"Nói phải củ cải cũng nghe"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for Tháng Mười, 2020

CHIẾC ÁO CHOÀNG BÌNH YÊN

Nguyên tác: The Robe of Peace

truyện ngắn O Henry

https://americanliterature.com/author/o-henry/short-story/the-robe-of-peace

Johnny Bellchambers, người nổi tiếng, thuộc về nhóm người giàu sang thực sự. Không có bất kỳ sự phô trương thời thượng, họ không phải gắng sức thu hút sự chú ý bằng cách khoe khoang giàu có một cách lập dị và thể hiện rằng anh ta vẫn hoàn toàn quen thuộc trong tất cả mọi thứ đã tạo ra ánh sáng vẻ vang cho địa vị cao của anh ta trong bậc thang xã hội.

Đặc biệt là anh ấy tỏa sáng trong vấn đề ăn mặc. Trong chuyện này, anh ta là nỗi thất vọng của những kẻ bắt chước. Luôn chính xác, chải chuốt, chỉnh chu và sở hữu một tủ quần áo không giới hạn, anh được thừa nhận là người đàn ông ăn mặc đẹp nhất ở New York, và do đó, đẹp nhất nước Mỹ. Không một thợ may nào ở xứ Gotham (tiếng thông tục gọi New York) lại không coi là một ân huệ quý giá khi được đặc ân may quần áo cho Bellchambers dù không cần nhận một xu tiền công. Khi anh ấy mặc chúng, chúng sẽ là một quảng cáo vô giá. Quần tây là niềm đam mê đặc biệt của anh ấy. Ở đây không có gì hoàn hảo mà anh ấy không nhận thấy. Anh ta sẽ phát hiện chiếc quần hơi có đốm vết nhanh như khi anh ta nhìn thấy một vết nhăn. Anh ta giữ một người thợ trong căn hộ của mình luôn bận rộn với việc cung cấp nguồn trang phục dồi dào cho mình. Bạn bè của anh ấy nói rằng ba giờ là thời gian tối đa anh ấy sẽ thay bộ đồ khác.

Những bí ẩn nối tiếp nhau liên tục trong một thành phố lớn đến nỗi công chúng đọc sách và những người bạn của Johnny Bellchambers đã không còn ngạc nhiên trước sự biến mất đột ngột không rõ nguyên nhân của anh gần một năm trước. Bí ẩn đặc biệt này hiện đã được làm sáng tỏ, nhưng lời giải lạ lùng và khó tin đối với tâm trí của một người bình thường đến nỗi chỉ một số ít người riêng có liên hệ chặt chẽ với Bellchambers mới tin chắc hoàn toàn.

Bellchambers biến mất rất đột ngột. Trong ba ngày, sự vắng mặt của anh ta không khiến bạn hữu náo động, và sau đó họ mới bắt đầu thực hiện các phương pháp tìm hiểu thông thường. Tất cả chúng đều thất bại. Anh hoàn toàn không để lại dấu vết. Sau đó, việc tìm kiếm động cơ mất tích đã được bắt đầu, nhưng không ai tìm thấy chút gì. Anh không có kẻ thù, không mắc nợ, không có phụ nữ. Anh có vài nghìn đô la tín dụng trong ngân hàng đủ xài. Anh chưa bao giờ thể hiện bất kỳ xu hướng nào như tâm thần lập dị; trên thực tế, anh ấy là người đặc biệt điềm tĩnh và có tính khí cân bằng. Mọi phương tiện để truy tìm người đàn ông biến mất đã được tận dụng, nhưng vô ích. Đó là một trong những trường hợp như vậy – ngày càng nhiều hơn vào những năm gần đây – khi mà những người đàn ông dường như đã biến mất tăm như ngọn lửa của một cây nến thậm chí không để lại một vệt khói làm bằng chứng.

