"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

Author Archive

Lần đầu tiên từ 1975 bùng phát tổng biểu tình phản kháng chính quyền!

Lần đầu tiên từ 1975 bùng phát tổng biểu tình phản kháng chính quyền!

Phạm Chí Dũng
 
Cali Today
 
Việt Nam – Cali Today News – Ngày Mười tháng Sáu đã bất thần trở thành một trong những ngày lịch sử nhất trong lịch sử thời hậu chiến: lần đầu tiên kể từ ngày ‘thống nhất đất nước’ Ba Mươi tháng Tư năm 1975, một cuộc tổng biểu tình phản đối Luật Đặc khu đã bùng nổ trên suốt chiều dài của mảnh đất ‘lệ rơi hình chữ S’.
 .
Vào tháng Năm năm 2014, cũng đã nổ ra một cuộc biểu tình chống giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc, tập trung hàng chục ngàn người dân chủ yếu ở Sài Gòn và Hà Nội, được phát động bởi giới đấu tranh dân chủ và nhân quyền, các tổ chức xã hội dân sự độc lập.
 .
Hai năm sau – tháng Năm năm 2016 – lại nổ ra một phong trào biểu tình lớn phản đối thảm họa ô nhiễm do Formosa gây ra ở 4 tỉnh miền Trung. Nhưng cuộc biểu tình này đã phát lộ hiện tượng lần đầu tiên các nhóm nhỏ tự phát của người dân kết tụ lại với nhau để thành đám đông biểu tình và biểu tình khá thành công, trong lúc hầu hết những gương mặt đấu tranh nhân quyền nổi bật đã bị công an khống chế và bắt bớ nên không thể dẫn dắt cuộc biểu tình.
 .
Và hai năm sau nữa…
Tháng Sáu năm 2018. Ngay sau khi Dự luật Đặc khu – ‘luật bán nước’ – được công bố, rất nhiều người dân và trí thức đã dậy lên một làn sóng phản kháng phẫn nộ, so sánh Dự luật về đặc khu kinh tế với hình thức nhượng địa mà chỉ đất nước nào nghèo đói lạc hậu mới cần đến, mặt khác họ cảnh báo nó có thể bị nước láng giềng Trung Quốc lợi dụng để di dân.
 .
Chỉ đến sát kỳ họp quốc hội tháng 5 – 6 năm 2018, ‘luật bán nước’ mới được công bố một cách chính thức như sự đã rồi. Trước đó, đã không có bất kỳ một động tác nào, dù là nhỏ nhất hoặc chỉ mang tính mị dân, nhắm đến việc thông báo cho dân hoặc lấy ý kiến của dân về dự luật đặc khu.
Trong khi đó, Quốc hội Việt Nam một lần nữa chứng tỏ cái năng lực nổi bật của nó: không chỉ hùa theo các nhóm lợi ích để tăng vọt thuế và ‘bóc lột dân ta đến tận xương tủy’, ‘cơ quan dân cử’ này còn tiến xa hơn một bước bằng một kỳ họp châu đầu vào ‘luật bán nước’.
 .
Trừ một số rất hiếm hoi dân biểu phát tiếng nói phản biện, tuyệt đại đa số còn lại trong số gần 500 đại biểu quốc hội vẫn tiếp tục thói ‘ngủ ngày’ trong cơn mộng du vong bản và vong dân.
 .
Rộng hơn hẳn và đông hơn hẳn các cuộc biểu tình trước đây, phong trào biểu tình phản đối Luật Đặc khu không chỉ bùng nổ ở Sài Gòn và Hà Nội mà còn lan rộng ra nhiều tỉnh thành khác như Nha Trang, Cam Ranh, Nghệ An, Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai, Hải Dương, Mỹ Tho…
 .
Không chỉ là những tiếng hô “Không Trung Quốc, Không đặc khu!”, “An ninh mạng, Bịt miệng dân!”, mà cả tiếng thét “Đả đảo bọn bán nước”, “Đả đảo cộng sản bán nước”, “Đả đảo Việt gian”.
Ảnh: Dân Làm Báo
.
Đói quá lâu sẽ hết đói. Cuối cùng, bánh vẽ Luật Biểu tình đã công nhiên trở thành một thứ phế thải. Cuối cùng, người dân Việt Nam đã tự động xuống đường mà bất cần một khung luật nào cho phép. Trong cơn phẫn nộ và bế tắc tận cùng, trong nỗi thất vọng vượt quá giới hạn trước một chế độ đặc trưng quá tham nhũng, độc đoán và khiến phát sinh đủ thứ hậu quả xã hội trầm kha, ngày càng có thêm nhiều người dân vượt qua nỗi sợ của mình để bước ra đường, mở miệng và thét to những gì họ muốn.
 .
Đến lúc này, công an chẳng biết phải làm gì để “siết” nữa. Từ lâu, những đòn phép đối phó với phong trào biểu tình dân oan từ năm 2007 và biểu tình chính trị từ năm 2011 đã được tung ra hết: trên hết là thói trấn áp và “biện pháp nghiệp vụ” của ngành công an, sau đó là luật Giao thông đường bộ, luật Hình sự về “gây rối trật tự công cộng”, kể cả những điều luật khắc nghiệt chính trị như “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” (258), “tuyên truyền chống nhà nước” (88), “lật đổ chính quyền nhân dân” (79) đã từ lâu được dùng để áp chế giới bất đồng chính kiến nhưng chỉ khiến nảy sinh “bắt một sinh mười”.
 .
Đến lúc này, mọi chuyện đã quá muộn đối với chính thể. Quá muộn để “lấy lại lòng tin của nhân dân”. Cũng quá muộn để ban hành Luật Biểu tình.
 .
Sự kiện ‘Mười tháng Sáu’ còn lạ lùng ở chỗ trước đó đã hầu như không có một tổ chức xã hội dân sự độc lập hay những nhà hoạt động trong giới đấu tranh dân chủ nhân quyền trong nước đứng ra kêu gọi biểu tình, trong khi phần lớn giới này vẫn bị công an canh chặn ở nhà như mỗi khi có biểu tình. Do vậy có thể cho rằng toàn bộ hoạt động biểu tình là xuất phát từ tâm trạng phẫn uất và động lực tự phát kết nối với nhau của người dân – rất tương đồng với hình ảnh người dân tự phát xuống đường chống Formosa vào tháng Năm năm 2016.
 .
Kết luận đã bắt đầu có tính quy luật trên có thể rất quan trọng: bất chấp việc nhà cầm quyền đã thẳng tay đàn áp dã man nhân quyền và Hội Anh Em Dân Chủ trong suốt 17 tháng từ năm 2016 đến năm 2017, một lực lượng mới đang nổi lên và dần thay thế vai trò dẫn dắt của giới đấu tranh nhân quyền chính là Nhân Dân.
 .
Một sự thật đơn giản mà bất kỳ ai cũng hiểu và nằm lòng là công an ‘còn đảng còn mình’ có thể bắt bớ hàng trăm người hoạt động nhân quyền, nhưng không thể nào tống giam hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn người dân – những người luôn trong tâm thế nước tràn ly, ngày càng sẵn sàng thay thế những nhà hoạt động nhân quyền đã bị chính quyền tống giam.
 .
Nếu các cuộc biểu tình phản đối Hải Dương 981 vào năm 2014, phản đối chặt hạ cây xanh vào năm 2015, phản đối Luật Bảo hiểm xã hội cùng vào năm 2015, và phản đối Formosa vào năm 2016 vẫn nhắm tới đối tượng phản đối là Trung Quốc hay những chính sách của chính quyền, thì cuộc biểu tình ngày Mười tháng Sáu năm 2018 không thể khác hơn là lần đầu tiên kể từ năm 1975 đã thể hiện một hành động phản kháng trực tiếp đối với nhà cầm quyền.
.
‘Mùa xuân Ả Rập’ đang bắt đầu tái hiện ở Việt Nam như thế đó.
Advertisements

Bàn về ba quyền lực mà TQ dùng để trói chặt Việt Nam

Bàn về ba quyền lực mà TQ dùng để trói chặt Việt Nam

 Phùng Hoài Ngọc (VNTB)

 
Trung Quốc đã và đang dùng tổng hợp ba quyền lực đối với thế giới, đặc biệt với Việt Nam. Đó là các quyền lực nóng, cứng và mềm để xâm chiếm từng bước Việt Nam.

1. Quyền lực nóng là chiến thuật truyền thống của bao đời phong kiến Trung Hoa từ nhà Ân trước công nguyên đến nhà Mao hiện đại

Đó là chiến thuật xua quân xâm chiếm lãnh thổ bằng bạo lực với kỹ thuật đơn giản nhất: vũ khí nóng và biển người nóng máu ăn cướp.

Đến thời hiện đại, quyền lực nóng buộc phải sử dụng hạn chế. Mở đầu là cuộc chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa 1974 chớp nhoáng, bất ngờ. Kế đó là cuộc chiến tranh Biên giới 1979 kéo dài gần 1 tháng, rồi lai rai giằng co mấy điểm cao biên giới cho tới 1989 trong đó cuộc cướp 1 nhóm đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Chưa kể âm mưu dẫn dụ Khmer đỏ gây cuộc chiến biên giới Tây nam.

https://4.bp.blogspot.com/-16l5Dp_j52w/WxURzBdPssI/AAAAAAAAESs/YoCptYw-CqEv-aVIVo3RMFAjkgnPf4eEgCLcBGAs/s640/vai-tro-cua-quyen-luc-mem-trong-chinh-sach-doi-ngoai-cua-trung-quoc.jpg

Học viện Khổng Tử tại Hà Nội.

Chiến thuật quyền lực nóng tấn công thường bị quốc tế phản đối, vả lại, bản thân họ cũng chịu thiệt hại khó lường, họ chuyển chiến thuật khác.

Chuyển qua thủ thuật quyền lực nóng kiểu đe doạ: họ ngăn cản khai thác dầu khí biển Đông như cắt cáp tàu thăm dò của đối phương và ngăn cản ngư dân ta đánh cá ngày càng gia tăng. Trung Quốc còn đơn phương ra lệnh cấm đánh cá theo mùa vụ do họ ấn định trên vùng biển Việt Nam, xua đuổi tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam trong hải phận chủ quyền nước ta.

Thủ thuật quấy rối, chọc tức, khiêu khích cũng thuộc phạm vi quyền lực nóng.

Vài năm nay một số đoàn du khách TQ sử dụng hướng dẫn viên lậu người Hán trà trộn thay thế HDV người Việt để trâng tráo phản tuyên truyền chủ quyền biển đảo và lãnh thổ ngay trên đất nước ta. Du khách Trung Quốc cố tình mặc áo in hình “lưỡi bò” nhập cảnh vào Việt Nam tại sân bay Cam Ranh hôm 13 Tháng Năm, 2018. Mang tên lửa và tàu bay quân sự ra đảo Trường Sa. Đối đầu với giàn tên lửa Việt Nam.

2. Quyền lực cứng: hành động xâm lấn dễ nhận thấy bằng mắt thường

Thể hiện rõ nhất trên Mặt trận kinh tế: đó là việc tận dụng đường biên giới dài và khó kiểm soát tuồn hàng buôn lậu, hàng kém chất lượng, hàng giả vào nội địa nước ta.

Thả cho thương lái TQ mua vét những thứ sản vật không có giá trị hàng hoá nhằm phá hoại và kìm hãm phát triển kinh tế đời sống của Việt Nam (Thương lái lỗ nhưng nhà nước hẳn đã bao cấp cho họ thực hiện ý đồ phá hoại).

Mua những thứ sản vật có vẻ tầm thường nhưng trả giá cao nhằm phá hoại sản xuất, huỷ hoại môi trường như móng trâu, móng bò, đuôi trâu, đỉa, ốc bươu vàng, lá điều, rễ hồ tiêu…

Bán thực phẩm bẩn và rẻ, thượng vàng hạ cám, từ đồ chơi có hoá chất độc gây tác hại lâu dài đến thị trường điện tử giá rẻ. Chỉ mua những thứ quí hiếm như gỗ sưa…

Móc nối, thương lượng với quan chức Việt để chiếm được các Dự án rải khắp Việt Nam. Nhân đó họ xuất khẩu công nghệ lạc hậu, tiêu biểu như đường sắt Cát Linh- Hà Đông và các nhà máy thép, điện khắp ba miền.

