"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

Archive for the ‘Uncategorized’ Category

Nhìn lại những năm tháng Khủng bố Đỏ ở Liên Xô 

13/12/2017

Nhìn lại những năm tháng Khủng bố Đỏ ở Liên Xô 

       

Để dẫn bài này, có lẽ không gì thiết thực hơn là nhắc bạn đọc nhớ rằng vào ngày 20-1-2017, một bức tượng Dzerzhinsky đã được khánh thành tại Học viện Cảnh sát nhân dân ở Hà Nội.

Bauxite Việt Nam

Tháng 8-1918, một phụ nữ đã bắn súng vào lãnh đạo Liên Xô Vladimir Lenin khi ông đi thăm một nhà máy ở Moscow. Vụ ám sát này là một chất xúc tác cho hàng trăm ngàn cuộc hành quyết mà chính quyền Liên Xô đã thực hiện từ năm 1918 đến đầu những năm 1920.

Người ám sát đó là Fanya Kaplan, một nhà hoạt động xã hội bất mãn với chính quyền của Lenin. Vài ngày trước khi bị hành quyết, Kaplan nói cô chỉ hành động một mình. Tuy nhiên, có nhiều người đồng cảm với mối bất bình của cô.

Những người Bolshevik đã nhanh chóng thành lập chế độ độc tài chưa đầy một năm trước đó, trong Cách mạng Tháng Mười 1917. Họ đã cống nạp nhiều lãnh thổ cho Đức để đổi lấy hòa bình và giải thể cuộc thử nghiệm chế độ dân chủ đầu tiên trên đất nước này. Những sự phản bội đó đã làm nhiều người cộng sản và các nhà cách mạng cánh tả khác tức giận. Họ là những người từng giúp Lenin lên nắm quyền, bắt đầu từ những cuộc nổi dậy đầu năm 1917 nhằm lật đổ Nga Hoàng Nicholas II. Giờ đây, khi sự thành lập chế độ độc tài Mác-xít đã được quan tâm, những nhà cách mạng không thuộc Bolshevik dường như không còn hữu dụng nữa. Sau một vài cuộc nổi dậy của nhóm các nhà xã hội chủ nghĩa và ngay trước khi bị Kaplan ám sát, Lenin đã tuyên bố cần phải có một cuộc khủng bố tàn bạo để “làm sạch” các cuộc nổi dậy.

Và khủng bố đã đến, không chỉ dưới sự cai trị của Lenin mà trong nhiều thập kỉ sau cái chết của ông, từ Liên Xô đến Đông Âu, Trung Quốc, Bắc Hàn và mọi quốc gia khác không may nằm dưới sự cai trị của một đảng cộng sản.

Xây dựng Nhà nước cảnh sát Liên Xô

Dưới thời Lenin, việc bảo vệ cuộc cách mạng và củng cố ý thức hệ bạo lực của chính quyền đi cùng với sự khủng bố. Chỉ vài tuần sau cuộc Cách mạng Tháng Mười năm 1917, Đảng Bolshevik đã thành lập Ủy ban Khẩn cấp, còn được biết đến với cái tên Cheka. Người đứng đầu ủy ban này là nhà quý tộc người Ba Lan Felix Dzerzhinsky, một người cuồng tín đã chuyển sang tôn thờ chủ nghĩa xã hội và sau đó là chủ nghĩa cộng sản từ khi còn trẻ. Với chỉ vài trăm thành viên vào năm 1917, Cheka nhanh chóng mở rộng khi những người Bolshevik tăng cường cuộc chiến chống lại quân Bạch vệ. Trong vòng 2 năm, tổ chức cảnh sát bí mật này đã có khoảng 200.000 thành viên.

Cuộc Khủng bố Đỏ

Vụ ám sát Lenin vào tháng 8-1918 là một chất xúc tác cho hàng trăm ngàn cuộc hành quyết mà Cheka ước tính đã thực hiện từ năm 1918 đến đầu những năm 1920. “Chúng tôi chủ trương khủng bố có tổ chức – điều này cần được thẳng thắn thừa nhận. Khủng bố là điều hoàn toàn cần thiết trong thời gian cách mạng… Chúng tôi xét xử nhanh chóng. Trong hầu hết các trường hợp, chỉ cần một ngày để kết tội và tuyên án” – lãnh đạo Cheka, Dzerzhinsky cho biết vào tháng 7-1918.

Mang những bộ quần áo bằng da thuộc, các thành viên Cheka thường đi theo quân đội Bolshevik, bắt giữ những người bị tình nghi, bao gồm chủ sở hữu đất, người thuộc tầng lớp quý tộc, chủ doanh nghiệp và thậm chí đơn giản là những người đi lang thang sau giờ giới nghiêm. Sau những vụ bắt giữ này sẽ là các cuộc hành quyết tập thể.

Ngay từ năm 1924, sử gia Nga đào thoát tên là Sergei Melgunov đã tiết lộ trong cuốn sách của ông “Red Terror in Russia” (Khủng bố Đỏ ở Nga) đây là một cuộc tàn sát có hệ thống. Ông cũng cung cấp cả tài tiệu và hình ảnh về cuộc khủng bố này.

Chính Cheka cũng từng tự hào công bố các báo cáo về một phần số người bị chết. Ở nhiều vùng, mọi loại tội phạm – đã xác thực hoặc tình nghi – đều bị án tử hình.

Những hành động của Cheka đi theo triết lí của cuộc đấu tranh giai cấp, xa rời đạo đức và phẩm giá con người. Nó tuyên bố bất cứ điều gì chống lại tư tưởng này là phản cách mạng. Nạn nhân hoặc các thành viên trong gia đình họ thường bị ép cởi quần áo trước khi bị dẫn đến nơi hành quyết. Một số tù nhân khác bị tống vào sà-lan, đưa ra biển và chết đuối khi những người Bolshevik làm đắm tàu. Melgunov cho biết: “Ở Kiev, cách hành quyết là làm cho những người bị kết tội nằm sấp giữa máu đông trên sàn nhà trước khi bị bắn xuyên qua đầu hoặc não”.

Ngoài những vụ hành quyết tập thể, những người Cheka còn hứng thú với việc tra tấn tàn bạo và hãm hiếp phụ nữ.

Đối với chế độ cộng sản, giết chóc đã trở thành một công cụ hữu ích để kiểm soát người dân. Sau khi Lenin qua đời vào năm 1924, Cheka đã được đổi tên nhiều lần nhưng vẫn phục vụ cho mục đích tương tự. Joseph Stalin, người kế nhiệm Lenin và tiếp tục chế độ độc tài của Lenin, đã ca ngợi Dzerzhinsky là “một hiệp sĩ mộ đạo của giai cấp vô sản” khi ông này chết vào năm 1926.

Dưới thời Stalin, cuộc đàn áp chính trị ở Liên Xô đạt đến đỉnh cao với hàng loạt các vụ trấn áp được biết đến dưới tên Đại thanh trừng, trong đó hàng trăm ngàn nạn nhân là đồng bào Ba Lan của Dzerzhinsky.

Năm 1919, Lenin đã có chuyến đi bí mật tới chỗ Ivan Pavlov, nhà tâm lí học nổi tiếng với những thí nghiệm về việc huấn luyện kích thích có điều kiện ở chó. Theo nhà sử học Anh Orlando Figes, vị lãnh đạo Liên Xô nói:

– Tôi muốn dân chúng Nga đi theo một khuôn mẫu tư duy và phản ứng kiểu cộng sản.

– Có phải ý ông là ông muốn thuần hóa người Nga? Làm cho mọi người đều hành xử theo cùng một cách? – Pavlov ngạc nhiên.

– Chính xác! – Lenin nói – Con người có thể bị cải biến. Con người có thể làm những gì chúng ta muốn họ làm.

Hồng Liên (theo Epoch Times)

Nguồn: http://tinhhoa.net/nhin-lai-nhung-nam-thang-khung-bo-do-o-lien-xo.html

 
Advertisements

Bình luận Quy định 102 của ĐCSVN

Bình luận Quy định 102 của ĐCSVN

 Nguyễn Đình Cống

I. Giới thiệu Quy định 102

Ngày 15 tháng 11/2017 Đảng CSVN ban hành QĐ số 102 – QĐ/TW về XỬ LÝ KỶ LUẬT ĐẢNG VIÊN VI PHẠM. QĐ này thay cho QĐ số 181 – QĐ/TW ngày 30/3/2013. Về hình thức: QĐ 102 gồm 31 trang A4, tổng trên 2 vạn chữ, quá dài. Về nội dung, có 5 chương với 37 điều. Chương I – Qui định chung (6 điều). Chương II – Các vi phạm về chính trị, tổ chức. Điều 7 – Quan điểm chính trị. 8 – Tập trung dân chủ. 9 – Bầu cử. 10 – Tuyên truyền, phát ngôn. 11 – Tổ chức, cán bộ. 12 – Bí mật. Chương III – Các vi phạm về chính sách, pháp luật. Điều 13 – Phòng chống tội phạm. 14 – Thanh tra, kiểm tra. 15 – Khiếu nại tố cáo. 16 – Tham nhũng lãng phí. 17 – Đầu tư xây dựng. 18 – Tài chính ngân hàng. 19 – Nhân đạo từ thiện. 20 – An sinh xã hội. 21 – Đất đai, nhà ở. 22 – Văn bằng chứng chỉ. 23 – Lập hội, biểu tình. 24 – Hôn nhân gia đình. 25 và 26 – Kết hôn, quan hệ với người nước ngoài. 27 – Kế hoạch hóa gia đình. 28 – Đạo đức y tế. Chương IV – Các vi phạm về đạo đức lối sống, tín ngưỡng tôn giáo. 29 – Lãnh đạo điều hành. 30 – Chức trách công vụ. 31 – Tệ nạn xã hội. 32 – Bạo lực gia đình. 33 – Đạo đức, nếp sống. 34 – Tín ngưỡng tôn giáo. Chương V – Điều khoản thi hành (3 điều).

QĐ 102 có hình thức và nội dung tương tự so với QĐ 181, có thêm 1 điều về thời hiệu xử lý kỷ luật (điều 3). Mỗi điều của các chương II; III; IV có 3 mục 1; 2; 3 ứng với 3 mức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo (hoặc cách chức), khai trừ. Mỗi mục (1; 2; 3) lại có các tiểu mục a; b; …I, k, kể ra chi tiết các hành động, lời nói, ý nghĩ vi phạm kỷ luật.

Tôi chưa so sánh toàn bộ từng chi tiết của QĐ 102 và 181, chỉ xin lấy vài so sánh làm thí dụ: mấy chữ cuối tiểu mục a, mục 3, điều 8 QĐ 102 viết là “Đảng và dân tộc” thì ở QĐ 181 viết là “Đảng và nhân dân” (thay Nhân dân bằng Dân tộc), ở cuối mục 3 điều 8 của QĐ 102 là: “đơn vị nơi mình sinh hoạt”, còn tương đương ở QĐ 181 là: “đơn vị nơi mình sinh hoạt, công tác” (bớt chữ công tác), ở cuối mục 3 điều 10 là “đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta”, còn ở QD 181 là “đối với Đảng” (thêm Nhà nước và chế độ ta), hoặc như tiểu mục e và g, mục 3 điều 13 là chia đôi nội dung tiểu mục e của QĐ 181. v.v…

Tôi chỉ mới tập trung xem các vi phạm bị khai trừ (mục 3 trong các điều), vấn đề được nhiều người quan tâm. Thấy rằng Ở QĐ 102 thêm vào khá nhiều việc mà ở QĐ 181 chưa nói tới. Lấy dẫn chứng điều 7 QĐ 102, có 10 tiểu mục (a đến k) với khoảng 350 từ, tương đương của QĐ 181 có 6 tiểu mục (a đến e) với 174 từ. QĐ 102 thêm vào các việc như là: “Phản bác nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế tam quyền phân lậpxã hội dân sựđa nguyên, đa đảng. Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng.Tác động, lôi kéo, định hướng dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng. Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi ‘phi chính trị hóa’ quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học – nghệ thuật. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước”.

Điều 8, có thêm: “Trả thù người góp ý, đấu tranh, phê bình, tố cáo hoặc người cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến vi phạm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân mình”. Điều 16 thêm 7 tiểu mục (từ e đến m) về các vi phạm liên quan đến lợi dụng chức vụ để tham nhũng, trục lợi, Điều 18 thêm tiểu mục e về thông đồng với cấp dưới để tham nhũng. Điều 31 vẫn giữ nguyên 5 tiểu mục, nhưng nội dung về đánh bạc được chuyển từ tiểu mục a (QĐ181) xuống tiểu mục đ (QĐ102).

II. Vài lời bình luận

Đọc xong QĐ 102 tôi có một số nhận xét sau:

1. Sự quá suy yếu của ĐCS

Một tổ chức (hoặc xã hội) là vững chắc, mạnh mẽ khi các thành viên tự giác hiểu rõ và thực thi đúng đắn, đầy đủ nghĩa vụ của mình mà ít cần đến khen thưởng hoặc kỷ luật. ĐCSVN đang mắc vào lỗi nặng. Một mặt khi đảng viên (ĐV) vi phạm luật pháp thì được tổ chức Đảng bao che bằng Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày 7/7/2007, mặt khác, trong nội bộ lại ban hành nhiều qui định quá rườm rà về kỷ luật. Năm 1988 có Chỉ thị số 27-CTCT/TW, ngày 4 tháng 2. Tiếp đến Qui định số 94/QĐ-TW ngày 25/10/2007, tiếp theo là 181-QĐ/TW, ngày 30/3/2013, rồi đến QĐ 102. Trong QĐ 94 năm 2007 mới chỉ có 12 điều. Càng ngày QĐ càng dài thêm.