Vào tháng Năm, Tom Eyres và Lancelot Gilliam, hai người bạn cũ của Bellchambers, đã thực hiện một chuyến đi nhỏ sang lục địa bên kia. Trong khi đi tìm kiếm ở Ý và Thụy Sĩ, một ngày nọ, họ tình cờ nghe được tin về một tu viện trên dãy Alps ở Thụy Sĩ hứa hẹn một điều gì đó ngoài những điểm thu hút khách du lịch bình thường. Tu viện gần như không thể đến được đối với những người ngắm cảnh bình thường, nằm trên một đỉnh núi cực kỳ hiểm trở và dựng đứng. Những điểm hấp dẫn mà nó sở hữu không được quảng cáo, trước tiên, là một thứ độc quyền và thiêng liêng được tạo ra bởi các thầy tu được cho là vượt xa dòng tu Benedict và dòng thánh Bruno. Tiếp theo là một chiếc chuông đồng khổng lồ được đúc nguyên chất và chính xác đến nỗi nó đã không ngừng phát ra âm thanh kể từ lần đầu tiên rung lên cách đây ba trăm năm. Cuối cùng, người ta khẳng định rằng chưa từng có người Anh Mỹ nào đặt chân vào bên trong các bức tường của nó. Eyres và Gilliam quyết định rằng cần phải điều tra xác minh ba tin đồn này.

Họ mất hai ngày với sự hỗ trợ của hai người dẫn đường để đến được tu viện thánh Gondrau. Ngôi tu viện đứng trên một vách đá lạnh cóng, gió quét với tuyết chất đống xung quanh nó thành những khối trôi dạt thay đổi không lường được. Họ được những người tín hữu anh em có nhiệm vụ tiếp đãi những vị khách không thường xuyên một cách hiếu khách. Họ uống loại rượu bổ quý giá  nhưng hiếm khi thấy nó mạnh mẽ và hứng khởi lên. Họ lắng nghe tiếng chuông vĩ đại, không ngừng vang vọng và biết rằng họ là những du khách tiên phong trong những bức tường đá xám đó, vượt qua những người nói tiếng Anh mà đôi chân không nghỉ của họ đã giẫm lên gần như mọi ngóc ngách trên trái đất.

Vào lúc ba giờ chiều, họ đến nơi, hai chàng trai New York đứng lại với Cristofer tín hữu tu viện tốt bụng trong hành lang lớn, lạnh lẽo của tu viện để xem các tu sĩ đi ngang qua trên đường đến nhà ăn. Họ đi chậm rãi, bước đi từng cặp hai người một, cúi đầu, giẫm chân không ồn ào trên những lá cờ bằng đá thô ráp. Khi đoàn người chậm rãi đi qua, Eyres bất ngờ nắm chặt cánh tay Gilliam. “Nhìn này,” anh thì thầm, háo hức, “nhìn cái người đang đối diện với cậu bây giờ – người ở phía bên này, với bàn tay đặt ở thắt lưng – nếu đó không phải là Johnny Bellchambers thì tôi đã không bao giờ nhìn thấy anh ấy!”.

Gilliam nhìn bạn và nhận thấy chiếc kính thời trang đã mất.

“Trời đất ơi,” anh ta nói, ngạc nhiên, “anh Bell già đang làm gì ở đây hả? Tommy, chắc chắn không thể là anh ta! Chưa bao giờ nghe nói về việc Bell rẽ bước theo đạo giáo. Sự thật là, tôi đã nghe anh ta nói những chuyện, như là một cỗ xe tứ mã hầu như không bị trói buộc nó sẽ đưa anh ta ra hầu tòa trước bất kỳ nhà thờ nào”.

“Không nghi ngờ gì nữa, đó là Bell,” Eyres nói, chắc chắn đấy, “nếu không thì tôi đang rất cần một bác sĩ nhãn khoa. Nhưng hãy nghĩ đến Johnny Bellchambers, chánh án tối cao của hoàng gia trang phục thanh nhã và ông thánh sư Ấn Độ của món trà hồng, ở đây nơi cái Kho Lạnh Lẽo, làm lễ sám hối trong một chiếc áo choàng tắm xỉn màu! Tôi không thể tương tượng được. Hãy hỏi cậu bé lớn tuổi vui tính đang làm những việc tôn kính kia”.

Chúng tôi khẩn khoản nài nỉ anh tín hữu Cristofer cung cấp thông tin. Vào thời điểm đó, các nhà sư đã đi vào nhà ăn. Anh không thể kể về người mà chúng tôi gọi tên là Bellchambers. A, những người anh em tín hữu của Thánh Gondrau đã từ bỏ tên họ thế gian của họ khi tuyên thệ. Các quý ông muốn nói chuyện với một trong những người tín hữu anh em ư? Nếu khách đến nhà ăn và chỉ ra người họ muốn gặp, vị trụ trì đáng kính có thẩm quyền không nghi ngờ gì thì sẽ cho phép điều đó.

Eyres và Gilliam đi vào phòng ăn và chỉ cho tín hữu Cristofer người đàn ông mà họ đã thấy. Vâng, đó là Johnny Bellchambers. Họ đã thấy rõ khuôn mặt của anh lúc này, khi anh ngồi giữa những người tín hữu lầm lì, không bao giờ nhìn lên, uống nước luộc thịt trong một cái bát thô màu nâu.

Hai du khách được phép nói chuyện với một trong những tín hữu sau khi được sư trụ trì đồng ý, và họ đợi anh ta đến trong phòng tiếp tân. Khi anh ta đến, bước nhẹ nhàng trên đôi dép của mình, cả Eyres và Gilliam đều nhìn anh ta với vẻ bối rối và kinh ngạc. Đó là Johnny Bellchambers, nhưng anh ấy có một vẻ mặt khác. Trên khuôn mặt nhẵn nhụi của anh ta là biểu hiện của sự bình yên không gì sánh được, của sự thành đạt đến say mê, của hạnh phúc trọn vẹn và hoàn hảo. Hình dáng anh ta thẳng thắn một cách kiêu hãnh, đôi mắt anh ta ánh lên một tia sáng thanh thoát và tao nhã. Anh ấy vẫn gọn gàng và chỉnh chu như những ngày xưa ở thành New York, có điều bây giờ anh ấy ăn mặc khác làm sao! Bây giờ anh ta dường như chỉ mặc một bộ quần áo duy nhất – một chiếc áo choàng dài bằng vải thô màu nâu, được thu gọn lại bằng một sợi dây ở thắt lưng, và rơi xuống thành những nếp gấp thẳng, lỏng lẻo gần đến chân. Anh ta bắt tay những vị khách của mình với thái độ thoải mái và duyên dáng như xưa. Nếu có bất kỳ sự bối rối nào trong cuộc gặp đó, thì Johnny Bellchambers đã không biểu lộ ra. Căn phòng không có chỗ ngồi; họ đứng mà trò chuyện.

“Rất vui được gặp anh, anh bạn già,” Eyres nói, hơi ngượng nghịu.”Tôi không mong tìm thấy anh ở tận đây. Dù sao thì cũng không phải là một ý kiến tồi. Xã hội là một thứ giả tạo kinh khủng. Đó phải là một sự giải tỏa để rũ bỏ cơn lốc phù phiếm chóng mặt và lui về để… suy ngẫm và – ờ – cầu nguyện và hát thánh ca, và những thứ gì đó.

“Ồ, thôi đi, Tommy,” Bellchambers vui vẻ nói. “Đừng sợ rằng tôi sẽ đi vòng quanh cái đĩa. Tôi đã xem xét kỹ những điều gì làm nên sự thanh thản của những chàng trai già này, vì họ là quy tắc. Tôi mang tên là “Tín hữu Ambrose” ở đây, bạn biết đấy. Tôi chỉ có mười phút để nói chuyện với các bạn… Bạn đang mặc áo gi-lê kiểu mới, phải không, Gilliam? Người ta đang mặc những thứ đó ở Broadway hả ? “.

“Vẫn là Johnny cũ ngày xưa,” Gilliam vui vẻ nói. “ôi quỷ thiệt – Ý tôi là tại sao…Ồ, quỷ tha ma bắt thiệt ! Cậu làm vậy để làm gì, ông bạn già?”.

“Hãy lột bỏ áo choàng tắm đi,” Eyres gần như rưng rưng nước mắt nài nỉ “và quay trở lại với chúng tôi. Đám đông già sẽ rất cuồng nhiệt khi gặp cậu. Đây không phải là con đường của cậu, Bell à. Tôi biết nửa tá cô gái đã mặc bộ đồ thô may bằng xơ vỏ cây liễu trong lặng lẽ khi cậu làm tất cả chúng tôi bàng hoàng không thể hiểu được. Hãy nộp đơn từ bỏ đi, hoặc nhận một giấy giải trừ tôn giáo, hoặc bất cứ điều gì cậu phải làm để được ra khỏi cái nhà máy nước đá này. Cậu sẽ mắc bệnh nhiều đàm ở đây thôi, Johnny… và…Chúa ơi! Cậu không mang đôi tất nào ! “.

Bellchambers nhìn xuống đôi chân đi dép của mình và mỉm cười.

“Các bạn không hiểu,” anh nói, nhẹ nhàng. “Thật tử tế khi bạn muốn tôi quay trở lại, nhưng cuộc sống cũ sẽ không bao giờ biết đến tôi nữa. Tôi đã đạt được mục tiêu tất cả những tham vọng của mình ở nơi đây. Tôi hoàn toàn hạnh phúc và mãn nguyện. Tôi sẽ ở lại đây cho những ngày còn lại của mình. Bạn thấy chiếc áo choàng mà tôi mặc này không? “. Bellchambers thận trọng chạm vào chiếc áo được buông thẳng: “Cuối cùng thì tôi cũng đã tìm thấy thứ gì đó không bó dính vào đầu gối. Tôi đã đạt được…”.

Vừa lúc đó, tiếng chuông đồng lớn trầm sâu vang khắp tu viện. Chàng “tín hữu Ambrose” cúi đầu, quay người và rời khỏi phòng mà không nói thêm một lời nào. Một cái vẫy tay nhẹ của anh khi anh đi qua ô cửa bằng đá như để nói lời từ biệt với những người bạn cũ. Họ rời tu viện và không gặp lại anh nữa.

Và đấy là câu chuyện mà Tommy Eyres và Lancelot Gilliam mang về từ chuyến lang thang châu Âu mới nhất của họ.

Hết

LỜI BÀN

Đoạn kết nhà văn thoáng nở một nụ cười hài hước:

Tôi chỉ có mười phút để nói chuyện với các bạn…Bạn đang mặc áo gi lê kiểu mới, phải không, Gilliam? Người ta đang mặc những thứ đó ở Broadway hả ? “.

BÀI THƠ VỀ RƯỢU WHISKY SCOTCH

BÀI THƠ VỀ RƯỢU WHISKY SCOTCH

Truyện ngắn O. Henry(chuyển ngữ, lần đầu tại VN)

Tài liệu này nhằm phân biệt đâu đó giữa thuyết giảng về sự điều độ rượu chè và “Hướng dẫn của người pha chế rượu”. Liên quan đến “hướng dẫn của người pha chế rượu”, đồ uống sẽ được làm nổi bật chủ đề khoa trương và được đặt ra một cách phong phú đầy đủ. Đồng ý với sự uống rượu điều độ sẽ là sự thú vị chẳng phải với kẻ nhậu say như hũ chìm sẽ chỉ biện luận quanh co.

Bob Babbitt đã “bỏ ngoài tai”. Điều đó có nghĩa là – như bạn sẽ phát hiện ra khi tham khảo từ điển ngôn ngữ không giới hạn của lối sống phóng túng – rằng anh ta đã “cắt cơn say;” rằng anh ta đã “kiêng rượu rồi”. Lý do dẫn đến thái độ phản đối đột ngột của Bob đối với “rượu rum của quỷ” – vì những người thành viên hội“đeo dải ruy băng trắng*[i]” (hội kiềm chế dục vọng) đã gọi nhầm tên rượu whiskey (xem “Hướng dẫn của người pha chế rượu”) nên cần được sự quan tâm của các nhà cải cách và người bán rượu.

Tuy nhiên, không bao giờ lặp lại nữa!

“Một ly nước khoáng có gaz” anh nói với người pha chế.

Một chút im lặng rơi xuống nhóm bạn thân của anh, những người đang chờ anh nhập bọn cùng họ.

“Làm hỏng chuyện gì hả Bob?” một trong số họ đã hỏi một cách lịch sự và trang trọng hơn những kẻ cao hứng đã từng gọi.

“Có đấy” Babbitt nói.

Một người trong nhóm tiếp tục mạch câu chuyện mà anh ta đang kể; người pha chế đẩy ra một hào và 5 xu lẻ thoái lại từ đồng 25 xu, không cần xã giao với nụ cười thông thường của mình; và Babbitt bước ra ngoài.

Giờ đây, Babbitt đã có một mái ấm và một người vợ – nhưng đó là một câu chuyện khác. Và tôi sẽ kể cho bạn câu chuyện đó, nó sẽ cho bạn thấy một thói quen tốt hơn và một câu chuyện tồi tệ hơn mà bạn có thể tìm thấy ở người đàn ông đã phát minh ra cách nói này.

Chuyện bắt đầu ở quận Sullivan, nơi có rất nhiều con sông và rất nhiều rắc rối bắt đầu – hoặc bạn sẽ nói điều đó như thế nào? Đó là tháng Bảy, Jessie là nữ sinh nội trú mùa hè tại khách sạn Mountain Squint, và Bob, người vừa tốt nghiệp đại học, đã gặp cô một ngày nọ – và họ kết hôn vào tháng Chín. Đó là cuốn tiểu thuyết thu gọn vắn tắt – chỉ uống một ngụm nước, và nó đã biến mất.

Tuy nhiên chỉ có những ngày tháng Bảy ấy!

Hãy để dấu chấm than giải thích nó, vì tôi sẽ không nói được. Để biết thông tin chi tiết, bạn có thể đọc kỹ cuốn “Romeo và Juliet”, và bài thơ sonnet cảm động của cố tổng thống Abraham Lincoln về chuyện”Bạn có thể đánh lừa một số người” và vân vân. Và các tác phẩm của nhà sinh học Darwin.

Tuy nhiên có một điều tôi phải nói với bạn. Cả hai người họ đều phát điên vì bài thơ tứ tuyệt của Omar*[ii]. Họ thuộc lòng từng câu hát chân thật chất phác cũ – không liên tục, dồn dập mà là nhặt chúng hết chỗ này đến chỗ khác khi bạn dùng nĩa cắm một miếng bít tết năm mươi xu trong nước xốt. Quận Sullivan đầy núi và cây cối; và Jessie đã từng ngồi trên chúng, và – xin hãy làm quen việc ngồi trên những tảng đá; và Bob có cách đứng sau lưng cô, đặt tay qua vai nắm lấy tay cô, và mặt anh gần với cô, và họ sẽ lặp đi lặp lại những câu thơ yêu thích về người dựng lều ngày xưa. Sau đó, họ chỉ nhìn thấy chất thơ và triết lý của những dòng chữ – thực sự, họ đồng ý rằng Thần Rượu chỉ là một tưởng tượng, và thứ được tôn vinh là thần thánh nào đó, hoặc có thể là Tình yêu Cuộc sống. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, cả hai đều không được nếm thử món đi kèm với thực đơn giá rẻ định sẵn sáu mươi xu.

Tôi đã kể đến đâu nhỉ ? Ồ, họ kết hôn và đến New York. Bob đã xuất trình bằng tốt nghiệp đại học của mình và nhận một vị trí nhân viên trong văn phòng luật sư với mức lương 15 đô la một tuần. Vào cuối hai năm ấy, anh ấy đã làm việc với 50 đô la, và lần đầu tiên được nếm thử rượu loại Bohemia của người Bohemia di cư từ xứ Czech (Tiệp khắc) – loại rượu không chịu được các thử nghiệm về hàn the và dung dịch nước pha khí CH2O nặng mùi formaldehyde*[iii].

Họ có hai phòng đầy đủ tiện nghi và một cái bếp nhỏ. Đối với Jessie, đã quen với hương vị nhẹ nhàng nhưng đẹp đẽ của một thị trấn nông thôn, rượu Bohemia đóng cặn là đường và gia vị. Cô treo dây câu cá trên tường trong phòng, mua một chiếc tủ đựng đồ có kiểu dáng điệu đà và học chơi đàn banjo. Hai lần hoặc ba lần một tuần, họ dùng bữa với thực đơn 60 xu kiểu Pháp hoặc Ý trong một làn khói, và khoe khoang và để tóc không chải. Jessie đã học cách uống một ly cocktail để có được quả anh đào. Ở nhà cô ấy hút một điếu thuốc sau bữa tối. Cô học cách phát âm tiếng “Chianti” là rượu vang đỏ bằng tiếng Ý, và bỏ lại những quả ô liu cho người phục vụ nhặt. Có lần cô ấy cố gắng nói la, la, la! trong một đám đông nhưng chỉ đi được xa như người thứ hai. Họ đã gặp một hoặc hai cặp đôi khi đi ăn tối bên ngoài và trở nên thân thiện với họ. Tủ đựng đồ với rượu whiskey Scotch, lúa mạch đen và rượu mùi. Họ có những người bạn mới đến ăn tối và tất cả đều cười vu vơ lúc 1 giờ sáng. Một số lớp vữa rơi xuống căn phòng bên dưới họ và Bob phải bồi thường 4 đô 50 xu. Do đó, họ vui vẻ nhảy múa lên nhiều điệu rời rạc về nông thôn không có đường ranh giới hay cách thức nào cả.

Và chẳng bao lâu sau Bob đã hòa nhập với bạn bè của mình và học cách giữ bàn chân trên thanh ngang nhỏ cao hơn sàn sáu phân trong một giờ hoặc lâu hơn vào mỗi buổi chiều trước khi anh ta về nhà. Uống rượu luôn xoa dịu anh ta một cách đúng đắn, và anh ta sẽ đến phòng của mình một cách vui vẻ như một đứa bé bán cát. Jessie sẽ gặp anh ta ở cửa, và nói chung họ sẽ nhảy một điệu điên cuồng nào đó trên sàn nhà bằng điệu nhảy rigadoon sinh động. Một lần khi đôi chân của Bob trở nên bối rối và anh ta ngã nhào trên chiếc ghế đẩu để chân, Jessie đã cười rất tươi và lâu đến nỗi anh ta phải ném tất cả những chiếc gối đi văng về phía cô ấy để khiến cô ấy nín cười.

Trong cuộc sống khôn ngoan như vậy đang diễn ra nhanh chóng đối với họ vào cái ngày Bob Babbitt lần đầu tiên cảm nhận được sức mạnh mà người khác mang cho mình.

Nhưng chúng ta hãy quay lại với thịt cừu và nước xốt bạc hà.

Khi Bob về nhà vào buổi tối hôm đó, anh ta thấy Jessie trong chiếc tạp dề dài đang cắt một con tôm hùm cho vào nước xốt, kem, bơ, lòng đỏ trứng. Thông thường, khi Bob trở nên nhẹ nhàng sau giờ tại quán bar, sự chào hỏi của anh ấy rất vui nhộn, mặc dù thoang thoảng hơi rượu whiskey.

Bằng những tiếng la hét và những khúc hát đứt đoạn và những lời chứng thực âm thanh nhất định về niềm hạnh phúc về nhà đã ở trong lời tuyên bố về nhà của anh ấy. Khi cô nghe thấy tiếng chân của anh trên cầu thang, bà giúp việc già trong phòng đại sảnh luôn nhét bông vào lỗ tai bà ấy. Lúc đầu Jessie đã thu mình lại vì sự thô lỗ và mùi vị những lời chào say xỉn này, nhưng khi màn sương mù của lối sống phóng túng giả tạo dần bao phủ cô, cô đã chấp nhận chúng như lời chào chân thành và đúng mực của tình yêu.

Bob bước vào không nói một lời, mỉm cười, hôn cô một cách khéo léo nhưng yên ắng, cầm lên một tờ báo và ngồi xuống. Trong phòng khách, bà giúp việc già nút đầy bông vào hai tai đàng hoàng, lòng đầy lo lắng.

Jessie đánh rơi con tôm hùm và con dao, chạy đến với anh với ánh mắt sợ hãi.

“Có chuyện gì vậy, Bob, anh bị ốm à?”

“Không có gì, em yêu.”

“Vậy anh có chuyện gì chứ?”

“Không có gì.”

Nghe rõ rồi, các anh em. Khi cô ấy người-có-quyền-hỏi- bạn về một sự thay đổi, cô ấy nhận thấy trong tâm trạng của bạn cần thiết trả lời cô ấy như này: Hãy nói với cô ấy rằng bạn, trong cơn thịnh nộ bất ngờ, đã sát hại bà của bạn; nói với cô ấy rằng bạn đã ăn cướp của những đứa trẻ mồ côi và rằng sự hối hận đã làm bạn khó chịu; nói với cô ấy tài sản của bạn bị mất mát; rằng bạn đang bị bao vây bởi kẻ thù, bởi ngón chân sưng tấy, bởi bất kỳ kiểu liều mạng ác ý nào; nhưng đừng…nếu hòa bình và hạnh phúc có giá trị bằng một hạt cải đối với bạn … đừng trả lời cô ấy “Không có gì”.

Jessie quay lại với con tôm hùm trong im lặng. Cô ấy nhìn Bob đầy nghi ngờ. Anh ấy chưa bao giờ hành động như vậy trước đây.

Khi bữa tối trên bàn, cô dọn ra chai Scotch và những chiếc ly. Bob đã từ chối.

“Nói cho em biết sự thật, Jessie,” anh ta nói. “Anh đã bỏ rượu. Tất nhiên, em thì tùy thôi. Nếu em không phiền, anh sẽ uống ngay một loại nước có gaz”.

“Anh đã bỏ rượu à?” cô nói, nhìn anh điềm tĩnh và không chút buồn bã. “Để làm gì?”

Bob nói: “Nó không làm anh tốt chút nào. “Em không tán thành ý tưởng đó ư?”

Jessie hơi nhướng mày và nhún nhẹ một bên vai.

“Toàn bộ không tán thành,” cô ấy nói với một nụ cười như tạc. “Em không thể nhiệt tình khuyên bất kỳ ai uống rượu, hút thuốc hoặc huýt sáo vào Chủ nhật”.

Bữa ăn kết thúc gần như trong im lặng. Bob cố gắng nói chuyện, nhưng nỗ lực của anh ấy thiếu sự kích thích của những buổi tối hôm trước. Anh cảm thấy khổ sở, và một hoặc hai lần mắt anh đảo về phía cái chai, nhưng mỗi lần những lời mắng mỏ gay gắt của người bạn say xỉn của anh lại vang lên bên tai, và miệng anh tỏ ra kiên quyết.

Jessie cảm nhận được sự thay đổi sâu sắc. Bản chất cuộc sống của họ dường như đã đột ngột ra đi. Sự xúc động không ngừng nghỉ, sự vui vẻ giả tạo, sự phấn khích không tự nhiên của lối sống phóng túng giả tạo nơi họ từng sống trôi dạt trong không gian của tiếng nổ của một nút chai. Cô liếc những cái nhìn tò mò và thất vọng về Bob đang chán nản, người mang dáng vẻ tội lỗi của ít nhất là kẻ đánh vợ hoặc một bạo chúa trong gia đình.

Sau bữa tối, người giúp việc da màu hàng ngày đến làm những công việc lặt vặt, dọn dẹp đồ đạc. Jessie, với vẻ mặt khó hiểu, mang chai Scotch trở lại cùng những chiếc ly và một cái tô đựng những cục đá lạnh rồi đặt chúng lên bàn.

“Em hỏi được không,” cô ấy nói, với một vẻ lạnh lẽo trong giọng nói của mình, “liệu em có được đưa vào lòng tốt bất ngờ của anh không? Nếu không, em cũng sẽ làm một điều gì đó chính mình. Tối nay trời khá lạnh, vì một số lý do”.

“Ồ, đừng vậy chứ, Jess,” Bob nhân hậu nói, “đừng quá nặng nề với anh. Hãy tự lo thân, bằng mọi cách. Không có gì nguy hiểm khi em đã làm việc quá sức. Nhưng anh nghĩ rằng có  nguy hiểm với anh; và đó là tại sao anh lại bỏ rượu. Hãy giữ cái riêng của em, và sau đó chúng ta hãy tạm nghừng đàn banjo và thử sang điệu nhảy bước nhanh mới đó”.

“Em đã nghe rằng,” Jessie nói trong giọng điệu của một câu sấm, “uống rượu một mình là một thói quen nguy hại. Không, em không nghĩ rằng em muốn chơi đàn banjo vào buổi tối này. Nếu chúng ta cải thiện cuộc sống, chúng ta cũng có thể từ bỏ thói quen xấu xa chơi banjo vậy”.

Cô cầm lên một cuốn sách và ngồi vào chiếc ghế đung đưa kê gối nhỏ của mình ở phía bên kia bàn. Cả hai đều không nói chuyện trong nửa giờ.

Và rồi Bob đặt tờ báo xuống và đứng dậy với vẻ mặt lạ lùng, thẫn thờ và đi ra sau ghế của cô và vươn qua vai cô, nắm lấy hai tay cô, và úp mặt vào gần cô.

Trong một khoảnh khắc đối với Jessie, những bức tường có căn phòng treo đầy lưới đã biến mất, và cô nhìn thấy những ngọn đồi và những con đường mòn ở Hạt Sullivan. Bob cảm thấy tay cô run rẩy trên tay anh khi anh bắt đầu đọc câu thơ của Omar nhà thơ cũ xứ Iran Ba Tư:

Hãy đến, rót đầy cốc, và trong ngọn lửa mùa xuân

Chiếc áo của điệu múa ăn năn mùa đông:

Con chim thời gian chỉ có một đường bay nhỏ

để bay – và nhìn kìa! Con chim đang giương cánh !”

Và rồi anh ta bước đến bàn và rót chai rượu mạnh whiskey vào cái ly.

Nhưng trong khoảnh khắc đó, một cơn gió núi bằng cách nào đó đã tìm đến và thổi bay lớp sương mù trái mùa của lối sống phóng túng giả tạo.

Jessie nhảy lên và với một cú quẹt mạnh tay của cô ấy đã khiến chai rượu và đám ly rơi loảng xoảng xuống sàn. Chuyển động tương tự của cánh tay cô ôm quanh cổ Bob, nơi cánh tay gặp người bạn đời của mình và ôm chặt.

“Ôi, Chúa ơi, Bobbie – không phải câu thơ đó – bây giờ em hiểu rồi. Em không phải lúc nào cũng là một kẻ ngu ngốc như thế, phải không? Người khác kia, chàng trai …cái người đã nói: Hãy sửa lại thành mong muốn của Trái tim. Đọc câu đó – thành Mong muốn của Trái tim”.

– Anh biết bài đó, Bob nói. “Nó thế này:

A! Tình yêu của ta, lẽ nào ta và ngươi

cùng hắn đồng mưu

Để nắm được lời xin lỗi này

toàn bộ sự phối hợp chuyện đời

Chúng ta sẽ không …'”

“Hãy để em đọc nốt,” Jessie nói.

‘Chúng ta sẽ không phá vỡ nó thành từng mảnh, và sau đó

Làm cho nó gần với Mong muốn của Trái tim! “

“Nó vỡ tan tành rồi,” Bob nói, đạp lạo xạo vài mảnh ly dưới gót chân.

Trong một tầng nhà tối nào đó bên dưới, đôi tai chính xác của bà Pickens, bà chủ nhà, đã xác định được vị trí tiếng đập phá.

“Đó là anh Babbitt hoang dã điên cuồng khi trở về nhà lại say xỉn rồi,” bà nói. “Và anh ấy cũng có một cô vợ nhỏ xinh cũng say xỉn vậy !”

Hết

Ngày 30/9/2020

Chuyển ngữ PHN & NĐH

[iii] * Formaldehyde: một loại khí không màu, có mùi hăng khó chịu CH2O được sử dụng chủ yếu trong dung dịch nước như một chất khử trùng, chất bảo quản và trong việc tổng hợp hóa học

Nguyên tác: The Rubaiyat of a Scotch Highball

Trong tập The Trimmed Lamp (1907)

https://americanliterature.com/author/o-henry/short-story/the-rubaiyat-of-a-scotch-highball


[i] * White Ribboners: Dải băng trắng : huy hiệu đặc biệt của các tổ chức khác nhau để khuyến khích sự trong sạch hoặc tiết độ tình dục.

[ii] *. Omar: (1048 –1122) nhà thơ và nhà thiên văn Ba Tư.

Mây thẻ