Ba “đặc khu kinh tế” cho thuê đất 99 năm, đang chờ Quốc hội bấm nút nhưng đã có lệnh ngầm từ Bộ Chính trị (ngày xưa cách đây hơn 100 năm, Từ Hi Thái hậu, Hoàng đế Đạo Quang và Đế quốc Mãn Thanh thua trận trong Chiến tranh Nha phiến, Đế quốc Anh phải đổ máu mới giành được quyền nhượng địa, thực chất cũng là thuê đất 99 năm). Ngày nay “hai đồng chí láng giềng hữu hảo” chỉ cần gặp mặt ngầm, Việt Nam đã sắp sửa hai tay dâng đất ở ba điểm Bắc-Trung-Nam cho ngoại bang 99 năm.

3. Quyền lực mềm: đây là thủ đoạn đa dạng và tinh vi nhất bao gồm

Nhóm quyền lực mềm giáo dục

Việt Nam có nhiều du học sinh đại học và trên đại học ở khắp các trường đại học TQ từ Quảng Tây giáp biên tới Nội Mông xa xôi.

Bên cạnh nhu cầu nghiên cứu Trung văn tự nhiên của một bộ phận tuy không lớn như nhu cầu tiếng Anh, họ biết đa phần học sinh, sinh viên và cả công chức, nhất là giáo viên khả năng kinh tế thấp. Đi du học là cơ hội lấy được cả bằng cấp và cải thiện kinh tế gia đình, làm vốn đáng kể.

Phần lớn sinh viên, công chức với tiếng Anh không đủ khả năng thi đầu vào du học phương Tây và Mỹ theo diện học bổng. Bên cạnh đó một nhóm người có khả năng du học tự túc đại học Âu Mỹ chiếm tỷ lệ khá lớn.

Trung Quốc cạnh tranh với thế giới tiếng Anh bằng cách tung học bổng thu hút du học như một quyền lực mềm (không kể Đài Loan cũng cạnh tranh vụ này với TQ nhưng chỉ với mục tiêu kinh tế).

Mỗi năm hiện diện ở Trung Quốc với số lượng 15 000 SV và NCS Việt Nam (đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ ở TQ và Đài Loan đều gọi chung là Nghiên cứu sinh như vậy là chính xác về thuật ngữ), số mới tuyển liên tục thay thế bù vào số tốt nghiệp về nước. Trung Quốc móc nối kết hợp với Bộ Giáo dục Việt Nam tuyển sinh và xét duyệt. Một số em NCS phàn nàn rằng Bộ ngầm đòi chia sẻ học bổng cho Bộ với luật bất thành văn.

TQ tranh đua với Đài Loan giành giựt SV, NCS chủ yếu đi học các ngành khoa học xã hội nhân văn và ngôn ngữ, nhưng cơ bản là truyền bá tiếng Trung. Tốt nghiệp về nước không được trọng dụng chuyên môn, du học sinh khoa học cơ bản trở thành phiên dịch và làm các dịch vụ tiếng Trung. Khoa học tự nhiên kỹ thuật công nghệ của Trung Quốc thì rõ ràng thua kém phương Tây và Mỹ nên số du học sinh VN đi học TQ theo nguyện vọng tự nhiên rất ít. Một số không nhỏ chọn TQ mục đích chỉ là đi kiếm học bổng đạt thu nhập cao hơn trong nước, lại khỏi đóng học phí.

Thí sinh dự tuyển đi học TQ đầu vào mù chữ Hán cũng được chấp nhận, họ sẽ dành cho 1 năm đầu rèn ngoại ngữ.

Nhóm quyền lực mềm quảng bá nghệ thuật giải trí

Hầu hết các kênh Đài truyền hình VTV, VTC và các đài địa phương tỉnh thành đều chiếu phim Tàu quanh năm suốt tháng. Thực là một sự kỳ lạ!

Trung Quốc biết rõ cái gu văn nghệ cổ trang của người Việt gắn bó mật thiết với văn hoá Tàu đã cả nghìn năm… nay thực khó dứt bỏ. Các đài truyền hình từ trung ương đến địa phương vẫn lẳng lặng chiếu phim Tàu, phải chăng chỉ vì họ ham bản quyền bán rẻ hoặc tặng biếu, giao hảo, đổi quảng cáo, dịch vụ mà mất cảnh giác? Hay là có sự chỉ đạo từ trung ương?

Giới cầm quyền Trung Quốc vừa tự hào về lịch sử dân tộc họ, nhưng cũng không khỏi mắc cỡ về những ấn tượng đen tối tàn bạo của lịch sử. Họ muốn tác phẩm văn nghệ phải “sửa chữa”, tân trang, tô điểm lịch sử cho đỡ đen đúa. Họ chi tiền và cầm cân nảy mực khi kiểm duyệt đối với các nhà sản xuất tác phẩm nghệ thuật nhất là phim ảnh.

TQ một đất nước có bề dày lịch sử và cũng có khoa sử học lâu đời. Khoa Sử ở các trường đại học được chăm chút, từ cái cổng Khoa cũng được kiến trúc trang nghiêm cổ kính khác hẳn những khoa khác trong trường. Ít nhất là về hình thức, sử học được coi trọng, còn thực chất thì chưa hẳn là vậy. Với một thể chế cộng sản, thực và ảo dường như mơ hồ khó phân định.

Ở Trung Quốc dường như có một chỉ đạo xuyên suốt khi xây dựng tác phẩm văn nghệ kinh điển để xuất ra ngoài bờ cõi. Những tác phẩm ấy phải được ý thức là “quyền lực mềm”, khiến cho người xem nước ngoài phải thấy lịch sử TQ đáng trọng đáng yêu đáng quí sau sự hấp dẫn giải trí (!).

Sửa chữa lịch sử qua tác phẩm văn nghệ Trung Quốc là một khuynh hướng quá rõ ràng. Trong các phim cổ trang lịch sử, những hoàng đế hào hoa phong nhã, những ông vua vì hoàn cảnh mà phải tàn bạo, phải bất nhân. Những ông vua bà chúa cố gắng chăm lo cho đoàn kết dân tộc, sắc tộc v.v…

Văn nghệ sĩ có bản lĩnh thì viết theo kiểu “trung dung” khôn ngoan của Khổng phu tử (thành bại ai quyết được/thịnh suy đâu phải vu vơ). Đồng thời dùng thủ thuật giep rắc chủ nghĩa hư vô lịch sử. Đó cũng là một thứ “hiện sinh chủ nghĩa mới”. Từ đây dẫn đến một triết lý hiện sinh: hãy vui sống với bây giờ, trước mắt, đừng bận tâm quá khứ và tương lai ra sao.

Chúng ta thử đánh giá quyền lực mềm chỉ với một bộ phim “Tam quốc diễn nghĩa”. Qua hai ca khúc lồng trong bộ phim là “Trường Giang cuồn cuộn chảy về Đông” và “Bầu trời lịch sử”, khán giả sẽ nhận thấy ý đồ ngoài nghệ thuật của họ.

Ca khúc “Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông” lặp đi lặp lại đầu mỗi tập phim. Chuyển ngữ:

“Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông

Bọt sóng rửa trôi hết anh hùng.

Phải-trái, thành-bại cũng như không.

Non xanh vẫn cứ thế,

Ngày tháng qua bao nhiêu?

Ngư ông, tiều phu tóc bạc trên bãi sông

Đã quen ngắm trăng thu gió xuân

Một vò rượu đục vui gặp bạn

Bao nhiêu việc xưa nay

đều bỏ vào trong câu chuyện mà cười”.

Nhạc sĩ triết lý đầy ẩn ý: “Bọt sóng rửa trôi hết anh hùng/Phải-trái, thành-bại cũng như không” và sau đó hạ câu kết để xí xoá tất cả phải trái: “Bao nhiêu việc xưa nay, đều bỏ vào trong câu chuyện mà cười”.

Kết thúc bộ phim sử thi “Tam quốc diễn nghĩa” là ca khúc “Bầu trời lịch sử” (nguyên văn “Lịch sử đích thiên không”) gọi “phiến vĩ khúc”. Một bài hát cho giọng nữ, khúc hát của nàng chinh phụ, cũng là suy ngẫm của một nhà triết học lịch sử bất lực và ngập ngừng. “Bầu trời lịch sử” là giọng hát buồn bã nao lòng của nữ nhi, ngược chiều với giọng điệu bi hùng cảm khái của ca khúc chủ đề mở đầu phim.

Chuyển ngữ:

“Mờ mịt rồi ánh đao bóng kiếm,

Đã xa rồi kèn trống đua vang

Trước mắt vẫn hiển hiện từng khuôn mặt hiên ngang tươi tắn.

Đã chôn vùi những đường xưa cát bụi,

Đã hoang sơ những thành quách biên cương

Mặt trời mặt trăng vẫn mang theo những cái tên người quen thuộc.

Thành bại ai quyết được?

Thịnh suy đâu phải vu vơ!

Một trang sử gió mây vung vãi

Vũ trụ biến đổi, có cũng như không.

Hợp tan đều bởi duyên

Ly tán thảy do tình.

Gánh vác việc đời trước

Mặc kệ đời sau bàn luận.

Trường Giang đau lòng tuôn dòng lệ

Trường Giang chứa tình phát lời ca

Bầu trời lịch sử sao nhấp nháy

Trong nhân gian khí thế bao anh hùng

vó ngựa vẫn dọc ngang”.

(chuyển ngữ 2 ca khúc: Phùng Hoài Ngọc)

Khó mà kể hết các chiến thuật Trung Quốc sử dụng ba quyền lực, cũng có thể kể thêm chiến thuật “hội nghị quốc tế”.

Tham gia Hội nghị “đối thoại Sangri-La” hàng năm, nơi đây các thuyết khách Trung Quốc gian ngoan trổ tài hùng biện, câu giờ.

Kết

Viện Hàn lâm KHXH-NV nước ta có nhiều chuyên gia nghiên cứu khoa “Trung Quốc học” nhưng thiếu phòng nghiên cứu “Âm mưu Trung Quốc học”. Bởi vì họ đã được/bị chỉ đạo bởi tư tưởng “16 vàng 4 tốt” – cái khoá chân tay nhà nghiên cứu.

Nhà cầm quyền Việt Nam mặc cho mạng xã hội với người dân yêu nước tự nguyện chống ngoại xâm với những video-clip tự chế cảnh báo ba quyền lực Trung Quốc và kêu gọi đồng bào cảnh giác phòng chống.

Quan điểm đối ngoại chính thống và công chúng tự do ở Việt Nam đi theo hai hướng trái chiều, đất nước rơi vào bi kịch vì thiếu sức cố kết. Thất bại là điều khó tránh khỏi.

P.H.N.

CÔNG DÂN LÊ PHÚ KHẢI GỬI TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

CÔNG DÂN LÊ PHÚ KHẢI GỬI TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Anh Trọng thân mến!

Tôi không là đảng viên, tôi không bầu anh và cũng không thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trong việc làm đặc khu kinh tế!

Ngày 18 tháng 03 năm 2009, tôi đã gửi thư cho Tổng bí thư Nông Đức Mạnh phản đối kịch liệt việc cho Trung Quốc làm bauxite ở Tây Nguyên. Lá thư đó vẫn còn trên mạng của BBC. Nay sự thật đã rõ ràng. Bauxite đã thất bại thảm hại. Ngoài một việc là cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc ngồi chễm chệ trên nóc nhà của đất nước là Tây Nguyên.

Nay, các anh chị trong Bộ Chính Trị đã kết luận rồi: việc làm đặc khu kinh tế, như lời chị Ngân, là điều cực kỳ thảm khốc cho dân tộc, là bán đứng đất nước mà hàng triệu người đã ngã xuống trong hai cuộc kháng chiến vừa qua để bảo vệ giang sơn 4000 năm ông bà để lại.

Vừa qua, nhà văn Hoàng Quốc Hải đã viết rất thống thiết về điều này, tôi không nói lại nữa. Với tư cách là đồng hương Hà Nội, lại cùng học đại học Văn khoa năm nào như anh, tôi khuyên anh hãy nghĩ thật kỹ trước khi quyết định mình sẽ trở thành tội đồ của dân tộc, của lịch sử. Tôi năm nay đã 77 tuổi, vẫn phải cầm bút để viết những dòng này là vì tương lai và sự sống còn của con cháu chúng ta.

Chúc anh sáng suốt.

Sài Gòn, ngày 05 tháng 06 năm 2018.

Chú thích ảnh: 
Trang chủ và nhà báo Lê Phú Khải (bên phải)

le phu khai

Báo nước Anh nói về “tính cách đói khát” của người Trung Quốc

Báo nước Anh nói về “tính cách đói khát” của người Trung Quốc

  • Tuyết Mai

Nhiều năm nay, người Trung Quốc được đội lên chiếc mũ “ta là trung tâm, tham lợi ích nhỏ nhoi, yêu tiền bạc, thích dọa nạt, thích dùi vào sơ hở của pháp luật, lời nói hành động bất nhất, to tiếng ở nơi công cộng”. Một tờ báo nước Anh đã tiến hành phân tích về hiện tượng này, đồng thời hình dung những hình tượng phụ diện này đã thấm vào máu của người Trung Quốc, khiến cho tính cách của họ biến đổi thành quái dị.

người Trung Quốc
Báo Anh có bài phân tích kỹ về “tính cách đói khát” của người Trung Quốc (Ảnh minh họa từ internet)

Mới đây, Thời báo Tài chính (Financial Times) của Anh đã đăng một bài viết có tựa đề “Tính cách đói khát của người Trung Quốc”, bài viết chỉ ra, gốc rễ của hiện tượng này chính là do cải cách ruộng đất tại Trung Quốc Đại lục thời cận đại, công ty hợp doanh tư nhân – nhà nước, “Cách mạng Văn hóa”, đến việc bức hại các doanh nhân tư nhân, công khai cướp đoạt tài sản của tư nhân trong thời đại Bạc Hy Lai, rồi đến cuộc vận động các các công ty quốc hữu đầu tư cổ phần, đều đang khiến cho tâm lý bạo dân của người dân phát triển.

Thêm việc xã hội rối loạn trong thời gian dài, cái bóng của đói khát phát huy tác dụng, trong tâm của người ta đã lên một dấu ấn rất sâu, nó đã dần dần thay đổi hành vi của người Trung Quốc. Xã hội Trung Quốc dưới sự thống trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), đang hình thành hình tượng người Trung Quốc xấu xí trên toàn thế giới.

Bài viết chỉ ra, cái gọi là “tính cách đói khát”, chủ yếu biểu hiện ở chỗ chỉ biết “chiếm hữu”, nếu như không thể chiếm hữu nhiều hơn một chút, thì sẽ cố sức phá hoại. Đối với cá thể mà nói đặc trưng tâm lý thể hiện ra rõ như sự nóng giận, tham lam, keo kiệt, hèn nhát, tàn bạo, v.v.

Bài viết lấy ví dụ nhân viên trong một doanh nghiệp của Trung Quốc. Công ty đã hỗ trợ tiền ăn trưa cho nhân viên, một số công nhân mới đầu chỉ lấy phần của mình, nhưng dần dần, từ cẩn thận dè dặt đã biến thành tham lam cực độ, càng ngày càng lấy nhiều. Mới đầu họ còn ra vẻ ngại cùng, lén lút, về sau thì công nhiên cướp thức ăn, cảm thấy bản thân nên ăn nhiều hơn, chiếm nhiều hơn.

Ngoài việc tham lam trong ăn uống, ngay cả đi vệ sinh cũng bộ dạng như vậy. Mỗi lần công nhân đi vào nhà vệ sinh, liền sử dụng giấy vệ sinh dài đến 2 mét, hành động này khiến cô dọn vệ sinh cũng phải lắc đầu ngao ngán, “tại sao họ lại không biết xót của”.

người trung quốc
Công nhân sử dụng giấy vệ sinh dài đến 2m (Ảnh từ internet)

Đối với hiện tượng này, bài viết giải thích, “những gì có để ăn được, có thể đưa vào miệng, tuyệt đối không để cho người khác; không đem được về nhà, thì liền lãng phí không kiêng nể gì”.

Tại các công ty Trung Quốc đều liên tục xuất hiện tình huống tương tự, càng không cần nói đến nơi công cộng lạ lẫm. Bài viết chỉ ra, dù là ăn cơm trợ cấp hay sử dụng “dịch vụ xe đạp dùng chung”, đều có thể thấy được dáng vẻ không biết nhục và tham lam của người Trung Quốc. Mỗi người vốn có đều có phần của mình, cuối cùng không cách nào thực hiện được cách này (chỉ lấy phần của mình). Nguyên nhân chủ yếu là họ cảm thấy đây là tiền do công ty chi trả, không phải tự mình bỏ tiền túi ra; còn đối với người quản lý mà nói, chỉ cần duy trì được sự hòa hợp và trật tự bề ngoài, họ không thèm để ý đến hành động biển thủ tranh giành lợi lộc thực tế.

Bài viết hình dung, loại “tính cách đói khát” này đã thấm vào máu người Trung Quốc, nó khiến cho người Trung Quốc biến đổi thành kỳ dị, phá hoại bầu không khí sinh tồn của mỗi con người.

Không ít bạn bè nước ngoài sau khi đọc bài viết đã than thở, họ thường xuyên đọc được tin tức nói người Trung Quốc tranh nhau mua đồ khi ở nước ngoài. Trong đó có: túi may mắn Fukubukuro ở Nhật Bản, sữa bột hoặc tã ở châu Âu và Úc, còn có thịt đùi lợn muối và hun khói jamón ibérico ở Tây Ban Nha. Điều không thể ngờ là, mục đích của người Trung Quốc khi tranh nhau mua những sản phẩm ở nước ngoài lại không phải là để cho bản thân dùng, mà là để bán lại. Do đó mới khiến cho người dân địa phương thấy phản cảm.

người trung quốc
Những hành vi xấu xí của người Trung Quốc ở nước ngoài không hiếm gặp trên báo chí (Ảnh từ internet)

Còn cư dân mạng tại Trung Quốc Đại lục lại chỉ biết tự hỏi, người Trung Quốc biến thành như vậy từ khi nào?

Nhà bình luận chính trị, tác gia Trần Phá Không (Chen Pokong) hiện trú tại Mỹ từng nói thẳng, hình tượng người Trung Quốc hiện nay và nền văn minh lâu đời, đất nước của lễ nghĩa đã khác rất xa, nguyên nhân chủ yếu là do thể chế của Đảng Cộng sản Trung Quốc tạo thành. Ông cho rằng, người Trung Quốc Đại lục ngày nay là vật hy sinh dưới thể chế của ĐCSTQ.

Tác giả nhiều bài viết trên mạng Hồng Minh (Hong Ming) cũng từng có bài viết chỉ ra, “khi lễ giáo thuần chính của Trung Quốc bị gọi là ‘lễ giáo phong kiến’ để đả kích, những thứ bị hủy hoại là tinh hoa của văn hóa dân tộc Trung Hoa và gốc rễ của xã hội”, “ĐCSTQ đã thay đổi tiêu chuẩn thiện ác của người Trung Quốc; khi sở thích trong sạch của người ta bị giai cấp vô sản lấy làm ‘tư tưởng giai cấp tư sản” và bị ‘nhuốm đầy bùn’ và được thay thế bằng sự ‘sạch sẽ’, người Trung Quốc chính là đã mất đi tiêu chuẩn xấu đẹp.”

Ông nói: “Tôi thường cảm thấy đau khổ vì điều này. Mấy ngàn năm qua, Trung Quốc được gọi là “đất nước của lễ nghĩa”, là hình mẫu của các nước xung quanh, từ xưa đến nay, bao nhiêu dân tộc đã đến Trung Quốc để học tập. Ngày nay lễ tiết của người Nhật Bản, Hàn Quốc đều được người ta biết đến rộng rãi, nhưng rất ít người nghĩ đến, thực ra đều là truyền thừa từ văn hóa Trung Quốc.”

Tuyết Mai

Nguồn: https://trithucvn.net/trung-quoc/bao-nuoc-anh-noi-ve-tinh-cach-doi-khat-cua-nguoi-trung-quoc.html

Ông Trần Huỳnh Duy Thức được trả tự do thì đem lại lợi ích gì cho đất nước?

26/05/2018

Ông Trần Huỳnh Duy Thức được trả tự do thì đem lại lợi ích gì cho đất nước?

 

 

LS Ngô Ngọc Trai

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2018/05/THDT-2-300x225.jpg

     Ngày 24/5/2018 là tròn 9/16 năm ông Trần Huỳnh Duy Thức bị xử án tù. Ảnh: internet

Hôm nay là tròn 9 năm kể từ ngày ông Thức bị bắt giam, trong khi những bị cáo khác trong cùng vụ án chỉ bị 3 rưỡi, 5, 7 năm tù và đều đã được giảm án trả tự do thì ông Thức chịu mức án tới tận 16 năm tù.

Nay tôi chia sẻ như vầy:

Vấn đề nhân quyền của Việt Nam giống như vấn đề vũ khí hạt nhân của Triều Tiên, đều đang là cái gây cản trở cho các hoạt động thương mại đầu tư giữa Việt Nam, Triều Tiên và các nền kinh tế lớn như Mỹ, Châu Âu. Mà nếu tháo gỡ đi thì sẽ đem lại lợi ích rất nhiều cho đất nước.

Chúng ta biết rằng Việt Nam hiện nay đang mở cửa kinh tế, hội nhập ngày càng sâu vào môi trường thế giới; mới đây VN còn góp quân đi tham gia gìn giữ hòa bình với Liên Hợp Quốc ở Nam sudan.

Nhưng sự hội nhập và phát triển của VN còn chưa hết tiềm năng, đáng ra có những việc chúng ta có thể làm được giúp cho đất nước phát triển mau chóng hơn, người dân được phát triển thịnh vượng hơn. Có một rào cản ngăn cản chúng ta đạt được điều đó, đó là do giữa VN và nhiều nền kinh tế lớn còn có sự bất đồng về vấn đề nhân quyền, về các quyền tự do dân chủ mà người dân được hưởng.

Với các nền kinh tế lớn như Mỹ, Châu Âu thì các hoạt động kinh tế thương mại của đất nước họ lại gắn liền với các giá trị tự do dân chủ mà họ cổ xúy, họ cho rằng sự thịnh vượng quốc gia bắt đầu từ tự do cá nhân và thương mại tự do, đây là những giá trị mà thực ra đã trở thành phổ quát được luật hóa thành luật pháp quốc tế rồi.

Họ sẽ khó đặt niềm tin vào quốc gia mà họ cho rằng còn chưa tuân thủ luật pháp quốc tế và do vậy làm mất đi những cơ hội thương mại đầu tư (luật pháp quốc tế bao gồm các công ước quốc tế ví như Công ước quốc tế về nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên Hợp Quốc).

Do vậy, nếu VN chúng ta cho thấy nước mình là một thành viên có trách nhiệm, tôn trọng luật pháp quốc tế, các giá trị phổ quát thì các nước họ sẽ yên tâm làm ăn với một đất nước có ý thức như vậy. Họ sẽ mở rộng các phạm vi giao thương, phát triển đối tác đầu tư lâu dài, thay vì thương mại theo sự vụ ngắn hạn vì thiếu sự tin cậy lẫn nhau.

Hãy hình dung xem nếu Triều Tiên khi tuân thủ luật pháp quốc tế giải trừ vũ khí hạt nhân thì đất nước sẽ hưởng lợi về kinh tế thương mại đầu tư thế nào, nhân dân sẽ hưởng lợi ấm no như thế nào?

Cho nên mọi người cần nhìn ra vấn đề. Ở VN chỉ còn vấn đề nhân quyền thực sự là chướng ngại không đáng có, rất đáng tiếc, làm giảm đi cơ hội được phát triển phú cường của nhân dân.

N.N.T.

Nguồn: FB Ngô Ngọc Trai

SỐ PHẬN BS DƯƠNG QUỲNH HOA

Bà Dương Quỳnh Hoa sinh ngày 06/3/1930 tại Sài Gòn trong một gia đình trí thức giàu có, uy tín và danh giá ở miền Nam. Bà là cựu học sinh trường Chasseloup Laubat Sài gòn (nay là trường Trung học Lê Quý Đôn) và đỗ tú tài vào năm 1947.

Sau đó bà Hoa theo học y khoa tại Sài Gòn rồi sang Pháp năm 1948 học tiếp và đỗ bác sĩ năm 1953. 
Năm 1954 bà tốt nghiệp bằng chuyên ngành nhi khoa và sản phụ khoa. Tại Pháp bà Hoa đã liên lạc với đảng Cộng Sản Pháp và tham gia hoạt động tại đây trong những năm 1948-1954. 
Cũng trong năm 1954, bà Hoa trở về Sài Gòn và tham gia hoạt động cho đảng Cộng Sản tại miền Nam. 
Bỏ ngoài tai mọi cản ngăn,góp ý của gia đình và bạn bè, để lại phía sau mọi phú quý vinh hoa, bà quyết tâm theo kháng chiến.
Tháng 12/1960, Bà trở thành một thành viên sáng lập của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN. (MTDTGPMN) dưới bí danh Thùy Dương, 
Năm 1969 bà Hoa là bộ trưởng Bộ Y Tế của Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam.
Sau ngày 30/4/1975, bà Dương Quỳnh Hoa tiếp tục giữ chức bộ trưởng trong “Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam”.

Dương Quỳnh Hoa
Nhưng đến tháng 7/1975 “bức bình phong” này bị đảng Cộng Sản giải tán vì hết “nhiệm vụ lịch sử”. Nhiều thành viên trong mặt trận này cũng bị vô hiệu hóa, thất sủng và chỉ được giao những nhiệm vụ hình thức mà không có quyền lực thực sự.
Nói về bà Dương Quỳnh Hoa, đài BBC đã dẫn lời những người như Trương Như Tảng( Bộ trưởng Tư pháp CPCMLTCHMNVN) người sau này vượt biên năm 1978,sống lưu vong ở Pháp. 
Ông Tảng cho rằng những đóng góp và vị trí của họ đã không được thừa nhận đầy đủ sau chiến tranh. Cũng như vấn đề hoà hợp ,hoà giải dân tộc không được thực thực hiện.
Sau 1975, Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa tỏ ra thất vọng vô cùng, bà bất đồng ý kiến với chính phủ Hà Nội. Bất đồng về chính sách nói chung, và nhất là về chính sách đối với miền Nam. 
Bà ấy không chịu đứng trong danh sách những ứng cử viên vào quốc hội sau 1975.
Chính phủ Hà Nội khi ấy đề nghị bà ra HN để nhận chức vụ thứ trưởng Bộ Y Tế, nhưng bà Hoa từ chối.
Vào khoảng cuối thập niên 70, Bà đã trao đổi cùng Ls Nguyễn Hữu Thọ: ”Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả”. Và bà đã xin ra khỏi Đảng.
Đến năm 1979, Bà chính thức từ bỏ tư cách đảng viên và chức vụ Thứ trưởng.
Theo lời kể của một số người, thủ tướng Việt Nam khi đó, ông Phạm Văn Ðồng, đã nói chuyện với bà.
Bà ấy trực tiếp đề nghị với Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng về việc xin ra khỏi Ðảng. Theo bà Hoa kể lại , ông Phạm Văn Ðồng hỏi lại bà ấy: Chị suy nghĩ kỹ chưa về những hậu quả của việc này?”
Bà Hoa nói bà nghĩ kỹ, và sau khi bàn bạc với ban lãnh đạo, ông Ðồng mới nói đồng ý, “Nhưng với một điều kiện rất quan trọng, là bà chỉ được nói công khai việc ra khỏi đảng 10 năm kể từ khi bà nộp đơn,” 
Dĩ nhiên là Đảng không hài lòng với quyết định nầy; nhưng vì để tránh những chuyện từ nhiệm tập thể của các đảng viên gốc miền Nam, họ đề nghị Bà sang Pháp.. Nhưng sau cùng, họ đã lấy lại quyết định trên và yêu cầu Bà im lặng trong vòng 10 năm.
Mười năm sau đó, sau khi được “phép” nói, Bà nhận định rằng : 
”Trong chiến tranh, chúng tôi sống gần nhân dân, sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, Đảng đã xem nhân dân như là một kẻ thù tiềm ẩn.”
Và khi nghe tin bức tường Berlin sụp đổ, Bà nói: “Đây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại.”
Năm 1989,bà trả lời phỏng vấn phóng viên Morley Safer, của đài truyền hình CBS .Những lời phỏng vấn đã được ghi lại trong cuốn sách của ông dưới tựa đề Flashbacks on Returning to Việt Nam do Random House, Inc. NY, 1990 xuất bản.

Morley

Qua đó, một sự thật càng sáng tỏ là con của Bà, Huỳnh Trung Sơn bị bịnh viêm màng não mà không có thuốc để chữa trị khi còn ở trong bưng và đây cũng là một sự kiện đau buồn nhất trong đời Bà. Cũng trong cuốn sách vừa kể trên, Bà cũng đã tự thú là đã sai lầm và phí phạm cuộc đời mình. 
Những năm sau 1975 đó, với trái tim nhân hậu yêu trẻ và cũng muốn giúp ích cho đời, Bà thành lập Trung tâm Nhi khoa, kêu gọi thiện nguyện từ bạn bè và các tổ chức phi chính phủ ở Âu,Mỹ viện trợ thuốc men, thiết bị y tế..để chăm sóc, điều trị cho bệnh nhi nghèo và tàn tật ở miền Nam…. Và cũng lắm chuyện làm khổ tâm bà từ việc này, đến từ phía nhà cầm quyền.
Ngôi nhà với gần 1.000 mét vuông, hai mặt tiền ở đường Nguyễn Thị Minh Khai và Bà Huyện Thanh Quan, quận 3, TP.Hồ Chí Minh (đối diện công viên Tao Đàn, quận 1), vốn là của Gs Dương Minh Thới và bà Hà Thị Ngọc..( Cha & mẹ Bà). 
Bà để lại di chúc cho chồng, cũng là đồng chí hoạt động chung (Gs Huỳnh Văn Nghị)
Bs Dương Quỳnh Hoa qua đời ngày 25/02/2006, khép lại cuộc đời bất hạnh và lặng lẽ của một nữ trí thức tài hoa, tiêu biểu ở miền Nam đi theo kháng chiến.
Những dòng tin ngắn trên báo, không ai vinh danh, cũng không ai nhắc Bà đã từng là …Bộ trưởng.
Vòng vo, biến cố, tranh tụng…chẳng biết thế nào, mà cuối cùng lại có “di chúc” ông Nghị hiến cho Nhà nước cả kho đồ cổ vô giá mà sinh thời cha mẹ và cả bà trân quý, tâm huyết.
Theo đó, Bảo tàng TP kiểm kê và mang đi bộ sưu tập gồm 3.360 hiện vật thuộc các chất liệu: kim loại (sắt, đồng, bạc, ăngtimoan), đá (sa thạch, đá bán quý), thủy tinh, giấy, gỗ, vải, ngà, xương, sừng, gốm sứ, đất nung…; nhiều dạng: đồ trang sức, vật dụng gia đình, tác phẩm mỹ thuật…

Đồ cổ của Dương Minh Thới1

đồ cổ Dương Minh Thới

đồ cổ Dương Minh Thới4

Trong đó có 2.976 hiện vật là cổ vật và di vật có niên đại từ 2.500 năm cách ngày nay đến đầu thế kỷ 20, có nguồn gốc từ Việt Nam, các nước châu Á như Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia, Nhật Bản; các nước phương Tây: Ðức, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ. Số còn lại là đồ thủ công mỹ nghệ mới sản xuất./

THƯ NGỎ VỀ XUẤT BẢN TIỂU THUYẾT CHIẾN TRANH VIỆT NAM Ở HẢI NGOẠI 

   THƯ NGỎ VỀ XUẤT BẢN TIỂU THUYẾT CHIẾN TRANH VIỆT NAM Ở HẢI NGOẠI 

        Nhà văn Phạm Ngọc Thái tại Hà Nội, Việt Nam 

pham ngoc thai

  mới viết hoàn thành một bộ tiểu thuyết 2 tập với tên đề “Chiến tranh và tình yêu”

      (Tổng cộng dầy khoảng 600 trang sách xuất bản)

 Tác giả cũng là một CCB đã từng tham gia trong cuộc chiến tranh đánh Mỹ ở miền Nam VN.

Theo bản thân tác giả đánh giá: tác phẩm hay và quí – vì có tính dã sử:

Không chỉ phục lại một số trận đánh điển hình ở Tây nguyên, Nam Bộ đến ngày hoàn toàn chấm dứt chiến tranh (1968 đến 1975 ), và tóm bắt toàn cục đến hết chiến tranh 30/4/1975 – đồng thời theo nhân vật trong truyện
– tiểu thuyết còn phục lại cả cuộc chiến tranh phá hoai bằng không quân Mỹ đánh ra miền Bắc – 12 ngày đêm thảm khốc 1972:

  B52 Mỹ đánh vào Hà Nội, để biến thủ đô Hà Nội trở về thời kì đồ đá.

   (Phục lại những cuộc đánh điển hình như: trận B52 oanh kích, ném bom vào bệnh viện Bạch Mai – và phố Khâm Thiên 26/12/1972)

     Cho tới khi kí Hiệp định Paris về Việt Nam tháng 1/1973 – và giải phóng miền nam 30/4/1975

       (Quan điểm của tác giả: trung thành với lịch sử, khách quan với thời cục và xã hội lúc đó)

        Tiểu thuyết nhằm lên án chiến tranh và kẻ gây ra chiến tranh – cuối tiểu thuyết thể hiện thái độ hòa hợp dân tộc.

   Mong muốn của tác giả để lại cho hậu thế “Bộ tiểu thuyết lịch sử” – hiện trạng cả một thời kì chiến tranh đánh Mỹ ở Việt Nam.

Tác giả tin, nếu tiểu thuyết được xuất bản ở hải ngoại, sẽ được nhiều độc giả hâm mộ.
– Nếu có dịch giả dịch ra tiếng Anh,hoặc tiếng nước khác tùy theo khả năng – nhu cầu của dịch giả và người xuất bản,

  để xuất bản song ngữ thì rất tuyệt!

– Nếu cá nhân hoặc nhà xuất bản tiếng Việt, hay một tổ chức nào… ở hải ngoại

có khả năng xuất bản tiểu thuyết “Chiến tranh và tình yêu” (2 tập) đó, để phát hành ở hải ngoại…

  xin liên hệ trao đổi với nhà văn Phạm Ngọc Thái – khi đó tác giả sẽ gửi bản thảo tiểu thuyết qua đường email  đến cho các quí vị, để các quí vị thẩm định và tiến hành xuất bản

                                                                          Hà Nội, 2018

                                                                      Phạm Ngọc Thái

  – Liên hệ tác giả:

                                            PHẠM NGỌC THÁI
NR:       Ngõ 194/ nhà 34, phố Quán Thánh, Hà Nội
DĐ:       0168 302 4194
Email:   ngocthai1948@gmail.com

Tác phẩm đã xuất bản 2014:

nhiều tác giả

 

Mây thẻ