"Nói phải củ cải cũng nghe"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for the ‘Sáng tác và Hồi ký’ Category

Đọc thơ Văn Cao, ký ức tôi sống dậy

Đọc thơ Văn Cao ký ức tôi sống dậy

 Đoạn thơ này của Văn Cao khiến tôi suy ngẫm mãi:

Tôi sợ các em còn nhỏ quá

sẽ nhớ đến bao giờ

Đến bao giờ các em hết nhớ

Hình ảnh tôi bị treo trên cây ?

(ĐỒNG CHÍ CỦA TÔI)

Hóa ra tôi chính là một “em nhỏ” mà nhà thơ nhạc sĩ Văn Cao nghĩ tới trong bài thơ.

Ký ức của tôi quay về cái năm 1956 bi thảm và hài hước đó.

(more…)

Cảm nghĩ ngày Liệt sĩ thương binh 27.7.2011

Tôi có nhiều người thân quen là liệt sĩ trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ và hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc.

Hôm nay tôi thắp nén tâm nhang tưởng nhớ tất cả các linh hồn ấy.

Riêng muốn kể chuyện hai thầy giáo dạy phổ thông đã từng ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc đời và sự nghiệp của tôi. Hai thầy dạy tôi ở trường phổ thông cấp 2 xã La Phù, huyện Hoài Đức, Hà Đông. Ngôi trường này là nơi bốn anh em tôi đều đã lần lượt học qua. Thầy Nguyễn Như Cầu dạy môn Văn và thầy Tẩy dạy môn tiếng Nga. Một thầy đã trở thành liệt sĩ.

Thầy Cầu quê xã Thọ Nam, dạy Văn, kiêm GV chủ nhiệm lớp 7 của tôi. Thầy đẹp trai, phong độ giản dị, thầy còn kiêm chức đội trưởng bóng đá, thỉnh thoảng dẫn chúng tôi đi sang bên xã Dương Nội chơi nhờ sân bóng bên ấy (thầy đi xe đạp, chúng tôi lóc nhóc chạy theo). Thầy dạy Văn xuất sắc, giọng đọc diễn cảm xuất thần, tôi nhớ mãi mấy bài thầy giảng. Nhất là bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Guộc”. Khi đọc đến những câu này: “Não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng/ cơn bóng xế dật dờ trước ngõ. Đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ/ Ngọn đèn khuya leo lét bên lều”, giọng thầy nghèn nghẹn, ngưng vài giây hít thở, lấy lại bình tĩnh. Lũ chúng tôi ngồi im lặng, đầu nóng ran, lặng câm hòa theo xúc cảm của thầy… Khi giảng bài thơ “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?”, giọng thầy sảng khoái trầm bổng, sang sảng, vút lên. Hơi thở thời đại lớn trùng hợp bài thơ khiến chúng tôi sung sướng cảm khoái và hào hùng lạc quan lắm (Nếu thầy theo nghề kịch nói thì NSND Hoàng Dũng thua xa cả về thanh và sắc, thầy dong dỏng cao hơn Hoàng Dũng). Thầy yêu cô Tân dạy môn Sử, cô là dân thị xã Hà Đông, hoa khôi của trường, hay mặc áo len đỏ. Thầy đang giảng bài, cô lấp ló ngoài cửa sổ, ra hiệu thế nào đó, thầy mải nói không nhìn thấy. Mấy đứa tôi cười rúc rích và cố quay đầu nhìn ra cửa để cho thầy chú ý theo. Thầy quắc mắt nhìn xuống lớp (ý trách sao lại nhìn ra cửa sổ), khi nhìn thấy cô Tân, thầy hiểu ý liền nở nụ cười xấu hổ đỏ mặt, cô cũng đỏ mặt quay đi. Thầy thong thả đi ra…Ngày xưa là thế, thầy cô yêu nhau cũng mắc cỡ với học trò. Học trò nhã ý muốn gọi thầy ra cửa “có khách” cũng không dám nói, phải công phu kéo sự chú ý của thầy ra phía cửa… Thầy Cầu cô Tân quả là trai tài gái sắc.

Năm sau lớp chúng tôi ra trường rồi, biết tin thầy cô đã làm đám cưới, kế đó lại nghe tin thầy đã nhập ngũ vào Nam chiến đấu. Cô Tân dạy học ở quê nhà sinh em bé. Tin báo tử từ miền Nam gửi về, thầy Cầu đã hi sinh hình như ở Bến Tre, nơi tác giả bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc yên giấc ngàn thu. Giờ nghĩ lại, bài giảng Văn tế ấy đã vận ngay vào số phận thầy giáo kính yêu của chúng tôi. Cô Tân sau này nuôi đứa con dòng họ Nguyễn Như, không tái giá, được bổ nhiệm làm hiệu trưởng một trường phổ thông cấp 2 thị xã Hà Đông (nay là quận Hà Đông)… Bây giờ chắc hẳn Cô đã nghỉ hưu.

Thầy Tẩy ở cùng một nhà trọ với thầy Cầu (hồi ấy phụ huynh học sinh nhà rộng thường cho GV mượn phòng ở chung, giống như cho bộ đội đóng quân ở làng vậy, chưa có khái niệm cho thuê nhà như bây giờ). Thầy Tẩy quê xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, dạy tiếng Nga trường La Phù chúng tôi. Em trai thầy tên Thái cùng học lớp tôi, nên cũng gần gũi. Có lần anh Vy tôi đi ra Hiệu sách nhân dân thị xã Hà Đông mua được cuốn sách tranh tiếng Nga của Liên Xô, nhìn hình ảnh thấy màu sắc đẹp, đọc lõm bõm được vài chữ, tôi thấy có hình ông lão và con cá vàng ngoài bìa. Đem về, anh Vy tôi đã học xong trường La Phù, nên bảo tôi đưa thầy Tẩy dịch hộ. Vài tuần sau thầy dịch xong. Đó là tập truyện cổ tích Nga. Truyện mở đầu là “Bông hoa bảy cánh”, tiếp sau là truyện“Ông lão đánh cá và con cá vàng” do Puskin viết lại… Vài năm sau cũng nghe tin thầy Tẩy nhập ngũ, lại được chọn làm phiên dịch cho chuyên gia quân sự Liên Xô trong binh chủng tên lửa phòng không. Bây giờ tôi vẫn chưa biết tin tức gì về thầy từ sau năm 1975.

Hai người thầy này đã ảnh hưởng tới nghề nghiên cứu và giảng dạy văn học của tôi. Môn Văn tôi chọn hẳn cũng có chịu ảnh hưởng từ thầy Cầu. Người thầy đầu tiên tác động đến sở thích biên dịch văn chương nước ngoài của tôi chắc chắn là thầy Tẩy. Ảnh hưởng của các thầy cô từ lúc nào chả biết, nó âm thầm thấm vào bên trong, như một ước vọng mà thầy đã gieo mầm.

Việt Nam có bao nhiêu người tài giỏi, tử tế như  các thầy tôi đã hi sinh? Nhà nước chưa bao giờ công bố con số thống kê. Đợi đến bao giờ ? Lại còn bao nhiêu liệt sĩ vô danh, bao nhiêu liệt sĩ chưa tìm thấy hài cốt ?

Tôi nhớ câu thơ độc đáo của một nhà thơ Mỹ do nhà thơ Nguyễn Duy đọc lại cho nghe tại một Hội thảo ở trường Đại học Đồng Tháp năm  2010:

Mỗi cuộc chiến tranh đi qua

Bên nào thắng thì nhân dân cũng bại”.


Phùng Hoài Ngọc

Một người xưa

 

Bất ngờ em dạo gót hành lang

Phút chốc bao nhiêu kẻ ngỡ ngàng

Ta hỏi từ đâu em đã đến

Khơi xa biển biếc ? cõi ngàn xanh?

Ta đoán ra rồi quyết chẳng sai

em đã ra đời xứ Thiên thai

Vườn đào Vương mẫu quen trèo hái

Ngàn năm còn trẻ mãi như ai.

Một hôm em bỗng chán vườn đào

Nhìn xuống trần gian dạ xốn xao

Mến cảnh yêu người nơi trần thế

Sinh viên dạ vũ đón em vào

Em cười sao sáng cứ triền miên

Má hồng thấp thoáng lúm đồng tiền

(Tiền ai cho đấy này cô bé ?

– Ba mẹ lỳ xỳ cho riêng em)…

Đôi cánh tay thon rất hồn nhiên

Như hai dòng thác thả vào đêm

Đôi cù lao nhỏ đang bồi cát

Dòng sông sóng hát rất êm đềm

Xiêm y giản dị đẹp không ngờ

Khiến bao vũ nữ buồn ngẩn ngơ

Nhưng em đâu biết em có lỗi

Gieo buồn cho bạn bởi ngây thơ

Tò mò chút nhé, mách giùm anh

Váy áo mua đâu chốn thị thành

-Áo này em mượn làn mây trắng

Váy xanh em mượn của trời xanh

Sóng nhạc năm châu cuồn hồn anh

Vũ trường huyền ảo đỏ hồng xanh

Em đến xẹt ngang vì sao lạ

Sũng sờ nhịp điệu chậm rồi nhanh.

Hồi hộp nghiêng mình anh chờ đón

Nâng bàn tay anh sợ cành pha lê gãy

Bày tay như con chim nhỏ vô tư

nhẹ đỗ trên vai anh tin cậy.

Và ta đi trong cõi mộng du.

Em nhẹ nhàng lẫn trong nhịp Rumba

Khi Bebob anh chả nhìn rõ mặt

Ôi nhí nhảnh điệu chacha em giỡn

Điệu Boston em bước thẫn thờ…

“Dịu dàng đôi cánh chim câu

Bay lên mà chẳng làm đau khoảng trời

Dịu dàng em dáng mây trôi

Lững lờ mà chẳng hẹn người về đâu”

Ngày mai dù vật đổi sao dời

Du khách rồi đây nhớ một người…

Đã quá lâu rồi không làm thơ

Và khi em đến… ta vào mơ

Đêm nay lặng lẽ  ta thức viết,

thương những vần thơ biết đợi chờ.

(Sàn nhảy Long Xuyên 1990)

Dạ vũ hội – bóng dáng cuộc đời

Valse

Sóng thủy triều, những ngọn triều dào dạt

mặt biển xanh sóng xô bờ ào ạt

Thuyền ta xốc tới lốc xoáy liên hồi

khát vọng đời người trào mãi không thôi.

Vút qua bên tôi một đối rất trẻ

thong thả phía sau một cặp xế chiều

họ nhìn vào mắt nhau ung dung thư thả

cùng trở về  thời bão táp thanh xuân…

(Nào hãy tựa vững nơi anh cuộc đời em đừng lo gì chóng mặt…)

Slow

Bây giờ chẳng còn biết ai tựa vào ai nữa

tiếng thì thầm ở đâu gợi nỗi u hoài quá khứ

đồng vọng nỗi buồn dân tộc hậu chiến tranh

Là cuộc nghỉ ngơ cuối tuần mệt mỏi

ta an ủi nhau giữa cuộc sống nặng nề

Thuyền trong bến đong đưa làn gió nhẹ

kể bến nghe về những hòn đảo xa mờ…

Rồi quên có em, anh thả hồn vào trầm tư mặc tưởng

day dứt nghĩ về cái hữu hạn đời người và vô hạn thời gian

Tiếng kèn đồng nỉ non, tiếng ghi ta bass bập bùng

gõ nhịp thời gian, đếm bước chân nhà hiền triết

thảnh thơi sau khi lập một mệnh đề triết học,

nhà thơ sau khi hoài thai một tứ thơ buồn.

Người mẹ trẻ lắc lư âu yếm con trên đùi ngon giấc

Bản nhạc slow đẩy tôi đi như trong sương mờ

lạc lõng một con thuyền ngư phủ…

Bebop

Ồ phải đây không bên suối Đào Nguyên

một chiều xuân lạc vào đây hai chàng Lưu Nguyễn ?

hay là Tú Uyên với Giáng Kiều ?

Ríu rít sững sờ, rồi quấn quít

Vũ hội quần tiên rộn rã tấu nhạc trời.

Ôi cuộc sống mến thương

là ngày mùa kĩu kịt lúa vàng chạy về ngõ xóm

Những mẻ cá hắt lên sáng ngời trắng bờ

Dưới mái nhà xưa lũ em mừng đón anh trai từ mặt trận trở về

đôi bạn tri âm tay bắt mặt mừng

gặp lại bất ngờ phá lên cười vì đều vẫn độc thân

Là nhịp điệu tâm hồn hai kẻ cầm tờ giấy kết hôn vừa run rẩy ký xong

ánh mắt đổ hào quang

tai vang vang bebop.

Bebop là đôi chân họ chạy qua hối hả dưới làn mưa chúc tụng

không rượu mà say, đôi giày không chạm đất…

Tango

Ta nhẹ nhàng theo ca khúc La Paloma

tưởng đâu ngày xưa mối tình đầu chín mọng

xao xuyến ngập ngừng tà áo vờn bay duyên dáng

Chân đi một bước một dừng, sang trọng thướt tha

(Bản gì đó anh ?

– à “Bồ câu trắng” đấy mà

Em thích bản này không ?

– Dạ thích)

Boston

Từng giọt guitar chầm chậm uể oải

than thở nỗi niềm Juliet- Romeo

Bứt rứt làm sao nỗi cay đắng mơ hồ

chàng khao khát dưới ánh trăng chờ đợi

mặt trời chiều sợ hãi ánh đêm đen

Trái tim kẻ thất tình

cái sàng lắc hoài lắc mãi

rơi xuống đi nào những hạt khổ đau.

Disco

Quá khứ buồn nhưng đẹp mê hồn

thôi đi anh ơi ta đừng luyến tiếc

nhịp điệu disco bắt kịp ta rồi !

“Mau với chứ, vội vàng lên với chứ”.

Hãy giẫm mạnh lên đôi hài em bé nhỏ

hãy nghiêng đầu cho mái tóc bay ngang

lấm tấm sương khuya vầng trán đỏ bừng

vai bắt nhịp và ngón tay ca hát

hãy song ca lênđôi chân biết nói

hãy cháy lên trong mắt đen long lanh ngọn lửa thời nguyên thủy

mà tổ tiên ủ lại chốn rừng hoang

***

Âm nhạc ngưng rồi

tất cả vẫn chôn chân trên sàn gỗ

Kỳ lạ thay đỉnh cao của âm thanh lại là im lặng.

Vô thanh thắng hữu thanh.

Và tất cả vẫn chơi tiếp điệu vũ cuối cùng

cái điệu vũ có tên là “lặng lẽ”.

Và trong tôi mãi đến hôm nay

bóng dáng của nụ cười

nhịp điệu cuộc đời

còn mãi dư âm

còn mãi dư âm.

(Hà Nội 26.3.1987- Đêm vũ hội tại CLB quốc tế, đường Lê Hồng Phong, quận Ba Đình, do Đoàn thanh niên Bộ ngoại giao và chi đoàn Đại sứ quán Nga đồng tổ chức, Ngọc nhận được vé mời từ một người bạn).

Điệu nhảy

 Giới thiệu tác giả:

Hoàng Thế Sinh bạn cùng lớp K11. Bạn tri âm rất dễ thương, học nhảy mãi vẫn thất bại, nhưng ngồi xem nhảy mà làm được thơ khá hay.
(hiện nay nhà văn, Tổng biên tập báo Yên Bái)

Lấp loáng đèn màu

Tưng bừng nhạc đệm

Và em đến

Đôi hài lướt trên những nốt gõ diệu kỳ

Đêm ảo mờ trong điệu nhảy đam mê

Những thô cứng cũng tan thành cảm xúc

Ngực thiếu nữ dồn từng cơn sóng lớn

Tôi bên em chao đảo tựa con thuyền

Bàn tay em bé nhỏ thon mầm

Đặt trên vai tôi tin cậy

Mắt trong mắt ánh nhìn lấp loáng

Lửa cháy lên từ đấy không ngờ

Lửa cháy lên từ thưở xa xưa

Những đêm rừng hoang nguyên thủy

Bập bùng đỏ, bập bùng thân thể

Tín hiệu hoang sơ, dấu vêt bị lãng quên

Chẳng rắc men điệu vũ cứ say mềm

Chẳng cắm hoa đêm vẫn tỏa hương ngào ngạt

Tất cả mơ hồ, vòng tay không có thật

Trời bên ngoài chi chít sao rơi

Điệu nhảy bồng bềnh tưng đôi từng đôi

Đem nghiêng ngả cả sàn hoa lộng lẫy

Tôi lạc tới một mê cung hoang đường như thế

Em thiên thần vũ nữ phút giao duyên./.

HTS

 

Thời cao học đã xa

Kính tng khoa Ng văn ĐHSP Hà Ni 1

Nơi văn phòng lạnh lẽo, An Giang

 

 

 

 

 

Hành trình này là một cuộc hành hương

Sáng lên lớp

Chiều thư viện

ở đó những con chim tư tưởng tìm nơi trú đậu trong tôi

khói bụi tro tàn lấm lem người gom lửa

hối hả bới nhặt than của loài người ủ lại

(của cải trăm ngàn vạn mớ, đâu phải của giời ơi)

Trường xa nội thành hơi buồn đấy nhỉ

Nghĩ kỹ rồi, lại thấy lắm cái hay

Vẫn có disco nhảy nhót bia gaz say

Những bài ca lừng lẫy nước ngoài chẳng hề bặt tiếng ở trường ta

Nhớ đêm thơ đọc dưới lửa đèn dầu

Thắm tình bạn tri âm tri kỷ

Trường xa nội thành bốn bề gió lộng

Ai ngang qua cũng được về tắt đi ngang

Nhưng cái xấu bên ngoài chẳng dễ gì chen được

Trường của ta vẫn sinh động giữa đời

 Hành trình này một cuộc hành hương

Những giáo sư vang tên tận mũi Cà Mau

Những cuốn sách tôi phải đi tìm nơi vỉa hè mua giá chợ đen

 Bây giờ trước mặt tôi thầy đang tâm sự

Mỗi lời thầy sóng dậy giữa hồn tôi

Lật ngược thói thường

Kéo dậy ước mơ

Tôi vột hốt vội giấu như nhân vật

trong Love of Life của Jack London

Thoát nạn lúc lên tàu…

Nhiều niềm vui song cũng lắm nỗi buồn

Khổ điện nước, mỏi chờ lương chờ gạo

Mình sao cũng được

Vài năm rồi về

Nghĩ mà chỉ thương…

Rồi ta sẽ ra trường, hẳn là như thế

Niềm vui sư phạm 1, nỗi buồn sư phạm 1

Bao buồn vui tôi gói ghém để đi xa

Giữ mãi bên lòng kỉ niệm ấm đời ta.

 (Hà Nội 11.1988, đã bảo vệ Luận văn, chờ ngày hạ sơn)

 

Văn khoa sinh viên ngâm khúc

Sáng tác dân gian cao học khóa XI ĐHSP.HN

Người khởi thảo và chấp bút: Phạm Văn Bằng

(or Văn khoa ca)

 1*.

Người ta bảo khoa Văn mình điệu

Miệng nói môi cười nom cứ điêu điêu

Mỗi bước đi sao duyên dáng yêu kiều

Và ánh mắt cứ xa xăm vời vợi.

  2*

Chẳng có gì khó hiểu em ơi

Người khoa văn ta vốn yêu đời

Hiểu ý nghĩa mỗi nụ cười, tiếng hát

mỗi giọng đàn là cho cả mai sau.

3*

Người ta ghen mình, có ngại chi đâu

Đành lòng vậy, phải tự hào mới được

Con nhà văn vốn ưa lời châu ngọc

Lúc dịu dàng khi phẫn nộ lại đam mê.

4*

Bởi cứ nhìn mọi cái hóa nên thơ

Một điểm son mà thấy cả rừng cờ

Ngắm mảnh trăng non ngỡ con thuyền vượt sóng

Lấp lánh sao trời tưởng mắt người yêu

nhìn cọng vàng rơi nghe lá đổ rừng chiều

Giấc mơ ngắn chứa bao điều kỳ diệu.

5* 

Người ta bảo khoa Văn mình điệu

là muốn khen rằng mình thật đáng yêu.

(Hà Nội 1986-1988)

 

Kỷ niệm với Hội nhà văn… bước ngoặt nghề nghiệp

Năm 1972-1973

Hà Tây, huyện Ứng Hòa, xã Hồng Quang trước cửa Chùa Hương, có một ngôi trường phổ thông cấp 2 nằm bên bờ con sông Đáy hiền hòa. Gần đó là cái bến đò dọc suối Yến tiến sâu vào chùa Hương…Một ngôi trường nhỏ với khu tập thể nhỏ, nơi ấy chàng GV toán lý Phùng Hoài Ngọc ngồi dạy học… Nhiều tối các nhà văn nhà thơ nổi tiếng ưa tản bộ lững thững vào sân trường, ghé vô phòng anh hiệu trưởng và Ngọc uống trà tán gẫu. Khách trà thường xuyên là các ông Chế Lan Viên, Tô Hoài, Nguyễn Công Hoan, Võ Huy Tâm… Các ông ghé chơi như là phụ huynh học sinh đến thăm thầy giáo cho thêm phần gắn bó. Mặt khác xưa nay “thanh khí lẽ hằng”, các ông đến thăm chúng tôi ít ra cũng coi là những bạn tri âm tri kỷ hiếm có ở chốn đồng quê ven núi heo hút này…Dời khỏi đô thành Hà Nội chạy máy bay Mỹ, sơ tán về đây, các văn nhân thi sĩ tìm thấy ở ngôi trường chúng tôi một chút không khí thi văn đỡ ghiền… Trò chuyện với chúng tôi vốn là những “fan” hâm mộ của các ông từ lâu. Trà Thái nguyên đắt và hiếm, tôi cũng chẳng e ngại đạp xe đi chợ xa mua…

Nhớ hình ảnh Chế Lan Viên nụ cười mộc mạc, dễ mến. Quần kaki xắn gấu lên một hai nếp, ông đi bộ vô sân trường, ngang qua ông Chiến ngồi sửa xe đạp ở cổng trường, nói “chào bác Chiến” rồi đi vô khu nhà ở giáo viên…Ông thường ghé phòng hiệu trưởng Nguyễn Ngọc Hưng quê Hà Nam, ông Hưng cho con gái đi gọi Ngọc qua pha trà hút thuốc. Chế Lan Viên có lần báo tin “anh Phùng Quán mới trở về Hội…”. Chiều mình dạo chơi ra bờ sông Đáy thấy Phùng Quán tiên sinh ngồi trầm tư câu cá (như ông Lã Vọng nhà Chu câu cá chờ thời)…

Lúc ấy cô bé Phan Thị Vàng Anh mới lọt lòng mẹ, chưa đi học nên mình không biết tới (con bà Vũ Thị Thường, Vàng Anh theo họ cha Phan Ngọc Hoan tức Chế Lan Viên)… Ai ngờ ba mươi năm sau trở thành nhà văn trẻ nổi tiếng đương đại với tập truyện ngắn “Khi người ta  trẻ”…

Lại nhớ có một buổi tối, thấy học trò chạy nháo nhác vô sân trường tìm hiệu trưởng Hưng và bí thư Đoàn (Ngọc) báo tin con trai ông Tô Hoài bị thiếu niên làng vây đánh đang chạy trốn… Cuối cùng nhà trường cũng hòa giải được. Nguyên nhân thật buồn cười, con ông Tô Hoài công tử Hà Nội ăn mặc đỏm dáng đi qua vũng nước bị mấy thằng thiếu niên làng ném hòn đất xuống vũng nước cho văng nước lên quần… Thằng con ông TH chửi lại vài câu, chúng kéo nhau vây đánh. Con trai nhà văn bỏ chạy. Bây giờ nghĩ lại thực buồn cười về cái mâu thuẫn nông thôn – thành thị hồi xưa. Lại nhớ chuyện “Vợ chồng A Phủ”, chàng A Phủ yêu cô Mỵ cũng bị trai làng đứng đầu là A Sử ghen tức vây đánh. Ô hay, văn chương do nhà văn viết ra lại “vận” vào cuộc đời của nhà văn. Hi hi…

Vẫn nhớ hình ảnh Nguyễn Công Hoan ăn mặc như một viên chức thời Pháp, đội mũ phớt nỉ xanh lịch sự lắm, ưa thả bộ trong xóm, lặng lẽ… Nữ sĩ cao niên Anh Thơ có chồng là bác sĩ Bùi Viên Dinh, hai vợ chồng không sinh con, bèn nuôi con nuôi là Bùi Cẩm Thơ. Con bé Cẩm Thơ nhỏ nhắn xinh đẹp, lanh lẹ hoạt bát, học lớp 7 do mình chủ nhiệm và dạy Toán. Con bé rất hãnh diện vì đang nổi tiếng “thần đồng thơ” cùng lứa với Trần Đăng Khoa, Nguyễn Hồng Kiên do Nhà xuất bản Kim Đồng lăng-xê. Cô bé đưa ra khoe tập thơ do Trần Đăng Khoa ký tặng… Lúc ấy mình dạy Toán nên chưa biết thưởng thức phê bình… Thực ra Trần Đăng Khoa làm thơ hay hơn hẳn bạn bè cùng lứa. Cô bé Cẩm Thơ nổi tiếng với một câu thơ “Muốn xin chiếc mũ tai bèo / Làm cô giải phóng được trèo Trường Sơn“. Hồi ấy nghe câu này thấy hay hay, nghĩ kỹ  thấy nó nhạt nhẽo mặc dù khoa trương, có vẻ kỹ thuật gieo vần, sánh sao được Trần Đăng Khoa… Mình nghĩ rằng, có lẽ nữ sĩ Anh Thơ “gà bài” cho con gái nuôi. Lại nghĩ, ngay từ nhỏ mà một “thần đồng” đã tự mãn thì không đi được xa, dù đã xuất bản một tập thơ từ tuổi thiếu niên. Quả nhiên về sau Cẩm Thơ sa sút về thơ, tìm được nghề làm báo “Khăn quàng đỏ”. Bây giờ chắc hẳn cô bé lập nghiệp ở Sài Gòn, không nghe tin tức gì nữa…

Sang đầu năm 1973, Hiệp định Paris ký kết và có hiệu lực, quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam. Văn phòng Hội nhà văn và Tạp chí Tác phẩm mới lại rút về Hà Nội… Ngọc cũng xin chuyển được về dạy trường trung học cơ sở Đức Thượng huyện Hoài Đức quê nhà…

Năm 1975 bị điều đi miền Nam tiếp quản nền giáo dục của chế độ Việt Nam cộng hòa,  Ngọc làm hiệu trưởng một trường trung học ở  tỉnh Hậu Giang và trải qua nhiều chức vụ quản lý khác…Cuộc giao tiếp với các nhà văn nổi tiếng vào năm 1972 ấy để lại ấn tượng sâu đậm, tí men văn chương say ngan ngát… Kỷ niệm giao tiếp với các nhà văn năm ấy xui khiến mình dự thi vào Khoa Ngữ văn hệ tại chức khóa 1 của ĐHSP Hà Nội đặt cơ sở liên kết với Đại học Cần Thơ, năm 1978.  Ngọc mang theo vô Nam tập thơ đầu tay sáng tác về Chùa Hương năm 1972 dưới ảnh hưởng của các nhà thơ  năm ấy…Tiếc thay, trải qua mấy chục năm lăn lộn ở mền Nam, chùm quả đầu mùa ấy đã thất lạc tự bao giờ không biết!

Kỳ tới:

Nhớ lại tập thơ đầu tay viết về Chùa Hươnnay đã thất lạc


Mây thẻ