Người ta nhầm tưởng ban hành QĐ kỷ luật ĐV càng dài, càng chi tiết chứng tỏ sự nghiêm minh và sáng suốt của cấp trên. Không phải. Nghĩ như thế, làm như thế là vấp phải nhầm lẫn lớn. Đảng đã có điều lệ, trong đó viết khá rõ về kỷ luật ĐV.Đối với một tổ chức có trí tuệ, vững mạnh, như thế là đủ. Tại sao ĐCSVN lại thấy chưa đủ. Phải ban hành thêm hết QĐ này đến QĐ khác chỉ với một nội dung xử lý kỷ luật ĐV, rồi cảm thấy còn thiếu nên ban hành thêm 19 điều cấm.

Để thắt chặt một tố chức có hai loại liên kết: bên trong và bên ngoài. Liên kết bên trong là chất keo, đó là lý tưởng, là đoàn kết. Liên kết bên ngoài là các dây buộc, đó là các điều cấm, các loại kỷ luật. Liên kết trong làm cho người ta yêu thương, tin cậy nhau. Liên kết ngoài làm người ta nghi kỵ nhau, đề phòng nhau. Đã không thể tạo lập liên kết trong mà phải nhờ cậy liên kết ngoài thì còn đâu là tổ chức vững mạnh, chỉ cần đứt một vài dây buộc là tất cả sẽ tung ra. Hiện trạng của ĐCS bây giờ là không có cách gì tạo được liên kết trong rộng rãi. Đúng ra khi đã rơi vào trạng thái như vậy thì phải tìm cách thay đổi từ gốc, tìm một loại liên kết trong khác, phù hợp, nhưng lãnh đạo ĐCSVN. vì thiếu trí tuệ nên chỉ thấy liên kết ngoài, chỉ có thể dùng dây buộc mà không thể dùng keo.

2. Ẩn giấu sự thiếu lòng tin vào cấp dưới và ĐV

Điều lệ Đảng đã ghi rõ 3 hình thức kỷ luật, cách tự kiểm điểm và kiểm điểm tại chi bộ, thẩm quyền thi hành kỷ luật, báo cáo, quyết định, khiếu nại. Mặc dầu trong điều lệ không ghi rõ các lĩnh vực và mức độ vi phạm ứng với từng mức kỷ luật, nhưng mỗi ĐV có trình độ bình thường đều hiểu được rằng mắc lỗi nhẹ thì chỉ phê bình, góp ý, mắc lỗi vừa thì khiển trách, nặng hơn thì cảnh cáo, quá nặng thì khai trừ. Như thế nào là nhẹ hoặc nặng thì tập thể chi bộ thảo luận trên từng sự việc cụ thể, nếu không thống nhất thì còn báo cáo cấp trên, nếu không thỏa đáng thì còn khiếu nại. Tôi nghĩ, chỉ trừ vài trường hợp quá đặc biệt, tuyệt đại đa số các chi bộ đủ trí tuệ để biết mức độ kỷ luật cần thiết cho từng trường hợp.

Nếu đã tin vào khả năng các cơ sở đảng có thể vận dụng điều lệ thì cần gì phải ban bố hết QĐ này đến QĐ khác với những hướng dẫn rất chi tiết. Chỉ vì cấp trên không tin. Họ nghĩ rằng nếu không được hướng dẫn thật chi tiết thì cấp dưới có thể không biết, làm sai, không bảo đảm tính nghiêm minh. Việc này còn che giấu thói kiêu ngạo, coi thường người khác.

Người ta cho rằng phải vạch ra cho đầy đủ mọi trường hợp, mọi tình huống. Nhưng trí tuệ một vài người làm sao bao quát được mọi chuyện có thế xẩy ra, chưa xẩy ra trong cuộc đời. Mà thực ra không nên làm như vậy, không thể làm như vậy. Để đề phòng chuyện này trong QĐ cũng có nêu: Trường hợp đảng viên vi phạm những nội dung chưa có trong Quy định này thì căn cứ vào quy định của Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước và vận dụng Quy định này để xử lý kỷ luật cho phù hợp” (điều 1). Đã có Điều lệ Đảng và Pháp luật Nhà nước thì cần gì phải thêm QĐ 102. Còn nữa: “Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc cần bổ sung, sửa đổi thì báo cáo để Bộ Chính trị xem xét, quyết định” (điều 37).

3. Thể hiện sự kém trí tuệ, làm một việc quá lãng phí.

ĐCSVN từ một đảng làm cách mạng chuyển thành đảng cầm quyền. Điều này đòi hỏi phải thay đổi nhiều thứ để phù hợp với vai trò và nhiệm vụ mới. Nhưng lãnh đạo của đảng vẫn cố duy trì cung cách cũ nên gặp phải nhiều mâu thuẩn, phát sinh nhiều khó khăn. Để giải quyết các khó khăn và mâu thuần này lãnh đạo không nghĩ ra được điều gì hay mà lại không chịu nghe những góp ý chân thành. Đó chỉ là do họ muốn bảo vệ lợi ích cá nhân và nhóm

Nếu không vì lợi ích cá nhân và nhóm mà thật sự vì lợi ích của Đảng và của Dân tộc thì những người lãnh đạo nên và phải làm theo cách khác. Cách nào? Cách mà phần lớn các nước đang thực hành có hiệu quả là dựa vào 3 nguồn: Kinh tế thị trường tự do, Chế độ dân chủ đa nguyên với tam quyền phân lập, Xã hội dân sự.

Lãnh đạo cứ tưởng ban hành QĐ 102 sẽ củng cố được kỷ luật, tăng cường đoàn kết. Không đâu, ngược lại thì có. Có thể các ĐV sẽ dè dặt hơn trong phát ngôn và hành động, nhưng sẽ sôi sục hơn trong ý nghĩ. Các ĐV sẽ đề phòng nhau, tỏ ra sợ sệt hơn. Sự kém trí tuệ còn thể hiện trong một số chỗ nhầm lẫn và trinh bày ngô nghê, mà phải phân tích kỹ mới thấy được. Về trình bày: Tuy nêu ra nhiều chi tiết vi phạm thuộc nhiều lĩnh vực, nhưng nhiều việc vẫn ở dạng tù mù vì chỉ là định tính trong một khoảng rất rộng. Nhiều câu văn, nhiều nội dung trùng lặp hàng vài chục lần, quá nhàm chán.

Cứ cho rằng khi mà kỷ luật trong đảng đã quá rệu rã, nguy cơ tự diễn biến quá cấp bách, rất cần xiết chặt tổ chức thì phải ban hành QĐ về xử lý kỷ luật ĐV vi phạm như là một giải pháp tình thế. Nếu thế thì việc gì phải ra QĐ 102 dài dòng, chỉ cần bổ sung và sửa chữa một chút QĐ 181 là được. Việc soạn thảo, ban hành QĐ 102 gây ra tốn kém không cần thiết. Hay QĐ 181 do một người khác ký, bây giờ người mới phải ký để tạo uy danh. Không phải thế đâu. Với những người hiểu biết thì họ xem việc đó như là một kiểu đạo văn.

4. Ẩn giấu sự run sợ

Ban hành QĐ 102, bên ngoài tỏ ra kiên quyết, nhưng bên trong ẩn giấu sự run sợ, thể hiện bởi tăng cường kỷ luật khai trừ đối với nhiều vi phạm vừa được thêm vào. Đó là những lời dọa dẫm những kẻ yếu bóng vía, là nắm giẻ bịt miệng những kẻ cầu an, nhưng là trò cười đối với người có bản lĩnh. Các lãnh đạo ĐCSVN quá tôn thờ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền XHCN, nền kinh tế thị trường định hướng XHVN nên ĐV nào có ý phản bác là khai trừ ngay. Họ cũng quá thù hận thể chế ‘tam quyền phân lập’, ‘xã hội dân sự’, ‘đa nguyên, đa đảng’. nên ĐV nào dám đòi thực hiện thì phải khai trừ ngay. Họ cũng phải giữ cho được sự toàn trị, phải nắm thật chắc lực lượng vũ trang và báo chí,văn học, nghệ thuật, ĐV nào nghi ngờ đến sự lãnh đạo trong 2 lĩnh vực đó phải khai trừ ngay. Thử hỏi tôn thờ những thứ độc hại và mơ hồ, thù hận những xu hướng tiến bộ mà đại đa số các nước văn minh theo đuổi thì liệu có tồn tại được lâu dài. Chắc họ biết dư luận cho rằng khó có thế lực bên ngoài đánh đổ được CS, mà CS chỉ bị sụp đổ từ bên trong. Họ quá lo sợ cái thế lực bên trong ầy nên tìm cách tận diệt. Nhưng diệt thế nào được lực lượng phát sinh và phát triển theo đúng quy luật.

5. Ra oai và lên gân

Những vi phạm về tham nhũng, lảng phí viết ở điều 16.. Điều này được bổ sung nhiều tiểu mục, kể ra rất nhiều hành vi, nhưng xem ra chỉ là đánh trống và hô khẩu hiệu. Việc chống tham nhũng và lãng phí ở dạng “đã hổ” tuy có làm dăm ba vụ nhưng hiệu quả chưa rõ ràng, còn loại ruồi nhặng tràn lan khắp nơi thì vài chục cái QĐ 102 chẳng làm gì được.

III. Nhận xét chung

Toàn bộ tinh thần, nội dung và văn bản của QĐ 102 thể hiện một trình độ trí tuệ quá thấp, có cái nhìn thiển cận, sự bảo thủ nặng nề, sự độc đoán lên tột đỉnh, sự quẩy đạp trong hấp hối. Rồi cũng sẽ giống như số phận của nhiều quyết định hoặc nghị quyết khác, tốn nhiều công sức và giấy mực để làm ra, tốn nhiều thời gian và công sức để phổ biến và quán triệt, nhưng rồi chẳng mang lại được nhiều kết quả tích cực, sẽ là lợi ít hại nhiều. Để cứu vớt phần nào uy tín và danh dự của Đảng thì phải có những cải cách triệt để chứ không phải bằng cách tạo ra nhiều nghị quyết hoặc quyết định có giá trị quá thấp, mà lại cứ nhầm tưởng là kết quả của đỉnh cao trí tuệ.

N.Đ.C.

Tác giả gửi BVN.

Từ Đồng Tâm đến Cai Lậy: Những bài học chính yếu

Từ Đồng Tâm đến Cai Lậy: Những bài học chính yếu

 Nguyễn Quang Dy

Năm 2017 bắt đầu với sự kiện Đồng Tâm (4/2017) đầy kịch tính và đang kết thúc với sự kiện BOT Cai Lậy (12/2017) còn nóng hổi và không kém bi kịch. Trước đó một năm, vụ Formosa (4/2016) gây thảm họa môi trường miền Trung làm cả nước rung chuyển, vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ lớn như một quả bom nổ chậm chưa được tháo ngòi. Đây là những vụ bê bối lớn tầm quốc gia, gây tắc nghẽn về thể chế (institutional bottlenecks) vẫn chưa được tháo gỡ, làm “chính phủ kiến tạo” mắc kẹt trong thế “tiến thoái lưỡng nan”…

Đồng Tâm “cùng tắc biến”

Vụ khủng hoảng con tin Đồng Tâm là một sự kiện điển hình về quy luật “cùng tắc biến”. Tuy kết thúc “có hậu” đầy kịch tính được dư luận lúc đó đồng tình, nhưng vì quyền lực và tham nhũng chưa được kiểm soát do thể chế chưa đổi mới, nên kết thúc có hậu đang bị người ta tìm cách đảo ngược. Hành động này đang gây khủng hoảng lòng tin trong dân, và tiềm ẩn nguy cơ như một quả bom nổ chậm có thể gây ra tai họa khó lường. Vì vậy, Đồng Tâm vẫn ách tắc mà chưa được hóa giải để “biến tắc thông” như dư luận mong đợi.

Những vụ bê bối này có cùng một nguyên nhân cốt lõi là thể chế bị các nhóm lợi ích thân hữu thao túng, bất chấp lòng dân bất bình, để đạt mục đích trước mắt là tận thu vì lợi ích nhóm. Họ có thể chiếm đoạt đất đai của dân (như tại Đồng Tâm) hay tận thu phí cầu đường (như tại Cai Lậy và các trạm BOT khác). Mẫu số chung là lòng tham vô đáy, mà nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thi Doan đã mô tả là “ăn của dân không từ một cái gì”.

Chính họ đang cố trì hoãn đổi mới, làm đất nước tụt hậu, và đẩy người dân đến bước đường cùng, buộc phải phản kháng (bất bạo động) như tại Đồng Tâm và Cai Lậy. Những người nông dân Đồng Tâm hay những tài xế trên Quốc lộ 1 không phải là “thế lực thù địch” đang “diễn biến hòa bình” mà chính những nhóm lợi ích đang đẩy họ tới bước đường cùng để làm giàu bất minh đang “tự diễn biến” để tận thu, trước khi tẩu tán ra nước ngoài.

Quy trình tận thu

Tại BOT Cai Lậy, chính quyền địa phương (Tiền Giang) hay cơ quan chức năng (Bộ Giao thông) vẫn ứng xử theo “đúng quy trình” như tại Đồng Tâm hay Formosa. Điều đó cũng dễ hiểu, vì các nhóm lợi ích thân hữu thường bảo vệ “lợi ích bất minh” của mình bằng cách thao túng thể chế như một thế lực ngầm. Khi quyền lực bất minh không bị kiểm soát thì chống tham nhũng sẽ biến thành tranh giành quyền lực giữa các phe nhóm.

Thực ra các “nhóm lợi ích” (interest groups) ở đâu cũng có, như một thực tế bình thường trong xã hộị, không có vấn đề gì đặc biệt. Nó chỉ có vấn đề khi bị các thế lực độc quyền bóp méo và thao túng biến thành lợi ích “đặc biệt” (special/vested interests) với mục đích và phương tiện bất minh. Cũng như vậy, BOT là một phương thức đầu tư tốt, không có vấn đề. Nó chỉ có vấn đề khi bị các thế lực độc quyền bóp méo và thao túng biến thành công cụ đặc quyền để tận thu của dân và của nhà nước. Một khi họ đã tận thu nguồn ngân sách nhà nước đến cạn kiện thì họ sẽ tìm mọi cách tận thu của dân bằng các hệ thống thu phí (rents-seeking).

Những xã hội chuyển đổi (transitional) như Việt Nam hay Trung Quốc, là môi trường thuận lợi (và béo bở) để các thế lực độc quyền và tham nhũng thao túng và làm giàu dưới các hình thức biến thái của hệ thống thu phí. Họ làm được điều đó không phải vì tài giỏi, mà vì thể chế và hệ điều hành yếu kém, không dựa trên pháp quyền và “tam quyền phân lập”, nên dễ bị thao túng. Trong khi đó, đa số người dân còn thiếu hiểu biết và thiếu ý thức, nên thường sợ chính quyền và cam chịu số phận. Vì vây, người ta mới nói, “dân nào thì chính phủ ấy”. Nhưng vụ Đồng Tâm và Cai Lậy đang tạo ra tiền lệ mới, như một bước ngoặt quan trọng.

Hàn xoong hàn nồi

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có lần nói đến nghề “hàn xoong hàn nồi” thời trước, tuy nay không còn, nhưng thói quen tư duy chắp vá cho qua chuyện đến nay vẫn còn. Nhiều người vẫn nghĩ rằng cái gì họ cũng xử lý được bằng cách chắp vá, nhưng hàn được chỗ này thì lại thủng chỗ khác. Hình tượng “hàn xoong hàn nồi” rất giống thực trạng khi người ta tìm cách bịt các lỗ thủng của một hệ thống bất cập như cái xoong cũ bị thủng. Đồng Tâm và Cai Lậy là hai trường hợp điển hình mà người ta đang đối phó như “hàn xoong hàn nồi”. Nhưng liệu Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể có hàn được lỗ thủng do chính mình tạo ra? Liệu Việt Nam có thể chống được tham nhũng, nếu không dẹp được các BOT “biến thái”? Như Einstein từng nói, “bạn không thể giải quyết được vấn đề bằng chính tư duy đã tạo ra nó”.

Theo báo Tuổi Trẻ (4/12/2017) trong bài Trạm BOT Cai Lậy nhầm chỗ: Bộ Trưởng Nguyễn Văn Thể cần sửa sai!, ngày 28/10/2013, ông Nguyễn Văn Thể (nguyên thứ trưởng Bộ GTVT) đã ký ba công văn hỏa tốc gửi HĐND, UBND và đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tiền Giang về việc “thống nhất vị trí đặt trạm thu phí hoàn vốn dự án đầu tư xây dựng quốc lộ đoạn tránh qua thị trấn Cai Lậy theo hình thức BOT”. Ngày 19/12/2013, ông lại ký quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình Quốc lộ 1 đoạn tránh thị trấn Cai Lậy. Ông Nguyễn Văn Thể (Bộ trưởng) và ông Nguyễn Nhật (thứ trưởng) đã thao túng thể chế (bằng văn bản) và quy trình (bằng chỉ định thầu) chẳng khác gì ông Võ Kim Cự (vụ Formosa).

Họ có thể chọn nhà thầu là “sân sau” của ai đó, và tùy tiện thay đổi chủ đầu tư (như công ty Bắc Ái) theo “đúng quy trình” (bất minh), để được “lại quả” (một cách xứng đáng). Vì vậy mà lúc đầu ông Nguyễn Nhật luôn lớn tiếng khẳng định để bảo vệ dự án BOT Cai Lậy là “không có gì sai cả… tất cả đều đúng quy trình…” và ai chống lại quy trình sẽ bị xử lý. Nhưng khi sự việc vỡ lở, trở thành điểm nóng của cả nước, thì “tư lệnh ngành” Nguyễn Văn Thể đột nhiên im lặng một cách khó hiểu (chắc lúc này “im lặng là vàng”). Theo báo chí (chính thống), khi còn là Thứ trưởng bộ GTVT, ông Thể đã ký duyệt quá nửa trong tổng số gần 90 dự án BOT tại Việt Nam, trong đó có 7 dự án BOT đặt trạm thu phí sai vị trí (như Cai Lậy).

Ngưu tầm ngưu mã tầm mã

Cũng theo báo Tuổi Trẻ, trong tháng 2/2017, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kết luận ông Nguyễn Nhật vào thời điểm giữ cương vị Ủy viên Ban cán sự Đảng UBND tỉnh Hà Tĩnh, “có phần trách nhiệm trong việc buông lỏng quản lý, điều hành, thiếu kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện dự án, để xảy ra các vi phạm trong thẩm định, phê duyệt, cấp phép và quản lý nhà nước đối với dự án Formosa Hà Tĩnh”. Tháng 11/2014, ông Nhật (nguyên Cục trưởng Cục Hàng hải, Bộ GTVT, đã bị “phê bình nghiêm khắc” do để xảy ra sai phạm tại 3 dự án nạo vét duy tu luồng hàng hải (là Hòn Gai – Cái Lân, Vũng Tàu – Thị Vải, Soài Rạp – Hiệp Phước). Nhưng với những thành tích bất hảo đó, ông Nhật vẫn trở thành Thứ trưởng bộ GTVT, một ngành mà người ta hay gọi là “lục lộ” (và thu phí BOT như “mãi lộ”).

Theo Infonet (5/12/2017) công ty Bắc Ái là chủ đầu tư thực sự của BOT Cai Lậy. UBND huyện Sông Lô (Vĩnh Phúc) đã từng gửi công văn đến UBND tỉnh Vĩnh Phúc yêu cầu làm rõ trách nhiệm của CTCP Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bắc Ái trong việc làm sạt lở bờ sông Lô, khu vực xã Cao Phong, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Nói cách khác, đó là một công ty khai thác cát (mà người ta hay gọi là “sa tặc”) đã góp phần hủy hoại môi trường một số nơi, nhưng lại là sân sau của Bộ GTVT. Người ta hay nói “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”, hoặc theo lời ông Lưu Vân Sơn khi đến thăm Việt Nam thì đó là cộng đồng “có chung vận mệnh”.

Nhưng không may cho họ là lúc này “tay phải và tay trái” đang tìm cách sát phạt lẫn nhau để chuẩn bị cho đại hội giữa kỳ. Theo quy luật, để duy trì quyền lực trong một thế giới biến động khôn lường, thì tranh giành quyền lực giữa các phe phái càng gia tăng, để giành giật lợi ích và để giữ ghế (thậm chí để bảo toàn tính mạng). Nếu dân chúng bị dồn đến bước đường cùng, họ buộc phải hành động ngày càng táo bạo và khôn ngoan (như các tài xế trả tiền lẻ cho trạm thu phí BOT) để bày tỏ thái độ bất bình của mình. Đó là cách họ phản đối việc thu phí bất minh của trạm BOT Cai Lậy, tuy ôn hòa nhưng rất hiệu quả bằng “bất tuân dân sự” (civil disobedience). Đó là một bước trưởng thành từ Đồng Tâm đến Cai Lậy…

Cai Lậy “biến tắc thông”

Theo luật sư Trần Quốc Thuận, nếu có một cuộc điều tra công khai minh bạch thì sẽ thấy “tất cả đều là đại án”. Tại sao trong mười năm qua, các trạm thu phí cầu đường thi nhau mọc lên như nấm trên khắp Việt Nam, khiến dân chúng điêu đứng? Hầu như 100% dự án BOT cầu đường có vấn đề vì từ năm 2011 đến 2015, trên toàn Việt Nam có 71 dự án BOT cầu đường thì cả 71 dự án đều không tổ chức đấu thầu, mà chỉ định “nhà đầu tư”. Tất nhiên họ không phải là thường dân. Ai cũng biết chủ đầu tư của BOT Cầu Giẽ và Hà Nội-Bắc Giang là bà Đỗ Huyền Tâm (phu nhân ông Nông Đức Mạnh). BOT Cai Lậy cũng không phải ngoại lệ.

Vì vậy, sự phản kháng của dân chúng đối với các dự án BOT, mà điển hình là với trạm thu phí BOT Cai Lậy, đã được dư luận đúc kết (tóm tắt như sau). Thứ nhất, lợi ích nhóm tồn tại khắp nơi. Thứ hai, BOT là mảnh đất màu mỡ nhất của lợi ích nhóm. Thứ ba, BOT là hình thức bóc lột người dân trắng trợn nhất. Thứ tư, một số quan chức bộ GTVT cùng nhóm lợi ích BOT. Thứ năm, các nhóm lợi ích BOT sẽ chống đối đến cùng (vì “chung vận mệnh”). Những gì đã diễn ra tại Đồng Tâm có thể diễn ra tại Cai Lậy và một số nơi khác tương tự. Tại Đồng Tâm và Cai Lậy, sự trấn áp bằng bạo lực của chính quyền đã bị vô hiệu hóa.

Câu chuyện không phải chỉ là BOT Cai Lậy hay các dự án BOT khác, mà là sự bất bình và phản kháng của người dân bị dồn đến bước đường cùng. Nói cách khác, đó là sự tồn vong của chế độ.

Trong số các câu hỏi cần đặt ra về những khuất tất của dự án BOT Cai Lậy, phải làm rõ tại sao Công ty TNHH BOT Đầu tư Quốc lộ 1 Tiền Giang (pháp nhân quản lý trạm thu phí BOT Cai Lậy) thành lập vào tháng 4/2014 trong khi công trình khởi công vào tháng 2/2014?; Công ty này có vốn đối ứng để thi công không hay 100% là vốn đi vay ngân hàng? Công ty này có đủ điều kiện đáp ứng các quy định về nhà đầu tư BOT hay không?

Những bài học chính yếu

Vụ khủng hoảng BOT Cai Lậy đã làm rõ mấy bài học chính yếu. Thứ nhất, họ đặt sai vị trí trạm thu phí để “đón lõng” tất cả xe đi qua đường số 1, để tận thu phí một cách bất minh. Thứ hai, họ không đếm xỉa đến lý do tại sao người dân bức xúc và phản ứng. Thứ ba, thái độ coi thường dân của chính quyền địa phương và cơ quan chức năng càng lộ rõ khi họ huy động không chỉ có cảnh sát giao thông mà còn cả cảnh sát cơ động và phương tiện trấn áp để “dằn mặt” lái xe như hành vi khủng bố người dân để bảo kê cho nhóm lợi ích BOT. Thay vì kiểm soát quyền lực để chống tham nhũng, họ đã ngang nhiên tham nhũng quyền lực.

Để sửa sai vị trí đặt trạm thu phí, Chính phủ cần lắng nghe ý kiến các chuyên gia (như tiến sỹ Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng VEPR) khuyến nghị Nhà nước sử dụng ngân sách để thanh toán 300 tỷ tiền đầu tư của nhà thầu đã nâng cấp đoạn đường cũ đi qua thị xã Cai Lậy. Đồng thời ông Thành đề nghị dời trạm thu phí BOT Cai Lậy vào đầu đoạn đường tránh mới xây, và yêu cầu kiểm toán lại dự án để đảm bảo công bằng. Người dân cũng cần rút ra bải học cơ bản về đấu tranh bằng phương thức “bất tuân dân sự” để gây sức ép. Yếu tố cốt lõi là phải tập hợp đông đảo người dân một cách hợp pháp, có tổ chức và đoàn kết chặt chẽ, đồng thời huy động báo chí lề trái và lề phải cùng vào cuộc để có tiếng nói chung mạnh mẽ hơn.

Tiếp theo dự án Formosa gây ra thảm họa môi trường tại Miền Trung (cách đây hơn một năm) thì cuộc khủng hoảng con tin tại Đồng Tâm do tranh chấp đất đai chưa có hồi kết (đầu năm nay) và cuộc khủng hoảng BOT Cai Lậy làm náo động dư luận cả nước (hiện nay) đang đặt “chính phủ kiến tạo” vào thế mắc kẹt làm tiến thoái lưỡng nan. Trước mắt, Thủ tướng đã quyết định dự án BOT Cai Lậy ngừng thu phí một/hai tháng như giải pháp tình huống cần thiết (tuy hơi giống “hàn xoong hàn nồi”). Nhưng về lâu dài, phải có giải pháp căn cơ hơn theo hướng đổi mới thể chế và dân chủ hóa, để tháo ngòi những quả bom nổ chậm nói trên. Nếu muốn dự án BOT Cai Lậy “biến tắc thông”, Việt Nam phải cải cách thể chế toàn diện, chuyển đổi hẳn sang cơ chế thị trường (bỏ định hướng XHCN). Nói tóm lại, Việt Nam phải thoát khỏi cái bẫy ý thức hệ tại ngã ba đường, bằng đổi mới vòng hai (2.0) trước khi quá muộn.

7-12-17

N.Q.D.

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 7-12-17

Nguồn: http://www.viet-studies.net/kinhte/NQuangDy_TuDongTamDenCaiLay.html

Liệu có phải khai trừ đồng chí Mác và đồng chí Ăng-ghen?

BVN 09/12/2017

Liệu có phải khai trừ đồng chí Mác và đồng chí Ăng-ghen?

 Nguyễn Khắc Mai

Karl Mars. Theo tôi biết thì cụ Mác, ban đầu viết tên như thế, sau này có người viết là Marx, và cụ chấp nhận như vậy (bây giờ ai cũng nghĩ tên cụ có nghĩa là thần chiến tranh). Nhưng điều quan trọng hơn, cụ là tổ sư của các đảng cộng sản. Các đảng cộng sản trên thế giới, kể cả cái hội nghị gì ở “Pẩy chinh” vừa qua cũng không nói gì khác. Như thế vẫn phải công nhận cụ là tổ sư của Đảng.

Thế nhưng đồng chí Karl Mars đang bị lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam đưa vào danh sách những đảng viên phạm kỹ luật có thể khai trừ, theo cái quy định trong Quyết định số 102 QĐ/TW do một ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức ký nhằm xử lý kỷ luật đảng viên.

Nguyên văn mà báo Tuổi Trẻ (thường) số ra ngày thứ Sáu 8-12-2017 đưa tin: Khai trừ Đảng nếu bôi nhọ lãnh tụ và Đảng, cụ thể là: “Đảng viên sẽ bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ nếu đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự”, “đa nguyên đa đảng”… bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Đảng… hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng”.

Thế thì cả ông Mác, cả ông Ăng-ghen là hai vị tổ sư, như tôi biết đều từng vi phạm mấy điều cấm kỵ đó của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng chí Mác từng nói và Ăng-ghen đã cho công bố trong Lời tựa tác phẩm của Mác Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848-1850, rằng, không có lý tưởng cộng sản cao đẹp nào cả, chẳng qua đó chỉ là một mệnh đề “trẻ con” của người sáng lập Chủ nghĩa Mác lúc thiếu thời, và đã vứt bỏ trong cuối đời. Dám vứt bỏ lý tưởng cộng sản của Đảng thì to gan thật. Tội chắc không thể tha. Điều thứ hai đồng chí Mác lại còn cả gan nêu lên như một nguyên lý: Nhà nước có cơ sở (nền tảng) tự nhiên là gia đình, có nền tảng nhân tạo là xã hội dân sự. Mác còn cho rằng tự do chính là biến nhà nước, cơ quan đặt trên xã hội, thành cơ quan hoàn toàn phụ thuộc vào xã hội! Ông không nói tào lao mà coi xã hội dân sự là nền tảng. Rõ ràng đồng chí Mác đã bác bỏ tư tưởng coi Đảng là nền tảng của nhà nước và xã hội. Về tư tưởng đa nguyên đa đảng thì cả hai đồng chí ấy đã đưa thành nguyên tắc trong Tuyên ngôn Cộng sản, không chỉ nói mà bằng văn bản hẳn hòi, không chối cãi được: “Các đảng cộng sản phải phấn đấu (xin nhấn mạnh hai chữ phấn đấu mà không biết PGS Bùi Hiền đề nghị viết thế nào), để đoàn kết và hợp tác với các đảng dân chủ, dân tộc trong mỗi quốc gia”. Hai đồng chí ấy khẳng định phải phấn đấu (nỗ lực, cố gắng) để vừa hợp tác lại vừa đoàn kết, chứ không hề nói phải xóa bỏ, thủ tiêu. Nói rõ là không những phải tôn trọng mà phải thực hành đa đảng lại ghi trong Cương lĩnh như đã biết.

Riêng cái tội “hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng” thì đồng chí Ăng-ghen có tội khi cho rằng: cuối cùng cũng phải làm sao để mọi người chấm dứt kiểu cư xử với các quan chức của Đảng – những người đầy tớ của mình – luôn luôn bằng sự tế nhị đặc biệt và thay cho sự phê bình lại ngoan ngoãn vâng lời họ như những-kẻ-quan-liêu-không-bao-giờ-mắc-sai-lầm. Cớ sao các đảng viên không coi các quan chức của mình là đầy tớ, để bảo ban, phê bình, mà lại quay ra coi họ như một đám-quan-liêu-không-bao-giờ-mắc-sai-lầm. (xin nhấn mạnh, ông không hề gọi là lãnh đạo. Dám coi vai trò lãnh đạo là đầy tớ, kẻ giúp việc mà thôi. (trích trong bài Chúng tôi đã vạch trần)

Đúng hai đồng chí này đã nói và làm trái với quan điểm, với quy định của Đảng. Nhưng cái khó là nếu khai trừ họ, thì còn đâu là chính danh, chính thống nữa, mà không, thì chả nhẽ lại cho rằng quan điểm hiện nay của Đảng là xét lại là phản bội các tổ sư Mác, Ăng-ghen.

Hay là phải bỏ đi cái văn bản, bởi dù sao văn bản không thể cao hơn nguyên lý mà hai vị tổ sư đã vạch ra. Nan giải thật đấy.

N.K.M.

Tác giả gửi BVN.

ĐÊM THẾ KỶ 20 CỦA TÔI – VÀ CÁC ĐỘT PHÁ NHỎ KHÁC

KAZUO

ĐÊM THẾ KỶ 20 CỦA TÔI – VÀ CÁC ĐỘT PHÁ NHỎ KHÁC

Báo cáo văn học của Kazuo Ishiguro – đoạt giải Nobel năm 2017

trong tuần lễ Nobel tại Thuỵ Điển và Na Uy

tại Viện hàn lâm Thuỵ Điển ngày 7 tháng 12 năm 2017

Phùng Hoài Ngọc chuyển ngữ

Nguồn text:

https://www.nobelprize.org/nobel_prizes/literature/laureates/2017/ishiguro-lecture_en.html

I

Nếu bạn gặp tôi vào mùa thu năm 1979, bạn có thể đã gặp khó khăn trong việc định vị tôi, xã hội hoặc thậm chí là chủng tộc. Tôi đã 24 tuổi. Các đặc điểm của tôi có thể thiên về Nhật Bản, nhưng không giống như hầu hết những người đàn ông Nhật Bản được nhìn thấy ở Anh trong những ngày đó, tôi có mái tóc buông tới vai và râu ria rậm rạp. Điểm nhấn duy nhất được thấy trong bài diễn văn của tôi là của một người nào đó ở các quận phía nam của nước Anh, đôi khi bị chệch hướng bởi ngôn ngữ địa phương hiếu chiến của thời Hippie. Nếu chúng tôi nói chuyện, chúng tôi có thể đã thảo luận về Bóng đá tổng lực  Hà Lan, hoặc album mới nhất của Bob Dylan, hoặc có lẽ là cái năm tôi chỉ làm việc với những người vô gia cư ở Luân Đôn. Nếu bạn đã đề cập đến Nhật Bản, hỏi tôi về nền văn hoá Nhật, bạn thậm chí có thể đã phát hiện ra một dấu vết của sự thiếu kiên nhẫn nhập vào cách  sống của tôi như tôi tuyên bố sự thiếu hiểu biết của tôi trên các căn cứ rằng tôi đã không đặt chân vào đất nước đó – thậm chí không có một kỳ nghỉ – kể từ khi rời Nhật Bản ở tuổi lên năm.

Mùa thu năm ấy tôi đến với một chiếc ba lô, một cây đàn ghi ta và một máy đánh chữ xách tay ở Buxton, Norfolk – một ngôi làng nhỏ ở Anh có một nhà máy nước cũ và những ruộng đồng bằng phẳng xung quanh nó. Tôi đến nơi này bởi vì tôi đã được chấp nhận vào khóa học “Sáng tạo Một năm sau đại học” (Creative University) tại trường Đại học East Anglia. Cách trường đại học mười dặm, tại thị trấn nhà thờ Norwich, nhưng tôi không có xe riêng và cách duy nhất tôi đi được là bằng phương tiện của một dịch vụ xe buýt hoạt động chỉ một lần vào buổi sáng, một lần vào buổi trưa và một lần buổi tối. Nhưng về điều này, tôi đã sớm khám phá, không phải là khó khăn lắm: Tôi hiếm khi được yêu cầu của trường đại học hơn hai lần một tuần. Tôi đã thuê một phòng trong một căn nhà nhỏ của một người đàn ông ở tuổi ba mươi mà vợ của anh ta đã bỏ anh ta. Không nghi ngờ gì nữa, đối với anh, căn nhà đầy những bóng ma của những giấc mơ tan vỡ – hoặc có lẽ anh chỉ muốn tránh tôi; trong mọi trường hợp, tôi đã không chú ý vào anh ta cho ngày kết thúc. Nói cách khác, sau cuộc sống điên cuồng mà tôi sống ở London, ở đây, tôi đã phải đối mặt với một số lượng không bình thường của yên tĩnh và cô đơn trong đó để chuyển mình thành một nhà văn.

Trên thực tế, căn phòng nhỏ của tôi không khác gì nhà gác xép của nhà văn cổ điển. Các trần nhà dốc lên một cách kín đáo – mặc dù nếu tôi đứng trên đầu ngón chân, tôi đã có một cái nhìn, từ một cửa sổ của tôi, về các cánh đồng cày xới trải dài ra xa. Có một cái bàn nhỏ, trên mặt là máy đánh chữ của tôi và một cái đèn bàn gần như đầy đủ. Trên sàn nhà, thay vì đặt giường, có một miếng bọt công nghiệp hình chữ nhật lớn, khiến tôi rơi vào giấc ngủ, ngay cả trong những đêm tuyệt vời của Norfolk.

Đó là trong căn phòng này mà tôi đã kiểm tra cẩn thận hai câu chuyện ngắn mà tôi đã viết trong suốt mùa hè, tự hỏi liệu chúng có đủ tốt để gửi cho bạn học mới của tôi (Chúng tôi là hs lớp sáu, gặp nhau hai tuần một lần). Vào thời điểm đó trong cuộc đời tôi, tôi đã viết thêm một chút về văn xuôi, đã giành được vị trí của mình trong khóa học với một vở kịch cho đài phát thanh bị đài BBC từ chối. Trên thực tế, khi ấy tôi có kế hoạch vững chắc để trở thành một ngôi sao nhạc rock vào lúc tôi 20 tuổi, những tham vọng văn chương của tôi chỉ mới được biết đến gần đây. Hai câu chuyện tôi đang xem xét kỹ lưỡng đã được viết ra bởi một sự hoảng loạn, theo những tin tức mà tôi đã được chấp nhận trong khóa học đại học. Một là về một thỏa hiệp tự tử khốc liệt, một cái khác về chiến đấu đường phố ở Scotland, nơi mà tôi đã dành thời gian làm công nhân cộng đồng. Hai truyện đều không được tốt. Tôi bắt đầu một câu chuyện khác, về một thanh thiếu niên đã đầu độc con mèo của mình, giống như những người khác trong ngày hôm nay ở Anh. Rồi một đêm, trong tuần thứ ba hoặc thứ tư của tôi trong căn phòng nhỏ, tôi thấy mình đang viết với một cường độ mới và cấp bách về Nhật Bản – về thành phố sinh ra của tôi là Nagasaki trong những ngày cuối cùng của Thế chiến thứ Hai.

Điều này, tôi nên chỉ ra, đã đến như là một điều gì đó ngạc nhiên với tôi. Ngày nay, bầu khí quyển thịnh hành tại sao cho nó là một bản năng của một nhà văn trẻ đầy tham vọng với di sản văn hoá hỗn hợp để khám phá nguồn gốc của mình trong công việc. Nhưng điều đó là  khác xa trường hợp này. Chúng tôi vẫn còn vài năm đi sau vụ bùng nổ văn học ‘đa văn hóa’ ở Anh. Salman Rushdie là một người không nổi tiếng về một cuốn tiểu thuyết không xuất bản mang tên ông. Khi được yêu cầu đặt tên cho nhà văn trẻ người Anh hàng đầu lúc đó, mọi người có thể đã đề cập đến Margaret Drabble; về các nhà văn lớn tuổi, Iris Murdoch, Kingsley Amis, William Golding, Anthony Burgess, John Fowles. Những nhà văn nước ngoài như Gabriel García Márquez, Milan Kundera hay Borges chỉ được đọc với số lượng nhỏ, tên của họ vô nghĩa thậm chí là với người đọc hăng hái.

II

Đó là khí hậu văn học của ngày mà khi tôi hoàn thành câu chuyện Nhật Bản đầu tiên, vì tất cả cảm giác của tôi đã khám phá ra một hướng mới quan trọng, tôi bắt đầu ngay để tự hỏi liệu chuyến khởi hành này có nên được xem như một sự tự cho phép; nếu tôi không nên nhanh chóng trở lại nhiều hơn với đối tượng ‘bình thường’. Chỉ sau khi có một sự lưỡng lự đáng kể, tôi bắt đầu thể hiện câu chuyện xung quanh, và tôi vẫn mãi cảm thấy rất biết ơn các bạn sinh viên của mình, với những người gia sư của tôi, Malcolm Bradbury và Angela Carter, và nhà văn Paul Bailey – năm đó là nhà văn- cư trú tại chỗ – nhờ những phản hồi đáng khích lệ của họ. Nếu họ ít tích cực hơn, có lẽ tôi sẽ không bao giờ viết lại được nữa về Nhật Bản. Khi đó, tôi trở lại phòng tôi, viết và viết. Suốt mùa đông 1979-80, và vào mùa xuân, tôi đã nói chuyện với hầu như không ai ngoài 5 học sinh khác trong lớp của tôi, người bán tạp hóa của làng mà tôi mua ngũ cốc ăn sáng và những quả cật cừu mà tôi đã ăn và bạn gái của tôi, Lorna, (hôm nay là vợ tôi) đã đến thăm tôi vào mỗi cuối tuần thứ hai. Nó không phải là một cuộc sống cân bằng, nhưng trong bốn hoặc năm tháng đó, tôi đã hoàn thành được một nửa cuốn tiểu thuyết đầu tiên của mình, A Pale View of Hills (Tầm nhìn nhợt nhạt những quả đồi)- cũng được đặt tại Nagasaki, trong những năm hồi phục sau khi bị bom nguyên tử. Tôi có thể nhớ thỉnh thoảng trong giai đoạn này làm sáng tỏ một số ý tưởng về những truyện ngắn không đặt tại Nhật Bản, chỉ để thấy sự quan tâm của tôi trôi đi nhanh chóng.

Tôi đã đến Anh, khi lên 5 tuổi, với cha mẹ và em gái vào tháng Tư năm 1960, thị trấn Guildford, Surrey, trong ‘vành đai môi giới chứng khoán’ giàu có  ba mươi dặm về phía nam London. Cha tôi là một nhà khoa học nghiên cứu, một nhà hải dương học đến làm việc cho chính phủ Anh. Máy tính mà ông tiếp tục sáng chế là một phần của bộ sưu tập vĩnh viễn tại Bảo tàng Khoa học ở London.

Các bức ảnh được chụp ngay sau khi chúng tôi đến cho thấy một nước Anh nhìn từ “một thời kỳ đã biến mất”. Đàn ông mặc áo len cổ chữ V với dây buộc, xe hơi vẫn còn có bảng chạy và một bánh xe dự phòng ở mặt sau lưng. Nhóm nhạc The Beatles, cuộc cách mạng tình dục, sự phản đối của sinh viên, tình trạng ‘đa văn hóa’ là tất cả các góc xung quanh, nhưng thật khó tin rằng nước Anh nơi  đụng đầu đầu tiên của gia đình tôi thậm chí nghi ngờ nó. Để gặp gỡ một người nước ngoài từ Pháp hoặc Ý đã là đáng kể – chưa nói đến một  gia đình đến từ Nhật Bản.

Gia đình chúng tôi sống trong một khu nhà mười hai căn hộ chỉ ngay nơi các con đường lát vỉa hè kết thúc và vùng nông thôn bắt đầu. Khoảng 5 phút tản bộ đến nông trại địa phương và con đường nhỏ những hàng bò bò lê bước đi lại giữa các cánh đồng. Sữa được giao bằng ngựa và giỏ. Một cảnh tôi nhớ rõ nét từ những ngày đầu tiên ở Anh là những con nhím – những con vật dễ thương, to tướng, những sinh vật ban đêm ở đó – bị đè bẹp bởi những chiếc xe hơi ban đêm, nằm lại trong sương buổi sáng, để riêng bên lề đường, đang chờ bộ sưu tập của những người nhặt phế liệu.

Tất cả những người hàng xóm của chúng tôi đi nhà thờ, và khi tôi đi chơi với con cái của họ, tôi nhận thấy họ nói một lời cầu nguyện nhỏ trước khi ăn.

Tôi đã học ở trường Chủ nhật, và trước đó đã hát trong dàn hợp xướng nhà thờ, mười tuổi, trở thành, người Nhật Bản đầu tiên làm đội trưởng đội đồng ca ở Guildford. Tôi đến trường tiểu học địa phương – nơi tôi là một đứa trẻ duy nhất không nói tiếng Anh,  có thể trong toàn bộ lịch sử của trường đó – và từ khi tôi mười một tuổi, tôi đi bằng xe lửa đến trường dạy ngữ pháp ở một thị trấn lân cận, chia sẻ vận chuyển hàng ngày với nhiều đàn ông trong bộ quần áo vải sọc và mũ quả dưa, trên đường đến văn phòng của họ ở London.

Vào giai đoạn này, tôi đã được dạy dỗ kỹ lưỡng về cách cư xử của những chàng trai trung lưu người Anh trong những ngày đó. Khi đi thăm nhà của một người bạn, tôi biết tôi nên chú ý ngay khi một người lớn đi vào phòng; Tôi đã học được rằng trong bữa ăn, tôi phải xin phép trước khi rời khỏi bàn. Là một cậu bé nước ngoài duy nhất trong khu phố, một loại tiếng tăm địa phương đã theo tôi đó đây. Những đứa trẻ khác biết tôi là ai trước khi tôi gặp họ. Những người trưởng thành là những người lạ mặt hoàn toàn đối với tôi đôi khi gọi tên tôi, trên đường phố hoặc tại cửa hàng địa phương.

Khi tôi nhìn lại thời kỳ này, và nhớ rằng nó chưa đầy hai mươi năm kể từ khi chiến tranh thế giới kết thúc, trong đó Nhật Bản đã là kẻ thù cay đắng của họ, tôi ngạc nhiên trước sự cởi mở và sự hào phóng  bản năng của gia đình chúng tôi được cộng đồng Anh ngữ bình thường này chấp nhận. Tôi luôn nhớ đến tình cảm, sự tôn trọng và sự tò mò mà tôi dành cho những thế hệ người Anh ở Britons đã trải qua Chiến tranh thế giới thứ Hai, và xây dựng một nhà nước phúc lợi đặc biệt mới trong hậu chiến, xuất phát đáng kể từ kinh nghiệm cá nhân của tôi trong  những năm đó.

Nhưng tất cả thời gian này, tôi đã trải một cuộc sống ở nhà với cha mẹ người Nhật. Ở nhà có những quy tắc khác nhau, kỳ vọng khác nhau, một ngôn ngữ khác. Mục đích ban đầu của bố mẹ tôi là chúng tôi trở lại Nhật Bản sau một năm, có lẽ là hai. Trên thực tế, trong mười một năm đầu tiên của chúng tôi ở Anh, chúng tôi đã ở trong tình trạng thường xuyên “trở về năm sau”. Kết quả là, quan điểm sống của cha mẹ tôi vẫn là của du khách, chứ không phải của người nhập cư. Họ thường trao đổi quan sát về các phong tục lạ kỳ của người bản địa mà không cảm thấy bất kỳ bổn phận nào để áp dụng chúng. Và trong một thời gian dài, giả định vẫn là tôi sẽ trở lại sống cuộc đời trưởng thành của tôi ở Nhật Bản, và những nỗ lực đã được thực hiện để theo kịp  nền giáo dục Nhật Bản của tôi. Mỗi tháng có một bưu kiện đến từ Nhật Bản, chứa đựng những truyện tranh, tạp chí và các tạp chí giáo dục của tháng trước, tất cả những thứ tôi nuốt chửng. Những bưu kiện này đã dừng lại lúc nào đó trong tuổi thiếu niên của tôi – có lẽ sau cái chết của ông nội tôi – nhưng cuộc nói chuyện của cha mẹ tôi về những người bạn cũ, người thân, những cành sống ở Nhật Bản đều giữ được và ấn tượng. Và thế là tôi luôn luôn có những ký ức riêng mình – rộng lớn và rõ ràng: của ông bà, những đồ chơi yêu thích mà tôi đã để lại phía sau, ngôi nhà truyền thống Nhật Bản chúng tôi đã từng sống (mà tôi ngày nay thậm chí có thể tái tạo lại trong những căn phòng tâm trí của tôi ) trạm xe điện địa phương, con chó hung dữ sống trên cây cầu, chiếc ghế trong cửa hiệu cắt tóc đặc biệt thích nghi với những cậu bé nhỏ có tay lái xe đặt trước gương to.

Tất cả những gì tôi nghĩ đến là khi tôi lớn lên, rất lâu trước khi tôi nghĩ đến việc sáng tạo ra thế giới giả tưởng bằng văn xuôi, tôi đã tích cực xây dựng trong tâm trí của tôi một nơi có nhiều chi tiết gọi là “Nhật Bản” – một nơi mà tôi thuộc về nó theo cách nào đó, và từ đó đã có một cái nhìn nhất định về sự định dạng của tôi và sự tự tin của tôi. Thực tế là tôi chưa bao giờ trở về Nhật Bản trong thời gian đó chỉ phục vụ làm cho tầm nhìn riêng của tôi về đất nước này sinh động hơn và cá nhân hơn.

Kể từ đó là nhu cầu bảo quản (truyền thống gốc rễ). Cho đến lúc tôi đạt đến độ tuổi giữa hai mươi của mình – mặc dù tôi chưa bao giờ nói rõ điều này vào lúc đó – tôi đã đến lúc nhận ra những điều quan trọng nhất định. Tôi bắt đầu chấp nhận rằng ‘Nhật Bản’ của riêng tôi có lẽ không phù hợp với bất cứ nơi nào tôi có thể đến với máy bay; rằng cuộc sống mà cha mẹ tôi nói chuyện, mà tôi nhớ đến từ thời thơ ấu, đã biến mất trong những năm 1960 và 1970; rằng trong bất kỳ trường hợp nào, Nhật Bản đã tồn tại trong đầu tôi có thể luôn là một sự xây dựng cảm xúc được kết hợp bởi một đứa trẻ ra khỏi trí nhớ, trí tưởng tượng và suy luận. Và có lẽ quan trọng nhất, tôi nhận ra rằng với mỗi năm tôi lớn lên, Nhật Bản của tôi – nơi quý giá này mà tôi lớn lên – đang trở nên ngày càng mờ nhạt hơn.

Tôi bây giờ chắc chắn rằng đó là cảm giác này, “Nhật Bản của tôi” là duy nhất và cùng lúc rất mong manh – điều gì đó không mở ra để thẩm tra từ bên ngoài – khiến tôi cứ làm việc trong căn phòng nhỏ ở Norfolk. Những gì tôi đang làm là ghi lại những màu sắc đặc biệt của thế giới, phong tục, nghi thức, phẩm giá, những thiếu sót của nó, mọi thứ mà tôi từng nghĩ về nơi này, trước khi chúng biến mất mãi mãi. Đó là ước muốn của tôi để xây dựng lại Nhật Bản của tôi trong hư cấu, để làm cho nó an toàn, để tôi có thể sau đó chỉ vào một cuốn sách và nói: ‘Có, có Nhật Bản của tôi, bên trong đó’.

*

Mùa xuân năm 1983, ba năm rưỡi sau đó. Lorna và tôi đang ở Luân Đôn, thuê ở hai phòng trên một căn nhà hẹp cao, đứng trên một ngọn đồi ở một trong những điểm cao nhất của thành phố. Có một cột ăng ten ti vi gần đó và khi chúng tôi cố gắng nghe đĩa hát trên cái bàn xoay của chúng tôi, những tiếng phát thanh ma quái sẽ lôi kéo các diễn giả của chúng tôi một cách gián đoạn. Phòng khách của chúng tôi không có ghế sofa hoặc ghế bành, nhưng hai cái nệm trên sàn được phủ bằng đệm. Cũng có một cái bàn lớn mà tôi đã viết trong ngày, và chúng tôi ăn tối vào ban đêm. Đó không phải là sang trọng, nhưng chúng tôi thích sống ở đó. Tôi đã xuất bản tiểu thuyết đầu tiên của mình năm trước, và tôi cũng đã viết kịch bản cho một bộ phim ngắn khá sớm để  phát sóng trên truyền hình Anh.

Tôi đã có thời gian khá tự hào về cuốn tiểu thuyết đầu tiên của  mình, nhưng vào mùa xuân đó, một cảm giác không hài lòng nhiễu loạn đã gây ra về nó. Đây là vấn đề. Tiểu thuyết đầu tiên và chương trình truyền hình đầu tiên của tôi cũng quá giống nhau. Không phải trong chủ đề, mà  trong phương pháp và phong cách. Tôi càng nhìn vào nó, cuốn tiểu thuyết của tôi giống như một kịch bản – đối thoại cùng với hướng đi. Điều này đã  ổn cho đến một thời điểm, nhưng tôi muốn bây giờ là để viết tiểu thuyết có thể hoạt động phù hợp “chỉ trên trang giấy”. Tại sao viết một cuốn tiểu thuyết nếu nó sẽ cung cấp nhiều hơn hoặc ít hơn cùng một kinh nghiệm ai đó có thể nhận được bằng cách bật một truyền hình? Làm thế nào có thể viết văn hư cấu để tồn tại chống lại sức mạnh của điện ảnh và truyền hình nếu nó không cung cấp một cái gì đó độc đáo, một cái gì đó mà các hình thức khác không thể làm được?

Khoảng thời gian này, tôi đã bị nhiễm virus và phải nghỉ vài ngày trên giường. Khi tôi ra khỏi lúc tồi tệ nhất của nó, và tôi không cảm thấy như đang ngủ suốt, tôi phát hiện ra rằng có một vật thể nặng, hiện diện giữa giường ngủ của tôi đã gây phiền nhiễu cho tôi một thời gian, thực ra là tập sách đầu tiên của “Remembrance of Things Past”(Đi tìm thời gian đã mất, gồm 7 tập- ND) của nhà văn Pháp Marcel Proust. Ở đó, tôi bắt đầu đọc nó. Tình trạng vẫn còn sốt của tôi có lẽ là một yếu tố, nhưng tôi đã hoàn toàn thu hút bởi các phần “Overture và Combray”. Tôi đọc chúng nhiều lần. Khác với vẻ đẹp tuyệt vời của những đoạn văn này, tôi đã trở nên kinh ngạc bởi phương tiện mà theo đó Proust có một tập để dẫn tới kế tiếp. Thứ tự các sự kiện và cảnh quay không tuân theo yêu cầu bình thường của niên đại, cũng không phải là những cốt truyện tuyến tính. Thay vào đó, các liên kết suy nghĩ tiếp tuyến (xa rời chủ đề), hoặc sự biến đổi của bộ nhớ dường như chuyển văn bản từ tập này sang tập khác. Đôi khi tôi thấy mình tự hỏi: tại sao hai khoảnh khắc dường như không liên quan lại được đặt cạnh nhau trong tâm trí của người kể chuyện? Tôi có thể đột nhiên thấy một cách thú vị, tự do hơn để sáng tác tiểu thuyết thứ hai của tôi; một trong đó có thể tạo ra sự phong phú trên trang giấy và cung cấp các chuyển động bên trong không thể chụp trên màn hình bất kỳ. Nếu tôi có thể đi từ đoạn văn này sang đoạn khác theo các mối quan hệ tư tưởng của người kể chuyện và những ký ức trôi dạt, tôi có thể sáng tác theo một cách mà một họa sĩ trừu tượng có thể chọn để đặt hình dạng và màu sắc xung quanh một bức tranh. Tôi có thể đặt một cảnh từ hai ngày trước ngay bên cạnh một cảnh từ hai mươi năm trước, và yêu cầu người đọc cân nhắc mối quan hệ giữa hai cảnh. Theo cách đó, tôi bắt đầu suy nghĩ, tôi có thể gợi ý nhiều lớp tự lừa mình và phủ nhận che giấu quan điểm của bất kỳ người nào về cái tôi và về quá khứ của họ.

*

Tháng 3 năm 1988. Tôi 33 tuổi. Bây giờ chúng tôi đã có một chiếc ghế sofa và tôi đã nằm trên nó, nghe một album nhạc của Tom Waits. Năm trước, Lorna và tôi đã mua nhà riêng trong một khu vực không thời trang nhưng dễ chịu ở phía nam London, và trong căn nhà này, lần đầu tiên, tôi đã có một phòng làm việc riêng. Nó nhỏ, và không có cửa, nhưng tôi đã rất vui mừng khi trải ra các giấy tờ của mình và không phải dọn dẹp chúng đi vào cuối mỗi ngày. Và trong phòng nghiên cứu đó – hoặc tôi tin thế – tôi vừa mới hoàn thành cuốn tiểu thuyết thứ ba của mình. Đó là lần đầu tiên tôi không lấy bối cảnh ở Nhật Bản – một Nhật Bản của riêng tôi ít bị mong manh hơn khi viết tiểu thuyết trước. Trong thực tế, cuốn sách mới của tôi, được gọi là THE REMAINS OF THE DAY (Những ngày còn lại – ND), có vẻ như viết tiếng Anh ở mức cực đoan – mặc dù không, tôi hy vọng, theo cách thức của nhiều tác giả người Anh của thế hệ trước. Tôi đã cẩn thận không thừa nhận, như tôi cảm thấy rất nhiều người trong số họ, rằng độc giả của tôi đều là người Anh, với sự quen thuộc của người bản xứ về các sắc thái và sự bận tâm của người Anh. Vào lúc đó, các nhà văn như Salman Rushdie và V.S. Naipaul đã tạo ra một nền văn học Anh quốc quốc tế hơn, hướng ngoại hơn, không đòi hỏi bất kỳ trọng tâm hoặc tầm quan trọng tự động nào đối với  nước Anh. Văn chương của họ là sau thời thuộc địa theo nghĩa rộng nhất. Tôi muốn, giống như họ, viết tiểu thuyết “quốc tế” có thể dễ dàng vượt qua ranh giới văn hoá và ngôn ngữ, ngay cả khi viết một câu chuyện đặt ra trong một thế giới tiếng Anh đặc biệt. Phiên bản Anh của tôi sẽ là một loại huyền thoại, mà tôi tin rằng phác thảo đã có mặt trong trí tưởng tượng của nhiều người trên thế giới, kể cả những người chưa bao giờ viếng thăm đất nước này.

Câu chuyện tôi vừa hoàn thành là về một quản gia người Anh nhận ra rằng, quá trễ trong cuộc đời mình, rằng anh đã sống cuộc sống của mình bằng những giá trị sai; và rằng anh ta đã dùng  những năm tốt nhất để phục vụ một kẻ ủng hộ của Đức quốc xã; rằng bằng cách không chịu trách nhiệm đạo đức và chính trị cho cuộc đời của mình, ông có một ý nghĩa sâu xa nào đó đã lãng phí mạng sống đó. Và nhiều hơn nữa: trong nỗ lực của mình để trở thành người đầy tớ hoàn hảo, anh đã tự cấm bản thân yêu một người phụ nữ mà anh yêu.

Tôi đã đọc qua bản thảo nhiều lần, và tôi đã hài lòng một cách hợp lý. Tuy nhiên, có một cảm giác bối rối rằng có cái gì đó đã mất tích.

Sau đó, như tôi đã nói, ở nhà chúng tôi một buổi tối, trên ghế sofa, nghe Tom Waits. Và Tom Waits bắt đầu hát một bài hát có tên “Ruby’s Arms”. Có lẽ một số bạn biết điều đó. (Tôi thậm chí còn nghĩ về việc hát cho bạn vào thời điểm này, nhưng tôi đã thay đổi suy nghĩ của mình). Đó là một bản ballad về một người đàn ông, có thể là một người lính, để lại người yêu ngủ trên giường. Đó là buổi sáng sớm, anh ấy đi xuống đường, lên tàu. Không có gì bất thường trong đó. Nhưng bài hát được trình bày trong giọng nói của một người Mỹ thô lỗ lêu lổng hoàn toàn không quen để tiết lộ những cảm xúc sâu sắc hơn của mình. Và có một khoảnh khắc, ngay giữa bài hát, khi ca sĩ nói với chúng tôi rằng trái tim anh tan vỡ. Thời điểm này gần như không thể nào di chuyển được do sự căng thẳng giữa chính bản thân tình cảm và sự kháng cự to lớn rõ ràng đã được khắc phục để tuyên bố nó. Tom Waits hát dòng nhạc với sự lộng lẫy, và bạn cảm thấy một cuộc sống trừng phạt khắc nghiệt của chàng trai đang đổ nát khi đối mặt với nỗi buồn tràn ngập.

Khi tôi nghe Tom Waits, tôi nhận ra mình còn phải làm gì nữa. Tôi đã không thể đưa ra quyết định, một nơi nào đó cần trở lại, rằng người quản gia Anh của tôi sẽ duy trì được sự bảo vệ tình cảm của mình, rằng anh ta sẽ ẩn nấp sau họ, từ chính anh ta và người đọc đến cuối cùng. Bây giờ tôi thấy, tôi phải đảo ngược quyết định đó. Chỉ trong một khoảnh khắc, về cuối câu chuyện của tôi, một khoảnh khắc tôi phải lựa chọn cẩn thận, tôi đã phải làm cho áo giáp của anh ta bị rạn nứt. Tôi phải để cho một khát vọng to lớn và bi thảm được nhìn thấy bên dưới. Tôi nên nói ở đây rằng, trong nhiều dịp khác, tôi đã học được những bài học quan trọng từ tiếng nói của các ca sĩ. Tôi tham khảo ở đây ít hơn trong lời ca được hát lên, và nhiều hơn nữa để ca hát thực tế. Như chúng ta biết, tiếng nói của con người trong bài hát có khả năng thể hiện một sự pha trộn phức tạp của tình cảm. Qua nhiều năm, các khía cạnh cụ thể của văn chương của tôi đã bị ảnh hưởng bởi, bao gồm Bob Dylan, Nina Simone, Emmylou Harris, Ray Charles, Bruce Springsteen, Gillian Welch và bạn tôi và cộng sự Stacey Kent. Bắt lấy một cái gì đó trong tiếng nói của họ, tôi đã tự nói với mình: “À, đúng thế. Đó là những gì tôi cần phải nắm bắt trong cảnh đó. Một cái gì đó rất gần đó”. Thường thì đó là một cảm xúc mà tôi không thể diễn đạt bằng lời, nhưng theo giọng ca của ca sĩ và bây giờ tôi đã nhận được một cái gì đó để nhắm tới.

*

III

VÀO THÁNG 10 NĂM 1999, tôi đã được nhà thơ người Đức Christoph Heubner mời thay mặt cho Ủy ban Auschwitz Quốc tế  dành vài ngày thăm viếng trại tập trung cũ. Nơi ăn nghỉ của tôi là tại Trung tâm Hội nghị Thanh niên Auschwitz trên con đường giữa trại Auschwitz đầu tiên và cái trại chết người Birkenau hai dặm. Tôi đã được dẫn xem xung quanh các địa điểm này và gặp, không chính thức, ba người sống sót. Tôi cảm thấy tôi đến gần, ít nhất là về mặt địa lý, đến trái tim của bóng tối dưới bóng ma mà thế hệ tôi đã lớn lên. Tại Birkenau, vào một buổi chiều ướt sũng, tôi đứng trước những tàn tích của những buồng khí ngạt – bây giờ lạ lùng và không để ý – để lại nhiều như người Đức đã để lại chúng sau khi thổi chúng lên và chạy trốn khỏi Hồng quân. Giờ đây chúng chỉ là những tấm bị vỡ ẩm ướt, tiếp xúc với khí hậu khắc nghiệt của Ba Lan, ngày càng xấu đi theo từng năm. Những người chủ nhà của tôi nói về tình trạng tiến thoái lưỡng nan của họ. Nếu những dấu tích này vẫn được bảo vệ? Nếu được xây dựng mái vòm liên tục để trang trải cho họ, để bảo vệ chúng cho con mắt của thế hệ kế tiếp? Hay họ phải được cho phép, chậm rãi và tự nhiên, để  mặc thối rữa không? Dường như, tôi là một ẩn dụ mạnh mẽ cho tình trạng tiến thoái lưỡng nan lớn hơn. Những kỷ niệm như vậy được bảo tồn như thế nào? Các vòm kính sẽ biến những di vật của điều ác và đau khổ thành các cuộc triển lãm bảo tàng thuần túy? Chúng ta nên ghi nhớ điều gì ? Khi nào thì tốt hơn để quên và tiếp tục đi tới ?

Tôi đã 44 tuổi. Cho đến lúc đó, tôi đã coi Thế chiến thứ Hai, những kinh hoàng và thành công của nó, như thuộc về thế hệ cha mẹ tôi. Nhưng bây giờ thì đã xảy ra với tôi rằng, trước khi quá dài, nhiều người đã chứng kiến những sự kiện lớn như thế sẽ không còn sống nữa. Và những gì sau đó? Gánh nặng của việc ghi nhớ rơi vào thế hệ của tôi ư ? Chúng tôi đã không trải qua những năm chiến tranh, nhưng ít nhất chúng tôi đã được nuôi dạy bởi cha mẹ mà cuộc sống của họ đã được hình dáng không thể xóa nhòa bởi chúng. Liệu tôi, bây giờ, là một nhân viên kể chuyện công khai, có một nhiệm vụ mà trước đây tôi chưa biết đến? Một nghĩa vụ phải vượt qua, càng tốt nhất có thể, những kí ức và những bài học từ thế hệ cha mẹ chúng ta đến thế hệ sau của chúng ta ?

Một thời gian ngắn sau đó, tôi đã nói chuyện trước một cử toạ ở Tokyo, và một người hỏi, như thông thường: tôi sẽ làm gì tiếp theo. Cụ thể hơn, người đặt câu hỏi chỉ ra rằng những cuốn sách của tôi thường liên quan đến những cá nhân sống qua thời gian biến đổi xã hội và chính trị lớn, và những người sau đó đã nhìn lại cuộc đời của họ và đấu tranh để đi đến kết luận với những kỷ niệm tối tăm hơn, đáng xấu hổ hơn. Liệu cuốn sách trong tương lai của tôi, cô ấy hỏi, tiếp tục bao trùm một lãnh thổ tương tự?

Tôi thấy mình đưa ra một câu trả lời chưa hẳn chuẩn bị kỹ. Vâng, tôi đã nói, tôi thường viết về những cá nhân như vậy đang vật lộn giữa QUÊN và NHớ. Nhưng trong tương lai, điều tôi thực sự muốn làm là viết một câu chuyện về một quốc gia hoặc cộng đồng phải đối mặt với những câu hỏi như thế nào. Liệu một quốc gia có nhớ và quên đi theo cách giống như cá nhân không? Hay có sự khác biệt quan trọng? Chính xác những ký ức của một quốc gia là gì? Họ ở đâu? Chúng được hình thành và kiểm soát như thế nào? Có lần khi quên là cách duy nhất để ngăn chặn chu kỳ bạo lực, hoặc để ngăn chặn một xã hội tan rã thành hỗn loạn hoặc chiến tranh? Mặt khác, các quốc gia tự do, ổn định có thể được xây dựng trên nền tảng của sự mất trí nhớ và công lý thất bại? Tôi nghe thấy bản thân mình nói với người hỏi rằng tôi muốn tìm một cách để viết về những điều này, nhưng hiện tại, thật không may, tôi không thể nghĩ làm thế nào tôi cần làm điều đó.

*

MộT BUổI TốI ĐầU NĂM 2001, trong căn phòng phía trước tối tăm của căn nhà của chúng tôi ở Bắc London (nơi chúng tôi còn sống), Lorna và tôi bắt đầu xem băng từ VHS chất lượng hợp lý, một bộ phim năm 1934 của Howard Hawks gọi là Twentieth Century. Tiêu đề của bộ phim, chúng tôi đã phát hiện ra, đã đề cập đến thế kỷ sau đó mà chúng tôi để lại phía sau, nhưng đến một chiếc tàu cao cấp nổi tiếng của kỷ nguyên nối New York và Chicago. Như một số bạn sẽ biết, bộ phim là một bộ phim hài nhịp độ nhanh, tập trung chủ yếu vào đoàn tàu, liên quan đến một nhà sản xuất Broadway, với sự tuyệt vọng ngày càng tăng, cố gắng ngăn cản nữ diễn viên hàng đầu của mình tới Hollywood để trở thành một ngôi sao điện ảnh. Bộ phim được xây dựng xung quanh một màn trình diễn hoành tráng của John Barrymore, một trong những diễn viên vĩ đại trong thời của ông. Những biểu hiện trên khuôn mặt, cử chỉ của anh, hầu như mọi đường anh đều thốt lên với những sự mỉa mai, những mâu thuẫn, những câu chuyện hoang đường của một người đàn ông đang bị chìm đắm trong tâm hồn quá khích. Đó là một trong nhiều hiệu suất tuyệt vời. Tuy nhiên, khi bộ phim tiếp tục mở ra, tôi thấy mình không hề hấn gì. Điều này làm tôi bối rối lúc đầu. Tôi thường thích Barrymore và là một người đam mê lớn các bộ phim khác của Howard Hawks từ thời kỳ này – chẳng hạn như “Cô gái thứ Sáu  của ông”và “Chỉ có các thiên thần có cánh”. Sau đó, xung quanh dấu mốc một giờ của bộ phim, một ý tưởng đơn giản, ấn tượng đã xuất hiện trong đầu tôi. Lý do tại sao có rất nhiều nhân vật sống động, không thể chối cãi trong tiểu thuyết, phim điện ảnh và kịch thường không chạm vào tôi được vì những nhân vật này không kết nối với bất kỳ nhân vật nào khác trong mối quan hệ nhân văn thú vị. Và ngay lập tức, suy nghĩ tiếp theo này liên quan đến công việc của tôi: Nếu tôi ngừng lo lắng về nhân vật của mình và lo lắng thay vì mối quan hệ của mình?

Khi chiếc tàu lúc lắc xa dần về phía tây và John Barrymore đã trở nên huyền bí hơn, tôi nghĩ về sự khác biệt nổi tiếng giữa E.M. Forster giữa các ký tự ba chiều và hai chiều. Một nhân vật trong một câu chuyện đã trở thành ba chiều, ông nói, bởi thực tế là họ ‘ngạc nhiên bị chúng tôi thuyết phục’. Đó là làm như vậy họ đã trở thành ‘làm tròn’. Nhưng bây giờ tôi tự hỏi, nếu một nhân vật có ba chiều, trong tất cả các mối quan hệ của họ không? Ở những nơi khác trong cùng một loạt bài giảng, Forster đã sử dụng một hình ảnh hài hước, trích xuất cốt truyện ra khỏi một cuốn tiểu thuyết với một cặp kẹp và giữ nó lại, giống như một con chuột rùng mình, để kiểm tra dưới ánh sáng. Tôi không thể thực hiện một bài tập tương tự và giữ cho ánh sáng những mối quan hệ khác nhau mà dánh dấu chéo bất kỳ câu chuyện? Tôi có thể làm điều này bằng công việc của riêng mình – với những câu chuyện tôi đã hoàn thành và những gì tôi đã lên kế hoạch không? Tôi có thể nhìn vào, nói rằng, mối quan hệ giữa người thầy và người bạn này. Liệu nó nói cái gì đó sâu sắc và tươi mới? Hoặc bây giờ tôi đang nhìn chằm chằm vào nó, nó có trở nên rõ ràng đó là một khuôn mẫu mệt mỏi, giống như những gì được tìm thấy trong hàng trăm câu chuyện tầm thường? Hoặc mối quan hệ giữa hai người bạn cạnh tranh: nó có năng động không? Liệu nó có cộng hưởng cảm xúc? Nó có tiến triển không? Nó có ngạc nhiên không? Nó có ba chiều không? Tôi chợt cảm thấy tôi hiểu rõ hơn tại sao trong những khía cạnh khác trong quá khứ của công việc của tôi đã thất bại, mặc dù tôi đã áp dụng các biện pháp tuyệt vọng. Ý nghĩ đã đến với tôi – khi tôi vẫn tiếp tục nhìn John Barrymore – rằng tất cả những câu chuyện hay, không bao giờ quan tâm đến nguồn gốc hay truyền thống của họ, phải chứa đựng những mối quan hệ quan trọng đối với chúng tôi; mà di chuyển chúng ta, giải trí chúng tôi, giận dữ chúng tôi, ngạc nhiên chúng tôi. Có lẽ trong tương lai, nếu tôi tham dự nhiều hơn vào các mối quan hệ của tôi, nhân vật của tôi sẽ tự chăm sóc mình.

Nó xảy ra với tôi, như tôi nói rằng tôi có thể tạo một điểm ở đây nơi đã luôn luôn hiển nhiên rõ ràng với bạn. Nhưng tất cả những gì tôi có thể nói là đó là một ý tưởng đã đến với tôi trong cuộc đời viết văn một cách đáng ngạc nhiên, và bây giờ tôi coi đó là một bước ngoặt, so sánh với những gì tôi đã mô tả cho bạn hôm nay. Từ đó trở đi, tôi bắt đầu xây dựng những câu chuyện theo một cách khác. Ví dụ như khi viết cuốn tiểu thuyết NEVER LET ME GO (Mãi đừng xa em), tôi bắt đầu ngay từ đầu suy nghĩ về mối quan hệ trung tâm tam giác, và sau đó là các mối quan hệ khác đã phát ra từ nó.

*

Những điểm ngoặt quan trọng trong sự nghiệp của một nhà văn – có lẽ như trong nhiều loại nghề nghiệp – là như thế này. Thông thường, chúng là những khoảnh khắc nhỏ, lếch thếch. Chúng là những tia lửa riêng tư yên tĩnh, riêng tư của sự mặc khải. Chúng không đến thường xuyên, và khi chúng hoạt động, chúng có thể đến mà không phô trương, không có sự hỗ trợ của cố vấn hoặc đồng nghiệp. Họ thường phải cạnh tranh cho sự chú ý với những yêu cầu lớn hơn, dường như cấp bách hơn. Đôi khi những gì họ tiết lộ có thể đi ngược lại các sự khôn ngoan thông thường. Nhưng khi họ đến, điều quan trọng là có thể nhận ra họ vì những gì họ đang có. Hoặc họ sẽ trượt qua tay của bạn.

Tôi đã nhấn mạnh ở đây là nhỏ và riêng tư, bởi vì về cơ bản đó là những gì công việc của tôi làm về nó. Một người viết trong một căn phòng yên tĩnh, cố gắng để kết nối với một người khác, đọc trong một  căn phòng yên tĩnh khác – hoặc có thể không nên yên tĩnh. Câu chuyện có thể giải trí, đôi khi dạy hoặc tranh luận một điểm. Nhưng đối với tôi, điều thiết yếu là họ truyền cảm xúc. Rằng họ thu hút những gì chúng ta chia sẻ như con người qua biên giới và chia rẽ. Có nhiều ngành công nghiệp quyến rũ xung quanh câu chuyện; ngành công nghiệp sách, ngành công nghiệp điện ảnh, ngành công nghiệp truyền hình, ngành công nghiệp sân khấu. Nhưng cuối cùng, câu chuyện về một người nói với người khác: Đây là cảm giác của tôi đối với tôi. Bạn có hiểu tôi đang nói gì không? Liệu nó cũng cảm thấy theo cách này với bạn không ?

*

Vì vậy, chúng tôi đến với hiện tại. Gần đây tôi thức dậy để nhận ra rằng tôi đã sống nhiều năm trời trong một cái bong bóng. Tôi không nhận thấy sự thất vọng và lo lắng của nhiều người xung quanh tôi. Tôi nhận ra rằng thế giới của tôi – một nơi văn minh, kích thích đầy những con người mỉa mai và tự do – thực sự nhỏ hơn nhiều so với tôi tưởng tượng ra. Năm 2016, một năm gây ngạc nhiên – và đối với tôi, những sự kiện chính trị ở châu Âu và ở Mỹ và những hành động khủng bố khủng khiếp trên khắp thế giới đã buộc tôi phải thừa nhận rằng tiến trình không thể ngăn cản được về các giá trị nhân văn- nhân văn mà tôi đã được ban cho từ thời thơ ấu có thể đã là một ảo tưởng.

Tôi là một phần của một thế hệ có xu hướng lạc quan, và tại sao không? Chúng tôi theo dõi những người lớn tuổi của chúng ta đã biến đổi thành công châu Âu từ một nơi có chế độ độc tài, diệt chủng và nơi một cuộc tàn sát chưa từng xảy ra trong lịch sử đối với một khu vực dân chủ tự do đang sống trong tình hữu nghị gần như không biên giới. Chúng tôi theo dõi các đế quốc thực dân thời thuộc địa sụp đổ khắp thế giới cùng với những giả định đáng chê trách đã củng cố cho họ. Chúng tôi đã chứng kiến những tiến bộ đáng kể trong nữ quyền, quyền của người đồng tính và các cuộc chiến trên nhiều mặt trận chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Chúng tôi lớn lên trong sự bố trí chống lại hậu quả của xung đột lớn giữa tư tưởng và quân sự – giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản và đã chứng kiến điều mà nhiều người trong chúng ta tin là kết luận hạnh phúc.

Nhưng bây giờ, nhìn lại, kỷ nguyên kể từ BỨC TƯỜNG BERLIN SỤP ĐỔ có vẻ như là một trong những sự tự mãn, những cơ hội bị mất. Những bất bình đẳng to lớn – về sự giàu có và cơ hội – đã được phép phát triển, giữa các quốc gia và trong các quốc gia. Đặc biệt là cuộc xâm lược Iraq vào năm 2003 và những chính sách thắt lưng buộc bụng đối với những người bình thường sau vụ tai tiếng kinh tế năm 2008 đã đưa chúng ta đến một hiện tại, trong đó các ý thức hệ Far Right và chủ nghĩa dân tộc bộ lạc tăng lên. Sự phân biệt chủng tộc, trong các hình thức truyền thống và trong các phiên bản được hiện đại hóa, được quảng bá tốt hơn, một lần nữa lại nổi lên, khuấy động bên dưới các đường phố văn minh của chúng ta như một sự thức tỉnh của con quái vật bị chôn vùi. Trong thời điểm này chúng ta dường như không có bất kỳ sự nghiệp tiến bộ nào để đoàn kết chúng ta. Thay vào đó, ngay cả ở các nền dân chủ giàu có ở phương Tây, chúng ta đang vấp ngã vào những trại tù đối lập, từ đó để cạnh tranh cay đắng với các nguồn lực hay quyền lực.

Và xung quanh góc ngoặt – hoặc chúng ta đã biến đổi góc này ? – là những thách thức đặt ra từ những đột phá về khoa học, công nghệ và y học. Các công nghệ di truyền mới – chẳng hạn như kỹ thuật chỉnh sửa gien CRISPR – và những tiến bộ trong Trí tuệ nhân tạo và Robotics (người máy) sẽ mang lại cho chúng ta những lợi ích tuyệt vời, cứu vớt cuộc sống, nhưng cũng có thể tạo ra những sự kết hợp tàn bạo giống như chế độ phân biệt chủng tộc và nạn thất nghiệp lớn,  bao gốm trong cả giới ưu tú xuất sắc chuyên nghiệp hiện thời.

Tôi ở đây, một người đàn ông ở tuổi sáu mươi, chùi mắt và cố gắng phân biệt các bản phác thảo, đi ra ngoài trong sương mù, đến với thế giới mà tôi đã không nghi ngờ rằng thậm chí nó đã tồn tại cho đến ngày hôm qua. Tôi có thể, một tác giả mệt mỏi, từ một thế hệ mệt mỏi trí tuệ, bây giờ tìm thấy năng lượng để nhìn vào nơi lạ lùng này không? Tôi có cái gì còn lại để có thể đưa ra quan điểm, đưa các lớp cảm xúc vào tranh luận, chiến đấu và chiến tranh khi xã hội phải vật lộn để thích nghi với những thay đổi lớn?

Tôi sẽ phải tiếp tục và làm hết sức mình có thể. Bởi vì tôi vẫn tin rằng văn học là quan trọng, và sẽ đặc biệt khi chúng ta vượt qua địa thế khó khăn này. Nhưng tôi sẽ tìm kiếm các nhà văn từ thế hệ trẻ để truyền cảm hứng và dẫn dắt chúng tôi. Đây là thời đại của họ, và họ sẽ có kiến thức và bản năng về nó mà tôi sẽ thiếu. Trong thế giới sách, rạp chiếu phim, truyền hình và sân khấu, tôi thấy những tài năng đầy phiêu lưu, tài năng sôi nổi ngày nay: phụ nữ và nam giới ở tuổi 40, ba mươi và hai mươi. Vì vậy, tôi lạc quan. Tại sao tôi không nên như vậy?

IV

Nhưng hãy để tôi hoàn thành bằng cách kêu gọi, nếu bạn thích, lời kêu gọi giải Nobel của tôi! Thật khó để đặt cả thế giới đến với các quyền lợi, nhưng ít nhất chúng ta hãy nghĩ đến việc làm thế nào chúng ta có thể chuẩn bị cho một góc nhỏ của chúng ta, đó là góc văn học, nơi chúng ta đọc, viết, xuất bản, giới thiệu, tố cáo và trao giải sách. Nếu chúng ta đóng một vai trò quan trọng trong tương lai không chắc chắn này, nếu chúng ta muốn đạt được điều tốt nhất từ các nhà văn ngày nay và ngày mai, tôi tin rằng chúng ta phải trở nên đa dạng hơn. Ý tôi là điều này theo hai nghĩa riêng biệt.

THỨ NHẤT, chúng ta phải mở rộng thế giới văn chương chung của mình để bao gồm nhiều tiếng nói từ bên ngoài các vùng an toàn của chúng ta trong nền văn hoá thế giới ưu tú đầu tiên. Chúng ta phải tìm kiếm nhiều hăng hái hơn để khám phá những viên ngọc từ những nền văn hoá văn học chưa biết đến ngày nay, cho dù các nhà văn sống ở các quốc gia xa xôi hay trong cộng đồng của chúng ta.

THỨ HAI: chúng ta phải hết sức cẩn thận để không định nghĩa quá hẹp hoặc bảo thủ các định nghĩa về văn học tốt. Thế hệ tiếp theo sẽ đến với tất cả các loại cách thức mới, đôi khi gây bối rối để kể những câu chuyện quan trọng và tuyệt vời. Chúng ta phải giữ cho tâm trí của mình mở rộng, đặc biệt là liên quan đến thể loại và hình thức, để chúng ta có thể nuôi dưỡng và ăn mừng điều tốt nhất của họ. Trong một khoảng thời gian nguy hiểm, chúng ta phải lắng nghe. Viết tốt và đọc tốt sẽ phá vỡ rào cản. Thậm chí chúng ta có thể tìm thấy một ý tưởng mới, một tầm nhìn vĩ đại vĩ đại, xung quanh để tập hợp.

Đối với Viện hàn lâm Thụy Điển, Quỹ Nobel và những người dân Thụy Điển củng cố giải Nobel nhiều năm nay đã làm nên một biểu tượng sáng ngời cho sự tốt lành mà con người chúng ta đang nỗ lực cho nó – tôi xin cảm ơn.

 

Hà Nội: chống tham nhũng bằng sự hời hợt?

Hà Nội: chống tham nhũng bằng sự hời hợt?

 Kỳ Lâm (VNTB)

Hà Nội – ‘niềm tin và hy vọng’ của cả đất nước tiếp tục gây sốc dư luận bằng báp cáo 1 năm chống tham nhũng.

Theo đó, tài sản thiệt hại do tham nhũng gây ra được tổng kết là: 49.000m2 đất và 75 tỷ đồng.

Con số này có vẻ quá khiêm tốn, nhưng sốc hơn khi mà số tài sản thu hồi được chỉ ở mức 3.700m2 đất và 3 tỷ đồng.

Thực ra, đây là một ‘kết quả khả quan’ chứ không đến nỗi tồi tệ cho lắm, còn cho thấy Hà Nội còn tồn tại tham nhũng,… Nhất là khi so với năm 2015 – năm không phát hiện ra bất kỳ tham nhũng nào; hay tổng kết 10 năm chống tham nhũng của thành phố Hà Nội vào năm 2016 chỉ phát hiện đúng 7 vụ.

clip_image002

Tham nhũng hay chống tham nhũng của thành phố Hà Nội nó rất đặc trưng, nếu nhìn Hà Nội là một cái làng lớn, thì ‘văn hóa làng xã’ sẽ bao vây và làm cho tính khép kín của tham nhũng được phát huy. Một hệ thống mà khiến cho một cá nhân tham nhũng thì phải được hiểu là một đường dây tham nhũng, và việc ‘phô bày tham nhũng’ sẽ khiến cho cả đường dây đó lộ hết ra ngoài – đúng như câu tục ngữ ‘một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ’.

Với 75 tỷ đồng, con số này so với 6.000 tỷ đồng thất thoát, sai phạm chỉ riêng lĩnh vực nhà ở trong năm 2017 là một con số hàng ‘cháu chắt’. Nhưng đúng thôi, chúng ta không kỳ vọng lớn hơn như thế được nữa, bởi cả hệ thống vốn dĩ là một tập đoàn tham nhũng rồi thì ai sẽ chống ai?

Không ai có thể thắt cổ bằng sợi bún được!

Cần nhắc lại, vào đầu năm 2014, Chỉ đạo của UBND Hà Nội đã ra Quyết định số 8017 về việc giải thể Văn phòng Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng thành phố. Và cũng từ đó đến nay, Hà Nội liên tiếp có những báo cáo ‘trong sạch, vững mạnh’.

Trong một câu chuyện khác, các ‘đồng chí dân biểu’ trực thuộc HĐND thành phố Hà Nội đã tán thành việc thông qua ghị quyết sửa đổi, bổ sung quy định thu phí sử dụng tạm thời lòng đường, vỉa hè trên địa bàn thành phố. Nghị quyết có hiệu lực từ 1/1/2018. Theo đó, mức phí sử dụng lòng đường hè phố tăng 300%, phí trông giữ xe máy tăng từ 3.000 lên 5.000/xe/lượt hay ô tô tăng từ 30.000 lên 50.000 xe/lượt. Và phí mới này được áp dụng từ ngày 1/1/2018 nhằm ‘tăng ngân sách’.

Câu chuyện này có liên quan đến công tác phòng chống tham nhũng không? Rất tiếc là lại có.

clip_image004

Chưa cần đến ngày 1.1.2018, cũng như chưa cần các vị ‘dân biểu’ của thành phố Hà Nội biểu quyết tán thành mức phí mới thì khi phí gửi xe máy tại khu vực nội đô Hà Nội, giá thường gấp 3-4 lập so với quy định. Ví như, giá xe máy được quy định là 3.000 thì tại khu vực Hoàn Kiếm nó sẽ là10.000 đồng/ lượt xe. Tương tự, giá xe oto cũng gấp đôi mức phí quy định – từ 30.000 lên 50.000 đồng/lượt xe. Và cái vé – vốn là thứ để truy thu Ngân sách Nhà nước thì thường không có tác dụng lắm, thậm chí một phóng viên của chương trình Chuyển động 24hcó thể được các nhân viên giữ xe ‘tặng’ 3-4 vé xe như vậy để làm kỹ niệm.

Do vậy, sự kiện thông qua mức phí nêu trên không những không làm gia tăng ngân sách mà ngược lại, chỉ tạo điều kiện cho các ‘đồng chí thầu điểm giữ xe’ ăn lớn hơn; cũng như làm gia tăng gánh nợ thuế phí đối với người dân tại thủ đô.

Kết của câu chuyện này là gì? Chính quyền Hà Nội chỉ chống tham nhũng, thất thoát nguồn ngân sách trên ‘ngọn’, trong khi gốc rễ là kiểm soát – giám sát (nhất là kê khai tài sản cá nhân) thì Hà Nội lại không hề vội vàng, tận tâm. Âu cũng là hợp lý, vì ngay cả việc đảm bảo giữ xe đúng giá quy định Hà Nội còn không làm được, thì kỳ vọng gì khi chính quyền này hô hào chống tham nhũng ở các dự án lớn hơn?

Trong khi đó, để khắc phục hậu quả của tham nhũng khiến nguồn ngân sách thành phố bị thâm hụt, các vị dân biểu Hà Nội lại tìm cách bù lại số ngân sách thất thoát bằng phương pháp… đánh thuế mới lên gấp 2-3 lần.

Đó có phải là một sự hời hợt của Hà Nội – thủ đô ‘niềm tin và hy vọng’?

K.L.

VNTB gửi BVN. 

ÔNG CHỦ THẬT SỰ CỦA BOT CAI LẬY LÀ CON NHÀ AI?

ÔNG CHỦ THẬT SỰ CỦA BOT CAI LẬY LÀ CON NHÀ AI?

 
Ông chủ thật sự của BOT Cai Lậy, BOT Hoài Nhân … chính là Ngô Hồng Thắng, 
con trai của Ngô Văn Dụ!
Đinh Bá Truyền

ÔNG CHỦ THẬT SỰ CỦA BOT CAI LẬY LÀ AI?

Công ty Bắc Ái nắm 65% cổ phần tại BOT Cai Lậy. Ngoài BOT Cai Lậy, Bắc Ái còn là cổ đông chính của BOT Hoài Nhơn. Cuối năm 2015, liên danh Tư vấn đầu tư HNS Việt Nam – Đầu tư Văn Phú Invest và Bắc Ái được chỉ định là nhà đầu tư thực hiện dự án Xây dựng đoạn tuyến kết nối từ đường Phạm Văn Đồng đến nút giao thông Gò Dưa (quốc lộ 1 qua Tp HCM) với tổng mức đầu tư là 1.134 tỷ đồng.

Ngoài ra, Bắc Ái cũng đang triển khai nhiều dự án bất động sản với tổng vốn hàng nghìn tỷ đồng khác tại Tp HCM, như dự án 129 Đinh Tiên Hoàng (quận Bình Thạnh) vốn đầu tư 1.089 tỷ; dự án 132 Đào Duy Từ (quận 10) vốn 362 tỷ; dự án 12 Kỳ Đồng (quận 3) vốn 122,5 tỷ đồng; dự án 582 Kinh Dương Vương (quận Bình Tân) vốn 161 tỷ đồng…

Do tất cả các dự án của Bắc Ái thực hiện đều được Chính phủ, mà cụ thể là Hoàng Trung Hải, chỉ định thầu nên Bắc Ái phất lên nhanh chóng. Theo hồ sơ đăng ký kinh doanh, công ty Bắc Ái thành lập từ năm 2004, tại Vĩnh Phúc với số vốn điều lệ 100 tỷ đồng. Tuy nhiên, theo hồ sơ đăng ký kinh doanh thay đổi ngày 10/7 vừa qua, Bắc Ái đã hoàn tất tăng vốn từ 500 tỷ đồng lên 900 tỷ đồng. 

Công ty Bắc Ái có trụ sở tại số nhà 215 đường Mê Linh, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Hóa ra đây là nhà riêng của Ngô Hồng Thắng, Phó Giám đốc Trung tâm Quảng cáo và Dịch vụ Truyền hình TVAd. 

Ngô Hồng Thắng, sinh năm 1971, là con trai của Ngô Văn Dụ, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị khóa XI, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, nguyên Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, nguyên Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XII. 

Tóm lại, ông chủ thật sự của BOT Cai Lậy, BOT Hoài Nhân … chính là Ngô Hồng Thắng, con trai của Ngô Văn Dụ!

P/s. Những thông tin trên đây là do một người bạn của tôi, hiện đang công tác ở Ủy ban Kiểm tra TW, cung cấp.

Mây thẻ