó rất dở, đần độn, khá thô bỉ nữa (văn nghệ VTV3 thì đôi khi lâu lâu tạm coi được một chương trình). Hôm qua nghĩ mình là nhà giáo nên coi thử cũng không hại gì.

Đêm qua có hai tiết mục khá dở.

Một là, cho tốp ca nhảy và hát một bài ca tiếng Nga của Liên Xô cũ mà hầu hết không ai hiểu gì cả. Nhìn trang phục diễn viên và nghe giai điệu tiết tấu thấy có vẻ “nhà trường và trẻ em” (bài này chắc để tế sống tổng giám đốc VTV Trần Bình Minh du học bên Nga về). Đây gọi là “nịnh hót lãnh đạo trong sáng”.

Hai là, kết thúc chương trình với bài hát “BÁC HỒ – NGƯỜI CHO EM TẤT CẢ”. Bài này nghe xưa lắm rồi. Tác giả thơ ghi là Phong Thu.

Là ai vậy ?

Nghe báo chí viết rằng, bạn văn thường gọi đùa Phong Thu là ông “đồ gàn”.

Phong Thu xuất thân giáo viên tiểu học, suốt đời làm “nhà báo Thiếu Niên Tiền Phong” và chuyên viết truyện thiếu nhi. Cuối đời đếm được 83 cuốn sách trẻ con, về hưu với ngạch lương“chuyên viên cao cấp” thuộc biên chế Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản HCM.

Hồi nhỏ tôi chưa bao giờ đọc truyện nào của Phong Thu. Chỉ đọc “Dế mèn phiêu lưu ký” của Tô Hoài và vài truyện khác thôi. Chưa bao giờ nghe nói Phong Thu làm thơ. Nhưng có nghe trên đài thấy bài hát này.

Chỉ nghe cái tựa đề, có bậc phụ huynh đã bực bội cằn nhằn rằng “Bố khỉ bọn nhạc sĩ, cha mẹ sinh con, đẻ cái cực khổ làm ăn tằn tiện nuôi con, thế mà thằng cha này nó không biết gì đến công lao cha mẹ sinh thành dưỡng dục, nó viết trâng trâng, ráo hoảnh “Bác Hồ cho em TẤT CẢ”…

Trang chủ nghiên cứu văn học nghệ thuật nên có ý nghĩ khác với phụ huynh học sinh một chút. Thủ pháp “tụng ca” ra đời từ trước khi Khổng tử ra đời (ước cách đây hơn hai ngàn rưởi năm), được ông sưu tầm vào bộ Kinh Thi trong đó có phần TỤNG (hai phần kia là PHONG và NHÃ rất có giá trị văn chương cho đời sau học tập). “Tụng thi” chỉ dùng trong giới quí tộc cung đình nhà Chu ca tụng vua và ca tụng lẫn nhau… Về sau các chế độ xã hội chủ nghĩa Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam rất thích loại TỤNG này, nên các văn nghệ sĩ đua nhau viết lập công. Có điều, tụng ca quá lố thì khó nghe…

Năm ngoái thủ tướng đã ra nghị định thông tư CẤM CÔNG CHỨC “NỊNH HÓT KHÔNG TRONG SÁNG” (có nghĩa, nếu “nịnh hót trong sáng” thì…vẫn được !)”. Hú hồn, may mà công chức Phong Thu đã sáng tác bài này lâu rồi, trước khi Chính phủ ra Thông tư Nghị định này, nếu không thì khó thoát khỏi bàn tay trừng phạt của thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

“BÁC HỒ – NGƯỜI CHO EM TẤT CẢ”

tốp ca trẻ em Hà Nội biểu diễn
Lời: thơ Phong Thu.
(hai anh em Hoàng Long, Hoàng Lân phổ nhạc)

“Cho ánh nắng ban mai,
Là những sớm bình minh
Cho những đêm trăng đẹp,
Là chị Hằng tươi xinh

Cây cho trái và cho hoa
Sông cho tôm và cho cá
Đồng ruộng cho bông lúa
Chim tặng lời reo ca

Anh bộ đội đến nhà,
Cho em lòng dũng cảm.
Cô giáo cho bài giảng,
Yêu xóm làng thiết tha.

Cùng em vượt đường xa xôi,
Là chiếc khăn quàng thắm tươi.
Cho em tất cả
Người mang cho em cuộc đời mới
Tươi sáng đầy ước mơ.
Người cho em tất cả
Là Bác Hồ Chí Minh”.

*** 

Bàn luận

Hai khổ thơ đầu  chỉ là khéo gieo vần, nhưng ý nghĩa thì vu vơ.

Khổ 3 tạm được.

Khổ chót thô thiển quá mức !

Hãy nghe “Bài học đầu tiên” sáng tác của nhạc sĩ Trương Xuân Mẫn- nhạc sĩ Đoàn du ca miền Nam những năm 1960s, hiện ở Hoa Kỳ. Lời thơ mộc mạc chơn chất và giàu tình cảm biết bao!

https://www.facebook.com/thaongoc.nguyen.16144/videos/2564109947156041/?__tn__=%2CdCH-R-R&eid=ARCooaDQaUrT8qm9nQaoRuYPyR9CFiw0Zc5HAC7KXPKVnn_iDYnCHJC4YQWELQ7TsNFG28zyczw8xe_B&hc_ref=ARRJe5Z__72jm5gIj1uYuwU6PkzuZVwATSweaoGSc2yuF3NhrbHoPiFH_i7B3QSlHqs&fref=nf

Mây thẻ