"Nói phải củ cải cũng nghe được"- Tục ngữ Việt Nam.

NGŨ KINH sơ lược

Ngũ kinh gồm 5 sách:

1. Kinh lễ

2. Kinh thi

3. Kinh thư

4. Kinh Xuân thu

5. Kinh dịch

(Lãng tử giới thiệu khái quát)

KINH LỄ

(Kinh Lễ, Lễ kinh hoặc Lễ ký)

禮經 hoặc 禮記

Tiên học lễ, hậu học văn

Là cuốn sách đầu tiên của Ngũ kinh, sách mẹ của cả bộ Tứ thư

Kinh Lễ hay còn gọi là Lễ ký (禮記 Lǐ Jì) là một quyển trong bộ Ngũ Kinh của Khổng Tử, tương truyền do các môn đệ của Khổng Tử thời Chiến quốc viết, ghi chép các lễ nghi thời trước và những tấm gương của Lễ.

Học giả thời Hán là Đới Đức đã dựa vào bản do Lưu Hướng thu thập gồm 130 thiên rồi tổng hợp giản hoá còn 85 thiên gọi là Đại Đới Lễ ký, sau đó cháu Đới Đức là Đới Thánh lại đơn giản hoá Đại Đới Lễ ký còn 46 thiên, thêm vào các thiên Nguyệt lệnh, Minh Đường vị Nhạc ký, tổng cộng là 49 thiên, được gọi là Tiểu Đới Lễ ký.

Đại Đới Lễ ký đến thời Tuỳ, Đường bị thất lạc quá nửa, hiện nay chỉ còn 39 thiên, do đóTiểu Đới Lễ ký là bản Kinh Lễ thông dụng hiện nay.

Toàn bộ Kinh Lễ được viết bằng tản văn, không chỉ miêu tả chế độ lễ nghi đương thời mà còn giáo dục về nhân nghĩa, đạo đức, ngoài ra có giá trị về văn học rất lớn. Đại Học và Trung Dung, hai cuốn sách kinh điển của Nho giáo, chính là hai thiên trong Kinh Lễ được tách ra sau này.

Về sau, hai thiên Trung Dung, Đại học được tách ra thành sách riêng. Thiên Nhạc ký được tách ra thành Kinh Nhạc nhưng sau lại bị thất truyền.

Khổng Tử hiệu đính lại Kinh Lễ mong dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự xã hội nhiễu nhương cuối thời Xuân thu.. Khổng Tử nói: “Không học Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời” (sách Luận Ngữ).

DANH MỤC 49 THIÊN KINH LỄ

  1. Khúc lễ thượng (hai thiên)
  2. Khúc lễ hạ (hai thiên)
  3. Đàn cung thượng
  4. Đàn cung hạ
  5. Vương chế
  6. Nguyệt lệnh
  7. Tăng Tử vấn
  8. Văn Vương thế tử
  9. Lễ vận
  10. Lễ khí
  11. Giao đặc sinh
  12. Nội tắc
  13. Ngọc tảo
  14. Minh đường vị
  15. Tang phục tiểu ký
  16. Đại truyện
  17. Thiếu nghi
  18. Học ký
  19. Nhạc ký (sau tách ra, phát triển thành Nhạc kinh, về sau thất truyền)
  20. Tạp ký thượng
  21. Tạp ký hạ
  22. Tang đại ký
  23. Tế pháp
  24. Tế nghĩa
  25. Tế thống
  26. Kinh giải
  27. Ai Công vấn
  28. Trọng Ni yên cư
  29. Khổng Tử nhàn cư
  30. Phường ký
  31. Trung dung (sau tách ra thành một sách riêng trong bộ Tứ thư)
  32. Biểu ký
  33. Truy y
  34. Bôn tang
  35. Vấn tang
  36. Phục vấn
  37. Gian truyện
  38. Tam niên vấn
  39. Thâm y
  40. Đầu hồ
  41. Nho hành
  42. Đại học (sau tách ra, phát triển thành cuốn sách đầu tiên trong Tứ thư)
  43. Quan nghĩa
  44. Hôn nghĩa
  45. Hương ẩm tửu nghĩa
  46. Xạ nghĩa
  47. Yến nghĩa
  48. Sính nghĩa
  49. Tang phục tứ chế

Tóm tắt 04 chủ đề lớn 

  1. Chuyện về những người giữ Lễ (Khổng tử, vua chúa, quan chức và sĩ tử)
  2. Tục lệ   quan-  hôn-  tang- tế
  3. Tu dưỡng bản thân theo chữ Lễ với quan điểm Nho gia.
  4. Quy định  lễ nghi giao tiếp trong xã hội.

Kinh Lễ ngày nay còn lại có 49 thiên.

Hai thiên đầu tiên (1,2) gọi là “Khúc Lễ” (nghi lễ khuc chiết, cụ thể rõ ràng) có tính phổ biến, thông dụng cho mọi người.

“Khúc lễ” chủ yếu nói cách ứng xử trong sinh hoạt thường ngày, chưa phải là những dịp lễ quan trọng hoặc việc lớn. Nhưng khúc lễ lại có phạm vi ứng dụng phổ biến hơn cả.

Người ta không trải qua được việc nhỏ (lễ nhỏ) thì làm sao được việc lớn !

Sách Trung Dung nói “Lễ nghi tam bách, uy nghi tam thiên”. Uy nghi có nghĩa là “vẻ mặt, trang phục, hành vi, lời nói đúng mực khi giao tiếp”.

   Khúc Lễ gồm 6 chủ đề

  1. Lễ đối với cha mẹ
  2. Lễ với bậc trưởng lão
  3. Lễ với thầy giáo
  4. Lễ giới hạn giữa nam và nữ
  5. Lễ giáo dục thiếu niên nhi đồng
  6. Lễ sinh hoạt rộng rãi.

(1) Lễ đối với cha mẹ (trích)

 1. Mùa lạnh con phải xem cha mẹ mặc đủ ấm chưa, mùa hạ xem cha mẹ đủ thoáng mát chưa, hằng đêm trải giường cho cha mẹ. Buổi sớm phải đến vấn an cha mẹ, để ý tình trang sức khỏe của song thân.

 2. Con cái nếu cần đi ra ngoài phải thưa bẩm, được cho phép mới đi. Khi trở về phải đến trình diện cha mẹ để cha mẹ yên tâm. Đi tới đâu phải có nơi chốn nhất định và báo cho cha mẹ biết.

(.v.v…)

KINH THI

Kinh Thi

 Do Khổng tử sưu tập, biên tập làm môn học văn chương duy nhất trong bộ Ngũ kinh.

 Kinh Thi gồm có 311 thiên. Trong số đó, chỉ có 305 thiên là đầy đủ, còn 6 thiên kia chỉ có đề mục nhưng không có lời. Theo bản Mao Thi, Kinh Thi gồm có ba phần như sau:

 Quốc phong (văn chương dân gian)

 Quốc phong là những bài ca dao của dân tộc các nước chư hầu, đuợc nhạc quan sưu tập. Quốc phong có 160 thiên, chia làm 15 quyển, mỗi quyển một nước, gồm có:

(Phong: nghĩa là ca dao)

    1. Chính phong: ca dao Chu nam (nhà Chu)  và ca dao Thiệu nam (Chính phong: ca dao chính thức)

   2. Biến phong: Bội phong, Dung phong, Vệ phong, Vương phong, Trịnh phong, Tề phong, Ngụy phong, Đường phong, Tần phong, Cối phong, Tào phong, Mân phong (hoặc Bân phong).

   (Biến phong: ca dao rải rác nơi khác, không được coi trọng như Chính phong)

 Nhã (văn chương bác học/ văn học viêt)

 Nhã nghĩa là chính đính, gồm những bài hát nơi triều đình. Nhã chia ra làm 2 phần:

    1. Tiểu nhã: những bài dùng trong trường hợp các buổi yến tiệc quí tộc (74 thiên).

   2. Đại nhã: những bài dùng trong trường hợp quan trọng như khi Thiên tử hợp các vua chư hầu hoặc tế ở miếu đường (31 thiên).

 Tụng (văn chương bác học/ văn học viêt)

 Tụng nghĩa là ngợi khen, gồm những bài ca tụng các vua đời trước và dùng để hát ở chốn miếu đường. Tụng có tất cả 40 thiên, chia làm:

    1. Chu tụng: 31 thiên. (Ca tụng nhà Chu)

   2. Lỗ tụng: 4 thiên.

   3. Thương tụng: 5 thiên.

 Trong Kinh Thi có lục nghĩa là: Phong, Nhã, Tụng, phú, tỷ, hứng. Phong, Nhã, Tụng là bộ phận của âm nhạc còn phú, tỷ, hứng tức là các thể văn của Phong, Nhã, Tụng.

 Ba thể phú, tỷ và hứng nói về kỹ thuật làm thơ. Chỉ rõ tên, nói rõ việc, ấy là phú. Thấy việc hư hỏng đương thời mà không dám nói rõ, dùng phép so sánh kín đáo để phóng thích, ấy là thể tỷ. Mượn vật để nói nên lời là thể hứng. Sự bất đồng giữa tỷ và hứng do ở điểm này: thể tỷ chỉ lấy vật làm tỷ dụ chứ không nói rõ ý chính, thể hứng thì trước hết dùng phép tỷ dụ rồi nói rõ ý chính ra.

 Do nội dung Kinh Thi gồm có ba phần lớn (Phong, Nhã, Tụng) và ba thể (phú, tỷ, hứng) mà cổ nhân đã gọi là sáu nghĩa của Kinh Thi. Riêng về Phong, Nhã, Tụng, tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, tùy theo quan điểm của mỗi học giả, nhưng có thể thừa nhận cách phân lọai trong Mao Thi là tương đối hợp lý.

  Quốc Phong (gồm 159 thiên/ bài):

 Chu Nam (Chính phong) (có 11 thiên):

   1. Quan thư: tương tư

   2. Cát đàm: Phận sự người vợ lo dệt vải.

   3. Quyền nhỉ: Vợ nhớ chồng.

   4. Nam hữu cù mộc: Chúc người quân tử.

   5. Chung tư: Chúc đông con.

   6. Đào yêu: Khen thục nữ lập gia đình.

   7. Thố tứ: Khen người có tài cán.

   8. Phù dĩ: Phụ nữ an nhàn đi hái trái.

   9. Hàn quảng: Khen phụ nữ đã trở lại đoan trang được người kính nể.

  10. Nhữ phần: Vợ nhớ chồng vẫn trung thành.

  11. Lân chi chỉ: Khen tặng dòng dõi của Văn vương.

Thiệu Nam (Chính phong) (14 thiên):

    1. Thước sào: Khen tặng người con gái chư hầu được lấy chồng.

   2. Thái phiên: Khen tặng vợ chư hầu lo việc cúng tế.

   3. Thảo trùng: Vợ quan đại phu ở nhà một mình mà nhớ chồng.

   4. Thái tần: Khen tặng vợ quan đại phu lo việc cúng tế.

   5. Cam đường: Kính giữ di tích của Thiệu Bá.

   6. Hành lộ: Con gái lấy lẽ giữ mình mà cự tuyệt người con trai vô lễ.

   7. Cao dương: Khen quan lại y phục bình thường, dáng thảnh thơi tự đắc.

   8. Ẩn kỳ lôi: Vợ nhớ chồng mong chồng mau trở về.

   9. Biểu hữu mai: Con gái lo được gả kịp thời.

  10. Tiểu tinh: Phận thiếp được hầu hạ vua.

  11. Giang hữu tự: Vợ chính rước các hầu thiếp đi theo.

  12. Dã hữu tử khuân: Lời người con gái chế giễu người yêu.

  13. Hà bỉ nùng hĩ: Khen con gái nhà Chu cung kính hòa thuận đi lấy chồng.

  14. Trâu ngu: Chư hầu đi săn có nhân đạo.

 Bội Phong (19 thiên):

    1. Bách chu: Tình cảnh người vợ cả bị bỏ rơi.

   2. Lục y: Tình cảnh vợ chính bị lạnh lùng, còn hầu thiếp được thân mến.

   3. Yến yến: Vợ chính thương nhớ đưa tiễn nàng hầu thiếp về quê.

   4. Nhật nguyệt: Lời than thở của người vợ bị phụ bạc.

   5. Chung phong: Cảnh người vợ sống với người chồng cuồng si ngu dại.

   6. Kích cổ: Nỗi lòng người lính chiến phải xa cách vợ nhà.

   7. Khải phong: Lời con tự trách không khéo thờ mẹ để mẹ đi tái giá.

   8. Hùng trĩ: Vợ nhớ tưởng chồng đang đi làm ở xa.

   9. Bào hữu khổ diệp: Lời than của người bị gò bó tình yêu.

  10. Cốc phong: Nỗi lòng người vợ bị chồng đuổi đi.

  11. Thức vi: Lời của bề tôi trách vua chịu hèn hạ nương tựa nước ngoài.

  12. Mao khâu: Kẻ lưu vong trách nước ngoài không chịu tiếp cứu.

  13. Giản hề: Lời người hiền bất đắt chí chịu làm chức phận khiêm nhường.

  14. Tuyền thủy: Nỗi lòng người con gái lấy chồng ở nước xa, nhớ nhà muốn trở về.

  15. Bắc môn: Cảnh nghèo khó của quan lại thời loạn.

  16. Bắc phong: Nước sắp loạn, rủ nhau đi tỵ nạn.

  17. Tĩnh nữ: Lời ước hẹn tình yêu.

  18. Tân đài: Nỗi lòng người con gái gặp ông chồng hèn hạ loạn luân.

  19. Nhị tử thừa chu: Lời thương xót hai anh em giành nhau cái chết.

Dung phong (10 thiên)

    1. Bách chu: Lời người góa phụ thủ tiết.

   2. Tường hữu từ: Chê dâm ô trong bọn vua chúa.

   3. Quân tử giai lão: Tả dung sắc người đẹp mà kém đức hạnh.

   4. Tang trung: Lời ước hẹn tình yêu.

   5. Thuần chi bôn bôn: Lời trách kẻ loạn luân dâm ô.

   6. Đính chi phương tring: Khen vua chăm lo xây dựng quốc gia.

   7. Đế đống: Lời gái đi tìm người yêu.

   8. Tướng thử: Lời châm biếm kẻ vô lễ thiếu uy nghi.

   9. Can mao: Việc quan chức biết thăm viếng người hiền.

  10. Tái trì: Lời người con gái nóng lòng về thăm nước đã mất.

Vệ phong (10 thiên):

   1. Kỳ úc: Lời khen tặng vua tu thân.

   2. Khảo bàn: Tình cảnh người hiền ở ẩn.

   3. Thạc nhân: Tả người đẹp và quyền quý được rước dâu.

   4. Manh: Lời người con gái trách người yêu phụ bạc.

   5. Trúc can: Nỗi lòng người con gái lấy chồng ở xa nhớ nhà.

   6. Hoàn lan: Lời châm biếm vua còn nhỏ mà tự kiêu.

   7. Hà quảng: Nhớ quê chồng.

   8. Bá hề: Nỗi lòng nhớ chồng.

   9. Hữu hồ: Nỗi lòng người quả phụ muốn tái giá.

  10. Mộc qua: Lời tặng đáp để kết giao với nhau.

 Vương phong (10 thiên):

    1. Thử ly: Nỗi cảm xúc thời xưa đã điêu tàn.

   2. Quân tử vu dịch: Nỗi nhớ chồng đi sai dịch nơi xa.

   3. Quân tử dương dương: Cảnh thanh nhã khi chồng về xum họp.

   4. Dương chi thủy: Nỗi lòng người lính đóng đồn ở xa nhớ vợ.

   5. Trung cốc hữu thôi: Lời than thở của người vợ bị đuổi bỏ.

   6. Thố viên: Nỗi lòng của người quân tử gặp thời loạn không vui sống.

   7. Cát lũy: Lời than thở của người dân trôi nổi trong thời loạn lạc.

   8. Thái cát: Tưởng nhớ tha thiết tình nhân.

   9. Đại xa: Đắm đuối yêu nhau nhưng còn sợ pháp luật không dám bày tỏ.

  10. Khâu trung hữu ma: Lời giễu yêu của cô gái khi tình nhân không đến.

 Trịnh phong (20 thiên):

    1. Tri y: tình của nhân dân mến đãi quan hiền tài.

   2. Thương Trọng tử: bị gò bó, cô gái dặn người yêu không nên đến nhà tìm.

   3. Thúc vu điền: lời khen tặng Cung Thúc Đoạn.

   4. Thanh nhân: tình cảnh quân đội rã rời nhụt chí chiến đấu.

   5. Cao cầu: lời khen tặng quan chức không đổi thay tiết tháo.

   6. Tuân đại lộ: người con gái trách chồng ruồng bỏ.

   7. Nữ viết kê mình: Vợ thương chồng, lo phụng sự chồng chu đáo.

   8. Hữu nữ đồng xa: tả người con gái đẹp đi chung xe.

   9. Sơn hữu phù tô: lời con gái đang yêu trêu ghẹo tình nhân.

  10. Thác hề: người con gái nhiệt tình tỏ ý mời trai cùng ca hát nhảy múa.

  11. Giảo đồng: lời đùa giỡn giữa cô gái với người yêu.

  12. Khiên thường: lời cô gái vui đùa với người yêu.

  13. Phong: cô gái hối hận không đưa người yêu.

  14. Đông môn chi thiêu: cô gái tỏ tình với người yêu.

  15. Phong vũ: cô gái hả hê khi gặp người yêu.

  16. Tử khâm: cô gái mong nhớ người yêu.

  17. Dương chi thủy: khuyên gười yêu giữ trọn niềm tin giữa hai người.

  18. Xuất kỳ đông môn: lòng trung thành mến thương vợ.

  19. Dã hữu man thảo: trai gái gặp nhau và cũng vừa lòng thích ý.

  20. Trân vĩ: trai gái thừa dịp dạo chơi để trao ân tình.

 Tề phong (11 thiên):

   1. Kê minh: lời người hiền phi khuyên vua dậy sớm.

   2. Tuyền: lời châm biếm vua quan ham săn bắn mà quên việc chính trị.

   3. Trử: chàng rể chờ rước cô dâu.

   4. Đông phương chi nhật: trai gái yêu nhau hoà thuận với nhau.

   5. Đông phương vị minh: lời châm biếm quan coi tính giờ sai.

   6. Nam Sơn: lời châm biếm bọn vua chúa anh em thông dâm.

   7. Phủ điền: lời khuyên chớ dục tốc mà bất đạt.

   8. Lô linh: lời khen tặng vua đi săn.

   9. Tệ cẩu: châm biếm người đàn bà loạn luân được tự do trở về thông dâm với anh ruột.

  10. Tái khu: châm biếm người đàn bà thông dâm với anh ruột.

  11. Y ta: khen Lỗ Trang Công đủ tài mà không ngăn được mẹ.

 Ngụy phong (7 thiên):

   1. Cát cú: châm biếm người keo kiệt.

   2. Phần tứ nhu: châm biếm người cần kiệm không trúng lễ.

   3. Viên hữu đào: nỗi lo buồn của người hiểu biết với thời cuộc bấy giờ.

   4. Trắc hộ: nỗi lo buồn của cha mẹ, anh em người đi quân dịch.

   5. Thập mẫu chi gian: chính trị hỗn loạn, người hiền lo trở về ở ẩn.

   6. Phạt đàn: người quân tử chẳng chịu ngồi không mà hưởng.

   7. Thạc thử: dân chúng hận vua bội bạc mới bỏ đi nơi khác.

 Đường phong (11 thiên):

   1. Tất suất: lời răn cũng nên vui chơi, nhưng không nên thái quá, phải lo công việc của mình.

   2. Sơn hữu xu: ai rồi cũng chết, nên cũng nên vui chơi.

   3. Dương chi thủy: dân chúng chở che, ủng hộ người quân tử dựng nước.

   4. Tiêu liêu: khen tặng cây tốt trái nhiều.

   5. Trù mậu: lời trai gái mừng rỡ vì được thành vợ chồng.

   6. Đệ đỗ: lời than trách của người không anh em mà cũng không được ai giúp đỡ.

   7. Cao cầu:lời than phiền quan lại hống hách không ưa dân.

   8. Vô y: lời kiêu ngạo của kẻ soán ngôi mà trở nên danh chính ngôn thuận do hối lộ.

   9. Hữu đệ chi đỗ: vua mong hậu đãi bậc hiền tài.

  10. Cát sinh: lời chung thủy của người vợ lính quân dịch mong nhớ chồng.

  11. Thái linh: chớ nghe gièm pha.

 Tần phong (10 thiên):

   1. Xa lân: tìm được vua đáng thờ.

   2. Tứ thiết: vua tôi hòa hiệp cùng đi săn bắn.

   3. Tiểu nhung: chinh phụ khen nhớ chồng.

   4. Kiêm gia: đi tìm người hiền.

   5. Chung Nam: lời dân khen tặng vua mình.

   6. Hoàng điểu: dân thương tiếc người có tài mà bị chôn sống theo vua.

   7. Thần phong: vợ nhớ chồng vắng nhà.

   8. Vô y: binh sĩ thương nhau lo việc chiến đấu.

   9. Vị dương: tiễn người cậu ra đi.

  10. Quyền dư: lời than của người hiền lần lần bị bạc đãi.

 Trần phong (10 thiên):

   1. Uyển khâu: người hoang đãng múa hát vui chơi.

   2. Đông môn chi phần: trai gái tụ hợp múa hát trao ân tình.

   3. Hoàng môn: người ở ẩn dễ tính sống thế nào cũng được.

   4. Đông môn chi trì: trai gái nói chuyện mà hiểu lòng nhau.

   5. Đông môn chi dương: trai gái hẹn mà không gặp.

   6. Mộ môn: kẻ ác được cảnh cáo mà không biết hối cãi.

   7. Phong hữu thước sào: lo buồn vì người yêu bị kẻ khác lừa bịp.

   8. Nguyệt xuất: nhớ người đẹp mà lòng ưu sầu.

   9. Tru Lâm: châm biếm vua thông dâm với vợ quan.

  10. Trạch bì: đau đớn nhớ thương mà không được gặp người yêu.

 Cối phong (4 thiên):

   1. Cao cầu: thương vua không lo chính trị chỉ lo đẹp đẽ quần áo.

   2. Tố quan: mong mỏi thấy lại tang phục đời xưa.

   3. Thấp hữu trường sở: dân chúng quá thống khổ than thở không bằng loại cỏ cây.

   4. Phỉ phong: lòng bi thương nhớ đến nhà Chu tàn hạ.

 Tào phong (4 thiên):

   1. Phù du: ngao ngán người đời ham mê vật chất mà muốn trở về ở yên.

   2. Hậu nhân: lời châm biếm đứa tiểu nhân được làm quan to.

   3. Thi cưu: khen tặng người quân tử chuyên nhất công bình, đủ tài đức trị yên thiên hạ.

   4. Hạ tuyền: thương tiếc nhà Chu không còn cường thịnh như xưa.

 Bân phong (Mân phong) (7 thiên):

    1. Thất nguyệt: những công việc phải làm quanh năm của nhân dân.

   2. Xi hiêu: chim tận tụy bảo vệ ổ qua cơn giông bão.

   3. Đông Sơn: tình cảnh khi chinh chiến trở về.

   4. Phá phủ: quân sĩ khổ nhọc nhưng vẫn kính mến chủ tướng.

   5. Phạt kha: việc gì cũng có đường lối noi theo.

   6. Cửu vực: dân mến tiếc Chu công.

   7. Lang bạt: thái độ ung dung của Chu công.

 Ghi chú

國風 quốc phong

dân ca 15 nước phía bắc sông Hoàng Hà

PHONG

國風是《詩經》中的前160篇,收各諸侯國民歌(「風」)。
章次 章名 注釋 所含目次
01 周南 Chu Nam 東周王朝直接統治區(大致包括今河南的洛陽、偃師、鞏縣、溫縣、沁陽、濟源、孟津一帶地方)內受到「南音」影響的民歌 001-011
02 召南 Thiệu Nam 召國及其南部之民歌 012-025
03 邶風 Bắc phong 邶國民歌 026-044
04 鄘風 Dung phong 鄘國民歌 045-054
05 衛風 Vệ phong 衛國民歌 055-064
06 王風 Vương phong 王,是「王畿」的簡稱,即東周王朝的直接統治區。和周南不同,王風所含的是東周國當地的固有音樂。 065-074
07 鄭風 Trịnh phong 鄭國民歌 075-095
08 齊風 Tề phong 齊國民歌 096-106
09 魏風 Ngụy phong 魏國民歌 107-113
10 唐風 Đường phong 唐國民歌 114-125
11 秦風 Tần phong 秦國民歌 126-135
12 陳風 Đông phong 陳國民歌 136-145
13 檜風 Cối phong 檜國民歌 146-149
14 曹風 Tào phong 曹國民歌 150-153
15 豳風 Bân phong 豳國民歌 154-160

Chú thích: mục 06:  王風 “vương” tức là [vương kỳ] gọi đơn giản, tức khu vực cai trị của Đông Chu vương triều và Chu Nam, Vương phong  là âm nhạc truyền thống vùng Đông Chu quốc.

NHÃ

 

Tiểu nhã

   1. Lộc minh: Đãi đằng tân khách để vua tôi quyến luyến nhau.

   2. Tứ mẫu: Nỗi lòng của bề tôi vì việc vua sai mà không phụng dưỡng được cha mẹ.

   3. Hoàng hoàng giả hoa: Bề tôi lo công việc của vua sai.

   4. Thường đệ: Anh em, vợ con thì bao giờ cũng quý hơn bạn hữu.

   5. Phạt mộc: Tìm bạn bè, hậu đãi bạn bè.

   6. Thiên bảo: Lời của bề tôi cúc tụng vua.

   7. Thái vi: Nỗi lòng người chiến sĩ lúc ra đồn thú và lúc trở về.

   8. Xuất xa: Quân đội đi và trở về sau khi thắng trận.

   9. Đệ đồ: Vợ mong chồng đi quân dịch mau trở về.

  10. Nam cai (không có lời thơ).

  11. Bạch hoa (không có lời thơ).

  12. Hoa thử (không có lời thơ).

  13. Ngư ly: Các món để ăn uống đãi khách rất nhiều và ngon.

  14. Do canh: (không có lời thơ).

  15. Nam hữu gia ngư: Món ăn vật uống ngon lành đem ra đãi khách.

  16. Sùng khâu (không có lời thơ).

  17. Nam sơn hữu đài: Lời chủ nhân chúc tụng tân khách.

  18. Do nghi: (không có lời thơ).

  19. Lục tiêu: Lời thiên tử chúc tụng tân khách.

  20. Trẫm lộ: Chư hầu có uy nghi đứng đắn đến chầu Thiên tử được đãi đằng yến tiệc.

  21. Đồng cung: Thiên tử đãi yến và ban cung cho chư hầu.

  22. Tinh tinh giả nga: Lòng chủ nhân ham thích tân khách.

  23. Lục nguyệt: Cảnh trạng tướng lãnh đem quân đánh giặc.

  24. Thái khỉ: Quân đội ra đánh dẹp giặc rợ làm phản.

  25. Xa công: Thiên tử đi săn cùng chư hầu.

  26. Cát nhật: Thiên tử đi săn.

  27. Hồng nhạn: Dân chúng lưu lạc nghèo khổ được vua cứu giúp.

  28. Đình liệu: Thiên tử nôn nao sắp ra triều gặp chư hầu.

  29. Miễn thủy: Buồn đời loạn lạc tình đời biến đổi.

  30. Hạc minh: Trong cái dở có cái hay, trong cái hay có cái dở. Hay dở đắp đổi nhau.

  31. Kỳ phủ: Quân sĩ đi quân dịch oán trách quan chỉ huy.

  32. Bạch câu: Mong lưu giữ được người hiền tài.

  33. Hoàng điểu: Dân lưu lạc đến nước khác cũng ở không yên, ý muốn trở về.

  34. Ngã hành kỳ dã: Vì chồng phụ bạc, vợ bỏ trở về.

  35. Tư can: Vua xây dựng cung thất mà ở, rồi sinh con cái.

  36. Vô dương: Việc vua nuôi bò dê.

  37. Tiệt nam sơn: Trách thừa tướng tham bạo bất công khiến nhân dân cùng khổ.

  38. Chính nguyệt: Buồn than đời điên đảo, nhân dân sầu khổ, tình đời thoái hóa.

  39. Thập nguyệt chỉ giao: Dân chúng hoạn nạn vì bọn tiểu nhân được trọng dụng.

  40. Vũ vô chính: Trách trời, trách vua, trách quan trong thời biến loạn.

  41. Tiểu mân: Than triều đình toàn kẻ tiểu nhân, ra làm quan không tránh khỏi tai họa.

  42. Tiểu uyển: Lời khuyên răn nhau phải giữ mình để tránh họa.

  43. Tiểu biển: Lời than trách vua cha.

  44. Xảo ngôn: Khuyên vua chớ nghe lời sàm nịnh.

  45. Hạ nhân tư: Trách mắng đứa tiểu nhân đã lánh mặt.

  46. Hạng bá: Trách mắng đứa siểm nịnh đã hại mình.

  47. Cốc phong: Trách bạn vì tiểu tiết mà quên nhau.

  48. Lục nga: Nhớ ơn cha mà tự trách mình.

  49. Đại đông: Thương dân nghèo khổ vì bị vua bóc lột.

  50. Tứ nguyệt: Thương xót mình mà trách vua bất tài.

  51. Bắc sơn: Phiền trách vua không công bình, quan kia nhàn rảnh.

  52. Vô tương đại xa: Chớ lo nghĩ điều ưu phiền.

  53. Tiểu minh: Than thân mình mà răn bạn đồng liêu.

  54. Cổ chung: Trách vua đương thời mà nhớ tiếc vua xưa.

  55. Sở từ: Lo cày cấy để có vật phẩm cúng tế thần linh.

  56. Tín Nam Sơn: Lo trồng trọt để có vật phẩm cúng tế thần linh.

  57. Phủ điền: Lo cúng tế để được mùa.

  58. Đại điền: Công việc nhà nông.

  59. Chiêm bỉ lạc hỉ: Lời chư hầu khen tặng Thiên tử.

    * “Nhất nhật thiên thu” (Một ngày, ngàn năm): Bài thơ Thái Cát (采葛) trong Kinh Thi có viết: Nhất nhật bất kiến như tam thu hề (一日不見、如三秋兮), nghĩa là “Một ngày không gặp mặt bằng ba năm xa cách”.

 (Không có Đại nhã lưu truyền đời sau)

KINH THƯ

 Kinh Thư (書經 Shū Jīng): là một cuốn trong bộ sách Ngũ Kinh của Trung Quốc, ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ trước Khổng Tử. Khổng Tử biên tập lại để giúp các vua chúa đời sau nên theo gương các minh quân như NghiêuThuấn và tránh tàn bạo như KiệtTrụ.

 NỘI DUNG

 Kinh Thư bao gồm :

Ngu thư (ghi chép về đời Nghiêu và Thuấn , nhà Ngu),

Hạ thư  (ghi chép về vua Vũ và nhà Hạ),

Thương thư (ghi chép về Thành Thang và  nhà Thương)

Chu thư (ghi chép về nhà Chu).

Ngu thư gồm các thiên:

  1. Nghiêu Điển
  2. Thuấn Điển
  3. Đại Vũ mô
  4. Cao Dao mô
  5. Ích Tắc

Hạ thư gồm các thiên:

  1. Vũ Cống
  2. Cam Thệ
  3. Ngũ Tử chi ca
  4. Dận Chinh

Thương thư gồm các thiên:

  1. Thang Thệ
  2. Trọng Hủy chi cáo
  3. Thang Cáo
  4. Y Huấn
  5. Tứ Mệnh
  6. Tồ Hậu
  7. Thái Giáp thượng
  8. Thái Giáp trung
  9. Thái Giáp hạ
  10. Hàm Hữu nhất đức
  11. Bàn Canh thượng
  12. Bàn Canh trung
  13. Bàn Canh hạ
  14. Thuyết Mệnh thượng
  15. Thuyết Mệnh trung
  16. Thuyết Mệnh hạ
  17. Cao Tông dung nhật
  18. Tây Bá kham lê
  19. Vi Tử

 Chu thư gồm các thiên:

  1. Thái Thệ thượng
  2. Thái Thệ trung
  3. Thái Thệ hạ
  4. Mục Thệ
  5. Vũ Thành
  6. Hồng Phạm
  7. Lữ Ngao
  8. Kim Đằng
  9. Đại Cáo
  10. Vi Tử chi mệnh
  11. Khang Cáo
  12. Tửu Cáo
  13. Tử Tài
  14. Triệu Cáo
  15. Lạc Cáo
  16. Đa Sĩ
  17. Vô Dật
  18. Quân Thích
  19. Thái Trọng chi mệnh
  20. Đa Phương
  21. Lập Chính
  22. Chu Quan
  23. Quân Trần
  24. Cố Mệnh
  25. Khang Vương chi cáo
  26. Tất Mệnh
  27. Quân Nha
  28. Quynh Mệnh
  29. Lữ Hình
  30. Văn Hầu chi mệnh
  31. Phí Thệ
  32. Tần Thệ

 Hai tư tưởng tiêu biểu của Kinh Thư:

 1. “Vương đạo lạc thổ” (Đường vua, đất vui [ chương Hồng Phạm (洪範) viết:

Vô hữu tác hảo, tuân vương chi đạo (無有作好、遵王之道),

 nghĩa là “Yêu chớ theo cách thiên vị, hãy theo đạo Vương”.

 2. “Quy mã phóng ngưu” (Trả ngựa, thả bò)

[chương Vũ Thành 武成), sau khi Vũ Vương (nhà Chu) đã trả thù đối  với Trụ Vương (nhà Thương), có viết: Quy mã ư  Hoa Sơn  chi dương, phóng ngưu ư  Đào Lâm chi dã (歸馬于華山之陽、放牛于桃林之野),

 nghĩa là “Trả ngựa ở hướng nam của núi Hoa Sơn và thả con bò ở đồng của rừng Đào Lâm“, tức là chiến tranh đã được kết thúc rồi.

KINH XUÂN THU

KINH XUÂN THU

(Biên niên sử  thời Xuân Thu)

Xuân Thu (tiếng Trung Quốc: 春秋; phiên âm la tinh: Chūnqiū), cũng được gọi là Lân Kinh (麟經) là bộ biên niên sử nước Lỗ viết về giai đoạn từ năm 722 tr.CN tới năm 481 tr.CN. Đây là văn bản lịch sử Trung Quốc sớm nhất còn lại và được ghi chép theo các quy tắc sử biên niên. Văn bản cực kỳ súc tích, và nếu chúng ta bỏ toàn bộ những lời phê bình, nội dung dài khoảng 16.000 nghìn từ, vì thế chỉ có thể hiểu được nghĩa của nó với sự hỗ trợ của những lời bình của các học giả thời xưa,  theo truyền thống Tả Truyện.

Theo truyền thống, cuốn sách này được coi là do Khổng Tử biên soạn (theo giả thuyết củaMạnh Tử), nó được đưa vào trong bộ Ngũ Kinh của văn học Trung Quốc.

 Nội dung

Thời cổ đại Trung Quốc, “Xuân Thu” là một từ hoán dụ thường được dùng để chỉ tổng thể khoảng thời gian trong năm (mùa xuân và mùa thu đại diện cho cả năm), và cũng thường được dùng làm tiêu đề cho những cuốn biên niên sử của nhiều nước chư hầu Trung Quốc giai đoạn đó. Ví dụ, chương Minh Quỷ trong cuốn Mặc Tử đã đề cập tới nhiều cuốn Biên niên sử Xuân Thu của nhà Chunước Yênnước Tống và nước Tề. Tất cả các văn bản đó hiện đều không còn; chỉ cuốn biên niên sử nước Lỗ còn tồn tại.

 Phạm vi sự kiện được ghi chép trong cuốn sách chỉ tập trung vào các quan hệ ngoại giaogiữa các nước chư hầu phong kiến, các liên minh và các hành động quân sự, cũng như những sự kiện sinh tử bên trong gia đình hoàng gia. Cuốn biên niên sử cũng ghi chép về các sự kiện thảm hoạ thiên nhiên như lũ lụt, động đất, nạn châu chấu và nhật thực, bởi vì những sự kiện đó được xem là phản ánh sự ảnh hưởng của trời đối với thế giới loài người.

Các sự kiện được miêu tả theo trật tự thời gian, đầu tiên là niên hiệu của vua nước Lỗ, mùa, mùa, tháng và ngày theo năm âm lịch. Kết cấu biên niên được tuân thủ chặt chẽ, tới mức liệt kê bốn mùa trong mỗi năm thậm chí khi không có sự kiện nào xảy ra ở thời điểm đó.

Văn phong ngắn gọn và giọng điệu khách quan.

KINH DCH

(Nguyên văn: Dch kinh)

易經

Biên dch: Nguyn Hiến Lê

Gii đoán 64 qu

(Giang Nam lãng t biên tp)

Nguồn gốc Kinh dịch:

Hoàng đế Phc Hy vch ra 64 qu da theo Hà đ và Lc thư (thn linh ban cho hai bo bi).

Chu Văn Vương gii thích “hoán t

Chu Cơ Đán con th ca ngài tiếp tc gii “Hào t

Sau na Khng t gii thành “Dch truyn” (Thp dc: 10 cánh chim)

 Mỗi quẻ có 6 hào, một từ/hào gọi là Hào từ.

Giảng quẻ : Khái quát, từng hào rồi kết luận.

 

DANH MC 64 QU

 

Thượng kinh   30 Hạ kinh   34
  1. Thuần Càn
  2.  Thuần Khôn
  3.  Thủy Lôi Truân
  4.  Sơn Thủy Mông
  5.  Thủy Thiên Nhu
  6.  Thiên Thủy Tụng
  7.  Địa Thủy Sư 
  8. Thủy Địa Tỷ
  9.  Phong Thiên Tiểu Súc
  10.  Thiên Trạch Lý
  11.  Địa Thiên Thái
  12.  Thiên Địa Bĩ 
  13. Thiên Hỏa Đồng Nhân
  14.  Hỏa Thiên Đại Hữu
  15.  Địa Sơn Khiêm
  16.  Lôi Địa Dự
  17.  Trạch Lôi Tùy
  18.  Sơn Phong Cổ
  19.  Địa Trạch Lâm
  20.  Phong Địa Quan
  21.  Hỏa Lôi Phệ Hạp
  22.  Sơn Hỏa Bí 
  23. Sơn Địa Bác
  24. Địa Lôi Phục
  25. Thiên Lôi Vô Vọng
  26. Sơn Thiên Đại Súc
  27. Sơn Lôi Di
  28.  Trạch Phong Đại Quá
  29.  Thuần Khảm
  30.  Thuần Ly

 

  1. Trạch Sơn Hàm
  2. Lôi Phong Hằng
  3. Thiên Sơn Độn
  4. Lôi Thiên Đại Tráng
  5. Hỏa Địa Tấn
  6. Địa Hỏa Minh Di
  7. Phong Hỏa Gia Nhân
  8. Hỏa Trạch Khuê 
  9. Thủy Sơn Kiển
  10. Lôi Thủy Giải 
  11. Sơn Trạch Tổn  
  12. Phong Lôi Ích 
  13. Trạch Thiên Quải 
  14. Thiên Phong Cấu
  15. Trạch Địa Tụy
  16. Địa Phong Thăng  
  17. Trạch Thủy Khốn
  18. Thủy Phong Tỉnh 
  19. Trạch Hỏa Cách
  20. Hỏa Phong Đỉnh
  21. Thuần Chấn  
  22. Thuần Cấn 
  23. Phong Sơn Tiệm
  24. Lôi Trạch Quy Muội 
  25. Lôi Hỏa Phong
  26. Hỏa Sơn Lữ
  27. Thuần Tốn 
  28. Thuần Đoài  
  29. Phong Thủy Hoán
  30. Thủy Trạch Tiết  
  31. Phong Trạch Trung Phu
  32. Lôi Sơn Tiểu Quá
  33. Thủy Hỏa Ký Tế

64. Hỏa Thủy Vị Tế

  1.  Thun Càn

GNLT

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

%d bloggers like this: