"Nói phải củ cải cũng nghe"- Tục ngữ Việt Nam.

Nhắn tin tiên sinh Lí Trọng Đạo đang bôn ba viễn xứ, tại hạ mất liên lạc lâu rồi.

Xin comment vài dòng nhá.

Thư giãn cuối tuần

CHUYệN ĐÓ LÀ HÀI KịCH

(hay là Mối tình tay ba)       

truyện ngắn O. Henry

Nguyên tác The Thing’s the Play

(tập Strictly Business,1910)

Phùng Hoài Ngọc chuyển ngữ.

https://americanliterature.com/author/o-henry/short-story/the-things-the-play

bìa mớiQuen với một phóng viên báo chí thường có cặp vé mời xem hát, tôi đã được xem buổi biểu diễn vài đêm trước tại một trong những rạp hài kịch tạp kỹ nổi tiếng.

Một trong những tiết mục là bài độc tấu vĩ cầm của một người đàn ông có vẻ ngoài hấp dẫn, tuổi chưa quá bốn mươi, nhưng mái tóc dày đã ngả màu xám tro. Không bị lôi cuốn bởi bản nhạc, tôi mặc hệ thống âm thanh trôi qua tai, chỉ mải ngắm nghía người nhạc công đó.

“Có một câu chuyện về anh chàng đó khoảng một vài tháng trước”, phóng viên nói. “Họ giao nhiệm vụ cho tôi. Đó là phụ trách một chuyên mục và nó phải theo kiểu cực kỳ nhẹ nhàng và đùa giỡn. Ông sếp già có vẻ thích các chi tiết vui nhộn mà tôi viết về các sự kiện địa phương. Ồ, phải rồi, tôi đang viết bài về một vở hài kịch tả một hoàn cảnh trớ trêu. Tôi đi xuống nhà hát đó và lấy tất cả các chi tiết, nhưng chắc là tôi đã thất bại với việc đó. Tôi quay trở lại và viết bài phê bình khôi hài về một đám tang ở phía đông thay vào. Tại sao à ? Ồi, tôi dường như không thể nắm bắt được nó bằng những thủ thuật ngộ nghĩnh của mình. Có lẽ anh có thể tạo ra vở bi kịch một hồi từ chuyện đó, cho  màn kịch mở đầu đêm diễn. Tôi sẽ cung cấp cho anh dữ liệu chi tiết”.

Sau buổi biểu diễn, phóng viên bạn tôi, đã kể cho tôi nghe những chuyện ở thành phố Wrzburger.

Tôi nói sau khi anh kết thúc câu chuyện:

– Tôi thấy không có lý do tại sao chuyện đó không thể tạo ra một truyện hài hước đặc sắc. Ba người đó không thể diễn một kiểu cách ngớ ngẩn và vô lý hơn nếu họ là những diễn viên thực thụ trong một nhà hát thực sự. Tôi thực sự e ngại rằng tất cả sân khấu là cuộc đời thôi, dù sao đi nữa, với tất cả các diễn viên, cũng là người nam và người nữ mà thôi. “Chuyện đó là vở hài kịch” là câu của ông Shakespeare*[1] mà tôi dẫn ra.

“Hãy thử viết xem,” anh bạn phóng viên nói.

“Tôi sẽ viết”, tôi nói; và tôi đã làm, tôi trình bày cho anh ấy thấy làm thế nào phóng viên có thể tạo ra một cột báo hài hước về chuyện đó cho tờ báo của anh ta.

“Có một ngôi nhà gần Quảng trường Abingdon. Ở tầng trệt có một cửa hàng nhỏ hai mươi lăm tuổi, nơi bán đồ chơi, tạp hóa và văn phòng phẩm.

Một đêm hai mươi năm trước có một đám cưới trong các phòng ở trên lầu của cửa hàng. Bà góa phụ Mayo là chủ ngôi nhà và cửa hàng. Cô con gái Helen kết hôn với anh Frank Barry. Và anh John Delaney là chàng phù rể. Helen mười tám tuổi, và bức ảnh của cô đã được in trong một tờ báo buổi sáng bên cạnh tiêu đề của một câu chuyện “Nữ sát nhân hàng loạt” ở vùng Butte tiểu bang Montana. Nhưng sau khi  cặp mắt và trí thông minh của bạn đã chẳng quan tâm câu chuyện đó, bạn nắm lấy cái kính phóng đại của mình và đọc bên dưới bức chân dung mô tả cô ấy như một bức ảnh trong một loạt các mỹ nhân nổi bật ở vùng hạ miền Tây.

minh họa The Thing the Play

Frank Barry và John Delaney là bạn bè, những người trẻ tuổi “nổi bật” đang cùng theo đuổi cô gái – những người mà khán giả mong đợi nhìn vào mỗi lúc tấm màn  sân khấu kéo lên. Người ta trả tiền cho ghế nghe giàn nhạc và xem kịch hư cấu đều mong đợi điều này. Đó là ý tưởng hài hước đầu tiên xuất hiện trong câu chuyện. Hai chàng trai trẻ đã tạo ra một cuộc đua tuyệt vời mong đạt được sự hứa hôn của Helen. Khi Frank chiến thắng, John bắt tay và chúc mừng anh ta – một cách thành thật, anh ta đã làm vậy.

Sau buổi lễ, Helen chạy lên lầu để đội chiếc mũ. Cô làm lễ kết hôn trong một chiếc váy du lịch. Cô và Frank sẽ đến Old Point Comfort trong một tuần[2]*. Ở tầng dưới, đám đông như thường lệ của những người già ăn mặc cổ đại nói lắp bắp, đang chờ đợi, với những đôi bàn tay đầy những bao và túi giấy đựng bánh đúc ngô.

Bỗng nhiên, có một tiếng lách cách ở cửa lối cầu thang thoát hiểm hỏa hoạn, và chàng phù rể John Delaney điên cuồng và mê đắm nhảy vào phòng cô dâu, với một đám tóc ướt sũng mồ hôi rủ xuống trán, và với tình yêu hung dữ và đáng trách của mình đối với người yêu đã mất, anh khẩn thiết nài xin cô ta cùng chạy trốn đến vùng Riviera, hoặc vùng Bronx, hoặc bất kỳ địa điểm cũ nào có khí hậu nước Ý và âm nhạc dịu dàng và nhỏ dần đến hết.

Và Delaney ngã trượt chân khi nhìn Helen đẩy lùi anh. Với đôi mắt rực lửa và khinh bỉ, cô gần như khinh miệt anh mà nói rằng bất kể anh muốn gì cũng phải  nói năng tử tế với người đáng kính.

Trong vài khoảnh khắc cô đã đuổi anh ta đi. Danh dự nam tính đã khống chế khiến anh phải ra đi. Anh cúi thấp đầu, và nói lảm nhảm điều gì đó về “sự thôi thúc không thể cưỡng lại” và “mãi mãi mang trong mình ký ức” – và cô bảo anh bám vào lối thoát hiểm tầng một mà đi xuống.

“Tôi sẽ ra đi,” John Delaney nói, “đến những nơi xa nhất trên trái đất. Tôi không thể ở gần em và biết rằng em là của người khác. Tôi sẽ đến Châu Phi, và ở giữa những cảnh đời khác tôi cố gắng để đạt được…”

“Vì Chúa, hãy ra ngoài đi,” Helen nói, “lỡ ai đó có thể đi vào đây”.

Anh quỳ xuống bằng một đầu gối, và cô đưa cho anh một bàn tay trắng nõn để anh có thể trao cho nó một nụ hôn từ biệt.

Các cô gái ơi, ân huệ lựa chọn này của vị thần Ái  tình nhỏ bé vĩ đại đã từng ban cho các cô, phải chăng để có được anh bạn mà cô muốn thực là cứng nhắc, và có một người cô không muốn anh ta chạy đến với một lọn tóc ẩm ướt trên trán và quỳ xuống trước cô và lập bập về “châu Phi và tình yêu”, mà bất chấp tất cả, nó sẽ mãi mãi nở hoa, một cây hoa không tàn trong trái tim anh ta ? Để cô biết sức mạnh của mình, và để cảm nhận sự an toàn ngọt ngào của trạng thái hạnh phúc của chính cô; cô đuổi một kẻ không may mắn, thất tình đến mức tan nát trái tim, phải đến những vùng xa lạ nước ngoài, trong khi cô tự chúc mừng thấy anh ấy khắc nụ hôn cuối cùng của mình trên ngón tay cô, những móng tay được gọt giũa cẩn thận – có thể nói, các cô gái, thật là hào hiệp – đừng bao giờ để người ta hôn vào tay mình như thế nhé.

Và sau đó, tất nhiên – làm thế nào bạn đoán được chứ ? – cánh cửa mở ra và chú rể ghen tức, như những chùm dây thắt dần lại, lén lút đi vào.

Nụ hôn chia tay đã được in sâu trên tay Helen, và John Delaney nhảy ra khỏi cửa sổ và dưới lối thoát hiểm, hướng về phía châu Phi.

Một chút nhạc chậm rãi, nếu bạn thích – tiếng violon mờ nhạt, chỉ một hơi thở của cây kèn clarinet và một cú chạm nhẹ của đàn cello. Hãy tưởng tượng ra cảnh đó. Chú rể Frank, sôi sục, với tiếng kêu của một người đàn ông như là bị thương sắp chết bật ra từ anh ta. Helen, chạy nhào đến và ôm lấy anh, cố gắng giải thích. Anh ta bắt lấy cổ tay cô và dứt ra khỏi vai anh – một lần, hai lần, ba lần anh giằng co cô theo cách này và điều đó người quản lý sân khấu sẽ chỉ cho bạn cách  thức miêu tả – và đẩy cô xuống sàn như một thứ nát nhàu, hối hả, rền rĩ. Không bao giờ– anh kêu lên, anh nhìn vào mặt cô lần nữa, và lao ra khỏi nhà, lách qua những nhóm khách đang nhìn chằm chằm kinh ngạc.

Và, bây giờ, vì là Chuyện Đời chứ chẳng phải một vở Kịch, khán giả phải tản bộ ra hành lang thực sự của cuộc sống và rồi kết hôn, chết, tóc bạc đi, giàu, nghèo, vui hay buồn, phải chờ đợi trong suốt thời gian ngừng nghỉ hai mươi năm trôi đi, trước khi bức màn kéo lên một lần nữa.

Bà Barry được thừa hưởng cửa hàng và ngôi nhà. Ở tuổi ba mươi tám, cô chủ có thể vẫn vượt qua nhiều cô mười tám tuổi tại một cuộc thi sắc đẹp về điểm số và kết quả chung. Chỉ có một vài người nhớ đến vở kịch hài đám cưới của cô, nhưng cô không cần giữ bí mật. Cô đã không gói nó trong hoa oải hương hoặc gác bếp, cô cũng không bán nó cho một tạp chí.

Một ngày nọ, một luật sư trung niên thích kiếm tiền, đến cửa hàng của cô để mua giấy mực dùng trong nghề luật, đã cầu hôn khi cô đứng bên kia quầy .

“Tôi thực sự rất cảm ơn anh bạn”, Helen nói một cách vui vẻ, “nhưng tôi đã kết hôn với một người đàn ông khác, hai mươi năm trước. Anh ta là một con ngỗng khờ dại hơn là một người đàn ông, tuy vậy tôi nghĩ rằng tôi yêu anh ta. Tôi chưa bao giờ gặp lại anh ta kể từ khoảng nửa giờ sau buổi lễ cưới… Ông bạn muốn mua mực sao chép hay mực lỏng để viết ?

“Luật sư cúi đầu trước quầy với kiểu nhận ân sủng thời xưa và để lại một nụ hôn trân trọng trên mu bàn tay cô. Helen thở dài. Chia tay với lời chào, tuy lãng mạn, nhưng có thể gọi là quá lố. Lúc này cô đang tuổi ba mươi tám, xinh đẹp và được ngưỡng mộ; nhưng tất cả những gì cô ấy có được từ những người yêu của mình chỉ là sự tiếp xúc gần gũi và lời chào từ biệt. Tệ hơn nữa, với kẻ cuối cùng, cô cũng đã mất một khách hàng.

Kinh doanh suy giảm, và cô ấy treo biển “Cho thuê phòng”. Hai phòng lớn trên tầng ba đã được trang bị giao cho những người thuê nhà theo ý cô muốn. Người ở trọ đến và đi một cách tiếc nuối, vì ngôi nhà của bà Barry là nơi ở của sự gọn gàng, thoải mái và giàu hương vị.

Một ngày nọ, Ramonti, một nghệ sĩ vĩ cầm đăng ký vào phòng phía trước trên lầu. Những tiếng nhạc chói tai và tiếng ồn ào ở khu phố trên làm xúc phạm đôi tai cầu kỳ của anh ta; Vì vậy, một người bạn đã mách anh ta đến ốc đảo này trong sa mạc ồn ào.

Ramonti, với khuôn mặt trẻ trung bền vững, đôi lông mày đen, bộ râu ngắn, nhọn như người nước ngoài, màu nâu, mái tóc xám dễ nhận và khí chất thất thường nghệ sĩ bộc lộ một cách nhẹ nhàng, vui vẻ và dễ thương là người thuê nhà được chào đón trong ngôi nhà cũ gần Quảng trường Abingdon.

Helen sống ở tầng trên cửa hàng. Kiến trúc của tầng này thực khác thường và kỳ lạ. Phòng khách rộng và gần như hình vuông. Ở một bên, chỗ cuối phòng đó bắc lên một cầu thang mở lên tầng trên. Tại gian phòng này cô đã trang bị như một phòng tiếp khách và cũng là văn phòng. Ở đó, cô dùng một cái bàn, viết thư từ kinh doanh; và cô ngồi đó vào buổi tối bên một bếp lửa ấm áp và một ngọn đèn đỏ rực và may vá hoặc đọc sách báo. Ramonti tìm thấy bầu không khí dễ chịu đến nỗi anh đã dành nhiều thời gian ở đó, chuyện trò với bà Barry về những kỳ quan của Paris, nơi anh đã học tập với một tay kéo đàn đặc biệt khét tiếng và ồn ào.

Tiếp đến là người thuê nhà thứ hai, một người đàn ông đẹp trai, u sầu vào đầu lứa tuổi 40, với bộ râu màu nâu, bí ẩn, và đôi mắt cầu xin ám ảnh lạ lùng. Anh  này cũng vậy, thấy xã hội của Helen là một nơi đáng mong đợi. Với đôi mắt của Romeo say đắm và Othello ghen tuông, anh làm cô say mê bằng những câu chuyện về những mối tình xa xôi và tán tỉnh cô bằng những lời bóng gió trân trọng.

Ngay từ lần đầu tiên Helen đã cảm thấy một sự hồi hộp kỳ diệu và hấp dẫn trước sự hiện diện của người đàn ông này. Giọng nói của anh bằng cách nào đó đã đưa cô nhanh chóng trở lại thời kỳ lãng mạn của tuổi trẻ. Cảm giác này lớn dần, và cô chấp nhận nó, và nó dẫn cô đến một niềm tin theo bản năng rằng anh là  nhân tố trong mối tình lãng mạn đó. Và sau đó với lý luận của một người phụ nữ (ồ, vâng, đôi khi họ làm vậy), cô ấy đã nhảy qua những tam đoạn luận*[3] và lý thuyết thông thường, và logic, và chắc chắn rằng chồng cô đã quay lại với cô. Vì cô nhìn thấy cái tình yêu trong mắt anh, điều mà không người phụ nữ nào có thể nhầm lẫn, và cả ngàn tấn luyến tiếc và hối hận, làm dấy lên sự thương hại, nó gần như sự ghen tuông tình yêu được đền đáp, đó là một điều hoàn toàn cần thiết trong ngôi nhà mà người con trai xây dựng.

Nhưng cô không tỏ dấu hiệu gì. Một người chồng bước quanh góc nhà sau hai mươi năm mới lại ghé thăm một lần nữa, thì đừng nên mong đợi thấy đôi dép của mình được đặt quá thuận tiện gần đó cũng như không có một que diêm nào sẵn sàng bật lửa cho điếu xì gà của anh ta. Phải có sự giải thích, giải thích và có thể là một sự ghét cay ghét đắng. Một cái luyện ngục nhỏ cho sự ăn năn hối lỗi, và sau đó, có lẽ, nếu anh ta khiêm tốn đúng cách, anh ta có thể được tin tưởng với một sự vui vẻ như cây đàn hạc và vòng hoa. Và vì vậy, cô không tỏ dấu hiệu rằng cô biết hoặc nghi ngờ.

Và bạn tôi, anh phóng viên, chẳng thể thấy điều gì buồn cười trong chuyện này ! Được phân công đi viết một câu chuyện bỡn cợt, vui nhộn, tươi sáng về câu chuyện… nhưng mà thôi tôi sẽ không chỉ trích người anh em – chúng ta hãy tiếp tục câu chuyện.

“Một buổi tối, Ramonti dừng lại trong quầy tiếp tân ở văn phòng của Helen và nói với tình yêu của anh bằng sự dịu dàng và nhiệt tình của người nghệ sĩ say mê. Lời nói của anh là một ánh hồng sáng chói của ngọn lửa thần thánh phát sáng trong trái tim của một người đàn ông, là một người ngủ mơ và kết hợp cả hai thứ.

“Nhưng trước khi em trả lời tôi,” anh tiếp tục, trước khi cô ấy có thể buộc tội anh v sự đường đột, “Tôi phải nói với em rằng ‘RAMONTI’ là tên duy nhất tôi phải giới thiệu với em. Người quản lý của tôi đã đặt cho tôi cái tên đó. Tôi không biết tôi là ai hoặc tôi từ đâu đến. Hồi ức đầu tiên của tôi là mở mắt trong bệnh viện. Tôi là một chàng trai trẻ và tôi đã ở đó trong nhiều tuần. Cuộc sống của tôi trước đó là một khoảng trống trong trí nhớ tôi. Họ nói với tôi rằng tôi được tìm thấy nằm trên đường với một vết thương trên đầu và được đưa đến đó bằng xe cứu thương. Họ nghĩ rằng tôi phải ngã và đập đầu vào đá. Không có gì chứng tỏ cho thấy tôi là ai. Tôi chưa bao giờ có thể nhớ được gì. Sau khi được xuất viện, tôi học chơi vĩ cầm. Tôi đã thành công. Bà Barry … tôi không biết tên em ngoại trừ một điều tôi yêu em, lần đầu tiên nhìn thấy em tôi đã nhận ra rằng em là người phụ nữ duy nhất trên thế giới đối với tôi – và … ồ, đại khái là như thế.

Helen cảm thấy trẻ lại. Đầu tiên một làn sóng tự hào và một chút hồi hộp ngọt ngào của sự phù phiếm đã tràn ngập khắp cô ấy; và rồi cô ấy nhìn Ramonti vào đôi mắt, và một cơn đau nhói cực lớn xuyên qua trái tim cô. Cô không ngờ tới cái cơn đau nhói này. Nó làm cô ngạc nhiên. Anh nhạc sĩ đã trở thành một nhân tố lớn trong cuộc đời cô, và cô đã không biết rõ được điều đó.

“Ông Ramonti,” cô buồn bã nói (đây không phải trên sân khấu, hãy nhớ, đó là ở ngôi nhà cũ gần Quảng trường Abingdon), “Tôi vô cùng xin lỗi, nhưng tôi là phụ nữ đã có chồng”.

Và rồi cô kể cho anh nghe câu chuyện buồn của cuộc đời cô, như một nữ  nhân vật chính phải làm, sớm hay muộn, kể cho người quản lý sân khấu hoặc cho một phóng viên.

Ramonti nắm lấy tay cô, cúi thấp và hôn nó, rồi đi lên phòng anh.

Helen ngồi xuống và nhìn buồn tiếc vào bàn tay cô. Vâng cô chỉ có thể như vậy. Ba người cầu hôn đã hôn nó, thắng cương những con chiến mã màu lang đỏ và cưỡi đi mất hút.

Khoảng một giờ sau, vị khách trọ thứ hai- người lạ bí ẩn với đôi mắt ám ảnh bước vào. Helen ngồi ở trong chiếc ghế xích đu gỗ liễu, đan một thứ vớ vẩn bằng bông gòn. Anh ta vội vã chạy ra từ cầu thang và dừng lại để trò chuyện. Ngồi đối diện ở bàn với cô, anh cũng tuôn ra câu chuyện tình yêu của mình. Và sau đó anh nói: “Helen, em không nhớ anh à? Anh nghĩ anh đã nhìn thấy nó trong mắt em. Em có thể tha thứ cho quá khứ và nhớ cái tình yêu đã kéo dài hai mươi năm không? Anh đã cư xử thật tệ với em…Anh sợ hãi khi quay lại gặp em – nhưng tình yêu của anh đã chế ngự lý trí của mình. Em có thể, sẽ tha thứ cho anh chứ? “

Helen đứng dậy. Người lạ mặt bí ẩn giữ một tay cô trong một cái siết mạnh mẽ và run rẩy.

Cô ấy đứng đó, và tôi thương hại cho sân khấu rằng nó đã không có được một cảnh như thế và cảm xúc của cô ấy để miêu tả.

Vì cô đứng với một trái tim bị chia xẻ. Tình yêu trinh nguyên, khó quên dành cho chú rể của cô là của cô; ký ức quý giá, thiêng liêng, vinh dự về lựa chọn đầu tiên của mình đã lấp đầy một nửa tâm hồn cô. Cô tựa vào cảm giác thuần khiết đó. Danh dự và niềm tin và sự lãng mạn ngọt ngào mãi mãi hướng theo cô ấy. Nhưng nửa kia của trái tim và tâm hồn cô chứa đầy một thứ khác – một ảnh hưởng mới sau này, đầy đặn hơn, gần gũi hơn. Và thế là, cái cũ phải chiến đấu chống lại cái mới.

Và trong khi cô ngập ngừng, từ căn phòng phía trên phát ra tiếng nhạc nhẹ nhàng, réo rắt của một cây vĩ cầm. Sự mệt mỏi, âm nhạc, làm say mê một số người cao quý nhất. Những con quạ có thể mổ lên ngực áo ai đó mà không làm anh ta bị thương, nhưng bất cứ ai đeo trái tim anh ấy trên màng tai của mình sẽ không mấy cách xa cái cổ.

Âm nhạc này và anh nhạc sĩ đến thăm cô ấy, ở bên cạnh cô ấy, và tình yêu cũ giữ cô ấy lại.

“Hãy tha thứ cho tôi đi,” anh này khẩn khoản.

“Hai mươi năm là một thời gian dài để ông tránh xa người mà ông nói đã yêu,” cô tuyên bố, với một cảm xúc hối lỗi.

“Tôi có thể nói thế nào bây giờ ?” anh ta nài nỉ. “Tôi sẽ không giấu diếm cô điều gì. Tối hôm đó khi chú rể bỏ đi, tôi đi theo anh ta. Tôi phát điên vì cơn ghen. Trên một con đường tối, tôi đánh anh ta. Anh ta không đứng dậy được nữa. Tôi đã kiểm tra anh ta. Đầu anh ta đã bị đập vào một hòn đá. Tôi không có ý định giết người. Tôi phát điên vì tình yêu và sự ghen tuông.Tôi trốn gần đó và thấy một chiếc xe cứu thương đưa anh ta đi. Mặc dù cô đã kết hôn với anh ta, Helen…”.

“Ông là ai hả ? “- Người phụ nữ kêu lên, với đôi mắt mở to, giơ tay ra.

“Cô không nhớ tôi ư, Helen – người luôn yêu em nhất? Tôi là John Delaney. Nếu em có thể tha thứ…”

Nhưng cô đã chạy vụt đi, nhảy lên, vấp ngã, vội vã, bay lên cầu thang về phía tiếng nhạc và anh ta – người đã quên hết quá khứ, nhưng người ấy biết cô vì anh là mỗi người trong hai sự tồn tại, và khi cô trèo lên tới, cô khóc nức nở, kêu  và hát: “Frank! Frank! Frank!”

Ba con người phàm trần như vậy đã choi trò tung hứng với nhiều năm trời như thể là những quả bóng bi-a và bạn tôi, phóng viên, không thấy điều gì buồn cười trong đó hay sao chứ !

https://americanliterature.com/author/o-henry/short-story/the-things-the-play

LỜI BÀN NGƯỜI DỊCH

Anh ta đang làm đám cưới, phù rể ghen tức, giành giật cô dâu và đánh ngã đến mất trí nhớ. Linh giác tình yêu đưa anh ta về chốn cũ. Còn kẻ thứ ba ghen tuông mù quáng kia thì chủ động tìm về chốn cũ để cầu hôn và thành thực nhận lỗi. Nữ nhân vật chính chung thủy mối tình đầu, dù có lúc xao lãng nhưng cuối cùng đoàn tụ người yêu.

Nhà văn và phóng viên là người dẫn chuyện và tranh luận với nhau.

Trong con mắt nhà văn, ba nhân vật kia với lối ứng xử như thế đều là nhân vật hài kịch .

Anh phóng viên thì cứ khăng khăng chuyện đời chẳng có gì vui vì cho rằng mình không thể viết chuyện hài từ những bi kịch.

Một quan điểm lý luận văn học khác của O Henry qua thiên truyện ngắn.

ND

CHÚ THÍCH

[1] *William Shakespeare (26 April 1564 – 23 April 1616) nhà thơ, nhà viết kịch Anh thời Phục Hưng Tây Âu

2 * Một phong tục phương Tây: ngay khi đám cưới chưa tan, khách khứa chưa về, hai cô dâu chú rể sẽ lên xe dời đi, đến một nơi xa để hưởng tuần trăng mật (ND).

3* Tam đoạn luận của Aristote: kiểu suy luận hình thức đi từ hai mệnh đề để tiến đến một kết luận tất yếu đã ngầm chứa trong hai mệnh đề đó. Tam đoạn luận gồm ba bộ phận: tiền đề lớn, tiền đề nhỏ, và kết luận.

[1] *William Shakespeare (26 April 1564 – 23 April 1616) nhà thơ, nhà viết kịch Anh thời Phục Hưng Tây Âu

[2] * Một phong tục phương Tây: ngay khi đám cưới chưa tan, khách khứa chưa về, hai cô dâu chú rể sẽ lên xe dời đi, đến một nơi xa để hưởng tuần trăng mật (ND).

3* Tam đoạn luận của Aristote: kiểu suy luận hình thức đi từ hai mệnh đề để tiến đến một kết luận tất yếu đã ngầm chứa trong hai mệnh đề đó. Tam đoạn luận gồm ba bộ phận: tiền đề lớn, tiền đề nhỏ, và kết luận.[3] *

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

%d bloggers like this: