"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for the ‘Tiểu luận văn học’ Category

Vở kịch Bạch Mao Nữ: nhiều thế hệ người Trung Quốc và Việt Nam đã bị lừa trắng trợn.

Dẫn

Chủ tịch Tập Cận Bình đang phát động chiến dịch tái quảng bá nghệ thuật thời Mao Trạch Đông...mở đầu là vở  ca kịch “Bạch Mao nữ” do cô vợ ông ta  là Bành Lệ Viên sắm vai chính Hỷ Nhi.

GNLT

VNTB 31/12/2015 Vở kịch Bạch Mao Nữ: nhiều thế hệ người Trung Quốc và Việt Nam đã bị lừa trắng trợn.

Phùng Hoài Ngọc

Bạn đọc trẻ nào chưa xem vở kịch Bạch Mao nữ của Trung Quốc thì hãy liên tưởng đến truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài  vay mượn ý tưởng Bạch Mao Nữ và tiểu thuyết “Tắt đèn”  của Ngô Tất Tố (sau chuyển thành phim Chị Dậu), và một bài thơ Tố Hữu.

Câu chuyện Bạch Mao Nữ vốn rất quen thuộc với nhiều thế hệ người Trung Quốc, kể cả Việt Nam Tuy nhiên, cả hai dân tộc đều đã bị lừa.

(cảnh mở đầu  phim : 白毛女 tên bộ phim Bạch Mao nữ )

Vở diễn “Bạch Mao Nữ” xuất hiện  rộng rãi sau 1949 ở TQ và từ 1951 ở miền bắc Việt Nam, trong Cải cách ruộng đất nhằm gieo rắc quan điểm xã hội cũ biến người thành quỷ, xã hội mới biến quỷ thành người.

Điều mà rất nhiều người không biết là: Bạch Mao Nữ vốn chỉ là truyền thuyết mê tín ở tỉnh Hà Bắc, mà nhân vật địa chủ Hoàng Thế Nhân thật sự là một địa chủ cần cù lao động, thích làm việc thiện bị hư cấu thành địa chủ gian ác dâm dục, còn cha ruột của cô Bạch Mao nữ (tên thực Hỉ Nhi) là Dương Bạch Lao thực ra là tên ham thuốc phiện và cờ bạc thua nợ mà suy sụp.

Hỷ Nhi tóc trắng

(ảnh: Hỷ Nhi tóc trắng- trong phim Bạch Mao nữ)

Trước hết hãy nói nguồn gốc của đề tài này. Khu vực Tấn Sát Kí đã mấy trăm năm nay lưu truyền chuyện “Bạch Mao tiên cô”. Dân gian tin rằng trong một hang động của huyện Bình Sơn, tỉnh Hà Bắc, có một tiên cô toàn thân tóc trắng như tuyết cư ngụ. Tiên cô pháp lực vô biên, có thể trừ ác khuyến thiện, duy hộ chính nghĩa, xua đuổi tà ác, nắm giữ hết thảy họa phúc của nhân gian. Vì vậy mọi người đều đến đó bái lạy.

Căn cứ địa Tấn Sát Kí trong những năm kháng chiến, vào buổi tối mọi người thường hay đến cúng bái Tiên cô trong hang núi, vì vậy “đại hội đấu tranh địa chủ” thường không tiến hành được. Tên nhà văn Thiệu Tử Nam trong đoàn phục vụ chiến địa Tây Bắc ngay từ đầu đã chú ý đến đề tài này, để phối hợp “đấu tranh”, lôi kéo dân làng từ miếu Tiên Cô về phía mình, ông ta đã chế tác ra một tác phẩm dân gian truyền kỳ  tân trang giả mạo, lấy chủ đề là “phá trừ mê tín, phát động quần chúng” ,  đó là nguyên nhân viết vở kịch“Bạch Mao Nữ”.

BMN2

(ảnh: Vợ Tập Cận Bình vai Hỷ Nhi trong vở ca kịch hiện đại Bạch Mao nữ)

(more…)

CÓ HAY KHÔNG “DÒNG VĂN HỌC CÁCH MẠNG MIỀN NAM” trước 1975 ?

NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ VĂN HỌC : CÓ HAY KHÔNG “DÒNG VĂN HỌC CÁCH MẠNG MIỀN NAM”  trước 1975 ?

đã đăng VNTB cùng ngày.

Phùng Hoài Ngọc 

DẪN

Trong khi tiến hành công cuộc cải cách sắp tới, Bộ Giáo dục đang lâm vào tình trạng “đẽo cày giữa đường”. Cả xã hội đang sục sôi bàn xác định vị trí môn Sử, còn nội dung môn Sử ấy ra sao thì chưa bàn tới. Môn Văn phức tạp hơn cũng chưa được bàn tới.

Ở đây chúng tôi xin bàn về mấy vấn đề lịch sử trong môn Văn, thường gọi “lịch sử văn học” (ngày xưa gọi là văn học sử). Văn và Sử cùng chung số phận bị chính trị hóa, bị cuốn theo tư duy chính trị, bị lãnh đạo thô bạo, giới nghiên cứu đã bàn nhiều rồi. Nhà thơ XD cũng viết “Được mùa chính trị mất muà văn chương” để khái quát bản chất của mối quan hệ chính trị – văn học. Giới lý luận bàn bạc đã thấu đáo nhưng vẫn…bó tay. Chúng tôi chỉ bàn một vấn đề thuộc phạm vi Văn học Việt Nam hiện đại.

Sẽ còn nhiều thách thức cho các nhà viết giáo trình văn học sử trong tương lai.

Có thể kể một ít vấn đề nổi cộm trong giai đoạn văn học hiện đại.

Như phong trào Nhân văn- Giai phẩm, giới nghiên cứu phải đánh giá phần đó như thế nào cho đúng lịch sử khách quan. Điều đó đòi hỏi bản lĩnh của người nghiên cứu khi viết lịch sử văn học. Nhà nghiên cứu có dám thẳng thắn lên án những người chủ trương “đánh án”  nhằm tiêu diệt phong trào văn học  phản biện đó và phê phán những kẻ a dua hay không. Đó là vấn đề.

Về phần Văn học miền Nam đích thực trước 1975. Có nên giữ tên gọi kiểu cũ “Văn học miền Nam vùng tạm bị chiếm” hoặc “Văn học miền Nam dưới chế độ Mỹ ngụy / dưới chế độ thực dân mới” hoặc khách quan hơn như “Văn học thành thị miền Nam trước 1975” (tuy vẫn còn dư 2 chữ “thành thị” rất khó nghe. Hồi đó cố ý đặt như vậy là có ý khoanh hẹp phạm vi ảnh hưởng văn học miền Nam, ý rằng nông thôn thì không có văn học ?!- vớ vẩn quá, hoặc ý rằng nông thôn thì đọc “văn học cách mạng” mà không biết đến văn học thành thị (!).  Nhân đây chúng tôi đề nghị gọi chính xác là “Văn học miền Nam giai đoạn 1954 -1975”. Được biết, Ban vận động Văn đoàn độc lập Việt Nam đang cố gắng nghiên cứu giai đoạn này như một khát khao trả nợ lịch sử văn học dân tộc rất đáng trân trọng.

(more…)

TRAO ĐỔI VỚI ÔNG TRẦN THẾ KỶ về việc ông Ban Ki Moon thăm nhà thờ và bái tổ họ Phan ỏ Sài Sơn-Quốc Oai, Hà Nội

TRAO ĐỔI VỚI ÔNG TRẦN THẾ KỶ về việc

 ông Ban Ki Moon thăm nhà thờ và bái tổ họ Phan ỏ Sài Sơn.

 Phùng Hoài Ngọc

Nhân đọc bài viết của ông Trần Thế Kỷ “Tin nên tin: Nếu ông Ban Ki Moon là anh hốt rác” đăng trên VNTB (Việt Nam Thời Báo) ngày 15/11, chúng tôi thấy ông Kỷ đã hiểu lầm lung tung. Vậy xin có mấy lời trao đổi cùng tác giả.

 Tổng thư ký LHQ chủ động đi nhận họ Phan Huy ở Việt Nam

Theo tôi biết, ngày 30 /10 blog chú Tễu khởi đăng “Tin chấn động: ÔNG BAN KI-MOON LÀ HẬU DUỆ CỦA CỤ PHAN HUY CHÚ”.  Vài hôm sau, hàng chục tờ báo quen thuộc trong nước từ Hà Nội tới Sài Gòn liên tục đăng bài và ảnh của các phóng viên đến tận nhà thờ họ Phan Huy ở xã Sài Sơn tác nghiệp mục sở thị. Sau nữa. đài BBC đăng tin phỏng vấn người phát ngôn của ông Ban Ki Moon xác nhận việc kể trên. Dư luận thôi bàn tán.

Đọc bài đầu tiên ở đây:

http://xuandienhannom.blogspot.com/2015/10/tin-ac-biet-ong-ban-ki-moon-la-hau-due.html

 Ban đầu, đó là một tin kỳ lạ, làm giật mình bất kỳ ai, nhất là với những người từng biết dòng họ Phan Huy ở xã Sài Sơn huyện Quốc Oai, Hà Nội và/hoặc từng biết tên ông Ban Ki Moon. Do bản tin khởi đầu đăng trên một blog tự do nên báo chí nhà nước nửa tin nửa ngờ, phải cử phóng viên đi tận nơi mục sở thị. Làm báo như thế là đúng với chức năng nhà báo (có điều, khi dẫn nguồn, các báo chỉ đều nói “theo trang mạng xã hội”, không dám nói “blog chú Tễu”- có lẽ theo nguyên tắc nội bộ tờ báo của họ).

 Đọc toàn bộ các bài báo về việc ông Ban Ki Moon tổng thư ký LHQ người Hàn quốc đến Việt Nam nhận họ Phan Huy, tôi không thấy dòng chữ nào có vẻ khoe khoang hay “phổng mũi” về việc đó. Ngay cả ý kiến của đại diện họ Phan Huy cũng rất chân thật, không hề tỏ ra tự hào xác nhận ông Ban cùng họ tộc. Ông Phan Huy Thanh đại diện dòng họ còn nói rõ, khi nào có bằng chứng hoặc gia phả thì mới nhận họ được.

(more…)

Phê bình “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu

Phê bình “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu

 Phùng Hoài Ngọc

 Ngày 3/7/2015 hơn một triệu thí sinh lớp 12 đi dự cuộc thi quan trọng đầu tiên của cuộc đời, cuộc thi “hai trong một” (thi tú tài và thi tuyển vào đại học) . Đề thi Văn này sẽ để lại dấu ấn sâu đậm trong cả cuộc đời thí sinh. Rất tiếc câu 2 trích từ một tác phẩm văn học chất lượng kém. Đành rằng nền văn học nào cũng có tác phẩm hay và dở, hay thì đọc, dở thì bỏ qua, hay khen, hèn chê. Đó là tính dân chủ của văn học. Nhưng một tác phẩm được chọn vào sách giáo khoa cho học sinh nhất định phải là tác phẩm hay, cổ nhân gọi là sách kinh điển.

 Trong bài báo trước, chúng tôi đã phân tích câu 2 của đề thi Văn (chiếm tới 4 điểm) được trích từ truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu

 Chúng tôi xin trình bày đánh giá toàn bộ truyện ngắn đó, kính nhờ VNTB chuyển tới bạn đọc.

 Sơ lược truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

Phóng viên Phùng từ Hà Nội đi vào vùng duyên hải miền Trung, chụp ảnh làm lịch Tết,  nhân gặp lại bạn đồng đội cũ tên Đẩu làm chánh án huyện. Anh chụp được bức ảnh “Chiếc thuyền ngoài xa” rất đắc ý, cảm hứng ngây ngất trước “một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”, “trái tim như có cái gì bóp thắt”, “khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Sau đó, anh chứng kiến cảnh “chiếc thuyền vào bờ” và người chồng ngư dân đánh đập vợ dã man. Lần thứ hai anh lại phải chứng kiến cảnh đó và dũng cảm ra tay can thiệp. Anh được bạn chánh án kể chuyện gia đình thuyền chài khổ cực như thế nào và lắng nghe tâm sự của nữ nạn nhân. Anh và bạn bó tay trước hoàn cảnh nan giải của vợ chồng hàng chài…Mặc dù thất vọng về bức ảnh của mình, anh vẫn phải về nộp ảnh cho cơ quan và bộ lịch treo  Tết vẫn hoàn thành.

Nội dung truyện có thể chia làm hai phần.

Nội dung 1. Cảnh khổ cực của gia đình thuyền chài và nạn bạo hành.

Nội dung 2: Tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn.

Hai nội dung đó đan kết vào nhau tạo ra tác phẩm.

Truyện ngắn mang rõ tính chất “tuyên ngôn nghệ thuật”, cũng gọi là tiểu thuyết “luận đề”.

Đó là tuyên ngôn: nghệ thuật cần phải miêu tả hiện thực nghiêm nhặt, phải miêu tả được bi kịch của người dân lao động hơn là miêu tả cái bề ngoài lãng mạn, đẹp mắt. Tuyên ngôn thật giản dị và đúng đắn.

Nhưng tuyên ngôn này rất cũ, bởi nhà văn Nam Cao đã hoàn thành từ trước đó hơn nửa thế kỷ với hai thiên truyện nổi tiếng “Trăng sáng” và “Đời thừa”. Nghệ thuật của một dân tộc như một dòng chảy bất tận không lặp lại. Nếu viết về một chủ đề cũ thì nhà văn đi sau phải khác biệt hoặc cao hơn, sâu sắc hơn. Xem ra, tác phẩm tuyên ngôn của Nguyễn Minh Châu chưa thể sánh bằng Nam Cao về mặt nghệ thuật. Cơ bản vì Nguyễn Minh Châu đã mắc thiếu sót lớn về mỹ học khi ông phủ định nghệ thuật nhiếp ảnh và lúng túng, thiếu nhất quán, tự mâu thuẫn trong nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn. Mặt khác truyện ngắn chứng tỏ nhà văn thiếu vốn sống về đối tượng miêu tả.

    Sai lầm nghệ thuật học, nhà văn đã so sánh khiên cưỡng nghệ thuật nhiếp ảnh với nghệ

    thuật văn chương.

Bức ảnh “Chiếc thuyền ngoài xa” của phóng viên Phùng có giá trị riêng, trọn vẹn của thể loại nhiếp ảnh. Phong cảnh sương sớm và chiếc thuyền đang vào bờ “trước mắt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ…, một vẻ đẹp thực đơn giản dị và toàn bích…, cái chân lý của sự toàn thiện…cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Đủ cho một bức ảnh phong cảnh mang tên đại loại như “Thuyền về trong sương sớm”, hay là “Biển sớm” (giả dụ phóng viên Phùng đặt tên cho bức ảnh như thế) và sẽ in vào tấm lịch tháng treo ngày Tết.

(more…)

Thưởng thức 7 bài thơ haiku

Trời đất nóng bức, mời bạn thưởng thức chút thơ ca Nhật Bản như làn gió mát….

Phùng Hoài Ngọc 

Bài 1. Chim sẻ và chuột

Matsuo Basho 

  雀子と声鳴きかはす鼠の巣 

suzume ko to / koe naki kawasu / nezumi no su .

Young sparrows cry
and responding with squeaks
mice in their nest

 Lũ chim sẻ non

đáp lời chút chít

lũ chuột trong hang. 

Chim sẻ non và chuột – xóm giềng tối lửa tắt đèn có nhau. Họ khác chủng tộc, chẳng phải họ hàng bà con, ríu rít đàm thoại với nhau, hỏi thăm sức khỏe hoặc bàn tán chuyện thời tiết, liệu đêm nay có mưa chăng nhỉ… Hai loài đã thể hiện mối quan hệ vạn vật tương thông.

Bài 2. Bướm, liễu rủ và gió

     Basho

 吹くたびに    蝶のゐなほる    柳かな 

  Fuku tabi ni    / chô no inaoru  /  yanagi kana  

With every gust of wind,  

the butterfly changes its place   

on the willow.  

Mỗi khi gió giật

Con bướm đổi chỗ

Trên cành liễu xanh

Gió thổi rung rinh cành liễu. Tưởng gãy cành, bướm cất cánh bay lên. Hóa ra không phải gãy cành, lại đậu xuống. Vẫn biết cành liễu chỉ ngả nghiêng thôi, chúng vẫn đổi chỗ…Có lẽ, mỗi lần đổi chỗ, bướm nhích lên gần thân cây cho đỡ rung hơn, ổn định hơn. Sức sống của loài bướm mỏng manh mà kiên trì như thế. Ta biết mùa đông gió mạnh nhất ở Nhật bản, vậy ta đoán bài thơ viết lúc muà đông.

Bài 3. Cua nhỏ và tôi

     Basho

さざれ蟹足這ひのぼる清水哉 

sazaregani / ashi hainoboru / shimizu kana

 A little crab

creeping up my leg:

clear water.

Một con cua nhỏ

Dòng nước trong vắt

mon men chân tôi

Chú cua nhỏ thảnh thơi trong nước trong vắt, nhìn thấy bàn chân tôi, coi là bạn mới, mon men tới gần làm quen.

Bài 4. Ếch và lá non

Thơ  Rogetsu 

青がへるなくや若葉の通り雨 魯月
Aogaeru /naku ya wakaba no/ toriame

The tree frogs are crying
while a passing shower falls
on the young leaves

        Những chú nhái trên cành cây kêu vang

        Khi trời đổ trận mưa rào

        Trên những lá non

        Lá non  và nhái đều thích trời mưa, nhái kêu vang thay cho lá, lá không biết nói thì vẫy tay hưởng ứng. Vạn vật tương thông cùng cảm xúc..

Bài 5. Thơ Kikaku và giai thoại

Kikaku là nam môn sinh xuất sắc nhất trong 10 học trò nổi tiếng nhất của thi nhân thiền sư Matsuo Basho.  Cha Kikaku là bác sĩ ở Edo nhưng ông chọn làm nhà thơ haikai chuyên nghiệp dần dần, theo từng bước cuộc đời mình. Kikaku tinh thông mọi môn nghệ thuật nhưng là kẻ “nổi loạn hoang dã” mê rượu sake [1], đàn bà và thơ haiku.

鐘ひとつ賣れぬ日はなし江戸の春

kane hitotsu urenu hi wa nashi Edo no haru

Springtime in Edo,

Not a day passes without

A temple bell sold.

dịch:

 Mùa xuân ở Edo

Mỗi ngày trôi qua

một chuông chùa được bán ra

Có một giai thoại về ông và Basho thầy dạy.

Một hôm, Kikaku viết một bài thơ:

Red dragonfly / break off it wings / Sour cherry

 Con chuồn chuồn đỏ

 cắt bỏ đôi cánh

 quả anh đào.

 Và Basho góp ý sửa lại:

Trái anh đào

 thêm đôi cánh

con chuồn chuồn ớt.

 Bài thơ khuyên nhà thơ nên thêm chất sống vào đời sống, không lấy đời sống đi khỏi cuộc đời.Thầy của ông nổi tiếng về việc chê bai thơ ông vì những cảm xúc suồng sã của thơ. Kikaku viết những đề tài thô kệch, bất nhã hơn Basho, và trong khía cạnh này thơ ông gần với thơ haikai thời cổ xưa. Kikaku tạo một giọng điệu mới từ sau khi Basho qua đời cho đến khi Yosa Buson xuất hiện cuối thế kỷ 18.

Bài 6. Chim cưng

Thơ  Kobayashi  Issa

慈悲すれば糞をする也雀の子
jihi sureba hako wo suru nari suzume no ko

when you hold him kindly
he poops on you…
baby sparrow

Khi bạn nâng niu con chim sẻ non

Nó sẽ đập cánh

lên người bạn

Bài 7. Đám giỗ Basho

thơ Issa

芭蕉忌や鳩も雀も客めかす
bashôki ya hato to suzume mo kyaku mekasu

Basho’s Death-Day…
pigeons and sparrows
dressed for company

Đám giỗ Basho

Bồ câu chim sẻ

Mặc đẹp kết đoàn.

Đàn chim ăn mặc chải chuốt thật đẹp, như thể chào đón khách. Ngày giỗ nhà thơ Basho vĩ đại là 12 tháng Mười. Ngày này còn được gọi “Ngày tưởng niệm mưa mùa đông” hoặc “Ngày tưởng niệm ông già”.

Bài thơ trên  là bức tượng xây bằng ngôn từ tưởng niệm Basho sâu sắc nhất, dễ lan truyền nhất, hơn hẳn mọi tượng đồng, tượng đá hoành tráng mà đó đây kẻ cơ hội hãnh tiến thường khoe là “đạt kỷ lục Á châu”.

LƯU Ý KHI THƯỞNG THỨC HAIKU

Giới nghiên cứu nhận định rằng thơ haiku bao giờ cũng có quí ngữ (từ chỉ mùa): quý ngữ có thể lộ liễu hoặc hàm chứa, gián tiếp.

Mưa lớn, ếch kêu vang vui mừng ra khỏi mùa đông: ấy là mưa đầu mùa xuân.

Cành liễu xanh trĩu cành khua động khi gió thổi: liễu phát triển sum sê vào mùa hè

Chim sẻ non và đám chuột đàm thoại vào mùa gì? Người Nhật biết ngay, nhưng người ngoại quốc thì có thể bó tay.

Chim sẻ non ịả lên người du khách là mùa gì? Bó tay !

Nước trong vắt và cua nhỏ: có phải mùa thu đấy chăng!

PHN

(Nguồn tài liệu gốc: http://en.wikisource.org/wiki/Complete_Basho_Haiku_in_Japanese)

(nguồn: source : https://whrarchives.wordpress.com/2011/08/27/280/

[1] . Sake: Sake trong tiếng Nhật được viết bằng kanji là 酒 (phiên âm Hán-Việt: tửu). Do sake đã trở nên nổi tiếng trên thế giới.Thực ra sake trong tiếng Nhật nghĩa là rượu nói chung, bất kể là rượu nặng hay nhẹ, như rượu đế Việt nam, là vang, wishky hay gin.

Victor Hugo và Tào Ngu: Phản biện sớm về “chủ nghĩa cộng sản” và “chủ nghĩa xã hội”

Nguồn: VNTB

Victor Hugo và Tào Ngu: Phản biện sớm về “chủ nghĩa cộng sản” và “chủ nghĩa xã hội”. 

 Phùng Hoài Ngọc 

Đại thi hào Victor Hugo tiên tri về “chủ nghĩa cộng sản” đã bị bốn dịch giả Việt Nam chê trách như thế nào ? 

 Thi hào V.Hugo (1802-1885) là tác giả thiên tiểu thuyết “Những người khốn khổ” (nguyên tác tiếng Pháp: Les Misérables) xuất bản 1862. 

Hugo

Ngày nay trên toàn thế giới đều công nhận Victor Hugo là một nhà văn tiến bộ hàng đầu không những của nước Pháp mà của toàn thể nhân loại. Một bộ tiểu thuyết lớn, tràn ngập tinh thần nhân đạo cao cả, tiến bộ và có giá trị lâu dài. 

Bản dịch đầu tiên của học giả Nguyễn Văn Vĩnh với nhan đề “Những kẻ khốn nạn“.[1] 

Bản dịch phổ biến, quen thuộc nhất ở Việt Nam đến nay là của nhóm văn học Lê Quí Đôn (gồm 4 nhà giáo và nhà thơ nổi tiếng), đồng dịch giả “Những người khốn khổ”. Đó là các vị Gs.Huỳnh Lý, Gs.Lê Trí Viễn (ĐHSP.HN), Gs.Đỗ Đức Hiểu (ĐHTH.HN) và nhà thơ nhà giáo Vũ Đình Liên [2] (lúc ấy Gs.Liên là chủ nhiệm khoa Pháp văn trường ĐHSP, về sau tách ra thành ĐHSP Ngoại ngữ). Bản dịch được xuất bản năm 1959 tại Hà Nội. Qua nhiều lần tái bản, bản mới nhất là của NXB Văn học năm 2004.[3] 

(more…)

AI YÊU THI HÀO NGUYỄN DU HƠN: TỐ HỮU HAY NHÀ THƠ PHẠM THIÊN THƯ ?

Nguồn: VNTB

Phùng Hoài Ngọc

Một vấn đề văn học quá khứ

 AI YÊU THI HÀO NGUYỄN DU HƠN: TỐ HỮU HAY NHÀ THƠ PHẠM THIÊN THƯ ? 

Nhìn lại giai đoạn 1954 – 1975, hai miền Nam- Bắc phân chia ở vĩ tuyến 17, đương nhiên nền văn học nghệ thuật Việt Nam cũng có cái “vĩ tuyến 17 trong văn nghệ” và ngày càng khác biệt nhau cho tới 1975.

Văn nghệ sĩ ở miền Bắc được/bị tổ chức quản lý và kiểm soát chặt chẽ, được huấn luyện, học tập về tư tưởng văn nghệ Mác- Lê – Mao. Sáng tác của họ bị kiểm duyệt nghiêm ngặt, họ chỉ được dồn cảm hứng vào hai chủ đề: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất, chống Mỹ chủ yếu ở chiến trường miền Nam. Tuy vậy sáng tác văn nghệ của họ chủ yếu ở miền Nam có những thành tựu nghệ thuật khách quan nhất định (chúng tôi sẽ trình bày quan điểm nghiên cứu về chủ đề này trong một chuyên đề kế tiếp).

Văn nghệ sĩ ở miền Nam không bị nhà nước tổ chức quản lý theo một hướng nào, họ thả sức tự do sáng tác. Trong không khí tự do ấy, một bộ phận văn nghệ sĩ chống Cộng sản do nhận thức tư tưởng cá nhân của họ cũng là điều tự nhiên.

Trong cuộc chiến một mất một còn, việc tuyên truyền đả kích lẫn nhau giữa hai miền cũng là lẽ thường. Tuy nhiên sự đả kích bằng cách gian dối, bịa đặt, thiếu trung thực thì khó mà chấp nhận được. Ngày nay chúng ta cần trả lại sự công bằng cho những người bị đả kích vô cớ và lên án những kẻ trục lợi văn nghệ mất lương tri.

(more…)

Mây thẻ