"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

SƠ CỨU NẠN NHÂN

ĐÔI LỜI TÂM SỰ

Còn gì hối hận cho bằng khi ta nhìn thấy người bị nạn chết dần trước mắt ta mà ta bó tay,  bởi vì không biết cách cứu họ !

Xin bạn bớt chút thời gian đọc và ghi nhớ cẩm nang bỏ túi sau đây.

SƠ CỨU NGƯỜI BỊ NẠN

9 TRƯỜNG HỢP SOS:

  1. NGHẸT THỞ
  2. CHẢY MÁU
  3. TRẦY XƯỚC, VẾT THƯƠNG MỞ
  4. BỎNG / PHỏNG
  5. VẾT THƯƠNG MẮT
  6. VẾT THƯƠNG MŨI VÀ TAI
  7. Bị CÔN TRÙNG, ĐỘNG VẬT CắN
  8. GÃY XƯƠNG, CĂNG CƠ
  9. CẤP CỨU NGƯỜI ĐUỐI NƯỚC

 Bài 1: NGHẸT THỞ

  1. Hô hấp nhân tạo: Người lớn và Trẻ em bị ngạt, tắc thở

1.1  Hệ hô hấp gồm:

Khoang mũi và miệng

Khí quản (khí đạo) đường thở

Hai lá phổi

1.2  Nguyên nhân tắc nghẽn hô hấp

Có dị vật cứng, thức ăn hoặc chất lỏng chặn đường hô hấp. Có khi uống nước có cồn, kích động cưỡi giỡn, ăn quá nhanh, chạy nhảy chơi đùa…hoặc mang răng giả không ước chừng đúng kích thước đồ ăn.

Hậu quả sẽ tắt thở và hôn mê.

1.3.  Hai loại tắc nghẹn thở và biện pháp chữa:

Tắc nghẽn  một phần.

Nạn nhân hai tay ôm cổ, không nói được…,cố gắng ho…

Cấp cứu: Nói với nạn nhân (người lớn) rằng bạn sẽ giúp họ.

Nhanh chóng lấy vật đó ra. Nếu chưa lấy được, thổi ngạt để giữ khỏi tắt thở (hơi đi qua dị vật, tạm giữ được sự sống).

Biện pháp ấn bụng (biện pháp Heimlich): Bạn đứng ngay sau lưng nạn nhân, hai chân đứng giữa hai gối nạn nhân, vòng hai cánh tay qua eo. Một tay nắm đấm, ngón cái áp vào bụng nạn nhân ở vị trí dưới xương sườn và trên rốn. Bàn tay còn lại nắm chặt bàn tay kia, nhấn nhanh đột ngột theo hướng từ dưới lên trên, giữ lực nhấn lên đôi bàn tay…

Lặp lại cho đến khi tống được dị vật ra.

 Tắc nghẽn toàn phần.

Thở khò khè, rất yếu, không ho được, thậm chí bất tỉnh.

Bạn kêu to:“Giúp tôi với” gọi thêm người khác. Nhờ người gọi điện  cho Y tế.

Thay đổi tư thế nạn nhân: nằm ngửa, ngửa đầu. móc dị vật trong miệng ra.

Bạn ngồi quỳ bên cạnh, cúi xuống bịt mũi nạn nhân, thổi 02 hơi vào miệng.

Nhấn bụng nạn nhân 6 đến 10 lần.

(Lặp lại 3 lần đến khi nạn nhân tỉnh lại)

 

SƠ CỨU TRẺ EM TẮC THỞ

TRẺ DƯỚI 01 TUỔI

Xem có dị vật trong miệng không, nếu thấy, dùng ngón tay út móc ra.

Vỗ lưng và nhấn ngực:

Đặt trẻ úp mặt lên cẳng tay của bạn, đặt cẳng tay đó lên đùi bạn góc nghiêng 60 độ (đầu trẻ thấp hơn chân, đầu hướng về đầu gối bạn). Dùng một bàn tay vỗ đủ mạnh, nhanh 05 cái lên vùng lưng giữa hai bả vai trẻ.

Nếu trẻ chưa thở được, hãy lật ngửa bé sang cẳng tay bên kia, dùng hai ngón tay ép lên ngực nhanh 05 cái vào chỗ giữa hai núm vú trẻ.

Luân phiên vỗ lưng, nhấn ngực cho đến khi đẩy được dị vật ra, trẻ thở lại được.

TRẺ TRÊN 01 TUỔI

Nếu trẻ còn thở, khuyến khích bé ho.

Nếu trẻ ngừng thở, thực hiện ngay biện pháp Heimlich (nói trên).

Lặp lại 10 lần, cố gắng ép toàn bộ hơi trong bụng đẩy dị vật ra khỏi đường thở.

* Nếu trẻ quá nặng, bạn đặt trẻ nằm ngửa trên sàn, đặt cả hai bàn tay lên bụng trẻ, phía dưới xương sườn, trên rốn, nhấn nhanh đột ngột dưới lên / hoặc thủ thuật nhấn ngực.

Hô hấp nhân tạo cho Trẻ  sơ sinh hoặc trẻ nhỏ bất tỉnh

Nhanh chóng mở miệng trẻ xem có dị vật không.

Hồi sức hô hấp bằng miệng áp miệng (thổi ngạt). Hơi thở tạm thời đi qua dị vật, sau sẽ móc ra trong khi chờ y tế cấp cứu.

Nếu chưa có kết quả, hãy nhấn bụng hoặc ngực. Nếu thấy lồng ngực nhô lên là được.

CHỨNG VIÊM TẮC THANH QUẢN (cổ họng)

Trẻ nhỏ ban đêm sinh bệnh, ho như tiếng chó sủa, có thể kèm theo sốt.

Dỗ dành an ủi trẻ nhỏ. Có thể để trong phòng có hơi nước ấm hoặc đặt trước tủ lạnh mở cửa. Nếu trẻ không nuốt được, chảy rãi, ngồi chống tay về phía trước, cần đưa ngay đến bệnh viện.

       BÀI 2. CHẢY MÁU

Vòng tuần hoàn máu gồm:

+ Hệ động mạch

+ Hệ tĩnh mạch

+ Hệ mao mạch

CHẢY MÁU

–         Máu chảy ra ngoài

–         Chảy máu trong cơ thể

–         Có 3 nơi chảy máu: chảy động mạch, chảy tĩnh mạch và chảy mao mạch

Chảy động mạch: máu vọt mạnh, đỏ tươi

Chảy tĩnh mạch: chảy yếu hơn, đỏ xẫm,  dễ kiểm soát hơn

Chảy mao mạch: chảy chậm, dễ bị nhiễm trùng.

 

 Các loại vết thương mở:

–         Vết trầy xát, do bị cọ xát

–         Vết thương rách, cắt

–         Vết thương rách tét.

–         Vết thủng lỗ

–         Cắt cụt

–         Vết va đập (dập)

 

SƠ CỨU CHẢY MÁU

+ Cầm máu

+ Ngăn nhiễm trùng

+ Ngăn tình trạng sốc

 

 Sơ cứu

Rửa sạch hai tay, đeo găng

Dùng băng sạch, băng thun buộc lại

(Rửa vết thương nhỏ bằng xà phòng và nước trước khi băng kín.

Không nên rửa vế thương lớn vì sẽ gây chảy máu nhiều hơn).

Nếu còn  chảy máu, băng  thêm đè lên trên

Nếu vẫn còn chảy máu (bạn nghĩ xương không gãy) đưa cao chỗ bị thương hơn vị trí tim và tiếp tục băng đè lên.

Bước cuối cùng là băng ép (thun ép)

Bắt mạch nạn nhân.

 

CHẢY MÁU TRONG

Dấu hiệu: Bầm tím, phù nề, bụng căng cứng

Ói ra máu.

Chảy máu hậu môn / âm đạo.

