"Nói phải củ cải cũng nghe"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for the ‘Tiểu luận văn học, nghệ thuật’ Category

Vở kịch Bạch Mao Nữ: nhiều thế hệ người Trung Quốc và Việt Nam đã bị lừa trắng trợn.

Dẫn

Chủ tịch Tập Cận Bình đang phát động chiến dịch tái quảng bá nghệ thuật thời Mao Trạch Đông...mở đầu là vở  ca kịch “Bạch Mao nữ” do cô vợ ông ta  là Bành Lệ Viên sắm vai chính Hỷ Nhi.

GNLT

VNTB 31/12/2015 Vở kịch Bạch Mao Nữ: nhiều thế hệ người Trung Quốc và Việt Nam đã bị lừa trắng trợn.

Phùng Hoài Ngọc

Bạn đọc trẻ nào chưa xem vở kịch Bạch Mao nữ của Trung Quốc thì hãy liên tưởng đến truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài  vay mượn ý tưởng Bạch Mao Nữ và tiểu thuyết “Tắt đèn”  của Ngô Tất Tố (sau chuyển thành phim Chị Dậu), và một bài thơ Tố Hữu.

Câu chuyện Bạch Mao Nữ vốn rất quen thuộc với nhiều thế hệ người Trung Quốc, kể cả Việt Nam Tuy nhiên, cả hai dân tộc đều đã bị lừa.

(cảnh mở đầu  phim : 白毛女 tên bộ phim Bạch Mao nữ )

Vở diễn “Bạch Mao Nữ” xuất hiện  rộng rãi sau 1949 ở TQ và từ 1951 ở miền bắc Việt Nam, trong Cải cách ruộng đất nhằm gieo rắc quan điểm xã hội cũ biến người thành quỷ, xã hội mới biến quỷ thành người.

Điều mà rất nhiều người không biết là: Bạch Mao Nữ vốn chỉ là truyền thuyết mê tín ở tỉnh Hà Bắc, mà nhân vật địa chủ Hoàng Thế Nhân thật sự là một địa chủ cần cù lao động, thích làm việc thiện bị hư cấu thành địa chủ gian ác dâm dục, còn cha ruột của cô Bạch Mao nữ (tên thực Hỉ Nhi) là Dương Bạch Lao thực ra là tên ham thuốc phiện và cờ bạc thua nợ mà suy sụp.

Hỷ Nhi tóc trắng

(ảnh: Hỷ Nhi tóc trắng- trong phim Bạch Mao nữ)

Trước hết hãy nói nguồn gốc của đề tài này. Khu vực Tấn Sát Kí đã mấy trăm năm nay lưu truyền chuyện “Bạch Mao tiên cô”. Dân gian tin rằng trong một hang động của huyện Bình Sơn, tỉnh Hà Bắc, có một tiên cô toàn thân tóc trắng như tuyết cư ngụ. Tiên cô pháp lực vô biên, có thể trừ ác khuyến thiện, duy hộ chính nghĩa, xua đuổi tà ác, nắm giữ hết thảy họa phúc của nhân gian. Vì vậy mọi người đều đến đó bái lạy.

Căn cứ địa Tấn Sát Kí trong những năm kháng chiến, vào buổi tối mọi người thường hay đến cúng bái Tiên cô trong hang núi, vì vậy “đại hội đấu tranh địa chủ” thường không tiến hành được. Tên nhà văn Thiệu Tử Nam trong đoàn phục vụ chiến địa Tây Bắc ngay từ đầu đã chú ý đến đề tài này, để phối hợp “đấu tranh”, lôi kéo dân làng từ miếu Tiên Cô về phía mình, ông ta đã chế tác ra một tác phẩm dân gian truyền kỳ  tân trang giả mạo, lấy chủ đề là “phá trừ mê tín, phát động quần chúng” ,  đó là nguyên nhân viết vở kịch“Bạch Mao Nữ”.

BMN2

(ảnh: Vợ Tập Cận Bình vai Hỷ Nhi trong vở ca kịch hiện đại Bạch Mao nữ)

(more…)

               Hữu thể và tự do.

             Nguyễn Huy Canh                 

                              Lời phi lộ 

Những ngày này chúng ta đang đau đớn, bức xúc và nổi giận vì sự xâm lăng, xâm lược Biển Đông của TQ. Nhưng có lẽ còn đau đớn hơn, cực nhục hơn khi một số cá nhân lãnh đạo, hình như tự nguyện đặt mình, và cũng dẫn dắt dân tộc này, sống phụ thuộc vào TQ: phụ thuộc vào kinh tế, vào thể chế, và tư tưởng.

Hình như đây là lần đầu tiên, kể từ năm 1979, ông Nguyễn Tấn Dũng, với tư cách một nguyên thủ quốc gia đã mạnh mẽ và dứt khoát tuyên bố không cần đến thứ “hữu nghị viển vông, lệ thuộc ấy”.

   Với tôi, đây là nguồn cảm hứng tươi nguyên, một động lực để suy nghĩ và hoàn thiện những bận tâm triết học về đời sống, về hữu thể. Đây có thể cũng là cơ hội để chúng ta thoát một thế giới đã quá cũ mèm, giáo điều, máy móc; là thoát một thế giới quan mà thể chế này, cái chính thống đã quàng vào cho nó quá nhiều uy quyền đè nén, ngăn cản quyền được phát biểu của chúng ta trong nhiều thập niên qua.

     Triết học đời sống là một phát biểu, một thái độ, một nhận thức của tôi về thế giới: tôi đã nhìn thấy rõ một quá trình cái nền tảng, cái trung tâm, chính thống đang bị phân rã, phân giải ở mức độ phổ biến.

(more…)

BỨC THƯ NGỎ GỬI QUỐC HỘI

15/04/2014

(về việc Bộ Giáo dục chuẩn bị đổi mới sách giáo khoa)

GSTS. Nguyễn Đình Cống

Kính thưa các vị Đại biểu Quốc hội

Tôi vừa được tin Bộ Giáo dục trình Quốc hội xin kinh phí 34 ngàn tỷ đồng để đổi mới sách giáo khoa phổ thông. Tôi xin góp một ý kiến phân tích và phản đối.

Việc đổi mới (hay nói đúng hơn là sửa chữa sai lầm) nền giáo dục có nhiều công việc quan trọng phải làm, trong đó có việc đổi mới chương trình (nội dung các môn học) và đổi mới sách giáo khoa. Tuy vậy 2 việc này chưa phải là quan trọng nhất, cấp thiết nhất và trong 2 việc đó thì đổi mới chương trình có tính chất quyết định và quan trọng hơn. Không thể, không nên biên soạn sách giáo khoa khi chưa có được chương trình ổn định, được chấp nhận. Nếu không kể những khoản tiền to lớn dùng cho việc hối lộ, tham nhũng và lãng phí, nếu biết tổ chức công việc cho có hiệu quả và chất lượng thì để đổi mới chương trình giáo dục phổ thông chỉ cần vài chục tỷ là cùng.

(more…)

Thưởng thức tranh “Tùng hạc duyên niên”

松 鹤 延 年

“Tùng hạc duyên niên”

sōng hè yán nián (âm Hán)

(hai lối phiên âm Hán Việt: diên/duyên)

dịch nghĩa: Năm tháng (nhờ) tùng hạc (mà) kéo dài

 Thưởng tranh “Tùng Hạc Diên Niên”. 

Tùng hạc duyên niên (tranh thêu)

Tùng hạc duyên niên (tranh thêu)

 

Tranh Tùng Hạc là một trong những mẫu tranh được nhiều người yêu thích và lựa chọn làm quà biếu tặng. Bài viết này sẽ cùng tìm hiểu về ý nghĩa của tranh Tùng Hạc.

  Tranh “Tùng Hạc diên niên” biểu hiện cho ước mơ thịnh vượng, trường thọ. Trong tranh là hình ảnh hạc tiên và cây tùng, và suối đá.

 Cây tùng vốn quen mọc trên núi cao, đất đá khô cằn. Nó có thể mọc ngay ở những mỏm núi chênh vênh, chịu nhiều sương gió, bão tuyết mà không đổ, không chết, tiêu biểu cho sức sống bền bỉ. Người xưa xem tùng là đại diện cho trăm cây, ngoài ý nghĩa trường thọ, tùng còn là hình ảnh của khí tiết cứng cỏi, bền vững, trong sạch của người trí thức. Ngoài ra, trong tín ngưỡng người xưa, cây tùng còn có khả năng trừ tà, xua đuổi ma quỷ rất mạnh, mang lại sự bình yên cho con người.

 Hạc trong truyền thuyết là một loài chim tiên, trong “Tước bào cổ kim chú” có viết: “Hạc thiên niên tuế tắc biến thành thương, hựu lưỡng thiên tắc biến hắc, sở vị huyền hạc dã” giải nghĩa là: “Qua ngàn năm, hạc biến ra màu xanh (thương hạc), qua hai ngàn năm hạc biến thành đen, gọi là huyền hạc”. Vì vậy, người xưa coi hạc là loài chim tượng trưng cho sự trường thọ.

 “Tùng hạc diên niên” mang ý nghĩa trường thọ, lại mang nghĩa khí tiết thanh cao, gắn bó vĩnh cửu với nhau, còn được gọi “tùng hạc đồng xuân” (tùng và hạc cùng trẻ mãi)

 Đây là loại tranh phong cảnh chủ nhân tự thưởng thức, còn dùng để làm quà biếu mừng tân gia, khánh thành công ty, chúc phúc, chúc thọ…

 An Giang Mùng 3 Tết Giáp Ngọ

Phùng Hoài Ngọc

* (tham khảo web: http://tranhchuthap.vn/y-nghia-tranh-tung-hac.html)

Bài thơ “Vấn thoại” của Hồ Chí Minh và vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn

GS. Trần Đình Sử:                          HỒ CHÍ MINH VÀ NGUYỄN THANH CHẤN

 

 

 
GS.Trần Đình Sử
Gần đây vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang phải ngồi tù 10 năm mà ông không hề có tội giết người đã chấn động dư luận xã hội. Mặc dù ông Chấn và gia đình đã kêu oan nhiều lần mà vẫn bị y án. Mãi đến khi người nhà ông Chấn điều tra, động viên người phạm tội ra đầu thú, thì ông Chấn mới được trả tự do. Từ vụ án đó, tôi bổng nhớ tới một bài thơ độc đáo của ông Hồ Chí Minh. Trong tập Nhật kí trong tù ông Hồ Chí Minh có bài thơ “Vấn thoại”rất đặc biệt, nó khác hẳn mọi bài thơ trong tập. Nếu các bài thơ khác hoặc kêu oan, hoặc tố cáo, hoặc phản ánh sinh hoạt trong tù, hoặc thể hiện ý chí gang thép, hoặc nỗi nhớ đồng chí trong nước, hoặc lấy lòng bọn quan coi tù… thì bài thơ này đứng riêng ra,  nó nói một vấn đề triết học xã hội, một chân lí phổ biến. Nó không còn là thơ trữ tình, mà là một bài thơ triết học duy nhất trong sự nghiệp thi ca của ông.  Nguyên văn chữ Hán của bài thơ được phiên âm Hán Việt như sau:
 

Giới thiệu sách Văn học cổ cận đại Việt Nam – Từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật, NGUYỄN HUỆ CHI

* 1. Ấy vậy mà có người trình độ chỉ mới vào loại “bổ túc văn hóa” lại tự xưng là “nhà phê bình” để gán cho tác giả một số “tội” mà quan trọng nhất là tội “đạo văn”: đã “phóng tác” từ tác phẩm của Trần Nhân Tông nhưng lờ đi, không nói rõ nguồn gốc, hoặc bắt chước Nguyễn Lang (tác giả Việt Nam Phật giáo sử luận); rồi khi tác giả đi tìm nhân thân Tuệ Trung thượng sĩ thì lại cho là “thủ pháp huy động mắm, muối, gia vị thêm thắt cho dài dòng, màu mè”. Ngoài ra còn một số điểm khác được “nhà phê bình” cố tình vạch ra, như cái gọi là “rút ruột” một luận án vô danh nào đó…; nhưng thiết tưởng không cần phải tranh luận với những người không có tí kiến thức gì về Hán học, lại dùng đao to búa lớn để đả kích nhằm những mục đích khác (xem trên báo Văn Nghệ).

Đào Hùng

Xưa & Nay 

NGUYỄN HUỆ CHI, Văn học cổ cận đại Việt Nam – Từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật, NXB Giáo dục, Hà Nội 2013, 1200 tr.

Cuốn sách tuyển chọn các công trình của GS Nguyễn Huệ Chi, phản ánh một cách đọc, hiểu và cảm của một người nghiên cứu chuyên sâu văn học cổ cận đại dân tộc trong 50 năm, nhằm giới thiệu với những người nghiên cứu văn học công trình của một tác giả, có thể làm mẫu mực cho những sinh viên khi chọn con đường nghiên cứu văn học. Sách được sắp xếp thành bốn phần, phát triển theo hệ thống tư duy khoa học của tác giả.

(more…)

Thư giãn Chủ Nhật: Thầy của Khổng Tử

23/11/2013

(Trích Luận ngữ Tân thư)

Phạm Lưu Vũ

Tục nhân lỡ một người thầy thì ôm hận suốt đời. Thánh nhân lỡ một người thầy thì ôm hận nghìn thu. Tục nhân ôm hận vì không gặp cơ hội được trên người. Thánh nhân ôm hận vì cảm thấy có lỗi nặng với những đời sau. Việc hôm nay, té ra có nguyên do từ bao đời trước nữa. Ví dụ cái chuyện thật, giả của muôn đời. Muôn đời,thật thà là món trang sức rẻ tiền của dối trá, dối trá là chủ nhân đích thực của thật thà. Than ôi! cái đạo nói thật chẳng phải tầm thường. Đến thánh nhân cũng muốn cầu còn chẳng được. Thế gian xưa nay vẫn leo lẻo đấy, cứ tưởng mọi chuyện rồi sẽ rõ như ban ngày. Vậy mà rốt cuộc, tìm mãi có thấy tí sự thật nào đâu. Chung quy cũng tại một bận lỡ làng của bậc Vạn Thế Sư mà sinh ra cả…

Vẫn “Lời tựa“ trong Luận ngữ Tân thư. Sau đây lại xin trích một phần của bộ sách đó:

Khổng Tử có lúc dạy tới ba ngàn học trò. Vậy mà vẫn lũ lượt người đến xin học. Vì thế mới đặt ra lệ phải kiểm tra, phỏng vấn trước khi nhận, đại khái cũng hao hao như thi đại học hoặc cao đẳng bây giờ. Phụ trách khâu tuyển sinh này gồm các thầy Tử Cống, Tử Nạp, Tử Hối, Tử Lộ, Tử Thâm, Tử Thượng, Tử Hạ. Toàn những thầy mà đời sau xếp vào bậc Tiên hiền cả. Từ khi đặt ra lệ ấy, thiên hạ càng đua nhau đến xin nhập học, công việc giáo dục phát đạt lên trông thấy. Bận rộn nhất là các thầy Tử Cống, Tử Nạp, Tử Hối, Tử Lộ. Các thầy thay nhau bán hồ sơ, xét duyệt hồ sơ, kiểm tra thí sinh bằng mồm, bằng mũi, bằng mắt, cả bằng tay… nữa. Kẻ thì cho nhập học, kẻ thì đuổi thẳng cổ. Chung quy cái việc thi tuyển thì xưa nay đều có trong, có đục cả, không có gì đáng chép lại. Chỉ xin chép ra đây mấy chuyện lạ xảy ra trong lúc tuyển sinh ấy. Không hiểu sao lại chỉ rơi vào các thầy Tử Thâm, Tử Thượng và Tử Hạ.

(more…)

Ngoại biên hóa trong tiến trình văn học Việt Nam đương đại

Trần Đình Sử

1. Đặt vấn đề

Trước thời kì Đổi mới, nước ta chỉ có độc tôn một thứ lí luận, phê bình và văn học: lí luận, phê bình văn học mác xít, văn học cách mạng. Từ ngày Đổi mới, và đặc biệt là từ thời kì hội nhập quốc tế, văn học nói chung và lí luận phê bình văn học nói riêng đã có sự đổi thay rất lớn, có thể nói nhiều mặt đã đổi thay 180 độ. Những gì trước đây ta phê phán thì nay ta lại giới thiệu, tiếp thu. Lí luận “xét lại” của chủ nghĩa Mác phương Tây, các lí thuyết phi mác xít như chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa Freud, chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại… (more…)

GIÁO SƯ TRẦN ĐÌNH SỬ KHEN CHIM XƯA MÀ CHÊ CHIM NAY

 

 
 
Hai con chim, hai thời đại

Trần Đình Sử

 
Hôm nay tình cờ đọc trên trang blog của Trần Nhương bài thơ Vô đề của Vũ Duy Chu. Bài thơ như sau:
 
Chim nhảy nhót trong lồng
Hót từng hồi lanh lảnh
Ôi mê hoặc giam cầm
Chim quên mình có cánh
.
 
Từ bài thơ này lại bắt gặp bài thơ của Bùi Minh Quốc, nhan đề  là :
 
                                            BI KỊCH HÓT
 
Tưởng bay ngàn dặm thơ
Hoá vòng vo nhảy nhót
Giữa cái lồng rất to
Tự đan bằng tiếng hót.
 
Chợt nhớ đến con chim của Quận He Nguyễn Hữu Cầu thế kỉ XVIII:
 
                       Chim oanh nọ vẫy vùng giậu bắc
                       Đàn loan kia túc tắc cành nam
                       Mặc bay đông ngữ tây đàm
                       Chờ khi phương tiện dứt dàm vân lung
                       Bay vút tận muôn trùng tiêu hán
                       Phá vòng vây bạn với kim ô
                        Giang sơn khách diệc tri hồ.
 
Ôi, sao mà chim của Nguyễn Hữu Cầu to khỏe, mạnh mẽ đến thế !

 Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, con chim của Tố Hữu cũng tràn đầy sinh khí và tinh thần tự do. Hãy xem con chim Tố Hữu tung bay trong những ngày tù ngục của đế quốc:
 
                       Rồi một hôm nào tôi thấy tôi,
                       Nhẹ nhàng như con chim cà lơi,
                        Say đồng hương nắng vui ca hót,
                        Trên chín tầng mây bát ngát trời.
 
Rồi Văn Cao, trong bài ca Đàn chim Việt:
 
Về đây khi gió mùa thơm ngát
Ôi lũ chim giang hồ
Bao cánh đang cùng dật dờ trên khắp cố đô
 

Từng đôi trên đất Bắc ríu rít ca …
Mờ mờ trong nắng ven trời
Chim reo thương nhớ chim ngân xa …
Hồn còn vương vấn về xưa
Về nơi hoàng hôn Thái Nguyên tung hoành
Từ Bắc Sơn kia thời tung cánh
Tới đây chim thấy lòng ngập ngừng
Nhớ ai trên mấy đồi Yên Thế
Kìa nước xa xa sông Gấm còn mịt mùng ngoài bến xuân
Chim đang bay qua Bắc sang Trung
Người Nam còn nghe lời chim nhắn lúc xa
Ai tha hương nghe réo rắt oanh ca
Cánh nhạn vào mây thiết tha
Lưu luyến một trời xa
 
Chao ôi, mới có hai trăm năm, tính từ Nguyễn Hữu Cầu, hay tính từ Tố Hữu, Văn Cao mới có sáu bảy chục năm, sao mà chim bây giờ yếu đuối, tội nghiệp, dặt dẹo khác xa chim thời xưa đến thế? Vì sao? Vì đâu? Hỡi đàn chim Việt thân yêu!
 
 
Dù sao đây cũng chỉ mới là mấy ví dụ nhỏ, có vẻ ngẫu nhiên, có thể còn có nhiều giống chim khác nữa. Tôi mong có bạn sinh viên nào, hay bạn học viên thạc sĩ nào, hãy làm một luận văn về biểu tượng chim trong thi ca hôm nay. Kết quả chắc sẽ cho ta nhiều điều thú vị.
 
 
Trong khi chờ đợi, tôi muốn có lời kêu gọi tha thiết này: Hỡi các loài chim Việt, hãy mạnh khỏe lên, cứng cáp lên, hãy tìm cách vỗ cánh, hướng tới trời cao bát ngát. Còn gì buồn hơn những con chim ỉu xìu?
 
9 – 7 – 2013
T.Đ.S

 

Tưởng niệm nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nghĩ về Hà Nội…

Longxuyen by night  dịu mát, phố xá tỉnh lẻ miền Hậu giang dập dìu xe cộ nhưng không bao giờ kẹt xe…

Cuối đêm nhạc Tưởng niệm nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1/4/2013) do nhóm văn nghệ sĩ, trí thức An Giang (Anh Khoa, Trần Sang, Trương Chí Hùng) tổ  chức tại  cà phê Cây Mận, Lãng tử  phát biểu một tham luận 15 phút. Sau khi uống vài ly và nghe thêm các ca sĩ hát …, Lãng tử đón xe honda ôm về nhà, gõ bài này kịp tưởng niệm riêng  nhà  nghệ  sĩ thiên tài nước Việt.

font 1

Hà Nội là quê hương chung của mọi người dân nước Việt

Đọc ca từ NHỚ MÙA THU HÀ NỘI,  tôi coi là “Thăng Long thành hoài cổ hiện đại”, xứng với kiệt tác “Thăng Long thành hoài cổ” của Bà Huyện Thanh Quan

 Vài lần đi thăm HN, nhà thơ  nhìn thành phố bằng con mắt họa sĩ, phố cổ và Hồ Tây đầy màu sắc hình dáng cổ xưa, tĩnh lặng cố cưỡng lại cái thực tế luôn ồn ào náo nhiệt, nhà cao tầng chen nhau mọc lộn xộn càng nhiều.

 Tôi cho rằng đây là  bài ca hiện đại về HN hay nhất, sâu sắc nhất vượt qua cả trăm bài khác!

 Người Hà Nội bây giờ tâm đắc và biết ơn nhạc Trịnh đã tặng cho họ bài ca  yên tĩnh nhất, thanh thản, sâu sắc mà chẳng cần ca tụng thủ đô, tự hào bừa bãi, tùy tiện…

San Hung top n

 Tiết tấu slow thong thả, chậm rãi như người đi bộ thưởng ngoạn cảnh vật, đây cũng là tiết tấu phổ biến của nhạc Trịnh phù hợp với tâm hồn người Việt nhất.

 Hai câu sau đây thực là kinh ngạc, sửng sốt:

“Sẽ có một ngày trời thu Hà Nội trả lời cho tôi,
sẽ có một ngày từng con đường nhỏ trả lời cho tôị

 Nhạc sĩ chưa đưa ra câu hỏi gì mà lại yêu cầu Hà Nội hãy trả lời. Lạ thực !

 Hà Nội mắc nợ câu trả lời thì tự biết, nhà thơ không cần nêu câu hỏi vì tế nhị thôi

TCS đưa một câu hỏi phản biện tinh tế khiến Hà Nội phải giật mình!

MC Chí Hùng và Phùng Hoài Ngọc

MC Chí Hùng và Phùng Hoài Ngọc

 “Nhớ mùa thu Hà Nội”

Trịnh Công Sơn

Hà Nội mùa thu, cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ,
nằm kề bên nhau, phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâụ
Hà Nội mùa thu, mùa thu Hà Nội,
mùa hoa sữa về thơm từng ngọn gió, 
mùa cốm xanh về, thơm bàn tay nhỏ,
cốm sữa vỉa hè, thơm bước chân quạ 

Hồ Tây chiều thu,

mặt nước vàng lay bờ xa mời gọị
Màu sương thương nhớ,

bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trờị
Hà Nội mùa thu đi giữa mọi người,
lòng như thầm hỏi, tôi đang nhớ ai,

 Sẽ có một ngày trời thu Hà Nội trả lời cho tôi,
sẽ có một ngày từng con đường nhỏ trả lời cho tôị

 Hà Nội mùa thu,

mùa thu Hà Nội,

nhớ đến một người …
để nhớ mọi ngườị.

Bấm vào đây nghe hátnho-mua-thu-ha-noi-hong-nhung.CD

Mai 2 Mai Ngọc Thanh Nối vòng Mai 3

  Tiếc quá, mải thưởng thức quên chụp hình nhạc sĩ Minh Trí “Ru ta ngậm ngùi” và nhạc sĩ Hữu Hạnh “Một cõi đi về”. Bạn nào có chụp hình xin gửi cho Lãng tử .Xin hậu tạ

GNLT

Mây thẻ