"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for the ‘Thông tin và Tư liệu văn học’ Category

Sách viết về bố cụ Hồ, tức cụ Nguyễn Sinh Sắc, sai sót nghiêm trọng

Sách về cụ Nguyễn Sinh Sắc sai sót nghiêm trọng
*
LỜI BÀN CỦA LÃNG TỬ.

ỐiI giời ơi TS triết học Trần Nhu viết thế này:
Năm 1925, trên đường từ Hàng Châu về Quảng Châu dự lễ kỷ niệm tròn một năm liệt sĩ Phạm Hồng Thái (cũng là một người con kiên trung của Nam Đàn xứ Nghệ, hy sinh trong vụ mưu sát tên toàn quyền Pháp ở Việt Nam tên là Merlin) hy sinh vì nghĩa lớn, Phan Bội Châu bị bắt cóc tại ga Thượng Hải do sự cấu kết của thực dân Pháp với bọn thổ phỉ Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch” (?!).

Trần Nhu ơi, giở sách sử Trung Quốc ra coi này:
Năm 1925, chính quyền Quốc dân đảng là nhà nước hợp pháp duy nhất ở Trung Quốc (ngày 10 tháng 10 năm 1911 đại diện Quốc dân đảng nhận ấn kiếm từ tay hoàng đế cuối cùng của nhà Mãn Thanh là Phổ Nghi trao lại quyền lực, chấm dứt chế độ phong kiến, lập nên nhà nước Trung Hoa dân quốc. Thế mà TS.rỏm Trần Nhu gọi họ là “bọn thổ phỉ Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch”. Kiến thức lịch sử của Nhu kinh khủng đến thế là cùng. Này nhé, lúc ấy Đảng cộng sản TQ của Mao Trạch Đông vừa mới thành lập (1921) bí mật, lén lút được 4 năm, chưa giành được chính quyền, nên gọi là “thổ phỉ” mới đúng nhá… Cứ đà này vài năm nữa Trần Nhu viết được vài cuốn sách, vài bài báo rỏm khác nữa, cộng dồn đủ điểm là được phong lên PGS đấy.

báo Nông nghiệp Viet Nam
(Bộ nông nghiệp & Phát triển nông thôn)
07:25, Thứ 3, 27/10/2015
.
 

Cuốn sách “Nguyễn Sinh Sắc, cụ Phó bảng xứ Nghệ, một nhân cách lớn” của TS triết học Trần Nhu do NXB Văn học – Nhà sách Thăng Long phát hành năm 2015, có nhiều sai sót nghiêm trọng.

Sách in 800 cuốn, khổ 13,5 x 21 cm, chịu trách nhiệm xuất bản: Nguyễn Anh Vũ, chịu trách nhiệm nội dung: TS La Kim Liên, biên tập: Jane Trần.

Đọc xong hơn 200 trang nội dung của cuốn sách, chúng tôi không biết tác giả định viết về lịch sử hay tiểu thuyết hư cấu.

Mở đầu, chương I mang tên Miền đất “địa linh nhân kiệt” (tr. 9- tr.38), tác giả viết dưới dạng khảo cứu lịch sử, liệt kê về lịch sử địa lý, văn hóa và con người xứ Nghệ. Nhưng các chương sau đó, lối viết này không được nhất quán mà nhầm lẫn sang cả sáng tác văn chương.

Đặc biệt, viết về nhân vật lịch sử nhưng TS Trần Nhu đã có nhiều lỗ hổng về kiến thức lịch sử, sự kiện lịch sử rất sơ đẳng.

Tác giả còn gán ghép tùy tiện ý kiến chủ quan cá nhân, thậm chí nhiều đoạn là chép từ tiểu thuyết. Cụ thể là các trang 158 và trang 208-210 được chép trong tiểu thuyết “Bông sen vàng” của nhà văn Sơn Tùng. Mà tiểu thuyết thì có… hư cấu.

Nhiều sai sót

Viết về giáo dục, khoa cử thời phong kiến, tác giả nắm kiến thức rất lỗ mỗ, vì thế, TS Trần Nhu viết về Phan Bội Châu “đỗ Giải nguyên được đặc cách đứng riêng một bảng do quá xuất sắc, vượt trội mọi sinh đồ cùng khoa” (tr. 36). Giải nguyên hay còn gọi là Thủ khoa, là người đứng đầu kỳ thi Hương – được tổ chức tại các địa phương – đâu có xếp riêng bảng Giáp – Ất như khi vào thi Đình, mà tác giả cho cụ Phan đứng riêng một bảng.

Thêm nữa, TS Trần Nhu viết: “Khi ông Hoàng Xuân Cận lên chức Kép thì ông Nguyễn Văn Giáp đã là ông Mền (Thời ấy quy định đỗ Tú tài lần thứ hai thì được lấy chức Kép; đỗ lần thứ ba nhận chức Mền và đỗ lần bốn được nhận chức Đụp). Ông Mền Hoàng Xuân Cận và ông Đụp Nguyễn Văn Giáp đều bị ách lại ở bảng Ất khoa Mậu Thân (1848), không đủ điều kiện để được dự kỳ thi cao hơn – thi Hội giành học vị Cử nhân” (tr.53).

Tác giả không rành về học vị khoa bảng thời phong kiến nên viết liều. Khoa thi Hương, người nào thi đỗ 4 kỳ sẽ đậu Cử nhân, thi đỗ 3 kỳ là Tú tài. Còn vào thi Hội là cấp cao hơn, do triều đình tổ chức tại kinh đô, cụ thể ở đây là Huế. Vào thi Hội phải là những người đã đỗ Cử nhân. Các vị Cử nhân sẽ thi tài với nhau để chọn ra Tiến sĩ, Phó bảng, chứ thi Hội không lấy đỗ Cử nhân như tác giả Trần Nhu viết.

Còn nữa, TS Trần Nhu viết “lên chức Kép”, “nhận chức Mền” là càng chứng tỏ ông không hiểu về chức vụ do triều đình phong và danh hiệu dân gian phong. Kép – Mền – Đụp là danh xưng dân gian gọi những người thi đỗ hai, ba, bốn lần Tú tài. Ví dụ, tỉnh Quảng Bình, huyện Quảng Trạch có cụ Tú Mền thi 7 khoa vẫn chỉ đỗ Tú tài không đạt được Cử nhân, cụ Tú Cóc làng Lộc An, xã Lệ Thủy, thi 8 khoa vẫn chỉ Tú tài…

Ngoài ra, trong 20 trang nội dung (tr. 76-96) của cuốn sách cho thấy đây là giáo trình triết học cổ điển Trung Quốc với những phái Nho gia (Khổng Tử – Mạnh Tử), Pháp gia (Hàn Phi Tử), Đạo gia (Lão Tử)…

Phóng bút viết bừaTS Trần Nhu đã phóng bút viết bừa ở đoạn thực dân Pháp: “đưa con thứ hai Thành Thái lên ngôi, đặt niên hiệu Duy Tân, mà nhất định không chấp nhận hoàng tử Vĩnh San vốn rất có tinh thần dân tộc, chống ngoại xâm cai trị” (tr. 73). Nếu ông biết vua Duy Tân chính là hoàng tử Vĩnh San thì chắc không dám viết vậy.

Thậm chí, TS Trần Nhu còn sáng tác thêm hình ảnh toàn quyền người Pháp có mặt ở Việt Nam từ thời vua Gia Long ở trang 177 trong đoạn sau: “…xứ Đông Đô mà Nguyễn Ánh – Gia Long đã chấp hành lệnh của Toàn quyền Pháp đổi thành thành Hà Nội”. Năm 1831-1832, vua Minh Mệnh – con vua Gia Long – đã cho sửa đổi lại đơn vị hành chính trên cả nước. Khi đó, ở miền Bắc đã bãi bỏ trấn Bắc thành và chia làm nhiều tỉnh. Bắc thành được đặt tên mới là Hà Nội.

Thời vua Gia Long, đất nước tự chủ, lấy đâu ra một viên Toàn quyền Pháp ngự trị?

Về nhà yêu nước Phan Bội Châu, TS Trần Nhu cũng viết sai quá nhiều. Trang 36, tác giả hạ bút: “Phan tiên sinh sáng lập Phong trào Duy Tân, chủ trương Đông Du”. Năm 1904, Phan Bội Châu lập tổ chức Duy Tân hội và khởi xướng phong trào Đông Du, còn phong trào Duy Tân là do Phan Châu Trinh và các nhà nho tiến bộ phát động từ năm 1905 xuất phát từ Quảng Nam. Phải chăng, TS Trần Nhu đã nhầm giữa Duy Tân hội và phong trào Duy Tân là một?

Tiếp đó, trang 37, tác giả phóng bút: “Năm 1925, trên đường từ Hàng Châu về Quảng Châu dự lễ kỷ niệm tròn một năm liệt sĩ Phạm Hồng Thái (cũng là một người con kiên trung của Nam Đàn xứ Nghệ, hy sinh trong vụ mưu sát tên toàn quyền Pháp ở Việt Nam tên là Merlin) hy sinh vì nghĩa lớn, Phan Bội Châu bị bắt cóc tại ga Thượng Hải do sự cấu kết của thực dân Pháp với bọn thổ phỉ Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch”.

Thứ nhất, Phan Bội Châu cũng như các nhà yêu nước khác thời đó, đi hoạt động cứu nước bị mật thám truy lùng, đâu có ai đứng ra tổ chức lễ kỷ niệm Phạm Hồng Thái như tác giả tưởng tượng. Thứ hai, gọi “bọn thổ phỉ” với một chính quyền thời đó thì e rằng tác giả nói bừa!

Còn nhiều lỗi khác, nhưng trong phạm vi một bài viết không nêu hết ra được. Cuối cùng, xin nói một điều, môn Lịch sử đang bị học sinh phổ thông chán ghét. Những cuốn sách dở sử dở văn như trên càng khiến cho học trò chán ngán thêm.

Khải Mông 
Advertisements

Văn chiêu hồn

Văn chiêu hồn

 Nguyễn Du

Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt,
Toát hơi may lạnh buốt xương khô,
Não người thay buổi chiều thu,
Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.

Đường bạch dương bóng chiều man mác,
Ngọn đường lê lác đác sương sa,
Lòng nào là chẳng thiết tha,
Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

con ma 1

Trong trường dạ tối tăm trời đất,
Có khôn thiêng phảng phất u minh,
Thương thay thập loại chúng sinh,
Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người.

Hương khói đã không nơi nương tựa,
Hồn mồ côi lần lữa đêm đen,
Còn chi ai quí ai hèn,
Còn chi mà nói ai hiền ai ngu?

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát
Nước tĩnh bình rưới hạt dương chi
Muôn nhờ đức Phật từ bi,
Giải oan, cứu khổ, hồn về tây phương.

cúng cô hồn

**
Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh,
Chí những lăm cướp gánh non sông,
Nói chi những buổi tranh hùng
Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau.

Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở
Khôn đem mình làm đứa sất phu,
Lớn sang giàu nặng oán thù,
Máu tươi lai láng, xương khô rã rời.

Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,
Quỷ không đầu than khóc đêm mưa
Cho hay thành bại là cơ
Mà cô hồn biết bao giờ cho tan!

Cũng có kẻ màn lan trướng huệ,
Những cậy mình cung quế Hằng Nga,
Một phen thay đổi sơn hà,
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?

Trên lầu cao dưới cầu nước chảy
Phận đã đành trâm gãy bình rơi,
Khi sao đông đúc vui cười,
Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

Đau đớn nhẽ không hương không khói,
Luống ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.
Thương thay chân yếu tay mềm
Càng năm càng héo, một đêm một rầu.

Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,
Ngọn bút son thác sống ở tay,
Kinh luân găm một túi đầy,
Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.

Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,
Trăm loài ma mồ nấm chung quanh,
Nghìn vàng khôn đổi được mình
Lầu ca, viện hát, tan tành còn đâu?

Kẻ thân thích vắng sau vắng trước
Biết lấy ai bát nước nén nhang?
Cô hồn thất thểu dọc ngang,
Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh.

Kìa những kẻ bài binh bố trận
Đem mình vào cướp ấn nguyên nhung.
Gió mưa sấm sét đùng đùng,
Dãi thây trăm họ nên công một người.

Khi thất thế tên rơi đạn lạc,
Bãi sa trường thịt nát máu rơi,
Bơ vơ góc bể chân trời,
Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?

Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,
Khí âm huyền mờ mịt trước sau,
Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,
Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

Cũng có kẻ tính đường trí phú,
Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn,
Ruột rà không kẻ chí thân
Dẫu làm nên để dành phần cho ai?

Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,
Của phù du dẫu có như không,
Sống thời tiền chảy bạc ròng,
Thác không đem được một đồng nào đi.

Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm
Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm
Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm,
Nén hương giọt nước, biết tìm vào đâu?

Cũng có kẻ rắp cầu chữ quý
Dấn mình vào thành thị lân la,
Mấy thu lìa cửa lìa nhà,
Văn chương đã chắc đâu mà trí thân?

Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng,
Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng,
Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,
Anh em thiên hạ láng giềng người dưng.

Bóng phần tử xa chừng hương khúc
Bãi tha ma kẻ dọc người ngang,
Cô hồn nhờ gửi tha phương,
Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.

Cũng có kẻ vào sông ra bể,
Cánh buồm mây chạy xế gió đông
Gặp cơn giông tố giữa dòng,
Đem thân vùi rấp vào lòng kình nghê.

Cũng có kẻ đi về buôn bán,
Đòn gánh tre chín dạn hai vai,
Gặp cơn mưa nắng giữa trời,
Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,
Bỏ cửa nhà đi gánh việc quan,
Nước khe cơm ống gian nan,
Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.

Buổi chiến trận mạng người như rác,
Phận đã đành đạn lạc tên rơi.
Lập lòe ngọn lửa ma trơi,
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,
Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa,
Ngẩn ngơ khi trở về già,
Đâu chồng con tá biết là cậy ai?

Sống đã chịu một đời phiền não
Thác lại nhờ hớp cháo lá đa,
Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,
Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi,
Thương thay cũng một kiếp người,
Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan!

Cũng có kẻ mắc oan tù rạc
Gửi mình vào chiếu rách một manh.
Nắm xương chôn rấp góc thành,
Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi?

Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,
Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha.
Lấy ai bồng bế vào ra,
U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,
Cũng có người sẩy cối sa cây,
Có người leo giếng đứt dây,
Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.

Người thì mắc sơn tinh thủy quái
Người thì sa nanh sói ngà voi,
Có người hay đẻ không nuôi,
Có người sa sẩy, có người khốn thương.

***
Gặp phải lúc đi đường lỡ bước
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau
Mỗi người một nghiệp khác nhau
Hồn xiêu phách tán biết đâu bây giờ?

Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi,
Hoặc là nương ngọn suối chân mây,
Hoặc là bụi cỏ bóng cây,
Hoặc nơi quán nọ cầu này bơ vơ.

Hoặc là nương thần từ, Phật tự
Hoặc là nơi đầu chợ cuối sông
Hoặc là trong quãng đồng không,
Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

Sống đã chịu nhiều bề thảm thiết,
Gan héo khô dạ rét căm căm,
Dãi dầu trong mấy mươi năm,
Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương.

Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,
Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra,
Lôi thôi bồng trẻ dắt già,
Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.

****
Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ,
Phóng hào quang cứu khổ độ u,
Rắp hòa tứ hải quần chu,
Não phiền rũ sạch, oán thù rửa không.

Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,
Chuyển pháp luân tam giới thập phương,
Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương,
Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh,
Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao,
Mười loài là những loài nào?
Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.

Kiếp phù sinh như hình bào ảnh,
Có chữ rằng: “Vạn cảnh giai không”
Ai ơi lấy Phật làm lòng,
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,
Của có chi bát cháo nén nhang,
Gọi là manh áo thoi vàng,
Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

Ai đến đây dưới trên ngồi lại,
Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu.
Phép thiêng biến ít thành nhiều,
Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sinh.

Phật hữu tình từ bi phổ độ
Chớ ngại rằng có có không không.
Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng
Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài.

Nhà thơ Lý Đợi giật giải GABO

Nhà thơ Lý Đợi giật giải GABO

Tháng Bảy 26, 2015 
 

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

2015-07-25

image00348-622.jpg

Nhà thơ Lý Đợi -Courtesy photo

Luộc

Món 1: Luộc
Theo kiểu rau muống luộc của Bắc kỳ
Sống ở Việt Nam ăn món luộc là tốt nhất
Chưa tìm thấy thứ gì mà người Việt không thể luộc…
Vậy nên:
Sống ở Việt Nam ăn món luộc là tốt nhất
Từ luộc xe honda, nhà đất, bằng cấp, chức tước…
Từ luộc vệ sinh, an toàn thực phẩm, bảo hiểm…
Từ luộc trí tuệ, thẩm mĩ, văn hoá, nhân tính…
Từ luộc nhân quyền, tự do, tư tưởng, tâm linh…
Chưa tìm thấy điều gì mà Việt Nam không thể luộc
Vậy nên:
Sống ở Việt Nam ăn món luộc là tốt nhất
Từ luộc cho đến luộc
Người người nghĩ chuyện luộc
Nhà nhà tham gia luộc
Ngành ngành thi đua luộc…
Duy chỉ có lý do tại sao mình bị luộc: là không bị luộc
Vậy nên:
Sống ở Việt Nam luộc là tốt nhất
Luộc là tốt nhất
Luộc là tốt nhất
Luộc là tốt nhất…”

Quý vị vừa theo dõi bài thơ có tựa “Luộc” của nhà thơ Lý Đợi. Bài thơ ngắn, mang tính diễu nhại nhưng càng nghe càng thấm đẫm nỗi đau cho ngôn ngữ thi ca, nếu cứ khăng khăng đòi thơ phải… nên thơ, trau dũa và đánh bóng từng con chữ.

“Luộc” bản thân nó được sử dụng với một ý niệm khác, một tác động khác và nhất là hàm ý khác: ngôn ngữ đường phố đi vào chốn lừa đảo và những trạng thái xã hội hôm nay được chiếc nồi ngôn ngữ luộc chín trơ ra những xương xẩu của tận cùng ý thức. Luộc lập đi lập lại tính ẩn dụ nhiều khía cạnh áp dụng vào đời sống để cuối cùng nó trình ra trước những người đọc nó một thông điệp lý thú: Luộc đa nghĩa, đa nguyên và đa tầng. Những tầng nấc mà nó luộc qua lại còn một tầng nấc khác, bí ẩn hôm nay và sẽ lộ diện vào ngày mai, khi có một món hàng mới để luộc.

Chân lý của sự luộc: Chính thể này là mảnh đất màu mở sinh sản những mầm mống cho việc luộc. Luộc vừa là động từ vừa là trạng từ và cũng là tính từ. Nó chỉ ra tất cả mọi hoạt động của cách hành xử, mà con người xã hội chủ nghĩa theo nó, tôn sùng nó cũng như sợ hãi nó.

Cái nó không luộc được chính là tự bản thân nó: không thể tự luộc mình.

Bài thơ Luộc của Lý Đợi đối với người Việt có thể lắm người ngạc nhiên, luộc ư? Chuyện thường ngày ở huyện. Nó bao vây mọi người, cùng cộng sinh với mọi người trong xã hội này có gì lạ?

Cái lạ là người ta chưa bao giờ mân mê chữ luộc như Lý Đợi. Cũng không tự hỏi luộc theo kiểu người Bắc như Lý Đợi. Tại sao lại là người Bắc? Tại sao? Tại sao?

Theo kiểu rau muống của Bắc Kỳ đã là một ẩn dụ. Bài thơ vừa trần trụi vừa khó tiên đoán cái kết. Để cuối cùng tác giả cho mọi người vào cái rọ “ở Việt Nam luộc là tốt nhất”!

Câu cuối không kết vì nó mở ra một loạt những mệnh đề cần phải bắt đầu.

Cái bắt đầu của câu kết trong bài thơ Luộc lại từ Mỹ, từ đại học Antioch tại Los Angeles bởi giải thưởng mang tên thân mật của văn hào Gabriel Garcia Marquez: GABO.

Giáo sư Hoàng Ngọc Tuấn, cũng là người điều hành trang văn học Tiền Vệ cho biết về giải thưởng này khi được trao cho nhà thơ Lý Đợi:

Mo-Mieng-24-10-2006-305.jpg
Nhóm “Mở Miệng”: Từ trái sang Bùi Chát, Khúc Duy, Lý Đợi, Nguyễn Quán, ảnh chụp năm 2006.

(more…)

Ngày Thương binh Liệt sĩ – CÁI NHÌN CỦA CÁC EM TÔI

nguồn chú Tễu

Ngày Thương binh Liệt sĩ: CÁI NHÌN CỦA CÁC EM TÔI

 
 CÁI NHÌN CỦA CÁC EM TÔI
Hoàng Hưng
27-07-2015
*
Tôi có ba đứa em
Em ruột Lạng bị gọi đi “đánh Mỹ”
Mấy năm sau nhận tin báo tử
Không ngày tháng chết, không một mảnh di hài
Một chiếc ba lô mới tinh đem đến nhà giả làm “di vật”
Đến hôm nay manh mối vẫn không ra!
Em vợ Bình ngã xuống ngay trận đầu biên giới Tây Nam
Em vợ Bính phát điên mà chết vì đạn pháo quân thù chốt địa đầu phía Bắc

Một nhà góp ba mạng trai cho “Độc lập, Thống nhất”
Đã đủ hay chưa?
Những câu thơ ngày ấy:
“Các anh bảo chúng tôi
Đi chiến đấu cho ngày mai tươi đẹp
Chúng tôi đi
Vì không sợ chết
Chúng tôi chết
Vì sợ sống hèn
Nhưng sẽ ra sao cái Ngày Mai ấy?”[i]
đã đưa người viết vào ngục tù
khi “cái Ngày Mai ấy” trở thành hiện thực!
 *
“Cái Ngày Mai ấy” chính là Hôm Nay
Khi biên cương phía Bắc, phía Nam và biển đảo lại đen ngòm súng giặc
Những chàng trai của mọi nhà lại chờ lệnh ra đi
Cho một Ngày Mai chưa biết sẽ ra sao
Khi mỗi người dân gánh trên đầu khoản nợ không biết đời nào trả hết
Để các anh xây biệt thự khắp năm châu
Khi những người viết lên những dấu hỏi những dấu than lại chuẩn bị vào tù
Để các anh yên tâm trên ngai rồng đỏ son vàng chóe!
*
Chúng tôi đấy
Đều ngoan ngoãn cả
Anh vừa lòng chứ ạ?
Vâng
Chúng tôi cứ khoanh tay nhắm mắt ngồi nhìn
Sự nặng nề ngu độn của các anh
Cứ chầm chậm dìm con tàu xuống biển!”[ii]
Những câu thơ năm ấy
Giờ đây đã sai rồi
Chúng tôi không còn ngoan ngoãn
Không còn khoanh tay
Để các anh mặc sức đánh chìm con tàu Tổ quốcNhững đứa em tôi không thể chết vô ích thế!
Dưới ba thước đất, mắt các em vẫn mở trừng trừng
Nhìn các anh
Nhìn chúng tôi
Nhìn tất cả chúng ta
Không ai thoát được cái nhìn của các em tôi
Đừng hòng thoát!
*
Ngày “thương binh liệt sĩ” 27/7/2015
____[i] Thơ để trong nhật ký đầu những năm 1970
[ii] Thơ để trong nhật ký đầu những năm 1970
 

“Đội quân không tiếng súng”

Thành phần nòng cốt trong “đội quân không tiếng súng” này gồm có: lực lượng tác chiến trên đất liền với mác “doanh nhân”, lực lượng hải quân trá hình ngư dân và đơn vị chế tạo vũ khí sinh học “hàng độc”.  Với một kế hoạch chặt chẽ và kỹ thuật che giấu tài tình, đội quân này đang thầm lặng giết chết người dân Việt Nam, mang về hàng bao tải tiền củng cố cho sức mạnh Trung Quốc.
 
hang-tq-thump-230715
Nhằm đảm bảo tính bảo mật, sách lược dã man này được chia thành những giai đoạn như sau:
*
Giai đoạn I:  Tận thu
Một trong những sự kiện không thể không nhắc tới là hiện tượng từng đoàn doanh nhân Trung Quốc sang Việt Nam tung tiền mua giá cao, vơ vét hàng nông sản, nhu yếu phẩm từ thủy sản, đường cát, heo, gà, vịt, trứng gà, vịt cũng bị thu mua chất hàng đống.  Đặc biệt là vịt sống là sản phẩm bị chiếu cố tận tình nhất, khiến giá mỗi con từ 60.000 đồng/con tăng vọt lên 120.000 đồng, tức tăng gấp đôi.  Hiện tượng này đã có vài năm nay, nhưng thời gian gần đây, số lượng bị “vét” lên quá cao và không có dấu hiệu nào cho thấy “cơn dịch vét hàng” sắp chấm dứt.  Chỉ riêng điều này đã khiến vật giá leo thang ngay tại Việt Nam vì thiếu hàng để bán và người dân trong nước lãnh đủ.

(more…)

CUỘC ĐỐI THOẠI NHỎ VỀ BÀI VIẾT: “THƠ TỐ HỮU – KHO “KÍ ỨC THỂ LOẠI” CỦA VĂN HỌC HIỆN THỰC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”

CUỘC ĐỐI THOẠI NHỎ VỀ BÀI VIẾT: “THƠ TỐ HỮU – KHO “KÍ ỨC THỂ LOẠI” CỦA VĂN HỌC HIỆN THỰC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA” (*)

Lời dẫn: Hai năm vừa qua mình viết được ba bài ưng ý, bài thứ nhất về Nguyễn Huy Thiệp (“Nguyễn Huy Thiệp và bước ngoặt của văn xuôi Việt Nam sau 1975”), bài thứ hai về Nguyễn Tuân (“Nguyễn Tuân – Nhà văn của hình dung từ”) và bài thứ ba về Tố Hữu (“Thơ Tố Hữu – kho “kí ức thể loại” của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa”).

 Bài về Tố Hữu vừa đăng xong trên tạp chí “Nghiên cứu văn học” của Hữu Sơn thì Hoàng Dzũng lại lấy đăng trên “Văn Việt”. Trước đó, nó được chia thành nhiều bài nhỏ đăng trên tạp chí điện tử “vanhoanghean.com.vn”. Ngày 24/3/20015, fb “Mậu Nguyễn Đức” đã kéo link bài “Ca thi và đại cáo trong thơ Tố Hữu” để nhiều người cùng đọc. Phần “Bình luận” về bài viết dưới “stt” này đã tạo thành một cuộc đối thoại nho nhỏ, tuy có chút gay gắt, nhưng không kém phần sôi nổi, vì mỗi người tham gia đều thể hiện rõ chính kiến của mình. Mình đăng lên Blog cá nhân để giữ lại làm kỉ niệm. Mời các bạn cùng chơi fb đọc thư giãn giữa những ngày nóng bức.

  1. LN. (La Khắc Hòa)

Lại Nguyên Ân: Tôi đọc những phân tích này [**] và muốn hỏi: Đây là phê bình hay nghiên cứu? Sự khảo sát, nhận xét ở đây rốt cuộc là khen hay chê đối tượng được khảo sát? Có lẽ điều khá rõ là khen! Khen thơ Tố Hữu như là thơ đề cao hoạt động cách mạng, thủ lĩnh cách mạng như là thần thánh. Cho nên nếu ban đầu ta (có ai đó trong chúng ta) ngạc nhiên vì thấy Văn nghệ quân đội hay Văn hóa Nghệ An yên tâm đăng những nghiên cứu này, thậm chí còn tặng thưởng tác giả nữa, thì rốt cuộc phải thấy mọi thứ đó là hợp lý. Chỉ có điều, đứng về phía lý tưởng (thẩm mỹ – xã hội) của sự phê bình, thì hình như rất cần chất vấn: Các sáng tác thơ Tố Hữu là hay hay dở so với các kiểu mẫu văn chương nhân loại? Chúng đi theo chiều thuận hay nghịch so với các yêu cầu nhân bản, nhân đạo, trọng dân chủ, nhân quyền? Và nếu những sáng tác ấy không ở chiều thuận với xu thế xã hội thẩm mỹ ta mong muốn, thì phải chăng là nên chọn cách “kính nhi viễn chi” – không nói không bàn đến cái di sản thi ca ấy trong một thời gian dài, để những kẻ sùng bái nó sẽ chết cái chết tự nhiên cùng với nó – như xử sự của phần đông nghiên cứu sinh hiện nay, thì hơn là nêu ra thực chất, cơ cấu có vẻ rất hay của nó – như cách của nhà nghiên cứu ở đây? Mậu Nguyễn Đức, Bình Nguyên cho ý kiến?

Mậu Nguyễn Đức: Chờ anh Khac Hoa La cho ý kiến.

(more…)

Simon Leys, người cả gan đánh tan huyền thoại Mao Trạch Đông

Simon Leys, người cả gan đánh tan huyền thoại Mao Trạch Đông

  
mediaNhà văn, nhà nghiên cứu Simon Leys, tác giả cuốn sách nổi tiếng “Những bộ quần áo mới của Mao chủ tịch“.
*
Tuần san Le Point kỳ này đăng bài phê bình sách của giải Nobel văn chương Pháp Mario Vargas Llosa. Ông đã đọc cuốn sách mới xuất bản của Pierre Boncenne, viết về Simon Leys, tác giả cuốn « Những bộ quần áo mới của Mao chủ tịch » – người đã nói lên sự thật và dũng cảm đối đầu với giới trí thức khuynh tả Pháp trong thập niên 60 đang say sưa với những huyền thoại xung quanh Mao Trạch Đông.
*
Nhà văn đoạt giải Nobel văn chương năm 2010 nhận xét, trong thập niên 60 đã diễn ra một hiện tượng là một bộ phận quan trọng trong giới trí thức Pháp ủng hộ và lý tưởng hóa Mao Trạch Đông cũng như cuộc Cách mạng văn hóa của ông ta.
*
Trong khi đó ngay tại Hoa lục, hồng vệ binh đang sỉ nhục các giáo sư, nhà nghiên cứu, khoa học gia, nghệ sĩ, nhà báo…trong đó nhiều người sau khi phải tự kiểm thảo do bị tra tấn, đã tự sát hay bị sát hại. Cơn điên tập thể này, được Mao cổ vũ trên toàn quốc, đã dẫn đến việc hủy hoại các tác phẩm nghệ thuật và công trình lịch sử, đàn áp thẳng tay những người bị quy là phản động. Xã hội Trung Quốc chìm trong làn sóng bạo lực, khiến hàng triệu người vô tội phải chết.

(more…)

Mây thẻ