Mạch đập bất thường, khó thở

 

TAI BIẾN TIM VÀ CÁCH CấP CứU.

 

Ngưng tim đột ngột gây nên tử vong, biết hô hấp nhân tạo thì khả năng cứu sống nạn nhân gấp đôi.

75% nạn nhận bị tại biến ở nhà.

Đàn ông bị nạn thường ở độ tuổi trên 60, nhiều gấp đôi phụ nữ.

 

(Chưa có trường hợp nào lây nhiễm HIV do hô hấp miệng- miệng”)

 

Ngừng tim là do tim biến chuyển từ nhịp tim bình thường sang RUNG THẤT.

Rung thất cần phải được phá rung, bằng sốc điện. Hô hấp nhân tạo CUNG CẤP LƯỢNG MÁU GIÀU OXY lên não, có thể kéo dài thời gian cho đến khi PHÁ RUNG được thực hiện.

 

Nếu hô hấp nhân tạo được làm trong vòng 04 phút sau khi bị trụy tim, đánh phá rung trong vòng 10 phút thì khả năng cứu sống cao.

 

CẤP CỨU

Quỳ bên cạnh nạn nhân nằm ngửa.

Bịt mũi nạn nhân, thổi vào miệng hai lần.

Nếu chưa kết quả, áp dụng nhấn bụng Heimlich.

Kiểm tra mạch máu: lấy tay sờ động mạch cảnh ở cổ, khoảng 10 giây.

+ Nếu thấy còn mạch mà ngưng thở, hãy thổi ngạt cách mỗi 5 giây (hoặc 12 lần/ phút).

+ Nếu không có mạch đập, hãy nhấn ngực như sau:

Quỳ bên cạnh nạn nhân. Đặt một cườm tay (gót tay) lên phần dưới xương ức nạn nhân, bàn tay kia chồng lên tay này và đan xen các ngón với nhau, nhấn thẳng góc xuống xương ức cách 3-5 cm. (tốc độ 80-100 lần/ phút). Cứ 30 lần nhấn ngực xen 02 lần thổi ngạt.

 

Kiểm tra mạch đập.

Có thể xoa bóp tim ngoài lồng ngực.

Liên tục thổi ngạt, nhấn ngực cho đến khi bạn kiệt sức.

 

TRẻ 8 TUổI, CÁCH CHỮA NHƯ VỚI NGƯỜI LỚN.

TRẺ NHỎ HƠN (1-8 tuổi), tùy theo dáng vóc của bé.

+ Thổi ngạt: áp miệng của bạn vào miệng + mũi của bé.

Chỉ dùng hơi trong khoang miệng của bạn để thổi (hạn chế dung lượng khí).

Kiểm tra mạch ở vùng khuỷu tay trẻ (động mạch cánh tay).

 

+ Nhấn ngực;

Đặt hai ngón tay lên xương ức và dưới điểm giữa nối hai đầu vú, nhấn nhẹ và nhanh.

Xoa bóp tim ngoài lồng ngực.

 

BÀI 3 . TRẦY XƯỚC, VếT THƯƠNG MỞ

 

Rửa chùi sạch các dị vật trên vết thương bằng nước pha xà phòng.

Nếu chảy máu thì băng ép lên vết thương với băng không dính, nếu vết thương nhỏ thì để hở vết thương sẽ mau khỏi.

 

Theo dõi xem có nhiễm trùng không (rỉ nước vàng, sưng đỏ, nóng quanh vết thương)

Rửa vết thương với xà phòng và nước 3-4 lần/ ngày hoặc bất cứ lúc nào thấy vết thương dơ.

 

BÀI 4. BỎNG / PHỎNG

 

Bỏng do tiếp xúc hơi nóng, nước nóng, hoá chất, dòng điện hoặc tia bức xạ.

Tình trạng nghiêm trọng tùy theo độ sâu, độ rộng và vị trí bỏng.

Bỏng nặng nhất là vùng mặt, cổ, bàn tay, bàn chân và bộ phận sinh dục.

Lưu ý vệt bỏng lan rộng hoặc kèm theo tổn thương khác.

 

4.1 NGUYÊN NHÂN BỎNG

+ Bất cẩn khi dùng bật lửa, hộp quẹt và thuốc lá

Bỏng do nước nóng và chất lỏng khác.

Hơi nóng bếp nấu nướng và thiêt bị điện

Sử dụng chất acid, chất kiềm

Lửa cháy gây bỏng và suy hô hấp

 

4.2 VẾT BỎNG

CẤU TRÚC DA: 1. LỚP BIỂU BÌ . 2 LỚP BÌ . 3 LỚP HẠ BÌ

 

03 mức độ bỏng

Bỏng độ 1: Ít nghiêm trọng, da ửng đỏ, hơi phồng, đau rát.

Bỏng độ 2: Vết bỏng sâu, đỏ lốm đốm, bọng nước (do cháy nắn, cháy xăng, dầu.

Nạn nhân cảm thấy đau nhất.

Bỏng độ 3: Bỏng sâu nhất, mảng trắng hoặc cháy đen.

(do cháy quần áo, lửa cháy, dòng điện, chạm vật nóng…)

 

Phỏng độ 3 chỉ đau nhẹ.

Đưa đến cơ sở y tế.

Nạn nhân mất nhiều dịch cơ thể nên có thể bị sốc.

Giúp nạn nhân nằm xuống.

Nâng cao vùng bị bỏng.

Giữ ấm cơ thể tránh sốc.

 

Sơ cứu: Bỏng độ 1 và 2: đặt vết bỏng dưới dòng nước chảy liên tục.

Đắp gạc ẩm và băng lỏng.

Bỏng độ 2 kèm vỡ bọng nước và độ 3 thì đắp gạc khô và băng lỏng.

Không dùng nước đá đè trực tiếp lên vết bỏng.

Không dùng kem hay thuốc mỡ bôi lên vết bỏng (nhiều người sai lầm khi bôi kem và thuốc mỡ).

Không làm vỡ các bọng nước.

 

4.3  BỎNG HÓA CHẤT

Dùng vòi nước lạnh rửa trôi hoá chất liên tục 15-30 phút. Cởi quần áo, trang sức dính hóa chất.

Băng lỏng vết thương với băng khô.

Theo dõi tình trạng sốc

 

4.4 . BỏNG DÒNG ĐIệN

Không chạm tay vào nạn nhân, ngắt nguồn điện trước, gọi ngay cty điện lực.

Xem nạn nhân còn vết bỏng khác không.

Chú ý: nạn nhân có thể còn bị ngưng tim do sốc điện. Vậy phải hô hấp ngưng tim kèm với lo vết bỏng.

Băng vết bỏng với băng khô, nới lỏng.

 

  BÀI 5. VẾT THƯƠNG MẮT

Cấu trúc mắt mỏng manh dễ tổn thương, có thể dẫn đến mù lòa.

Nguyên nhân: vật lạ, hoá chất, bụi bặm hoặc bị ma xát làm trầy xước mắt.

Mặt bị đỏ, nóng rát, đau xót, nhức đầu, chảy nước mắt.

 

SƠ CỨU

Bạn rửa tay trước khi chạm vào mắt.

Thật nhẹ nhàng làm trôi dị vật ra, băng lỏng cả hai mắt (kể cả mắt bình thường vì nó hoạt động ảnh hưởng mắt bị đau). Nếu cần úp một cái ly giấy lên mắt rồi hãy băng…

An ủi nạn nhân.

Gọi điện nhờ y tế giúp.

Nếu bị bỏng hóa chất, hãy rửa mắt liên tục khoảng 15-30 phút. Sa đó băng lỏng cả hai mắt. Chú ý đường thở thông thoáng, theo dõi hô hấp.

 

 BÀI 6. VẾT THƯƠNG MŨI VÀ TAI

Chảy máu mũi (máu cam) nặng có thể làm nạn nhân sợ hãi.

Nguyên nhân khác nhau:

Tổn thương vùng đầu, cổ hoặc lưng,

Tăng huyết áp do vận động thể lực mạnh,

Cảm lạnh khi thay đổi vĩ tuyến, độ cao và thay đổi thời tiết.

  1. Nếu nghi ngờ đầu, cổ, lưng chấn thương, đừng cầm máu mũi , mà giữ yên nạn nhân và cố định phần đầu và cổ.
  2. Nếu không nghi chấn thương đầu cổ, hãy cầm máu cho nạn nhân. Cho nạn nhân ngồi, hơi cúi đầu, cằm hướng vào lồng ngực. Kẹp kín mũi lại.

 

LƯU Ý

Trẻ con thường nhét đồ vật vào tai và mũi.

Bạn cố gắng nhẹ nhàng lấy dị vật ra, không dùng vật sắc nhọn.

Côn trùng lọt vào tai, bạn hãy rót nước ấm vào tai cho nó nổi lên.

Nếu chưa kết quả, hãy đưa nạn nhân đến bệnh viện.

Thủng màng nhĩ: băng nhẹ tai lại để tránh nhiễm trùng. (khi chưa lành vết thương, tránh lội nước và thể thao dười nước).

 

  BÀI 7.  CÔN TRÙNG, ĐỘNG VẬT CẮN

 

VẾT CẮN, ĐỐT CÓ THỂ NGUY HIỂM TÍNH MẠNG DO PHẢN ỨNG CHẤT ĐỘC NẶNG.

 

Dấu hiệu: nạn nhân đau, phù nề cổ họng. Da đỏ, mất màu da chỗ cắn, ngứa, nổi mẩn.

Khó thở, thở khò khè. Bị sốc.

 

Sơ cứu:

Cố gắng lấy ngòi đốt (chích) ra khỏi da. Không nắn bóp, hãy dùng zíp gắp, rút ra. Hoặc cạo tróc nó đi bằng vật như thẻ ATM, thẻ tín dụng…

Rửa sạch bằng xà phòng và nước.

Đặt túi chườm lạnh lên vùng bị đốt, bảo vệ da bằng một miếng vải sạch ngăn giữa túi chườm nước đá và da.

Đặt nạn nhân nằm dưới mức tim, hạn chế chất độc di chuyển nhanh.

Nếu nặng cần chuyển đi y tế sớm.

 

BỆNH DẠI

Chó dại hoặc thú hoang bị dại  có thể nhận thấy:

Bị kích động hoặc yên lặng lạ thường.

Chảy dãi

Bị liệt một phần cơ thể.

Nếu bạn nghi ngờ, nên báo cho cảnh sát hoăc cơ quan chức năng.

Hãy tránh xa con vật.

Khi bị vật dại cắn, hãy rửa sạch vết cắn với xà phòng và nước.

Đưa nạn nhân càng sớm càng tốt đi bệnh viện.

(Lưu ý nên chủng ngừa bệnh dại từ trước)

 

 RắN CắN

Tại nạn thường xảy ra ở vùng Đông Á, Đông nam Á

 

Nhanh chóng gọi cho y tế.

+ Giữ bất động phần cơ thể bị rắn cắn (tránh nọc lan tỏa)

+ Giữ ấm cơ thể, yên tĩnh.

+ Làm sạch vết thương (tránh dùng cồn, dầu xoa…)

Nhớ hình dạng con rắn, giúp bác sĩ  điều trị nhanh.

Lưu ý khi con rắn bị đánh chết nó vẫn còn cắn được.

 

KHÔNG NÊN: rạch và hút vết thương bằng miệng.

 

Tai nạn rắn cắn thường xảy ra bất ngờ, khiến nạn nhân và những người trong gia đình lúng túng, chậm trễ… nhiều khi không cứu nổi. Sau khi cắn người, con rắn thường chạy mất, nạn nhân không kịp nhận diện để biết là rắn lành hay rắn độc, nhất là trong đêm tối… Do vậy, khi bị rắn cắn, nạn nhân phải thật bình tĩnh, nhanh chóng làm các việc dưới đây:

 

Cố gắng xác định sơ bộ xem đó là rắn lành hay rắn độc.

Nếu tại vết cắn thấy cả hai hàm răng với nhiều vết chấm hình vòng cung, không thấy vết răng nanh là rắn lành.

 

Nếu tại nơi bị cắn có hai vết răng nanh cách nhau 5mm và một số vết răng nhỏ là rắn độc.

 

Nếu đúng là bị rắn độc cắn hoặc không xác định được rắn lành hay rắn độc, cần ngồi yên, tuyệt đối không cử động phần cơ thể (chân, tay…) bị rắn cắn vì cử động sẽ làm cho chất độc lan nhanh trong cơ thể. Nếu bị cắn ở chân, nạn nhân không được đi, hay chạy.

Nếu có phương tiện sơ cứu có thể làm như sau:

Rửa sạch vết rắn cắn bằng xà phòng và nước sạch.

Dùng dao sạch (đã khử khuẩn bằng cách hơ trên ngọn lửa) rạch một đường dài khoảng 10mm, sâu độ 3mm tại vết răng nanh, sau đó nặn ra ít máu. Sát khuẩn vết rạch bằng cồn 70o hoặc thuốc tím 0,1%, nước oxy già 12 thể tích, nước muối 9‰, rồi băng vết thương bằng gạc vô khuẩn.

 

Lưu ý khi sơ cứu

Nếu vết cắn đã bị hoại tử hoặc rắn đã cắn nửa giờ rồi thì không nên rạch da vì không có tác dụng.

Nạn nhân và những người có mặt không được sờ vào miệng rắn cho dù rắn đã bị đánh chết hoặc đầu rắn đã bị chặt rời khỏi thân (nó vẫn cắn được).

 

Sơ cứu xong, cần bất động chi bị cắn, chuyển nạn nhân đi bệnh viện ngay. Nên chuyển nạn nhân bằng cáng, hoặc ô tô, không nên chở bằng xe đạp, xe máy nhất là khi nạn nhân có dấu hiệu bị sốc hoặc liệt phần chi bị rắn cắn.

 

Theo dõi sát mạch, huyết áp, nhịp thở của nạn nhân. Chú ý phát hiện sớm các dấu hiệu suy hô hấp, truỵ tim mạch để có cách xử trí kịp thời. Nếu do rắn hổ (hổ mang, cạp nong, cạp nia…) cắn, sẽ có dấu hiệu viêm nhiễm rất sớm, thường chỉ sau 5 phút đến 1-2 giờ, nạn nhân thấy đau buốt tại chỗ, người mệt mỏi, chóng mặt, buồn nôn, khó há miệng, sụp mi, giãn đồng tử, mạch nhanh, huyết áp tụt, rồi ngừng tim, ngừng thở và tử vong. Nếu do rắn lục cắn, nơi bị cắn sưng tấy nhanh, chỉ sau 6 giờ toàn chi bị cắn sẽ sưng to, tím tái, sau 12 giờ vết cắn bắt đầu hoại tử, nạn nhân bị truỵ tim mạch, viêm thận, suy thận cấp.

 

* Đề phòng rắn cắn

 

Rắn thường kiếm mồi về đêm, ban ngày chúng thường ẩn nấp trong các hang hốc, hoặc treo mình trong bụi cây rậm rạp, ẩm thấp, tối tăm.

Khi cần đi qua những nơi này, nhớ đi ủng, hoặc mang theo gậy dài vừa đi vừa khua để xua đuổi rắn. Không ngồi ở gò, đống, bờ bụi, gốc cây có nhiều hang hốc. Không nằm nghỉ dưới đất gần các bụi cây rậm rạp.

 

Bài 8. GÃY XƯƠNG, CĂNG CƠ

GÃY XƯƠNG, TRẬT KHỚP, BONG GÂN, CĂNG CƠ

Nhìn chung sơ cứu 4 trường hợp này cơ bản như xử lý gãy xương.

Gãy xương

Xương bị nứt rạn hoặc gãy, gãy kín và hở.

Gãy xương hở  nặng hơn vì có nguy cơ nhiễm trùng.

Gãy xương co thể kết hợp với tổn thương nội tạng.

Trật khớp là tổn thương ở khớp và dây chằng xung quanh.

Bong gân là tình trạng dây chằng, mạch máu gần đó bị căng quá mức hoặc bị rách.

Căng cơ là tình trạng cơ bị căng quá hoặc rách, nhất là vùng lưng.

Nguyên nhân do nâng vật không đúng tư thế hoặc vật quá nặng.

Gây đau nhói, căng cứng đơ và có thể bị sưng.

 

Nạn nhân chưa hiểu rõ bị chứng bệnh nào, bạn hãy xử lý  chung như sau:

–  Nẹp xương. Dùng vật liệu tự chế nẹp  từ phiá trên và dưới vết gãy, sao cho vết thương bất động, giảm đau và chờ xử lý sau. Giảm chảy máu ở chỗ bị thương.

–  Nếu không có vật liệu nẹp xương, hãy buộc  nẹp phần bị gãy vào phần còn lại của cơ thể, chẳng hạn bi gãy tay có thể nẹp cánh tay vào lồng ngực. Một chân gãy có thể nẹp vào chân kia.

–  Nếu  gãy xương kín, trật khớp bong cơ thì có thể đặt túi chườm lạnh (không dùng với vết thương hở).

–  Lưu ý chăm sóc tình trạng sốc và hô hấp, xem tình trạng máu.

 

  Bài 9.  CấP CứU NGƯờI  ĐUốI  NƯỚC

Chết đuối là hiện tượng tử vong do ngạt nước, có thể xảy ra với cả những người bơi giỏi mà chủ quan. Điều quan trọng nhất trong cấp cứu nạn nhân là phải khẩn trương thực hiện sơ cứu.

 

Nếu nạn nhân còn thở và tim còn đập nhẹ, chỉ cần đặt nằm đầu thấp, thay quần áo, ủ ấm, dùng ngón tay quấn gạc hoặc lót khăn tay móc hết đờm dãi trong mồm.(Sau đó, cho uống 20 ml rượu cấp cứu hoặc nước trà đường nóng. Nên cho uống kháng sinh để phòng viêm phổi, tiêm dưới da cafein 0,25 g và dầu long não 0,2 g để trợ sức, trợ lực).

 

Nếu nạn nhân đã ngừng thở, ngừng tim thì nhanh chóng dốc ngược đầu nạn nhân cho nước trong đường thở thoát ra hết; sau đó móc hết đờm dãi trong mồm và cởi ngay quần áo, làm hô hấp nhân tạo.

 

Với người chết đuối, làm hô hấp nhân tạo theo phương pháp nằm sấp là tốt nhất: Đặt nạn nhân nằm sấp, đầu nghiêng về một bên, người cấp cứu quỳ ở phía đầu nạn nhân, dùng hai bàn tay ấn mạnh lên vùng bả vai để nạn nhân thở ra. Sau đó, cầm hai cánh tay đưa lên và ra sau để nạn nhân thở vào, làm 10-20 lần/phút.

 

Cũng có thể áp dụng phương pháp thổi ngạt và bóp tim ngoài lồng ngực.

(Tiêm dưới da lobelin 0,01 g để trợ hô hấp, cafein 0,25 g và dầu long não 0,2 g -để trợ lực. Kết hợp thêm các biện pháp sưởi ấm, xát ngoài da. Khi nạn nhân đã hồi phục, cho uống 20 ml rượu cấp cứu, nước chè đường nóng, tiêm kháng sinh để phòng viêm phổi, sau đó chuyển đến cơ sở y tế để điều trị tiếp).

 

(Nguồn 1: Family Medical Practice

Nguồn 2: Bs Hoàng Đức, báo Sức Khoẻ & Đời Sống)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây Thẻ

%d bloggers like this: