"Nói phải củ cải cũng nghe"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Tư, 2020

ĐIỀM BÁO – truyện ngắn O Henry

ĐIỀM BÁO

truyện ngắn O. Henry

(nguyên tác: The Harbinger,chuyển ngữ, lần đầu ở VN)

(rút trong tập The Voice of the City, 1908)

https://americanliterature.com/author/o-henry/short-story/the-harbinger

GIỚI THIỆU

 Trong nhiều truyện, O.Henry thường vào đầu tản mạn có khi khá dài, có khi không ăn nhập gì với câu chuyện sắp kể. Điều đó có thể người Mỹ hiểu, còn chủ yếu xa lạ khó hiểu với người nước ngoài. Chúng tôi lược bỏ đoạn đầu của truyện này, đi ngay vào câu chuyện.

Người chuyển ngữ đã đọc khoảng 100 truyện O Henry, chỉ chọn chuyển ngữ được 75 truyện (trong tổng số 455 truyện ngắn của O Henry). Khoảng 1/4 số truyện vì  nặng tính lịch sử, địa lý, nói chung đậm tính văn hoá Mỹ mà chỉ có người Mỹ cảm xúc tốt, có thể không thích hợp với người Việt Nam và người nước ngoài.Tạm gọi những truyện đó là thiếu tính nhân loại. Một nhà văn có  được 3/4 số tác phẩm khiến người nước ngoài cảm nhận tốt đã là quí hiểm lắm rồi.

Truyện này gác lại đoạn mở đầu nói chuyện chung chung về muà xuân với người thành thị và nông thôn khác nhau ra sao.

***

“Tiếng hót líu lo của chú chim cổ đỏ đầu tiên ở vùng Hackensack, sự sôi động của nhựa cây gỗ thích ở Bennington, sự chớm nở của những cây dương liễu dọc theo Phố Chính ở Syracuse, tiếng hót ríu rít đầu tiên của con sơn ca, bài hát thiên nga của vùng Blue Point, cơn lốc xoáy hàng năm ở thị trấn Saint Louis, sự than vãn của người bi quan về vụ mùa hoa đào từ Pompton bang New Jersy, chuyến viếng thăm thường xuyên của con ngỗng hoang đã thuần hóa với một cái chân gãy đến một cái hồ nước gần Ngã tư sông Bilge, nỗ lực kém đạo đức  của hàng Thuốc Ủy Thác để tăng giá thuốc ký ninh quinine nổi bật trong ngôi nhà của nghị sĩ Jinks, cây dương cao đầu tiên bị sét đánh và những kẻ móc túi sững sờ thường thấy đã đi trú ẩn, vết nứt đầu tiên của băng kẹt ở sông Allegheny, phát hiện ra một luống hoa tím trên luống đất rêu phong của nó tại Round Corners – đây là những dấu hiệu báo trước của mùa phát triển nhanh được nối kết vào thành phố khôn ngoan, trong khi người nông dân không nhìn thấy gì ngoài mùa đông trên những cánh đồng buồn tẻ của mình.

Tuy nhiên trên đây chỉ là những yếu tố không đáng kể. Điềm báo lành thực sự là tinh chất của mùa xuân. Chỉ khi mùa xuân đến và báo chí thông tin về con rắn đuôi chuông năm chân bị giết trong đồng cỏ của vùng Squire Pettigrew mới xác nhận điềm lành sắp đến.

Trước khi đám hoa tím nở bông hoa đầu tiên, ba chàng Peters, Ragsy và Kidd ngồi cùng nhau trên một chiếc ghế dài ở quảng trường Union và âm mưu gì đó. Anh Peters là thủ lĩnh “D’Artagnan” (*) của những kẻ lười biếng lang thang đó. Anh ta là người bẩn thỉu nhất, lười biếng nhất, người trầm tư buồn tẻ nhất trên nền đất cỏ xanh của mọi chiếc ghế dài trong công viên. Tuy nhiên vào lúc đó anh là người quan trọng nhất trong bộ ba.

Peters đã có vợ. Điều này không ảnh hưởng đến vị trí của anh ấy đối  với Ragsy và Kidd. Nhưng hôm nay, địa vị của anh đã mang lại cho anh một sự thích thú đặc biệt. Những người bạn của anh ta, đã thoát khỏi hôn nhân, thướng thể hiện ý định chế giễu Peters vì sự mạo hiểm của anh ta trên cái biển đầy rắc rối đó. Nhưng cuối cùng, họ đã buộc phải thừa nhận rằng hoặc anh ta đã được ban tặng một tầm nhìn xa rộng hoặc anh ta là một trong những người con trai may mắn của thần Định Mệnh.

Bởi lẽ, bà Peters có một đô la. Một tờ giấy bạc một đô la, tiền thật và đáng nhận từ chính phủ trong quĩ hải quan, thuế và tất cả các khoản phí công cộng. Làm thế nào để sở hữu được đồng đô la đó- ấy là câu hỏi được thảo luận bởi ba chàng lính ngự lâm.

“Làm sao anh biết đó là một đồng đô la?” Ragsy hỏi, sự to lớn của số tiền khiến anh ta hoài nghi.

“Người bán than củi đã thấy cô ấy cầm nó,”, Peters nói. “Cô ấy đi ra ngoài tìm được việc giặt giũ ngày hôm qua. Và hãy nhìn những gì cô ấy cho tôi vào bữa sáng nay …một miếng cùi một bánh mì và một tách cà phê, còn cô ấy có một đô la!”.

“Thật khốc liệt,” Ragsy nói.

“Thử nói rằng chúng ta đột ngột tiến tới, đấm và nhét một chiếc khăn vào miệng cô ấy rồi tóm lấy đồng tiền đó”, Kidd gợi ý: “Anh không sợ phụ nữ, phải không?”

“Cô ấy có thể la hét và khiến chúng ta bị bắt giữ,” Ragsy nói. “Tôi không nghĩ đến việc đánh một người phụ nữ nào đó trong một khu nhà đầy người”.

“Thôi nào các quý ông,” ông Peters nói một cách nghiêm túc, qua cái râu màu nâu đỏ của mình, “hãy nhớ rằng các bạn đang nói về vợ tôi. Một quí ông sẽ không  ra tay với một người phụ nữ, ngoại trừ theo cách…”

Ragsy mỉa mai nói, “Chúng ta đành phải từ bỏ món bia đen Đức thôi. Nếu chúng ta có một đô la thì chúng ta có thể…”.

“Yên lặng nào!” Ông Peters nói, liếm môi. “Bằng cách nào đó, chúng ta phải có được đồng tiền đó, các chàng trai à. Chẳng phải vợ của một người là của anh ta sao? Để đó cho tôi. Tôi sẽ về nhà và lấy tiền. Hãy đợi tôi ở đây”.

Kidd nói: “Tôi đã thấy các bà nhường nhịn nhanh chóng và nói cho anh biết nơi nào họ giấu tiền nếu anh đá vào xương sườn của họ”.

“Không có người đàn ông nào đá một người phụ nữ,” Peters nói một cách nghiêm túc. “Một chút nghẹt thở – chỉ cần một cú bóp nhẹ cổ họng- sẽ lấy tiền đi nhanh chóng – và không để lại dấu vết nào. Đợi tôi nhá. Tôi sẽ mang lại đồng đô la đó, các chàng trai à”.

Ở tầng trên trong một ngôi nhà chung cư giữa thị trấn Second Aveue và dòng sông, gia đinh Peterses sống trong một căn phòng phía sau ảm đạm đến nỗi chủ nhà đỏ mặt mỗi khi đến lấy tiền thuê nhà. Bà Peters làm những việc khác nhau tùy lúc, những công việc lặt vặt là cọ rửa và giặt giũ. Anh Peters có một hồ sơ trong sạch liên tục 5 năm mà không kiếm được một xu nào. Tuy nhiên, họ vẫn bám lấy nhau, chia sẻ nỗi thù hận và đau khổ của nhau, trở thành những sinh vật của thói quen. Theo thói quen đó – cái sức mạnh giữ cho trái đất khỏi bay tung thành từng mảnh; mặc kệ một số lý thuyết ngớ ngẩn về sức hút trọng lực nọ kia.

Bà Peters tựa cái thân hình hơn chín chục ký lô của mình trên hai chiếc ghế và nhìn chằm chằm vào cửa sổ ở bức tường gạch đối diện. Đôi mắt cô đỏ và ẩm ướt. Các đồ nội thất đã bị mang đi trên xe đẩy, nhưng không người đàn ông bán hàng rong nào cho không chiếc xe đi.

Cánh cửa mở ra cho Peters vào. Đôi mắt chó săn của anh ấy thể hiện một điều ước muốn. Chẩn đoán của vợ anh ta xác định chính xác vị trí của nó, nhưng hiểu sai rằng đôi mắt đói thay vì khát rượu.

“Anh sẽ không có gì để ăn thêm cho đến tối,” cô nói, lại nhìn ra ngoài cửa sổ. “Hãy mang khuôn mặt chó săn chồn của anh ra khỏi phòng đi”.

Mắt chàng Peters tính khoảng cách giữa họ. Bằng cách anh sẽ làm cô ấy kinh ngạc, có thể nhảy chồm lên, lật ngã cô ấy, và áp dụng các chiến thuật bóp cổ mà anh đã khoe khoang với các đồng đội của mình đang chờ đợi. Đúng vậy, đó chỉ là một sự khoe khoang; chưa bao giờ dám đặt sợi dây bạo lực lên cô ấy; nhưng với những suy nghĩ của người đàn ông dễ chịu, lạnh lùng hay món rượu Culmbacher làm căng thẳng thần kinh, anh ta gần như đảo lộn lý thuyết của chính mình về cách đối xử của một quý ông đối với một quý bà. Nhưng, với tình yêu của kẻ làm biếng thích nghệ thuật và ít căng thẳng hơn, anh đã chọn ngoại giao trước tiên, lá bài cao trong trò chơi – thái độ giả bộ của người thành công như đã từng đạt được.

“Em có một đô la đấy à” anh nói, lờ đờ, nhưng đáng chú ý trong giai điệu đi cùng với việc châm một điếu xì gà khi tài sản đã coi như nằm trong tầm tay.

“Tôi có,” bà Peters nói, rút từ bộ ngực mình tờ bạc, giơ ra, vò sột soạt, vẻ trêu chọc.

“Anh xin được một vị trí trong một…trong một cửa hàng trà,” Peters nói, “Anh sẽ bắt đầu công việc ngay lập tức. Nhưng anh cần phải mua một cặp… “.

“Anh là một kẻ dối trá,” bà Peters nói, vùi sâu lại tờ bạc vào chỗ cũ. “Không có cửa hàng trà, cũng không có cửa hàng ABC nào, cũng không có cửa hàng tạp hóa nào có sẵn cho anh làm. Tôi đã làm tuột cả da tay để giặt áo khoác và quần yếm mới kiếm được đồng đô la đó. Anh nghĩ rằng đồng tiền kiếm như thế dùng mua thứ gì đó cho anh ư ? Quên đi nhá ! Đừng nghĩ tới tiền bạc”.

Rõ ràng là điệu bộ màu mè kiểu Pháp không đáng giá một xu của đồng đô la đó. Nhưng ngoại giao thì khéo léo. Khí chất nghệ thuật của  Peters đã nâng anh lên bằng dây đeo của những cái bao chân sở thích và đưa anh ta lên một vùng đất mới. Anh ta nhìn lên với một ánh mắt u sầu.

“Clara,” anh nói một cách trống rỗng, “cố gắng xa hơn nữa là vô ích. Em đã luôn hiểu lầm anh. Chúa Trời biết anh đã cố gắng hết sức để giữ cái đầu vượt qua những cơn sóng bất hạnh, nhưng mà…”.

– “Hãy cắt bỏ cầu vồng hy vọng và những thứ nói về việc đi từng bước vượt qua những hòn đảo chật hẹp của Tây Ban Nha”, bà Peters nói với một tiếng thở dài. “Tôi đã nghe thấy lời nói đó rất nhàm tai rồi. Có một chai rượu cồn carbolic trên kệ phía sau lon cà phê rỗng. Rẻ tiền nhưng uống ngon đấy”.

Anh chàng Peters ngẫm nghĩ. Tiếp theo làm gì bây giờ ! Thủ đoạn cũ đã thất bại. Hai chàng lính ngự lâm lạc hậu đang chờ đợi anh ta một cách bực bội bên cái  lâu đài đổ nát – nghĩa là, trên một chiếc ghế đá công viên với những cái chân bằng gang ọp ẹp. Danh dự của anh đã bị đe dọa. Anh đã hứa hẹn đi  phá hủy lâu đài bằng một tay và mang lại kho báu là để cung cấp cho họ một cuộc nhậu ồn ào và khuây khỏa. Và tất cả những gì đứng chắn giữa anh và đồng đô la thèm muốn là vợ anh ta, từng là một cô gái nhỏ mà anh ta có thể … a ha! – tại sao không thử một lần nữa? Một lần với những lời nói nhẹ nhàng hết mức có thể, như người ta nói, xoay cô ấy quanh ngón tay út của mình. Tại sao không thê một lần nữa? Chẳng phải trong nhiều năm, anh đã thử nó rồi sao. Nghèo đói và hận thù lẫn nhau đã giết chết tất cả những lời đẹp đẽ dịu dàng đó. Tuy vậy còn Ragsy và Kidd đang đợi anh mang đến đồng đô la !

Peters lén lút nhìn vợ. Tầm vóc bự con vô hình dạng của cô lấp kín cái ghế. Cô vẫn dán mắt ra ngoài cửa sổ trong một kiểu thôi miên kỳ lạ. Đôi mắt cô cho thấy cô đã khóc và mới chùi mắt.

“Anh băn khoăn rằng,” Peters nói với chính mình, “có lẽ xảy chuyện gì trong đó chăng”.

Cửa sổ mở ra khi nhìn thấy những bức tường gạch và sân sau tồi tàn, cằn cỗi. Ngoại trừ sự ôn hòa của không khí lọt vào, nó có thể là giữa mùa đông nhưng trong thành phố đã biến một khuôn mặt nhăn nhó như vậy để bao vây ngăn cản mùa xuân. Tuy nhiên mùa xuân không đến với tiếng sấm như pháo nổ. Cô ấy là một người lính công binh và một người khai thác mỏ, và bạn phải đầu hàng thôi.

“Ta sẽ thử lần nữa,” Peters tự nhủ, làm vẻ mặt gượng gạo.

Anh đi đến bên vợ và choàng tay qua vai cô.

“Clara, em yêu ơi,” anh nói bằng giọng không nên đánh lừa một con hải cẩu con, “tại sao chúng ta phải có những từ ngữ khó nghe? Chẳng phải em là cục cưng của riêng anh sao?”.

“Một âm mưu đen tối chống lại anh, Peters, trong cái quần xa-ri của Thần tình yêu. Các mảnh ghép của thói mua chuộc gượng gạo chống lại anh, và sự giả mạo và phát ngôn hai lời kêu gọi linh thiêng nhất của Tình yêu”.

Nhưng phép màu của mùa xuân đã được trang trí lên. Điềm báo bước vào căn phòng phía sau qua con hẻm nhỏ giữa những bức tường đen đã len lỏi tới nơi. Thật là nực cười, nhưng …chà, đó là một cái bẫy chuột, và ông bạn, quí bà và tất cả chúng ta, đang ở trong đó.

Bà Peters đỏ và béo và khóc như nữ thần Niobe đau khổ triền miên hay cái thác nước Niagara, quàng tay ôm lấy lãnh chúa và làm anh ta tan biến. Anh  Peters đã cố gắng phấn đấu giải thoát tờ giấy đô la từ kho tiền gửi của mình, nhưng cánh tay của anh bị ép chặt vào hai bên sườn.

“Em có yêu anh không, James?” Peters hỏi.

“Anh điên rồi,” nàng James nói, “nhưng mà…”.

“Anh bị ốm rồi !” bà Peters kêu lên. “sao anh trông nhợt nhạt và mệt mỏi thế?”

“Anh cảm thấy yếu đuối”, ông Peters nói. “anh….”

“Ồ, đợi đã, em biết nó là gì rồi. Đợi đã, James. Em sẽ quay lại sau”.

Với một con rệp rời đi đã hồi sinh trong hồi ức của Peters về kẻ Hồi giáo quá tệ , vợ anh vội vã rời khỏi phòng và xuống cầu thang.

Peters kéo ngón tay cái lên dưới cái dây đeo quần.

“Được rồi,” anh tâm sự với trần nhà. “Ta đã làm cô ấy bỏ đi mất rồi. Ta không biết cô gái già nào mềm mại khác nữa dưới cái xương sườn (**) ngốc nghếch ấy. Cá là 100 ăn 1 ta nhận được đồng đô la. Ta tự hỏi cô ấy đã đi ra ngoài để làm gì. Ta đoán cô ấy đã đi nói với bà Muldoon trên tầng hai, rằng chúng tôi đã hòa giải. Ta sẽ nhớ điều này. Xà phòng thì mềm mại mà. Thế mà Ragsy dám nói về việc đánh cô ấy!

Bà Peters trở lại với một chai thuốc bổ thổ phục linh

“Em mừng vì đã tình cờ kiếm được đồng đô la người ta bỏ quên đó”, cô nói. “Anh đã kiệt sức rồi, anh yêu à”.

Peters uống một muỗng canh cái thứ chán ngắt đó vào miệng. Rồi bà Peters ngồi vào lòng anh và thì thầm:

“Gọi em là cục cưng của riêng anh một lần nữa đi, James”.

Anh ngồi đờ đẫn, bị giữ chặt ở đó bởi nữ thần mùa xuân vật chất của mình.

Mùa xuân đã đến.

Trên băng ghế ở Quảng trường Union, hai gã Ragsdale và Kidd ngồi vặn vẹo, thè lưỡi, chờ đợi hiệp sĩ thủ lĩnh “D’Artagnan” và đồng đô la của anh ta.

“Ta ước rằng ta đã bóp cổ mụ ấy ngay từ đầu”, Peters thầm nghĩ.

Hết

CHÚ THÍCH

*[1]. D’Artagnan: Nhân vật đứng đầu ba chàng ngự lâm trong tiểu thuyết “Ba người ngự lâm pháo thủ” của nhà văn Alexander Dumas thế kỷ 19.

*2. Theo Kinh Thánh: người phụ nữ được Chúa tạo ra từ 1 cái xương sườn của đàn ông.

LỜI BÀN NGƯỜI DỊCH

Câu chuyện cặp vợ chồng nghèo, anh chồng thất nghiệp. Nhà văn kể bằng giọng không quá u uất, bi thương. Trái lại đôi khi thoáng một nụ cười hài hước. Có lẽ đó là một tính cách Mỹ. Khó thấy một truyện ngắn Việt Nam bạo tay viết như vậy. Truyện ngắn Nam Cao, Nguyên Hồng, Kim Lân và nhiều người khác kể những cuộc đời của giới cần lao hoặc trí thức khá u ám, kết cục bí đát, chỉ gợi lòng căm hận hoặc cam chịu. Cao hơn một chút là giữ được ước mơ đổi đời và giữ thiên lương trong sạch…

An Giang ngày 9/7/2020

Phùng Hoài Ngọc

Ngày 23/4/2020

 

 

Post hình hai bé lên đây dần dầnBONG HỒNG VÀNG

Mây thẻ